Một Số Biện Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 8

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Tham Luận Môn Thể Dục Cấp Thcs
  • Một Vài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Sang Kien Lanh Doc
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6
  • KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC LỚP 8 I. Lí do xây dựng chuyên đề: 1. Thực trạng

    Sách giáo khoa rõ, đẹp có đầy đủ kênh hình và biểu mẫu.

    Ngữ liệu trong Sách giáo khoa được giới thiệu thông qua những mẫu câu là những tình huống rất phù hợp gần gũi với cuộc sống hàng ngày, tạo nên sự thuận lợi cho giáo viên khi bước đầu dẫn dắt các em vào bài học của mình.

    Mỗi lớp đếu có số học sinh ham học, tích cực phát biểu xây dựng bài trong giờ học là nguồn động viên lớn trong quá trình giảng dạy của tôi.

    Nhìn chung, học tập theo phương pháp mới thì học sinh có hứng thú học tập hơn so với so với phương pháp dạy học truyền thống. Vì thế, có điều kiện phát triển tư duy và khả năng thực hành của các em.

    2. Nguyên nhân:

    Một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên chưa quan tâm đến việc học của con em mình.

    – Học sinh chưa nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và đồng thời là nghĩa vụ của việc học tập.

    – Thiết bị máy tính quá thời hạn bị hỏng nhiều việc học bộ môn chưa đảm bảo yêu cầu.

    – Những năm gần đây số lượng học sinh trong nhà trường tăng cao so với trước .

    Bằng nhiều cách khi giáo viên sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ học đặc biệt là bộ môn thực hành không những giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy tốt hơn. Khi học lý thuyết các em được trực tiếp quan sát các bài tập mẫu, mô hình bằng thiết bị Ti vi được kết nối với máy tính qua công HDMI.

    Từ đó sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học trong nhà trường. Chính vì vậy mà nhóm Tin học chúng tôi đã đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tin học lớp 8.

    II. Phạm vi ứng dụng chuyên đề:

    Đối với bộ môn Tin học khối 8

    III. Thành viên thực hiện chuyên đề:

    1. Đ/c Đào Thị Bích Hậu: Giáo viên Tin học

    2. Đ/c Lê Hoài Hương: Giáo viên Toán – Tin học

    IV. Thời gian hoàn thành, tổ chức báo cáo nghiệm thu: Tháng 6/2020

    CHUYÊN ĐỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC LỚP 8 I. Đặt vấn đề:

    Môn Tin học ở trường phổ thông trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin và vai trò của nó trong xã hội hiện đại. Môn học này giúp học sinh bước đầu làm quen với phương pháp giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ và kỹ năng sử dụng máy tính phục vụ học tập và cuộc sống. Tin học có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển trí tuệ, tư duy thuật toán, góp phần hình thành học vấn phổ thông cho học sinh.

    Như vậy, phương pháp giảng dạy môn Tin học như thế nào thì hợp lí? Làm sao để các em phát huy tính học tập của mình một cách hiệu quả nhất? Theo tôi, mỗi giáo viên đều có một cách giải quyết của riêng mình. Với tôi, chuyên đề “Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học 8” thực sự là vấn đề cùng đem ra bàn luận để làm sao cho từng tiết dạy Tin học lớp 8 ngày càng gần gũi với các em hơn, cho các em cảm thấy hứng thú mỗi khi có tiết học Tin học. Với trách nhiệm là một giáo viên, tôi rất mong muốn được học hỏi nhiều để làm sao truyền đạt hết kiến thức của mình cho các em. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như của đồng nghiệp cho chuyên đề của tôi được hoàn chỉnh.

    II. Nội dung: 1. Các bước tiến hành: 2. Các bước thực hiện:

    Cho học sinh thực hiện và luyện tập những hoạt động và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục tiêu dạy học :

    B4: Kiểm tra điều kiện thoát: nếu biến_điều_khiển = giá_trị_cuối thì kết thúc lệnh For.

    B5: Tăng giá trị của biến_điều_khiển lên 1. Quay lên B3.

    * Bằng nhiều cách khi giáo viên sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ học đặc biệt là bộ môn thực hành không những giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy tốt hơn. Khi học lý thuyết các em được trực tiếp quan sát các bài tập mẫu, mô hình bằng thiết bị Ti vi được kết nối với máy tính qua công HDMI.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tin Học 10 Ở Trường Thpt Nậm Tăm”
  • Một Số Biện Pháp Để Dạy Tốt Môn Tin Học Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 Bằng Dụng Cụ Trực Quan
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giờ học luôn là mục tiêu mà mỗi người giáo viên đứng lớp quan tâm, trăn trở và tìm cách thực hiện, nhằm mang đến hiệu quả tối đa cho giờ dạy học của bản thân và học sinh. Đây cũng là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của quá trình đổi mới giáo dục xuyên suốt từ vài thập niên gần đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo( GD&ĐT). Mỗi người GV trực tiếp giảng dạy, ngoài việc vận dụng tốt những phương pháp, phương tiện thiết bị dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá học sinh theo đề án đổi mới giáo dục ở các chuyên đề được tiếp thu, mỗi người cũng cần phải có những cách thức riêng cho bản thân mình để có thể áp dụng vào thực tế công tác, vào điều kiện giảng dạy của bản thân, nhà trường, địa phương. Và nhất là phù hợp với đối tượng học sinh (về khả năng tiếp thu, hoàn cảnh xã hội, gia đình cũng như sức khỏe của các em ).

    Một thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, các môn học thuộc bộ môn khoa học xã hội, nhất là môn Ngữ văn đang bị học sinh “xa lánh”, một phần vì nội dung chương trình còn nặng về kiến thức, một bài học các em phải tiếp nhận nhiều đơn vị kiến thức với áp lực phải ghi nhớ. Ngữ văn lại là môn học phải đọc nhiều, viết nhiều nhưng xu thế phát triển của thời đại Công nghệ số khiến các em ngại đọc, ngại viết, ngại trau rồi kiến thức mà ỉ lại vào các trang mạng xã hội: Google, Facebook, YouTube… Dẫn đến hạn chế trong khả năng lĩnh hội bài học, kĩ năng tư duy và diễn đạt kém, kiến thức tích lũy thì nghèo nàn. Dẫn đến học sinh chán học, giáo viên mất hứng thú trong giờ dạy, nhiệt huyết truyền đạt những tri thức hay, sâu sắc, mới mẻ cho học sinh mất dần, mai một dần, đến bỏ hẳn. Giờ học Ngữ văn trở nên khô khan, nhàm chán, chất lượng hiệu quả gờ học không cao.

    NỘI DUNG:

    1.MỞ ĐẦU.2

    1.1. Lí do chọn đề tài:2

    1.2.Mục đích nghiên cứu :3

    1.3.Đối tượng nghiên cứu:3

    1.4.Phương pháp nghiên cứu:3

    2.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM4

    2.1.Cơ sở lí luận của đề tài:4

    2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng:6

    2.3. Các sáng kiến kinh ngiệm và các giải pháp đã sử dụng để đưa ra giải quyết vấn đề đó.8

    2.4. Hiệu quả của SKKN đối với việc giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp ở trường THCS Định Hưng:11

    3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:12

    3.1.Kết luận:12

    3.2. Kiến nghị:13

    Tài liệu tham khảo.14

    Mọi đóng góp cho thư viện, các bạn hoàn toàn có thể gửi trực tiếp về email của Admin [email protected] hoặc inbox qua Facebook https://www.facebook.com/Congdongkythuatcodienvietnam.VMTC/.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

    CHUYÊN ĐỀ

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

    A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vần

    Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

    2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vần

    Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.

    Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.

    Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo.

    II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:

    1) Thuận lợi:

    a) Đối với giáo viên:

    + Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:

    – Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

    – Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…

    + Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

    + Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

    + Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    b) Đối với học sinh:

    + Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

    + Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

    2) Khó khăn:

    a) Đối với giáo viên:

    + Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: “Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây.

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN I/ Mở đầu: Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu không thề thiếu được trong công tác dạy học. Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: "Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây. II/ Nội dung: 1/ Hoạt động xây dựng chuyên môn: - Xây dựng ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học tự rèn. - Chú trọng công tác dạy tốt, học tốt , nâng cao chất lượng đại trà. - Sinh hoạt tổ chuyên mônthống nhất chương trình dạy học trong tuần (1 lần/ tuần ). - Soạn kế hoạch bài học phải xác định trọng tâm bài dạy và chuẩn kiến thức cần truyền đạt. - Luôn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với các dạng bài. - Chuẩn bị đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy. - Tìm thêm các ví dụ, câu hỏi, nhiều cách giải hay gợi sự chú ý học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức nhanh hơn. 2/ Hoạt động trên lớp: a. Khi đứng lớp: - Tình bày bảng nên sử dụng phấn màu, ghi đủ nội dung kiến thức cần truyền đạt, dùng phấn gạch dưới kiến thức trọng tâm, đóng khung kiến thức công thức cần nhớ. - Quan sát theo dõi sự tiếp thu bài học của các em. - Tùy theo kiến thức cần truyền đạt, trình độ của học sinh mà vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Luôn tạo sự thoải mái khi các em học toán với nhiều trò chơi học tập như: Thi đua giải toán nhanh, sắp xếp nhanh các hình theo yêu cầu,tổ chức thi đua nhóm đôi, thi đua nhóm 4 học sinh, thi đua theo tổ. b. Giờ dạy lý thuyết: - Chú trọng hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cần bài học. - Biết vận dụng lý thuyết vừa học vào một số các bài tập đơn giản. - Hướng dẫn học sinh học thuộc lý thuyết. c. Giờ dạy luyện tập: - Giúp học sinh vận dụng thành thạo lý thuyết vào bài học một cách hợp lí. -Qua việc giải bài tập đó học sinh rút ra được kinh nghiệm về phương pháp giải toán. d. Nếu là tiết kiểm tra: - Đề kiẻm tra vừa sức với trình độ học sinh, có câu phát triển dành cho học sinh khá giỏi. - Chấm, trả bài, chữa bài kịp thời. - Đánh giá chính xác chất lượng học tập của học sinh. - Quan tâm dến các học sinh làm bài quá kém ( Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học kém ) 3/ Hoạt động dạy ngoại khóa: a. Dạy học sinh năng khiếu: - Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu để xác định tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi. - Khuyến khích học sinh mượn sách ở thư viện tham khảo, học hỏi nhiều cách giải toán hay.. b. Dạy phụ đạo học sinh yếu: - Tách học sinh yếu ngồi học chung một nhóm ngay từ đầu ( Phân loại học sinh ). - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu. - Vận động học sinh yếu phụ đạo vào các ngày thứ 7, hoặc dạy học sinh yếu chéo buổi. - Nên có thời gian kèm sát các học sinh học yếu. 4/ Hoạt động ngoại khóa: - Luôn dự giờ, thao giảng, dự chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Thường xuyên sưu tầm thêm các tư liệu, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác dạy học. IV/ Kết quả: Năm học Học kì 1 Học kì 2 2006-2007 2007-2008 2008-2009 V/ Bài học kinh nghiệm: - Soạn kế hoạch bài học theo hướng đổi mới. - Áp dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tách học sinh yếu kém ngay từ đầu để phân các em thành một nhóm. - Cuối tuần có bài kiểm tra nhằm theo dõi trình độ học sinh. - Thường xuyên quan sát theo dõi học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường
  • Lào Cai: Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hướng Tới Phát Triển Bền Vững Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • Ngữ văn là môn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học. Văn học dùng chất liệu hiện thực kết hợp nghệ thuật ngôn từ để phản ánh hiện thực, thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả .Vì vậy dạy văn học là khai thác nghệ thuật ngôn từ để làm rõ nội dung hiện thực và tư tưởng tình cảm của tác giả .

