Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Mầm Non Tam Thanh

--- Bài mới hơn ---

  • Tp Cẩm Phả: Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn
  • STT

    Số trang

    I

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1

    Lý do chọn đề tài

    2

    2

    Mục đích nghiên cứu

    3

    3

    Phạm vi, đối tượng

    3

    4

    Phương pháp nghiên cứu

    3

    5

    Giả thiết khoa học

    3

    6

    Dự báo đóng góp mới của đề tài

    4

    II

    PHẦN NỘI DUNG

    1

    Cơ sở khoa học

    5

    1.1

    Cơ sở lý luận

    5

    1.2

    Cơ sở thực tiễn

    5

    2

    Khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài

    6,7

    3

    Các giải pháp thực hiện

    3.1

    Bồi dưỡng về ý thức trách nhiệm phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ

    8

    3.2

    Xây dựng môi trường học tập trong và ngoài lớp

    9

    3.3

    Đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm

    10

    3.4

    Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn

    11

    3.5

    Tăng cường công tác kiểm tra, thăm lớp dự giờ

    11

    3.6

    12

    3.7

    Tổ chức các cuộc thi cấp trường

    13

    3.8

    Bồi dưỡng chuyên môn qua các hoạt động chuyên môn khác

    13,14

    3.9

    Bồi dưỡng đội ngũ qua việc phát huy nội lực

    15

    3.10

    Nêu cao tính gương mẫu của cán bộ quản lý

    16

    4

    Kết quả đạt được

    16,17,18

    III

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1

    Kết luận

    19

    2

    Kiến nghị và đề xuất

    20

    I. PHẦN MỞ ĐÂU

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trong những năm qua Nhà nước quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hóa, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên, đáp ứng nhu cầu thực tế đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng đã khẳng định vai trò “Quyết định chất lượng giáo dục” là của đội ngũ nhà giáo. Điều này thể hiện niềm vui, thể hiện niềm tin vừa thể hiện sự mong đợi rất nhiều từ Đảng và nhà nước đối với đội ngũ giáo viên trong công cuộc đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

    Chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên trong trường mầm non sẽ góp phần to lớn đưa lại hiệu quả cao về chất lượng trẻ, giúp cho trẻ phát triển toàn diện, chuẩn bị tốt tâm thế để bước vào lớp một. Chính vì vậy, người giáo viên mầm non được xem là người đặt nền móng đầu tiên, là yếu tố quyết định và hình thành nhân cách đầu tiên cho trẻ. Nhiệm vụ của người giáo viên mầm non hết sức nặng nề, ngoài việc truyền thụ những kiến thức kỹ năng đơn giản, ban đầu cho trẻ thì còn phải chăm sóc, nuôi dưỡng, uốn nắn và tập cho trẻ những thói quen, kỹ năng sống.

    Để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng nhu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay thì việc dạy học giữ vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Thông qua hoạt động dạy – học nhận thức về trí tuệ và hành vi của trẻ được phát triển. Điều này chứng tỏ việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên mầm non là hết sức cần thiết.

    Chất lượng đội ngũ nâng cao, tạo được niềm tin cho các bậc phụ huynh an tâm gửi con đến trường.

    Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.

    Trước mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, nhiệm vụ đặt lên cho đội ngũ nhà giáo những yêu cầu mới với trách nhiệm lớn hơn trong dạy học và giáo dụcMỗi nhà giáo theo yêu cầu đổi mới không những phải là người giỏi về chuyên môn mà còn cần phải có năng lực sư phạm, năng lực giáo dục và lối sống, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm…. Đồng thời có trách nhiệm cao trong việc xây dựng môi giáo dục cho trẻ hoạt động. Chính vì vậy việc xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phát triển chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục Mầm non nói riêng, là mục tiêu hàng đầu, là nhiệm vụ then chốt trong công cuộc đổi mới, toàn diện giáo dục.

    Với vai trò là một cán bộ quản lý, phụ trách chuyên môn, nhận thức được vai trò của đội ngũ giáo viên đối với chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đó là một đòi hỏi thách thức đối với những người làm công tác quản lý như chúng tôi. Đứng trước tình hình đó bản thân tôi thấy được vai trò trách nhiệm của mình trong việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng yêu đổi mới từng ngày của ngành, đáp ứng được sự phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và sự đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục, đồng thời nhằm đảm bảo yêu cầu chăm sóc giáo dục cho trẻ Mầm non phát triển một cách toàn diện về các mặt đức – trí – thể – mỹ nhằm đáp ứng yêu cầu của xu thế ngày nay. Chính vì vậy tôi chọn “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non Tam Thanh” làm đề tài nghiên cứu.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    – Nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, hiệu quả trong việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục. Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện.

    – Nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng say mê và tâm huyết với nghề, trau dồi phẩm chất đạo đức lối sống tốt trong nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên.

    – Đảm bảo được chất lượng chăm sóc giáo dục trong trường mầm non theo yêu cầu “Đổi mới căn bản và toàn diện” giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

    – Tăng cường đầu tư CSVC trang thiết bị dạy học nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    – Đối tượng nghiên cứu: Để thực hiện được đề tài “Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non Tam Thanh” tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 26 giáo viên và học sinh các độ tuổi.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp điều tra khảo sát, phân tích đánh giá chất lượng của giáo viên.

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp trải nghiệm

    5. Giả thiết khoa học

    Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường, đội ngũ mạnh hay không là do sự quản lý, chỉ đạo, sự bồi dưỡng của cán bộ quản lý trong nhà trường. Nếu cán bộ quản lý có tinh thần trách nhiệm cao luôn quan tâm theo dõi các hoạt động của giáo viên, biết lo lắng, trăn trở trước những tồn tại của đội ngũ và chất lượng chăm sóc, giáo dục trong nhà trường, thì chất lượng nhà trường nói chung sẽ được thay đổi rõ nét, đặc biệt sẽ tạo được lòng tin của phụ huynh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục. Nhưng ngược lại nếu một quản lý không có tinh thần trách nhiệm, không quan tâm trăn trở với những tồn tại của đội ngũ giáo viên, chất lượng của nhà trường, không chịu khó học tập và tìm tòi nghiên cứu các giải pháp tốt để năng cao chất lượng trong nhà trường, chắc chắn chất lượng đội ngũ, chất lượng học sinh và sự phát triển của nhà trường sẽ ngày càng xuống dốc đồng thời sẽ không có lòng tin tự phụ huynh và của các cấp… làm mất đi sự tin tưởng và hy vọng của Ngành, của Đảng và Nhà nước.

    6. Dự báo đóng góp mới của đề tài:

    Các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ trong trường mầm non mà bản thân tôi đã áp dụng thực nghiệm trong thời gian vừa qua thực sự có hiệu quả. Muốn có đội ngũ giáo viên mầm non mạnh về mọi mặt thì điều không thể thiếu đó là công tác bồi dưỡng, việc vận dụng các biện pháp một cách sáng tạo, khoa học và phù hợp từng thời điểm sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. Góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị Quyết 29 của BCHTW Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện…

    II. PHẦN NỘI DUNG

    1. Cơ sở khoa học

    1.1 Cơ sở lý luận

    Trong những năm qua cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo, giáo dục mầm non ngày càng đổi mới. Bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhiệm vụ của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về đức – trí – thể – mỹ, hình thành các yếu tố ban đầu về nhân cách con người, chuẩn bị tâm thế làm hành trang cho trẻ vào lớp 1. Chúng ta khẳng định rằng bậc học Mầm non tạo nền tảng ban đầu cho quá trình đào tạo phát triển con người toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa.

    Bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ sung thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên môn, mang tính ứng dụng.

    Còn đội ngũ ở đây là toàn thể các giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non.

    Như vậy, đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là khâu không thể thiếu trong giáo dục đặc biệt trong trường mầm non.

    Thời gian vừa qua bậc học mầm non cũng đã có nhiều đóng góp và có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác “Thay Đảng rèn người”, trẻ mầm non được sống và học tập trong môi trường chăm sóc giáo dục tốt sẽ tạo tiền đề cho các bậc học tiếp theo và thời gian qua bậc học Mầm non đã làm được điều đó. Tuy nhiên nhằm đáp ứng đổi mới căn bản và phù hợp với yêu cầu xã hội phát triển, không chỉ dừng lại và bằng lòng với những kết quả đã đạt được, để thực hiện mục tiêu đổi mới, ngay từ bây giờ chúng ta cần tập trung cao việc nâng cao chất lượng trong các nhà trường mà nòng cốt là đội ngũ giáo viên.

    Để thực hiện được nhiệm vụ trên người giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm cao, sự tâm huyết và tính kiên nhẫn, chịu khó học tập, lối sống đạo đức, trình độ, kỹ năng sư phạm và các lĩnh vực khác. Làm tốt nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ nhằm giúp trẻ phát triển một cách toàn diện, hình thành ở trẻ tính năng động, tự tin tự lập, lĩnh hội nhanh những kiến thức, yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên trước hết phải xác định được vai trò trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở trường, phải tạo cho trẻ “học bằng chơi – chơi mà học” với phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm.

    Đứng trước những yêu cầu và sự cần thiết của nâng cao chất lượng giáo dục trong trường mầm non nhằm đạt được mục tiêu của ngành nói chung của trường nói riêng. Vì vậy bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên là rất cần thiết và cấp bách, mang tính thường xuyên và lâu dài.

    1.2 Cơ sở thực tiễn

    Thời gian gần đây việc đào tạo và bồi dưỡng cho giáo viên nói chung và đặc biệt cho giáo viên mầm non nói riêng của giáo dục ta khá rõ nét, việc quan tâm đến trình độ năng lực, chất lượng chuyên môn của các cấp các ngành đối với giáo viên mầm non được coi trọng và chú ý. Tuy nhiên về thực tế mà nói giáo viên mầm non nói chung và giáo viên trường tôi nói riêng, đang tồn tại tại ở một số lĩnh vực cơ bản trong hoạt động chuyên môn. Điều hạn chế tồn tại nhiều nhất của giáo viên là năng lực chuyên môn như việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đang còn có nhiều hạn chế, giáo viên còn cứng nhắc trong phương pháp lên lớp, chưa sáng tạo trong các hình thức tổ chức, đang còn rập khuôn áp đặt trẻ. Kỹ năng sư phạm chưa thật sự đạt kết quả cao, giáo viên còn rụt rè, thiếu tự tin, khả năng thu hút trẻ tích cực tham gia vào hoạt động chưa hiệu quả. Kỹ năng tiếp cận với công nghệ thông tin đang còn yếu. Những giáo viên trẻ tuổi năng động, tiếp cận với cái mới tương đối nhưng họ lại chưa có kinh nghiệm trong chuyên môn và kỹ năng sư phạm. Đứng trước những hạn chế, tồn tại của giáo viên là một người cán bộ quản lý cần có trách nhiệm cao trong việc tìm ra các nguyên nhân và giải pháp phù hợp để bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, nhằm đảm bảo chất lượng tốt nhất của nhà trường.

    Để khắc phục những tồn tại nêu trên, cần thiết phải có những giải pháp quản lý mang tính chiến lược và các biện pháp cụ thể để phát triển đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra được một đội ngũ giáo viên Mầm non phát triển đủ về số lượng, chuẩn hoá và đồng bộ về trình độ chuyên môn, có sự kế thừa để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác chăm sóc giáo dục trẻ, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp giáo dục. Và chúng ta khẳng định rằng công tác xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà những người cán bộ quản lý cần phải quan tâm.

    2. Khảo sát thực tế trước khi thực hiện đề tài:

    2.1 Thuận lợi

    – Nhà trường có Ban giám hiệu đều trẻ tuổi, có sức khỏe và nghiệp vụ chuyên môn khá vững vàng, luôn nhiệt tình, năng động và có kế hoạch chỉ đạo các hoạt động của trường một cách khoa học.

    – Bản thân tôi là một cán bộ quản lý luôn xác định tinh thần trách nhiệm cao với nghề, luôn quan tâm theo dõi hoạt động của nhà trường.

    – Tập thể giáo viên có trình độ chuẩn và trên chuẩn, luôn tích cực tham gia các hoạt động của nhà trường, một số giáo viên trẻ tiếp cận cái mới nhanh, có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động trên lớp.

    – Được sự quan tâm của các cấp các ngành và đặc biệt luôn nhận được sư quan tâm, đồng thuận của hội cha mẹ học sinh trong các hoạt động của nhà trường.

    2.2 Khó khăn

    – Cơ sở vật chất các phòng học chật chội, các trang thiết bị hiện đại phục vụ dạy và học còn thiếu thốn, đồ dùng đồ chơi trang thiết bị dạy học còn thiếu cả về số lượng và chủng loại dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ trong việc dạy và học.

    – Một số giáo viên trẻ nhận thức và ý thức trách nhiệm trong nghề nghiệp chưa cao, chưa tự giác trong vấn đề tự học, tự bồi dưỡng.

    – Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên không đồng đều. Kỹ năng lên lớp của số đông giáo viên cứng nhắc, thiếu tự tin, chưa biết khai thác những

    mặt mạnh của bản thân mà họ có sẵn, chưa linh hoạt sáng tạo trong cách tổ chức

    – Chất lượng của trẻ chưa đạt kết quả cao về các lĩnh vực theo mục tiêu của từng độ tuổi.

    – Đời sống của nhân dân còn thấp, nhận thức của phụ huynh về bậc học chưa cao.

    2.3 Kết quả khảo sát đánh giá

    Là một quản lý được phân công phụ trách chuyên môn khối mẫu, tôi luôn theo dõi và tìm hiểu về chất lượng đội ngũ của giáo viên trường mình, nhằm để tìm ra được các biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ ngày càng đi lên. Để làm được điều đó trước tiên tôi đã xây dựng kế hoạch và nội dung khảo sát nhằm có được con số chính xác để tìm ra biện pháp, giải pháp phù hợp nhất cho đội ngũ của giáo viên trong trường.

    Khảo sát về chất lượng đội ngũ giáo viên trước khi thực hiện đề tài:

    Số lượng 26 người

    TT

    Nội dung khảo sát

    Số lượng

    Tỷ lệ

    1

    Nắm vững nội dung, kiến thức, kỹ năng, nội dung chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ theo độ tuổi

    14/26

    54%

    2

    Vận dụng các phương pháp lên lớp sáng tạo, tổ chức lớp học phù hợp với nội dung yêu cầu

    15/26

    57%

    3

    Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học

    11/26

    42%

    4

    Sáng tạo trong việc tự làm đồ dùng đồ chơi bằng các nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có tại địa phương.

    14/26

    54%

    5

    Mạnh dạn, tự tin khi lên lớp

    12/26

    46%

    Khảo sát chất lượng trẻ trước khi thực hiện đề tài số lượng 380 trẻ

    TT

    Nội dung khảo sát

    Số lượng

    Tỷ lệ

    1

    Số trẻ nắm được các yêu cầu kiến thức các lĩnh vực phát triển theo độ tuổi

    170/380

    45%

    2

    Trẻ có một số kỹ năng thực hiện các bài tập, động tác theo nội dung bài học.

    160/380

    42%

    3

    Trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp với người lớn.

    190/380

    50%

    4

    Sáng tạo trong việc tự làm đồ dùng đồ chơi bằng các nguyên vật liệu thiên nhiễn sẵn có tại địa phương do cô giáo hướng dẫn

    150/380

    39%

    Đứng trước thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên và học sinh như vậy, xác định vai trò của người cán bộ quản lý tôi đặt câu hỏi mình phải làm gì? làm như thế nào? Để khắc phục những khó khăn tồn tại để giúp đỡ giáo viên áp dụng vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ, giáo viên biết tận dụng điều kiện thuận lợi nhất để trẻ được tìm tòi, khám phá, trải nghiệm, tích cực hứng thú trong hoạt động với công tác chăm sóc giáo dục trẻ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ trong trường Mầm non.

    Với những băn khoăn trăn trở, tôi dã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Mầm non.

    3. Các giải pháp thực hiện.

    3.1. Bồi dưỡng về ý thức trách nhiệm phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

    Giáo viên mầm non được ví như người mẹ hiền thứ hai của trẻ, thời gian trẻ ở trường bên cô giáo là khoảng thời gian nhiều hơn ở nhà, các hoạt động đối với trẻ hầu hết phải được sự hướng dẫn, quan tâm chăm sóc của giáo viên. Người giáo viên phải thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp, yêu mến, tôn trọng trẻ là tấm gương hàng ngày đối với trẻ. Lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm là động lực giúp cho người giáo viên gắn bó với trẻ, điều đó biểu hiện ở lòng nhân hậu, vị tha, công bằng, tế nhị và chu đáo, quan tâm để ý từng thay đổi nhỏ của trẻ. Đây là yếu tố quyết định về chất lượng đối với giáo viên mầm non. Giáo viên phải biết làm cho trẻ lúc nào cũng cảm thấy mình được yêu quý, được an toàn, cảm nhận được cô là mẹ, phải tỉ mỉ để phát hiện ra những nhu cầu của cá nhân trẻ ở mọi lúc mọi nơi, điều đó thể hiện sự gần gủi mà ở bậc học khác không thể có được.

    Trên thực tế tôi quan sát và nhận thấy một số giáo viên chưa thật sự xác định được vai trò nhiệm vụ của mình mà trước hết là tinh thần trách nhiệm, là tinh thần tự giác, đạo đức nghề ngiệp, đặc biệt tình thương của giáo viên đối với trẻ nhỏ. Chính vì thế việc bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, đạo đức lối sống, sự tâm huyết cho đội ngũ giáo viên là rất cần thiết, nó được xem là biện pháp đầu tiên để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nhằm làm thay đổi chất lượng chăm sóc giáo của nhà trường.

