Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Bài thơ Quê hương của nhà thơ Tế Hanh thể hiện hình ảnh làng chài ven biển vô cùng sống động, em hãy nêu nghệ thuật và các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ trên.

    Tác giả tác phẩm

    – Tác giả: Tế Hanh có tên khai sinh là Trần Tế Hanh, ông sinh ra ở Quãng Ngãi, trong một làng chài ven biển. Ông tham gia vào phong trào thơ mới ở những chặng cuối. Nhưng chủ yếu là những bài thơ buồn viết về quê hương, đất nước. Ngoài ra ông còn sáng tác phục vụ văn học cách mạng từ sau năm 1945. Với Tế Hanh, thơ ông luôn mang nét giản dị với ngôn từ tự nhiên, giàu hình ảnh. Nhưng lại rất dung dị và đắm thắm.

    Bố cục

    Bài thơ được chia làm 4 phần như sau:

    + Phần 1: 2 câu thơ đầu tiên: Tác giả giới thiệu khái quát về làng quê

    + Phần 2: 6 câu thơ tiếp theo: Đây là cảnh bơi thuyền ra khơi của dân chài để đánh cá

    + Phần 3: 8 câu thơ tiếp theo: Tác giả tả cảnh thuyền đầy cá về bến

    + Phần 4: còn lại: Tác giả bày tỏ nỗi nhớ làng chai, nhớ quê hương của mình

    Giá trị nội dung của bài thơ

    Bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh, là một bài thơ về làng chài vùng biển vô cùng tươi sáng và sinh động. Tác giả đã làm nổi bật được sức sống khỏe khoắn của người dân làng chai. Trong đó là cảnh lao động đầy hứng khởi của người dân nơi đây. Qua đó, tác giả cũng bày tỏ tình yêu quê hương, đất nước của mình.

    Hướng dẫn nghệ thuật trong bài thơ

    Tế Hanh nhà thơ tạo nên bức tranh đầy màu sắc và sinh động về một làng quê ven biển, qua đó cũng là hình ảnh quê hương khỏe khoắn và thể hiện tình cảm của chính tác giả về quê hương vô cùng gần gũi và trong sáng.

    Trong bài thơ Quê hương tác giả đã sử dụng một số các biện pháp tu từ gồm có:

    • Biện pháp so sánh: “Cánh buồm giương to (như) mảnh hồn làng” .Cánh buồm trắng hình ảnh quen thuộc được so sánh như là linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh “Chiếc thuyền nhẹ hăng (như) con tuấn mã” sự so sánh chiếc thuyền như tuấn mã đã giúp người đọc có cảm giác được sự mạnh mẽ của chiếc thuyền vượt qua mọi sóng gió biển cả. Động từ “hăng” được sử dụng thể hiện sự hiên ngang, sức sống mãnh liệt của chiếc thuyền.
    • Biện pháp tu từ nhân hóa: cánh buồm: “rướn thân trắng bao la thâu góp gió” và hình ảnh “Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm”.
    • Sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”.

    Bài thơ quê hương có nhiều yếu tố nghệ thuật cùng với sự sáng tạo trong các hình ảnh thể hiện sự quan sát, cảm nhận vô cùng sắc sảo của nhà thơ về cuộc sống miền biển. Hình ảnh thơ chân thực, gần gũi khiến cho bài thơ thêm phần thi vị, bay bổng.

    Bài thơ Quê hương có sử dụng phương thức miêu tả và biểu cảm, chủ yếu yếu tố miêu tả giúp các yếu tố biểu cảm, trữ tình thêm phần rõ nét. Với sự kết hợp các phương thức miêu tả và biểu cảm, trữ tình giúp bài thơ Quê hương thể hiện được tinh tế và đầy chân thực cuộc sống con người nơi đây.

    Dàn ý phân tích khái quát bài thơ Mở bài

    – Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

    – Khẳng định giá trị của bài thơ

    Thân bài

    – Phân tích cảnh ra khơi của đoàn thuyền:

    + Thời gian “sớm mai hồng” ở đây có sự gợi mở về một niềm tin, hi vọng

    + Không gian “Trời xanh” và “gió nhẹ” thể hiện điềm báo về một chuyến ra khơi đầy may mắn, thuận lợi, hứa hẹn có nhiều cá tôm

    + Hình ảnh so sánh “hăng như con tuấn mã” thể hiện sự mạnh mẽ, dũng mãnh của con thuyền ra khơi

    + Phép nhân hóa kết hợp với các động từ mạnh cho thấy khí thế chủ động ra khơi của con thuyền

    – Phân tích cảnh đoàn thuyền trở về:

    + Không khí: tấp nập ồn ào thể hiện chuyến đi thắng lợi trở về với nhiều cá tôm

    + Hình ảnh những người dân chài :da ngăm, thể hiện sự vạm vỡ, khỏe mạnh của họ

    + Hình ảnh nhân hóa con thuyền “im’, “mệt mỏi” thể hiện sự mệt nhọc của con thuyền như mang hơi thở của con người vậy

    – Tình cảm của nhà thơ:

    + Nỗi nhớ quê hương da diết được thể hiện qua hình ảnh đa sắc màu từ ‘xanh của nước”, “bạc của cá” ” vôi của cánh buồm”, đến mùi vị “mặn mòi của biển”

    + Tất cả thể hiện nỗi nhớ quê hương chân thành tha thiết của tác giả

    Kết bài

    – Khẳng định lại giá trị của bài thơ

    – Liên hệ, mở rộng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Khi Đọc Đoạn Trích Sau Phút Chia Li (Chinh Phụ Ngâ
  • Phân Tích Tác Phẩm Sau Phút Chia Li
  • Bài 7. Sau Phút Chia Li
  • Soạn Bài : Sau Phút Chi Li
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Trong lịch sử văn học dân tộc, áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai. Đó là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Chỉ qua đoạn trích “Nước Đại Việt ta” (Sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 2) ta đã thấy rõ điều đó.

    “Bình Ngô đại cáo” ra đời sau khi Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh tan bè lũ xâm lược nhà Minh. Bài cáo ra đời bố cáo với toàn thiên hạ chiến thắng của dân tộc, khẳng định nền độc lâp tự chủ của nước nhà đồng thời cảnh tỉnh ý thức của binh lính nhà Minh về cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược nước ta.

    Văn bản Nước Đại Việt ta là phần mở đầu của bài cáo. Tuy ngắn gọn nhưng đoạn trích nêu lên những tiền đề cơ bản, làm nổi bật những quan điểm tích cực, có ý nghĩa then chốt đối với nội dung của toàn bài. Những tiền đề đó là chân lí về nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt.

    Văn bản được mở đầu bằng những lời văn đầy nhân nghĩa:

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

    Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là làm cho dân được hưởng thái bình, hạnh phúc. Mà muốn yên dân thì trước hết phải diệt trừ bọn tàn bạo. Người dân mà tác giả nói đến ở đây là những người dân Đại Việt đang phải chịu bao đau khổ dưới ách thống trị của giặc Minh. Như vậy khái niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với lòng yêu nước, gắn liền với quốc gia, dân tộc. Những kẻ bạo ngược mà tác giả nói đến ở đây không phải ai khác, đó chính là bọn giặc Minh nói riêng và bề lũ xâm lược nói chung.

