Căn Cứ Áp Dụng Biện Pháp Ngăn Chặn Thay Thế Tạm Giam Theo Qui Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021

--- Bài mới hơn ---

  • Trong Pháp Luật, “bảo Lãnh” Khác “bảo Lĩnh” Ra Sao?
  • Bảo Lĩnh Là Gì? Quy Định Của Pháp Luật Về Bảo Lĩnh
  • Hình Thức Quản Lý Nhà Nước Theo Pháp Luật Hành Chính
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Quản Lý Ngoại Thương Năm 2021 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Áp Thuế Tự Vệ, Doanh Nghiệp Thép Bất Hòa Với Nhau
  • Biện pháp ngăn chặn được áp để kịp thời ngăn chặn tội phạm, hoặc có căn cứ cho rằng người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, hoặc để đảm bảo thi hành án, được qui định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2021 (BLTTHS).

    Trong bài viết này tôi chỉ đề cấp đến các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam – bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm; đối tượng áp, thời điểm áp dụng  và những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và biện pháp ngăn chặn đặt tiền để bảo đảm được qui định tại Điều 121, Điều 122 BLTTHS.

    1.Đối tượng áp dụng và thời điểm áp dụng.

    Điều 121và Điều 122 BLTTHS qui định các biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm là các biện pháp ngăn chặn thay thể tạm giam.

    Như vậy có thể thấy rằng, do các biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm là để thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam nên đối tượng được áp dụng là nhưng người đã bị khởi tố về hình sự – là bị can, bị cáo và họ có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp tạm giam.

    Vì đối tượng áp dụng là bị can, bị cáo vậy, thời điểm áp dụng các biện pháp này có thể hiểu là áp dụng trước khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam hoặc khi bị can, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam.

    Áp dụng trước khi bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nghĩa là bị can, bị cáo thuộc các trường hợp bị tạm giam được quy định tại Điều 119 BLTTHS, nhưng do họ được người thân hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ công tác bảo lĩnh; tự mình hoặc người thân đặt tiền để bảo đảm và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận cho họ được áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm thay thế cho biện pháp tạm giam mà lý ra họ có thể bị áp dụng.

    Áp dụng khi bị can, bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giam là khi bị can, bị cáo đang bị tạm giam, họ được người thân hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ công tác bảo lĩnh; tự mình hoặc người thân đặt tiền để bảo đảm và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận cho họ được áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm thay thế cho biện pháp tạm giam mà họ đang bị áp dụng.

    2.Căn cứ áp dụng:

    Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm trước hay sau khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam đều dựa trên các căn cứ sau:

    Thứ nhất: Trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 121, khoản 1 Điều 122 BLTTHS thì đối vói bị can, bị cáo phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân, tình trạng tài sản (đối với biện pháp đặt tiền để bảo đảm) của họ thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mới cho họ được bảo lĩnh.

    Thứ hai: Có đơn bảo lĩnh của cá nhân, tổ chức đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 121 BLTTHS; bị can, bị cáo, người thân của họ có tài sản và đơn xin được dùng tài sản của mình để bảo đảm cho việc tại ngoại của bị can, bị cáo.

    Thứ ba: Bị can, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

    Căn cứ này không được quy định cụ thể trong BLTTHS nhưng xuất phát từ chính khái niệm, bản chất của các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm thì đây là một trong những căn cứ để áp dụng.

    BLTTHS năm 2021 quy định rõ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ được áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp cụ thể được quy định tại Điều 119 BLTTHS, do đó chỉ khi bị cáo thuộc những trường hợp bị tạm giam thì mới xem xét việc áp dụng các biện pháp bảo lĩnh hay đặt tiền để bảo đảm. Nói một cách cụ thể, nếu bị can, bị cáo thuộc các trường hợp không bị tạm giam thì đương nhiên không cần các biện pháp này để được tại ngoại.

    Khi có đầy đủ các căn cứ trên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án xem xét, có thể cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam bảo lĩnh hay đặt tiền để bảo đảm.

    3.Những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

    Như đã phân tích ở trên, từ căn cứ áp dụng: bị can, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mới xem xét việc áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm đã này sinh nhưng quan điểm khác nhau trong việc hiểu, áp dụng.

    Thứ nhất: Trường hợp bị can, bị cáo phạm tội thuộc các trường hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam đó là bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 119 BLTTHS; bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 119 BLTTHS. Nhưng trong thời gian bị điều tra, truy tố hoặc xét xử, họ có những hành vi vi phạm các quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản 2; khoản 3; điểm a, b, c khoản 4 Điều 119 BLTTHS thì họ có được áp dụng biện pháp bảo lĩnh hay đặt tiền để bảo đảm không?

    Ví dụ: A chưa có tiền án, tiền sự, lý lịch rõ ràng, phạm tội trộm cắp tài sản qui định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2021 sửa đổi bổ sung năm 2021 (BLHS), được Cơ quan điều tra cho áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong thời gian tại ngoại để điều tra, A tiếp tục phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qui định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

    Quan điểm 1: A bị tạm giam và không được áp dụng biện pháp bảo lãnh hay đặt tiền để bảo đảm vì: Các biện pháp ngăn chặn này đều dựa trên căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân người phạm tội. Trong trường hợp này A có nhân thân xấu, đã được cho áp dụng biện pháp ngăn chặn nhưng tiếp tục phạm tội.

    Quan điểm 2: Bị can, bị cáo vẫn được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lãnh hay đặt tiền để bảo đảm vì: Tại thời điểm A phạm tội trộm cắp tài sản, A thuộc trường hợp không bị tạm giam, chỉ khi A tiếp tục phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì lúc này A mới thuộc các trường hợp có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. Do vậy biện pháp bảo lãnh hay đặt tiền để bảo đảm với ý nghĩa là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam vẫn có thể cho bị can, bị cáo được áp dụng nếu bên bảo lãnh hoặc tài  sản đảm bảo đúng quy định.  Tôi đồng ý với quan điểm 2, quan điểm 1 là không chính xác.

