Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Giáo Dục Thể Chất

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Biện Pháp Giúp Giáo Viên, Nhà Trường Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục
  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Khi Xử Lý Hành Chính
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Tìm hiểu sức khỏe và tâm lý của từng lứa tuổi

    Theo những chuyên gia giảng dạy bộ môn này thì đây là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động thể dục thể thao , giúp hoạt động thể chất đạt hiệu quả cao . Đồng thời cũng tránh những tác dụng xấu có thể xảy ra.

    Cần căn cứ vào đặc điểm giải phẫu, sinh lý của từng lứa tuổi, giới tính, hệ vận động, nội tạng, hệ thần kính… để có phương pháp hữu hiệu khi giảng dạy. Bên cạnh đó là đặc điểm phát triển tố chất cơ thể như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, linh hoạt, khéo léo của học sinh để có những bài tập, lượng vận động phù hợp…

    Những yếu tố này sẽ giúp người học đã thay đổi nhận thức, tích cực tập luyện thể dục thể thao hơn, hứng thú và say mê hơn với môn thể dục vì đã có điều kiện học đúng với khả năng cũng như lượng vận động phù hợp với bản thân.

    Nghiên cứu nội dung bài học

    Nội dung chính là sự tổ chức quá trình dạy học , là yếu tố thể hiện sự thống nhất giữa quá trình dạy và quá trình học. Quá trình dạy là người giáo viên cung cấp những kiến thức mới cho học sinh , qua đó thực hiện nhiệm vụ giáo dục và phát triển cho học sinh. Đối với học sinh, giáo viên cần phải chủ động điều khiển, hướng dẫn để học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động cũng như nắm vững kiến thức một cách có hệ thống .

    Đảm bảo cơ sở vật chất luyện tập

    Để có thể nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao , bên cạnh phương pháp dạy thì cũng cần đảm bảo những điều kiện cơ sở vật chất cũng như kinh phí phục vụ giảng dạy .

    Có thể cải tạo và nâng cấp sân bãi , tận dụng tối đa điều kiện của nhà trường phục vụ giảng dạy và tập luyện. Đặc biệt, cần đảm bảo mua sắm trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và tập luyện đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng.

    Bên cạnh đó, tổ chức những hoạt động ngoại khóa cho sinh viên, góp phần hoàn thiện các nội dung học tập của giờ học chính khóa và các tiêu chuẩn rèn luyện thể thao. Đồng thời, tổ chức xây dựng các câu lạc bộ thể thao, các hoạt động thể thao quần chúng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Cập Nhật Ob22 Mới: Thanh Trừng
  • Rules Of Survival Đề Biện Pháp Chống Hack Mới, Có File Lạ Can Thiệp Là Không Khởi Động Được Game
  • Những Câu Hỏi Thường Gặp Về Hack
  • Nghị Luận Chống Nghiện Facebook
  • Nghiện Game: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Giáo Dục Thể Chất Báo Cáo Seminar Khoa Học: “các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Thể Chất”
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên Thông Qua Hoạt Động Dự Giờ Thăm Lớp Của Cán Bộ Quản Lý Ở Trường Thcs Văn Nho
  • Tiểu Luận Cuối Khóa Cán Bộ Quản Lý Thcs”biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Thcs Tân Công Sính”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Trong Giờ Dạy Lịch Sử
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Tiểu Học Bình An
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cáo Sơ Kết Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Chỉ Thị Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ , Đề án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Cho Vay, Nâng Cao Chât Lượng Quản Lý Cấp Phòng, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Chỉ Thị Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bao Cao Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hjoat Chi Bo, Báo Cáo Sơ Kết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cao Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Phương Pháp Quản Trị Chất Lượng, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Chỉ Thị Mới Nhất Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Hướng Dẫn 12 Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Doi Moi Va Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Thon, Hướng Dẫn Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoạt Chi Doan, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Phương Pháp 5s Trong Quản Lý Chất Lượng, Biên Bản Xác Định Tỷ Lệ Chất Lượng Còn Lại, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Nông Thôn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Mua ô Tô Dành Cho Khách Hàng Cá Nhân, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ,

    Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tóm Tắt Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả
  • Giải Pháp Marketing Hiệu Quả
  • Biện Pháp Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Với Chi Phí Thấp
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Cho Giáo Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Với Phương Pháp Ma Trận Eisenhower: Dồn Sức Vào Việc Quan Trọng Và Không Khẩn Cấp
  • Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả Giúp Bạn Thành Công Trong Công Việc
  • Một Số Kỹ Năng Giúp Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Rèn Nền Nếp Cho Học Sinh Lớp 1
  • Từ Tình Hình Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Trong Quân Đội, Suy Nghĩ Về Tăng Cường Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Hiện Nay
  • ĐỀ TÀI: "Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên". I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là vấn đề quan trọng - đó là yếu tố quyết định chủ yếu đến chất lượng giáo dục và là mục tiêu không thể thiếu trong nhà trường. Ngày nay, Khoa học - Công nghệ đang phát triển, những người làm công tác quản lý cần tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và coi đó là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của các cán bộ quản lý trường học. Nhưng bồi dưỡng như thế nào? bằng cách nào? trong thời gian bao lâu? là một bài toán chưa thể có ngay đáp án. Tuy công việc quản lý còn mới mẻ và đầy thử thách của tôi tại trường Tiểu học Sơn Kiên 1, song không phải như vậy mà tôi có thể bỏ qua việc chỉ đạo quan trọng và cần thiết đó là: Nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên. Tôi suy nghĩ: có phải do năng lực chuyên môn của giáo viên hạn chế, hay do chưa được quan tâm đúng mức hoặc chưa có biện pháp chăm bồi. Từ đó, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân từ đâu để tìm giải pháp khắc phục hiệu quả nhất nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục tại trường tiểu học Sơn Kiên 1. II/ THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN VỀ CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC CỦA TRƯỜNG: 1/ Thuận lợi: Trường tiểu học Sơn Kiên 1 có 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Giáo viên đều có tâm huyết với nghề, nhiệt tình trong giảng dạy, luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục, có tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao. Qua các phong trào thi đua của cụm chuyên môn đã thúc đẩy các hoạt động tổ khối chuyên môn trong nhà trường ngày càng sôi nổi, chất lượng sinh hoạt của tổ đi vào chiều sâu, tay nghề giáo viên cũng được nâng cao hơn. Bên cạnh những mặt thuận lợi, trường cũng gặp một số khó khăn sau: 2/ Khó khăn: - Tỷ lệ giáo viên giỏi cấp trường và cấp huyện hàng năm thấp: + Năm học 2007-2008: Giáo viên giỏi cấp trường 10/26; cấp huyện 2/26; + Năm học 2008-2009: Giáo viên giỏi cấp trường 15/26. Tôi tìm nguyên nhân và nhận định: - Giáo viên ngại phấn đấu, an phận, không muốn tự khẳng định mình trước tập thể, trước phụ huynh học sinh và trong ngành. - Trình độ chuyên môn của giáo viên không đồng đều, cách tiếp cận với đổi mới phương pháp dạy học chưa sáng tạo, chưa linh hoạt. - Giáo viên ngại đăng ký thi giáo viên dạy giỏi cấp trên nên ít được cọ xát về trình độ chuyên môn với giáo viên giỏi của huyện cũng như của tỉnh. - Công việc của BGH hiện nay rất bề bộn, chồng chéo, chiếm mất nhiều thời gian quản lý nhà trường nên công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên chưa được thường xuyên. - BGH trường chưa giúp đỡ kịp thời về chuyên môn để giáo viên tự tin thi giáo viên dạy giỏi các cấp. III/ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CHO GIÁO VIÊN: 1/ Về nhận thức của cán bộ quản lý: Trường cần có đội ngũ giáo viên cốt cán giỏi về chuyên môn sẽ là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đồng thời cũng là nguyện vọng chính đáng của cha mẹ học sinh và của cộng đồng. Có đội ngũ giáo viên giỏi các cấp, phụ huynh sẽ tin tưởng vào chất lượng giáo dục của nhà trường. Như vậy, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và hết sức khó khăn. Là người cán bộ quản lý tôi thấy mình phải có trách nhiệm trong việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên, đảm bảo chất lượng giảng dạy ngày càng nâng lên, giúp giáo viên trở thành những con người lao động tri thức " mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo''. 2/ Về vai trò của người cán bộ quản lý: Theo tôi, người cán bộ quản lý trước hết phải là tấm gương tiêu biểu trong quá trình bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và tự khẳng định trình độ năng lực chuyên môn của mình trong tập thể sư phạm. Ví dụ: Để ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, BGH là người hô hào, khuyến khích sự đầu tư vào công nghệ mới. Trong khi đó, giáo viên có thể thiết kế được những tiết giáo án ứng dụng công nghệ thông tin, nhưng người cán bộ quản lý không biết, không hiểu, không thao tác, vậy làm sao có thể góp ý, xây dựng cho tiết dạy đạt hiệu quả cao. Trong thực tế, chỉ có con đường tự học mới có điều kiện giúp chúng ta học tập được thường xuyên và suốt đời. Tự học là một cách tự bồi dưỡng, tự làm giàu kiến thức cho mình vừa đơn giản, vừa tiết kiệm, vừa có hiệu quả cao. Vì vậy, trách nhiệm của người quản lý giáo dục là phải suy nghĩ, tìm biện pháp để thổi lên ngọn lửa của phong trào Tự học - Tự bồi dưỡng bằng nhiều hình thức như: * Tổ chức các cuộc hội thảo, trao đổi về kinh nghiệm tự học, giúp giáo viên định hướng việc Tự học - Tự bồi dưỡng. Xác định được những nội dung cần phải Tự học - Tự bồi dưỡng và cách Tự học - Tự bồi dưỡng như thế nào? Cung cấp cho giáo viên các thông tin, tài liệu, xây dựng thư viện, phòng đọc, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên thực hành việc Tự học - Tự bồi dưỡng. Một trong những nhiệm vụ không thể thiếu của BGH là dự giờ và đánh giá giáo viên. Trong thời gian trực tiếp đứng trên bục giảng, được BGH dự giờ nhiều lần, tôi hiểu sâu sắc tầm quan trọng về đánh giá tiết dạy của BGH đối với giáo viên, đó là sự " Tâm phục, khẩu phục", nếu những lời nhận xét của BGH là chuẩn xác sẽ giúp cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm giảng dạy. Ngược lại, nếu là những lời nhận xét chung chung, chưa chính xác, không những không giúp cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn mà còn giảm đi uy tín lãnh đạo. Vì vậy, mỗi khi dự giờ, tôi cần xem trước nội dung bài dạy, xác định kiến thức trọng tâm và độ khó của từng bài dạy, đồng thời suy nghĩ tìm ra những phương pháp dạy học đạt hiệu quả nhất để góp ý, xây dựng tiết dạy hoàn chỉnh hơn. 3. Xây dựng bầu không khí tập thể tích cực : Bầu không khí tập thể là khái niệm để chỉ trạng thái tinh thần của một tập thể. Nếu bầu không khí tốt mọi người sẽ làm việc tốt, tiếp xúc với nhau vui vẻ, có sự hiểu biết lẫn nhau và tất cả mọi người đều có ý thức tự giác làm việc cao. Ngược lại, nếu bầu không khí tập thể tiêu cực có thể dẫn đến xung đột, sẽ làm suy giảm sức lao động của tập thể, thái độ làm việc của mọi người sẽ dè dặt cầm chừng, thiếu tinh thần sáng tạo, thiếu năng động để hoàn thành công việc. Vì vậy, kinh nghiệm của người quản lí tốt phải nắm được tinh thần làm việc và các hoạt động của tập thể đơn vị: - Sự hài lòng; - Sự tôn trọng hiểu biết lẫn nhau; Tâm trạng tập thể, cá nhân; Năng suất lao động; Ý thức tổ chức kỉ luật; Tinh thần đoàn kết . Để tạo nên bầu không khí tích cực người quản lí cần chú ý đến điều gì ? Thống nhất các kế hoạch và các biện pháp; Phân công hợp tình, hợp năng lực; Đãi ngộ công bằng; Giải quyết tốt các dư luận; Gương mẫu và phát huy đúng mức vai trò các tổ chức đoàn thể. - Người cán bộ quản lý cần hoàn thiện phong cách lãnh đạo của mình, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác của tập thể. Mỗi phong cách lãnh đạo đều có ưu, nhược điểm riêng của nó. Thành công trong lãnh đạo là phải biết nhận định đúng vấn đề để phát huy mặt mạnh và khắc phục mặt hạn chế. 4) Bồi dưỡng về nhận thức cho đội ngũ giáo viên: Chất lượng chuyên môn phụ thuộc rất lớn vào tập thể sư phạm, yếu tố con người đóng vai trò quyết định, người thầy cần giỏi về chuyên môn đồng thời phải có tâm huyết mới thực hiện hoàn hảo nhiệm vụ giảng dạy của mình. Mặt khác, nhận thức của đội ngũ giáo viên cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục, mọi suy nghĩ đều dẫn dắt hành động của chúng ta. Do đó, nếu nhận thức đúng thì việc làm đúng là điều tất nhiên. Ví dụ: Với đội ngũ giáo viên luôn có hướng phấn đấu thi đua và không ngại khó, dù điều kiện dạy học có thiếu thốn thì chắc chắn mọi khó khăn đều bị đẩy lùi. Trong cách quản lí đối với đội ngũ tri thức cần lưu ý : Nên góp ý xây dựng cho họ hơn là ghi nhận những sai sót họ đã làm, đặc biệt hạn chế nêu những khuyết điểm cá nhân trước tập thể sư phạm, điều đó sẽ phản tác dụng tích cực. 5) Bồi dưỡng về công tác chuyên môn : Qua thời gian làm công tác quản lý, tôi thấy cần tập trung nỗ lực vào công tác chuyên môn, tìm ra vấn đề để giải quyết yếu kém về chất lượng giảng dạy, từ đó từng bước tạo uy tín với Phụ huynh học sinh và lãnh đạo địa phương. Trước hết phải ổn định công tác nhân sự theo nguyên tắc quản lí như: sắp xếp lớp học, bố trí nhân sự, phân công đúng năng lực sở trường, trong các nhóm chuyên môn phải có trẻ, có già, người có kinh nghiệm lẫn thiếu kinh nhiệm xen kẽ để cùng Ban giám hiệu hỗ trợ giáo viên về công tác chuyên môn Ví dụ : Ưu tiên lớp cuối cấp và đầu cấp học, bố trí giáo viên có năng lực và điều kiện về thời gian để dạy lớp này. Việc bố trí giáo viên cũng cần phải lưu ý phân công số tiết cho đồng đều, không để người thừa, người thiếu, dẫn đến tình trạng so bì. Thực tế cho thấy, trình độ của giáo viên không đồng đều nên việc giảng dạy không đều tay, chất lượng học tập của học sinh không cao. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giảng dạy, Ban giám hiệu cần có kế hoạch dự giờ thường xuyên ( báo trước và đột xuất ). Tổ chức cho giáo viên dự giờ các đồng chí đạt giáo viên dạy giỏi các cấp để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Khuyến khích giáo viên chủ động, sáng tạo, dạy học "lấy học sinh làm trung tâm", tạo điều kiện cá thể hóa người học, phát triển mọi năng lực của học sinh, tổ chức hướng dẫn học sinh học tập bằng cách tự phát hiện khả năng của mình, tự tin và có niềm vui trong lao động, học tập, chủ động sáng tạo. Chính vì việc dự giờ được tiến hành có kế hoạch nên tôi đã phát hiện ra những giáo viên có năng lực, động viên dự thi giáo viên dạy giỏi các cấp và đã đạt kết quả cao, đồng thời cũng kịp thời giúp đỡ các đồng chí giáo viên còn yếu về tay nghề vững vàng hơn trong chuyên môn. Qua mỗi tiết dự giờ, Ban giám hiệu không chú trọng vào việc xếp loại tiết dạy Tốt hay Khá mà chú ý nhiều vào những cái được, chưa được, để góp ý cho giáo viên. Có tiết dạy tôi theo dõi thời gian làm việc của giáo viên, thời gian học sinh được hoạt động, bao nhiêu học sinh được nói, được tham gia học tập,... từ đó rút ra kinh nghiệm với giáo viên, nên dành nhiều thời gian hơn nữa cho việc tự học của học sinh. 6) Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi: Qua khảo sát cho thấy, giáo viên rất ngại đăng ký giáo viên dạy giỏi nhưng được BGH động viên, giúp đỡ, giáo viên đã hiểu rõ vai trò của người giáo viên giỏi trong nhà trường và giúp bằng nhiều cách như: khuyến khích giáo viên có năng lực chuyên môn thường xuyên dạy thao giảng, minh hoạ, để được tập thể sư phạm chia sẻ, đóng góp ý kiến. Dựa vào chỉ tiêu đăng ký đó, BGH có kế hoạch dự giờ bồi dưỡng cho những giáo viên đăng ký dự thi giáo viên giỏi cấp huyện như: Lên kế hoạch dự giờ nhiều hơn, dự giờ để nhận thấy những mặt hạn chế trong giảng dạy của từng giáo viên, có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể, góp ý xây dựng về đổi mới phương pháp dạy học,... Mặt khác, BGH cần chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân qua thời gian trực tiếp giảng dạy, qua các đợt dự thi và chấm giáo viên dạy giỏi hoặc những tư liệu có thể biết được qua quá trình tự học, tham khảo sách báo,...cho giáo viên. Tôi thiết nghĩ đó chính là những kinh nghiệm thiết thực để có thể giúp cho giáo viên đạt kết quả tiết dạy thành công nhất. Đến thời gian có kế hoạch tổ chức thi giáo viên dạy giỏi các cấp, Ban giám hiệu có kế hoạch xây dựng từ bước thiết kế bài dạy, giáo viên dạy thử, góp ý thật tỉ mỉ và trao đổi chân tình để giáo viên có bài giảng hay, sâu sắc, sáng tạo. Điều quan trọng hơn nữa là làm sao cho giáo viên hiểu rằng: Mỗi lần dự thi giáo viên dạy giỏi là một lần làm giàu thêm về kinh nghiệm giảng dạy và sẽ thấy tự tin hơn rất nhiều trong nghiệp vụ sư phạm của mình. Nhưng một điều không kém phần quan trọng quyết định đến sự thành công của mỗi giáo viên là: sự nỗ lực vươn lên của bản thân, chịu học hỏi, không ngại khó khăn, quyết tâm đạt được mục tiêu đề ra. Nhờ thực hiện tốt các biện pháp trên mà trong năm học này, năng lực giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường tôi nâng lên rõ rệt. Số lượng giáo viên đăng ký dự thi đông hơn, đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh cao hơn năm trước. Ví dụ: Năm học: 2007-2008: có 8 giáo viên dạy giỏi cấp trường, có 2 giáo viên dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, đạt 2 giáo viên. Năm học: 2008-2009: có 10 giáo viên dạy giỏi cấp trường; Năm học: 2009-2010: có 14 giáo viên dạy giỏi cấp trường, có 5 giáo viên dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, đạt 4 giáo viên, cấp tỉnh dự thi 3 đạt 3 giáo viên. 7) Quan tâm đến đội ngũ giáo viên: Người cán bộ quản lý phải biết khích lệ tinh thần tự vươn lên trong tập thể sư phạm, cần có quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong quá trình chỉ đạo. Một yếu tố không thể thiếu được là động viên, khen thưởng kịp thời với những thành tích của giáo viên. Cần phát hiện, đánh giá được trong tập thể giáo viên, người nào có cố gắng vươn lên trong quá trình tự học, tự rèn luyện và biểu dương những giáo viên dạy giỏi, những tập thể lớp có nhiều học sinh giỏi. Đồng thời với việc nêu gương, cần đẩy mạnh khuyến khích vật chất : " Một trăm ngàn tiền công không bằng một đồng tiền thưởng". Tiền thưởng tuy nhỏ nhưng có tác dụng động viên rất lớn và nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Để các thầy cô giáo yên tâm, gắn bó hết mình với nghề nghiệp, đem hết khả năng, sức sáng tạo phục vụ cho trường, Ban giám hiệu cần thực sự quan tâm, chăm lo, đến đời sống tinh thần cho đội ngũ giáo viên. Mỗi giáo viên đều có hoàn cảnh gia đình với những thuận lợi và khó khăn khác nhau. Vì vậy, với khả năng và trách nhiệm của mình, Ban giám hiệu nhà trường nên chú ý quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi nhất để động viên, khích lệ giáo viên yên tâm, phấn khởi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đó là những việc làm thiết thực và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để giáo viên nhận thức được sự cố gắng phấn đấu của bản thân sẽ được Ban giám hiệu ghi nhận, không cào bằng, có làm có hưởng, từ đó động viên giáo viên coi "sự nghiệp trồng người" là tâm huyết của mình. IV/KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Công tác chỉ đạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là công việc khó khăn, cần phải kiên trì. Do đó, người cán bộ quản lý phải có biện pháp, có kinh nghiệm, có chỉ đạo và tổ chức cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, giúp nhà trường có đội ngũ giáo viên vững về chuyên môn, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, đó là cái đích cần đạt của một nhà trường. Song, có được thành quả đó cần phải có những người quản lý không tiếc thời gian, công sức, phấn đấu hết mình cho công tác giáo dục và cũng cần có năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn vững vàng. Qua "Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên" nêu ở trên, trường tiểu học Sơn Kiên 1 đã từng bước đưa chất lượng giáo dục và chất lượng đội ngũ giáo viên ngày một nâng lên. Cụ thể như sau: Năm học TSGV Chất lượng GV giỏi TS HS Chất lượng học sinh GVG cấp trường GVG cấp huyện GVG cấp tỉnh HS đạt TB HS dưới TB TS % TS % TS % TS % TS % 2007-2008 26 8 30,8 2 7,7 526 510 97 16 3 2008-2009 26 10 38,5 514 502 97,7 12 2,3 2009-2010 26 14 53,9 4 15,4 3 11,5 520 510 98,1 10 1,9 V/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM: 1) Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên giỏi, người cán bộ quản lý phải tham khảo kết quả đánh giá chuyên môn của những năm trước, hoặc qua dự giờ, hoặc qua thăm dò ý kiến của đồng nghiệp, của tổ trưởng tổ chuyên môn để có kế hoạch bồi dưỡng cho phù hợp. 2) Tổng hợp, phân tích những ưu điểm, hạn chế về chuyên môn của từng giáo viên để tìm nguyên nhân và có kế hoạch bồi dưỡng từ đâu? và bồi dưỡng cái gì? 3) Vận dụng những kinh nghiệm của các đồng chí quản lý đi trước, cũng như kinh nghiệm của bản thân trong quá trình chỉ đạo vào thực tế của đơn vị, và có đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp. 4) Xây dựng kế hoạch cụ thể có đề ra mục tiêu, yêu cầu, tầm quan trọng của bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên từ Trung bình lên Khá, từ Khá lên Giỏi, từ giáo viên giỏi cấp trường lên giỏi cấp huyện, từ giáo viên giỏi cấp huyện lên giỏi cấp tỉnh. BGH có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, đánh giá mức độ tiến bộ để có khen thưởng, động viên kịp thời. 5) Ban giám hiệu cần xây dựng một tập thể đoàn kết, tình thương, trách nhiệm, xây dựng một tập thể có tinh thần tự giác cao, không ngừng thi đua, luôn có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để cùng tiến bộ. 6) Tập trung chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng: "Dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm", và trang bị dần các phương tiện dạy học mới và ứng dụng công nghệ thông tin. Tôi xin chân thành cảm ơn! Người viết sáng kiến Phạm Thị Mai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cháy Rừng: Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Biện Pháp Ngăn Ngừa
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Biện Pháp Ứng Phó Của Các Nước Trước Xu Hướng Già Hóa Dân Số
  • Kiểm Tra Các Đơn Vị Vận Tải Đảm Bảo An Toàn Khi Tham Gia Giao Thông Trong Điều Kiện Dịch Bệnh Covid
  • Bài 14. Thực Hiện Trật Tự, An Toàn Giao Thông
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Tiểu Học Bình An

