Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

--- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Cảm nhận nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

    Đồng chí là một bài thơ tiêu biểu của Chính Hữu và của thơ ca Việt Nam hiện đại. Nói đến thơ Chính Hữu là người ta không thể không nhắc tới ba thơ nổi tiếng này.

    Bài thơ được sáng tác vào năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc, đánh dấu sự xuất hiện của một nhà thơ mới trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Bài thơ lúc đầu dán ở báo tường đơn vị, sau in báo Sự thật, rồi được chép vào sổ tay cán bộ, chiến sĩ, được phổ biến rộng rãi, trở thành tài sản chung của mọi người.

    Đồng chí là bài thơ ca ngợi một tình cảm mới, quan hệ mới giữa người với người trong cách mạng và kháng chiến. Đồng chí trong ngôn ngữ sinh hoạt chính trị và đời thường đã thành tiếng xưng hô quen thuộc. khi lí tưởng cách mạng đoàn kết, gắn bỏ mọi người đã bắt rễ sâu vào đời sống. Nhưng mấy ai đã cảm nhận được nội dung tình cảm phong phú mới mẻ chứa đựng trong hai tiếng: Đồng chí?

    Để làm hiện lên nội dung mới lạ trong những từ ngữ quen thuộc, nhà thơ phải dùng phép lạ hóa. (Tất nhiên khi sáng tác nhà thơ cũng chưa biết khái niệm lí luận mới mẻ này). Không phải ngấm nhiím mù bài thơ bắt đầu từ những chi tiết những cái khác biệt và xa lạ. Đây là lời của những người lính tự thấy cái mới lạ của mình… Mỗi người một quê, đất đai canh tác khác nhau, tập quân, phong tục hẳn là cũng khác. Miền biển nước mặn. dốt phèn. Vùng đồi trung du, đất ít hơn sỏi đá. Những con người tự nhận là xa lạ, cách nhau cả một phương trời và chẳng hò hẹn quen nhau. Ấy thế mà có một sức mạnh vô hình vô song đã biến họ thành đôi tri kỉ… Đó là cuộc sống chiến đấu chung đã làm thay đổi tất cả. Hai dòng thơ chỉ có một chữ chung: đêm rét chung chăn, nhưng cái chung đã bao trùm tất cả. Súng bên súng là chung chiến đấu; đầu sát bên đầu là chung rất nhiễu; không chỉ là gần nhau về không gian mà còn cùng nhau ý nghĩ, lí tưởng.

    Đêm rét chung chăn là hình ảnh thật cảm động và đầy ắp kỉ niệm. Những người lính từng đi kháng chiến ở Việt Bắc hẳn không thể quên cái rét của Việt Bắc và của vùng núi rừng nói chung:

    Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế,

    Gió qua rừng, Đèo Khế gió sang

    (Tố Hữu)

    Cũng không ai quên được cuộc sống chung:

    Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng,

    Những cái chung ấy đã biến những con người xa lạ thành tri kỉ.

    Hai tiếng đồng chí đứng riêng thành một dòng thơ là rất có ý nghĩa. Nhà thơ hoàn toàn có thể viết: Đêm rét chung chăn thành đôi đồng chí. Đồng chí và kỉ đều chung một vấn và có thể thay thế cho nhau mà không làm sai vần luật mà bài thơ có thể rút ngắn một dòng. Nhưng nếu viết thế thì hỏng. Đêm rét chung chăn có thể thành tri kỉ, nhưng không thể nói thành đồng chí. Bởi vì đồng chí có hàm nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Tri kỉ là biết mình, suy rộng ra là biết về nhau. Đồng chí không chỉ biết mình, biết nhau mà biết cái chung rộng lớn gắn bó con người trên mọi mặt. Hai chữ đồng chí đứng thành một dòng thơ đầy sức nặng suy nghĩ. Nó nâng cao ý thơ đoạn trước và mở ra ý thơ cho đoạn sau. Đồng chí có thể cảm nhận mà khó có thể nói hết.

    Phần hai nói về những tình cảm chung của hai Đồng chí. Những câu thơ chia thành anh, tôi, nhưng giữa họ đều là chung cả. Đoạn hai mở đầu bằng những dòng tâm sự nhớ nhà. Bây giờ họ chia sẻ cho nhau những tình cảm quê hương và gia đình. Đối với những chàng trai áo nâu lần đầu ra trận, nỗi nhớ nhà là thường trực… Đối với người nông dân, làm ruộng là quan trọng nhất. Nhưng việc ấy đành nhờ bạn thân làm hộ. Gian nhà tổ ấm cũng đành chịu hi sinh: mặc kệ gió lung lay. Câu thơ ngang tàng, đượm chất lãng mạn như muốn nâng đỡ con người vượt lên cái bất đắc dĩ của hoàn cảnh. Thử hỏi ai có thể mặc hệ để cho gió thổi làm xiêu đổ nhà mình? Đó là một khoảng tếu nhộn làm se lòng người. Hai dòng thơ đầy ắp nỗi nhớ, mặc dù đến dòng thơ thứ ba thì nỗi nhớ mới xuất hiện:

    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

    Người lính trong thơ Chính Hữu đã rất nhớ nhà, nhớ quê nhưng họ thương nhất vẫn là những người ở nhà đang thương nhớ họ, dõi theo tin tức của họ.

    Hình ảnh giếng nước gốc đa thật đậm. đà, kín đáo mà ý nhị biết bao! Giếng nước gốc đa là những nơi tụ hội của người làng khi trưa nắng, lúc chiều hôm và họ sẽ hỏi thăm nhau về những người trai làng ra trận. Biết bao nhớ nhung. Những người lính không nói mình nhớ, lại chỉ nói người khác nhớ. Đó cũng là cách mình tự vượt lên mình, nên tình riêng vì sự nghiệp chung bằng những lời thật ý nhị, không một chút ồn ào. Bảy dòng cuối dành nói về nỗi gian khổ, cái gian khổ của bộ đội hồi đầu kháng chiến (Thơ Quang Dũng – Tây Tiến, Thôi Hữu – Lên Cẩm Sơn)…

    Chính Hữu không nói cái khổ mà nói về sự hiểu nhau trong cái khổ, cái chung phổ biển giữa họ với nhau… Trong kháng chiến, bệnh sốt rét cơn là phổ biến nhất. Hai câu thơ nêu đủ các triệu chứng của bệnh sốt rét cơn. Những ai nhiễm bệnh, thoạt đầu cảm thấy ớn lạnh, sau đó lạnh tới run cầm cập, đắp bao nhiêu chân cũng không hết rét, trong khi đó thì thân nhiệt lại lên tới 40-41 độ; người vã mồ hôi, vì nóng và vì yếu. Phải trải qua bệnh này mới hiểu được cái thật của câu thơ. Sau cơn sốt đó là da vàng, viêm gan, viêm lá lách…

    Ngoài khổ vì bệnh tật còn cái khổ vì trang bị. Những ngày đầu kháng chiến, chưa có đủ quần áo đồng phục cấp phát, những người lính mang theo áo quần ở nhà, khi rách thì tự và víu, có khi không còn chỉ, phải lấy dây buộc túm chỗ rách. Người ta đùa gọi là vệ túm. Ở đây, anh rách, anh và thông cảm lẫn nhau… Miệng cười buốt giá hẳn là cười trong buốt giá vì áo quần không chống được rét mà cũng là nụ cười vượt lên giá buốt, mặc dù trời lạnh nên nụ cười cũng khó mà tươi! Cũng có thể là nụ cười nhợt nhạt, xanh xao. Nhưng vẫn cười coi thường gian khổ.

