Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Soạn bài Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

    Câu 1 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Hai lời ca dao than thân có hình thức mở đầu “thân em như…”

    + Âm điệu ngậm ngùi, xót xa.

    + Người than thân ở đây được hiểu là cô gái đang độ xuân thì, ngậm ngùi xót xa khi vẻ đẹp của họ không được trân trọng.

    + Họ không có quyền tự quyết cuộc đời của mình.

    – Bài ca 1: người phụ nữ – tấm lụa đào.

    + Thân phận trôi nổi, không tự quyết định được tương lai (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai)

    – Bài ca 2: người phụ nữ – củ ấu gai (xấu ngoài, đẹp trong)

    + Lời bộc bạch tha thiết của cô gái ý thức được giá trị bản thân

    + Khát khao muốn khẳng định giá trị chân thực vẻ đẹp.

    + Nỗi ngậm ngùi, chua xót cho thân phận người phụ nữ xưa.

    Câu 2 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    a) – Sử dụng từ “ai” – đại từ phiếm chỉ để mở đầu bài ca dao, chỉ chung tất cả mọi người – để mở đầu bài ca để chỉ các thế lực ngăn cản tình cảm nam nữ xuất hiện nhiều lần

    + Gợi ra sự than trách nghe xót xa, ngậm ngùi

    b, Cặp ẩn dụ Sao Hôm- sao Mai và mặt Trăng- mặt Trời (để chỉ hai người xứng đôi vừa lứa)

    – Biện pháp so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”: tình duyên bị ngăn cách nhưng lòng người đơn phương vẫn chờ đợi, mong mỏi ngày gặp

    – Sử dụng hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ (tính bền vững) gắn với đời sống của con người, để dễ liên tưởng, cũng là để khẳng định tính thủy chung, son sắt của lòng người.

    – Hình ảnh thiên nhiên gần gũi đời sống, có vẻ đẹp riêng, ngụ ý, diễn tả tâm hồn

    c, Câu cuối sử dụng biện pháp so sánh nhằm thể hiện dù mình không nhớ ta thì ta

    + Sao Vượt tên gọi cổ của sao Hôm, đặc tính, mọc sớm vào buổi chiều, sao lên tới đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc

    + Câu thơ khẳng định tấm lòng chung thủy, nghĩa tình son sắt và ý chí vượt qua những rào cản của tình yêu.

    Câu 3 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng:

    – Ẩn dụ và hoán dụ

    + Chiếc khăn ẩn dụ cho việc gửi gắm nỗi lòng, tình cảm của cô gái tới chàng trai, chiếc khăn còn là hiện thân của cô gái

    + Đôi mắt: hoán dụ nỗi lòng thao thức vì thương nhớ.

    – Phép điệp (lặp từ ngữ)

    + “Khăn thương nhớ ai”: được lặp nhiều lần, nhằm nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ.

    + Nỗi nhớ có nhiều trạng thái, cung bậc khác nhau.

    c, Câu hỏi tu từ “khăn thương nhớ ai- khăn rơi xuống đất? / Đèn thương nhớ ai- Mà đèn chẳng tắt?/ Mắt thương nhớ ai- Mà mắt không yên?

    – Tình cảm, sự nhớ nhung, bồn chồn vì người yêu thể hiện trong mọi hoạt động, mọi khung cảnh.

    d, Những câu thơ ngắn gồm 4 tiếng: thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn.

    Kết hợp với câu lục bát nhằm làm nổi bật sự mong ngóng, trông chờ tới khắc khoải của người con gái.

    Câu 4 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Chiếc cầu: hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sự nối kết khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

    + Chiếc cầu- dải yếm là hình tượng độc đáo, kì lạ trong ca dao, thể hiện khát vọng tình cảm mặn nồng của nam nữ

    + Chiếc cầu phản ánh ước mơ chính đáng của các cặp đôi yêu nhau, đó cũng là ý tưởng táo bạo của cô gái.

    Những bài ca dao xuất hiện hình ảnh chiếc cầu cũng với ý nghĩa tương tự:

    Ước gì sông rộng một gang

    Để em ngắt ngọn mồng tới bắc cầu Câu 5 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    – Cặp hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong ca dao truyền thống gừng cay- muối mặn

    + Được xây dựng từ hình ảnh thực chỉ gia vị trong bữa ăn hằng ngày.

    + Hình ảnh nghệ thuật có tính sóng đôi, biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống- tình nghĩa thủy chung gắn bó son sắt

    + Bài ca dao nói về tình nghĩa thủy chung, hướng nhiều tới tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung

    – Ba năm, chín tháng: sự bền lâu, vĩnh cửu

    Ba vạn, sáu ngàn ngày là 100 năm: trọn kiếp, suốt đời, vĩnh hằng

    → Bài ca dao là câu hát thủy chung, nghĩa tình hướng tới tình cảm vợ chồng mặn nồng, son sắt

    Một số câu ca dao có biểu tượng muối gừng:

    Tay nâng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau Câu 6 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao:

    + Nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp, nói quá

    – Đặc điểm khác biệt: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với người lao động để gọi tên, trò chuyện, so sánh: khăn, con sông, chiếc cầu, vườn hồng…

    – Trong khi đó thơ bác học trong văn học sử dụng trang trọng hơn, có nhiều nét phức tạp hơn

    Luyện tập

    Bài 1 (Trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Thân em như trái bần trôi

    Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

    Thân em như miếng cau khô

    Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày

    Thân em như giếng giữa đàng

    Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

    Các bài ca dao nói về thân em có sắc thái biểu cảm:

    + Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái

    + Sự ý thức cao về giá trị của bản thân của người con gái.

    Bài 2 (trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Nhớ ai như nhớ thuốc lào

    Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

    Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

    Đêm qua ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Buồn trông chênh chếch sao mai

    Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

    Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

    Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

    Nhớ khi khăn mở trầu trao

    Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

    Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

    Câu thơ: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng sáng tạo vượt bậc khi tình cảm nam nữ hòa quyện vào tình yêu đất nước.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10
  • Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Lớp 10
  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu “Bài Ca Ngất Ngưỡng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Tổng Hợp 10 Biện Pháp Tu Từ + Sách Tham Khảo Ngữ Văn Cấp 3
  • Thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ rõ nhất tâm hồn dân tộc. Ý nghĩa cơ bản của thơ ca trữ tình dân gian là biểu đạt những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc của nhân dân.Những tư tưởng, tình cảm và cảm xúc ấy được chuyển tải thông qua những hình ảnh giàu giá trị tạo hình và qua một thế giới nghệ thuật lung linh sắc màu. Một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc của ca dao là ẩn dụ. 

    1. Khái niệm

    – Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được nói đến thì được ẩn đi một cách kín đáo.

    2. Ý nghĩa của ẩn dụ trong ca dao.

    a. Ý nghĩa nhận thức

     - Biện pháp ẩn dụ đưa đến cho ta một nhận thức mới, một lối tư duy mới về sự vật.

    Tiếc thay hạt gạo tám xoan

    Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà

    Ở đây trong nghĩa hiển ngôn ta tiếp nhận được đặc điểm và suy ra mối quan hệ giữa gạo tám xoan, nồi đồng(những thứ đáng giá) với nước cà(là thứ vô giá trị) là mối quan hệ khập khiễng không tương xứng, từ nhận thức về mối quan hệ giữa các sự vật ấy giúp người tiếp nhận liên tưởng về những sự khập khiễng trong cuộc đời, về những sự vô tâm, vô tình, hờ hững của những mối quan hệ giữa con người.

     Như vậy rõ ràng ẩn dụ đã tạo ra một lối tư duy mới cả về phương diện miêu tả sự vật cụ thể lẫn những khái niệm trừu tượng, không định hình, khó đong đếm.

     

    b. Ý nghĩa thẩm mỹ.

    Biện pháp ẩn dụ giúp cho tác giả dân gian diễn tả được những điều thầm kín, thậm chí những điều khó nói nhất, khó diễn đạt nhất bằng những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát vừa giàu chất thơ.

    Quả đào tiên ruột mất vỏ còn

    Buông lời hỏi bạn, lối mòn ai đi

    Quả đào tiên là loại quả quý nhưng cái quý nhất là ruột thì lại mất rồi , chỉ còn lại cái vỏ mà thôi. Ngụ ý bài ca dao này nói về một cô gái không còn giữ được phẩm chất, nhân cách. Vậy thiết nghĩ ít có cách diễn đạt nào tế nhị, bóng bẩy và hay như thế.

     

    c. Ý nghĩa biểu cảm

    Trong đặc điểm của loại hình nghệ thuật sáng tác theo phương thức trữ tình, cái đọng lại trong lòng người tiếp nhận không chỉ ở chỗ sự vật ấy được phản ánh ra sao mà quan trọng là tình cảm, trạng thái tâm hồn của con người thể hiện như thế nào qua cách phản ánh ấy.

    Trong thơ ca trữ tình dân gian, tính chất trữ tình đặc biệt được thể hiện qua các thán từ “trách ai”, “tiếc thay”…

    Tiếc thay hạt gạo trắng ngần

    Đã vo nước đục lại vần than rơm.

     

    Trách người quân tử vô tình

    Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao

     

        Em tưởng nước giếng sâu em nối sợi gầu dài

        Ai ngờ nước giếng cạn em tiếc hoài sợi dây

     

         Công anh bắt tép nuôi cò

        Cò ăn cò lớn cò dò lên cây.

    Như vậy thông qua các thán từ, tác giả dân gian đã bộc lộ rất rõ cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với đối tượng được đề cập, ca dao có bao hàm và chứa đựng hầu hết các ý nghĩa: Thẩm mỹ, nhận thức và biểu cảm.

     

    Ca dao là thể loại văn học dân gian được các nhà nghiên cứu để tâm đến nhiều bởi giá trị nhiều mặt của nó. Những thế giới nghệ thuật trong ca dao như một mảnh đất rộng rãi và hấp dẫn cho những ai quan tâm, yêu thích vẻ đẹp của ca dao.

    Trung tâm gia sư – dạy kèm tại nhà NTIC

                                                                    (nguồn từ internet)

    LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ BIẾT THÊM THÔNG TIN CHI TIẾT

    ĐÀO TẠO NTIC  

    Địa chỉ: Đường nguyễn lương bằng, P.Hoà Khánh Bắc, Q.Liêu Chiểu, Tp.Đà Nẵng

    Hotline: 0905540067 - 0778494857 

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém
  • Vận Chuyển Và Xử Lý Chất Thải Nguy Hại
  • Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Nguy Hại An Toàn, Hiệu Quả Nhất
  • Một Số Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Nguy Hại Hiện Nay
  • Thủ Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Hịch Tướng Sĩ – Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Sóng Hay Và Chuẩn Nhất
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 4 Viết Văn Miêu Tả
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Giúp Học Sinh Lớp 4 Học Thể Loại Văn Miêu Tả Đạt Hiệu Quả Cao
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Khối 11
  • So sánh

    Cấu trúc thủ pháp so sánh trong ca dao được phân thành so sánh trực tiếp và so sánh song hành.