    Từ đó, dạy văn học người giáo viên phải đảm bảo được đặc điểm trên của môn học: phải giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm qua đó cảm nhận được điều nhà văn muốn gửi đến người đọc. Mặt khác thông qua việc học những tiết văn học, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng tự khám phá, cảm thụ một tác phẩm văn học, giúp các em có khả năng giao tiếp đạt hiệu quả.

    Vì vậy việc dạy các tác phẩm văn học Việt Nam đã khó, việc dạy các tác phẩm văn học nước ngoài càng khó hơn. Trong khi đó giáo viên dạy văn học nước ngoài còn chưa thật sự chú ý đến đặc trưng của bộ môn, chỉ chú ý cung cấp đủ nội dung bài học theo một trình tự cứng nhắc khô khan, máy móc, thiếu cảm hứng , thiếu sự đồng cảm với nhà văn. Từ đó, học sinh không thích học môn văn. Có thể nói tác phẩm văn học là một món ăn tinh thần mà giáo viên là chế biến, phục vụ còn học sinh là thực khách. Khách có ăn ngon hay không – tâm hồn người thưởng thức có lâng lâng rung động, say sưa, ngây ngất hay không – là do ở người chế biến phục vụ. Cùng là một tác phẩm văn học nếu giáo viên biết cách khai thác, hướng dẫn, diễn giảng đúng chỗ, đúng lúc thì học sinh sẽ rung động, khắc sâu, yêu thích và nhớ mãi. Vậy giáo viên phải làm gì để dạy một tiết văn học đạt hiệu quả? Đó là những trăn trở thôi thúc tôi thực hiện đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học phân môn ngữ văn phần Văn học nước ngoài lớp 8.

    Thông qua đề tài, với các văn bản Văn học nước ngoài tôi hi vọng sẽ giáo dục cho các em tình cảm cao đẹp, tâm hồn trong sáng hiểu được nền văn hoá, cuộc sống con người và những nét đặc trưng khác của các nước trên thế giới giúp các em vươn tới điều thiện, hình thành nhân cách tốt, cuốn hút các em trong giờ học “Văn học nước ngoài”.

    Nghiên cứu về đối tượng, tâm lí và việc tiếp thu bài giảng của học sinh khối lớp 8, tôi tiến hành điều tra thực trạng và đưa vấn đề mình nghiên cứu để áp dụng thực hành nhằm tìm hiểu lí do, nguyên nhân học sinh không thích hoặc chán học phân môn Văn học nước ngoài. Từ đó đưa ra biện pháp giúp các em có những tiết học nhẹ nhàng, dễ hiểu, tạo tâm lí ham học phân môn này hơn.

    Ngoài phương pháp trên tôi còn trao đổi, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp các tiết dạy và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân.

    Đề tài nghiên cứu: Phần văn học nước ngoài của chương trình Ngữ văn lớp 8 – Trường Trung học cơ sở Vĩnh Hòa .

    Một số biện pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Ngữ văn phần Văn học nước ngoài lớp 8.

    PHẦN NỘI DUNG

    Phân môn Văn học nước ngoài cung cấp cho học sinh rất nhiều kiến thức về tác phẩm văn học, giúp học sinh vận dụng những kiến thức đó vào Tập làm văn và Tiếng Việt. Nếu giáo viên biết thiết kế các phần thực hành phù hợp với khả năng tư duy cho người học thì sẽ gây hứng thú học tập cao, đồng thời cũng gây kích thích tư duy sáng tạo và nhạy bén trong việc tiếp xúc tác phẩm của người học.

    Việc vận dụng phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên đứng lớp. Căn cứ vào nội dung bài học và trình độ của từng đối tượng học sinh.

    * Bản thân đã trải qua quá trình bồi dưỡng thay sách giáo khoa, có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy.

    * Là giáo viên đứng lớp với tấm lòng yêu nghề và yêu bộ môn tôi luôn nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề dạy học, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, luôn lấy học sinh làm trung tâm cho việc dạy học.

    * Sử dụng các phương pháp dạy học đã đi vào chiều sâu.

    * Đồ dùng và phương tiện dạy học phục vụ tương đối đầy đủ.

    * Đa số học sinh có ý thức trong vấn đề học tập.

    2. Khó khăn:

    Bên cạnh những thuận lợi thì khi dạy môn Ngữ văn 8, nhất là Văn học nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn.

    – Qua việc thăm lớp, dự giờ của đồng nghiệp, thăm dò ý kiến của học sinh,

    tôi nhận thấy phần đông học sinh là con em lao động chân tay, công nhân, ngoài việc học các em còn phải phụ giúp gia đình, các em chưa có sự đầu tư cho vấn đề học tập.

    – Phụ huynh và học sinh xem nhẹ môn học Ngữ văn, vì nó là một môn học xã hội không cần đầu tư như các môn học tự nhiên cho nên giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc giảng dạy.

    – Khoảng cách khá lớn về không gian và thời gian, về lịch sử và tâm lí .

    * Qua thực tế và kết quả khảo sát tôi nhận thấy :

    – Sự hiểu biết của học sinh về tác giả cũng như các tác phẩm văn học nước ngoài được học trong chương trình còn rất hạn chế.

    – Khả năng tiếp thu tác phẩm văn chương nước ngoài chưa cao.

    – Kỹ năng phân tích và cảm thụ những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và nội dung các tác phẩm văn chương nước ngoài còn hời hợt và chưa sâu. Vì vậy số bài điểm khá chưa nhiều.

    – Kỹ năng phân tích các yếu tố ngôn ngữ, các biện pháp nghệ thuật, chi tiết, hình ảnh, nhân vật trong các tác phẩm Văn học nước ngoài của học sinh còn lúng túng.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Đánh nhau với cối xay gió”, trích ” Đôn-ki-hô-tê” của Xéc-van-tét tác phẩm rất hay nhưng được viết cách đây hàng bốn trăm năm từ thời trung cổ về những tập tục, lề thói, cách cảm, cách nghĩ hoàn toàn xa lạ với chúng ta, nhất là đối với các em học sinh.

    – Chúng ta dạy học văn chương nước ngoài trong điều kiện tài liệu, sách vở, tranh ảnh, máy chiếu… phục vụ cho tham khảo còn khan hiếm. Hầu hết các tác phẩm đưa vào chương trình anh chị em chỉ được biết qua sách giáo khoa, qua tóm tắt, qua đoạn trích, khó khăn này không phải một sớm, một chiều là khắc phục được. Học sinh thì cảm thấy xa lạ với những tác phẩm Văn học nước ngoài.

    3. Số liệu thống kê chất lượng bộ môn:

    * Trước khi nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã tập trung khảo sát kiến thức phần Văn học nước ngoài đã dạy thực tế trong năm học 2014-2015 và thăm lớp dự giờ đồng nghiệp.

    * Tổng số học sinh: 116

    III. NỘI DUNG THỰC HIỆN

    1. Một số phương pháp dạy học :

    Để có được một tiết học phần Văn bản nước ngoài sôi nổi, hào hứng đúng mục tiêu cần đạt thì giáo viên đứng lớp cần phải có sự chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy của mình và các biệp pháp vận dụng cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:

    1.1. Phương pháp tạo tình huống có vấn đề trong thực hành.

    – Bám sát với nội dung bài học, lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia.

    – Luôn thay đổi hình thức truyền đạt để kích thích tư duy cho người học, tránh nhàm chán đơn điệu trong tiết dạy.

    1.2.Phương pháp sử dụng phiếu học tập:

    Với những câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra việc nắm kiến thức bài học, sự hiểu biết của học sinh về các tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.

    1.3. Phương pháp làm các bài kiểm tra viết ngắn:

    Để đánh giá tổng quát khá năng cảm thụ, phân tích những giá trị nghệ thuật và nội dung của các tác phẩm văn học nước ngoài .

    1.4. Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học.

    Sử dụng bản đồ tư duy và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức một cách ngắn gọn, xúc tích, khoa học, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.

    2. Những nguyên tắc chung:

    Nhìn một cách tổng thể toàn bộ phần Văn học nước ngoài trong chương trình ngữ văn lớp 8 chủ yếu là truyện ngắn và kịch.

    * Truyện ngắn: Bao gồm một số đoạn trích của các tác phẩm như: “Đánh nhau với cối xay gió” của Xéc-van-tét, “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen- ri, “Hai cây phong” của Ai-ma-tốp.

    – Kịch: Trích đoạn kịch cổ điển Pháp “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục” của Mô-li-e.

    * Muốn dạy tốt các tác phẩm văn chương nước ngoài phải trực tiếp tiếp xúc với tác phẩm. Có thể coi đây là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với giáo viên và học sinh khi dạy và học tác phẩm văn chương. Nhưng với tác phẩm văn chương nước ngoài thì đây là một yêu cầu khá cao song phải tìm mọi cách mà thực hiện cho được. Cũng có thể tổ chức báo cáo trong sinh hoạt chuyên môn hoặc có thể tổ chức ngoại khoá cho học sinh.

    Mỗi nhà văn đều sinh ra trong một hoàn cảnh gia đình, với những sở thích, lối sống trong một bối cảnh lịch sử, xã hội nhất định. Những điều đó không dễ gì có được nếu chúng ta không tìm hiểu kỹ qua tài liệu, sách báo và những thông tin khác.

    * Muốn dạy tốt tác phẩm cần hiểu đúng tác phẩm, hiểu đúng trong vị trí tác phẩm, hiểu được toàn bộ tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả từ đó mới lựa chọn các vấn đề và cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội cho phù hợp với trình độ học sinh. Đây là một yêu cầu cao song với tác phẩm văn chương nước ngoài thì việc hiểu đúng tác phẩm là một yêu cầu quan trọng.

    3. Các giải pháp thực hiện:

    3.1. Giải pháp 1: Kỹ năng tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm:

    Tác phẩm văn chương bao giờ cũng mang trên mình dấu ấn của một thời lịch sử nhất định. Vì vậy việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác bao giờ cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Dạy tác phẩm văn chương nước ngoài thì việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử là việc vô cùng quan trọng. Vì vậy đây là những điều rất xa lạ đối với học sinh. Sự phụ thuộc của tác phẩm văn chương vào hoàn cảnh lịch sử thì rất khó giải thích cho học sinh nếu không gắn liền với những điểm phân tích, đánh giá chung với hoàn cảnh cuộc sống và hoạt động sáng tác của nhà văn. Có như thế mới giúp học sinh có điều kiện tìm hiểu sâu tác phẩm.

