Top 6 # Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Trong Trường Tiểu Học Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ - Căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, rèn kĩ năng sống cho học sinh. - Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có mảng kiến thức dành cho đối tượng học sinh khá - giỏi. Ngoài ra trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em, căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học ở giáo viên. Vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phuương pháp dạy học truyền thống. Mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng sai mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới để nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được. Đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặc chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đơn vị. Tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường tiểu học" nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng dạy -học và đẩy mạnh công tác mũi nhọn của đơn vị. PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học trong trường tiểu học 1 Sông Đốc. 1.1.1. Ưu điểm Mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế nhưng tập thể cán bộ giáo viên Trường tiểu học 1 Sông Đốc đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ - giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn trong hè nên nắm vững cách thực hiện đổi mới phương pháp dạy, dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học; đổi mới cách đánh giá học sinh, coi trọng sự tiến bộ của học sinh. Ngoài nắm vững chuyên môn giáo viên còn nghiên cứu, tìm hiểu về đối tượng học sinh, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình của từng môn học, mạnh dạn đăng kí chỉ tiêu phấn đấu trên đối tượng học sinh của mình. Cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nhưng giáo viên đã tận dụng tạo môi trường học tập, môi trường vui chơi an toàn cho học sinh. Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, hăng hái tham gia xây dựng bài học. Ngày nay, công tác xã hội hóa giáo dục có sự chuyển biến mới. Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình. Đồng thời đã đóng góp không nhỏ về tiền của để mua sắm trang thiết bị dạy học trong nhà trường, năng cấp cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho việc vui chơi và học tập của học sinh. 1.1.2. Một số hạn chế và nguyên nhân hạn chế: Năm học 2001-2002 bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ lớp 1. Tất cả giáo viên được tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về dạy học theo chương trình mới một cách kĩ lưỡng. Nhưng khi vào thực tế giảng dạy nhiều giáo viên còn lng túng nhất là khâu đổi mới phương pháp dạy học, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chỉ lo tập trung vào phần việc của mình, cứ lo sợ dạy không hết bài, học sinh không biết cứ như thế là vào tiết học giáo viên thao thao giảng bài, đọc cho học sinh chép nhũng nội dung cần ghi nhớ, yêu cầu các em về học thuộc lòng, có những giáo viên nhận thức được đổi mới phương pháp dạy học là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dưới sự hướng dẫn, nêu vấn đề của người dạy, người học động não, tìm cách giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn. Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học. Thế nhưng không ít giáo viên còn chưa sử dụng, chưa khai thác triệt để thiết bị, đồ dùng vào các tiết dạy mà chỉ dạy chay hoặc sử dụng khi có người dự giờ, khi sử dụng lại có những giáo viên sử dụng vụng về, rồi khai thác một cách qua loa, máy móc làm cho tiết học trở nên rời rạt, khô chán không phát huy được tính tích cực của học sinh. Không có thiết bị để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi. Chép nguyên mục tiêu và các hoạt động trong sách mà không cần biết bài dạy đó có phù hợp với học sinh của mình không mà không bỏ thời gian ra nghiên cứu nội dung bài học sách giáo khoa, liên hệ từng đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn học, hay thiết kế bài dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. không nghiên cứu nội dung sách giáo khoa để xác định mảng kiến thức trọng tâm của bài, liên hệ sự tiếp thu của học sinh rồi lựa chon phương pháp dạy học để phát huy tích cực sự vận động suy nghĩ của từng đối tượng học sinh tránh nhàm chán ở học sinh. Vì trong lớp học có tới bốn khả năng tiếp thu và bốn khả năng nhận thức cụ thể như: học sinh giỏi, học sinh khá, học sinh trung bình, học sinh yếu. Ngoài ra trong qua trình lập kế hoạch bài dạy do không nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài nên việc chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng dạy học không có hoặc không phù hợp, thậm chí có nêu ở chuẩn bị trong giáo án mà qua hết một tiết dạy không thấy giáo viên sử dụng ở hoạt động nào (chổ nào). Bên cạnh những việc tồn tại ở khâu soạn giảng thì cũng không thể không đề cập đến vấn đề kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh. Một số giáo viên dù nắm được, hiểu được hướng dẫn chỉ đạo của thông tư 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo vầ đánh giá xếp loại học sinh, Quyết định số 16 quy định về chuẩn kiến thúc kĩ năng các môn học ở bậc tiểu học ấy thế nhưng trong quá trình đánh giá họ không căn cứ vào những tiêu chí hướng dẫn của văn bản để đánh giá, mà đánh giá chỉ dựa vào cảm tính, quan sát chung chung, thiếu căn cứ, thiếu tính chính xác. Thậm chí việc kiểm tra, đanh giá còn dựa trên tình cảm, cả nể mà đánh giá không đúng thực lực của học sinh. Và mặc dù trong những năm học vừa qua các trường chỉ đạo thực hiện tốt cuộc vận động hai không. Vậy mà còn không ít giáo viên vẫn còn để xảy ra tiêu cực trong kiểm tra, trong đánh giá xếp loại nhất là trong xét khen thưởng ở cuối năm. Đến vào đầu năm học mới có rất nhiều học sinh bị hụt hẫng về kiến thức nên rất khó cho việc giảng dạy của giáo viên ngoài ra còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục. Mặt khác giáo viên chưa nghiên cứu sâu về tâm lý từng học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn. Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu, bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập, lại được phụ huynh đồng thuận mua sắm cho sách giải, sách tham khảo, các em lại sao chép. Do còn không ít phụ huynh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp để giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC CỦA Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SÔNG ĐỐC 1. 1. Biện pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm. Trường học - tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục - nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vân mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phàn nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật... Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công, để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào. Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dương phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ. Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh. Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giáo lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy. Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với ban ngành đoàn thể đảm bảo quyền lợi của anh chị em trong lao động. 2. Biện pháp về hoạt động giảng dạy của giáo viên. 2.1. Biện pháp xây dựng nề nếp, kỷ cương trong hoạt động giảng dạy của giáo viên Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy. - Trên cơ sở: Quyết định 14 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Quyết định 16 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao về việc Vi phạm đạo đức nhà giáo ngày 16 tháng 04 năm 2008; căn cứ điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đao của lãnh đạo Phòng GD&ĐT và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ trên tuần ( rút kinh nghiệm,dự giờ để đánh giá), số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn.duy trì sĩ số lớp - Phát động phong trào Thi đua-Dạy tốt-Học tốt, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về lực học, về sở trường, về cá tính của học sinh) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy. -Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào "Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm". qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường. 2.2. Biện pháp chỉ đạo việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của cấp quản lí giáo dục: Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo ngành. Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho tùng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp, phân phối chương trình. Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Hướng dẫn tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các hội thi mà cấp trên tổ chức, như thi viết chữ đẹp, thi học sinh giỏi, Toán tuổi thơ cấp huyện, cấp tỉnh đối với lớp 5... Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường tiểu học, nội dung sinh hoạt đa dạng phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học - xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một nôm, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện. 2.3. Biện pháp chỉ đạo thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học của giáo viên: Thiết kế bài dạy và chẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học. Là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau: -Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông vào soạn giảng đến tơ khối, giáo viên. Kế hoạch bài giảng của giáo viên phải thể hiện: - Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học dành cho đối tượng học sinh trong lớp. - Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có ngoại hình cân đối, giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ. - Nội dung cơ bản của kế hoạch phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài, dự kiến thời gian của từng hoạt động; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên. Không ghi những vấn đề không cần thiết. Nội dung giáo án ngắn gọn, xúc tích đảm bảo nội dung trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy - trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học với đối tượng học sinh). Quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy. 2.4. Biện pháp quản lí giờ lên lớp của giáo viên: Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học. Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động là hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu đa số là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy hiệu trưởng quản lí giờ lên lớp của giáo viên như: - Tổ chức thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích giáo viên thực hiện tốt giờ lên lớp. - Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành. Duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp. 2.5. Biện pháp quản lí việc dự giờ của giáo viên: Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất. Căn cứ vào điều lệ Trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 1 tiết/tuần, đối với tổ chuyên môn ít nhất 2 tiết/tuần. Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Trong Trường Tiểu Học

Ngày nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã có những tác động to lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong mỗi Quốc gia và trên Thế giới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và công nghệ thông tin, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hoá – hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng – thế giới nói chung.

