Top #10 Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Bánh Trôi Nước Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 8/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

--- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ rất hay trong chương trình lớp 7, trong bài này sử dụng những biện pháp nghệ thuật, tu từ, xem bên dưới để biết tác giả đã sử dụng chúng hiệu quả như thế nào.

    Tác giả – Tác phẩm

    Hồ Xuân Hương, sống ở khoảng cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Bà được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” với những bài thơ Nôm viết về người phụ nữ nổi tiếng. Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam với những giá trị cho đến tận ngày nay. Cuộc đời Hồ Xuân Hương trải qua nhiều thăng trầm, sống ở thời kì Lê mạt – Nguyễn Sơ, đây được coi là giai đoạn với nhiều biến động trong xã hội. Tuy nhiên, dù ở thời kì cuối phong kiến bà vẫn có cuộc sống êm đềm ở chốn phồn hoa – cổ Nguyệt đường ven Tây hồ. Bà là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi, có thiên phú về thơ ca đồng thời cũng hiểu biết rộng và giao du với nhiều nhà thơ, nhà văn lúc bấy giờ. Tuy nhiên trong con đường tình duyên, bà lại không mấy suôn sẻ, đều làm lẽ qua hai đời chồng và hạnh phúc cũng ngắn ngủi.

    Các sáng tác của Hồ Xuân Hương luôn để lại những giá trị ý nghĩa sâu sắc. Các đề tài luôn xoay quanh tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Tuy nhiên khi nhắc đến thơ Nôm không thể không nhắc tới những bài thơ viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói thơ Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ cũng chính là tiếng lòng của bà, tiếc thay cho thân phận chính mình. Trong đó vừa có sự hóm hỉnh, sâu cay vừa có gì đó xót xa, từng trải nhưng không kém phần ngạo nghễ. Các tập thơ nổi tiếng như “Xuân Hương thi tập”, “Lưu hương ký”…

    -Hoàn cảnh sáng tác bài “Bánh trôi nước”: là một người phụ nữ sống trong thời kì phong kiến, bà tiếp xúc với nhiều người dân lao động nghèo, đặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức bất công. Trong xã hội đó luôn đề cao tinh thần trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê đa thiếp khiến cho người phụ nữ bị rè rúng, sống cuộc đời bị hắt hủi, đau thương. Chính vì thương thay cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ đó bà đã chiêm nghiệm và viết nên bài “Bánh trôi nước”.

    Giá trị nội dung

    Bài thơ “Bánh trôi nước” có giá trị nội dung, ý nghĩa sâu sắc. Thông qua hình ảnh chiếc bánh trôi với nhiều tầng nghĩa, được miêu tả thực, Hồ Xuân Hương đã làm hiện rõ hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    Bài thơ là tiếng lòng cảm thông, xót xa không chỉ cho thân phận người phụ nữ mà còn là cho chính bản thân mình. Sống ở thời kì mà xã hội không có chỗ cho người phụ nữ lên tiếng nên bà chỉ còn cách gửi gắm nỗi lòng vào những vần thơ. Thân phận người phụ nữ hiện lên với những bất hạnh, khổ đau, lênh đênh, lận đận không thể làm chủ cho chính mình. Song người con gái ấy vẫn một lòng son sắt, thủy chung. Vẻ đẹp đó thật đáng ngợi ca.

    Biện pháp nghệ thuật sử dụng trong bài Bánh trôi nước

    Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước gồm có:

    -Ẩn dụ: tác giả mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói về thân phận của những người con gái xưa dù tài hoa, xinh đẹp trong xã hội xưa mà số phận lênh đênh trôi nổi, số phận của họ lại bị phụ thuộc vào những kẻ khác.

    -Thành ngữ: “bảy nổi ba chìm” mục đích để nói về cuộc đời đầy lận đận, bấp bênh của những người phụ nữ của những kiếp hồng nhan bạc phận của phụ nữ xưa.

    – Điệp từ sử dụng từ “vừa” trong câu “thân em vừa trắng lại vừa tròn” nói lên những người phụ nữ xưa đều rất tài giỏi và xinh đẹp.

    Dàn ý phân tích tác phẩm

    -Hình ảnh bánh trôi nước:

    + Bánh trôi nước là loại bánh nổi tiếng của miền bắc. Hình dáng bên ngoài: trắng, tròn.

    +Cách làm bánh: Lớp bên ngoài là lớp vỏ bánh được nặn tròn, nhân bên trong màu đỏ. Luộc bánh để qua mấy lần chìm nổi thì mới chín và ngon. Khi nặn bánh độ tròn méo như nào phụ thuộc vào tay người nặn. Khi chín vỏ bánh mềm và nhân bên trong vẫn không hề bị méo.

    -Hình ảnh người phụ nữ:

    + Cách dùng: thông qua hình ảnh bánh trôi nước để liên hệ đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

    + Hình ảnh bên ngoài của bánh trắng tròn đại diện cho vẻ đẹp hình thức của người con gái. Hình ảnh “bảy nổi ba chìm” chỉ số phận của họ lênh đênh lận đận. “Rắn nát” hay hạnh phúc đều phụ thuộc vào tay người đàn ông trong xã hội.

    Các em theo dõi bên dưới để tìm kiếm thêm nhiều bài soạn văn cũng như một số bài văn mẫu hay trong chương trình Ngữ Văn Lớp 7. Chúc các em học tốt Ngữ Văn 7.

    ” Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ “bánh Trôi Nước”. Tìm Các Thành Ngữ Và Nêu Tác Dụng Của Thành Ngữ Đó

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Phân Tích, Giải Thích Nội Dung Và Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “đồng Chí”
  • Khoá Luận Tốt Nghiệp Biện Pháp Ẩn Dụ Trong Thơ Phan Thị Thanh Nhàn
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”
  • 6 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Trao Duyên, Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Phân Tích Đoạn Trao Duyên Trong Truyện Kiều
  • Đến với thơ của Bà Huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại học thơ của Bà Hồ Xuân Hương ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý, chua cay, chất chứa nỗi niềm phẫn uất, đả kích xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ quen thuộc thể hiện rõ phong cách thơ của bà.

    Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc tránh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình.

    Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổỉ, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn.

    Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn:

    Bảy nổi ba chìm ưới nước non.

    Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, sô phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập:

    Rắn nát mặc dầu tay kể nặn

    Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình.

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    ơ đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm cua chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa… lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó.

    Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy?

    Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn người phụ nữ không làm chủ được cuộc dời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại Mà em vẫn giữ tấm lòng son. ơ đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một “nhãn từ” (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ.

    Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

    Tóm lại, có thể nói Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là tiếng nói của người phụ nữ tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiêng nói ấy cũng là lời bà tự khẳng định mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Tây Tiến
  • Soạn Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Hoàn Cảnh Ra Đời, Nội Dung Và Nghệ Thuật Chính Của Bài Thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
  • 3 Bài Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng: Tây
  • 5 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • A. Nhớ Và Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Bài Thơ “ánh Trăng” Của Nhà Thơ Nguyễn Duy. B. Xác Định Từ Láy Và Biện Pháp Tu Từ Có Trong Khổ Thơ Vừa Chép? Qua Bài Thơ
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Tràng Giang
  • Dàn Ý Chi Tiết Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Cảm Nhận Của Em Về Hai Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Khi phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, các em cần chú ý phân tích làm nổi bật hình ảnh người phụ nữ qua hai khía cạnh: Vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn, tính cách và thân phận chìm nổi, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    Đề bài: Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương

    5 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương

    1. Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, mẫu số 1:

    Đến với thơ của Bà Huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại học thơ của Bà Hồ Xuân Hương ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý, chua cay, chất chứa nỗi niềm phẫn uất, đả kích xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ quen thuộc thể hiện rõ phong cách thơ của bà.

    Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc tránh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình.

    Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổỉ, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn.

    Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn:

    Bảy nổi ba chìm ưới nước non.

    Những bài Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương hay nhất

    Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, số phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập:

    Rắn nát mặc dầu tay kể nặn

    Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình.

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Ở đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm cua chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em, lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa… lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó.

    Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy?

    Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”. Người phụ nữ không làm chủ được cuộc dời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Ở đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một “nhãn từ” (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. Ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ.

    Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

    Tóm lại, có thể nói Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là tiếng nói của người phụ nữ tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiếng nói ấy cũng là lời bà tự khẳng định mình.

    2. Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, mẫu số 2:

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầ tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Chỉ có những chiếc bánh trôi nước mộc mạc giản đơn thế thôi mà tác giả Hồ Xuân Hương đã làm nên một bài thơ nói lên sự chịu đựng, gánh lấy quan niệm sai trái trọng nam khinh nữ của người phụ nữ lúc bấy giờ. Bài thơ chỉ có những vốn từ đơn giản

    thân thuộc mà chất chứa biết bao nhiêu tình cảm.

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    Tác giả đã sử dụng mô típ ca dao quen thuộc “Thân em” để ngưởi phụ nữ có thể hóa thân vào những chiếc bánh trôi nước dân dã đáng yêu. Hàm chứa bên trong vẫn là ca ngợi vè đẹp của người phụ nữ biến họ thành những đóa hoa xinh đẹp, lộng lẫy và thắm tươi nhất của cuộc đời. Làm cho cuộc sống này thêm tươi đẹp thêm màu sắc.

    “Bảy nổi ba chìm với nước non”

    Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” được vận dụng tài tình nhằm gợi tả số phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa. Để bày tỏ nỗi xúc động thương cảm của bà Hồ Xuân Hương đứng trước số phận lênh đênh chìm nổi chẳng biết đi về đâu của người phụ nữ. Chỉ mặc cho số phận định đoạt. Tôi tự hỏi: “Một người phụ nữ đẹp đến thế mà vì lẽ gì phải chịu đựng cuộc đời như vậy, chẳng lúc nào được sống trong cuộc sống vui vẻ hạnh phúc?” Tại sao những người đàn ông to lớn khỏe mạnh như thế mà không chịu những số phận khổ cực mà bắt những phụ nữ nhỏ bé kia phải gánh lấy chứ?

    “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

    Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, văn mẫu tuyển chọn

    Tác giả sử dụng một biện pháp nghệ thuật: đảo ngữ. Nói lên người phụ nữ phải sống lê thuộc. “Tại gia tòng phụ, xuất giá tỏng phu, phu tử tòng tử”. Lúc ở nhà thì phụ thuộc vào cha, cha bảo gì làm nấy chằng giám làm trái. Khi lập gia thất thì phải cung phụng cho chồng, cũng chẳng giám làm sai. Lúc chồng mất sống phận của mình phải nương nhờ vào con của mình. Trên cuộc đời này làm gỉ có quan niệm vô lí đến thế! Vậy biết bao giờ họ mới có được cuộc sống riêng tự lâp cho chính bản thân mình. Họ phải đau khổ biết bao để chịu đựng những thứ đao lí như thế

    “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Giọng thơ tự hào quả quyết biểu thị thái độ kiên trì, bền vững. “Tấm lòng son” tượng trưng cho phẩm chất sắc son thủy chung, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam đối với chồng con. Với mọi người tuy bị cuộc sống phụ thuộc, đối xử không công bằng trong cuộc đời. Câu thơ thể hiện niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách của Hồ Xuân Hương: cảm thương cho người phụ nữ, căm phẫn đối với người chồng.

    Bài thơ nói về người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hình ảnh bánh trôi nước – một món ăn dân tộc bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, dân gian. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã được Việt hóa hoàn toàn. Thơ hàm súc đa nghĩa giàu bàn sắc Xuân Hương. Bài thơ biểu lộ niềm thông cảm và tự hào đối với số phận, thân phận và của người phụ nữ Việt Nam nó có gái trị nhân bản đặc sắc. Nữ sĩ viết với tất cả lòng yêu mến, tự hào bản sắc nền văn hóa Việt.

    3. Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, mẫu số 3:

    Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh độc đáo: vịnh một món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà thì có lẽ cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học.

    Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình:

    Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Đây là lời tự giới thiệu của bánh: từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão. Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân. Thiếu nhân, bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một li.

    Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

    Hướng dẫn Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương

    Thân trắng vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. Tròn vừa có nghĩa là em được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em.

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Bảy nổi ba chìm là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. Nước non là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người.

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Đây là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Trong xã hội cũ trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm nhận:

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    Thân em như thể cánh bèo

    Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi

    Những câu ca dao thể hiện một ý thức an phận, cam chịu. Cái duy nhất họ làm chủ được là tấm lòng mình:

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Người phụ nữ vẫn giữ niềm thuỷ chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thuỷ chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài thơ vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được mình.

    4. Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, mẫu số 4:

    Trong xã hội phong kiến xưa, người phụ nữ luôn phải chịu những bất công, những định kiến đầy nghiệt ngã của xã hội. Sinh ra là người phụ nữ đã định sẵn những bất công, khác với các bậc nam nhi, họ bị coi thường, khinh rẻ, đối xử tàn nhẫn. Đó chính là nàng Kiều, nàng Tiểu Thanh trong thơ Nguyễn Du, là Vũ Thị Thiết trong tác phẩm của Nguyễn Dữ…Trong xã hội phong kiến ấy, người phụ nữ không có tiếng nói, cũng như bất kì địa vị vị gì. Hồ Xuân Hương đã được xem như một hiện tượng của nền văn học Việt Nam. Vì lần đầu tiên trong lịch sử văn chương, có người phụ nữ đề cao người phụ nữ, cất những vần thơ đấu tranh cho số phận của người phụ nữ, châm biếm, đả kích, thậm chí là hạn bệ các “thần tượng” trong xã hội lúc bấy giờ là vua chúa, quan lại, giai cấp thống trị. Một trong những bài thơ tiêu biểu của Hồ Xuân Hương là bài thơ “Bánh trôi nước”.

    Thơ Hồ Xuân Hương có cái sắc sảo trong câu từ, châm biếm chua cay khi phê phán giai cấp thống trị, những con người có chức có quyền nhưng sống tàn nhẫn, giả dối, đáng khinh. Lần đầu tiên có người dám lên tiếng và đả kích mạnh mẽ như vậy. Tuy nhiên, khi viết về những người phụ nữ, Hồ Xuân Hương lại luôn dành cho họ sự đồng cảm sâu sắc cùng với thái độ thiết tha nhất, bài thơ “Bánh trôi nước” viết về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, đó là một thân phận nổi trôi, phù du và vận mệnh, cuộc sống của mình họ không được tự định đoạt mà hoàn toàn là do những người đàn ông, những người chồng của họ.

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non”

    Bài tham khảo Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương

    Mở đầu bài thơ, nhà thơ Hồ Xuân Hương đã gợi mở những hình ảnh của những chiếc bánh trôi nước. Bánh trôi nước là loại bánh làm bằng bột gạo nếp, qua bàn tay của những người nghệ nhân thì khi nặn xong chúng có hình dạng tròn trịa cùng một màu trắng đặc trưng của gạo. Ở trong bài thơ này, nhà thơ Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh của những chiếc bánh trôi nước để nói về cuộc sống và số phận của những người phụ nữ trong xã hội xưa. Hiểu như thế ta có thể thấy qua hình ảnh tròn, trắng của những chiếc bánh trôi gợi ra vẻ đẹp bên ngoài, vẻ đẹp hình thể của những người phụ nữ.

