Bố Cục, Biện Pháp Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

--- Bài mới hơn ---

  • Nói Phóng Đại Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Nói Quá Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Bệnh Cho Đàn Gia Súc, Gia Cầm Trong Thời Điểm Chuyển Giao Mùa
  • Một Số Kết Quả Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo
  • “Bắt Mạch” Tham Nhũng Trong Giáo Dục
  • Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận là bài thơ trong chương trình Văn 9 em hãy tìm bố cục bài thơ và nêu một số biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ đó.

    1. Bố cục bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

    Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá có thể chia làm 3 phần:

    – Hai khổ đầu: Quang cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi khi một ngày đang kết thúc.

    – Bốn khổ tiếp theo: Quang cảnh đoàn thuyền đánh cá hoạt động trong một đêm trăng.

    – Khổ thơ cuối cùng: Cảnh đoàn thuyền đánh cá quay về là lúc bình minh bắt đầu lên, một ngày mới bắt đầu.

     

    2. Biện pháp nghệ thuật bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

    Mỗi đoạn thơ trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá đều có những biện pháp nghệ thuật riêng.

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

    Câu hát căng buồm với gió khơi”

    Tác giả tạo ra các hình ảnh gắn kết các sự vật, hiện tượng lại với nhau đó là câu hát, cánh buồm và gió khơi. Người đánh cá căng buồm cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui cho người lao động, chính câu hát đã biến thành sức mạnh kết với với gió biển làm căng cánh buồm giúp con thuyền lướt sóng ra khơi trong đêm.

    “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”  tác giả sử dụng hình ảnh nhân hóa, tiếng thở của đêm chính là nhịp thở của thủy triều và tiếng rì rào của sóng biển. Những ngôi sao trên bầu trời phản chiếu xuống mặt nước được sóng biển nâng lên hạ xuống một cách hùng vĩ.

    Trong bài thơ tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật bao gồm so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Chính điều này làm nổi bật hình ảnh những người đánh cá ra khỏi thật hùng vĩ.

    Lớp 9 –

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cầm Máu Và Băng Bó Vết Thương
  • Trắc Nghiệm Gdqp 11 Bài 7 (Có Đáp Án) – Đề Số 1
  • Giáo Dục Quốc Phòng
  • Cách Giảm Mỡ Bụng Tại Nhà Hiệu Quả Cho Nữ Chỉ Trong 1 Tuần
  • 10 Cách Giảm Mỡ Bụng Sau Sinh Cấp Tốc, Đơn Giản, Hiệu Quả 100%
  • Khái Quát Những Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chùm Ca Dao Về Tình Cảm Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tu Từ Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Cùng Những Ví Dụ Chi Tiết Dễ Hiểu
  • Tài Liệu Ôn Thi Môn Văn Quốc Gia
  • Một Số Kiến Thức Cơ Bản Về Tác Phẩm ” Tây Tiến” Của Quang Dũng.
  • Phân Tích Bài Thương Vợ Ngắn Gọn Và Trọng Tâm
  • Nghe thuat trong chum ca dao ve tinh cam gia dinh. Đề bài: Khái quát những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong chùm ca dao về tình cảm gia đình

    Trong tuổi thơ của mỗi chúng ta, ca dao dân ca tựa như một người bạn thân thiết đồng hành, lớn lên cùng ta, vỗ về tâm hồn chúng ta nơi những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ. Chúng ta say giấc nồng khi bên tai còn văng vẳng tiếng ru ngân nga, ngủ say trong cả những buổi trưa hè đến những đêm đông lạnh giá. Bởi vậy mà tình cảm gia đình luôn luôn là một phần rất quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam. Đằng sau những câu hát về tình cảm gia đình, đời sống tinh thần,cụ thể đó là tâm hồn, tình cảm của nhân dân Việt Nam được hiện lên rõ nét.

    Tình cảm gia đình trước nhất được thể hiện qua ơn nghĩa của người con đối với công lao của cha mẹ, đó là thứ tình cảm thiêng liêng nhất bởi nó được gắn kết với nhau bởi huyết thống. Cha mẹ là những người ban cho ta sinh mạng, sự sống và cuộc đời, ban cho ta cả những cảm xúc quý giá của một con người.

    Công cha như núi ngất trời

    Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

    Những câu ca dao trên đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật thân thuộc gần gũi hay xuất hiện trong ca dao dân ca, tạo nên hiệu quả làm tăng thêm tình cảm, tăng giá trị và cảm xúc cho người đọc, người nghe. Biện pháp đối xứng công cha- nghĩa mẹ, núi- biển tưởng chừng như đối lập nhau nhưng thực ra đã làm khắc sâu thêm sự vĩ đại, vĩnh cửu của công ơn cha mẹ và sự hy sinh của họ. Thể thơ lục bát với nhịp lên xuống mềm mỏng, lắng đọng và sự ngọt ngào của những điệu hát ru đã làm cho những câu ca dao trở nên nhẹ nhàng, sâu lắng như một lời thủ thỉ hiền hòa, tâm tình. Nghệ thuật so sánh “như núi”, “như nước” thật dân dã, thân quen, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ ăn sâu vào lòng người. Núi và biển đều là những nơi mênh mông, vĩnh hằng, người cha thì vững chãi như núi còn người mẹ thì hiền lành, yên bình tựa biển sâu. Ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ được khéo léo đưa vào câu ca dao, chạm nhẹ tới trái tim của những người con đang chịu ơn. Biện pháp so sánh đã giúp chúng ta nhận thấy được lòng biết ơn sâu nặng của những người con đối với cha mẹ của mình.

    Chiều chiều đứng trước ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    Câu ca dao thứ hai trong chùm ca dao đã sử dụng từ láy “chiều chiều”, gợi sự buồn bã ảm đạm, thê lương khi thời điểm tắt dần của ánh nắng, thời khắc hoàng hôn, giao hòa ngày đêm. Ta có thể hình dung ra hình ảnh người con gái lấy chồng xa quê đang âm thầm đứng nơi khuất lấp “ ngõ sau” để nhớ về mẹ, nhớ về quê hương mỗi buổi chiều tà. Tại đây xuất hiện từ láy “chiều chiều” và lặp từ chiều một lần nữa ở “chín chiều”. Thông qua đó phác họa phần nào một nỗi lòng xót xa, sâu lắng, nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Tất cả đó chính là tình yêu gia đình và tình yêu quê hương sâu sắc của những người con xa xứ, dù sống xa nhà nhưng vẫn một lòng hướng về quê mẹ, vẫn “ruột đau chín chiều”.

    Ngó lên- nuộc lạt

    Bao nhiêu nuộc lạt- nhớ ông bà bấy nhiêu.

    Hình ảnh so sánh “nuộc lạt” và lối so sánh bao nhiêu- bấy nhiêu đã ít nhiều khắc họa lên nỗi nhớ trùng trùng điệp điệp không thể nào kể xiết của người cháu xa cách. “Ngó lên” là hành động chỉ sự tôn kính, từ “ngó” chỉ sự gần gũi. Hình ảnh “nuộc lạt” so sánh với tình thân đã thể hiện tình cảm huyết thống khăng khít và nỗi nhớ da diết sâu đậm của người cháu đối với ông bà của mình.

    Có lẽ ta đã từng nghe câu ca dao: “Anh em như thể tay chân” ở bất cứ gia đình nào. Tình cảm giữa anh chị em là tình cảm hòa hợp, là sự hiểu rõ nhau, gắn bó khăng khít với nhau của những người anh em ruột thịt cùng thế hệ, đồng thời là những người bạn đồng trang lứa “Như thể tay chân”, “Anh em nào phải người xa”. Phương thức so sánh anh em với chân tay như thể nhắc đến lẽ sống còn: tay chân không thể nào thiếu nhau giống như anh em trong một nhà vậy, không chỉ lúc gian nan hoạn nạn luôn cần có nhau mà còn chia sẻ với nhau những niềm vui trong cuộc sống. Nhờ vào biện pháp so sánh, tác giả dân gian đã gửi lời khuyên nhủ tới những người anh em phải đoàn kết, hòa thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau làm cho cha mẹ vui lòng bởi tay chân trên cùng một con người không thể nào thiếu nhau được.

    Tóm lại, chùm bốn bài ca dao nói trên đều chứa nội dung nói về tình cảm gia đình: đó là tình phụ tử, mẫu tử, con cháu đối với ông bà, tình anh em một nhà. Tất thảy đó là những tình cảm thiêng liêng sâu nặng, là tình yêu ăn sâu tận xương tủy, luôn tồn tại trong tim và nhận thức mà bất cứ con người nào cũng có, nó cần được nâng niu trân trọng và được bảo vệ.

    TU KHOA TIM KIEM:

    KHAI QUAT NHUNG BIEN BIEN PHAP NGHE THUAT

    CHUM CAU HAT VE TINH CAM GIA DINH

    CHUM CA DAO VE TINH CAM GIA DINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩn Dụ Là Gì? Có Những Kiểu Ẩn Dụ Nào, Lấy Ví Dụ Chi Tiết Về Từng Kiểu Ẩn Dụ
  • 4 Phương Pháp Xử Lý Chất Thải – Rác Thải Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Những Tác Hại Và Cách Xử Lý Rác Thải Nhựa Hiệu Quả Nhất
  • Chung Tay Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Văn Hóa Nhà Trường Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Phân Môn Vẽ Trang Trí
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Phân Môn Vẽ Trang Trí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ Đạt Hiệu Quả
  • Biện Pháp Giúp Trẻ Khó Khăn Về Ngôn Ngữ Qua Các Hoạt Động Ở Trường Mầm Non
  • Cho đề bài: Thuyết minh một trong các đồ dùng sau: cái quạt, cái bút, cái kéo, chiếc nón.

    1. Yêu cầu của luyện tập:

    – Về nội dung thuyết minh: nêu được công dụng, cấu tạo, chủng loại, lịch sử của cái quạt (cái bút, cái kéo, chiếc nón).

    – Về hình thức thuyết minh: vận dụng một số biện pháp nghệ thuật để làm cho bài viết vui tươi, hấp dẫn như kể chuyện, tự thuật, hỏi đáp theo lối nhân hoá,…

    – Về nội dung thuyết minh: nêu được công dụng, cấu tạo, chủng loại, lịch sử của đối tượng thuyết minh

    – Về hình thức thuyết minh: vận dụng một số biện pháp nghệ thuật làm cho bài viết sinh động, hấp dẫn.

    2. Yêu cầu chuẩn bị:

    – Đề bài: Thuyết minh về cái quạt

    1. Mở bài: Giới thiệu chung về cái quạt

    2. Thân bài:

    a. Lịch sử ra đời của quạt.

    b. Phân loại quạt trong đời sống.

    c. Cấu tạo của chiếc quạt nói chung

    d. Cách sử dụng và cách bảo quản quạt trong đời sống hằng ngày.

    e. Giá trị của chiếc quạt…

    3. Kết bài: Cảm nghĩ chung về quạt trong đời sống hiện tại.

    – Đề bài: Thuyết minh về cái kéo

    1. Mở bài: Giới thiệu chung về cái kéo

    2. Thân bài:

    a. Lịch sử ra đời của kéo.

    b. Phân loại kéo trong đời sống.

    c. Cấu tạo của chiếc kéo nói chung

    d. Cách sử dụng và cách bảo quản kéo trong đời sống hằng ngày.

    3. Kết bài: Cảm nghĩ chung về kéo trong đời sống hiện tại.

    – Đề bài: Thuyết minh về chiếc nón

    1. Mở bài: Giới thiệu chung về chiếc nón

    2. Thân bài:

    a. Lịch sử chiếc nón.

    b. Cấu tạo của chiếc nón

    c. Quy trình làm ra chiếc nón

    d. Giá trị kinh tế, văn hóa, nghệ thuật của chiếc nón.