    Để làm tốt được vấn đề đó tôi đã chủ động tham mưu với chi ủy chi bộ xây dựng chuyên đề “Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm” và tổ chức thực hiện chuyên đề này một cách nghiêm túc đến tận đảng viên, giáo viên, đồng thời đưa tiêu chí về ý thức tinh thần, trách nhiệm, đạo đức nhà giáo vào tiêu chí xếp loại hàng tháng. Để hiệu quả hơn tôi đề xuất với hiệu trưởng sắp xếp bố trí giáo viên có ý thức trách nhiệm đứng cùng lớp với giáo viên còn hạn chế về những yếu tố đó. Qua những buổi sinh hoạt chuyên môn Ban giám hiệu cần phải đưa nội dung vào cuộc họp nhằm động viên và nhắc nhở bồi dưỡng thêm cho giáo viên. Phối hợp với công đoàn trong công tác bồi dưỡng, nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức lối sống trong các buổi sinh hoạt công đoàn. Ngoài ra để có kết quả cao hơn tôi đã phối hợp các đoàn thể trong nhà trường, các buổi sinh hoạt cần phải có nội dung bồi dưỡng ý thức, trách nhiệm đạo đức lối sống vào cuộc họp bằng các hình thức khác nhau, quá trình triển khai cần có nghệ thuật tránh sự nhàm chán và điểm qua những gương điển hình..

    Ngoài những hình thức bồi dưỡng đó Ban giám hiệu phải thường xuyên quan sát, kiểm tra theo dõi các hành vi trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên, để kịp thời động viên nhắc nhở tránh tình trạng, giáo viên gây ra rồi mới kiểm tra khiển trách. Đặc biệt những tấm gương có ý thức cao về tinh thần trách nhiệm, có tình thương mẫu mực giữa giáo viên dành cho trẻ, Ban giám hiệu, các đoàn thể trong trường cần tuyên dương và động viên khuyến khích, nhằm tiếp tục phát huy ở họ những ưu điểm và để họ lan tỏa đến những giáo viên khác.

    Đối với trẻ mầm non an toàn là vấn đề hàng đầu, vậy làm thế nào để đảm bảo được điều này hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm, đạo đức của giáo viên. Với biện pháp bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, đạo đức lối sống nghề nghiệp cho giáo viên với các giải pháp đưa ra trên tôi tin rằng đội n

    --- Bài cũ hơn ---

  • “Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Ở Trường Mầm Non Đồngtĩnh
  • Quy Định Về Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng, Chống Bạo Lực Học Đường .công An Tra Vinh
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn Trong Bậc Học Mầm Non Ở Huyện Đông Sơn
  • Skkn Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Đạt Hiệu Quả Cao Tại Trường Mầm Non Hải Vân, Huyện Như Thanh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Dinh Dưỡng Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ
  • Nguyên Tắc “Bảo Vệ Môi Trường, Tài Nguyên Biển”
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    GIÁO DỤC ÂM NHẠC CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI

    TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA HƯNG

    Người thực hiện: Phạm Thị Giang

    Chức vụ: Giáo viên

    Đơn vị công tác: Trường Mầm non Nga Hưng

    SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

    THANH HOÁ NĂM 2021

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    Trang

    1. MỞ ĐẦU

    1

    1.1. Lý do chọn đề tài.

    1

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    2

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    2

    1.4. Phương pháp nghiên cứu.

    2

    2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    2

    2.1. Cơ sở lý luận

    2

    2.2. Thực trạng vấn đề.

    3

    2.3. Giải pháp thực hiện

    5

    Giải pháp 1. Nâng cao nhận thức về âm nhạc, trau dồi kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng âm nhạc cho cô.

    5

    Giải pháp 2. Hình thành và giáo dục nề nếp, rèn kĩ năng và kích thích sự sáng tạo của trẻ trong giáo dục âm nhạc

    6

    Giải pháp 3. Tổ chức giáo dục âm nhạc cho trẻ thông qua hoạt động học âm nhạc.

    7

    Giải pháp 4. Lồng ghép giáo dục âm nhạc vào các hoạt động hàng ngày.

    15

    Giải pháp 5. Giáo dục âm nhạc thông qua các ngày lễ, ngày hội cho trẻ.

    18

    Giải pháp 6. Công tác phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục âm nhạc cho trẻ.

    19

    2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng các biện pháp đã lựa chọn.

    20

    3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    21

    3.1. Kết luận

    21

    3.2. Kiến nghị

    21

    Tài liệu tham khảo

    22

    1. MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài.

    Nghệ thuật là một trong những con đường, phương tiện giáo dục độc đáo để thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển thẩm mĩ. Về phương diện này nhà lí luận mĩ-EliotW.Eisnesr đã từng nói: “Giáo dục thẩm mĩ là giáo dục đạo đức cho con người trong và thông qua nghệ thuật”. Mà âm nhạc là loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư, tình cảm, tư tưởng và những mong muốn của con người. Hình tượng của nghệ thuật âm nhạc được xây dựng trên nền tảng của 7 nốt nhạc với các thăng trầm của nó biến hóa vô tận như những chữ cái của ngôn ngữ

    Âm nhạc vốn rất gần gũi với trẻ em, tuy nhiên ở những năm đầu tiên của cuộc sống những phản ứng vui vẻ của trẻ khi nghe âm nhạc vẫn còn mơ hồ, thậm chí còn lẫn lộn giữa âm nhạc và âm thanh khác nhau ở xung quanh mình, sự cảm thụ âm nhạc của trẻ còn ở nhiều mức độ khác nhau. Có cháu yêu đến độ say mê, có cháu lại rất thờ ơ, hờ hững khi những giai điệu nhạc vang lên. Và mức độ yêu âm nhạc phần lớn do hoàn cảnh cuộc sống, môi trường giáo dục của người lớn xung quanh. Vì vậy mà giáo dục âm nhạc đến với trẻ thơ như là phương tiện giáo dục trẻ về thẩm mỹ, đạo đức, góp phần phát triển tâm sinh lý trẻ. Âm nhạc đối với trẻ là một thế giới kỳ diệu đầy cảm xúc.

     Mục đích của giáo dục âm nhạc là giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mỹ cho trẻ. Giáo dục âm nhạc hình thành cho trẻ lòng yêu thiên nhiên, Tổ quốc, tình yêu thương con người Không chỉ vậy, giáo dục âm nhạc còn là phương tiện nâng cao khả năng trí tuệ, phát triển thể chất, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, củng cố kiến thức trẻ qua học tập, vui chơi. Quá trình trẻ tiếp xúc và hoạt động âm nhạc như học hát, nghe hát, vận động theo nhạc, chơi trò chơi âm nhạc… sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hoà, là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực. Chính vì vậy, giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng.

    Vì thế, dạy hát nhằm giúp trẻ biết cảm thụ âm nhạc, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ min

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Chính Trị Trong Lực Lượng Vũ Trang Tỉnh
  • Tăng Cường Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Buôn Bán Người
  • Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng
  • 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu…
  • Kinh Nghiệm Giáo Dục Học Sinh Chưa Ngoan
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Kinh Nghiệm Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Môn Tiếng Việt là môn có tầm quan trọng bậc nhất trong các môn học,

    có đọc thông, viết thạo, hiểu được nội dung văn bản thì mới nắm được thông tin, giải quyết những vấn đề mà văn bản nêu ra. Nghĩa là, học tốt môn Tiếng Việt thì mới có thể học tốt môn học khác.

    – Yêu cầu các em khi học xong lớp Một là phải đọc thông, viết thạo được hết các âm, vần, tiếng, từ, câu mà các em đã học (ở môn Tiếng Việt). Do đó, giai đoạn học âm và vần là nền tảng quan trọng trong việc học tập và tiếp thu những kiến thức cơ bản về sau. Nếu giai đoạn học vần các em chưa nắm vững thì sẽ dẫn đến sự tiếp thu khó khăn ở giai đoạn tập đọc.

    – Dạy tiếng Việt cho học sinh lớp Một không thể nào không chú trọng đến giai đoạn vần, có nắm được hết vần thì các em mới đọc được tiếng nếu mất căn bản từ giai đoạn này các em sẽ không ghép vần được, không đọc được tiếng hoặc ghép rất chậm, dẫn đến khó khăn cho việc học tập môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung . Chính vì thế chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần)” ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân năm học 2010 – 2011.

    II- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

    – Ý thức học tập của học sinh khối 1 đối với môn Tiếng Việt.

    – Ý thức của giáo viên về tầm quan trọng của môn Tiếng Việt.

    – Sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối với việc học của con em mình.

    – Sự giúp đỡ của ban giám hiệu đối với môn Tiếng Việt.

    – Cơ sở vật chất:

    + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học trong nhà trường.

    + Đồ dùng học tập của học sinh.

    – Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần).

    III- PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

    Về không gian:

    Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở khối 1, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân.

    2. Về thời gian:

    – Trong năm học 2010 – 2011, chúng tôi chia quá trình nghiên cứu ra làm 3 giai đoạn.

    + Từ đầu năm – giữa học kì I: điều tra, khảo sát thực trạng của học sinh.

    + Từ giữa học kì I – cuối học kì I: lập đề cương, đưa ra giải pháp, vận dụng thực tế, chỉnh sửa bản nháp.

    + Từ cuối học kì I – giữa học kì II: thống kê, so sánh, đối chiếu kết quả, hoàn chỉnh đề tài.

    + Từ giữa học kì II – cuối học kì II: tiếp tục vận dụng đề tài.

    IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

    Khi đi sâu vào nghiên cứu chúng tôi lựa chọn, vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.

    1-Phương pháp đọc tài liệu:

    – Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học (PTS Lê Phương Nga- Đỗ Xuân Thảo- Lê Hữu Tĩnh).

    – Để có một giờ dạy học nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, chất lượng hơn và hiệu quả hơn (Nguyễn Hữu Du- Sở GD&ĐT Vũng Tàu).

    – Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới (TS Nguyễn Trí).

    – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp Một chương trình Tiểu học mới (Đặng Huỳnh Mai).

    – Các tài liệu bồi dưỡng của dự án PEDC, hướng dẫn giáo viên về tăng cường Tiếng Việt.

    – Chỉ thị 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường học phổ thông giai đoạn 2008- 2013.

    – Thông tư 32/TT- BGD&ĐT về việc hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh Tiểu học.

    – Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học lớp 1.

    – Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở tiểu học.

    – Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.

    – Tài liệu dạy học hòa nhập lấy HS làm trung tâm.

    – Tài liệu một số kĩ năng dạy học đặc thù trong lớp học hòa nhập.

    – Chuyên đề GDTH tập 42, 43, 44.

    – Tạp chí giáo dục Tiểu học của Bộ GD&ĐT.

    – Tài liệu về trò chơi học tập môn Tiếng Việt.

    – Tài liệu hướng dẫn tự làm đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt.

    * Qua các tài liệu trên chúng tôi tham khảo và vận dụng vào việc làm đề tài.

    2-Phương pháp điều tra

    2.1-Phương pháp đàm thoại:

    + Với phụ huynh học sinh mỗi giai đoạn 1 lần: 5 lần/ năm (đầu năm, giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II.)

    + Họp tổ chuyên môn: 2lần/ tháng.

    + Ban giám hiệu 1 tháng/ 1 lần.

    + Với học sinh trong các tiết dạy và trong các tiết hoạt động tập thể.

    2.2-Phương pháp dự giờ, thăm lớp :

    + Dự giờ minh họa chuyên đề.

    + Dự giờ đồng nghiệp: 2 tiết / 1 tháng.

    + Thao giảng: 1 tiết/ tháng.

    + Giáo án điện tử 1 tiết / HK.

    + Khối trưởng chịu trách nhiệm tổ chức hội thảo các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra việc thực hiện của giáo viên trong tổ để có sự điều chỉnh kịp thời.

    2.3- So sánh, đối chiếu kết quả:

    + Giáo viên điều tra kết quả đầu năm, phân loại học sinh để có biện pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

    + So sánh kết quả qua từng giai đoạn: đầu năm, giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II, cuối học kỳ II (5 lần/ 1 năm).

    3- Các phương pháp khác:

    – Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy Tiếng Việt Một: miêu tả, hỏi đáp, quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu thực hành giao tiếp, trò chơi, nêu vấn đề.

    Tất cả các phương pháp trên sẽ giúp chúng tôi có một giải pháp mới, có một cái nhìn mới trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) ở lớp Một.

    B-NỘI DUNG:

    I- CƠ SỞ LÝ LUẬN:

    – Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp Một nói riêng, các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” là những kĩ năng quan trọng hàng đầu. Như chúng ta đã biết: Đọc, viết là một dạng ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó.

    – Đọc, viết trở thành một yêu cầu cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học.

    – Đọc, viết là công cụ để học các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học, nó là kĩ năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Nếu đọc yếu (đọc sai chữ, tốc độ chậm) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh.

    – Dạy tiếng Việt tức là dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh mà tiếng mẹ đẻ có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người, đó là công cụ để giao tiếp và tư duy. Lớp Một là lớp đầu cấp, mà giai đoạn học âm và vần lại là giai đoạn đầu tiên học sinh được làm quen ở môn Tiếng Việt, ở giai đoạn học vần học sinh được tiếp xúc một cách tỉ mỉ với từng con chữ để biết đọc, biết viết tiếng mẹ đẻ giúp các em học tốt môn Tiếng

    Việt. Vì thế, trẻ học tiếng Việt chính là học kĩ năng nghe – nói – đọc – viết tiếng mẹ đẻ, từ những lý luận nêu trên có thể khẳng định rằng giai đoạn học vần là giai đoạn quan trọng trong suốt quá trình học tiếng Việt của học sinh sau này.

    II- CƠ SỞ THỰC TIỄN:

    – Học sinh nắm được cấu tạo vần dẫn đến các em học tốt ở giai đoạn tập đọc.

    – Ở lớp Một rất quan trọng trong việc hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh trong từng tiết học.

    – Năm học 2010 – 2011 chúng tôi được giao nhiệm vụ dạy lớp 1 (2 buổi/ngày) với tổng số học sinh là: 203/ 101 nữ, trong đó:

    Mẫu giáo chính quy: 154/79

    Chưa qua mẫu giáo: 42/ 20

    Lưu ban: 7/ 2

    Hầu hết các em là con em gia đình làm nông, làm thuê nên phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em mình. Thông qua việc giảng dạy và kiểm tra thường xuyên với từng học sinh từ đầu năm (sau 2 tuần thực dạy) chúng tôi đã nắm được thực trạng chung về chất lượng của các em như sau:

    TSHS

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    203

    SL

    TL%

    SL

    TL%

    SL

    TL%

    SL

    TL%

    40

    19,7

    58

    28,6

    65

    32,0

    40

    19,7

    Kết quả trên cho thấy là lớp 2 buổi/ngày mà tỉ lệ học sinh yếu còn nhiều. Nếu thực trạng này kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng không những cho môn Tiếng Việt mà còn ảnh hưởng đến các môn học khác. Kết quả đó là một sự khó khăn và trăn trở cho chúng tôi. Vì thế, chúng tôi đã tìm ra một số nguyên nhân của thực trạng đó là:

    1.Về học sinh:

    – Do các em đã quen với môi trường ở lớp mẫu giáo chơi nhiều hơn học và hôm nay đã sang với môi trường mới (lớp Một) học nhiều hơn chơi cho nên các em còn quá bỡ ngỡ khi đến lớp, đến trường.

    – Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều, việc lĩnh hội kiến thức thiếu vững chắc.

    – Sự tập trung chú ý chưa cao, tư duy chưa phát triển.

    – Đa số học sinh còn thụ động, nhút nhát, khó nhớ, mau quên.

    – Chưa nắm được quy tắc đánh vần, một số em đánh vần chưa đúng quy tắc do phụ huynh dạy trước ở nhà.

    – Nhận thức học tập của các em còn nhiều hạn chế.

    – Phần đông gia đình học sinh là dân ở nhiều nơi tập trung về sinh sống, do đó, cách phát âm ở các em có nhiều sai sót, lẫn lộn như: phát âm chưa rõ, thói quen nói theo tiếng địa phương.

    – Học sinh thường phát âm sai các vần dễ lẫn lộn.

    Ví dụ: ưi/ ươi, ai/ ay, ao/ au, ăc/ ăt, ui/ iu, ăn/ ăng, an/ anh, ơi/ ưi

    – Bên cạnh đó, một số em chưa có ý thức học tập, không tập trung trong giờ học dẫn đến không nắm chắc hết các vần sau khi kết thúc giai đoạn vần.

    2. Về giáo viên:

    – Chưa có trách nhiệm đối với việc rèn nền nếp học cho học sinh.

    – Chưa đi sâu vào cách tổ chức lớp học như thế nào cho sinh động để gây hứng thú và tính tích cực trong học tập của học sinh.

    – Chưa phát hiện kịp thời học sinh yếu để kèm cặp.

    – Dạy theo lối áp đặt và chạy theo thời gian, không dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.

    3. Về phụ huynh:

    – Do địa bàn ở đây là biên giới, dân cư số đông là Việt kiều Campuchia về, mặt bằng dân trí không đồng đều, đời sống vật chất gặp nhiều khó khăn, nhận thức còn hạn chế, có nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn giao phó cho giáo viên vì cho rằng “việc học ở trường là đủ” không cần phải bận tâm kể cả những buổi nghỉ thứ bảy, chủ nhật, hoặc có quan tâm thì dạy con chưa đúng quy tắc đánh vần. Từ những ý thức sai lầm ấy đã dẫn đến chất lượng học tập của con em mình chưa cao.

    4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học:

    III- NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

    * Phân công thành viên trong tổ:

    – Mỗi giáo viên chủ nhiệm chịu trách nh … – Phân loại đối tượng HS từ đó có phương pháp phù hợp với từng đối tượng HS.

    – Vận dụng các phương pháp / kĩ thuật dạy học vào tiết học một cách hiệu quả.

    – Xây dựng nề nếp học tập, sử dụng hiệu quả 15 phút truy bài đầu giờ.

    + Kẻ bảng con, kẻ bảng lớp, khăn ẩm.

    + Sắp xếp ngăn nắp đồ dùng học tập.

    + Thực hiện các kí hiệu lấy đồ dùng dạy học.

    + Xây dựng góc ngôn ngữ.

    + Xây dựng đôi bạn cùng tiến; sắp xếp chỗ ngồi hợp lí.

    – Mỗi tháng hợp 2 lần gv đưa ra các giải pháp mới để rút kinh nghiệm triển khai toàn khối thực hiện các giải pháp, phương pháp rút kinh nghiệm kịp thời.

    – Tăng cường làm đồ dùng dạy học.

    – Tham mưu với BGH để có sự chỉ đạo kịp thời.

    1. Với giáo viên:

    – Khi dạy lớp Một người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm dạy học, phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh, làm cho học sinh được đọc nhiều, viết nhiều.

    – Nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo viên phải phù hợp với từng đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu.