Nghị quyết Trung ương số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ mục tiêu giáo dục: “… đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

( Luật giáo dục 2005 – trang 1)

Trong đó, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

Hiện nay ngoài việc học 9 môn bắt buộc, học sinh tiểu học còn được học các môn tự chọn (như Tiếng Anh, Tin học).

Ta thấy rằng, mục tiêu dạy môn tự chọn ở tiểu học là nhằm hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng cơ bản, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực cá nhân, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Học sinh được học theo sở thích, năng lực của mình nên em nào cũng hồ hởi khi được học môn tin học.

Xác định rõ tầm quan trọng của CNTT đối với yêu cầu phát triển đất nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa môn tin học vào trong nhà trường ngay từ bậc học tiểu học.

Ở tiểu học, học sinh được tiếp xúc với môn tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những phần nâng cao trong các cấp học tiếp theo.

Có hiểu biết ban đầu về tin học và ứng dụng tin học trong học tập và trong đời sống.

Có khả năng sử dụng máy tính trong việc học những môn học khác, trong hoạt động vui chơi giải trí nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và thích ứng với đời sống xã hội hiện đại.

Bước đầu học sinh được làm quen với cách giải quyết vấn đề có sử dụng công cụ tin học.

Là giáo viên dạy môn Tin học ở tiểu học tôi thấy: Chương trình tin học của học sinh tiểu học gồm các nội dung chủ yếu như làm quen với việc sử dụng máy vi tính, sử dụng những thiết bị thông dụng, sử dụng phần mềm trò chơi mang tính giáo dục, sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản, sử dụng phần mềm đồ họa, bước đầu làm quen với Internet… Các em rất yêu thích môn học này nên tiếp thu bài rất nhanh. Do vậy, việc đưa tin học vào tiểu học ở môn tự chọn là đúng đắn. Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, ngành Giáo dục – Đào tạo đã có khả năng tự trang bị phòng máy vi tính cho các trường.

Việc đưa tin học vào giảng dạy ở cấp tiểu học dù tự chọn hay chính khóa rất cần có sự đầu tư cơ sở vật chất nhất định, nhằm vào mục tiêu hỗ trợ giáo viên giảng dạy, hỗ trợ học sinh học tập.

Môn tin học ở bậc tiểu học bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiến thức ban đầu về công nghệ thông tin như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thường dùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, … đồng thời hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:

+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải.

+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin.

+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại.

+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học.

+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập.

+ Có ý thức tìm hiểu công nghệ thông tin trong các hoạt động xã hội.

Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm sẽ được tích hợp nhiều nội dung kiến thức, phát triển nhiều kỹ năng cho bản thân như:

+ Phần mềm soạn thảo văn bản: học sinh ứng dụng từ các môn học Tiếng Việt để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách. Ứng dụng soạn thảo văn bản để soạn thảo giải những bài toán đã học ở cấp tiểu học.

+ Phần mềm đồ họa (Paint): học sinh ứng dụng trong môn Mĩ thuật, học được từ môn Mĩ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà và có thẩm mĩ.

+ Phần mềm cùng học toán 3, cùng học toán 4, cùng học toán 5: Đã giúp các em luyện tập giải toán và các kĩ năng làm toán…

+ Ngoài ra còn một số phần mềm trò chơi rất bổ ích: Giúp các em luyện sử dụng chuột và giải trí.

+ Chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa các bài vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp.

Từ các lí do trên tôi chọn viết và trao đổi với các đồng chí chuyên đề “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học trong các trường Tiểu học”. Qua các biện pháp trong chuyên đề sẽ giúp các em học tốt hơn, đồng thời giúp các em có một kĩ năng sử dụng tốt máy tính để hỗ trợ cho việc học tập của bản thân. Chuyên đề cũng nhằm cung cấp cho các đồng chí GV Tin một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Tin học ở trường mình khi áp dụng phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi trường.

II. THỰC TRẠNG 1. Thuận lợi

– Hàng năm phòng GD&ĐT đều có kế hoạch mua sắm trang thiết bị trong đó có bổ sung, trang bị máy tính cho các trường.

– Về chương trình môn học: Năm học 2017-2018, Bộ GD&ĐT đã triển khai chương trình sách Hướng dẫn học tin học lớp 3-4-5 ngay từ đầu năm học. Sách hướng dẫn học Tin học mới có sự cải tiến nhiều hướng tới học sinh, giúp học sinh đến gần hơn với CNTT, tiếp xúc với các phần mềm mới và phù hợp với các em hơn.

– Sách mới giúp việc tương tác và truyền tải nội dung giữa thầy và trò được thuận lợi hơn.

– Giáo viên được đào tạo trình độ chuẩn, đáp ứng về kiến thức và phương pháp, đảm bảo yêu cầu dạy học môn Tin học ở bậc Tiểu học. Thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cấp huyện, cấp cụm đồng thời tự học tập trau dồi kiến thức chuyên môn, phương pháp dạy học mới để tiếp cận kịp thời với sự phát triển nhảy vọt của CNTT.

– Về học sinh: Nội dung sách Hướng dẫn học Tin học mới được trình bày nhẹ nhàng, đẹp, chú trọng nhiều về phần thực hành rất phù hợp với lứa tuổi HS tiểu học.

– HS từ khối 3 đến khối 5 được học môn Tin học. Mỗi lớp được học với thời lượng 2 tiết/ 1tuần.

– Môn Tin học là một môn học Tự chọn nên HS tiếp thu kiến thức một cách thoải mái, không bị gò ép, các em rất hứng thú với môn học.

– HS đã nắm được các kiến thức cơ bản của bài học. Từ đó HS đã biết sử dụng và ứng dụng phần mềm vào việc học tập.

2. Khó khăn

Nhà trường đã có một phòng máy vi tính để cho học sinh học nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng, mỗi ca thực hành có tới 3 – 4 em ngồi cùng một máy nên các em không có nhiều thời gian để thực hành làm bài tập một cách đầy đủ. Hơn nữa nhiều máy cấu hình máy đã cũ, chất lượng không còn tốt nên hay hỏng hóc, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của học sinh.

Đời sống kinh tế của một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn, rất ít học sinh ở nhà có máy vi tính, nên ngoài giờ thực hành trên lớp học sinh không có điều kiện để luyện thêm ở nhà, nên việc rèn luyện kỹ năng và ứng dụng chưa nhiều.

Tài liệu tham khảo dành riêng cho bộ môn Tin học còn quá ít. Nhất là những tài liệu nói về phương pháp dạy học đặc trưng của môn Tin học.

Đây là môn học tự chọn nên một số HS chưa học nghiêm túc và phụ huynh chưa quan tâm.

Sự cố về kỹ thuật: Nhiều máy bị hỏng. Dẫn đến không đủ máy cho HS thực hành.

Năm học 2017-2018 áp dụng học sách Tin học mới do BGD&ĐT triển khai trong đó có một số chương trình phần mềm có yêu cầu cấu hình máy nhưng do nhiều máy đã cũ và cấu hình thấp nên không đáp ứng được cho việc cài đặt phần mềm học tập cho học sinh.

Một số phần mềm không thể áp dụng được vào giảng dạy vì do trình độ Gv còn hạn chế và phòng máy không có tai nghe cho HS như phần mềm học tiếng Anh và phần mềm nhạc Encore, MuseScore.

III. MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ 1. Đối với nhà trường

+ Từng bước nâng cao chất lượng bộ môn Tin học nói riêng và chất lượng chuyên môn của nhà trường, vì Tin học là một môn bổ trợ và tích hợp rất nhiều các nội dung kiến thức của các bộ môn khác.

+ Giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí, đánh giá thực trạng và nhu cầu trang bị cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu tất yếu phục vụ cho việc dạy học môn tin học và ứng dụng CNTT trong việc quản lý nhà trường.

2. Đối với Giáo viên

+ Giúp giáo viên bộ môn có thêm tư liệu giảng dạy và từng bước đổi mới phương pháp dạy môn Tin học ở Tiểu học

+ Chia sẻ, xây dựng nội dung kiến thức CNTT, kinh nghiệm trong giảng dạy môn Tin học để xây dựng phương pháp giảng dạy tối ưu.

+ Giúp các thầy giáo, cô giáo ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

3. Đối với Học sinh

+ Giúp học sinh học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

+ Góp phần rèn luyện HS một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kỳ hiện đại hóa.

