Phân Tích Bài Ca Dao: Thân Em Như Tấm Lụa Đào, Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen Lớp 10
  • Top 6 Bài Văn Phân Tích Bài Ca Dao “thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen” Lớp 10
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang
  • 3 Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Chi Tiết, Hấp Dẫn
  • Thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến đã chịu rất nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đã có rất nhiều điển hình về sự bất hạnh đó: một nàng Kiều gian truân, ngậm đắng nuốt cay khóc thầm cho cuộc đời mình; một Vũ Nương chịu hàm oan phải nuốt nước mắt tìm đến cái chết và còn bao nhiêu, bao nhiêu được biết đến và không biết đến nữa. Đến nỗi chuyện người phụ nữ bị bạc đãi đã trở thành thông lệ. Còn phụ nữ, họ không có khả năng chống chọi nữa hay là sức phản kháng của họ đã yếu dần, yếu dần cho đến khi lời cáo buộc trở thành một lời than thân buồn tủi:

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Lời than thân đó nghe thật chứa chan nước mất và cũng nhẹ tênh, mỏng manh như sợi khói toả vào không gian.

    Ca dao là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian rất phổ biến, đúc kết trong đó nhiều tình tứ và cũng là lời than thân trách phận. Các tác giả nhân dân có lẽ đã thấu suốt được nỗi đau đó, thông cảm với thân phận người phụ nữ nên mở đầu ca dao là một lời xưng hô nhỏ nhẹ, mềm mỏng: Thân em. Từ thân gợi nên một cảm giác nhỏ nhoi, yếu đuối. Người con gái khi tự giới thiệu mình cũng rụt rè, khiêm nhường thốt lên hai tiếng “thân em”. Thân phận của người phụ nữ đã được văn học thành văn nhắc đến. Hồ Xuân Hương thì đồng cảm với phận bảy nổi ba chìm của thân em vừa trắng lại vừa tròn. Nguyễn Du thương xót thốt lên: đau đớn thay phận đàn bà và Tú Xương cũng thổn thức khi viết về bà Tú: lặn lội thân cò khi quãng vắng. Còn ca dao lại nói về đời người con gái qua hình ảnh liên tưởng như dải lụa đào. Biện pháp so sánh ở đây thật nhẹ nhàng và thanh thoát, thấm vào lòng người đọc người nghe. Dải lụa đào mang dáng vẻ đẹp, nhẹ nhàng như chính tâm hồn và phẩm chất người phụ nữ, lại là một thứ vật liệu mềm mỏng dùng để may mặc, trang trí thêm cho người hay khung ảnh. Và phải chăng người phụ nừ trong cuộc đời cũ cũng vậy, họ là một món đồ trang sức, là chiếc bóng lặng lẽ, âm thầm trước những bất công. Dải lụa đào là một hình ảnh so sánh thật thanh cao, thật mềm mại nhưng quan trong đó một nỗi niềm nặng trĩu. Vì thế câu tiếp theo như tất cả tâm trạng đau khổ vất ra mà thành:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Dải lụa đào lại ở giữa chợ, giữa cảnh xô bồ kẻ bán người mua. Liệu ai có con mắt xanh để biết giá trị của tấm lụa đào. Từ phất phơ thật đúng và hay, nó lột tả được hết bản chất và trạng thái của tấm lụa. Dải lụa phất phơ không có hướng cố định cũng như hoa trôi man mác biết là về đâu. Bị số phận đưa đẩy đến như vậy mà nữ nhi lại không đủ sức, không thể chủ động định được một hướng đi cho mình để rồi đêm ngày tự hỏi cuộc đời mình sẽ vào tay ai. Một Mã Giám Sinh buôn sắc bán hương. Một Trương Sinh đa nghi, ích kỉ hay là một Kim Trọng hào hoa phong nhã? Họ hoàn toàn biết về số phận của mình cũng như mảnh lụa mềm nhẹ kia không biết có được một người tri kỉ chọn lựa hay không? Trong suốt cuộc đời mình, người phụ nữ xưa bị đẩy vào trạng thái thụ động, chỉ quanh quẩn trong nhà và quanh quẩn với việc thờ chồng, thờ cha, theo con. Dải lụa bay nhè nhẹ trong gió, phó mặc ngọn gió đưa mình đến một bàn tay thô bạo. Bay vào một đôi mắt hữu tình, phong nhã. Câu hỏi buông ra biết vào tay ai thật tinh tế và khéo léo, nó tạo cho người đọc một cảm giác xót xa. Câu hỏi đó có lẽ đã bám suốt cuộc đời người con gái.

    Toàn bộ câu ca dao là một lời than. Nó được sinh ra từ số phận cam chịu của người phụ nữ thời phong kiến. Không một ai trong số những tác giả vô danh sáng tác giả vô danh sáng tác câu ca dao trên lại có thể thanh thản khi nghĩ về đứa con tinh thần của mình. Câu ca dao là sản phẩm quá trình đông tụ những giọt nước mắt nuốt ngược và lòng. Từng lời từng chữ trong câu ca đều toát lên ý ngậm ngùi. Nước mắt đã chảy, chảy thường xuyên đến nỗi bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ tuôn ra. Câu ca dao là tiếng lòng của bao nhiêu người, là tiếng than của bao nhiêu thân phận!

    Với cách so sánh thật linh động và cũng rất gần với đời thường, câu ca dao đã tạo ra một hình ảnh gây nhiều cảm xúc. Tưởng chừng như những đám mây đang quấn lấy cảm xúc của con người, ôm trọn trong lòng nó tâm trạng của những người phụ nữ để rồi dần dần len lỏi vào từng ngóc ngách của dải lụa đào đang phất phơ giữa chợ. Bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ được sáng tác và lưu truyền nhưng câu nào cũng có sự liên hệ, liên tưởng đến những thứ nhỏ bé mỏng manh như: nước, hạt mưa, miếng cau, trái bầu… Vì thế câu ca dao này lột tả được tâm trạng của hầu hết giới nữ: người thiếu nữ vừa tới tuổi trâm cài lược giắt đã lo âu cho số phận của mình. Lo ngại cho hạnh phúc hẩm hiu của mình. Tất cả tạo nên một dòng cảm xúc buồn thương không ngừng chảy từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác và gieo vào không gian một tiếng vang vọng mãi. Người phụ nữ thời phong kiến đã chịu nhiều đau khổ, chấp nhận làm đẹp cho những người chung quanh. Số phận của họ như vải lụa bay trong gió không biết sẽ về đâu. Câu ca dao trong đề là một lời than thân yếu ớt. Phải chăng người phụ nữ xưa cũng từng ao ước:

    Ví đây đổi phận làm trai được.

    Những ước muốn đó tồn tại được bao lâu hay là lại phải quay trở về với những câu than thân bất lực?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”
  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai

    --- Bài mới hơn ---

  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

    – Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.

    Một trong những đặc điểm nghệ thuật của ca dao là sự lặp lại của các mô típ cấu trúc. Ba bài ca dao kể trên đều bắt đầu bằng hai từ “Thân em” chỉ thân phận người phụ nữ. Đó là lời than thân của người phụ nữ trong xã hội xưa. Ý thơ gợi lên cả một kiếp sống đầy đắng cay. Cuộc đời của người phụ nữ thật bấp bênh vô định bởi chính họ cũng không thể tự quyết định được tương lai, sô’ phận của mình. Cả ba bài ca dao đều được viết theo thể thơ lục bát, ngắn gọn nhưng thể hiện rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình. Sau “Thân em” là từ như dùng để so sánh. Đôi tượng đem ra so sánh đều là những vật gần gũi, quen thuộc và có những nét tương đồng độc đáo với thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa như “tấm lụa đào”, “củ ấu gai”, “giếng giữa đàng”. Cách đem các sự vật ấy ra so sánh khiến cho đôi tượng được so sánh (người phụ nữ) hiện lên một cách sinh động, đồng thời cũng làm nổi bật được thân phận của họ. Tự viết về thân phận mình cũng là cách người phụ nữ bộc lộ sự tự ý thức về giá trị của bản thân cũng như những nỗi buồn tủi bất công mà những quan niệm, định kiến vô lí của xã hội phong kiến gây ra cho họ. Quả thật, ta thấy trong tiếng thở dài than thân kia còn chen lẫn niềm tự hào, sự kiêu hãnh kín đáo về sắc đẹp cũng như phẩm hạnh của người con gái.

    Tuỳ vậy, mỗi bài ca dao lại có những đặc sắc riêng về nội dung và nghệ thuật:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Nhân vật trữ tình trong bài ca dao này tự ý thức được vẻ đẹp và giá trị của mình. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người phụ nữ chọn “tấm lụa đào” để tự ví với mình. Chính cái tính cách dịu hiền của họ đã gắn liền với hình ảnh dải lụa đào, vừa nhẹ nhàng đằm thắm, vừa kín đáo duyên dáng, lại tươi tắn tràn đầy sức sống. Vật có giá trị như vậy đáng lẽ ra phải được người ta nâng niu trân trọng, cất giữ hay trưng diện ở những nơi sang trọng nhất. Nhưng đáng tiếc thay, lại là thứ để người ta ngã giá trao đổi “giữa chợ”. Thân phận người phụ nữ cũng vậy, cũng mỏng manh, cũng chìm nỗi, cũng phụ thuộc, cũng lạc lõng, đơn côi giữa dòng đời. Những giá trị đẹp đẽ giờ đây rơi vào quên lãng. Cả những cô gái còn xuân xanh phơi phới

    cũng không ngoại lệ. Tuổi xuân của họ bị ám ảnh bởi chính nỗi lo lắng, băn khoăn về tương lai vô định phía trước. Bài ca dao kết thúc bằng câu hỏi đầy chua xót: “biết vào tay ai?”. Chính xã hội phong kiến bất công, vô nhân đạo với quan niệm trọng nam khinh nữ đã đẩy người phụ nữ vào tình cảnh ấy. Họ không bao giờ có thể biết chắc rồi đây cuộc đời mình sẽ ra sao, bến bờ nào đang đợi mình phía trước.

    Nếu cô gái ở bài ca dao đầu tiên có phần tự hào về nhan sắc thì cô gái xuất hiện trong bài ca dao thứ hai lại có những suy nghĩ, ý thức về những hạn chế của bản thân:

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

    Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.

