Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

    Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

    1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

    2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

    3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

    Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

    Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học!
  • Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần
  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • ho một tiết dạy là hết sức cần thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc, sát với thực tế, hiểu được các kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ? Còn rất nhiều các vấn đề khác nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn, dễ học và gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài. Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học sinh chưa kịp hiểu bài. Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập; bằng những câu hỏi trọng tâm, cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng học sinh; chú ý đến học sinh yếu, cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong nội dung bài học; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó, từ những bài toán rất đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra một lúc được nhiều học sinh; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được. Chẳng hạn khi dạy bài " Luỹ thừa của một số hữu tỉ" giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng cao dần như sau: Thực hiện các phép tính sau: a) 23 b) (- 5)3 c) ( 23 )2 d) e) (1,5)3.8 f) g) h) i) v.v. Các bài tập a, b, c, d dành cho học sinh yếu và kiểm tra một lúc đồng thời 4 học sinh lên bảng. Là các bài tập yêu cầu tối thiểu sau một tiết dạy học sinh phải tự làm được. Định lí 1: Trong một tam giác, góc đối diện với cạnh lớn hơn là góc lớn hơn. Định lí 2: Trong một tam giác cạnh đối diện với góc lớn hơn là cạnh lớn hơn. Để giúp học sinh nắm được định lí, cách vận dụng định lí để giải bài tập, yêu cầu tối thiểu để học sinh đạt được, giáo viên ra một bài tập: Bài tập 1: So sánh các góc của tam giác ABC, biết rằng: AB = 2cm; BC = 4cm; AC = 5cm Bài tập 2: So sánh các cạnh của tam giác ABC, biết rằng: Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí 1 và định lí 2 để giải: Bài tập 1: Áp dụng định lí 1, ta có: Tronghay 2cm < 4cm < 5cm Bài tập 2: Áp dụng định lí 2, ta có: Trong Hay do đó hay 450 < 550 < 800 AC < AB < BC Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy: Trong một tam giác nếu biết độ dài ba cạnh của tam giác thì ta có thể so sánh ba góc của tam giác đó và nếu biết số đo hai góc của một tam giác thì ta có thể so sánh ba cạnh của tam giác đó. Sau khi học sinh nắm được bài tập này, giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như sau: Ba bạn Hạnh, Nguyên, Trang đi đến trường theo ba con đường AD, BD, CD ( hình vẽ sau). Biết rằng ba điểm A, B, C cùng nằm trên một đường thẳng và là góc tù. Hỏi ai đi xa nhất, ai đi gần nhất ? Hãy giải thích ? Để giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh khá giúp học sinh yếu, giáo viên có thể tạo ra các cặp học tập khá yếu. Trong những lúc rãnh rỗi, trong những giờ giải lao, kể cả ở nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá. Khi đã tổ chức làm thì phải có những hình thức tuyên dương điển hình, khuyến khích thi đua với nhau, có kiểm tra việc tiến bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học tập sôi nổi. Trong sách bồi dưỡng môn Toán cấp tiểu học cho giáo viên có viết: "Số học là hạt nhân của chương trình toán". Vì vậy người giáo viên cần dạy học sinh nắm vững chắc về cấu trúc của số học và các phép tính trên tập N, tập Z, tập Q. Do đó chương trình Toán lớp 6 là nền tảng để có cơ sở học các nội dung khác. Trong chương trình có những chỗ căn bản, trọng tâm nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện và ra bài tập thật nhiều để học sinh thực hành để kiến thức mới được khắc sâu và lâu quên. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập chương, cách liệt kê các công thức toán để tóm tắt và chốt lại những điểm trọng tâm vận dụng vào giải bài tập. Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình, chịu khó, tinh thần trách nhiệm của người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Nhưng đó cũng chỉ là một mặt, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt chất lượng cao. Phải có sự kết hợp, vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất là phương pháp dạy học mới hiện nay. Người giáo viên cần chú ý trong từng trường hợp, từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình có điều kiện phát triển khả năng tư duy, chiếm lĩnh kiến thức. 4.Kế hoạch ra bài tập về nhà: Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với nhau giữa lý thuyết và thực hành. Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy. Ở phạm vi SGK sau mỗi bài học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành, luyện tập nhưng đôi khi còn ít, hệ thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng bước nâng dần giải những bài tập khó hơn. Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực hành và nội dung bài tập phong phú hơn. Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết. Vì vậy vấn đề luyện tập thật nhiều để học sinh nhớ lâu, củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết. Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn, lí thuyết không được khắc sâu đậm nét. Chẳng hạn khi dạy cộng, trừ, nhân, chia số hữu tỉ ở học sinh lớp 7, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu kiến thức. Khi dạy học sinh mới giải toán hình, nếu học sinh ít giải bài tập, ngại thực hành thì chắc chắn các em không nhạy bén,vận dụng lý thuyết ít được linh hoạt vào giải bài tập. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến đợt kiểm tra, đợt thi, làm giảm sút chất lượng trầm trọng. Nói chung do đặc điểm của môn Toán là môn học không thể nói suông, nói và làm phải luôn đi song song với nhau. Vì vậy, cần thực hành để rèn luyện kỹ năng, khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy. 5.Kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà: Kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập về nhà là việc rất cần thiết. Nếu chúng ta kiểm tra thường xuyên thì việc học bài cũ và làm bài tập ở nhà của các học sinh sẽ chu đáo hơn. Ngược lại, nếu bị xem nhẹ thì việc chuẩn bị bài tập, học bài cũ sẽ hạn chế và chất lượng học tập giảm rõ rệt. Ở lứa tuổi của các em nhất là đầu cấp học đôi khi nhận thức còn kém, học là để đối phó thầy cô giáo, học là để giáo viên kiểm tra bài mình đã làm, đã thuộc. Chưa có sự hiểu biết phải tự giác học để hiểu, để bản thân mình được tiến bộ. Do vậy kiểm tra bài cũ thường xuyên là biện pháp để học sinh tự giác học bài và làm bài ở nhà trước khi đến lớp. Từ đó tạo nên không khí lớp học nghiêm túc, trật tự, mọi học sinh đều ở tư thế chuẩn bị giáo viên sẽ kiểm tra mình. Thời gian kiểm tra bài cũ ở đầu các tiết học rất có giới hạn, không thể kiểm tra hết được. Vì vậy muốn nắm được việc làm bài tập ở nhà của học sinh một cách toàn diện người giáo viên phải nghĩ ra kế hoạch phân công các tổ trưởng chịu trách nhiệm kiểm tra từng thành viên trong tổ ở đầu buổi học. Đầu tiết học các tổ trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài tập ở nhà của từng tổ viên. Học sinh nào chưa làm bài tập ở nhà sẽ có biện pháp xử phạt thích đáng. Trong trường hợp học sinh không làm bài tập ở nhà mà lên lớp mượn vở bạn chép cũng được báo lại và sẽ xử phạt nặng hơn. Sau khi các tổ trưởng báo cáo lại xong giáo viên mới kiểm tra bài cũ. Nếu kiểm tra có gì không khớp với báo cáo của tổ trưởng thì sẽ có biện pháp xử phạt tổ trưởng vì chưa thực hiện đúng với sự phân công. Có như vậy trong từng tiết học mới sớm phát hiện được những học sinh lười học bài, lười làm bài tập giúp giáo viên sớm có biện pháp xử lý và tìm ra nguyên nhân cụ thể để sớm khắc phục. Với kế hoạch kiểm tra bài tập ở nhà như trên, người giáo viên đã kiểm tra được toàn diện học sinh. Phải làm thường xuyên, liên tục mới thấy được kết quả nâng cao chất lượng rõ rệt tạo thành nếp thi đua học tập sôi nổi ở học sinh. Học sinh hứng thú học tập, giáo viên biết được các học sinh cá biệt của mình. Khi trở thành thói quen, giáo viên làm việc rất nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao. Từ các báo cáo tổng quát đến cụ thể tình hình học tập của học sinh, giáo viên kịp thời nắm bắt được lỗ hổng của học sinh mà kịp thời sửa chữa. Tóm lại, những kế hoạch ở lớp, kế hoạch ra bài tập về nhà đến kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà là những suy nghĩ tìm ra phương pháp làm việc của bản thân trong thời gian qua. Với những kế hoạch đó bản thân tôi đã làm nhiều năm và thấy chất lượng dạy học tăng rõ rệt. Nhưng dù sao thì tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, hăng say trong nghề nghiệp là không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy. Kế hoạch làm việc theo nhóm: Hướng dẫn học sinh học cách thu thập các nguồn tài liệu từ sách báo, từ thư viện, từ mạng hoặc cách đánh số trang tài liệu tìm được. - Đối với học sinh: Tích cực tham gia và làm theo hướng dẫn của giáo viên, chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện hỗ trợ để giúp cho việc học của mình đạt kết quả cao hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó các cá thể trong nhóm có thể hoạt động không đồng đều (giáo viên lưu ý trước các nhóm, người trình bày trước lớp của các nhóm được giáo viên lựa chọn ngẫu nhiên). 7. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh: Mục tiêu chính của kế hoạch này là: ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh. Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập tích cực (tức là tự học tập). Ở kế hoạch này còn nhằm mục đích khắc phục được hai nhược điểm của học sinh là khả năng diễn đạt và khả năng làm việc theo nhóm. Ở kế hoạch này đòi hỏi giáo viên phải là người tiếp thu những phương tiện mới trong dạy học cụ thể là máy vi tính, máy chiếu, giáo án điện tử, biết truy cập Internet tìm kiếm thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy. Giáo viên tăng cường giám sát tính tự học của học sinh thông qua kế hoạch làm việc của các nhóm, cách thức làm việc của các nhóm đã khoa học chưa ? Còn học sinh là người tự giác tích cực trong trong việc học của mình để chiếm lĩnh kiến thức, nâng cao kiến thức cho bản thân. 8. Kế hoạch phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn với gia đình trong quá trình giáo dục đào tạo: Việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác dạy học cũng là điều cấn thiết. Giáo viên bộ môn phải trao đổi với giáo viên chủ nhiệm những học sinh cá biệt, học sinh lười để cùng hợp tác kiểm điểm, nhắc nhở, xử phạt; dùng đủ hình thức từ mềm dẽo đến cứng nhắc sao cho các em sửa chữa tiến bộ dần đà theo cả lớp. Cũng thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mới nắm được tình hình gia đình của những em cá biệt có hoàn cảnh khó khăn, gia đình buông lỏng hay ảnh hưởng của bạn bè xunh quanh để có biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có trách nhiệm trao đổi với giáo viên bộ môn những học sinh cá biệt ở lớp mình, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để giáo viên bộ môn nắm bắt được tình hình trước, có cách xử lý khéo là liều thuốc chữa bệnh có hiệu quả nhất mang lại kết quả nhanh nhất. Còn vấn đề phối hợp giữa gia đình học sinh và nhà trường cũng không thiếu được; cụ thể là giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và gia đình. Giáo viên có trách nhiệm báo về gia đình kịp thời những sai sót, bê tha của học sinh cho gia đình biết. Từ đó gia đình cho biết ý kiến, giáo viên mới dò theo ý đó mà xử lý phù hợp. Những trường hợp vi phạm quá mức có thể báo cáo với chính quyền địa phương để xử lý như: nghiện hút, chích hêrôin Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn diện. Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và gia đình đó là phương pháp đánh bao vây vào một mục tiêu, chỉ có con đường bị tê liệt và hòa vào quỹ đạo. Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: - Khi chưa áp dụng chuyên đề đã nêu trên, học kì I môn Toán ở khối 7 năm học 2006 - 2007 đạt kết quả như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 2,3% 14,2% 28,2% 29,4% 25,9% - Sau khi áp dụng chuyên đề này thì kết quả học kì I môn Toán khối 7 năm học 2007 - 2008 đạt kết quả như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 7,2% 25,3% 39,8% 24,1% 3,6% C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: I. Kết luận: Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn Toán nói riêng, học sinh yếu kém càng ngày càng nở ra, học sinh khá giỏi càng ngay bị co lại. Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân chính, cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu, tìm ra giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng, đảm bảo yêu cầu của cấp trên. Theo tôi nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt. Về phía giáo viên phải có sự nhiệt tình, phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy. Về phía học sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy, trật tự, kỉ cương của lớp học, của nhà trường hay chưa ? Một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể lớp có tổ chức, có kỉ cương, tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó. Nếu một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo kịp cũng buộc đầu quay theo quỹ đạo để trở thành một lớp học có nề nếp, im lặng, trật tự. Giáo viên vào lớp tự nhiên thấy hứng thú, hưng phấn, say mê trong công tác dạy học của mình. Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ, nhiều hơn nữa những gì đã trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay. Làm sao các em đều học được môn Toán, môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em. Các em không ngại giải bài tập, xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy, trí tuệ, tính chịu khó, cần cù, làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng. Tính suy luận logic, chính xác, chặt chẽ là cơ hội để rèn luyện bản thân, rèn luyện nhân cách của con người bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. II. Kiến nghị: Đối với phụ huynh học sinh cần quan tâm hơn nữa về việc học tập của con em mình. Thường xuyên kiểm tra việc học của con em mình thông qua việc học ở nhà và thông qua điểm của các bài kiểm tra. Đối với nhà trường: Tham mưu cho phòng giáo dục tạo điều kiện cho các em có một phòng thư viện để hỗ trợ tài liệu giúp các em trong việc học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học là một việc làm cần thiết và cấp bách đặt biệt hỗ trợ dạy môn hình học. Do cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn, nhà trường có thể tham mưu phòng giáo dục hỗ trợ giúp đỡ nhà trường có một đầu máy chiếu để phục vụ cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh. Tuy nhiên với trình độ tay nghề còn non trẻ, chuyên đề còn nhiều sai sót, khiếm khuyết. Rất mong sự thông cảm và chân thành góp ý của các thành viên trong tổ Tự nhiên, của BGH nhà trường để tôi hoàn thiện chuyên đề này hơn. KonTum, ngày 15 tháng 03 năm 2008 Người viết Trần Lê Ánh Nguyệt D. TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách Phương pháp dạy học môn Toán ( Dành cho GV THCS) - Nhà xuất bản giáo dục. SGK Toán 7 - Của nhà xuất bản giáo dục. Sách giáo viên Toán 7 Tài liệu về ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy bộ môn Toán. MỤC LỤC Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 B. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH 4 II. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 4 III. BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG 5 MÔN TOÁN 7 CHO HỌC SINH 1. Dạy nâng cao chất lượng môn Toán để phát 5 triển tư duy, trí tuệ. Học sinh học tốt môn Toán là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác. 2. Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức 6 nói chung và kiến thức toán học nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình giáo dục đào tạo. 3. Kế hoạch dạy ở lớp. 6 4. Kế hoạch ra bài tập về nhà. 11 5. Kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà. 11 6. Kế hoạch làm việc theo nhóm. 12 7. Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin 13 và truyền thông trong việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh. 8. Kế hoạch phối hợp giữa giáo viên bộ môn 13 với giáo viên chủ nhiệm, giữa giáo viên bộ môn với gia đình trong quá trình giáo dục đào tạo. IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14 C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 14 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A
  • Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Với xu thế phát triển của xã hội hiện nay, môn Tin học ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với học sinh mọi cấp học. Tuy nhiên, việc giảng dạy môn học này hiện nay chưa đạt hiệu quả cao. Vì thế, cần có những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tin học. Nâng cao đổi mới phương pháp giảng dạy