+ Giúp học sinh hiểu biết ban đầu về Tin học và ứng dụng của Tin học trong đời sống và học tập.

+ Trang bị cho HS kiến thức về CNTT, HS sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập.

IV. BIỆN PHÁP 1. Tăng cường tự học để năng cao nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học môn tin học

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là phủ nhận phương pháp dạy học truyền thống và sử dụng phương pháp dạy học hoàn toàn mới. Đổi mới phương pháp dạy học là sự vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học, các biện pháp, kỹ thuật dạy học truyền thống kết hợp với những phương pháp dạy học, phương tiện, công nghệ và các kỹ thuật dạy học hiện đại, sao cho phù hợp với đối tượng, nội dung chương trình, nhằm giúp người học tích cực, chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng kiến thức vào thực tế.

Bản chất của phương pháp dạy học là đổi mới quan niệm dạy học từ: dạy học thụ động sang dạy học tích cực; dạy học bằng thuyết trình hay giải thích sang dạy học bằng cách khám phá; dạy học độc thoại bằng dạy học đối thoại; dạy học tập trung vào cá nhân sang dạy học tập trung vào nhóm, dạy học hợp tác; dạy học tập trung vào nội dung tiến tới dạy học tập trung vào quá trình; dạy học tập trung vào việc dạy sang tập trung vào việc học; dạy kiến thức sang dạy cách học cho học sinh …..

Làm như vậy, thể hiện sự tôn trọng học sinh, tôn trọng vốn hiểu biết, kinh nghiệm đã có của các em. Tạo điều kiện cho học sinh tự phát hiện vấn đề, tự thực hành các thao tác trên máy tính, giúp học sinh dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn, mạnh dạn tự tin hơn, phấn khởi hơn khi được tham gia thực hành. Tạo không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, thoải mái, không áp lực, mệt mỏi.

Bước đầu vận dụng một số PPDH làm sao cho học sinh: được tham gia nhiều hơn, được trao đổi nhiều hơn và được làm, thực hành nhiều hơn.

Đó chính là thay đổi nhận thức từ dạy học tập trung vào người dạy chuyển sang dạy học tập trung vào người học.

So sánh 2 cách dạy học, tôi nhận thấy:

1. Không chú ý kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

2. Tập trung vào việc dạy của thầy

3. Thầy độc thoại, phát vấn

4. Học sinh thụ động nghe

5. Thầy cung cấp thông tin

6. Thầy áp đặt kiến thức có sẵn

7. Trò học thuộc

8. Thầy độc quyền đánh giá

1. Tôn trọng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh

2. Tập trung vào việc học của trò

3. Đối thoại trò-trò, trò-thầy

4. Học sinh tích cực, chủ động

5. Thầy tổ chức, động viên, hướng dẫn/gợi ý

6. Học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự rút ra kết luận

7. Học cách học, cách giải quyết vấn đề

8. Kết hợp thầy đánh giá với tự đánh giá của học sinh, của tập thể lớp

Dựa vào các nội dung so sánh nêu trên và thực tiễn trong quá trình dạy học từ nhiều năm nay, tôi nhận thấy cách dạy học tập trung vào người học có hiệu quả rõ rệt giúp cho các em tự tin cố gắng vươn lên trong học tập.

2. Sắp xếp nội dung, phương pháp học tập cho từng phần học phù hợp, hiệu quả

Ngay từ bài học đầu tiên trong chương trình học Tin học, giáo viên phải xác định rõ cho học sinh nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho học sinh quan sát ngay trong giờ dạy lý thuyết.

Xây dựng kế hoạch bài dạy này ta làm như sau:

Tiết 1: Giới thiệu máy tính:

Việc 1: Quan sát: Bộ máy tính để bàn

Cho học sinh quan sát một bộ máy tính để bàn và nhận biết các bộ phận quan trọng của một máy tính bao gồm: Màn hình; phần thân máy; bàn phím; chuột.

– Màn hình của máy tính có cấu tạo và hình dạng như màn hình ti vi. Các dòng chữ, số và hình ảnh hiện trên màn hình cho thấy kết quả hoạt động của máy tính (giáo viên thao tác trực tiếp trên máy cho học sinh quan sát)

– Phần thân của máy tính là một hộp chứa nhiều chi tiết tinh vi, trong đó có bộ xử lý. Bộ xử lý là bộ não điều khiển mọi hoạt động của máy tính.

– Bàn phím của máy tính gồm nhiều phím. Khi gõ các phím, ta gửi tín hiệu vào máy tính.

– Chuột của máy tính giúp điều khiển máy tính nhanh chóng và thuận tiện. (Với sự giúp đỡ của máy tính các em có thể làm nhiều công việc như: học nhạc, học vẽ, học làm toán, liên lạc với bạn bè …)

Việc 2: Thực hành

a. Học sinh quan sát thầy, cô giáo gõ phím, điều khiển chuột máy tính và theo dõi sự thay đổi trên màn hình.

b. Dưới sự hướng dẫn của thầy, cô giáo, học sinh thử gõ một vài phím và quan sát sự thay đổi trên màn hình.

Việc 1: Giới thiệu về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

Việc 2: Thực hành về cách bật/tắt máy tính đúng quy trình.

Giáo viên biết kết hợp giữa dạy lí thuyết và thực hành sao cho phù hợp, dạy lí thuyết tốt thì học sinh thực hành tốt. Khi học sinh thực hành tốt thì sẽ hiểu sâu hơn về lý thuyết.

Nội dung giảng dạy là chương trình SGK Cùng học Tin học quyển 1,2,3. Nội dung rất phù hợp, lôi cuốn HS. Để thực hiện dạy đạt hiệu quả, ngoài việc thực hiện đúng theo chương trình, tôi đã thực hiện như sau:

Ở phần học này, ngay từ bài học đầu tiên, GV cần giúp cho HS xác định rõ và nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho HS quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết. Sau đó, vấn đề làm tôi quan tâm nhất là tạo cho các em có thao tác đúng và thành thạo khi sử dụng chuột, bàn phím,…

Ví dụ: Ở bài Bàn phím máy tính: Để giúp các em làm quen với bàn phím, GV cho HS nêu tên tất cả các phím và cho chơi một số trò chơi có nội dung về bàn phím. Trong đó có trò chơi Piano. Nhưng theo tôi phần mềm này không đạt hiệu quả vì các máy tính của HS không có tai nghe hay loa nên HS dễ nhàm chán vì gõ mà không thấy có kết quả gì. Vì thế, theo tôi ngay từ bài học này GV có thể hướng dẫn HS làm quen luôn với phần mềm Mario. Như thế HS vừa nắm được tên của các phím, vừa gây được hứng thú học tập của các em. Còn phần mềm đó GV nên giới thiệu cho HS và khuyến khích các em chơi ở nhà.

Ở lớp 4 và 5: Lúc này các em đã được hiểu biết nhiều hơn về máy tính nên GV sẽ có những yêu cầu cao hơn. HS phải nắm được cách sắp xếp thông tin theo hệ thống của máy tính. Biết cách sắp xếp và tìm kiếm thông tin.

GV yêu cầu HS cần có thái độ nghiêm túc khi học và làm việc trên máy tính, không phân biệt phần mềm học tập hay phần mềm trò chơi. GV cần liên hệ thực tế để giúp HS nắm được từ việc học và chơi trên máy tính đến đời sống thường ngày.

+ Luyện tính kiên trì, trí thông minh, luyện sử dụng chuột qua trò chơi Dots, Stiks, ……

+ Yêu thích môn Toán qua trò chơi Cùng học toán.

+ Chơi thể thao, tìm hiểu thiên nhiên qua trò chơi Godl, Khám phá rừng nhiệt đới.

Ở chương học này, thời gian thực hành khá dài, dễ gây nhàm chán. GV nên chủ động dạy dàn trải trong các tiết học.

Đây cũng là phần trọng tâm của chương trình lớp 3. Phần này đòi hỏi phải có sự tập luyện thường xuyên thì mới đạt hiệu quả cao được. GV cần giúp HS hiểu được lợi ích của việc gõ phím bằng 10 ngón để từ đó HS có ý thức hơn trong việc rèn luyện. Không cần nhiều, ở mỗi tiết thực hành, nếu còn thời gian hãy khuyến khích HS luyện gõ trong 10 phút thôi sẽ mang lại hiệu quả rất tốt. Cần phải chú trọng và nghiêm túc rèn từ lớp 3 về cách đặt tay lên bàn phím, cách gõ phím…thì đến lớp 4-5 HS mới có thói quen gõ 10 ngón.