    – Mặt khác giáo viên cần tăng cường những lời khen để động viên, khuyến khích các em nhằm tạo hứng thú học tập tốt cho các em.

    – Giáo viên phải chịu khó quan tâm đến từng cá nhân học sinh đặc biệt là học sinh yếu kém, đọc mẫu, viết mẫu đúng hướng dẫn.

    – Khi lên lớp giáo viên phải cố gắng khắc phục khó khăn để có đồ dùng trực quan, tranh ảnh, vật thật phục vụ cho bài dạy.

    Ví dụ: Những đồ dùng trực quan đơn giản:

    + Cái chổi dạy vần ôi.

    + Ngôi sao dạy vần ao.

    + Quả cam dạy vần am.

    + Cái bàn dạy vần an.

    + Cuộn len dạy vần en.

    + Cái bảng dạy vần ang.

    + Quả chanh dạy vần anh.

    + Cuốn sách dạy vần ach.

    + Thước kẻ dạy vần ươc.

    + Hộp sữa dạy vần ôp.

    + Tờ lịch dạy vần ich.

    – Trong giờ học, giáo viên phải đặc biệt chú ý cho học sinh sử dụng thật nhiều bộ chữ cái ghép tiếng Việt, giáo viên cần nghiên cứu, suy nghĩ để có thể phát huy tác dụng của bộ chữ ghép. Cần hướng dẫn tốt cho học sinh thực hành, luyện tập cá nhân ghép vần, ghép tiếng, hoặc tổ chức trò chơi, để học sinh được “học mà chơi, chơi mà học”.

    Ví dụ: Cho học sinh tìm vật có tên chứa vần vừa học trong số những vật mà giáo viên đã chuẩn bị để trên bàn, điều này góp phần không nhỏ trong việc gây hứng thú cho học sinh.

    – Ở mỗi tiết dạy Tiếng Việt (học vần) giáo viên cần nắm được những vần mà học sinh chưa nhớ, giáo viên ghi những vần đó vào bảng phụ để rèn học sinh vào 15 phút đầu giờ và các tiết buổi chiều để thuận lợi cho giáo viên kiểm tra học sinh yếu hằng ngày.

    – Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập, củng cố có thể thực hiện linh hoạt bằng nhiều hình thức khác nhau, cá nhân, nhóm đôi, nhóm bốn, tổ, cả lớp

    – Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là: miêu tả, giảng giải, hỏi đáp, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu, trò chơi.

    – Trong tiết dạy, khi giáo viên hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên phải là người phát âm chuẩn xác.

    Ví dụ: ở bài học vần ong

    + Giáo viên phải đọc mẫu thật chuẩn.

    + Khi dạy, giáo viên cho học sinh ghép vần mới ở bộ chữ o ghép với n và g được vần ong.

    + Cho học sinh phân tích: o-ng-ong, đánh vần o ngờ ong.

    + Khi ghép tiếng mới học sinh chỉ thay phụ âm đầu để ghép, vần giữ nguyên, lúc này giáo viên đến giúp đỡ học sinh yếu, có thể gợi ý cho học sinh lấy âm đầu đã học để ghép với vần mới và nhẩm đánh vần thành tiếng mới.

    + Gọi học sinh đọc cá nhân.

    – Như vậy, giáo viên phải rèn cho học sinh yếu nắm được tất cả các âm, vần, trong lúc học giáo viên có thể ôn cho học sinh nhớ lại các âm, vần đã học.

    – Khi dạy vần mới, dạy theo nội dung sách giáo khoa, dạy đánh vần vần mới, hướng dẫn ghép âm, vần thành tiếng mới.

    – Hướng dẫn học sinh đọc từ ngữ, câu ứng dụng làm quen với cách đọc từ, cụm từ,câu ngắn, hướng dẫn học sinh viết vần mới vào bảng con. Cho học sinh luyện tập bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết.

    – Ở giai đoạn âm giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các âm đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng).

    – Ở giai đoạn vần, đặc biệt là trong tiết học mới, giáo viên cần dạy cho học sinh cơ chế đánh vần đúng và chuẩn xác. Nếu học sinh chưa phát âm chuẩn ta so sánh để học sinh đọc đúng hơn.

    Vì vậy, giáo viên cần tìm tòi suy nghĩ dạy cho học sinh cách phát âm chuẩn để các em phát âm đúng và viết đúng chính tả ở môn Tiếng Việt và các môn học khác.

    Trao đổi kĩ với phụ huynh cơ chế đánh vần, tiếng.

    Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi.

    Đánh vần tiếng “chổi”: chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi.

    Giáo viên thường xuyên kiểm tra trong từng tiết dạy và truy bài 15 phút đầu giờ, học sinh đọc nhiều, viết nhiều, giáo viên đặt ra những câu văn ngắn có các vần dễ lẫn lộn để học sinh luyện đọc nhiều.

    – Giai đoạn vần giáo viên dạy cho học sinh nắm chắc tất cả các vần đã học (đọc được, viết được, ghép được tiếng).

    2. Với học sinh: Phân loại học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng, phụ đạo cụ thể:

    Đối với học sinh khá giỏi:

    – Nâng cao hơn khi học sinh đã có được khả năng căn bản về nghe, nói, đọc, viết, tìm nhiều tiếng, từ có chứa vần vừa học.

    Ví dụ: bài vần im

    Tím, kim, mỉm, nhím, thím, phim

    Màu tím, kim chỉ, con nhím, mỉm cười, chú thím, bộ phim

    – Đối với phát triển lời nói tự nhiên thì giáo viên có thể hỏi để học sinh trả lời câu dài hơn và đảm bảo tròn câu, đủ ý, nói lưu loát hoặc khi viết không chỉ viết đúng mà phải đẹp sắc sảo từng nét viết, động viên khuyến khích học sinh có ý thức tự giác học ở mọi lúc, mọi nơi.

    Đối với học sinh khá:

    – Theo dõi sự chú ý của học sinh, kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài phân tích sai lầm và hướng dẫn sửa chữa.

    – Tìm cách nâng dần những kĩ năng, kiến thức đã đạt được, hoàn thiện hơn vốn tiếng Việt cho học sinh.

    Đối với học sinh trung bình-yếu:

    – Học sinh yếu phải được sắp xếp ngồi ở đầu bàn hai dãy để giáo viên lên xuống, tiện việc quan tâm và uốn nắn các em. Đồng thời, mỗi học sinh yếu sẽ ngồi với một học sinh khá giỏi, bởi vì có câu: “học thầy không tày học bạn” sẽ giúp các em thực hiện tốt phong trào “đôi bạn cùng tiến”.

    – Ngoài ra trong giờ học, mỗi học sinh có một tấm bìa cứng màu trắng kích thước 15 x 20cm dùng để kê tay trong khi viết và cũng là phương tiện học vần rất tốt: Giáo viên dạy bài nào thì khi phân tích vần xong học sinh sẽ tự tay mình viết vần đó vào tấm bìa theo thứ tự.

    Ví dụ:

    Hôm nay học vần “ui, ưi” thì tấm bìa của các em đã ghi: ia, ua, ưa, oi, ai, ôi, ơi, học sinh sẽ ghi tiếp vần ui, ưi vào sau vần “ơi” để các em khắc sâu, nhớ lâu hơn và một lần nữa tự khẳng định lại kiến thức mình vừa học.

    – Mỗi học sinh có một bộ chữ cái tiếng Việt để học sinh ghép tiếng sau khi giáo viên giới thiệu từ khóa.

    – Mặt khác, giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh thói quen tự học vần, tiếng, từ qua hình ảnh các con vật, truyện, sách, báo được trưng bày ở “Góc ngôn ngữ” vào các giờ chơi, các tiết hoạt động ngoài giờ để các em khắc sâu và ghi nhớ các vần đã học.

    – Bên cạnh đó giáo viên thường xuyên tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi như: hái quả tìm vần, bốc thăm tên các con vật có chứa vần đã học, chọn đồ vật được chuẩn bị sẵn ở “Góc ngôn ngữ” đọc tên và nói tên vần; tổ chức cho học sinh đọc truyện theo nhóm đôi để các em được tiếp xúc với mặt chữ nhiều và gây sự hứng thú trong học tập.

    3. Với phụ huynh:

    – Tăng cường các cuộc họp phụ huynh sau các giai đoạn (giữa học kì I- cuối học kì I- giữa học kì II- cuối học kì II) để báo cáo kết quả học tập của các em đồng thời vận động cha mẹ học sinh phối hợp chặt chẽ hơn trong việc giáo

    dục học sinh làm cho mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường ngày càng tốt đẹp.

    – Bên cạnh đó giáo viên có thể trao đổi với phụ huynh về cơ chế đánh vần, tiếng, để phụ huynh có thể kèm thêm con em mình ở nhà.

    Ví dụ: đánh vần “ôi”: ô-i-ôi.

    Đánh vần tiếng: “chổi” chờ-ôi-chôi-hỏi-chổi.

    Đồng thời tự chọn những biện pháp mới giúp dạy và học có hiệu quả hơn.

    IV- KẾT QUẢ:

    Qua từng bước thực hiện những biện pháp mới vào thực tiễn khối 1, kết quả môn Tiếng Việt đạt được ở các giai đoạn như sau:

    Các giai

    đoạn

    Lớp

    Tổng số

    học sinh

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    SL

    TL %

    SL

    TL %

    SL

    TL %

    SL

    TL %

    GHKI

    1A

    70

    34,5

    60

    29,6

    53

    26,1

    20

    9,8

    1B

    74

    34,5

    58

    28,6

    54

    26,6

    17

    8,3

    1C

    1D

    1E

    1G

    TC

    203

    CHKI

    1A

    1B

    1C

    1D

    1E

    1G

    TC

    203

    GHKII

    1A

    1B

    1C

    1D

    1E

    1G

    TC

    203

    Bên cạnh những ưu điểm, đề tài vẫn còn những mặt hạn chế: một số học sinh còn thụ động, chưa hăng say trong học tập, vẫn còn học sinh yếu. Vì vậy, từ đây đến cuối năm chúng tôi sẽ nghiên cứu thêm và bổ sung những biện pháp mới để tạo sự hứng thú học tập nhằm hạn chế số học sinh yếu.

    C- KẾT LUẬN:

    I-BÀI HỌC KINH NGHIỆM :

    Khi vận dụng đề tài vào thực tiễn, chúng tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) cho học sinh cần phải:

    + Vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là những ưu điểm lớn nhất của phương pháp dạy học Tiếng Việt Một (giai đoạn vần) do đó, giáo viên cần thực hiện tốt việc rèn học sinh yếu trong từng tiết dạy.

    + Sắp xếp một cách khoa học về chỗ ngồi của từng đối tượng học sinh, đồng thời có tính thực tế trong việc sử dụng phương pháp dạy học, vận dụng triệt để bộ chữ cái mà học sinh ghép vần và tiếng trong mỗi tiết dạy để học sinh nắm vững về vần hơn.

    + Tổ chức lớp học sinh động với vai trò: “thầy chủ đạo, trò chủ động” nhằm phát huy tính tích cực khả năng độc lập của học sinh.

    + Áp dụng đổi mới phương pháp dạy và học nâng cao năng lực của học sinh mà vẫn đảm bảo tiết học nhẹ nhàng, thoải mái, để học sinh“học mà chơi, chơi mà học”.

    + Giáo viên cần phải có sự chuẩn mực trong cách đọc: đọc đúng, phát âm chính xác, to, rõ ràng.

    + Giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại và dịu dàng khi rèn đọc, viết cho học sinh.

    + Phải có sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh để hướng dẫn các em rèn luyện thêm khi ở nhà.

    III- HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP:

    Từ kết quả đã đạt được khi vận dụng những biện pháp nâng cao chất lượng giai đoạn vần, hướng nghiên cứu tiếp của chúng tôi là: “Biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt (giai đoạn tập đọc)” vào năm học tới 2010 – 2011.

    —— ****** ——

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • 20 Cách Làm Marketing Online Hiệu Quả Mà Không Phải Ai Cũng Biết
  • 5 Cách Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Với Chi Phí Cực Thấp
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  •                                TS Phạm Thị Kim Anh

                                    Viện NCSP-Trường ĐHSP Hà Nội

                                   ĐT; 0988184413. Email:[email protected]

     

         

    1. Mở đầu

    Theo “Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới” ban hành tháng 5/2018, Bộ GD&ĐT yêu cầu: “Bảo đảm tất cả GV cơ sở GDPT trên cả nước hoàn thành chương trình bồi dưỡng trước thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa GDPT mới. Kế hoạch được thực hiện tuần tự đối với từng cấp học. Đối với cấp THPT, GV được bồi dưỡng từ năm học 2021-2022

    Để góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng GV, trong bài báo này chúng tôi tập trung vào đổi mới các thành tố trong khâu bồi dưỡng GV, nhất là trong tổ chức và quản lí bồi dưỡng

    2. Nội dung

    2.1. Khảo sát nhu cầu, phân loại đối tượng, lập kế hoạch bồi dưỡng sát với yêu cầu và năng lực của GV

    Các nghiên cứu , , . Lí luận và thực tiễn đã chỉ ra rằng, nhu cầu bồi dưỡng của GV rất đa dạng, tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng cụ thể cũng như trình độ năng lực của mỗi GV. Đặc biệt, số năm kinh nghiệm giảng dạy có tương quan tỷ lệ nghịch với nhu cầu cần được bồi dưỡng. Không có nhu cầu nào là chung cho mọi GV. Vì vậy, công việc đầu tiên là phải tiến hành khảo sát, đánh giá nhu cầu để thấy rõ cái đang cần, đang thiếu và đang yếu của GV. Từ đó phân loại đối tượng, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho sát với yêu cầu thực tiễn của GV.

    Để làm tốt điều này, cần phải thực hiện các việc sau:

    – Thứ nhất, xây dựng phiếu điều tra, tiến hành khảo sát năng lực và nhu cầu của GV ở trường THPT. Qua việc trả lời những câu hỏi cụ thể, GV sẽ tự soi rọi, đánh giá hoạt động DH- GD của bản thân để nêu rõ những khó khăn, hạn chế, yếu kém; tự đặt ra nhu cầu cho mình. Trên cơ sở các thông tin mà GV cung cấp, xác định nhu cầu thực tế của GV, phân loại nhu cầu theo từng đối tượng.

    -Thứ hai, xác định mục tiêu và lập kế hoạch bồi dưỡng

    Khi các nhu cầu bồi dưỡng của GV đã được xác định, bước tiếp theo là phải chuyển các yêu cầu này thành các mục tiêu bồi dưỡng hay các kết quả mong muốn của hoạt động bồi dưỡng.

    2.2. Phân công và phân cấp bồi dưỡng một cách rõ ràng

               Để tránh được sự “tam sao thất bản” và khắc phục được nhược điểm, hạn chế của “mô hình thác nước” trong bồi dưỡng GV từ cấp quốc gia xuống tỉnh, huyện, hiện nay Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo thực hiện theo kiểu phân tầng ở 2 cấp: Cấp Trung ương và cấp địa phương.

     Ở cấp địa phương sẽ bồi dưỡng GV đại trà thông qua đội ngũ GV cốt cán và bằng nhiều hình thức, trong đó chú trọng hình thức bồi dưỡng trực tuyến.

    Với cách phân cấp như vậy, việc bồi dưỡng GV ở các địa phương sẽ tránh được  những nhược điểm của cách bồi dưỡng trước đây và GV được tiếp thu kiến thức, kĩ năng trực tiếp từ đội ngũ GV cốt cán cũng như học được ở mọi lúc, mọi nơi qua bồi dưỡng trực tuyến.

           Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là cách làm mới và tối ưu. Bởi lẽ việc sử dụng đội ngũ GV cốt cán để bồi dưỡng cho GV cấp địa phương cũng chỉ diễn ra theo đợt/chu kì và theo những yêu cầu của Bộ/ngành với những nội dung đã định sẵn và nó không thể thực hiện một cách thường xuyên, liên tục. Do đó, cần mạnh dạn trao quyền tự chủ cho các cơ sở GD ở địa phương chủ động trong việc lập kế hoạch, triển khai bồi dưỡng GV tại cơ sở, đồng thời phải trao cho các trường ĐHSP có chất lượng cao chịu trách nhiệm trong việc bồi dưỡng GV. “Các trường ĐHSP phải chịu trách nhiệm cả 3 công đoạn trong một quá trình: Tạo ra sản phẩm, đưa vào sử dụng và bảo dưỡng (bảo trì) sản phẩm. Nghĩa là việc bồi dưỡng GV là trách nhiệm của trường sư phạm”. . Còn theo nhận xét của Đinh Quang Báo-Nguyên hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội: “Nội dung chương trình bồi dưỡng chưa gãi đúng chỗ ngứa của GV”

    Tới đây, theo kế hoạch của Bộ GD&ĐT, nội dung chương trình và tài liệu bồi dưỡng ở cả cấp trung ương và địa phương  đều cùng thống nhất thực hiện 2 nội dung:

     -Hướng dẫn dạy học môn học theo CT GDPT mới;

    – Hướng dẫn sử dụng hệ thống tài liệu bồi dưỡng giáo viên qua mạng (do CT ETEP biên soạn).

    Điều đó là cần thiết, song chưa đủ. Theo chúng tôi, cần xây dựng những chuyên đề chuyên sâu tập trung vào 3 mảng nội dung chính:

    b)Bồi dưỡng năng lực DH và năng lực GD cho GV ( năng lực nghiệp vụ sư phạm)

    c)Bồi dưỡng phát triển các giá trị, đạo đức nghề nghiệp ( phẩm chất đạo đức)

                Trong việc bồi dưỡng năng lực DH và năng lực GD cho GV, theo chúng tôi, cần tập trung vào những điểm yếu, những khó khăn mà GV đang gặp phải theo yêu cầu đổi mới. Các nghiên cứu của Hoàng Thị Kim Huệ , Nguyễn Danh Nam . Như vậy, việc học tập trực tuyến đang là xu thế chung của các nước.