    Thứ hai: bị can, bị cáo phạm tội thuộc các trường hợp có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam đã được Cơ quan tiến hành tố tụng cho áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Trong thời gian bị điều tra, truy tố hoặc xét xử, họ có những hành vi vi phạm một trong các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 121 BLTTHS thì họ có được áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam nữa hay không ?

    Ví dụ: A đang bị tạm giam và được được Cơ quan điều tra cho áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh thay thế cho biện pháp tạm giam. Trong thời gian tại ngoại để điều tra, A bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã.

    Quan điểm 1: A bị tạm giam và không được áp dụng biện pháp ngăn chặn nào khác vì A đã vi phạm nghĩa vụ khi được cho bảo lĩnh quy định tại khoản 3 Điều 121 BLTTHS. Do vậy, A phải bị áp dụng biện pháp tạm giam mà không được tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

    Quan điểm 2: A vẫn được áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam, nhưng trong trường hợp này là biện pháp đặt tiền để bảo đảm. BLTTHS quy định biện pháp bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm thuộc nhóm các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam và mức độ áp dụng của hai biện pháp này là hoàn toàn khác nhau. Nếu như biện pháp bảo lĩnh dựa trên đối nhân thì biện pháp đặt tiền để bảo đảm dựa trên đối vật. Có thể thấy rằng mức độ áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm sẽ mạnh hơn biện pháp bảo lĩnh, thậm chí ngay việc biện pháp đặt tiền để đảm bảo lần đầu bị vi phạm thì vẫn có thể áp dụng tiếp biện pháp này nhưng với số tiền cao hơn. Do vậy ở ví dụ trên, dù A đã bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh mà còn vi phạm nghĩa vụ thì A vẫn thuộc trường hợp bị tạm giam và do đó việc áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam – đặt tiền để bảo đảm mạnh hơn bảo lĩnh là có căn cứ, đúng quy định. Tôi thống nhất với quan điểm 2. Ở trường hợp này Quan điểm 1 vẫn đúng. Tuy nhiên nếu chỉ tuyết đối áp dụng quan điểm này là chưa hiểu hết ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam và sẽ cứng nhắc trong việc áp dụng, chưa bảo vệ được tốt nhất quyền con người, chưa góp phần giảm tải tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam.

    Trên là quan điểm cá nhân về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thê tạm giam  – bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm; đối tượng áp, thời điểm áp dụng và những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và biện pháp đặt tiền để bảo đảm được qui định tại Điều 121, Điều 122 BLTTHS.

    Hoàng Kim Ngọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bút Pháp Ước Lệ Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều
  • Các Biện Pháp Kỹ Thuật Lâm Sinh Và Công Tác Cải Thiện Giống Cho Rừng Trồng Keo Cung Cấp Gỗ Xẻ
  • Cưỡng Chế Hành Chính: Khái Niệm Và Đặc Điểm
  • Làm Gì Để Bảo Vệ Sức Khỏe Khỏi Ô Nhiễm Không Khí?
  • Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Là Gì?
  • 10 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự Theo Bltths 2021 – Công An Tỉnh Quảng Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Về Phòng Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch Chống Phá Trên Lĩnh Vực Chính Trị, Tư Tưởng Trong Quân Đội Ta Hiện Nay
  • Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Và Việc Xây Dựng Quân Đội Nhân Dân Vững Mạnh Về Chính Trị
  • Hình Thức Vận Động Quần Chúng Cá Biệt, Những Vấn Đề Lý Luận Và Cách Thức Áp Dụng Trong Giải Quyết Những Nhiệm Vụ Về An Ninh, Trật Tự Trong Giai Đoạn Hiện Nay .công An Tra Vinh
  • “Công Tác Vận Động Quần Chúng Là Biện Pháp Chiến Lược, Cơ Bản, Làm Nền Tảng Cho Các Biện Pháp Công Tác Khác Và Mọi Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Huyện Quảng Trạch” – Công A
  • Về Những Tồn Tại, Hạn Chế Của Chế Định Hình Phạt Bổ Sung Trong Luật Hình Sự Hiện Hành
  • 10 biện pháp ngăn chặn gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người (đối với người phạm tội quả tang); Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Tạm giữ; Tạm giam; Bảo lĩnh; Đặt tiền để bảo đảm; Đặt tiền để bảo đảm; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Tạm hoãn xuất cảnh.

     

     

    1. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp:

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    -Khi có đủ căn cứ để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

    – Người đó là người cùng thực hiện tội phạm hoặc là bị hại hoặc có mặt tại nơi xảy ra hành vi tội phạm, chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

    – Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

    + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp bao gồm:

    – Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

    – Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

    – Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

    2. Bắt người (đối với người phạm tội quả tang)

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Phát hiện thấy một người đang thực hiện tội phạm, hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm.

    + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Bất kì người nào cũng có thể bắt và giải ngay tới cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

    3. Bắt người (đối với người đang bị truy nã)

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Phát hiện người đang bị truy nã

    + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Bất kì người nào cũng có thể bắt và giải ngay tới cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

    4. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

    + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Những người có quyền phát lệnh:

    – Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

    – Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;

    – Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

    5. Tạm giữ

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

    + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Những người có quyền ra lệnh giữ người cũng có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.

    6. Tạm giam

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Áp dụng với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc cũng có thể áp dụng khi là tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

    – Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

    – Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

    – Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

    – Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

    – Hoặc cũng có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

     + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Những người có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam cũng có thẩm quyền ra lệnh, quyết định tạm giam.

    7. Bảo lĩnh

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Được áp dụng thay cho biện pháp tạm giam khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và của thân nhân bị can, bị cáo.

     + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

    8. Đặt tiền để bảo đảm

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Cũng là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam, theo đó căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo để xem xét ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn.

     + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm

    9. Cấm đi khỏi nơi cư trú

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng.

     + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Những người có thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam và thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

    10. Tạm hoãn xuất cảnh

    + Hoàn cảnh áp dụng:

    Khi có căn cứ cho rằng người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; bị can, bị cáo có dấu hiệu bỏ trốn.