    So sánh trực tiếp là kiểu so sánh với sự hiện diện của các liên từ “như”, “như thể”, “cũng thế”. Trong cấu trúc so sánh trực tiếp có hai dạng:

    – Cấu trúc so sánh triển khai, nghĩa là câu 6 nêu lên định đề có tính chất khái quát: A như B. Còn câu 8 là B’ nêu rõ đặc tính nào đấy của B theo dấu hiệu tương đồng.

    Đôi ta như thể con tằm (A như B)

    Cùng ăn một lá cùng nằm một nong (B’)

    Nếu chỉ ví đôi ta như thể con tằm mà không có sự triển khai tiếp theo, chắc chắn người nghe sẽ thấy khó hiểu, không rõ con tằm ở đây được nhấn mạnh với đặc điểm gì. Vì vậy B’ đã triển khai rõ ràng cùng ăn một lá cùng nằm một nong để diễn tả một cách đặc sắc phù hợp với việc bộc lộ tình cảm của đôi lứa yêu nhau.

    – Cấu trúc so sánh tương hỗ bổ sung, ở kết cấu này không có mệnh đề triển khai mà nêu lên một hoặc hai đối tượng cùng lúc so sánh với nhiều sự vật khác nhau. Các sự vật này có nét tương đồng hoặc đối lập nhau.

    • Có thể là một đối tượng (cái so sánh) được nhấn mạnh trong quan hệ liệt kê bổ sung:

    Đôi ta như lửa mới nhen

    Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

    Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây

    Như chim chèo bẻo xa cây măng vòi

    Đối tượng so sánh được so sánh với nhiều sự vật khác nhau nhằm nhấn mạnh đối tượng.

    • Có thể hai đối tượng trong quan hệ so sánh tương đồng:

    Tình anh như nước dâng cao

    Tình em như dải lụa đào tẩm hương

    Anh và em được so sánh như nhau nhằm nhấn mạnh sự sâu sắc trong tình cảm của cả 2 đối tượng.

    • Có thể hai đối tượng trong mối quan hệ so sánh đối lập:

    Anh như chỉ gấm thêu cờ

    Em như rau má mọc bờ giếng khơi

    Hai hình ảnh so sánh này hoàn toàn đối lập nhau. Hình ảnh so sánh với anh thì cao quý, với em thì dân dã, nhỏ nhoi.

    So sánh song hành là kiểu so sánh chìm giữa hai vế không có liên từ “như”, “như thể”, “là”…

    Cây rầu thì lá cũng rầu

    Anh về anh bỏ mối sầu cho ai

    Cây xanh thì lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con

    Giữa hai vế A (bức tranh thiên nhiên), nêu lên những đặc điểm có tính ổn định mang tính quy luật của thiên nhiên và vế B (bức tranh tâm trạng) có nét tương đồng tạo nên sự so sánh ngầm (nhưng chưa hẳn là ẩn dụ vì chủ thể chưa ẩn đi hoàn toàn). Sự so sánh này làm tăng sức mạnh của lý lẽ được nêu ra, tạo nên sức mạnh của đòn bẩy nghệ thuật.

    Ẩn dụ

    Ẩn dụ trong ca dao có ba ý nghĩa:

    • Ý nghĩa nhận thức, đưa đến cho ta một nhận thức mới, một lối tư duy mới về sự vật.

    Tiếc thay hạt gạo tám xoan

    Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà

    Ở đây trong nghĩa hiển ngôn ta tiếp nhận được đặc điểm và suy ra mối quan hệ giữa gạo tám xoan, nồi đồng (những thứ đáng giá) với nước cà (vô giá trị) là mối quan hệ khập khiễng không tương xứng, từ nhận thức về mối quan hệ giữa các sự vật ấy giúp chúng ta liên tưởng về những sự khập khiễng trong cuộc đời, về những sự vô tâm, vô tình, hờ hững của những mối quan hệ giữa con người.

    • Ý nghĩa thẩm mỹ, giúp cho tác giả dân gian diễn tả được những điều thầm kín, thậm chí những điều khó nói nhất, khó diễn đạt nhất bằng những hình tượng nghệ thuật vừa khái quát, vừa giàu chất thơ.

    Quả đào tiên ruột mất vỏ còn

    Buông lời hỏi bạn, lối mòn ai đi

    Quả đào tiên là loại quả quý nhưng cái quý nhất là ruột thì lại mất rồi, chỉ còn lại cái vỏ mà thôi. Ngụ ý bài ca dào này nói về một cô gái không còn giữ được phẩm chất, nhân cách.

    • Ý nghĩa biểu cảm. Trong đặc điểm của loại hình nghệ thuật sáng tác theo phương thức trữ tình, cái đọng lại trong lòng người tiếp nhận không chỉ ở chỗ sự vật ấy được phản ánh ra sao mà quan trọng là tình cảm, trạng thái tâm hồn của con người thể hiện như thế nào qua cách phản ánh ấy.

    Trong thơ trữ tình dân gian, tính chất trữ tình đặc biệt thể hiện qua các thán từ “trách ai”, “tiếc thay”…

    Tiếc thay hạt gạo trằng ngần

    Đã vo nước đục lại vần than rơm.

    Trách người quân tử vô tình

    Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao

    Như vậy thông qua các thán từ, tác giả dân gian đã bộc lộ rất rõ cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với đối tượng được đề cập,.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sông Núi Nước Nam
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Chi Tiết
  • Giá Trị Nghệ Thuật Khổ Cuối “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Soạn bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa trang 82 SGK Ngữ văn 10. Câu 6. Những biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có gì khác với nghệ thuật thơ trong văn học viết?

    Lời giải chi tiết KIẾN THỨC CƠ BẢN

    Ca dao là một bộ phận quan trọng trong văn học dân gian, đó là phần lời của những bài hát dân ca. Ca giao than thân, yêu thương tình nghĩa là nỗi niềm xót xa, cay đắng và tình cảm yêu thương thuỷ chung, đằm thắm ân tình của người dân trong xã hội cũ.

    Nội dung ca dao biểu lộ đời sống tâm tư của nhân dân lao động trong các lĩnh vực cuộc sống. Những lời than thân, những tiếng nói yêu thương, tình nghĩa chiếm một số lượng đáng kể và có giá trị trong kho tàng ca dao cổ.

    Về nghệ thuật: Ca dao ngắn gọn, hàm súc, ngôn ngữ giản dị, gắn với lời nói hàng ngày, ca dao giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và mang tính đại chúng. Hình tượng trong ca dao chân thật, dân dã và đậm sắc thái dân tộc.

    SOẠN BÀI Câu 1. Bài 1,2 a. Hai lời than thân đều mở đầu bằng Thân em như … với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ như thế nào? b. Anh chị cảm nhận được nỗi đau gì qua mỗi hình ảnh. Trong nỗi đau đó ta vẫn thấy nét đẹp của họ. Đó là nét đẹp gì và nó được ẩn chứa trong lời than thân như thế nào? Trả lời:

    Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ ” thân em như…. ” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mình. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

    “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” có ý nghĩa biểu thị nỗi đau của người con gái đẹp (được ví như tấm lụa đào) không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào? Đây cũng là nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng, đem ra để mua bán, đổi chác.

    Nét đẹp của người con gái trong câu ca này mang màu sắc sang trọng, cao quý, kiêu kì (được ví như tấm lụa đào).

    “Thân em như củ ấu gai

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

    Ai ơi nếm thử mà xem

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”,

    Nỗi đau của người con gái lại được biểu hiện trong hoàn cảnh không được đánh giá đúng mức chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí (như củ ấu). Sự trái ngược giữa hình thức với nội dung “Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen” khiến cho cô gái bị hiểu nhầm (Tuy nhiên, cũng có thể hiểu đâu là một cách nói khiêm nhường cốt để nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong).

    Nét đẹp của cô gái trong bài ca này chủ yếu nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm.

    Câu 2. Bài 3 a. Cách mở đầu bài ca dao này khác gì với hai bài ca dao trên? Anh (chị) hiểu từ “ai” trong câu “Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!” như thế nào? b. Mặc dù lỡ duyên nhưng vẫn thủy chung. Điều đó được nói lên bằng hệ thống so sánh, ẩn dụ như thế nào? Vì sao tác giả dân gian lại lấy những hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tình nghĩa của con người. c. Phân tích để làm rõ vẻ đẹp câu thơ cuối. Trả lời:

    – Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần.

    – “Ai” là đại từ phiếm chỉ. Nó chỉ chung tất cả mọi người. Trong bài ca này từ ai chỉ người trong cuộc (chàng trai hoặc cô gái) hoặc cha mẹ ép duyên mà chia cắt mối tình của họ, hay những đối tượng khác. Từ “ai” gợi ra sự trách móc, oán giận, nghe xót xa đến tận đáy lòng.

    – Bị lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững thủy chung. Điều đó được khẳng định qua các cặp ẩn dụ. Sao Hôm, sao Mai, mặt Trăng – mặt Trời (để chỉ hai người vừa đôi phải lứa); còn thể hiện qua hình ảnh so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”, ý nói tình duyên tuy không thành nhưng lòng người vẫn đơn phương chờ đợi, vẫn mong có ngày gặp nhau.

    – Tác giả lấy các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ này (sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, mặt Trăng, mặt Trời) gắn bó với cuộc sông lao động của những chàng trai, cô gái nông thôn (trong lao động họ thường phải đi sớm, vê khuya, một sương, hai nắng…) cho nên, những hình ảnh này dễ đi vào liên tưởng, suy nghĩ cảm xúc của họ. Hơn nữa, điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

    – Các hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp riêng, có thể trở thành nơi gửi tình, ngụ ý, diễn tả tâm hồn.

    c. Phân tích câu cuối. “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

    – Ý nghĩa của câu cuối: Dù mình không còn nhớ đến ta, thì ta vẫn chờ đợi tình yêu của mình không bao giờ thôi, giống như sao Vượt cứ đứng giữa trời chờ đợi trăng lên.

    – Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    Câu 3. Bài 4 Trong bài ca dao diễn tả nỗi nhớ thật tinh tế, cụ thể. Đó là nhờ thủ pháp gì và thủ pháp đó đã tạo hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Trả lời:

    Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng của chúng:

    a. Ẩn dụ và hoán dụ: “Khăn thương nhớ ai… ” (Chiếc khăn là ẩn dụ gửi gắm nỗi lòng thương nhớ); “Đèn thương nhớ ai… (Chiếc đèn là ẩn dụ nói lên nỗi nhớ khôn nguôi); “Mắt thương nhớ ai… . ” (đôi mắt là hoán dụ nói lên nỗi lòng thao thức vì thương nhớ).

    b. Phép lặp (lặp từ ngữ và mô hình cú pháp)

    Các từ thương, nhớ…được lặp lại nhiều lần, có tác dụng nhấn mạnh, tăng thêm nỗi nhớ thương. Các từ khăn, đèn, mắt cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, gây dấu ấn trong lòng người đọc.

    “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai…”

    c. Các câu hỏi tu từ được sử dụng liên tục: “Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất?… Đèn thương nhớ ai – Mà đèn chẳng tắt? Mắt thương nhớ ai – Mà mắt không yên?…

    Tác dụng của những câu hỏi tu từ liên tục làm cho tình cảm láy đi láy lại, hợp với tâm trạng bồn chồn, không yên vì thương nhớ.

    d. Những câu thơ ngắn gọn gồm 4 tiếng (hình thức văn bản) có tác dụng như một sự thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn. Sự phối hợp với câu lục bát ở cuối càng làm nổi bật sắc thái sốt ruột trong những câu thơ bốn chữ.