    Cô gái trong bài ca dao này mang nét bình dị, gần gũi. Với người con gái, nhan sắc là điều quý giá và đáng để họ tự hào. Ấy vậy mà ở đây ta ngạc nhiên thấy cô gái khiêm nhường tự nhận mình là “củ ấu gai”. “Củ ấu gai” bên ngoài tuy xấu xí, thô kệch nhưng ruột rất trắng, ăn rất thơm và bùi. Người phụ nữ này biết rằng mình bề ngoài không được đẹp, không được hấp dẫn nhưng cô cũng tự hào mà khẳng định giá trị đích thực bên trong con người mình. Một hình ảnh hết sức mộc mạc và quen thuộc nhưng được các tác giả dân gian sử dụng khéo léo nên đã miêu tả thành công người phụ nữ vừa chân thực lại vừa đẹp đẽ, đúng với quan niệm của người xưa: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Đáng tiếc thay, trong cuộc sống, dù cô có “ruột trong thì trắng” nhưng có mấy ai hiểu được hay chịu khó tìm hiểu cái đẹp nội tâm đáng trân trọng ẩn sau lớp vỏ ngoại hình thô nhám? Câu ca dao vì thế còn mang khát khao được người đời hiểu, trân trọng phẩm chất trong trắng, cao đẹp của người phụ nữ.

    So với hai bài trước, bài ca dao thứ ba thể hiện sắc thái than thân rõ nét nhất. Bài ca dao thứ nhất mới dừng ở sự lo lắng, bài thứ hai diễn tả ước mơ, mong muôn. Nhân vật trữ tình trong cả hai bài ca dao đều đang hướng đến tương lai, đến những điều có lẽ chưa xảy ra trong hiện tại. Tuy nhiên, ở bài ca dao thứ 3, nhân vật trữ tình đã nói lên sự phũ phàng, đau khổ mà mình phải chịu đựng:

    Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân

    “Người khôn” ở đây không chỉ là những người hiểu nhiều hay biết rộng, tính toán tài. Cái “khôn” ở đây là chỉ tấm lòng nhân ái, biết trân trọng phẩm giá con người. Hiểu theo nghĩa này, “người khôn” là những người có thể nhận ra, quan tâm và trân trọng những giá trị tốt đẹp của tâm hồn. Đó là con người có trí tuệ, hiểu rõ đạo nhân nghĩa trên đời. Trái ngược với “người khôn” là “người phàm” – hạng người phàm phu tục tử, thấp kém,

    thô lỗ. “Rửa mặt” là sự coi trọng. “Rửa chân” ám chỉ sự khinh miệt. Tuy vậy, dù là “người khôn” hay “kẻ phàm” thì họ đều nắm trong tay quyền sinh sát, quyền định đoạt số phận của người phụ nữ. Trong xã hội phong kiến xưa không có khái niệm bình đẳng giới. Người đàn bà suốt đời nhất nhất chỉ biết ép mình theo khuôn khổ “tam tòng tứ đức”, lặng lẽ ngậm bồ hòn làm ngọt, lấy hạnh phúc của người khác làm niềm vui, lẽ sông, lấy sự hi sinh cho chồng con làm hạnh phúc của chính mình. “Giếng nước giữa đàng” là hình ảnh gợi lên sự lẻ loi, đơn chiếc. Ví thân phận người phụ nữ với “giếng nước giữa đàng”, tác giả dân gian còn ngầm ngợi ca người phụ nữ như một dòng nước mát lành, đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho người khác cho dù họ là “người khôn” hay “người phàm”. Nhưng đáng thương thay, số phận của họ lại thật bé nhỏ; cái tài, cái đẹp của họ hoàn toàn không được coi trọng. Không tự quyết định được sô” phận của bản thân, người phụ nữ chỉ còn biết mong chờ vào sự may rủi. Nếu may mắn gặp được người đàn ông tử tế thì có được một cuộc sống bình yên còn nếu lỡ gặp phải kẻ bạc, “người phàm” thì xác định chịu sự giày vò cả về thể chất lẫn tinh thần trong suốt quãng đời còn lại.

    Mô típ “Thân em” là một trong những cấu trúc điển hình quen thuộc của ca dao than thân. Tuy có đôi nét khác nhau ở nội dung thể hiện ở từng bài nhưng nhìn chung, ba bài ca dao trên đều thể hiện nỗi buồn của người phụ nữ trong xã hội xưa và phản ánh ước mơ, khát vọng của họ về một tương lai tốt đẹp hơn. Bằng những câu ca dao với mô típ “Thân em”, người phụ nữ đã thốt lên những tiếng than thân, trách phận rất đáng được cảm thông, chia sẻ. Bên cạnh đó, qua những bài ca dao trên, họ còn thể hiện sự tự ý thức về giá trị của bản thân và bước đầu có thái độ đấu tranh, phản kháng.

    Cả ba bài ca dao đều thuộc chùm ca dao than thân nhưng mỗi bài lại có cách thể hiện riêng độc đáo, tạo nên sự đồng cảm vô cùng sâu rộng. Nó giúp ta nhìn về quá khứ để so sánh với hiện tại, để trân trọng những điều tốt đẹp, phê phán những bất công và biết quý trọng cuộc sông mà chúng ta đang có hôm nay.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao: Thân Em Như Tấm Lụa Đào, Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen Lớp 10
  • Top 6 Bài Văn Phân Tích Bài Ca Dao “thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen” Lớp 10
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Dàn ý I. Mở bài

    – Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

    II. Thân bài 1. Mô típ “thân em”.

    – Là mô típ quen thuộc được sử dụng để nói về tiếng khóc than của người phụ nữ không được làm chủ số phận của cuộc đời mình

    – “Thân em” thường được so sánh với hai đối tượng:

    + Những vật nhỏ nhoi, tầm thường không đáng được quan tâm: Thân em như giếng giữa đàng, thân em như quả cau khô, thân em như trái bần trôi,…

    + Những thứ tốt đẹp nhưng không được coi trọng: Thân em như tấm lụa đào, thân em như cánh hoa hồng, thân em như đóa hoa rơi,…

    2. Người phụ nữ tự ý thức về vẻ đẹp của mình

    – Hình ảnh so sánh “tấm lụa đào”

    + Nghĩa đen: Tấm lụa đào là một mảnh vải đẹp, mềm mại, có giá trị. Tấm lụa đào là món đồ trang sức trang trí cho con người hoặc đồ vật.

    + Nghĩa bóng: Tấm lụa đào gợi liên tưởng đến vẻ đẹp của người phụ nữ, mềm mại nuột nà. Trong cuộc sống, người phụ nữ cũng âm thầm, lặng lẽ chịu đựng nhiều bất công.

    – So sánh với bài thơ “Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương” để thấy sự đồng cảm của đời sau “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    – Từ láy “phất phơ”:

    + Miêu tả trạng thái của tấm lụa đào khi đứng trong gió

    + Nói đến sự vô định, nổi trôi, không tự làm chủ được số phận của người phụ nữ.

    – Hình ảnh “chợ”

    + Nơi để trao đổi, giao lưu buôn bán, rất phức tạp.

    + Sự hiện diện của một xã hội phức tạp với đủ các loại người.

    – Câu hỏi tu từ “biết vào tay ai”: Thể hiện sự chua xót, bất lực, vô vọng của người phụ nữ trước số phận.

    3. Nghệ thuật

    – Sử dụng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ gợi liên tưởng độc đáo.

    – Sử dụng các từ láy, câu hỏi tu từ

    – Giọng điệu xót thương, ngợi ca.

    4. Ý nghĩa của bài ca dao

    – Thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ

    – Nói nên niềm cảm thông, chia sẻ với số phận bấp bênh của người phụ nữ.

    – Tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của người phụ nữ

    III. Kết bài

    – Khái quát lại vấn đề

    Bài mẫu

    Thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến đã chịu rất nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đã có nhiều điển hình về sự bất hạnh đó. Một nàng Kiều gian truân, ngậm đắng nuốt cay khóc thầm cho cuộc đời mình. Một Vũ Nương chịu hàm oan phải nuốt nước mắt tìm đến cái chết. Và còn bao nhiêu, bao nhiêu được biết và không biết nữa. Đến nỗi chuyện người phụ nữ bị bạc đãi đã trở thành thông lệ. Còn phụ nữ, họ không có khả năng chống chọi nữa hay là sức phản kháng của họ đã yếu dần, yếu dần cho đến khi lời cáo buộc trở thành một lời than thân buồn tủi:

    Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Lời than thân đó nghe chứa chan nước mắt và mỏng mảnh như khói tỏa vào không gian, như thân phận người phụ nữ vậy.

    Ca dao là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian rất phổ biến, đúc kết trong đó nhiều tình cảm và cũng là lời than thân trách phận. Các tác gia dân gian có lẽ đã thấu suốt được nỗi đau đó, thông cảm với thân phận người phụ nữ nên mở đầu ca dao là một lời xưng hô nhỏ nhẹ, mềm mỏng; Thân em, từ thân gợi nên một cảm giác nhỏ nhoi, yếu đuôi. Người con gái khi tự giới thiệu mình cũng rụt rè, khiêm nhường thốt lên hai tiếng “thân em”. Thân phận của người phụ nữ đã được văn học thành văn nhắc đến. Hồ Xuân Hương thì đồng cảm với phận bảy nổi ba chìm của thân em vừa trắng lại vừa tròn. Nguyễn Du thương xót thốt lên: đau đớn thay phận đàn bà và Tú Xương cũng thổn thức khi viết về bà Tú: Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Còn ca dao lại nói về đời người con gái qua bình ảnh liên tưởng như dải lụa đào. Biện pháp so sánh ở đây thật nhẹ nhàng và thanh thoát, thấm vào lòng người đọc, người nghe. Dải lụa đào mang dáng vẻ đẹp, nhẹ nhàng như chính tâm hồn và phẩm chất người phụ nữ, lại là một thứ vật liệu mềm mỏng dùng để may mặc, trang trí thêm cho người hay khung ảnh. Và phải chăng người phụ nữ trong cuộc đời cũ cũng vậy, họ là một món đồ trang sức, là chiếc bóng lặng lẽ, âm thầm trước những bất công. Dải lụa đào là một hình ảnh so sánh thật thanh cao, thật mềm mại nhưng quấn trong đó một nỗi niềm nặng trĩu. Vì thế câu tiếp theo là tất cả tâm trạng đau khổ vắt ra mà thành:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Dải lụa đào lại ở giữa chợ, giữa cảnh xô bồ kẻ bán người mua. Liệu ai có con mắt xanh để biết giá trị của tấm lụa đào. Từ phất phơ không có hướng cố định cũng như hoa trôi man mác biết là về đâu. Bị số phận đưa đẩy đến như vậy mà nữ nhi lại không đủ sức, không thể chủ động định được một hướng đi cho mình để rồi đêm ngày tự hỏi cuộc đòi mình sẽ vào tay ai. Một Gã Giám Sinh buôn sắc bán hương. Một Trương Sinh đa nghi, ích kỉ hay là một Kim Trọng hào hoa phong nhã? Họ hoàn toàn biết về số phận của mình cũng như mảnh lụa mềm nhẹ kia không biết có được một người tri kỉ chọn lựa hay không? Trong suốt cuộc đời mình, người phụ nữ xưa bị đẩy vào trạng thái thụ động, chỉ quanh quẩn ‘trong nhà và quanh quẩn vói việc thờ chồng, thờ cha, theo con. Dải lụa bay nhè nhẹ trong gió, phó mặc ngọn gió đưa mình đến một bàn tay thô bạo. Bay vào đôi mắt hữu tình, phong nhã. Câu hỏi buông ra biết vào tay ai thật tinh tế và khéo léo, nó tạo cho người đọc một cảm giác xót xa. Câu hỏi đó có lẽ đã bám suốt cuộc đòi người con gái.