    Nhà thơ không viết nụ cười mà viết miệng cười có lẽ vì từ nụ cười khá trừu tượng. Vả lại nhà thơ chỉ muốn nói một cách cụ thể cái miệng với đôi môi nhợt nhạt ấy. Chân không giày cũng là một thực tế phổ biến và cái nổi lên là tình thương yêu đồng đội. Thương nhau tay nắm lấy bàn tay là một hình ảnh rất ấm áp. Chỉ với 5 dòng thơ, tác giả đã vẽ lên chân dung anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến nghèo khổ, thiếu thốn nhưng tình Đồng chí sưởi ấm lòng họ.

    Nếu đoạn một nói về sự hình thành đồng chí, đoạn hai nói về tình cảm hiện đại thì đoạn ba nói về hành động chiến đấu của họ:

    Đêm nay rừng hoang sương muối

    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

    Đầu súng trăng treo.

    Từ nhận thức chung, tình cảm chung, bài thơ kết vào hành động. Thời gian, không gian trở nên cụ thể, công việc cụ thể. Nhưng không phải vì thế mà công việc thay thế chất thơ. Câu kết là một hình ảnh nổi tiếng cô đọng, ý vị…. Một hình ảnh bất ngờ. Súng và trăng là hai vật cách xa nhau và chẳng có liên hệ gì với nhau trong không gian. Hình ảnh này chỉ có thể là phát hiện của người lính.

    Súng lăm lăm trong tay chờ giặc và bất ngờ cảm thấy như mảnh trăng treo lửng lơ ngay trên đầu ngọn súng. Người không cầm súng không thể cảm thấy cảnh đó được. Rừng hoang sương muối buốt giá. Những người lính rách rưới đứng gác cạnh nhau và vầng trăng như cũng đứng chung với người. Trăng là biểu trưng cho trong sáng và mộng mơ. Đấu súng chiến đấu của người đồng chỉ có thêm vầng trăng đã mở ra biết bao liên tưởng phong phú. Đồng thời câu thơ bốn tiếng nén lại, dồn vào bên trong, tạo thành cái kết không lời. Đoạn một và hai toàn những lời tâm sự. Đoạn cuối là bức tranh cổ điển, hàm súc dư ba.

    Đồng chí là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách cô đọng, rất kiệm lời của Chính Hữu.

    Từ khóa tìm kiếm

      noi dung nghe thuat dong chi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Tóm tắt những giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí

    I. Tìm hiểu chung

    – Chính Hữu,tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh.

    – 1946,ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và tham gia hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc: kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.

    – 1947, ông bắt đầu sáng tác thơ và chủ yếu viết người lính và chiến tranh với cảm xúc dồn nén,ngôn ngữ cô đọng.

    – 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng HCM về văn học – nghệ thuật.

    – Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo (1966), Ngọn đèn đứng gác….

    – Bài thơ Đồng chí được sáng tác năm 1948 – giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời điểm ấy,bộ đội, nhân dân ta sống và chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, gian khổ, thiếu thốn.

    – Bài thơ xuất hiện lần đầu tiên trên tờ bích báo của đại đội in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966).

    – Bố cục: 3 phần

    + Bảy câu thơ đầu: Cơ sở hình thành của tình đồng chí, đồng đội gắn bó

    + Mười câu thơ tiếp: Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.

    + Ba câu thơ cuối: Bức tranh đẹp về tình đồng chí, biểu tượng cao cả của cuộc đời người chiến sĩ.

    II. Đọc – hiểu văn bản

    a. Bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân:

    – Tình đồng chí của “tôi” và “anh” bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân. Nếu như “anh” đến từ nơi ”nước mặn đồng chua” thì “tôi” xuất thân từ vùng quê “nghèo đất cày lên sỏi đá”.

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    Hai con người đến từ những vùng quê nghèo khó của tổ quốc “chẳng hẹn quen nhau”. Họ gặp nhau vì cùng chung lí tưởng Cách mạnh, vì tình yêu với tổ quốc lớn lao. Đây cũng là trọng tâm làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật bài thờ Đồng chí.

    “Anh với tôi đôi người xa lạ

    Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”.

    b. Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp từ, hình ảnh sóng đôi mang ý nghĩa tượng trưng.

    c. Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn:

    – Mối tính tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị, gợi cảm:

    “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.

    Tử quen nhau đến thành tri kỉ, từ “chẳng hẹn” đến “súng bên súng, đầu sát bên đầu” rồi đến “đêm rét chung chăn”, những người lính chia sẻ với nhau những gian khó của cuộc chiến để trở thành tri kỉ trong nhau. Đây là điểm sáng mang lại nhiều giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí.

      Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:

      a. Sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau:

    – Các anh là những người lính gác tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnh trời quê hương với bao băn khoăn, trăn trở.

    “Anh trai làng quyết đi giết giặc lập công”.

    – Hình ảnh “gian nhà không ” vừa gợi cái nghèo, cái xơ xác của những miền quê lam lũ, vừa gợi sự trống trải trong lòng người ở lại.

    “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” là cách nói tế nhị, giàu sức gợi. Quê hương nhớ người đi lính hay chính những người ra đi luôn nhớ về quê hương. Thủ pháp nhân hóa và hai hình ảnh hoán dụ đã biểu đạt sâu sắc tâm trạng, nỗi niềm của những người lính nơi chiến tuyến. Nhớ về quê hương cũng chính là cách tự vượt lên mình, vượt lên tình riêng vì sự nghiệp chung của đất nước. Tóm tắt những giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí không thể bỏ qua những hình ảnh đắt giá này.

    b. Chia sẻ cùng nhau những gian lao, thiếu thốn của cuộc chiến:

    – Tôi với anh cùng chịu đựng những cơn sốt rét rừng, cùng trải qua những ốm đau bệnh tật. Anh với tôi cùng chia nhau sự thiếu thốn trong cuộc đời quân ngũ:

    “Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”.