    * Tìm hiểu phong tục, tập quán sinh hoạt, quan niệm đạo đức thẩm mĩ của dân tộc đã sản sinh ra tác phẩm trong mối tương quan với văn hoá dân tộc. Để hiểu đúng văn chương nước ngoài, giáo viên cần giúp học sinh hiểu đúng phong tục, tập quán sinh hoạt cũng như quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của dân tộc mà tác phẩm phản ánh trong mối tương quan với nền văn hoá dân tộc của mình .

    Ví dụ 1: Khi dạy văn bản “Đánh nhau với cối xay gió” giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học để giới thiệu cho học sinh tìm hiểu về tác giả và tác phẩm của nhà văn Xéc-van-tét, về đất nước, văn hóa của tác giả sinh ra và lớn lên. Điều này góp phần làm xóa bỏ rào cản về sự khác biệt của văn hóa trong cảm thụ của tác phẩm và tìm hiểu một tác phẩm ở nền văn hóa khác.

    Xec-van-tét Đôn-ki-hô-tê Đôn-ki-hô-tê”và”Xan-chô Pan-xa”

    Từ đó giáo viên dẫn dắt học sinh đi vào phân tích nhân vật, qua đó học sinh sẽ cảm nhận được một chàng hiệp sĩ “Đôn-ki-hô-tê” hoang tưởng, mê muội, yêu tự do, công bằng, nhân đạo.

    Còn nhân vật Xan-chô Pan-xa thì thực tế và thực dụng, nhưng tỉnh táo. Cả hai nhân vật kết hợp lại với nhau đã làm nổi bật truyền thống đạo đức của nhân dân Tây Ban Nha.

    * Cái say mê và cái tỉnh táo đến siêu việt của “Đôn-ki-hô-tê” và “Xan-chô Pan-xa” của Xéc-van-tét tán thành lí tưởng nhân đạo là tuyệt vời nhưng khó thực hiện được trong thời đại mà tầng lớp quý tộc lại toàn làm cái đó là mơ hồ ảo tưởng. Tác phẩm có chế giễu hiệp sĩ nhưng cơ bản vẫn là khẳng định khát vọng, lí tưởng nhân văn cao của những con người khổng lồ trong xã hội. Nếu không hướng học sinh đi đúng hướng chỉ là một ảo tưởng, một trò cười lịch sử.

    * Đặt tác phẩm trong mối tương quan văn hoá của hai dân tộc sẽ giúp cho việc nghiên cứu tác phẩm cụ thể nhận ra và làm phong phú hơn đời sống tâm hồn và tình cảm dân tộc của mỗi người khi tiếp xúc với tác phẩm. Trên thực tế trong quá trình tiếp xúc với tác phẩm dù thế nào cũng gợi ra sự liên tưởng so sánh nhất định nhưng trong chương trình văn học nước ngoài lớp 8, có rất nhiều điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong cách cảm, cách nghĩ và cách diễn đạt. Vì vậy muốn học sinh hiểu đúng tác phẩm, cần giúp học sinh rút ngắn khoảng cách giữa không gian và thời gian.

    + Văn chương nước ngoài đến với giáo viên và học sinh được dạy-học là văn bản dịch chứ không phải là nguyên tác. Như vậy người dịch đã phải thực thi một việc làm rất phức tạp:

    + Chuyển dịch một tác phẩm từ một không gian văn hoá này sang một không gian văn hoá khác.

    Sau khi truyền thụ hết kiến thức, nội dung bài học giáo viên dành một lượng thời gian khoảng 10 phút để kiểm tra sự tiếp thu kiến thức của học sinh.

    Câu hỏi: Sau khi học xong văn bản “Đánh nhau với cốy xay gió” Xéc-van-tét em học tập được những đức tính gì ở hai nhân vật?

    HS: trả lời tùy theo sự cảm nhận của học sinh

    GV: Mỗi nhân vật đều phiến diện nên phải kết hợp những ưu điểm của hai nhân vật, loại bỏ những khuyết điểm của hai nhân vật mới trở thành một con người hoàn thiện.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Hai cây phong” của Ai-ma-tốp, “Người thầy đầu tiên” hiện lên trên trang giấy không phải qua việc quan sát, miêu tả, so sánh mà hiện lên qua việc tái hiện hình ảnh, qua những kỉ niệm sâu sắc với một tình cảm trân trọng, kính yêu, pha chút áy náy của An-tư-nai, người học sinh bất hạnh nay đã trở thành viện sĩ. Câu chuyện trải dài trên một quãng thời gian mấy chục năm. Song ở đây sách giáo khoa ngữ văn 8 chỉ là một đoạn ở phần đầu cuốn truyện. Dẫu là phần đầu nhưng tất cả đều góp phần khắc hoạ hình ảnh thầy Đuy-sen, trong đó những mẫu kí ức sau bao nhiêu năm tháng đã được thời gian khoác màu thi vị, buộc người đọc phải dùng cả tưởng tượng, liên tưởng và đưa mình vào hoài niệm để cùng sống với nhân vật. Chúng ta phải làm sao để học sinh đừng ngập vào sự kiện, đừng bị những suy ngẫm miên man làm loá đi hình ảnh người thầy đã gọi là hồi ức thì không phải tất cả đều sáng rõ như bức chân dung được đặc tả nên không thể dùng cách khai thác phân tích một nhân vật từ ngoại hình đến nội tâm mà ở đây, ngoài hình ảnh của người thầy còn có tấm lòng của người kể, người học trò còn được thầy yêu quý, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục.

    Toàn bộ đoạn trích đều nói về hai cây phong trên đỉnh đồi cao, những vẻ đẹp kì diệu của chúng và vị trí quan trọng trong những kỉ niệm ấu thơ, khơi dậy niềm yêu quê hương với khát vọng khám phá của tuổi trẻ. Chỉ đến cuối cùng, người kể chuyện mới đặt vấn đề mà thuở trước “chưa bao giờ nghĩ đến”. Ai là người trồng hai cây phong này, và có những ước mơ hay hi vọng gì khi trồng hai cây phong đó.

    Hình ảnh hai cây phong

    Cuối đoạn trích người kể chuyện nói không rõ vì sao mà quả đồi có hai cây phong được gọi là “Trường Đuy-sen”. Như vậy hai cây phong còn là biểu tượng cho trường học, nơi nuôi dưỡng những tình yêu lớn của con người gắn liền với tên một “Người thầy đầu tiên”, thầy Đuy-sen. Ở đây hình ảnh tự sự đã thấm chất trữ tình. Do đó hình ảnh thầy gợi lên trong ta niềm cảm phục kính yêu vừa gợi lên một sự cảm thông và nỗi luyến tiếc, ngậm ngùi có phần áy náy, bối rối của người học sinh nay đã về già. Cho nên chúng ta phải lần theo kỉ niệm, những hồi ức, hình ảnh người thầy mong gieo vào người học sinh niềm yêu thương, ấm áp đó bằng cách dẫn dắt các em đi vào bài học:

    Câu hỏi 1: Làng Ku-ku-rêu được giới thiệu là một làng quê như thế nào? Tại sao hình ảnh hai cây phong lại chưa được nhắc đến trong những dòng đầu tiên?

    Câu hỏi 2: Hai cây phong được giới thiệu khái quát như thế nào? Hình ảnh so sánh như hai ngọn hải đăng đặt trên núi có ý nghĩa gì?

    Câu hỏi 3: Tại sao người kể bao giờ cũng cảm biết được chúng, lúc nào cũng nhìn rõ?

    Câu hỏi 4: Tác giả đã miêu tả vẻ đẹp hai cây phong từ góc độ nào? thời điểm nào? Hãy chỉ ra các vẻ đẹp đó?

    Câu hỏi 5: Tại sao hai cây phong lại có vẻ đẹp như thế? Ta có thể biết được điều gì về tình yêu của người kể chuyện với hai cây phong?

    Câu hỏi 6: Tại sao trước khi bắt đầu nghỉ hè của năm học cuối cùng, hai cây phong lại gây ấn tượng mạnh mẽ cho người kể chuyện và lũ trẻ?

    Câu hỏi 7: Điều gì đã hiện ra trước mắt lũ trẻ? Phán ứng của chúng được miêu tả như thế nào? Qua đó chúng ta đánh giá vị trí của hai cây phong ra sao?

    Câu hỏi 8: Qua việc ca ngợi vẻ đẹp của hai cây phong người kể chuyện hướng tới người vô danh đã trồng và vun xới chúng. Hãy chỉ ra sự ca ngợi tinh tế đó?

    Sau khi hoàn thành bài dạy giáo viên có thể đưa ra một số bài tập trắc nghiệm để kiểm tra việc nắm bắt kiến thức của các em.

    3.4. Giải pháp 4: Bài tập trắc nghiệm:

    a. Đó là một quyển tiểu thuyết b. Đó là một truyện ngắn

    c. Đó là một bài tuỳ bút c. Đó là một quyển hồi kí

    Câu 2. Trong văn bản hai cây phong, trích “Người thầy đầu tiên”, người kể chuyện dùng đại từ nhân xưng nào?

    a. Tôi b. Chúng tôi c. Tôi, chúng tôi d. Tôi, ta, chúng tôi

    Câu 3. Tác giả của tác phẩm Người thầy đầu tiên là người nước nào ?

    a. Đan Mạch b. Tây Ban Nha c. Cư-rơ-gư-xtan d. Bồ Đào Nha

    Ví dụ : Với một nội dung khác nhau phải có cách khai thác khác nhau, chẳng hạn với “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen-ri trong ngữ văn 8 lại khác. Hình tượng “Chiếc lá cuối cùng” không chỉ gợi lại ở đó mà còn gợi ta đến tấm lòng của người nghệ sĩ nghèo của nước Mĩ mà đặc biệt là tấm lòng của cụ Bơ-men đã tạo nên kiệt tác “Chiếc lá cuôi cùng”. Câu chuyện ca gợi tình cảm trong sáng, cao đẹp của những nghệ sĩ chân chính, ca ngợi sự hi sinh quên mình của cụ Bơ-men vẽ chiếc lá để cứu sống Giôn-xi.

    Chiếc lá cuối cùng

    Những chiếc lá thường xuân, theo quy luật sinh tồn của tạo hoá, từng chiếc lá một theo mùa đông rét mướt đi qua. Chiếc lá cuối cùng sót lại không phải bởi cây ấy là cây thường xuân mà đó là nét vẽ tài hoa của cụ Bơ-men. Cây tuy là thường xuân cũng không giữ được lá của mình nhưng người tuy hữu hạn nhưng lại giữ được lá.