    Toàn bộ câu ca dao là một lời than. Nó được sinh ra từ số phận cam chịu của người phụ nữ thòi phong kiến. Không một ai trong số những tác giả vô danh sáng tác câu ca dao trên lại có thể thanh thản khi nghĩ về đứa con tinh thần của mình. Câu ca dao là sản phẩm quá trình đông tụ những giọt nước mắt ngược vào lòng. Từng lời từng chữ trong câu ca toát lên ý ngậm ngùi. Nước mắt đã chảy. Câu ca dao là tiếng lòng của bao nhiêu người, là tiếng than của bao nhiêu thân phận!

    Với cách so sánh thật linh động và cũng rất gần với đời thường, câu ca dao đã tạo ra một hình ảnh gây nhiều cảm xúc. Tưởng chừng như những đám mây đang quấn lấy cảm xúc của con người, ôm trọn trong lòng nó tâm trạng của những người phụ nữ để rồi dần dần len lỏi vào từng ngóc ngách của dải lụa đào đang phất phơ giữa chợ. Bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ được sáng tác và lan truyền nhưng câu nào cũng có sự liên hệ, liên tưởng đến những thứ nhỏ bé mỏng manh như: nước, hạt mưa, miếng cau, trái bầu… Vì thế câu ca dao đã lột tả được tâm trạng của hầu hết giói nữ: người thiếu nữ vừa tới tuổi trâm cài lược giắt đã lo âu cho sô” phận của mình. Lo ngại cho hạnh phúc hẩm hiu của mình. Tất cả tạo nên một dòng cảm xúc buồn thương không ngừng chảy từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác vào không gian một tiếng vang vọng mãi. Người phụ nữ thòi phong kiến đã chịu nhiều đau khổ, chấp nhận làm đẹp cho những người xung quanh. Sô” phận của họ như vải lụa bay trong gió không biết sẽ về đâu. Câu ca dao trong đề là lời than thân yếu ớt. Phải chăng người phụ nữ xưa cũng từng ao ước:

    Ví đây đôi phận làm trai được.

    Những ước muôn đó tồn tại được bao lâu hay là lại phải quay trở về với những câu than thân bất lực?

    (Lê Huỳnh Phương – Trường PTTH Bùi Thị Xuân) chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Việc Tạo Nên Tính Hình Tượng Ở Câu Ca Dao Sau: “thân Em Như Quế Giữa

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Của Nguyễn Quỳnh Anh
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Phân Tích Bài Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú)
  • Ca dao Việt Nam vô cùng phong phú và đặc sắc, trong đó mảng ca dao nói về thân phận người phụ nữ cũng là một đề tài nổi bật và quen thuộc, nó thường có dạng “Thân em…..” trong đó câu thơ :”Thân em như quế giữa rừng- Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay” là một tiêu biểu.

    Mở đầu câu ca dao là 2 tiếng “Thân em”- đây có thể coi là yếu tố nhận biết của ca dao than thân ngươì phụ nữ, cũng là một biện pháp cảm thán, yếu tố này có thể bắt gặp trong rất nhiều câu ca dao khác như một mô típ, một thủ pháp nghệ thuật , “thân em” đọc lên ta cảm thấy có một sự giãi bày, một niềm tự thương xót của người nói cất lên . Sau đó người phụ nữ tự ví mình “như quế giữ rừng”. Cây quế là một loại có vỏ cay và thơm được dùng để làm gia vị, thuốc, hương liệu… Cây quế thơm là thế, tốt là thế nhưng lại đặt giữa rừng để rồi “Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay” , có đẹp đẽ có tốt lành cũng chẳng để làm gì hết. Từ biện pháp so sánh tự ví mình như cây quế qua đó ẩn dụ về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa- xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, thân phận người phụ nữa bị rẻ rúng, bị coi thường. Người phụ nữa dẫu có đẹp về thể xác, đẹp về tâm hồn (ở trong câu ca dao này chủ yếu nói về vẻ đẹp tâm hồn) bao nhiêu thì cũng chẳng ai quan tâm. Không ai coi trọng vẻ đẹp của họ, cuộc đời họ là cuộc đời tùy tay người khác sắp đặt, may mắn thì họ sẽ được gả cho người chồng không vũ phu chứ chẳng dám mơ ước được yêu chiều, sống sung sướng gấm lụa, và ngược lại phải gả cho kẻ không ra gì thì “em” chẳng khác với người hầu , kẻ hạ.

    Câu ca dao như một tiếng thở dài mà nhẹ nhàng , không khóc lóc thảm thiết nhưng phả trong đó là một nỗi ai oán , sầu muộn. Không buồn sao được khi mà cuộc đời mình không được sống theo ý muốn, luôn bị phụ thuộc vào người khác, chỉ mong có một người nhận ra được vẻ đẹp của mình cũng không có.

    Niếm ai oán này có phải không chỉ có của riêng một người con gái nào đó? Đại từ phiếm chỉ “em” chung chung, điều này chứng tỏ đây không chỉ là bi kịch của một người mà là của chung nhiều người phụ nữ khác. Tránh làm sao được khi cả xã hội đều là một sự bất công, khó khăn với người phụ nữ.

    Ngoài ra, ta có thể bắt gặp được rất nhiều câu thơ có nội dung, hình thức tương tự như:

    “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    “Thân em như miếng cau khô – Người thanh tham mỏng người thô tham dày”

    “Thân em như giếng giữa đàng – Người thanh rửa mặt người phàm rửa chân”

    “Thân em như hạt mưa sa – Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”…..

    ….

    Trong hệ thống ca dao Việt Nam còn rất nhiều câu ca mà câu ca dao chúng ta vừa phân tích trên chỉ là một phần rất nhỏ góp phần tạo nên sự phong phú cho ca dao Việt nói chung và ca dao than thân mảng than thân phụ nữa nói riêng. Chỉ bằng một vài biện pháp nghệ thuật đơn giản và hết sức quen thuộc như: so sánh, ẩn dụ và sử dụng đại từ phiếm chỉ, dân gian đã tạo nên những câu ca dao thật ý nghĩa, đầy nhịp điệu, phản ánh được thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa đồng thời với đó là cáo xã hội cướp đi quyền sống con người. Tài năng , sản phẩm tinh thần của người xưa vẫn luôn có giá trị,có sức sống đến ngày nay và mai sau.

    Phong Cầm

    Nguồn: http://diendankienthuc.net.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đặc Sắc Nội Dung, Giá Trị Nghệ Thuật Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ
  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chị Em Thúy Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Tả Người Trong Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “chị Em Thuý Kiều” (“truyện Kiều”
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài ( Tỏ Lòng ) Của Phạm Ngũ Lão
  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Tỏ Lòng Và Cảm Hoài
  • Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Trong dòng văn học cổ Việt Nam,Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm văn học kiệt xuất . Tác phẩm không chỉ nổi tiếng vì cốt truyện hay, hấp dẫn ,lời văn trau chuốt, giá trị tố cáo đanh thép , giá trị nhân đạo cao cả mà còn vì các nhân vật trong truyện được ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du miêu tả vô cùng đẹp đẻ, sinh động . Đặc biệt là các nhân vật mà tác giả tâm đắc nhất như Thúy Vân, Thúy Kiều .

    Ngay phần đầu của Truyện Kiều Nguyễn Du đã khắc họa bức chân dung xinh đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :

    ” Đầu lòng hai ả tố nga

    Thúy Kiều là chị , em là Thúy Vân

    Mai cốt cách tuyết tinh thần

    Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

    Nói đến Mai là nói đến sự mảnh dẻ, thanh tao ; nói đến tuyết là nói đến sự trong trắng ,tinh sạch . Cả mai và tuyết đều rất đẹp .Tác giả đã ví vẻ đẹp thanh tao , trong trắng của hai chị em nhưlà mai là tuyết và đều đạt đến độ hoàn mĩ ” Mười phân vẹn mười” .

    Tiếp đó tác giả giới thiệu vẻ đẹp của Thúy Vân :

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn ,nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”

    Nhà thơ đã sử dụng bút pháp ước lệ kết hợp với ẩn dụ để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân . Nàng có một vẻ đẹp mà hiếm thiếu nữ nào có được với khuôn mặt đầy đặn như trăng rằm ,lông mày cong hình cánh cung như mày ngài . Miệng cười của nàng tươi như hoa nở, giọng nói của nàng trong như ngọc . Lại nữa da trắng mịn đến tuyết phải nhường . Ôi , thật là một vẻ đệp đoan trang, phúc hậu ít ai có được . Nguyễn Du đã miêu tả bức chân dung nàng Thúy Vân có thể nói là tuyệt đẹp .Đọc đoạn này ta thấy rung động trước vẻ đệp tuyệt vời cảu Thúy Vân và thêm thán phục thiên tài Nguyễn Du. Ông đã vận dụng biện pháp tu từ của văn thơ cổ vừa đúng đắn vừa sáng tạo .