    Câu 4. Bài 5 Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp độc đáo của hình ảnh nghệ thuật này. Trả lời:

    – Mô-tip là gì? Là khuôn, dạng, kiểu trong tiếng Việt nhằm chỉ những tổ hợp, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian.

    – “Chiếc cầu” có ý nghĩa tượng trưng cho sự nối liền khoảng cách tình cảm giữa con người với con người. “Chiếc cầu – dải yếm” là một hình tượng độc đáo trong ca dao thể hiện khát vọng tình cảm mãnh liệt của các trang nam nữ thanh niên.

    – Xưa nay, ước mong được ở gần nhau là ước mơ chính đáng của các đôi lứa yêu nhau. Ca dao đã thể hiện ước mong đó một cách sâu sắc, duyên dáng. Cô gái ước mong “sông rộng một gang” để “bắc cầu dải yếm” cho chàng sang chơi. Hình ảnh chiếc cầu giải yếm mãnh liệt và cũng là một ý tưởng táo bạo của cô gái.

    Câu 5. Bài 6 Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người, ca dao lại dùng hình ảnh muối – gừng? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và giá trị biểu cảm mà hình ảnh này trong bài ca dao và tìm thêm một số câu ca dao khác có sử dụng hình ảnh muối gừng để minh họa. Trả lời:

    a. Tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao ( gừng cay – muối mặn). Muốigừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

    b. Phân tích ý nghĩa biểu trưng của gừng và muối trong bài ca dao:

    Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

    – Muối mặn, gừng cay biểu trưng cho nghĩa tình mặn nồng.

    – Ba năm, chín tháng biểu trưng cho sự bền lâu, vĩnh cửu.

    – Ba vạn sáu ngàn ngày tức 100 năm, biểu trưng cho suốt cuộc đời, cũng có nghĩa là vĩnh hằng.

    – Những câu ca dao tương tự:

    Tay bưng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

    Muối càng mặn, gừng càng cay

    Đôi ta tình nặng nghĩa dày em ơi!

    Câu 6. Những biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có gì khác với nghệ thuật thơ trong văn học viết? Trả lời:

    a. Các biện pháp nghệ thuật thường dùng trong ca dao (qua các bài vừa học) là:

    – Biện pháp so sánh (trong các bài 1, 2, 3)

    – Biện pháp ẩn dụ (bài 2, 3, 4, 5, 6)

    – Hoán dụ (bài 4)

    – Nói quá (bài 5, 6)

    b. Những biện pháp nghệ thuật trong ca dao có nét riêng: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với đời sống của người lao động để so sánh, để gọi tên, để trò chuyện như: nhện, sao, mận, đào, vườn hồng, cái đó, con sông, chiếc cầu, chiếc khăn, cái đèn, đôi mắt…Trong khi đó thơ bác học trong văn học viết sử dụng trang trọng hơn, có những nét khó hiểu hơn, uyên thâm hơn. Một bên đậm chất dân gian. Một bên mang tính chất bác học.

    LUYỆN TẬP 1. Tìm 5 bài ca dao mở dầu bằng “Thân em như…” (SGK) Trả lời:

    Thân em như miếng cau khô

    Hoctotnguvan.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10
  • Kê Hoach Đỏi Mới Cảm Thụ Văn Học Ke Hoach Mot Doi Moi Doc
  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa
  • Tài liệu hướng dẫn phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa do Đọc tài liệu tổng hợp và biên soạn giúp em hiểu được cách làm cũng như nâng cao vốn từ ngữ qua việc tham khảo một số bài văn mẫu hay.

    Hướng dẫn phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    Đề bài: Phân tích nội dung Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu: phân tích nội dung Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong bài Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa lớp 10.

    – Phương pháp lập luận chính: Phân tích.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Ca dao than thân – tiếng hát than thân của người phụ nữ.

    Luận điểm 2: Ca dao yêu thương tình nghĩa – tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, tình yêu quê hương, đất nước

    3. Lập dàn ý chi tiết

    a) Mở bài

    – Giới thiệu về đặc trưng thể loại ca dao: Là thể loại trữ tình diễn tả tâm trạng, cảm xúc của con người, gắn với các hình thức sinh hoạt.

    – Giới thiệu về chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa: là bộ phận phong phú nhất trong kho tàng ca dao trữ tình Việt Nam. Nó phản ánh những cung bậc khác nhau trong đời sống tình cảm của người Việt xưa với những đặc trưng nghệ thuật đặc thù.

    b) Thân bài

    * Luận điểm 1: Ca dao than thân -tiếng hát than thân của người phụ nữ.

    +) Bài 1:

    – Chủ thể trữ tình: Là người phụ nữ, được xác định qua đại từ nhân xưng “em”

    – Các hình ảnh được sử dụng trong bài ca dao:

    + Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “tấm lụa đào”:

    • Nghĩa đen: Tấm lụa đào là một mảnh vải đẹp, mềm mại, có giá trị
    • Nghĩa bóng: Gợi liên tưởng đến vẻ đẹp của người phụ nữ, mềm mại nuột nà.

    + Hình ảnh ẩn dụ “chợ”:

    • Nghĩa đen: Chợ là một nơi để trao đổi, giao lưu buôn bán, rất phức tạp
    • Nghĩa bóng: Chợ là sự hiển hiện của một xã hội phức tạp.

    – Từ ngữ:

    + Từ láy “phất phơ”: gợi ra sự bấp bênh, vô định trong cuộc đời người phụ nữ

    + Câu hỏi tu từ: “biết vào tay ai”: Thể hiện những dự cảm đầy lo âu về cuộc đời của người phụ nữ

    + Qua bài ca dao than thân của người phụ nữ, tác giả dân gian muốn thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ đồng thời nói lên niềm cảm thông, chia sẻ với số phận bấp bênh của người phụ nữ.

    + Tố cáo xã hội phong kiến chà đạp quyền sống tự do, được làm chủ của người phụ nữ.

    +) Bài 2:

    – Mô-típ mở đầu “thân em”

    – Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “củ ấu gai”:

    + Nghĩa đen củ ấu gai được miêu tả chân thực: ruột trong trắng, vỏ ngoài đen

    + Nghĩa bóng: Hình ảnh gợi liên tưởng đến người phụ nữ có bề ngoài nhem nhuốc, lam lũ nhưng bên trong thì trong trắng.

    – 2 câu cuối là lời mời mọc đầy thiết tha, táo bạo:

    + Nghĩa đen: Lời mời nếm thử củ ấu gai có bề ngoài đen đúa nhưng bên trong ngọt bùi

    + Nghĩa bóng: Thể hiện khát vọng tự do, khát khao yêu đương, giao cảm của người phụ nữ.

    + Ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ, cổ vũ cho khát vọng yêu đương, giao cảm của họ.

    + Lên án, tố cáo thế lực phong kiến chà đạp quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền làm chủ của người phụ nữ.

    Tham khảo: Phân tích các bài ca dao than thân Thân em

    * Luận điểm 2: Ca dao yêu thương tình nghĩa

    +) Bài 3:Tâm trạng của chàng trai trước chuyện tình duyên lỡ làng

    – Mô típ mở đầu “trèo lên” phổ biến trong ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa, trèo lên cây gạo cao cao và trong bài ca dao này là trèo lên cây khế nửa ngày

    + Trèo lên cây khế: Hành động bình thường

    + Trèo lên cây khế nửa ngày: hành động bất bình thường.

    – Câu hỏi tu từ ” Ai làm chua xót lòng này, khế ơi “: Là lời bộc bạch trực tiếp của chàng trai

    + Ai là đại từ phiếm chỉ để chỉ người hoặc một thiết chế phong kiến nào đó như môn đăng hộ đối, sự phân biệt sang hèn,… đã chia cắt tình duyên của chàng trai.

    + Cách gọi “khế ơi” thân mật, gần gũi như những người bạn tri kỉ.

    – Các cặp hình ảnh đối lập: Sao hôm – sao mai, mặt trăng – mặt trời

    – Lời giãi bày trực tiếp của chàng trai: ” Mình ơi! Có nhớ ta chăng/ Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

    + Mô típ câu hỏi quen thuộc thường gặp trong ca dao: Mình ơi, mình về, mình đi

    + Cách xưng hô “ta – mình”: gần gũi, ngọt ngào, thân thương.

    + Hình ảnh ẩn dụ so sánh “sao Vượt chờ trăng”: thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt không bao giờ thay đổi của chàng trai.

    +) Bài 4: Nỗi niềm thương nhớ người yêu của người phụ nữ.

    * 10 câu thơ đầu: Những cung bậc cảm xúc thể hiện gián tiếp

    – Phép điệp cấu trúc các câu nghi vấn: khăn thương nhớ ai, đèn thương nhớ ai, mắt thương nhớ ai

    – Nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ thương của nhân vật trữ tình. Sự lặp lại cấu trúc cho thấy điệp khúc nỗi nhớ triền miên không dứt. Đó là lời bộc bạch cũng là lời tự vấn của cô gái.

    – Hình tượng “khăn”

    + Khăn vốn là vật gắn bó mật thiết với người con gái, khăn được sử dụng làm kỉ vật đính ước.

    + Là hình ảnh ẩn dụ để chỉ nhân vật trữ tình và nỗi nhớ thương của nhân vật.

    + Các cặp động từ, tính từ đối lập: rơi – vắt, lên – xuống miêu tả trạng thái của chiếc khăn, qua đó hé lộ tâm trạng ngổn ngang, rối bời, lúng túng của nhân vật trữ tình vì thương nhớ.

    + Hành động “chùi nước mắt” cho thấy sự đau khổ của cô gái.

    – Hình tượng “đèn”, “mắt”

    + “Đèn” là hình ảnh ẩn dụ nhân hóa. Hình ảnh “đèn không tắt” gợi liên tưởng đến thời gian đêm khuya, tĩnh lặng và dài vô tận.

    + “Mắt” là hình ảnh hoán dụ. Hình ảnh “mắt ngủ không yên” khắc họa hình ảnh con người thao thức trong đêm.

    * Hai câu thơ sau: Những cung bậc cảm xúc thể hiện trực tiếp

    – Phép điệp liên hoàn: Đêm qua em những lo phiền…lo vì một nỗi…

    – Đại từ nhân xưng “em” cho thấy nhân vật trữ tình trực tiếp xuất hiện bày tỏ nỗi lo lắng, sầu muộn về tình yêu

    – “Không yên một bề” thể hiện nỗi bất an, thổn thức trong lòng cô gái.

    – Dấu chấm lửng ở cuối bài ca dao tạo nên một kết thúc mở, đem lại sức gợi to lớn cho cả bài.

    +) Bài 5:Tình yêu tha thiết, mãnh liệt của người con gái với người yêu

    – Hình ảnh “sông”: Không gian cách trở ngăn cách tình yêu đôi lứa

    – Mong ước của cô gái “sông rộng một gang”: Cách nói cường điệu, phóng đại đầy lí thú

    – “Cầu dải yếm” là một hình tượng đặc sắc và cũng là mô-típ quen thuộc trong ca dao.