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Học Vần Lớp 1
  • Thựuc Trạng Và Một Số Biện Pháp Sư Phạm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Thể Dục Tại Trường Thcs Ba Xa Sang Kien Kinh Nghiem 20112012 Doc
  • Thực Hiện Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng Có Chuyển Biến Tích Cực
  • Cao Bằng: Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Áp Dụng Một Số Biện Pháp Phòng Chống Tham Nhũng Ra Khu Vực Ngoài Nhà Nước
  • cảnh quan phù hợp; lao động vệ sinh gìn giữ môi trường xung quanh; thực hiện trang trí các phòng học, phòng ban nhẹ nhàng, hài hòa,có tính giáo dục cao, đúng quy định văn hóa nơi công sở. Bước đầu vận động tuyên truyền tạo điều kiện để đội ngũ CB-GV-NV và học sinh thực hiện trang phục một số buổi trong tuần theo đúng quy định theo quy định về văn hóa nơi công sở. Duy trì nề nếp lao động vệ sinh, chăm sóc cây trồng thường xuyên đạt hiệu quả. Sáu là: Bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên phù hợp Giáo viên tiểu học có vị trí vai trò quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường. Bởi vậy việc bố trí, sắp xếp giáo viên phù hợp sao cho phát huy được tối đa khả năng, sở trường của từng giáo viên là điều rất quan trọng. Lựa chọn các giáo viên có tay nghề vững, có uy tín cao, có kinh nghiệm bổ nhiệm làm tổ khối trưởng, khối phó để lãnh đạo tập thể khối đạt chất lượng, hiệu quả. Điều động giáo viên giỏi, có kỹ năng thực hành vi tính tốt, có óc tổng hợp, phân tích các hoạt động trong nhà trường làm kiêm công tác thư ký Hội đồng sư phạm trường ; bố trí sắp xếp khoa học, hợp lý trong vốn nhân sự của nhà trường vào các công việc kiêm nhiệm: thủ quỹ, thiết bị, y tế học đường Ngoài ra, cần phân công định hướng quỹ thời gian thực hiện công việc cho từng bộ phận từng thành viên để họ có căn cứ theo đó làm việc đạt hiệu quả. Bảy là: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục Xã hội hóa công tác giáo dục là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp xây dựng nền giáo dục Quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước” Xã hội hóa công tác giáo dục thể hiện tư tưởng chiến lược phát triển lâu dài và có hiệu quả cao. Nhờ có công tác xã hội hóa giáo dục mà những năm qua, nhà trương đã làm được nhiều vấn đề góp phần lớn vào việc nâng cao chất lượng giáo dục chung của nhà trường. Để tiếp tục phát huy mặt mạnh của công tác này, cần tuyên truyền phổ biến nhiều hơn nữa đến các tầng lớp nhân dân địa phương để huy động triệt để sự nhiệt tình đóng góp của học cho sự nghiệp giáo dục của địa phương, để mỗi người dân thực sự hiểu được vai trò của bản thân đối với sự nghiệp giáo dục nói chung. Tăng cường vai trò của Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học trong việc vận động phụ huynh đóng góp xây dựng trường sở, giữ gìn an ninh trật tự trong khuôn viên trường. Tham mưu với các cấp chính quyền địa phương duy trì tốt Hội đồng giáo dục xã, động viên khen thưởng những phụ huynh có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục của nhà trường. Nhà trường cần có kế hoạch làm việc cụ thể và quan tâm nhiều hơn đến việc định hướng hoạt động của Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học để họ hoạt động có kế hoạch phù hợp, thiết thực và đạt hiệu quả hơn. C – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN: Đất nước ta đang trên đà phát triển. Sự nghiệp đổi mới đất nước mà Đảng ta đang khởi xướng và lãnh đạo thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để đạt được mục tiêu lớn đó đòi hỏi phải có con người thực hiện. Nhân tố con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế – xã hội, xây dựng và phát triển đất nước. Như vậy có nghĩa là sự phát triển nguồn lực con người quyết định sự phát triển xã hội. Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối phát triển đất nước phải “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là Quốc sách hàng đầu; là chìa khóa mở cửa vào tương lai, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo cho việc thực hiện những mục tiêu kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Coi trọng và đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển đất nước. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra những người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo, có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; sống lành mạnh; đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Muốn có được những con người như vậy, trước hết phải nói đến vai trò của đội ngũ giáo viên nói chung trong đó có đội ngũ giáo viên tiểu học nói riêng. Họ là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục của mình. Để giúp họ có điều kiện hoàn thành tốt trọng trách này, trước hết Đảng và Nhà nước phải có những chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm động viên họ cả về vật chất lẫn tinh thần để họ toàn tâm, toàn lực vì sự nghiệp giáo dục.Thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục cần có kế hoạch rà soát, thanh lọc và giải quyết các chế độ chính sách phù hợp để đội ngũ giáo viên thật sự là những người tiên phong, những tấm gương sáng, xứng đáng với sự kính trọng của toàn xã hội, những người được cả xã hội gọi là “Thầy”. Đối với nhà trường mà trước hết là tập thể lãnh đạo nhà trường cần phải có kế hoạch cụ thể , phù hợp để sắp xếp tạo mọi điều kiện cho đội ngũ thầy cô giáo được tham gia bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nâng cao chất lượng giảng dạy. “Nâng cao chất lượng giảng dạy” hiện nay đang là đòi hỏi bức thiết đối với trường Tiểu học Trần Bình Trọng nói riêng và của toàn ngành nói chung. Mỗi cá nhân trong tập thể sư phạm nhà trường cần tập trung hơn nữa đầu tư cho công tác giảng dạy hướng đến mục tiêu mà toàn thể đội ngũ đã đặt ra trong những năm tiếp theo 2010 đến 2013. 2. KIẾN NGHỊ: Mặc dù trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo cả nước, đặc biệt là chế độ tiền lương và phụ cấp ngành nghề, khu vực. Nhưng hiện nay điều kiện của đội ngũ thầy cô giáo nói chung và thầy cô giáo tiểu học vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là ở các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Bởi vậy chất lượng giảng dạy tuy có được nâng lên nhưng cũng chưa ngang tầm thời đại. Với khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, người viết cũng mạnh dạn có những kiến nghị sau đây với các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính quyền địa phương và ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên nhà trường: – Đảng và Nhà nước cần đầu tư ngân sách nhiều hơn nữa để ngành giáo dục có điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó cũng cần phải có những biện pháp cụ thể để kiểm tra việc thực hiện ngân sách được giao đối với ngành giáo dục để việc sử dụng ngân sách mang lại hiệu quả cao nhất. – Ngành giáo dục cần xây dựng những tiêu chuẩn để tuyển chọn đội ngũ nhà giáo, nhất là đối với bậc tiểu học. Để đội ngũ nhà giáo thực sự là những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, những người đẹp cả hình thức lẫn tâm hồn để xứng đáng là bậc “Thầy” mà xã hội đã tôn trọng trao cho. – Chính quyền địa phương các cấp cần quan tâm hơn nữa đến giáo dục, tuyên truyền rộng rãi đến nhân dân để họ nhận thức đúng vị trí, vai trò của giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời lãnh đạo chỉ đạo làm tốt hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục ở địa phương mình để giúp các nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. – Các tổ chức đoàn thể xã hội, mỗi phụ huynh học sinh cần quan tâm chung tay, chung sức cùng nhà trường phối kết hợp nhịp nhàng trong việc động viên, giáo dục con em mình ra sức học tập sáng tạo vì tương lai của chính bản thân và của cả cộng đồng. Bình An, tháng 04 năm 2012 NGƯỜI THỰC HIỆN Nguyễn Thanh Hùng ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………………………………… MỤC LỤC TT NỘI DUNG TRANG A MỞ ĐẦU 1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1 2 Mục tiêu và nhiệm vụ 3 3 Phạm vi nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 3 5 Bố cục đề tài 4 B NỘI DUNG 5 I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 5 1 Cơ sở lý luận 5 2 Thực trạng chất lượng giảng dạy ở trường Tiểu học Bình An từ năm 2009 đến 2011 7 3 Những thành tựu đã đạt được 13 4 Tồn tại và nguyên nhân 16 II PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC BÌNH AN 18 1 Phương hướng 18 2 Mục tiêu 18 3 Những giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên của trường Tiểu học Trần Bình Trọng 22 C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 29 1 Kết luận 29 2 Kiến nghị 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị môn Văn hoá-Xã hội, môn Nhà nước Pháp luật NXB Chính trị Quốc gia 2. Luật Giáo dục 2005 3.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn Quốc lần thứ VIII, IX, X của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN 4. Luật giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành NXB Viện Khoa học Giáo dục -1999 5. Một số vấn đè về đổi mới quản lý Giáo dục Tiểu học vì sự phát triển bền vững- Tài liệu bồi dưỡng Hiệu trưởng trường tiểu học và cán bộ quản lý Giáo dục tiểu học NXB Giáo dục 6. Giáo trình giáo dục học tiểu học I- Đại học Huế 7. Văn hóa và Giáo dục, Giáo dục và Văn hoá NXB Giáo dục – GS TS Phạm Minh Hạc 8. Các tạp chí phát triển giáo dục của Viện chiến lược và chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo 9. Những nhiệm vụ trọng tâm của Giáo dục Mầm Non, Giáo dục Phổ thông, Giáo dục Thường xuyên và Giáo dục Chuyên nghiệp từ 2009-2010 đến nay. 10. Báo cáo Tổng kết các năm học: 2008-2009; 2009-2010; 2010- 2011, của trường Tiểu học Bình An. Bắc Bình 11. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Bình An. 12. Nghị quyết Đại hội chi bộ trường Tiểu học Bình An.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Trong Giờ Dạy Lịch Sử
  • Tiểu Luận Cuối Khóa Cán Bộ Quản Lý Thcs”biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Thcs Tân Công Sính”
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên Thông Qua Hoạt Động Dự Giờ Thăm Lớp Của Cán Bộ Quản Lý Ở Trường Thcs Văn Nho
  • Tổ Giáo Dục Thể Chất Báo Cáo Seminar Khoa Học: “các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Thể Chất”
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Của Giáo Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Các Biện Pháp Nhằm Đổi Mới Pp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Hội Nghị Chuyên Đề “đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lƣợng Môn Sinh Học Cấp Thpt_10393812092019
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Sinh Học Ở Việt Nam
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Trong Giờ Dạy Môn Sinh Học Lớp 9
  • Phòng giáo dục và đào tạo hữu lũng

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học

    của giáo viên

    Ngời thực hiện: Vũ Mạnh Cờng

    Đơn vị công tác: THCS Hòa Lạc

    Nhiệm vụ đợc giao: Phụ trách chung

    Hoà Lạc, tháng 5/2010

    2

    Phòng giáo dục và đào tạo hữu lũng

    Sáng kiến kinh nghiệm

    Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học

    Của giáo viên

    Ngời thực hiện: Vũ Mạnh Cờng

    Đơn vị công tác: THCS Hòa Lạc

    Nhiệm vụ đợc giao: Phụ trách chung

    Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học

    Của giáo viên

    A/ ĐặT VấN Đề

    I. Lý do chọn đề tài

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ơng

    (khoá VIII) đã định hớng chiến lợc phát triển Giáo dục-Đào tạo

    trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Muốn tiến hành

    4

    công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi, phải phát triển mạnh

    Giáo dục-Đào tạo, phát huy nguồn lực con ngời, yếu tố cơ bản

    của sự phát triển mạnh và bền vững.