    Đoạn trích được nối tiếp bằng những dòng văn đầy tự hào:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

    Núi sông bờ cỡi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời xây nên độc lập

    Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

    Song hào kiệt đời nào cũng có”

    Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố như: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này, tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.

    Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chạt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Quả đúng như vậy! Người anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nước Việt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:

    Núi sông bờ cõi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc – Nam khác biệt. Ta có nền độc lập vững vàng được xây bằng những trang sử vẻ vang. Hùng cứ cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên ở phương Bắc là các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần ở phương Nam. Hơn thế nữa, bao đời nay:

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

    Song hào kiệt đời nào cũng có

    So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc – bài thơ “Sông núi nước Nam” – thì ở tác phẩm này của Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài Sông núi nước Nam được xác định ở hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài: Nước Đại Việt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.

    Trong phần văn bản “Nước Đại Việt ta”, tác giả sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt ta. Các từ như: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác,… Bên cạnh đó, biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận (tác giả đặt nước ta ngang hàng với Trung Hoa về nhiều phương diện như: trình độ chính trị, văn hoá,…). Đặc biệt, những câu văn biền ngẫu, chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật và chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.

    Với tư cách là phần văn bản mở đầu áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, văn bản “nước Đại Việt ta” đã khẳng định lí tưởng yêu nước, thương dân của những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hơn thế, đoạn trích còn khẳng định vị thế dân tộc trên nhiều phương diện, từ đó thể hiện lòng tự hào dân tộc vô bờ của tác giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Khi Đọc Đoạn Trích Sau Phút Chia Li (Chinh Phụ Ngâ
  • Phân Tích Tác Phẩm Sau Phút Chia Li
  • Bài 7. Sau Phút Chia Li
  • Soạn Bài : Sau Phút Chi Li
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • Phân Tích Nội Dung, Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Bài Thơ Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ
  • Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Thiếu Nhi (Cứ Liệu Lhảo Sát Sgk Tiếng Việt Tiểu Học Sau Năm 2000)
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Của Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Và Làm Rõ Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Bộ Đề Thi Học Kì 1 Lớp 9 Môn Ngữ Văn Năm Học 2022
  • Nguyễn Thiếp (1723-1804) tự là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, người đương thời kính trọng gọi là La Sơn Phu Tử, quê ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay thuộc huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh.

    Nguyễn Thiếp là người “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu”, từng đỗ đạt, làm quan dưới triều Lê nhưng sau đó từ quan về dạy học. chính vì gắn bó với công việc dạy học cho nên Nguyễn Thiếp hiểu ra mục đích thật sự của việc học. Có thể nói bài bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp không chỉ để lại cho những người thời địa ấy những bài học quý giá mà còn để lại cho chúng ta những người thế hệ ngày nay và mai sau.

    Bàn luận về phép học là một phần trong bản tấu của Nguyễn Thiếp gửi cho vua Quang Trung. Trong bài này tác giả của chúng ta đã nêu rõ quan điểm của mình về mục đích thật sự của việc học đó là đạo đức, là tri thức, để góp phần hưng thịnh cho đất nước.

    Mở đầu đoạn trích tác giả nêu lên câu châm ngôn để cho thấy được mục đích chân chính của việc học là gì “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học”. Theo đó chúng ta sẽ đi tìm hiểu hai luận điểm chính là bàn luận về mục đích của việc học và tác dụng của việc học.

    Với mục đích của việc học tác giả đưa ra câu nói trên. Đó là cách so sánh vô cùng hay và hấp dẫn. việc học giống như là mài ngọc thành đồ vật vậy, con người không học thì cũng không thể thành người được. Đó là cả một quá trình dài đầy gian khổ và thách thức nhưng mục đích chính mà việc học đặt ra là để hoàn thiện con người. Sự hoàn thiện đó bao gồm trước hết là đạo đức và sau đó là tri thức. Việc học vốn mang một ý nghĩa cao quý : “Biết rõ đạo”. Tức là học để biết cách làm người, học để sống tốt, cư xử đúng chuẩn mực. “Ngọc không mài, không thành đồ vật”, con người không học hành, tu dưỡng thì chẳng thành được con người có khả năng làm việc tốt, giúp ích cho đời. Dưới thể chế phong kiến theo Nho giáo xưa, học hành, thi cử còn là con đường trực tiếp dẫn đến chốn quan trường, là cơ hội để một đấng nam nhi góp sức mình cho đất nước. như vậy co thể thấy việc học rất quan trọng đặc biệt là trong xã hội phong kiến xưa. Học tập là một quy luật tất yếu trong cuộc sống. Kẻ đi học là học luân thường đạo lí để làm người. Đạo học ngày trước lấy rèn luyện đạo đức làm chính, đó là những cách cư sử trong tam cương ngũ thường ngày xưa.

    Chính vì thế tác giả nhấn mạnh vào việc học là rất cần thiết. Con người mà không học thì giống như ngọc không mai không thành đồ vật và không thể thành người hoàn thiện được. những truyền thống quý báu như Tiên học lễ hậu học văn được kế thừa từ những bàn luận của Nguyễn Thiếp.

    Không chỉ đưa mục đích chân chính cũng như tác dụng thực sự của việc học đối với hưng thịnh đất nước mà Nguyễn Thiếp còn khuyên vua Quang Trung mở hình thức học phổ biến hơn. Làm thế nào để tất cả mọi người đều ý thức được việc học và có thể học ở bất kì đâu : “Thầy trò của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tùy đâu tiện đấy mà đi học”.

    Về trình tự học cũng như ta học chứ vậy, phải đi từ thấp tới cao từ nhỏ tới lớn. phải biết được những chữ cái có tỏng bảng thì mới mong học được thành những chữ ghép vào với nhau “Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm”. Có thể hiểu rằng muốn học rộng thì trước tiên phải học được những cái cơ sở cái nền tảng thì mới có thể mong làm cho kiến thức của mình sâu rộng và giúp ích cho đất nước được. không những thế tác giả chỉ ra việc học và việc hanh phải đi đôi gắn kết với nhau, học trước rồi hành sau không thể bỏ được nếu muốn học thành tài.

    Cuối cùng tác giả khẳng định tác dụng to lớn và lâu dài của việc học đối với mỗi cá nhân và cho toan đất nước. Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người. Xin chớ bỏ qua. Đạo học thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị. Phương pháp học tập tốt sẽ là tiền đề để tạo ra những người có đức có tài giúp cho đất nước hưng thịnh. Người học giỏi mà có đạo đức thì cũng góp phần làm cho đất nước hưng thịnh.

