Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Đất Nước Và Nghệ Thuật Thể Hiện Của Tác Giả Trong Đoạn Trích Đất Nước
  • Bài Thơ Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Tóm Tắt Nội Dung Và Biện Pháp Nghệ Thuật Bài Thơ Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm (Ngắn Gọn, Hay Nhất)
  • Tìm Biện Pháp Nghệ Thuật Của Từng Từ Câu Trong Hai Câu Thơ Luận Bài Thu Điếu Lớp 11 Câu Hỏi 6137
  • Bình Giảng Bài Thơ “thu Vịnh” (Nguyễn Khuyến)
  • Bài thơ: Tỏ lòng (Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)

    Bài giảng: Tỏ lòng (Thuật hoài) – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

    Nội dung bài thơ Tỏ lòng

    Phiên âm:

    Dịch nghĩa:

    Dịch thơ:

    I. Đôi nét về tác giả Phạm Ngũ Lão

    – Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255, mất năm 1320 tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Âu Thị, tỉnh Hưng Yên)

    – Phạm Ngũ Lão là người văn võ song toàn: ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm đến chức Điện súy, được phong tước Quan nội hầu. Là tướng võ nhưng ông thích đọc sách, ngâm thơ.

    – Phạm Ngũ Lão sống trong thời đại nhà Trần với nhiều chiến công rực rỡ và sự nghiệp lớn lao.

    – Các tác phẩm chính: ông có nhiều sáng tác nói về chí làm trai và lòng yêu nước nhưng hiện nay chỉ còn lại hai tác phẩm bằng chữ Hán là Tỏ lòng (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương)

    II. Đôi nét về tác phẩm Tỏ lòng

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ được sáng tác sau chiến thắng quân Mông – Nguyên của quân đội nhà Trần với hào khí Đông A ngút trời

    – Bài thơ là loại thơ “nói chí tỏ lòng” qua bài thơ mà bày tỏ và thể hiện nỗi lòng cùng chí hướng của người viết.

    2. Bố cục (2 phần)

    – Phần 1 (2 câu đầu): Hình tượng con người và quân đội thời Trần

    – Phần 2 (2 câu còn lại): Nỗi lòng của tác giả

    3. Giá trị nội dung

    Bài thơ mang vẻ đẹp hào khí Đông A, thể hiện qua vẻ đẹp của con người và quân đội nhà Trần. Đồng thời, qua đó thể hiện tâm sự và lí tưởng sống cao đẹp của tác giả.

    4. Giá trị nghệ thuật

    – Ngôn từ hàm súc, hình ảnh thơ giàu sức khái quát.

    – Bút pháp nghệ thuật phóng đại, so sánh cùng âm hưởng khi hào hùng, mạnh mẽ, khi trầm lắng, suy tư để lại dư âm trong lòng người đọc.

    III. Dàn ý phân tích Tỏ lòng

    I. Mở bài

    – Giới thiệu vê tác giả Phạm Ngũ Lão: Phạm Ngũ Lão là người văn võ song toàn, ông có nhiều sáng tác nói về chí làm trai và lòng yêu nước, song hiện chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán là Tỏ lòng (Thuật hoài) và Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Văn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương)

    – Giới thiệu khái quát nội dung và nghệ thuật bài thơ Tỏ lòng: Tỏ lòng là bài tơ Đường luật ngắn gọn, súc tích, khắc họa vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.

    II. Thân bài 1. Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần

    a) Hình tượng con người thời Trần

    – Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo

    → Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

    – Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông

    → Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc

    – Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu

    → Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.

    ⇒ Như vậy:

    + Hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội

    + Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ.

    + Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời àm chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng

    b) Hình tượng quân đội thời Trần

    – “Tam quân” (ba quân): tiền quâ, trung quân, hậu quân – quân đội của cả đất nước, cả dân tộc cùng nhau đứng lên để chiến đấu

    – Sức mạnh của quân đội nhà Trần:

    + Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” (hổ báo) qua đó thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của đội quân

    + “Khí thôn ngưu”: khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.

    → Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sưc mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần

    ⇒ Như vậy, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh người tráng sĩ hùng dũng, oai phong cùng tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Nghệ thuật so sánh phong đại cùng giọng điệu hào hùng mang lại hiệu quả cao.

    2. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả

    – Giọng điệu: trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở

    – Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.

    – Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà chưa trả được nợ công danh “thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”:

    + Thẹn: cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác

    + Chuyện Vũ Hầu: tác giả sử dụng tích về Khổng Minh – tấm gương về tinh thần tận tâm tận lực báo đáp chủ tướng. Hết lòng trả món nợ công danh đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và tiếng thơm cho hậu thế.

    → Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, nó đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử

    ⇒ Với âm hưởng trầm lắng, suy tư và việc sử dụng điển cố điển tích, hai câu thơ cuối đã thể hiện tâm tư và khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm về chí làm trai rất tiến bộ của ông

    III. Kết bài

    – Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật

    – Bài học đối với thế hệ thanh niên ngày nay: Sống phải có ước mơ, hoài bão, biết vượt qua khó khăn, thử thách để biến ước mơ thành hiện thực, có ý thức trách nhiệm với cá nhân và cộng đồng

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    tac-gia-tac-pham-lop-10.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Tỏ Lòng Và Cảm Hoài
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài ( Tỏ Lòng ) Của Phạm Ngũ Lão
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “chị Em Thuý Kiều” (“truyện Kiều”
  • Nghệ Thuật Tả Người Trong Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chị Em Thúy Kiều
  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Các học sinh sẽ được học tác phẩm “Tỏ lòng” của tác giả Phạm Ngũ Lão trong chương trình Ngữ Văn lớp 10. Đây là một tác phẩm thơ mà đã được tác giả gửi gắm vào đó tình yêu nước nồng cháy, khát khao được cống hiến sức lực và tài năng của bản thân cho triều đại, cho đất nước. Với bài phân tích bài thơ Tỏ Lòng (Thuật hoài) – Phạm Ngũ Lão của chúng tôi có thể giúp các học tính phần nào cảm nhận được hào khí anh hùng đời Trần được truyền tải qua từng câu chữ, vần thơ.

    1. “Tỏ lòng”- Tiếng nói của người thi sĩ – người anh hùng yêu nước

    Phân tích bài thơ Tỏ lòng của tác giả Phạm Ngũ Lão để thấu hiểu vang vọng nỗi lòng yêu nước nước đến mãnh liệt của chính người thi sĩ – người anh hùng bất khuất đầy cảm phục của dân tộc. Đây được coi như là một kiệt tác hào hùng của dân tộc, luôn chứa chan một tình yêu nước vô bờ bến, lòng tự hào của tác giả đối với dân tộc, thể hiện một thời oanh liệt vẻ vang của các tướng lĩnh đời Trần.

    Bài thơ chính là hào khí của một đấng nam nhi với đầy ắp ý chí và khát vọng chiến công khi Tổ quốc gặp nguy nan. Khi phân tích bài thơ Tỏ lòng chúng ta sẽ hiểu rõ nỗi lòng của tác giá. “Tỏ lòng” còn được coi là một bức tranh tự họa mà chính bản thân danh tướng Phạm Ngũ Lão đã họa lên. Chủ nghĩa yêu nước của tác phẩm được tác giả thể hiện qua những ngôn từ trang nghiêm, cổ kính như: “xông pha trận mạc, cầm ngang ngọn giáo…” Hình ảnh quân đội Sát Thát được hiện lên vô cùng hào khí, đông đảo, với một sức mạnh phi thường mà không kẻ thù nào có thể đánh bại. Khí thế hừng hực ấy có thể đánh tan bất kể kẻ thù nào có ý muốn lăm le xâm lược nước ta.