    Đó chính là một vẻ đẹp tươi mới, tròn trịa, đầy sức sống “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. Nhưng đối nghịch với vẻ đẹp đầy sức sống đó lại là một số phận, tương lai đầy mịt mờ, tăm tối”Bảy nổi ba chìm với nước non”. Về ý nghĩa tả thực, ta có thể hiểu đây là là quá trình luộc chín bánh, hoàn thành bước cuối cùng . Nhưng đây cũng chỉ là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. Bởi nó gợi ra số phận, cuộc đời đầy thăng trầm, biến đổi của những người phụ nữ. Như đã nói, trong xã hội xưa, sinh ra trong thân phận của người phụ nữ vốn đã là một thiệt thòi, bất công.

    Bởi từ khi sinh ra đến lúc dựng vợ gả chồng thì họ hoàn toàn không được quyết định bất cứ vấn đề gì, kể cả tình yêu, đối tượng kết hôn, hạnh phúc của cả cuộc đời mình, vì trong xã hội xưa có quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, hay “xuất giá tòng phu”, nghĩa là một khi đã lấy chồng thì mọi việc đều phải theo chồng. Vì vậy mà số phận thăng hay trầm đều hoàn toàn dựa vào người chồng của mình:

    “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Đến câu thơ này thì ý niệm của hai câu thơ đầu được thể hiện, triển khai một cách rõ nét, cụ thể hơn. Nếu như những chiếc bánh trôi tròn, méo, rắn, nát đều phụ thuộc vào tay người nặn, nếu như được họ cẩn trọng, nâng niu thì khi hoàn thành chiếc bánh sẽ có hình tròn mà màu trắng trong. Ngược lại, nếu người nghệ nhân vô tâm, hời hợt thì chiếc bánh sẽ bị méo mó, và khi luộc trong nước sẽ bị vỡ. Đối với người con gái trong xã hội xưa cũng vậy, nếu may mắn gặp được người cũng biết yêu thương, trân trọng thì cuộc sống của học sẽ hạnh phúc, vui vẻ; còn khi lấy phải người chồng độc đoán, vũ phu thì họ sẽ có cuộc sống đau khổ, bất hạnh. Nhưng dẫu cuộc sống có bất biến, phù du thì những người con gái ấy vẫn giữ được vẻ đẹp trong trắng thủy chung trong tâm hồn. Đến đây thì hình ảnh của những người phụ nữ trong xã hội xưa được hoàn thiện, không chỉ có vẻ đẹp ngoại hình mà vẻ đẹp tâm hồn của họ rất đáng được trân trọng.

    Mượn hình ảnh của những chiếc bánh trôi, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã xây dựng thành công hình ảnh của người phụ nữ xưa, đó là những người phụ nữ có vẻ đẹp toàn diện, không chỉ là vẻ đẹp hình thức mà còn là vẻ đẹp của tâm hồn. Dẫu có những bất hạnh, đau khổ thì vẻ đẹp tâm hồn ấy không những không mất đi mà còn sáng rực lên những tia sáng của phẩm chất, đạo đức. Thông qua bài thơ, nhà thơ cũng thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    5. Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương, mẫu số 5:

    Chúng ta đang sống trong trong một xã hội bình đẳng, dân chủ – nơi mà con người được hưởng tất cả những quyền tự do, hạnh phúc. Nơi không có chiến tranh, không có áp bức, không có bất công hay phân biệt đối xử. Đó chính là một cuộc sống mà con người ta hằng mong ước. Nhưng đó lại là điều xa xỉ ở trong xã hội cũ. Con người khao khát bình đẳng, khao khát quyền làm chủ, nhưng đó lại chỉ là một ước mơ xa vời, không bao giờ thực hiện được. Điều đó lại càng thể hiện rõ hơn trong bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Thay vì diễn tả bằng lối viết văn dài dòng, chỉ bằng 4 câu thơ mà tất cả những hàm ý mà tác giả muốn bày tỏ đã được thể hiện hết ở trong 4 câu thơ đó. Không quá dài để sử dụng nhiều từ ngữ cũng không quá ngắn để người đọc không thể hiểu hết được nội dung. Chỉ vỏn vẹn bốn câu, mà người đọc vừa đọc và ngẫm nghĩ sâu xa.

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    Tác giả đã sử dụng mô típ ca dao thân thuộc “thân em” để có thể ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ, “vừa trắng lại vừa tròn”. Tác giả sử dụng lối nói ẩn dụ để có thể nói lên hình tượng người phụ nữ “Thân em như …”. Hình ảnh người phụ nữ mộc mạc, giản dị nhưng lại toát lên nét kiêu xa, lộng lẫy và đầy màu sắc đến vậy. Chỉ bằng hình ảnh chiếc bánh trôi nước, đơn thuần, bình dị, màu trắng gợi lên cho người đọc sự thuần khiết, tinh khôi của người phụ nữ – những người đáng ra phải nhận được sự quan tâm, chở che và bảo vệ. Nhưng câu thơ thứ hai, tác giả lại cho ta những điều dự cảm không lành:

    “Bảy nổi ba chìm với nước non”

    Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của những người

    Trong câu thơ trên, tác giả đã sử dụng câu thành ngữ “bảy nổi ba chìm” một cách khéo léo, đầy tinh tế để gợi tả về số phận “bất hạnh” của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Thành ngữ bảy nổi ba chìm cũng được những người dân ta thường hay nhắc đến trong khi nấu bánh trôi, khi nào bánh 7 phần nổi lên và 3 phần chìm thì có thể vớt bánh ra. Nhưng trong câu thơ này, nó lại gợi nhớ cho người đọc về thân phận của người phụ nữ bị chà đạp, bị những định kiến của xã hội làm cho cuộc đời bấp bênh, trôi nổi, không biết đến ngày mai. Cái thân phận yếu ớt, mảnh mai ấy làm sao có thể chịu được những sóng gió, vùi dập, cứ lênh đênh không có một bến bờ để neo đậu. Không cần dùng những câu nói hay những động từ có tác động mạnh đến người đọc, nhưng những hình ảnh ẩn dụ của Hồ Xuân Hương lại có ấn tượng mạnh mẽ đến vậy. Người phụ nữ trong xã hội ấy, họ không được định đoạt số phận, không được “quyền” quyết định hạnh phúc của mình mà cứ thế phó mặc cho cuộc đời đưa đẩy. Đọc đến câu thơ này, nhiều người đọc sẽ phải thốt lên: “Làm sao có thể để cho người phụ nữ chân yếu tay mềm, yếu ớt nhưng vậy phải gánh chịu những bão bùng của cuộc đời, vậy phải chăng trên thế gian này không còn ai giống “Từ Hải” để có thể cứu giúp những thân phận người phụ nữ đầy bất hạnh như Thúy Kiều nữa?”. Thật đau đớn thay.

    “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

    Cái thân phận yếu mềm, tủi nhục và không biết đến ngày mai ấy cứ phó mặc cho cuộc đời, phó mặc cho “kẻ nặn” cái quyền được “điều khiển” cuộc đời mình. Dù họ có vùng vẫy như thế nào đi chăng nữa thì cuộc đời họ cũng không thể thoát khỏi được. Vậy vì sao lại vậy? Vì sao họ lại tiếp tục căm chịu như vậy? Phải chăng do họ sợ? Không, bởi vì họ nhận thức sâu sắc rằng, dù họ có làm gì đi chăng nữa thì cũng không thể nào có thể chống lại những định kiến của xã hội, đã được bồi đắp hàng nghìn năm. Cái chế độ khiến con người ta đi vào bế tắc và không muốn phản kháng lại nữa. Vậy biết đến bao giờ họ mới có thể có một cuộc sống tự lập riêng cho chính mình, để họ có thể được sống theo ý mình, để họ có thể được làm chính họ?