    3. Kết bài: Cảm nghĩ chung về chiếc nón trong đời sống hiện tại.

    Đoạn mở bài thuyết minh về chiếc nón (tham khảo)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh
  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm ?
  • Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì?
  • Làm Sao Để Tránh Các Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại Từ Eu?
  • Top 6 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9 Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích 3 Khổ Cuối Mùa Xuân Nho Nhỏ (Phân Tích Nghệ Thuật Luôn)
  • Phân Tích Nội Dung, Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Quê Hương
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ
  • Thuyết minh về cây bút bi có sử dụng biện pháp nghệ thuật – Bài làm 1

    Trong suốt một quãng đời cắp sách đến trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước… và tất cả những vật dụng dó luôn là người bạn thân không thể thiếu được đối với học sinh. Trong đó không thể không nói đến cây bút bi.

    Khi học sinh cần phải ghi chép lại rất nhiều kiến thức mà thầy, cô giảng bài với tốc độ khá nhanh nên bút máy không thể đáp ứng được yêu cầu này cho nên chiếc bút bi chính là cứu cánh để giúp cho học sinh có được viết được nhanh mà sạch đẹp.

    Nói về nguồn gốc của chiếc bút bi đầu tiên, được một nhà báo Hungary làm việc tại Anh tên Laszlo Biro giới thiệu vào năm 1938. Có thể nói điều khiến ông nghĩ ra việc sáng chế ra loại bút bi này là vì những cây bút máy luôn gây cho ông biết bao nhiêu phiền toái. Đó là hay làm rách giấy, phải bơm mực thường xuyên và lại còn hay bị hư hỏng, dây mực ra. Sự kiện vào ngày 15 tháng 6 năm 1938 ông Biro được nhận bằng sáng chế Anh quốc. Và cũng từ đây thì bút bi được ra đời nó đã được cải tiến nhiều để phù hợp với người dùng và đã trở nên thông dụng khắp thế giới. Tuy nhiên, dẫu có khác nhau về kiểu dáng như chúng đều có cấu tạo chung giống nhau. Hình ảnh chiếc bút bi có ruột là một ống mực đặc, đầu ống được gắn với một viên bi nhỏ có đường kính khoảng từ 0,7 đến 1 milimet, cũng được coi như là ngòi bút. Khi chúng ta viết mực được in lên giấy là nhờ chuyển động lăn của viên bi này và loại mực dùng cho bút khô rất nhanh không giống như bút mực nên rất thuận lợi cho người sử dụng.

    Bạn có biết được rằng đối với các chi tiết của bút dù quan trọng hay thứ yếu đều góp phần tạo nên một cây bút. Thực sự cũng giống như một kiếp tằm rút ruột nhả tơ, âm thầm giúp ích cho đời để rồi khi cạn mực thì người sử dụng lại vứt bỏ bút đi nhanh chóng. Hiện nay có rất nhiều nhà sản xuất bút bi như Bến Nghé, Đông Á, Thiên Long, Hán Sơn… đã lần lượt cho ra đời hàng loạt mẫu mã từ đơn giản cho đến cầu kỳ như bút bấm, những chiếc bút xoay, bút hai màu, ba màu… Cho dù có đủ chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng như cầu người sử dụng một cách tốt nhất. Bút không chỉ thuận lợi mà còn mang tính thẩm mỹ đúng với sở thích của người tiêu dùng.

    Thoạt nhìn ta sẽ nhận thấy được hình ảnh cây bút vẻ ngoài mộc mạc, đơn giản song cũng có cây được mạ vàng sáng loáng trông rất đẹp. Nếu như chúng ta ngắm nhìn bút, người ta biết được phần nào về đẳng cấp của người sử dụng. Thế nhưng nhìn nét chữ thì mới đoán được tính cách hay trình độ của nhau. Từ những điều này chúng ta hãy luôn luôn trân trọng cây bút của mình.

    Không sai chút nào khi nói rằng bút bi là một trong những phát minh quan trọng của con người. Ngày nay, thì trung bình cứ 1 giây lại có 57 cây bút bi được bán ra trên thế giới. Từ chính con số này cũng đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng quan trọng của nó. Khi khoa học ngày càng tiến bộ, nhiều công cụ ghi chép tinh vi hơn, chính xác hơn lần lượt xuất hiện, thế nhưng bút bi vẫn được nhiều người sử dụng bởi nó rẽ và tiện lợi rất nhiều.

    Mỗi khi chúng ta cầm cây bút bi trên tay, nắn nót từng chữ viết cho người thân yêu, chúng ta mới gửi gắm được trong đó bao nhiêu tình cảm, hơn hẳn những dòng e-mail vô hồn. Và hãy luôn trân trọng những gì mà cây bút bi này giúp cho chúng ta có thể lĩnh hội tri thức một cách thuận tiện nhất.

    Bút bi là một vật dụng gần gũi, gắn bó và vô cùng cần thiết trong đời sống con người. Bút bi không thể thiếu đối với những bạn học sinh đang ngày ngày cắp sách đến trường.

    Cho đến nay, chưa ai biết chính xác thời gian chiếc bút ra đời. Từ xa xưa, ông cha ta thường dùng bút lông để viết rất bất tiện khi phải mài mực, chấm mực thường xuyên. Sau đó chiếc bút máy ra đời với nhiều ưu điểm hơn hẳn. Người sáng chế ra chiếc bút bi là một nhà báo người Hung-ga-ri tên là Bi-rô. Điều thôi thúc ông sáng chế ra chiếc bút bi là để thuận lợi cho công việc làm báo của mình vì bút máy làm giấy nhoè mực. Bi-rô nhận bằng sáng chế Anh Quốc vào năm 1938. Từ khi ra đời đến nay, chiếc bút bi luôn tục được cải biến để phù hợp hơn với người dùng và trở nên thông dụng trên toàn thế giới. Bút bi du nhập vào nước ta từ thế kỉ XX.

    Chiếc bút bi có rất nhiều chủng loại phong phú và đa dạng nhưng phổ biến nhất là loại có nắp đậy và loại nút bấm. Nhưng dù là loại nào thì về cơ bản bút bi cũng có hai bộ phận chính là ruột bút và vỏ bút. Vỏ bút được làm bằng nhựa cứng với hình dạng, màu sắc rất phong phú nhưng đa phần là màu trong suốt để người viết nhìn thấy ruột bút bên trong. Vỏ bút có độ dài từ 14 đến 15 cm, hình thụ và thon dần về phía đầu bút. Vỏ bút có loại bề mặt trơn nhẵn, chỗ cầm để viết có khứa thành các rãnh ngang hoặc được lắp một lớp cao su để không bị trơn tay khi viết. Có loại có hình lục giác hoặc bát giác đều. Để góp phần làm cho chiếc bút bi đẹp hơn các cơ sở sản xuất thay đổi mẫu mã, màu sắc và các hoa văn trang trí để thu hút khách hàng. Với chiếc bút bi đậy nắp, vỏ bút thường có cấu tạo đơn giản. Vỏ bọc thường bằng nhựa hình trụ, chỗ tiếp giáp với tay người viết thường làm bằng cao su mềm hoặc rãnh mềm, tạo ma sát giúp việc cầm bút dễ dàng hơn. Nắp đậy ôm khít vào ngòi bút, ở đỉnh nắp có gắn một con chíp nhỏ có tác dụng bảo vệ ngòi bút. Nắp đậy còn có khuy cài để cài bút vào vở, sách, túi để bút không bị rơi. Riêng với loại bút có nút bấm thì phần đầu của bút bi gắn liền với bộ phận ruột bút bên trong gọi là lẫy bút. Khi viết, ấn vào phía đầu trên của bút bi thì ngòi bút sẽ ra, không muốn viết nữa thì ấn vào cái lẫy để ngòi bút thụt vào.

    Bộ phận quan trọng nhất của chiếc bút bi là ruột bút. Ruột bút thường được làm bằng nhựa, dài từ 10 đến 12 cm, dùng để đựng mực nên còn gọi là ống mực. Thông thường ruột bút có màu trong suốt để người viết có thể biết còn bao nhiêu lượng mực bên trong. Có những loại ốn mực không trong suốt mà có màu trắng sứ với những đường kẻ màu bên trên để giúp người viết nhận diện được màu mực bên trong. Gắn với ống mực là ngòi bút. Đầu ngòi bút có gắn một viên bi nhỏ tầm 0,7 đến 1mm. Viên bi nhỏ đó có khả năng chuyển động đều, tạo ra khe hở cho mực thoát ra ngoài. Một số loại bút có phần lò xo nhỏ làm bằng kim loại hình xoắn ốc. Lò xo này kết hợp với đầu bấm ở cuối than bút và hai gờ nhỏ trên ruột bút để điều khiển ngòi bút lộ ra hay thụt vào trong vỏ. Bút bi có nhiều loại mực: mực nước, mực khô, mực nhũ, mực dạ quang,… kiểu dáng ngày càng đẹp. Có chiếc bút có nhiều ngòi với nhiều màu khác nhau xanh, đỏ, vàng, đen, tím, hồng… rất tiện lợi cho người sử dụng. Một cây bút cũng giống như cơ thể con người vậy, ruột bút là phần bên trong cơ thể, đầu bi chính là trái tim và mực chứa trong bút được ví như máu, giúp nuôi sống cơ thể. Còn vỏ bút giống như đầu, mình, tứ chi vậy… chúng phải cứng cáp thì bút mới bền, hoạt động tốt cũng như tạo cho người sử dụng cảm giác thoải mái. Màu sắc và hình dáng bên ngoài giống như quần áo, làm tăng thêm vẽ đẹp cho bút. Các chi tiết của bút dù quan trọng hay thứ yếu đều góp phần tạo nên một cây bút, như một kiếp tằm rút ruột nhả tơ, âm thầm giúp ích cho đời.

    Bút bi từ khi sáng chế đến nay ai cũng công nhận ưu điểm của nó. Chiếc bút bi viết nhanh, không mất thời gian bơm mực, mực khô nhanh, không nhoè, không dây bẩn ra sách vở. Tuy vậy vì viết nhanh nên bút bi làm chữ người viết có phần xấu đi nhiều so với viết bút mực. Do vậy mà học sinh cấp một, các thầy cô giáo vẫn bắt buộc học sinh phải dùng bút mực để luyện nét chữ cho thành thục rồi mới được sử dụng bút bi. Chiếc bút bi là một vật dụng cần thiết, là người bạn không thể thiếu đối với mỗi học sinh, sinh viên. Bút bi được dùng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề: bút bi theo chân các kĩ sư đến với công trình kiến trúc, là phương tiện để các nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ thoả sức sáng tạo, là chiếc cầu nối giúp học sinh tiếp cận bến bờ tri thức.

    Chiếc bút bi có nhiều công dụng như thế, vì vậy cần phải bảo quản bút bi đúng cách để chiếc bút được bền lâu. Khi viết xong cần phải đậy nắp bút hoặc bấm nút để ngòi bút thụt vào bên trong, tránh dây mực ra xung quanh và ngòi bút được bảo quản. Cần tránh để rơi bút hoặc để đầu bút cắm xuống đất thì sẽ hỏng ngòi. Khi mua phải thử xem mực bút có ra đều không. Tránh để hỏng hóc hay mất mát thì nên để bút trong hộp bút hoặc ống bút. Khi chiếc bút lâu ngày không được sử dụng thì hãy ngâm vào nước nóng để mực ra đều. Chiếc bút bi có thể thay ngòi nên khi sử dụng hết mực thì chớ vứt cả bút đi mà chỉ nên thay ngòi mới để tiết kiệm chi phí.