    Nguyễn Du miêu tả Thuý Vân đã khiến ta rung động đến vậy , ông miêu tả Thuý Kiều thì ta còn bất ngờ hơn nữa . Bất ngờ đến kinh ngạc . Bắt đầu từ câu :

    ” Kiều càng sắc sảo mặn mà

    So bề tài sắc lại là phần hơn”

    Nàng Vân đã tuyệt diệu như vậy rồi , nàng Kiều còn đẹp hơn nữa ư ? Có thể như vậy được không ? Ta hãy xem ngòi bút của Nguyễn du viết về nàng Kiều :

    ” Làn thu thuỷ nét xuân sơn

    Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kếm xanh

    Một hai nghiên nước nghiên thành

    Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”

    Đến đây , chắc hẳn ta sẽ hài lòng và vô cùng thán phục . Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp Thuý kiều không dài , chỉ vài cau thôi , vậy mà ta như thấy hiện ra trước mắt một thiếu nữ ” tuyệt thế gia nhân” . Mắt nàng thăm thẳm như làn nước mùa thu , lông mày uốn cong xinh đẹp như dáng núi mùa xuân ; dung nhan đằm thắm đến hoa củng phải ghen , dáng người tươi xinh mơn mởn đén mức liễu cũng phải hờn . Khi đọc đến đoạn này ta không chỉ rung động , thán phục mà có một cảm giác xốn xang khó tả bởi nàng Kiều Xinh đẹp quá . Thủ pháp ước lệ,nhân hoá là biện pháp tu từ phổ biến trong văn học cổ được tác giả sử dụng xuất sắc , kết hợp với việc dùng điển cố “nghiêng nước nghiêng thành” , tác giả đã làm cho ta không chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ cảm nhận , mà như thấy tận mắt nàng Kiều . Nàng quả là có một vẻ đẹp ” sắc sảo mặn mà” Ta có thể nói là “có một không hai” làm mê đắm lòng người . Đọc hết những câu trên, ta mới hiểu được dụng ý của Nguyễn Du Khi miêu tả vẻ đẹp “đoan trang phúc hậu” của Thuý Vân trước vẻ đẹp “sắc sảo mặn mà” của Thuý Kiều . Nhà thơ đã sử dụng biện pháp đòn bẩy , dùng vẻ đệp của Thuys Vân để làm để làm tôn thêm vẻ đẹp yêu kiều , quyến rũ của Thuý Kiều rất có hiệu quả .

    Sắc đã vậy còn tài của nàng Kiều thì sao ? ta sẽ không cảm nhận được hết toàn bộ vẻ đẹp hình thể củng như vẻ đẹp tâm hồn cua Thuý Kiều nếu như ta không biết đến tài của nàng , mặc dù Nguyễn Du đã nói ” Sắc đành đòi một , tài đành hoạ hai” . Về sắc thì chắc chắn chỉ có miònh nàng là đẹp như vậy , về tài hoạ chăng có người thứ hai sánh kịp :

    : Thông minh vốn sẳn tính trời

    Pha mùi thi hoạ đủ mùi ca ngâm

    Cung thương làu bậc ngũ âm

    Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương

    Khúc nhà tay lựa nên chương

    Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”

    Nàng có cả tài thơ , tài hoạ , tài đàn , tài nào cũng xuất sắc , cũng thành “nghề” cả . Riêng tài đàn nàng đã sáng tác một bản nhạc mang tiêu đề ” Bạc mệnh” rất cuốn hút lòng người .

    Với hai nhân vật như Thuý Kiều Thuý Vân , Nguyễn Du đã sử dụng các biện pháp tu từ phổ biến trong văn thơ cổ như ước lệ , ẩn dụ , nhân hoá , dùng điển cố . Qua đó ta thấy vẻ đẹp phúc hậu , đoan trang của Thuý Vân Và vẻ đẹp ” sắc sảo măn mà” của Thuý Kiều . Hai bức chân dung của hai chị em Thuý Kiều Thuý Vân , mà Nguyễn Du khắc hoạ phải nói là rất thành công . Đặc biệt là Thuý Kiều nhà thơ đã giành trọn tâm huyết , sức lực và tài năng của mình để sáng tạo nên nàng . Bởi nang là nhân vật chính của Truyện Kiều

    Như đã nói . Truyện Kiều thu hút người đọc phần lớn là nhờ nghệ thuật miêu tả nhân vật của Nguyễn Du . Quả vậy nghệ thuật tả người của Nguyễn Du có thể gọi là bạc thầy trong nền văn học cổ Việt Nam . Tả hình dáng bên ngoài của nhân vật ông luôn làm toát lên cái tính cách , tâm hồn bên trong của nhân vật đó .

    Với Thuý Vân ông đã thực hiện biện pháp ước lệ để miêu tả vẻ đẹp :

    ” Khuôn trăng dầy đặn , nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”

    Tất cả các từ ngữ , hình ảnh được ông sử dụng trong các câu thơ trên đều tập trung làm cho người đọc thấy được vẻ đẹp ” đoan trang , thuỳ mị” của Thuý Vân . Không những khắc hoạ vẻ đẹp hình thể bên ngoài Nguyễn Du còn như dự báo số phận bình lặng, êm ả của nàng qua từ ” thua” và từ ” Nhường”. Mây và tuyết thua avẻ đẹp của Thuý Vân nhưng cả hai đều chịu ” thua” và chịu ” nhường”một cách êm ả .

    Với Thuý Kiều , Tác giả dùng nhiều biện pháp tu từ để miêu tả vẻ đẹp “sắc sảo , mặn mà” của nàng.Những câu thơ miêu tả nàng có thể xem là tuyệt bút :

    ” Làn thu thuỷ nét xuân sơn

    Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kém xanh”

    Trong hai câu thơ ,Nguyễn Du như đã dự báo số phận bấp bênhchìm nổi của Kiều qua các hình ảnh hoa và liễu thua vẻ đẹp của nàng nhưng không cam chịu thua mà còn ” ghen” còn ” hờn” và khúc nhạc bạc mệnh nàng sáng tác cũng như dự báo điều đó .

    Nói tóm lại , Nguyễn Du có nghệ thuật tả người rất đặc sắc và tiêu biểu . Mỗi nhân vật ông miêu tả dù tốt hay xấu , dù chính diện hay phản diện cũng đề biểu hiện được bản chất tâm hồn bên trong qua hình dáng bên ngoài . Nghệ thuật miêu tả , xây dựng nhân vật của Nguyễn Du rất đáng để chúng ta trân trọng và học tập .

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Biện Pháp Tu Từ Cơ Bản Cần Nhớ Khi Học Môn Ngữ Văn
  • Bài Soạn Văn 7: Sài Gòn Tôi Yêu
  • Phân Tích Văn Bản Sài Gòn Tôi Yêu Của Minh Hương
  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Nhắc đến kho tàng ca dao dân ca Việt Nam thì người đọc luôn phải tự hào về khối lượng của những bài ca dao ấy. Nó không chỉ đa dạng về phong cách mà còn về hình ảnh và nội dung được truyền tải. Một trong số đó chính là về hình ảnh và số phận của người phụ nữ xưa, sống theo chế độ phong kiến cũ hà khắc hay cả những quy tắc trọng nam khinh nữ mà cho tới bây giờ người phụ nữ vẫn phải gồng gánh với quan niệm đó. Thật sâu sắc và uyển chuyển khi 4 câu ca dao sau đã truyền tải hết thông điệp của người xưa đối với người phụ nữ:

    Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

    Điểm chung của câu ca dao nói về người phụ nữ hầu hết đều sử dụng hình ảnh ẩn dụ là thân em. Người phụ nữ xưa số phận hèn mọn không có tên có tuổi có khi theo chồng về nhà chồng lại bị gọi theo tên của chồng. Giống như cuộc đời và số phận của người phụ nữ luôn không được tự mình làm chủ và khó có thể nắm vững số phận của mình trong tay mà phụ thuộc và chồng vào người đàn ông hoặc những người khác. Thân em gợi lên hình ảnh mong manh yếu đuối và đơn chiếc. Thân em như vừa để nói để giãi bày mà cũng có thể là lời trách hờn của những người phụ nữ yếu đuối một cách bâng quơ chả dám kêu to hét lớn gì cả

    Thân em được ví như hạt mưa, mưa thì cũng nhiều và mong manh lắm nhưng mưa rơi xuống đất thấm vào đâu trôi dạt vào đâu nào đâu có được lựa chọn. Thân em là hạt mưa nhưng đâu phải hạt nào cũng được làm mát cho cây cối hoa thơm quả ngọt, có phải hạt nào cũng được trở thành thứ mà con người ta trân trọng nâng niu. May mắn thay thì được vào nhà có danh giá một chút sống cuộc đời êm ấm giàu sang nhưng không may mắn hơn thì lại rơi vào nhà dân bần hàn có khi cả cuộc đời nghèo khổ lang bạt vất vưởng

    Chưa dừng lại đó để nhấn mạnh thêm nữa tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh ở câu thứ hai để ví thân em như hạt mưa nhưng lần này mưa rơi vào chốn đài các hoặc ra ruộng cày. Đài các là nơi sang trọng phú quý không phải ai cũng có cơ hội bước chân vào đó nhưng ruộng cày cuộc sống bần nông vất vả thì hầu hết đều phải chịu và sống tiếp số kiếp của mình đến sau này. Số phận của người phụ nữ là vay may mắn thì được sung túc ấm êm , không may mắn thì phải chịu cảnh nghèo hàn rẻ mạt.

    Tuy nhiên điểm chung ở đây là thân em được ví như hạt mưa cũng chính như tính cách và con người phụ nữ. Dù rơi vào đâu thì cũng trong sáng thanh mát tắm mát cho cây cối ruộng đồng cho hoa thơm đơm trái cho vụ mùa bội thu nhà nhà thắng lợi. Dù có mềm yếu có dễ vỡ đến đâu thì vẫn là thứ quý giá và rất cần thiết cho cuộc sống mỗi con người, điều đó hoàn toàn không thể phủ nhận được.

    Nhờ vào câu ca dao mà chúng ta lại càng hiểu thêm về con người phụ nữ trong chế độ cũ, vừa là cảm thông và vừa trân trọng những số phận mềm yếu cần được chia sẻ và nâng đỡ. Dù họ có yếu đuối đến đâu thì thiếu họ là thiếu cả nửa thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen Lớp 10
  • Top 6 Bài Văn Phân Tích Bài Ca Dao “thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen” Lớp 10
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang
  • 3 Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Chi Tiết, Hấp Dẫn
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Tràng Giang
  • (Những bài văn hay ) – Anh (Chị) hãy Phân tích bài ca dao thân em như củ ấu gai . (Bài làm của bạn Nguyễn Phúc Lâm).

    Người phụ nữ là một hình tượng tiêu biểu cho những số phận bi đát, đáng thương trong xã hội cũ. Họ là những người có đủ tài sắc đức hạnh nhưng bị xã hội vui dập đến ngõ cụt, họ đã tự mình cất lên những tiếng hát than thân từ cuộc đời nhiều đắng cay mà cho đến ngày nay vẫn vang vọng tiếng kêu cứu não nùng, đau đớn của những con người trong vũng lầy xã hội, tiêu biểu qua bài ca dao:

    Chắc hẳn ai cũng biết người phụ nữ Việt Nam chứa đựng nhiều phẩm chất cao đẹp, họ là những viên ngọc sáng vô giá trị. Nhưng hỡi ơi! Dưới cái xã hội phong kiến suy đồi mục nát thì họ bị vùi dập xô đẩy, đối xử tệ bạc bất công thậm chí còn không có quyền quyết định số phận của mình mà chỉ bị phụ thuộc vào may rủi cuộc đời.