    Trong hoạt động Giáo dục-Đào tạo, đội ngũ giáo viên là

    nhân tố quan trọng, quyết định chất lợng Giáo dục, dù cơ sở

    vật chất trang thiết bị, các điều kiện phục vụ có đầy đủ

    đến đâu mà con ngời không có năng lực vận dụng, thực thi

    nhiệm vụ thì vẫn không giải đợc bài toán chất lợng dạy và học.

    Từ những năm trực tiếp tham gia công tác quản lí trờng

    học chúng tôi thấy muốn tạo ra sự đồng đều, cân đối về tay

    nghề, chất lợng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trong toàn trờng, cần có một kế hoạch tổng thể, chi tiết bao gồm những

    giải pháp tình thế cũng nh lâu dài, rút ngắn khoảng cách, độ

    chênh lệch về kiến thức văn hoá, chuyên môn và cả nghệ thuật

    dạy học của ngời giáo viên với lí do trên chúng tôi chọn đề tài

    “Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học của giáo viên “.

    II. Thực trạng

    Những năm qua, tình hình đội ngũ giáo viên trong đơn

    vị cha đồng bộ về cơ cấu, yếu kém về chuẩn văn hoá, chuyên

    môn nghiệp vụ, chất lợng đào tạo các hệ tại chức cũng nh tập

    trung không đồng đều, cha mang tính thống nhất chung, dẫn

    đến sự phân hoá về tay nghề, năng lực giảng dạy của từng

    giáo viên. Bởi vậy, việc xây dựng đội ngũ giáo viên nhằm nâng

    cao năng lực chuyên môn, chất lợng dạy và học là nhiệm vụ

    quan trọng đặt ra đối với nhà trờng.

    Nhằm tạo ra sự đồng đều, cân đối về tay nghề, chất lợng

    giảng dạy của đội ngũ giáo viên trong toàn trờng, cần có một

    kế hoạch tổng thể, chi tiết bao gồm những giải pháp tình thế

    cũng nh lâu dài, rút ngắn khoảng cách, độ chênh lệch về kiến

    thức văn hoá, chuyên môn và cả nghệ thuật dạy học của ngời

    giáo viên. Nhà trờng xem đây là bớc đột phá, một nhiệm vụ

    5

    trọng tâm trong suốt quá trình quản lý, chỉ đạo mọi hoạt

    động của đơn vị. Có thể nói ngời thầy giỏi về tổ chức dạyhọc, vững vàng về nghiệp vụ chuyên môn, hiểu biết sâu rộng

    về kiến thức, nắm bắt, cập nhật kịp thời thông tin, tận tụy với

    nghề nghiệp, lòng yêu thơng học trò… sẽ quyết định hiệu quả

    dạy và học. Những thứ ấy có đợc hay không ở một giáo viên,

    phần lớn là do nhận thức, quan điểm, hành động cụ thể của

    ngời quản lý điều hành trong tập thể s phạm.

    B/ NộI DUNG, BIệN PHáP GIảI QUYếT

    I. Cơ sở lý luận

    Đội ngũ giáo viên có độ chín trong nghiệp vụ s phạm,

    chẳng những sẽ giúp cho chất lợng học tập của học sinh ngày

    càng nâng cao, mà còn có tác dụng, ảnh hởng tốt trong tập

    thể, cộng đồng. Uy tín của ngời thầy, niềm tin của cha mẹ

    học sinh, nhân dân sẽ là động lực, sự cổ vũ mạnh mẽ, tạo đà

    cho quá trình phát triển mạnh, toàn diện và vững chắc. Từ đó

    giải quyết đợc rất nhiều công việc chung, kể cả nhiệm vụ xã

    hội hóa giáo dục. Mặt khác, việc tiếp thu nội dung, phơng pháp

    dạy học, cập nhật kiến thức, tự học, tự bồi dỡng sẽ dễ dàng,

    thuận lợi hơn. Mỗi một giáo viên giỏi là chất men chung cho

    đồng nghiệp, không những giúp họ giải quyết tốt nhiệm vụ đợc phân công, mà còn hỗ trợ, giúp đỡ cho bè bạn, đồng nghiệp

    cùng tiến bộ. Tập thể giáo viên đợc đánh giá cao về tay nghề,

    nghiệp vụ chuyên môn, sẽ giúp cho quá trình phấn đấu phát

    triển không ngừng, đợc nhà trờng tin tởng ở tay nghề, từ đó có

    sự kích thích, thể hiện đợc tinh thần trách nhiệm trớc nhiệm

    vụ đợc phân công, tiếp tục chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám

    làm, dám chịu trách nhiệm, tận tuỵ với nghề nghiệp, hết lòng

    thơng yêu chăm sóc học sinh. Từ đó việc quản lý đội ngũ, chỉ

    đạo chuyên môn sẽ nhẹ nhàng, hiệu quả hơn, tính đoàn kết

    thống nhất đợc phát huy mạnh mẽ.

    7

    III. Các giải pháp thực hiện

    1. Đánh giá năng lực s phạm của đội ngũ giáo viên

    1.1. Đánh giá năng lực s phạm giáo viên

    Đây là việc có thể xem là khó nhất trong quản lý, trớc đây

    để đánh giá năng lực s phạm chủ yếu dựa vào kết quả các tiết

    lên lớp. Có nhiều cách xếp loại một tiết dạy nh chia ra nhiều tiêu

    chí để cho điểm, rồi cộng lại để đánh giá toàn bộ tiết dạy

    đó. Tuy nhiên nếu làm theo kiểu này sẽ bộc lộ nhiều hạn chế

    không khách quan đối với tay nghề, trình độ nghiệp vụ của

    giáo viên. Rất khó có thể cho bao nhiêu điểm khi giáo viên đã

    thực hiện nội dung tiêu chí đó để phù hợp với công sức, đồng

    thời đối với đặc thù của một tiết dạy, môn học nào đó mà giáo

    viên không cần thực hiện một hay nhiều những tiêu chí, nếu

    cho điểm thì không có căn cứ, trái lại nếu không cho điểm

    thì hụt mất tổng số điểm, khi bài dạy đó không có những tồn

    tại cần góp ý, rút kinh nghiệm. Có lúc lại vội vàng kết luận đối

    với một giáo viên nào đó trong lúc cha xem xét toàn diện các

    điều kiện cần thiết. Hệ thống đào tạo, hình thức đào tạo,

    trình độ học vấn, thâm niên công tác, những thiếu sót cần đợc bổ sung, hỗ trợ và cả các điều kiện khách quan khác, điều

    đó vô hình chung đã làm giảm sút ý chí phấn đấu của giáo

    viên. Từ đó, tạo ra không khí nặng nề trong xây dựng đội ngũ

    dẫn đến có sự so sánh với nhau về trình độ nghiệp vụ, thiếu

    sự tin cậy trong đánh giá của nhà trờng, thậm chí có trờng hợp

    cho rằng đã xúc phạm đến nghề nghiệp của mình…

    Trên cơ sở đó để đánh giá năng lực s phạm của một giáo

    viên, ngoài những quy định chung của nghành, hiện nay nhà

    trờng đã tiến hành từng bớc phù hợp, thận trọng hơn. Đối với một

    giáo viên, khi đánh giá phải xem xét trên nhiều khía cạnh (Đặc

    điểm chung và riêng của con ngời cụ thể). Trong đó điều

    đầu tiên là cần tìm hiểu đợc là cái đang có (Trình độ, kiến

    8

    thức, phong cách, lý tởng nghề nghiệp…), nhng phải thể hiện

    cho đợc trình độ nắm vững các nội dung, vận dụng các phơng pháp bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành

    cho học sinh qua tiết dạy, kiến thức phải rộng để vận dụng các

    phần trớc đó, kiến thức trong đời sống thực tiễn, nhằm chọn

    lọc đa vào nội dung cần truyền đạt đến học sinh. Yêu cầu

    kiến thức nh vậy, phải tìm tòi suy nghĩ những phơng pháp

    dạy học phù hợp nhất hớng tới cải tiến PPDH nhằm phát huy hiệu

    quả, mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh. Ngoài ra xử lý các

    tình huống s phạm một cách linh hoạt, sáng tạo cũng nói lên

    trình độ, nghiệp vụ của một giáo viên, nghệ thuật, bản lĩnh

    đứng lớp cũng không kém phần quan trọng trong việc đánh

    giá. Góc độ tâm lý, điều kiện khách quan cần đợc chú trọng,

    có khi giáo viên giỏi lại dạy một số tiết không đạt là do đâu?

    ngời đánh giá cần hiểu đợc một cách thấu đáo.

    Làm thế nào giáo viên thật sự thấy mình đợc tôn trọng,

    nhận rõ những điều mình còn thiếu để bổ sung, những kinh

    nghiệm cần tích luỹ, mới dám bộc bạch hết những gì còn thắc

    mắc, điều cha nghĩ đến, có khi nhờ chúng ta hiến kế cho

    quá trình phấn đấu trong nghề nghiệp mà họ đã chọn.

    Trong quá trình đánh giá năng lực s phạm của giáo viên

    thời gian qua, đã tạo nên sự chuyển biến tích cực, giáo viên tự

    tìm đến nhau để học hỏi, bổ sung kiến thức s phạm, dự giờ

    lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm các môn khó, tiết khó. Không

    đánh giá quá cao giáo viên giỏi, đồng thời không hạ thấp giáo

    viên còn hạn chế về khả năng s phạm, nên thấy đợc u điểm của

    từng giáo viên (dù rất nhỏ), là phơng châm trong đánh giá của

    BGH nhà trờng. Giáo viên tin tởng chuyên môn ở bản thân, xem

    trọng uy tín về chuyên môn của BGH, tất cả ra sức phấn đấu

    vơn lên trong giảng dạy, tiến bộ nhanh qua từng năm học, mạnh

    9

    dạn hơn trong suy nghĩ và cách làm, cùng nhau tháo gỡ khó

    khăn trong quá trình

    dạy-học, tính đoàn kết nhất trí, thể hiện tâm huyết ngày

    một rõ nét hơn.

    1.2. Tham khảo ý kiến của đội ngũ

    Nếu không hiểu đợc tâm t, nguyện vọng, những mong

    muốn của từng giáo viên sẽ rất khó mang lại thành công, cho dù

    chúng ta cố sức làm nhiều hơn, mạnh mẽ hơn nhng Lực bất

    tòng tâm, đòi hỏi cần có sức mạnh tổng hợp của tập thể,

    mang tính quyết định cho mọi công việc.

    Có thời gian dài, quan niệm xây dựng đội ngũ cứ dựa trên

    quan điểm chỉ đạo, những quy định bắt buộc của ngành

    để thực hiện, vận dụng một cách cứng nhắc, rập khuôn cho

    đơn vị mình, trong khi các thành viên cha bắt kịp nhịp độ,

    cha có tiếng nói chung. Mặc dù họ không phản đối, nhng tính

    chấp hành rất gợng ép, tạo nên một lực cản, sức ì, khó tìm

    đến con đờng phát triển toàn diện. Nhiều giáo viên trớc đây

    đợc dự giờ đánh giá, bồi dỡng… qua nhiều năm nhng không hề

    chuyển biến về trình độ, chất lợng giảng dạy, hiệu quả công

    tác, xa rời nhà trờng, đồng nghiệp. Mặt khác, họ không có dịp

    để bài tỏ ý kiến, đóng góp cho nhà trờng đi lên, một cách

    thẳng thắn, trung thực.