    2. Giới thiệu về tác giả Phạm Ngũ Lão

    Tác giả Phạm Ngũ Lão là người con được sinh ra trên mảnh đất Phù Ủng (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) vào năm Ất Mão – 1255. Ông sinh vào thời vương triều nhà Trần đang cùng quân dân cả nước đứng lên chống lại quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ 2. Xuất thân của ông đã là một huyền thoại đối với dân gian, con người làng Phù Ủng ấy với tính tình khẳng khái, ý chí khác người, luôn phấn đấu không ngừng trên con đường công danh của mình.

    Có thể thấy được một người có xuất thân từ miền quê bình thường, nhưng lại lọt vào con mắt của vị đại tướng triều Trần, điều này đã chứng tỏ được tài chí của Phạm Ngũ lão cũng như khả năng dùng người của các thánh tướng thời bấy giờ. Với tài năng thiên bẩm của mình, lại được sự chỉ dạy của đích thân thánh tướng Trần Quốc Tuấn đã giúp ông mau chóng trở thành người vị tướng kiệt xuất trong cả hai lần cùng dân tộc đánh dậy đánh bại quân Nguyên – Mông. Những ngày tháng sau đó, ông trở thành phò tá đắc lực cho ba đời vua Trần, lập không ít chiến công, đánh dẹp quân Chiêm Thành và Ai Lao, cũng như dẹp loạn tại các vùng biên giới.

    Vào tháng 9 năm 1284, tình hình chiến sự nước nhà có phần phức tạp, Trần Quốc Tuấn đã có quyết định giao cho Phạm Ngũ Lão nhiệm vụ bảo vệ vùng viên giới Đông Bắc của dân tộc, ông đã trở thành một vị tướng trẻ tuổi luôn lập được chiến công hiển hách và tạo dựng được niềm tin to lớn đối với các vị vua và tướng lĩnh đời Trần.

    Phạm Ngũ Lão còn bộc lộ mình là một vị tướng tài ba, kiệt xuất của dân tộc. Danh tiếng của Phạm ngũ Lão luôn khiến cho quân giặc phải ái ngại, khiếp sợ, uy danh của ông được vang xa đến tận quân địch. Trong những ngày kháng chiến gian khổ, nguy hiểm, cùng với sự dày dạn chiến đấu và kinh nghiệm chiến trường đã khiến ông trở thành một biểu tượng niềm tin chiến thắng đối với tất cả các binh lính. Vị tướng xuất thân từ nông dân này, luôn làm được những điều phi thường, khiến tất cả chúng ta đều bất ngờ và nể phục.

    Phạm Ngũ Lão còn là một vị tướng luôn có mặt trong những trận chiến cam go, quan trọng, luôn sẵn sàng đẩy cao tinh thần dân tộc, xông lên giết giặc làm gương cho các quân lính. Ông luôn đồng cam cộng khổ, yêu lính như người thân, trên chiến trường luôn là một người quả cảm, tiên phong, dũng cảm, biết phát huy tất cả sở trường để góp phần giúp quân đội giành chiến thắng.

    Là người đức độ tài cao, Phạm Ngũ Lão đã là nhân vật đi vào lịch sự được các thế hệ mến mộ, kính trọng, những con người quê hương Phù Ủng luôn thờ và nhớ ơn ông. Đặc biệt là người dân Hưng Yên ngày nay, để tưởng nhớ công ơn của ông với đất nước, hàng năm đều tổ chức lễ hội Phù Ủng. Cho đến ngày nay, trên khắp cả nước có rất nhiều nơi lập đền thờ để thờ danh tướng Phạm Ngũ Lão, để đời đời con cháu ghi nhớ công ơn của ông.

    3. Xác định yêu cầu của đề bài phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

    Đây là dạng bài văn phân tích tác phẩm văn học, cụ thể ở đây là một bài thơ của Phạm Ngũ Lão. Do đó, bạn cần trình bày những đánh giá, nhận định về tác phẩm qua từng phần, từng yếu tố của tác phẩm ấy. Sau đó tổng hợp lại. Như vậy, bài làm sẽ phân tích từng bộ phận, từng mặt của tác phẩm để tìm hiểu, nhận định. Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là bài làm văn phân tích toàn bộ tác phẩm nên các bạn học sinh cần đề cập tới cả nội dung và nghệ thuật của tác phẩm để xem xét, đánh giá. Khi triển khai, bạn sẽ tiến hành phân tích từng phần của tác phẩm một cách đầy đủ, chi tiết cho từng ý. Mỗi ý sẽ chiếm một phần của bài làm.

    Cuối cùng, bạn tổng hợp các ý đã phân tích ở trên và đưa ra những đánh giá chung về nội dung, nghệ thuật.

    Về bố cục, bài văn cũng gồm có Mở bài, Thân bài, Kết luận. Trong đó:

    * Mở bài: Bạn cần giới thiệu chung về tác phẩm Tỏ Lòng như tác phẩm, tác giả và nội dung cần quan tâm.

    • Tác giả: Phạm Ngũ Lão là người văn võ toàn tài, từng đóng góp nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông ở thời Trần.

    • Tác phẩm: Bài thơ nêu lên những chiến thắng vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc, là niềm tự hòa, hào khí Đông A, cũng như thể hiện chí trai của đấng nam nhi.

    * Thân bài: Bạn tiến hành phân tích từng ý của tác phẩm. Mỗi ý sẽ có một đoạn. Có nhiều cách để triển khai ý của tác phẩm như theo từng cặp thơ, câu thơ hay theo trình tự xuất hiện. Lưu ý, mỗi đoạn cũng có mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn. Các đoạn phải có câu nối, liên kết với nhau.

    Cụ thể: Bài thơ có 4 câu thơ, viết thể thất ngôn tứ tuyệt đường luật. Có thể chia bố cục bài thơ làm 2 phần:

    a, Hai câu thơ đầu tiên: Sức mạnh quân đội nhà Trần

    ” Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

    Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

    (Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu

    Ba quân như hổ báo, khí thể hùng dũng nuốt trôi trâu)

    + Tư thế: “Cầm ngang ngọn giáo” là tư thế hùng dũng, vững chãi, kiên cường, luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Nhiệm vụ giữ gìn non sông, đất nước, tổ quốc trong thời gian dài từ thế kỉ này sang thế kỉ khác.

    + “Tam quân”: hình ảnh chỉ quân đội nhà Trần, thể hiện sức mạnh to lớn, hùng hậu. Phép so sánh “tì hổ” “khí thôn ngưu” càng làm cụ thể hóa sức mạnh đó. Hổ báo là loài mãnh thú chốn rừng sâu, có sức mạnh dũng mãnh, khí thế hừng hực, có thể “nuốt trôi trâu”.

    b, Chí làm trai và nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão

    “Nam nhi vị liễu công danh trái

    Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”

    (Thân nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh

    Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ Hầu)

    + Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, nợ công danh là món nợ với đời của thân trai ngay từ khi sinh ra cần phải làm được điều gì đó có ích, đóng góp cho non sông, đất nước. “Nợ công danh” bao gồm hai phương diện, thứ nhất là lập công, thứ hai là lập danh, để lại danh tiếng cho đời.

    + Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão: Phạm Ngũ Lão cho rằng thân là đấng nam nhi mà không trả nợ công danh thì nên cảm thấy hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu. Câu chuyện về Vũ Hầu (Khổng Minh) tức là người tận tâm tận lực với chủ tướng, với non sông đất nước cho đến hơi thở cuối cùng, để lại tiếng vang và là tấm gương sáng cho hậu thế.

    Cuối cùng, bạn tổng hợp kết quả sau khi phân tích tác phẩm để đưa ra đánh giá chung, nhận định về tác phẩm Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão

    * Kết bài: Đánh giá chung về tác phẩm và nêu bài học ý nghĩa đối với lịch sử văn học, đối với người đọc ngày nay.