    + Cầu là không gian trữ tình, nơi gặp gỡ hẹn hò của biết bao đôi lứa ở làng quê Việt Nam. Hình ảnh cây cầu đi vào ca dao thường mang tính ước lệ “cành hồng, ngọn mồng tơi,…” và trong bài ca dao này là yếm đào.

    + Chiếc cầu này là do chính người con gái bắc cho người mình yêu.

    – Chiếc cầu làm bằng dải yếm: vật mềm mại, gắn liền với thân thể người phụ nữ, là biểu tượng của nữ giới.

    +) Bài 6:Tình nghĩa vợ chồng thủy chung, gắn bó

    – Hai câu đầu:

    + Muối, gừng vốn là những gia vị quen thuộc của bữa ăn, cũng là vị thuốc của người lao động nghèo. Hình ảnh gợi sự liên tưởng đến những khó khăn, chuân chuyên của cuộc đời.

    + Từ ngữ chỉ thời gian: 3 năm 9 tháng. Đây là khoảng thời gian ước lệ chỉ khoảng thời gian dài.

    + Những từ ngữ chỉ hiện tại “muối đang còn mặn”, “gừng hãy còn cay” khẳng định những phẩm chất không thay đổi đổi.

    + Khẳng định tình yêu thủy chung, bền chặt, gắn bó không bao giờ thay đổi của vợ chồng.

    + Ca ngợi tình nghĩa vợ chồng, đồng cam cộng khổ vượt qua mọi khó khăn, gian nan của cuộc đời.

    – Hai câu sau:

    + Đại từ xưng hô “đôi ta”: Chỉ đôi lứa yêu nhau hoặc cặp vợ chồng gắn bó

    + Thành ngữ “nghĩa nặng tình dày”: Khẳng định tình nghĩa sâu nặng, gắn bó của vợ chồng, cùng nhau trải qua những cay đắng của cuộc đời.

    + Hình ảnh hoán dụ: con số “Ba vạn sáu nghìn ngày” tức 100 năm – một đời người: Con số đó đã khẳng định, nếu như vợ chồng có phải xa cách nhau thì đó cũng là lúc đã đi đến tận cùng của cuộc đời. Tức là không gì có thể chia rẽ được vợ chồng cho đến khi chết.

    * Khái quát đặc sắc nghệ thuật

    – Thể thơ: lục bát hoặc lục bát biến thể, song thất lục bát…

    – Ngôn ngữ gần gũi với đời sống hằng ngày, đậm màu sắc địa phương và dân tộc

    – Hình ảnh so sánh, ẩn dụ sinh động, chính xác, có giá trị biểu cảm.

    – Lối diễn đạt bằng một số công thức đậm sắc thái dân gian.

    – Sử dụng các công thức truyền thống “Thân em như”, “Trèo lên”, “Ước gì”, các điệp từ, điệp ngữ.

    – Biện pháp nhân cách hoá, sử dụng các hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng nghệ thuật được chọn lọc

    c) Kết bài

    – Khái quát đặc điểm chung của ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    + Ca dao than thân thường là lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến khóc thương cho thân phận bị phụ thuộc, bị ép duyên, lấy phải chồng không ra gì, bị phụ bạc… Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến.

    + Ca dao yêu thương tình nghĩa thường đề cập đến tình cảm, phẩm chất của người lao động. Đó là tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, tình yêu quê hương, đất nước.

    – Thể hiện thái độ của bản thân:

    + Thêm hiểu về con người Việt Nam xưa, yêu và trân trọng những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc qua các bài ca dao ấy.

    4. Sơ đồ tư duy phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    Phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa bài 1:

    Ca dao là thể loại văn học dân gian diễn tả chi tiết đầy đủ nhất đời sống tư tưởng, tình cảm của nhân dân ta. Ca dao đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống, nhưng nổi bật hơn cả là ca dao than thân yêu thương tình nghĩa. Đó là những câu hát thể hiện đời sống tình cảm, tiếng hát cất lên từ cuộc đời còn nhiều đắng cay, khổ cực,…

    Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

    Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.

    Đây là tiếng than thân của những người phụ nữ, cho thấy số phận chịu nhiều bất hạnh, bất công. Câu thơ mang đến cảm xúc ngậm ngùi, thương cảm cho số phận bất hạnh của những người con gái. Cùng là tiếng than nhưng ở mỗi bài thơ có những nét riêng, không hòa lẫn. Bài thơ thứ nhất, người con gái tự ví mình với tấm lụa đào – miếng vải cao quý, hiếm và rất đẹp. Cô gái ý thức sâu sắc về vẻ đẹp, giá trị của bản thân. Ấy thế nhưng số phận của cô lại hết sức lênh đênh, bị phụ thuộc phất phơ giữa chợ – thân phận lệ thuộc, bị động, không được tự quyết định cuộc đời mình. Ở bài ca dao thứ hai, câu thơ thứ nhất dường như khiến người đọc chưa thể định hướng gì về vẻ đẹp hay phẩm chất của đối tượng. Câu thơ nói lên đặc điểm của củ ấu gai: bên ngoài xấu xí nhưng bên trong trắng trong, đẹp đẽ, đó cũng chính là vẻ đẹp phẩm chất của người con gái. Dù hình thức bên ngoài không hấp dẫn nhưng sức hấp dẫn nằm ở bên trong, ẩn sâu. Để tìm được vẻ đẹp ấy cần có con mắt tinh tế, tấm lòng thấu hiểu. Câu thơ cuối như một lời mời gọi, lời nói tha thiết, thể hiện mong mỏi của cô gái:

    Ai ơi, nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

    Đằng sau lời đề nghị còn ẩn chứa cả một bi kịch: chính vì vẻ đẹp khuất lấp nên giá trị thực không có nhiều người nhận ra, trở thành vô giá trị trong mắt người khác. Qua đó tác giả dân gian đã khắc họa nỗi đau của người phụ nữ: xã hội không cho người phụ nữ thể hiện giá trị thực của mình. Từ bi kịch của hai cô gái trong bài ca dao, họ đã cất lên tiếng nói tố cáo xã hội: không cho họ quyết định cuộc đời, không cho họ thể hiện giá trị của mình, xã hội đã kiềm tỏa, khống chế người phụ nữ khiến họ không được hưởng hạnh phúc. Đồng thời còn cất lên lời ca ngợi và thể hiện thái độ trân trọng với vẻ đẹp của người phụ nữ.

    Những bài ca dao còn lại thuộc chùm ca dao yêu thương tình nghĩa. Nhưng mỗi bài ca dao lại có cách thể hiện rất riêng, rất đặc sắc, biểu hiện những cung bậc tình cảm khác nhau của nhân vật trữ tình. Bài ca dao thứ ba thể hiện tình nghĩa bền vững sắt son dù duyên kiếp không thành. Bài ca dao cũng bắt đầu bằng một motip quen thuộc Trèo lên đây là motip dùng để diễn tả những hành động trái với tự nhiên. Ở đây để diễn tả những cảm xúc xáo trộn, bất an trong tâm hồn của các chàng trai khi lỡ duyên, thất tình. Bài thơ sử dụng hàng loạt câu hỏi tu từ kết hợp với đại từ phiếm chỉ ai, đã xoáy sâu tố cáo các thế lực, đối tượng gây nên nỗi đau khổ của chàng trai, cũng tức là gây nên sự chia cắt tình yêu của đôi lứa, và đó không gì khác chính là những hủ tục, bất công, ngang trái của xã hội phong kiến. Hình ảnh ẩn dụ: mặt trăng – mặt trời; sao hôm – sao mai như một lời khẳng định, nhấn mạnh dù chúng ta không thể nào trùng phùng, không thể đến được với nhau như mặt trăng và mặt trời, như sao hôm và sao mai thế nhưng chúng ta vẫn tương xứng trong vẻ đẹp vĩnh hằng. Và câu thơ cuối, nhân vật trữ tình đã khẳng định lòng thủy chung son sắt của mình: Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. Bài thơ là lời khẳng định tình cảm thủy chung, son sắt, gắn bó đồng thời lên án, tố cáo những hủ tục đã chia rẽ tình yêu đôi lứa.

    Bài ca dao thứ tư lại diễn tả một cung bậc cảm xúc khác nữa của tình yêu chính là nỗi nhớ. Bài có cấu trúc khác so với những bài thơ trên, đó là sự kết hợp giữa thể vãn bốn và thể lục bát, giúp thể hiện rõ hơn tư tưởng, cảm xúc, tình cảm của nhân vật. Tác giả đã kết hợp linh hoạt các biện pháp nghệ thuật: nhân hóa, hoán dụ, câu hỏi tu từ và các biểu tượng khăn, đèn, mắt cho thấy nỗi nhờ thường trực, da diết khắc khoải của cô gái với người mình yêu thương. Nỗi nhớ của nhân vật trữ tình được thể hiện kín đáo qua các vật dụng quen thuộc: khăn, đèn nhưng trạng thái của sự vật không tĩnh tại mà liên tục biến đổi: rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt,… cho thấy nỗi nhớ bồn chồn, khắc khoải của những kẻ đang yêu. Nỗi nhớ mong ấy còn được biểu hiện qua hàng loạt các câu hỏi: Đèn thương nhớ ai; Mắt thương nhớ ai. Dường như nỗi nhớ lúc này đã không thể kìm nén mà bật thành tiếng lòng thổn thức, khắc khoải nhớ thương: đèn không tắt vì nhớ thương, mắt ngủ không yên vì đèn, khăn cũng đang thao thức, đây chính là hình ảnh, biểu hiện cụ thể nhất của tình yêu đôi lứa. Hai câu thơ kết là những âu lo, dự cảm của cô gái:

    Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề.

    Cô lo lắng, bất an, dự cảm về những bất trắc vì người con gái không được tự quyết định tương lai, hạnh phúc của mình. Những vẫn thơ đã chứng tỏ tình yêu chân thành, tha thiết, khắc khoải của cô gái với người mình yêu.

    Bài ca dao thứ năm thể hiện những mong muốn mãnh liệt trong tình yêu:

    “Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”.

    Câu thơ sử dụng hình ảnh biểu tượng quen thuộc: dòng sông – cây cầu. Dòng sông biểu tượng cho sự cách trở. Cây cầu là biểu tượng cho sự vượt lên cách trở để đến được với nhau trong tình yêu. Điều ước của cô gái thật chân thực mà vô cùng đáng yêu: Sông rộng một gang, dòng sông chỉ xuất hiện trong tưởng tượng, trong mong ước của cô gái. Ước muốn rằng khoảng cách của hai ta, những cách trở của đôi mình được rút ngắn một cách tối đa. Cầu dải yếm – để tương xứng với dòng sông rộng một gang. Cây cầu này là biểu tượng vượt lên những cách trở. Đây cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng của cô gái, nói lên ước muốn của cô gái – muốn rút ngắn khoảng cách: khoảng cách về mặt địa lí, khoảng cách của trái tim, vượt qua những ngáng trở để đón nhận tình yêu.