     + Cá nhân/tổ chức áp dụng:

    Những người có thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam và thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh.

     

    Tiêu Dao

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Khái Niệm, Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu), Phân Loại Và Bản Chất Pháp Lý Của Các Biện Pháp Tha Miễn Trong Luật Hình Sự Việt Nam
  • Ký Quỹ Là Gì? Đặc Điểm Và Các Loại Hình Ký Quỹ
  • Bác Sĩ Chuyên Khoa Nguyễn Thị Song Hà
  • Trung Tâm Sở Hữu Trí Tuệ Và Chuyển Giao Công Nghệ Đại Học Quốc Gia Tp. Hcm
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự Theo Bltths 2021 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Một Số Giải Pháp Về Phòng Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch Chống Phá Trên Lĩnh Vực Chính Trị, Tư Tưởng Trong Quân Đội Ta Hiện Nay
  • Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Và Việc Xây Dựng Quân Đội Nhân Dân Vững Mạnh Về Chính Trị
  • Hình Thức Vận Động Quần Chúng Cá Biệt, Những Vấn Đề Lý Luận Và Cách Thức Áp Dụng Trong Giải Quyết Những Nhiệm Vụ Về An Ninh, Trật Tự Trong Giai Đoạn Hiện Nay .công An Tra Vinh
  • “Công Tác Vận Động Quần Chúng Là Biện Pháp Chiến Lược, Cơ Bản, Làm Nền Tảng Cho Các Biện Pháp Công Tác Khác Và Mọi Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Huyện Quảng Trạch” – Công A
  • I. Các biện pháp ngăn chặn

    1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

    2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

    II. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn

    1. Mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

    a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

    b) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    c) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    d) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ.

    2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.

    3. Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngặn chặn này phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.

    III. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp

    1. Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:

    a) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

    b) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

    c) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

    2. Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:

    a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

    b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

    c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

    3. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung khác theo quy định. Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định như khi bắt người.

    6. Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

    Trường hợp Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu), Phân Loại Và Bản Chất Pháp Lý Của Các Biện Pháp Tha Miễn Trong Luật Hình Sự Việt Nam
  • Ký Quỹ Là Gì? Đặc Điểm Và Các Loại Hình Ký Quỹ
  • Bác Sĩ Chuyên Khoa Nguyễn Thị Song Hà
  • Trung Tâm Sở Hữu Trí Tuệ Và Chuyển Giao Công Nghệ Đại Học Quốc Gia Tp. Hcm
  • Nội Dung Chủ Yếu, Đặc Điểm, Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Các Phương Pháp Quản Lý
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Nước Ngoài Bày Cách ‘làm Khó’… Người Đi Xe Hơi
  • Biện Pháp Giảm Căng Thẳng Tâm Lý
  • Giải Tỏa Căng Thẳng Stress Bằng Cách Nào?
  • Các Biện Pháp Giúp Giảm Thiểu Căng Thẳng Khi Làm Việc
  • Các Biện Pháp Thư Giãn Đầu Óc, Giảm Căng Thẳng Đơn Giản Mà Hiệu Quả
  • GD&TĐ – Ngày 21/11/2016, Bộ GD&ĐT ban hành văn bản 5727/BDGĐT-CTHSSV gửi Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc tăng cường các biện pháp ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường.

    Theo văn bản này, thời gian qua, Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường. Nhiều địa phương đã quan tâm xây dựng môi trường giáo dục an toàn lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.

    Tuy nhiên, thời gian gần đây, bạo lực học đường diễn biến phức tạp, liên tiếp xảy ra nhiều vụ học sinh đánh nhau gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục trong nhà trường, trong đó một số vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng được quay video và chia sẻ trên các trang mạng xã hội.

    Để thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường, Bộ GD&ĐT đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tăng cường phối hợp chỉ đạo một số nhiệm vụ sau:

    Chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành chức năng, các tổ chức đoàn thể và các cấp chính quyền địa phương tăng cường công tác quản lý địa bàn, chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ với các nhà trường trong công tác tuyên truyền, quản lý, giáo dục học sinh để phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng bạo lực học đường;

    Có biện pháp theo dõi, kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các vụ việc học sinh tổ chức đánh nhau ở trong và ngoài trường học; kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động của các hàng quán, tụ điểm vui chơi giải trí, dịch vụ internet, trò chơi trực tuyến có biểu hiện gây mất an ninh, trật tự ở khu vực cổng trường học.

    Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện hiệu quả Quyết định số 1501/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2021-2020”.

    Chỉ đạo ngành Giáo dục địa phương xây dựng kế hoạch hành động cụ thể theo từng tháng, từng học kỳ và năm học về phòng chống bạo lực học đường để tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật, sinh hoạt chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức, ý thức của học sinh trong việc “nói không với hành vi bạo lực”; phát huy vai trò của học sinh tong việc ngăn chặn, tố giác hành vi bạo lực xảy ra đối với bản thân, bạn bè để nhà trường và gia đình có biện pháp xử lý kịp thời.

    Tăng cường các nguồn lực tạo điều kiện để ngành giáo dục địa phương thực hiện tốt công tác tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử, giải quyết mâu thuẫn cho học sinh.

    Chỉ đạo Sở GD&ĐT thường xuyên báo cáo công tác phòng chống bạo lực học đường theo từng học kỳ, năm học và báo cáo đột xuất các vụ việc với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đồng thời gửi báo cáo Bộ GD&ĐT.