    Như vậy có thể thấy Nguyễn Thiếp đã đem đến cho chúng ta một tầm hiểu biết mới về phép học. Mặc dù là bản tấu nhưng chúng ta cũng thấy được tác giả luôn giữ thái độ chân thành cung kính với vua Quang Trung chứ không phải lên mặt. qua đây chúng ta thấy Nguyễn Thiếp là một vị quân thần không những giỏi có tài mà còn có đức, biết đi trước thời đại bỏ qua những trào lưu học lấy bổng lộc để thấy rõ được những tác dụng chân chính của việc học. Đặc biệt sau bài này chung ta có thể áp dụng vào sự nghiệp học hành ngày nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 3 Khổ Cuối Mùa Xuân Nho Nhỏ (Phân Tích Nghệ Thuật Luôn)
  • Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nhỏ Nhỏ
  • Top 6 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Lớp 9
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Đoạn Trích Kiều Ở Lầu Ngưng Bích
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Có người ví một tác phẩm văn học như con người mà nội dung là thể xác, nghệ thuật là tâm hồn. Nếu quả như vậy thì đoạn thơ:

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    (Tế Hanh – Nhớ con sông quê hương)

    là “con người-thơ” thực sự, kết hợp bởi cả thể xác và tâm hồn. Đoạn thơ in dấu ấn trong người đọc chính vì “tâm hồn” nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng:

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

    Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Lối dùng từ láy và đảo ngữ tạo cho hai câu thơ trên sự nhịp nhàng, uyển chuyển như nhịp đi của cảm xúc tâm trạng tác giả. Hơn thế nữa, lối đảo ngữ đó còn chạm khắc rất rõ nét trước mắt ta, hình ảnh bên con sông. Cảnh sinh động, rộn rã lạ thường:

    …. ríu rít tiếng chim kêu

    …. chập chờn con cá nhảy

    Cuộc sống của chim trên cạn, cá dưới nước được tái hiện linh hoạt, giàu hình ảnh. Từ láy “ríu rít” gợi ra âm thanh trong trẻo, đông vui, “chập chờn” ghi lại hình ảnh từng chú cá nhảy lên rồi lại lặn xuống. Cảnh thật vui tươi, sống động.

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Lối vật hóa kết hợp cùng ẩn dụ một cách hài hòa, nhuần nhị đã diễn đạt khá thành công ý nghĩ về sự thơ ngây, hồn nhiên của tuổi thơ tác giả. Trong hồi ức của ông, ngày đó, ông và bạn bè hết sức vô tư và non dại, cứ ngây thơ như “bầy chim non”. Nghệ thuật đó còn bộc lộ cả tình yêu, thái độ trìu mến của nhà thơ với những kỉ niệm thời niên thiếu. Chỉ một khổ thơ bốn câu nhưng đã nói với chúng ta bao điều về tuổi thơ tác giả. Đó là tuổi thơ hòa mình với tiếng chim trong veo, hót “ríu rít”, gắn với con cá, mặt nước, bạn bè… thật đẹp, thật đáng nhớ, đáng yêu:

    Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

    Sông mở nước ôm tôi vào dạ

    Thật khó tìm được bài thơ nào viết về con sông mà có những hình ảnh tuyệt đẹp, hết sức độc đáo đó. Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ kết hợp nhuần nhuyễn. Từ hình ảnh thực: tác giả ôm nước và tắm giữa lòng sông, nhà thơ đã nâng lên thành hình ảnh đặc sắc, có tầm nghĩa khái quát cao hơn. Đó là con người tác giả và con sông rất gắn bó với nhau, mật thiết như là anh em, máu thịt của nhau. Cả hai đến với nhau cùng nhau giao hòa cộng hưởng, dành cho nhau khoảnh khắc tuyệt diệu nhất của tuổi trẻ. Phải yêu sông lắm, thực sự gắn bó với sông, Tế Hanh mới có được kỉ niệm, và lưu giữ được những kỉ niệm đó, gửi gắm được vào những dòng thơ tuyệt vời, giàu hình ảnh đến như vậy.

    Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

    Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    Từ “kẻ” được lặp đi lặp lại đến hai lần, nó vừa có ý nghĩa nhấn mạnh về sự chia xa, tản mát của bạn bè, vừa ẩn chứa sự tiếc nuối vô hạn của tác giả vì kỉniệm tuổi thơ nay đành gác lại, trả về thời gian, dĩ vãng.

    Khi so sánh “lòng tôi như mưa nguồn gió biển” hẳn nỗi nhớ trong lòng tác giả đang cuộn lên dâng tràn dào dạt. Hình ảnh ấy giúp ta “thấy” được nỗi nhớvốn vô hình vô ảnh, giúp ta nắm bắt được tâm trạng, nỗi lòng nhớ nhung của tác giả khi nghĩ về dòng sông ở quê hương.

    Đoạn thơ có cái gì như ngậm ngùi, chua xót, nuối tiếc những kỉ niệm ấu thơ. Không buồn sao được khi chuỗi ngày tươi đẹp gắn liền với dòng sông quê hương giờ không thể nào, không bao giờ có lại được. Tác giả tiếc như tự mình đánh mất một cái gì vô cùng quý giá, vô giá. Kỉ niệm với bao khoảnh khắc “khi bờ tre…”, “khi mặt nước…”, điệp từ “khi” chỉ ra bao khoảng thời gian giờ đành im lặng nghẹn ngào.

    Đoạn thơ trên, với nghệ thuật đa dạng, phong phú đã ghi lại tấm lòng “nhớ con sông quê hương” của tác giả, và đó cũng đồng thời là nỗi nhớ, tình yêu nước thiết tha, sâu nặng của tác giả, người con đất Việt.

    Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

    ở đây là đặc tả vào bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Con thuyền được so sánh như con tuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Bên cạnh đó, những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng. Vượt lên gió. Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùng tráng:

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

    Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xómTế Hanh mới có thể viết được như vậy.Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao và thiên nhiên.Cánh buồm trắng được nhân hóa thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt đẹp.Có lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh trong thơ trên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật.

    Đối với văn chương thì đề tài về quê hương luôn là đề tài được các tác giả khai thác rất nhiều. Mỗi một tác giả lại có cách nhìn khác đối với đề tài này. Những tác giả thành công khi viết về quê hương có Tế Hanh, Đỗ Trung Quân, Giang Nam. Và ở đó, ta thấy sự nhẹ nhàng, chân thật của bài thơ Quê hương được viết bởi Tế Hanh khiến ta cảm thấy rung động, xao xuyến về nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người.

    Hai tiếng ” quê hương” thật thân thương mà gần gũi, tác giả đã dùng để làm nhan đề của bài thơ. Hai câu thơ mở đầu bài thơ mang đến cảm xúc mộc mạc, chân thành:

    Làng tôi vốn làm nghề chài lưới

    Nước bao vây cách biến nửa ngày sông.

    Đọc hai câu thơ, ta cảm thấy đây như một lời tâm tình rất đỗi bình dị, nhưng cũng đủ để chúng ta hình dung được nơi tác giả đang sống là vùng biển, nơi người dân làm nghề chài lưới. Những hình ảnh giản dị, nước, biển, đặc trưng của làng quê chài lưới khiến cho tác giả mỗi khi xa quê hương đều mong nhớ về.

    Tiếp theo, những câu thư gợi lên một khung cảnh tuyệt đẹp ở vùng biển mỗi sớm mai thức dậy. Sự tinh tế của từng câu chữ khiến cho vần thơ trở nên tuyệt đẹp:

    Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

    Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

    Những từ ngữ giàu tính liệt kê không gian thanh bình của biển cả vào buổi sáng sớm như gió nhẹ, sớm mai hồng…có lẽ chính là những điều còn lưu giữ lại trong tâm trí tác giả về quê hương nơi minh sinh ra. Và ở đó, hoạt động vẫn diễn ra thường xuyên vào mỗi buổi sáng chính là ” bơi thuyền đi đánh cá” đã được tác giả miêu tả rất mạnh mẽ và khỏe khoắn.

