Top #10 ❤️ Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Hai Đứa Trẻ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ

Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ

Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn

a.Cốt truyện: HĐT là kiểu truyện dường như không có cốt truyện, cốt truyện khộng dựa trên những sự kiện, tình tiết mà dựa trên những diễn biến tâm trạng của nhân vật.

b. Về nhân vật: Không chú ý miêu tả ngoại hình và hành động mà quan tâm tới đời sống nội tâm, đời sống tình cảm.

c. Về miêu tả cành: Cảnh vật được miêu tả tinh tế với những hình ảnh, mầu sắc, âm thanh, mùi vị hòa quện vào nhau gợi cái hồn riêng của quê hương VN xưa. Đặc biệt hình ảnh bóng tối được gợi đi, gợi lại như một mô típ đầy ám ảnh. Cảnh lại được cảm nhận qua cái nhìn tâm trạng của nhân vật L: “Liên thấy”, “L mải nhìn”, “L nhớ lại”, “L tưởng”,” L lặng theo”.

L là thiếu nữ mới lớn, dịu hiền nhân hậu và đa cảm. Điều này có ý nghĩa đặc biệt vì nó làm cho cảnh vật thấm đượm cảm xúc, làm cho cảnh vật vốn đơn sơ, tẻ nhạt vẫn mang cai thi vị riêng của nó, làm cho TG được lạ hóa qua cảm tưởng, qua cảm giác của HĐT. Tương xứng với khung cảnh là tâm trạng và cảm xúc của nhân vật L như những nấc thanh tâm lí: L man mác buồn thương trước cảnh chiều tàn, L buồn khắc khoải và thấm thía hơn khi bóng đêm khi bóng đêm buông xuống, L buồn nuối tiếc, ngơ ngẩn mơ tưởng khát khao khi đoàn tầu đi qua. Cách miêu tả đoàn tầu từ xa đến gần, quan sát bằng nhiều giác quan: thính giác, thị giác và bằng nhiều sắc thái cảm giác: hồi ức, thực tại, tương lai.

Hình ảnh đoàn tầu tương phản với các cảnh vật nơi phố huyện càng thấm thìa niềm mong ước khiêm nhường mà trong sáng, tốt đẹp. Một nét tâm lí rất thật, rất điển hình của những người dân quanh quẩn nơi thôn quê nghèo xưa mà cuộc sống bị trim

khuất, mỏi mòn trong tăm tối.

d. Về ngôn ngữ: Ngôn ngữ truyện giầu cảm xúc, giọng văn điềm tĩnh, nhẹ nhàng như ẩn chứa một tâm sự kín đáo có sức gợi và khơi sâu và cảm xúc người đọc. Nó như một thứ thơ bằng văn xuôi.

+ Truyện là một bức tranh chân thực và đượm buồn về một miền đất, một miền đời bị lãng quên: Một phố huyện nghèo xa vắng với phiên chợ nghèo xơ xác, tiêu điều; những ngọn đèn tù mù như đang lụi dần; những kiếp đời lụi tàn như mẹ con chị

Tí, những đứa trẻ nghèo, gia đình bác Xẩm, bà cụ Thi điên và HĐT. Họ sống nghèo khổ, tăm tối như trim trong cái ao đời tù túng .Những cảnh vật qua ngòi bút của TL lại gợi cảm vô cùng.

+ Ngòi bút hiện thực của TL đậm chất trữ tình. TL đã viết bằng chính kí ức tuổi ấu thơ của mình gắn với phố huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Mỗi chi tiết, hình ảnh đều chân thật, xúc động vô cùng.

+ Truyện thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của nhà văn dành cho nhưng con người nhỏ bé, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ. Ở mảnh đất đó, những số phận con người sống trong tăm tối, không biết tới niềm vui và hạnh phúc, họ cũng ước mơ nhưng ước mơ của họ thật nhỏ nhoi, tội nghiệp. Ước mơ chỉ là nhìn thấy con tầu qua phố huyện trong giây lát rồi phố huyện lại trim vào bóng tối. TL không chỉ thấu hiểu, thương cảm mà còn rung lên tiếng chuông cảnh tỉnh: những con người bé nhỏ, thiệt thòi dễ bị XH lãng quên và vùi lấp trong tăm tối, xã hội cần quan tâm đến họ. Họ có thể vô danh nhưng đừng để họ trở thành vô nghĩa.