    Vậy điều duy nhất để giữ được lá kia là tấm lòng và nghệ thuật của cụ Bơ-men. Với O Hen-ri nghệ thuật phải phụng sự cái đẹp, phải phụng sự cuộc sống. Mà cuộc sống tồn tại trong ý nghĩ cao đẹp nhất là phải biết hy sinh và có thể nói nhân loại tồn tại và phát triển là nhờ sự hy sinh kế tục của các thế hệ tiếp nối. Xét ở góc độ này bức hoạ kiệt tác của O Hen-ri có ý nghĩa tồn tại và khả năng duy trì sự sống của con người.

    Xét ở góc độ khác “Chiếc lá cuối cùng” được xem như là một truyện ngắn có kết cấu mẫu mực và hạng bậc nhất. Cốt truyện, nhân vật, giọng điệu, trần thuật, đối thoại đều có thể được xem như một trong những khuôn mẫu của thể loại này ở thế kỉ 19.

    Chẳng hạn như cốt truyện của tác phẩm khá phức tạp. Ngoài cốt truyện bề nổi, ta còn gặp cả cốt truyện ngầm nữa.

    Ở tuyến thứ nhất có thể tóm lược theo năm bước như: Trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, kết thúc.

    Ví dụ:

    Trình bày: Tại một khu phố nọ có một cô gái tên là Giôn-xi đang nằm đợi chết.

    – Phát triển: Lá cứ rụng, sức khoẻ của Giôn-xi dần tàn.

    – Đỉnh điểm: Chỉ còn lại một chiếc lá, nếu lá ấy rơi thì sự sống của Giôn-xi cũng rời theo.

    – Kết thúc: Lá rụng nhưng Giôn-xi không chết .

    Ngoài tuyến truyện bề nổi ta còn gặp tuyến truyện song hành, chìm ẩn nữa. Hoạ sĩ già Bơ-men nuôi tham vọng vẽ bức kiệt tác. Hoạ sĩ trẻ Giôn-xi muốn chết vì những chiếc lá rơi. Ông muốn cứu cô gái và dự định vẽ chiếc lá và ông quyết định vẽ chiếc lá vào đêm mùa đông giá rét thay thế chiếc lá thường xuân cuối cùng đã rụng. Truyện kết thúc khi cô bé hồi phục bởi chiếc lá vẫn còn trên cành nhưng hoạ sĩ thì đã qua đời.

    Hiện tượng đan cài nhuần nhuyễn các tuyến cốt truyện trên đã cho thấy O Hen-ri xứng đáng là một cây bút lỗi lạc bậc thầy. Cho nên với bài dạy này, giáo viên cần gợi dẫn học sinh hướng vào sự tìm hiểu cảnh ngộ và tâm trạng của Giôn-xi và sức mạnh của nghệ thuật chân chính cũng như nghệ thuật xây dựng cốt truyện, chúng ta có thể đưa vào những câu hỏi sau:

    Câu hỏi 1: Qua đoạn trích em hình dung như thế nào về cảnh ngộ của Giôn-xi và tấm lòng của mọi người đối với cô?

    Câu hỏi 2: Vì sao cụ Bơ-men và Xiu sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ nhìn cây thường xuân?

    Câu hỏi 3: Sau hai lần ra lệnh kéo mành để nhìn ra cửa sổ, tâm trạng của Giôn-xi biến đổi như thế nào? Điều gì gây nên sự biến đổi đó?

    Câu hỏi 4: Em thử hình dung diễn biến tình cảm trong tâm trạng của Giôn-xi khi thấy chiếc lá dũng cảm, đơn độc bám vào cành?

    Câu hỏi 5: Theo em Giôn-xi được cứu sống chủ yếu nhờ vào những điều gì?

    Câu hỏi 6: Tại sao có thể nói chiếc lá cuối cùng của cụ Bơ-men vẽ mới là yếu tố quan trọng cứu sống Giôn-xi?

    Câu hỏi 7: Để Giôn-xi thoát khỏi cái chết nhờ chiếc lá, ngoài việc ca ngợi những tình cảm tốt đẹp của các nghệ sĩ, tác giả muốn ca ngợi điều gì khác?

    Câu hỏi 8: Xiu coi chiếc lá của cụ Bơ-men là một kiệt tác, em có đồng ý như vậy không? Vì sao?

    Câu hỏi 9: Những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, xây dựng các tình tiết và tình huống truyện của O Hen-ri trong chiếc lá cuối cùng?

    Sau tiết dạy giáo viên đưa ra một số bài tập để kiểm tra sự nắm bắt kiến thức của học sinh.

    Câu1. Ai là tác giả của tác phẩm Chiếc lá cuối cùng?

    a. Xéc-van-tet b. O Hen-ri c. An-đéc -xen d. Ai-ma-tốp

    Câu 2. Trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng, nhân vật Bơ-men đã vẽ chiếc lá cuối cùng trong thời gian nào?

    a. Trong đêm mưa tuyết b. Trong hoàng hôn

    c. Lúc trời hửng sáng d. Vào buổi trưa

    Hoặc : Khi dạy bài Cô bé bán diêm giáo viên có thể đưa ra một số bài tập sau:

    Câu1. Trong truyện ngắn Cô bé bán diêm (An-đéc-xen), nhân vật Cô bébán diêm đã quẹt diêm mấy lần?

    a. 2 lần b. 3 lần c. 4 lần d. 5 lần

    Câu 2. Trong truyện Cô bé bán diêm, ai là nhân vật chính?

    a. Mẹ của Cô bé bán diêm. b . Cha của Cô bé bán diêm.

    c. Bà nội của Cô bé bán diêm. d. Cô bé bán diêm.

    a. Đó là một cảnh huy hoàng. b. Đó là một cảnh tuyệt đẹp.

    c. Đó là một cảnh thương tâm. d. Đó là một cảnh nay mộng mơ.

    3.5. Giải pháp 5: Vẽ sơ đồ tư duy:

    Ví dụ: Khi dạy bài “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục”, trích “Trưởng giả học làm sang” Mô-li-e. Giáo viên cho học sinh vẽ “Sơ đồ bố cục vở hài kịch” theo sự hiểu biết của mình về văn bản (phần tìm hiểu chung).

    TRÍCH “TRƯỞNG GIẢ HỌC LÀM SANG”

    – Nhóm 1: Trong cảnh một nội dung xoay quanh những vấn đề gì?

    – Nhóm 3: Hãy tìm những chi tiết gây cười (lời thoại ) trong cảnh một?

    KẾ HOẠCH THỰC HIỆN BÀI GIẢNG IV. HIỆU QUẢ:

    – Nhóm 4: Giải thích vì sao các chi tiết trong cảnh một lại gây cười?

    1. Tiến hành thực nghiệm để đối chiếu, so sánh:

    *Kết quả cụ thể sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

    Sau khi vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy, tôi đã mạnh dạn thực nghiệm đối với khối 8. Để biết được kết quả của việc vận dụng “kinh nghiệm trong dạy học các thể loại Văn học nước ngoài tôi đã tiến hành khảo sát ở các tiết văn học khác. Cách khảo sát được tiến hành như ở phần: Điều tra thực trạng trước khi nghiên cứu.

    Tổng số học sinh: 116

    2. Phân tích, so sánh và đánh giá về kinh nghiệm:

    * Với kết quả khảo sát như trên, qua việc đối chiếu, so sánh kết quả ở khối 8.

    Tôi nhận thấy rằng những biện pháp và hình thức dạy học các tác phẩm Văn học nước ngoài đã góp phần phục vụ hữu ích và góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng của các giờ dạy học tác phẩm Văn học nước ngoài học sinh hứng thú, tiết học sôi nổi không gây nhàm chán.

    Phần lớn học sinh nắm chắc và nắm sâu kiến thức bài học, hiểu và cảm thụ sâu sắc những giá trị đặc về nghệ thuật, nội dung của tác phẩm Văn học nước ngoài.

    Có kỹ năng tìm hiểu, khám phá, phân tích những tác phẩm văn chương nước ngoài theo đặc trưng, thể loại.

    * Sau khi thực hiện đề tài này tôi đã rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân:

    – Muốn học sinh tiếp thu một tác phẩm hayđúng với mục tiêu cần đạt thì trước hết giáo viên phải tạo hứng thú trong giờ học, kích thích sự tư duy, động não của các em.

    – Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ thông tin. Nếu giáo viên dạy văn không biết và không ứng dụng công nghệ thông tin thì chúng ta đang xa rời với thực tại.

    – Để giúp học sinh học tốt Văn học nước ngoài đòi hỏi giáo viên phải gắn bó tâm huyết với nghề.

    – Thường xuyên tra cứu tài liệu để nắm bắt thông tin kịp thời, thường xuyên sử dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học.

    PHẦN KẾT LUẬN

    – Cần đầu tư nhiều thời gian cho việc soạn giảng để nâng cao chất lượng dạy học.

    Qua áp dụng các phương pháp nói trên vào dạy học Văn học nước ngoài tôi thấy kết quả được nâng lên rõ rệt, từ 16 học sinh yếu trong tổng số 116 học sinh trước khi áp dụng giảm xuống chỉ còn 6 học sinh sau khi áp dụng; tương tự như vậy học sinh trung bình, khá, giỏi cũng tăng lên đáng kể sau khi áp dụng các phương pháp nêu trên.

    I. Ý nghĩa của sáng kiến đối với việc giáo dục, dạy học:

    Tác phẩm văn chương nước ngoài là tiếng nói tâm tình, là cuộc đời của những con người sống rất xa chúng ta về không gian và thời gian nhưng lại có cùng một nhịp đập trái tim của chúng ta. Ta phải vận dụng, sáng tạo để đưa các em đến với bến bờ xa lạ của thế giới văn học nhân loại, để nâng cao tầm nhìn, tầm suy nghĩ, hiểu biết của các em. Có như thế việc dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài mới có hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.

    II. Những nhận định chung về áp dụng và khả năng vận dụng:

    * Để dạy – học tốt phần văn học này, giáo viên cần phải có một vốn hiểu biết rộng rãi và sự am hiểu các nền văn minh, văn hoá thế giới, đặc biệt là tấm lòng say mê văn chương để có thể khám phá những tinh hoa văn hoá thế giới.

    III. Hướng phát triển của đề tài:

    * Vận dụng tốt những kinh nghiệm trên, theo tôi kết quả các giờ học văn phần “Văn học nước ngoài” mới có kết quả cao. Đồng thời khắc phục được tình trạng lười học, chán học và ngại học bộ môn này do quan niệm phần văn học này khó học của học sinh.

    Với đề tài này tôi đi sâu nghiên cứu về các phương pháp để nâng cao chất lượng dạy – học Văn học nước ngoài của học sinh lớp 8 nhưng với các phương pháp này giáo viên có thể áp dụng cho tất cả các khối lớp trong phần Văn học nước ngoài (từ khối lớp 6 đến khối lớp 12).