    Với xu hướng giáo dục 4.0 như hiện nay thì việc nâng cao nhận thức đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, cần có cái nhìn cũng như cách hiểu đúng đắn về đổi mới phương thức dạy học. Theo những chuyên gia giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo : Việc đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc đào tạo hoàn toàn theo phương pháp mới. Đổi mới ở đây được hiểu là vận dụng sáng tạo phương pháp và những kỹ năng giảng dạy truyền thống, kết hợp với phương pháp và phương tiện công nghệ hiện đại. Sự kết hợp này cần sự thống nhất và hài hòa, phù hợp với đối tượng cũng như nội dung chương trình.

    Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học là việc đổi mới quan niệm dạy học, từ thụ động tiếp nhận sang chủ động nắm bắt kiến thức, từ dạy học bằng thuyết trình sang tự khám phá và chủ động, từ dạy học tập trung vào việc dạy sang dạy học tập trung vào việc học.. Phương pháp này cũng thể hiện sự tôn trọng học sinh cũng như vốn hiểu biết và kinh nghiệm của các em.

    Với phương pháp mới, học sinh có cơ hội để tự phát hiện vấn đề, tự thực hành những thao tác trên máy tính. Từ đó giúp học sinh dễ nắm bắt và nhớ lâu hơn. Đồng thời, nó cũng khiến học sinh mạnh dạn và tự tin hơn khi tham gia thực hành.

    Phát huy tính tích cực của học sinh

    Trong phương thức dạy học mới, học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học, có tính tực giác tích cực để chủ động tiếp nhận kiến thức. Về vấn đề này, những chuyên gia giáo dục cho rằng, người học là chủ thể chiếm lĩnh kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng. Điều này giúp học sinh phát huy tính tích cực chứ không phải người bị đông trong tiếp nhận những kiến thức mà thầy giáo truyền đạt.

    Với phương pháp mới này, thầy giáo chỉ giữ vai trò trong viêc điều khiển và định hướng hoạt động học của học sinh. Qua việc định hướng này, giáo viên cũng hình thành động cơ cũng như bồi dưỡng thêm kiến thức mới cho mình.

    Cụ thể, với việc giảng dạy môn Tin học, giáo viên nên đưa ra một hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu sẽ đưa ra những câu hỏi dễ để tạo hứng thú học tập. Tiếp đó là hệ thống câu hỏi khó để phát huy tư duy tích cực, để học sinh tham gia ý kiến cũng như chủ động tìm hiểu kiến thức.

    Kết hợp dạy lý tuyết với thực hành

    Theo những tư vấn của chuyên gia giáo dục, việc kết hợp lý thuyết và thực hành là xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục để có thể đáp ứng nhu cầu chất lượng nguồn lao động hiện nay. Đây cũng được xem là phương pháp dạy học Tin học hiệu quả. Thực tế, do học sinh phải học quá nhiều môn, nên Tin học được xem là môn học phụ, lượng kiến thức của chương trình vì thế cũng bị dồn nén. Nếu chỉ học lý thuyết chung chung thì học sinh sẽ không thể nắm bắt và sẽ nhanh quên. Bên cạnh đó thì Tin học cũng là môn học đòi hỏi kỹ năng sử dụng máy tính thành thạo. Chính vì thế, cần kết hợp đào tạo lý thuyết và thực hành . Đây được xem là yếu tố cần thiết đối với giảng dạy môn Tin học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: “Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây.

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN I/ Mở đầu: Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu không thề thiếu được trong công tác dạy học. Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: "Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây. II/ Nội dung: 1/ Hoạt động xây dựng chuyên môn: - Xây dựng ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học tự rèn. - Chú trọng công tác dạy tốt, học tốt , nâng cao chất lượng đại trà. - Sinh hoạt tổ chuyên mônthống nhất chương trình dạy học trong tuần (1 lần/ tuần ). - Soạn kế hoạch bài học phải xác định trọng tâm bài dạy và chuẩn kiến thức cần truyền đạt. - Luôn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với các dạng bài. - Chuẩn bị đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy. - Tìm thêm các ví dụ, câu hỏi, nhiều cách giải hay gợi sự chú ý học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức nhanh hơn. 2/ Hoạt động trên lớp: a. Khi đứng lớp: - Tình bày bảng nên sử dụng phấn màu, ghi đủ nội dung kiến thức cần truyền đạt, dùng phấn gạch dưới kiến thức trọng tâm, đóng khung kiến thức công thức cần nhớ. - Quan sát theo dõi sự tiếp thu bài học của các em. - Tùy theo kiến thức cần truyền đạt, trình độ của học sinh mà vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Luôn tạo sự thoải mái khi các em học toán với nhiều trò chơi học tập như: Thi đua giải toán nhanh, sắp xếp nhanh các hình theo yêu cầu,tổ chức thi đua nhóm đôi, thi đua nhóm 4 học sinh, thi đua theo tổ. b. Giờ dạy lý thuyết: - Chú trọng hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cần bài học. - Biết vận dụng lý thuyết vừa học vào một số các bài tập đơn giản. - Hướng dẫn học sinh học thuộc lý thuyết. c. Giờ dạy luyện tập: - Giúp học sinh vận dụng thành thạo lý thuyết vào bài học một cách hợp lí. -Qua việc giải bài tập đó học sinh rút ra được kinh nghiệm về phương pháp giải toán. d. Nếu là tiết kiểm tra: - Đề kiẻm tra vừa sức với trình độ học sinh, có câu phát triển dành cho học sinh khá giỏi. - Chấm, trả bài, chữa bài kịp thời. - Đánh giá chính xác chất lượng học tập của học sinh. - Quan tâm dến các học sinh làm bài quá kém ( Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học kém ) 3/ Hoạt động dạy ngoại khóa: a. Dạy học sinh năng khiếu: - Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu để xác định tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi. - Khuyến khích học sinh mượn sách ở thư viện tham khảo, học hỏi nhiều cách giải toán hay.. b. Dạy phụ đạo học sinh yếu: - Tách học sinh yếu ngồi học chung một nhóm ngay từ đầu ( Phân loại học sinh ). - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu. - Vận động học sinh yếu phụ đạo vào các ngày thứ 7, hoặc dạy học sinh yếu chéo buổi. - Nên có thời gian kèm sát các học sinh học yếu. 4/ Hoạt động ngoại khóa: - Luôn dự giờ, thao giảng, dự chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Thường xuyên sưu tầm thêm các tư liệu, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác dạy học. IV/ Kết quả: Năm học Học kì 1 Học kì 2 2006-2007 2007-2008 2008-2009 V/ Bài học kinh nghiệm: - Soạn kế hoạch bài học theo hướng đổi mới. - Áp dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tách học sinh yếu kém ngay từ đầu để phân các em thành một nhóm. - Cuối tuần có bài kiểm tra nhằm theo dõi trình độ học sinh. - Thường xuyên quan sát theo dõi học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường
  • Lào Cai: Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hướng Tới Phát Triển Bền Vững Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5
  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    1) Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2009- 2010 với quyết tâm thực hiện yêu cầu đổi mới nội dung phương