+ Truyện khẳng định, đề cao ước mơ hạnh phúc, khát vọng đổi đời của con người. Thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến với người đọc là tư tưởng nhân đạo sâu sắc này: Những con người phố huyện đêm đêm thức chờ đoàn tầu để được sống trong

không khí sôi động và luồng ánh sáng rực rỡ. Dù con tầu chỉ xuất hiện trong giây lát nhưng cũng đủ khuấy lên một niềm mơ ước. HĐT thật đáng thương mà cũng thật đáng trọng: chúng đáng thường vì chúng như hai mầm cây mới lớn mà đã còi cọc trên mảnh đất khô cằn; chúng đáng trọng vì những mầm cây còi cọc ấy vẫn cố vươn lên, vẫn hi vọng đươm hoa, kết trái. Truyện HĐT đã đem đến trong lòng người đọc khát vọng yêu thương và tin tưởng vào cuộc sống.

+ HĐT còn là bước phát triển của tư tưởng nhân đạo của văn học 1930 – 1945. Đó là sự thức tỉnh ý thức cá nhân (VD Tỏa nhị

Kiều – Xuân Diệu; Đời thừa – Nam Cao). HĐT đã tiếp tục tư tưởng nhân đạo này để bênh vực cho quyền sống tốt đẹp của những con người bé nhỏ, thiệt thòi.

Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến

Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ

Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ

Bài Thơ Tiếng Gà Trưa

Bài Thơ: Tiếng Gà Trưa

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ

Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ

Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn

Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)

Phân tích sự tương phản trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam để làm sáng tỏ dụng ý của tác giả khi muốn nói về cuộc sống khổ cực của những con người sống trong cái phố huyện nhỏ bé ảm đạm, ngập chìm trong bóng tối đậm đặc ngày ngày ước muốn thoát ra khỏi sự tù túng của nghèo đói.

Đề bài: Viết một bài văn phân tích nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Dàn ý phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ chi tiết

I. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề nghị luận

Ví dụ: Truyện ngắn của Thạch Lam có một phong cách riêng. Đó là những truyện ngắn dường như không có cốt truyện, hoặc cốt truyện thường đơn giản nhưng lại hấp dẫn và gợi lên trong người đọc nhiều suy nghĩ. Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn rất tiêu biểu cho phong cách của Thạch Lam. Tác phẩm thành công trong việc sử dụng nghệ thuật tương phản.

II. Thân bài: Phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ

2. Nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn Hai đứa trẻ

– Tương phản giữa bóng tối và ánh sáng (phân tích dẫn chứng)

Ánh sáng và bóng tối đã xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện, ánh sáng yếu ớt của mặt trời “như hòn than sắp tàn” và xen vào đó là những hình ảnh đầu tiên của bóng tối “dãy tre làng trước mặt đen lại”.

Nhưng ám ảnh và có sự khơi gợi nhiều hơn cả là một không gian tối – sáng lúc phố huyện vào đêm: “Liên ngồi lặng im bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị”.

Trong sự đối lập sáng – tối đó, bóng tối là gam màu chủ yếu. Bóng tối dày đặc mênh mang khắp một vùng còn ánh sáng thì mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối.

Thạch Lam thường miêu tả bóng tối nhưng chỉ trong Hai đứa trẻ, bóng tối mới đủ hình hài, cung bậc: “đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối”, bóng người làm công lung lay bóng dài, bóng bác phở Siêu mênh mang ngã xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ”.

Phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vài làng lại càng sậm đen hơn nữa. Đêm ở phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Trong cái thế giới ngập tràn bóng đêm, dưới một bầu trời thăm thẳm bao la đầy bí mật của phố huyện, ánh sáng lại quá yếu ớt, mà nhạt, nhỏ bé, leo lét. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối. Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa… Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện bảy lần trong tác phẩm, tạo nên sức ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm đen, trong bóng tối cuộc đời.

– Tương phản giữa quá khứ và hiện tại (phân tích dẫn chứng)

Quá khứ đẹp đẽ, sung túc của chị em Liên và An – đối lập với cuộc sống đơn điệu, nghèo nàn, quẩn quanh của hai chị em và của người dân nơi phố huyện.

– Nghệ thuật tương phản thể hiện tập trung nhất ở phần cuối câu chuyện: khi đoàn tàu chạy qua phố huyện: bóng tối – ánh sáng, quá khứ – hiện tại, hiện tại – tương lai, âm thầm, lặng lẽ – ồn ào, náo nhiệt,…

3. Tác dụng của nghệ thuật tương phản

– Tạo nên vẻ đẹp lãng mạn, giàu chất thơ cho tác phẩm

→ Tất cả nhằm thể hiện cuộc sống quẩn quanh, bế tắc, tẻ nhạt, tăm tối của những con người nơi phố huyện đang héo mòn vì bóng tối cuộc đời và niềm khao khát một cuộc sống tươi sáng tốt đẹp hơn, từ đó thấy được tấm lòng chan chứa yêu thương của tác giả với những cuộc đời bé nhỏ nơi phố huyện.