    Chiếc bút bi là người bạn nhỏ, luôn sát cánh đồng hành trong công việc, học tập của mọi người, không tốn kém nhiều chi phí lại có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh, điều kiện ở mọi lúc mọi nơi. Chúng ta hãy biết ơn những người đẽ chế tạo ra cây bút để nhở đó chúng ta có sự hỗ trợ đắc lực trong học tập và trong công việc hiện nay vẫn đáp ứng được theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Thuyết minh về cây bút bi có sử dụng biện pháp nghệ thuật – Bài làm 3

    Đối với những người lao động trí óc, đặc biệt đối với những thế hệ học sinh thì chiếc bút bi là người bạn thân thiết không thể tách rời. Chiếc bút bi có vai trò quan trọng giúp cho các bạn viết lên những nét chữ, viết nên tương lai tốt đẹp hơn.

    Đối với những cô cậu học trò còn ngồi trên ghế nhà trường thì việc sở hữu rất nhiều chiếc bút bi là điều bình thường. Vì nếu không có bút bi thì học sinh sẽ không học được, không viết được những bài văn, giải được những bài toán và vẽ được những hình họa tinh nghịch. Không chỉ đối với học sinh mà nhiều người khác cũng cần đến chiếc bút bi khi cần thiết. Dù là ai, làm việc gì thì việc sở hữu một chiếc bút bi là điều không thể thiếu.

    Đối với những em nhỏ học mẫu giáo, lớp 1 thì vẫn đang làm quen với chiếc bút chì; nhưng khi các em lớn lên sẽ dần làm quen với cách viết và sử dụng bút bi cho phù hợp nhất.

    Bút bi được phát minh bởi nhà báo Hungari Lazo Biro vào những năm 1930. Sau thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, ông Biro phát hiện ra được một loại mực in giấy rất nhanh khô. Từ đó, ông đầu tư thời gian nghiên cứu và chế tạo ra một loại bút sử dụng loại mực như thế.

    Bút bi có nhiều loại như bút bi Thiên Long, bút bi Bến Nghé,…Mỗi loại bút đều có đặc điểm riêng nhưng chung một công dụng.

    Bút bi được cấu thành từ hai bộ phận chính là vỏ bút và ruột bút. Bộ phận nào cũng đóng vai trò quan trọng để tạo nên sự trọn vẹn của chiếc bút chúng ta cầm ở trên tay. Bộ phận vỏ bút có thể được làm bằng chất liệu nhựa là phổ biến, hoặc một số loại bút được nhà sản xuất làm bằng kim loại nhẹ. Bộ phận vỏ bút được thiết kế chắc chắn và đẹp, có thể bảo vệ được ruột bút ở bên trong. Vỏ bút được thiết kế theo hình trụ, dài và tròn, có độ dài từ 10-15 cm. Ở trên vỏ bút có thể được sáng tạo bởi nhiều họa tiết đẹp hoặc chỉ đơn giản là có dán tên nhà sản xuất, số lô sản xuất và màu sắc của chiếc bút.

    Có một số loại bút bi dành cho trẻ em, để thu hút được sức dùng thì nhà sản xuất đã tạo những họa tiết như hình các con vật, hình siêu nhân…Chính điều này sẽ khiến cho các em thích thú khi sử dụng chiếc bút bi xinh đẹp. Màu sắc của vỏ bút cũng đa dạng và phong phú như xanh, đỏ, tím, vàng…Các bạn học sinh hoặc người dùng có thể dựa vào sở thích của mình để chọn mua loại bút thích hợp nhất.

    Bộ phận thứ hai chính là ruột bút,giữ vai trò quan trọng để tạo nên một chiếc bút hoàn hỏa. Đây là bộ phận chứa mực, giúp mực ra đều để có thể viết được chữa trên mặt giấy. Ruột bút chủ yếu làm bằng nhựa, bên trong rỗng để đựng mực. Ở một đầu có ngòi bút có viên bi nhỏ để tạo nên sự thông thoáng cho mực ra đều hơn.

    Ở ruột bút có gắn một chiếc lò xo nhỏ có đàn hồi để người viết điều chỉnh được bút trong quá trình đóng bút và mở bút.

    Ngoài hai bộ phận chính này thì chiếc bút bi còn có nắp bút, nấp bấm, nắp đậy. Tất cả những bộ phận đó đều tạo nên sự hoàn chỉnh của chiếc bút bi bạn đang cầm trên tay.

    Sử dụng bút bi rất đơn giản, tùy theo cấu tạo của bút mà sử dụng. Đối với loại bút bi bấp thì bạn chỉ cầm bấm nhẹ ở đầu bút thì có thể viết được. Còn đối với dạng bút bi có nắp thì chỉ cần mở nắp ra là viết được.

    Chiếc bút bi đối với học sinh, với những người lao động trí óc và với cả rất nhiều người khác đều đóng vai trò rất quan trọng. Bút bi viết lên những ước mơ của các cô cậu học trò. Bút bi kí nết nên những bản hợp đồng quan trọng, xây dựng mối quan hệ gắn kết với nhau.

    Để chiếc bút bi bền và đẹp thì người sử dụng cần bảo quản cẩn thận và không vứt bút linh tinh, tránh tình trạng hỏng bút.

    Thật vậy, chiếc bút bi có vai trò quan trọng đối với mỗi người. Chúng ta học tập và làm việc đều cần đến bút bi. Nó là người bạn đồng hành đáng tin cậy nhất.

    Trong cuộc sống hiện đại hiện nay, việc sử dụng các loại viết để học tập và làm việc là không thể thiếu nhưng để lựa chọn loại viết phù hợp với thời đại công nghệ thông tin sao cho vừa nhanh, tiện lợi và ít tốn kém cũng là điều vô cùng quan trọng và sự ra đời của bút bi đáp ứng nhu cầu đó.

    Từ những năm bắt đầu việc học người ta đã biết sử dụng các công cụ để có thể viết chữ. Thô sơ nhất là sử dụng lông vịt, lông ngỗng chấm vào mực, mực được bào chế từ các loại lá, quả, hoa có màu sắc giã nát ra. Nhưng đó là trong những năm còn lạc hậu việc sử dụng viết lông ngỗng để viết rất bất tiện vì lúc nào cũng phải mang theo lọ mực, sử dụng xong lại phải lau sạch và việc cứ phải liên tục chấm đầu lông ngỗng vào mực cũng rất mất thời gian và sau đó một nhà báo người Hungari đã chế tạo ra cây viết mực Lazso Biro. Việc sử dụng bút mực để rèn chữ là một điều rất tốt vì nét chữ sẽ đẹp song giá thành một cây bút máy khá đắt, nặng và khi viết khá chậm. Cho đến những năm gần đây người ta mới phát minh ra bút bi. Nó vừa đáp ứng nhu cầu rẻ, tiện lợi và nhẹ nữa phù hợp với nhiều đối tượng, nhất là học sinh, sinh viên.

    Cấu tạo bên trong của bút cũng khá là đơn giản: vỏ bút được làm bằng nhựa hoặc bằng các kim loại dẻo trong suốt. Bên trong là ruột bút, ống dẫn mực, ngòi bút, lò xo. Ngòi bút có đường kính từ 0,25mm đến 0,7mm tùy theo nhu cầu của người sử dụng. Còn về việc sử dụng bút cũng khá là dễ dàng, khi cần thiết chỉ cần ấn vào đầu bút ngòi bút sẽ tự động lộ ra để chúng ta có thể sử dụng. Khi không sử dụng nữa ta chỉ cần ấn lại đầu bút, ngòi bút sẽ tự động thụt lại, lúc đó bạn có thể mang bút đi khắp mọi nơi mà vẫn yên tâm tránh được các tác nhân bên ngoài va chạm vào ngòi bút.

    Hiện nay người ta còn tìm ra cách để chế tạo những bút lạ hơn như bút nhũ, bút nước, bút dạ quang… phù hợp với người tiêu dùng, vừa phù hợp với túi tiền vừa có thể theo học sinh đến trường, theo các nhân viên văn phòng đến cơ quan,… Ngoài ra còn có các phát minh về một số loại viết có thể viết được dưới nước, ở những nơi có áp suất khí quyển thấp. Nói gì thì nói, ta cũng không thể phủ nhận những khuyết điểm còn có ở bút bi là rất khó rèn chữ vì ngòi bút nhỏ, trơn và rất cứng không phù hợp với những học sinh cấp Một đang luyện chữ vì khi nào nét chữ đã cứng và đẹp ta hãy sử dụng, ngoài ra bút còn rất dễ bị tắc nghẽn mực trong khi sử dụng có thể là do lỗi của các nhà sản xuất hoặc cũng có thể do chúng ta làm rơi viết xuống đất và làm ngòi bút va chạm vào các vật cứng.

    Do vậy, sử dụng bút tuy là đơn giản nhưng chúng ta cũng nên biết cách bảo quản bút sao cho bút có thể sử dụng được lâu và bền hơn như: sau khi sử dụng bút xong thì nên bấm đầu bút thụt lại để không bị rớt xuống đất, khô mực hoặc va chạm vào các vật cứng sẽ dễ làm vỡ vỏ bút hoặc làm bể đầu bi.

    Một đặc điểm nhỏ mà ít ai nghĩ đến là có thể biến những cây bút bi thành những món quà nhỏ, xinh xắn, dễ thương và vô cùng ý nghĩa để làm món quà tặng người thân, bạn bè, thầy cô. Bút còn là người bạn đồng hành với những anh chiến sĩ ngoài mặt trận, để các anh có thể viết nhật kí, viết thư về cho gia đình. Viết xong, các anh có thể giắt cây bút vào túi áo không sợ rơi mất, khi cần thiết có thể lấy ra dễ dàng và sử dụng ngay.

    Bút là người bạn nhỏ, luôn sát cánh đồng hành trong công việc, học tập của mọi người, không tốn kém nhiều chi phí lại có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh, điều kiện ở mọi lúc mọi nơi. Chúng ta hãy biết ơn những người đẽ chế tạo ra cây bút để nhở đó chúng ta có sự hỗ trợ đắc lực trong học tập và trong công việc hiện nay vẫn đáp ứng được theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Thuyết minh cây bút bi

    Từ thời xa xưa, con người đã cần đến dụng cụ để viết. Cây bút của người cổ đại rất thô sơ bằng tre, đá và cả bằng lông chim, lông ngỗng. Nhưng để thuận tiện hơn trong việc viết lách, người ta đã phát minh ra bút bi. Cây bút bi tưởng chừng như bé nhỏ nhưng lại là phát minh đóng góp to lớn cho sự hình thành và cách mạng hóa việc viết chữ.

    Nguồn gốc của cây bút bi là do một người thợ Tây phương sáng chế ra nhưng không được khai thác thương mại. Mãi đến những năm cuối thế kỉ XIX, một nhà báo người Hungary tên là Lazso Biro đã nhận thấy sự bất tiện trong việc viết bằng bút chấm mực. Loại bút mới phát minh này rất lâu khô, dễ lem, rất nặng và đầu bút nhọn. Sau đó, Lazso Biro đã cải tiến cây bút này thành một loại bút có một ống mực và đầu viết có một viên bi lăn. Nhờ sự ma sát giữa viên bi và giấy mà mực được viết ra. Thế nhưng lại một vấn đề mới được đặt ra, loại mực của chiếc bút bi này rất lâu khô và không thích hợp cho nghề báo của ông đặc biệt là phải đi nhiều nơi lấy thông tin và ghi tốc kí. Và Lazso Biro lại cặm cụi tìm cách giải quyết. Ông để ý thấy loại mực dùng để in báo rất mau khô. Ông đã vận dụng sự phát hiện này để hoàn thiện cây bút của mình. Với sự giúp đỡ của anh họ là một nhà nghiên cứu khoa học, ông đã giải quyết được tình trạng của cây bút. Cây bút của ông viết mau khô hơn. Năm 1887, ông nhận bằng sáng chế Anh quốc và từ đó bút bi được sử dụng rộng rãi cho tới ngày nay.