    pháp dạy và học của thầy và trò. Đảm bảo hướng dẫn và tích cực hoá hoạt động dạy và

    học, tạo sự chuyển biến thực sự về việc truyền đạt kiến thức và kĩ năng của chương

    trình học. Bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn

    Toán và làm cho các em yêu thích môn học này. Đó là lý do để tôi chọn đề tài khoa học

    này.

    B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH:

    Trong những năm gần đây, tình hình học sinh học yếu môn Toán chiếm tỉ lệ khá

    cao. Các em cảm thấy chán nản khi học môn học này bởi nhiều lý do khác nhau. Đây

    là vấn đề mà hầu như các giáo viên giảng dạy bộ môn Toán đều quan tâm và trăn trở

    làm thế nào để chất lượng môn Toán được nâng lên và làm thế nào để các em yêu

    thích môn học này.

    Chúng ta đã biết môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, để học tốt bộ môn này

    đòi hỏi các em không những chăm học mà cần phải biết tư duy sáng tạo. Do xã là

    một vùng có nền kinh tế tương đối khó khăn, cha mẹ các em chủ yếu làm nghề nông

    nên chưa có sự quan tâm, giúp đỡ các em trong việc học. Bên cạnh đó các em ngoài

    việc học trên lớp thì về nhà các em phải phụ giúp gia đình trong công việc nhà như

    làm mộc, khảmø . . . vốn thời gian học của các em đã ít nay càng ít hơn. Nhưng khi

    các em đầu tư cho việc học của mình thì nguồn tài liệu giúp các em trong công việc

    học tập cũng còn nhiều hạn hẹp. Thầy cô, bạn bè ở xa nên có những vấn đề khó khăn

    trong việc học, những vấn đề các em chưa hiểu, chưa rõ các em lại càng không biết

    hỏi ai. Vốn đã học yếu nay lại càng học yếu hơn. Thực tế năm học chất lượng môn

    Toán ở khối 7 cụ thể như sau:

    II. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN:

    1. Tồn tại:

    – Học sinh đến lớp ít thuộc bài cũ và làm bài tập về nhà.

    – Trong giờ học trên lớp học sinh còn thụ động, ít tham gia các hoạt động lĩnh hội

    kiến thức.

    – Chất lượng môn Toán 7 của học sinh ở những năm học trước chưa cao, dẫn đến các

    môn học khác cũng có chất lượng thấp.

    – Đạo đức của học sinh ngày càng đi xuống, đặc biệt là trong thời gian gần đây. Vì

    vậy rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức nói chung và kiến thức toán học

    nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình giáo dục đào

    tạo.

    Giải một bài toán, tiếp thu một kiến thức mới tức là học sinh đã trải qua các thao tác

    tư duy: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa. Do đó trong quá trình học toán

    học sinh luôn luôn phải suy nghĩ để hành động tìm ra giải pháp nhằm giải quyết những

    vấn đề chiếm lĩnh kiến thức mới. Quá trình đó đã rèn luyện khả năng phát triển tư duy

    trí tuệ ở học sinh. Phải nói môn Toán là môn học đòi hỏi học sinh phải hoạt động, chịu

    khó suy nghĩ nhiều. Từ đó góp phần phát triển tư duy rất mạnh so với các môn học

    khác.

    Phần nhiều học sinh học tốt môn Toán thì học tốt các môn học khác. Bởi lẽ các em

    đã có những khả năng tư duy toán học thì cũng có thể đủ khả năng để hiểu các vấn đề

    khác. Qua môn Toán đã rèn lại cho các em những đức tính: Chịu khó, cẩn thận, tỉ mỉ,

    thận trọng, chính xác, suy luận chặt chẽ … có phương pháp làm việc khoa học, sắp xếp

    thứ tự hợp lý trước sau để giải quyết vấn đề. Đó là đặc trưng nổi bật của môn Toán

    trong nhà trường phổ thông.

    2. Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức nói chung và kiến thức toán

    học nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình

    giáo dục đào tạo :

    Việc rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh trong nhà trường cũng là một mặt quan

    trọng trong công tác giáo dục đào tạo, nó đi song đôi với việc dạy kiến thức cho học

    sinh. Hai mặt này có tác động qua lại, quan hệ với nhau trong quá trình học tập.

    Một học sinh có hạnh kiểm tốt tức là biết vâng lời thầy cô giáo, chăm chỉ học tập,

    biết học hỏi giúp đỡ bạn bè … Đó cũng là một trong những yếu tố cần thiết để giúp

    học sinh học tập tốt. Trái lại, một học sinh ít chịu nghe lời thầy cô giáo, không chăm chỉ

    trong học tập, không học hỏi ở bạn bè, trong lớp thường gây ồn ào mất trật tự sẽ ảnh

    hưởng xấu đến quá trình học tập tiến bộ của các em. Vì vậy hạnh kiểm cũng là một

    trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy quá trình học tập cho học sinh. Đó cũng

    2

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    là một tác động mạnh mẽ để học sinh học tập tiến bộ, nắm kiến thức vững chắc. Đặc

    biệt, môn Toán cần có sự cố gắng liên tục từ đầu đến cuối để có nền tảng vững vàng học

    tập tốt các lớp sau này.

    Một học sinh đã học tốt những môn học nói chung và môn toán nói riêng, tức là học

    sinh đó đã nắm được các kiến thức tương đối chắc từ đó gây cho học sinh hứng thú

    trong học tập. Từ đó học sinh có thể tự nhận thức, nhận biết đượcviệc học là cần thiết,

    đôi khi trở thành nhu cầu tìm tòi, học hỏi. Đó cũng là một yếu tố tích cực để rèn luyện

    cho học sinh có hạnh kiểm tốt: Siêng năng, chăm chỉ, chịu khó và nghe lời thầy cô giáo.

    Từ các ý trên ta thấy việc dạy cho học sinh nắm vững chắc kiến thức toán học cũng

    là một trong những điều kiện quan trọng để rèn luyện hạnh kiểm học sinh trong nhà

    trường. Làm sao trong quá trình dạy học chúng ta không để cho học sinh có chiều

    hướng bị tụt hậu về kiến thức vì như vậy thường kéo theo tụt hậu về hạnh kiểm. Chúng

    ta, với tinh thần trách nhiệm của mình cố gắng giúp học sinh có chiều hướng phát triển

    liên tục, vững chắc. Từng bước trong quá trình dạy học cũng là đã rèn luyện hạnh kiểm

    đi song song trong quá trình học tập của từng đối tượng học sinh. Có như vậy mới đảm

    bảo tính giáo dục toàn diện trong nhà trường, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS hình

    thành nhân cách các em vào giai đoạn ban đầu.

    3.Kế hoạch dạy ở lớp:

    Vấn đề dạy một tiết Toán đạt tốt, học sinh nắm vững kiến thức của một tiết học thì

    việc đầu tư vào một giáo án là không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Do đặc

    điểm của môn Toán là một môn học rất gần gũi với thực tế đời sống nên người giáo

    viên phải linh hoạt, sáng tạo trong từng tiết dạy của mình để làm nổi rõ sự kết hợp, gắn

    bó của Toán học với cuộc sống hàng ngày. Ngôn ngữ phải dễ hiểu để học sinh dễ nhìn

    nhận, chiếm lĩnh tri thức mới. Với phương pháp dạy học mới hiện nay, chúng ta cần

    thiết kế một hệ thống câu hỏi logic, gợi mở từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng để học

    sinh tự tìm kiếm ra kiến thức mới. Từ đó kiến thức mới sẽ được học sinh khắc sâu , nhớ

    lâu và sẽ gây hứng thú trong học tập.

    Dạy môn toán cần dạy cho học sinh nắm chắc các khái niệm, các qui ước, các ký

    hiệu, các tính chất … Nó là mấu chốt để học sinh khỏi mơ hồ, lẫn lộn giữa cái này

    với cái khác, có suy nghĩ lệch lạc, quan niệm tách rời xa với thực tế đời sống. Chẳng

    hạn, dạy về chu vi một hình, học sinh phải biết chu vi một hình là gì ? Tại sao hình

    vuông lại lấy (cạnh x 4) còn chu vi hình chữ nhật lại tính (dài + rộng )x2… Các vấn đề

    đó rất gần gũi với đời sống, nếu chúng ta không để ý tới thì đôi khi học sinh chỉ thực

    hành một cách máy móc, rập khuôn các công thức do vậy mau quên, kiến thức Toán

    học không được sâu sắc.

    Khi dạy Toán cần có đồ dùng dạy học trực quan, nếu có điều kiện cần phát huy mặt

    này. Chẳng hạn khi dạy bài ” Tính chất ba đường trung tuyến của tam giác ” từng học

    sinh phải có thước thẳng để học sinh nắm chắc cách đo, kích thước của mỗi đơn vị độ

    dài, một tam giác bằng giấy, mảnh giấy kẻ ô vuông; giáo viên cũng cần chuẩn bị các

    dụng cụ như: Thước thẳng, tam giác, giấy kẻ ô vuông… Khi dạy tiết thực hành ngoài

    trời xác định khoảng cách giữa hai địa điểm A và B trong đó có một địa điểm nhìn thấy

    nhưng không đến được, giáo viên phải chuẩn bị giác kế để học sinh biết giác kế là gì ?