    – Những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi đã góp phần tái hiện chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến. Các anh đã cùng nhau gánh vác, cùng nhau chịu đựng… Chính tình đồng đội đã giúp họ lên cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm chân thanh, mộc mạc của người lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, niềm tin chiến thắng, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    – Từ những tình cảm chân thành, mộc mạc, gắn bó và những gian khó, thiếu thốn nơi chiến trường hiểm ác, tác giả đã kết thúc bài thơ bằng một câu thơ mang đậm chất lãng mạn, nghệ thuật:

    “Đầu súng trăng treo”.

    “Trăng” là biểu tượng của cái đẹp, của cái tròn đầy, viên mãn, trăng khơi gợi nỗi nhớ, tình yêu và niềm hạnh phúc vẹn toàn. Trong khi đó ” súng” lại biểu tượng cho chiến tranh, cho hiểm nguy. Sự kết hợp giữa “đầu súng” và “trăng” mang đến cảm giác thiêng liêng nhưng không kém phần thi vị, lãng mạn. Chất hiện thực và chất trữ tình trong câu thơ đã góp phần nâng giá trị của thi phẩm bao gồm cả giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí.

    III. Tổng kết:

    Những giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí, cụ thể như sau:

    Bài thơ ngợi ca tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn giữa lửa đạn chiến tranh, đồng thời khắc họa những khó khăn thiếu thốn của cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ.

    – Thể thơ tự do với những câu dài ngắn đan xen đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc một cách linh hoạt.

    – Hình ảnh thơ cụ thể, xác thực mà giàu sức khái quát. Ngôn ngữ thơ hàm súc,cô đọng, giàu sức biểu cảm.

    – Sử dụng nhiều từ ngữ đắt giá

    – Hình ảnh thơ song hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Hãy Phân Tích, Giải Thích Nội Dung Và Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “đồng Chí”

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoá Luận Tốt Nghiệp Biện Pháp Ẩn Dụ Trong Thơ Phan Thị Thanh Nhàn
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”
  • 6 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Trao Duyên, Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Phân Tích Đoạn Trao Duyên Trong Truyện Kiều
  • Kê Hoach Đỏi Mới Cảm Thụ Văn Học Ke Hoach Mot Doi Moi Doc
  • Phải chăng chất lính đã thấm dần vào chất thi ca, tạo nên dư vị tuyệt vời cho tình Đồng chí. Nói đến thơ trước hết là nói đến cảm xúc và sự chân thành. Không có cảm xúc, thơ sẽ không thể có sức lay động hồn người, không có sự chân thành chút hồn của thơ cũng chìm vào quên lãng. Một chút chân thành, một chút lãng mạn, một chút âm vang mà Chính Hữu đã gieo vào lòng người những cảm xúc khó quên. Bài thơ Đồng chí với nhịp điệu trầm lắng mà như ấm áp tươi vui; với ngôn ngữ bình dị dường như đã trở thành những vần thơ của niềm tin yêu, sự hi vọng, lòng cảm thông sâu sắc của một nhà thơ cách mạng.

    Phải chăng, chất lính đã thấm dần vào chất thơ, sự mộc mạc đã hòa dần vào cái thi vị của thơ ca tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng và đầy cảm xúc?

    Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao, lẽ đương nhiên, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội sẽ trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hi vọng của cả dân tộc. Mở đầu bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã nhìn nhận, đã đi sâu vào cả xuất thân của những người lính:

    Quê hương anh đất mặn đồng chua

    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

    Sinh ra ở một đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa. Đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc và nhân dân đứng dưới một tròng áp bức. Anh và tôi, hai người bạn mới quen, đều xuất thân từ những vùng quê nghèo khó. hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của những người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họ tạm biệt người thân, tạm biệt xóm làng, tạm biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu, họ ra đi chiến đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tố quốc. Những khó khăn ấy dường như không thể làm cho những người lính chùn bước:

    Anh với tôi đôi người xa lạ

    Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

    Súng bên súng, đầu sát bên đầu

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

    Họ đến với cách mạng cũng vì lí tưởng muốn dâng hiến cho đời. Sổng là cho đâu chỉ nhận riêng mình. Chung một khát vọng, chung một lí tưởng, chung một niềm tin và khi chiến đấu, họ lại kề vai sát cánh chung một chiến hào… Dường như tình đồng đội cũng xuất phát từ những cái chung nhỏ bé ấy. Lời thơ như nhanh hơn, nhịp thơ dồn dập hơn, câu thơ cũng trở nên gần gũi hơn:

    Súng bên súng đầu sát bên đầu

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

    Đồng chí!…

    Một loạt từ ngữ liệt kê với nghệ thuật điệp ngữ tài tình, nhà thơ không chỉ đưa bài thơ lên tận cùng của tình cảm mà sự ngắt nhịp đột ngột, âm điệu hơi trầm và cái âm vang lạ lùng cũng làm cho tình đồng chí đẹp hơn, cao quý hơn. Câu thơ chỉ có hai tiếng nhưng âm điệu lạ lùng đã tạo nên một nốt nhạc trầm ấm, thân thương trong lòng người đọc. Trong muôn vàn nốt nhạc của tình cảm con người phải chăng tình đồng chí là cái cung bậc cao đẹp nhất, lí tưởng nhất, nhịp thở của bài thơ như nhẹ nhàng hơn, hơi thơ của bài thơ cũng như mảnh mai hơn. Dường như Chính Hữu đã thổi vào linh hồn của bài thơ tình đồng chí keo sơn, gắn bó và một âm vang bất diệt làm cho bài thơ mãi trở thành một phần đẹp nhất trong thơ Chính Hữu. Hồi ức của những người lính, những kỉ niệm riêng tư quả là bất tận:

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

    Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

    Cái chất nông dân thuần phác của những anh lính mới đáng quý làm sao! Đối với những người nông dân, ruộng nương, nhà cửa những thứ quý giá nhất. Họ sống nhờ vào đồng ruộng, họ lớn lên theo câu hát ầu ơ của bà của mẹ. Họ lớn lên trong những gian nhà không mặc kệ gió lung lay. Tuy thế, họ vẫn yêu, yêu lắm chứ những mảnh đất thân quen, những mái nhà thân thuộc…. Nhưng… họ đã vượt qua chân trời của cái tôi bé nhỏ để đến với chân trời của tất cả. Đi theo con đường ấy là đi theo khát vọng, đi theo tiếng gọi yêu thương của trái tim yêu nước. Bỏ lại sau lưng tất cả những bóng hình của quê hương vẫn trở thành nỗi nhớ khôn nguôi của mỗi người lính. Dầu rằng mặc kệ nhưng trong lòng họ vị trí của quê hương vẫn bao trùm như muốn ôm ấp tất cả mọi kỉ niệm. Không liệt kê, cũng chẳng phải lối đảo ngữ thường thấy trong thơ văn, nhưng hai câu thơ cũng đủ sức lay động hồn thơ, hồn người:

    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

    Sự nhớ mong chờ đợi của quê hương với những chàng trai ra đi tạo cho hồn quê có sức sống mãnh liệt hơn. Nhà thơ nhân hóa giếng nước gốc đa cũng có nỗi nhớ khôn nguôi với những người lính. Nhưng không kể những vật vô tri, tác giả còn sử dụng nghệ thuật hoán dụ để nói lên nỗi nhớ của những người ở nhà, nỗi ngóng trông của người mẹ đối với con, những người vợ đối với chồng và những đôi trai gái yêu nhau… Bỏ lại nỗi nhớ, niềm thương, rời xa quê hương những người lính chiến đấu trong gian khổ:

    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

    Sốt run người vầng trán đầm mồ hôi

    Áo anh rách vai

    Quần tôi có vài mảnh vá

    Miệng cười buốt giá

    Chân không giày

    Câu thơ chầm chậm vang lên nhưng lại đứt quãng, phái chăng sự khó khăn vất vả thiếu thốn của những người lính đã làm cho nhịp thơ Chính Hữu sâu lắng hơn. Đất nước ta còn nghèo, những người lính còn thiếu thốn quân trang, quân dụng, phải đối mặt với sốt rét rừng, cái lạnh giá của màn đêm… Chỉ đôi mảnh quần vá, cái áo rách vai, người lính vẫn vững lòng theo kháng chiến, mặc dù nụ cười ấy là nụ cười giá buốt, lặng câm. Tình đồng đội quả thật càng trong gian khổ lại càng tỏa sáng, nó gần gũi mà chân thực, không giả dối, cao xa… Tình cảm ấy lan tỏa trong lòng của tất cá những người lính. Tình đồng chí:

    Là hớp nước uống chung, nắm cơm bẻ nửa,

    Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa,

    Chia khắp anh em một mẩu tin nhà,

    Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp

    Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết

    (Nhớ – Hồng Nguyên)

    Một nụ cười lạc quan, một niềm tin tất thắng, một tình cảm chân thành đã được Chính Hữu cô lại chỉ với nụ cười – biểu tượng của người lính khi chiến đấu, trong hòa bình cũng như khi xây dựng Tố quốc, một nụ cười ngạo nghễ yêu thương, một nụ cười lạc quan chiến thắng…

    Đêm nay rừng hoang sương muối

    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

    Nhịp thơ đều đều 2/2/2 – 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Đó cũng chính là vẻ đẹp ngời sáng trong gian khổ của người lính. Vượt lên trên tất cả, tình đồng đội, đồng chí như được sưởi ấm bằng những trái tim người lính đầy nhiệt huyết, vẫn đứng canh giữ cho bầu trời Việt Nam dù đêm đầy khuya, sương đã xuống, màn đêm cũng chìm vào quên lãng. Hình ảnh người lính bỗng trở nên đẹp hơn, thơ mộng hơn. Đứng cạnh bên nhau sẵn sàng chiến đấu. Xem vào cái chân thực của cả bài thơ, câu thơ cuối cùng vẫn trở nên rất nên thơ:

    Đầu súng trăng treo

    Ánh trăng gần như gắn liền với người lính:

    Chiến tranh ở rừng Trăng thành tri kỉ

    (Ánh trăng – Nguyễn Duy)

    Một hình ảnh nên thơ, lãng mạn nhưng cũng đậm chất chân thực, trữ tình. Một sự quyện hòa giữa không gian, thời gian, ánh trăng và người lính. Cái thực đan xen vào cái mộng, cái dũng khí chiến đấu đan xen vào tình yêu làm cho biểu tượng người lính không những chân thực mà còn rực rỡ đến lạ kì. Chất lính hòa vào chất thơ, chất trữ tình hòa vào chất Cách mạng, chất thép hòa vào chất thi ca. Độ rung động và xao xuyến của cả bài thơ có lẽ chỉ nhờ vào hình ảnh ánh trăng này. Tình đồng chí cũng thế, lan tỏa trong không gian, xoa dịu nỗi nhớ, làm vơi đi cái giá lạnh của màn đêm. Nụ cười chiến sĩ như cất cao tiếng hát ngợi ca tình đồng chí. Thiêng liêng biết nhường nào, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội cụ Hồ sát cạnh vai nhau kề vai sát cánh cùng chiến hào đấu tranh giành độc lập.

    Quả thật, một bài thơ là một xúc cảm thiêng liêng, là một tình yêu rộng lớn, trong cái lớn lao nhất của đời người. Gặp nhau trên cùng một con đường Cách mạng, tình đồng chí như được thắt chặt hơn bằng một sợi dây yêu thương vô hình.

    Bài thơ Đồng chí với ngôn ngữ chân thực, hình ảnh lãng mạn, nụ cười ngạo nghễ của các chiến sĩ đã lay động biết bao trái tim con người. Tình đồng chí ấy có lẽ sẽ sống mãi với quê hương, với Tổ quốc, với thế hệ hôm nay, ngày mai hay mãi mãi về sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ “bánh Trôi Nước”. Tìm Các Thành Ngữ Và Nêu Tác Dụng Của Thành Ngữ Đó
  • Cảm Nhận Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Tây Tiến
  • Soạn Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Hoàn Cảnh Ra Đời, Nội Dung Và Nghệ Thuật Chính Của Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu
  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Sáng
  • Biện pháp tu từ trong 7 câu thơ đầu (khổ 1) bài Đồng Chí

    Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

    Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính Cách mạng:

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    + Phép tương đối: hoàn cảnh sống, xuất thân của hai người lính

    + Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”

    + Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện

    Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp ngữ: kề vai sát cánh, gắn bó keo sơn

    – “Đồng chí” – câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao tình cảm. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan, nó là tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 2) bài Đồng Chí

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

    – Hình ảnh “gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câu thơ giúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn của một gia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại.

    – Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ là một sự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công.

    – Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa qua động từ “nhớ: để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi.

    – Sự lặp lại của cụm từ “anh với tôi” cùng từ “từng” đã gợi cho ta cảm xúc đẹp nhất của anh bộ đội cụ Hồ, mặc dù thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần nhưng mà họ luôn sẵn sàng là điểm tựa dành cho nhau.

    – Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 3) bài Đồng Chí

    Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

    – Phép liệt kê bằng những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi “áo anh rách vai” -“quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn, miêu tả chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến.

    – Cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    Biện pháp tu từ trong 3 câu thơ cuối (khổ 4) bài Đồng Chí

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

    – Rừng hoang sương muối: sự khắc nghiệt của thời tiết, của gian khổ nhưng qua đó thể hiển rõ nét hơn sức mạnh của tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang; giúp họ phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, ý nghĩa cuộc chiến đấu.

    – Động từ “chờ” gợi tới tư thế sẵn sàng, tinh thần trách nhiệm cao cả của người lính.