Với phần học này, HS rất có hứng thú học tập. Ở phần học này GV cần chú trọng cho HS thực hành nhiều, giảm tiết lí thuyết hoặc có thể giảng lí thuyết ngay trong tiết thực hành. Như vậy học sinh mới có thao tác thành thạo được. Ngoài việc dạy những yêu cầu cơ bản trong SGK. Nếu có điều kiện GV có thể thiết kế các bài tập khác để phần học này thêm phong phú.

Ở lớp 4-5, yêu cầu đã được nâng cao hơn. Ngoài những kiến thức cơ bản cần đạt được ra, GV cần quan tâm nhiều đến vấn đề ứng dụng của các kiến thức đó vào bài vẽ.

Nội dung kiến thức chủ yếu là tạo cho HS những kiến thức cơ bản nhất để soạn thảo và trình bày một văn bản. Ở phần này GV cũng chú ý đến dạy thực hành hơn, dạy xong lý thuyết là cho HS thực hành ngay như vậy HS mới nắm được.

Ở lớp 3 HS được làm quen với 2 cách gõ là kiểu VNI và kiểu Telex. GV cần cung cấp cả 2 cách gõ này và khuyến khích các em lựa chọn cách gõ phù hợp để việc soạn thảo dễ dàng hơn.

Ở lớp 4 và 5 HS đã được học cách trình bày văn bản. GV hãy tạo điều kiện cho các em ứng dụng những kiến thức vừa học vào trình bày những văn bản thông thường.

Ví dụ: Khi dạy bài Căn lề (lớp 4) GV đưa thêm một số bài thơ, bài ca dao tục ngữ hay một đoạn văn bản đã học trong SGK Tiếng Việt mà HS đã học ở trên lớp để các em thực hành.

Logo là một ngôn ngữ lập trình, có đầy đủ các đặc điểm của một ngôn ngữ máy tính, xuất phát từ ngôn ngữ LISP, ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo. Logo là ngôn ngữ để học. Để hỗ trợ thực hiện quá trình học và suy nghĩ bằng cách khuyến khích HS tìm tòi khám phá. Logo có bảng kí tự, từ khóa riêng, cú pháp riêng và khá chặt chẽ.

Ở lớp 4 và lớp 5 HS mới được làm quen với phần mềm này và đây cũng là lần đầu tiên HS được làm quen với ngôn ngữ lập trình. Do vậy, khi thực hành những câu lệnh của Logo GV cần lưu ý HS phải rất cẩn thận khi viết các câu lệnh, tránh để HS hiểu tùy tiện, áp dụng những ngôn ngữ thông thường dành cho câu lệnh.

Đứng trước mỗi bài tập, bài thực hành, GV luôn luôn yêu cầu HS chia công việc được giao thành những nhiệm vụ nhỏ hơn và cuối cùng dùng những lệnh cơ bản của Logo để thực hiện. Sau khi chia nhỏ và phân tích bài toán, cần rèn luyện cho HS cách nhìn tổng hợp bài toán.

Khuyến khích HS làm việc tập thể, làm việc theo nhóm.

Viết chương trình một số thủ tục để tạo ra hình trang trí theo mẫu.

Thủ tục 1: Vẽ hình vuông với câu lệnh Repeat 4 [FD 50 RT 90]

Thủ tục 2: Vẽ tam giác: Repeat 3 [FD 50 RT 120]

Thủ tục 3: Vẽ ngôi nhà: dùng hai thủ tục 1 và 2 trong thân thủ tục 3.

Thủ tục 4: Vẽ vành bánh xe (lặp 12 lần thủ tục 3)

3. Hệ thống các bài tập thực hành

Việc hệ thống các bài tập thực hành phải phù hợp với nội dung dạy lí thuyết, liên hệ với một số môn học khác trong chương trình học của các e m.Các bài tập không quá dài, nâng dần từ mức đơn giản đến phức tạp. Liên kết kiến thức bài học trước với bài học sau để học sinh thực hành đạt hiệu quả cao.

Ví dụ 4:Trong một tiết thực hành: Vẽ quang cảnh trường em

(Tranh vẽ của HS lớp 5 Tiểu học Cao Đại trên máy tính)

Ở bài vẽ trên, học sinh phải sử dụng công cụ vẽ đường thẳng, vẽ đường cong và công cụ tô màu để vẽ quang cảnh trường em. Từ bài này học sinh liên tưởng nhớ lại cách vẽ quang cảnh được học ở môn mĩ thuật (xác định mảng chính, mảng phụ, sử dụng luật xa gần, phối hợp màu nóng, màu lạnh) để từ đó vận dụng vẽ quang cảnh trường em sao cho đẹp.

4. Trong giờ thực hành

Giáo viên luôn động viên tạo sự thi đua giữa các nhóm bằng cách phân công các nhóm làm bài thực hành, sau đó các nhóm nhận xét, đánh giá, chấm điểm giữa các nhóm (dưới sự chỉ dẫn của giáo viên) để tạo sự hào hứng học tập và sự sáng tạo của học sinh trong quá trình thực hành.

Phần thực hành: Thực hành giải toán trên phần mềm

Chia nhóm đôi, các nhóm cùng thực hành bài toán về so sánh số thập phân.

Chẳng hạn: 2,25 1,25 9163,6771 738849,4

447,27 184,28 234642,15 3480,7905

HS tự điền dấu thích hợp cho đúng.

Nhóm nào nhanh, làm đúng, không làm sai thì nhóm đó được khen ngợi.

5. Sử dụng Tài nguyên

Sử dụng các chương trình có sẵn trong máy vi tính, hoặc truy cập mạng để tìm kiếm thông tin, tìm kiếm tài nguyên trên Internet phục vụ cho quá trình dạy và học, tăng cường sử dụng bài giảng điện tử tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào bài học.

– Phần mềm KP Typing Tuto (giúp học sinh luyện gõ 10 ngón tay); trang Web chúng tôi (giúp học sinh giải toán qua mạng)…

– Phần mềm soạn thảo văn bản Microsoft Word giúp học sinh tập soạn thảo.

– Phần mềm đồ hoạ Paint giúp học sinh học vẽ

– Trong bài: Khám phá rừng nhiệt đới (Tin học lớp 4 – quyển 2) bản thân tôi đã tìm kiếm thông tin trên Web về thế giới động vật, tôi đã hướng dẫn học sinh vào trang chúng tôi để tìm kiếm những hình ảnh và thông tin về động, thực vật trong rừng nhiệt đới.

(Đây là những hình ảnh mà học sinh của tôi đã tra cứu trên mạng Internet)

– Sử dụng bài giảng điện tử ( giúp học sinh tiếp thu bài tích cực, chủ động hơn)

(Đây là một số bài dạy điện tử mà tôi đã trực tiếp thiết kế và giảng dạy) 6. Cải thiện chất lượng phòng máy

– Với những sự cố bất ngờ trên, việc xác định nguyên nhân của nó sẽ giúp ta tìm ra cách giải quyết, xử lí vấn đề dễ dàng hơn:

– Việc đầu tiên là cần phải kiểm tra tất cả các cáp (cáp nguồn, cáp dữ liệu…) để chắc chắn là mọi thứ đã được gắn chặt và đúng cách.

a) Kiểm tra lại những phần mềm hay phần cứng được cài đặt gần đây: Nếu sự cố xảy ra ngay sau vừa cài đặt một phần cứng hay chương trình phần mềm, bạn hãy gỡ bỏ chúng ra và khởi động trở lại. Nếu máy tính vẫn hoạt động bình thường thì đó chính là nguyên nhân. Còn việc cài đặt lại sẽ do nhân viên bảo trì tiếp tục làm sau đó.

b) Chạy các chương trình diệt vi rút hiệu quả: Để chương trình này chạy tốt bạn phải luôn cập nhập phiên bản mới nhất. Các chương trình được xem là tốt nhất hiện nay như: Norton Antivirus, AGV Antivirus…

c) Kiểm tra nhiệt độ thùng máy: Sự quá nhiệt là một nguyên nhân khác, thường xảy ra do sự hoạt động kém của các quạt giải nhiệt, các loại bụi bẩn bám trong thùng máy. Nếu thấy bên trong thùng máy có nhiều bụi bẩn bám vào, bạn nên vệ sinh nhưng phải rất cẩn thận vì nó có nguồn điện thế cao, rất dễ gây nguy hiểm. Tốt hơn hết là nên báo lại cho nhân viên bảo trì.