    Đặt giác kế tại điểm A vạch theo đường xy vuông góc với AB tại A, ta phải đặt giác kế

    ra sao, dùng thước dây xác định E là trung điểm của AD trên mặt đất như thế nào ?…

    3

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    Để tạo tình huống gây trí tò mò cho học sinh khi dạy chứng minh định lí ” Tổng các

    góc trong một tam giác bằng 180

    0

    “, giáo viên phải chuẩn bị thước đo góc và bảng phụ

    có vẽ sẵn các tam giác có nhiều hình dạng khác nhau. Vào đầu tiết học giáo viên cho lần

    lượt một số học sinh lên đo các góc của tam giác. Gợi ý cho các em phát hiện một điều

    thú vị là ” Tổng các góc trong một tam giác bằng 180

    0

    “. Lúc này đặt vấn đề cần thiết

    chứng minh điều thú vị đó.

    Vì vậy đầu tư vào việc chuẩn bị đồ dùng trực quan cho một tiết dạy là hết sức cần

    thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc, sát với thực tế, hiểu được các

    kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ?… Còn rất nhiều các vấn đề khác

    nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn, dễ học và gây hứng thú cho

    học sinh trong học tập.

    Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt

    kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài. Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học

    sinh chưa kịp hiểu bài. Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập; bằng

    những câu hỏi trọng tâm, cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng

    học sinh; chú ý đến học sinh yếu, cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong

    nội dung bài học; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó, từ những bài

    toán rất đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra

    một lúc được nhiều học sinh; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được.

    Chẳng

    hạn khi dạy bài ” Luỹ thừa của một số hữu tỉ” giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng

    cao dần như sau:

    Thực hiện các phép tính sau:

    a) 2

    3

    b) (- 5)

    3

    µ µ

    0 0

    80 ; 45A B

    = =

    Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí 1 và định lí 2 để giải:

    Bài tập 1:

    Áp dụng định lí 1, ta có:

    Trong

    :ABC AB BC AC

    ∆ < <

    hay 2cm < 4cm < 5cm

    AC < AB < BC

    Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy: Trong một tam giác

    nếu biết độ dài ba cạnh của tam giác thì ta có thể so sánh ba góc của tam giác đó và nếu

    biết số đo hai góc của một tam giác thì ta có thể so sánh ba cạnh của tam giác đó.

    Sau khi học sinh nắm được bài tập này, giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như

    sau:

    Ba bạn Hạnh, Nguyên, Trang đi đến trường theo ba con đường AD, BD, CD

    ( hình vẽ sau). Biết rằng ba điểm A, B, C cùng nằm trên một đường thẳng và

    ·

    ACD

    là góc tù. Hỏi ai đi xa nhất, ai đi gần nhất ? Hãy giải thích ?5

    C

    B

    A

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    Để giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh khá giúp học sinh yếu, giáo viên có thể tạo

    ra các cặp học tập khá yếu. Trong những lúc rãnh rỗi, trong những giờ giải lao, kể cả ở

    nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá. Khi đã tổ chức làm thì phải có những

    hình thức tuyên dương điển hình, khuyến khích thi đua với nhau, có kiểm tra việc tiến

    bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học

    tập sôi nổi.

    Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình, chịu khó, tinh thần trách nhiệm của

    người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho

    học sinh. Nhưng đó cũng chỉ là một mặt, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt

    chất lượng cao. Phải có sự kết hợp, vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất

    là phương pháp dạy học mới hiện nay. Người giáo viên cần chú ý trong từng trường

    hợp, từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình có điều kiện phát triển khả

    năng tư duy, chiếm lĩnh kiến thức.

    4.Kế hoạch ra bài tập về nhà:

    Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với

    nhau giữa lý thuyết và thực hành. Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết, khắc sâu

    kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy. Ở phạm vi SGK sau mỗi bài

    học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành, luyện tập nhưng đôi khi còn ít, hệ

    thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng

    bước nâng dần giải những bài tập khó hơn. Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có

    thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực

    hành và nội dung bài tập phong phú hơn.

    Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết. Vì vậy vấn đề luyện tập thật

    nhiều để học sinh nhớ lâu, củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết.

    Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn, lí thuyết không

    được khắc sâu đậm nét. Chẳng hạn khi dạy cộng, trừ, nhân, chia số hữu tỉ ở học sinh

    lớp 7, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu kiến

    thức. Khi dạy học sinh mới giải toán hình, nếu học sinh ít giải bài tập, ngại thực hành

    8

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    báo về gia đình kịp thời những sai sót, … của học sinh cho gia đình biết. Từ đó gia

    đình cho biết ý kiến, giáo viên mới dò theo ý đó mà xử lý phù hợp

    Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn

    diện. Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ

    nhiệm và gia đình đó là phương pháp đánh bao vây vào một mục tiêu, chỉ có con đường

    bị tê liệt và hòa vào quỹ đạo. Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên

    cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho

    các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích.

    IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

    – Sau khi áp dụng chuyên đề này thì kết quả học kì I môn Toán khối 7 năm học

    2009 – 2010 đạt kết quả như sau:

    Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém

    C. KẾT LUẬN

    Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn Toán

    nói riêng, học sinh yếu kém càng ngày càng nở ra, học sinh khá giỏi càng ngay bị co lại.

    Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân

    chính, cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu, tìm ra

    giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng, đảm bảo yêu cầu của cấp trên.

    Theo tôi nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào

    đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt. Về phía giáo viên phải

    có sự nhiệt tình, phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy. Về phía học

    sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy, trật tự, kỉ cương của lớp học, của nhà trường hay

    chưa ? Một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể

    lớp có tổ chức, có kỉ cương, tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó. Nếu

    một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo kịp cũng buộc đầu quay theo quỹ đạo

    để trở thành một lớp học có nề nếp, im lặng, trật tự. Giáo viên vào lớp tự nhiên thấy

    hứng thú, hưng phấn, say mê trong công tác dạy học của mình.

    Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ, nhiều hơn nữa những gì đã

    trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay. Làm sao các em đều học được

    môn Toán, môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em. Các em không

    ngại giải bài tập, xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy,

    trí tuệ, tính chịu khó, cần cù, làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng. Tính suy

    luận logic, chính xác, chặt chẽ là cơ hội để rèn luyện bản thân, rèn luyện nhân cách của

    con người bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. 9

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 710

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Những Xu Hướng Phát Triển Của Nhà Thông Minh Ở Việt Nam
  • 7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng
  • Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học
  • Theo cô Kim, giáo viên làm tốt 7 biện pháp trọng tâm sau nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh.

    Thứ nhất, chú trọng việc rà soát, phân tích kết quả học tập, tăng cường hỗ trợ học sinh yếu kém.

    Theo cô Kim, sau mỗi giai đoạn kiểm tra đánh giá, giáo viên cần phân tích thật đầy đủ kết quả đạt được của học sinh. Cần so sánh kết quả của học sinh trong cùng lớp, học sinh giữa các lớp với nhau.

    Từ đó, phân nhóm học sinh để có những giải pháp bồi dưỡng hợp lý. Giáo viên phải giúp học sinh xóa bỏ cảm giác lo lắng tự ti khi học ngoại ngữ bằng cách không ngừng tìm ra các giải pháp để làm cho môn học hấp dẫn lý thú.

    “Việc tổ chức phụ đạo, giao bài tập cho học sinh cần đảm bảo tính vừa sức, tránh giao việc quá tải, quá khó sẽ tạo ra cảm giác chán nản tự ti. Cần khen thưởng động viên kịp thời các cố gắng dù rất nhỏ của học sinh” – cô Kim trao đổi.

    Cũng theo cô Kim, bên cạnh củng cố về kiến thức, giáo viên phải tăng cường thiết kế các hoạt động thiết thực tạo điều kiện cho học sinh nghe và nói tiếng Anh. Thông qua các hoạt động trên, học sinh có cơ hội sử dụng những kiến thức của mình trong giao tiếp và các em sẽ phát hiện ra hứng thú khi có thể sử dụng những kiến thức mình có được trong giao tiếp thực tế bằng tiếng Anh.

    Thứ hai, xây dựng đội ngũ học sinh nòng cốt làm nền tảng giúp đỡ và tuyên truyền tinh thần học tập cho học sinh toàn trường.

    Cụ thể, giáo viên cần vận động thành lập và bồi dưỡng các em học sinh có năng khiếu về ngoại ngữ. Việc làm trên cần thực hiện theo hai mục tiêu: một là, đào tạo các em học sinh gỏi để tham gia các cuộc thi cấp tỉnh và quốc gia. Hai là, mạnh dạn đăng ký thực hiện lớp tiếng Anh thí điểm để có một nhóm học sinh nòng cốt.

    Qua đó nhằm giúp các em thể hiện được thế mạnh của mình và đã tạo được niềm tin về lợi ích của việc học ngoại ngữ cho tất cả các em học sinh khác.

    Đồng thời giúp các em thể hiện sự tự tin khi phát biểu, có khả năng giao tiếp cơ bản bằng tiếng Anh, hình thành các kỹ năng khác như: Thiết kế và sử dụng power point, thuyết trình trước đám đông, dần dần hình thành cho các em niềm tin rằng, học sinh vùng sâu cũng có thể nói tiếng Anh giỏi.

    Thứ ba, xây dựng, chọn lọc nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy.

    Về vấn đề, cô Kim cho biết: Tài liệu dành cho môn tiếng Anh rất phong phú, đa dạng. Chính vì thế, ngoài sách giáo khoa, giáo viên cần tích cực tìm và chọn lọc các tư liệu từ nhiều nguồn như: Tìm qua mạng các tài liệu hay của các trường trên cả nước; thu thập có hệ thống từ các hội thảo tập huấn chuyên môn.

    Tổ chuyên môn cần biên tập đề cương, xác định những yêu cầu trọng tâm của chương trình sao cho đảm bảo yêu cầu chương trình nhưng phù hợp với năng lực học sinh tại đơn vị.

    Ngoài ra, giáo viên cũng đưa công nghệ thông tin vào việc giảng dạy nhiều hơn, ngoài việc thực hiện các tiết dạy trên lớp, giáo viên thành lập địa chỉ mail chung để phân công bài tập hoặc nhận bài làm của các em.