    Nhận thức đợc vấn đề khá nhạy cảm này, hàng năm nhà

    trờng đã thực hiện phiếu tham khảo ý kiến về chuyên môn,

    những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy- học (Phiếu dùng cho

    giáo viên có ý kiến bằng hình thức trắc nghiệm, không cần

    ghi tên, tránh sự dè dặt, thiếu mạnh dạn sợ bị trù dập).

    Qua từng những đợt tham khảo nh vậy, nhà trờng tổng hợp

    thông qua HĐSP nhà trờng (Kể cả ý kiến theo hờng tích cực và

    ý kiến trái ngợc), có nh thế trong từng giáo viên mới thấy đợc từ

    phân tích, chứng minh của nhà trờng và sức mạnh của tập thể,

    10

    làm cho suy nghĩ ban đầu thay đổi, tin tởng vào sự phát

    triển đi lên, hơn nữa những thắc mắc về chuyên môn hàng

    ngày, sau mỗi tiết dạy nếu giáo viên không mạnh dạn góp ý

    chung, có thể ghi phiếu góp ý hoặc hỏi ý kiến (ở các đồng chí

    trẻ, còn ít năm công tác), đợc BGH trả lời riêng đến nơi, đến

    chốn, giúp cho giáo viên không còn ngờ vực, tin tởng ở mình.

    Thờng xuyên trao đổi công việc với nhau, giao tiếp s phạm sẽ là

    động lực giúp cho giáo viên hiểu sâu sắc hơn những việc cần

    làm, cái gì mình có sẽ đóng góp cho tập thể, đơn vị.

    Làm đợc những vấn đề trên một cách công tâm, mỗi ngời

    vì mọi ngời

    và ngợc lại, tập thể sẽ phát huy hết tiềm lực hiện có, đem hết

    công sức và nghị lực để phục vụ, trao đổi chuyên môn,

    nghiệp vụ không ngừng, đoàn kết, giúp đỡ, hỗ trợ nhau tháo gỡ

    những vớng mắc trong nghề nghiệp. Thực tiễn chứng minh,

    trong thời gian gần đây giáo viên của đơn vị hoàn thành khá

    tốt mọi quy định, quy chế chuyên môn, có ý thức cầu tiến (xin

    dự giờ đồng nghiệp, xin dạy thử cho tổ dự để góp thêm ý

    kiến), hoặc nêu ra những hạn chế để đợc hớng dẫn thêm,

    không than phiền về cờng độ làm việc có lúc hết sức căng

    thẳng, có khi ảnh hởng đến việc làm, đời sống, sinh hoạt cá

    nhân. Tất cả điều mong muốn làm tốt và làm tốt hơn nữa để

    khẳng định mình cùng với sự phát triển của ngành, của đơn

    vị.

    2. Xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới

    2.1. Học tập các văn bản quy phạm pháp luật về chuyên môn

    Các nhà trờng cần thiết phải tổ chức cho CB GV, NV và HS

    học tập văn bản quy phạm pháp luật về chuyên môn để mọi

    ngời hiểu và thực hiện công việc đúng và đạt hiệu quả cao

    bao gồm các văn bản của Bộ giáo dục về chỉ thị nhiệm vụ năm

    học, quyết định số 40/2006/qđ-bgd &đt ngày 05 tháng 10

    12

    Hàng năm, việc tổ chức chuyên đề để bồi dỡng, bổ sung,

    tháo gỡ cho giáo viên những vấn đề mới, khó, cha hiểu rõ, là

    công việc thờng xuyên của ngành giáo dục. Ngoài các chuyên

    đề chung đợc triển khai sâu rộng, thống nhất trong ngành.

    Trờng định hớng các chuyên đề khác có tính thiết thực, phục

    vụ đợc theo yêu cầu của đại bộ phận giáo viên trờng mình, tơng tự nh thế, sinh hoạt chuyên môn tổ khối cũng không nằm

    ngoài mục đích nâng dần chất lợng dạy-học, phát huy tốt hơn

    khả năng s phạm của mỗi giáo viên. Trong thực tế khi tiếp cận,

    tìm hiểu cách làm của nhiều đơn vị (Trong huyện và cả

    ngoài huyện), vấn đề này còn nhiều điều đáng suy nghĩ (kể

    cả trong nhận thức, quản lý, chỉ đạo), đây không phải là mới,

    nhng có lúc, có nơi còn Bỏ ngỏ cha tìm ra cách giải quyết.

    Mặc dù đã đợc chỉ đạo, hớng dẫn, quy định cả trong điều lệ

    của cấp học. Nhng điều quan trọng là tìm đợc cách thực hiện

    có hiệu quả nhất, thành công trong điều kiện đội ngũ nh hiện

    nay.

    Thông lệ, cứ vào năm học, khi lập kế hoạch thì nhà trờng

    đề ra chi tiêu là bao nhiêu chuyên đề, tên gì, ở khối nào, thời

    gian thực hiện, chứ cha có điều tra nắm lại khả năng s phạm

    của đội ngũ giáo viên trong năm học, có khi không cần tính

    toán là năm nay chuyên đề môn học này, thì năm tới sẽ làm

    môn khác, không tính đến sự cần thiết đối với giáo viên. Lúc

    mở chuyên đề chỉ lo xây dựng cho hoàn chỉnh và cứ đó mà

    truyền tải đến cả tập thể, với một mô hình, khuôn mẫu tiết

    dạy định sẵn. Nh thế, đồng nghĩa với việc không cần trao

    đổi, không đặt vấn đề nào mới, tranh luận để giải quyết

    những nội dung cha thống nhất, tính học hỏi, trao đổi chuyên

    môn, tích luỹ kinh nghiệm sẽ bộc lộ nhiều nhợc điểm. Mỗi tuần

    tổ khối sinh hoạt một lần hay một tháng hai lần để hợp thức

    hoá theo quy định, chỉ đạo của trên. Khi tham gia sinh hoạt

    13

    cùng tổ hoặc đọc nghị quyết phiên họp tổ, điều thờng thấy

    là những nội dung mang tính hành chính, kiểm điểm công

    việc, thông báo tình hình, phơng hớng sắp tới. Đặc trng

    chuyên môn, trao đổi tháo gỡ những vớng mắc về nghề

    nghiệp, ít khi nghe đợc, thấy đợc. Đó là cha kể những phiên

    họp không quy định nội dung, thời gian (Giáo viên nói gì cũng

    ghi vào, hết ý kiến là kết thúc).

    Có nhiều nguyên

    nhân, trong đó có nguyên nhân chủ

    quan là ai cũng biết, ai cũng dạy đợc cần chi mở chuyên đề bồi

    dỡng, trao đổi sinh hoạt chuyên môn, trong khi đội ngũ rất

    hiếm giáo viên khá-giỏi về nghiệp vụ. Vai trò quản lý cũng mờ

    nhạt không kiểm tra, theo dõi, cha thấy đợc cái khó của từng

    giáo viên, từng tổ để giúp đỡ, định hớng.

    Nhận thức rõ thực trạng của vấn đề, nhà trờng đã có

    nhiều cải tiến trong sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề bồi dỡng

    sẽ tổ chức thờng xuyên, đơn giản. Có giáo viên cùng tổ cha

    hiểu rõ vấn đề gì? khó ở tiết nào? môn nào? cử ra một giáo

    viên dạy (mọi giáo viên trong tổ đều đợc phân công dạy), đối

    tợng dự chỉ tập trung nhóm giáo viên cùng tổ, tiết kiệm đợc

    thời gian, công sức, giáo viên dạy sẽ soạn kỹ tiết dạy đó rồi lên

    lớp. Sau tiết dạy, cùng nhau đặt ra vấn đề, chọn lọc cách làm

    hay, nếu còn cha thống nhất đợc, BGH quyết định cho tổ

    chức thực hiện lại.

    Trớc phiên họp chuyên môn, BGH gợi ý những nội dung cần

    trao đổi trong phiên họp của từng tổ cụ thể (không cùng một

    nội dung cho tất cả các tổ), tổ trởng sẽ đợc góp ý soạn thảo nội

    dung thông qua ý kiến duyệt của nhà trờng. BGH phân công

    dự họp cùng tổ, cùng đặt ra những yêu cầu bức xúc mang tính

    thiết thực khả thi.

    Qua cách làm nh vậy, các chuyên đề bồi dỡng cũng nh

    buổi họp chuyên môn, đã phát huy tác dụng rõ nét. Mỗi giáo

    14

    viên tự thấy mình sẽ làm đợc, tự tin, mạnh dạn hơn cùng đồng

    nghiệp của mình, bổ sung cho cá nhân những điều đang

    cần và mong muốn. Từ đó chuyên đề không còn hình dung là

    vấn đề lớn có thể tổ chức bất kỳ lúc nào, không còn lo ai là ngời chịu trách nhiệm, kinh phí tổ chức…. nói chung sẽ vơn tới sự

    thống nhất, bình thờng hoá cái khó, cái phức tạp thành điều

    đơn giản hiệu quả dễ thực hiện.

    Từng thành viên trong tổ sẽ nghiên cứu trớc nội dung sinh

    hoạt do tổ trởng thông báo, thể hiện đợc trách nhiệm, thái độ

    nghiêm túc, chủ động trong tranh luận, lắng nghe, không tự

    mãn với kiến thức đã đợc tích luỹ trong quá trình dạy-học. Phấn

    khởi khi không thấy một tổ nào khi dự họp mà không có trong

    tay từ điển, tài liệu, cả điều lệ, thông t, quy chế… do trờng

    cung cấp để thống nhất một cách chính xác, khoa học những

    công việc liện quan đến dạy-học sắp tới. Thời gian họp đợc

    đảm bảo, thậm chí có khi quá thời gian mà cha hết nội dung.

    Chứng tỏ sinh hoạt chuyên môn đã có chuyển biến tốt.

    + Tổ chức giảng nhóm

    Trong điều kiện mới thành lập thiếu thốn về cơ sở vật

    chất, tài chính và kinh nghiệm. Nhà trờng còn lúng túng trong

    xây dựng đội ngũ, để có tính thống nhất, đồng bộ về chuyên

    môn, tay nghề, tạo đợc mặt bằng chất lợng nh nhau. Đây là

    một vấn đề khó giải quyết. Nhiều năm tuân thủ hình thức dự

    giờ từng giáo viên rồi góp ý chỉ điều chỉnh, bổ sung, rút kinh

    nghiệm, thu hẹp dần khoảng cách, thậm chí nhiều lần không

    phát triển còn phê bình gay gắt, nặng nề. Có lúc gây ra sự

    bất bình do không thống nhất đợc những vấn đề chung (do

    học tập, tích luỹ đợc ở diện hẹp, ít ngời). Trình độ chuyên

    môn, nghiệp vụ của giáo viên nhà trờng chỉ dậm chân tại chỗ

    đạt, cha đạt theo yêu cầu.