d) Kiểm tra lại bộ nhớ Ram: Đây là nguyên nhân chủ yếu mà tôi thường gặp mỗi khi máy không khởi động được hoặc bị lỗi bất thường khi đang hoạt động. Nếu phát hiện ra bộ nhớ có vấn đề, hãy tháo các thanh Ram ra, lau sạch chân thanh Ram và gắn lại thật chặt, hoặc lần lượt gắn từng thanh Ram ở các vị trí khác nhau để kiểm tra.

e) Cài đặt máy tính với đầy đủ phần mềm học tập cho HS rồi tôi đóng băng ổ C lại bằng phần mềm Deep Freeze giúp giảm việc hỏng máy do virut hay những lỗi HS vô tình xóa dữ liệu trong ổ C.

f) Đôi lúc máy chạy nhưng màn hình không lên hình. Hãy mượn màn hình đang sử dụng tốt khác để thử.

h) Thường xuyên hướng dẫn HS vệ sinh phòng máy, phân công mỗi lớp một tuần phụ trách vệ sinh phòng máy dưới sự chỉ đạo của GV, giáo dục HS ý thức bảo vệ của công và ý thức giữ gìn máy tính trong phòng Tin học đồng thời giảm việc hỏng máy tính do bụi bẩn.

7. Xây dựng câu lạc bộ Tin học

Câu lạc bộ là tổ chức nhằm mở rộng tầm nhận thức, hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật, giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sáng tạo và các năng khiếu của con người. Tổ chức câu lạc bộ tin học là điều kiện tốt để các cá nhân yêu thích tin học có môi trường phát huy khả năng của mình. Đối tượng của câu lạc bộ có thể là các cá nhân hoặc nhóm

Thành lập câu lạc bộ Tin học khối Tiểu học của Huyện: Câu lạc bộ là nơi để cho các đồng chí giáo viên, nhân viên tin học của khối tiểu học trong toàn huyện sinh hoạt nhằm trao đổi những kinh nghiệm cũng như giúp nhau rút ra những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để từ đó đưa ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp các em học sinh tiếp thu một cách gần nhất với môn học.

Câu lạc bộ cũng giúp các thành viên chia sẻ các kiến thức về CNTT, hỗ trợ nhau trong việc sử lý các sự cố công nghệ trong quá trình giảng dạy.

7.2. Câu lạc bộ Tin học nhà trường dành cho các em học sinh:

a) Thành viên: là các em học sinh khối lớp 3-4-5

b) Mục địch hoạt động : Là một CLB trực thuộc trường Tiểu học hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ nhà trường trong công tác giáo dục định hướng cách tự học của học sinh, xây dựng ý thức tự giác. Từ đó góp phần rèn luyện nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học

c) Nhiệm vụ : Tạo điều kiện cho những học sinh có sở trường, năng khiếu, yêu thích tin học có cơ hội phát huy năng lực của mình. Củng cố, mở rộng kiến thức tin học cho học sinh, trang bị những kĩ năng cần thiết góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh.Tạo môi trường làm việc giao lưu, hợp tác, giúp học sinh học hỏi, giao lưu, ứng xử.

Câu lạc bộ là một trong những phương thức hoạt động sinh động, có hiệu quả cho môn tin học. Đồng thời là môi trường tiên tiến để mỗi thành viên tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, rèn luyện, phấn đấu trưởng thành. Qua các loại hình sinh hoạt khác nhau của câu lạc bộ, thành viên có dịp giúp nhau học tập, trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống, phát huy mặt tích cực, cải thiện uốn nắn các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, kích thích tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội, xây dựng nếp sống văn minh môi trường học đường lành mạnh.

– Hướng dẫn HS sử dụng các phần mềm học tập hiệu quả.

– Nâng cao kỹ năng soạn thảo văn bản Word.

– Sử dụng chương trình trình chiếu Powerpoint.

– Học vẽ tranh bằng các phần mềm có sẵn trong Win XP.

– Được tìm hiểu thêm về lợi ích và tính năng của mạng Internet .

– Phát triển vốn Anh văn chuyên ngành Tin học.

Hoạt động của Câu lạc bộ được xây dựng dựa trên sự đóng góp nội dung hoạt động của các thành viên. Các nội dung hoạt động của Câu lạc bộ được chọn lựa dựa trên một số tiêu chí:

1- Chất lượng của các hoạt động được đặt lên hàng đầu.

2- Thu hút được đông đảo các thành viên tham gia.

3- Thúc đẩy được phong trào học tập của học sinh trong trường.

4- Nội dung hoạt động đa dạng, chứa đựng nhiều tri thức và những vấn đề thực tế

5- Không có ảnh hưởng xấu tới thuần phong mĩ tục, đạo đức, tư tưởng và lối sống của học sinh, không vi phạm pháp luật.

6- Khuyến khích các ý tưởng mới lạ của các thành viên về hình thức hoạt động.

– Kinh phí hỗ trợ từ nhà trường

– Đóng góp kinh phí sinh hoạt câu lạc bộ từ thành viên

* Toàn bộ kinh phí này sẽ được chi vào các hoạt động sau:

– Tiền điện và bảo trì, sửa chữa máy tính

– Tổ chức các buổi giao lưu giữa các câu lạc bộ trong cụm, huyện

IV. KẾT LUẬN

– Phần thưởng cho các em đạt thành tích tốt trong các buổi giao lưu cấp trường, cụm, huyện.

Để phát huy hiệu quả trong công tác dạy học, mỗi giáo viên nói chung và giáo viên dạy môn tin học nói riêng cần:

– Tìm tòi sáng tạo cách dạy, cách học tạo sự hứng thú tiếp thu bài cho học sinh.

– Yêu nghề, mến trẻ, tăng cường tự học tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

– Tích cực dự giờ đồng nghiệp, tham gia hội thảo phương pháp giảng dạy các bộ môn khác.

– Không ngừng học tập, tìm hiểu tích lũy kiến thức khoa học. Phải tìm hiểu các mảng kiến thức khác về mọi lĩnh vực như văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội để tự nâng cao nhận thức của bản thân.

Giáo viên phải biết phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.

GV cần phải có phương pháp dạy học linh hoạt sáng tạo, phải tìm mọi cách để cải tiến cách dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, bổ sung sáng tạo thêm nhiều thủ pháp sinh động, hấp dẫn, đa dạng hóa cách thức truyền đạt ở mỗi bài học.

Để đạt được những nội dung đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng nâng cao kiến thức, tạo cho mình một trình độ chuyên môn vững vàng, thường xuyên học hỏi rút kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

Trên thế giới và trong nước ngày càng phát triển mọi mặt, trong đó giáo dục cùng với khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất thay cho lao động chân tay, có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống con người. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng giáo dục luôn đưa ra những yêu cầu mới, những chuẩn mới nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục cho các trường học. Ở nước Mỹ đặt trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học, ở Singapore đứng đầu châu Á trong việc chuẩn bị kỹ năng tốt nhất cho công việc tương lai của học sinh, sinh viên, và các nước như: New Zealand, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc,… trong đó có Việt Nam.

+ Căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, rèn kĩ năng sống cho học sinh, Bác Hồ và những bài học về đạo đức, lối sống dành cho học sinh.

+ Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có những mảng kiến thức mở rộng dành cho đối tượng học sinh có khả năng.

Ngoài ra trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em, căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học của giáo viên. Vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phuương pháp dạy học truyền thống. Mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng sai mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới để nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được. Đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặc chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại.

Mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế nhưng tập thể cán bộ giáo viên Trường Tiểu học 1 xã Hiệp Tùng đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ – giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn trong hè nên nắm vững cách thực hiện đổi mới phương pháp dạy, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học; đổi mới cách đánh giá học sinh, coi trọng sự phá triển và tiến bộ của học sinh.

Ngoài nắm vững chuyên môn giáo viên còn nghiên cứu, tìm hiểu về đối tượng học sinh, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình của từng môn học, mạnh dạn đăng kí chỉ tiêu phấn đấu trên đối tượng học sinh của lớp mình.

Cơ sở vật chất còn hạn chế nhưng giáo viên đã tận dụng tạo môi trường học tập, môi trường vui chơi an toàn cho học sinh.

Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, hăng hái tham gia xây dựng bài học, biết tự nhận xét đánh giá mọi hoạt động của mình, của bạn.

Ngày nay, công tác xã hội hóa giáo dục có sự chuyển biến mới. Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình. Đồng thời đã đóng góp không nhỏ về tiền của để mua sắm trang thiết bị dạy học trong nhà trường, năng cấp cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho việc vui chơi và học tập của học sinh.

Những năm học bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ lớp 1. Tất cả giáo viên được tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về dạy học theo chương trình mới một cách kĩ lưỡng. Nhưng khi vào thực tế giảng dạy nhiều giáo viên còn lúng túng nhất là khâu đổi mới phương pháp dạy học, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chỉ lo tập trung vào phần việc của mình, cứ lo sợ dạy không hết bài, học sinh không biết, không nắm và tiếp thu được bài,… cứ như thế là vào tiết học giáo viên thao thao giảng bài, đọc cho học sinh chép những nội dung cần ghi nhớ, cần biết yêu cầu các em về học thuộc lòng, có những giáo viên nhận thức được đổi mới phương pháp dạy học là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dưới sự hướng dẫn, nêu vấn đề của người dạy, người học động não, tự tìm cách giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn.

Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học. Thế nhưng không ít giáo viên còn chưa sử dụng, chưa khai thác triệt để thiết bị, đồ dùng vào các tiết dạy mà chỉ dạy chay hoặc sử dụng khi có người dự giờ, khi sử dụng lại có những giáo viên sử dụng vụng về, lúng túng, rồi khai thác một cách qua loa, máy móc làm cho tiết học trở nên rời rạc, khô chán không phát huy được tính tích cực, sự hứng thú học tập của học sinh. Không có thiết bị để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.

Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi. Chép nguyên mục tiêu và các hoạt động trong sách mà không cần biết bài dạy đó có phù hợp với học sinh của mình không mà không bỏ thời gian ra nghiên cứu nội dung bài học sách giáo khoa, liên hệ từng đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn học, hay thiết kế bài dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. Không nghiên cứu nội dung sách giáo khoa để xác định mảng kiến thức trọng tâm của bài, liên hệ sự tiếp thu của học sinh rồi lựa chon phương pháp dạy học để phát huy tích cực sự vận động suy nghĩ của từng đối tượng học sinh tránh nhàm chán ở học sinh. Vì trong lớp học có tới ba, bốn khả năng tiếp thu và khả năng nhận thức cụ thể như: học sinh Hoàn thành tốt, học sinh Hoàn thành, học sinh Chưa hoàn thành và học sinh có năng lực. Ngoài ra trong quá trình lập kế hoạch bài dạy do không nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài nên việc chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng dạy học không có hoặc không phù hợp, thậm chí có nêu ở chuẩn bị trong kế hoạch mà qua hết một tiết dạy không thấy giáo viên sử dụng ở hoạt động nào (chổ nào).

Bên cạnh những việc tồn tại ở khâu lập kế hoạch giảng thì cũng không thể không đề cập đến vấn đề kiểm tra, đánh giá, nhận xét học sinh. Một số giáo viên dù nắm được, hiểu được hướng dẫn chỉ đạo của Thông tư số 30/2014/TT-GDĐT ngày 28/ 8/ 2014 và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/ 9/ 2016 của Bộ GD-ĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học , Quyết định số 16 quy định về chuẩn kiến thúc kĩ năng các môn học ở bậc tiểu học ấy thế nhưng trong quá trình đánh giá họ không căn cứ vào những tiêu chí hướng dẫn của văn bản để đánh giá, mà đánh giá chỉ dựa vào cảm tính, quan sát chung chung, thiếu căn cứ, thiếu tính chính xác. Thậm chí việc kiểm tra, đanh giá còn dựa trên tình cảm, cả nể mà đánh giá không đúng thực lực của học sinh. Và mặc dù trong những năm học vừa qua các trường chỉ đạo thực hiện tốt cuộc vận động hai không và bốn nội dung. Vậy mà còn không ít giáo viên vẫn còn để xảy ra tiêu cực trong kiểm tra, trong đánh giá xếp loại nhất là trong xét khen thưởng ở cuối năm. Đến vào đầu năm học mới có rất nhiều học sinh bị hụt hẫng về kiến thức nên rất khó cho việc giảng dạy của giáo viên ngoài ra còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục.

Mặt khác giáo viên chưa nghiên cứu sâu về tâm lý từng học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn.

Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu, bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập, lại được phụ huynh đồng thuận mua sắm cho sách giải, sách tham khảo, các em lại sao chép.

Do còn không ít phụ huynh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp để giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên.

Trường học – tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục – nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vận mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,…), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phàn nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật,…

Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công, để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào. Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dưỡng phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ.

Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh.

Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giáo lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.

Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. Có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với ban ngành đoàn thể đảm bảo quyền lợi của anh chị em trong lao động.

– Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy.

– Trên cơ sở: Quyết định 14 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Quyết định 16 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao về việc Vi phạm đạo đức nhà giáo ngày 16 tháng 04 năm 2008; căn cứ điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đao của lãnh đạo Phòng GD&ĐT và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ (rút kinh nghiệm, dự giờ để đánh giá), số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn duy trì sĩ số lớp,…

– Phát động phong trào Thi đua Dạy tốt – Học tốt, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về năng lực, về phẩm chất, về sở trường, về cá tính của học sinh,…) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy.

– Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào “Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”. Qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường.

Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo của ngành.

Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho tùng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp, phân phối chương trình.

Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Cùng với tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các hội thi mà cấp trên tổ chức như: thi viết chữ đẹp, thi Trạng nguyên nhỏ tuổi, thi IOE Tiếng anh, thi Volympic Toán qua mạng, Toán tuổi thơ cấp huyện, cấp tỉnh đối với lớp 5,…

Cùng với tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường tiểu học, nội dung sinh hoạt đa dạng phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học – xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một môn, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện.

Thiết kế bài dạy và chẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học. Là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau:

Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông vào soạn giảng đến tổ khối, giáo viên.

– Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học dành cho đối tượng học sinh trong lớp.

– Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có ngoại hình cân đối, giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần,… sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ.

– Nội dung cơ bản của kế hoạch phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài, dự kiến thời gian của từng hoạt động; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên. Không ghi những vấn đề không cần thiết.

– Nội dung kế hoạch ngắn gọn, xúc tích đảm bảo nội dung trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy – trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học, với đối tượng học sinh).

– Thực hiện quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy.

Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học.

Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động nó là hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu đa số là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy giờ lên lớp của giáo viên cần thực hiện như:

– Thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích việc giáo viên thực hiện tốt giờ lên lớp.

– Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành. Duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp.

Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất.

Căn cứ vào điều lệ Trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 1 tiết/tuần, đối với tổ chuyên môn ít nhất 2 tiết/tuần.

Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến thức trọng tâm, lựa chọn phương pháp, đồ dùng dạy học, dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình dự giảng dạy.

Tiến hành dự giờ: khi dự giờ không trao đổi, làm việc riêng mà tập trung theo dõi hoạt động của thầy và trò, thông qua các hoạt động, hệ thống câu hỏi, câu trả lời và cách đánh giá, nhận xét học sinh của người dạy và của học sinh với học sinh.

Để có cơ sở đánh giá, đóng góp, xây dựng cho đồng nghiệp, để học tập ở đồng nghiệp, người dạy cũng chú ý lắng nghe bày tỏ quan điểm phân tích sư phạm cùng nhau đi đến thống nhất cho một tiết dạy, có những kiến nghị phù hợp.

Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng là thể hiện thành tích của giáo viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ và sự chỉ đạo cuả nhà trường. Do đó đánh giá với tinh thần nghiêm túc, thái độ khách quan, chống khuynh hướng nhận xét, đánh giá một cách hình thức, thiếu tinh thần trách nhiệm thì sẽ không khắc phục được những hạn chế mắc phải trong học sinh dẫn tới không chỉ hạn chế trong chất lượng giáo dục mà dẫn tới tiêu cực trong giáo dục, đánh giá không đúng, thiếu trung thực sẽ dẫn tới tình trạng nguy hiểm như học sinh ngồi nhầm lớp, thì ảnh hưởng đến uy tính của ngành giáo dục,… Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, giáo viên có những biện pháp như sau:

– Triển khai, phổ biến các văn bản quy định về kiểm tra đánh giá và ghi điểm; lập kế hoạch kiểm tra đánh giá thường xuyên, đánh giá theo thời điểm và phổ biến các quy định về nền nếp kiểm tra sâu rộng trong tập thể của nhà trường.