    Lập Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Cần Thiết Để Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Trường Thcs
  • Skkn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Bán Trú Thông Qua Các Hoạt Động Ngoại Khóa Tại Trường Ptdtbt Thcs Bản Hon
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs Bien Phap Quan Ly Giao Duc Ky Nang Song Cho Hoc Sinh Trung Hoc Co So Doc
  • Than Tổ Ong: Tác Hại Và Các Biện Pháp Ngăn Chặn

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Thu Hồi Sổ Hồng Cấp Sai Cho Chung Cư Ông Thản
  • “loạn” Thị Trường Thực Phẩm Chức Năng Dành Cho Tim Mạch
  • Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Chuyện Phòng The?
  • Hiểu Biết Về Thực Phẩm Chức Năng
  • Viên Uống Hỗ Trợ Giảm Đau Vai Gáy Arinamin Ex Plus
  • Ở Việt Nam, than tổ ong được sử dụng rất rộng rãi. Nó là chất đốt hàng ngày của nhiều gia đình và các hàng quán phục vụ đông người. Hay tại các đơn vị bộ đội, cơ quan xí nghiệp, trường học, nhà hàng, tiệm ăn,… Tuy nhiên, nhiều người lại không hề biết rằng than tổ ong đang mang theo những nguy cơ tiềm ẩn. Ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người.

    Tác hại của than tổ ong

    Tác động tiêu cực đến môi trường

    Khói của than tổ ong chứa nhiều thành phần độc hại. Khiến nhiễm các chất khí độc. Như cacbon oxit CO, CO 2, nitơ oxit NO x. Và một số chất khác như lưu huỳnh oxit SO x, muội than,… Các chất này phát tỏa trực tiếp ra môi trường xung quanh. Như bếp, nơi ở và nơi làm việc. Đây là một trong những hàng đầu ở Việt Nam. Khi đốt than có thể sinh ra lượng bụi lớn. Trong đó có PM10, PM2.5, PM1.0,… Đây là các loại bụi siêu mịn. Gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Theo đó tác động tiêu cực tới môi trường và sức khỏe con người.

    Thông thường, lượng CO 2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO 2 được sử dụng cho quang hợp. Hiện nay do các hoạt động của con người làm ra tăng hàm lượng CO 2 cũng có tác động xấu tới môi trường. Gây hiện tượng làm nhiệt độ trái đất tăng. Là nguyên nhân gây ra băng tan ở băng cực, dâng cao mực nước biển. Làm biến đổi khí hậu.

    • Gây ngộ độc khí than tổ ong (do trong than có khí độc SO2, NO2, CO…). Khi cơ thể ngư­ời hít phải khí CO2 ở một nồng độ nhất định sẽ bị ngạt. Đặc biệt, khi nồng độ của CO2 có từ 2- 4% sẽ bắt đầu có triệu chứng ngộ độc đầu tiên xuất hiện. Từ 4 – 6% hít thở sâu có tiếng ồn trong tai, tim đập nhanh, thở gấp, đau đầu ù tai, rối loạn trao đổi khí. Nồng độ của CO2 có từ 6 – 10% gây đau đầu, chóng mặt, ngất nếu bị tác động đột ngột CO2 vào cơ thể sẽ gây tử vong. Nồng độ của CO2 có trên 10% có thể gây đến tử vong.
    • Tác nhân gây viêm phổi, viêm phế quản, ung thư phổi… Nguy hiểm hơn, khi bị nhiễm đọc khí than quá lâu sẽ dẫn đến mất phản xạ ở vỏ não.
    • Đốt than tổ ong trong phòng kín có thể gây ngạt dẫn đến chết người. Bởi than tổ ong khi đốt lên làm tiêu tốn rất nhiều khí oxy. Theo đó, trong điều kiện hệ thống thông khí không đảm bảo, con người sẽ rơi vào trong trạng thái vừa thiếu khí oxy do tiêu tốn cho quá trình đốt than. Vừa trong tình trạng bị nhiễm độc bởi khí CO – sản phẩm của quá trình đốt cháy than không hoàn toàn và có thể tử vong nếu hàm lượng cao.
    • Phụ nữ mang thai nếu thường xuyên sống trong môi trường bị ô nhiễm bởi khói than sẽ có nguy cơ bị sẩy thai, thai bị biến dạng.
    • Gây cháy nổ và những tai nạn đáng tiếc cho trẻ nhỏ.
    • Ngoài ra, khi đốt than có thể sinh ra lượng bụi PM 2.5 – là bụi siêu mịn có thể thẩm thấu vào phổi, máu gây viêm phổi, tắc mạch máu, mất chức năng của máu…

    Cách biện pháp ngăn ngừa

    Nên thay thế than tổ ong như thế nào?

    Thay thế bếp than tổ ong hiện nay bằng bếp cải tiến thân thiện với môi trường. Đây có thể là những viên nén từ mùn cưa, củi trấu, lõi ngô thay cho than tổ ong. Khí thải sinh ra từ những viên nén này rất thấp. Chính vì thế, nó được coi là một trong những sản phẩm bảo vệ môi trường nhất hiện nay.

    Những lưu ý khi sử dụng than tổ ong

    Khi sử dụng, đặt bếp than ở nơi thoáng gió, rộng rãi,… Các quá trình đốt than, củi, khí gas hoặc các động cơ có sử dụng xăng, dầu tuyệt đối không dùng ở khu vực thiếu khí. Khu vực có hệ thống thông khí không đảm bảo. Nên thiết kế phòng ốc thông thoáng, có các thiết bị như quạt hút khí, ống khói…

    Khi phát hiện người bị nhiễm độc, ngạt khí CO phải lập tức đưa nạn nhân ra khu vực thoáng khí, hô hấp nhân tạo. Nếu nạn nhân thở yếu đồng thời gọi xe cấp cứu, chuyển nạn nhân đến các cơ sở y tế.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tranh Cãi Việc Dừng Thu Hồi Sổ Hồng Chung Cư Ông Thản
  • Thương Hiệu ‘chung Cư Ông Thản’: Sự Bùng Nổ Ồ Ạt Và Nỗi Ám Ảnh Của Người Dân Thủ Đô
  • Sai Phạm Chung Cư Ông Thản: Một Cái Nhìn Khác
  • Tăng Huyết Áp, Suy Thận Có Nên Dùng Tpcn Ích Thận Vương?
  • Thẻ Thanh Toán Là Gì? Chức Năng Các Loại Thẻ Thanh Toán Quốc Tế
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh Và Hướng Sửa Đổi, Bổ Sung