    “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

    Giọng thơ dù thể hiện nỗi đau, sự tủi nhục, cam chịu của người phụ nữ nhưng vẫn giữ thái độ kiên trì, bền vững “tấm lòng son” – một biểu hiện tượng trưng cho phẩm chất thủy chung, son sắt, một lòng một dạ với chồng với con. Dù cho họ bị vùi dập đến đâu, dù có đau khổ đến nhường nào họ vẫn sẽ là một người vợ, người mẹ, người con hiếu thảo, chịu thương chịu khó, hết mực với chồng với con. Đó chính là phẩm chất ngàn đời của người phụ nữ Việt không thể thay thế được. Câu thơ thể hiện niềm tự hào và biểu lộ cảm xúc mạnh mẽ của tác giả: sự đồng cảm sâu sắc đối với những người phụ nữ đang là “tù nhân” của xã hội phong kiến và sự phẫn nộ đối với những “kẻ nặn” – những kẻ trực tiếp gây ra những nỗi đau cho chính những người phụ nữ đáng ra họ phải được hưởng nhiều hơn là cam chịu như vậy.

    Bài thơ dù rất ngắn nhưng lại lột tả được hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam thông qua hình ảnh bánh trôi nước – món ăn dân dã nhưng lại quen thuộc và bình dị đến thế. Được thể hiện bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, bài thơ đã thể hiện những sự cảm thông, thương xót của Hồ Xuân Hương đối với hình tượng người phụ nữ Việt Nam. Tác giả mong muốn thông qua bài thơ, góp một tiếng lòng, sự đồng cảm sâu sắc đối với những người phụ nữ và thức tỉnh những “kẻ nặn”: hãy biết trân trọng và thương yêu những người phụ nữ ở bên cạnh mình.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-bai-tho-banh-troi-nuoc-cua-ho-xuan-huong-39229n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ
  • Đề Khảo Sát Đầu Năm Học 2022
  • Phân Tích Bài Thơ Vọng Nguyệt (Ngắm Trăng) Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Người Ngắm Trăng Soi Ngoài Cửa Sổ…
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Cảnh Ngày Hè
  • Bài Văn Phân Tích Yếu Tố Dân Gian Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Bánh Trôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 8 Câu Thơ Cuối Đoạn Trí
  • 3 Bài Văn Phân Tích Tám Câu Thơ Cuối Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng
  • Cảm Nhận Của Em Về Nhân Vật Thúy Kiều Trong Đoạn Trích “kiều Ở Lầu Ngưng Bích”
  • Bộ Đề Đọc Hiểu Văn Bản Học Kì 1 Lớp 9 Môn Ngữ Văn Năm Học 2022
  • Cảm Thụ Văn Học 4
  • Đề bài: Phân tích yếu tố dân gian được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước

    Phân tích yếu tố dân gian được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước

    Bài văn mẫu Phân tích yếu tố dân gian được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước

    Hồ Xuân Hương – “Bà chúa Thơ Nôm” của làng văn học Việt Nam thời kì Trung đại. Cuộc đời trải qua nhiều thăng trầm, biến cố trong hôn nhân đã hình thành ở bà một lối viết văn độc đáo, chủ yếu viết về thân phận người phụ nữ và những khát khao thầm kín tận đáy lòng người con gái hừng hức sắc xuân. “Bánh trôi nước”, một trong những thi phẩm làm nên tên tuổi của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, bài thơ mang giá trị hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc lại được lồng ghép khéo léo những yếu tố dân gian vừa gần gũi, vừa mới lạ đã khắc họa thành công nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam xưa trên cả phương diện hình thể và tâm hồn.

    Chất liệu dân gian là những giá trị, những sản phẩm cả vật chất lẫn tinh thần góp phần tạo dựng, hun đúc nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trên cơ sở định nghĩa đó, đặt vào trong bài thơ “Bánh Trôi nước”, ta có thể thấy chất liệu văn hóa dân gian nằm ở hình ảnh bánh trôi nước, ẩn dụ cho người con gái Việt Nam xưa và những cách biến tấu ca dao, thành ngữ điêu luyện phù hợp với vần điệu của tác phẩm. Với hồn thơ phong phú và bút lực tài hoa, Hồ Xuân Hương đã đưa văn hóa cổ truyền dân gian vào trong hồn thơ của mình.

    Chất liệu dân gian được thể hiện qua hình ảnh bánh trôi nước, biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp và vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ, đồng thời cũng là số phận lênh đênh, tủi cực “phận đàn bà” trong xã hội xưa.

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Sự tương đồng giữa hình ảnh chiếc bánh trôi nước và người phụ nữ đem lại những câu thơ thú vị. “Vừa trắng lại vừa tròn”, vẻ ngoài trắng ngần, đầy đặn, tâm hồn trong sáng, chân thật. Đẹp là thế, thanh thuần là thế nhưng số phận lại “bảy nổi ba chìm”, bấp bênh, trôi dạt, long đong lận đận. Trong xã hội phong kiến xưa, người phụ nữ không có quyền quyết định số phận của mình. Nếu may mắn được gả vào gia đình tốt thì cuộc sống sẽ được yên ổn, bằng không thì chỉ có tương lai mịt mờ, thân phận bị rẻ rúng, chà đạp. “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”, lời thơ cất lên đầy chua chát, đắng cay. Thân là “phái yếu”, xinh đẹp, mĩ miều là vậy nhưng lại không được nâng niu, trân trọng, số phận như một ván bài may rủi. Những lề thói, quan niệm phong kiến cổ hủ, lạc hậu ấy có dã man, tàn bạo, nhưng cũng không thể nào làm mất đi bản chất thiện lương, tấm lòng son sắt, chung thủy của người phụ nữ. “Tấm lòng son” ẩn bên trong lớp vỏ trắng ngần, vẻ đẹp cả tâm hồn, cả thể chất, phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng. “Tấm lòng son” luôn hiếu thảo với cha mẹ, tấm lòng son dành cho đức lang quân, tấm lòng son cho con cái, hi sinh trọn một kiếp người. Biện pháp nhân hóa qua hình tượng bánh trôi nước vừa khắc họa được chân dung người phụ nữ dưới góc nhìn mới mẻ, vừa khéo léo lên án xã hội phong kiến ác độc, tàn bạo đã chôn vùi biết bao số phận người con gái mỏng manh, yếu đuối. Nghệ thuật ẩn dụ nhuần nhị mà tài hoa, khơi gợi trong lòng người đọc sự mến mộ, đồng thời là tình thương, sự đồng cảm với một kiếp “hồng nhan bạc mệnh”.

    Chất liệu dân gian thể hiện ở những câu ca dao, thành ngữ và motif điển hình của thơ ca dân gian truyền miệng. Mở đầu tác phẩm, nữ thi sĩ lựa chọn cách giới thiệu hết sức quen thuộc trong những bài ca dao: “thân em”. Trong kho tàng văn học Việt Nam, cụm từ “thân em” được mở đầu cho rất nhiều những bài ca dao, thành ngữ tục ngữ như: “Thân em như dải lụa đào/ Phất phơ ngoài chợ biết vào tay ai”, “Thân em như giếng giữa đàng/ Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”. Điểm chung của các câu vè này thường nói về số phận bấp bênh, long đong vô định của người phụ nữ. Với “Bánh trôi nước”, nói về thân phận người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã rất khéo léo khi lựa chọn cách mở đầu mang đậm âm hưởng dân gian này. Motif quen thuộc đã được tác giả lồng ghép vào bài thơ, tạo nên nét đẹp vừa mới mẻ, vừa truyền thống. Không chỉ có vậy, thành ngữ “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh” cũng được thu gọn và sử dụng một cách tinh tế, sắc bén. Câu thành ngữ cốt để nói lên sự vất vả, phiêu bạt của cuộc đời người con gái. Đặt trong hoàn cảnh thực tế của Hồ Xuân Hương, hai đời chồng đều là vợ lẽ, ắt hẳn đắng cay cuộc đời đều đã nếm trải. Có lẽ vì vậy, hơn ai hết, bà hiểu được tầm quan trọng của sự may mắn trong cuộc đời phụ nữ. “Bảy nổi ba chìm với nước non”, số phận không nằm trong tay mình, không do mình định đoạt, một cuộc đời sóng gió, không nơi nương tựa. Cả hai yếu tố dân gian này đều tô đậm nỗi vất vả, đáng thương của cuộc đời người con gái, không có tiếng nói, không có quyền quyết định cuộc đời mình. Có lẽ vì quá buồn tủi, quá đau khổ cho số phận của mình, những người phụ nữ chỉ biết than thân trách phận qua những câu hò, câu hát để tự an ủi bản thân. Yếu tố dân gian đã hoàn thành trọn vẹn vai trò trong việc khắc họa chân dung kiếp đời khổ đau, nhịn nhục, nơi con người không được sống cho chính bản thân, nơi hủ tục và quan niệm trọng nam khinh nữ đã giết chết biết bao người con gái tài sắc vẹn toàn.