– Giáo viên tiến hành nghiên cứu những quy định kiểm tra – đánh giá nhận xét học sinh, lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá, nhận xét học sinh thường xuyên và theo từng thời điểm. Nội dung kiểm tra học sinh theo thời điểm được đưa ra tập thể tổ trao đổi cùng thống nhất nội dung ôn tập và ra đề kiểm tra. Ngoài đánh giá về hoạt động giáo dục, sự rèn luyện năng lực, phẩm chất của học sinh còn đánh giá về các phong trào như Vở sạch chữ đẹp,… Tổ chức thực hiện tốt theo quy định tại Thông tư số 30/2014/TT-GDĐT ngày 28/ 8/ 2014 và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/ 9/ 2016 của Bộ GD-ĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học , căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng để đánh giá, tiến hành đánh giá đúng thực lực của học sinh ở từng môn học.

Trong nhà trường, việc xây dựng nền nếp, kỉ cương có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó không chỉ là điều kiện để thực hiện tốt việc dạy và học trên lớp mà còn giáo dục học sinh ý thức, chấp hành tổ chức kỉ luật góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh. Do đó cần:

– Xây dựng nội quy học sinh, triển khai sâu rộng trong giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh ngay đầu năm học. Đặc biệt người làm thầy phải chú ý lắng nghe ý kiến của người học để nghiên cứu và có biện pháp phát huy tài năng của học sinh và kịp thời uốn nắn giúp học sinh rèn luyện phát triển đúng đắn hơn.

– Giáo viên tìm hiểu tâm lí của học sinh, tìm hiểu về khả năng và nhu cầu của từng em để có biện pháp giáo dục đạo đức, có biện pháp giúp đỡ sự rèn luyện của họ sinh. Tổ chức thi đua theo tổ, cá nhân học sinh về học tập, về lao động vệ sinh, về thực hiện nền nếp, thực hiện phong trào giúp bạn vượt khó,… tổ chức bình chọn học sinh gương mẫu, tổ tiên tiến,… vào cuối tuần theo dõi thường xuyên và liên tục uốn nắn các hành vi của học sinh.

– Phối hợp với Đoàn thanh niên – Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, phát động phong trào thi đua, động viên, khuyến khích học sinh chấp hành tốt nội quy, thường xuyên đánh giá xếp loại thi đua hàng tuần để kịp thời tuyên dương tập thể cá nhân có thành tích tốt, giúp cá nhân học sinh kịp thời điều chỉnh việc làm không phù hợp, khắc phục hạn chế của bản thân dần dần hoàn thiệ nhân cách ở học sinh.

Hoạt động học tập là hoạt động cơ bản của học sinh, hoạt động này có hiệu quả cao hay không thỉ còn tùy thuộc vào tinh thần, thái độ học tập của các em. Vì vậy là người làm nhiệm vụ trồng người cần phải có biện pháp giáo dục cho học sinh tính tự giác trong học tập của học sinh, thông qua các tiết dạy giáo viên thường xuyên động viên khích lệ sự vươn lên trong mỗi học sinh, giáo dục và ươm mầm ước mơ, khơi dậy hoài bão ở mỗi em.

Tổ chức các hội thi, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện tài năng của mình, tạo cơ hội cho học sinh thể hiện niềm đam mê.

Giáo dục học sinh thông qua các tiết sinh hoạt đưới cờ, các buổi sinh hoạt Đội, sinh hoạt Sao, nhân dịp lễ hội, các giờ học ngoại khóa,…

Giáo dục trong tiết sinh hoạt cuối tuần, trong tiết dạy, qua bài học, qua việc làm tốt của bạn, qua kết quả học tập của bạn, của bản thân học sinh,…

Thông qua quá trình thực hiên tiết dạy của giáo trên lớp nên tạo ra cơ hội cho học sinh phát biểu, học sinh tích cực xây dựng bài, giáo dục cho học sinh hiểu học tập vừa là quyền được học lại vừa là nhiệm vụ của các em. Tạo ra nhu cầu hứng thú về sự hiểu biết dần dần hình thành nhu cầu học tập với tinh thần tự giác, thái độ đúng đắn.

Do học sinh ở xa trường điều kiện đi lại khó khăn, trường chưa đủ cơ số phòng học, học sinh chỉ đến trường 07 buổi/tuần. Các em chỉ được tiếp thu kiến thức và vận dụng thực hành trong một thời gian nhất định, buổi còn lại các em chỉ tự học và luyện tập ở nhà. Thế nhưng có mấy em tự giác hoàn chỉnh thêm cho việc rèn luyện của bản thân vào những buổi học ở nhà. Nhằm để giúp học sinh hoàn thiện hơn thì cần có sự phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, của chính quyền địa phương chung tay tuyên truyền, vận động để cha mẹ học sinh tạo điều kiện tốt cho con mình học tập ở trường cũng như học tập ở nhà: nên tạo cho các em góc học tập tại nhà, có thời gian biểu, thời khóa biểu học hợp lí, thường xuyên nhắc nhở, động viên con học tập, kiểm tra việc học tập của con một cách thường xuyên, liên tục,…

Cùng với giáo viên chủ nhiệm giáo dục con mình phát triển toàn diện, giáo dục đạo đức, giáo dục tính trung thực trong mõi lĩnh vực, biết đọc sách, tự làm bài tập ở vở bài tập hoặc bài tập nâng cao…

Căn cứ hồ sơ tuyển sinh, biên bản bàn giao chất lượng lớp dưới lên lớp trên và kết quả khảo sát đầu năm, tổ chuyên môn, giáo viên chịu trách nhiệm phái có kế hoạch, biện pháp bồi dưỡng học sinh và phụ đạo học sinh. Giáo viên chủ nhiệm phân loại học sinh, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh và phân nhóm. Để có biện pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp, nâng dần chất lượng giáo dục bằng nhiều hình thức:

Xây dượng kế hoạch dạy học phù hợp, cải tiến phương pháp dạy học theo đối tượng học sinh, quan tâm và kịp thời giúp đỡ học sinh cón hạn chế bằng cách giao việc phù hợp, nâng dần, động viên, tạo cơ hội cho học sinh hòa nhập với tập thể, cũng như quan tâm học sinh còn hạn chế, công tác bồi dưỡng học sinh năng khiếu cũng là một trong những công tác mũi nhọn của nhà trường. Giáo viên không nên xem thường mà không chuẩn bị riêng cho những học sinh này bài tập khó thì có nguy cơ gây ra sự nhàm chán đối với các em. Vì với các bài tập ở sách giáo khoa các em đều làm được. Thời gian còn lại các em chỉ ngồi chờ nếu cứ lập đi lập lại tình trạng này thì sẽ gây ức chế hưng phấn học tập của học sinh, kiềm hãm sự phát triển tư duy của trẻ. Chính vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải hết sức chú ý và giao việc phù hợp mới phát triển tài năng của tuổi thơ.

5. Giải pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội:

Là mối quan hệ không thể thiếu trong nhà trường phổ thông đặt biệt là trong trường tiểu học. Nhà trường phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức và cá nhân nhằm thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nhằm huy động mọi lực lượng của cộng đồng tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh. Là cánh tay đắc lực hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần cho tập thể cán bộ giáo viên, tạo điều kiện trang bị đồ dùng dạy học, là nguồn động viên lớn đối với ý thức học tập và rèn luyện của học sinh.

Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tìm hiểu về thực trạng của lớp, của trường và đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của trường tiểu học 1 xã Hiệp Tùng đã được áp dụng trong năm học vừa qua và học kỳ một năm học 2017 – 2018 với những kết quả khả quan cụ thể như:

1. Giải pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm: 100% giáo viên, học sinh không vi phạm quy chế, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy và học. Kết quả đạt được tập thể vững mạnh.