    IV. Những ý kiến đề xuất để thực hiện, áp dụng:

    Tăng cường tổ chức các chuyên đề dạy phần học nước ngoài để giáo viên cùng tham gia giảng dạy, học tập chia sẻ kinh nghiệm.

    Cần hỗ trợ thêm kinh phí để giáo viên làm đồ dùng dạy học phục vụ cho bộ môn.

    Vĩnh Hòa, ngày 18 tháng 01 năm 2022 Người viết Nguyễn Huỳnh Ngọc Trân

    TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo, quý đồng nghiệp có những góp ý chân tình giúp sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.

    – Phương pháp dạy học văn chương (theo thể loại) Nguyễn Viết Chữ, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội 2004.

    – Thơ văn nước ngoài của Tạ Đức Hiền, Nxb Hải Phòng 1996.

    – Phân tích – bình giảng văn học nước ngoài (THCS) Lê Nguyên Cẩn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2001.

    – Thiết kế bài dạy tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông tập 1,2 – Phan Trọng Luận, Nxb giáo dục Hà Nội 2000.

    – Chuẩn kiến thức, kĩ năng, SGK, SGV ngữ văn 8.

    – Phương pháp dạy học văn của Trần Đình Sử.

    Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC CẤP QUẢN LÝ

    NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SKKN

    TRƯỜNG THCS VĨNH HÒA

    …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SKKN

    PHÒNG GD – ĐT PHÚ GIÁO

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT SKKN

    SỞ GD – ĐT TỈNH BÌNH DƯƠNG

    MỤC LỤC

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………….. 1

    I. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………… 1

    II. Mục đích của đề tài: ……………………………………………………………………. 2

    III. Nhiệm vụ của đề tài:…………………………………………………………………… 2

    IV. Phương pháp nghiên cứu:……………………………………………………………. 2

    V. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:……………………………………………………… 2

    VI. Đối tượng nghiên cứu:………………………………………………………………… 2

    VII. Khẳng định tính mới của đề tài trong điều kiện thực tế của nghành và địa phương:…………………………………………………………………………………………………….. 2

    PHẦN NỘI DUNG………………………………………………………………………….. 3

    I. CƠ SỞ KHOA HỌC…………………………………………………………………….. 3

    II. THỰC TRẠNG:………………………………………………………………………….. 3

    1. Thuận lợi :………………………………………………………………………………….. 3

    2. Khó khăn:………………………………………………………..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Huấn Luyện An Toàn Khi Làm Việc Trên Cao
  • Chứng Chỉ An Toàn Lao Động: Các Biện Pháp An Toàn Lao Động Khi Làm Việc Trên Cao Chính Xác Nhất !!!
  • 1.tại Sao Phải Sử Dụng Điện An Toàn Và Tiết Kiệm? Nêu Các Biện Pháp Sử Dụng Tiết Kiệm Điện Năng Mà Em Biết( Ít Nhất 10 Biện Pháp) 2. Nêu Điểm Giống Và Khác Nha
  • Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Cẩu Tháp Trong Thi Công Xây Dựng
  • Biện Pháp Thi Công Phần Móng Nhà Cao Tầng Mà Ai Cũng Phải Biết
  • Việc đối thoại giữa giáo viên và học sinh được tiến hành trên cơ sở một hệ thống câu hỏi do giáo viên soạn, nhằm khơi gợi, dẫn dắt học sinh đi đến kết luận khoa học hoặc vận dụng vào thực tế. Biện pháp này có tác dụng tốt đối với việc huy động vốn tri thức và kinh nghiệm đã có ở học sinh vào việc tìm tòi kiến thức mới, và được áp dụng cả khi dạy học theo nhóm, lớp. Vì vậy khi soạn câu hỏi , GV cần có mục đích dứt khoát, rõ ràng tránh hỏi chung chung.

    Ví dụ: đất ở sân trường màu gì? Không rõ là câu hỏi về màu sắc ,độ ẩm hay các thành phần có trong đất.

    Tránh các câu hỏi chỉ trả lời có hoặc không, đúng hoặc sai vì những câu hỏi như vậy ít kích thích HS suy nghĩ. Khi học sinh trả lời nhát gừng như vậy giáo viên nên hỏi “tại sao”, ” vì sao”,…

    Ví dụ: nước có lợi không?

    Câu hỏi phải bám sát vào trọng tâm, góp phần thực hiện mục tiêu của bài. Các câu hỏi có sự liên kết, lô gich tạo thành một hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề. Tăng cường câu hỏi mamg tính tư duy, động não.Như vậy, hỏi – đáp trong dạy học có thể diễn ra nhiều chiều: Giáo viên- học sinh( giáo viên nêu câu hỏi); Học sinh- học sinh( HS đặt câu hỏi cho nhau) ; học sinh – giáo viên( HS nêu câu hỏi).

    2. Tập thói quen quan sát, nhận xét sự vật, hiện tượng để rút ra kết luận khoa học:

    Từ cách hỏi đáp như vây thì quan sát nhận xét sự vật lại là cách giúp học sinh sử dụng thị giác phối hợp với các giác quan khác xem xét các sự vật, hiện tượng một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch để thu thập thông tin về sự vật, hiện tượng, nắm bắt kiến thức nhanh, kích thích sự tò mò khám phá của học sinh. Đối tượng quan sát có nhiều loại khác nhau như vật thật, các sự vật hiện tượng thường xảy ra trong môi trường hay tranh ảnh, mô hình, sơ đồ, lược đồ,…Có thể tổ chức cho các em quan sát các nhân, nhóm hoặc lớp. Tất cả các nhóm dược quan sát một đối tượng, giải quyết chung một nhiệm vụ hoặc mỗi nhóm giao nhiệm vụ riêng với đối tượng quan sát.

    Để làm tốt điều đó, giáo viên cần chuẩn bị một số câu hỏi khi quan sát. Các câu hỏi phải yêu cầu học sinh sử dụng các giác quan như: hãy nhìn, hãy nghe, hãy sờ tay,…Hướng dẫn các em quan sát từ tổng thể đến các bộ phận, từ ngoài vào trong so sánh các sự vật hiện tượng khác đã biết để tìm ra sự giống và khác nhau mà đi đến kết luận chung. Cách dạy học này nhằm nâng cao sự nhanh nhẹn, khám phá, phân tích ,tổng hợp các sự vật, hiện tượng khoa học.

    * Ví dụ: bài: Nhu cầu không khí của thực vật.

    Học sinh tự quan sát hình 1,2 trang 120,121 /SGK đậưt câu hỏi và trả lời.

    – Trong quang hợp thực vật hút khí gì và thải ra khí gì?

    – Trong hô hấp thực vật hút khí gì và thải ra khí gì?

    – Quá trình quang hợp xảy ra khi nào?

    3. Tổ chức thực hành thí nghiệm giúp học sinh nắm bắt kiến thức:

    – Điều gì xảy ra với thực vật nếu một trong hai qúa trình ngừng hoạt động?

    Đây là giúp học sinh sử dụng các dụng cụ thí nghiệm tái tạo lại hiện tượng như đã xảy ra trong thực tế. Thí nghiệm được sử dụng trong các bài học về sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên. Nội dung thí nghiệm đơn giản, phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS, không nên đưa vào dạy học các thí nghiệm phức tạp, yêu cầu nhiều dụng cụ. Thí nghiệm phải theo quy trình, lí giải rõ ràng đi đến kết luận khoa học. Đảm bảo an toàn, vệ sinh trong quá trình thí nghiệm.

    Việc tiến hành thí nghiệm có thể do chính các em thực hiện dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên hoặc GV tiến hành theo hướng dạy học nêu vấn đề. Muốn vậy, cần chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm. Với cách dạy này giúp các em phát huy được tinh thần ham học hỏi, chủ động tìm ra kiến thức kích thích niềm đam mê khoa học, sáng tạo trong học tập.

    Ví dụ: Bài 23: Không khí chuyển động tạo thành gió ( KH lớp 4)

    – HS tiến hành làm thí nghiệm và đặt câu hỏi cho bạn:

    – Để một tờ giấy mỏng trước một cuốn sách dày, dùng tay mở cuốn sách ra, đóng nhanh lại. 1 số em lên thực hiện cách làm này.

    – Tờ giấy đặt trước cuốn sách sẽ nằm yên hay bay đi?

    – Tại sao tờ giấy bay?

    • HS phán đoán hiện tượng.
    • Dẫn dắt học sinh đi đến kết luận: Không khí chuyển động tạo thành gió. Gió tác động vào các vật trên đường nó thổi qua.

    * Hay bài: Nước có những tính chất gì?

    4. Rèn cho học sinh làm quen với khảo sát và điều tra:

    Học sinh tự làm các thí nhgiệm để rút ra các tính chất của nước.

    Các em vận dụng các hình thức khảo sát và điều tra như : Quan sát trực tiếp, phỏng vấn, nghe báo cáo, thu thập hiện vật, tranh ảnh, tư liệu, bảng thống kê,…Sau đó các em so sánh, phân tích, phân loại tổng hợp để rút ra nhận xét mà viết báo cáo hoặc trưng bày. Hoạt động này thường được giao khi học bài ở nhà.

      Ví dụ: Tìm hiểu chúng ta dùng bao nhiêu nước mỗi ngày?

    – Thời gian: 1 tuần. Chia mỗi nhóm 2 em để điều tra.

    5. Học sinh thể hiện hiểu biết khoa học bằng cách đóng vai:

    Sau đó lấy tổng số nước của một người nhân số người trong lớp( gia đình) được số nước đã dùng, nhân cho giá tiền 1m 3 nước sạch xem một ngày tiêu thụ hết bao nhiêu tiền.

      Ví dụ: Khi diễn tả Mây hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?

    Các em có thể đóng các vai ở phần trò chơi: Giọt nước, Hơi nước, Mây trắng, Mây đen, Giọt mưa.

    Ví dụ: Bằng lời nói kết hợp với sơ đồ giúp học sinh hiểu vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên. (Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên. Lớp 4).

    7. Thông qua dạy học nêu vấn đề, giúp học sinh tự giải quyết vấn đề kích thích sự động não:

    Muốn đạt hiệu quả cao giáo viên phải lưu ý một số kĩ thuật cần thiết như: lời nói rõ ràng, thông tin chính xác, tích cực, ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, biểu cảm, nhấn mạnh điểm cần thiết, nêu câu hỏi nghi vấn, tạo tình huống hấp dẫn. Yêu cầu học sinh đặt câu hỏi để trao đổi. Tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan như: sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh,…Đồng thời nên phối hợp trình bày miệng với máy chiếu. Nhằm giúp các em phát huy được tinh thần tự học nắm bắt thông tin chính xác.

      Ví dụ: Kết thúc hoạt động 3. bài: Sự chuyển thể của chất ( lớp 5)

    Giáo viên tổng kết: Qua những ví dụ trên cho thấy, khi thay đổi nhiệt độ các chất có thể chuyển từ thể này sang thể khác, sự chuyển thể này là một dạng biến đổi lí học.