    4. Phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

    Chính bởi Phạm Ngũ Lão là người chinh chiến trên chiến trường nhiều năm, nên ông luôn đề cao vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng dân tộc, anh dũng, hiên ngang với tư tưởng lớn lao, thế nên ngay trong hai câu thơ đầu tác giả đã thể hiện hình ảnh người anh hùng với khí chất hùng dũng:

    “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

    Tam quốc tì hổ khí thôn ngưu”

    “Múa giáo non sông trải mấy thu

    Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”

    Trong câu thơ đầu, từ “Hoành sóc” mà tác giả sử dụng có nghĩa là “múa giáo”, ý muốn nói đến hình ảnh người anh hùng đang hiên ngang cầm mũi giáo trên tay đứng bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, khi sử dụng từ “Hoành sóc” tác giả mới có thể diễn tả hết được khí thế hiên ngang của một con người với tinh thần anh dũng, sắt đá, trần đầy nhiệt huyết, sẵn sàng dâng cao ngọn giáo, xả thân vì nước.

    Phạm Ngũ Lão không hề chỉ định rõ chủ ngữ là ai, nhưng khi đọc ai cũng có thể liên tưởng đến ông đang nói về một người anh hùng dân tộc – những con người không phân biệt bất kể thời gian, không gian hoàn cảnh như thế nào, học chỉ cần biết rằng dù là nơi đâu trên mảnh đất này đều là tình yêu của họ, và rồi dù có phải ” tải mấy thu” thì họ vẫn luôn như vậy, vẫn luôn một lòng yêu nước đến bất tận, và từ những con người trân quý như vậy, đạo tạo ra một quân đội hùng mạnh:

    “Tam quốc tì hổ khí thôn ngưu”

    Câu thơ này có thể được hiểu theo 2 cách, có thể hiểu rằng “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” và người đọc cũng có thể hiểu theo ý khí thế như là sao Ngưu, át cả sao trời. Có lẽ, không có một câu văn hay bất kể từ ngữ nào có thể diễn tả về sự hùng hậu và chí khí của đội quân nhà Trần, đến mức mà tác giả còn phải mượn hình ảnh sao Ngưu để diễn tả.

    “Nam nhi vị liễu công danh trái

    Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”

    “Công danh nam tử còn vương nợ

    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

    Đối với tác giả Phạm Ngũ Lão, một đấng nam nhi “đầu đội trời, chân đạp đất” phải lập được công danh với đất nước. Tư tưởng cao cả của ông được thể hiện qua câu “Nam nhi vị liễu công danh trái”. Ngay từ ngày còn là một thanh niên, ông không bao giờ cho phép mình được tầm thường, thấp kém, ông luôn tự hướng mình đến những điều mạnh mẽ lớn lao. Bởi vậy, khi nhìn đến hình ảnh Vũ hầu ông lại khiêm tốn và sử dụng từ “luống thẹn”.

    Vũ hầu chính là Gia Cát Lượng, một người tài trong thời Tam Quốc, có công lớn trong việc giúp Lưu Bị gầy dựng lại triều đại nhà Hán, sau được phong làm Vũ Lượng hầu (thường được gọi tắt là Vũ hầu). Không phải không có lý gì khi Phạm Ngũ Lão lại nhắc tới vị danh tướng này trong các vần thơ của mình, đó chính vì Vũ hầu chính là động lực, là lý tưởng cao đẹp để ông có những cố gắng và cống hiến hết sức mình cho dân tộc.

    Cả cuộc đời của Phạm Ngũ Lão, ông luôn muốn được làm gì đó cho nước, cho dân. Sự bày tỏ sự hổ thẹn của mình càng khiến cho người đọc cảm nhận được nhân cách cao cả của ông, ông có một lý tưởng thực sự của một người anh hùng, xứng đáng trở thành một đấng nam nhi ở thiên hạ. Thế nhưng đối với ông, như thế vẫn là chưa đủ, ông vẫn luôn cảm thấy sự cống hiến của bản thân dành cho đất nước là quá ít. Từ đó ông luôn tự nhủ với bản thân mình phải thật sự cố gắng hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa. Những lời văn, ý thơ, từ ngữ được ông sử dụng với giọng điệu đầy hào hùng, dứt khoát đã góp phần không nhỏ thể hiện lòng quyết tâm cùng với tâm tư tình cảm của Phạm Ngũ Lão, người đọc hoàn toàn có thể thấy ông là một vị tướng “văn võ song toàn”.

    Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) để cảm nhận ý nghĩa sâu sắc trong từng áng văn. Qua tác phẩm thơ của ông, Phạm Ngũ Lão đã để lại cho các thế hệ sau này một bài học quý báu, sâu sắc về lý tưởng sống, ông hướng cho các thế hệ mai sau một suy nghĩ sống là phải không ngừng phấn đấu, không ngừng vươn lên, luôn hướng bản thân đến những điều tốt đẹp, luôn cố gắng phấn đấu hết sức mình để góp phần bảo vệ quê hương, tổ quốc, non sông thân yêu.

    Với biện pháp tu từ “Thậm xưng” được tác giả sử dụng chính trong bài thơ đã tăng thêm phần sáng tạo, chính vì vậy những hình tượng thơ trong bài luôn mang một tầm vóc vũ trụ. Những hình ảnh được tác giả mang ra so sánh trong bài thơ cũng hết sức độc đáo, nó không chỉ khơi nguồn cảm hứng trong thơ ca mà còn thể hiện sức mạnh dân tộc to lớn, trở thành một thành tích thơ ca sáng gia trong nền văn học nước nhà thời bấy giờ.

    Qua bài phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão sẽ thấy rằng tác giả đã thể hiện thành công, nổi bật hình ảnh người chiến sĩ anh hùng với những khao khát, ước mơ cháy bỏng có thể lập được chiến công để báo nợ đất nước, báo đáp ơn vua. Khát vọng ấy, thể hiện rực rỡ tấm lòng kiên trung, ái quốc của người anh hùng dân tộc. Bài thơ được ông viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, với giọng điệu oai vệ, hùng tráng, ngôn ngữ, ý thơ lại mạnh mẽ, hàm súc, bài thơ như một khúc tráng ca, nêu cao hình ảnh của những người chiến sĩ đời Trần.

    Đặc biệt người đọc có thể lấy hình ảnh oai hùng, lẫm liệt của quân dân nhà Trần để làm tấm gương học tập và noi theo. Bản thân là một đấng nam nhi hãy luôn thẳng thắn, kiên cường, luôn sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ đất nước bất cứ ở nơi đâu và khi nào. Trong cuộc sống hiện tại, một số bạn trẻ còn đang chưa ý thức được trách nhiệm của bản thân, vẫn mải chơi bời, không chú tâm đến học tập và chưa có các hành động để xây dựng một tương lai tốt đẹp, vậy thì ngay bây giờ, hãy đặt lại cho bản thân những suy nghĩ đúng đắn, bắt tay ngay vào việc phấn đấu hoàn thiện bản thân, mà trước hết đó chính là quyết tâm học tập. Đồng thời cần loại bỏ những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội ra khỏi cuộc sống bản thân, để góp phần xây dựng đất nước tươi đẹp, văn minh hơn.

    Bài phân tích bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, chỉ vẻn vẹn có bốn câu thơ ngắn gọn, nhưng lại hàm chứa bên trong là nỗi lòng bao la của vị tướng sĩ hào hùng. Bài thơ cũng chính là bài học giáo dục ý thức thế hệ trẻ nước nhà bây giờ và mai sau, tất cả đã tạo nên một giá trị lớn lao cho bài thơ. Hy vọng rằng khi đọc bài phân tích bài thơ Tỏ lòng của chúng tôi có thể giúp các bạn học sinh hiểu được ý nghĩa sâu xa mà tác giả Phạm Ngũ Lão muốn gửi gắm qua bài thơ, từ đó có thể trau dồi thêm cho bản thân thật nhiều các kiến thức nhân văn phục vụ chính các em trong cuộc sống hàng ngày.