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Biện Pháp Bảo Lĩnh Trong Tố Tụng Hình Sự, Hay
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Trong Thương Mại Thế Giới Và Khu Vực Asean
  • Điều 46. Các Biện Pháp Tư Pháp
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Của Việt Nam
  • Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh
  • Nhằm phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) sửa đổi, ngày 31/3/2009, Ban Soạn thảo BLTTHS sửa đổi của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã đề xuất văn bản số 867/VKSTC-V8 về “một số định hướng nghiên cứu bước đầu về việc xây dựng BLTTHS (sửa đổi)”. Về các biện pháp ngăn chặn, văn bản này có nêu: “nghiên cứu để sửa đổi căn cứ, thủ tục để phát huy hiệu lực, hiệu quả áp dụng các biện pháp này trong thực tiễn, góp phần hạn chế việc tạm giam theo hướng: quy định chặt chẽ các điều kiện bảo lĩnh như quy định người bảo lĩnh phải cùng nơi cư trú với bị can, bị cáo, người nhận bảo lĩnh bị phạt tiền nếu vi phạm các nghĩa vụ đã cam đoan thay cho trách nhiệm tín chấp hiện nay”. Góp tiếng nói cho quá trình nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến quy định về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong BLTTHS năm 2003 và hướng sửa đổi, bổ sung. 1. Khái niệm và đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

    Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cùng với các biện pháp ngăn chặn khác, biện pháp bảo lĩnh có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Theo đó, bảo lĩnh là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự (TTHS) do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ căn cứ và các điều kiện do pháp luật quy định, để thay thế biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng.Như vậy, về bản chất pháp lý thì bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam, được áp dụng trong trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng vẫn thấy cần thiết phải ngăn chặn, phòng ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, thì các cơ quan tiến hành tố tụng giao bị can, bị cáo cho cá nhân hoặc tổ chức giám sát, giáo dục khi có yêu cầu của cá nhân hoặc tổ chức đó kèm theo điều kiện phải bảo đảm bị can, bị cáo sẽ có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng.

    Bảo lĩnh là một biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn so với những biện pháp ngăn chặn có tính tước tự do khác, như: bắt, tạm giữ, tạm giam. Theo quy định của BLTTHS năm 2003, đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh chỉ có thể là bị can – người bị khởi tố về hình sự (Khoản 1, Điều 49), bị cáo – người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (Khoản 1, Điều 50). Điều đó có nghĩa, người chưa bị khởi tố với tư cách là bị can hoặc người không bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử với tư cách là bị cáo không thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Trong khi đó, biện pháp ngăn chặn bắt người, ngoài áp dụng đối với bị can, bị cáo còn có thể áp dụng đối với cả người chưa bị khởi tố về hình sự (bắt người phạm tội quả tang), người bị tình nghi là đã thực hiện tội phạm (bắt người trong trường hợp khẩn cấp) nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội hoặc không để họ sẽ tiếp tục phạm tội.

    2. Quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

    Nghiên cứu những quy định về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh trong BLTTHS năm 2003 (Điều 92), đồng thời có so sánh, đối chiếu với BLTTHS năm 1988 trước đây (Điều 75) cho thấy:

    Căn cứ áp dụng biện pháp này bao gồm căn cứ về nội dung và về hình thức. Căn cứ về nội dung để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh là tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo. Căn cứ về hình thức để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng là phải có cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh. Trong khi đó, những điều kiện để áp dụng biện pháp này là xét thấy rõ ràng không cần thiếtphải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, đồng thời vẫn bảo đảm bị can, bị cáo sẽ không tiếp tục phạm tội hoặc không cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

    Tuy nhiên, qua nghiên cứu các nội dung này, chúng tôi cho rằng việc quy định những điều kiện áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo còn chung chung, chưa cụ thể, chưa thật đầy đủ và sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng biện pháp này trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử. Chẳng hạn, điều luật chưa quy định điều kiện bảo lĩnh sẽ được áp dụng đối với những loại tội phạm nào, nhân thân bị can, bị cáo thế nào… Về vấn đề này, theo chúng tôi, pháp luật nên cụ thể hóa hơn một số điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Ví dụ, ngoài căn cứ áp dụng, việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh còn phải đáp ứng các điều kiện như: loại tội mà bị can, bị cáo thực hiện phải là loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng; bị can, bị cáo phải có lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú hoặc nơi công tác xác định và có nhân thân tốt, thái độ khai báo thành khẩn.

    Bên cạnh đó, một vấn đề nữa các nhà làm luật cũng cần xem xét, đó là ghi nhận thêm điều kiện: bảo lĩnh được áp dụng khi có sự đồng ý của bị can, bị cáo. Bởi lẽ, Điều 92 của BLTTHS năm 2003 (Điều 75 của BLTTHS năm 1988 trước đây) chỉ quy định đáp ứng căn cứ và những điều kiện khác (trong đó có căn cứ về hình thức là có cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh), những không đề cập đến sự đồng ý của bị can, bị cáo khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Vậy, nếu trường hợp bị can, bị cáo không đồng ý việc nhận bảo lĩnh của cá nhân hoặc tổ chức thì sao. Bởi lẽ, ở một góc độ nào đó, nếu không có sự đồng ý của bị can, bị cáo thì bảo lĩnh chỉ đạt hiệu quả thấp. Sự tự do ý chí của hai phía – bị can, bị cáo và người nhận bảo lĩnh là hoàn toàn cần thiết cho việc thực hiện bảo lĩnh .

    2.2.2. Tổ chức nhận bảo lĩnh

    BLTTHS năm 1988 không đưa ra những điều kiện đối với tổ chức nhận bảo lĩnh, dẫn đến sự tùy nghi trong cách hiểu vấn đề và gây khó khăn khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Đến BLTTHS năm 2003, vấn đề này đã được khắc phục. Các nhà làm luật nước ta đã đưa vào luật những điều kiện cần thiết đối với tổ chức nhận bảo lĩnh, cụ thể: tổ chức nhận bảo lĩnh là tổ chức nơi bị can, bị cáo làm việc; tổ chức nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo mà họ là thành viên của tổ chức mình và việc bảo lĩnh phải có sự xác nhận của người đứng đầu tổ chức đó.