    Bút bi chúng ta dùng hiện nay có hai loại: bút dùng một lần và bút dùng để bơm mực nhiều lần để dùng lại. Nhưng phần lớn chúng ta hay dùng loại bút dùng một lần, khi dùng hết mực rồi bỏ. Loại bút này có hai phần: ruột bút và vỏ bút. Phần ruột bút là ống nhựa mềm hoặc cứng chứa mực đặc. Lớp trên của mực trong ống được bơm thêm một loại chất trong suốt (hay có màu) để mực không tràn ra ngoài. Một đầu của ống mực gắn ngòi bút. Ngòi bút bi thường làm bằng kim loại có đầu nhọn hở một lỗ nhỏ có gắn viên bi đường kính từ 0,7 – 1mm. Nhờ sự ma sát của viên bi mực bám trên viên bi mà chúng ta có thể viết được. Phần vỏ bút thường làm bằng nhựa cứng hay kim loại quý (tùy theo mẫu mã và thị hiếu của người tiêu dùng). Có loại vỏ bút thiết kế thêm nắp đậy. Trong nắp có một miếng đệm cao su để mực không bị khô và viên bi không bị trầy khi va chạm nhỏ. Có loại vỏ được thiết kế với phần đầu có cái núm bấm lên xuống (đối với loại này thì bút được gắn thêm lò xo). Khi cần dùng, ta chỉ cần bấm ở đầu ngòi bút, ngòi bút sẽ lộ ra để viết, khi không viết nữa, ta chỉ cần bấm thêm lần nữa, ngòi bút lại thụt vào, tránh hư ngòi viết thật tiện dụng. Còn loại bút có thể bơm mực dùng lại thì phức tạp hơn một chút. Ruột của loại bút này làm bằng nhựa hay kim loại. Ở phần đầu ruột bút có một cái nút bằng nhựa gắn chặt vào thành ruột bút. Mỗi khi dùng hết mực ta có thể mua mực bơm thêm (loại mực đặc biệt dành cho bút bi) hay thay ruột bút. Về cấu tạo vỏ thì không khác loại bút dùng một lần ta vừa nêu trên.

    Trên thị trường hiện nay, có vô số chủng loại bút bi, mẫu mã, màu sắc khá đa dạng. Có loại bút bi đậy nắp, có loại bấm ở đầu bút để ngòi lộ ra, có loại xoay thân bút,có loại trượt,… tùy vào sở thích của người sử dụng. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều thương hiệu bút bi, trong đó bút của các hãng Thiên Long, Bến Nghé khá uy tín. Giá một cây bút bi khá rẻ, dao động từ 1500 – 4000 đồng một cây. Một số loại bút trang trí hoặc để làm quà tặng thì có giá khá cao, từ mười mấy nghìn đến vài chục nghìn. Riêng bút bi dành cho doanh nhân, vỏ làm bằng kim loại quí thì có giá khá cao từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng một cây. Nói chung, bút bi hợp túi tiền với tất cả mọi người, từ học sinh – sinh viên ít tiền đến các doanh nhân thành đạt. Bút bi là loại bút rất hữu ích cho đời sống con người. Bút bi giúp cho công việc học tập, viết lách trở nên hiệu quả hơn, tiện lợi hơn. Bút bi còn có thể sáng tạo nghệ thuật, Từ chiếc bút bi, người ta có thể vẽ được bức tranh đẹp hay xăm hình nghệ thuật bằng bút bi. Và bút bi còn có thể là một món quà ý nghĩa cho người thân yêu của bạn. hẳn rằng nếu thiếu bút bi thì cuộc sống của con người sẽ khó khăn trong việc viết. Bút bi có rất nhiều công dụng mà chúng ta chưa kể hết. Bút bi đã thay đổi lịch sử về việc viết chữ của loài người.

    Để bảo quản một cây bút bi không khó khăn lắm. Mỗi lần viết xong ta phải đậy nắp lại hay bấm cho ngòi bút thụt vào để tránh làm bút khô mực và nếu chẳng may va chạm hay rơi xuống đất thì không bị bể bi không dùng được. Nếu bút bị tắc mực, ta có thể dốc ngược bút xuống để mực chảy về phía đầu ngòi bút thì bút sẽ viết được trở lại. Thường khi để lâu ngày, bút dễ bị khô mực, ta có thể ngâm ruột bút trong nước ấm độ 15 phút hoặc hơn thì bút sẽ hết khô mực và viết được. Tóm lại, bút có viết được lâu bền hay không là do cách bảo quản của người sử dụng: “Của bền tại người”.

    Cây bút bi – một phát minh đóng góp to lớn cho nhân loại, một đồ dùng không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày. Bút bi là người bạn đồng hành của mọi người, đặc biệt là với học sinh. Bút bi vẫn mãi gắn bó với tuổi học trò đầy thơ mộng và đầy ắp trong những trang nhật kí thơm mùi mực viết. Dù thời gian có đổi thay qua những thăng trầm của cuộc sống, cây bút bi tuy được cải tiến về nhiều mặt và có thêm nhiều công dụng khác nhưng bút bi vẫn làm công việc mà nó vẫn thường làm tô điểm cho đời và hữu ích cho con người.

    Thuyết minh về cây bút bi có sử dụng biện pháp nghệ thuật – Bài làm 5

    Đồ dùng nào là vật không thể thiếu đối với người học sinh khi đến trường? Sách, vở, cặp hay thước…? Có thể sẽ có rất nhiều đáp án nhưng chắc chắn ràng nếu không có cây bút thì chúng ta không thể ghi lại bài học trên lớp. Và trong thời đại ngày nay, cây bút bi là một đồ dùng học tập vô cùng quan trọng.

    Chiếc bút bi từ lâu đã trở thành một người bạn thân thiết đối với mọi người đặc biệt là những người học sinh, sinh viên.

    Có rất nhiều loại bút như bút chì, bút mực. Nhưng khi bút bi ra đời, nó liền tạo nên một cuộc cách mạng rộng khắp và ngày nay bút bi đã khẳng định mình là công cụ dùng để viết phổ biến nhất.

    Người đầu tiên trên thế giới xin cấp bằng sáng chế bút bi là một người Mĩ vào năm 1888. Nhưng lúc ấy, bút bi vẫn chưa được chú ý lắm. Năm 1938, László Biró – một biên tập viên người Hungary ̵#8211; để giảm thiểu những hạn chế của bút mực như tốn thời gian tiếp mực, mực lâu khô, đầu bút quá nhọn, hay làm lem bẩn giấy tờ,… đã tạo ra loại bút bi sử dụng mực in báo khô rất nhanh. Loại bút này có chứa một ống mực đặc, mực được viết lên giấy nhờ chuyển động lăn của viên bi nhỏ gắn nơi đầu ống chứa mực. Biró được nhận bằng sáng chế lần lượt tại Anh rồi Argentina. Năm 1945, nhờ sự hợp tác của nhiều nhà sản xuất mà cây bút bi được thay đổi, cải tiến về kiểu dáng và bán thị trường Hoa Kỳ. Theo thời gian, cây bút bi dần chiếm lĩnh thị trường bút châu Âu rồi toàn thế giới. Kể từ năm 1990, ngày tháng 9, ngày sinh nhật của Biró – cha đẻ cây bút bi – đã được chọn là ngày của những nhà phát minh tại Argentina.

    Chiếc bút bi ngày nay dù khác nhau về hình dáng song về câu tạo cơ bản vẫn giống nhau. Nó bao gồm một ống mực đặc, một đầu có gắn một viên bi nhỏ với đường kính khoảng từ 0,7 đến 1 mm. Loại mực dùng cho bút bi khô rất nhanh, thường là ngay sau khi được viết lên giấy. Theo thời gian, người ta cũng chế tạo ra nhiều loại màu mực khác nhau: màu đen, màu xanh, màu đỏ,… Bao ngoài ống mực – hay còn gọi là ruột bút – là một vỏ bút. Vỏ bút có rất nhiều hình dáng, màu sắc đa dạng khác nhau. Chúng thường được trang trí rất ấn tượng để tạo sự hấp dẫn đối với người sử dụng. Bút bi có thể sử dụng nắp để đạy đầu bi tránh làm khô mực, hỏng bút hoặc dùng đầu bấm để đầu bi rụt vào bên trong vỏ bút. Loại phổ biến nhất hiện nay là bút bi bấm. Để đưa đầu bi vào trong cần phải có lò xo để kéo vào. Việc điều khiển đầu bi có thể dùng nhiều cách khác nhau như dùng nút bâm ở đầu, xoay thân bút, hoặc trượt.

    Chiếc bút bi từ lâu đã trở thành một người bạn thân thiết đối với mọi người đặc biệt là những người học sinh, sinh viên. Để bảo quản những người bạn thân thiết này chỉ cần lưu ý vài chi tiết nhỏ. Một là khi viết xong nhớ đạy nắp hoặc bấm nút để ngòi bi rụt vào bên trong vỏ. Hai là tránh để bút rơi bởi có thể gây gãy thân bút; đặc biệt là tránh làm rơi khiến đầu bi đập xuống đất: khi ấy bút sẽ hỏng hoàn toàn, bi bị vỡ, mực không ra được nữa. Người bạn ấy quan trọng nhưng không hề “làm cao” chút nào, ngược lại thật dễ tính!

    Có thể khẳng định rằng bất cứ ai có thể viết đều đã ít nhất một lần sử dụng bút bi trong đời. Thuận tiện, kinh tế và không cần cầu kì trong việc bảo dưỡng, bút bi đã trở thành một cuộc cách mạng trong cách viết của con người.

    Bút bi tròn và dài,cấu tạo cây bút bi tương tự như chiếc bút mực. Chiếc bút bi chính là phát minh vĩ đại của con người trong thế kỉ XX . Độ dài bút khoảng một gang tay, thân tròn, mảnh. Thân bút được làm từ nhựa cứng, có loại trong suốt, có loại màu. Ruột bút bi là được làm bằng nhựa dẻo bao phủ vỏ bút. Mỗi bút chỉ có một ống mực nhưng cũng có bút có tới năm, sáu ống mực khác màu nhau. Với loại bút này thân rất to.

    Bộ phận ngòi bút làm bằng kim loại nối với ruột bút phía trong ngòi bút là ống dẫn mực rất nhỏ. Có hòn bi rất nhỏ ở đầu ngòi. Khi viết hòn bi lăn mực sẽ ra và tạo chữ. Bút thường có chiếc lặp để bảo vệ đầu bi, vừa có thể kết vào túi nhờ chiếc mắc. Nhưng cũng có loại lại có lò xo mà không cần nắp, khi không viết thì có thể ấn lò xo sẽ đưa ngòi vào để bảo vệ đầu bi, còn khi viết thì ấn cán, lò xo sẽ đưa ngòi ra. Loại có lò xo thì thường vẫn thông dụng hơn vì nó tiện lợi và thẩm mĩ hơn.