    Đề bài: Hình tượng người anh hùng trong bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão.

    Mỗi tác phẩm không chỉ là tiếng lòng của người nghệ sĩ thể hiện dưới ngòi bút mà còn là vũ khí trong mỗi trận đánh, tiếp thêm sức mạnh và niềm tin để chiến thắng quân thù. Bởi vậy mà trong hai câu thơ của Raxun Gamzatop đã viết:

    “Thơ như đôi cánh nâng tôi bay

    Thơ là vũ khí trong trận đánh”

    Và bài thơ “Thuật hoài” (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão cũng là một trong những khúc tráng ca lẫm liệt, khơi dậy niềm tin và sức mạnh cho những chiến sĩ thời bấy giờ, tinh thần quyết thắng trước mọi thế lực xâm lược. Sức mạnh của người anh hùng dân tộc trong bài thơ tỏa ra trong từng câu chữ.

    Tác giả Phạm Ngũ Lão, từng là một tướng sĩ thời Trần, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Trong không khí sục sôi của dân tộc thời bấy giờ, với khí thế “Sát Thát”, là một người văn võ toàn tài, ông đã tự họa lên vẻ đẹp của người anh hùng trong thời đại hào khí Đông A qua “Thuật hoài”.

    Sức mạnh của người anh hùng thời Trần trước tiên được thể hiện ở hình ảnh “múa giáo non sông cáp kỷ thu”:

    “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”

    (Cầm ngang ngọn giáo bảo vệ non sông đã mấy thu)

    Người anh hùng hiện lên với vẻ đẹp kì vĩ, tư thế hiên ngang sánh tầm với non sông, đất nước cùng với sự trường tồn của thời gian. Cây giáo trong tay là thứ vũ khí để bảo vệ non sông, đất nước. Trong bản phiên âm, vẻ đẹp của người anh hùng được hiện lên ngay qua hình ảnh “Hoành sóc”-cầm ngang ngọn giáo, nhưng trong bản dịch thơ lại chuyển thành “múa giáo” làm mất đi sự uy nghiêm, chưa thể hiện được hết sự kỳ vĩ, vững chắc, quyết tâm.

    Hình ảnh người anh hùng cầm vũ khí bảo vệ tổ quốc ấy đã góp phần làm nên sự vững mạnh của cả một đội quân:

    “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

    (Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

    “Tam quân” khiến ta liên tưởng đến quân đội thời Trần nhưng trên hết đó chính là sức mạnh toàn dân đồng lòng, từ vua quan đến các bậc thường dân đều chung sức mạnh đẩy lùi giặc ngoại xâm. Nghệ thuật so sánh “tì hổ”, “khí thôn ngưu” đã khái quát hóa tinh thần của đội quân “sát thát” vừa có sức mạnh vũ bão như loài hổ “Chúa tể của rừng xanh”, vừa có chí khí ngút trời có thể lấn át được cả bầy trâu.

    Hai câu thơ với nghệ thuật so sánh, hình ảnh ước lệ, gợi tả đã khẳng định sức mạnh của dân tộc trước kẻ thù xâm lăng. Khí thể hùng mạnh ấy đã làm tăng thêm niềm tin, khơi dậy sự quyết thắng của dân tộc, quyết bảo vệ lãnh thổ, đánh tan kẻ thù.

    Bài thơ không chỉ đẹp ở vẻ đẹp của người anh hùng mà còn đẹp ở ý chí, tâm hồn đẹp của một nhân cách thanh cao qua hai câu thơ cuối cùng:

    “Nam nhi vị liễu công danh trái

    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

    (Công danh nam tử còn vương nợ

    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

    Câu thơ đề cập đến chí làm trai, tráng chí của người anh hùng thời Trần, cũng là lí tưởng sống của biết bao thế hệ trai tráng khác qua các thời đại:

    “Đã mang tiếng ở trong trời đất

    Phải có danh gì với núi sông”

    ( Nguyễn Công Trứ)

    hay trong bài “Cảm hoài” của Đặng Dung cũng nhắc tới mối thù của nước nhà:

    “Quốc thù chưa trả già sao vội

    Dưới nguyệt mài gươm đã bấy chầy”

    Trong câu thơ của Phạm Ngũ Lão có bày tỏ khát vọng được lập công, cống hiến cho đất nước, lưu danh muôn đời như các bậc tiền nhân lỗi lạc. Bản thân ông đã là người văn võ song toàn, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của dân tộc, nhưng ông vẫn cảm thấy như vậy chưa đủ, vẫn chưa trả được “nợ công danh” với đời nên còn cảm thấy hổ thẹn khi nghe chuyện “Vũ Hầu”. Vũ Hầu là nhân vật nổi tiếng thời Hán, lập nhiều công lớn, là một trung thần luôn tận tâm vì nước cho đến tận lúc chết đi. Cách nói của Phạm Ngũ Lão thể hiện hoài bão, khát vọng của đấng nam nhi muốn hiến dâng tài trí cho đất nước.

    Trong bài thơ “Thu vịnh”, Nguyễn Khuyến cũng thể hiện cải “thẹn” khác rất cao đẹp:

    “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

    Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”

    Cái thẹn của Nguyễn Khuyến là cái thẹn của một nhà nho, còn cái thẹn của Phạm Ngũ Lão là cái thẹn của một bậc anh hùng, muốn góp hết sức mình cho đất nước.

    Như vậy, qua bài thơ, vẻ đẹp người anh hùng “Sát thát” hiện lên vô cùng rõ nét qua bút pháp nghệ thuật đặc sắc, ngôn ngữ tráng lệ, gợi ra dáng vóc của người anh hùng trong thần thoại, người dũng sĩ trong sử thi. Bài thơ còn là lời “tỏ lòng”, “tỏ chí” của một đấng nam nhi, một bậc trung quân ái quốc.

    Vẻ đẹp của “Thuật Hoài” cùng với những sáng tác khác cùng thời như “Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải, “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn đã làm sáng ngời hào khí Đông A thời bấy giờ. Đọc những sáng tác với vẻ đẹp sáng rực ấy, bản thân thế hệ trẻ chúng ta trong cuộc sống hiện nay cũng cần nhìn nhận lại lối sống của mình. Trước hết là ý thức rèn luyện, tu dưỡng về mặt thể chất. Sau đó là nuôi dưỡng tâm hồn, với tinh thần yêu nước, sống có lí tưởng, đóng góp cho cuộc đời.

    Mỗi người trong cuộc đời không nên ngủ quên trên chiến thắng mà cần phải sống có lí tưởng, hoài bão, cống hiến hơn nữa. Bởi “Những khát vọng tốt đẹp chính là cơn gió đẩy con thuyền cuộc đời mặc dù nó vẫn thường gây nên những cơn giông tố” (Safontaine). Hay “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường, không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống. Chúng ta mỗi thế hệ trẻ cần khắc ghi lời dạy của ông cha, đưa đất nước ngày càng tiến bộ đi lên, vượt qua những chông gai, thử thách, bão tố:

    “Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

    Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi”

    (Nguyễn Việt Chiến)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão
  • Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài ( Tỏ Lòng ) Của Phạm Ngũ Lão

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Bài Thơ Tỏ Lòng Và Cảm Hoài
  • Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Cảm Nhận Về Đất Nước Và Nghệ Thuật Thể Hiện Của Tác Giả Trong Đoạn Trích Đất Nước
  • Bài Thơ Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Tóm Tắt Nội Dung Và Biện Pháp Nghệ Thuật Bài Thơ Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm (Ngắn Gọn, Hay Nhất)
  • Việt Nam, đất nước tuy bé nhỏ đầy những gian lao vất vả nhưng rất đỗi anh hùng đã trải qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước với những mốc son chói lọi trong lịch sử.

    Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời đời được ghi lại trong những áng văn chương kiệt xuất như: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu, v.v… Đặc biệt và nổi bật hơn hết cả là tác phẩm “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão. Bài thơ là một khúc tráng ca hào hùng và mang nặng nỗi niềm của tác giả.Phạm Ngũ Lão(1255-1320) trong thời kì loạn lạc với cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên của đất nước. Bên cạnh một nhà quân sự tài giỏi, ông còn là một nhà thơ vĩ đại với hai tác phẩm “Thuật hoài” và “Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương” còn vang vọng mãi với non sông.

    Mở đầu bài thơ là hình ảnh tráng lệ với âm hưởng hào hùng:

    Bước vào thời đại chiến tranh ấy, cái thời mà ngọn lửa như thiêu đốt cả tâm hồn quyết tâm diệt tan kẻ thù xâm lăng bờ cõi, khẳng định lại một lần nữa: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư”! Và khi đó, xuất hiện tư thế hiên ngang của người anh hùng đất Việt “hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”. Câu thơ đầu tiên đã vẽ nên hình tượng oai phong lẫm liệt của người tráng sĩ với tư thế cầm ngang ngọn giáo sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tư thế ấy mang đậm tính tự hào rằng mình là người con đất Việt và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bờ cõi Việt, bảo vệ nhân dân Việt, bảo vệ non sông gấm vóc ngàn thu này. Hình ảnh lớn lao của người chiến sĩ đã sánh với tầm vóc bao la hùng vĩ của đất trời, lấn át cả khí thế của quân giặc. Đó còn biểu trưng cho lối sống cao đẹp cống hiến hết sức để bảo vệ đất nước một cách kiên trì, nhẫn nại. Dù bao nhiêu năm đi chăng nữa thì lí tưởng bảo vệ, khôi phục non sông vẫn mãi trường tồn. Chỉ qua câu thơ dầu đã cho ta thấy được hào khí Đông A.Ở đây hào khí Đông A chính là hào khí thời trần ,theo chữ Hán chữ “Đông” và 1 bộ phận của chữ “A” ghép thành. Qua hào khí đó thể hiện niềm tự hào về sức mạnh của thời đại.

    Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kỳ vĩ mang tầm vóc vũ trụ mà hơn cả là hào khí “Đong A” thì câu thơ thứ hai như tô đậm hào khí “Đông A” , tô đậm hình ảnh “ba quân” tượng trưng cho sức mạnh của quân đội nhà Trần và sức mạnh dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ.

    Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời xuất phát từ câu “khí thôn Ngưu đẩu” hay đó chính là khí thể hùng mạnh có thể nuốt trôi trâu của tam quân thời Trần. Biện pháp nghệ thuật cường điệu hoá sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, có tính sử thi. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” bất khả chiến bại mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc.

    Nếu ở hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng thì đến đây âm hưởng thơ bỗng dưng như một nốt trầm lắng lại với lời bộc bạch, tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ:

    Thời xưa, Nho giáo đã nêu lên triết lí kẻ làm trai từ lúc sinh ra đã gánh nợ công danh. Người đàn ông phải hướng đến “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” lấy đó là lí tưởng, là cái đích phải hướng tới. Thời Trần, cái chí làm trai ấy là “Phá cường địch, báo hoàng ân” của vị anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản, là câu nói quả quyết của Thái sư Trần Thủ Độ: “Đầu thần còn chưa rơi xuống xin bệ hạ đừng lo” hay đó là vị Quốc Công tiết chế với “Hịch tướng sĩ” mang đậm hào khí anh hùng: “…dẫu cho thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”. Ấy chính là khát vọng được gánh vác vận mệnh đất nước, dân tộc, lập chiến công hiển hách, là lý tưởng lập công danh sự nghiệp của nam nhi thời loạn lạc. “Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm.

    Đặt trong thời đại của Phạm Ngũ Lão, chí làm trai này đã cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp lớn lao. Phạm Ngũ Lão cũng từ cái chí, cái nợ nam nhi, nam tử đó mà cùng dân tộc chiến đấu chống xâm lược bền bĩ, ròng rã bao năm. Đặc biệt ở đây cũng từ cái chí, cái nợ đó mà nảy sinh trong tâm trạng một nỗi thẹn. Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước. Thẹn bởi vì so với cha ông mình chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng là quân sư của Lưu Bị, mưu trí tuyệt vời, song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là lòng tuyệt đối trung thành với chủ. Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” thực chất là một lời thề suốt đời tận tuỵ với chủ tướng Trần Hưng Đạo. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Với Phạm Ngũ Lão, tuy là một nhà thao lựơc kiệt xuất, có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần hai, ba nhưng ông vẫn tự thấy hổ thẹn. Ông thẹn vì chưa khội phục được giang sơn, vì kém cỏi chưa được như Vũ hầu, chưa báo được Hoàng ân. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá con người. Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường. Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng. Ẩn sau cái thẹn cao cả, khiêm tốn và ấy là cả một nỗi niềm khao khát được cống hiến hơn nữa cho Tổ quốc, cho dân tộc, để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng”.

    Hình ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử thi, hoành tráng. Đó chính là sức mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp của người trai thời Trần, là sản phẩm của “hào khí Đông A”. Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao. Con người ấy vì ai mà xông pha, quyết chiến? Tất cả xuất phát từ trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái bình. Vì thế con người vũ trụ gắn với con người trách nhiệm, con người ý thức, bổn phận, con người hành động, đó chính là những biểu hiện của con người cộng đồng, con người xả thân vì đất nước.

    Thuật hoài là một bài thơ Đường luật ngắn gọn nhưng hàm súc với thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng, khái quát kết hợp với bút pháp hoành tráng mang âm hưởng sử thi đã khắc họa vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang, hùng dũng với sức mạnh lý tưởng lớn lao cao cả, tâm hồn sáng ngời nhận cách cùng khí thế hào hùng, quyết chiến quyết thắng của “hào khí Đông A”-hào khí thời Trần. Ngày nay, việc “cứu nước phò nguy” đâu phải là không cần thiết nữa vì vậy, mỗi thanh niên chúng ta cần học tập thật tốt, rèn luyện nhân cách đạo đức, xác định cho mình lí tưởng sống đúng đắn và quan trọng hơn là phải biết ước mơ và hành động vì sự nghiệp đất nước, đưa Việt Nam sánh ngang tầm với các cường quốc khắp năm châu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Đoạn Trích “chị Em Thuý Kiều” (“truyện Kiều”
  • Nghệ Thuật Tả Người Trong Chị Em Thúy Kiều Của Nguyễn Du
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chị Em Thúy Kiều
  • 4 Biện Pháp Tu Từ Cơ Bản Cần Nhớ Khi Học Môn Ngữ Văn
  • Bài Soạn Văn 7: Sài Gòn Tôi Yêu
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

    Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “” ( Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão , ” Bạch Đằng giang phú ” của Trương Hán Siêu .v.v… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

    Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.

    Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão .

    Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

    Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

    Nam nhi vị liễu công danh trái

    Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

    Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

    Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền dân tộc:

    -“Thuyền bè muôn đội;

    Tinh kỳ phấp phới

    Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…” ( Bạch Đằng giang phú )

    Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

    “Công danh nam tử còn vương nợ

    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

    “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” ( Trần Nhân Tông ).

    “” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Trong lịch sử văn học dân tộc, áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai. Đó là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Chỉ qua đoạn trích “Nước Đại Việt ta” (Sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 2) ta đã thấy rõ điều đó.