    Sử dụng hình thức học trực tuyến để bồi dưỡng cho GV là một giải pháp hay nhằm  giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong cơ hội bồi dưỡng của GV và phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng của GV trên một qui mô rộng lớn khắp cả nước, từ thành thị, nông thôn cho đến hải đảo xa xôi và những vùng núi hẻo lánh. Hiện nay, khi công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, chuyển sang thời kỳ Cách mạng 4.0, thì việc lựa chọn hình thức bồi dưỡng này được đặc biệt quan tâm, trong đó E- Learning là xu hướng tất yếu nhằm giúp GV có  thể học được ở mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với trình độ, hoàn cảnh, thời gian, khoảng cách xa xôi về địa lí và  giảm được chi phí. Do phương thức này chú trọng vào người học và việc tự học nên cần một lượng tài liệu phong phú, đa dạng để giúp cho GV không mất quá nhiều thời gian cho việc tìm kiếm thông tin trên mạng. Để việc hỗ trợ GV  thành công hơn, cần tổ chức các buổi học trực tuyến để giảng viên trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và giải đáp thắc mắc về những kiến thức quan trọng nhất cho người học. Những vấn đề giới thiệu lý thuyết, các tình huống thực tế, mô phỏng, bài giảng mẫu… sẽ để GV tự học qua mạng.

    Hiện nay trang mạng “Trường học kết nối” đã được Bộ GD&ĐT khuyến khích GV sử dụng như là một phương thức để bồi dưỡng và tự bồi dưỡng cho GV. Vì vậy cần phát huy hiệu quả  trang mạng này để thực hiện tốt việc bồi dưỡng theo nhu cầu của từng cá nhân.

    Bên cạnh đó, việc sử dụng facebook để tạo lập, liên kết với một nhóm GV cũng là một hình thức cần được khuyến khích sử dụng để bồi dưỡng lẫn nhau. Qua trang này, mọi GV đều được chia sẻ, học tập kinh nghiệm và giải đáp vướng mắc trong các công việc giảng dạy, giáo dục HS.

    Có thể nói, các hình thức dựa trên ứng dụng ICT rất giá trị, đem lại nhiều tiện ích đối với việc bồi dưỡng GV trong bối cảnh hiện nay. Các Sở GD&ĐT, các trường ĐHSP và cơ sở bồi dưỡng GV cần vận dụng tốt phương thức này để gắn kết mọi GV là thành viên của cộng đồng học tập qua mạng.

    Cả hai hình thức bồi dưỡng tập trung, trực tiếp và trực tuyến qua mạng Internet cần kết hợp chặt chẽ với nhau, không nên tuyệt đối hóa vai trò của bất cứ hình thức nào và phải có tư vấn, hỗ trợ của giảng viên sư phạm/ đội ngũ cán bộ cốt cán cơ sở.

    Ngoài những hình thức bồi dưỡng trên, cần vận dụng linh hoạt các hình thức khác như: Hội thảo, xemine, sinh hoạt cụm chuyên môn; dự giờ đồng nghiệp, tự học, tự bồi dưỡng qua sách, tài liệu để phát triển cộng đồng học tập trong GV tại cơ sở.

    Việc tổ chức cho GV tham quan thực tế tại các trường phổ thông chất lượng cao để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy, GD cũng là một trong những hình thức cần được đẩy mạnh, vì nó đem lại nhiều điều bổ ích cho chúng tôi nhiên, cần lựa chọn những  mô hình trường tham quan tiêu biểu.

    2.4.2. Về địa điểm tổ chức bồi dưỡng:  không nên đưa GV đến những nơi qúa xa, nhất là những  khu du lịch, nghỉ mát. Điều này dẫn đến tình trạng GV học tập thì ít mà nghỉ mát thì nhiều. Bức xúc về tình trạng này, Đinh Xuân Lâm trong nhiều năm trước đây đã từng lên tiếng:“Cần chấm dứt kiểu bồi dưỡng tập trung GV đi biển mùa hè nghe báo cáo…Tôi đã từng đi báo cáo về SGK lớp 10, dăm ba buổi họ ngồi nghe, nhưng có thiết thực gì mấy đâu” …họ rất coi trọng việc bồi dưỡng tại chỗ cho GV. Điều đó không chỉ gắn việc bồi dưỡng những nội dung lí thuyết với thực tiễn tại môi trường lớp học, mà còn giảm khó khăn về giao thông đi lại, về thời gian lưu trú và kinh phí. Theo kết quả điều tra, khảo sát năm 2021 của chúng tôi, phần lớn GV có nhu cầu  tổ chức tại các cụm trường THPT, các Trung tâm GD thường xuyên của huyện, hoặc có thể tổ chức tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm (nếu ở gần) để khai thác và phát huy thế mạnh của các đơn vị này trong công tác bồi dưỡng.

    2.4.3.Về phương pháp bồi dưỡng

     Chú trọng việc bồi dưỡng GV tại đơn vị cơ sở (xây dựng cộng đồng học tập trong nhà trường), hướng GV đi vào con đường tự học, tự nghiên cứu để mở rộng, nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.

         2.5.Đổi mới công tác quản lí bồi dưỡng

          Để khắc phục tình trạng quản lí nặng tính hành chính và hình thức, công tác quản lí bồi dưỡng cần phải đổi mới một cách căn bản. Cần lựa chọn các hình thức đánh giá phù hợp, linh hoạt, mềm dẻo để thúc đẩy động cơ phát triển nghề nghiệp của GV. Trong đó, không so sánh, không xếp thứ hạng, không cho điểm và nhận xét GV. Điều đó không có nghĩa là buông lỏng mà chính là thể hiện sự tín nhiệm và tin cậy vào khả năng tự phát triển của GV. Mặt khác, phải giải phóng GV thoát khỏi những ràng buộc hành chính để họ có thể tự do học tập và sáng tạo. Đây chính là bí quyết thành công trong công tác bồi dưỡng GV của một số nước. Bên cạnh đó, nên giảm số tiết lên lớp mỗi ngày cho GV để họ có thời gian cùng nhau trao đổi chuyên môn, rút kinh nghiệm và góp ý các tiết dạy sau được tốt hơn. 

             Trong quá trình triển khai bồi dưỡng trực tuyến, để khắc phục tình trạng GV không tham gia, các cơ sở tổ chức bồi dưỡng cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý GV (Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, các trường phổ thông) để giám sát, đánh giá và công nhận kết quả bồi dưỡng của GV một cách hiệu quả. 

                Về nội dung bồi dưỡng, cần kiểm tra – đánh giá trên các phương diện:

    – Nhận thức của GV  về các vấn đề đã được bồi dưỡng;

    -Sự vận dụng những kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng vào thực tiễn DH- GD ở nhà trường của GV và hiệu quả của nó.

    -Đánh giá sự phù hợp của nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng GV.                Từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế, những điểm cần rút kinh nghiệm và tiến hành cải tiến hoạt động bồi dưỡng GV được tốt hơn.

    Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả của các đợt bồi dưỡng GV, cần tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và đầu tư thỏa đáng về kinh phí cho công tác bồi dưỡng GV, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho việc tự học, tự bồi dưỡng của GV và tổ chức bồi dưỡng qua mạng.

         2.6. Sử dụng đội ngũ giảng viên sư phạm cốt cán, phát huy thế mạnh của các trường sư phạm trong công tác bồi dưỡng GV

    Giảng viên các trường ĐHSP phải là lực lượng chủ yếu trong các đợt tập huấn, bồi dưỡng để đảm bảo chất lượng của đội quân “chuyên nghiệp” đi dạy nghề, tránh để các trường sư phạm “đứng ngoài cuộc nhìn vào” hoặc chỉ đóng vai trò “được mời tham gia” như thời gian dài trước đây.

              Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền GD Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã coi các trường sư phạm là “cái nóc nhà” của đổi mới giáo dục. Sứ mệnh của nó không chỉ là đào tạo ra đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu thực tiễn của GDPT mà còn phải có nhiệm vụ hỗ trợ, bồi dưỡng để phát triển năng lực nghề nghiệp suốt đời cho GV. Vì thế, Dự án ETEP của Bộ GD&ĐT đã chọn 7 trường ĐHSP và Học viện QLGD để thúc đẩy việc bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ GVPT dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến. Theo Dự án này, sẽ có khoảng 280 giảng viên sư phạm được lựa chọn từ các trường ĐHSP chủ chốt được bồi dưỡng, tăng cường năng lực để làm nhiệm vụ bồi dưỡng GV phổ thông cốt cán trong quá trình bồi dưỡng thường xuyên, liên tục tại trường phổ thông cho các GV khác.

                Với vai trò, nhiệm vụ như vậy, giảng viên các trường ĐHSP  tới đây sẽ  trở thành lực lượng nòng cốt trong việc bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp của GV.

            Muốn thực hiện được điều này, các trường sư phạm phải làm những việc sau đây:

         – Xây dựng được cơ chế, chính sách để điều khiển mối quan hệ giữa Trường ĐHSP với trường phổ thông theo mô hình cung ứng- dịch vụ trong công tác bồi dưỡng GV. Đặc biệt, phải tạo ra được chính sách giảm thiểu tối đa sự can thiệp nặng về hành chính của hệ thống gián tiếp (phòng/ sở) để trường ĐHSP và trường phổ thông phải chịu trách nhiệm trước xã hội. Như vậy việc bồi dưỡng trực tiếp từ trường sư phạm cho GV mới thuận lợi và tránh được những rào cản cũng như sự chồng chéo.

    – Có hợp đồng trách nhiệm ba bên giữa Trường ĐHSP với cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục phổ thông trong hoạt động bồi dưỡng GV dựa trên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lợi ích của từng bên.

    – Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng GV chuẩn mực để GV dễ dàng học tập.

    – Đặc biệt, cần có đội ngũ giảng viên cốt cán giỏi về chuyên môn- NVSP, giàu kinh nghiệm và rất am hiểu thực tiễn phổ thông để trực tiếp làm nhiệm vụ bồi dưỡng GV.

    – Xây dựng được hạ tầng công nghệ thông tin, mạng internet kết nối với GV các trường phổ thông .

    – Được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước để chi trả cho các hoạt động bồi dưỡng GV. Đây là điều kiện thiết yếu, vì nếu không có kinh phí thì không thể triển khai được hoạt động bồi dưỡng. Bên cạnh đó, cần phối hợp với các Sở GD&ĐT, các trường THPT để có thêm nguồn kinh phí chi trả cho các hoạt động này.

    Cuối cùng, phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm của giảng viên trong việc kết nối, hòa nhập với trường phổ thông để tiến hành bồi dưỡng, bảo trì sản phẩm đầu ra của mình đạt chất lượng tốt.

    2.7. Nâng cao ý thức, trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng của GV, có sự hướng dẫn của  GV cốt cán, chuyên gia giáo dục

    GV muốn trở thành những người biết học tập suốt đời và tự bồi dưỡng thì rất cần có kĩ năng giao tiếp (lắng nghe và phản hồi tích cực); kĩ năng đặt câu hỏi và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin… để trực tiếp trao đổi, học hỏi từ các chuyên gia, giảng viên cũng như khai thác mạng Internet. Đồng thời, phải dành một lượng thời gian phù hợp để tự trau dồi nghiệp vụ, tham gia các khóa huấn luyện, bồi dưỡng.

    Trong hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, GV cần được làm việc trực tiếp và tương tác sâu với các chuyên gia, các nhà nghiên cứu GD và những người đào tạo GV. Ở đó, vai trò của họ là những người học tích cực, đồng thời là những người hợp tác, đồng thiết kế và là những người thực hiện, triển khai các ý tưởng từ chương trình vào trong thực tế lớp học. Họ được tham gia vào một cộng đồng học tập chuyên nghiệp, giúp họ có những biến chuyển sâu sắc trong nhận thức cũng như trong các hoạt động thực hành DH ở trên lớp, từ đó dần phát triên chuyên môn và năng lực nghề nghiệp của mình.

    3. Kết luận

      

                                                  Tài liệu tham khảo

    1.      Phạm Thị Kim Anh (2017)- Trường ĐHSP trong việc bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới GD (Kỷ yếu Hội thảo “Bồi dưỡng GV và CBQL GD đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT”. NXBĐH Thái Nguyên, Tháng 11 năm 2021, tr 33-40). ISBN: 978-604-915-575-8.

    2.     Phạm Thị Kim Anh (2015)-Chất lượng bồi dưỡng giáo viên phổ thông hiện nay-Thực trạng và biện pháp. Kỷ yếu HT Quốc giaNâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV và cán bộ QLGD”  Từ 31/10-1/11/2015- Đại học Vinh.

    3.      Phạm Thị Kim Anh (2018)-Yêu cầu đổi mới GDPT và những vấn đề đặt ra đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ GV THPT hiện nay .T/C Dạy và học ngày nay, tháng 9/2018, tr 30-33.

    4.      Phạm Thị Kim Anh (2017)Giải pháp hỗ trợ hoạt động nghề nghiệp cho GV trẻ (kinh nghiệm dưới 3 năm) của trường ĐHSP trong đào tạo giáo viên. Đề tài nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng năm 2021. Viện NCSP-ĐHSP Hà Nội.

    5.     Hoàng Thị Kim Huệ (2017)-Xây dựng bộ công cụ, đề xuất phương án khảo sát đánh giá năng lực và nhu cầu bồi dưỡng của GV phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp”. MS HD12.Trường ĐHSP Hà Nội (Chương trình ETEP).

    6.     Bộ GD&ĐT(2018)- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. số 270/KH-BGDDT, ngày 2 tháng 5 năm 2021, tr1.

    7.      Thế Đan -Học trực tuyến: Tốc độ phát triển nhanh mở ra kỷ nguyên đào tạo mới, ngày 24.11.2018. http://etep.moet.gov.vn/tintuc/chitiet?Id=798.

    8. Lê Đức Giang- Kiều Phương Chi (2018)-“ Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Giáo viên THPT đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông”. http://etep.moet.gov.vn/tintuc/chitiet?Id=540

    9. Nguyễn Vinh Hiển- Trong bài: “Đổi mới tất cả các thành tố trong bồi dưỡng giáo viên”của Nguyễn Nhung. Báo GD&TĐ Ngày 21.2.2018. chúng tôi tr1

    10. Kỷ yếu HT Quốc giaNâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV và cán bộ QLGD”  Từ 31/10-1/11/2015- Đại học Vinh.

    11. Kỷ yếu Hội thảo “Bồi dưỡng GV và CBQL GD đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT”. NXBĐH Thái Nguyên, Tháng 11 năm 2021, tr 33-40). ISBN: 978-604-915-575-8.

    12. Đinh Xuân Lâm (2008)- Trong bài: “Hội Lịch sử kiến nghị thay đổi chương trình, SGK  và viết lại sách”, http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=43305.

    13. Hoàng Đức Minh,  trong bài “Điểm nhấn trong bồi dưỡng giáo viên, CNQL theo chuẩn” của Hiếu Nguyễn. https://giaoducthoidai.vn/giao-duc/diem-nhan-trong-boi-duong-giao-vien-cbql-theo-chuan-3907354.html. Ngày 23.11.2017.

    1. Nguyễn Danh Nam (2017). Khảo sát đánh giá nhu cầu bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý các cấp ở khu vực được phân công trong Chương trình ETEP – Khảo sát sâu tại Thái Nguyên. Đề tài Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ cấp cơ sở (Chương trình ETEP), Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

    Tóm tắt: Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên (GV) để “đón đầu” thực hiện chương trình giáo dục (CTGD) phổ thông  mới đang là một trong những vấn đề trọng tâm và cấp bách nhằm trang bị cho đội ngũ GV có đủ năng lực đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục (GD). Để góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng GV, trong bài báo này chúng tôi tập trung nêu và phân tích 7 biện pháp cơ bản sau đây: (1) Khảo sát nhu cầu, phân loại đối tượng, lập kế hoạch bồi dưỡng sát với yêu cầu và năng lực của GV;(2) Phân công và phân cấp bồi dưỡng một cách rõ ràng;(3) Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng thiết thực, chuyên sâu và dựa trên nhu cầu của GV; (4) Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng; (5) Đổi mới công tác quản lí bồi dưỡng; (6)Sử dụng đội ngũ giảng viên sư phạm cốt cán, phát huy thế mạnh của các trường sư phạm trong công tác bồi dưỡng GV;  (7) Nâng cao ý thức, trách nhiệm tự học, tự bồi dưỡng của GV, có sự hướng dẫn của các GV cốt cán và chuyên gia giáo dục. Những biện pháp này là những thành tố quan trọng không thể thiếu được trong công tác bồi dưỡng.

            Từ khóa: Biện pháp, chất lượng, bồi dưỡng giáo viên,  THPT, đổi mới giáo dục.

     

    Some measures to improve the quality of upper higher school’ teacher training in order to meet the educational innovation’s requirements

     

    Abstract: Training to improve teachers’ competencies to “anticipate” the implementation of the new general education curriculum is one of the key and urgent issues to equip qualified teachers to meet the education innovation’s requirements. In order to contribute to improving the quality of teacher training, in this paper, we focus on introducing and analyzing the following 7 basic measures: (1) Do well the needs survey, classification of objects for training plan closely to teachers’ requirements and their competencies; (2) Assign and decentralize training clearly; (3) Develop content of practical, intensive and demand-based training program; (4) Innovating methods and forms of training; (5) Innovating management work; (6) Using a team of core pedagogical teachers, promoting the strengths of universities of education in teacher training; (7) Raising teachers’ awareness and responsibilities of self-study and self-training, with the guidance of core teachers and educational experts. These measures are important components indispensable in the teachers’ training.

    Keywords: Measure, Quality, teacher training, upper higher school, educational innovation

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • 20 Cách Làm Marketing Online Hiệu Quả Mà Không Phải Ai Cũng Biết
  • 5 Cách Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Với Chi Phí Cực Thấp
  • Em Hãy Nêu Một Số Nhận Xét Về Tình …
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Thpt Qg Cho Lớp 12A1, 12A2 Ở Trường Thpt Quan Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Châu Phi Trong Vòng Luẩn Quẩn Đói Nghèo, Tội Phạm Và Nội Chiến
  • Phương Pháp Làm Việc Nhóm Hiệu Quả
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Trong Trương Tiểu Học
  • Hậu Quả Của Việc Già Hoá Dân Số Ở Nhật Bản: Người Cao Tuổi Cố Tình Phạm Tội Để Được An Dưỡng Tuổi Già Trong Nhà Tù
  • Quân Khu 2 – Chấn Chỉnh Chấp Hành Quy Định Bảo Đảm An Toàn Giao Thông
  • I. Lí do chọn đề tài

    Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học môn Lịch sử nói riêng là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay, không chỉ của những người làm công tác giảng dạy, mà ngay cả các cấp các Ngành ở Trung ương và địa phương. Làm thế nào để biến những quan điểm đổi mới thành kết quả hiện thực? Chất lượng của kỳ thi tốt nghiệp là kết quả suốt 12 năm quá trình tích lũy kiến thức chương trình PTTH. Nâng cao chất lượng của kỳ thi TN THPT sẽ giúp chúng ta giải quyết bài toán khó này.