    Nhằm phát triển trí thông minh và tinh thần tự học của học sinh thì giáo viên đặt ra trước cho học sinh một vấn đề hay một hệ thống những vấn đề đưa học học sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích học sinh tự giác có nhu cầu muốn giải quyết vấn đề. Từ đó giúp học sinh tự lực giải quyết vấn đề khi đứng trước sự lựa chọn một trong nhiều phương án giải quyết.

    * Ví dụ: Trong các vật sau vật nào là vật tự phát sáng?

    Mặt trời, trái đất, ngọn nến.

    Vấn đề đặt ra là mọt sự kiện, hiện tượng mà học sinh khó có thể dùng những hiểu biết, vốn tri thức mà giải quyết được.

    Chẳng hạn: Tại sao ban ngày gió lại từ biển thổi vào đất liền?

    Tại sao ban đêm gió lại từ đất liền thổi ra biển?

    Dạy học nêu vấn đề tuy có nhiều ưu điểm như giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và khả năng vận dụng tri thức vào tình huống mới. Tuy vậy không phải bài nào cũng vận dụng được mà tùy thuộc vào sự mâu thuẫn chưa thực sự gay gắt, chưa thực sự xuất hiện thì chưa nên sử dụng. Vì tâm lí của các em còn nhỏ

    8. Kết hợp với các giáo viên bộ môn, cộng đồng, dựa vào tâm sinh lí của học sinh để cùng giáo dục học sinh

    Hoặc giáo viên dùng cách đưa ra một tình huống hay một yêu cầu nào đó, yêu cầu học sinh phải suy nghĩ, tư duy (có thể dùng sơ đồ tư duy) phân tích, phán đoán có khoa học và rút ra kết luận chung cho các sự vật, hiện tượng. Cách dạy học này nhằm giúp học sinh tự giác tìm ra cái mới, bắt buộc em nào cũng phải suy nghĩ, thường diễn ra khi hoạt động cá nhân.

    Chẳng hạn: Vẽ hoặc viết sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên theo trí tưởng tượng của em? (HS dùng sơ đồ tư duy để thực hiện).

    Để nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục môn Khoa học, không chỉ giáo viên Tiểu học mà còn có sự phối hợp nhịp nhàng với các giáo viên bộ môn để rèn ý thức học tập cho các em. Đặc biệt là sự liên kết với phụ huynh học sinh và cộng đồng nhằm giúp các em chuẩn bị các thí nghiệm, vật thật, tranh ảnh, …tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia vào việc học. Trò muốn giỏi thì phải có thầy dạy dỗ, nhưng không phải tất cả dồn hết lên vai thầy, gia đình cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình học tập của con em mình. Sự hợp tác giữa nhà trường và gia đình sẽ giúp phần nào tăng chất lượng giáo dục.

    Việc ăn uống ở nhà cần có sự phối hợp giúp đỡ của cha mẹ hay người thân, giúp các em hiểu khi bị bệnh phải ăn uống thế nào cho hợp lí nhằm tăng sức đề kháng, nâng cao sức khỏe.

    Ngoài việc áp dụng các biện pháp giáo dục ở trên, thì hiểu tâm lí của các em cũng vô cùng quan trọng tạo nên hiệu quả giờ dạy. Ở tiểu học, các em rất hiếu động, tri giác mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng. Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Do đó nhà giáo phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức của mình. Lớp 4, lớp 5 trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh ý thức của mình và đã có sự nổ lực trong học tập. Do vậy, giáo viên nên giao cho các em những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý và giới hạn thời gian. Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh, đòi hỏi giáo viên phải có sự kiên trì bền bỉ. Muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ. Lúc này tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi. Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần có sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em. Nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn, thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi đóng vai, các hoạt động tập thể ở trường lớp. Nhân cách của các em lúc này rất hồn nhiên, vô tư, trong sáng thật thà và ngay thẳng. Hiểu được những điều này thì cha mẹ hoặc thầy cô giáo phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp. có khi thầy cô không chỉ mang nghĩa” thầy” mà còn là cha là mẹ, là anh chị ,đôi lúc còn là bạn của các em để gần gũi mà chia sẽ những vướng mắc mà các gặp phải trong cuộc sống.

    Chính vì thế, khi lên lớp chúng ta nên áp dụng phối hợp linh hoạt, sáng tạo một số hình thức tổ chức dạy học để mang lại hiệu quả tiết dạy hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 Bằng Dụng Cụ Trực Quan
  • Một Số Biện Pháp Để Dạy Tốt Môn Tin Học Ở Tiểu Học
  • Bên cạnh những ưu điểm thì việc giảng dạy môn ngữ văn ở trường THCS cũng còn rất nhiều bất cập, vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn ngữ văn?

    Theo thực tế phân tích, đánh giá hạn chế, bất cập trong tổ chức dạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở hiện nay, Sở GD&ĐT Bến Tre đưa các định hướng để cán bộ quản lý, giáo viên dạy môn Ngữ văn cấp THCS có những phương pháp dạy Ngữ văn hiệu quả nhất.

    Nhìn nhận ưu, nhược điểm trong dạy học Ngữ văn

    Theo đánh giá của Sở GD&ĐT Bến Tre, một trong những ưu điểm của thực hiện đổi mới dạy học Ngữ văn Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh là đội ngũ giáo viên đều đạt chuẩn đào tạo về chuyên môn, giáo viên nhiệt tình, năng động, nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài liệu giảng dạy, tham khảo khá phong phú, đa dạng…

    Giáo viên ra đề kiểm tra đã có chú trọng đến hướng đổi mới theo hướng phát triển năng lực của học sinh, có chú ý ra đề “mở”. Về phía học sinh thì phần lớn học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp dạy học ở giáo viên chưa thật sự đổi mới. Phần dạy học hiểu văn bản, thay vì hướng dẫn học sinh đọc văn bản để lĩnh hội kiến thức thì giáo viên còn đọc thay cho học sinh, chưa tạo điều kiện, giúp học sinh tự học.

    Giáo viên cũng chưa chú trọng rèn kĩ năng làm văn cho học sinh. Phần lớn học sinh chưa viết một bài văn nghị luận hoàn chỉnh, nguyên nhân là do giáo viên dạy kĩ năng làm văn hiện nay thông qua đề bài, hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý, viết thành văn bản. Học sinh chỉ việc chú ý nghe giảng, chép lại và học thuộc lòng. Như thế dạy thuộc lòng bài mẫu vẫn còn.

    Việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học còn nhiều hạn chế, thậm chí sử dụng hình ảnh thay cho ngôn ngữ, thay vì cho học sinh tưởng tượng ra thì lại cho học sinh xem trước, làm hạn chế năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương…

    Đề kiểm tra thường xuyên hoặc định kì còn giới hạn chỉ ở một số dạng đề ôn tập, cho học sinh ôn rất nhiều đề rồi chỉ cho kiểm tra một trong các đề đã hướng dẫn ôn tập. Khâu chấm, chữa bài, chữa lỗi cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu chữa lỗi về ý tứ, chưa quan tâm đến chữa lỗi trình bày, diễn đạt…

    Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn?

    Một số định hướng nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn

    Bên cạnh việc yêu cầu tiếp tục tổ chức nghiên cứu, thực hiện các chỉ đạo của Sở GD&ĐT, yêu cầu tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường và đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.

    Theo đó, xác định chính xác mục tiêu bài học sát với chuẩn kiến thức, kĩ năng phù hợp với đối tượng học sinh. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động dạy học.

    “Các giảng viên nên vận dụng các hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực… nhằm tăng cường, phát huy tính tích cực, chủ động, tự học của học sinh có thể thực hiện bằng cách thiết kế tiến trình dạy học thành các hoạt động học để thực hiện cả ở trên lớp và hoạt động ngoại khóa, coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường”, cô Lê Thị Thu – giảng viên Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur chia sẻ.

    Về đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá, giáo viên xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phù hợp với kế hoạch giáo dục của môn học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.

    Thực hiện đánh giá thường xuyên với tất cả học sinh bằng các hình thức khác nhau: đánh giá qua các hoạt động trên lớp, đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, báo cáo kết quả thực hành, đánh giá qua bài thuyết trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập… Giáo viên có thể sử dụng các hình thức đánh giá này thay cho các bài kiểm tra hiện hành.

    Giáo viên khi chấm bài kiểm tra phải có phần nhận xét, hướng dẫn, sửa sai, động viên sự cố gắng, sự tiến bộ của học sinh.

    Không thực hiện đánh giá, xếp loại giờ dạy đối với các tiết dạy áp dụng các kỹ thuật, phương pháp dạy học mới nhằm tạo động lực thúc đẩy đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa
  • Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở
  • Công nghệ là một môn học gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên có nhiều học sinh cho rằng đây là môn phụ nên chẳng mặn mà với môn học. Với bản thân tôi, một giáo viên với 7 năm kinh nghiệm dạy học môn Công nghệ, tôi thiết nghĩ: Mặc dù môn Công nghệ không xuất hiện trong các kì thi Học sinh giỏi, Tốt nghiệp hay Đại học nhưng nó lại rất có ích và thiết thực.

    Công nghệ là một môn học gắn liền với thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên có nhiều học sinh cho rằng đây là môn “phụ” nên chẳng mặn mà với môn học. Với bản thân tôi, một giáo viên với 7 năm kinh nghiệm dạy học môn Công nghệ, tôi thiết nghĩ: Mặc dù môn Công nghệ không xuất hiện trong các kì thi Học sinh giỏi, Tốt nghiệp hay Đại học nhưng nó lại rất có ích và thiết thực.Hơn thế nữa môn học này cũng đáp ứng được với mục tiêu giáo dục đào tạo đổi mới căn bản và toàn diện hiện nay. Các kiến thức trong môn học giúp các bạn giải quyết những bài toán thường gặp trong cuộc sống hàng ngày như: cách bảo quản và chế biến một số lương thực, thực phẩm tại gia đình; cách sửa chữa những hỏng hóc đơn giản của các thiết bị như quạt điện, nồi cơm, máy sấy…; cách tính toán doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh hộ gia đình… Đây đều là những vấn đề mà mỗi cá nhân hay gặp phải. Là một giáo viên dạy Công nghệ tôi luôn trăn trở để tìm ra những biện pháp giúp học sinh hứng thú hơn với môn học, từ đó có thể nâng cao chất lượng dạy học.

    Qua kinh nghiệm thực tế công tác tôi rút ra được một số biện pháp sau:

    – Tăng cường các buổi học thăm quan thực tế ở các nhà máy sản xuất, trang trại, công ty…nhằm gắn kiến thức bài học trên lớp của học sinh với tình hình thực tế ngoài xã hội. Ngoài ra, nó còn giúp học sinh có sự trải nghiệm để tự đúc rút các kinh nghiệm cần thiết.

    – Đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường dạy học dự án, nêu vấn đề, …

    – Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc soạn giảng, kiểm tra đánh giá.