III. Kết bài: Đánh giá chung:

Tác phẩm đã thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Thạch Lam qua nghệ thuật đối lập tương phản.

Việc sử dụng bút pháp tương phản giúp Thạch Lam thể hiện rõ nét tư tưởng nghệ thuật của mình và tạo được dấu ấn riêng trong cách viết truyện ngắn.

Top 3 bài văn hay phân tích nghệ thuật tương phản trong Hai đứa trẻ

Nghệ thuật tương phản khắc họa cuộc sống tù túng mong mỏi được vươn tới một cuộc sống mới

Nhà văn Thạch Lam là một cây bút tài ba chuyên viết truyện ngắn và văn xuôi. Các tác phẩm của ông luôn mang một vẻ độc đáo riêng biệt, đó là những truyện ngắn có cốt truyện đơn giản hoặc thậm chí không có cốt truyện, nhưng luôn đọng lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ, hoài niệm. Tiêu biểu trong số đó chính là tác phẩm ” Hai đứa trẻ ” -một tác phẩm đặc trưng cho phong cách văn thơ của ông. Với nghệ thuật tương phản sâu sắc trên nhiều khía cạnh, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả được sinh động cuộc sống và niềm mơ ước của các nhân vật trong truyện.

Nhân vật chính trong tác phẩm đó chính là hai chị em Liên và An, hai người sống ở một phố huyện nghèo khi gia đình khó khăn phải lui về ở đấy. Khi mới vào tác phẩm, Thạch Lam đã dùng nghệ thuật tương phản để miêu tả rõ nét quang cảnh của buổi chiều tà nơi vùng quê, đó chính là sự đối lập của bóng tối và ánh sáng. Bóng tối cùng màn đêm dần buông xuống, nó bao trùm, ngự trị khắp mọi nơi, mọi ngóc ngách. Phố xá thì tối hết cả, con đường chỉ toàn là những rác rưởi, văng vẳng đâu đó là những tiếng ếch kêu, tiếng vo ve của muỗi. Tất cả mọi thứ làm cho khung cảnh trở nên ảm đạm, tẻ nhạt và vô vị, nó thấm vào sâu thẳm trong cả con người khiến con người ta buồn man mác. Trong gam màu tối chủ đạo ấy, vẫn hiện lên những hình ảnh le lói của những tia sáng yếu ớt. Đó chính là những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tà đang tắt dần qua các ngọn núi, là ngọn đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lắt trong nhà ông Cửu, hay đơn giản chỉ là tia sáng phát ra từ những cây nến nhỏ bé.

Những nguồn sáng ấy quá lẻ loi, đơn độc, chẳng thể nào thắp sáng cả một khu phố, cũng giống như số phận của những con người lao động nơi đây, dù có cố gắng, chăm chỉ làm ăn, nhưng cuộc sống vẫn mãi quẩn quanh trong sự đói nghèo và bế tắc. Tiêu biểu là ánh đèn dầu của chị Tí – một người phụ nữ nghèo khổ, làm lụng vất vả, lúc nào cũng nheo nhóc với đứa trẻ con và đống đồ đạc. Ánh sáng phát ra từ cây đèn là một quầng sáng mờ nhạt, leo lắt, chỉ đủ chiếu tỏ một vùng nhỏ bé, đó giống như một hình ảnh ẩn dụ mà thông qua đó nhà văn Thạch Lam muốn khơi gợi về những mảnh đời cơ cực, những kiếp sống nhỏ bé trong một xã hội đầy những bất công và khổ nhục.

Quang cảnh tiếp theo thể hiện sự tương phản đó chính là sự đối lập giữa mặt đất và bầu trời. Bầu trời đẹp đẽ bao nhiêu, rực rỡ toàn sao bao nhiêu thì dưới đất lại bẩn thỉu, ngột ngạt bấy nhiêu. Thạch Lam đã miêu tả: “trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía, một mùi âm ẩm bốc lên”, chả có điều gì thơm tho, đẹp đẽ ở đó cả. Những con người trên bề mặt đấy còn khiến ta động lòng, cảm thương hơn nhiều: “Mấy đứa trẻ con nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được từ các người bán hàng để lại”, hay hình ảnh đứa trẻ con nhà bác xẩm bò ra đường “nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát” không khỏi khiến con người ta phải cảm thương cho những số phận đang vùi mình trong đêm tối ấy.