    Củ ấu gai là một loại củ sống ở đồng ruộng bên ngoài sần sùi xấu xí thô kệch nhưng bên trong lại trắng nõn nà thanh tao.Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo hình ảnh người phụ nữ càng được tôn lên, họ xấu xí đen đuốt vì họ phải lam lũ nắng mưa ngoài đồng ruộng để tìm kế mưu sinh nhưng họ chứa đựng một vẻ đẹp tiềm tàng đó là tâm hồn trong sáng thanh cao, thuần khiết một vẻ đẹp thật giản dị mà không thể bị mất đi hay phai nhòa theo năm tháng như sự hào nhoáng bên ngoài kia.

    Tương tự như thế hai câu ca dao tiếp theo họ đã một lần nữa khẳng định vẻ đẹp phẩm giá của mình là không thấy cân, đo,đông, đếm bằng hình thức bên ngoài mà phải dùng trái tim chân thành để cảm nhận mới hiểu thấu được hết :

    Bài ca dao như một tiếng than thân ai oán mà chắc hẳn ai nghe qua cũng phải nào lòng xót dạ, từng câu từng chữ như xoáy vào tâm hồn người đọc, cái âm điệu u buồn ấy nó lắng động sâu lắng như tiếng đàn cầm vân vẫn bên tai. Người phụ nữ Việt Nam hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp chung thủy, hiếu thảo, đảm đang và dành trọn cuộc đời mình cho cha mẹ chồng con. Không từ ngữ nào có thể diễn tả hết được đức hy sinh cao cả, nhưng chính xã hội đã khiến cuộc đời họ phải sa vào bế tắc đau khổ đến cùng cực đến rồi bà chúa thơ Nôm phải đau đớn mà thốt lên rằng :

    Dù đã cố gắng nhưng rồi số phận bà bao giờ cũng lâm vào cảnh “chồng chung” nhưng đâu chỉ thế mà còn bị vùi dập

    Những hủ tục khắc khe thời phong kiến đã xô đẩy cuộc đời người phụ nữ đi đến ngỏ cụt, những quan niệm ” trọng nam khinh nữ” hay “trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng ” hết sức phi lý và bất công nhưng rồi họ cũng chỉ biết chấp nhận thôi, số phận hẩm hiu chỉ biết phụ thuộc vào may rủi nhưng dù có ra sao thì tấm lòng chung thủy sắc son luôn tồn tại vĩnh cữu trong họ. Họ khao khát hạnh phúc, cuộc đời họ chỉ mong được một lần hầu hạ chồng con mà có thể bỏ qua hết những quyền lợi hay nhiều thứ quan trọng của bản thân, thế nên mới có câu ca dao :

    Phía sau bức màn thành công của người đàn ông, một gia đình hạnh phúc luôn hiện hữu hình ảnh người phụ nữ đảm đang nâng khăn sửa gối cho chồng, là một người có đủ các yếu tố ” Công- Dung- Ngôn- Đức- Hạnh” . Ngày nay người phụ nữ càng khẳng định giá trị của mình trên trường quốc tế, họ không hề thua kém đàn ông và biết đấu tranh dành quyền lợi cho mình. Là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật đã ban hành nhiều chính sách đòi lại công bằng cho phụ nữ vì thế mà họ càng phát huy được vẻ đẹp tài năng trong con người mình.

    Thế đấy mà cũng thật đáng buồn khi mà người phụ nữ bị danh vọng phù hoa, tiền tài vật chất mà làm mai một đi sự trong sáng và vẻ đẹp thanh cao của người phụ nữ Việt Nam, làm nhiều điều không đúng để rồi lâm vào cảnh tù tội. Hơn thế nữa họ dùng thân xác của mình để đổi lấy tiền tài vật chất hoặc có nhiều nữ sinh khi xảy ra mâu thuẫn để dùng bạo lực để giải quyết. Thật làm xấu đi hình tượng cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

    Bằng biện pháp nghệ thuật so sánh độc đáo, bài ca dao chị vẻn vẹn hai mươi tám từ mà giúp ta thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc về thân phận người phụ nữ trong cuộc đời đầy ngang trái. Đồng thời bài ca dao còn lên án gay gắt xã hội phong kiến đã đẩy con người vào bế tắc cũng từ đó ta thấy được tầm quan trọng của người phụ nữ. Dù cho bạn đang làm gì hay đang ở đâu luôn có một người phụ nữ luôn ngày đêm giỏi theo bạn đó chính là người mẹ kính yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao: Thân Em Như Tấm Lụa Đào, Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”
  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Ca dao – dân ca phản ánh sinh động đời sống tình cảm phong phú của nhân dân lao động. Họ đã gửi gắm vào đó tiếng nói tâm tình chân thành tha thiết, với đủ mọi cung bậc buồn vui. Nhiều câu ca dao về hình thức và nội dung có những nét giống nhau nhưng mỗi câu lại mang một vẻ đẹp riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh và tâm trạng nhân vật khác nhau. Ví dụ một số câu mở đầu bằng cụm từ Thân em và nội dung cùng đề cập đến phẩm chất tốt đẹp, cao quý cùng số phận hẩm hiu, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.

    Hình ảnh hạt mưa sa lại gợi lên một sắc thái khác. Người phụ nữ cảm thấy thân phận mình quá nhỏ bé, gần như vô nghĩa. Có bao nhiêu hạt mưa từ trời cao rơi xuống trong một cơn mưa?! Mọi hạt mưa đều trong trẻo, mát lành như nhau nhưng chỗ rơi xuống – tức số phận của từng hạt mưa lại không giống nhau.

    Sự rủi may của hoàn cảnh không thể nào đoán định trước được. Nó có thể dẫn đến những điều trái ngược hoàn toàn trong cảnh ngộ. Giữa muôn ngàn hạt mưa, một số hạt may mắn không rơi xuống giếng, không mất hút vào luống cày mà lại rơi vào vườn hoa, vào chốn lầu son gác tía đài các. Bài ca dao này quả là một bức tranh sinh động về thân phận bấp bênh của người phụ nữ xưa kia.

    Nếu không may gặp phải vào hoàn cảnh trớ trêu, họ chỉ có một cách lựa chọn là cúi đầu chấp nhận. Dân gian đã ví: Thân con gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu, bởi vì người phụ nữ đã bị bao điều đè nén, ràng buộc bị tước đoạt quyền tự do, quyền làm chủ bản thân, Luật Tam tòng: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử không cho họ được sống theo ý mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Dẫu biết là vô lí, bất công cũng vẫn phải nhẫn nhục, cam chịu, chẳng biết kêu ai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6
  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Phân Tích 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài
  • Phân Tích Đoạn Thơ Đầu Bài Trong Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Ca dao – dân ca phản ánh sinh động đời sống tinh thần phong phú của nhân dân lao động. Họ đã gửi gắm vào đó tiếng nói tâm tình chân thành tha thiết, với đủ mọi cung bậc buồn vui. Nhiều câu ca dao về hình thức và nội dung có những nét giống nhau nhưng mỗi câu lại mang một vẻ đẹp riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh và tâm trạng khác nhau. Ví dụ một loạt câu mở đầu bằng cụm từ “Thân em” mà nội dung cùng đề cập đến phẩm chất tốt đẹp, cao quý và số phậm hẩm hiu, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.

    Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

    Thân em như đoá hoa rơi,

    Phải chăng chàng thật là người yêu hoa?!

    Thân em như con hạc đầu đình,

    Muốn bay không cất nổi mình mà bay!

    Ngậm ngùi, buồn thương, xót xa, cay đắng là cảm xúc chung bao trùm lên những câu ca ấy, khiến nó giống như tiếng thở dài than thân trách phận; tiếng khóc thầm tủi hờn, uất ức của người phụ nữ trước tình cảnh ngang trái, bất công. Trong xã hội phong kiến, họ bị tước đoạt quyền tự do, quyền được sống hạnh phúc và buộc phải phó mặc cuộc đời mình cho sự may rủi ngẫu nhiên của số phận. Cho dù bên trong cái hình thức xấu xí, đen đủi như củ ấu gai là phẩm chất tốt đẹp vừa ngọt vừa bùi nhưng chắc gì người đời đã nhận ra?! Cho dẫu đẹp đẽ như tấm lụa đào đi chăng nữa thì vẻ đẹp ấy chưa chắc là cơ sở bảo đảm cho hạnh phúc. Giống như những hạt mưa từ trời cao rơi xuống, số phận của mỗi người con gái một khác. May rủi cuộc đời có thể đưa họ đến những cảnh ngộ trái ngược trong cuộc sống. Có người được trân trọng, có người bị ngược đãi, cũng như nước cùng một giếng mà người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. Giống như con hạc đầu đình, người phụ nữ bị trói chặt vào số phận hẩm hiu, dẫu có muốn thay đổi cũng chỉ là ao ước mà thôi.

    Sáu câu ca dao với những cách so sánh khác nhau nhưng cùng nói lên một thực trạng: quyền sống của người phụ nữ xưa kia, mà trước hết là quyền tự do hoàn toàn bị phủ nhận. Đó chính là nguồn gốc của mọi đau khổ, ngang trái mà họ phải chịu đựng trong suốt cuộc đời.

    Sáu câu ca dao là sáu tiếng than thân ngậm ngùi, chua xót. Bởi xét cho cùng, dẫu có tấm lụa đào nào được vào tay khách quý, có hạt mưa sa nào được vào chốn đài các, có nước giếng nào được đêm rửa mặt, thì cũng là nhờ may mắn mà sự may mắn thì thật hiếm hoi. Trong bao nhiêu tấm lụa đào, bao nhiêu hạt mưa sa, bao nhiêu nước giếng mới có được một số phận sáng tươi?! Cho nên đau khổ vẫn là tình trạng chung phổ biến nhất của người phụ nữ.

    Những câu ca dao trên chính là tiếng than thân cất lên từ cuộc đời như thế. Than vãn mà không oán trách, bởi vì biết oán trách ai? Rốt cuộc, đành cho rằng đó là định mệnh. Cho hay muôn sự tại trời, không thể nào thay đổi được.

    Cả sáu câu ca dao hầu như cùng một khân mẫu về nội dung, về kết cấu. Mở đâu bằng “Thân em”, tiếp theo là sự vật được đem so sánh. Còn những câu dưới là mượn tính chất của sự vật ấy để chỉ thân phận người phụ nữ.