    – Sưu tầm, bổ sung thêm các phương tiện dạy học trực quan, tranh ảnh…nhằm kích thích sự hứng thú của học sinh.

    – Thiết kế nhiều công cụ và hình thức kiểm tra đánh giá để việc kiểm tra, đánh giá không còn nhàm chán và “đáng sợ” với học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Khả Thi Nâng Cao Chất Lượng Môn Lịch Sử
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Sang Kien Lanh Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A
  • Một Vài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, môn Tin học ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với học sinh mọi cấp học. Tuy nhiên, việc giảng dạy môn học này hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tin học. Nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy

    Với xu hướng giáo dục 4.0 như hiện nay thì việc nâng cao nhận thức đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, cần có cái nhìn cũng như cách hiểu đúng đắn về đổi mới phương thức dạy học. Theo những chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo : Việc đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc đào tạo hoàn toàn theo phương pháp mới. Đổi mới ở đây được hiểu là vận dụng sáng tạo phương pháp và những kỹ năng giảng dạy truyền thống, kết hợp với phương pháp và phương tiện công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này cần sự thống nhất và hài hòa, phù hợp với đối tượng cũng như nội dung chương trình.

    Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc đổi mới quan niệm dạy học, từ thụ động tiếp nhận sang chủ động nắm bắt kiến thức, từ dạy học bằng thuyết trình sang tự khám phá và chủ động, từ dạy học tập trung vào việc dạy sang dạy học tập trung vào việc học.. Phương pháp này cũng thể hiện sự tôn trọng học sinh cũng như vốn hiểu biết và kinh nghiệm của các em.

    Với phương pháp mới, học sinh có cơ hội để tự phát hiện vấn đề, tự thực hành những thao tác trên máy tính. Từ đó giúp học sinh dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. Đồng thời, nó cũng khiến học sinh mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia thực hành.

    Phát huy tính tích cực của học sinh

    Trong phương thức dạy học mới, học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, có tính tực giác tích cực để chủ động tiếp nhận kiến thức. Về vấn đề này, những chuyên gia giáo dục cho rằng, người học là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng. Điều này giúp học sinh phát huy tính tích cực chứ không phải người bị đông trong tiếp nhận những kiến thức mà thầy giáo truyền đạt.

    Với phương pháp mới này, thầy giáo chỉ giữ vai trò trong viêc điều khiển và định hướng hoạt động học của học sinh. Qua việc định hướng này, giáo viên cũng hình thành động cơ cũng như bồi dưỡng thêm kiến thức mới cho mình.

    Cụ thể, với việc giảng dạy môn Tin học, giáo viên nên đưa ra một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu sẽ đưa ra những câu hỏi dễ để tạo hứng thú học tập. Tiếp đó là hệ thống câu hỏi khó để phát huy tư duy tích cực, để học sinh tham gia ý kiến cũng như chủ động tìm hiểu kiến thức.

    Kết hợp dạy lý tuyết với thực hành

    Theo những tư vấn của chuyên gia giáo dục, việc kết hợp lý thuyết và thực hành là xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục để có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn lao động hiện nay. Đây cũng được xem là phương pháp dạy học Tin học hiệu quả. Thực tế, do học sinh phải học quá nhiều môn, nên Tin học được xem là môn học phụ, lượng kiến thức của chương trình vì thế cũng bị dồn nén. Nếu chỉ học lý thuyết chung chung thì học sinh sẽ không thể nắm bắt và sẽ nhanh quên. Bên cạnh đó thì Tin học cũng là môn học đòi hỏi kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo. Chính vì thế, cần kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành . Đây được xem là yếu tố cần thiết đối với giảng dạy môn Tin học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?
  • Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 Bằng Dụng Cụ Trực Quan
  • A. Phân loại học sinh

    Xã Đạo Đức là một xã nằm phía đông nam của huyện Bình Xuyên, tiếp giáp với thành phố Phúc Yên. Xã gồm 3 thôn chính: thôn Mộ Đạo, thôn Bảo Đức, thôn Yên Lỗ. Nghề nghiệp chủ yếu là làm nông và công nhân ở các khu công nghiệp. Kinh tế ổn định, đời sống đảm bảo an ninh trật tự, trình độ dân trí không đồng đều. Trong những năm gần đây, Đảng và chính quyền địa phương đã quan tâm chú ý đến đường lối phát triển kinh tế đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục vì vậy đời sống văn hoá, xã hội có những bước chuyển biến rõ nét. Vì vậy, 100% học sinh khi vào lớp 1 đã qua lớp mầm non, tuy nhiên trình độ tiếp thu rất khác nhau bên cạnh đó còn có một số học sinh có biểu hiện của tăng động, chậm phát triển gây khó khăn rất nhiều cho giáo viên trong quá trình giảng dạy và tìm phương pháp giảng dạy phù hợp cho lớp. Vào đầu mỗi năm học khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện

    theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập (dựa vào vở Bài tập Toán) có phân loại kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

    B. Biện pháp cụ thể

    Trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu phụ huynh phải mua đầy đủ đồ dung học tập, sách giáo khoa để phục vụ cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ đồ dung toán, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh chuẩn bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm các bài tập ở tiết toán + (buổi chiều) bài tập do giáo viên biên soạn. Việc làm này sẽ giúp củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết, kỹ năng tính toán cho học sinh.

    Đối với mỗi dạng toán khác nhau, ngoài tham khảo sách thiết kế dành cho giáo viên, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của các thầy cô đi trước, tôi lựa chọn cho mình những phương pháp riêng phù hợp với trình độ học sinh lớp mình. Cụ thể như sau:

    Ngay từ những bài đầu tiên của chương trình toán lớp 1, các em sẽ làm quen với các hình đơn giản: hình tròn, hình vuông, hình tam giác. Đối với bài học này giáo viên cần phải cho học sinh nhận dạng, nắm được tên các hình và đặc điểm cơ bản để nhận dạng hình, vẽ được hình đó.

    Ví dụ: Khi dạy bài hình vuông, hình tròn, sau khi cho học sinh nhận dạng được hình, tôi yêu cầu học sinh lấy trong Bộ đồ dùng môn toán các hình vuông, hình tròn rồi yêu cầu học sinh tìm các đồ vật xung quanh em có hình vuông, hình tròn dưới dạng trò chơi tạo hứng thú ban đầu cho các em khi học môn toán. Sau đó cho học sinh vẽ ra bảng con hình vuông, hình tròn để các em khắc sâu hơn về hình đã học.

    2. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

    Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối với học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Tuy nhiên đối với những học sinh trung bình, yếu, kém các em gặp khó khăn rất nhiều trong quá trình xác định nhóm đồ vật có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ vật có số lượng ít hơn.Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

    Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

    Ví dụ: Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh nam, nhóm hai có 3 học sinh nữ.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối tượng trung bình trở xuống trả lời câu hỏi: Nhóm nào nhiều bạn hơn? Nhóm nào ít bạn hơn? Tuy nhiên vẫn sẽ có những học sinh không trả lời được nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn. Đối với trường hợp này, tôi sẽ cho 2 nhóm bạn nam và nữ bắt tay nhau, mỗi học sinh nam sẽ bắt tay với 1 học sinh nữ, các em sẽ thấy thừa ra 1 học sinh nam từ đó thấy được nhóm học sinh nam nhiều hơn nhóm học sinh nữ.

    – Tôi tiếp tục thay đổi số học sinh của hai nhóm và nêu các câu hỏi tương tự để nhiều học sinh yếu kém có cơ hội trả lời câu hỏi nhằm phát hiện kiến thức. Ngoài ra, tôi sẽ làm nhiều phiếu bài tập có dạng bài tương tự để các em nắm vững về nhiều hơn, ít hơn. Quan trọng nhất sau mỗi 1 bài tập tôi thường cho các em trả lời cá nhân sau đó cho các em nhắc lại đồng thanh cả lớp để khắc sâu kiến thức.

    3. Dạy về số, các chữ số.

    Đối với dạng các số từ 0 đến 10, chúng ta phải hướng dẫn thật kĩ để cho học sinh biết đọc, viết các số, vì đây là tiền đề để các em năm được về vấn đề số học trong toàn bộ chương trình toán học ở tiểu học. Có những học sinh đã được cha, mẹ cho làm quen trước ở nhà nên việc nhớ cách viết, đọc các số rất đơn giản với các em. Tuy nhiên có một số ít trường hợp khó khăn trong việc nhớ cách viết, đọc các số này. Như đã nói ở trên, trong lớp tôi có một học sinh trong 3 tháng đầu tiên của năm học, em không thể nhớ nổi các số từ 0 đến 10( không thể đếm 0 đến 10, không nhớ cách viết số, không nêu được số lượng tương ứng trong các bức tranh, trong trường hợp cụ thể.

    Với những học sinh này, thầy cô giáo đặc biệt phải rất kiên trì và nhẫn nại với học sinh cũng như phải thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh để có biện pháp kịp thời.

    Ở dạng toán nhận biết cách đọc, viết các số có 1 chữ số này, tôi thường cho học sinh nhận biết bằng đồ dung trực quan (que tính).

    – Ví dụ: Các số 1, 2, 3, 4, 5

    + Có mấy ngôi nhà? (có 4 ngôi nhà).

    + Giáo viên nêu: Có 4 ngôi nhà.

    + Giáo viên ghi bảng: 4 và đọc: Bốn

    + Giáo viên hướng dẫn học sinh viết bảng con số 4. Sau đó cho học sinh chỉ tay vào bảng con của mình đọc nối tiếp: Bốn.

    + Giáo viên cho học sinh thực hành lấy 4 que tính và nêu: Có 4 que tính.

    Ngoài ra, để củng cố cho các em về số tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi ” Chim bay về tổ” để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời giúp các em khắc sâu hơn về các số. Trò chơi như sau: Tôi gọi 1 nhóm học sinh tham gia chơi trò chơi, khi giáo viên hô: Chim bay về tổ, học sinh đáp: Về mấy về mấy? Giáo viên nêu số bất kì: 2, 3, 4…. Học sinh sẽ tự tạo nhóm tương ứng với số mà giáo viên đã nêu.

    Giáo viên cần cho học sinh nắm chắc thứ tự các số trong dãy số để khi làm các bài tập về điền dấu dễ dàng hơn. (có thể cho học đếm xuôi, đếm ngược hoặc cho học sinh điểm số tờ 1 đến 10 để tạo hứng thú học tập cho học sinh).

    b) Các số từ 11 đến 100

    Ở dạng toán này học sinh thường bị nhầm ở cách đọc số. Ví dụ: 22 các em thường đọc là: hai hai (đọc đúng là: hai mươi hai).

    Để học sinh nắm chắc cách đọc các số, thì khi dạy nhận biết số tôi hướng dẫn học sinh nắm chắc một số gồm mấy chục và mấy đơn vị. Khi học sinh nắm chắc được về chục và đơn vị học sinh sẽ biết cách đọc số. Ví dụ: đọc số: 67

    + 67 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (67 gồm 6 chục và 7 đơn vị).