    Bài ca dao cuối cùng không thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, nỗi nhớ nhung trong tình yêu nữa mà thể hiện tình nghĩa gắn bó thủy chung của vợ chồng. Câu thơ sử dụng hình ảnh biểu tượng quen thuộc: muối – gừng, để nói về nghĩa tình sâu nặng, bền chặt, sự thủy chung, gắn bó của vợ chồng. Ngoài ra tác giả còn sử dụng biện pháp lặp cấu trúc: Muối ba năm muối đang còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay, cho thấy sự bền chặt của nghĩa tình vợ chồng. Bài ca dao là lời khẳng định, ngợi ca nghĩa tình vợ chồng gắn bó thủy chung, sâu nặng.

    Các bài ca dao sử dụng các motip quen thuộc: thân em, trèo lên, ước gì kết hợp linh hoạt các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… giúp diễn tả tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình. Ngôn ngữ chọn lọc, giàu giá trị biểu cảm. Hình ảnh giàu giá trị biểu tượng. Nhịp thơ chủ yếu là 2/2/2 êm ái, dịu dàng diễn tả được đa dạng các cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật.

    Những bài ca dao trên đã bộc lộ một cách chân tình và sâu sắc nỗi niềm chua xót, đắng cay trong cuộc sống và tình yêu; tình cảm yêu thương, chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ. Qua đó giúp người đọc biết thấu hiểu và cảm thông hơn với những đau khổ mà người lao động bình dân trong xã hội xưa phải gánh chịu, đặc biệt là người phụ nữ và hơn nữa biết trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn của họ.

    Hướng dẫn phân tích các bài ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa:

    ​​​​​​​Phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa bài 2:

    Bài ca dao đầu tiên là niềm băn khoăn của một người con gái mới lớn khi bước vào tuổi lấy chồng:

    “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    Hình ảnh tấm lụa đào chính là hiện thân cho vẻ đẹp nhan sắc, tuổi xuân phơi phới của người con gái đến tuổi dậy thì, người con gái đã ý thức rất rõ về giá trị của mình. Tuy nhiên tấm lụa đào ấy lại không phải được cất trong rương báu hay vắt trong nhà mà đang được đem bán giữa chợ. Trong thời buổi hôn nhân không được tự do, phụ thuộc cha mẹ gả bán và mai mối đưa đường nên người con gái cảm giác mình đang ở giữa chợ, băn khoăn và sợ rằng không biết chủ của mình sẽ là người như thế nào chứ không phải sợ ế, sợ rẻ.

    “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Không tin bóc vỏ mà xem Ăn rồi mới biết rằng em ngọt bùi”

    Trong bài ca dao này, người con gái lại có tâm trạng lo lắng cho thân phận mình. Dù cô biết rằng phẩm chất của mình thơm ngọt, thảo bùi nhưng vì vẻ ngoài của cô không được hấp dẫn cho lắm nên cô đành phải tự giới thiệu, chào mời và hứa hẹn về phẩm chất của mình. Người con gái muốn được công nhận giá trị của mình nhưng vẫn đầy tự ti, lời mời mọc ấy còn đầy ngượng ngùng.

    “Trèo lên cây khế nửa ngày… Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

    Bài thơ trên nói về người con gái đã có người yêu, hai người đã tương xứng hợp nhau như mặt trăng mặt trời, sao Mai với sao Hôm. Nhưng người con trai dường như có sự thay lòng đổi dạ, trong khi đó người con gái kiên định một lòng chờ mong. Tiếp theo đó là bài ” Khăn thương nhớ ai “, đã nói lên nỗi lòng tương tư thương nhớ bạn tình qua hình ảnh chiếc khăn, ngọn đèn và đôi mắt. Chữ thương chữ nhớ trong ca dao nói chung và trong bài ca dao này nó riêng luôn có những nét mới, dù có lặp đi lặp lại những vẫn không thấy giống nhau. Bài ca dao này cũng có nội dung và nghệ thuật không giống với bất kì bài ca dao nào khác, “thương” và “nhớ” kết hợp với nhau, điệp đi điệp lại mà nghe hoài không chán. Khi người ta đang yêu, mọi vật xung quanh dường như cũng trở nên thân thương và thổn thức cả.

    “Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”

    Chiếc cầu này chỉ có trong tưởng tượng mà thôi, trong những ước vọng thầm kín giữa hai người yêu nhau, đó là chiếc cầu tình yêu, tình yêu luôn mới mẻ và đầy sáng tạo, nó tạo ra một cây cầu kì diệu. Rồi hình ảnh gừng cay – muối mặn biểu tượng cho tình nghĩa sắt son trước những đắng cay của cuộc đời, “ba vạn sáu nghìn ngày” cũng ý nói sống với nhau cho tới đầu bạc răng long, yêu nhau từng ngày.

    Mảng ca dao thân thân yêu thương tình nghĩa đã nuôi dưỡng cho ta những tình cảm sâu sắc đẹp đẽ, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời kho tàng nghệ thuật ngôn từ độc đáo đã kích thích lòng yêu mến và sự sáng tạo của chúng ta.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh Trong Ca Dao Ở Chương Trình Thpt