    2.3.1. Thẩm quyền áp dụng

    Hiểu theo logic thì thẩm quyền ra quyết định cho phép áp dụng biện pháp bảo lĩnh thuộc về những chủ thể có thẩm quyền trong các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giam. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 đã nêu rõ hơn và ghi rõ ở Khoản 3 Điều 92 là những người quy định tại Khoản 1 Điều 80 và Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định về việc bảo lĩnh. Như vậy, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh bao gồm:

    a) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

    b) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;

    c) Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;

    d) Hội đồng xét xử;

    đ) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

    e) Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa.

    2.3.2. Thủ tục áp dụng

    Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, cần tiến hành các thủ tục sau đây:

    a) Có đơn xin bảo lĩnh cho bị can, bị cáo của cá nhân hoặc tổ chức. Đối với trường hợp cá nhân xin bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh của cá nhân phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với trường hợp tổ chức xin bảo lĩnh, thì đơn xin bảo lĩnh phải có chữ ký xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

    b) Tổ chức hoặc cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan ghi rõ không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi vi phạm các cam kết. Khi làm giấy cam đoan, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án, các quyền, nghĩa vụ của họ.

    Như vậy, về thủ tục áp dụng, BLTTHS năm 2003 (Khoản 2 Điều 92) đã quy định cụ thể và rõ ràng hơn các trường hợp cụ thể khi cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh so với quy định tương ứng trong BLTTHS năm 1988 (Khoản 1 Điều 75). Việc sửa đổi, bổ sung quy định này không những nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan và người có thẩm quyền trong việc áp dụng, mà còn tăng cường bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, cũng như loại trừ những vi phạm có thể xảy ra từ phía các cơ quan và người tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo bị áp dụng những biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh nói riêng.

    Khoản 5, Điều 92 BLTTHS năm 2003 quy định: “Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác”. Việc quy định cụ thể hơn trách nhiệm của bị can, bị cáo khi người nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam kết rõ ràng là một điểm mới quan trọng đã được BLTTHS năm 2003 ghi nhận. Tuy nhiên, trách nhiệm đã cam đoan của cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh là trách nhiệm gì (hành chính, dân sự hay hình sự) thì BLTTHS lại chưa đề cập và cụ thể hóa nên thực tiễn thi hành các quy định này còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc . BLTTHS năm 2001 của Liên bang Nga cũng quy định: “Trong trường hợp người nhận bảo lĩnh không thực hiện nghĩa vụ của mình thì họ có thể bị phạt một khoản tiền đến mười lần mức thu nhập tối thiểu” (Điều 103). Như vậy, nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ của mình, thì họ sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc hơn, còn người nhận bảo lĩnh không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, thì họ phải chịu trách nhiệm vật chất, mà bị phạt tiền là biện pháp hợp lý nhất.

    3. Mô hình khoa học về Điều 92 của BLTTHS năm 2003 (sửa đổi)

    Như đã đề cập, trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, bên cạnh các biện pháp cưỡng chế trong TTHS và các biện pháp ngăn chặn khác, bảo lĩnh cũng có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo thông qua việc nếu trường hợp không cần thiết phải tạm giam, nhưng vẫn thấy cần thiết phải ngăn chặn, phòng ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, thì các cơ quan tiến hành tố tụng giao bị can, bị cáo cho cá nhân hoặc tổ chức giám sát, giáo dục khi có yêu cầu của cá nhân hoặc tổ chức đó kèm theo điều kiện phải bảo đảm bị can, bị cáo sẽ có mặt đúng thời gian, địa điểm theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 (sửa đổi) về biện pháp bảo lĩnh là hoàn toàn cần thiết, đồng thời góp phần tôn trọng, tăng cường và bảo đảm các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong hoạt động TTHS. Đặc biệt, đây còn là cơ chế pháp lý hữu hiệu để toàn xã hội, các cơ quan, tổ chức và công dân tham gia công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia giám sát việc thực hiện những quy định của BLTTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự.

    Từ việc phân tích các quy định về biện pháp bảo lĩnh trong BLTTHS năm 2003 và thực tiễn áp dụng biện pháp này của các cơ quan tiến hành tố tụng, dưới góc độ khoa học, mô hình khoa học về Điều 92 BLTTHS năm 2003 sẽ như sau:

    “Điều 92. Bảo lĩnh

    1. Bảo lĩnh là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật quy định, để thay thế biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng (sửa đổi, bổ sung).

    2. Trên cơ sở sự đồng ý của bị can, bị cáo, bảo lĩnh được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, có lý lịch rõ ràng, có nơi cư trú hoặc nơi công tác xác định, nhân thân tốt, thái độ khai báo thành khẩn, đồng thời phải có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh (mới).

    4. Những người quy định tại Khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc bảo lĩnh (giữ nguyên).

    5. Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức (sửa đổi, bổ sung).

    6. Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan bị phạt tiền và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền xác định mức tiền phạt căn cứ vào mức độ thiệt hại mà bị can, bị cáo đã gây ra trong khi thực hiện tội phạm(sửa đổi, bổ sung).

    1 Nguyễn Vạn Nguyên, Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 189.2 Nguyễn Duy Thuân, Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 95.3 Nhiều ý kiến kiến nghị áp dụng các loại trách nhiệm khác nhau đối với người nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam kết. Tùy theo tính chất của sự vi phạm có thể áp dụng trách nhiệm vật chất, trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Hoặc theo đề xuất của Ban soạn thảo BLTTHS (sửa đổi) người nhận bảo lĩnh bị phạt tiền nếu vi phạm các nghĩa vụ đã cam đoan thay cho trách nhiệm tín chấp hiện nay.4 Nguyễn Vạn Nguyên, Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.141.