    Chiếc bút bi luôn là người bạn của mỗi học sinh, chúng gắn bó và tạo ra những nét chữ đẹp, muốn tiếp thu kiến thức hiệu quả cũng phải nhờ vào sự “chăm chỉ” của cây bút bi.

    Trên thị trường đồ dùng học tập hiện nay có nhiều hãng bút bi nhưng quen thuộc nhất vẫn là hãng Thiên Long. Bút bi gắn bó với trường học, sinh hoạt con người. Trong nhà trường từ cấp THCS trở lên bút bi gắn bó và như một vật quan trọng của mỗi học sinh. Học sinh viết bút bi vì tốc độ nhanh, không bị dây bẩn, mực khô nhanh và lại giá rẻ. Khi các em sử dụng bảo quản cũng dễ dàng, chỉ cần giữ cho bút bị không bị vỡ, không để bút rơi hoặc đập mạnh ngòi bút xuống đất, có thể dùng bút bi rất lâu cho đến khi hết mực mà thôi.

    Sự có mặt của cây bút bi nhằm đáp ứng nhu cầu của con người, sử dụng cây bút bi mà đúng cách sẽ dùng rất lâu và ít tốn kém.

    Minh Nguyệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Nhân Hóa Bien Phap Tu Tu Nhan Hoa Doc
  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Nhân Hóa Bien Phap Tu Tu Nhan Hoa Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Top 6 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích 3 Khổ Cuối Mùa Xuân Nho Nhỏ (Phân Tích Nghệ Thuật Luôn)
  • BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC

    CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

    Nhân hóa là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những hoạt động, tính cách, suy nghĩ…giống như con người, làm cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn, gần gũi, sống động và có hồn hơn

    2) Các hình thức nhân hóa

    a) Nhân hóa để tả hình dáng

    b) Nhân hóa để tả hoạt động

    c) Nhân hóa để tả tâm trạng

    – VD : Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn. Cây gạo chấm dứt những ngày tưng bừng, ồn ã, lài trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư.

    d) Nhân hóa để tả tính cách

    ( Dòng sông mặc áo – Nguyễn Trọng Tạo)

    Khi đã hiểu rõ về biện pháp tu từ nhân hóa rồi , HS dễ dàng tìm được những câu văn, câu thơ có sử dụng nhân hóa, GV sẽ cho HS thi tìm những câu thơ, câu văn , đoạn văn, khổ thơ có sử dụng biện pháp đó:

    * Một số ví dụ tiêu biểu:

    a) Bé ngủ ngon quá

    Đẫy cả giấc trưa

    Người mua bán ra vào đầy cổng chợ

    c) Cái trống trường em

    Mùa hè cũng nghỉ

    Trống nằm ngẫm nghĩ

    3.2)Thực hành làm một số bài tập

    ” Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới. Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại, rơi mà như nhảy nhót. Hạt nọ tiếp hạt kia đậu xuống lá cây ổi còng mọc lả xuống mặt ao. Mùa đông xám xỉn và khô héo đã qua. Mặt đất đã kiệt sức bừng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt mưa ấm áp, trong lành. Đất trở lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nựa cho cây cỏ. Mưa mùa xuân đã mang lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn trên các nhánh lá, mầm non. Và, cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùa hoa thơm, trái ngọt…”

    Nguyễn Thị Như Trang

    Chú bò tìm bạn

    Mặt trời rúc bụi tre

    Buổi chiều về nghe mát

    Bò ra sông uống nước

    Thấy bóng mình, ngỡ ai

    Bò chào “Kìa anh bạn!

    Lại gặp anh ở đây!”

    Nước đang nằm nhìn mây

    Nghe bò cười toét miệng

    Bóng bò, Chợt tan biến

    Bò tưởng bạn đi đâu

    Cứ ngoái trước nhìn sau

    “Ậm ò…” tìm gọi mãi.

    Búp bê và Dế Mèn

    Búp bê làm việc rất nhiều việc: quét nhàm rửa bát, nấu cơm. Lúc ngồi nghỉ, búp bê bỗng nghe tiếng hát.

    Có tiếng trả lời:

    Nguyễn Kiên

    – Những từ ngữ giúp chúng ta nhận ra điều đó: kiệt sức, bừng thức dậy, âu yếmđón, cần mẫn, trả nghĩa.

    b- Nhờ sử dụng biện pháp nhân hóa, tác giả giúp cho người đọc dễ dàng cảm nhận được ý nghĩa: ai lao động chăm chỉ, người đó sẽ có được niềm vui và tình bạn đáng quí .

    a) Vầng trăng………………………………………………………………………………………..

    d) Chiếc bảng đen………………………………………………………………………………….

    e) Cổng trường………………………………………………………………………………………

    b) Mấy con chim đang hót ríu rít trên vòm cây.

    c) Mùa xuân, sân trường mướt xanh màu lá.

    d) Những cơn gió thổi nhè nhẹ trên mặt hồ nước trong xanh.

    Một số câu văn có sử dụng biện pháp nhân hóa

    “…Những buổi chiều, con đường làng em như chìm trong giấc ngủ. Hàng cây đứng yên cho con đường yên giấc…”

    “…. Chú chó nhà em rất đáng yêu. Nó đỏng đảnh lắm. Cái đuôi cong cong vẻ làm duyên. Khi ăn cơm phải gọi nhẹ nhàng nó mới ăn. Nó ăn từ tốn và rất khảnh ăn. Ăn xong nó lăn ra ngủ trông hiền lành lắm.Có hôm, em cho gà ăn trước nó, chú ta liền đuổi bọn gà bạt mạng và dỗi không thèm ăn nữa!

    -” …Bông thì lồ lộ phô trương sự đằm thắm , xòe rộng bộ váy của mình, khoe cả nhị vàng thơm ngát. Bông thì mỉm cười, duyên dáng, e lệ dưới tán lá. Những bông trẻ hơn, khỏe hơn thì tua tủa, gọn gàng đứng ngay ngắn bên hoa mẹ…”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Nhân Hóa Bien Phap Tu Tu Nhan Hoa Doc
  • Đề bài: Phân tích một số biện pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao yêu thương, tình nghĩa

    Bài văn mẫu

    Biện pháp nghệ thuật mà ca dao yêu thương tình nghĩa thường xuyên sử dụng là so sánh (còn gọi là tỉ dụ). So sánh là việc đối chiếu sự vật này với sự vật khác dựa trên những đặc điểm giống nhau nào đó giữa hai sự vật nhằm tạo nên những hình ảnh nghệ thuật mới mẻ tạo những cảm xúc thẩm mỹ cho người nghe, người đọc. Ca dao yêu thương tình nghĩa sử dụng biện pháp so sánh để bóc lột những tình cảm trong sáng, cao đẹp hay những trạng thái cảm xúc cụ thể nào đó của nhân vật trữ tình:

    “Tình anh như nước dâng cao

    Tình em như dải lụa đào tẩm hương”.

    Biện pháp so sánh trong ca dao yêu thương tình nghĩa là cách so sánh trực tiếp. Các từ so sánh thường gặp là; “như’, “như thế”. Nhờ có so sánh, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ cụ thể hơn, dễ hiểu hơn:

    “Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quýt con trong con ngoài”.

    Bên cạnh so sánh, nhân hóa cũng là một biện pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao yêu thương tình nghĩa.

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai”.

    Nhờ biện pháp nhân hóa, những sự vật vô tri vô giác trở nên có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy cũng chính là tình nghĩa của con người được giãi bày, bộc lộ trong ca dao.

    Cùng với so sánh nhân hóa, ẩn dụ cũng được sử dụng thường xuyên. Ẩn dụ là phép so sánh ngầm, so sánh gián tiếp. Biện pháp này làm cho bài ca dao được rút ngắn và do đó trở nên hàm súc, cô đọng hơn.

    “Cô kia đứng ở bên sông

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”.

    Nhiều hình ảnh ẩn dụ được dùng nhiều lần trở thành quen thuộc và dần dẩn trở thành những hình tượng mang tính ước lệ, tượng trưng cao như thuyền – bến, cây đa – bến nước, mận – đào, trúc – mai…

    “Ước gì anh hóa ra gương

    Để cho em cứ ngày thường em soi

    Ước gì anh hóa ra coi

    Để cho em. đựng cau tươi trầu vàng”