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca
  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • chứa đựng biết bao phẩm chất, niềm tin của cô về nhân phẩm của mình. Mặt khác, "nước" còn là biểu trưng cho số phận hẩm hiu của những cuộc đời mồ côi lạc lõng. Chàng ơi! Thương thiếp mồ côi, Như bèo cạn nước biết trôi đằng nào. Phản ánh sự phong phú trong biểu hiện của "sông nước" nhân dân ta đồng thời cũng bộc lộ khả năng quan sát tinh tường của mình trong cuộc sống hàng ngày. Chỉ có khi nắm vững những đặc tính của thiên nhiên thì nhân dân ta mới có thể đưa vào những hình tượng này những ý nghĩa biểu trưng đa dạng như vậy. Nhìn chung, tác giả dân gian đã thật sự phát huy đặc trưng bản chất của so sánh. Trong thế giới hình tượng thuộc về thiên nhiên, nhân dân ta đã đưa vào đó tất cả những tâm tình, những kinh nghiệm sống của mình. Bằng những biểu tượng nghệ thuật đa dạng. 2.Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới thực vật. Hình tượng Số lần xuất hiện Hoa Bèo Sen 8 9 5 Khác với nề văn chương bác học, ca dao ta sử dụng một hệ thống hình tượng rất dân dã. Thật vậy, chúng ta hãy thử nhìn lại bảng thống kê. Bước vào ca dao, không phải là những thứ cao sang, quyền quý hay cổ điển ước lệ mà đó là một hình ảnh rất giản dị, gần gũi. Trong nhóm này, "hoa" là hình tượng được nói đến nhiều nhất. Một dòng sông dài ngun ngút, một cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Tất cả đã đem lại nguồn cảm hứng vô tận cho cho những tâm hồn nhạy cảm. Thế nhưng cảm hứng chung mà người nghệ sĩ dân gian gửi vào cánh "bèo" là sự thấp kém, nghèo khó, là thân phận hẩm hiu. Để nói về thân phận bấp bênh của người phụ nữ ngày xưa, cánh bèo đã hiện lên với tất cả sự vô định, lạc loài của mình. Thân em như thể cánh bèo, Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi. Hay: Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo, Thiếp than phận thiếp như bèo trôi sông. Cùng có nét tương đồng là sự thấp kém, lạc lõng nên "cánh bèo" cũng được biểu trưng cho những người mồ côi. Chàng ơi! Thương thiếp mồ côi, Như bèo cạn nước biết trôi đằng nào. Trên mặt nước "bèo" đã lênh đênh vô định nhưng dù sao đó cũng là cuộc sống chính. Nhưng khi nước cạn rồi thì thân phận ấy sẽ ra sao?. Vì vậy, "cánh bèo cạn nước" là biểu trưng cho sự đau khổ, bơ vơ đến tột cùng. Trên dòng chảy chung của cảm hứng về thân phận con người qua hình ảnh "cánh bèo" thì "sen" cũng được nhắc đến. Bởi lẽ, đối lập với ý nghĩa về sự thấp kém của bèo là sự thanh khiết, cao quý của "sen": Thân chị như cánh hoa sen, Chúng em như bèo bọt chẳng chen được vào. Nhưng cũng có khi dựa vào ý nghĩa thường trực là sự thanh khiết thì "sen" cũng được so sánh để chỉ sự oen ố. Đem thân vào chốn cát lầm, Cho thân lấm láp như mầm hoa sen. Nhìn chung, viết về "cánh bèo, hoa sen" ta thường bắt gặp hai ý nghĩa biểu trưng đối lập nhau. Thế nhưng cả hai hình tượng này đều có chung một điểm là thường được so sánh với người phụ nữ. Dù là những thực vật sông nước, vốn nhỏ bé, yếu ớt nhưng "bèo, sen" cũng đã trở thành những hình tượng quen thuộc mà xúc động trong lòng của mỗi người khi tiếp nhận ca dao. Phần lớn, "hoa" thường biểu trưng cho người con gái, "hoa" được so sánh đi liền với cái đẹp: Nhát trông thấy bóng một người Răng đen nhưng nhứt, miệng cười như hoa Trong tình yêu, hoa còn là hình tượng luôn đi liền với "bướm". Vì vậy, "hoa - bướm" là hình ảnh biểu tượng cho người con trai và người con gái. Em như hoa nở trên cành, Anh như con bướm lượn vành trên hoa. Khi đôi trai gái được gắn bó bên nhau hoa cũng được dùng làm biểu tượng ẩn dụ: Mình với ta như con một nhà, Như áo một mắc như hoa một chùm 1. Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới động vật. Hình tượng Số lần xuất hiện Cá Chim Bướm 8 6 4 Không chỉ thế giới thực vật mà thế giới động vật cũng là mãnh đất phì nhiêu cho vườn cây tâm hồn của thi sĩ đơm hoa kết trái. Nhiều nhất trong nhóm hình tượng này là "chim" và "cá". Cánh "chim" thường tự do tung bay trên bầu trời cao rộng bao la. Vì thế, cánh chim như chở lấy ước mơ của nhân dân ta về một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Trong ca dao, đặc biệt là ca dao về tình yêu đôi lứa, hình tượng "chim" đã chở lấy những cung bậc tình cảm, những nỗi buồn, niềm vui mà bao trái tim yêu hằng ấp ủ. "Cánh chim" cũng được nói đến với niềm vui và niềm hạnh phúc : Sao cho trong ấm ngoài êm, Như thuyền có bến, như chim có bầy Nếu "chim có bầy" là hình ảnh biểu tượng cho niềm vui, hạnh phúc thì "chim lạc đàn" là ẩn dụ, biểu tượng cho nỗi buồn, cho sự nhớ mong xa cách. Thương nhau nên phải đi tìm, Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn. Hình tượng "chim" bước vào ca dao không chỉ là những hình tượng đơn lẽ mà nó còn kết hợp với các yếu khác để tạo ra một ý nghiã biểu trưng phù hợp. So sánh là một biện pháp dựa trên sự tương đồng, nhưng so sánh cũng dựa vào sự tương đồng đó để tạo ra sự đối lập. Đó là lí do biến hình tượng "chim" thành hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ đã có chồng ngày xưa. Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng, như cá cắn câu. Hình ảnh so sánh "chim vào lồng" như đã nói lên được tất cả sự tù túng mất tự do. Cánh chim không còn được làm chủ cả một bầu trời rộng lớn thì cũng như cô gái không còn có được sự tự do trong cuộc sống của mình. Với đặc trưng là công khai hai vế nên so sánh đã giúp ta xác định chính xác đối tượng được nói đến, xác định ý nghĩa biểu trưng của hình tượng. Cũng như "cánh chim" thường là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái. Nhưng cái quan trọng hơn trong biện pháp này không phải là ý nghĩa bề nổi đó mà là những màu sắc tình cảm bên trong. Vì vậy, "cá" cũng được nói đến và thường là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái. Nhưng ẩn sau ý nghĩa đó là cả một thế giới tâm hồn phức tạp của người nghệ sĩ. Trong phạm vi tài liệu, những hình ảnh so sánh dùng hình tượng "cá" cũng khá nhiều. Điều này làm cho hình tượng "cá" trở nên rất quen thuộc trong ca dao. Nói đến "cá" thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến môi trường sống, đó là "nước". Trong ca dao, hình ảnh "cá, nước" kết hợp với nhau để biểu trưng cho hạnh phúc, cho sự gắn bó lâu dài của đôi trai gái. Tình cờ bắt gặp mình đây, Như cá gặp nước, như mây gặp rồng. Hay: Đôi ta gắn bó dài đồng, Như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Nếu nói "cá" thường biểu trưng cho người con gái thôi thì vẫn chưa đủ. Bởi lẽ trong so sánh "cá" còn là hình ảnh chỉ người con gái với đặc trưng là đối tượng săn đuổi của các chàng trai. Em như con cá giữa vời, Ai nhanh tay thì được, ai chậm lời thì thôi. Rõ ràng "cá" không hề khô cứng với ý nghĩa bề nổi mà chúng ta còn bắt gặp ở đây bóng dáng của cảm hứng về thân phận. Con cá rơi vào tay ai thì vẫn còn tuỳ thuộc vào từng người bắt cũng như cuộc đời của cô gái vậy. Chính vì vậy, người bắt được thì mãn nguyện, hạnh phúc nhưng ai không bắt được thì tiếc rẽ vô cùng Em như cá lượn đầu cầu, Anh về lấy lưới, người câu mất rồi. Chương 3 Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG CA DAO. 1. Giá trị tạo hình. Như chúng ta đã biết, nói đến văn chương là nói đến tính hình tượng. Muốn hiểu được những trăn trở, tâm tư của người nghệ sĩ thì nhất thiết phải thông qua hệ thống hình tượng. Trong ca dao, đặc biệt ở biện pháp nghệ thuật so sánh, tính hình tượng đã tạo nên những giá trị nghệ thuật độc đáo. So sánh là cách đối chiếu giữa hai đối tượng khác loại, một bên là thế giới hiện thực mà nhân dân ta rút ra từ cuộc sống và một bên là tâm trạng, tình cảm của con người. Dựa trên sự liên tưởng tương đồng để nhân dân ta có thể phản ánh một cách sâu sắc tâm trạng của mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhân dân ta đã xây dựng một hệ thống hình ảnh bên ngoài mà sức sống của hình ảnh đó lại là điều mà nhân dân ta muốn giãi bày. Nhiệm vụ của chúng ta là dựa trên những hình ảnh đó để tìm hiểu nội dung phản ánh của vấn đề. Với đặc trưng đó, bao giờ cũng vậy, so sánh có giá trị tạo hình rất cao . Ví dụ: Thương ai rồi lại nhớ ai, Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng. Ở đây, nỗi nhớ thương của nhân vật trữ tình được gửi vào hình ảnh "khoai mới trồng". Dựa vào kinh nghiệm rút ra được từ cuộc sống của mỗi người để từ hình ảnh này ta cảm nhận được nỗi buồn chất chứa trong lòng của tác giả dân gian.Tâm tư, tình cảm là những cái vốn rất trừu tượng, khó nói hoặc không thể nói.Thông qua hình ảnh bên ngoài đó mà tâm tình của nhân dân ta hiện lên thật cụ thể. Có thể nói, cùng với những biện pháp nghệ thuật cụ thể là những biện pháp nghệ thuật tu từ thì so sánh có giá trị tạo hình rất cao. Bao giờ so sánh cũng công khai hai vế khi đối chiếu và chỉ đối chiếu với một đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng. Đó là lí do làm cho đối tượng được so sánh (sự vật hiện tượng) hiện lên rất cụ thể, chân thật bởi dễ cảm nhận, dễ có những tác động vào sự liên tưởng của con người. Và như một chìa khoá mở cánh cửa bí mật, những hình ảnh sóng động đó đã mang lại sự biểu hiện sâu sắc cho nội dung tình cảm. So với nền văn chương bác học, thì giá trị tạo hình của so sánh trong ca dao có gì đặc biệt không? Có thể nói, để phản ánh những nội dung vừa phong phú, vừa sâu sắc thì so sánh đã thực sự chứng minh khả năng nghệ thuật của mình. Hàng loạt những hình ảnh gần gũi, quen thuộc thừ thế giới tự nhiên như ùa vào ôm lấy tâm trạng con người. Điều đó đã làm xuất hiện một hệ thống hình ảnh hết sức thân quen. Đây là nhân tố quan trọng để góp phần hiểu sâu sắc hơn, chính xác hơn về tình cảm của nhân dân ta. Hay nói khác hơn, thế giới hình tượng trong ca dao là thế giới cụ thể, không xa lạ với cuộc sống con người. Thế giới đó đã không ngừng phản ánh những tình cảm hết sức tự nhiên, mộc mạc mà lại sâu sắc của nhân dân lao động Việt Nam. Còn trong văn chương bác học, đặc biệt là thơ. Vì những quy định chặt chẽ đối với người cầm bút nên thế giới hình tượng được nằm trong khuôn khổ nhất định. Đặc biệt hơn, những hình ảnh được dùng làm hình tượng mang nặng tính chất ước lệ, cổ điển. Chính điều đó làm nên vẻ uyên bác, hàn lâm cho thơ xưa. Nhưng trái lại thế giới đó đôi khi mang lại sự khó hiểu cho người tiếp nhận hoặc hiểu nhưng không cặn kẽ vấn đề. Thật ra trong ca dao, so sánh không phải không sử dụng những hình ảnh ước lệ, cổ điển. Vẫn còn ở đó những: rồng - mây, trúc - mai, loan - phụng, nhưng chúng luôn được sử dụng trong tiêu chí kết hợp với những hình ảnh hay những tình cảm gần gũi, giản dị khác. Vì thế, có thể thấy qua ca dao, tình cảm, ước muốn, tâm trạng của nhân dân ta hiện lên như một bức tranh, một thế giới màu sắc, sóng động. Thiên nhiên, ngoại cảnh như có hồn, có sức sống vì được nói tiếng nói của con người, được đập những nhịp đập thổn thức của trái tim khi con người có nỗi buồn hoặc niềm vui. Chỉ một vài câu ca dao ngắn ngủi nhưng so sánh đã thực sự tạo ra những hình tượng hoàn chỉnh nhờ giá trị tạo hình mà nội dung thể hiện thì lại không hề đơn giản. Vả lại, thiên nhiên là nguồn nguyên liệu vô tận để nhân dân ta vận dụng khi so sánh. Chính vì thế, hiện lên trong ca dao là kho tàng hình tượng phong phú. Điều đó phần nào nói lên được nhu cầu biểu hiện tình cảm mạnh mẽ của nhân dân ta. Tóm lại, giá trị tạo hình không chỉ riêng trong ca dao mới có cũng như không chỉ so sánh mới tạo được giá trị này. Nhưng ở đây nó được biểu hiện rõ nhất, cụ thể nhất, sinh động nhất. 2. Giá trị nhận thức. Bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng vậy, khi muốn nói lên một vấn đề gì thì lại rất mong người tiếp nhận có thể hiểu nó để từ đó chia sẻ với anh ta niềm vui hoặc nỗi buồn. Ca dao ta cũng không nằm ngoài điều đó. Dù người nghệ sĩ dân gian có sử dụng biện pháp nghệ thuật nào đi chăng nữa thì ở đó vẫn thấm nhuần ước muốn giãi bày được lòng mình và có người đồng cảm với nỗi lòng đó. Và như một quy luật, trong so sánh, nhờ những hình ảnh cụ thể, gần gũi ở giá trị tạo hình mà việc tìm hiểu nội dung ca dao thêm phần phong phú. Chính điều đó đã mang lại giá trị nhận thức sâu sắc. Như đã trình bày, văn chương là một hình thức nghệ thuật mà ở đó đòi hỏi cao khả năng tư duy của người nghệ sĩ. Ca dao ta cũng không ngoại lệ. Cũng được ra đời nhằm đáp ứng cho nhu cầu tinh thần, tình cảm của con người. Và vì thế, dù là những nghệ sĩ dân gian nhưng mỗi tác phẩm họ tạo ra dều chứa đựng ở đó những tình cảm, những trăn trở về một vấn đề gì đó trong cuộc sống. Đặc biệt qua biện pháp so sánh, mỗi câu ca dao là những giá trị nhận thức to lớn. Trước hết, đó là nhận thức của người nghệ sĩ. Tuy ai cũng có thể sáng tác ca dao nhưng qua những câu ca dao sử dụng biện pháp so sánh, chúng ta có dịp nhìn lại khả năng sáng tạo, hiểu biết của dân tộc. Ca dao vốn nặng chất trữ tình, thiên về tình cảm. Điều đó đã phần nào lí giải cho những âm điệu ngọt ngào, êm ả ở ca dao. Việc bày tỏ tình cảm là chủ yếu vàthiên nhiên đối với nhân dân ta là đối tượng tin cậy để trút cạn bầu tâm sự của mình. Có thể nói, ca dao ta đã vận dụng rất thành công biện pháp so sánh. Để làm được điều này so sánh đã mang lại rất nhiều giá trị cho nội dung diễn đạt của ca dao. Việc sử dụng so sánh trong ca dao đã tạo nên một phương thức diễn đạt ngắn gọn, súc tích làm thành đặc trưng của thể loại trữ tình dân gian này. Như nhà văn hiện thực Nga A.P. Sêkhôp đã từng đưa ra quan điểm nghệ thuật đặc biệt của mình: "Biết nói ngắn về những chuyện dài; Nghệ thuật viết là nghệ thuật rút gọn". Để thực hiện điều này thì lại không hề đơn giản. Thế nhưng trong ca dao, so sánh đã làm được điều đó. Bằng bức tranh thiên nhiên mà hình ảnh so sánh gợi ra tuy rất giản đơn, ngắn gọn về ngôn từ nhưng ẩn sâu ở đó là cả một thế giới vô cùng hấp dẫn. Tuy nói ít nhưng lại được hiểu nhiều, nói giản đơn mà lại thấm rất sâu. Tuỳ vào khả năng liên tưởng của mỗi người mà ý nghĩa của câu ca dao sẽ được khai thác sâu cạn nhất định. Tóm lại, là một bộ phận của văn học nghệ thuật nói chung, ca dao mang những giá trị nhận thức sâu sắc. Rõ ràng không chỉ có so sánh mới có giá trị nhận thức. Bởi lẽ bất kỳ một biện pháp nghệ thuật nào cũng được dùng đẻ diễn tả một điều gì đó, điều mà chúng ta cần khám phá, tìm hiểu. Thế nhưng ở so sánh, vì giữa cái so sánh và cái được so sánh luôn song hành với nhau. Điều đó cũng có nghĩa là phạm vi đối tượng đã bị giới hạn lại. Đây là đặc điểm quan trọng để mỗi chúng ta có thể đi thẳng, đi nhanh, đi sâu vào nội dung được diễn đạt. Nếu văn chương là một "cuốn sách giáo khoa về đời sống" thì ca dao là "cuốn sách giáo khoa về tình cảm con người". Cuốn sách ấy đến với bao lớp người và trở thành công cụ thẩm mỹ giúp người tiếp nhận nhận thức được những giá trị tình cảm quý báu của dân tộc. Đọc cuốn sách ấy tâm hồn con người thêm bay bổng, mở rộng chân trời tình cảm. 3. Giá trị thẩm mỹ. Bằng việc khám phá thế giới tự nhiên, đem lại cho thế giới ấy diện mạo mới, sát nhập thế giới tự nhiên với thế giới tình cảm con người nhưng điều đó phải tuân theo quy luật của cái đẹp. Là một biện pháp được nhân dân ta sử dụng thường xuyên trong việc thể hiện nội dung ca dao thì cái đẹp ( giá trị thẩm mỹ) cũng là giá trị to lớn mà so sánh có được. Có thể nhận thấy rằng, nói đến giá tri thẩm mỹ là nói đến cái đẹp nhưng không chỉ văn chương nghệ thuật mới có cái đẹp. Mọi hoạt động thực tiễn vật chất của con người đều có ý nghĩa thẩm mỹ. Tuy vậy, phải công nhận rằng cái đẹp trong nghệ thuật là tập trung nhất, mãnh liệt nhất, biểu hiện rõ nhất của quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Ca dao cũng là một hình thức nghệ thuật mà trong đời sống tinh thần của nhân dân ta ca dao đảm đương trọng trách biểu hiện và truyền thụ giá trị thẩm mỹ, trong đó cái đẹp là trung tâm. Giá trị thẩm mỹ được bộc lộ bằng việc làm thoả mãn nhu cầu về lí tưởng thẩm mỹ, ước mơ, sự hoàn thiện hoàn mỹ của con người trước thế giới. Trong thế giới trữ tình của ca dao Việt Nam, giá trị thẩm mỹ được biểu hiện rõ nhất là việc biểu lộ, bày tỏ tình cảm của con người. Hay cụ thể hơn đó là việc biểu hiện tâm trạng con người. Chúng ta - những người tìm hiểu ca dao, tiếp nhận tâm trạng, tình cảm đó của nhân dân cũng có nghĩa là tiếp nhận giá trị thẩm mỹ sâu sắc. Đến với giá trị thẩm mỹ đó nó có thể đem đến cho ta một khoái cảm hay một niềm xúc động. Vì một lẽ, nếu đã gọi là cái đẹp thì nhất thiết nó phải chân thực, sinh động, có khả năng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Đó cũng là nhiệm vụ được đặt ra cho bất kỳ một biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng - so sánh là tiêu biểu. Dùng đặc trưng cơ bản của mình là cụ thể hoá một cách hình ảnh những tâm trạng của nhân dân ta, so sánh đã không ngừng giúp tác giả dân gian thể hiện tình cảm, ước muốn của mình. Mỗi hình ảnh, sự vật, hiện tượng từ thế giới tự nhiên bước vào ca dao làm thành hình ảnh so sánh là mỗi biểu hiện khác nhau của trạng thái tình cảm con người. Chúng ta cần nhận ra rằng, tạo hình, nhận thức, thẩm mỹ là ba giá trị của biện pháp so sánh. Chúng luôn tác động vào nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giá trị này làm nền tảng, cơ sở để xây dựng giá trị kia. Gía trị thẩm mỹ có thể phát huy tác dụng mãnh liệt khi so sánh đạt được giá trị nhận thức cao và ngược lại. Nhưng muốn nhận thức được thì giá trị tạo hình cũng không thể xem nhẹ. Vả lại, một khi ở so sánh, giá trị tạo hình và nhận thức được biểu hiện tập trung, rõ nét thì điều đó cũng mang lại giá trị thẩm mỹ đầy ý nghĩa. Nhìn chung, ca dao ta có thể sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật nào đó để đáp ứng nhu cầu tình cảm một cách hết sức cô đọng, tinh tế, cụ thể nhưng không thể bỏ qua so sánh. Đây là hình thức nghệ thuật khi sử dụng đạt hiệu quả rất cao. Nhờ sự vận dụng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc mà so sánh đã giúp tác giả dân gian nói lên ước mơ, khát vọng hạnh phúc, của mình một cách mãnh liệt. Qua đó thế giới tự nhiên như được gần gũi hơn, đẹp hơn và thật sự hoà nhập với con người hơn. Làm được điều này, so sánh đã đem lại gía trị to lớn - giá trị thẩm mỹ. KẾT LUẬN Nếu ai đã từng không biết nhớ khi phải sống xa quê, từng ruồng bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình mà không thấy tiếc thì hẳn kẻ đó chưa từng được tiếp xúc với ca dao dân tộc. Đến với ca dao là đến với sự ấm áp nghĩa tình, những kỷ niệm vui buồn từ đồng ruộng, từ luỹ tre làng, đến với con người Việt Nam cần cù chân chất mà có thế giới tâm hồn vô cùng phong phú. Có thể nói, ca dao như một bức tranh lưu giữ tất cả những kinh nghiệm làm ăn, tâm trạng, tình cảm của dân tộc ta. Có nhiều chất liệu để vẽ lên bức tranh ấy mà biện pháp nghệ thuật so sánh là chất liệu tiêu biểu. Tìm hiểu biện pháp nghệ thuật so sánh, chúng ta không thể bỏ qua hệ thống kết cấu đa dạng lại càng không thể bỏ qua những hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng phong phú. Bởi lẽ, đây là hai yếu tố quan trọng của so sánh trong việc giúp tác giả dân gian thể hiện những trăn trở, những tâm tình của mình trước cuộc sống hay cuộc đời. Nếu chúng ta dễ dàng nhận ra biện pháp này với những từ quan hệ cụ thể thì vẫn còn ở đó hình thức so sánh chẳng có từ chỉ quan hệ nào. Mặt khác, so sánh là cách đối chiếu giữa hai đối tượng khác loại, và bao giờ cũng vậy, những hình ảnh mà nhân dân ta rút ra từ thực tế cuộc sống vẫn được đi vào ca dao làm hình ảnh so sánh nhiều nhất. Đó là những hiện tượng tự nhiên, những vật thể vũ trụ, môi trường địa lý hay cây cỏ, loài vật gắn chặt với đời sống của con người. Bên cạnh đó là những hình ảnh ước lệ, cổ điển góp phần làm nên vẻ trang trọng mà gần gũi cho ca dao. Cũng như những biện pháp nghệ thuật khác, nghĩa là so sánh cũng mang nhiệm vụ đưa cái trừu tượng trở về với sự cụ thể, gần gũi. Nhưng cái riêng của so sánh là việc công khai hai vế khi đối chiếu. Chính vì vậy, hình ảnh đã cụ thể thì lại càng cụ thể hơn, tình cảm đã sâu sắc thì lại càng sâu sắc hơn. Mỗi hình ảnh tuy chỉ được nói đến với một đặc trựng nào đó nhưng đó là bản chất, là hoà hợp với tình cảm con người. Cũng từ đây, việc chọn lựa cho mình một thuộc tính của đối tượng đã để lại khả năng sáng tạo đến tinh tường và đã đi sâu vào sự khám phá hiện thực của nhân dân ta. Đến với "Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao", chúng ta có dịp tìm hiểu một thứ tình cảm thiêng liêng nhất của con người. Có dịp nhìn lại sự phong phú mà sáng tạo trong tâm hồn, trí tuệ của người dân lao động Việt Nam ngày xưa. Hơn bao giờ hết, việc tìm hiểu tâm hồn dân tộc trong ca dao như tìm hiểu một quyển sách quý để có thể mở mang và cảm nhận. Ca dao ta như một mạch nước ngầm mà làm nên sự trong trẻo, vị ngọt ngào cho mạch nước ấy, so sánh đã không ngừng thay hình đổi dạng để làm tròn nhiệm vụ nghệ thuật của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Tìm Hiểu Về Nghệ Thuật Ẩn Dụ Để Ứng Dụng Trong Văn Học
  • Ẩn Dụ Là Gì? Các Hình Thức Ẩn Dụ Và Phân Biệt Ẩn Dụ Với Biện Pháp Khác
  • Phân Tích 12 Câu Thơ Đầu Trong Đoạn Trích Trao Duyên Của Nguyễn Du
  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh Trong Ca Dao Ở Chương Trình Thpt
  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca
  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước
  • Đề bài: Giới thiệu một số biện pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao yêu thương, tình nghĩa