    Chúng ta biết Lịch sử là một môn khoa học xã hội, bộ môn có dung lượng kiến thức lớn, trong mỗi tiết học đòi hỏi học sinh không chỉ có khả năng ghi nhớ mà cần có kĩ năng tư duy, so sánh… Vì vậy, để lĩnh hội một cách có hệ thống chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học, để tránh tình trạng “Thầy đọc, trò chép” sẽ gây ra sự nhàm chán, đơn điệu, nặng nề trong giờ học. Muốn khắc phục tình trạng trên thì ngoài việc tích cực đổi mới phương pháp trong giờ học trên lớp, công tác bồi dưỡng ngoại khóa là điều rất cần thiết. Đó cũng là vấn đề mà mỗi thầy, cô giáo luôn trăn trở. Cũng chính vì sự trăn trở đó mà bản thân tôi luôn tìm tòi bằng phương pháp nào để nâng cao chất lượng tốt nghiệp THPT thông qua công tác bồi dưỡng môn lịch sử.

    Từ năm 2021, trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT), Bộ GD&ĐT đã chính thức đưa ra phương án thi đó là học sinh có 4 bài thi gồm 3 bài thi độc lập (Toán, Văn, Ngoại ngữ) và 2 bài thi tổ hợp tự chọn theo hình thức trắc nghiệm là Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học) hoặc Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân). Mỗi bài thi tổ hợp gồm 120 câu hỏi, và như vậy, môn Lịch sử với 40 câu sẽ được gộp cùng hai môn khác trong tổng thời gian làm bài 150 phút. 

    Như vậy, cách thức thi cử đã thay đổi, vậy cách dạy và học cũng phải thay đổi cho phù hợp. Nhưng vấn đề là làm thế nào để bài thi của học sinh có được điểm cao, đặc biệt với môn Lịch sử trước đến nay các em đều cho là khó học nhất?

    Tôi cho rằng phần Lịch sử được thi dưới hình thức trắc nghiệm là phương án hợp lý. Vì nhiều năm qua, tỷ lệ học sinh chọn môn Lịch sử thi tốt nghiệp quá ít. Chỉ những em nào có mong muốn thi khối C mới chọn. Nguyên nhân là học sinh không muốn phải học quá nhiều.

    Việc chuyển Lịch sử sang hình thức thi trắc nghiệm phù hợp tình hình giáo dục hiện nay của nước ta, cũng đã được áp dụng tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. 

    Tính ưu việt của bài thi trắc nghiệm là sự khách quan, có thể đo lường và kiểm định chất lượng giáo dục bằng con số cụ thể, không dựa vào cảm tính và mơ hồ. Thông qua bài thi trắc nghiệm, các chuyên gia có thể phân tích, đánh giá chất lượng bài thi, câu hỏi và kết quả.

    Đây không phải lần đầu tiên Lịch sử được tổ chức thi bằng hình thức trắc nghiệm. Cách đây vài năm, giai đoạn 2006-2009, ngành giáo dục từng phát động, đưa hình thức này vào trong các bài thi đánh giá kết quả học tập của học sinh. Giáo viên lâu năm đều từng dạy và kiểm tra theo hình thức này. Đội ngũ giáo viên hiện nay có đủ kinh nghiệm để thích ứng phương án trắc nghiệm. 

    Với hình thức thi trắc nghiệm, học sinh không phải thuộc lòng quá nhiều, chỉ cần đọc sách, hiểu bài và biết kết nối các vấn đề, suy luận để lựa chọn đáp án là có thể hoàn thiện bài thi. Điều này không ảnh hưởng việc dạy và học trong nhà trường, vì các em có thể tự học, tự ôn bằng việc đọc sách giáo khoa, không phải học thuộc lòng. Thậm chí, cách này còn tạo nên “làn gió mát” trong việc học tập chứ không làm xáo trộn việc dạy và học ở trường.

    Nhiều năm dạy ở bậc phổ thông, tôi luôn yêu cầu các em đọc sách và tự khai thác, xử lý sách giáo khoa để chinh phục và tìm tòi tri thức. Từ đây, các em biết vận dụng kiến thức để làm bài thi, dù đó là tự luận hay trắc nghiệm.

    Thi trắc nghiệm, việc đầu tiên học sinh cần thay đổi là đọc kỹ sách giáo khoa. Vì phần lớn kiến thức trong bài thi đều lấy từ sách giáo khoa, các em cần chủ động hơn trong việc khai thác và xử lý sách giáo khoa. Bởi đây là tài liệu căn bản, nền tảng tri thức của mọi đề thi và hình thức thi. Thêm nữa, các em cần biết suy luận thông qua việc phân tích dữ liệu từ các đáp án. 

    Bài thi trắc nghiệm, ngoài những câu hỏi về kiểm tra kiến thức, cần có một số câu hỏi yêu cầu suy luận, phân tích mà đáp án khá giống nhau theo kiểu 50/50. Khi đó, học sinh phải hiểu bài, phân tích câu trả lời để chọn ra đáp ứng. Đây là những câu hỏi mà các bạn rất dễ bị mất điểm và đây cũng chính là cơ sở để sàng lọc, phân loại học sinh

    Một ví dụ trích từ đề thi Đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội như sau:

    “Cuộc cách mạng màu sắc tư sản vào cuối thế kỉ XIX đã đưa quốc gia nào phát triển thành một nước đế quốc trong thế kỉ XX?

    A.   Thái Lan

    B.   Ấn Độ

    C.   Trung Quốc

    D.   Nhật Bản”.

    Ở đây, chắc chắn hai câu bị loại là Trung Quốc và Ấn Độ, vì hai nước này đều trở thành thuộc địa của các nước tư bản phương Tây. Chỉ có Thái Lan và Nhật Bản đều tiến hành cải cách và duy tân thành công. Cả hai cuộc cải cách và duy tân đều mang màu sắc của cuộc cách mạng tư sản, nhưng nước trở thành đế quốc trong thế kỉ XX là Nhật Bản. 

    Qua nhiều năm dạy chương trình đổi mới, để đạt kết quả cao trong học tập, bản thân tôi đã vận dụng nhiều phương pháp có hiệu quả: Ôn tập kiến thức cơ bản, tổ chức học theo nhóm, hệ thống kiến thức bằng sơ đồ, tổ chức các trò chơi… đề ra một số phương pháp làm bài tốt góp phần tạo không khí học tập thoải mái, học sinh tự tin bước tiếp con đường học vấn trong tương lai. Với lí do trên tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT QG cho lớp 12A1, 12A2 ở trường THPT Quan Sơn”.

    II. Mục đích nghiên cứu

    Góp phần nâng cao chất lượng học sinh trong các kỳ thi học kỳ, đặc biết là kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia

    III. Đối tượng nghiên cứu

    Học sinh lớp 12A1, 12A2 ở trường THPT Quan Sơn

    IV. Phạm vi nghiên cứu

    Nội dung thi THPT môn Lịch sử gồm 2 phần lớn:

    – Lịch sử thế giới 1945 – 2000

    – Lịch sử Việt Nam 1919 – 2000

    Trong đề tài này tôi chỉ đưa ra một vài biện pháp để hướng dẫn học sinh học bài, ôn tập và cách làm bài thi phần lịch sử Việt Nam và trọng tâm là phương pháp ôn thi trắc nghiệm khách quan.

    V. Phương pháp nghiên cứu

    Để tiến hành làm đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

    + Phương pháp nghiên cứu tài liệu bổ trợ

    + Phương pháp phỏng vấn, so sánh, đối chiếu

    + Hội giảng, dự giờ, trao đổi ý kiến với các đồng nghiệp trong quá trình

    giảng dạy.

    + Áp dụng kinh nghiệm, phương pháp mới .

    + Đánh giá kết quả ban đầu và điều chỉnh bổ sung

    + Kiểm tra đánh giá cuối cùng và hoàn chỉnh công việc

    B. NỘI DUNG

    I. Cơ sở lí luận

    Một số quan điểm đổi mới giáo dục THPT

    1. Luật giáo dục số 38/2005/QH11, điều 28: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng môn học, lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh.

    2. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: “Đổi mới chương trình nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong chuyên nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội.

    3. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo quyết định 711/QĐ-TT ngày 13/6/2012 của thủ tướng chính phủ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”.

    Lịch sử có văn hóa, văn hóa gắn liền với các sự kiện lịch sử. Thế nhưng nhiều học sinh hiểu biết về lịch sử dân tộc ít nhiều có giảm đi, phải chăng do phần lớn không được cung cấp đầy đủ về nguồn thông tin này? Đội ngũ giáo viên đứng lớp vẫn còn nhiều hạn chế, còn thờ ơ xem nhẹ môn dạy, chưa có những đầu tư phù hợp cho tiết dạy.

    Bên cạnh đó, nhiều học sinh vẫn coi Lịch sử là môn phụ nên rất xem thường hệ quả của sự coi thường là điểm thi tốt nghiệp THPT môn Lịch sử của học sinh trong thời gian vừa qua quá thấp. “Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia và tuyển sinh đại học năm 2021, môn lịch sử một lần nữa lại đăng quang ngôi vị “chót bảng”, số lượng bài thi môn này dưới điểm trung bình cũng chiếm đến 80-90%. Thậm chí có trường điểm sử cao nhất chỉ dừng lại ở con số 5,25. Trong khi đó, hồ sơ thi vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn lại rất ít ỏi so với các khối A,B,D…”. Phải chăng đây là hồi chuông cảnh tỉnh cho cả xã hội và những người làm công tác giáo dục.

    II. Cơ sở thực tiễn

    Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường phổ thông, gần 10 năm qua trực tiếp giảng dạy khối 12, ôn thi tốt nghiệp THPT, Cao đẳng, Đại học, qua trao đổi với nhiều giáo viên cùng chuyên môn trong trường và trong toàn tỉnh, tôi xin đưa ra một số nhận xét về một số thực trạng còn tồn tại ở môn học và học sinh khối 12 nơi tôi đang công tác như sau:

    – Chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng của các ngành xã hội thấp hơn nhiều so với các ngành kinh tế, kỹ thuật. Sau khi ra trường, số sinh viên học các ngành xã hội khó kiếm được việc làm thậm chí có nhiều sinh viên ra trường từ năm 2013 vẫn chưa xin được việc làm hoặc đi làm trái nghề hoặc bỏ nghề, số có việc làm thu nhập cũng rất thấp.

    – Số học sịnh chọn khối xã hội khi đăng ký thi tốt nghiệp THPT cũng còn thờ ơ với việc học, có tư tưởng học đối phó, học “tủ”.

    – Nội dung chương trình “nặng”, đặc trưng kiến thức môn học khô khan nên thời gian trên lớp chỉ đủ cho giáo viên cung cấp cho học những kiến thức cơ bản.

    – Phần lớn học sinh và kể cả nhiều người trong xã hội đều có quan điểm sai lầm về môn học chỉ cho rằng: Lịch sử chỉ cần học thuộc, không hiểu được lịch sử cũng là một môn khoa học như các môn khoa học khác. Vì vậy chưa có phương pháp học tập đúng đắn.

    – Bên cạnh đó, một số giáo viên cũng chưa thật sự tâm huyết với nghề, trong quá trình dạy học chưa thực sự đầu tư cho hoạt động chuyên môn.

    Từ những thực trạng còn tồn tại ở môn học và đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 12, tôi xin đưa ra một vài biện pháp hướng dẫn học sinh ôn tập môn học và làm bài thi để giúp các em đạt được kết quả cao hơn trong kỳ thi THPT vô cùng quan trọng, mang tính bước ngoặt trong cuộc đời các em.

    III. Tổ chức thực hiện các giải pháp

    Phát huy tính tích cực trong học tập là điều không mới mẻ gì đối với một GV giảng dạy Lịch sử, nhưng việc nâng nó lên thành kỹ năng và gây hứng thú cho người học để đạt kết quả cao lại là một vấn đề không đơn giản. Để góp phần nâng cao chất lượng tốt nghiệp THPT thông qua công tác ôn thi môn lịch sử trong nhà trường phổ thông, tôi xin nêu một vài phương pháp trong việc: ôn tập kiến thức cơ bản, tổ chức học theo nhóm, hệ thống kiến thức bằng sơ đồ, tổ chức các trò chơi… đề ra một số phương pháp làm bài tốt để góp phần vào việc dạy của người thầy và việc học của trò đạt kết quả cao, có chất lượng.

    1. Các phương pháp học và ôn tập môn học

    1.1. Chia kiến thức theo từng giai đoạn

    Có thể chia Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000 thành các giai đoạn sau:

    a. 1919 – 1930

    b. 1930 – 1945

    c. 1945 – 1954

    d. 1954 – 1975

    e. 1975 – 1986

    g. 1986 – 2000

    1.2. Hiểu được hoàn cảnh lịch sử và nhiệm vụ cơ bản của mỗi giai đoạn

    Đây là cơ sở chính để phân chia lịch sử thành các giai đoạn. Mỗi sự kiện lịch sử luôn chịu sự chi phối của những hoàn cảnh nhất định. Trong mỗi hoàn cảnh có nhiệm vụ khác nhau. Sự kiện xảy ra là để giải quyết nhiệm vụ đó. Cụ thể:

    a. 1919 – 1930: Khẳng định con đường giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, sau khi dập tắt phong trào Cần vương, thực dân Pháp đã hoàn thành việc bình định nước ta. Phong trào Cần vương kết thúc (1896) chứng tỏ đường lối cứu nước dưới ngọn cờ phong kiến đã thất bại. Nước ta đang khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo. Vì vậy nhiệm vụ quan trọng nhất là phải tìm ra con đường cứu nước phù hợp với lịch sử dân tộc. Đầu năm 1930 khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập thì nhiệm vụ này đã hoàn thành.

    b. 1930 – 1945: Tiến hành giải phóng dân tộc

    Sau khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống Pháp và phong kiến tay sai qua các phong trào cách mạng: 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945). Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 nhiệm vụ này đã được hoàn thành.

    c. 1945 – 1954: Đấu tranh bảo vệ chính quyền, nền độc lập vừa mới giành lại được – kháng chiến chống Pháp tái xâm lược.

    Sau Cách mạng tháng Tám, nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn và thử thách. Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Đảng và Mặt trận Việt minh đã lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp qua các chiến dịch lớn: Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, Biên giới thu đông 1950, tiến cuộc đông xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngày 7/5/1954 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này đã hoàn thành.

    d. 1954 – 1975: Kháng chiến chống Mĩ và đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn

    Sau khi Pháp buộc phải rút quân khỏi nước ta (vì Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ) Mĩ đã thay chân Pháp dựng lên chính quyền Sài Gòn làm tay sai để thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và là một căn cứ quân sự. Một lần nữa, nhân dan ta phải đứng lên đấu tranh chống Mĩ và tay sai. Chiến tháng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành nhiệm vụ này.

    e. 1975 – 1986: Thống nhất đất nước về mặt nhà nước, bước đầu xây dựng và phát triển kinh tế xã hội theo đường lối xã hội chủ nghĩa.

    Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, nước ta đã được thống nhất về mặt lãnh thổ nhưng về mặt nhà nước thì chưa. Hậu quả mà hai cuộc chiến tranh để lại là rất nặng nề. Những hội nghị hiệp thương hai miền Nam – Bắc và tổng tuyển cử đã hoàn thành nhiệm vụ này. Nước ta bắt tay vào xây dựng kinh tế – xã hội thông qua các kế hoạch 5 năm.

    g.1986 – 2000: Cải cách đổi mới đất nước

    Mười năm đầu sau ngày đất nước thống nhất (1975-1985) trong quá trình xây dựng kinh tế, bên cạnh những thành tựu, nước ta đã vấp phải nhiều khuyết điểm sai lầm. Tình hình thế giới cũng có nhiều thay đổi. Nước ta cần phải cải cách để thoát khỏi khủng hoảng và đưa đất nước đi lên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 mở đầu thời kỳ đổi mới. Những kế hoạch xây dựn đất nước tiếp tục được đưa ra thực hiện và thu được nhiều kết quả, đất nước đang thay đổi và phát triển từng ngày.

    1.3. Hiểu và ghi nhớ những mốc thời gian gắn liền với sự kiện cơ bản

    a. Nhơ những sự kiện lớn trước: Lấy một sự kiện làm mốc đầu rồi nhớ những sự kiện cách nhau 5 năm, 10 năm

    1920: Nguyễn Ái Quốc đọc được luận cương của Leenin, từ đó đã xác định con đường cách mạng vô sản là con đường giải phóng dân tộc Việt Nam.

    1925: Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.

    1930: Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập.

    1935: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng – đánh dấu Đảng đã được phục hồi sau thời gian bị Pháp khủng bố trắng.

    1940: Phát xít Nhật vào Đông Dương, cấu kết với thực dân Pháp – nhân dân ta sống trong cảnh “1 cổ 2 tròng”.

    1945: Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.

    1950: Chiến dịch Biên giới thu đông diễn ra và giành thắng lợi, tạo ra một bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến

    b. Liên hệ và nhớ sự kiện lịch sử với những ngày tháng năm mà bản thân thường hay nhớ: ngày sinh nhật của mình, của bạn thân, ngày gắn liền với những kỷ niệm không quên rồi tính sự kiện lịch sử cách ngày tháng đó bao lâu.

    1.4. Nhớ và hiểu những sự kiện của lịch sử thế giới có tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam.

    Phần lịch sử Việt Nam 1919-2000 luôn chịu tác động của lịch sử thế giới và khu vực. Vì vậy cũng cần phải hiểu và nhớ một số sự kiện sau:

    – Quốc tế cộng sản: Là một tổ chức quốc tế do Leenin sáng lập ra năm 1919vowis thành viên là các Đảng cộng sản của các nước. Quốc tế cộng sản chỉ đạo thống nhất đường lối, chủ trương để thực hiện nhiệm vụ chống chủ nghĩa đế quốc. Các đại hội quan trọng: Đại hội II (1920), Đại hội VII (1935).

    – Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Là cuộc chiến tranh do phe phát xít (cầm đầu là Đức) phát động nhằm chia lại thị trường thế giới. Ban đầu là một cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa. Khi Liên Xô đứng lên chống phát xít tính chất cuộc chiến tranh đã thay đổi.

    Tháng 9/1940: Nhật nhảy vào Đông Dương

    Tháng 12/1941: chiến tranh châu Á – Thái Bình Dương bùng nổ.

    Đầu 1945 : Chiến tranh bước vào giai đoạn cuối, phe phát xít lần lượt bị tiêu diệt.

    Cuối tháng 4/1945: Phát xít Đức bị tiêu diệt hoàn toàn. Chiến tranh kết thúc ở châu Âu.

    Ngày 6 và 8 tháng 8/1945: Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản.

    Ngày 15/8/1945: Phát xít Nhật ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh thế giớ thứ hai kết thúc.

    – Tình hình châu Phi những năm 50-60: Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân châu Phi bùng nổ mạnh mẽ và thu được nhiều thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.

    – Tình hình Mĩ la tinh những năm 70 của thế kỷ XX: Phong trào đấu tranh chống chế độ thuộc địa kiểu mới của Mĩ phát triển và giành nhiều thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta

    2. Tổ chức ôn tập

    Giáo viên phải xác định được có bao nhiêu thời gian để thực hiện việc ôn tập. Căn cứ vào thời gian đó để chia kiến thức cho mỗi tiết, mỗi tuần, mỗi đợt rồi “ khoán” kiến thức để học sinh thực hiện. Trong thời gian ôn tập giáo viên không cung cấp kiến thức mới, không dạy lại kiến thức cũ mà chỉ khái quát kiến thức trọng tâm, giải đáp thắc mắc của học sinh, hướng dẫn cách học và kiểm tra việc học của học sinh.

    Việc thường xuyên kiểm tra việc học của học sinh là rất quan trọng. Cuối mỗi tuần, mỗi đợt có thể cho học sinh bốc thăm và trả lời câu hỏi bất kì trong số các câu hỏi mà giáo viên đã “ khoán”. Có thể cho học sinh trình bày miệng hoặc viết lên bảng sau đó giáo viên chấm, nhận xét, nhắc nhở để học sinh tránh mắc lỗi khi học sinh làm bài. Tổ chức kiểm tra cần nhẹ nhàng để giảm áp lực. Có thể tổ chức thi đua giữa các tổ trong lớp để tạo không khí hào hứng cho học sinh. Nếu có điều kiện thì tổ chức thi đua giữa các lớp.

    2.1. Ôn tập kiến thức cơ bản

    – Mục đích: + Kiến thức trung bình vừa sát yêu cầu đề thi TN.

    + Chủ yếu ôn cho đối tượng học sinh: yếu, kém

    * Đối với giáo viên:

    – Thực hiện: gọi học sinh trả lời theo yêu cầu câu hỏi.

    Có thể áp dụng tất cả các câu hỏi theo nội dung bài trong SGK.

    Ví dụ 1: Bài 1 Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1949)

    – Câu hỏi: Nêu mục đích và nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc?

    Trả lời: + Mục đích: Duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc.

    + Nguyên tắc:

    – Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc.

    – Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước .

    – Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ nước nào.

    – Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình .

    – Chung sống hòa bình và sự nhất trí giữa năm nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp và Trung Quốc) .

    Ví dụ 2: Bài 13 phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam (1925-1930)

    – Câu hỏi: Trình bày ý nghĩa sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam?

    Trả lời:

    – Là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơn Tây Triển Khai Các Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi Bền Vững
  • Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi Bền Vững Và Ổn Định Thị Trường Thực Phẩm – Tạp Chí Điện Tử Làng Mới
  • Giải Pháp Phát Triển Ngành Chăn Nuôi
  • Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi Lợn Bền Vững
  • Phát Triển Chăn Nuôi Bền Vững
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Trình Xây Dựng Trên Địa Bàn Tỉnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bản Yêu Cầu Điều Tra Của Kiểm Sát Viên
  • Ngành Y Tế: Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Sức Khỏe Nhân Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Môi Trường
  • Siêu Công Nghệ Chống Ô Nhiễm Không Khí
  • Lợi Dụng Vấn Đề Dân Tộc Trong Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình”, Bạo Loạn Lật Đổ Của Các Thế Lực Thù Địch
  •  

     

    Nhờ đó, trong thời gian vừa qua chất lượng công trình trên địa bàn tỉnh đã được nâng lên, hầu hết các công trình đưa vào sử dụng đã đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, đảm bảo quy mô, công suất, công năng sử dụng theo yêu cầu thiết kế, đảm bảo an toàn chịu lực trong vận hành, khai thác sử dụng và phát huy được hiệu quả công trình. Nhiều công trình, dự án có chất lượng cao như công trình Nhà hội trường đa Năng, công trình Nhà liên cơ quan, Khách sạn Mường Thanh, Siêu thị CopMax, đường 293, cầu Đông Xuyên… Các sự cố về công trình xây dựng đã giảm rõ rệt so với những năm trước, năm 2014 trên địa bàn đã không sảy ra sự cố về công trình xây dựng. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có công trình chất lượng chưa cao, nhiều dự án còn khiếm khuyết từ khâu khảo sát, thiết kế, đến giám sát và thi công xây lắp, nhiều công trình trong quá trình thi công phải thay đổi thiết kế, hoặc thiết kế chưa phù hợp gây lãng phí trong công tác đầu tư, một số công trình đưa vào sử dụng xuống cấp nhanh, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác sử dụng.

    Có thể nói những sai phạm trên sảy ra có rất nhiều nguyên nhân thuộc trách nhiệm của nhiều chủ thể tham gia trong quá trình đầu tư và xây dựng như năng lực của tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế; năng lực, trách nhiệm của tư vấn giám sát; năng lực của nhà thầu thi công xây lắp và tinh thần trách nhiệm của chủ đầu tư trong đầu tư xây dựng.  

    Để nâng cao chất lượng công trình xây dựng cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    Thứ hai: Các đơn vị tư vấn chỉ thực hiện các công việc phù hợp với điều kiện năng lực của cấp có thẩm quyền cho phép, chỉ giao việc chủ trì khảo sát, thiết kế cho cá nhân có chứng chỉ hành nghề và năng lực phù hợp với công việc theo quy định của pháp luật; cần kiện toàn bộ máy, tăng cường, bổ sung cán bộ chuyên môn, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm tư vấn và đặc biệt là phải giáo giục ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác tư vấn giám sát.

    Thứ ba: Nhà thầu thi công xây lắp cần tăng cường trang thiết bị thi công, củng cố bộ máy, lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp và thiết lập hồ sơ quản lý chất lượng công trình, tự tổ chức kiểm tra nghiệm thu vật tư, thiết bị trước khi xây dựng, tổ chức thi công đúng theo hồ sơ thiết kế được duyệt, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo chất lượng và an toàn công trình, chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình làm ra.

    Thứ tư: Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án cần thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng. Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng đảm bảo yêu cầu về tiến độ, chất lượng, chi phí, an toàn và bảo vệ môi trường trong xây dựng. Cần nêu cao vai trò trách nhiệm, quản lý chặt chẽ ngay từ khâu lập dự án, khảo sát thiết kế, cho đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng. Lựa chọn nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây lắp có đủ năng lực theo quy định (thiết bị, máy móc, nhân sự, số năm kinh nghiệm, sản phẩm cùng loại đã thực hiện) ngoài ra phải có kinh nghiệm, uy tín, có trách nhiệm. Chỉ được khởi công khi có đủ điều kiện theo quy định Luật Xây dựng.

    Thứ năm: Sở xây dựng và các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên nghành, UBND các huyện, thành phố cần quan tâm hơn nữa việc nâng cao năng lực của các phòng, ban chuyên môn có chức năng quản lý hoạt động xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng. Hàng năm xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình trong lĩnh vực mình quản lý. Tăng cường sử phạt hành chính đối với các chủ thể trong việc vi phạm chất lượng công trình xây dựng./.

    Phạm Giang

    Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Xây dựng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Và Hiệu Quả Hoạt Động Tiếp Xúc Cử Tri
  • Tòa Án Nhân Dân Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Giải Pháp Đột Phá, Tạo Sự Chuyển Biến Căn Bản Trong Xét Xử
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xét Xử, Đảm Bảo Sự Bình Đẳng Trong Thực Thi Pháp Luật
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Xây Dựng, Hoàn Thiện Pháp Luật
  • Phú Yên: Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa Gắn Với Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Quân Khí Phục Vụ Huấn Luyện, Diễn Tập Có Bắn Đạn Thật Ở Học Viện Lục Quân

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Khu 2 – Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật, Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Cho Thực Hiện Nhiệm Vụ
  • Tập Trung Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Đoàn Thuộc Đoàn Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn Trên Địa Bàn Tỉnh Bình Phước
  • Đội ngũ cán bộ, nhân viên có bản lĩnh chính trị vững vàng; phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ chuyên môn tốt, yêu ngành, yêu nghề. Phát huy truyền thống của ngành Quân khí “Tận tụy, dũng cảm, giữ gìn súng đạn, phục vụ đánh thắng”. Thường xuyên làm tốt công tác bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, quản lý, khai thác, sử dụng. Bảo đảm đầy đủ vũ khí, đạn dược cho huấn luyện chiến sĩ mới, quân nhân chuyên nghiệp và học viên luyện tập, diễn tập. Hệ thống kho tàng được xây dựng, củng cố; chế độ ngành được duy trì có nền nếp; góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác kỹ thuật (CTKT) đáp ứng yêu cầu giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác của Học viện.

    Để nâng cao chất lượng CTKT Quân khí trong thời gian tới; ngành Quân khí Học viện cần triển khai thực hiện tốt một số biện pháp sau:

    Một là, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên; luôn chủ động tham mưu với Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện; cấp ủy chỉ huy Phòng Kỹ thuật những chủ trương, giải pháp phù hợp. Triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới và Cuộc vận động “Quản lý, khai thác VKTBKT tốt, bền, an toàn tiết kiệm và an toàn giao thông”. Đây là giải pháp mang tính nguyên tắc, được thực hiện thường xuyên, liên tục.

    Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật Quân khí có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, ý thức, trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc, giỏi về chuyên môn, thực sự là lực lượng nòng cốt để nâng cao chất lượng CTKT quân khí tại đơn vị.

    Ba là, xây dựng kế hoạch huấn luyện kỹ thuật (HLKT) quân khí hằng năm chặt chẽ, sát thực tế của đơn vị; duy trì nghiêm nền nếp công tác huấn luyện; thực hiện phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, sát với thực tiễn; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện chuyên môn với giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường huấn luyện khai thác, sử dụng làm chủ VKTBKT, chấp hành nghiêm quy định, quy tắc bảo đảm an toàn trong huấn luyện, diễn tập, chế độ quy định về quản lý, bảo quản, sửa chữa VKTBKT; thường xuyên giáo dục cán bộ, nhân viên, chiến sỹ trong toàn Học viện nâng cao ý thức tự giác chấp hành điều lệ CTKT Quân khí, các quy định, chế độ, nền nếp, quy định an toàn khi sử dụng VKTBKT.

    Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý VKTBKT ở các cơ quan và đơn vị trong Học viện. Duy trì và thực hiện nghiêm các chế dộ, quy định của ngành kỹ thuật, không để xảy ra hư hỏng, mất mát, xuống cấp do yếu tố chủ quan gây ra, đặc biệt chú trọng công tác quản lý chặt chẽ vũ khí, đạn dược ở các đơn vị. Duy trì chấp hành nghiêm chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác bảo đảm an toàn kho vũ khí, đạn dược. Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý VKTBKT Quân khí tại đơn vị, đưa hoạt động CTKT Quân khí trong Học viện vào nền nếp, từng bước chính quy. Thực hiện tốt công tác kiểm kê; tổ chức đăng ký, thống kê đúng quy định.

    Năm là, tích cực nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó, trọng tâm tập trung nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào giải quyết những yêu cầu cấp bách trong khai thác, sửa chữa, bảo quản, niêm cất VKTBKT, tạo bước đột phá mới trong công tác kỹ thuật. Đẩy mạnh phong trào nghiên cứu sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, khơi dậy tinh thần lao động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên quân khí, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị, ứng dụng vào quá trình khai thác, sử dụng VKTBKT.

    Phát huy truyền thống của Học viện Lục quân “Kiên định vững vàng, đoàn kết nhất trí, chủ động sáng tạo, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ”; ngành Quân khí Học viện quyết tâm đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đơn vị, không ngừng nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện; Cấp ủy, Chỉ huy Phòng Kỹ thuật giao; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn Học viện chấp hành nghiêm các quy định, quy tắc an toàn trong huấn luyện, diễn tập có bắn đạn thật; quyết tâm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác của Học viện Lục quân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

    N.Đ.N

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Tổ Chuyên Môn Thcs
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Lực, Hiệu Quả Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Thi Hành Kỷ Luật Của Đảng
  • Mô Hình Câu Lạc Bộ Bí Thư Chi Đoàn Trên Địa Bàn Dân Cư
  • Hưng Yên Đưa Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Đoàn Trên Địa Bàn Dân Cư Vào Thực Tiễn Công Tác Đoàn
  • Nhiều Chuyển Biến Tích Cực Qua Thực Hiện Đề Án Công An Xã Chính Quy
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Tổ Chuyên Môn Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Quân Khí Phục Vụ Huấn Luyện, Diễn Tập Có Bắn Đạn Thật Ở Học Viện Lục Quân
  • Quân Khu 2 – Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật, Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Cho Thực Hiện Nhiệm Vụ
  • Tập Trung Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kỹ Thuật Đáp Ứng Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Đoàn Thuộc Đoàn Cơ Sở
  • Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN THCS.

    ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Do vậy việc sinh hoạt tổ chuyên môn phải được thường xuyên, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng và hiệu quả.

      Điều 16 trong Điều lệ trường trung học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 02 tháng 04 năm 2007, ghi rõ: “Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau:

    – Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ; hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình, môn học của Bộ Giáo dục – đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường.

    – Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ, tham gia, đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo các qui định của Bộ GD – ĐT.

    – Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên”.

    Như vậy tổ chuyên môn có chức năng, nhiệm vụ, vai trò rất quan trọng trong việc triển khai, thực hiện các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Có thể khẳng định hoạt động của tổ chuyên môn tốt, thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ như Điều lệ trường trung học đã qui định sẽ góp phần tích cực, khá quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng được những yêu cầu mới trong quá trình đổi mới giáo dục.

    Tuy nhiên tổ chuyên môn không phải là cấp cơ sở có đầy đủ thẩm quyền để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, mà trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông. Do vậy chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn phụ thuộc nhiều vào kế hoạch, hoạt động của nhà trường, vào sự lãnh đạo của Ban giám hiệu. Trong các văn bản hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo, của Phòng GD & ĐT năm nào cũng chỉ đạo cho các đơn vị, trường học làm tốt công việc cải tiến nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, coi đây là một trong những nhiệm vụ cơ bản, thiết thực để nâng cao chất lượng dạy – học, thực hiện đổi mới giáo dục.

    Bản thân đã 22 năm công tác tại Phòng GD&ĐT, phụ trách chuyên môn THCS, trong quá trình thanh kiểm tra, tôi nhận thấy: hoạt động của một số tổ chuyên môn chưa đi vào thực chất để nâng cao chất lượng dạy học, sinh hoạt tổ chuyên môn còn nặng về giải quyết sự vụ, thi đua ..còn nặng về hình thức ….

    Trước tình hình thực tế công tác chuyên môn của bậc học, trước các đòi hỏi bức bách phải nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng được những yêu cầu trong quá trình đổi mới và thực hiện tốt cuộc vận động hai không của Bộ GD – ĐT: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, tôi đã thực hiện một số biện phápđể nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chuyên môn góp phần trong việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    Trong bài viết, chúng tôi xin trình bày: Kinh nghiệm chỉ đạo hoạt động các tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy – học ở trường trung học cơ sở.

     B. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm.

    – Phương pháp thống kê.

    C. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

      Để chỉ đạo tốt hoạt động dạy – học phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của tổ chuyên môn trong trường THCS, chúng ta cần thực hiện các biện pháp sau:

    1/ Biện pháp thứ nhất: Xây dựng ké hoạch của chuyên môn.

    a) Nhà trường phải lưu trữ đầy đủ các văn bản chỉ đạo về hoạt động dạy học và các qui chế chuyên môn. Phân công rõ trách nhiệm trong việc triển khai các văn bản này đến cán bộ, giáo viên một cách đầy đủ, kịp thời

    – Đối với các văn bản về qui chế chuyên môn do hiệu phó chuyên môn triển khai cho tất cả giáo viên trong phiên họp chuyên môn chung toàn trường.

    – Đối với các loại văn bản chỉ đạo về giảng dạy từng bộ môn cụ thể, do tổ trưởng chuyên môn triển khai thực hiện.

    – Ngoài ra trong phòng họp của giáo viên, có một số chỗ khá thuận lợi để niêm yết các văn bản chuyên môn quan trọng hay sử dụng; các văn bản chuyên môn mới để cán bộ, giáo viên tiện theo dõi học tập và thực hiện.

    b) Hiệu phó chuyên môn lập kế hoạch kịp thời cho các hoạt động chuyên môn chung toàn trường trong từng tháng, học kỳ và cả năm học, dành thời gian hợp lý cho các tổ chuyên môn sinh hoạt:

    Đây là công việc rất quan trọng nhằm thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn mà Sở Giáo dục và đào tạo, Phòng GD & ĐT và Hội nghị cán bộ, công chức đầu năm học của trường đề ra. Ngoài công việc thông thường mà người cán bộ quản lý phải làm là: lập kế hoạch cho phần việc được phụ trách trong cả năm học, từng học kỳ, từng tháng, thì một phần việc rất quan trọng là lập được kế hoạch cụ thể trong việc xử dụng thời gian của mỗi ngày thứ 5 trong tuần. Thường nên bố trí thời gian trong ngày thứ 5 hàng tuần như sau:

    + Sáng thứ 5 dành cho các hoạt động: kiểm tra 1 tiết tập trung, họp chung toàn trường, thao giảng và họp tổ chuyên môn.

    + Chiều thứ 5 dành cho việc dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, dạy tự chọn.