    Việc lặp lại như vậy đã dem lại giá trị biểu hiện đáng kể. Nó đã thể hiện được khát vọng cháy bỏng của chàng trai luôn muốn được gần gũi bên cạnh người yêu, thỏa nỗi nhớ niềm thương mà chàng dành cho người yêu.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    ca-dao-than-than-yeu-thuong-tinh-nghia.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Trường THCS DUY CẦN Tổ NGỮ VĂN Chuyên đề: Tìm hiểu một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản tự sự hiện đại Việt Nam Báo cáo lí thuyết: Nguyễn Hữu Tạo I./ L‎í do chọn chuyên đề: - Nghị quyết hội nghị lần II BCH TW Đảng khóa VIII nêu rõ: "Đổi mới phương pháp GDĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều,rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học"; "Phương pháp GD phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và y chí vươn lên" - Trong một TPVH có giá trị thì các hình thức nghệ thuật luôn thống nhất với nội dung. Bêlinxki-Nhà phê bình lí luận VH Nga viết rằng: "trong TPNT, nội dung và các hình thức nghệ thuật phải luôn hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác. Nếu hủy diệt hình thức nghệ thuật thì cũng là hủy diệt nội dung tư tưởng của TP và ngược lại cũng vậy". - Hêghen viết: "TPVH mà thiếu đi hình thức nghệ thuật thích đáng thì không phải là 1 TPVH thực sự. Và đối với người nghệ sĩ khi đó sẽ là một biểu hiện tồi nếu như người ta nói rằng về ND thì TP anh tốt, nhưng nó thiếu đi các hình thức nghệ thuật thích đáng. Chỉ có những TPVH mà ND và hình thức thống nhất với nhau mới là những TPVH đích thực". -Trong môn NV, người học chỉ chú trọng vào việc tìm hiểu về nội dung mà quên đi những hình thức nghệ thuật của TP thì lúc đó việc dạy và học chắc chắn sẽ không đạt hiệu quả cao. Nó trở nên khô khan, cững nhắc, sống sượng. HS sẽ không hiểu sâu, hiểu hết được những điều mà tác giả muốn truyền đạt đến, đôi khi còn dẫn tới cách hiểu sai, lệch lạc giá trị của tác phẩm. - Các hình thức nghệ thuật là yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm văn học nói chung và trong thể loại truyện ngắn tự sự hiện đại VN nói riêng. Người học phải nắm bắt được toàn diện tác phẩm, có một cái nhìn bao quát về cả nội dung và nghệ thuật. Bút pháp trần thuật mang nhiều ẩn y/. - Việc cần thiết là phải cho HS nắm được các biện pháp nghệ thuật trong 1 VB, xâu chuỗi, và thực hiện tích hợp trong 3 phân môn. 2. Cơ sở thực tiễn: - Về phía HS: HS có nhiều hạn chế trong việc tiếp thu và cảm thụ tác phẩm tự sự. Một mặt do trình độ nhận thức của HS còn kém, chưa có tư duy sáng tạo. HS chưa nắm bắt được mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của 1 tác phẩm. Hiện nay HS thường sử dụng sách tham khảo nhiều và các tài liệu do các NXB địa phương ấn hành, chất lượng kém. Có nhiều ‎ y kiến khác nhau. HS bị lúng túng, thiếu tự tin, thiếu sự tìm tòi, đánh giá, phân tích chi tiết. Không phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của HS. HS chưa xác định được kiến thức trọng tâm Thực tế hiện nay HS bị lỗ hổng kiến thức từ các cấp lớp học, học trước quên sau. Cho nên HS rất khó tiếp thu được kiến thức của 1 VB khi chứa nhiều hình thức nghệ thuật. HS sẽ không nắm bắt được hết các giá trị của VB. - Phân tích tác phẩm tự sự không bám sát vào hình thức nghệ thuật để chỉ ra cái hay cái đẹp của nội dung tác phẩm. - Phần lớn HS chỉ biết diễn xuôi nội dung 1 cách cứng nhắc và gượng ép, vụng về, tách nội dung ra khỏi các hình thức tự sự. Vd: khi phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng - Kim Lân thì HS chưa nắm được nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, thị không thể nào tìm hiểu được những chuyển biến trong đời sống tâm lí của ông hai và người nông dân nói chung giai đoạn 1945). Nguyên nhân khách quan nữa là hiện nay do một số văn bản dài so với thời lượng từ 45-90 phút nghiên cứu trên lớp, HS rất khó có thể khai thác hết được toàn bộ các giá trị tác phẩm. Về phía GV: - Tình hình thực tế hiện nay là còn nhiều GV trẻ, nên việc làm thế nào để truyền đạt hết nội dung kiến thức cả về nội dung và nghệ thuật của VB là tương đối khó khăn. Thao tác xử lí bài giảng còn hạn chế. Nhiều GV chỉ đi sâu khai thác nội dung, chưa chú trọng khai thác nghệ thuật VB. - GV còn lúng túng khi đưa ra hệ thống câu hỏi khai thác nghệ thuật - Khả năng kết hợp từ nghệ thuật để làm nổi bật nội dung còn yếu. - Tích hợp kém, không để ‎ tích hợp học. Nhiều VB mới đưa vào cũng gây không ít khó khăn khi tìm hiểu và truyền thụ kiến thức.. - Kiến thức lí luận văn học còn yếu. Chính vì những lí do trên mà tổ xã hội chúng tôi đã chọn chuyên đề này để nghiên cứu thưc hiện, hi vọng sẽ làm tăng chất lượng dạy và học, gây hứng thứ với GVvà HS. II./ Phương pháp nghiên cứu. - Nghiên cứu tài liệu. - Điều tra thực tế, Phiếu thăm dò. - Dạy thực nghiệm. III./Mục đích nghiên cứu - Giúp HS hiểu thêm về các biện pháp nghệ thuật trong VBTSHDVN. - Biết cách phân tích và đưa ra tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong mối liên hệ với nội dung tác phẩm. - Biết vận dụng các hiểu biết để phân tích các TPTS nói chung và TPTSHDVN nói riêng. - GV có thể áp dụng vào các bài dạy, biết cách khai thác và truyền thụ tốt hơn tới HS các hình thức nghệ thuật. IV./ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Giới hạn ở đối tượng HS khối 9 trường THCS Duy Cần. - Phạm vi là các văn bản tự sự hiện đại VN sau CMT8 (trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc va giai đoạn sau 1975). + Gồm 5 tác phẩm: Làng-Kim Lân-1948 2.Lặng lẽ SaPa- Nguyễn Thành Long-1970 3. Chiếc lược ngà Nguyễn Quang Sáng-1966 4. Những ngôi sao xa xôi-Lê Minh Khuê-1971 5. Bến Quê-Nguyễn Minh Châu- trong tập Bến Quê-1985. - Bài dạy thực nghiệm: tiết thứ 2 VB Chiếc lược ngà - NV9( HKI) V./ Nội dung và cách tiến hành (hiểu rộng ra: TPTS gồm anh hùng ca, sử thi, truyện thơ, trường ca, thơ trường thiên, truyện ngụ ngôn). - Truyện ngắn tự sự: (chúng tôi nghiên cứu trong phạm vi nhỏ) là hình thức ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn, tái hiện lại cuộc sống đương thời. Nội dung của truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi. Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời, một đoạn đời hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật. Cái chính của truyện ngắn không phải là hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời. Truyện ngắn nói chung không phải là vì truyện của nó ngắn mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại. ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. ở truyện ngắn, bút pháp trần thuật thường là chấm phá. Kết cấu thường là sự liên tưởng, tương phản.Y/ ghĩa quan trọng nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và mang nhiều ẩn y/. - Nhân vật: Nhân vật là những con người có hành động, ngôn ngữ và tính cách. Nhân vật là trung tâm của truyện, thể hiện các quan điểm của tác giả.Nhân vật trong truyện ngắn thường là một mảng nhỏ của thế giới. Tồn tại các kiểu nhân vật như: +Nhân vật chức năng (hay mặt nạ), không có đời sống nội tâm, phẩm chất và đặc điểm cố định đến cuối truyện +Nhân vật loại hình: thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một laọi người nhất định của xã hội (Anh thanh niên-LLSP). + Nhân vật tính cách: là nhân vật có diễn biến nội tâm phức tạp, không đồng nhất, thường có một quá trình phát triển với nhiều cung bậc, tâm trạng khác nhau. (Thu-Chiếc lược ngà, ông Hai- Làng, Phương Định-NNSXX) có diễn biến phức tạp, đa dạng, nhiều chiều. + Nhân vật tư tưởng: Nhân vật này cũng thể hiện một cá tính, một nhân cách nhưng cái chính là một hiện tượng tư tưởng, một ‎ thức diễn ra trong đời sống. (nhân vật "tôi" trong truyện ngắn bức tranh, nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến Quê của Nguyễn Mnh Châu). - Cốt truyện: Là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện. Bất cứ truyện lớn, truyện nhỏ cốt truyện nói chung cũng bao gồm các thành phần chính là thắt nút - phát triển - cao trào - mở nút. Có cốt truyện thì đơn giản( như truyện Lặng lẽ sapa- cốt truyện chỉ xoay quanh một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già,cô kĩ sư trẻ với anh thanh niên làm công tác ở trạm khí tượng trên đỉnh Yên Sơn- nhân vật chính chỉ hiện ra trong chốc lát nhưng để lại cho các nhân vật khác nhiều tình cảm tốt đẹp), có cốt truyện thì phức tạp. Mục đích của cốt truyện là giúp người đọc nhận ra một điều gì đó. - Kết cấu: Đây là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật. Trên một phương diện lớn có thể nói sáng tác tức là kết cấu, đó là việc xây dựng tác phẩm, xây dựng cốt truyện, xây dựng tính cách. Là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và nội dung tư tưởng trong tác phẩm văn học. - Trần thuật: là yếu tố quan trọng trong văn bản tự sự. Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định. Đây là sự thể hiện của hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức. 2. Đặc điểm của văn bản tự sự hiện đại VN. - Nằm trong chương trình ngữ văn lớp 9, chia làm 5 tác phẩm (như tôi đã nói ở trên) sáng tác theo 3 giai đoạn chính:+ Kháng chiến chống Pháp.( Làng-KL) + Kháng chiến chống Mĩ (Chiếc lược ngà, lặng lẽ sapa, những ngôi sao xa xôi). +Sau 1975-giai đoạn đất nước thống nhất. (Bến quê). - Về đề tài và nội dung các tác phẩm này rất đa dạng, mở ra những bức tranh phong phú về đời sống và con người ở rất nhiều vùng, miền đất nước, trong nhiều hoàn cảnh, với những tính cách và số phận khác nhau. Qua các tác phẩm này đã hình thành ở HS những hiểu biết sơ lược bước đầu về thành tựu và đặc điểm của văn xuôi hiện đại VN sau CMT8-1945 như các nội dung: + Hình ảnh con người VN thuộc nhiều thế hệ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.( ông Hai có tình yêu làng đặt trong tình cảm yêu nước và kháng chiến. Bé Thu có tính cách cứng coỉ, tình cảm nồng nàn, thắm thiết với cha, Ông Sáu, hay ba cô TNXP có tinh thần dũng cảm không sợ hi sinh, tình cảm trong sáng, hồn nhiên, lạc quan trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt). +Tình yêu quê hương đất nước, trân trọng vẻ đẹp bình dị của quê hương. (nhân vật Nhĩ-Bến Quê cảm nhận vẻ đẹp của quê hương mình lúc nằm trên giường bệnh) +Vẻ đẹp của con người lao động bình dị, chân chính ( anh thanh niên với công việc thầm lặng, tính cách cao đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước). 3. Các biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng và cách khai thác tìm hiểu. - Các tác giả tích cực tìm tòi các đề tài và đưa vào đó những hình thức nghệ thuật mới lạ, phức tạp, đòi hỏi GV và HS phải nắm chắc kiến thức và cách triển khai, phân tích một TP. Như : cốt truyện, người kể chuyện, nhân vật, ngôn ngữ, các lời đối thoại, độc thoại và cả độc thoại nội tâm trong VBTS, nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật, hệ thống ngôn ngữ, sử dụng bút pháp tái hiện hiện thực nghiêm ngặt, hay cách tạo tình huống truyện, hay cách sử dụng ngôn ngữ địa phương. 