    Giáo viên giới thiệu các chương trình hoặc trang web để các em nghiên cứu thêm và tự học. Nếu việc tổ chức các hoạt động của giáo viên hợp lý, khoa học và có kiểm tra, học sinh sẽ tham gia một cách nhiệt tình. Cũng thông qua các hoạt động tự học này, giáo viên sẽ phát hiện ra những em có khả năng tốt và giúp các em phát huy khả năng của mình.

    Thứ tư, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh trong và ngoài đơn vị.

    Tổ chức tốt việc dự giờ, đánh giá tiết dạy, phân tích đầy đủ ưu điểm và hạn chế các tiết thao giảng. Tại các cuộc họp chuyên môn, giáo viên tập trung bàn các giải pháp cải tiến nâng cao hiệu quả giảng dạy theo từng bài, từng tiết.

    Thứ năm, tổ chức nhiều hoạt động ngoại khoa, giúp học sinh có cơ hội sử dụng tiếng Anh trong môi trường tập thể.

    Theo cô Kim, hoạt động ngoại khóa giúp các em vượt qua cảm giác ngại nói tiếng Anh. Hoạt động này được tổ chức, tư vấn bởi giáo viên và sự động viên cổ vũ của bạn bè. Thông qua hoạt động ngoại khóa, các em thấy tự tin hơn và cảm nhận rằng mình hoàn toàn có thể nói tiếng Anh.

    “Hoạt động ngoại khóa cũng giúp giáo viên tìm ra được học sinh có năng khiếu bộ môn để rèn luyện và bồi dưỡng tuyển chọn cho các kỳ thi học sinh giỏi, hùng biện, Olympic… Từ đó hạt nhân cho bộ môn và những học sinh này có thể giúp đỡ và hỗ trợ rèn luyện cho các học sinh khác để giúp nhà trường gây dựng phong trào thực hành tiếng Anh” – cô Kim trao đổi.

    Thứ sáu, thường xuyên tổ chức các kỳ thi nghe nói để các em có động cơ rèn luyện và học tiếng Anh.

    Qua thực tiễn 3 năm tổ chức kỳ thi nghe nói tiếng Anh đã giúp nhiều học sinh vượt qua cảm giác tự ti trong giao tiếp bằng tiếng Ánh. Do thiếu môi trường thực hành giao tiếp bằng ngoại ngữ nên đa số học sinh không áp dụng được kiến thức đã học và không có cơ hội rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh.

    Sau mỗi lần tham dự cuộc thi này, nhiều học sinh đã tiến bộ hẳn vì cảm thấy mình hoàn toàn có thể nói được tiếng Anh, thậm chí các em có thể đáp ứng được giao tiếp thông thường bằng tiếng Anh.

    Thứ bảy, giáo viên cần tìm ra cách dạy tiếng Anh dễ nhớ, thiết kế các hoạt động bổ ích và sinh động nhằm giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên và nhẹ nhàng.

    Việc tìm ra những quy tắc giúp học sinh dễ ghi nhớ bài học, ghi nhớ từ vựng sẽ giúp các em bớt nhọc nhằn trong việc học tiếng Anh. Những câu vè, những hình ảnh liên hệ, sự tương đồng về âm thanh trong tiếng Việt và tiếng Anh sẽ giúp học sinh hứng thú tìm hiểu và tích cực ghi nhớ. Các em sẽ không cảm thấy học tiếng Anh là việc hết sức khó khăn và vất vả.

    Theo kinh nghiệm của cô Kim, giáo viên có thể sử dụng 10 phút đầu giờ để giúp học sinh thực hành nói tiếng Anh thay vì kiểm tra bài cũ bằng những công thức khô khan và khó nhớ.

    Học sinh sẽ trả lời cho đến khi các em không tìm ra từ vựng để trả lời cho câu hỏi đó. Thông qua mỗi câu hỏi, tất cả học sinh trong lớp sẽ được nhiều từ vựng từ bạn bè.

    “Tiếng Anh là môn đòi hỏi khả năng thiết kế hoạt động và điều khiển tiết dạy của người thầy. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới kiểm tra đánh giá cũng góp phần rất lớn trong việc động viên tinh thần học ngoại ngữ của các em. Giáo viên giảm đi sự khô cứng trong tiết dạy và thay vào bằng các hoạt động giúp các em hứng thú, tự tin hơn. Thay vì các em phải trả bài những từ vựng riêng rẽ, những công thức khô cứng thì các em có thể thể hiện một bài hát tiếng Anh, cùng các bạn diễn một vở kịch ngắn, nói một đoạn hội thoại trước cả lớp, không khí lớp học vui tươi và cá em rất sẵn sàng thể hiện niềm yêu thích của mình”. Cô Trương Mi Kim – Tổ trưởng tổ Ngoại ngữ Trường THPT Tháp Mười.

    Câu trả lời hay sẽ được thưởng. Nếu áp dụng tốt cho nhiều tiết học, giáo viên sẽ rèn luyện dần cho học sinh nói tiếng Anh chứ không tiết speaking. Cách làm này sẽ giúp học sinh yêu thích môn tiếng Anh và góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?
  • Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 Bằng Dụng Cụ Trực Quan
  • A. Phân loại học sinh

    Xã Đạo Đức là một xã nằm phía đông nam của huyện Bình Xuyên, tiếp giáp với thành phố Phúc Yên. Xã gồm 3 thôn chính: thôn Mộ Đạo, thôn Bảo Đức, thôn Yên Lỗ. Nghề nghiệp chủ yếu là làm nông và công nhân ở các khu công nghiệp. Kinh tế ổn định, đời sống đảm bảo an ninh trật tự, trình độ dân trí không đồng đều. Trong những năm gần đây, Đảng và chính quyền địa phương đã quan tâm chú ý đến đường lối phát triển kinh tế đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục vì vậy đời sống văn hoá, xã hội có những bước chuyển biến rõ nét. Vì vậy, 100% học sinh khi vào lớp 1 đã qua lớp mầm non, tuy nhiên trình độ tiếp thu rất khác nhau bên cạnh đó còn có một số học sinh có biểu hiện của tăng động, chậm phát triển gây khó khăn rất nhiều cho giáo viên trong quá trình giảng dạy và tìm phương pháp giảng dạy phù hợp cho lớp. Vào đầu mỗi năm học khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện

    theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập (dựa vào vở Bài tập Toán) có phân loại kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

    B. Biện pháp cụ thể

    Trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu phụ huynh phải mua đầy đủ đồ dung học tập, sách giáo khoa để phục vụ cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ đồ dung toán, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh chuẩn bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm các bài tập ở tiết toán + (buổi chiều) bài tập do giáo viên biên soạn. Việc làm này sẽ giúp củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết, kỹ năng tính toán cho học sinh.

    Đối với mỗi dạng toán khác nhau, ngoài tham khảo sách thiết kế dành cho giáo viên, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của các thầy cô đi trước, tôi lựa chọn cho mình những phương pháp riêng phù hợp với trình độ học sinh lớp mình. Cụ thể như sau:

    Ngay từ những bài đầu tiên của chương trình toán lớp 1, các em sẽ làm quen với các hình đơn giản: hình tròn, hình vuông, hình tam giác. Đối với bài học này giáo viên cần phải cho học sinh nhận dạng, nắm được tên các hình và đặc điểm cơ bản để nhận dạng hình, vẽ được hình đó.

    Ví dụ: Khi dạy bài hình vuông, hình tròn, sau khi cho học sinh nhận dạng được hình, tôi yêu cầu học sinh lấy trong Bộ đồ dùng môn toán các hình vuông, hình tròn rồi yêu cầu học sinh tìm các đồ vật xung quanh em có hình vuông, hình tròn dưới dạng trò chơi tạo hứng thú ban đầu cho các em khi học môn toán. Sau đó cho học sinh vẽ ra bảng con hình vuông, hình tròn để các em khắc sâu hơn về hình đã học.

    2. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

    Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối với học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Tuy nhiên đối với những học sinh trung bình, yếu, kém các em gặp khó khăn rất nhiều trong quá trình xác định nhóm đồ vật có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ vật có số lượng ít hơn.Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

    Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

    Ví dụ: Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh nam, nhóm hai có 3 học sinh nữ.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối tượng trung bình trở xuống trả lời câu hỏi: Nhóm nào nhiều bạn hơn? Nhóm nào ít bạn hơn? Tuy nhiên vẫn sẽ có những học sinh không trả lời được nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn. Đối với trường hợp này, tôi sẽ cho 2 nhóm bạn nam và nữ bắt tay nhau, mỗi học sinh nam sẽ bắt tay với 1 học sinh nữ, các em sẽ thấy thừa ra 1 học sinh nam từ đó thấy được nhóm học sinh nam nhiều hơn nhóm học sinh nữ.

    – Tôi tiếp tục thay đổi số học sinh của hai nhóm và nêu các câu hỏi tương tự để nhiều học sinh yếu kém có cơ hội trả lời câu hỏi nhằm phát hiện kiến thức. Ngoài ra, tôi sẽ làm nhiều phiếu bài tập có dạng bài tương tự để các em nắm vững về nhiều hơn, ít hơn. Quan trọng nhất sau mỗi 1 bài tập tôi thường cho các em trả lời cá nhân sau đó cho các em nhắc lại đồng thanh cả lớp để khắc sâu kiến thức.

    3. Dạy về số, các chữ số.

    Đối với dạng các số từ 0 đến 10, chúng ta phải hướng dẫn thật kĩ để cho học sinh biết đọc, viết các số, vì đây là tiền đề để các em năm được về vấn đề số học trong toàn bộ chương trình toán học ở tiểu học. Có những học sinh đã được cha, mẹ cho làm quen trước ở nhà nên việc nhớ cách viết, đọc các số rất đơn giản với các em. Tuy nhiên có một số ít trường hợp khó khăn trong việc nhớ cách viết, đọc các số này. Như đã nói ở trên, trong lớp tôi có một học sinh trong 3 tháng đầu tiên của năm học, em không thể nhớ nổi các số từ 0 đến 10( không thể đếm 0 đến 10, không nhớ cách viết số, không nêu được số lượng tương ứng trong các bức tranh, trong trường hợp cụ thể.

    Với những học sinh này, thầy cô giáo đặc biệt phải rất kiên trì và nhẫn nại với học sinh cũng như phải thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh để có biện pháp kịp thời.

    Ở dạng toán nhận biết cách đọc, viết các số có 1 chữ số này, tôi thường cho học sinh nhận biết bằng đồ dung trực quan (que tính).