    15

    Để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự phấn đấu, kích thích

    sự tìm tòi, học hỏi, mở rộng tầm hiểu biết ở nhiều ngời. Nhà

    trờng chọn hình thức giảng nhóm trong toàn bộ giáo viên, sử

    dụng các ngày họp chuyên môn để tổ chức theo nhóm từ 3

    đến 5 giáo viên dạy cho BGH, giáo viên cùng dự, hàng tuần có

    lịch dạy cụ thể, thay đổi môn dạy sau mỗi lần, cứ thế xoay

    vòng qua 3 năm thực hiện, mỗi giáo viên dạy từ 2-3 tiết. Sau mỗi

    kỳ tự giảng, toàn thể HĐSP ngồi lại góp ý chân tình, giúp ngời

    dạy bổ sung những hạn chế về nội dung, kiến thức, phơng

    pháp, đồng thời giúp cho ngời dự học tập đợc những điểm nổi

    bật ở nhiều giáo viên. Đối với giáo viên mới tập sự không chú

    trọng nêu những tồn tại hạn chế, do mới làm quen với nghề dạy

    học, mà quan trọng biết phát huy những u điểm, những cái

    mới chấp nhận đợc, giúp giáo viên phấn đấu thêm, trau dồi hơn

    nữa. Cách làm này cũng bổ sung cho nhau về kinh nghiệm lên

    lớp, giáo dục học sinh cho lớp giáo viên trẻ, đồng thời giáo viên

    dạy nhiều năm cũng tiếp nhận đợc cái mới mà cha kịp cập nhật,

    trao đổi, thống nhất trong một hay nhiều vấn đề mang ý

    nghĩa tổng hợp, cụ thể, toàn diện trên nhiều khía cạnh khác

    nhau, khi lên lớp sẽ vận dụng thoải mái hơn, xử lý nhanh nhạy

    hơn, bản lĩnh vững vàng không gò bó, lúng túng.

    Có thể nói, mỗi giáo viên của trờng hiện nay không còn có

    sự khác nhau về trình tự giảng dạy các môn học, xác định nội

    dung, phơng pháp giảng dạy, thực hiện quy định, quy chế

    chuyên môn khá chuẩn xác. Điều đáng quan tâm hiện nay,

    đang tiếp tục làm để sao mỗi giáo viên đều vận dụng tốt đợc

    phơng pháp dạy học mới, lấy học sinh làm trung tâm, nâng cao

    chất lợng học tập cho các em, phù hợp với trình độ tiếp thu của

    các em ở nông thôn, nghiên cứu, tìm hiểu những điều các em

    cần để truyền đạt, chứ không khô cứng thể hiện những gì

    thầy có.

    16

    + Chấm chọn giáo viên giỏi cấp trờng

    Khi tay nghề, trình độ chuyên môn của giáo viên đợc

    nâng lên qua từng năm, sau một thời gian xây dựng và phát

    triển đội ngũ. Từ năm học 2006-2007 đến nay, mặc dù nhiều

    vấn đề khó đặt ra. Tiêu chuẩn, nội dung chấm chọn, kinh phí

    khen thởng, công nhận danh hiệu, quyền lợi giáo viên… nhng với

    mong muốn tăng số lợng giáo viên giỏi, giảm thiểu diện đạt yêu

    cầu. Có đội ngũ giáo viên giỏi sẽ tạo nên lực hút, là lực lợng nồng

    cốt trong các phong trào, những nhân tố tích cực trong hoạt

    động chuyên môn, tấm gơng để giáo viên cùng học tập.

    Hàng năm nhà trờng tổ chức chấm chọn hai đợt. Giáo viên

    đăng ký dạy giỏi, nhà trờng thành lập tổ chấm, ấn định thời

    gian, môn học thống nhất các nội dung, tiêu chuẩn chấm.

    + Công tác đổi mới phơng pháp dạy học, đổi mới kiểm

    tra đánh giá, tổ chức hội thảo đẩy mạnh ứng dụng CNTT

    – Công tác tổ chức các hội thi, hội thảo

    Các nhà trờng cần thờng xuyên tổ chức các Hội thảo về

    chuyên môn cũng nh hội thảo về đổi mới phơng pháp dạy học

    và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học về các Kỹ thuật

    soạn và thao tác bài giảng trên máy chiếu, kỹ thuật chuyển

    đổi bài soạn trình chiếu sang bài soạn điện tử E-learning

    bằng phần mềm LCDS. Hớng dẫn lắp đặt thiết bị máy chiếu,

    máy tính, USB, điều chỉnh máy chiếu, một số thông số của

    máy chiếu, hớng dẫn các bớc thao tác với Powerpoint, cách tạo

    hiệu ứng, tạo nền và siêu kết nối trong Powerpoint, hớng dẫn

    thiết lập bài soạn Powerpoint và chuyển từ bài soạn thông thờng sang bài soạn giảng bằng máy chiếu. Một số tơng tác với

    các phần mềm hỗ trợ bài soạn điện tử nh Carbi Điều chỉnh

    máy chiếu, chuột và cách sử dụng các phím mũi tên, phím

    enter, phím cách trên bàn phím khi trình chiếu Slide hoặc các

    kỹ thuật về Camera vật thể, hớng đặt vật thể, chuyển về

    17

    chức năng chiếu vật thể. Một số tơng tác với các phần mềm hỗ

    trợ bài soạn điện tử nh Carbi, Macro Media Player

    – Nâng cao kiến thức, tăng cờng bồi dỡng kiến thức và kỹ

    năng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục

    Công việc này đợc BGH và các tổ chuyên môn thờng

    xuyên đa vào nội dung sinh hoạt chuyên môn hàng tháng bằng

    các chuyên đề cụ thể theo một chơng trình vạch sẵn có kế

    hoạch. Hàng năm tổ chức hội thảo chuyên đề về soạn giảng

    giáo án điện tử

    2.3. Công tác đào tạo và bồi dỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ

    quản lý GD

    Phân công sắp xếp quản lí và sử dụng giáo viên, nhân

    viên phù hợp với chức năng nhiệm vụ và khả năng từng ngời, hoàn

    thành công việc và có hiệu quả. Hàng năm nhà trờng tiếp tục

    triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban bí th trung ơng Đảng

    về nâng cao chất lợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo

    dục tạo điều kiện cho giáo viên đi học đại học để nâng cao

    về trình độ CM ngiệp vụ.

    * Về xây dựng và nâng cao trình độ mọi mặt của đội ngũ

    giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục: 100% cán bộ giáo viên thực

    hiện bồi dỡng thờng xuyên chu kỳ. Đội ngũ giáo viên đảm bảo

    đồng bộ về cơ cấu giáo viên, môn học với tỷ lệ 1,8 GV/lớp

    2.4. Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thởng

    Hàng năm chỉ đạo thờng trực ban thi đua rà soát các

    danh hiệu thi đua, phát động phong trào thi đua, 100% các cá

    nhân và tập thể đăng ký thi đua, phấn đấu hoàn thành các

    chỉ tiêu và kế hoạch nhà trờng đặt ra, giữ vững danh hiệu trờng Tiên tiến. Khen thởng kịp thời những cá nhân và tập thể

    đạt thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua

    3. Đầu t cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

    3.1. Tài liệu tham khảo

    20

    V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    Qua nhiều năm thực hiện, đến nay quá trình xây dựng

    đội ngũ đã mang lại kết quả bớc đầu rất quan trọng.

    Mỗi giáo viên trong nhà trờng từ giáo viên mới vào nghề

    đến giáo viên thâm niên giảng dạy, điều nắm đợc nội dung,

    kiến thức cần truyền đạt cho học sinh. Xác định đợc yêu cầu,

    mức độ, nội dung cần hình thành, vận dụng phơng pháp có

    linh hoạt hơn, hợp lý với môn học (nhìn chung năng lực s phạm

    đợc nâng cao rõ nét). Quy định, quy chế chuyên môn đợc

    thực hiện tốt hơn, chính xác, kịp thời, đảm bảo đợc các yêu

    cầu cần thiết đặt ra nh soạn giảng, đánh giá, xếp loại học

    sinh, chấm bài, cho điểm, chủ nhiệm lớp… Kết quả giảng dạy

    trên lớp có nhiều tiến bộ không còn giáo viên yếu về tay nghề

    chuyên môn. Hiện nay giáo viên đứng lớp vững vàng ở hầu hết

    các tiết, các môn học.

    + Năm học: 2007-2008 có 16/32 giáo viên đợc xếp tốt.

    13/32 giáo viên

    đợc xếp loại khá. 03/32 giáo viên xếp loại ĐYC.

    + Năm học: 2008-2009 có 19/32 giáo viên đợc xếp tốt.

    11/32 giáo viên đợc xếp loại khá. 02/32 giáo viên xếp loại ĐYC.

    + Năm học: 2009-2010 có 20/24 giáo viên đợc xếp tốt.

    03/32 giáo viên đợc xếp loại khá. 01/32 giáo viên xếp loại ĐYC.

    BảNG THốNG KÊ QUA 3 CHU Kỳ THANH TRA

    1. Kết quả kiểm tra toàn diện của đơn vị.

    Năm học

    20072008

    20082009

    20092010

    Tổng số

    Số GV đã đ-

    GV

    ợc KTrTD

    27

    9

    27

    10

    24

    8

    Ghi chú

    ®îc

    GV

    dù giê

    XÕp lo¹i giê d¹y

    T

    K

    §

    170

    87

    65

    18

    171

    83

    77

    11

    Ghi chó

    Sè l-

    Tªn chuyªn ®Ò

    15

    1

    52

    20

    28

    4

    171

    83

    77

    11

    27

    21

    16

    1

    17

    d¹y

    Thùc hiÖn c¸c nhiÖm vô

    chó

    18

    11

    d¹y

    Thùc hiÖn c¸c nhiÖm vô

    3

    27

    Thùc hiÖn QCCM

    §¸nh gi¸ kÕt qu¶ gi¶ng

    Tr×nh ®é NVSP

    Thùc hiÖn QCCM

    §¸nh gi¸ kÕt qu¶ gi¶ng

    5

    Tr×nh ®é NVSP

    14

    §

    Ghi

    3

    80

    50

    32

    24

    20

    3

    1

    152

    92

    58

    4

    Năm học

    TS

    năm. Khi đội ngũ giáo viên đợc nâng cao về tay nghề, nghiệp

    vụ chuyên môn, thì chất lợng dạy và học đạt kết quả tốt. Điều

    đó chứng minh rằng, việc xây dựng đội ngũ giáo viên đủ sức

    đáp ứng yếu cầu mới của sự phát triển giáo dục sẽ quyết định

    cho chất lợng dạy và học.

    C/ Bài học kinh nghiệm

    Việc xây dựng đội ngũ giáo viên nh thế đòi hỏi cao ở sự

    công tâm, thận trọng, quyết đoán, sáng tạo, cả những tham

    vọng đối với phát triển giáo dục. Tính kiên trì chịu khó, nghiên

    cứu thực tiễn… là những điều kiện để giải quyết đợc vấn

    đề. Nếu trớc đây có nhiều giáo viên yếu kém cả về thực hiện

    nhiệm vụ giảng dạy và tay nghề nghiệp vụ chuyên môn, tinh

    thần đoàn kết, tiến bộ cha đợc xem trọng, tính cầu toàn, đối

    phó, chiếu lệ là phổ biến nhất của đội ngũ giáo viên. Không

    ham thích danh hiệu, ý thức nghề nghiệp còn hạn chế, vi phạm

    quy chế, quy định chuyên môn thờng xuyên, bảo thủ ý kiến cá

    nhân, thiếu quan điểm tiến bộ… dẫn đến hiệu quả dạy-học

    đạt thấp, xây dựng kỷ cơng nền nếp lỏng lẻo, ý thức trách

    nhiệm của ngời dạy học có nhiều mặt hạn chế,

    Với những biện pháp khắc phục cụ thể nh đã nêu, toàn thể

    giáo viên đã thể hiện đợc phẩm chất, năng lực tốt để làm việc

    và yêu nghề, nâng cao trình độ tay nghề, khả năng s phạm

    23

    để hoàn thành nhiệm vụ phân công, chính đỗi ngũ giáo viên

    đã góp phần quan trọng nhất vào sự phát triển đi lên của nhà

    trờng. Gắn bó với cộng đồng, nhân dân tin yêu, tôn vinh nghề

    nghiệp đây là nền tảng vững chắc để thực hiện công tác xã

    hội hóa giáo dục trong thời gian tới.

    + Cán bộ quản lý phải gơng mẫu, có uy tín cao về chuyên

    môn, giỏi nghiệp vụ s phạm, am hiểu thực tiễn.