    Biện pháp nghệ thuật mà ca dao yêu thương tình nghĩa thường xuyên sử dụng là so sánh (còn gọi là tỉ dụ). So sánh là việc đối chiếu sự vật này với sự vật khác dựa trên những đặc điểm giống nhau nào đó giữa hai sự vật nhằm tạo nên những hình ảnh nghệ thuật mới mẻ tạo những cảm xúc thẩm mỹ cho người nghe, người đọc. Ca dao yêu thương tình nghĩa sử dụng biện pháp so sánh để bóc lột những tình cảm trong sáng, cao đẹp hay những trạng thái cảm xúc cụ thể nào đó của nhân vật trữ tình:

    “Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương”.

    Biện pháp so sánh trong ca dao yêu thương tình nghĩa là cách so sánh trực tiếp. Các từ so sánh thường gặp là; “như’, “như thế”. Nhờ có so sánh, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ cụ thể hơn, dễ hiểu hơn:

    “Đôi ta như thể con ong Con quấn con quýt con trong con ngoài”.

    Bên cạnh so sánh, nhân hóa cũng là một biện pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao yêu thương tình nghĩa.

    “Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai”.

    Nhờ biện pháp nhân hóa, những sự vật vô tri vô giác trở nên có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy cũng chính là tình nghĩa của con người được giãi bày, bộc lộ trong ca dao.

    Cùng với so sánh nhân hóa, ẩn dụ cũng được sử dụng thường xuyên. Ẩn dụ là phép so sánh ngầm, so sánh gián tiếp. Biện pháp này làm cho bài ca dao được rút ngắn và do đó trở nên hàm súc, cô đọng hơn.

    “Cô kia đứng ở bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”.