    Cái hồn, cái thần của Hồ Xuân Hương được bộc lộ qua từng câu chữ. Biện pháp ẩn dụ, nhân hóa, chất liệu dân gian được thể hiện qua hình tượng bánh trôi nước và cách sử dụng ca dao, thành ngữ tục ngữ cùng motif “thân em” điển hình đã tạo nên tính độc đáo cho bài thơ. Một lần nữa, Hồ Xuân Hương đã làm tốt vai trò đề cao, thể hiện lòng yêu kính, trân trọng phụ nữ, đồng thời lên án xã hội bất công, lạc hậu đương thời. HÌnh tượng người phụ nữ tần tảo, khổ đau nhưng luôn giữ cho mình một tâm hồn trong sạch đã trở nên bất tử trong làng văn hóa Việt Nam.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-yeu-to-dan-gian-duoc-su-dung-trong-bai-tho-banh-troi-nuoc-47759n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 9 Môn Ngữ Văn Năm Học 2022
  • Phân Tích Và Làm Rõ Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Thiếu Nhi (Cứ Liệu Lhảo Sát Sgk Tiếng Việt Tiểu Học Sau Năm 2000)
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ
  • Nội Dung, Nghệ Thuật, Biện Pháp Tu Từ Của Bài “sông Núi Nước Nam”

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Bài Sông Núi Nước Nam Và Phò Giá Về Kinh
  • Bài Thơ: Sông Núi Nước Nam
  • Bài 5. Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) Bai 5 Song Nui Nuoc Nam Nam Quoc Son Ha Ppt
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Hãy Viết Đoạn Văn ( Khoảng 10 Câu) Miêu Tả Hàng Phượng Vĩ Vào Những Ngày Hè . Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ ( Gạch Chân Dưới Biện Pháp Ẩn Dụ
  • Nội dung đầu tiên (2 câu đầu): Nước Nam là của người Nam. Điều đó được sách trời định sẵn, rõ ràng.

    + Thời đó (thế kỉ XI), xưng Nam quốc là có ý nghĩa sâu xa bởi sau một ngàn năm đô hộ nước ta, bọn phong kiến phương Bắc chỉ coi nước ta là một quận của chúng và không thừa nhận nưởc ta là một quốc gia độc lập, có chủ quyền về lãnh thổ. Tiếp đó, xưng Nam đế cũng có nghĩa như vậy. Đế là hoàng đế. Xưng Nam đế có nghĩa đặt vua của nước ta ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa (vua các nước chư hầu chỉ được gọi là Vương). Khẳng định nước Nam là của người Nam là khẳng định chủ quyền độc lập của nước ta. Đó là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Đó còn là sự khẳng định tư thê làm chủ đất nước của dân tộc ta – một tư thế tự hào, hiên ngang.

    + Sự thật lịch sử trên lại được ghi “tại thiên thư” – điều ấy đã được trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu 2 nhuốm màu thần linh khiến cho sự khẳng định ở câu 1 tăng thêm.

    – Nội dung thứ hai (2 câu sau): Kẻ thù không được xâm phạm. Xâm phạm tất sẽ thảm bại.

    + Sau khi khẳng định chủ quyền của dân tộc, câu 3 bộc lộ thái độ đối với bọn giặc cướp nưởc – đó là thái độ vừa ngạc nhiên, vừa khinh bỉ: Tại sao quân lính của một nước tự xưng là thiên triều lại dám ngang nhiên xâm phạm trái lệnh trời? Đúng là bọn giặc, lũ phản nghịch mới dám hành động như vậy (nghịch lỗ: giặc dữ).

    + Câu 4 như là lời trực tiếp nói với bọn giặc dám xâm phạm tới đạo trời và lòng người, rằng: chúng sẽ thua to và nhất định chuốc lấy thất bại thảm hại. Điều đó chứng tỏ người sáng tác có niềm tin sắt đá là sẽ có đủ sức mạnh để bảo vệ chân lí, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đất nước. Hai câu sau khẳng định một lần nữa chân lí về chủ quyền độc lập của dân tộc. Chân lí ấy hợp ý trời và thuận lòng người.

    Đặc sắc về nghệ thuật của bài Sông núi nước Nam

    – Bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, cô đọng với việc sử dụng từ ngữ chính xác. Các từ ngữ đế, cư, tiệt nhiên, thiên thư, thủ bại góp phần khẳng dịnh chân lí thiêng liêng cao cả. Nước Nam là của người Việt, nước Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

    – Bài thơ viết bằng chữ Hán, có nhiều yếu tố Hán Việt khiến cho lời thì ít nhưng ý vô cùng.

    – Giọng điệu chung của bài thơ là đanh thép, dứt khoát như dao chém đá. Cảm xúc của người viết được dồn nén trong ý tưởng. Đó cũng là đặc điểm chung của thơ trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán – bày tỏ ý chí, quan điểm, tấm lòng,… Lời thơ như những câu nghị luận, mang tính chất tuyên ngôn và ẩn trong đó là cảm xúc tự hào dân tộc, là ý chí quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, cương vực đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Sông Núi Nước Nam
  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Sông Núi Nước Nam
  • 4 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu, Văn Mẫu Lớp 9
  • Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ Trong Bài Thề Nguyền (Nguyễn Du)

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyện: Vương Gia Lạnh Lùng Chỉ Sủng Vương Phi Bị Bỏ
  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh Gắn Với Thế Trận Lòng Dân Vững Chắc
  • Ôn Thi Qp Hki Hay Mot So Hieu Biet Ve Nen Quoc Phong Toan Dan Doc
  • Đề Cương Ôn Thi Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chương I,ii Phần Ii
  • Đáp Án Và Lời Giải Chi Tiết Đề Số 40
  • Vị trí đoạn trích: trích từ câu 431 đến câu 452, nói về đêm thề nguyền giữa Kiều và Kim Trọng, hai người nguyện gắn bó thủy chung suốt đời.

    • Từ câu 1 đến câu 4: Thúy Kiều lại sang nhà Kim Trọng.
    • Từ câu 5 đến câu 10: Tư thế, cảm giác của Kim Trọng khi thấy Thúy Kiều bước vào.
    • Từ câu 11 đến câu 14: Thúy Kiều giải thích lí do sang nhà Kim Trọng.
    • Còn lại: Cảnh thề nguyền.

    Biện pháp nghệ thuật tu từ trong Thề nguyền

    a. Cảnh Kiều sang nhà Kim Trọng “Cửa ngoài vội rủ rèm the, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?” * Tâm trạng và tình cảm của Thúy Kiều

    – Theo như lễ giáo phong kiến thì con gái phải là để người con trai tỏ tình trước hay là cha mẹ đặt đâu con

    ngồi đó nhưng Kiều lại khác. Nàng một mình “xăm xăm băng lối” sang nhà Kim trọng.