Từ sự khác nhau giữa mặt đất và bầu trời ấy, Thạch Lam đã dẫn dắt người đọc sang một nét tương phản khác, đó chính là sự tương phản giữa quá khứ – thực tại và những mơ ước xa xôi. Quá khứ của An và Liên là những ngày tháng tươi đẹp nơi Hà thành, nơi mà hai chị em vô âu vô lo, được mẹ dẫn đi Bờ Hồ chơi, uống những cốc nước xanh đỏ mát lạnh. Ngoài ra những kỉ niệm về Hà Nội đó chính là cả một vùng sáng rực rỡ và lấp lánh. Nhưng giờ đây, hai con người ấy lại phải ngồi ở một nơi đói nghèo, tối tăm, cuộc sống tẻ nhạt, vô vị. Thay vì vui chơi, học hành thì giờ đây Liên đã bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống, về những thứ xa xôi, chính điều ấy đã khiến cô trở nên trưởng thành hơn. Sống trong một cuộc sống như vậy, cho nên Liên lúc nào cũng mơ về một cuộc sống tốt đẹp, sung túc hơn. Những ước mơ của cô thật xa vời nhưng cũng rất giản dị.

Thạch Lam đã mượn hình ảnh đoàn tàu hàng ngày chạy qua nơi phố nghèo để nói lên rõ nhất những ước mơ của hai chị em cũng như toàn thể người dân lao động nghèo nơi đây. Đoàn tàu chính là sự hiện thân của ánh sáng, của những hoài niệm đẹp đẽ, ấm áp nơi Hà Thành “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Đoàn tàu ấy như mang một thế giới hoàn toàn khác đi ngang qua nơi này, một thế giới mà Liên ao ước và hoài niệm. Trong một thực tại tối tăm, nghèo đói, bế tắc, nhưng những con người nơi phố huyện vẫn luôn mơ đến những ước mơ xa xôi, mơ về một cuộc sống sung túc, tươi đẹp. Nhưng rồi, khi đoàn tàu đi qua, bóng tối lại bao trùm, màn đêm buông xuống, tất cả trở lại với thực tại tầm thường.

Bằng bút pháp đối lập tương phản tinh tế, nhà văn Thạch Lam đã miêu tả một cách khéo léo được quang cảnh nghèo khổ, tẻ nhạt của cuộc sống nơi phố nghèo. Nhưng cũng qua đó mà những nét đẹp của con người Việt Nam đã được tác giả thể hiện, đó chính là sự vô tư, tốt bụng, dù có khó khăn bế tắc thế nào đi chăng nữa nhưng lúc nào cũng chăm chỉ làm ăn, luôn mơ ước về một cuộc sống tươi đẹp ở phía trước.

Bài văn đạt điểm cao phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ

Là một thành viên trụ cột trong bút nhóm Tự lực văn đoàn, Thạch Lam đã tự khẳng định mình bằng một hướng đi riêng, đặc biệt là những tác phẩm viết về nông thôn, những người dân nghèo nơi phố huyện. rút trong tập Nắng trong vườn là một truyện ngắn hay, thấm đẫm tinh thần nhân văn nhân đạo, tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật miêu tả tương phản của ông.

Giống như hầu hết các truyện ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là truyện không có chuyện. Câu chuyện như một bài thơ, cốt chuyện, tình tiết, tâm trạng, biến cố đều nhẹ nhàng, dịu êm… Truyện là tâm trạng thao thức đợi tàu, là những cảm xúc, những mảnh ghép cuộc sống, là cảnh vật xung quanh của hai đứa trẻ Liên và An. Truyện chỉ có vậy nhưng qua ngòi bút của Thạch Lam, những điều ấy trở nên sống động, làm cảm động lòng người. Thủ pháp nghệ thuật tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa bầu trời và mặt đất, giữa quá khứ và hiện tại… đã gọi nên nhiều suy nghĩ thấm thía, sâu xa về những cảnh đời, những kiếp người nhỏ bé, sống vô danh vô nghĩa và héo mòn cùng những hi vọng mỏng manh và mơ hồ trong xã hội cũ.

Con người luôn khao khát và luôn cần ánh sáng, thế nhưng với chuyển động của thời gian, chuyển động của trái đất quay quanh trục của nó, mặt trời chỉ có thể chiếu sáng cho chúng ta một nửa thời gian trong ngày. Bởi vậy, cái khoảnh khắc thao thức, cái sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối cùng xuất hiện, thời khắc chiều tà và đêm khuya bên cạnh nhau, tương phản nhau, cùng soi tỏ cho nhau. Ánh sáng và bóng tối đã xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện, ánh sáng yếu ớt của mặt trời “như hòn than sắp tàn” và xen vào đó là những hình ảnh đầu tiên của bóng tối “dãy tre làng trước mặt đen lại”. Nhưng ám ảnh và có sự khơi gợi nhiều hơn cả là một không gian tối – sáng lúc phố huyện vào đêm: “Liên ngồi lặng im bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dàn và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị”. Trong sự đối lập sáng – tối đó, bóng tối là gam màu chủ yếu. Bóng tối dày đặc, mênh mang, bao phủ khắp một vùng còn ánh sáng thì mờ nhạt, nhỏ nhoi, leo lét không đủ để xua đi bóng tối. Thạch Lam thường miêu tả bóng tối nhưng chỉ trong Hai đứa trẻ, bóng tối mới đủ hình hài, cung bậc: “đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối”, bóng người làm công lung lay bóng dài, bóng bác phở Siêu mênh mang ngã xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ”.

Phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sậm đen hơn nữa. Đêm ở phố huyện tĩnh mịch và đầy bóng tối”. Trong cái thế giới ngập tràn bóng đêm, dưới một bầu trời thăm thẳm bao la đầy bí mật của phố huyện, ánh sáng lại quá yếu ớt, mà nhạt, nhỏ bé, leo lét. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối. Ánh đèn của bác phở Siêu chỉ là những chấm nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối. Ánh sáng ngọn đèn của chị em Liên thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa… Có lẽ trong văn học xưa nay, ánh sáng cũng đã từng xuất hiện nhiều nhưng không mấy ai miêu tả ánh sáng là khe, là vệt, là chấm, là hột, là quầng… Một cách riết róng như Thạch Lam. Đặc biệt là hình ảnh ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ, xuất hiện hai lần trong tác phẩm, tạo nên sức ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời, những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm đen, trong bóng tối cuộc đời.

Điều Liên, An và những người dân nơi phố huyện mong chờ là thứ ánh sáng nơi bàn tay con người từ chuyến tàu cuối cùng của đêm “các toa đèn sáng trưng, đồng và kền lấp lánh”… Giữa đêm, thời điểm tưởng như bóng tối nặng nề, đông đặc nhất lại chính là thời điểm ánh sáng bừng lên rực rỡ, sáng lóa cả không gian và tâm hồn con người. Bầu trời bao la và mặt đất cũng có sự đối lập. Mặt đất sau buổi chợ tàn chỉ còn lại rác rưởi, bụi bẩn và mùi của đất, là mặt đất bụi bặm, khổ đau, chứa đầy bóng tối. Còn bầu trời thì khác, nó đỏ rực lúc chiều tà, là hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, là sự kì diệu, thuộc về ước mơ, khao khát, là những kỉ niệm của một thời nay chỉ còn là vang bóng. Ánh sáng và bầu trời thuộc về ước mơ, là để thắp lên, đợi chờ, khát khao. Bóng tối và mặt đất là cái thực tại, là cái hằng chiều, là bóng đêm con người phải sống, phải đối mặt.

Với việc sử dụng nghệ thuật đối lập tương phản trong thiên truyện. Thạch Lam đã làm nổi bật lên cuộc sống buồn bã, tẻ nhạt, tối tăm của những con người nơi phố huyện đang héo mòn vì bóng tối. Qua đó Thạch lam đã bộc lộ rõ được tinh thần nhân đạo, trong niềm day dứt, dằn vặt, thể hiện cái tài và cái tâm của tác giả, tạo nên cả đẹp lãng mạn nhẹ nhàng đầy thi vị cho tác phẩm.

Văn mẫu 11 phân tích sự đối lập trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Hai đứa trẻ là tác phẩm nêu lên hiện thực của một vùng phố huyện nghèo, nơi đó có cuộc sống và những con người đang sống trên cảnh nghèo đói, khổ sở, họ phải chật vật lo cho cuộc sống của mình quanh năm vất vả, với việc buôn ba kiếm từng mảnh cơm… Và để lột tả được những điều đó, tác giả đã thể hiện những biện pháp nghệ thuật tương phản nhằm làm tăng lên giá trị phản ánh trong tác phẩm, những điều đó thể hiện một tư tưởng nghệ thuật cũng như giá trị của tác phẩm mà tác giả đang muốn thể hiện. Tương phản ở đây đó là sự đối lập giữa những phạm trù, và để tăng lên sức chú ý và mức độ ảnh hưởng của nó đến toàn bộ con người và sự vật.

Trong tác phẩm không gian chật hẹp tối tăm còn đối diện với ánh sáng, đó là ánh sáng của cuộc sống tốt đẹp hơn, của những ánh sáng của bóng đèn dầu leo lắt, của hình ảnh của chiếc đèn toa tàu, nó làm sáng rực lên không gian của vùng phố huyện, những cảnh leo lắt, tối tăm đó, nó làm tăng lên sự nghèo đói và khó khăn của những người dân nghèo ở phố huyện, cảnh phố huyện tiêu điều xơ xác với những rác rưởi sau buổi chợ làm cho chúng ta có cảm giác như đang có điều gì đó tăm tối và không có chút sáng sủa.