2. Giải pháp chỉ đạo về việc kiểm tra – đánh giá kết quả việc học tập của HS:

* Chất lượng giáo dục hai môn: Toán và Tiếng Việt:

* Chất lượng giáo dục (Năng lực và phẩm chất)

3. Giải pháp chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh: Kết quả đạt được năm học 2016 – 2017 có 06 học sinh giỏi cấp trường môn Anh văn, 05 học sinh đạt giải hội thi Violympic Toán. Năm học có: 09 học sinh được công nhận Viết chữ đẹp cấp trường và 24/32 học sinh được công nhận vở sạch chữ đẹp; có 26 em được công nhận Cháu ngoan Bác Hồ, đạt 100% học sinh được lên lớp thẳng.

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ Trong Các Trường Học

UBND tỉnh đã xây dựng Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025; kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện Đề án. Từ năm học 2018-2019, Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai dạy chương trình tiếng Anh hệ 10 năm cho 100% học sinh khối 6 và khối lớp 10 trong toàn tỉnh với 72.673 học sinh tham gia. Công tác rà soát, bồi dưỡng nâng cao năng lực ngoại ngữ và nghiệp vụ sư phạm theo chương trình của Đề án và hoạt động của địa phương đối với đội ngũ giáo viên phổ thông được quan tâm. Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức các đợt tập huấn về đổi mới phương pháp, kiểm tra đánh giá nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời chỉ đạo các cơ sở giáo dục tập huấn, chia sẻ kiến thức mới được cập nhật, kỹ năng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong toàn tỉnh. Ngoài ra, Sở Giáo dục và Đào tạo đã hợp tác với Hội đồng Anh bồi dưỡng phương pháp giảng dạy theo chương trình “Teaching for Success” cho 160 giáo viên cốt cán của 3 cấp (40 giáo viên tiểu học, 80 giáo viên trung học cơ sở và 40 giáo viên trung học phổ thông); bồi dưỡng phương pháp nâng cao kỹ năng viết cho 25 giáo viên trung học phổ thông; bồi dưỡng phương pháp trợ giảng, cố vấn học tập cho các giáo viên nòng cốt đã tham gia bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy với Hội đồng Anh từ những năm học trước; tập huấn xây dựng chuyên đề ôn thi trung học phổ thông quốc gia cho 120 giáo viên tiếng Anh khối trung học phổ thông; phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Quốc gia Hà Nội bồi dưỡng năng lực và thi cấp chứng chỉ cuối khóa cho những giáo viên có nguyện vọng. Hiện tại toàn tỉnh có 96% giáo viên tiểu học, 97% giáo viên trung học cơ sở đạt chuẩn B2; 86% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn C1 theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 

Màn đồng diễn của học sinh Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (thành phố Nam Định) trong Festival tiếng Anh.

Cùng với dạy tiếng Anh, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục duy trì việc dạy tiếng Nga, Pháp cho học sinh Trường Trung học cơ sở Trần Đăng Ninh và Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, đồng thời khuyến khích học sinh học tiếng Anh của các trường này chọn học tiếng Nga, Pháp là ngoại ngữ 2. Sở Giáo dục và Đào tạo cũng phát động sâu rộng phong trào dạy – học Toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh, đồng thời chỉ đạo các nhà trường xây dựng các chuyên đề tích hợp dạy tiếng Anh với các môn học khác như: Lịch sử, Địa lý. Năm học 2018-2019, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức thành công Hội thi học sinh giỏi Toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh với 682 học sinh, trong đó có 527 học sinh trung học phổ thông thuộc các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý và 101 học sinh trung học cơ sở thi toán bằng tiếng Anh; triển khai Đề án thí điểm dạy tiếng Anh với giáo viên nước ngoài; chỉ đạo các nhà trường xây dựng các câu lạc bộ học tiếng Anh, nói tiếng Anh và hát tiếng Anh; tổ chức Ngày hội ngoại ngữ, cuộc thi Hùng biện tiếng Anh trong tất cả các trường phổ thông nhằm tạo môi trường, động lực cho học sinh nâng cao năng lực nghe và nói tiếng Anh. Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các đơn vị huy động mọi nguồn lực nâng cấp, bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho phòng học ngoại ngữ; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; triển khai kế hoạch bồi dưỡng công tác sử dụng thiết bị, phần mềm; sử dụng các phòng dạy học ngoại ngữ, trang thiết bị nghe nhìn, tranh ảnh; tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh qua trực tuyến và phần mềm online, tạo thói quen tự học, phát huy năng lực, sở trường của học sinh; tập huấn giáo viên về công nghệ thông tin, thực hành truy cập, khai thác nguồn học liệu mở trên mạng hiệu quả. Toàn tỉnh đã có 316 màn hình nối mạng internet và thiết bị dạy học ngoại ngữ tối thiểu cho các trường trung học để giáo viên và học sinh thực hành nghe, nói thông qua các phần mềm hỗ trợ. Hiện tại, ở cấp tiểu học đã triển khai dạy học tiếng Anh ở khối lớp 3, 4, 5 với 4 tiết/tuần; với khối lớp 1, 2, khuyến khích các đơn vị tổ chức làm quen tiếng Anh cho học sinh trên tinh thần tự nguyện. Việc triển khai dạy tiếng Anh có yếu tố người nước ngoài trong năm học được các trường tiểu học chú trọng đã tạo môi trường thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng nghe – nói, phát âm chuẩn cho học sinh. Ở cấp trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hợp tác với Hội đồng Anh, IIG Việt Nam, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ thực hiện thành công Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 và nâng cao năng lực tiếng Anh cho học sinh và giáo viên. Duy trì ổn định và phát huy hiệu quả việc dạy tiếng Anh với giáo viên nước ngoài và khuyến khích học sinh tham gia các cuộc kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ theo chuẩn quốc tế. Việc thí điểm dạy và học tiếng Anh với người nước ngoài được phụ huynh đồng thuận, giáo viên và học sinh chào đón và bước đầu đã đạt được kết quả thiết thực…

Với nhiều giải pháp đồng bộ, chất lượng dạy và học tiếng Anh ở các trường học trong tỉnh đã có chuyển biến rõ rệt. Chất lượng nghe và nói tiếng Anh của học sinh được nâng lên, các em tự tin khi giao tiếp và nói tiếng Anh với người nước ngoài. Các cuộc thi học sinh giỏi ngoại ngữ, hoặc các kỳ thi ngoại ngữ các cấp đều đạt kết quả cao. Tại Hội thi Hùng biện tiếng Anh cấp tỉnh năm học 2018-2019 có 356 học sinh tham dự, trong đó 178 em xuất sắc tham dự vòng chung kết, kết quả có 19 giải nhất, 48 giải nhì, 49 giải ba, 60 giải khuyến khích…; tiêu biểu là học sinh các trường trung học phổ thông: chuyên Lê Hồng Phong, Trần Hưng Đạo, Giao Thuỷ, C Hải Hậu, Nguyễn Khuyến, Lê Quý Đôn, Nam Trực. Ở cấp tiểu học, năm học 2018-2019, tại cuộc thi Hùng biện tiếng Anh cấp tỉnh, có 55 học sinh đoạt giải; trong đó có 5 giải nhất, 16 giải nhì, 14 giải ba, 20 giải khuyến khích; cuộc thi TOEFL Primary có 1.464 học sinh dự thi ở cấp tiểu học, có 42% học sinh đạt A1, 30% học sinh đạt A2, 0,6% học sinh đạt B1; cuộc thi Toán, Khoa học, Tiếng Anh ASMO có 401 lượt thi thì có 7 giải Vàng, 26 giải Bạc, 110 giải Đồng, 65 giải Khuyến khích… Tại kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2019, môn tiếng Anh tỉnh ta xếp thứ 6 toàn quốc.

Thời gian tới ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án ngoại ngữ 2020 và triển khai dạy chương trình tiếng Anh hệ 10 năm. Tăng cường hợp tác với Hội đồng Anh và các tổ chức quốc tế để bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh. Duy trì, phát huy hiệu quả việc mời giáo viên người nước ngoài dạy tiếng Anh. Phối hợp với tổ chức IIG và các tổ chức quốc tế đánh giá năng lực ngoại ngữ theo chuẩn quốc tế; đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh theo chuẩn đầu ra. Tiếp tục thí điểm dạy toán, các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh; khuyến khích các nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia các cuộc thi do các tổ chức giáo dục quốc tế như HOMC, ASMO, STEM… chủ trì./.

Bài và ảnh: Minh Thuận

http://baonamdinh.com.vn/channel/5546/201911/nang-cao-chat-luong-day-va-hoc-ngoai-ngu-trong-cac-truong-hoc-2534048/