    – Ví dụ: Các số 1, 2, 3, 4, 5

    + Có mấy ngôi nhà? (có 4 ngôi nhà).

    + Giáo viên nêu: Có 4 ngôi nhà.

    + Giáo viên ghi bảng: 4 và đọc: Bốn

    + Giáo viên hướng dẫn học sinh viết bảng con số 4. Sau đó cho học sinh chỉ tay vào bảng con của mình đọc nối tiếp: Bốn.

    + Giáo viên cho học sinh thực hành lấy 4 que tính và nêu: Có 4 que tính.

    Ngoài ra, để củng cố cho các em về số tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi ” Chim bay về tổ” để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời giúp các em khắc sâu hơn về các số. Trò chơi như sau: Tôi gọi 1 nhóm học sinh tham gia chơi trò chơi, khi giáo viên hô: Chim bay về tổ, học sinh đáp: Về mấy về mấy? Giáo viên nêu số bất kì: 2, 3, 4…. Học sinh sẽ tự tạo nhóm tương ứng với số mà giáo viên đã nêu.

    Giáo viên cần cho học sinh nắm chắc thứ tự các số trong dãy số để khi làm các bài tập về điền dấu dễ dàng hơn. (có thể cho học đếm xuôi, đếm ngược hoặc cho học sinh điểm số tờ 1 đến 10 để tạo hứng thú học tập cho học sinh).

    b) Các số từ 11 đến 100

    Ở dạng toán này học sinh thường bị nhầm ở cách đọc số. Ví dụ: 22 các em thường đọc là: hai hai (đọc đúng là: hai mươi hai).

    Để học sinh nắm chắc cách đọc các số, thì khi dạy nhận biết số tôi hướng dẫn học sinh nắm chắc một số gồm mấy chục và mấy đơn vị. Khi học sinh nắm chắc được về chục và đơn vị học sinh sẽ biết cách đọc số. Ví dụ: đọc số: 67

    + 67 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (67 gồm 6 chục và 7 đơn vị).

    + Đọc: sáu mươi bảy.

    Hoặc đối với học sinh trung bình, yếu tôi buộc phải cho học sinh nhớ máy móc bằng cách them chữ “mươi”. Ví dụ: Các em thường đọc: 67 là: sáu bảy. Khi cho them chữ “mươi” vào giữa 2 số sẽ là: sau mươi bảy.

    a) Hướng dẫn học sinh so sánh các số trong phạm vi 10:

    Đây là hai dấu bé, lớn chỉ sự quan hệ giữa các số mà học sinh rất dễ nhầm lẫn, không chỉ học sinh yếu, kém nhầm lẫn mà ngay cả học sinh khá, giỏi cũng có thể sai khi tính toán vội vàng. Để hạn chế điều này, tôi giúp học sinh phân biệt bằng cách co cánh tay của mình khi hướng dẫn các em điền dấu.

    -Với dấu bé hơn (<):

    – Để các em có thể liên hệ với dạng toán nhiều hơn ít hơn, tôi sẽ gắn các số với 1 nhóm đồ vật nhất định ví dụ: 2 quả táo và 4 quả táo.

    – Sau đó nêu câu hỏi: 2 quả táo như thế nào so với 4 quả táo?

    – Học sinh trả lời: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo.

    – Giáo viên nhắc lại: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo hay ta còn nói: 2 < 4

    – Giáo viên ghi dấu bé hơn vào chỗ chấm (2 < 4) và cho học sinh nhận xét: Dấu bé hơn, mũi nhọn quay về bên trái giống như tay trái đang co lại chống vào hông, hay mũi nhọn quay vào số bé hơn.

    – Cho học sinh lên bảng thực hành chống tay trái vào hông trước lớp cho các bạn cùng nhận xét xem có đúng như kết luận đã nêu không (học sinh đứng quay mặt vào bảng). Tiếp tục, tôi tiến hành tương tự với một vài ví dụ khác như: 1…5; 4…7;

    Tương tự ví dụ trên, giáo viên cũng nêu câu hỏi và rút ra nhận xét: Dấu lớn hơn giống như tay phải co lại chống vào hông. Sau đó, cho học sinh thực hành, nêu nhận xét.

    – Giáo viên chọn khoảng 8 học sinh trở lên, tùy theo thực tế học sinh và không gian lớp học, xếp các học sinh này thành một hàng ngang trên bục giảng theo hai nhóm, mỗi nhóm có số lượng học sinh không bằng nhau.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp nhận xét, tuyên dương sau mỗi học sinh.

    – Giáo viên liên tục thay đổi số lượng học sinh trong mỗi nhóm trên bảng để học sinh có thể so sánh được nhiều giá trị giữa 2 số và cũng là để nhiều học sinh cùng được tham gia vào trò chơi.

    b) Hướng dẫn học sinh so sánh các số có hai chữ số:

    Để hướng dẫn học sinh dễ dàng so sánh các số có hai chữ số, tôi cho học sinh tách các số thành từng hàng rồi cho học sinh so sánh các số trong cùng hàng; từ đó rút ra kết luận so sánh giá trị của hai số.

    – Tôi hướng dẫn từng bước cho học sinh nhận xét:

    + 55 và 59 giống nhau ở hàng nào? (giống ở hàng chục là 5).

    + 5 đơn vị như thế nào so với 9 đơn vị? (5 đơn vị bé hơn 9 đơn vị).

    + 55 như thế nào so với 59? (55 bé hơn 59).

    – Gợi ý học sinh rút ra kết luận: 55 và 59 có 5 chục bằng nhau, 5 bé hơn 9 nên 55 bé hơn 59.

    – Gọi học sinh lên bảng điền dấu vào chỗ chấm: 55 <59.

    – Tiến hành cho học sinh so sánh ngược lại: 59…55 tương tự như trên.

    Từ phương pháp và kết quả so sánh trên, giáo viên gợi ý học sinh rút ra kết luận chung: các số có hai chữ số có số chục bằng nhau, số nào có số đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn, số nào có số đơn vị lớn hơn thì số đó lớn hơn.

    Đối với trường hợp các số khác nhau cả hàng chục và hàng đơn vị tôi tiến hành tương tự như trên để rút ra kết luận: các số có hai chữ số, số nào có hàng chục lớn hơn thì số đó lớn hơn.

      3…4

      Dạng bài này học sinh dễ dàng điền được dấu luôn tuy nhiên vẫn có số ít học sinh điền nhầm vì vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát tranh có số lượng đồ vật tương ứng với các số sau đó hỏi tranh nào có số lượng nhiều hơn từ đó học sinh nhận ra được dấu mình phải điền.

      Ở dạng này giáo viên cần cho học sinh nắm chắc kiến thức để làm bài tập các dạng b, c dễ dàng hơn.

      – Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý:

      + Bài này có mấy phần? Gồm những phần nào? (Bài có hai phần, phần đứng trước dấu chấm và phần đứng sau dấu chấm).

      + Em có thể tính phần nào trước? (Tính 3 + 4 trước).

      + 3 + 4 bằng mấy? (3 + 4 = 7).

      + Em dùng bút chì ghi số 6 nhỏ xuống phía dưới phép tính 3 + 4.

      + 9 như thế nào so với 7? (9 lớn hơn 7).

    Ví dụ 3: Bài tập số 2; sách giáo khoa Toán lớp 1 trang 143.

    Bài 2: Khoanh tròn vào số lớn nhất:

    a) 72; 68; 80. b) 91; 87; 69.

    c) 97; 94; 92. d) 45; 40; 48.

    Các bài tập này rất khó đối với học sinh trung bình trở xuống, do đó tôi phải hướng dẫn kỹ từng mục của mỗi bài.

    – Mục a, b: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng chục để tìm được số lớn nhất (bé nhất).

    – Mục c, d: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng đơn vị để tìm số lớn nhất (bé nhất).

    Cuối bài so sánh các số có hai chữ số, tôi tổ chức trò chơi để củng cố như sau:

    – Làm các bông hoa có mang số ở nhụy hoa, ví dụ: 34; 61; 14; 67. Mặt sau bông hoa gắn keo dính 2 mặt.

    – Tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi thành hai đội dưới dạng thi ai nhanh hơn, số lượng học sinh của mỗi đội tương ứng với số hoa mà giáo viên đã làm cho mỗi đội.

    – Giáo viên phát lệnh, học sinh hai đội lần lượt đứng theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại (tùy theo yêu cầu của giáo viên, theo mục tiêu của từng bài học và thực tế học sinh ở mỗi lớp). Đội nào đứng nhanh hơn và đúng là thắng cuộc.

    6. Dạy các bài dạng “Tìm thành phần chưa biết của phép cộng, phép trừ”:

    Ví dụ: …+ 5= 7 …- 6 = 2.

    5 +… = 10 7 -…= 4.

    Đối với các lớp trên, dạng toán này có qui tắc cụ thể. Ở lớp Một, các em tự nhẩm rồi điền vào chỗ chấm. Vì vậy, muốn làm đúng dạng toán này, các em phải thuộc kỹ các phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Do đó, khi dạy phép cộng và trừ từ 2 đến 10, tôi chú ý rèn cho học sinh kỹ năng thuộc và nhớ kỹ tất cả các phép tính. Đối với những học sinh yếu, kém, tôi sử dụng các hình thức dạy học trực quan, gợi mở, dạy học theo nhóm ở lớp, nhóm ở nhà và thường xuyên kiểm tra để các em có thể thuộc và nhớ được các phép tính theo yêu cầu đã nêu.

    7. Dạng điền số vào ô trống:

    Để tất cả học sinh có thể làm được và làm đúng dạng toán này, tôi phát huy tối đa ưu thế của phương pháp gợi mở, phân tích – tổng hợp. Cụ thể như sau:

    + Bài toán này có mấy phần? Đó là những phần nào? (Bài toán có hai phần, phần đứng trước dấu bằng và phần đứng sau dấu bằng).

    + Chúng ta có thể tính được phần nào trước? (Tính phần đứng trước dấu bằng).

    + Phần đứng trước dấu bằng có kết quả bằng mấy? (3 + 7 = 10).

    + Phần đứng sau dấu bằng đã có 6, vậy chúng ta cộng thêm mấy nữa để bằng 10? (Cộng thêm 4).

    + Vậy 3 + 7 = 6 + mấy? (3 + 7 = 6 + 4).

    Trong các tiết Toán tự soạn sau đó, tôi sẽ đưa thêm một số bài tập tự soạn ở dạng này vào bài để các em được luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng và củng cố, khắc sâu kiến thức.