    Do vậy các tổ, chuyên môn luôn có quỹ thời gian cố định, chủ động trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu.

    Đối với nội dung công việc trong sáng thứ 5, hiệu phó chuyên môn có trách nhiệm lên kế hoạch cụ thể từng buổi ngay từ đầu mỗi học kỳ; có thể tạm gọi đây là: “Kế hoạch họp và kiểm tra chung toàn khối” trong từng học kỳ của năm học. Trong kế hoạch này ghi rõ từng buổi sáng thứ 5 làm những việc gì: Tiết 1, 2 đa phần dành cho kiểm tra 1 tiết tập trung theo khối. Từ tiết 3 đến tiết 5 dành cho việc thao giảng, họp toàn trường, họp tổ chuyên môn.

    Kế hoạch tổ chuyên môn được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn, kế hoạch bồi dưỡng của nhà trường. Khi xây dựng cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn, tình hình đội ngũ giáo viên, điều kiện về cơ sở vật chất và đối tượng học sinh trong trường.

    Trong kế hoạch tổ chuyên môn thì nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn là một phần quan trọng. Nội dung này phải thể hiện được những công việc cần làm cho cả năm học và bổ sung những vấn đề mà nhà trường chỉ đạo, như tăng cường biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu sau mỗi lần kiểm tra định kì, dạy học theo nhóm đối tượng học sinh, những vấn đề giáo viên chưa nắm vững hoặc gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy. Đặc biệt quan tâm đến những giáo viên mới ra trường hoặc năng lực chuyên môn còn hạn chế.

    Dựa trên cơ sở nhiệm vụ năm học, kế hoạch của nhà trường để phân công nhiệm vụ theo năng lực và chuyên môn đào tạo của giáo viên.

    Trong sinh hoạt nhóm chuyên môn, các nhóm trưởng chuyên môn phải vạch ra kế hoạch sinh hoạt của nhóm mình dựa trên kế hoạch chung của tổ nhưng đi sâu hơn vào từng bộ môn, từng khối lớp.

    2/ Biện pháp thứ hai: Chỉ đạo nội dung sinh hoạt Tổ chuyên môn.

    Nội dung sinh hoạt chuyên môn cần đi sâu tập trung vào các vấn đề sau:

    – Thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục, dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học.

    – Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức lớp học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phát huy tính tích cực trong lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng của học sinh, chú trọng đến kĩ năng tổ chức giờ dạy, phối hợp các phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh học tập tích cực, tự giác, chủ động và phát huy được khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân.

    – Bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, thực hiện hướng dẫn nhiệm vụ năm học về phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

    – Đánh giá xếp loại học sinh, dự giờ rút kinh nghiệm, tổ chức chuyên đề, sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường …

    – Học tập, bồi dưỡng chuyên môn bằng các hình thức khác như xem băng hình, đọc sách trong thư viện nhằm tăng vốn hiểu biết của giáo viên, nghiên cứu các bài viết, các chuyên đề trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Giáo dục, thế giới trong ta, báo giáo dục – đào tạo, văn học tuổi trẻ, thông tin khoa học giáo dục đào tạo Hà Tĩnh, các sáng kiến kinh nghiệm do Sở phát hành, khai thác thông tin trên mạng và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong và ngoài trường.

    – Nghiên cứu, học tập các văn bản chỉ đạo, tìm hiểu tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương Ưu tiên cho những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của giáo viên.

    * Các hình thức sinh hoạt chuyên môn

    Sinh hoạt qua dự giờ thăm lớp:

    – Cả tổ, nhóm chuyên môn dự giờ 1 tiết (thường vào buổi chiều)

    + Thực hiện các bước lên lớp.

    + Nội dung kiến thức

    + Phương pháp dạy học.

    + Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học.

    + Phân phối thời gian hợp lý

    + Liên hệ thực tế

    + Lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục giới tính, giáo dục đạo đức cho học sinh

    + Phát huy năng lực, trí tuệ cho học sinh.

    + Học sinh hiểu nội dung kiến thức và kỹ năng.

    – Trao đổi các phương pháp soạn giáo án, dạy một bài trình chiếu điện tử đảm bảo chất lượng, có hiệu quả trong giảng dạy.

    – Trao đổi các văn bản chỉ đạo củ … i giáo viên bộ môn nhập ngay điểm vào sổ điểm chính và vào máy tính.

    h/ Bước 5: Giai đoạn rút kinh nghiệm

    – Để phục vụ cho việc theo dõi, lưu trữ, rút kinh nghiệm về chất lượng dạy – học sau mỗi lần kiểm tra cần in bảng thống kê kết quả từng bài kiểm tra 15 phút, 45 phút và kiểm tra học kỳ theo từng khối lớp. Sau đó giao các bảng thống kê này cho tổ và nhóm chuyên môn lưu trữ, phục vụ cho việc sinh hoạt tổ nhóm.

    – Trong họp tổ, nhóm chuyên môn phải rút kinh nghiệm qua từng bài kiểm tra: từ khâu ra đề kiểm tra, coi và chấm bài, kết quả bài làm của học sinh. Từ đó các giáo viên trong tổ, nhóm cùng nhau trao đổi thống nhất: nội dung, phương pháp, yêu cầu trong việc dạy các bài tiếp theo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy – học.

      3.2/ Đối với các bài không kiểm tra 1 tiết tập trung:

    Tất cả các bài kiểm tra từ 15 phút trở lên mà không có trong kế hoạch kiểm tra chung thì giáo viên bộ môn chủ động tổ chức kiểm tra theo đúng kế hoạch kiểm tra của tổ chuyên môn; đề kiểm tra do giáo viên bộ môn ra, sau khi kiểm tra xong thì lưu đề và đáp án tại hồ sơ của tổ, nhóm chuyên môn.

    Với cách làm như thế này, dù không được kiểm tra chung, nhưng việc tổ chức kiểm tra viết từ 15 phút trở lên của tất cả các bộ môn đều được chỉ đạo thống nhất về thời gian, nội dung và yêu cầu kiểm tra. Các đề và biểu điểm đáp án của các bài kiểm tra được lưu tại hồ sơ tổ, nhóm, chính là các tư liệu chuyên môn khá quan trọng để giáo viên trong nhóm trao đổi học tập.

    Với các biện pháp trong chuỗi biện pháp thứ hai như tôi vừa trình bày đã đạt được những kết quả rất tích cực:

    + Thực hiện được mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, đánh giá học sinh. Kết quả đánh giá thể hiện chính xác trình độ và năng lực học tập của từng học sinh. Các tồn tại, hạn chế khi còn kiểm tra riêng hầu như được chấm dứt hẳn.

    + Điểm số và sổ và máy tính kịp thời, đúng tiến độ.

    + Đã thúc đẩy được các tổ, nhóm chuyên môn sinh hoạt với nhiều nội dung thiết thực, phục vụ cho nâng cao chất lượng dạy – học.

      4/ Biện pháp thứ tư: Tổ chức học tập chuyên đề dạy – học, thao giảng:

    Đây là một hoạt động rất quan trọng của tổ, nhóm chuyên môn, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay: thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, và phương pháp dạy – học; theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    – Về phía nhà trường: phân công, theo dõi, động viên giáo viên thực hiện tốt công tác học tập bồi dưỡng thường xuyên trong hè và trong cả năm học.

    – Nhà trường lập kế hoạch và dành thời gian họp để tổ, nhóm chuyên môn triển khai học tập chuyên đề. Sau đó có thao giảng minh họa. Kế hoạch học tập chuyên đề, thao giảng được hiệu phó chuyên môn thể hiện rõ ngay từ đầu học kỳ trong : “Kế hoạch họp và kiểm tra chung toàn khối sáng thứ 5 hàng tuần”. Song song với việc tổ chức thao giảng tập trung, nhà trường luôn yêu cầu các tổ chuyên môn thực hiện tốt kế hoạch “Dự giờ theo chỉ đạo của tổ chuyên môn”. Hàng tuần tổ trưởng chuyên môn lên kế hoạch và phân công nhóm giáo viên dự giờ đồng nghiệp theo thời khoá biểu chính khoá, nhằm tăng cường trao đổi, rút kinh nghiệm trong giảng dạy, đặc biệt là các bài khó dạy, các dạng bài quan trọng. Chỉ đạo mỗi môn/ khối lớp ít nhất 1 tuần phải thực hiện 1 tiết dự giờ theo chỉ đạo của tổ chuyên môn.

    Để tiện việc chỉ đạo theo dõi hoạt động này nhà trường cần in sẵn, phát cho mỗi tổ chuyên môn 1 tập: “Sổ phân công Thao giảng – Dự giờ”

     5/ Biện pháp thứ năm: Chỉ đạo việc nâng cao chất lượng họp tổ chuyên môn.

    – Nhà trường lên lịch họp tổ chuyên môn ngay từ đầu học kỳ (Kế hoạch này nằm trong kế hoạch họp và kiểm tra chung mà tôi đã trình bày) đảm bảo đúng yêu cầu: bình quân 1 tháng tổ chuyên môn họp 2 lần trong buổi sáng thứ 5.

    – Về nhóm chuyên môn ( dành cho tổ có nhiều bộ môn) trong một vài năm gần đây và hiện nay, ngành giáo dục đang thực hiện việc đổi mới sách giáo khoa và chương trình nhằm nâng cao chất lượng dạy – học. Do đó cần phải tăng cường hơn nữa việc họp nhóm chuyên môn.: mỗi nhóm chuyên môn mỗi tuần họp 1 lần với thời gian 1 giờ 30 phút. Lich họp của từng nhóm chuyên môn trong tuần do nhóm chuyên môn thống nhất và báo cáo với tổ chuyên môn và nhà trường.

    + Nội dung: xem xét việc thực hiện chương trình, thống nhất từng tiết dạy của tuần tiếp theo về nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy học… yêu cầu tất cả các bài dạy đều được thống nhất trao đổi trong sinh hoạt nhóm. Rút kinh nghiệm qua bài kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra học kỳ. Từ đó có phương pháp dạy – học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy – học. Thống nhất kiến thức trọng tâm của từng chương, phần, chuẩn bị cho kiểm tra sắp tới (nếu có). Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu

    Hiện nay mỗi tổ, nhóm chuyên môn có 1 quyển: “Sổ sinh hoạt chuyên môn”, trong đó phần quan trọng là ghi nội dung sinh hoạt chuyên môn của nhóm cho từ 33 đến 35 lần họp trong 1 năm.

    – Về phía nhà trường luôn tạo điều kiện để mỗi tổ chuyên môn đều có chỗ riêng lưu giữ các loại hồ sơ tổ, nhóm hay sử dụng: Sổ kế hoạch hoạt động của tổ, sổ phân công thao giảng – dự giờ, sổ sinh hoạt nhóm chuyên môn

     6/ Biện pháp thứ sáu: Tin học hóa việc cộng điểm, xếp loại, thống kê kết quả học tập của học sinh. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác các kết quả đó cho tổ và nhóm chuyên môn.

    Việc sử dụng phần mềm quản lý chất lượng học tập của học sinh. Cho đến nay sau gần 3 năm sử dụng, phần mềm quản lý này đã ngày càng được hoàn thiện và phục vụ rất hữu ích cho công tác quản lý, chỉ đạo chuyên môn của nhà trường. Nội dung của phần mềm này rất phong phú, trong bài viết này tôi chỉ nêu một số nội dung cơ bản phục vụ cho hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn, cụ thể là:

    – Nhập điểm, cộng điểm trung bình môn của học kỳ, cả năm. Xếp loại học lực của học sinh; kết quả lên lớp, thi lại, ở lại; chương trình in giấy khen.

    – Thống kê kết quả kịp thời ngay khi giáo viên nhập điểm các bài kiểm tra từ 15 phút trở lên. Nội dung thống kê theo từng giáo viên, từng khối lớp và toàn trường. Giáo viên kịp thời cung cấp các bản thống kê này cho tổ và nhóm chuyên môn để phục vụ cho việc sinh họạt tổ.

    7/ Biện pháp thứ bảy Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sơ kết học kỳ, tổng kết năm một cách khoa học kịp thời.

    Trong quá trình chỉ đạo hoạt động dạy và học, người cán bộ quản lý phải luôn chú ý đến việc phát huy dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể. Vì có thể nói: người dạy học là giáo viên – người đánh giá học sinh cũng là giáo viên. Do đó trong quá trình chỉ đạo hoạt động dạy và học, cán bộ quản lý giáo dục phải luôn chú ý lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng của cán bộ, giáo viên. Đồng thời xếp thời gian một cách khoa học hợp lý để mỗi thầy cô giáo tự đánh giá công tác đã làm được trong từng học kỳ, từ đó đề ra các biện pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong học kỳ tiếp theo. Sau đó mỗi tổ chuyên môn họp sơ kết học kỳ và đề ra kế hoạch nâng cao chất lượng dạy học. Trên cơ sở kế hoạch của giáo viên, của tổ chuyên môn, ban giám hiệu xây dựng kế hoạch và các biện pháp chính nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho học kỳ tiếp theo. Đối với học kỳ I công việc này thường hoàn thành trong tuần 18 và nửa đầu của tuần 19. Với cách làm này chúng tôi không áp đặt chỉ tiêu cho từng giáo viên nhưng vẫn phát huy tốt phong trào thi đua dạy và học đi vào thực chất, không chạy theo hình thức.

    C. HIỆU QUẢ:

      Từ khi thực hiện các biện pháp như vừa trình bày ở trên, hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn và kết quả dạy học ở các trường THCS toàn huyện có nhiều sự chuyển biến tích cực, cụ thể như sau:

    – Hoạt động của tổ nhóm chuyên môn ngày càng có chất lượng, không còn mang tính chất giải quyết sự vụ, công việc hành chính đơn thuần, mà tập trung chủ yếu vào đặc trưng của từng môn học để nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Xây dựng được nề nếp hoạt động chuyên môn chung toàn trường song vẫn tạo được tính chủ động phát huy sáng tạo trong hoạt động của từng tổ, nhóm chuyên môn phù hợp với đặc trưng của bộ môn.

    D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

      Qua thực tiễn công tác, tôi rút ra các bài học kinh nghiệm sau trong công tác chỉ đạo chuyên môn trong trường trung học cơ sở:

    – Hiệu phó chuyên môn làm việc phải có kế hoạch, khoa học, kịp thời, sát với thực tế, từ đó mới tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động một cách khả thi.

    – Nhà trường cần bố trí thời gian một cách hợp lý, tương đối cố định để các tổ chuyên môn hoạt động. Cần có chỉ đạo, định hướng để họp tổ, nhóm chuyên môn, tránh sa đà vào giải quyết công việc mang tính chất hành chính, sự vụ mà chủ yếu là các nội dung nhằm nâng cao chất lượng dạy – học.

    – Kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy- học là một trong công tác quan trọng nhất của người làm công tác quản lý; do vậy cần tập trung xây dựng và có nhiều biện pháp phù hợp để kết quả kiểm tra phản ánh đúng thực chất. Từ đó mới có các giải pháp đúng, khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

    – Qua mỗi hoạt động, trong từng giai đoạn cần tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời, từ đó điều chỉnh phương pháp, biện pháp cho phù hợp.

    – Chỉ đạo và nâng cao chất lượng họp tổ, nhóm chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học là công tác quan trọng thường xuyên của người làm công tác quản lý trường học.

    – Nhà trường cần soạn thảo sẵn các loại hồ sơ, biểu mẫu một cách khoa học để thuận lợi cho giáo viên và tổ nhóm chuyên môn sử dụng cũng như thuận lợi cho việc kiểm tra đánh giá của lãnh đạo.

    Xin chân thành cám ơn !

    Krông Búk, ngày 30 tháng 4 năm 2010

    PHẠM THÀNH NGỌC

    ( Phó Trưởng phòng )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Lực, Hiệu Quả Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Thi Hành Kỷ Luật Của Đảng
  • Mô Hình Câu Lạc Bộ Bí Thư Chi Đoàn Trên Địa Bàn Dân Cư
  • Hưng Yên Đưa Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi Đoàn Trên Địa Bàn Dân Cư Vào Thực Tiễn Công Tác Đoàn
  • Nhiều Chuyển Biến Tích Cực Qua Thực Hiện Đề Án Công An Xã Chính Quy
  • Nâng Cao Vai Trò Của Công An Xã Ở Địa Bàn Nông Thôn .công An Tra Vinh
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Tại Khách Sạn Nam Cường

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Nhà Hàng – Biết Nhưng Đừng Chủ Quan!
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Nhà Hàng
  • Những Giải Pháp Thông Gió Cho Nhà Ống Hiệu Quả Nhất
  • Một Giải Pháp Chống Thấm Đạt Hiểu Quả Kỹ Thuật Cao Cho Các Công Trình Kiến Trúc
  • 06 Phương Pháp Chống Thấm Tầng Hầm Hiệu Quả Triệt Để 100%
  • 5

    (100%)

    2

    votes

    Một số biện pháp nâng cao chất lượng phục vụ tại khách sạn Nam Cường

    Phục vụ là một sông việc nghiêm túc thuộc về bản thân người được phân công nhiệm vụ, khi ta xác định được nó là nghiêm túc chứng tỏ ta sẽ làm hết khả năng của mình nhằm đem lại cho khách hàng được sự thoải mái và hài lòng.

    Từ các khái niệm trên có thể nói: “Phục vụ là các hoạt động của nhà cung cấp nhằm đáp ứng một số nhu cầu nào đó của người tiêu dùng”.

    Vậy chất lượng phục vụ là gì?