    + Từ ngữ:

      “Xăm xăm”, “băng”: Hành động dứt khoát, táo bạo, mạnh mẽ, bất chấp quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến → Thể hiện sự vội vàng và tình cảm lớn lao mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.

    + “Nhặt thưa gương giọi đầu cành,… Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng”: Hình ảnh Thúy Kiều quay trở

    lại gặp Kim Trọng trong không gian đầy trăng thơ mộng.

    + “Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,… Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?”: Lời Thúy Kiều.

    • “Khoảng vắng đêm trường”: Là khoảng thời gian tất cả mọi vật đều chìm trong giấc ngủ. Nhưng Kiều không để thời gian chi phối tình cảm của mình mà đã xăm xăm đến nhà Kim Trọng.
    • “Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa”: Tình yêu hồn nhiên, trong sáng, tự do và tha thiết.
    • Hoa tượng trưng cho cái đẹp nhưng dễ phai tàn → Nó dự báo một cuộc đời bão táp của Kiều.
    • “Chẳng là chiêm bao”: Băn khoăn về một sự tan vỡ.

    * Tâm trạng và thái độ trân trọng của Kim Trọng

    • Nhà thơ dùng những mỹ từ rất đẹp để nói về cảnh tượng ấy : “nhặt thưa”, “lọt”, “hắt hiu”. Mọi thứ đều trở nên nhỏ nhẹ, hiền từ trước tình yêu
    • Và đến khi biết là mình không phải là mơ nữa thì Kim Trọng nhanh chóng rước Kiều vào nhà.

    b. Cảnh Kiều và Kim Trọng thề nguyền “Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương Tiên thề cùng thảo một chương Tóc mây một món dao vàng chia đôi

    – Không gian: Trong nhà giữa một đêm trăng sáng

    – Thời gian: đêm tối

    – Các hình ảnh:

    • Đài sen, lò đào thêm hương
    • Tiên thề: Tờ giấy viết lời thề
    • Dùng dao vàng cắt tóc thề nguyền

    Vừng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song. Tóc tơ cân vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

    – Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ: vừng trăng là nhân chứng cho tình yêu

    – Sử dụng từ láy:

      Vằng vặc: chỉ ánh trăng rất sáng, không một chút gợn, khiến có thể nhìn rõ các vật.
    • Đinh ninh : nói đi nói lại, dặn đi dặn lại cặn kẽ để cho nhớ kĩ, cho chắc chắn.
    • Song song: đi bên nhau

    * Đánh giá chung:

    • Giá trị nội dung: ngợi ca, cổ vũ cho tình yêu trong sáng của Thúy Kiều và Kim Trọng; thể hiện ước mơ được tự do yêu đương vượt lên trên lễ giáo phong kiến.
    • Giá trị nghệ thuật: sử dụng các hình ảnh ước lệ, điển cố điển tích; vận dụng các hình ảnh ẩn dụ giàu sức chứa; bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo; nghệ thuật tả cảnh đặc sắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Truyện Bách Hợp Hay Nhất, Hấp Dẫn Nhất Hiện Nay
  • Bạn Chán Ngôn Tình Hãy Thử Những Bộ Truyện Bách Hợp Hay
  • Top Truyện Bách Hợp Hay Đốn Tim Những Người Đang Yêu
  • Top 10 Truyện Bách Hợp Hay Được Đọc Nhiều Nhất, Tính Đến Đầu 2022
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Biện Pháp Nghệ Thuật, Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Vội Vàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 11: Thương Vợ
  • Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh
  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Một số nội dung cần ghi nhớ về Vội vàng của Xuân Diệu

    – Xuân Diệu ( 1916 – 1985), quê cha ở Can Lộc- Hà Tĩnh, quê mẹ ở Tuy Phước- Bình Định. Ông là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới và là nhà thơ của tình yêu của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi đắm say và yêu đời thắm thiết. Xuân Diệu đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại trên nhiều lĩnh vực: Thơ ca, văn xuôi, tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học,

    – Thơ Xuân Diệu thể hiện hai tâm trạng trái ngược nhau: Vừa rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống; vừa hoài nghi, chán nản, cô đơn.

    – Bài Vội vàng được in trong tập Thơ thơ. Đây là bài thơ thể hiện rõ tâm trạng của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.

    Biện pháp nghệ thuật trong Vội vàng của Xuân Diệu

    1. Nội dung ở khổ đầu tiên chính là ý tưởng táo bạo và lãng mạn của nhà thơ trước cuộc đời tươi đẹp:

    Biện pháp tu từ và nghê thuật trong 4 câu đầu bài Vội vàng

    “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”

    Đây là hình ảnh Xuân Diệu đang lo âu trước sự phai tàn của cái đẹp,”sợ” sắc màu “nhạt mất”, “sợ” hương thơm “bay đi” bởi ông vô cùng trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống.

    * Điệp ngữ ” Tôi muốn ” xuất hiện hai lần với mục đích:

    + Thể hiện khao khát lưu giữ hương sắc cuộc đời đang nồng cháy và rạo rực trong tâm hồn thi sĩ.

    + Nó cũng khẳng định cái tôi trữ tình của nhà thơ, một cái tôi dám đứng lên bộc bạch ước muốn của bản thân, dù những ước muốn ấy hết sức phi lý và quá tầm với. Đây chính là một trong những cái “mới” của “Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”, nó trái ngược hoàn toàn với tính phi ngã của văn học trung đại.

    * Những động từ “tắt nắng”, “buộc gió” cho thấy:

    + Khát khao đoạt quyền tạo hóa, ngăn lại dòng chảy của thời gian của Xuân Diệu không chỉ lãng mạn, mà còn ngông cuồng, táo bạo.

    + Những mong ước mãnh liệt của thi sĩ xuất phát từ tình yêu da diết với cuộc sống và cái tôi say mê trần thế.

    * Giọng điệu trong bốn câu đầu bài mang âm điệu tình yêu tha thiết và mạnh mẽ. Cảm nhận sâu hơn, ta thấy trong lời thơ còn có cả sự tiếc nuối trong những chữ “đừng” đầy day dứt.

    2. Nội dung trong khổ 2 bài Vội vàng

    Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn 2 bài Vội vàng

    2.1 Bức tranh thiên đường trần thế qua cảm nhận tuyệt vời của Xuân Diệu “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần.”

    – Một ước muốn hết sức táo bạo mãnh liệt: muốn ngự trị thiên nhiên, tước đoạt quyền của tạo hóa: “Ước muốn ngăn thời gian chặn sự già nua tàn tạ để tận hưởng hết hương sắc của mùa xuân”.

    – Điệp ngữ “này đây” lặp lại trong năm câu thơ liên tiếp đã bộc lộ dụng ý nghệ thuật của tác giả:

    + Âm hưởng thơ vui tươi như bản hòa ca rộn ràng.

    + Tác giả trầm trồ ngạc nhiên khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuộc sống.

    + “Này đây” như lời giới thiệu, lời mở khi Xuân Diệu miêu tả về một loạt những hình ảnh thiên nhiên sinh động.

    – Biện pháp liệt kê cùng trường từ vựng thiên nhiên với những từ “ong bướm”, “hoa”, “đồng nội”, “lá”, “cành tơ”, “yến anh”, “ánh sáng”,… giúp người đọc hình dung ra bày tay kì diệu của tạo hóa reo rắc trên mảnh đất trần thế những gì tinh tú và tươi tốt, trong lành, đẹp đẽ nhất.

    2.2. Tiếp theo nữa chính là tâm trạng chán nản hoải nghi bi oan trước thực tế :

    – Niềm vui phút chốc tan biến, nỗi lo âu xuất hiện:

    “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”

    – Dấu chấm giữa câu: cách ngắt câu giữa dòng, một tâm trạng trái ngược xuất hiện: Một của khao khát say mê, một của ai hoài, u uất. Cấu trúc câu đặc biệt này nhấn mạnh và tách biệt cảm xúc của nhà thơ. Ông càng sung sướng đón chào cái đẹp và niềm vui cuộc sống bao nhiêu thì càng nuối tiếc và mong muốn ghìm giữ nó bấy nhiêu.