    – “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn. “Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.

    – Từ “treo” tạo nên hình ảnh ánh trăng về đêm lơ lửng treo trên đầu súng là hình ảnh tạo nên nét thi vị, đặc sắc hơn cho bài thơ.

    – Nhịp thơ đều đều 2/2/2 – 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Nghệ thuật và biện pháp tu từ trong bài Chiều tối – Gợi ý phân tích và xác định nghệ thuật cùng các biện pháp tu từ sử dụng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.

    Đôi nét về bài thơ Chiều tối

    – Khi nhà thơ bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam (8/1942 – 9/1943, trên đường đi công tác)

    – Nhà thơ phải trải qua đoạn đời cơ cực, lao khổ, thử thách.

    – Từ tập Nhật kí trong tù (tập thơ chữ Hán, 134 bài, được gọi là kiệt tác…)

    – Là bài số 31, ghi lại chuyến chuyển lao từ Tĩnh Tây

    Biện pháp nghệ thuật và tu từ được sử dụng trong Chiều tối và ý nghĩa của chúng

    Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên và nỗi lòng thi nhân

    – Mở ra khung cảnh thiên nhiên rừng núi lúc chiều tối. Có cánh chim mỏi mệt mải miết bay về tổ phía rừng xa; Có chòm mây lẻ loi sót lại, lững lờ trôi giữa tầng không. Cảnh rộng lớn, quạnh vắng trong thời khắc cuối cùng của một ngày.

    – Vẻ đẹp của bức tranh:

    + Giống trong thơ ca cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên trong hai câu đầu đã được phác họa bằng những nét chấm phá (chỉ gợi ra một vài nét, cốt ghi lấy cái linh hồn của tạo vật ).

    + Hình ảnh cánh chim bay về tổ là nét vẽ phác họa không gian rừng núi và gợi ý niệm thời gian, tượng trưng cho buổi chiều:

    + Điểm khác biệt với thơ ca cổ là: hình tượng cánh chim trong thơ Bác được cảm nhận ở trạng thái bên trong (mỏi mệt. Ngoại cảnh cũng là tâm cảnh. Trong ý thơ có sự hòa hợp, đồng điệu giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên.

    + Hình ảnh “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không- thi liệu quen thuộc nhưng không mang ý nghĩa ước lệ triết học (cái khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không) mà có hồn người : lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước của người tù nơi đất khách.

    – Vẻ đẹp của con người:

    + Dù trong hoàn cảnh nào, tâm hồn của Bác vẫn luôn yêu quí, hướng về thiên nhiên.

    + Mệt mỏi và đau đớn nhưng chan chứa hồn thơ .

    + Là hình ảnh của bậc tao nhân mặc khách đang ung dung thưởng ngoạn cảnh chiều hôm.

    * Tóm lại

    – Bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển nhưng sinh động, gần gũi, có hồn.

    – Cảnh ngộ và tâm trạng của người tù xa xứ.

    – Một tấm lòng yêu thương tạo vật; một ý chí, nghị lực thép

    – Hai câu thơ không nói “thép” nhưng lại rất “thép”.

    : Cảm nhận về 2 câu thơ đầu bài Chiều tối

    Hai câu cuối: Bức tranh cuộc sống và ánh lửa trong tâm trí người tù

    – Hình ảnh cô gái xay ngô trong Chiều tối toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống (chữ “cô em”, điệp ngữ, âm hưởng…). Giữa núi rừng mênh mông, thiếu nữ sơn cước không bị hòa lẫn vào cảnh vật mà trái lại cô chính là điểm sáng của bức tranh (hình ảnh con người trong thơ Bà Huyện Thanh Quan thấp thoáng, mờ nhạt, nhỏ bé, chỉ tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của đất trời thiên nhiên)

    – Thái độ của thi nhân: Trìu mến hướng về con người và sự sống; quan tâm, yêu thương những người lao động nghèo, không phân biệt quốc gia, dân tộc.

    – Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu 3 được điệp lại ở đầu câu 4 “bao túc ma” đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như vừa diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian từ chiều đến tối. Mặt khác, chính chữ “hồng” ở cuối bài thơ cũng giúp người đọc hình dung ra bóng tối đang buông xuống xóm núi.

    – Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mỏi mệt, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ “hồng” trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “con mắt thơ” (thi nhãn), hoặc là “nhãn tự” (chữ mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa…” (Hoàng Trung Thông, ” Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác“, Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh, NXB KHXH,1979).

    Tóm lại:

    – Tâm hồn yêu thương con người.

    – Hình tượng vận động khỏe khoắn: từ ánh chiều âm u đến ánh lửa rực hồng, ấm áp; từ mệt mỏi đến khỏe khoắn; từ buồn đến vui.

    – Sự vận động này cho thấy tinh thần lạc quan yêu đời của một tâm hồn luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Nội Dung, Nghệ Thuật, Biện Pháp Tu Từ Của Bài “sông Núi Nước Nam”

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Bài Sông Núi Nước Nam Và Phò Giá Về Kinh
  • Bài Thơ: Sông Núi Nước Nam
  • Bài 5. Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) Bai 5 Song Nui Nuoc Nam Nam Quoc Son Ha Ppt
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Hãy Viết Đoạn Văn ( Khoảng 10 Câu) Miêu Tả Hàng Phượng Vĩ Vào Những Ngày Hè . Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ ( Gạch Chân Dưới Biện Pháp Ẩn Dụ
  • Nội dung đầu tiên (2 câu đầu): Nước Nam là của người Nam. Điều đó được sách trời định sẵn, rõ ràng.

    + Thời đó (thế kỉ XI), xưng Nam quốc là có ý nghĩa sâu xa bởi sau một ngàn năm đô hộ nước ta, bọn phong kiến phương Bắc chỉ coi nước ta là một quận của chúng và không thừa nhận nưởc ta là một quốc gia độc lập, có chủ quyền về lãnh thổ. Tiếp đó, xưng Nam đế cũng có nghĩa như vậy. Đế là hoàng đế. Xưng Nam đế có nghĩa đặt vua của nước ta ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa (vua các nước chư hầu chỉ được gọi là Vương). Khẳng định nước Nam là của người Nam là khẳng định chủ quyền độc lập của nước ta. Đó là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Đó còn là sự khẳng định tư thê làm chủ đất nước của dân tộc ta – một tư thế tự hào, hiên ngang.

    + Sự thật lịch sử trên lại được ghi “tại thiên thư” – điều ấy đã được trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu 2 nhuốm màu thần linh khiến cho sự khẳng định ở câu 1 tăng thêm.

    – Nội dung thứ hai (2 câu sau): Kẻ thù không được xâm phạm. Xâm phạm tất sẽ thảm bại.