    TS. Trịnh Tiến Việt – Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội Theo: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn “bảo Lĩnh” Theo Blhs 2021
  • Làm Sao Để Thay Thế Biện Pháp Tạm Giam Theo Quy Định Pháp Luật
  • Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Trường Hợp Hết Hạn Tạm Giữ Và Khởi Tố Bị Can?
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh Và Hướng Sửa Đổi, Bổ Sung
  • Luận Văn: Biện Pháp Bảo Lĩnh Trong Tố Tụng Hình Sự, Hay
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Trong Thương Mại Thế Giới Và Khu Vực Asean
  • Điều 46. Các Biện Pháp Tư Pháp
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Của Việt Nam
  • Quy định về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh – Luật Toàn Quốc; biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; bảo lĩnh là gì, quy định về bảo lĩnh

    Kính gửi luật sư! Xin hỏi luật sư về vấn đề sau: Tôi muốn hỏi về quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và thẩm quyền áp dụng biện pháp đó. Tôi rất mong sớm nhận được câu trả lời của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Câu trả lời của luật sư về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

    1. Căn cứ pháp lý về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

    2. Nội dung tư vấn về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh

    Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. Theo yêu cầu tư vấn của bạn hỏi về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và thẩm quyền áp dụng biện pháp đó. Dựa trên những thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

    2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2021 về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.

    Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

    2.1.1 Chủ thể nhận bảo lĩnh.

    Khoản 2 điều 121 bộ luật tố tụng Hình sự năm 2021 quy định về chủ thể nhận bảo lĩnh như sau:

    “Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

    Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập”

    Như vậy, theo quy định trên thì có hai chủ thể có thể đứng ra nhận bảo lĩnh là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Tuy nhiên mỗi chủ thể thì lại có điều kiện riêng để nhận bảo lĩnh, không phải mọi cơ quan tổ chức hay cá nhân đều có thể nhận bảo lĩnh. Đối với cơ quan, tổ chức thì người được bảo lĩnh phải là người của cơ quan, tổ chức đó. Đối với cá nhân thì người nhận bảo lĩnh phải đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chính chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh. Ngoài ra người được bảo lĩnh phải là người thân thích của cá nhân đó và phải có ít nhất 2 cá nhân cùng nhận bảo lĩnh. Cơ quan, tổ chức và cá nhân đứng ra nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn “bảo Lĩnh” Theo Blhs 2021
  • Làm Sao Để Thay Thế Biện Pháp Tạm Giam Theo Quy Định Pháp Luật
  • Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Trường Hợp Hết Hạn Tạm Giữ Và Khởi Tố Bị Can?
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Luận Văn: Thời Hạn Của Các Biện Pháp Ngăn Chặn Theo Luật, Hay
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn “bảo Lĩnh” Theo Blhs 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh Và Hướng Sửa Đổi, Bổ Sung
  • Luận Văn: Biện Pháp Bảo Lĩnh Trong Tố Tụng Hình Sự, Hay
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Trong Thương Mại Thế Giới Và Khu Vực Asean
  • Điều 46. Các Biện Pháp Tư Pháp
  • Bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định để thay thế biện pháp tạm giam, nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các Cơ quan tiến hành tố tụng.

    Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập.

    2. Đối tượng áp dụng

    Đây là biện pháp ngăn chặn được áp dụng thay thế cho biện pháp tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

    Vì vậy, đối tượng áp dụng biện pháp này thường là bị can, bị cáo phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn hoặc bị can, bị cáo ốm đau, bệnh tật, có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra nhận bảo lĩnh.

    Người được bảo lĩnh không bị hạn chế các quyền công dân mà được thực hiện tất cả các quyền này miễn sao việc thực hiện các quyền đó không gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

    3. Thẩm quyền ra quyết định bảo lĩnh

    Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS 2021, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của BLTTHS 2021 phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

    4. Thủ tục bảo lĩnh

    4.1. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan

    4.2. Điều kiện người nhận bảo lĩnh

    Điều 121 BLTTHS quy định cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh. Trường hợp cá nhân nhận bảo lĩnh phải có ít nhất hai người đủ 18 tuổi trở lên và là người thân thích của bị can, bị cáo. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của cơ quan, tổ chức mình. Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ của họ.

    Cá nhân nhận bảo lĩnh phải có tư cách đạo đức tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh. Việc nhận bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

    5. Thời hạn bảo lĩnh

    Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

    Trường hợp cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức đó bị tước quyền bảo lĩnh và tùy mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, người được bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Sao Để Thay Thế Biện Pháp Tạm Giam Theo Quy Định Pháp Luật
  • Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Trường Hợp Hết Hạn Tạm Giữ Và Khởi Tố Bị Can?
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Luận Văn: Thời Hạn Của Các Biện Pháp Ngăn Chặn Theo Luật, Hay
  • Điểm Mới Về Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Bltths 2021
  • Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Trường Hợp Hết Hạn Tạm Giữ Và Khởi Tố Bị Can?

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Sao Để Thay Thế Biện Pháp Tạm Giam Theo Quy Định Pháp Luật
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn “bảo Lĩnh” Theo Blhs 2021
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh Và Hướng Sửa Đổi, Bổ Sung
  • Luận Văn: Biện Pháp Bảo Lĩnh Trong Tố Tụng Hình Sự, Hay
  • Bộ luật TTHS năm 2021 khi thực hiện trên thực tiễn đã phát sinh một số vướng mắc cần được hướng dẫn, sau đây là một ví dụ.

    Ngày 03/4/2018, Nguyễn Văn A có hành vi trộm cắp tài sản và bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ 03 ngày sau đó gia hạn tạm giữ lần 1, lần 2 đối với A. Ngày 12/4/2018, CQĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với A về tội trộm cắp tài sản và đề nghị Viện kiểm sát thay thế biện pháp ngăn chặn. Khi thực hiện đề nghị của CQĐT đã xảy ra một số vấn đề cần trao đổi như sau:

    1. Về thẩm quyền thay thế biện pháp ngăn chặn đối với A.

    Khoản 2 Điều 125 Bộ luật TTHS quy định: CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác. Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định.