    – Nhà thơ cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, vạn vật sẽ thay đổi. Niềm vui tan nhanh như một giấc mộng hão huyền trước cái sự thật khắc nghiệt, phũ phàng, cái lạnh lùng nghiệt ngã của quy luật thời gian.

    Còn trời đất – chẳng còn tôi. Tuổi trẻ – chẳng hai lần thắm lại.

    – Nghệ thuật :

    + Đối lập giữa còn – mất; con người – thiên nhiên; quy luật của đất trời – với quy luật của đời người,

    + Giọng thơ cũng trở nên buồn, ngao ngán, nặng nề u uất.

    – Thiên nhiên vì thế nhuốm màu tang thương, ảm đạm – đối kháng với con người:Chia phôi, tiễn biệt, hờn, sợ phai tàn,

    – Tác giả rơi vào tâm trạng tuyệt vọng:

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Vội vàng

    3. Nội dung khổ cuối của bài Vội vàng chính là lòng yêu cuộc sống đến đô cuồng si 3.1. Sống với tốc độ phi thường

    – Để khắc điều đó, thi sĩ đề ra lối sống gấp gáp, vội vàng: Sống hưởng thụ cái vui trong hiện tại.

    3.2. Sống với cường độ sâu sắc, mãnh liệt

    – Tình yêu cuồng nhiệt với cuộc sống với đời được thể hiện qua một loạt các động từ và tính từ mạnh: Ôm, riết, say, thâu, cắn; chếnh choáng, no nê, đã đầy, nhiều,

    – Nhịp thơ dồn dập, sôi nổi hối hả,cuồng nhiệt.

    – Biện pháp điệp: Ta muốn, và, cho…

    Tác dụng: Nhịp thơ gấp gáp, sôi nổi; ý thơ nhấn mạnh khát vọng tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời và sống đẹp từng giây từng phút.

    – Biện pháp liệt kê: mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, non, nước, mây, cỏ…

    Tác dụng: Gợi tả vẻ đẹp tươi, mơn mởn, sự đa dạng, phong phú của thiên nhiên, của cuộc đời khiến nhà thơ đắm say, ngây ngất…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng (Bài Viết Số 2, Sgk Ngữ Văn Nâng Cao, Tập 1)
  • Các Phép Tu Từ Trong Tiếng Anh
  • Cách Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Cảm Nghĩ Về Bài Ca Dao Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Ngữ Văn Lớp 12
  • Các Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Tìm Hiểu Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • 1.Khúc dạo đầu của Đất Nước hấp dẫn người đọc bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chính luận vã trữ tình, giữa suy tư sâu lắng và cảm xúc nồng nàn. Đoạn thơ xoay quanh hai câu hỏi “Đất Nước có từ bao giiờ?” và “Đất Nước như thế nào”. Nguyễn Khoa Điềm đã trả lời câu hỏi đó bằng những hình ảnh vừa có tính hình tượng cao, vừa dạt dào cảm xúc.

    – Thể thơ tự do, nhịp thơ biến hóa kết hợp với biện pháp tu từ như liệt kê, điệp từ, điệp ngữ khiến giọng thơ biến hóa. Khi là lời thủ thỉ tâm tình của lứa đôi, khi như lời tự nhủ với chính mình trầm lắng chất suy tư.

    2. Việc vận dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian: Đoạn thơ thấm đượm chất liệu văn hóa dân gian và hương sắc của văn hóa dân gian. Hiếm có trong tác phẩm nào, chất liệu dân gian lại đậm đặc, đa dạng như khúc thơ này. Có đến 7/9 câu thơ sử dụng chất liệu văn hóa độc đáo này. Nào là truyền thuyết, cao dao, tục ngữ; nào là thành ngữ, tục ngữ, rồi đến các phong tục tập quán, truyền thống, lối sống của người dân bao đời.

    – Cách sử dụng chất liệu văn hóa dân gian lại vô cùng biến hóa, sáng tạo. Có khi trích dẫn nguyên văn ( “ngày xửa ngày xưa”). Còn phần nhiều, Nguyễn Khoa Điềm chỉ lấy ý nảy từ rồi để người đọc tự liên tưởng, tưởng tượng về một miền văn hóa truyền thống mênh mang, thăm thẳm

    Ví như, chỉ với hình ảnh “miếng trầu bà ăn bây giờ” đã gơi dậy trong tâm trí người Việt biết bao điều. Đó là tục bà ăn trầu từ ngàn xưa gắn với sự tích trầu cau, là những thành ngữ, tục ngữ, cao dao, dân ca thấp thoáng hình ảnh quả cau, lá trầu. Nhờ cách vận dụng sáng tạo ấy mà vẻ đẹp lung linh của văn học dân gian thấm sâu vào từng câu, từng chữ tạo nên hình tượng thơ vừa bình dị, mộc mạc, gần gũi; vừa thiêng liêng, bay bổng, lãng mạn, vừa mới mẻ, lạ lẫm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác.

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Đặc Sắc Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Phẩm
  • Tuần 6. Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân.
  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bức Tranh Thu Trong Bài Thơ Sang Thu, Bài
  • Soạn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Bài Tiếng Việt Nâng Cao Lớp 5
  • Top 5 Bài Soạn “tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 5 Hay Nhất
  • Ôn Tập He Tiếng Việt 5 Tieng Viet On Tap He Lop 5 Doc
  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    – Đặc điểm, tính chất của văn bản thuyết minh;

    – Mục đích của văn bản thuyết minh (chú ý phân biệt với mục đích của các phương thức biểu đạt khác như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận);

    – Những phương pháp thuyết minh thường dùng.

    – Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thường gặp trong mọi lĩnh vực đời sống, có chức năng cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân,… của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng cách trình bày, giới thiệu, giải thích.

    Văn bản thuyết minh không giống với các văn bản thuộc loại tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận vì kiểu văn bản này không nhằm kể chuyện, tái hiện, biểu lộ tình cảm hay nghị luận mà nhằm cung cấp tri thức về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội một cách khách quan, chân thực, có ích cho con người.

    – Để đạt được hiệu quả giao tiếp gắn với mục đích đặc trưng, ngôn ngữ của văn bản thuyết minh phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn.

    Sự kì lạ của Hạ Long là vô tận. Chính là do tài thông minh của Tạo Hoá biết dùng đúng chất liệu hay nhất cho cuộc sáng tạo của mình: Nước. Chính Nước làm cho đá sống dậy, làm cho Đá vốn bất động và vô tri bỗng trở nên linh hoạt, có thể động đến vô tận, và có tri giác, có tâm hồn.

    Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách. Có thể mặc cho con thuyền của ta mỏng như lá tre tự nó bập bềnh lên xuống theo cho triều; có thể thả trôi theo chiều gió, theo các dòng chảy quanh co phức tạp giữa các đảo; cũng có thể thong thả khua khẽ mái chèo mà lướt đi, trượt nhẹ và êm trên sóng; có thể nhanh tay hơn một chút để tạo một cảm giác xê dịch thanh thoát; có thể bơi nhanh hơn bẳng thuyền buồm, nhanh hơn nữa bằng thuyền máy, cũng như bay trên các ngọn sóng lượn vun vút giữa các đảo trên canô cao tốc; có thể thả sức phóng nhanh hàng giờ, hàng buổi, hàng ngày khắp các trân đồ bát quái đá trộn với nước này. Mà cũng có thể, một người bộ hành tuỳ hứng, lúc đi lúc dừng, lúc nhanh lúc chậm, lúc tiến lúc lùi, thẳng tắp hay quanh co, lao ra những quãng trống hay len lỏi qua các khe hẹp giữa các đảo đá…. Và cái thập loại chúng sinh chen chúc khặp vịnh Hạ Long kia, già đi, tre lại, trang nghiêm hơn hay dỗng nhiên nhí nhảnh tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn,… hoá thân không ngừng. Tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng, hoặc độ xa gần và hướng ta tiến đến chúng hay rời xa chúng. Còn tuỳ theo cả hướng ánh sáng rọi vào chúng, hoặc đột nhiên khiến cho mái đầu một nhân vật đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, rõ ràng trước mắt ta là một bậc tiên ông không còn có tuổi. Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh chảy khiến những con người bằng đá vây quanh ta trên mặt vịnh càng lung linh, xao động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc họp của cả thế giới người bằng đã sống động đó, biết đâu…!