    Chất lượng là một vấn đề rất khó xác định bởi nó rất trừu tượng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Chất lượng nói chung đó là sự phù hợp với nhu cầu. Nói đến chất lượng của một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó tức là nói đến mức độ phù hợp nhất định với những yêu cầu đặt ra cho nó, mà những yêu cầu này không chỉ đánh giá trên những tiêu chuẩn định mức bằng số lượng mà còn phải đánh giá nó qua một quá trình thực tế sử dụng. Đứng trên các giác độ khác nhau sẽ có cách hiểu và tiếp cận khác nhau về chất lượng. [17, tr.7]

    – chúng tôi –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Doanh Số Bán Lẻ:17 Mẹo Từ Chuyên Gia Dành Cho Cửa Hàng Của Ban
  • Luận Văn Tốt Nghiệp Quản Trị Kinh Doanh Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Người Cao Tuổi Trên Địa Bàn Xã – Bài Phát Biểu
  • Thiết Bị Tưới Cây Thông Minh Tự Động Hẹn Giờ Nước Rau Hoa Lan Sân Thượng
  • Nâng Cao Chất Lượng Khám, Chữa Bệnh Và Hiệu Quả Mạng Lưới Y Tế
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Qủa Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Cho Học Sinh Lớp 11 Trường Thpt Lam Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Huyện Triệu Sơn
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giảng Viên Đáp Ứng Với Xu Thế Phát Triển Của Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đội Ngũ Nhà Giáo Và Cán Bộ Quản Lý Đáp Ứng Yêu Cầu Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Đà Nẵng Triển Khai Hiệu Quả Các Dự Án Oda
  • 1.1. Lí do chọn đề tài

    Sinh thời thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:

    “ Dân ta phải biết sử ta

    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam ”

    Lời dạy của Người luôn là bài học sâu sắc trong mọi thời đại, mọi ngành, mọi giới, đặc biệt đối với những người đang thầm lặng hiến dâng trong sự nghiệp “Trồng người”. Do đó, làm tốt công tác giáo dục lịch sử cho học sinh là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong thời kỳ đổi mới, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi nhà trường. Bởi “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”, “Muốn đào tạo con người phù hợp với thời đại, chúng ta cần phải không ngừng cải tiến chất lượng dạy học lịch sử ” (Hội đồng quốc tế khoa học Lịch sử – 1980).

    Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ thông tin. Để sánh vai với cường quốc năm châu, tiến tới hoàn thành sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Việt Nam thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh thì hơn lúc nào hết, ưu tiên cho giáo dục và đào tạo phải được coi là “Quốc sách hàng đầu”, như chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu ”. Qua đó đào tạo ra những con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu của thời đại, với kiến thức toàn diện không chỉ về khoa học tự nhiên mà cả về khoa học xã hội, nhất là hiểu biết về lịch sử dân tộc. Từ đó, tạo nên lòng tự hào dân tộc sâu sắc và ý thức vươn lên xứng tầm với lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông.

              Để làm tốt nhiệm vụ ”chiến lược phát triển con người”, “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, Ngành giáo dục của chúng ta đang cố gắng hướng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học của nhà trường. Ở các trường Trung học phổ thông hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng đại trà, việc chăm lo bồi dưỡng học sinh giỏi luôn thực sự được quan tâm, nhất là với những nhà giáo tâm huyết với nghề. Trong các nhiệm vụ đó, bồi dưỡng học sinh giỏi có vai trò quan trọng, không chỉ giúp các em tích lũy nhiều kiến thức sâu rộng, nâng cao tính tích cực học tập, tăng thêm sự yêu thích đối với bộ môn. Mà còn góp phần khẳng định khả năng của bản thân và thương hiệu giáo dục của nhà trường.

              Thực tế hiện nay ở các trường Trung học phổ thông, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã được chú trọng, song vẫn còn những bất cập nhất định như: Cách tuyển chọn, phương pháp giảng dạy thiếu phù hợp, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệmTừ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt như mong muốn.

              Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Không ít học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn Lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không cần đầu tư phí công vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế.

               Là một giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT, học sinh của trường phần lớn là con em nông dân, đời sống kinh tế còn khó khăn, học sinh ít được tiếp cận với các vấn đề lịch sử, văn hóa chuyên sâu từ các kênh thông tin. Băn khoăn trước thực trạng đó, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để nâng cao kiến thức và phương pháp giảng dạy của bộ môn để gây hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh, nhất là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi sao cho đạt hiệu quả.

    Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao hiệu qủa công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử cho học sinh lớp 11 Trường THPT Lam Kinh” làm đề tài nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm của mình. Rất mong được đồng nghiệp chia sẻ, góp ý để sáng kiến của tôi thực sự đem lại thành công và hiệu quả cho công tác giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp.

    1.2. Mục đích nghiên cứu:

    – Đối với người dạy: Nhằm giúp cho giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT một số sáng kiến riêng trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi cho học sinh lớp 11.

    – Đối với người học: Đây là một số biện pháp quan trọng giúp các em lĩnh hội kiến thức lịch sử hiệu quả hơn. Từ đó xác định đúng đắn được phương pháp học tập bộ môn lịch sử và ôn luyện đội tuyển đạt kết quả cao.

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu:

    – Học sinh lớp 11 hệ THPT.

    – Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử của giáo viên giảng dạy lịch sử.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu:

    Khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, cá nhân tôi đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:

    – Phương pháp khảo sát thực tế: Quan sát, khảo sát thực tế việc ôn luyện và kết quả các đội tuyển học sinh giỏi ở nhiều trường THPT trong nhiều năm để thu thập thông tin và xác định phương pháp áp dụng thích hợp trong bồi dưỡng họ sinh giỏi môn lịch sử.

    – Phương pháp phân tích, tổng hợp:

    + Tham chiếu kết quả của bộ môn trong trường và trên địa bàn huyện Thọ Xuân.

    – Phương pháp thử nghiệm: Thử áp dụng các giải pháp sáng kiến của cá nhân để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử ở các năm học.

    Các phương pháp trên được kết hợp đồng thời trong quá trình nghiên cứu, góp phần tạo nên hiệu quả của đề tài.

    2. PHẦN NỘI DUNG

    2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:

              Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh hùng mà còn có kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, về việc rút bài học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong hiện tại. Kiến thức lịch sử góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, trở thành vũ khí sắc bén trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngày nay, “cùng với quá trình Quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn cũng là một trong những xu thế chung của các dân tộc trên thế giới. Với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bước đi thích hợp, hướng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” (theo nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười) .

              Chất lượng bộ môn Lịch sử được đánh giá không phải bằng việc ghi nhớ nhiều sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Lịch sử đâu phải là một chuỗi sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử học thuộc lòng”. Điều quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấy được cái gì qua các thời đại lịch sử và từ đó chúng ta rút ra được kết luận gì, bài học gì. C. Mác- một nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để những người quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn Lịch sử cần nhận thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí đúng của bộ môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông và tìm ra những phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinh thích học lịch sử và học giỏi lịch sử.

     Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông là:

    *Về kiến thức: Cung cấp kiến thức lịch sử ở chương trình Trung học cơ sở học sinh được tìm hiểu sâu những sự kiện cơ bản trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Tiếp tục bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử về kiến thức và kĩ năng, tạo hứng thú say mê học tập, tìm hiểu Lịch sử cho học sinh.

    * Về tư tưởng: Giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, có ý thức xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, tự hào về những thành tựu văn hóa, văn minh mà tổ tiên ta và loài người đã đạt được. Trân trọng, ghi nhớ, biết ơn công lao của tổ tiên  và các anh hùng dân tộc đã ra sức xây dựng và bảo vệ đất nước để có được cuộc sống hiện nay.

    * Về kĩ năng: Hình thành kĩ năng tư duy lịch sử và tư duy logic, nâng cao năng lực xem xét, đánh giá sự kiện, hiện tượng trong mối quan hệ không gian, thời gian và nhân vật lịch sử. Rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn một cách độc lập, thông minh như làm việc sách giáo khoa, sưu tầm và sử dụng các loại tư liệu lịch sử, làm bài tập, thực hành… Phát triển khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, khái quát, tổng hợp … Vận dụng các kiến thức vào thực tiễn của cuộc sống. Biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập và cuộc sống hàng ngày.

    Trong các mục tiêu đó thì bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những hạt giống tốt cho tương lai của đất nước trong sự nghiệp trồng người.

              Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, góp phần khẳng định chất lượng giáo dục và vị thế, uy tín của giáo viên và nhà trường. Đồng thời còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bồi dưỡng tài năng tương lai cho quê hương, đất nước.

    2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    Trong hệ thống các môn học ở trường Trung học phổ thông, môn lịch sử có vai trò quan trọng trong việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc là hành trang quan trọng cho học sinh bước vào sự nghiệp, tương lai. Phát huy ưu thế đó, tại trường THPT Lam Kinh và trên địa bàn huyện Thọ Xuân, trong nhiều năm qua công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Lịch sử nói riêng luôn được sự quan tâm của  Ban giám hiệu, các đoàn thể trong nhà trường và sự quan tâm của đa số các quý bậc phụ huynh. Đội ngũ các Thầy, cô giáo cùng bộ môn ở các trường trong huyện đều nhiệt tình tích cực, trao đổi phương pháp, kinh nghiệm chuyên môn, thông qua hội thảo, chuyên đề, thao giảng, sử dụng công nghệ thông tingóp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn Lịch sử. Học sinh cũng thêm yêu thích và quyết tâm học tập môn Lịch sử, tham gia ôn luyện, dự thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Do đó chất lượng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được nâng cao hơn.

      Tuy nhiên trong thực tiễn giảng dạy đã cho thấy công tác bồi dưỡng học sinh giỏi còn nhiều bất cập, hạn chế. Biểu hiện ở quan niệm xã hội về vị trí môn Lịch sử là môn phụ nên việc quan tâm, đầu tư cho con em học tập bộ môn chưa nhiều; học sinh chưa giành thời gian thường xuyên cho việc học môn tập bộ môn Lịch sử và ôn luyện học sinh giỏi còn rất hạn chế. Khối lượng kiến thức ôn luyện học sinh giỏi còn dàn trải khá nặng, gồm ba phần với hơn 20 chương kiến thức (Lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương). Do đó, một số giáo viên còn bị động trong khai thác kiến thức, chưa mạnh dạn để học sinh tự tìm hiểu một phần kiến thức. Thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông hiện nay như trên, nên giáo viên khó phát hiện và lựa chọn được đối tượng học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng.

    Mặt khác, phần lớn giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. Tuy nhiên do khối lượng kiến thức ôn luyện học sinh giỏi tỉnh lớp 11 là quá nhiều, dàn trải, nhiều giáo viên lại chưa xác định được các biện pháp ôn luyện hiệu quả nên chưa thực sự đầu tư cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Do đó hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử chưa cao.

    Qua phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử hiện nay, cá nhân tôi nhận thấy việc nghiên cứu và những giải pháp của đề tài là hiệu quả, thiết thực, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của ngành, của đồng nghiệp tâm huyết với bộ môn Lịch sử.

    Qua 5 năm học (2014 – 2021 đến năm học 2021 – 2021) đảm nhận việc dạy bồi dưỡng cho đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của ở Trung học phổ thông Lam Kinh, tôi đã đúc kết được những kinh nghiệm ôn luyện học sinh giỏi môn Lịch sử cho học sinh lớp 11.

    2.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử cho học sinh lớp 11.

    2.3.1 Trước hết giáo viên giảng dạy cần xác định đúng các yêu cầu cho một học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 11.

    Nhiều người thường nghĩ Lịch sử là môn học thuộc lòng nhưng thật ra muốn học giỏi thì phải đọc và hiểu sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu”. Nhưng quan trọng nhất, người học giỏi lịch sử phải biết hệ thống hóa các nội dung Lịch sử bằng những sơ đồ nhánh, biểu đồ thống kê tư duy theo từng sự kiện, mốc thời gian, ghi nhớ có sự liên kết. Từ đó, ta mới có thể dễ dàng ghi nhớ nội dung và dữ liệu của môn học. Bởi môn lịch sử là một môn khoa học biện chứng.

    Học sinh không những nắm được những kiến thức của giáo viên mà còn phải biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi, biết khái quát nội dung chương trình hay thắc mắc những gì mình còn nhận thức mơ hồ.

    Nhưng nắm vững lý thuyết chưa đủ mà học sinh còn phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề; kỹ năng viết bài và trình bày bài làm. Nhìn một bài làm hay, thì chữ đẹp bao giờ cũng dễ gây thiện cảm cho người đọc, nhất là đối với các môn khoa học Xã hội. Đây là một công việc khó khăn, học sinh cần phải được luyện tập lâu dài, thông qua các bài viết (có sự sửa chữa của giáo viên kịp thời).

              Ngoài ra, học sinh giỏi môn Lịch sử phải biết sử dụng triệt để các thao tác phân tích, tổng hợp để đánh giá, nhận định về một sự kiện hay vấn đề lịch sử, biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài. Hơn nữa, học sinh ấy phải biết trình bày một bài làm lịch sử có hệ thống, lô gic,đảm bảo tính khoa học.

    2.3.2. Giáo viên phải phát hiện được học sinh mũi nhọn và xây dựng đội ngũ học sinh giỏi ngay từ lớp 10 đầu cấp.

    Lâu nay tôi thường chọn học sinh giỏi theo quy trình: Tuyển chọn đội tuyển vào cuối mỗi năm học để bồi dưỡng, động viên trong thời gian hè. Vào đầu mỗi năm học mới tiếp tục chọn lần hai và tăng cường bồi dưỡng để tham gia ôn tập dự thi cấp huyện. Việc tuyển chọn như vậy tôi thấy hiệu quả.

    Mặt khác đối với bộ môn Lịch sử tôi thấy việc tuyển lựa rất khó, do học sinh cứ xem thường môn học cho đó là môn học phụ. Nên giáo viên dạy môn Lịch sử phải lựa chọn đối tượng sau cùng. Những em có năng khiếu đặc biệt thường thích ôn luyện các môn học tự nhiên. Vì có kiến thức cơ bản, vững vàng các em cần nắm rõ các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lí rồi linh hoạt nhạy bén, áp dụng để làm bài. Còn các môn học ít tiết như Lịch sử, Địa lí cần học bài dài và nhiều nên phần đông các em rất chán. Do đó tôi phải kết hợp nhiều biện pháp để xây dựng đội tuyển học sinh giỏi lớp 11 một cách hiệu quả. Đây là một yếu tố có vai trò vô cùng quan trọng, có góp phần tạo nên thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử.

    Trước hết, tôi kết hợp khi dạy trên lớp, tôi thường ra đề kiểm tra theo hướng mở hoặc đưa ra những câu hỏi, bài tập nhận thức để khuyến khích học sinh có sự đầu tư, sáng tạo khi trả lời trước tập thể lớp hay viết trong làm bài và thưởng điểm cho những học sinh biết cách làm bài đúng theo yêu cầu và có sáng tạo. Qua đó tạo ra động lực cho các em phấn đấu.

    Thêm đó, tôi cũng tiến hành chọn những học sinh có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử. Trong bài viết, tôi đặc biệt chú ý những bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững kiến thức, trình bày, lập luận lô gic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết sạch, đẹp là càng tốt.

      Trong những năm gần đây, việc lựa chọn học sinh giỏi môn Lịch sử vào đội tuyển của trường thường được xây dựng qua kì thi học sinh giỏi cấp trường. Qua các bài kiểm tra để giáo viên phát hiện học sinh có năng khiếu, có sự yêu thích học môn Lịch sử, tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển để bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, vinh dự khi đạt giải môn thi cấp tỉnh, cấp quốc gia. Đó không chỉ là sự ghi nhận cố gắng và kết quả mà các em đã đạt được mà còn khơi dậy sự khát khao chinh phục và khẳng định ở các em.

    Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm hỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất thông minh và làm  việc siêng năng. Đặc biệt tôi rất khuyến khích các học sinh vừa yêu thích và có năng khiếu môn Lịch sử, vừa học khá các môn khác, nhất là môn Toán, Ngữ văn, vì môn Lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tư duy logic và kết hợp những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sự khô khan nhàm chán gây được thiện cảm cho người đọc. Tiêu biểu là năm học 2021 – 2021, tôi đã xây dựng được đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 11 gồm 05 học sinh: 02 học sinh học lớp định hướng khối A1 (Toán, Anh, Lí), 02 học sinh học lớp định hướng khối D (Toán, Văn, Anh) và 01 học sinh học lớp định hướng khối C ( Văn, Sử, Địa ).

              Vậy vấn đề đặt ra là cần phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Lịch sử từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng từ lớp nào? Trên thực tế, có nhiều trường khi chuẩn bị thi mới tập trung học sinh để ôn luyện, nhưng theo tôi việc phát hiện và chọn học sinh giỏi phải làm sớm – vào đầu mỗi năm học mới; tổ chức bồi dưỡng phải thường xuyên, không nhất thiết phải ôn thi vào các buổi bồi dưỡng mà ở các tiết học, các môn học các em cần phải quan tâm, được uốn nắn và phát hiện kịp thời. Việc bồi dưỡng cho các em phải tiến hành sớm, thường xuyên và tránh nhàm chán. Qua đó giúp các em học tập một cách khoa học.

      2.3.3. Giáo viên giảng dạy bồi dưỡng cần định hướng đúng đắn cho học sinh các yêu cầu của một bài Lịch sử học sinh giỏi lớp 11 đạt hiệu quả.

      – Học sinh phải biết suy luận khi làm bài: Bài làm môn Lịch sử cần đi thẳng vào vấn đề, không viết rườm rà, dẫn đến lạc đề. Hãy đọc kỹ đề bài, hiểu rõ câu hỏi và thiết kế những kiến thức đã học theo ý đồ của câu hỏi, đừng bắt câu hỏi phải đi theo kiến thức có sẵn của mình. Học sinh phải biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài.

    – Học sinh cần ghi nhớ chính xác, không được phép làm bài theo kiểu nhớ mang máng nội dung, vấn đề. Môn Lịch sử là một môn học tuyệt đối kỵ với các khái niệm mù mờ. Ngược lại bài làm cần đạt độ chính xác cao về ngôn từ, khái niệm, sự kiện.

    Ví dụ không được nhớ nhầm “Hiệp ước Nhâm Tuất” thành “Hiệp ước Giáp Tuất”. Không được viết lẫn lộn giữa những chữ “đấu tranh”,“chiến đấu”, “khởi nghĩa”; “cách mạng tư sản” với “cách mạng dân chủ tư sản”, “cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới”

      – Một bài viết Lịch sử hay là bài viết của học sinh đó biết thổi hồn vào những con số, phải tái hiện được sự kiện, hiện tượng, vấn đề lịch sử. Một bài lịch sử chất lượng là phải có minh chứng số liệu cụ thể kèm theo lờ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
  • Chậm Phát Triển Trí Tuệ
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi
  • 9 Giải Pháp Đột Phá Nâng Cao Tỉ Lệ Tốt Nghiệp Thpt Quốc …
  • Những Nhân Tố Quy Định Văn Hóa Chính Trị Của Sĩ Quan Trẻ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50