    + Sau khi khẳng định chủ quyền của dân tộc, câu 3 bộc lộ thái độ đối với bọn giặc cướp nưởc – đó là thái độ vừa ngạc nhiên, vừa khinh bỉ: Tại sao quân lính của một nước tự xưng là thiên triều lại dám ngang nhiên xâm phạm trái lệnh trời? Đúng là bọn giặc, lũ phản nghịch mới dám hành động như vậy (nghịch lỗ: giặc dữ).

    + Câu 4 như là lời trực tiếp nói với bọn giặc dám xâm phạm tới đạo trời và lòng người, rằng: chúng sẽ thua to và nhất định chuốc lấy thất bại thảm hại. Điều đó chứng tỏ người sáng tác có niềm tin sắt đá là sẽ có đủ sức mạnh để bảo vệ chân lí, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đất nước. Hai câu sau khẳng định một lần nữa chân lí về chủ quyền độc lập của dân tộc. Chân lí ấy hợp ý trời và thuận lòng người.

    Đặc sắc về nghệ thuật của bài Sông núi nước Nam

    – Bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, cô đọng với việc sử dụng từ ngữ chính xác. Các từ ngữ đế, cư, tiệt nhiên, thiên thư, thủ bại góp phần khẳng dịnh chân lí thiêng liêng cao cả. Nước Nam là của người Việt, nước Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

    – Bài thơ viết bằng chữ Hán, có nhiều yếu tố Hán Việt khiến cho lời thì ít nhưng ý vô cùng.

    – Giọng điệu chung của bài thơ là đanh thép, dứt khoát như dao chém đá. Cảm xúc của người viết được dồn nén trong ý tưởng. Đó cũng là đặc điểm chung của thơ trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán – bày tỏ ý chí, quan điểm, tấm lòng,… Lời thơ như những câu nghị luận, mang tính chất tuyên ngôn và ẩn trong đó là cảm xúc tự hào dân tộc, là ý chí quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, cương vực đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Sông Núi Nước Nam
  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Sông Núi Nước Nam
  • 4 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu, Văn Mẫu Lớp 9
  • Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa
  • Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022
  • Bài Tập Đọc Hiểu: Đọc Đoạn Thơ Sau Rồi Trả Lời Câu Hỏi: Bao Giờ Cho Tới Mùa Thu, Trái Hồng Trái Bưởi Đánh Đu Giữa Rằm, Bao Giờ Cho Tới Tháng Năm, Mẹ Ra Trải Chiếu Ta Nằm Đếm Sao … (Trích “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa”
  • Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy
  • Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy
  • Vài nét về tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả:

    – Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941.

    – Quê ở Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội).

    – Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

    – Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ hay những kí ức tuổi ấu thơ không thể nào quên.

    – Tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ, 1968), Những gương mặt, những khoảng trời (1973), Cát sáng (1983)…

    2. Tác phẩm:

    – 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành luật tại nước Nga xa xôi.

    – In trong tập ” Hương cây – Bếp lửa ” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    Những nội dung ôn luyện văn 9 thi vào 10 đối với bài thơ Bếp lửa

    – Phương thức biểu đạt trong Bếp Lửa: Biểu cảm + Tự sự + Miêu tả + Nghị luận.

    – Thể thơ: kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ, 8 chữ.

    – Nội dung bao trùm: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” đã gợi lại những kỷ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu. Đồng thời, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Mạch cảm xúc của bài thơ Bếp Lửa: Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Người cháu nay đã trưởng thành, suy ngẫm, thấu hiểu về bà với bao cảm phục, biết ơn. Từ nước Nga xa xôi, người cháu đã gửi niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài đã đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong Bếp lửa của Bằng Việt

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà:

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật khổ 1 bài thơ Bếp lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Hình ảnh bếp lửa hiện lên giản dị mà nồng ấm biết bao!

    – Điệp ngữ “Một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.

    – “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.

    – Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến hình ảnh bập bùng ẩn hiện trong buổi sớm mai hoà cùng làn sương sớm.

    – “Ấp iu” gợi bàn tay khéo léo, tấm lòng chi chút của người nhóm lửa lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.

    – Từ “nắng mưa” gợi tả sự đằng đẵng của thời gian, vừa thể hiện sự tảo tần, vất vả triền miên của cuộc đời bà.

    2. Hồi tưởng về bà và những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà: 2.1 Tuổi thơ của tác giả có nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 Bếp lửa

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    – Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ ấy đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cơ cực gắn liền với một giai đoạn đau thương, khủng khiếp nhất của đất nước bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.

    – Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất của cái “đói mòn đói mỏi”, của dáng hình người cha “khô rạc ngựa gầy” trong lao động vất vả. Tất cả gợi những tháng ngày đói quay đói quắt ở làng quê Việt Nam. Khi nhớ về những tháng ngày gian khổ ấy, người cháu không khỏi xúc động. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hoà lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

    Có thể em quan tâm: Văn mẫu phân tích khổ 2 Bếp lửa

    2.2. Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu nhóm lên ngọn lửa ấm áp để nuôi dưỡng bao bọc, chở che cho đứa cháu

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong khổ 3 bài thơ Bếp lửa

    Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    – Điệp từ: bà – cháu tạo nên hình ảnh quấn quýt, gần gũi và đầy yêu thương của bà cháu.

    Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, dạy bảo, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học… Cảm cái công ơn ấy, người cháu lại càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa của bà là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc bà dành cho cháu.

    – Điệp từ “tu hú” thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của âm thanh, vừa có sự gần gũi nhưng vẫn thể hiện khoảng không mênh mông. Gợi nhớ về kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.

    – Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi! Chẳng….” thể hiện tâm trạng của người cháu, nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi.

    2.3. Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu

    Biện pháp tu từ trong khổ thứ 4 bài thơ Bếp lửa

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.”

    Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá, huỷ diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu. Vẻ đẹp của tình người toả sáng trong những năm chiến tranh khói lửa. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh khói lửa chiến tranh. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

    “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.

    Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm kháng chiến. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà thật là giàu lòng yêu thương. Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận được lòng biết ơn, niềm tự hào của người cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

    2.4. Hình ảnh người bà và những kỉ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa

    Biện pháp tu từ trong khổ 5 Bếp lửa

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    – “Bếp lửa” được bà nhen lên thành “ngọn lửa” mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm lên từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, tình yêu thương, niềm tin. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Hình ảnh người bà, hình ảnh bếp lửa toả sáng lung linh trong kí ức tuổi thơ và có ý nghĩa nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Điệp ngữ “một ngọn lửa” với kết cấu song hành đã làm giọng thơ ngân vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    3. Suy nghĩ về bà và tự cảm của người cháu

    Biện pháp tu từ trong khổ 6 bài thơ Bếp lửa

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa ….. Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    – Tác giả thương bà thật thấm thía, chân thành. Hình ảnh mưa nắng trở đi trở lại, bao xót xa. Nhưng bà vất vả vì bà luôn “giữ thói quen dạy sớm” để nhóm lửa, vì bà luôn ấp iu yêu thương bằng tất cả sự nồng đượm của tấm lòng. Thì ra, giặc giữa, đói kém, nắng mưa… làm bà lận đận đã đành, nhưng thương con, thương cháu mà bà tự nguyện lận đận trọn kiếp người.