    “Bình Ngô đại cáo” ra đời sau khi Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh tan bè lũ xâm lược nhà Minh. Bài cáo ra đời bố cáo với toàn thiên hạ chiến thắng của dân tộc, khẳng định nền độc lâp tự chủ của nước nhà đồng thời cảnh tỉnh ý thức của binh lính nhà Minh về cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược nước ta.

    Văn bản Nước Đại Việt ta là phần mở đầu của bài cáo. Tuy ngắn gọn nhưng đoạn trích nêu lên những tiền đề cơ bản, làm nổi bật những quan điểm tích cực, có ý nghĩa then chốt đối với nội dung của toàn bài. Những tiền đề đó là chân lí về nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt.

    Văn bản được mở đầu bằng những lời văn đầy nhân nghĩa:

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

    Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là làm cho dân được hưởng thái bình, hạnh phúc. Mà muốn yên dân thì trước hết phải diệt trừ bọn tàn bạo. Người dân mà tác giả nói đến ở đây là những người dân Đại Việt đang phải chịu bao đau khổ dưới ách thống trị của giặc Minh. Như vậy khái niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với lòng yêu nước, gắn liền với quốc gia, dân tộc. Những kẻ bạo ngược mà tác giả nói đến ở đây không phải ai khác, đó chính là bọn giặc Minh nói riêng và bề lũ xâm lược nói chung.

    Đoạn trích được nối tiếp bằng những dòng văn đầy tự hào:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

    Núi sông bờ cỡi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời xây nên độc lập

    Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

    Song hào kiệt đời nào cũng có”

    Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố như: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này, tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.

    Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chạt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Quả đúng như vậy! Người anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nước Việt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:

    Núi sông bờ cõi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc – Nam khác biệt. Ta có nền độc lập vững vàng được xây bằng những trang sử vẻ vang. Hùng cứ cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên ở phương Bắc là các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần ở phương Nam. Hơn thế nữa, bao đời nay:

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

    Song hào kiệt đời nào cũng có

    So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc – bài thơ “Sông núi nước Nam” – thì ở tác phẩm này của Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài Sông núi nước Nam được xác định ở hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài: Nước Đại Việt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.

    Trong phần văn bản “Nước Đại Việt ta”, tác giả sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt ta. Các từ như: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác,… Bên cạnh đó, biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận (tác giả đặt nước ta ngang hàng với Trung Hoa về nhiều phương diện như: trình độ chính trị, văn hoá,…). Đặc biệt, những câu văn biền ngẫu, chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật và chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.

    Với tư cách là phần văn bản mở đầu áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, văn bản “nước Đại Việt ta” đã khẳng định lí tưởng yêu nước, thương dân của những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hơn thế, đoạn trích còn khẳng định vị thế dân tộc trên nhiều phương diện, từ đó thể hiện lòng tự hào dân tộc vô bờ của tác giả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Khi Đọc Đoạn Trích Sau Phút Chia Li (Chinh Phụ Ngâ
  • Phân Tích Tác Phẩm Sau Phút Chia Li
  • Bài 7. Sau Phút Chia Li
  • Soạn Bài : Sau Phút Chi Li
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ rất hay trong chương trình lớp 7, trong bài này sử dụng những biện pháp nghệ thuật, tu từ, xem bên dưới để biết tác giả đã sử dụng chúng hiệu quả như thế nào.

    Tác giả – Tác phẩm

    Hồ Xuân Hương, sống ở khoảng cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Bà được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” với những bài thơ Nôm viết về người phụ nữ nổi tiếng. Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam với những giá trị cho đến tận ngày nay. Cuộc đời Hồ Xuân Hương trải qua nhiều thăng trầm, sống ở thời kì Lê mạt – Nguyễn Sơ, đây được coi là giai đoạn với nhiều biến động trong xã hội. Tuy nhiên, dù ở thời kì cuối phong kiến bà vẫn có cuộc sống êm đềm ở chốn phồn hoa – cổ Nguyệt đường ven Tây hồ. Bà là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi, có thiên phú về thơ ca đồng thời cũng hiểu biết rộng và giao du với nhiều nhà thơ, nhà văn lúc bấy giờ. Tuy nhiên trong con đường tình duyên, bà lại không mấy suôn sẻ, đều làm lẽ qua hai đời chồng và hạnh phúc cũng ngắn ngủi.

    Các sáng tác của Hồ Xuân Hương luôn để lại những giá trị ý nghĩa sâu sắc. Các đề tài luôn xoay quanh tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Tuy nhiên khi nhắc đến thơ Nôm không thể không nhắc tới những bài thơ viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói thơ Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ cũng chính là tiếng lòng của bà, tiếc thay cho thân phận chính mình. Trong đó vừa có sự hóm hỉnh, sâu cay vừa có gì đó xót xa, từng trải nhưng không kém phần ngạo nghễ. Các tập thơ nổi tiếng như “Xuân Hương thi tập”, “Lưu hương ký”…

    -Hoàn cảnh sáng tác bài “Bánh trôi nước”: là một người phụ nữ sống trong thời kì phong kiến, bà tiếp xúc với nhiều người dân lao động nghèo, đặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức bất công. Trong xã hội đó luôn đề cao tinh thần trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê đa thiếp khiến cho người phụ nữ bị rè rúng, sống cuộc đời bị hắt hủi, đau thương. Chính vì thương thay cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ đó bà đã chiêm nghiệm và viết nên bài “Bánh trôi nước”.

    Giá trị nội dung

    Bài thơ “Bánh trôi nước” có giá trị nội dung, ý nghĩa sâu sắc. Thông qua hình ảnh chiếc bánh trôi với nhiều tầng nghĩa, được miêu tả thực, Hồ Xuân Hương đã làm hiện rõ hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    Bài thơ là tiếng lòng cảm thông, xót xa không chỉ cho thân phận người phụ nữ mà còn là cho chính bản thân mình. Sống ở thời kì mà xã hội không có chỗ cho người phụ nữ lên tiếng nên bà chỉ còn cách gửi gắm nỗi lòng vào những vần thơ. Thân phận người phụ nữ hiện lên với những bất hạnh, khổ đau, lênh đênh, lận đận không thể làm chủ cho chính mình. Song người con gái ấy vẫn một lòng son sắt, thủy chung. Vẻ đẹp đó thật đáng ngợi ca.

    Biện pháp nghệ thuật sử dụng trong bài Bánh trôi nước

    Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước gồm có:

    -Ẩn dụ: tác giả mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói về thân phận của những người con gái xưa dù tài hoa, xinh đẹp trong xã hội xưa mà số phận lênh đênh trôi nổi, số phận của họ lại bị phụ thuộc vào những kẻ khác.

    -Thành ngữ: “bảy nổi ba chìm” mục đích để nói về cuộc đời đầy lận đận, bấp bênh của những người phụ nữ của những kiếp hồng nhan bạc phận của phụ nữ xưa.

    – Điệp từ sử dụng từ “vừa” trong câu “thân em vừa trắng lại vừa tròn” nói lên những người phụ nữ xưa đều rất tài giỏi và xinh đẹp.

    Dàn ý phân tích tác phẩm

    -Hình ảnh bánh trôi nước:

    + Bánh trôi nước là loại bánh nổi tiếng của miền bắc. Hình dáng bên ngoài: trắng, tròn.

    +Cách làm bánh: Lớp bên ngoài là lớp vỏ bánh được nặn tròn, nhân bên trong màu đỏ. Luộc bánh để qua mấy lần chìm nổi thì mới chín và ngon. Khi nặn bánh độ tròn méo như nào phụ thuộc vào tay người nặn. Khi chín vỏ bánh mềm và nhân bên trong vẫn không hề bị méo.