Không gian nơi phố huyện thật tiêu điều, xơ xác nó làm cho con người có những cảm giác chật hẹp và bị bó chặt vào cùng không gian nơi đây, đó là những cảm giác tăm tối và con người đang phải trải qua những khó khăn và gian nan nhất, cuộc sống của con người bị bó buộc trong không gian vô cùng chật hẹp, nó đã phản ánh được tình trạng đói khổ, và gian nan của con người, con người dường như đang phải chịu những vất vả do cuộc sống gây nên. Chính sự đối lập tương phản nó đã bao trùm lên toàn bộ vùng không gian của nơi phố huyện, đó là những cảnh tối tăm của không gian, của con người, tất cả đang dần chìm vào những gam màu tối, nó đã làm cho cuộc sống của họ không có chút hy vọng nào.

Chính những gam màu chính là gam màu tối nó làm cho tác phẩm ngập tràn trong một vùng không gian với rất nhiều những thứ tồi tệ, đó là cảnh nghèo đói, đó là sự tối tăm của không gian con người, con người đang phải sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, và có chút ánh sáng tiêu điểm, nó cũng đủ để điểm tô thêm những niềm hy vọng mới cho con người, nhưng đó là những điều mà làm cho con người có thêm chút niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn, cuộc sống đang phải tràn ngập và nở rộ những tia hy vọng về một tương lai tươi sáng, ở đó con người có thể sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặc dù ánh sáng nó chỉ là những hình ảnh rất hiếm hoi, leo lắt và tác động nhỏ tới con người, nó không thể bao trùm lên không gian rộng lớn của vùng phố huyện, nhưng nó đủ để tạo nên những niềm tin sâu sắc vào một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Với cách dùng từ một cách tinh tế, tác giả đã thể hiện được tư tưởng và ý nghĩa chủ đạo trong tác phẩm của mình, với những cách miêu tả tinh tế, con người dường như đang lạc vào một thế giới nhiều màu sắc hơn, mặc dù, nhiều chi tiết như: “phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông ra ngõ đều đen sậm lại”. Tất cả cảnh phố huyện đang tràn ngập trong bóng tối, đó là bóng tối của thiên nhiên, và mặt khác nó cũng thể hiện sự khó khăn trong vật chất của con người, con người có thể mong ước điều gì đó mới mẻ và khác lạ hơn sẽ đến trong chính cuộc sống của mình. Ánh sáng mà tác giả thể hiện mặc dù rất yếu ớt đó là ánh sáng của chiếc đèn dầu của chị em nhà Liên và An, nhưng nó đủ để cho con người cảm thấy ấm lòng, hay hình ảnh của toa tàu khi đang đến nó làm cho không gian nơi đây sáng lên rực rỡ trong phút chốc.

Người luôn mong chờ để đón những tia sáng đến vùng đất của mình để họ có thể cảm nhận và hiểu được những điều tinh tế và tốt đẹp nhất cho con người, con người vẫn đang cần mẫn và phải làm những điều tốt nhất cho chính cuộc đời của mình, trong không gian nơi đây con người dường như đã bị cái tối tăm của không gian bao phủ lấy tâm can, và trái tim của họ, chính vì vậy, cái lớn lao nhất mà họ mong đợi đó là có điều gì đó tốt nhất sẽ đến với chính cuộc đời của họ vượt qua được mọi điều để họ có thể có được điều tốt nhất.

Tương phản còn thể hiện giữa cuộc sống của Liên và An trong quá khứ và hiện tại, quá khứ tươi đẹp, sáng sủa, hiện tại tối tăm… Tác dụng của nghệ thuật tương phản mà tác giả thể hiện đem đến cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc về hiện thực nơi đây.

Truyện kết thúc một cách nhẹ nhàng, nhưng đối với người đọc là cả sự băn khoăn, day dứt, xót thương. Hình ảnh ánh sáng và bóng tối cứ thấp thoáng, cứ ám ảnh người đọc: không biết bao giờ ánh sáng, tương lai và hạnh phúc mới đến với Liên – An và những người dân nghèo nơi phố huyện?

Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ

Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến

Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ

Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ

Bài Thơ Tiếng Gà Trưa

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam.

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ

Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quôc Tuấn

Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)

Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ

Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hịch Tướng Sĩ

Đề bài: Em hãy phân tích nghệ thuật tương phản trong truyện ngắn Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam để thấy được tác dụng của chúng.