    8. Dạy toán có lời văn:

    Khi học dạng toán này, rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc đặt câu lời giải, thậm chí ngay cả một số học sinh khá cũng lúng túng trong việc này. Các em thường đặt sai câu lời giải hoặc chép lại nguyên văn câu hỏi trong bài toán. Để khắc phục những khó khăn trên cho học sinh, tôi phải sử dụng những qui ước theo kiểu “luật bất thành văn”. Ngay từ những bài toán đầu tiên ở dạng này, tôi qui ước đối với học sinh những nội dung sau:

    – Viết câu trả lời chính là việc trả lời câu hỏi của bài toán.

    – Khi trả lời, không lặp lại từ “hỏi”.

    – Khi trả lời, thay các từ “mấy?”, “bao nhiêu?” trong các bài toán thành các từ “số”, thêm từ là vào cuối câu trả lời.

    Đối với học sinh khá, giỏi, tôi không yêu cầu các em làm theo qui ước mà để các em trả lời tự do theo ý hiểu của mình.

    Ví dụ: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

    – Lời giải là câu trả lời của câu hỏi “Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?”.

    – Khi bỏ từ “hỏi” và thay từ “mấy” bằng từ số sẽ được câu trả lời: “Nhà An có còn lại số con gà là”.

    Trong một số tiết Toán + (buổi chiều), tôi đưa ra một số bài toán tự soạn như đã nêu ở phần đầu với yêu cầu chủ yếu đối với học sinh là luyện tập kỹ năng đặt câu lời giải.

    Ngoài ra các em còn nhầm lẫn trong khi viết phép tính (nhầm phép cộng thành phép trừ, ngược lại). Để hướng dẫn học sinh viết đúng phép tính tôi thường hướng dẫn như sau:

    Ví dụ: Bài 1 trang 148

    Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?

    + Cho học sinh đọc đề bài nhiều lần.

    + Bài toán cho biết gì? (Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con chim bay đi).

    + Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?)

    + Muốn biết còn lại bao nhiêu con chim ta làm phép tính gì?( Ta làm phép tính trừ).

    + Nêu phép tính?( 8-2=6)

    + Nêu câu trả lời cho bài toán?( Trên cây còn lại số con chim là:)

    Với cách làm này, theo ghi nhận thực tế của tôi, 100% học sinh đã đặt được và đúng câu lời giải cho các bài giải toán có lời văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa
  • Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận
  • Hiện Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Đất Ở Thành Phố Hcm
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Giáo Dục Thể Chất Báo Cáo Seminar Khoa Học: “các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Giáo Dục Thể Chất”
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên Thông Qua Hoạt Động Dự Giờ Thăm Lớp Của Cán Bộ Quản Lý Ở Trường Thcs Văn Nho
  • Tiểu Luận Cuối Khóa Cán Bộ Quản Lý Thcs”biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Thcs Tân Công Sính”
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Trong Giờ Dạy Lịch Sử
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Của Đội Ngũ Giáo Viên Ở Trường Tiểu Học Bình An
  • Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cáo Sơ Kết Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Chỉ Thị Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ , Đề án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Cho Vay, Nâng Cao Chât Lượng Quản Lý Cấp Phòng, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Chỉ Thị Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bao Cao Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hjoat Chi Bo, Báo Cáo Sơ Kết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Báo Cao Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Phương Pháp Quản Trị Chất Lượng, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Chỉ Thị Mới Nhất Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Hướng Dẫn 12 Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Doi Moi Va Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Thon, Hướng Dẫn Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoạt Chi Doan, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Phương Pháp 5s Trong Quản Lý Chất Lượng, Biên Bản Xác Định Tỷ Lệ Chất Lượng Còn Lại, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Nông Thôn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Mua ô Tô Dành Cho Khách Hàng Cá Nhân, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ,

    Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Nâng Cao Chất Lượng Giảng Chính Trị Viên Quân Dôi, Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Giai Phap Nang Cao Chat Luong Cong Tac Tu Tuong O Chi Bo, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Thuc Trang Va Giai Phap Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phát Triển Đảng Viên, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, Nghiên Cứu Thực Trạng Cấp Cứu, Đề Xuất Các Giải Pháp Cũng Cố Nâng Cao Chất Lượng Cấp Cứu Tại Khoa Cấ, Giải Pháp Xay Dung Chi Bộ Trong Schj Vung Manh, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Mẫu Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy, Phiếu Đánh Giá Chất Lượng Giảng Viên, Phiếu Khảo Sát Chất Lượng Giảng Dạy Của Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Chất Lượng Tuyên Truyền Miệng Của Đội Ngũ Báo Cáo Viên ở Hà Giang Hi8eenj Nay, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tóm Tắt Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1
  • Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả
  • Giải Pháp Marketing Hiệu Quả
  • Biện Pháp Marketing Hiệu Quả
  • 10 Cách Marketing Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Với Chi Phí Thấp
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Âm Nhạc Ở Trường Thcs Mot So Bien Phap Nang Cao Chat Luong Giang Day Mon Am Nhac O Truong Thcs Doc
  • “một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    – Hiện nay nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế. Song song với nó là kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ của văn hóa, trong đó lĩnh vực âm nhạc nói riêng:

    – Thứ nhất vấn đề âm nhạc, tôi thấy âm nhạc hiện nay rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ về: số lượng tác phẩm âm nhạc, ca sĩ, băng đĩa, nhạc sĩ trẻ; về phong cách biẻu diễn…tất cả đều mang đậm “ý thích thời thượng của giới trẻ hiện đại”. Nó ra đời như một cơn sóng, nó cuốn theo lớp thanh thiếu niên và có cả các em thiếu nhi. Trong đó, dẫn đến sự xuất hiện của một số “ca sĩ nhí” hát những ca khúc của “giới trẻ thời thượng” không phù hợp với lứa tuổi và tâm hồn trẻ thơ.

    – Thứ hai, âm nhạc là một phần thiết yếu không thể thiếu với cuộc sống của mỗi người chúng ta. Và làm thế nào để con người Việt Nam có được tâm hồn “thật Việt Nam”. Điều đó phải được dung dưỡng khi còn nằm trên nôi đến khi trưởng thành. Nhưng thực tế hiện nay đa số các bà mẹ trẻ chỉ biết hát nhạc trẻ chứ không biết hát ru, bằng những giai điệu mượt mà, truyền cảm với tình yêu quê hương truyền thống của dân tộc từ lâu đời sẽ dễ nuôi dạy trẻ thơ hơn.

    – Chính những điều cảnh báo trên đặt cho giáo dục một trọng trách quan trọng, mà hiện nay giáo dục được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu hàng đầu trong con đường phát triển đất nước, trong đó giáo dục THCS giữ trọng trách của cấp học thứ 3: Mẫu giáo, Tiểu học và THCS. Vì thế, môn Giáo dục Âm nhạc trong THCS giữ vị trí đặc biệt quan trọng – là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn học sinh ở nấc thang cuối cùng của cuộc đời học sinh khi còn ngồi ở ghế nhà trường.

    Chính những lý do trên mà tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn Âm nhạc ở trường THCS Hòa Hiệp”.

    II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    – Căn cứ vào cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc giảng dạy bộ môn âm nhạc có đầu tư vào chất lượng giàng dạy trong nhà trường phổ thông.

    – Đề ra một số biện pháp về áp dụng tình cảm khi thể hiện bài hát, bài TĐN của bộ môn âm nhạc.

    III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

    – Đối tượng học sinh lớp 6, 7, 8

    – Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của học sinh trên lớp.

    – Dự giờ các bạn đồng nghiệp ở một số trường phổ thông khác.

    – Đối chiếu với các tiết học chưa có đầu tư về chuyên môn.

    IV. CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

    – Giáo dục âm nhạc ở trường THCS là thông qua âm nhạc để giáo dục học sinh về đạo đức, thẩm mĩ, tâm hồn học sinh trong sáng, yêu quê hương, đất nước, con người, thiên nhiên, phát triển trí tuệ và thể chất; để có được “tâm hồn Việt Nam” của con người Việt Nam. Giáo viên là người dạy học sinh hát, hiểu nội dung tác phẩm âm nhạc, cảm nhận được giai điệu của tác phẩm, vận động phù hợp với nội dung của tác phẩm, học sinh hiểu đúng hoặc sai được phản ánh trong tác phẩm và tỏ thái độ đúng hoặc sai phù hợp với cuộc sống.

    – Với những yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có kiến thức, kĩ năng Giáo dục âm nhạc vững vàng, có tâm hồn, đạo đức trong sáng, lành mạnh, gương mẫu hay nói cách khác hơn là phải có “tâm hồn Việt Nam”.

    – Giờ học âm nhạc ở THCS là phải thoải mái, sôi động, thu hút học sinh chú ý hào hứng thích hát, thích vận động, thích nghe hát và thích chơi trò chơi âm nhạc. Điều đó đòi hỏi giáo viên THCS phải có nhiều thủ thuật hấp dẫn lôi cuốn chú ý của học sinh, sử dụng đồ dùng một cách hợp lý, đúng cách, phòng nhạc sạch sẽ, đầy đủ trang thiết bị dạy học như: Đàn Ghitar, Organ, Máy Casset,… thoáng mát, xung quanh yên tĩnh, giọng nói ấm áp, trầm bổng thu hút học sinh, kĩ năng hát và vận động phù hợp với nội dung bài hát và đúng với nội dung – phương pháp của chương trình GD – ĐT của Bộ giáo dục.

    – Âm nhạc còn là một bộ phận không thể thiếu trong các môn học khác đặc biệt là các môn học khô cứng như thể dục, toán, tạo hình, môi trường xung quanh…Nó giúp cho các môn học này thêm hấp dẫn, sinh động và kiến thức được truyền thụ cho học sinh một cách nhẹ nhàng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Dạy Môn Âm Nhạc Tại Trường Thcs Trần Bình Trọng, Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Thời Kỳ Mới
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Trường Thcs
  • Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non
  • Thật khó tin khi mà trong thời đại hội nhập toàn cầu, vẫn còn những học sinh coi môn tiếng Anh là “môn phụ” và học theo kiểu uể oải, đối phó. Chỉ đến khi lên đến đại học, ra làm việc, họ mới biết nhìn ra vấn đề, nhưng nhiều khi đã muộn.

    Đã đến lúc cần gióng lên một hồi chuông cảnh báo về chất lượng dạy và học môn tiếng Anh trong trường phổ thông .Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy ở bậc phổ thông, từ THCS đến THPT, một số nơi đã đưa vào chương trình bậc Tiểu học. Môn Ngoại ngữ là một môn thi tốt nghiệp bắt buộc hàng năm. Một số trường đại học sau khi tuyển sinh đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Ngoại ngữ, nếu học sinh nào không đạt yêu cầu sẽ không được tiếp nhận vào học. Tuy nhiên, một thực tế là chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ trong trường phổ thông trong t æ nh noùi chung vaø ôû tröôøng THPT Nguyeãn Thoâng noùi rieâng coøn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập.