    Chiếc thuyền hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.

    So với những câu thơ ở trên, hai câu thơ này trơ nên mạnh mẽ, quyết liệt hơn hẳn. Tác giả sử dụng động từ hăng, phăng, cùng phép so sánh độc đáo khiến cho khung cảnh đoàn trai tráng đi đánh cá trở nên giàu đường nét và cá tính. Động từ phăng đã gợi lên sự khéo léo, tinh tế nhưng mạnh mẽ của những chàng trai vùng biển.

    Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

    Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

    Đến hai câu thơ này, nhịp thơ lại trở nên nhẹ nhàng hơn. Hình ảnh cánh buồm trở nên đậm chất thơ và mang một hồn thơ lãng mạn. Tế Hanh dùng phép so sánh cánh buồm như mảnh hồn làng có sức gợi tả rất sâu sắc. Bởi có lẽ cánh buồm chính là biểu tượng cho cuộc sống của những người làm nghề chài lưới. Sự so sánh tưởng như hữu hình nhưng vô tình lại làm nên một sự sáng tạo nghệ thuật vô cùng đặc sắc. Cánh buồm cùng những con thuyền đã mang lại cả tình yêu, hạnh phúc cũng như hi vọng về cuộc sống của người dân.

    Tiếp đến, khung cảnh người dân trở về và chào đón những thành quả lao động sau những giờ làm việc vất vả được tác giả miêu tả chân thực và đầy niềm vui tươi:

    Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

    Nhờ ơn giời biển lặng cá đầy ghe

    Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

    Không khí vui tươi, hứng khởi được tái hiện qua hình ảnh dân làng ồn ào tấp nập. Nhưng con cá tươi ngon nằm im lìm là những gì mà họ đã đạt được sau một ngày lao động miệt mài hết công suất. Và trong khung cảnh đó, không thể thiếu được hình ảnh những người dân lao động khỏe khoắn:

    Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

    Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

    Những con người mạnh mẽ, đậm chất biển, khỏe khoắn nhưng cũng rất chân chất, mộc mạc, đúng chất những con người vùng biển chài lưới quanh năm vất vả. Và những hình ảnh, con người ấy chính là những điều khiến tác giả không thể nào quên, dù có đi nơi đâu vẫn cứ nhớ về quê hương:

    Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

    Màu nước xanh cá bạc chiếc buồm vôi

    Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

    Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.

    Khổ thơ này khiến cho người đọc cảm nhận sự nghẹn ngào, dạt dào tình cảm của tác giả khi nhớ về quê hương yêu dấu, nơi ông đã sinh ra và lớn lên. Dù ở bất cứ nơi đâu thì những hình ảnh ấy vẫn cứ hiện lên không thể xóa mờ.

    Có thể nói, bài thơ Quê Hương của tác giả Tế Hanh không chỉ là tấm lòng của riêng tác giả, mà cũng chính là cảm xúc của những người con khi xa quê hương, đều sẽ nhớ về nơi mà chúng ta đã sinh ra, và dành cho nơi đó một thứ tình cảm thiêng liêng, trân trọng nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Khi Đọc Đoạn Trích Sau Phút Chia Li (Chinh Phụ Ngâ
  • Phân Tích Tác Phẩm Sau Phút Chia Li
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Bài thơ: Quê hương (Tế Hanh)

    Nội dung bài thơ Quê hương

    I. Đôi nét về tác giả Tế Hanh

    – Tế Hanh (1921- 2009), tên khai sinh là Trần Tế Hanh

    – Quê quán: sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi

    – Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

    + Ông có mặt trong phong trào thơ Mới ở chặng cuối với những bài thơ mang nỗi buồn và tình yêu quê hương

    + Sau năm 1945, Tế Hanh sáng tác phục vụ cách mạng và kháng chiến

    + Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

    – Phong cách sáng tác: thơ ông chân thực với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh, bình dị mà tha thiết

    II. Đôi nét về bài thơ Quê hương

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ viết năm 1939, khi Tế Hanh đang học tại Huế trong nỗi nhớ quê hương-một làng chài ven biển tha thiết. Bài thơ được rút trong tập Nghẹn ngào (1939) và sau đó được in trong tập Hoa niên (1945)

    2. Bố cục

    – 2 câu đầu: Giới thiệu chung về làng quê.

    – 6 câu tiếp: Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi đánh cá

    – 8 câu tiếp: Cảnh thuyền cá về bến.

    – 4 câu tiếp: Nỗi nhớ làng chài, nhớ quê hương

    3. Nội dung

    – Bài thơ đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển. Trong đó nổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và cảnh sinh hoạt lao động chài lưới. Qua đó cho thấy thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.

    4. Nghệ thuật

    – Ngôn ngữ bình dị mà gợi cảm, giọng thơ khỏe khoắn hào hùng

    – Hình ảnh thơ phong phú, giàu ý nghĩa

    – Nhiềuphép tu từ được sử dụng đạt hiệu quả nghệ thuật

    III. Dàn ý phân tích bài thơ Quê hương

    I/ Mở bài

    – Nỗi niềm buồn nhớ quê hương là nỗi niềm chung của bất kì người xa quê nào, và một nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới như Tế Hanh cũng không phải là ngoại lệ

    – Bằng cảm xúc chân thành giản dị với quê hương miền biển của mình, ông đã viết nên “Quê hương” đi vào lòng người đọc

    II/ Thân bài

    1. Hình ảnh quê hương trong nỗi nhớ của tác giả

    – “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới”: Cách gọi giản dị mà đầy thương yêu, giới thiệu về một miền quê ven biển với nghề chính là chài lưới

    – Vị trí của làng chài: cách biển nửa ngày sông

    ⇒ Cách giới thiệu tự nhiên nhưng cụ thể về một làng chài ven biển

    2. Bức tranh lao động của làng chài

    a. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

    – Không gian “trời xanh”, “gió nhẹ”

    ⇒ Người dân chài đi đánh cá trong buổi sáng đẹp trời, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thắng lợi

    – Hình ảnh chiếc thuyền “hăng như con tuấn mã”: phép so sánh thể hiện sự dũng mãnh của con thuyền khi lướt sóng ra khơi, sự hồ hởi, tư thế tráng sĩ của trai làng biển

    – “Cánh buồn như mảnh hồn làng”: hồn quê hương cụ thể gần gũi, đó là biểu tượng của làng chài quê hương

    – Phép nhân hóa “rướn thân trắng” kết hợp với các động từ mạnh: con thuyền từ tư thế bị động thành chủ động

    ⇒ Nghệ thuật ẩn dụ: cánh buồm chính là linh hồn của làng chài

    ⇒ Cảnh tượng lao động hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống

    b. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về

    – Không khí trở về:

    + Trên biển ồn ào

    + Dân làng tấp nập

    ⇒ Thể hiện không khí tưng bừng rộn rã vì đánh được nhiều cá

    ⇒ Lòng biết ơn đối với biển cả cho người dân chài nhiều cá tôm

    – Hình ảnh người dân chài:

    ⇒ Bức tranh sinh động về một làng chài đầy ắp niềm vui, gợi tả một cuộc sống bình yên, no ấm

    3. Nỗi nhớ quê hương da diết

    – Nỗi nhớ quê hương thiết tha của tác giả được bộc lộ rõ nét:

    + Màu xanh của nước

    + Màu bạc của cá

    + Màu vôi của cánh buồm

    + Hình ảnh con thuyền

    + Mùi mặn mòi của biển

    ⇒ Những hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng

    ⇒ Nỗi nhớ quê hương chân thành da diết và sự gắn bó sâu nặng với quê hương

    III/ Kết bài

    – Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

    – Bài học về lòng yêu quê hương, đất nước

    Loạt bài Tác giả – Tác phẩm gồm đầy đủ các bài Giới tiệu về tác giả, nội dung tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, dàn ý phân tích tác phẩm giúp bạn yêu thích môn Ngữ Văn 8 hơn.

    tac-gia-tac-pham-lop-8.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Khi Đọc Đoạn Trích Sau Phút Chia Li (Chinh Phụ Ngâ
  • Phân Tích Tác Phẩm Sau Phút Chia Li
  • Bài 7. Sau Phút Chia Li
  • Cảm Nhận Về Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ: Việt Nam Quê Hương Ta (Nguyễn Đình Thi)
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta
  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Tuần 22. Rừng Xà Nu
  • Văn Mẫu Lớp 8 Tập 2: Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ.
  • Thời điểm đoàn thuyền ra khơi là một bình minh lí tưởng: “trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng”. Bầu trời trong sáng, không một gợn mây, gió nhè nhẹ thổi, ánh hồng bình minh phớt hồng chân trời. Khung cảnh ấy dự báo một chuyến ra khơi gặp trời êm biển lặng. Những chiếc thuyền buồm là biểu tượng cho sức mạnh và khí thế ra khơi đánh cá của đoàn trai tráng làng chài:

    “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo vội vã vượt trường giang”.

    “Hăng” nghĩa là hăng hái, hăng say gợi tả khí thế ra khơi vô cùng mạnh mẽ, phấn chấn. Con thuyền được so sánh “hăng như con tuấn mã” là một so sánh độc đáo. Tuấn mã là ngựa tơ, ngựa khỏe, ngựa đẹp và phi nhanh. Những con thuyền lướt sóng như đoàn tuấn mã phi như bay với khí thế hăng say, với tốc độ phi thường. Những chiếc mái chèo từ cánh tay của “dân trai tráng” như những lưỡi kiếm dài, to lớn chém xuống, “phăng” xuống mặt nước, đẩy con thuyền vượt trường giang một cách “vội vã”, “mạnh mẽ”. Trước đây, nhà thơ viết: “Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang”, nhưng sau này, tác giả thay chữ “mạnh mẽ” bằng chữ “vội vã”. Có lẽ vừa diễn tả một chuyến ra khơi hối hả, khẩn trương, vừa để hiệp vần: tiếng “vã” vần với tiếng “mã” làm cho vần thơ giàu âm điệu gợi cảm. Hình ảnh thứ ba là cánh buồm. Cánh buồm nâu dãi dầu mưa nắng, sương gió biển khơi nên đã trắng bạc, thành “chiếc buồm vôi”:

    “Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp giỏ”.

    “Trương” là “giương” lên cao to, được gió thổi căng phồng đê “bao la thâu góp gio”. Lần thứ hai, Tế Hanh sáng tạo nên một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp: “Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng”. Cánh buồm tượng trưng cho sức mạnh và khát vọng ra khơi đánh cá, chinh phục biển để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Cánh buồm – mảnh hồn làng – ấy còn là niềm hi vọng to lớn của làng chài quê hương. Chữ “rướn” là từ gợi tả, đặc sắc. Con thuyền, cánh buồm như ưỡn ngực ra, hướng vẻ phía trước, xốc tới với sức mạnh to lớn, với khí thế hăm hở phi thường, vượt qua mọi trở lực, khó khăn.

    Bốn câu thơ tiếp theo ghi lại không khí làng chài đón đoàn thuyên đánh cá trở về:

    “Ngày hôm sau, ồn ào, trên bến đỗ

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

    Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe,

    Những con cá tươi ngon, thân bạc trắng”.

    Sau một ngày đêm ra khơi đánh cá, đoàn thuyền đã trở về bến. Cả làng chài, hàng trăm người, già trẻ, gái trai, những ông bố bà mẹ, những người vợ đứa con… ra bến đợi từ sáng sớm. Đông vui “tấp nập” và “ồn ào”. Có niềm vui sướng nào to lớn hơn? “Cá tươi ngon, thân bạc trắng” đầy ắp các khoang thuyền. Câu thơ “Nhờ ơn trời, biến lặng, cá đầy ghe” đã thể hiện một cách cảm động nỗi niềm, tâm trạng, tấm lòng của bà con làng chài: sống gắn bó với biển khơi, tin vào trời đất một cách thánh thiện. “Nhờ ơn trời” nên ra khơi gặp nhiều may mắn: biển lặng, sóng êm, gặp luồng cá đánh bắt được nhiều, “cá đầy ghe”. Làm ruộng, đánh cá, hay đi rừng, đi biển,… qua hàng nghìn năm, sống gắn bó với thời tiết, với thiên nhiên, cho nên “ơn trời mưa nắng phải thì…”, “Nhờ trời hạ kế sang đông…”, “Trời cho chân cứng đá mềm”, v.v… là lời cầu mong, là niềm tin thánh thiện, phác thực của bà con lao động xưa nay. Tế Hanh đã diễn tả niềm tin ấy, lời cầu mong chúc phúc ấy một cách giản dị chân thành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 2. Cho Câu Thơ: “khi Trời Trong, Gió Nhẹ, Sớm Mai Hồng”.. 1. Chép Chính Xác Những Câu Thơ Còn Lại Để Hoản Thành Khổ Thơ Thứ 2 Bài “quê Hương” Của Tế Ha
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Bài 7. Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời Câu Hỏi Sau: “quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng Quê Hương Là Con Đò Nhỏ Êm Đềm Khua Nước Ven Sông” (Quê
  • 1 Chỉ Ra Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Được Và Nêu Tác Dụngcuar Chúng Trong Vd Sau: A Quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng ( Đỗ Trung Quân) B Qu
  • Phân Tích Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Câu Thơ Thứ Hai Trong Bài “hồi Hương Ngẫu Thư” Và Nêu Hiệu Quả Của Biện Pháp Nghệ Thuật Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 10. Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê (Hồi Hương Ngẫu Thư)
  • Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Hồi Hương Ngẫu Thư Của Hạ Tri Chương, Hay, Đ
  • Bài Thơ Ngẫu Nhiên Viết Nhân Buổi Mới Về Quê
  • Mmo, Crypto, Coin, Token, Stock, Top 10 , Nckhspud, Skkn, : Trong Câu Văn “cái Lặng Im Lúc Đó Mới Thật Dễ Sợ: Nó Như Bị Chặt Ra Từng Khúc, Mà Gió Thì Giống Những Nhát Chổi Lớn Muốn Quét Đi Tất Cả, Ném Vứt Lung Tung…” Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Gì? Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó.
  • Bài Thơ: Ánh Trăng (Nguyễn Duy
  • Nghệ thuật Bài thơ có cấu tứ ( cách tổ chức ý thơ) độc đáo:

    giữa hai câu thơ đầu và hai câu thơ cuối có sự chuyển biến ý thơ bất ngờ mà vẫn hợp lí, tự nhiên. Hai câu thơ đầu nêu hoàn cảnh về quê qua lời kể kết hợp với tả, giọng điệu tự thuật. Hai câu thơ cuối nêu lên một hoàn cảnh đầy kịch tính, cũng qua lời kể kết hợp với tả, lời thơ mang sắc thái đùa vui, hóm hỉnh nhưng bộc lộ nỗi lòng đầy ngậm ngùi, xót xa. Sự ngậm ngùi, xót xa là nền tâm trạng của cả bài. Ý thơ của hai câu thơ đầu đều xây dựng trên nền tâm trạng ấy. Tác giả không trực tiếp bộc lộ tình cảm mà giọng điệu câu thơ mang nỗi niềm tâm trạng. Chính vid vậy mà ý thơ càng kín đáo sâu sắc thì lại càng có sức gợi mạnh mẽ – Nghệ thuật đối được sử dụng linh hoạt có hiệu quả lớn: Ở hai câu thơ đầu đều có phép đối trong một câu thơ ( còn gọi là tiểu đối hoặc tự đối): ” Thiếu tiểu li gia”/ “lão đại hồi”; “Hương âm vô cải”/ “mấn mao tồi”. Nhà thơ không câu nệ việc đối lời (số chữ trong hai vế đối của câu thơ không bằng nhau: 4/3) mà coi trọng sự đối ý. Về phương diện này thì phép đối rất chỉnh : thiếu tiểu đối với lão, li gia đối với đại hồi; hương âm đối với mân mao; vô cải đối với tồi. Bao trùm lên tất cả sự tương phản giữa cái đổi thay (mái tóc) và điều khồn thay đổi (giọng nói quê hương). Tác giả đã lấy hồn quê. Nghệ thuật đối làm nổi bật lên tình cảm quê hương thiết tha, sâu nặng: con người sau hơn nửa thế kỉ xa quê mà giọng quê không đổi thì chứng tỏ chất quê nhà, hồn quê nhà đã thấm vào máu thịt, tình quê hương không lúc nào phai. – Thủ pháp nghệ thuật ” ngụ bi ư hài” (gửi cái bi vào trong cái haig): ở hai câu thơ cuối, hình thứ bên ngoài là lời kể kết hợp với tả, mang giọng điệu đùa vui hóm hỉnh nhưng tận đáy lòng là nỗi ngậm ngùi, xót xa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hồi Hương Ngẫu Thư
  • Phân Tích Nghệ Thuật Trong Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Hịch Tướng Sĩ (Trần Quốc Tuấn)
  • Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Hãy phân tích những đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ ở đoạn thơ sau:

    “Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

    Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Tôi dang tay ôm nước vào lòng

    Sông mở nước ôm tôi vào dạ

    Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

    Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

    Kể cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông…”

    (Tế Hanh – Nhớ con sông quê hương)

    Bài văn hay phân tích Những đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ trong Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh

    Có người ví một tác phẩm văn học như con người mà nội dung là thể xác, nghệ thuật là tâm hồn. Nếu quả như vậy thì đoạn thơ:

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    …….

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    (Tế Hanh – Nhớ con sông quê hương)

    là “con người-thơ” thực sự, kết hợp bởi cả thể xác và tâm hồn. Đoạn thơ in dấu ấn trong người đọc chính vì “tâm hồn” nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng:

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

    Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Lối dùng từ láy và đảo ngữ tạo cho hai câu thơ trên sự nhịp nhàng, uyển chuyển như nhịp đi của cảm xúc tâm trạng tác giả. Hơn thế nữa, lối đảo ngữ đó còn chạm khắc rất rõ nét trước mắt ta, hình ảnh bên con sông. Cảnh sinh động, rộn rã lạ thường:

    …. ríu rít tiếng chim kêu

    …. chập chờn con cá nhảy

    Cuộc sống của chim trên cạn, cá dưới nước được tái hiện linh hoạt, giàu hình ảnh. Từ láy “ríu rít” gợi ra âm thanh trong trẻo, đông vui, “chập chờn” ghi lại hình ảnh từng chú cá nhảy lên rồi lại lặn xuống. Cảnh thật vui tươi, sống động.

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Lối vật hóa kết hợp cùng ẩn dụ một cách hài hòa, nhuần nhị đã diễn đạt khá thành công ý nghĩ về sự thơ ngây, hồn nhiên của tuổi thơ tác giả. Trong hồi ức của ông, ngày đó, ông và bạn bè hết sức vô tư và non dại, cứ ngây thơ như “bầy chim non”. Nghệ thuật đó còn bộc lộ cả tình yêu, thái độ trìu mến của nhà thơ với những kỉ niệm thời niên thiếu. Chỉ một khổ thơ bốn câu nhưng đã nói với chúng ta bao điều về tuổi thơ tác giả. Đó là tuổi thơ hòa mình với tiếng chim trong veo, hót “ríu rít”, gắn với con cá, mặt nước, bạn bè… thật đẹp, thật đáng nhớ, đáng yêu:

    Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

    Sông mở nước ôm tôi vào dạ

    Thật khó tìm được bài thơ nào viết về con sông mà có những hình ảnh tuyệt đẹp, hết sức độc đáo đó. Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ kết hợp nhuần nhuyễn. Từ hình ảnh thực: tác giả ôm nước và tắm giữa lòng sông, nhà thơ đã nâng lên thành hình ảnh đặc sắc, có tầm nghĩa khái quát cao hơn. Đó là con người tác giả và con sông rất gắn bó với nhau, mật thiết như là anh em, máu thịt của nhau. Cả hai đến với nhau cùng nhau giao hòa cộng hưởng, dành cho nhau khoảnh khắc tuyệt diệu nhất của tuổi trẻ. Phải yêu sông lắm, thực sự gắn bó với sông, Tế Hanh mới có được kỉ niệm, và lưu giữ được những kỉ niệm đó, gửi gắm được vào những dòng thơ tuyệt vời, giàu hình ảnh đến như vậy.

    Đoạn thơ khép lại:

    Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

    Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    Từ “kẻ” được lặp đi lặp lại đến hai lần, nó vừa có ý nghĩa nhấn mạnh về sự chia xa, tản mát của bạn bè, vừa ẩn chứa sự tiếc nuối vô hạn của tác giả vì kỉniệm tuổi thơ nay đành gác lại, trả về thời gian, dĩ vãng.

    Khi so sánh “lòng tôi như mưa nguồn gió biển” hẳn nỗi nhớ trong lòng tác giả đang cuộn lên dâng tràn dào dạt. Hình ảnh ấy giúp ta “thấy” được nỗi nhớvốn vô hình vô ảnh, giúp ta nắm bắt được tâm trạng, nỗi lòng nhớ nhung của tác giả khi nghĩ về dòng sông ở quê hương.

    Đoạn thơ có cái gì như ngậm ngùi, chua xót, nuối tiếc những kỉ niệm ấu thơ. Không buồn sao được khi chuỗi ngày tươi đẹp gắn liền với dòng sông quê hương giờ không thể nào, không bao giờ có lại được. Tác giả tiếc như tự mình đánh mất một cái gì vô cùng quý giá, vô giá. Kỉ niệm với bao khoảnh khắc “khi bờ tre…”, “khi mặt nước…”, điệp từ “khi” chỉ ra bao khoảng thời gian giờ đành im lặng nghẹn ngào.