    – Điệp từ: “nhóm” diễn tả những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời bà:

    + Bà là người nhóm lửa cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình.

    + Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm niềm yêu thương, niềm vui, niềm tin trong lòng người cháu.

    – Hình ảnh “bếp lửa”: từ nghĩa tả thực đã được tác giả cất giữ trong tâm hồn như một biểu tượng: hơi ấm tình thương, sự che chở, nơi quần tụ, nơi dẫn dắt, niềm tin… bà dành cho cháu, giản dị mà thiêng liêng.

    – Phép ẩn dụ “nhóm niềm…” nó không chỉ khơi gợi niềm yêu thương gia đình, tình làng nghĩa xóm mà nó còn khơi gợi cả những kí ức tuổi thơ, kỉ niệm khó quên nhất.

    4. Lòng kính yêu, tự hào về bà, về quê hương đất nước

    Biện pháp tu từ trong khổ 7 bài Bếp Lửa

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    – Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”… nhưng với cháu, bếp lửa của bà luôn hiện diện. Cháu không nguôi nhớ về bà, về bếp lửa và nỗi nhớ ấy luôn thường trực, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    Bài thơ Bếp Lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa! Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về,

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Nói Giảm, Nói Tránh
  • Chủ Đề: Nói Quá, Nói Giảm, Nói Tránh
  • Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ (Nói Quá, Nói Giảm Nói Tránh)
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm (Chi Tiết)
  • Đề Thi Khảo Sát Chất Lượng Đầu Năm Môn Ngữ Văn Lớp 12 Trường Thpt Thuận Thành Số 1, Bắc Ninh Năm Học 2022
  • Bố Cục, Biện Pháp Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Nói Phóng Đại Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nói Quá Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Đàn Gia Súc, Gia Cầm Trong Thời Điểm Chuyển Giao Mùa
  • Một Số Kết Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo
  • “Bắt Mạch” Tham Nhũng Trong Giáo Dục
  • Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận là bài thơ trong chương trình Văn 9 em hãy tìm bố cục bài thơ và nêu một số biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ đó.

    1. Bố cục bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

    Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá có thể chia làm 3 phần:

    – Hai khổ đầu: Quang cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi khi một ngày đang kết thúc.

    – Bốn khổ tiếp theo: Quang cảnh đoàn thuyền đánh cá hoạt động trong một đêm trăng.

    – Khổ thơ cuối cùng: Cảnh đoàn thuyền đánh cá quay về là lúc bình minh bắt đầu lên, một ngày mới bắt đầu.

     

    2. Biện pháp nghệ thuật bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

    Mỗi đoạn thơ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đều có những biện pháp nghệ thuật riêng.

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm với gió khơi”

    Tác giả tạo ra các hình ảnh gắn kết các sự vật, hiện tượng lại với nhau đó là câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui cho người lao động, chính câu hát đã biến thành sức mạnh kết với với gió biển làm căng cánh buồm giúp con thuyền lướt sóng ra khơi trong đêm.

    “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”  tác giả sử dụng hình ảnh nhân hóa, tiếng thở của đêm chính là nhịp thở của thủy triều và tiếng rì rào của sóng biển. Những ngôi sao trên bầu trời phản chiếu xuống mặt nước được sóng biển nâng lên hạ xuống một cách hùng vĩ.

    Trong bài thơ tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật bao gồm so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Chính điều này làm nổi bật hình ảnh những người đánh cá ra khỏi thật hùng vĩ.

    Lớp 9 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cầm Máu Và Băng Bó Vết Thương
  • Trắc Nghiệm Gdqp 11 Bài 7 (Có Đáp Án) – Đề Số 1
  • Giáo Dục Quốc Phòng
  • Cách Giảm Mỡ Bụng Tại Nhà Hiệu Quả Cho Nữ Chỉ Trong 1 Tuần
  • 10 Cách Giảm Mỡ Bụng Sau Sinh Cấp Tốc, Đơn Giản, Hiệu Quả 100%
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Sáng
  • Suy Nghĩ Về Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen. Gần Đèn Thì Rạng
  • Giải Thích Ý Nghĩa Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Giấy Đỏ Buồn Không Thắm…
  • Chín năm làm một Điện Biên

    Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

    Mỗi lần đọc lại câu thơ ấy của Tố Hữu, trong tôi lại ùa về biết bao kỉ niệm của những năm tháng kháng chiến gian khổ nhưng hào hùng. Tôi nhớ những ngày hành quân ra trận, nhớ những hôm liên hoan cùng bà con đồng bào. Nhưng có lẽ, để lại dấu ấn rõ nét hơn cả là những người đồng đội đã cùng tôi kề vai sát cánh.

    Nghe theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác, tôi cùng nhiều người khác hăm hở lên đường đi đánh giặc. Vốn xuất thân là nông dân, hành trang của tôi chẳng có gì ngoài lòng nồng nàn yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Tôi được phân vào một đơn vị tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, trong đơn vị cũng có khá nhiều người có xuất thân và hoàn cảnh giống tôi, chúng tôi nhanh chóng làm quen và trở thành thân thiết. Điều đầu tiên chúng tôi trao đổi là về miền quê của mỗi người. Quê hương anh là một vùng chiêm trũng ven biển khó cấy cày làm ăn, còn quê tôi cũng chẳng khá hơn gì, là vùng trung du miền núi “chó ăn đá gà ăn sỏi”. Phải chăng cùng xuất thân từ những miền quê nghèo khó đã giúp chúng tôi xích lại gần nhau hơn? Giữa bọn tôi tồn tại một sợi dây cảm thông kì lạ mặc dù chỉ vừa mới quen biết. Hơn nữa, ngoài có chung hoàn cảnh xuất thân, chúng tôi còn chung cả lí tưởng và mục đích chiến đấu. Những người nông dân vốn xưa nay chỉ quen tay cấy tay cày bỗng giờ phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ ruộng nương nhà cửa, những người thân yêu và miền quê yêu dấu. Nói chúng tôi ra đi mà không lưu luyến là nói dối, nhưng vận nước đang lâm nguy, chẳng một ai có thể ngồi yên chờ đợi. Tôi cùng đồng đội đành phải gác lại tất cả, quyết chí hy sinh vì Tổ quốc.