    […] Để rồi, khi chân trời đằng đông vừa ửng tím nhạt, rồi từ từ chuyển sang hồng… thì tất cả bọn người đá ấy lại hối hả trở về vị trí của họ. Mà vẫn còn nóng hổi hơi thở cuộc sống đêm chưa muốn dứt.

    Hạ Long vậy đó, cho ta một bài học, sơ đẳng mà cao sâu: Trên thế gian này, chẳng có gì là vô tri cả. Cho đến cả đá. Ở đây Tạo Hoá đã chọn đá làm một trong hai nguyên liệu chủ yếu và duy nhất của Người để bày nên bản phác thảo của Sự Sống. Chính là Người có ý tứ sâu xa đấy: Người chọn lấy cái vẫn được coi là trơ lì, vô tri nhất để thể hiện cái hồn ríu rít của sự sống. Thiên nhiên bao giờ cũng thông minh đến bất ngờ; nó tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng…

    (Nguyên Ngọc, Hạ Long – Đá và Nước, Ban quản lí vịnh Hạ Long, 2002)

    – Chủ đề của văn bản: sự kì lạ vô tận của vịnh Hạ Long.

    – Văn bản cung cấp cho người đọc những hiểu biết về vẻ đẹp của một di sản văn hoá thế giới. Để khám phá ra vẻ kì lạ vô tận của Hạ Long, người ta phải có được sự tinh tế, lịch lãm trong cảm nhận, thưởng thức. Bằng sự tinh tế, lịch lãm ấy, Nguyên Ngọc đã đem đến cho chúng ta những tri thức về sự kì lạ của Hạ Long.

    c) Nhận xét về phương pháp thuyết minh của văn bản Hạ Long – đá và nước. Ngôn ngữ, cách diễn đạt của văn bản này có gì khác so với các văn bản thuyết minh em đã được đọc?

    : Tuỳ từng đối tượng mà người ta lựa chọn cách thuyết minh cho phù hợp, nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất. Văn bản Hạ Long – đá và nước thuyết minh về sự kì lạ vô tận của vịnh Hạ Long. Để thuyết minh vẻ đẹp sinh động, kì thú, biến ảo của Hạ Long, người viết không thể chỉ sử dụng các biện pháp thuyết minh thông dụng. Cái “vô tận, có tri giác, có tâm hồn” của Hạ Long không dễ thấy được chỉ qua cách đo đếm, liệt kê, định nghĩa, giải thích, nêu số liệu,… mà phải kết hợp với trí tưởng tượng, liên tưởng.

    Tìm các hình ảnh ẩn dụ, so sánh, nhân hoá, liên tưởng trong bài văn.

    NGỌC HOÀNG XỬ TỘI RUỒI XANH

    Do loài người phát đơn kiện, Ngọc Hoàng Thượng đế mở phiên toà công khai xử tội loài ruồi. Ngọc Hoàng truyền cho vệ sĩ Nhện điệu ruồi xanh lên điện, đập bàn thị uy:

    – Ruồi kia, loài người kiện mi làm hại chúng sinh, mau mau khai ra tên họ, chủng loại và nơi ở!

    Ruồi sợ hãi quỳ thưa trước vành móng ngựa:

    – Con là ruồi xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh mắt lưới. Họ hàng con rất đông, gồm ruồi trâu, ruồi mắt đỏ, ruồi nhà… Nơi ở là nhà xí, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…, bất kì chỗ nào có thức ăn mà không đậy điệm con đều lấy làm nơi sinh sống.

    Ngọc Hoàng yêu cầu Thiên Tào tra sổ xác nhận rồi cho đọc cáo trạng: Bị cáo ruồi bị cáo buộc hai tội. Một là sống nơi dơ bẩn, mang nhiều vi trùng gieo rắc bệnh tật. Các nhà khoa học cho biết bề ngoài con ruồi mang 6 triệu vi khuẩn, trong ruột chứa đến 28 triệu vi khuẩn. Chúng gieo rắc bệnh tả, kiết lị, thương hàn, viêm gan B. Tội thứ hai là sinh đẻ nhanh quá mức, vô kế hoạch. Mỗi đôi ruồi, trong một mùa từ tháng 4 đến tháng 8, nếu đều mẹ tròn con vuông sẽ đẻ ra 19 triệu tỉ con ruồi, ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái.

    Một luật sư biện hộ nói: Ruồi tuy tội nhiều nhưng nó cũng có nét đặc biệt ví như mắt lưới, một mắt chứa hàng triệu mắt nhỏ; chân ruồi có thể tiết ra chất dính làm cho nó đậu được trên mặt kính mà không trượt chân. Nếu con người biết bắt chước mắt ruồi mà làm máy chụp ảnh, mô phỏng chân ruồi mà làm giày leo núi thì cũng hay. Đó đều là tình tiết giảm nhẹ tội cho ruồi.

    Ngọc Hoàng cân nhắc, tuyên phạt ruồi khổ sai chung thân. Truyền cho chim chóc, cóc, nhái, thằn lằn, kiến, nhện ra sức giết bớt ruồi, không cho đẻ nhiều. Ngọc Hoàng lại nói với Người: “Ruồi có tội mà con người cũng có lỗi. Con người phải thường xuyên làm vệ sinh, đậy điệm thức ăn, nhà xí, chuồng trại phải xây dựng theo lối mới thì mới ngăn chặn ruồi sinh sôi và hạn chế tác hại của ruồi được.

    Lời tuyên án của Ngọc Hoàng làm cho các loài vật phấn khởi, còn con người thì trầm ngâm nghĩ ngợi.

    : Văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không? Nó cung cấp cho chúng ta những kiến thức gì?

    2. Người viết đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào trong bài Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh?

    : Văn bản thuyết minh trên đã sử dụng các biện pháp định nghĩa, phân loại, phân tích, liệt kê, nêu số liệu,… như thế nào?

    – Mượn hình thức kể chuyện để thuyết minh; Sử dụng triệt để biện pháp nhân hoá;

    – Việc mượn hình thức kể chuyện để thuyết minh có tác dụng gì? Người viết đã sử dụng biện pháp nhân hoá để làm gì? Hình thức kể chuyện và biện pháp nhân hoá tạo ra sức hấp dẫn cho văn bản thuyết minh như thế nào?

    4. Đọc lại văn bản Phong cách Hồ Chí Minh và nhận xét về việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong thuyết minh.

    : Tìm các yếu tố miêu tả, so sánh,… trong văn bản này và cho biết chúng có tác dụng như thế nào trong việc khắc hoạ phong cách kết hợp hài hoà giữa truyền thống văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, giữa vĩ đại và giản dị ở Hồ Chí Minh?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 9: Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Top 6 Bài Soạn “sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh” Lớp 9 Hay Nhất 2022
  • Tìm Và Phân Tích Các Hình Ảnh So Sánh Trong Truyện Ngắn
  • Hãy Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Khổ
  • ‘mẹ Và Quả’ Ẩn Dụ Để Tìm Tứ Thơ Hay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100