    Tuy nhiên, trên cơ sở giống nhau về ý nghĩa, mỗi câu ca dao lại khác nhau ở hình ảnh được đem ra so sánh và chính cái đó đã tạo nên sắc thái của từng câu.

    Ta sẽ lần lượt phân tích từng câu để thấy cái hay, cái đẹp trong ý nghĩa và hình thức biểu hiện.

    Người phụ nữ ngày xưa bị ràng buộc bởi lễ giáo khắt khe cũng những hủ tục, định kiến nặng nề của xã hội trọng nam khinh nữ. Quan niện nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô: (Một con trai cũng là có, mười con gái cũng là không). Nữ nhân ngoại tộc: (Con gái là người ngoài họ tộc). Hay: khôn ngoan cũng thể đàn bà, Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông… đã đẩy người phụ nữ vào vị trí thứ yếu trong gia đình và xã hội.

    Quan niệm sai lệch ấy ảnh hưởng không ít tới cách suy nghĩ của chị em phụ nữ, tạo ra trong họ một mặc cảm tự ti, tiêu cực. Người phụ nữ nông dân vất vả, lam lũ quanh năm thì so sánh: Thân em như củ ấu gai, Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen. Cai củ gấu gai góc, xấu xí ấy sống dưới bùn sâu, chẳng mấy ai để ý tới, dẫu rằng bên trong nó vừa trắng. vừa ngọt, vừa bùi.

    Người phụ nữ xưa tự nhận thức và đánh giá đúng đắn về phẩm chất tốt đẹp của mình và khẳng định điều đó qua ẩn dụ so sánh đầy tính nghệ thuật: Thân em như tấm lụa đào…

    Tấm lụa đào đẹp từ chất liệu, dáng vẻ đến màu sắc bởi được dệt nên từ loại tơ tằm tốt nhất. Lụa nhẹ, mềm và rất mát, mặc vào thì người đẹp hẳn lên. Lụa màu hoa đào vừa đẹp vừa quý nhưng khi đem bán thì cũng phải bày ra giữa chốn “trăm người bán, vạn người mua”, đủ loại người sang kẻ hèn, người thanh kẻ tục, không biết sẽ vào tay ai? Lụa tuy đẹp thật nhưng đã chắc gì có người biết đánh giá đúng giá trị của nó! Hình ảnh tấm lụa đào gợi lên vẻ thanh xuân mơn mởn, tràn đầy sức sống của một cô gái đương thì, nhưng hình ảnh tấm lụa đào phất phơ giữa chợ lại có một cái gì đó thật trớ trêu, tội nghiệp. Nỗi băn khoăn, lo lắng là rất thực. Quả là hoàn cảnh khách quan chi phối rất nhiều, có khi quyết định số phận của cả một đời người.

    Hình ảnh hạt mưa sa lại gợi lên một sắc thái tình cảm khác. Người phụ nữ cảm thấy thân phận mình quá ư nhỏ bé. Có bao nhiêu hạt mưa từ trời cao rơi xuống trong một cơn mưa?! Mọi hạt mưa đều trong trẻo, mát lành như nhau nhưng chỗ rơi xuống – tức số phận của từng hạt mưa lại không giống nhau. Sự rủi may của hoàn cảnh không thể nào đoán định trước được. Nó có thể dẫn đến những điều trái ngược hoàn toàn trong cảnh ngộ. Giữa muôn ngàn hạt mưa, một số hạt đã may mắn hơn, không rơi xuống giếng, không vào vườn hoa, không mất hút vào luống cày mà lại rơi vào chốn lầu son gác tía (đài các). Bài ca dao này quả là một bức tranh sinh động về thân phận bấp bênh của người phụ nữ xưa kia.

    Nếu không may rơi vào hoàn cảnh trớ trêu, họ chỉ có một cách lựa chọn là cúi đầu chấp nhận. Dân gian đã ví: Thân con gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu, bởi vì người phụ nữ đã bị bao điều đè nén, ràng buộc, bị tước đoạt quyền tự do, quyền làm chủ bản thân. Quy định tam tòng: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử không cho họ được sống theo ý mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Dẫu biết là vô lí, bất công cũng vẫn phải nhẫn nhục, cam chịu.

    Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân…

    Câu này lấy hình ảnh so sánh là cái giếng giữa đàng vốn rất quen thuộc với làng xóm ngày xưa. Vì là giữa đàng nên có nhiều người qua lại và tất nhiên có người khôn (người tốt, người có con mắt tinh đời…), có người phàm (kẻ tầm thường, bần tiện…). Cách sử dụng nước giếng hoàn toàn do mục đích, thái độ của từng người. Rửa mặt với rửa chân là hai hình ảnh tương phản thật sinh động và ý vị.

    Thân em như đoá hoa rơi,

    Phải chăng chàng thật là người yêu hoa?!

    Đây là hình ảnh so sánh độc đáo và tinh tế, thể hiện mặc cảm về thân phận bất hạnh, về sự dở dang trong hôn nhân. Thân em không phải đoá hoa xinh tươi còn ở trên cành mà đoá hoa héo úa, tàn phàn đã rụng rơi dưới đất. Trong hoàn cảnh đáng buồn ấy, người phụ nữ chỉ biết bám víu vào một hi vọng mong manh: Phải chăng chàng thật là người yêu hoa?!

    Thân em như con hạc đầu đình,

    Muốn bay không cất nổi mình mà bay.

    Tác giả dân gian đã chọn lựa được một hình ảnh so sánh có khả năng gợi cảm và liên tưởng rất cao. Con hạc đầu đình là một vận dụng để thờ, thường được làm bằng gỗ hay bằng đồng, được đặt ở nơi đền, miếu, đình, chùa… Nhìn những con hạc ấy rồi ngẫm đến thân phận của mình, người phụ nữ thấy có những nét tương đồng. Con hạc kia dẫu có muốn bay thì cũng không thể cất nổi mình mà bay. Trong suốt cuộc đời, người phụ nữ phải cắn răng chịu đựng bao đau thương, tủi nhục. Nếu có thở than thì tiếng thở than của họ cũng không thể thấu tới trời xanh. Cái cái vòng luẩn quẩn, nghiệt ngã của số phận trói buộc họ, khó bề thoát khỏi. Dù họ có muốn vùng dậy để cắt đứt, phá bỏ những xiềng xích vô hình ấy thì cũng không dễ dàng gì. Câu ca dao chứa đựng niềm khát khao cháy bỏng và một nỗi bất bình sâu sắc.

    Những bài ca dao trên là tiếng nói than thân trách phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến hà khắc xưa kia. Nhân vật không phải là một cá nhân cụ thể mà là trăm ngàn phụ nữ cùng chung cảnh ngộ, cuộc đời giống như chuỗi bi kịch kéo dài. Với họ, hạnh phúc chỉ là một cái gì đó rất mơ hồ, khó hình dung và càng khó mà đạt được.

    Những câu ca dao bày tỏ tâm tình tha thiết, chân thành như trên có sức lay động lòng người rất lớn. Ai cũng có thể cảm nhận được từ đấy một chút cảnh ngộ, một chút tâm sự của mình.

    Vậy chúng ta nên cắt nghĩa như thế nào cho hợp lí về sự song song tồn tại của những câu ca dao vừa giống nhau, vừa khác nhau đó?

    Trước hết, ca dao được sáng tác bởi nhiều người khác nhau, ở những thời kì khác nhau, trên những vùng đất khác nhau. Gặp cảnh ngộ đắng cay, người nông dân xưa hay liên hệ số phận mình với một hình ảnh tương tự nào đó, thế là một câu ca dao ra đời. Câu ca dao ấy vừa chất chứa tâm tư, vừa mang dấu ấn thực tế cuộc sống của người sáng tác.

    Không hẹn mà nên, cái chung của số phận người phụ nữ đã làm cho những câu ca dao gặp nhau ở cùng một nội dung ý nghĩa.

    Mặt khác, ngay cả khi trong tâm trí có sẵn một câu ca dao cũ, nhưng trong cảnh ngộ cụ thể, người làm thơ dân gian vẫn muốn nói lên một điều gì đó cho riêng mình. Cho nên mới lần lượt xuất hiện những câu ca dao nội dùng gần giống nhau mà hình thức thì khác đi đôi chút. Đó không đơn giản chỉ là sự lặp lại mà là phát triển và bổ sung thêm cho cái đã có thêm đa dạng, phong phú.

    Tuy nghệ thuật có nhiều chỗ giống nhau như ở cách mở đầu, cách ví von, so sánh, ẩn dụ và giống nhau ở cảm xúc chung nhưng mỗi câu ca dao vẫn lấp lánh một vẻ đẹp riêng. Điều đáng nói là chỉ sau vài lần ngâm nga thưởng thức, người đọc sẽ không thể nào quên bởi cái hay, cái đẹp của nó đã thấm vào máu thịt tự lúc nào chẳng rõ.

    Chỉ xét riêng sáu câu ca dao có chung cách mở đầu bằng “Thân em”, chúng ta cũng thấy được ca dao đúng là sản phẩm của tài năng và tâm hồn phong phú của nhân dân lao động. Những câu ca dao ấy giúp ta hiểu được nỗi cay đắng ngậm ngùi mà người phụ nữ Việt Nam ngày xưa đã phải trải qua và thêm thông cảm, đồng tình với khát vọng cất mình mà bay của họ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6
  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Phân Tích 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài
  • Phân Tích Đoạn Thơ Đầu Bài Trong Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Cảm Nhận 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Công Nghệ Tấm Tường Acotec

    --- Bài mới hơn ---

  • Tấm Tường Acotec – Benihome
  • Hướng Dẫn Biện Pháp Thi Công Bể Nước Ngầm
  • Bơm Cát San Lấp Mặt Bằng Tại Tphcm 2022
  • #1 Bể Xử Lý Nước Thải Là Gì? Thi Công Bể Xử Lý Hiệu Quả, Chất Lượng
  • Biện Pháp Thi Công Lắp Đặt Bể Tự Hoại
  • Công nghệ tấm tường Acotec-Xuân Mai

    TẤM TƯỜNG ACOTEC – XUÂN MAI,

    BƯỚC ĐI MỚI CHO NGÀNH XÂY DỰNG VIỆT NAM

     

    1.        Đặt vấn đề

    Gạch xây là bộ phận cấu thành quan trọng nên công trình do có tính năng bao che, chống thấm, cách âm, cách nhiệt cho các công trình dân dụng. Hàng năm, với sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, cả nước tiêu thụ khoảng 20- 22 tỷ viên, trong đó gạch nung thủ công chiếm tới 90%. Với đà phát triển này, đến năm 2022, lượng gạch cần cho xây dựng là hơn 40 tỉ viên/1 năm. Lượng đất sét phải tiêu thụ vào khoảng 600 triệu m3, tương đương với 30.000 ha đất canh tác. Không những vậy, gạch nung còn tiêu tốn rất nhiều năng lượng: than, củi, đặc biệt là than đá. Quá trình này thải vào bầu khí quyển của chúng ta khí độc không chỉ ảnh hưởng tới môi trường, sức khỏe con người mà còn làm giảm năng suất của cây, trồng vật nuôi. Chính vì vậy, việc sử dụng gạch không nung thay thế gạch nung là xu hướng tất yếu trong công nghệ xây dựng hiện đại.