    V aäy ñaâu laø nguyeân nhaân cuûa thöïc traïng treân ?

    – CT-SGK môn TA được xây dựng theo quan điểm giao tiếp với các định hướng cơ bản là hình thành kĩ năng giao tiếp là mục tiêu cuối cùng quá trình dạy học và thể hiện tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong rèn luyện và vận dụng kĩ năng giao tiếp bằng TA.

    – Nội dung chủ điểm gần gủi với cuộc sống, hoạt động thường ngàycủa HS, giúp cho HS có sự hiểu biết tương đối khái quát về đất nước, con người và nến văn hoá của một số nước sử dụng TA.

    – Tuy nhiên, nội dung CT mới, lượng kiến thức nhiều, dàn trãi và nặng đối với đối tượng HS trung bình yếu, và HS vùng nông thôn nhö tröôøng chuùng ta . Nội dung kiến thức trong 1 tiết ( 45 phút ) tương đối nhiều, GV thường phải chạy đua với thời gian để hoàn thành các phần trong tiết dạy và do đó không có thời gian để rèn luyện, củng cố và khắc sâu kiến thức cho HS; Thậm chí có tiết GV phại chạy theo CT, tạo áp lực cho HS, không gây được hứng thú học tập bộ môn cho HS.

    – Bài tập rèn luyện trong SGK phần nhiều được thiết kế theo hình thức tự luận ( TL ) nhưng phần lớn kiểm tra 1 tiết và học kỳ theo hình thức trắc nghiệm khách quan; Điều này thể hiện sự không đồng bộ và bất cập trong giảng dạy và kiểm tra.

    – Một số nội dung chủ điểm còn xa lạ đối với HS vùng nông thôn ( các bài nói về nội dung chiến lược kinh tế trừu tượng trong SGK lớp 12-Economic Reforms sa mạc( Unit 9 – 12 các môn thể thao dưới nước – unit 12- 12 các tổ chức quốc tế, . . . . ) , ñoâi khi đó còn là vấn đề mới mẽ đối với GV, tạo ra một thử thách lớn đối với GV khi thực hiện CT-SGK mới.

    * Đa số giáo viên còn trẻ , tận tâm với nghề , với học sinh .

    * Có 100% giáo viên đạt chuẩn đào tạo và có 2 GV trên chuẩn .

    * Đoàn kết nội bộ cao , nhất trí cao trong mọi công tác .

    * Vận dụng và kết hợp đổi mới PPGD bộ môn , nhiệt tình trao đổi chuyên môn cùng đồng nghiệp để tìm phương hướng giảng dạy coù hiệu quả .

    * Đa số GV nhiệt tình trong giảng dạy , song do chương trình mới nên còn gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong soạn giảng . Chưa truyền thụ hết kiến thức cho học sinh do chưa có kinh nghiệm dạy SGK mới

    * 100 % Gv trong tổ là nữ , hầu hết đều có con nhỏ nên bận bịu với công việc gia đình , không có đủ thời gian học hỏi từ đồng nghiệp trong và ngoài trường dù có thiện chí.

    *Dạy ngôn ngữ nhưng GV Anh văn chuùng toâi gần như bị tách rời giao tiếp, môi trường văn hóa tiếng Anh, chỉ loay hoay với công việc do áp lực thành tích, chỉ tiêu thi đua.

    * Theo thạc sĩ Phạm Tấn, Phó Trưởng khoa Anh văn Trường Đại học Sư phạm chúng tôi trong giảng dạy tiếng Anh cần đảm bảo nguyên tắc 4 L: Học – Sống – Yêu – Cười (Learn – Live – Love – Laugh) thì việc học tiếng Anh mới đạt hiệu quả. Để làm được điều này, GV phải gia công rất nhiều cho bài học nhưng trước những áp lực với GV hiện nay, nguyên tắc 4 L bao giờ mới được áp dụng?.

    * Một số GV chưa đầu tư thoả đáng cho chuyên môn , chưa thật sự chịu khó tự rèn , chưa tạo được sự say mê học tập bộ môn cho học sinh cũng như chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh . Chưa chú trọng phân hoá đối tượng .

    * Một số Gv còn quá dễ dãi trong việc quản lý , nhắc nhở kiểm tra học sinh , tạo cơ hội chểnh mảng trong học tập cho các em .

    * Tổ trưởng chưa có kinh nghiệm quản lý CM , xử lý vấn đề đôi khi chưa khoa học . Chưa có kinh nghiệm trong công tác ôn thi TN .

    * Trường nằm ở vùng ven thành phố Vl , học sinh đa phần xuất thân từ tầng lớp nông dân , chưa có môi trường và cơ hội thực hành tiếng , chưa vận dụng được nội dung đã học vào thực tế cuộc sông .

    * Chất lượng đầu vào hàng năm của trường thường quá thấp .

    * Nội dung đề kiểm tra một tiết và học kỳ THCS thừờng quá dễ , học sinh đầu cấp chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm tra ở đầu năm học khi chuyển từ THCS sang THPT , từ đó tạo ra sự bất mãn , chán và sợ học tiêng Anh , thụ động học tập để đối phó với GV qua những lần KT .

    + Cấu trúc đề KT THCS ( KT 45 phút và thi học kỳ 60 phút , cấu trúc đề , số lượng câu hỏi như nhau .)

    * Chưa thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh trong phát triển nghề nghiệp sau này .

    * Đa phần mất kiến thức căn bản từ cấp dưới , ý thức học tập chưa cao , thiếu động cơ , mục đích học tập, chưa tự giaùc học tập , còn trông chờ vào gv và lệ thuộc vào sách học tốt quá nhiều .

    * Học sinh ban KHXH & NV không có , đa số học sinh chọn các môn Toán , lý hoá để thi ĐH nên còn xem nhẹ môn tiếng Anh , chủ trương học sao cho không bị điểm quá thấp khi thi TN là đủ .

    * Kỹ năng làm bài kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan còn yếu . Kỹ năng phân tích đề và nhận dạng cấu trúc chưa cao . Thái độ làm bài kiểm tra chưa nghiem túc , thể hiện qua việc chọn ngẫu nhiên , không đọc kỹ đề để lựa chọn phương án đúng .

    II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2009- 2010

    1. Giáo dục học sinh nhận thức vị trí và tầm quan trong của việc học tập bộ môn tiếng Anh trên lớp và trong tương lai.

    2. Giáo dục học sinh về ý thức và thái độ học tập bộ môn đúng đắn, nhất là thái độ làm bài thi nghiêm túc và cố gắng hết mình để đạt kết quả khả quan hơn. Thường xuyên rèn luyện kỹ năng làm bài trắc nghiệm,kỹ năng phân tích đề thông qua các bài kiểm tra.

    3. Phân hoá đối tượng học sinh để tổ chức nâng kém hiệu quả hơn, thường xuyên kiểm tra bài các học sinh yếu và lười bằng những biện pháp hữu hiệu, tạo hứng thứ học tập bằng những hình thức khen thưởng, khích lệ các em học chăm hơn. Động viên các em yếu, kém học chăm chỉ và tích cực hơn trong các hoạt động trên lớp.

    4 .Cho các dạng bài tập trắc nghiệm vừa sức học sinh, rèn luyện các dạng bài tập cơ bản lặp đi lặp lại để khắc sâu kiến thức và đảm bảo cho học sinh đạt điểm 5 trở lên. Tranh thủ quỹ thời gian ở nhà của các em giao bài tập về nhà cho các em tự luyện tập thêm.

    5. Tăng cường củng cố kiến thức cho học sinh yếu kém, trao đổi cùng đồng nghiệp những nội dung cô đñong , dễ hiểu và tìm ra PP giúp các em khắc sâu bài học hơn.

    6. Khuyến khích và tổ chức nhóm học tập trên lớp và ở nhà. Rèn luyện nề nếp tự học và tự đánh giá mức độ tiếp thu bài học của mình. Xây dựng môi trường học tập bộ môn tự nhiên và không gây áp lực cho các em.

    7. Kết hợp cả hai chương trình chuẩn và nâng cao để rút ra kiến thức chuẩn truyền đạt cho học sinh ngay từ lớp 10. Giáo viên giảng dạy lớp 12 cần cung cấp và rền luyện cho học sinh kiến thức toàn cấp học để có thể đáp ứng đề kiểm tra trên lớp và học kỳ.

    9. Giáo viên luôn tự rèn luyện, học hỏi thêm về chuyên môn, đầu tư nhiều trong soạn giảng, vận dụng PPDH hiệu quả, tạo sự hứng thú học tập và tích cực hoạt động của học sinh. Học hỏi kinh nghiệm từ các trường có chất lượng cao để từng bước đưa chất lượng của trường đi lên. Giao lưu trao đổi tài liệu, sách tham khảo về bộ môn giữa các trường.

    1. Duy trì việc thông bài nhóm , chú ý đến những tiết khó trong CT .
    2. Tiếp tục thao giảng , dự giờ , chân tình góp ý , rút kinh nghiệm lẫn nhau để cùng nhau nâng cao chất lượng BM .
    3. Hướng dẫn một số GV trong tổ sử dung Internet có hiệu quả để truy cập thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy .Giới thiệu những trang WEB học tiếng Anh trực tuyến các kỹ năng , giúp Gv trao dồi trình độ chuyên môn , và có thể tải các bài tập có chất lương phục vụ cho tiết dạy trên lớp – Thực hiện trong những lần họp nhóm CM .
    4. Tổ chức ngoại khoá nâng cao chất lượng cho học sinh 10, 11 vào tuần thứ 2 tháng 12( chuẩn bị kiến thức , rèn kỹ năng làm bài trắc nhghiệm – kế hoạch đính kèm ) – Nhóm trưởng phụ trách
    5. Tổ chức ngoại khóa nâng cao chất lượng cho học sinh khối 12 trong tuần thứ 3 của tháng 2 , và tuần thứ 2 trong tháng 5 . ?( hệ thống hoá chuẩn kiến thức thi TN , rèn kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm ) TT và các GV 12 .
    6. Tổ chức CLB Tiếng Anh , sinh hoạt lần 1 trong tháng 12 – sau khi thi HKI – và 2 lần trong học kỳ II .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100