Hai đứa trẻ là tác phẩm nêu lên hiện thực của một vùng phố huyện nghèo, nơi đó có cuộc sống và những con người đang sống trên cảnh nghèo đói, khổ sở, họ phải chật vật lo cho cuộc sống của mình quanh năm vất vả, với việc buôn ba kiếm từng mảnh cơm… Và để lột tả được những điều đó, tác giả đã thể hiện những biện pháp nghệ thuật tương phản nhằm làm tăng lên giá trị phản ánh trong tác phẩm, những điều đó thể hiện một tư tưởng nghệ thuật cũng như giá trị của tác phẩm mà tác giả đang muốn thể hiện. Tương phản ở đây đó là sự đối lập giữa những phạm trù, và để tăng lên sức chú ý và mức độ ảnh hưởng của nó đến toàn bộ con người và sự vật.

Trong tác phẩm không gian chặt hẹp tối tăm còn đối diện với anh sáng, đó là ánh sáng của cuộc sống tốt đẹp hơn, của những ánh sáng của bóng đèn dầu leo lắt, của hình ảnh của chiếc đèn toa tàu, nó làm sáng rực lên không gian của vùng phố huyện, những cảnh leo lắt, tối tăm đó, nó làm tăng lên sự nghèo đói và khó khăn của những người dân nghèo ở phố huyện, cảnh phố huyện tiêu điều xơ xác với những rác rưởi sau buổi chợ làm cho chúng ta có cảm giác như đang có điều gì đó tăm tối và không có chút sáng sủa.

Không gian nơi phố huyện thật tiêu điều, xơ xác nó làm cho con người có những cảm giác chặt hẹp và bị bó chặt vào cùng không gian nơi đây, đó là những cảm giác tăm tối và con người đang phải trải qua những khó khăn và gian nan nhất, cuộc sống của con người bị bó buộc trong không gian vô cùng chặt hẹp, nó đã phản ánh được tình trạng đói khổ, và gian nan của con người, con người dường như đang phải chịu những vất vả do cuộc sống gây nên. Chính sự đối lập tương phản nó đã bao trùm lên toàn bộ vùng không gian của nơi phố huyện, đó là những cảnh tối tăm của không gian, của con người, tất cả đang dần chìm vào những gam màu tối, nó đã làm cho cuộc sống của họ không có chút hy vọng nào.

Chính những gam màu chính là gam màu tối nó làm cho tác phẩm ngập tràn trong một vùng không gian với rất nhiều những thứ tồi tệ, đó là cảnh nghèo đói, đó là sự tối tăm của không gian con người, con người đang phải sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, và có chút ánh sáng tiêu điểm, nó cũng đủ để điểm tô thêm những niềm hy vọng mới cho con người, nhưng đó là những điều mà làm cho con người có thêm chút niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn, cuộc sống đang phải tràn ngập và nở rộ những tia hy vọng về một tương lai tươi sáng, ở đó con người có thể sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặc dù ánh sáng nó chỉ là những hình ảnh rất hiếm hoi, leo lắt và tác động nhỏ tới con người, nó không thể bao trùm lên không gian rộng lớn của vùng phố huyện, nhưng nó đủ để tạo nên những niềm tin sâu sắc vào một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Với cách dùng từ một cách tinh tế, tác giả đã thể hiện được tư tưởng và ý nghĩa chủ đạo trong tác phẩm của mình, với những cách miêu tả tinh tế, con người dường như đang lạc vào một thế giới nhiều màu sắc hơn, mặc dù, nhiều chi tiết như: ” phố xá thì tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông ra ngõ đều đen sậm lại”. Tất cả cảnh phố huyện đang tràn ngập trong bóng tối, đó là bóng tối của thiên nhiên, và mặt khác nó cũng thể hiện sự khó khăn trong vật chất của con người, con người có thể mong ước điều gì đó mới mẻ và khác lạ hơn sẽ đến trong chính cuộc sống của mình. Ánh sáng mà tác giả thể hiện mặc dù rất yếu ớt đó là ánh sáng của chiếc đèn dầu của chị em nhà Liên và An, nhưng nó đủ để cho con người cảm thấy ấm lòng, hay hình ảnh của toa tàu khi đang đến nó làm cho không gian nơi đây sáng lên rực rỡ trong phút chốc.

Con người luôn mong chờ để đón những tia sáng đến vùng đất của mình để họ có thể cảm nhận và hiểu được những điều tinh tế và tốt đẹp nhất cho con người, con người vẫn đang cần mẫn và phải làm những điều tốt nhất cho chính cuộc đời của mình, trong không gian nơi đây con người dường như đã bị cái tối tăm của không gian bao phủ lấy tâm can, và trái tim của họ, chính vì vậy, cái lớn lao nhất mà họ mong đợi đó là có điều gì đó tốt nhất sẽ đến với chính cuộc đời của họ vượt qua được mọi điều để họ có thể có được điều tốt nhất.