    Lò gạch đất sét nung gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thu hẹp diện tích đất nông nghiệp và xói mòn đất

    2. Căn cứ pháp lý

    Việc hạn chế sản xuất gạch nung và thay thế bằng gạch không nung đang là chủ trương lớn của Nhà nước và các Bộ, Ngành trung ương và địa phương thể hiện qua một số văn bản pháp luật đã được ban hành.

    a) Quyết định số 567/QĐ – TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung với các mục tiêu cơ bản:

    -        Gạch không nung thay thế gạch nung 20- 25% vào năm 2022, 30- 40% vào năm 2022.

    -        Hàng năm sử dụng khoảng 15- 20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao…) để sản xuất vật liệu xây dựng không nung, tiết kiệm đất nông nghiệp và hàng trăm ha đất chứa phế thải.

    -        Tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công.

    b) Chỉ thị số 10/CT- TTg ngày 16/4/2012 Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng vật liệu xây không nung và hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung đã nêu rõ một số nội dung yêu cầu các Bộ, Ngành địa phương thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm:

    -        Các công trình vốn ngân sách bắt buộc phải sử dụng gạch xây không nung. Các công trình nguồn vốn khác ưu tiên việc sử dụng gạch xây không nung.

    -        Chỉ đạo, hướng dẫn các dự án nhiệt điện đầu tư công nghệ phù hợp giảm thiểu phát thải ra môi trường góp phần giảm diện tích bãi thải, bảo vệ môi trường; đồng thời thu hồi thu hồi tro, xỉ và thạch cao đảm bảo chất lượng để làm nguyên liệu cho sản xuất dụng gạch xây không nung.

    c) Thông tư số 09/2012/TT- BXD ngày 28/11/2012 của Bộ Xây dựng về quy định sử dụng vật liệu xây không nung trong các công trình xây dựng yêu cầu:

    -        Các công trình xây dựng được đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước theo quy định hiện hành bắt buộc phải sử dụng vật liệu xây dựng không nung theo lộ trình:

    +   Tại các đô thị loại 3 trở lên phải sử dụng 100% loại vật liệu không nung kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

    +   Từ sau 2022 tại các khu vực còn lại phải sử dụng tối thiểu 100% vật liệu xây dựng không nung.

    -        Các công trình xây dựng từ 9 tầng trở lên không phân biệt nguồn vốn phải sử dụng tối thiểu 50% vật liệu xây không nung loại nhẹ trong tổng số vật liệu xây (tính theo thể tích khối xây).

    3. Tình hình thực trạng sử dụng gạch không nung hiện nay

    Trên thế giới, gạch không nung đã phát triển mạnh và là sản phẩm phổ biến trong xây dựng. Tại các nước phát triển, gạch không nung luôn chiếm tỉ lệ cao (trên 70%), gạch đất nung chiếm tỉ lệ thấp (chủ yếu là các loại gạch trang trí, có giá thành cao, không sử dụng cho xây tường). Ngay tại Trung Quốc, trước đây cũng chỉ có gạch nung truyền thống, nhưng từ năm 1990 đã bắt đầu đưa ra kế hoạch phát triển vật liệu mới từng bước thay thế vật liệu cũ và hiện nay gạch không nung đã chiếm tới 60% tỉ trọng. Các nước khác như Ấn Độ, Pháp, Mỹ, Đức, Bỉ, Nam Phi… cũng đã sử dụng khoảng 70% – 80% nhu cầu gạch xây dựng của họ bằng công nghệ polymer.

    Công trình xây dựng bằng gạch không nung tại Ấn Độ

    Ở Thái Lan, không cần ban hành chính sách khuyến khích vật liệu xây không nung nhưng Nhà nước quản lý chặt việc sử dụng đất đai. Do đó, vật liệu nung có giá cao hơn rất nhiều vật liệu xây không nung. Yếu tố thị trường điều tiết khiến công nghiệp vật liệu xây không nung ở Thái Lan rất phát triển như bê tông nhẹ đã có cách đây 10 năm.

    Tại Việt Nam, gạch không nung hiện nay đã hiện hữu trên rất nhiều công trình trọng điểm, điển hình như Keangnam Hà Nội, Landmard Tower (đường Phạm Hùng, Hà Nội), Habico Tower (đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội), Khách sạn Horison (đường Cát Linh, Hà Nội), Hà Nội Hotel Plaza (đường Trần Duy Hưng, Hà Nội), Sông Giá resort (Hải Phòng), Sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội), Làng Việt Kiều Châu Âu (Hà Đông, Hà Nội)…

    Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai từ năm 2010 đã sử dụng gạch không nung trong các công trình mà Công ty là chủ đầu tư. Cụ thể là đã sử dụng trên 85% gạch không nung cho các công trình chung cư CT1, CT2 Ngô Thì Nhậm; chung cư CT2 Tô Hiệu; tòa nhà 19T3, 19T5, 19T6 chung cư Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội… Đây có thể coi như kết quả đáng khích lệ trong lộ trình xóa bỏ gạch xây nung bằng phương pháp nung thủ công.

    Tòa tháp Xuân Mai Tower (CT2 Tô Hiệu) dùng gạch block làm tường trong và tường bao ngoài nhà

    Hiện nay, tại Việt Nam, gạch không nung có ba chủng loại chính gồm: gạch xi măng cốt liệu (gạch block); gạch bê tông khí chưng áp AAC và gạch bê tông bọt. Ngoài ra là một số loại vật liệu xây không nung khác nhưng số lượng rất nhỏ.

    Gạch xi măng cốt liệu (gạch block)

    Gạch bê tông khí chưng áp AAC

    Gạch bê tông bọt

    Về gạch xi măng cốt liệu: trên toàn quốc hiện có hơn 1.000 dây chuyền công suất dưới 7 triệu viên/năm/dây truyền và khoảng 50 dây chuyền có công suất từ 7 đến 40 triệu viên/năm/dây truyền với tổng giá trị đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng. Theo đó tổng công suất có thể đạt khoảng 3 tỷ viên/năm và thị trường tiêu thụ đạt 85- 90% lượng sản xuất (khoảng 2,7 tỷ viên), đáp ứng 12% nhu cầu gạch.

    Về gạch bê tông khí chưng áp AAC: hiện nay trên toàn quốc đã có khoảng 22 doanh nghiệp đầu tư với tổng công suất thiết kế 2,4 tỷ viên/năm. Trong đó có 9 dự án có tổng công suất là 945 triệu viên/năm, giá trị đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng đã đi vào sản xuất năm 2012. Ngoài ra còn 13 dự án đang làm thủ tục đầu tư với tổng công suất 1,4 tỷ viên/năm. Tuy nhiên, nhiều nhà máy mới chỉ sản xuất tối đa 50% công suất thiết kế và tiêu thụ chỉ đạt 15-20% công suất, một số doanh nghiệp không tiêu thụ được nên đã phải ngừng sản xuất.

    Về gạch bê tông bọt: hiện nay có 17 cơ sở sản xuất với tổng công suất hơn 190.000 m3, giá trị đầu tư khoảng 120 tỷ đồng. Tình hình sản xuất gạch nhẹ chỉ đạt 20- 30% công suất, công ty sản xuất tốt nhất chỉ đạt gần 50% công suất. Tình hình tiêu thụ gạch nhẹ cũng rất hạn chế, đa số tiêu thụ được 50 – 60% sản lượng, một số doanh nghiệp không tiêu thụ được nên đã phải ngừng sản xuất.

    So sánh về nguyên liệu sản xuất và đặc tính kỹ thuật của gạch đất sét nung và gạch không nung như sau: 

     

    STT

    Chỉ tiêu

    Gạch đất sét nung

    Gạch không nung

    Gạch block

    Gạch bê tông khí chưng áp AAC

    Gạch bê tông bọt

    1

    Nguyên liệu

    Đất sét

    Xi măng, mạt đá, tro xỉ…

    Cát, vôi, thạch cao, xi măng, bột nhôm

    Xi măng, chất tạo bọt

    2

    Thân thiện môi trường

    Sử dụng nhiều tài nguyên đất sét, than. Gây mất an ninh lương thực và ô nhiễm môi trường

    Không phát sinh khí thải, ít bụi, không sử dụng than, dầu. Tuy nhiên, do chúng sử dụng cát, đá làm nguyên liệu khiến cho nhu cầu khai thác cát, đá tăng cao, các nguyên liệu thứ phẩm của nó cũng gây ô nhiễm như xi măng, bột nhôm…

    3

    Kích cỡ sản phẩm

    Đa dạng theo yêu cầu

    4

    Độ bền theo thời gian

    Giảm dần theo thời gian

    Tăng cao theo thời gian

    5

    Quy trình sản xuất

    Sử dụng máy đùn để tạo phôi, cần hệ thống lò nung, sấy tốn nhiều nguyên liệu

    Tự động hóa cao

    6

    Trọng lượng riêng (kg/m3)

    1600-1980

    1200-2100

     500-850

    700-1000 

    7

    Cường độ chịu lực (kG/cm2)

    40-125

    50-200

    35-75

     10-150

    8

    Dẫn nhiệt (kcal/m.độ.h)

    0,814

    0,175-0,465

    0,11-0,22 

    0,11-0,22  

    9

    Chống cháy

    1-2h

    (với tường 110)

    (với tường 150)

    (với tường 150)

    (với tường 150)

    10

    Cách âm (dB)

    20-28

    (với tường 110)

    (với tường 150)

    40-47

    (với tường 150) 

    40-47 

    (với tường 150)

    11

    Độ hút nước (% theo khối lượng)

    <16%

    <10%

    30-40% 

     8-12%

    12

    Độ co ngót (mm/m)

    <0,8

     <0,2

     <0,2

    13

    Sử dụng vữa

    Thông thường

    Thông thường

    Chuyên dụng

    Chuyên dụng

     

    Từ bảng so sánh trên, có thể dễ dàng nhận thấy những ưu điểm của gạch không nung như: nhẹ, cách âm cách nhiệt tốt, nhiều chủng loại gạch để lựa chọn… Tuy nhiên, gạch không nung cũng có nhiều nhược điểm khiến người tiêu dùng phải e ngại như:

    + Gạch block đặc nặng hơn gạch nung truyền thống, muốn giảm trọng lượng thì phải tạo nhiều lỗ rỗng theo phương đứng, như vậy khả năng chịu lực ngang (tại các mạch vữa) sẽ giảm.