    -Hình ảnh người phụ nữ:

    + Cách dùng: thông qua hình ảnh bánh trôi nước để liên hệ đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

    + Hình ảnh bên ngoài của bánh trắng tròn đại diện cho vẻ đẹp hình thức của người con gái. Hình ảnh “bảy nổi ba chìm” chỉ số phận của họ lênh đênh lận đận. “Rắn nát” hay hạnh phúc đều phụ thuộc vào tay người đàn ông trong xã hội.

    Các em theo dõi bên dưới để tìm kiếm thêm nhiều bài soạn văn cũng như một số bài văn mẫu hay trong chương trình Ngữ Văn Lớp 7. Chúc các em học tốt Ngữ Văn 7.

    ” Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Biện Pháp Nghệ Thuật, Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Vội Vàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 11: Thương Vợ
  • Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh
  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Một số nội dung cần ghi nhớ về Vội vàng của Xuân Diệu

    – Xuân Diệu ( 1916 – 1985), quê cha ở Can Lộc- Hà Tĩnh, quê mẹ ở Tuy Phước- Bình Định. Ông là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới và là nhà thơ của tình yêu của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi đắm say và yêu đời thắm thiết. Xuân Diệu đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại trên nhiều lĩnh vực: Thơ ca, văn xuôi, tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học,

    – Thơ Xuân Diệu thể hiện hai tâm trạng trái ngược nhau: Vừa rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống; vừa hoài nghi, chán nản, cô đơn.

    – Bài Vội vàng được in trong tập Thơ thơ. Đây là bài thơ thể hiện rõ tâm trạng của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.

    Biện pháp nghệ thuật trong Vội vàng của Xuân Diệu

    1. Nội dung ở khổ đầu tiên chính là ý tưởng táo bạo và lãng mạn của nhà thơ trước cuộc đời tươi đẹp:

    Biện pháp tu từ và nghê thuật trong 4 câu đầu bài Vội vàng

    “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”

    Đây là hình ảnh Xuân Diệu đang lo âu trước sự phai tàn của cái đẹp,”sợ” sắc màu “nhạt mất”, “sợ” hương thơm “bay đi” bởi ông vô cùng trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống.

    * Điệp ngữ ” Tôi muốn ” xuất hiện hai lần với mục đích:

    + Thể hiện khao khát lưu giữ hương sắc cuộc đời đang nồng cháy và rạo rực trong tâm hồn thi sĩ.

    + Nó cũng khẳng định cái tôi trữ tình của nhà thơ, một cái tôi dám đứng lên bộc bạch ước muốn của bản thân, dù những ước muốn ấy hết sức phi lý và quá tầm với. Đây chính là một trong những cái “mới” của “Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”, nó trái ngược hoàn toàn với tính phi ngã của văn học trung đại.

    * Những động từ “tắt nắng”, “buộc gió” cho thấy:

    + Khát khao đoạt quyền tạo hóa, ngăn lại dòng chảy của thời gian của Xuân Diệu không chỉ lãng mạn, mà còn ngông cuồng, táo bạo.

    + Những mong ước mãnh liệt của thi sĩ xuất phát từ tình yêu da diết với cuộc sống và cái tôi say mê trần thế.

    * Giọng điệu trong bốn câu đầu bài mang âm điệu tình yêu tha thiết và mạnh mẽ. Cảm nhận sâu hơn, ta thấy trong lời thơ còn có cả sự tiếc nuối trong những chữ “đừng” đầy day dứt.

    2. Nội dung trong khổ 2 bài Vội vàng

    Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn 2 bài Vội vàng

    2.1 Bức tranh thiên đường trần thế qua cảm nhận tuyệt vời của Xuân Diệu “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần.”

    – Một ước muốn hết sức táo bạo mãnh liệt: muốn ngự trị thiên nhiên, tước đoạt quyền của tạo hóa: “Ước muốn ngăn thời gian chặn sự già nua tàn tạ để tận hưởng hết hương sắc của mùa xuân”.

    – Điệp ngữ “này đây” lặp lại trong năm câu thơ liên tiếp đã bộc lộ dụng ý nghệ thuật của tác giả:

    + Âm hưởng thơ vui tươi như bản hòa ca rộn ràng.

    + Tác giả trầm trồ ngạc nhiên khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuộc sống.

    + “Này đây” như lời giới thiệu, lời mở khi Xuân Diệu miêu tả về một loạt những hình ảnh thiên nhiên sinh động.

    – Biện pháp liệt kê cùng trường từ vựng thiên nhiên với những từ “ong bướm”, “hoa”, “đồng nội”, “lá”, “cành tơ”, “yến anh”, “ánh sáng”,… giúp người đọc hình dung ra bày tay kì diệu của tạo hóa reo rắc trên mảnh đất trần thế những gì tinh tú và tươi tốt, trong lành, đẹp đẽ nhất.

    2.2. Tiếp theo nữa chính là tâm trạng chán nản hoải nghi bi oan trước thực tế :

    – Niềm vui phút chốc tan biến, nỗi lo âu xuất hiện:

    “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”

    – Dấu chấm giữa câu: cách ngắt câu giữa dòng, một tâm trạng trái ngược xuất hiện: Một của khao khát say mê, một của ai hoài, u uất. Cấu trúc câu đặc biệt này nhấn mạnh và tách biệt cảm xúc của nhà thơ. Ông càng sung sướng đón chào cái đẹp và niềm vui cuộc sống bao nhiêu thì càng nuối tiếc và mong muốn ghìm giữ nó bấy nhiêu.

    – Nhà thơ cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, vạn vật sẽ thay đổi. Niềm vui tan nhanh như một giấc mộng hão huyền trước cái sự thật khắc nghiệt, phũ phàng, cái lạnh lùng nghiệt ngã của quy luật thời gian.

    Còn trời đất – chẳng còn tôi. Tuổi trẻ – chẳng hai lần thắm lại.

    – Nghệ thuật :

    + Đối lập giữa còn – mất; con người – thiên nhiên; quy luật của đất trời – với quy luật của đời người,

    + Giọng thơ cũng trở nên buồn, ngao ngán, nặng nề u uất.

    – Thiên nhiên vì thế nhuốm màu tang thương, ảm đạm – đối kháng với con người:Chia phôi, tiễn biệt, hờn, sợ phai tàn,

    – Tác giả rơi vào tâm trạng tuyệt vọng:

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Vội vàng

    3. Nội dung khổ cuối của bài Vội vàng chính là lòng yêu cuộc sống đến đô cuồng si 3.1. Sống với tốc độ phi thường

    – Để khắc điều đó, thi sĩ đề ra lối sống gấp gáp, vội vàng: Sống hưởng thụ cái vui trong hiện tại.

    3.2. Sống với cường độ sâu sắc, mãnh liệt

    – Tình yêu cuồng nhiệt với cuộc sống với đời được thể hiện qua một loạt các động từ và tính từ mạnh: Ôm, riết, say, thâu, cắn; chếnh choáng, no nê, đã đầy, nhiều,

    – Nhịp thơ dồn dập, sôi nổi hối hả,cuồng nhiệt.

    – Biện pháp điệp: Ta muốn, và, cho…

    Tác dụng: Nhịp thơ gấp gáp, sôi nổi; ý thơ nhấn mạnh khát vọng tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời và sống đẹp từng giây từng phút.

    – Biện pháp liệt kê: mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, non, nước, mây, cỏ…

    Tác dụng: Gợi tả vẻ đẹp tươi, mơn mởn, sự đa dạng, phong phú của thiên nhiên, của cuộc đời khiến nhà thơ đắm say, ngây ngất…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng (Bài Viết Số 2, Sgk Ngữ Văn Nâng Cao, Tập 1)
  • Các Phép Tu Từ Trong Tiếng Anh
  • Cách Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Cảm Nghĩ Về Bài Ca Dao Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa
  • Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022
  • Bài Tập Đọc Hiểu: Đọc Đoạn Thơ Sau Rồi Trả Lời Câu Hỏi: Bao Giờ Cho Tới Mùa Thu, Trái Hồng Trái Bưởi Đánh Đu Giữa Rằm, Bao Giờ Cho Tới Tháng Năm, Mẹ Ra Trải Chiếu Ta Nằm Đếm Sao … (Trích “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa”
  • Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy
  • Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy
  • Vài nét về tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả:

    – Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941.