3.1 Phương thức trần thuật (Người kể chuyện trong VBTS HĐ VN) - Trong mỗi VBTS HD VN lại có sự xuất hiện của người kể chuyện khác nhau (hay nói cách khác là ngôi kể). Người kể chuyện là người đứng ra kể câu chuyện trong tác phẩm. Người kể chuyện có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những ngôi kể khác nhau, khi vô nhân xưng, khi nhập vào một nhân vật trong truyện, thông thường trong VB TS HD VN người kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ nhất xưng "tôi" hoặc là ngôi thứ 3. Và khi trình bày miêu tả thì người kể chuyện thường gắn với điểm nhìn nào đó. Điểm nhìn là vị trí quan sát của người kể chuyện khi thuật lại truyện. Người ta nói tới 3 loại điểm nhìn trong 1 VBTS: + Điểm nhìn bên trong (điểm nhìn thông qua đôi mắt của một nhân vật trong truyện) + Điểm nhìn bên ngoài: một người quan sát bên ngoài, khách quan, trung tính, không đi sâu vào tâm lí nhân vật. + Điểm nhìn thấu suốt: người kể chuyện có mặt ở khắp mọi nơi, thấy tất cả mọi hành động, tư tưởng, tình cảm của nhân vật và đưa ra nhận xét đánh giá về họ. - Khi nghiên cứu và phân tích tác phẩm, GV không nên đánh đồng người kể chuyện với tác giả ngay cả khi người kê chuyện xưng "tôi". Trong các tác phẩm truyện ngắn HĐ VN, vấn đề người kể chuyện và việc thay đổi các điểm nhìn khác nhau rất có ‎ nghĩa. Nó giúp tác giả bộc lộ tư tưởng, tình cảm và suy nghĩ của mình một cách sinh động. Khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp, khi thì đi sâu vào tâm lí từng nhân vật, khi miêu tả thì rất lạnh lùng, khách quan, tạo ra cái nhìn nhiều chiều và tránh được sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật. - VD... - GV có thể đặt câu hỏi để khai thác nghệ thuật này như sau: "Truyện được kể theo ngôi thứ mấy, ngôi kể này có tác dụng gì trong việc miêu tả tâm lí nhân vật?" Qua ngôi kể này, giúp cho người kể dễ đi sâu vào tâm tư, tình cảm, miêu tả được nhiều diễn biến tâm lí tinh vi, phức tạp đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật "tôi", ở đây là Phương Định. Qua đây, Lê Minh Khuê đã tạo được thuận lợi để biểu hiện đời sống nội tâm với nhiều hình thức cảm xúc ấn tượng, hồi tưởng của Phương Định, làm nổi bật rõ vẻ đẹp trong sáng và hồn nhiên của PĐ. Qua ngôi kể này ta có thể thấy được tâm l‎í phức tạp qua 1 lần phá bom, hay trước cơn mưa đá bất chợt, điều mà ngôi kể khác không làm được. Tuy nhiên lưu ‎y/ rằng ngôi kể này cũng có hạn chế trong việc miêu tả bao quát cảu đối tượng khách quan sinh động, khó tạo ra cái nhìn nhiều chiều. Bằng chứng là ta ít biết về những rung động trong tâm lí nhân vật Nho, Thao. Họ chỉ xuất hiện qua cái nhìn của người kể chuyện. - Ngoài hình thức kể trên, còn thường xuất hiện hình thức kể chuyện theo ngôi thứ 3, qua đó người kể giấu mình nhưng có mặt ở khắp mọi nơi trong TP. Người kể chuyện này dường như biết hết mọi việc, mọi hành động, tâm tư, tình cảm, của các nhân vật. Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện giới thiệu nhân vật và tình huống truyện, tả người và tả cảnh vật, đưa ra các nhận xét và đánh giá về điều được kể. Trong tác phẩm lặng lẽ sapa, người kể chuyện dường như biết hết mọi thay đổi tâm lí tình cảm của anh thanh niên, cô kĩ sư hay ông họa sĩ. - GV có thể cho HS so sánh tác dụng và hạn chế của từng ngôi kể bằng việc đưa ra một số những câu hỏi so sánh ví dụ như CH "em hãy cho biết ngôi kể này có ưu điểm và hạn chế gì so với các ngôi kẻ khác trong việc thể hiện nội dung tác phẩm và tâm lí nhân vật?" "so sánh ngôi kể của TP Lặng lẽ sapa và ngôi kể trong TP Bến quê", GV có thể cho HS thay ngôi kể cho một đoạn văn trong một TP, để làm rõ sự khác nhau trong cách miêu tả nhân vật và thấy được ưu và nhược điểm của từng loại. 3.2 Nghệ thuật miêu tả tâm l‎í và ngôn ngữ nhân vật - Đây là yếu tố rất quan trọng trong văn bản tự sự. HS có nắm chắc được sự thay đổi tâm lí nhân vật, nắm được những rung động tinh vi và sắc sảo thì mới hiểu hết về các phẩm chất tính cách của nhân vật. Tùy từng nhân vật khác nhau, từng tác phẩm khác nhau và tùy thuộc vào xu hướng miêu tả của tác giả mà khắc họa được sự thay đổi tâm lí của nhân vật. Người GV phải làm cho HS thấy được sự miêu tả tâm lí phức tạp của tác giả, bằng cách sử dụng một hệ thống câu hỏi tích hợp, gợi mở, liên tưởng, làm cho HS nhận thấy nghệ thuật đặc sắc và mối liên hệ với nội dung tác phẩm. VD: Lê Minh khuê cũng đã rất thành công khi miêu tả nhân vật Phương Định qua nhiều phương diện. Là một cô gái Hà Nội, hình thức khá, có bím tóc dày, cổ cao kiêu hãnh như một đài hoa loa kèn, PĐ yêu thương những người đồng đội của mình, cô có một thế giới nội tâm khá phức tạp. Qua một lần phá bom, tâm lí của PĐ hiện lên thật rõ nét. GV có thể cho HS sắp xếp sự diễn biến tâm lí của PĐ theo như VB đã miêu tả. CH tích hợp "em còn bắt gặp BPNT này ở những VB đã học nào". - VD tiếp, để nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật ông Hai của Kim Lân thì trong khi phân tích diễn biến tâm lí nhân vật này, GV có thể đưa câu hỏi gợi ‎ y/ cho HS nhận xét: "Tâm lí nhân vật được thể hiện qua những phương diện nào (hành động, ngôn ngữ độc thoại và đối thoại)? diễn biến tâm lí nhân vật có hợp lí không? Kim Lân đã đặt nhân vật ông Hai vào tình huống thử thách bên trong để bộc lộ chiều sâu tâm trạng. Tác giả đã miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các y/ nghĩ, hành vi, ngôn ngữ...đặt biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. GV làm cho HS hiểu việc chứng tỏ rằng Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ. - GV cũng cần làm cho HS hiểu về đặc sắc ngôn ngữ của nhân vật ông Hai: đó là ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói cảu người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của nhân vật ông Hai. 3.3 Cách tạo tình huống truyện - Nghệ thuật tạo tình huống truyện đặc biệt thành công qua 2 TP VB TS HĐ VN.là Làng và Bến quê. Tình huống truyện là yếu tố do tác giả sáng tạo ra để bộc lộ phẩm chất của một hay nhiều nhân vật. Tình huống truyện có thể rõ rệt, có thể mờ nhạt, có thể gay cấn. Và sau khi tình huống truyện được giải đoán thì ta sẽ thấy được tâm trạng của nhân vật được bộc lộ rõ nét hơn rất nhiều. - ở TP Làng Tác giả đặt nhân vật ông Hai vào tình huống rất gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông, tình huống ấy là cái tin làng ông đã theo giặc - mà chính ông đã nghe được từ những người tản cư. Đây là một nghệ thuật quan trọng mà trước khi tìm hiểu tình yêu quê và tinh thần yêu nước của ông Hai không thể không nghiên cứu tình huống truyện. Nếu GV bỏ qua hoặc lướt qua tình huống truyện này thì coi như việc phân tích nhân vật ông Hai và tìm hiểu giá trị của TP không thành công. 3.4 Nghệ thuật tái hiện hiện thực. Hiện thực được tái hiện thông qua cái nhìn chủ quan của TG đã đưa vào TP. Tạo cái nền cho hệ thống các sự kiện, nhân vật thể hiện và bộc lộ tính cách của mình. GV cũng phải cho HS thấy được hiện thực đã được đưa vào tác phẩm như thế nào, từ đó HS hình dung ra một khung cảch chân thực trong tác phẩm. Nhìn chung, sự tái hiện hiện thực của các tác giả trong giai đoạn sáng tác này đều dựa vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước. Đó là các giai đoạn kháng chiến ác liệt của dân tộc qua 2 cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mĩ. Không khí khẩn trương xây dựng hòa bình ở MB, và sau khi đất nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH. - Khi học VB " những ngôi sao xa xôi", GV phải làm tái hiện được khung cảnh của một cao điểm trên tuyến đường Trường Sơn đầy bom đạn. Có thể sử dụng các câu hỏi để HS liên tưởng, và so sánh với khung cảnh chiến tranh ở hiện thực ngoài cuộc sống. GV có thể so sánh với các hiện thực của các TP thơ trong giai đoạn này như bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu tái hiện lại cảnh người lính đứng gác trong đêm, dưới ánh trăng, hay bài thơ: bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật - hiện thực hiện lên thật trần trụi, chân thực. 3.5 Sử dụng hệ thống ngôn ngữ và giọng điệu. - Ngôn ngữ và giọng điệu thực ra là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của TPVH. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo TPVH. Không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học. Và mỗi tác phẩm khác nhau lại có ngôn ngữ và giọng điệu khác nhau, phù hợp với đặc trưng riêng. GV cần khai thác nghệ thuật sử dụng ngôn từ ngay kết hợp khi đang phân tích nhân vật, không nên chỉ nghiên cứu sau khi phân tích nhân vật. Các tác phẩm có trong chương trình VD: + Bến quê: có ngôn ngữ và giọng điệu đầy chất suy tư, hình ảnh biểu tượng. GV có thể cho HS nêu ‎y/ nghĩa của những câu văn đặc biệt đó: " con người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình". "suốt cuộc đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, nhưng đây là một chân trời gần gũi mà lại xa lắc vị chưa hề bao giờ đi đến- cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước của sổ nhà mình...). GV Làm nổi bật hệ thống ngôn ngữ quần chúng trong "Làng", hay ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong TP "lặng lẽ SaPa". Trong VB những ngôi sao xa xôi: thành công với ngôn ngữ trần thuật, phù hợp với người kể chuyện- tạo cho TP giọng điệu và ngôn ngữ địa phương, gần gũi với khẩu ngữ, trẻ trung và có nữ tính. Hay lời kể thường dùng câu ngắn, nhịp nhanh, tạo không khí khẩn trương trong hoàn cảnh chiến tranh, trong lúc PĐ phá bom, hay qua một trận mưa đá bất chợt, tạo tính dồn dập. Hay nhịp kể chậm lại, gợi những kỉ niệm tuổi thơ hồn nhiên vô tư trong không khí thanh bình trước chiến tranh- ở đoạn hồi tưởng của PĐ về cuộc sống trước đây ở Hà Nội. Có thể sử dụng những tương tự như CH "em Có nhận xét gì về hệ thống ngôn ngữ trong tác phẩm này, so sánh hệ thống ngôn ngữ trong các tác phẩm khác đã học (làng, bến quê)". Từ ngữ địa phương cũng là một yếu tố ngôn ngữ mà nhà văn đưa vào để làm nổi bật đặc trưng vùng miền của tác phẩm, yếu tố này xuất hiện ở tác phẩm chiếc lược ngà là rõ nét hơn cả, với hàng loạt những từ như: ba, má,vá,lòi tói, ... phạm vi đề tài này. *Lưu ý:- Trong một tác phẩm thì chắc chắn tác giả không sử dụng hết các BPNT, mà chỉ làm nổi bật một hoặc một vài các biện pháp. GV nên có cái nhìn bao quát, cũng như không nên quá sa đà vào việc tìm hiểu tất cả các NT mà không chú y/ đến nội dung, thông thường NT chỉ có tác dụng làm nổi bật nội dung TP IV./ Kết luận Các truyện ngắn tự sự hiện đại Việt Nam tuy đã có sự tiếp nối các thể tương tự trong văn học trung đại nhưng đã có sự đổi mới sâu sắc về mọi phương diện. Đề tai được mở rộng, hướng tới mọi mặt của đời sống con người, không bị gò bó vào mục đích giáo huấn đạo lí thông thường. Nghệ thuật tự sự và miêu tả có những đổi mới rất cơ bản. Tự sự đa dạng và có thể thay đổi điểm nhìn, vai kể, đến vai trò người kể chuyện, từ việc sử dụng những thủ pháp miêu tả đến sự đổi mới về ngôn ngữ, câu văn. Nhân vật trong truyện ngắn HĐ VN được nhìn nhận và miêu tả trong tính cá thể, nghĩa là mang đặc điểm, tính cách, tam trạng và số phận của từng cá nhân, mang tính tiêu biểu. - Các biện pháp nghệ thuật này rất đa dạng và phong phú, việc làm thế nào để có thể giúp cho người GV có thể khai thác tốt hơn giá trị của VB, làm thế nào để HS hiểu rõ được những gì mà tác giả đã thể hiện và truyền đạt là một điều rất khó khăn. Tóm lại, chuyên đề của chúng tôi nghiên cứu và thực hiện với một lí do duy nhất là giúp dạy và học tốt môn ngữ văn THCS trong tình trạng HS có biểu hiện ngại học văn, và yếu kém kiến thức môn ngữ văn hiện nay. - Thời gian nghiên cứu không dài, kinh nghiệm của chúng tôi còn hạn chế, trình bày chuyên đề này với các Đ/c dạy môn văn - rất mong nhận được những ‎ kiến đóng góp và xây dựng chân thành và sự chỉ đạo của cấp trên, xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10
  • Kê Hoach Đỏi Mới Cảm Thụ Văn Học Ke Hoach Mot Doi Moi Doc
  • Phân Tích Đoạn Trao Duyên Trong Truyện Kiều
  • 6 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Trao Duyên, Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Trao Duyên, Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Phân Tích Đoạn Trao Duyên Trong Truyện Kiều
  • Kê Hoach Đỏi Mới Cảm Thụ Văn Học Ke Hoach Mot Doi Moi Doc
  • Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Đề bài: Em hãy lập dàn ý phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ “Viếng lăng Bác”