    + Gạch AAC khả năng chịu lực kém hơn, phải sử dụng vữa xây chuyên dụng. Độ hút nước của gạch lớn, bằng khoảng 30-40% theo khối lượng gạch dẫn đến tường xây bằng gạch AAC dễ bị thấm, chỉ thích hợp làm tường xây trong nhà, nơi khô ráo.

    + Gạch bê tông bọt khả năng chịu lực phụ thuộc vào tỉ lệ bọt khí trong bê tông, tương ứng với trọng lượng bê tông. Bê tông càng nặng thì càng đặc, khả năng chịu lực càng cao và ngược lại, phải sử dụng vữa xây chuyên dụng.

    Ngoài ra, cả 3 loại gạch không nung trên còn có một nhược điểm lớn, đó là độ co ngót khá cao. Độ co ngót lớn dẫn đến việc kết cấu tường xây bằng gạch không nung dễ bị nứt, gây hiện tượng thấm, dột và mất thẩm mỹ.

    Trên thế giới đã có nhiều phương pháp để hạn chế nứt tường như làm hệ thống giằng tường bằng bê tông cốt thép, bổ sung cốt thép trong lõi tường gạch xây hay cắt chỉ tường đi silicone… Hiện tại Viện khoa học công nghệ xây dựng IBST đang nghiên cứu làm hệ thống giằng tường để giảm thiểu xuất hiện nứt của tường gạch không nung, nhưng giảm được hiện tượng nứt thì giá thành xây dựng cũng bị đội lên do phải thi công các giằng tường nhỏ, phức tạp hay do tăng khối lượng vật tư bê tông, cốt thép khi xây.

    Công trình xây dựng bằng gạch không nung tại Thái Lan sử dụng hệ giằng tường

     

    Giằng ngang tường xây gạch không nung

    Lỗ đặt thanh thép làm giằng ngang và đứng

    Giằng đứng tường xây gạch không nung

       

    Cắt chỉ tường bơm silicone

    4.    Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai phát triển sản phẩm mới phục vụ công trình xây dựng. Tấm tường Acotec Xuân Mai

    Tất cả các loại gạch xây sử dụng phổ biến hiện nay, nung hoặc không nung, đều có nhược điểm như đòi hỏi nhân lực nhiều, mặt bằng thi công thường không gọn gàng sạch sẽ, kiểm soát chất lượng vữa xây khó.

    Trong quá trình thi công các công trình xây dựng trên cả nước kết hợp tìm hiểu nhiều công nghệ gạch không nung trên thế giới, Công ty CP Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai nhận thấy, công nghệ tấm tường bê tông rỗng Acotec theo công nghệ đùn ép, đã được sử dụng tại trên 30 quốc gia trên thế giới, sẽ khắc phục triệt để các hạn chế của tường gạch đất sét nung và gạch xây không nung trước đây.

    Công ty Xuân Mai là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam đầu tư dây chuyền sản xuất tấm tường Acotec với công nghệ hiện đại của hãng Elematic, được nhập khẩu đồng bộ từ Phần Lan. Trạm trộn được nhập khẩu từ Tây Ban Nha của hãng Frumecar, Tây Ban Nha.

    Ngày 28/11/2015, nhà máy tấm tường Acotec – Xuân Mai, tấm tường được sản xuất theo công nghệ hiện đại của hãng Elematic – Phần Lan được khánh thành, chính thức đưa sản phẩm ra thị trường xây dựng.

    Hiện tại dây chuyền 1 và 2 của Nhà máy đang hoạt động với công suất 600.000 m2 tấm tường/năm và Công ty cũng đang đầu tư thêm 2 dây chuyền nữa. Như vậy đến năm 2022 sẽ có tổng cộng 4 dây chuyền với tổng công suất 1.200.000 m2 tấm tường/năm.

     

    Dây chuyền sản xuất tấm tường Acotec – Xuân Mai

    Ưu điểm của tấm tường Acotec – Xuân Mai là được sản xuất từ các nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại Việt Nam như: đá, cát nghiền, xi măng… Bên cạnh đó, quá trình sản xuất không sinh ra chất gây ô nhiễm, không tạo ra chất thải độc hại. Tấm tường được sản xuất ra có bề mặt phẳng không cần trát, chỉ cần bả trực tiếp, từ đó giúp tiếp kiệm được vật liệu và nhân công xây dựng cũng như khi thi công lắp dựng có thể cơ giới hóa được nhiều công đoạn.

    Với kích thước tấm tường đa dạng, đáp ứng nhu cầu sử dụng cho nhiều vị trí, hạng mục khác nhau trong công trình như làm tường ngăn giữa các căn hộ, giữa căn hộ với hành lang, tường ngăn phòng, tường nhà vệ sinh hay lanh tô.

    -        Chiều dày tấm tường theo dây chuyền của Xuân Mai: 75 mm, 100 mm và 140 mm.

    -        Chiều rộng tấm tường khi sản xuất: 0,6 m. Các kính thước khác có thể dùng máy cắt cắt sau khi sản xuất.

    -        Chiều cao một tấm tường đơn: tối đa 3,4 m. Tường có chiều cao lớn hơn có thể ghép các tấm lại với nhau.

     

    Kích thước tấm tường Acotec – Xuân Mai

    Tấm tường sau khi lắp dựng

    Tấm tường được bả trực tiếp, không trát

    Với quy trình sản xuất nghiêm ngặt, hệ thống trang thiết bị hiện đại cũng như nguồn nguyên vật liệu sản xuất được tuyển chọn kiểm tra kỹ lưỡng trước khi đưa vào sản xuất đã tạo ra sản phẩm tấm tường Acotec – Xuân Mai với chất lượng cao.

    Việc dùng tường Acotec – Xuân Mai thay thế tường gạch có kích thước dầy hơn giúp tăng diện tích căn hộ khoảng 1,0% (so với tường gạch 105 mm) và khoảng 2,4% (so với tường gạch 150mm). Diện tích trên là diện tích thông thủy tính cho công tác bàn hàng, chưa tính đến diện tích thăng thêm do thay thế tường ngăn phòng. Do vậy sử dụng tấm tường Acotec – Xuân Mai sẽ đem lại thêm không gian cho người sử dụng và lợi nhuận cho Chủ đầu tư.

    Bảng so sánh sử dụng tấm tường Acotec – Xuân Mai thay thế tường gạch xây

    TT

    Tính chất

    Tấm tường

    Acotec 100

    Gạch

    lỗ 105

    Gạch

    block 150

    1

    Chiều dày tường hoàn thiện (mm)

    100

    145

    180

    2

    Khối lượng 1m2 tường (kg/m2)

    140

    195

    245

    3

    Cường độ chịu nén (kg/cm2)

    250

    50/75

    75/100

    4

    Khả năng chịu lửa (h)

    1.5

    5

    Độ hút ẩm (%)

    6

    <16

    <10

    6

    Tốc độ thi công xây lắp (m2/h)

    1.00

    0.73

    0.74

    7

    Trát hoàn thiện

    không

    có

    có

     

    Với đặc điểm có độ rỗng lớn lên đến 30%, tấm tường Acotec – Xuân Mai có khả năng cách nhiệt tốt; cường độ vật liệu cao, chắc giúp đảm bảo yêu cầu cách âm. Bên cạnh đó, đây còn là vật liệu có đơn trọng trên 1 m2 tường là tương đối nhỏ chỉ bằng 57% – 75%  nên sẽ giảm được tải trọng tính toán và kết cấu công trình.

    Ngoài ra, các lỗ rỗng trong tấm tường còn được sử dụng linh hoạt để bố trí thi công hệ thống điện nước, hạn chế việc đục đường ống kỹ thuật, giảm nhân công cũng như chi phí hoàn thiện sau khi lắp đặt,…

     

    Thi công M&E dễ dàng

    Lắp dựng bằng cơ giới, giảm nhân lực thi công

    Bên cạnh đó tấm tường Acotec – Xuân Mai còn có thể sử dụng làm tường nhà công nghiệp, tường rào, tường cách âm với khả năng thi công lắp dựng nhanh, cường độ và chất lượng tốt.

     

    Tường rào lắp dựng bằng tấm Acotec – Xuân Mai

    Hiện nay tấm tường Acotec – Xuân Mai đã và đang được Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai sử dụng cho các công trình xây dựng lớn trên địa bàn Hà Nội như: Tòa nhà hỗn hợp đa năng Vinafor; 04 tòa thuộc Tổ hợp thương mại & nhà ở cao tầng Eco – Green City; 08 tòa thuộc dự án Spark Tower – Dương Nội; Xuân Mai Riverside – Thanh Bình – Hà Đông; CT2E VOV – Mễ Trì, dự án Ecohome, Dự án Royal Park Bắc Ninh, DỰ án Golden Silk, Dự án Vinastone Bắc Ninh, Khu nhà ở để bán cho CBCNV liên cơ quan Thanh Trì….

     

    Hà Nội Landmark 51 – Vạn Phúc – Hà Đông

    Quy mô: 01 tòa 51 tầng

    Diện tích lắp dựng tấm tường Acotec – Xuân Mai: 83.000 m2

    Eco Green City, Nguyễn Xiển – TX – HN

    Quy mô: 04 tòa 35 tầng

    Diện tích lắp dựng tấm tường

    Acotec – Xuân Mai: 189.000 m2

    Xuân Mai Spark Tower – Dương Nội

    Quy mô: 08 tòa 25 tầng

    Diện tích lắp dựng tấm tường

    Acotec – Xuân Mai: 251.000 m2

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Của Việc Sản Xuất Và Sử Dụng Tấm Tường Acotec – Vật Liệu Xanh. Phần 2: Phân Tích Ưu
  • Thi Công Tấm Tường Acotec
  • Phương Pháp Thi Công Trần Nhôm,trần Nhôm Xương Cài,trần Nhôm Astrongest,austrong
  • Hướng Dẫn Thi Công Trần Nhôm Austrong Chuẩn Kỹ Thuật
  • Hiểu Rõ Hơn Về Các Phương Pháp Thi Công Tấm Ốp Tấm Alu
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100