    Có quan điểm cho rằng, căn cứ khoản 2 Điều 125 BLTTHS thì CQĐT cũng có quyền thay thế biện pháp ngăn chặn đối với A vì:

    + Biện pháp tạm giữ trong trong trường hợp phạm tội quả tang là do CQĐT quyết định, không cần phê chuẩn của Viện kiểm sát (Viện kiểm sát chỉ phê chuẩn gia hạn tạm giữ mà gia hạn tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặn theo Điều 109 Bộ luật TTHS. Mặt khác, Bộ luật TTHS chỉ quy định các biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc thay thế, hủy bỏ do Viện kiểm sát quyết định);

    + Hệ thống biểu mẫu do VKSND tối cao ban hành chỉ có quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn, quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam, cho bảo lĩnh, tạm hoãn xuất cảnh mới căn cứ Điều 125 Bộ luật TTHS và tất cả các biện pháp này đều được thực hiện sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Vậy, có thể hiểu trong trường hợp hết hạn tạm giữ mà khởi tố bị can và cần áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thì thẩm quyền thuộc CQĐT (nội dung này đã được Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn khi thực hiện Bộ luật TTHS năm 2003, khi hết hạn tạm giữ, CQĐT tự ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn).

    2. Việc sử dụng mẫu tố tụng

    Khoản 1 Điều 132 Bộ luật TTHS quy định “Văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất”.

    + Mẫu số 33- Quyết định hủy bỏ Quyết định tạm giữ. Mẫu này căn cứ Điều 117 Bộ luật TTHS (khoản 4 Điều 117 ” Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ “);

    Như vậy, có thể hiểu chỉ sử dụng mẫu này trong trường hợp Viện kiểm sát xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết và thực hiện ngay sau khi nhận được quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền đến trước khi hết hạn tạm giữ.

    + Mẫu số 34- Quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ. Mẫu này căn cứ Điều 118 Bộ luật TTHS (khoản 3 Điều 118 ” Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì CQĐT…phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ “);

    Với căn cứ trên, có thể hiểu việc quyết định tạm giữ là có căn cứ, trong khi tạm giữ (kể cả khi đã gia hạn tạm giữ) nếu xét thấy không có căn cứ (hoặc chưa đủ căn cứ) để khởi tố bị can thì CQĐT hoặc Viện kiểm sát phải ra quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ. Trường hợp này có thể ban hành quyết định trả tự do bất cứ lúc nào, từ khi quyết định đến khi hết hạn tạm giữ hoặc hết hạn gia hạn tạm giữ.

    + Mẫu số 42- Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn. Mẫu này căn cứ Điều 125 Bộ luật TTHS.

    Đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 125 Bộ luật TTHS thì chỉ sử dụng mẫu này trong trường hợp bị can đang bị tạm giam và xét thấy không cần thiết phải tạm giam nữa để áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (cho bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền…).

    Với những vướng mắc nêu trên, rất cần có sự hướng dẫn để thực hiện thống nhất, đúng quy định./.

    Lê Văn Cường- VKSND huyện Lạng Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn
  • Luận Văn: Thời Hạn Của Các Biện Pháp Ngăn Chặn Theo Luật, Hay
  • Điểm Mới Về Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Bltths 2021
  • Từ Đồng Nghĩa, Trái Nghĩa
  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn

    --- Bài mới hơn ---

  • Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Trường Hợp Hết Hạn Tạm Giữ Và Khởi Tố Bị Can?
  • Làm Sao Để Thay Thế Biện Pháp Tạm Giam Theo Quy Định Pháp Luật
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn “bảo Lĩnh” Theo Blhs 2021
  • Quy Định Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh
  • Pháp Luật Về Biện Pháp Ngăn Chặn Bảo Lĩnh Và Hướng Sửa Đổi, Bổ Sung
  • 1. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đang bị áp dụng. Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, đụng chạm đến quyền con người, quyền công dân được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng trong trường hợp cần thiết. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2021 quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế thấp nhất việc ảnh hưởng đến quyền cơ bản của cá nhân, tránh việc các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lạm dụng các biện pháp này. Bộ luật tố tụng hình sự quy định biện pháp ngăn chặn sẽ được hủy bỏ trong các trường hợp sau đây:

    Một là, quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Quy định này được áp dụng khi kết thúc giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong giai đoạn này có thể là biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ hoặc tạm hoãn xuất cảnh. Khi có quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì phải hủy bỏ ngay biện pháp ngăn chặn đang áp dụng.

    Hai là, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án: Quy định này được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì toàn bộ hoạt động tố tụng phải được chấm dứt ngay, trong đó có việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng.

    Ba là, quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can: Quy định này được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố khi có quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can thì toàn bộ hoạt động tố tụng đối với bị can phải được chấm dứt, trong đó có việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng đối với bị can đó. Hoạt động tố tụng đối với các bị can không được đình chỉ vẫn diễn ra bình thường.

    Bốn là, bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ.

    Năm là, trường hợp xét thấy không cần thiết: Quy định này nặng về định tính, việc hủy bỏ do cơ quan, người có thẩm quyền xét thấy không còn cần thiết, khi các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn không còn thì hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đang áp dụng.

    2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể thay thế biện pháp ngăn chặn khi đang áp dụng. Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định. Việc thay thế biện pháp ngăn chặn có thể theo hai hướng, có thể thay thế bằng biện pháp ít nghiêm khắc hơn hoặc thay thế bằng biện pháp nghiêm khắc hơn.

    3. Để thống nhất trong áp dụng, bảo đảm thời gian xem xét trước khi quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2021 đã được bổ sung quy định trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Thời Hạn Của Các Biện Pháp Ngăn Chặn Theo Luật, Hay
  • Điểm Mới Về Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Bltths 2021
  • Từ Đồng Nghĩa, Trái Nghĩa
  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Công Ty Tnhh Môi Trường Thăng Long
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50