Tương phản còn thể hiện giữa cuộc sống của Liên và An trong quá khứ và hiện tại, quá khứ tươi đẹp, sáng sủa, hiện tại tối tăm… Tác dụng của nghệ thuật tương phản mà tác giả thể hiện đem đến cho người đọc một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc về hiện thực nơi đây.

Bài đã thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Thạch Lam, qua nghệ thuật đối lập tương phản.

Nguồn: Văn mẫu

Phân Tích Tính Nghệ Thuật Trong Hai Đứa Trẻ Của Thạch Lam

Phân Tích Nghệ Thuật Tương Phản Trong Truyện Hai Đứa Trẻ

Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ

Câu Hỏi Tu Từ Trong Thơ Nguyễn Khuyến

Soạn Bài Đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ

Phân Tích Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Câu Thơ Thứ Hai Trong Bài “hồi Hương Ngẫu Thư” Và Nêu Hiệu Quả Của Biện Pháp Nghệ Thuật Ấy

Bài 10. Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê (Hồi Hương Ngẫu Thư)

Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Hồi Hương Ngẫu Thư Của Hạ Tri Chương, Hay, Đ

Bài Thơ Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê

Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, Top 10 , Nckhspud, Skkn, : Trong Câu Văn “cái Lặng Im Lúc Đó Mới Thật Dễ Sợ: Nó Như Bị Chặt Ra Từng Khúc, Mà Gió Thì Giống Những Nhát Chổi Lớn Muốn Quét Đi Tất Cả, Ném Vứt Lung Tung…” Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì? Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó.

Bài Thơ: Ánh Trăng (Nguyễn Duy

Nghệ thuật Bài thơ có cấu tứ ( cách tổ chức ý thơ) độc đáo:

giữa hai câu thơ đầu và hai câu thơ cuối có sự chuyển biến ý thơ bất ngờ mà vẫn hợp lí, tự nhiên. Hai câu thơ đầu nêu hoàn cảnh về quê qua lời kể kết hợp với tả, giọng điệu tự thuật. Hai câu thơ cuối nêu lên một hoàn cảnh đầy kịch tính, cũng qua lời kể kết hợp với tả, lời thơ mang sắc thái đùa vui, hóm hỉnh nhưng bộc lộ nỗi lòng đầy ngậm ngùi, xót xa. Sự ngậm ngùi, xót xa là nền tâm trạng của cả bài. Ý thơ của hai câu thơ đầu đều xây dựng trên nền tâm trạng ấy. Tác giả không trực tiếp bộc lộ tình cảm mà giọng điệu câu thơ mang nỗi niềm tâm trạng. Chính vid vậy mà ý thơ càng kín đáo sâu sắc thì lại càng có sức gợi mạnh mẽ – Nghệ thuật đối được sử dụng linh hoạt có hiệu quả lớn: Ở hai câu thơ đầu đều có phép đối trong một câu thơ ( còn gọi là tiểu đối hoặc tự đối): ” Thiếu tiểu li gia”/ “lão đại hồi”; “Hương âm vô cải”/ “mấn mao tồi”. Nhà thơ không câu nệ việc đối lời (số chữ trong hai vế đối của câu thơ không bằng nhau: 4/3) mà coi trọng sự đối ý. Về phương diện này thì phép đối rất chỉnh : thiếu tiểu đối với lão, li gia đối với đại hồi; hương âm đối với mân mao; vô cải đối với tồi. Bao trùm lên tất cả sự tương phản giữa cái đổi thay (mái tóc) và điều khồn thay đổi (giọng nói quê hương). Tác giả đã lấy hồn quê. Nghệ thuật đối làm nổi bật lên tình cảm quê hương thiết tha, sâu nặng: con người sau hơn nửa thế kỉ xa quê mà giọng quê không đổi thì chứng tỏ chất quê nhà, hồn quê nhà đã thấm vào máu thịt, tình quê hương không lúc nào phai. – Thủ pháp nghệ thuật ” ngụ bi ư hài” (gửi cái bi vào trong cái haig): ở hai câu thơ cuối, hình thứ bên ngoài là lời kể kết hợp với tả, mang giọng điệu đùa vui hóm hỉnh nhưng tận đáy lòng là nỗi ngậm ngùi, xót xa.

Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hồi Hương Ngẫu Thư

Phân Tích Nghệ Thuật Trong Bài Hịch Tướng Sĩ

Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hịch Tướng Sĩ

Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ

Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)

🌟 Home
🌟 Top