    Bài làm

    + Mở bài:

    +Giới thiệu về tác giả:

    – Viễn Phương là một nhà thơ nổi tiếng trong nền thi ca hiện đại của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại nhiều tác phẩm hay, kiệt xuất cho công chúng yêu thơ thế hệ mai sau.

    -Giới thiệu về tác phẩm “Viếng lăng Bác”

    -Tác phẩm “Viếng lăng Bác” được nhà thơ sáng tác giả sáng tác trong dịp cả nước ta tổ chức sự kiện dâng hương viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi nước ta hoàn toàn thống nhất, đánh toàn quân xâm lược Pháp và Mỹ kết thúc 30 năm kháng chiến ròng rã nhiều gian khổ, hy sinh rất nhiều xương máu của các, chiến sĩ trên các chiến trường.

    + Thân bài:

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong bài thơ có ý nghĩa như thế nào? Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh mặt trời hồng, một hình ảnh nhiều ẩn dụ nhiều ý nghĩa sâu sắc:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong hai câu thơ này? Mặt trời trong câu thơ không chỉ là vầng thái thái dương sáng chói, chỉ mặt trời ấm áp cho muôn loài ngày ngày mang ánh sáng cho con người cũng như vạn vật tự nhiên trên trái đất.

    -Mặt trời trong câu thơ này là mặt trời của Bác. Bác Hồ chính là người đã soi đường chỉ lối cho toàn dân tộc ta trong cuộc cách mạng tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ lầm than, thoát khỏi cảnh làm thuộc địa, mất nước.

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    – Trong câu thơ này ý nghĩa ẩn dụ lại mang một thông điệp hoàn toàn khác. Câu thơ thể hiện sự tinh thế, nghiêm túc, trang nghiêm và vầng trăng dịu hiền thể hiện ánh sáng thuần khiết, trong veo như tình cảm của Bác dành cho non sông, cho muôn dân.

    -Nó như tình cảm của một vị cha già dân tộc dành cho con cháu của mình. Tình cảm ấy vừa tinh khôi, thuần khiết vừa ấm áp, dịu dàng.

    -Mở rộng lấy thêm dẫn chứng các tác giả khác nói về Bác để làm nổi bật tình cảm của Bác dành cho mọi người, cho dân tộc như thế nào? Nhạc sĩ Thuận Yến đã từng viết rằng ” Bác Hồ người là tình yêu thiết tha nhất, trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc Bác đã hy sinh cho tự do, cho dân tộc Việt Nam. Bác thương các cụ già trung thu về cho quà. Bác thương đàn em nhỏ...” Tình yêu của Bác dành cho mọi người là vô bờ bến, không lời nào kể hết.

    -Tình cảm của tác giả trong hai câu thơ này thể hiện như thế nào? Nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    – Mong ước của tác giả trong hai câu thơ này như thế nào? Sinh – lão- bệnh- tử là quy luật của trời đất, của tạo hóa không ai có thể vượt qua quy luật này. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy. Bác ra đi để lại sự tiếc thương cho muôn dân, triệu triệu người con đất Việt không khỏi bàng hoàng đau xót. Nhà thơ cũng như hàng triệu người dân khác đều muốn Bác có thể sống mãi như câu hát của các em thiếu nhi thường hát ” Ngày ngày chúng cháu ước mong, mong sao Bác sống muôn đời“.

    -Hình ảnh bác trong lòng tác giả và nhân dân cả nước như thế nào? Bác Hồ tuy đã ra đi nhưng Bác như mặt trời một mặt trời không ngủ, Bác thức để canh giữ cho tổ quốc, cho muôn người con, người dân của Bác được ngủ ngon giống như lời thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ:

    “Đêm nay Bác ngồi đó

    Đêm nay Bác không ngủ

    Vì một lẽ thường tình

    Bác là Hồ Chí Minh”

    + Kết

    – Viếng lăng Bác là một bài thơ hay, xúc động lòng người, là một bài thơ tuyệt tác cả về nghệ thuật, hình tượng và nội dung.

    – Qua bài thơ tác giả muốn nhắn gửi điều gì? Qua bài thơ tác giả Viễn Phương muốn thể hiện tình yêu, lòng thành kính của mình với người cha già dân tộc Bác Hồ Chí Minh. Tình cảm mà tác giả dành cho Bác là một tình cảm thiêng liêng, thể hiện tình cảm xót thương, tiếc nuối xem lẫn biết ơn, của một người con khi vào thăm dân hương và đứng trước mặt người cha đã khuất của mình. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết rằng: ” Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử“.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoá Luận Tốt Nghiệp Biện Pháp Ẩn Dụ Trong Thơ Phan Thị Thanh Nhàn
  • Hãy Phân Tích, Giải Thích Nội Dung Và Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “đồng Chí”
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ “bánh Trôi Nước”. Tìm Các Thành Ngữ Và Nêu Tác Dụng Của Thành Ngữ Đó
  • Cảm Nhận Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Tây Tiến
  • Đáp Án Nào Không Phải Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Tây Tiến?

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Bài Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng: Tây
  • Hoàn Cảnh Ra Đời, Nội Dung Và Nghệ Thuật Chính Của Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
  • Soạn Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Tây Tiến
  • Cảm Nhận Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Đọc đoạn trích sau:

    Giặc Covid đang áp đặt luật chơi cho loài người, và đã thấy rõ con người mới yếu ớt, mỏng manh, nhỏ bé biết bao. Trong cuộc chiến này, nếu muốn lật ngược thế cờ, đẩy giặc virus Covid ra khỏi cơ thể, dập dịch thành công ở mỗi quốc gia, nhân loại, thì con người phải nghĩ đến con người. Cá nhân nghĩ đến mình, những cũng phải nghĩ đến mọi người. Chỉ cần Covid đục thủng phòng tuyến ở một người, và người đó chủ quan, vô tình, tiếp xúc vô tội vạ, không cách ly toàn xã hội, thì đội quân virus sẽ tràn lan cả cộng đồng, cả quốc gia. Chỉ cần Covid xâm nhập vào một quốc gia, nhưng quốc gia ấy và các quốc gia khác không phong tỏa, lơ là phòng chống, thì đại dịch sẽ hoành hành, tàn phá khắp hành tinh.

    Mỗi người hãy hòa mình vào dân tộc, nhân loại. Loài người hãy hòa nhập với thiên nhiên. Không phá đi rồi xây. Không hủy diệt rồi nuôi trồng. Không đối đầu. Không đối nghịch. Không đối kháng. Con người phải đặt trong môi trường sinh thái của thiên nhiên, chung sống hòa bình với vạn vật. Một con voi, con hổ, hay con sâu cái kiến, một loài côn trùng, một loại vi khuẩn, một chủng virus nào đó cũng có vị thế trong vũ trụ của Tạo hóa. Con người chớ ngạo mạn đến mức khùng điên làm chúa tể của muôn loài không chế, thống trị chúng sinh, mà không biết sống hòa nhập hoà bình trong sinh thái cân bằng.

    Nhận thức lại về thiên nhiên và giống loài trên trái đất để ứng xử là một điều cần thiết. Hy vọng nhân loại sẽ đi qua đại dịch Covid 19. Sau bão giông, trời lại sáng. Những cánh rừng lại xanh. Ngựa, dê, hổ báo nô đùa với con người. Chim chóc đậu nơi cửa sổ nghiêng ngó đầu nhìn đôi vợ chồng trẻ sau một đêm nồng nàn đang ngủ nướng. Nắng mới tràn mọi ngõ ngách! Cuộc sống thường nhật an lành sẽ lại về trong hạnh phúc bình dị.

    (Loài người có bớt ngạo mạn (trích) – Sương Nguyệt Minh)

    Thực hiện các yêu cầu:

    Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bút Pháp Nghệ Thuật Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Vận Dụng Kết Hợp Thao Tác Lập Luận Phân Tích Và So Sánh Viết Về Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Tự Tình 2
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tự Tình ( Bài Ii )
  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Trang 39 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Tuần 4. Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Soạn Văn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Của Lê Hữu Trác
  • Phân Tích Bút Pháp Kí Sự Trong Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Phân Tích Giá Trị Hiện Thực Của Đoạn Trích Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Giáo Án Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực : Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Soạn văn bài: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

    I. Tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh

    1. Ôn tập văn bản thuyết minh

    • Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

    • Đặc điểm chủ yếu: trình bày các đặc điểm tiêu biểu của sự vật hiện tượng.

    • Tính chất: cung cấp những tri thức khách quan, xác thực, phổ thông và hữu ích cho con người.

    • Các phương pháp thuyết minh thường dùng:

      • Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích.

      • Phương pháp liệt kê.

      • Phương pháp nêu ví dụ.

      • Phương pháp dùng số liệu.

      • Phương pháp so sánh.

      • Phương pháp phân loại, phân tích.

    2. Văn bản thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật

    Văn bản” “Hạ Long – đá và nước”

    a.

    • Thuyết minh về sự kì lạ của Đá và Nước ở Hạ Long.

    • Đặc điểm này rất trừu tượng, khó thuyết minh bằng cách đo đếm, liệt kê…

    b. Phương pháp thuyết minh:

    Câu văn nêu khái quát sự kì lạ của Hạ Long: “Chính Nước làm cho Đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn”

    c. Để cho sinh động, tác giả còn sử dụng những biện pháp nghệ thuật:

    – Biện pháp tưởng tượng, liên tưởng để giới thiệu sự kì lạ của Hạ Long.

    • Nước tạo nên sự di chuyển và di chuyển theo mọi cách tạo nên sự thú vị của cảnh sắc.

    • Tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của khách, tuỳ theo cả hướng ánh sáng rọi vào các đảo đá mà thiên nhiên tạo nên thế giới sống động. Biến hoá đến lạ lùng.

    – Biện pháp nhân hoá:

    • Đá có tri giác, có tâm hồn

    • Gọi đá là thập loại chúng sinh, là thế giới người, là bọn người bằng đá hối hả trở về.

    II. Luyện tập

    Câu 1: Văn bản: Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh

    a.

    • Văn bản trên có tính chất thuyết minh.

    • Tính chất thuyết minh được thể hiện ở việc giới thiệu về loài ruồi rất có hệ thống:

      • Tính chất chung về họ, giống, loài

      • Tập tính sinh sống: sinh đẻ, đặc điểm cơ thể…

      • Cung cấp những kiến thức đáng tin cậy về loài ruồi: Giữ gìn vệ sinh, phòng bệnh, ý thức diệt ruồi.

    • Những phương pháp thuyết minh được sử dụng trong văn bản:

      • Phương pháp nêu định nghĩa: thuộc họ côn trùng, hai cánh, mắt lưới.

      • Phương pháp phân loại: Các loại ruồi.

      • Phương pháp dùng số liệu: Số vi khuẩn, số lượng sinh sản của mỗi cặp ruồi…

      • Phương pháp liệt kê: mắt lưới, chân tiết ra chất dính…

    b.

    Câu 2: Đọc đoạn văn SGK và nhận xét

    Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng ở đoạn văn này là nghệ thuật kể chuyện: Kể câu chuyện ngày bé nghe bà kể chuyện về chim cú (chim cú kêu là có ma tới). Sau này học môn sinh vật mới biết là không phải như vậy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50