    Tây Bắc vốn nổi tiếng là nơi rừng thiêng nước độc. Những cơn sốt rét rừng vẫn còn ám ảnh tôi tới tận bây giờ, khi nghĩ lại vẫn thấy rùng mình ớn lạnh. Ai trải qua rồi mới biết cái cảm giác bên trong thì lạnh buốt, bên ngoài thì nóng toát mồ hôi nó như thế nào. Thực tế, số đồng đội tôi chết vì sốt rét còn nhiều hơn cả hy sinh ngoài trận mạc. Khi ấy, có một chiếc chăn đơn mà tận hai người đắp chung. Thế nhưng, chính cái thiếu thốn, gian khổ: “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” ấy đã khiến chúng tôi dễ dàng cảm thông và thấu hiểu nhau nhiều hơn. Cuộc kháng chiến những ngày đầu vô cùng khó khăn vì phải chờ sự viện trợ từ quốc tế. Những ngày thiếu thốn quân trang quân bị, nhìn cái áo rách vai, cái quần có vài mảnh vá, chúng tôi chỉ biết cười, nắm tay nhau để cùng vượt qua khó khăn. Có cả những hôm hành quân trong rừng mà chân không giày, cộng với cái rét cắt da cắt thịt làm cho cuộc hành quân trở nên gian nan gấp bội phần.

    Bên cạnh những khó khăn, gian khổ thường thấy, đời lính cũng không hiếm những phút giây lãng mạn. Những hôm phục kích chờ giặc, bên cạnh đồng đội, tôi còn có vầng trăng trên cao làm bạn. Ngắm nhìn ánh trăng chiếu rọi khắp nhân gian, khu rừng không còn âm u, vắng lặng mà mang nét thơ mộng, trữ tình hiếm có. Đêm càng khuya, vầng trăng càng chếch bóng xuống dần. Có lúc trăng như đang treo lơ lửng trên đầu ngọn súng, tâm hồn người chiến sĩ bỗng chốc biến thành thi sĩ.

    Cuộc chiến đã đi qua hơn nửa đời người nhưng mỗi lần nhớ lại những năm tháng ấy, trong tôi dâng lên một niềm xúc động khó tả. Tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn chính là sức mạnh giúp chúng tôi vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và đi đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Chí Phèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Chí Phèo Của Nam Cao
  • Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • Soạn Bài Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Của Chu Mạnh Trinh
  • Soạn Bài Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn (Chi Tiết)
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • – Gthiệu vài nét về tgiả NAm cao và sự nghiệp văn học của ông

    – Gthiệu tác phẩm Chí Phèo và đặc sắc nghệ thuật cảu tác phẩm

    TB:

    Đặc sắc nghệ thuật:

    – NT điển hình hoá của Nam Cao thể hiên qua cách miêu tả, phân tích tâm kí của n/v Chí Phèo, Chí Phèo đại diện cho những ng` nông dân bị bần cùng hoá tới mức đọ tột cùng vừa bị đẩy và con đường lưu manh hoá, tha hoá tớy mức đánh mất cả nhân hình lẫn nhân tính. Tuy nhiên Nam Cao cũng tẩo hình ảnh nhân vật Chí Phèo đọc đáo, tiêu biểu và có thể nói là duy nhất trong nần văn học Việt Nam, điều đó đc thể hiện trong nthuật khắc họa khuôn mặt của Chí

    – Nam Cao miêu tả nhân vật trong quá trình vận đọng và phát triển của tính cách, của sự phát triển về tâm lí, khiến nhân vật trở nên có sức sống, sinh đônngj và do đó nhân vật trở thành điển hình của văn học.

    – Qua Chí Phèo, Nam Cao rất thành công trong việc tổ chức tác phẩm:

    + NC tạo nên một cốt truyện có tính kịch tính cai: Cốt truyện đc dẫn dắt bằngcác nút thắ kịhc tính để dẫn tớy một kết thúc hợp lí mà về hình thức tưởng chừng đó là 1 kết thúc ngẫu nhiên

    + Cốt truyện của NC đc đặt trong khung time hiện tại trong đó có sự đảo chiều, có quay ngược time kể, PHần mở đầu và kết thúc thụoc time hiện tại, tức là gắn vs những gì đang diễn ra trc’ mắt ng` kể chuyện, twong ứng vs những gì ng` kể chuyện đnag quan sát đc. Phần giữa có sự dảo chiều time, nhân vật ng` kể chuyện đu ngwojc về quá khứ đẻ chỉ ra gốc gác của Chí Phèo ròu quay lại kể theo trình tự qkhứ- hiện tại để nối liền amchj kể. Sự thay đổi thời gian kể gắn liền vs thay đôi điểm nhìn trần thuật, tạo nên tiếng nói đa âm trong câu chuyện, cụ thể là câu chuyện về cđời chí Phèo ko chỉ đc tái hiện đơn giản qua cách kể, lời kể của n/v ng` kể chuyện mà còn qua điểm nhìn của chính Chí Phèo, Thị Nở, bá Kiến,…. các điểm nhìn này tạo sự đa dạng trong nghệ thuật trần thuật, tạo ra sự phối âm, hoà điệu trong tác phẩm

    – NC rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ kể chuyện, bao gồm ngôn ngữ kể và tả của nhân vật ng` kể chuyện, ngôn ngữ mang tính cá thể và đc cá thể hoá của các nhân vật trong truyện

    + kết hợp đối thoại và đọc thoại, lời kể gián tiếp + lời kể nửa trực tiếp

    + Độc thoại mang dấu ấn độc thoịa nội tâm như đoạn Chí Phèo tỉnh rwouj ngồi ôn lại qkhứ, cảnh Bá Kiến ngồi đợi bà Ba

    + Kiểu đối thoại một chiều mà bên phát tín hiệu thì cứ phát, bên nhận tính hiệu thì ko có phản ứng rep như cảnh Chí Phèo – Thị Nở gặp nhau sau trận ốm

    – Khi tạo ra các nhân vật, NC trung thành vs nguyên tắc phản ánh hiện thực song nhà văn ko phóng đại cựuc đoan phần bản năng, thú tính trong con ng`. ko hạ thấp, ko xóa bỏ nét đẹp mang tính ng` của các nhân vật, đây chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật vị nhân sinh của NC

    KB:

    Kđ ngòi bút tài hoa của NC trong tác phẩm Chí Phèo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Chí Phèo
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm “chí Phèo” Hay Nhất (4 Mẫu)
  • Phân Tích Hệ Thống Các Biện Pháp Nghệ Thuật Thể Hiện Nhân Vật Chí Phèo Trong Truyện Ngắn “chí Phèo”
  • Định Nghĩa Về Phép Tương Phản Và Tăng Tiến? Nêu Ra Những Câu Có Sử Dụng 2 Biện Pháp Nghệ Thuật Trên Trong Văn Bản ”sống Chết Mặc Bay” Và Tác Dụng Của Chúng
  • Thế Nào Là Nghệ Thuật Tương Phản? Nêu Cách Thể Hiện Thủ Pháp Nghệ Thuật Ấy Trong Truyện Sống Chết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100