    Đoạn thơ trên, với nghệ thuật đa dạng, phong phú đã ghi lại tấm lòng “nhớ con sông quê hương” của tác giả, và đó cũng đồng thời là nỗi nhớ, tình yêu nước thiết tha, sâu nặng của tác giả, người con đất Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 11: Thương Vợ
  • Biện Pháp Nghệ Thuật, Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Vội Vàng
  • Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng (Bài Viết Số 2, Sgk Ngữ Văn Nâng Cao, Tập 1)
  • Các Phép Tu Từ Trong Tiếng Anh
  • Bài Thơ: Việt Nam Quê Hương Ta (Nguyễn Đình Thi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta
  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Tuần 22. Rừng Xà Nu
  • Văn Mẫu Lớp 8 Tập 2: Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ.
  • Bằng Đoạn Văn Diễn Dịch (Khoảng 12 Câu) Nêu Hiệu Quả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng
  • Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ và là một nhà văn hoá lớn. Nói như nhà văn Kim Lân, đó là người mà cái tài thì đàn ông ghen, cái tình thi đàn bà ghen. Một người như thế, sống được, kể cũng vất vả.

    Nguyễn Đình Thi là người đa tài. Ông viết văn, soạn kịch, làm thơ, viết nhạc, làm lý luận. Ở lĩnh vực nào, ông cũng có thành tựu, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của từng thể loại đó. Nhưng cũng bởi sự đa tài này mà rồi chính ông lại tự che khuất ông. Khi cần ngắm ông ở thể loại này, lại thấy ông lấp lánh sáng ở thể loại khác. Cũng vì thế, có nhà phê bình nghiên cứu, chẳng biết xếp ông vào đâu. Ở thể loại nào, ông cũng có đóng góp, nhưng rồi ngay trong chính thể loại ấy, người ta cũng thấy ông khiêm nhường đứng khuất sau những bóng dáng khác.

    Riêng ở lĩnh vực văn chương, ông là một thái cực của Nguyễn Tuân và Tô Hoài. Trong lúc Nguyễn Tuân gò lưng luyện chữ, sáng tạo chữ, muốn đưa ra những con chữ tưởng như hoàn toàn mới, thì Nguyễn Đình Thi lại cố gắng xoá hết những chữ mới đi, để trang văn phẳng lỳ, không còn cợn lên một chữ nào nữa. Bởi thế ông thường chọn những chữ mòn nhẵn, bạc phếch, mang tính khái niệm, những con chữ mà các thi sĩ khác vứt bỏ, vì sợ không dám dùng, nó như những thửa ruộng bạc màu, hoang hoá, không có dấu hiệu hứa hẹn mùa màng. Nguyễn Đình Thi lại chọn chất liệu ấy để tạo dựng tác phẩm. Ông muốn bạn đọc đến với ông một cách tự nhiên thoải mái. Chân cứ thung thăng bước mà không sợ bị vướng vào câu, tay cứ tự do vung mà không ngại bị va phải chữ, để đến nhanh hơn cái đích mà ông muốn gửi gắm, chuyển tải. Mọi cố gắng của Nguyễn Đình Thi là để làm một nhà văn không có chữ. Đây dường như là một chủ định của ông. Một người nước ngoài, học tiếng Việt, chỉ cần biết dăm, bảy trăm tiếng là đã có thể đọc được toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Thi. Cái hay của thơ Nguyễn Đình Thi không nằm ở chữ. Nó là cái hồn phảng phất ở đằng sau những con chữ bạc phếch kia. Bởi thế phân tích thơ ông mà lại mang câu, chữ ra mổ xẻ là một việc làm không phải. Ông bộc lộ tài năng mình rực sáng hơn cả là ở trong thơ ca. Tuy vậy, thành tựu của thơ ông lại không nằm ở thể lục bát.

    Nguồn: Chân dung và Đối thoại, Trần Đăng Khoa, NXB Thanh Niên, 1999

    Все пройдет и печаль и радость

    Все пройдет так устроен свет

    Все пройдет только верить надо

    Что любовь не проходит нет ..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Quê Hương
  • Bài 2. Cho Câu Thơ: “khi Trời Trong, Gió Nhẹ, Sớm Mai Hồng”.. 1. Chép Chính Xác Những Câu Thơ Còn Lại Để Hoản Thành Khổ Thơ Thứ 2 Bài “quê Hương” Của Tế Ha
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Bài 7. Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời Câu Hỏi Sau: “quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng Quê Hương Là Con Đò Nhỏ Êm Đềm Khua Nước Ven Sông” (Quê
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Đỗ Trung Quân

    --- Bài mới hơn ---

  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một
  • Bài Thơ Của Đỗ Trung Quân Có Đoạn: Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một …. Sẽ Không Lớn Nổi Thành Người. Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Của Những Câu Thơ Trên Và Nêu Vai Trò Tác Dụng Của Tình Quê Hương Đất Nước Với Cuộc Sống Tâm Hồn Của Mỗi Con Người. (Dàn Bài&
  • Đoạn Thơ: ‘rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo … Tre Xanh Không Đứng Khuất Mình Bóng Râm”, Tác Giả Đã Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật Nào?
  • Đề 1: Câu 1: “rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo Tre Bao Nhiêu Rễ Bấy Nhiêu Cần Cù Vươn Mình Trong Gió Tre Đu
  • Cảm Nghĩ Về Đoạn Thơ Rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo
  • Nhà thơ Đỗ Trung Quân sinh ngày 19 tháng 1 năm 1955 là một nhà thơ Việt Nam. Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và được nhiều người yêu thích như Quê hương, Phượng hồng
  • Năm 1979, ông tham gia phong trào Thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Một số bài thơ do ông sáng tác trở thành nổi tiếng như (1978).
    • Bài thơ được đăng lần đầu vào năm 1986 với tên gọi là Bài học đầu cho con.
    • Vào đầu thập niên 1990, bài thơ này được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng, được rất nhiều người yêu mến.

    Bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân – tác giả và tác phẩm

    “Quê hương là gì hả mẹ Mà cô giáo dạy hãy yêu? Quê hương là gì hả mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều?”

    Trước khi phân tích về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, chúng ta cùng tìm hiểu về những thông tin cơ bản về tác giả và tác phẩm.

    Phân tích bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    Để hiểu hơn về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, chúng ta cùng tìm hiểu, phân tích và cảm nhận qua từng khổ thơ.

    Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học con về rợp bướm vàng bay”

    Những vần thơ giản dị nhẹ nhàng cất nghe sao nghe quá đỗi thân thương. Một câu hỏi yêu của một cháu nhỏ mà nặng lòng đến thế. Quê hương là gì? Là những nỗi nhớ mong, là những điều giản dị mà ai đi xa cũng nhớ nhiều. Hai câu hỏi tu từ kết thúc câu sao nhẹ nhàng thắm thiết như chính những lời bỏ ngỏ cho những vần thơ sau.

    “Quê hương là chùm khế ngọt” – chùm khế ngọt nhỏ bé, ngọt mát, êm dịu, một thứ quà quê thanh đạm, bình dị, quá đỗi bình dị mà sao day dứt và ám ảnh ? Có lẽ vị ngọt thanh của khế làm mát dịu lòng ta, trái khế ngọt mang hương vị của ca dao cổ tích, dư vị thắm thiết của tình nghĩa con người.

    Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ Êm đềm khua nước ven sông”

    Đấy là quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ta sinh ra và lớn lên, nơi những người thân yêu của ta ở đó, nơi ta đã đi qua thời thơ dại với con đường đến trường rợp bướm vàng bay.

    “Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Là hương hoa đồng cỏ nội Bay trong giấc ngủ đêm hè”

    Hình ảnh con bướm vàng cũng là một hình ảnh thực và đặc sắc của làng quê mà ở thành phố không bao giờ thấy được. Nhà thơ Giang Nam nhớ về tuổi thơ “Có những ngày trốn học đuổi bướm cạnh cầu ao – Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc”, nhà thơ Huy Cận nhớ “Một buổi trưa không biết ở thời nào – Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao – Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ”.

    “Quê hương là vàng hoa bí Là hồng tím giậu mồng tơi Là đỏ đôi bờ dâm bụt Màu hoa sen trắng tinh khôi Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ…..”

    Và nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa viết bài thơ đầu tiên của mình là bài Con bướm vàng. Ở bài thơ Quê hương nêu trên, hình ảnh con đường đi học “rợp bướm vàng bay” đẹp như một giấc mơ, đẹp như trong truyện cổ tích vậy.

    Quê hương xuất hiện với định nghĩa bình dị như con diều biếc chao nghiêng trên bầu trời tuổi thơ. Quê hương còn là những cánh đồng bát ngát hương lúa, là con đò nhỏ khua nước bên dòng sông thơ mộng. Những hình ảnh được nhà thơ sử dụng thật bình dị mà vô cùng tinh tế.

    Hình ảnh quê hương đẹp đẽ, lung linh, trọn vẹn và thiêng liêng qua những kỉ niệm bình dị và ngọt ngào với cầu tre nhỏ, với nón lá mẹ đội, với hoa cỏ đồng nội và với những giấc ngủ đêm hè.

    Những điều thân thuộc, những kỉ niệm dung di và những ký ức giản đơn chính là quê hương, là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người. Bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân cũng đẹp tựa như thế với hoa bí vàng, giậu mồng tơi, là những cánh hoa râm bụt, là đóa sen trắng tinh khiết.

    Ba câu thơ kết bài như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng – một hình ảnh so sánh mang ý nghĩa sâu sắc. Quê hương được so sánh với mẹ vì đó là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng lớn khôn, giống như người mẹ đã sinh thành nuôi ta khôn lớn trưởng thành. Vì vậy, nếu ai không yêu quê hương, không nhớ quê hương mình thì không trở thành một người tốt được. Lời thơ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn sống và làm việc có ích, hãy biết yêu quê hương xứ sở, vì quê hương là mẹ và mẹ chính là quê hương, vì “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn” (nhà thơ Chế Lan Viên).

    Dù có đi đâu xa, hơi thở của quê hương vẫn bên ta, để ta luôn có một góc nhỏ bình yên với tâm hồn. Khi ta lớn lên, ta ra đi, bon chen, lặn lội trên đường đời. Bao nhiêu mệt mỏi, bao nhiêu tủi hờn, ấm ức, ta vẫn cố chịu, để rồi khi trở về nhìn thấy rặng tre đầu làng, con đê trước sông và nhận ra mái nhà thân quen của ta đâu đó trong xóm, ta lại bật khóc, tiếng khóc vỡ òa ra vì để trú hết tủi hờn, đau buồn, tiếng khóc vờ vì một niềm hạnh phúc vô bờ bến. Ôi ! Sao mà yêu thương thế!

    Về với quê hương, như về với ký ức, như về với bản chất con người thuần túy, quê hương cho ta sự yên ả, tĩnh lặng, sự bình dị, thanh tịnh. Ta như điên cuồng muốn ôm lấy quê hương mà hôn, mà yêu. Ta như muốn chạm tay vuốt ve tất cả mọi thứ, rồi hét lên rằng “Quê hương ơi! Con đã về”. Ta chỉ muốn nhìn hết, thu hết mọi sự yêu thương ấy để vào trong tim, cho nó cùng sống, cùng chết với ta. Như vậy ta sẽ chẳng còn cô đơn, chẳng còn thương nhớ nữa.

    Mọi sự vật nơi đây đều có một linh hồn riêng biệt. Linh hồn ấy mãi mãi chẳng đổi thay. Mọi linh hồn ấy đều sẵn sàng dang tay chào đón ta trở về. Cái đụn rơm này, cái cây đa già này, cả cái mùi ẩm mốc của đất quê này… Tất cả, tất cả đều vây lấy ta, trò chuyện với ta, hơn hết chúng đã giúp ta chữa lành mọi vết thương lòng.

    Với ta, quê hương luôn gắn với vòng tay của bà, của mẹ, là nụ hôn, là giọt nước mắt. Quê hương thơm mùi canh cà chua, tròn như quả cà, xanh như màu rau muống luộc. Đâu phải vì chưa từng ăn những thứ đó, mà sao giờ đây, nó lại ngon đến thế!. Quê hương sôi nổi và mộc mạc trong những câu chuyện vui rôm rả của làng xóm mỗi buổi tối trăng sáng, là nụ cười ngây thơ đến mê hồn của lũ trẻ con. Ta muốn yêu, yêu hết tất cả mọi thứ của mảnh đất này.

    Quê hương là một cái gì đó như rằng buộc, như một thứ kỳ diệu khiến ngày ta phải ra đi, tiến một bước nhưng muốn lùi hai bước. Phải ra bến xe nhưng lại chạy ra sông ngồi ngẩn ngơ một lúc, ngắm nhìn dòng suối bạc lấp lánh đến chói mắt khi mặt trời chiếu xuống. Quê hương ơi là quê hương!

    Nhận xét về bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân

    Trong bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân, nhà thơ đã sử dụng biện pháp lặp từ ngữ, lặp cấu trúc ngữ pháp câu, biện pháp liệt kê, cấu trúc thơ vắt dòng rất đặc sắc. Khung cảnh làng quê trên mọi miền Tổ quốc Việt Nam hiện lên thân thương, giản dị mà xúc động lòng người.

    Những cặp câu thơ dần hiện lên như những thước phim quay chậm, cảnh vật có gần có xa, có mờ có tỏ, có lớn có nhỏ. Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, gần như cả bài thơ chỉ có một nhịp 2/4.

    Quê hương là một khái niệm trừu tượng, nhà thơ đã cụ thể hoá nó bằng những hình ảnh sống động. Quê hương không thể tương đương với chùm khế ngọt, đường đi học rợp bướm vàng bay, con diều biếc thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước ven sông, cầu tre nhỏ, nón lá nghiêng che, đêm trăng tỏ, hoa cau rụng trắng ngoài hè… nhưng tất cả những điều đó lại làm nên một hình ảnh quê hương đẹp đẽ, lung linh, trọn vẹn và thiêng liêng.

    Người xưa nói “hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần”. Với lòng yêu quê hương thiết tha, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh quê hương mang hồn quê, cảnh quê, người quê bằng một ngọn bút có thần…

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Chọn Hsg De Thi Chon Hsg Lop 8 Cap Truong Lan 1 Docx
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Ngữ Văn 11 Thpt Trường Chinh
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một…
  • Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa
  • Cac Bien Phap Tu Tu
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100