    + Học tập nghiên cứu văn bản, chặt chẽ trong lý luận, chính

    xác trong giải quyết công việc chuyên môn do giáo viên đòi hỏi,

    yêu cầu.

    + Nắm bắt, chọn lọc thông tin, xác định công việc trọng

    tâm cần làm để phát huy sức mạnh của tập thể giáo viên.

    + Tổng hợp ý kiến trong tập thể, đợc tập thể thống nhất, sẽ

    quyết định cho mọi sự thành công, phát triển đơn vị.

    + Tin tởng, tôn trọng ở từng giáo viên, giúp họ vơn lên,

    thàng công trong mọi lĩnh vực công tác.

    + Có những giải pháp tình thế cũng nh lâu dài, mục tiêu

    cơ bản, đánh giá đúng thực trạng, khai thác hết những tiềm

    năng hiện có, nhằm khắc phục, phát huy hiệu quả, tạo ra sự

    phát triển liên tục, ổn định, vững chắc.

    Tuy nhiên trong việc xây dựng đội ngũ giáo viên bằng

    những biện pháp trên, vẫn còn có những tồn tại rất khó giải

    quyết. Trình độ đào tạo khác nhau, chơng trình đào tạo ở trờng s phạm cha đồng bộ, nên có vấn đề vẫn đang tranh luận,

    cha thống nhất đợc (nhất là lý luận), sự phân hoá về trình độ,

    kiến thức của giáo viên công tác nhiều năm với lực lợng trẻ đợc

    cập nhật kịp thời những kiến thức, kỹ năng mới.

    D/ Kết luận

    Từ những suy nghĩ cách làm đã thực hiện trong thực tiễn

    xây dựng đội ngũ giáo viên, nâng cao hiệu quả dạy-học của

    nhà trờng, cho thấy vai trò của cán bộ quản lý là hết sức quan

    24

    trọng, mang tính quyết định cho sự phát triển đi lên của tập

    thể s phạm. Đánh giá đúng đắn năng lực s phạm của giáo viên,

    giúp nhà trờng đề ra những biện pháp phù hợp giúp giáo viên ý

    thức nghề nghiệp hàng ngày, hàng giờ thay đổi, họ cùng phấn

    đấu để đợc đánh giá cao hơn, tiến bộ hơn, thành công trong

    nghề nghiệp. Tìm hiểu các yếu tố tâm lý nh nhu cầu, tâm

    trạng, động cơ, sự hứng thú… Ngời quản lý tự hiểu rằng mình

    phải làm gì với tập thể, với từng đối tợng riêng biệt. Cần thiết

    có cách nhìn toàn diện để định ra hớng đi thích hợp, những

    đột phá mạnh mẽ nhng không vợt ra ngoài những quy định

    chung. Sự phát triển đi lên của mỗi giáo viên không thể tách rời

    với quá trình bồi dỡng, rèn luyện và cả vấn đề tác nghiệp từ

    phía các nhà quản lý giáo dục. Tin tởng vào ý thức trách nhiệm,

    chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên sẽ là sự kích cầu cần thiết,

    đúng đắn. Bố trí, phân công, sử dụng đội ngũ một cách hợp

    lý, hài hoà, đúng sở trờng phù hợp năng lực, điều đó rất cần

    cho sự thành công. Khi đội ngũ đã đợc xây dựng, nâng lên

    tầm cao mới, đòi hỏi ngời cán bộ quản lý phải có cung cách làm

    việc khoa học, uy tính chuyên môn cao hơn nữa, lý luận thực

    tiễn, minh chứng chính xác, tạo đợc lòng tin yêu của giáo viên

    với nhà trờng, với nghề nghiệp, với khoa học và chính lơng tâm

    mình.

    + Xây dựng đội ngũ giáo viên tốt về phẩm chất đạo đức,

    giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết sâu rộng các kiến

    thức nghề nghiệp, xã hội là một quá trình khó khăn, đồng thời

    cũng là lĩnh vực nhạy cảm, đòi hỏi ngời quản lý, chỉ đạo phải

    có biện pháp đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo trong từng thời

    điểm. Kiên trì thực hiện không vội vàng nhng cũng không

    buông lỏng, nguyên tắc nhng đầy tính nghệ thuật trong quản

    lý. Chăm chút, nuôi dỡng những nhân tố tích cực, nhân tố mới

    để tập hợp, khơi dậy đội ngũ. Thể hiện nhất quán sự công

    25

    tâm, toàn tâm và quyết tâm, hãy luôn quan niệm rằng. Có

    thầy giỏi thì mới có trò giỏi. Không ai khác hơn đội ngũ chúng

    ta sẽ thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng và nhân dân giao

    phó Dạy tốt-Học tốt với sự nghiệp trăm năm trồng ngời.

    + Đội ngũ giáo viên hiện nay có nhiều điều kiện để tiến

    xa hơn nữa trong tơng lai khi đất nớc tiến hành công nghiệp

    hoá, hiện đại hoá, xây dựng nớc Việt Nam trở thành nớc công

    nghiệp vào năm 2022. Ngoài việc chúng ta đã đang thực hiện,

    cần phải tiến hành mạnh mẽ hơn đào tạo chuẩn, trên chuẩn để

    mỗi giáo viên không những là ngời đứng lớp đơn thuần theo

    chơng trình, sách giáo khoa hiện có, mà còn say mê nghiên

    cứu khoa học, hiến kế cho chuyên môn, quản lý, đào tạo thế

    hệ trẻ phát triển một cách toàn diện, trang bị cơ sở vật chất

    hiện đại để cải tiến nhanh nội dung, phơng pháp dạy học hớng

    tới nâng cao chất lợng.

    Xếp loại sáng kiến kinh

    nghiệm: A

    TM ban thi đua

    Ngời viết

    Phó ban PHT

    Vũ Mạnh Cờng

    Nguyễn Thị Liễu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6
  • Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, môn Tin học ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với học sinh mọi cấp học. Tuy nhiên, việc giảng dạy môn học này hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tin học. Nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy

    Với xu hướng giáo dục 4.0 như hiện nay thì việc nâng cao nhận thức đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, cần có cái nhìn cũng như cách hiểu đúng đắn về đổi mới phương thức dạy học. Theo những chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo : Việc đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc đào tạo hoàn toàn theo phương pháp mới. Đổi mới ở đây được hiểu là vận dụng sáng tạo phương pháp và những kỹ năng giảng dạy truyền thống, kết hợp với phương pháp và phương tiện công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này cần sự thống nhất và hài hòa, phù hợp với đối tượng cũng như nội dung chương trình.

    Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc đổi mới quan niệm dạy học, từ thụ động tiếp nhận sang chủ động nắm bắt kiến thức, từ dạy học bằng thuyết trình sang tự khám phá và chủ động, từ dạy học tập trung vào việc dạy sang dạy học tập trung vào việc học.. Phương pháp này cũng thể hiện sự tôn trọng học sinh cũng như vốn hiểu biết và kinh nghiệm của các em.

    Với phương pháp mới, học sinh có cơ hội để tự phát hiện vấn đề, tự thực hành những thao tác trên máy tính. Từ đó giúp học sinh dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. Đồng thời, nó cũng khiến học sinh mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia thực hành.

    Phát huy tính tích cực của học sinh

    Trong phương thức dạy học mới, học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, có tính tực giác tích cực để chủ động tiếp nhận kiến thức. Về vấn đề này, những chuyên gia giáo dục cho rằng, người học là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng. Điều này giúp học sinh phát huy tính tích cực chứ không phải người bị đông trong tiếp nhận những kiến thức mà thầy giáo truyền đạt.

    Với phương pháp mới này, thầy giáo chỉ giữ vai trò trong viêc điều khiển và định hướng hoạt động học của học sinh. Qua việc định hướng này, giáo viên cũng hình thành động cơ cũng như bồi dưỡng thêm kiến thức mới cho mình.

    Cụ thể, với việc giảng dạy môn Tin học, giáo viên nên đưa ra một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu sẽ đưa ra những câu hỏi dễ để tạo hứng thú học tập. Tiếp đó là hệ thống câu hỏi khó để phát huy tư duy tích cực, để học sinh tham gia ý kiến cũng như chủ động tìm hiểu kiến thức.

    Kết hợp dạy lý tuyết với thực hành

    Theo những tư vấn của chuyên gia giáo dục, việc kết hợp lý thuyết và thực hành là xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục để có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn lao động hiện nay. Đây cũng được xem là phương pháp dạy học Tin học hiệu quả. Thực tế, do học sinh phải học quá nhiều môn, nên Tin học được xem là môn học phụ, lượng kiến thức của chương trình vì thế cũng bị dồn nén. Nếu chỉ học lý thuyết chung chung thì học sinh sẽ không thể nắm bắt và sẽ nhanh quên. Bên cạnh đó thì Tin học cũng là môn học đòi hỏi kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo. Chính vì thế, cần kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành . Đây được xem là yếu tố cần thiết đối với giảng dạy môn Tin học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm, Vần ( Lớp 1 )

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Giáo Dục Trẻ Tại Trường Mầm Non Khai Quang
  • Bản Tham Luận Về Năng Cao Chất Lượng Đại Trà : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Tham Luận Về Việc Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ VĂN TẦN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. CHUYÊN ĐỀ THÁNG 9 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN HỌC ÂM,VẦN ( LỚP 1 ) A/- ĐẶT VẤN ĐỀ:

    1. Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học âm,vần:

    Học vần là môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần quan học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: Chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

    2. Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học Âm,Vần:

    Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, Phòng Giáo dục Tiểu học đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phần môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung, đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của Tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng) đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn vần ngắn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi; các em cũng viết khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa, rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng.

    Kết quả nêu trên có thể nói là tiền đề khá vững chắc để các cấp quản lý và đội ngũ giáo viên từng địa phương trên địa bàn phát huy. Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học, hàng năm vẫn còn nhiều đơn vị có tỷ lệ học sinh yếu khá cao, nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo, việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn, … còn nhiều hạn chế.

    Làm thế nào để khắc phục vấn đề này? Theo đề nghị của một số đơn vị trường học, được sự quan tâm, chỉ đạo của Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Phòng Giáo dục Tiểu học tổ chức chuyên đề: “Nâng cao chất lượng giảng dạy Học Âm ,Vần lớp 1” với mong muốn thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2022 – 2022 và những năm tiếp theo.

    B/- NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC ÂM,VẦN:

    – Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là Phòng GD&ĐT quận 12, Sở GD&ĐT Tp Hồ Chí Minh cụ thể:

    + Phối hợp tổ mạng lưới chuyên môn, thường xuyên tổ chức các hội nghị chuyên đề, các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

    + Thường xuyên tổ chức các phong trào dạy và học (Hội thi giáo viên dạy giỏi, viết chữ đẹp, đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học, …) trong năm giúp đội ngũ giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

    + Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn, …

    – Đa số giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

    – Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng khối 1, hỗ trợ cho khối nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu giảng dạy.

    – Cơ sở vật chất từng phòng lớp, bàn ghế, phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

    – Phụ huynh học sinh đa số đề rất quan tâm đến viêc học tập của con em mình.

    – Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

    – Ở những vùng có điều kiện, đa số trẻ đều qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kỹ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

    -Một số giáo viên còn trẻ,chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy

    – Trong mỗi tiết dạy, giáo viên chưa biết cách phát huy khả năng tự phát hiện của học sinh, chưa phát huy hết tính ưu việt của hoạt động nhóm, đặc biệt là vai trò của nhóm trưởng.

    – Học sinh mới chuyển từ mầm non lên tiểu học nên việc ổn định nề nếp lớp gặp nhiều khó khăn.

    – Học sinh nói chưa trọn câu,chưa đủ ý.Học sinh còn nhỏ chưa mạnh dạn trong giao tiếp.