    + Đọc: sáu mươi bảy.

    Hoặc đối với học sinh trung bình, yếu tôi buộc phải cho học sinh nhớ máy móc bằng cách them chữ “mươi”. Ví dụ: Các em thường đọc: 67 là: sáu bảy. Khi cho them chữ “mươi” vào giữa 2 số sẽ là: sau mươi bảy.

    a) Hướng dẫn học sinh so sánh các số trong phạm vi 10:

    Đây là hai dấu bé, lớn chỉ sự quan hệ giữa các số mà học sinh rất dễ nhầm lẫn, không chỉ học sinh yếu, kém nhầm lẫn mà ngay cả học sinh khá, giỏi cũng có thể sai khi tính toán vội vàng. Để hạn chế điều này, tôi giúp học sinh phân biệt bằng cách co cánh tay của mình khi hướng dẫn các em điền dấu.

    -Với dấu bé hơn (<):

    – Để các em có thể liên hệ với dạng toán nhiều hơn ít hơn, tôi sẽ gắn các số với 1 nhóm đồ vật nhất định ví dụ: 2 quả táo và 4 quả táo.

    – Sau đó nêu câu hỏi: 2 quả táo như thế nào so với 4 quả táo?

    – Học sinh trả lời: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo.

    – Giáo viên nhắc lại: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo hay ta còn nói: 2 < 4

    – Giáo viên ghi dấu bé hơn vào chỗ chấm (2 < 4) và cho học sinh nhận xét: Dấu bé hơn, mũi nhọn quay về bên trái giống như tay trái đang co lại chống vào hông, hay mũi nhọn quay vào số bé hơn.

    – Cho học sinh lên bảng thực hành chống tay trái vào hông trước lớp cho các bạn cùng nhận xét xem có đúng như kết luận đã nêu không (học sinh đứng quay mặt vào bảng). Tiếp tục, tôi tiến hành tương tự với một vài ví dụ khác như: 1…5; 4…7;

    Tương tự ví dụ trên, giáo viên cũng nêu câu hỏi và rút ra nhận xét: Dấu lớn hơn giống như tay phải co lại chống vào hông. Sau đó, cho học sinh thực hành, nêu nhận xét.

    – Giáo viên chọn khoảng 8 học sinh trở lên, tùy theo thực tế học sinh và không gian lớp học, xếp các học sinh này thành một hàng ngang trên bục giảng theo hai nhóm, mỗi nhóm có số lượng học sinh không bằng nhau.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp nhận xét, tuyên dương sau mỗi học sinh.

    – Giáo viên liên tục thay đổi số lượng học sinh trong mỗi nhóm trên bảng để học sinh có thể so sánh được nhiều giá trị giữa 2 số và cũng là để nhiều học sinh cùng được tham gia vào trò chơi.

    b) Hướng dẫn học sinh so sánh các số có hai chữ số:

    Để hướng dẫn học sinh dễ dàng so sánh các số có hai chữ số, tôi cho học sinh tách các số thành từng hàng rồi cho học sinh so sánh các số trong cùng hàng; từ đó rút ra kết luận so sánh giá trị của hai số.

    – Tôi hướng dẫn từng bước cho học sinh nhận xét:

    + 55 và 59 giống nhau ở hàng nào? (giống ở hàng chục là 5).

    + 5 đơn vị như thế nào so với 9 đơn vị? (5 đơn vị bé hơn 9 đơn vị).

    + 55 như thế nào so với 59? (55 bé hơn 59).

    – Gợi ý học sinh rút ra kết luận: 55 và 59 có 5 chục bằng nhau, 5 bé hơn 9 nên 55 bé hơn 59.

    – Gọi học sinh lên bảng điền dấu vào chỗ chấm: 55 <59.

    – Tiến hành cho học sinh so sánh ngược lại: 59…55 tương tự như trên.

    Từ phương pháp và kết quả so sánh trên, giáo viên gợi ý học sinh rút ra kết luận chung: các số có hai chữ số có số chục bằng nhau, số nào có số đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn, số nào có số đơn vị lớn hơn thì số đó lớn hơn.

    Đối với trường hợp các số khác nhau cả hàng chục và hàng đơn vị tôi tiến hành tương tự như trên để rút ra kết luận: các số có hai chữ số, số nào có hàng chục lớn hơn thì số đó lớn hơn.

      3…4

      Dạng bài này học sinh dễ dàng điền được dấu luôn tuy nhiên vẫn có số ít học sinh điền nhầm vì vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát tranh có số lượng đồ vật tương ứng với các số sau đó hỏi tranh nào có số lượng nhiều hơn từ đó học sinh nhận ra được dấu mình phải điền.

      Ở dạng này giáo viên cần cho học sinh nắm chắc kiến thức để làm bài tập các dạng b, c dễ dàng hơn.

      – Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý:

      + Bài này có mấy phần? Gồm những phần nào? (Bài có hai phần, phần đứng trước dấu chấm và phần đứng sau dấu chấm).

      + Em có thể tính phần nào trước? (Tính 3 + 4 trước).

      + 3 + 4 bằng mấy? (3 + 4 = 7).

      + Em dùng bút chì ghi số 6 nhỏ xuống phía dưới phép tính 3 + 4.

      + 9 như thế nào so với 7? (9 lớn hơn 7).

    Ví dụ 3: Bài tập số 2; sách giáo khoa Toán lớp 1 trang 143.

    Bài 2: Khoanh tròn vào số lớn nhất:

    a) 72; 68; 80. b) 91; 87; 69.

    c) 97; 94; 92. d) 45; 40; 48.

    Các bài tập này rất khó đối với học sinh trung bình trở xuống, do đó tôi phải hướng dẫn kỹ từng mục của mỗi bài.

    – Mục a, b: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng chục để tìm được số lớn nhất (bé nhất).

    – Mục c, d: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng đơn vị để tìm số lớn nhất (bé nhất).

    Cuối bài so sánh các số có hai chữ số, tôi tổ chức trò chơi để củng cố như sau:

    – Làm các bông hoa có mang số ở nhụy hoa, ví dụ: 34; 61; 14; 67. Mặt sau bông hoa gắn keo dính 2 mặt.

    – Tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi thành hai đội dưới dạng thi ai nhanh hơn, số lượng học sinh của mỗi đội tương ứng với số hoa mà giáo viên đã làm cho mỗi đội.

    – Giáo viên phát lệnh, học sinh hai đội lần lượt đứng theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại (tùy theo yêu cầu của giáo viên, theo mục tiêu của từng bài học và thực tế học sinh ở mỗi lớp). Đội nào đứng nhanh hơn và đúng là thắng cuộc.

    6. Dạy các bài dạng “Tìm thành phần chưa biết của phép cộng, phép trừ”:

    Ví dụ: …+ 5= 7 …- 6 = 2.

    5 +… = 10 7 -…= 4.

    Đối với các lớp trên, dạng toán này có qui tắc cụ thể. Ở lớp Một, các em tự nhẩm rồi điền vào chỗ chấm. Vì vậy, muốn làm đúng dạng toán này, các em phải thuộc kỹ các phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Do đó, khi dạy phép cộng và trừ từ 2 đến 10, tôi chú ý rèn cho học sinh kỹ năng thuộc và nhớ kỹ tất cả các phép tính. Đối với những học sinh yếu, kém, tôi sử dụng các hình thức dạy học trực quan, gợi mở, dạy học theo nhóm ở lớp, nhóm ở nhà và thường xuyên kiểm tra để các em có thể thuộc và nhớ được các phép tính theo yêu cầu đã nêu.

    7. Dạng điền số vào ô trống:

    Để tất cả học sinh có thể làm được và làm đúng dạng toán này, tôi phát huy tối đa ưu thế của phương pháp gợi mở, phân tích – tổng hợp. Cụ thể như sau:

    + Bài toán này có mấy phần? Đó là những phần nào? (Bài toán có hai phần, phần đứng trước dấu bằng và phần đứng sau dấu bằng).

    + Chúng ta có thể tính được phần nào trước? (Tính phần đứng trước dấu bằng).

    + Phần đứng trước dấu bằng có kết quả bằng mấy? (3 + 7 = 10).

    + Phần đứng sau dấu bằng đã có 6, vậy chúng ta cộng thêm mấy nữa để bằng 10? (Cộng thêm 4).

    + Vậy 3 + 7 = 6 + mấy? (3 + 7 = 6 + 4).

    Trong các tiết Toán tự soạn sau đó, tôi sẽ đưa thêm một số bài tập tự soạn ở dạng này vào bài để các em được luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng và củng cố, khắc sâu kiến thức.

    8. Dạy toán có lời văn:

    Khi học dạng toán này, rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc đặt câu lời giải, thậm chí ngay cả một số học sinh khá cũng lúng túng trong việc này. Các em thường đặt sai câu lời giải hoặc chép lại nguyên văn câu hỏi trong bài toán. Để khắc phục những khó khăn trên cho học sinh, tôi phải sử dụng những qui ước theo kiểu “luật bất thành văn”. Ngay từ những bài toán đầu tiên ở dạng này, tôi qui ước đối với học sinh những nội dung sau:

    – Viết câu trả lời chính là việc trả lời câu hỏi của bài toán.

    – Khi trả lời, không lặp lại từ “hỏi”.

    – Khi trả lời, thay các từ “mấy?”, “bao nhiêu?” trong các bài toán thành các từ “số”, thêm từ là vào cuối câu trả lời.

    Đối với học sinh khá, giỏi, tôi không yêu cầu các em làm theo qui ước mà để các em trả lời tự do theo ý hiểu của mình.

    Ví dụ: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

    – Lời giải là câu trả lời của câu hỏi “Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?”.

    – Khi bỏ từ “hỏi” và thay từ “mấy” bằng từ số sẽ được câu trả lời: “Nhà An có còn lại số con gà là”.

    Trong một số tiết Toán + (buổi chiều), tôi đưa ra một số bài toán tự soạn như đã nêu ở phần đầu với yêu cầu chủ yếu đối với học sinh là luyện tập kỹ năng đặt câu lời giải.

    Ngoài ra các em còn nhầm lẫn trong khi viết phép tính (nhầm phép cộng thành phép trừ, ngược lại). Để hướng dẫn học sinh viết đúng phép tính tôi thường hướng dẫn như sau:

    Ví dụ: Bài 1 trang 148

    Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?

    + Cho học sinh đọc đề bài nhiều lần.

    + Bài toán cho biết gì? (Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con chim bay đi).

    + Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?)

    + Muốn biết còn lại bao nhiêu con chim ta làm phép tính gì?( Ta làm phép tính trừ).

    + Nêu phép tính?( 8-2=6)

    + Nêu câu trả lời cho bài toán?( Trên cây còn lại số con chim là:)

    Với cách làm này, theo ghi nhận thực tế của tôi, 100% học sinh đã đặt được và đúng câu lời giải cho các bài giải toán có lời văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa
  • Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận
  • Hiện Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Đất Ở Thành Phố Hcm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100