    – Quê ở Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội).

    – Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

    – Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ hay những kí ức tuổi ấu thơ không thể nào quên.

    – Tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ, 1968), Những gương mặt, những khoảng trời (1973), Cát sáng (1983)…

    2. Tác phẩm:

    – 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành luật tại nước Nga xa xôi.

    – In trong tập ” Hương cây – Bếp lửa ” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    Những nội dung ôn luyện văn 9 thi vào 10 đối với bài thơ Bếp lửa

    – Phương thức biểu đạt trong Bếp Lửa: Biểu cảm + Tự sự + Miêu tả + Nghị luận.

    – Thể thơ: kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ, 8 chữ.

    – Nội dung bao trùm: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” đã gợi lại những kỷ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu. Đồng thời, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Mạch cảm xúc của bài thơ Bếp Lửa: Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Người cháu nay đã trưởng thành, suy ngẫm, thấu hiểu về bà với bao cảm phục, biết ơn. Từ nước Nga xa xôi, người cháu đã gửi niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài đã đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong Bếp lửa của Bằng Việt

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà:

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật khổ 1 bài thơ Bếp lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Hình ảnh bếp lửa hiện lên giản dị mà nồng ấm biết bao!

    – Điệp ngữ “Một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.

    – “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.

    – Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến hình ảnh bập bùng ẩn hiện trong buổi sớm mai hoà cùng làn sương sớm.

    – “Ấp iu” gợi bàn tay khéo léo, tấm lòng chi chút của người nhóm lửa lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.

    – Từ “nắng mưa” gợi tả sự đằng đẵng của thời gian, vừa thể hiện sự tảo tần, vất vả triền miên của cuộc đời bà.

    2. Hồi tưởng về bà và những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà: 2.1 Tuổi thơ của tác giả có nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 Bếp lửa

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    – Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ ấy đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cơ cực gắn liền với một giai đoạn đau thương, khủng khiếp nhất của đất nước bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.

    – Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất của cái “đói mòn đói mỏi”, của dáng hình người cha “khô rạc ngựa gầy” trong lao động vất vả. Tất cả gợi những tháng ngày đói quay đói quắt ở làng quê Việt Nam. Khi nhớ về những tháng ngày gian khổ ấy, người cháu không khỏi xúc động. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hoà lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

    Có thể em quan tâm: Văn mẫu phân tích khổ 2 Bếp lửa

    2.2. Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu nhóm lên ngọn lửa ấm áp để nuôi dưỡng bao bọc, chở che cho đứa cháu

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong khổ 3 bài thơ Bếp lửa

    Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    – Điệp từ: bà – cháu tạo nên hình ảnh quấn quýt, gần gũi và đầy yêu thương của bà cháu.

    Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, dạy bảo, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học… Cảm cái công ơn ấy, người cháu lại càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa của bà là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc bà dành cho cháu.

    – Điệp từ “tu hú” thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của âm thanh, vừa có sự gần gũi nhưng vẫn thể hiện khoảng không mênh mông. Gợi nhớ về kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.

    – Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi! Chẳng….” thể hiện tâm trạng của người cháu, nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi.

    2.3. Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu

    Biện pháp tu từ trong khổ thứ 4 bài thơ Bếp lửa

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.”

    Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá, huỷ diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu. Vẻ đẹp của tình người toả sáng trong những năm chiến tranh khói lửa. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh khói lửa chiến tranh. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

    “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.

    Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm kháng chiến. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà thật là giàu lòng yêu thương. Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận được lòng biết ơn, niềm tự hào của người cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

    2.4. Hình ảnh người bà và những kỉ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa

    Biện pháp tu từ trong khổ 5 Bếp lửa

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    – “Bếp lửa” được bà nhen lên thành “ngọn lửa” mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm lên từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, tình yêu thương, niềm tin. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Hình ảnh người bà, hình ảnh bếp lửa toả sáng lung linh trong kí ức tuổi thơ và có ý nghĩa nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Điệp ngữ “một ngọn lửa” với kết cấu song hành đã làm giọng thơ ngân vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    3. Suy nghĩ về bà và tự cảm của người cháu

    Biện pháp tu từ trong khổ 6 bài thơ Bếp lửa

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa ….. Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    – Tác giả thương bà thật thấm thía, chân thành. Hình ảnh mưa nắng trở đi trở lại, bao xót xa. Nhưng bà vất vả vì bà luôn “giữ thói quen dạy sớm” để nhóm lửa, vì bà luôn ấp iu yêu thương bằng tất cả sự nồng đượm của tấm lòng. Thì ra, giặc giữa, đói kém, nắng mưa… làm bà lận đận đã đành, nhưng thương con, thương cháu mà bà tự nguyện lận đận trọn kiếp người.

    – Điệp từ: “nhóm” diễn tả những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời bà:

    + Bà là người nhóm lửa cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình.

    + Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm niềm yêu thương, niềm vui, niềm tin trong lòng người cháu.

    – Hình ảnh “bếp lửa”: từ nghĩa tả thực đã được tác giả cất giữ trong tâm hồn như một biểu tượng: hơi ấm tình thương, sự che chở, nơi quần tụ, nơi dẫn dắt, niềm tin… bà dành cho cháu, giản dị mà thiêng liêng.

    – Phép ẩn dụ “nhóm niềm…” nó không chỉ khơi gợi niềm yêu thương gia đình, tình làng nghĩa xóm mà nó còn khơi gợi cả những kí ức tuổi thơ, kỉ niệm khó quên nhất.

    4. Lòng kính yêu, tự hào về bà, về quê hương đất nước

    Biện pháp tu từ trong khổ 7 bài Bếp Lửa

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    – Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”… nhưng với cháu, bếp lửa của bà luôn hiện diện. Cháu không nguôi nhớ về bà, về bếp lửa và nỗi nhớ ấy luôn thường trực, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    Bài thơ Bếp Lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa! Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về,

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Nói Giảm, Nói Tránh
  • Chủ Đề: Nói Quá, Nói Giảm, Nói Tránh
  • Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ (Nói Quá, Nói Giảm Nói Tránh)
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm (Chi Tiết)
  • Đề Thi Khảo Sát Chất Lượng Đầu Năm Môn Ngữ Văn Lớp 12 Trường Thpt Thuận Thành Số 1, Bắc Ninh Năm Học 2022
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác.

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Đặc Sắc Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Phẩm
  • Tuần 6. Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân.
  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bức Tranh Thu Trong Bài Thơ Sang Thu, Bài
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Viết Đoạn Văn ( Khoảng 10 Câu) Miêu Tả Hàng Phượng Vĩ Vào Những Ngày Hè . Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ ( Gạch Chân Dưới Biện Pháp Ẩn Dụ
  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học : Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trao Duyên Trích Truyện Kiều Nguyễn Du
  • Vẻ Đẹp Của Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Qua Đoạn Trao Duyên
  • Phân Tích 18 Câu Đầu Bài Trao Duyên
  • Phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ Viếng lăng Bác

    Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5. Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) Bai 5 Song Nui Nuoc Nam Nam Quoc Son Ha Ppt
  • Bài Thơ: Sông Núi Nước Nam
  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Bài Sông Núi Nước Nam Và Phò Giá Về Kinh
  • Nội Dung, Nghệ Thuật, Biện Pháp Tu Từ Của Bài “sông Núi Nước Nam”
  • Bài Thơ Sông Núi Nước Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100