    -Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình

    C/- MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN HỌC ÂM,VẦN:

    Đổi mới phương pháp dạy học được coi là yếu tố vô cùng quan trọng mà đội ngũ giáo viên dạy lớp 1 phải hết sức quan tâm khi dạy phân môn, cụ thể khi dạy phần này, giáo viên cần chú ý:

    1. Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh là một trong những đặc điểm lớn nhất của phương pháp dạy học nói chung. Đổi mới phương pháp dạy phân môn này là ở chỗ biết kết hợp sử dụng tích cực hóa các hoạt động của học sinh.

    2. Những phương pháp đặc biệt chú ý khi giảng dạy học vần là: Phương pháp dùng lời nói, hỏi – đáp, quan sát, miêu tả, sử dụng đồ dùng trực quan, bộ chữ rời, bảng cái, luyện tập theo mẫu, thực hành giao tiếp, trò chơi,tổ chức lớp học tự quản theo mô hình VNEN.

    3. Khi vận dụng từng phương pháp, phải chú ý nhiều hơn đến cách thức hoạt động của học sinh để tiếp nhận các tri thức Tiếng Việt, cũng như việc hình thành và phát triển các kỹ năng (đọc, viết, nghe, nói).

    4. Việc tổ chức hoạt động có thể dưới nhiều hình thức linh hoạt: cá nhân, từng đôi một, nhóm nhỏ, nhóm lớn, cả lớp, đặc biệt chú ý đến hình thức tổ chức dạy học theo nhóm.

    5. Vận dụng phương pháp dạy học lớp ghép vào việc sửa lỗi phát âm của học sinh ngay trong tiết học.

    6. Xác định các cơ sở quan trọng khi lựa chọn phương pháp, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học một bài học vần:

    – Đối tượng học sinh để có các biện pháp cá thể hóa trong dạy học.

    – Mục tiêu bài dạy theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, nhằm đảm bảo yêu cầu cần đạt đối với mọi đối tượng học sinh.

    – Khả năng của mình giáo viên, để cân nhắc các phương pháp, biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học mà mình sẽ chọn nhằm vận dụng, kết hợp có hiệu quả.

    – Điều kiện về cơ sở vật chất (phòng học, bàn ghế, các phương tiện hỗ trợ, …) để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp.

    7. Gợi ý một số biện pháp tổ chức từng hoạt động trọng tâm của một bài dạy Học âm,vần,tiết 1 như sau:

    *Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ.

    – Giáo viên kiểm tra đọc âm,vần,từ,câu thông qua các trò chơi như:Trò chơi đi chợ,Trò chơi chọn món ăn,Đi tìm kho báu,Chọn ô số.

    – Giáo viên kiểm tra viết âm,vần,tiếng từ đã học ở bài trước(học sinh viết vào bảng con).

    * Hoạt động 2: Bài mới.

    – Giáo viên đưa tranh,khai thác tranh,rút từ khóa,rút âm,vần mới.

    – Giáo viên hướng dẫn học sinh cách phát âm đúng âm,vần

    – Học sinh dùng bộ chữ cài âm,vần,tiếng mới.

    -Giáo viên chỉnh sữa cho học sinh còn gặp khó khăn trong phát âm, tuyên dương những học sinh có tiến bộ.

    * Hoạt động 3: Viết âm,vần mới.

    – Giáo viên cho học sinh quan sát chữ mẫu,giáo viên viết chữ mẫu,hướng dẫn học sinh viết đúng độ cao,độ rộng của chữ vào bảng con.Giáo viên sử dụng đúng thuật ngữ lia bút,dừng bút,rê bút để học sinh nắm.Sau đó nhận xét học sinh viết.

    * Hoạt động 4: Đọc từ ứng dụng.

    – Gắn các thanh chữ mẫu (có thể cho học sinh sử dụng SGK), yêu cầu học sinh đọc thầm, sau đó phát huy những học sinh khá giỏi đọc to những từ này.

    – Tổ chức cho học sinh thi đua phát hiện, phân tích nhanh những tiếng chứa vần mới (Học sinh dùng bút chì gạch chân các tiếng này trong SGK).

    – HDHS luyện đọc trơn (đọc đồng thanh, đọc cá nhân theo nhóm để tất cả học sinh đều được đọc và đọc được) các từ ứng dụng, chú ý chỉnh sửa phát âm cho học sinh.

    – Kết hợp giải nghĩa một số từ khó thông qua tranh, ảnh, mô hình, vật thật.

    * Hoạt động 5: Củng cố.

    – Giáo viên chia lớp thành hai đội rồi tổ chức trò chơi tiếp sức giữa hai đội.Mỗi đội gồm 4-5 học sinh.

    -Thông qua trò chơi,giúp học sinh củng cố lại âm,vần vừa học

    D/- KIẾN NGHỊ – ĐỀ XUẤT:

    – Nhận thức sâu sắc việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay được hiện thực theo hướng lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm.Vì vậy, muốn để tất cả học sinh đều được học và học được, trong giờ dạy giáo viên chỉ giữ vai trò là người điều hành, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động để học sinh đều tích cực, chủ động, sáng tạo, tự lực khám phá chiếm lĩnh tri thức.

    – Có thái độ gần gũi, yêu thương, tôn trọng ý kiến học sinh, nhẹ nhàng trong việc uốn nắng, sửa sai cho các em từ cách đọc, cách viết, cách cầm bút, tư thế ngồi, …

    – Luôn luôn tự học, tự rèn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên dự giờ, thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp.

    – Tận dụng tối đa thiết bị dạy học sẵn có ở trường, tự sưu tầm các vật thật xung quanh, làm thêm đồ dùng dạy học.

    – Tạo mối quan hệ thường xuyên giữa phụ huynh học sinh và nhà trường để nắm chặc được chuyển biến tâm lý và tình hình học tập của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trung Học Ở Hải Phòng
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Giáo Dục Hướng Nghiệp Và Dạy Nghề Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tư Vấn Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trong Trường Thcs
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Nông Thôn Ở Kon Tum
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

    Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

    1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

    2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

    3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

    Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

    Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học!
  • Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lịch Sử
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Vật Lí 7 Ở Vùng Đặc Biệt Khó Khăn.
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Thiết Bị Dạy Học Và Sửa Chữa Đồ Dùng Dạy Học Bộ Môn Vật Lí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Việc Sử Dụng Đồ Dùng, Thiết Bị Môn Vật Lý Ở Trường Thcs
  • CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Minh Thuận, ngày 10 tháng 09 năm 2014

    A. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VNEN:

    Phương pháp dạy và học theo mô hình VNEN: Coi quá trình tự học của học sinh là trung tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. Các em có tiếp thu được kiến thức đầy đủ và hiệu quả hơn cách dạy và học truyền thống của Việt Nam.

    Là hình thức dạy học đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó học sinh được tổ chức thành nhóm một cách thích hợp. Học hợp tác nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác. Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm việc với nhau những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một thời gian nhất định. Đối với cấp Tiểu học, việc rèn cho các em các kỹ năng học hợp tác nhóm là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh.

    Để thực hiện nhiệm vụ của người quản lí hiệu trưởng nhà trường đã tiến hành việc quản lí đơn vị theo kế hoạch và việc lập kế hoạch cụ thể trong triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học của cán bộ quản lí là một yếu tố quan trọng để đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo và quản lý giáo dục. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học và đổi mới phương pháp quản lý giáo dục Trường Tiểu học Minh Thuận 5 được nằm trong dự án của chương trình ” Dạy học theo mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN).

    a. Thuận lợi:

    – Được sự quan tâm của Đảng ủy, chính quyền địa phương và chỉ đạo trực tiếp của Ban quản lí dự án, Phòng GD&ĐT U Minh Thượng. Ban giám hiệu nhà trường. và sự nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, đoàn kết, tích cực, năng động và sáng tạo của đội ngũ giáo viên trong nhà trường.

    – Bước đầu HS đã biết thực hiện các bước học tập theo mô hình VNEN.

    – HS khá giỏi đã biết giúp đỡ HS yếu hoàn thành các bài tập.

    b. Khó khăn:

    – Gia đình các em đa số làm nông, kinh tế một số gia đình khó khăn nên chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em, phải lo cuộc sống mưu sinh còn phó mặc công việc học tập của con em mình cho nhà trường.

    – Các em đọc còn nhỏ, chưa biết ngắt nghỉ hơi, đọc sai dấu và còn phải đánh vần. Khả năng ghi nhớ ở HS lớp 2 thiếu bền vững ( nhất là các bài học thuộc, kể chuyện) nên các em không đảm bảo mục tiêu đề ra. Ở lớp 3 các em mới dừng lại ở mức thuộc câu chuyện chứ chưa thể hiện được cử chỉ, điệu bộ khi kể.

    -Một số câu lệnh và lôgô chưa rõ ràng nên học sinh không hiểu yêu cầu để thực hiện

    -Vốn tiếng việt hạn chế nên viết văn chưa rõ ràng, thiếu chính xác còn lặp lại câu, từ.

    -Đa số học sinh lớp 2 chưa biết điều hành nhóm, chưa biết hợp tác trong học tập, chưa mạnh dạn trình bày ý kiến của bản thân

    -Phần ứng dụng học tập ở nhà học sinh không tự giải quyết được vì không có sự hướng dẫn của phụ huynh

    B. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC LỚP VNEN:

    a. Đối với ban giám hiệu:

    – BGH phải quan tâm, chỉ đạo sát sao chuyên môn khối VNEN.

    – Tăng cường dự giờ, tư vấn, rút kinh nghiệm.

    – Tổ chức các chuyên đề chuyên môn trong khối VNEN rút kinh nghiệm.

    – Lên thời khóa biểu phù hợp, đảm bảo tính sư phạm.

    – Khuyến khích giáo viên linh hoạt, sáng tạo trong dạy học.

    – Mỗi lớp đều phải thành lập “Nhóm bạn học ở nhà và gọi nhau đi học ở trường” để cùng làm bài tập ứng dụng và rủ nhau đi học để duy trì tỷ lệ chuyên cần ” Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”.

    – Mỗi giáo viên phải viết nhật kí giảng dạy những vấn đề bất cập về sách, những khó khăn của học sinh, những giải pháp thực hiện đạt hiệu quả, nhật ký đánh giá học sinh.

    – Chỉ đạo cho GV Tổng phụ trách Đội tìm và tổ chức các hoạt động NGLL, các trò chơi trong sinh hoạt tập thể, các trò chơi trong học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Âm Nhạc Ở Trường Thcs Hòa Hiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Phân Môn Học Hát Tại Trường Thcs
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Hát Cho Học Sinh Khối 6
  • Đổi Mới Đào Tạo Nghề, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực
  • Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Nghề Tại Tỉnh An Giang
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO HUYỆN XUYÊN MỘC

    TRƯỜNG THCS HÒA HIỆP

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

    MÔN “GIÁO DỤC ÂM NHẠC” Ở TRƯỜNG THCS HÒA HIỆP

    Người viết: Dương Hoàng Trung

    Người thực hiện: Dương Hoàng Trung 1

    Năm học : 2010 – 2011

    Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát

    triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo

    theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng,

    muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ

    trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của

    giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu

    niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số

    “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với

    lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống

    của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được

    tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên

    nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ

    biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà,

    truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ

    nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan

    trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng

    đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng

    trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục

    Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi

    Người thực hiện: Dương Hoàng Trung 2

    Sáng Kiến Kinh Nghiệm Âm Nhạc THCS Năm học: 2010 – 2011

    dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi

    còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao

    chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm

    nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN

    của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục

    học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương,

    đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được

    “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học

    sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác

    phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng

    hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp

    với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Gia “bật Mí” Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Qua Kỹ Năng Dạy Nghe Đối Với Học Sinh Trung Học Cơ Sở
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100