    Nhiều hình ảnh ẩn dụ được dùng nhiều lần trở thành quen thuộc và dần dẩn trở thành những hình tượng mang tính ước lệ, tượng trưng cao như thuyền – bến, cây đa – bến nước, mận – đào, trúc – mai…

    “Ước gì anh hóa ra gương Để cho em cứ ngày thường em soi Ước gì anh hóa ra coi Để cho em. đựng cau tươi trầu vàng”

    Việc lặp lại như vậy đã dem lại giá trị biểu hiện đáng kể. Nó đã thể hiện được khát vọng cháy bỏng của chàng trai luôn muốn được gần gũi bên cạnh người yêu, thỏa nỗi nhớ niềm thương mà chàng dành cho người yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Tìm Hiểu Về Nghệ Thuật Ẩn Dụ Để Ứng Dụng Trong Văn Học
  • Ẩn Dụ Là Gì? Các Hình Thức Ẩn Dụ Và Phân Biệt Ẩn Dụ Với Biện Pháp Khác
  • Phân Tích 12 Câu Thơ Đầu Trong Đoạn Trích Trao Duyên Của Nguyễn Du
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Tâm Lý Nhân Vật Trong Đoạn Trích “trao Duyên” Truyện Kiều
  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Biện pháp nghệ thuật mà ca dao yêu thương tình nghĩa thường xuyên sử dụng là so sánh (còn gọi là tỉ dụ). So sánh là việc đối chiếu sự vật này với sự vật khác dựa trên những đặc điểm giống nhau nào đó giữa hai sự vật nhằm tạo nên những hình ảnh nghệ thuật mới mẻ tạo những cảm xúc thẩm mĩ cho người nghe, người đọc. Ca dao yêu thương tình nghĩa sử dụng biện pháp so sánh để bóc lột những tình cảm trong sáng, cao đẹp hay những trạng thái cảm xúc cụ thể nào đó của nhân vật trữ tình:

    “Tình anh như nước dâng cao

    Tình em như dải lụa đào tẩm hương”.

    Biện pháp so sánh trong ca dao yêu thương tình nghĩa là cách so sánh trực tiếp. Các từ so sánh thường gặp là; “như’, “như thế”. Nhờ có so sánh, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ cụ thể hơn, dễ hiểu hơn:

    “Đôi ta như thể con ong

    Con quấn con quýt con trong con ngoài”.

    Bên cạnh so sánh, nhân hóa cũng là một biện pháp nghệ thuật thường gặp trong ca dao yêu thương tình nghĩa.

    “Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai”.

    Nhờ biện pháp nhân hóa, những sự vật vô tri vô giác trở nên có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy cũng chính là tình nghĩa của con người được giãi bày, bộc lộ trong ca dao.

    Cùng với so sánh nhân hóa, ẩn dụ cũng được sử dụng thường xuyên. Ẩn dụ là phép so sánh ngầm, so sánh gián tiếp. Biện pháp này làm cho bài ca dao được rút ngắn và do đó trở nên hàm súc, cô đọng hơn.

    “Cô kia đứng ở bên sông

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”.

    Nhiều hình ảnh ẩn dụ được dùng nhiều lần trở thành quen thuộc và dần dẩn trở thành những hình tượng mang tính ước lệ, tượng trưng cao như thuyền – bến, cây đa – bến nước, mận – đào, trúc – mai…

    “Ước gì anh hóa ra gương

    Để cho em cứ ngày thường em soi

    Ước gì anh hóa ra coi

    Để cho em. đựng cau tươi trầu vàng”

    Việc lặp lại như vậy đã đem lại giá trị biểu hiện đáng kể. Nó đã thể hiện được khát vọng cháy bỏng của chàng trai luôn muốn được gần gũi bên cạnh người yêu, thỏa nỗi nhớ niềm thương mà chàng dành cho người yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca
  • Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh Trong Ca Dao Ở Chương Trình Thpt
  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Tìm Hiểu Về Nghệ Thuật Ẩn Dụ Để Ứng Dụng Trong Văn Học
  • Nghệ Thuật Chơi Chữ Trong Ca Dao Dân Ca Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Cảm Nhận Hai Khổ Thơ Cuối Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Viếng Lăng Bác, Bài Văn Mẫu Hay Nhấ
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Khổ Hai Bài Viếng Lăng Bác
  • Trần Minh Thương

    Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung và trong Tiếng Việt nói riêng. Có nhiều định nghĩa, khái niệm, … giải thích vấn đề này, xin được nêu một số ý kiến như sau:

    Tự điển Tiếng Việt giải thích: “Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói. (Hoàng Phê (chủ biên) – Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).

    Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là “lộng ngữ” và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe”. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ – người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển “từ điển” này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ – người viết chú thêm). (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – Từ điển thuật ngữ văn học – Nhà xuất bản Giáo Dục . H. 2007

    Tác giả Hữu Đạt thì xem chơi chữ là một đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ thơ Việt Nam và nêu định nghĩa: “Chơi chữ là một biện pháp tu từ nghệ thuật dựa vào những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ, vận dụng linh hoạt đơn vị cơ bản của tu từ học (là chữ hoặc tiếng) đặt nó trong mối quan hệ nhiều chiều, nhiều phía với các đơn vị cùng bậc và khác bậc, nhằm khai thác tính chất nước đôi của các đơn vị ngôn ngữ dựa vào sự hiện diện của văn cảnh”. (Hữu Đạt – Ngôn ngữ thơ Việt Nam – Nxb Giáo dục. H. 1996).

    Từ những cách lý giải trên soi rọi vào ca dao chúng ta dễ dàng thấy được nghệ thuật độc đáo mà ngày xưa cha ông ta đã vận dụng.

    Từ những từ láy lại đơn giản:

    Trong chúng ta ai đó đã từng nghe câu hát của những người làm “nghề ” nói thơ dạo của những năm cuối thế kỷ trước:

    Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên Ai cho đồng tiền tôi kể Vân Tiên.

    Vân Tiên là tên nhân vật chính trong tác phẩm “Lục Vân Tiên” của cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Tác giả dân gian khi hát đã láy lại thành câu lục “Vân Tiền, Vân Tiễn, Vân Tiên” trong cặp lục bát dẫn trên cho đủ lượng chữ cần thiết của một dòng thơ. Giá trị của việc chơi chữ ở đây chỉ có vậy.

    Cũng tương tự như thế ta có thể dẫn chứng một trường hợp khác: chơi chữ bằng việc sử dụng từ láy kiểu như trên:

    Con mèo, con mẻo, con meo Ai dạy mày trèo, mà chẳng dạy tao?

    Từ “con mèo” được láy lại hai lần nhằm tạo âm hưởng cho câu thơ!

    Với cách chơi chữ lặp đi lặp lại như thế, nhiều câu ca dao đã gợi nên cuộc sống quẩn quanh bế tắc không lối thoát của phận cái kiến, con ong ở xã hội ngày trước:

    Leo phải cành cụt leo ra, leo vào Leo phải cảnh cụt leo vào, leo ra.

    Hoặc như trong một tình cảnh khác, chơi chữ kiểu láy này để thể hiện nét nghĩa gắn lết không muốn xa rời nhau của đôi nam nữ “đá trót dan díu”…

    Đó là cách chơi chữ bình thường vốn dĩ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của ng dân quanh năm “một nắng hai sương” bên cánh đồng thửa ruộng. Trong thơ ca bình dân còn có nhiều kiểu “chơi chữ” khác mà dụng ý của nó cũng rất uyên thâm.

    Chơi chữ bằng cách dùng hiện tượng từ đồng âm khác nghĩa giữa từ đơn tiết với tiếng trong từ đa tiết:

    Xin dẫn bài ca dao quen thuộc sau đây để làm ví dụ:

    Một trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp? Một trăm thứ bắp, bắp chi là bắp không rang? Một trăm thứ than, than chi là than không quạt? Một trăm thứ bạc, bạc chi là chẳng ai mua? Trai nam nhi anh đối đặng thì gái bốn mùa xin theo.

    Muốn biết nghĩa của các từ “dầu”; “bắp”; “than”; “bạc” trong các câu hát đố trên, ta xem tiếp phần đáp lại thì hiểu được sự điêu luyện của nghệ thuật này.

    Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp. (Một dị bản khác: Một trăm thứ dầu, dãi dầu thì không ai thắp)

    Một trăm thứ bắp, bắp chuối thì chẳng ai rang. (Một dị bản khác: Một trăm thứ bắp lắp bắp mồm, lắp bắp miệng thì chẳng ai rang)

    Một trăm thứ than, than thân là than không ai quạt. Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua Chơi chữ là cách dùng các từ đơn tiết đồng âm nhưng khác nghĩa: Răng đó(5) không phân qua nói lại đôi lời cho đây hay?

    Từ đó mà tác giả dân gian sử dụng trong bài ca dao trên vừa là danh từ chỉ một dụng cụ đánh bắt, vừa là đại từ chỉ nơi chốn được “mượn” làm đại từ nhân xưng chỉ người. Từ là thú vị và đa tầng nghĩa nhất vậy.

    Gợi lên một ý nghĩa khác “tục” mà thanh bởi từ “đẩy” đa nghĩa (cả nghĩa trong khẩu ngữ) của câu ca dao sau đây:

    Em ơi nên lấy thợ bào Khom lưng ảnh đẩy cái nào cũng êm

    Xét từ ngữ nghĩa tường minh của văn bản thì không có gì hết, nó chỉ miêu tả một hành động bình thường của anh thợ mộc làm động tác bào cây, gỗ, nhưng xét về nghĩa hàm ẩn của nó thì thật là “độc”, mà cái “độc” ấy là do nghệ thuật “chơi chữ’ tạo ra.

    Công dụng của nét chơi chữ ấy dùng để phê phán. Phê phán thầy đồ đạo cao đức trọng, cố ý “thanh cao” nhưng không tránh khỏi cái bản năng bình thường của con người, tác giả dân gian chơi chữ “đồ” để mỉa mai hết sức thâm thuý trong bài ca dao sau đây:

    Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ Ra hồ sen xem ả hái hoa Đêm năm canh đồ nằm khôn nhắp Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia

    “Đồ nọ” tưởng “đồ kia” là hai từ đồng âm nhưng một từ với nghĩa là thầy đồ – một hạng người trong xã hội, và một từ “đồ” cũng là danh từ nhưng để chỉ sinh thực khí của phụ nữ!

    Nhiều khi cách chơi chữ đồng âm này tránh được cái tục, một sự nói tránh hết sức tinh tế:

    Sáng trăng em nghĩ tối trời Em ngồi em để sự đời em ra Đen như mõm chó chém cha sự đời.

    Cái sự đời mà câu ca dao đề cập bằng việc dùng nghĩa lấp lửng nước đôi như trên chắc chắn rằng ai cũng biết đó là cái gì rồi!

    Phê phán “bà già” còn muốn chồng được tác giả dân gian mỉa mai bằng cách chơi chữ “lợi” trong một bài ca dao quen thuộc:

    Bà già đi chợ Cầu Đông Xem bói một quẻ lấy chồng lợi chăng Thầy bói gieo quẻ nói rằng

    Lợi vừa là tính từ chỉ việc có ích, vừa chỉ một bộ phận trong vòm họng con người: cái ” nướu răng”!

    Đôi khi kín đáo hơn, nhẹ nhàng, để nói đến thân phận bấp bênh về thân phận của người phụ nữ trong xã hội ngày trước dân gian có câu:

    Lao xao giữa chợ biết về tay ai.

    Ví “thân em” với cá rô mề, quả là khó còn từ ngữ nào đắc hơn trong văn cảnh vừa dẫn, bởi nói vừa chỉ được nhiều điểu mà người sáng tạo ra nó muốn nói.

    Trái lại hiện tượng trên, là việc dùng từ đồng nghĩa để chơi chữ với dụng ý phê phán rõ ràng:

    Xong có lẽ hiện tượng dùng từ cùng trường nghĩa, gần nghĩa để tạo nét liên tưởng thú vị là phổ biến nhất trong ca dao:

    Con quạ nó ăn tầm bậy tầm bạ nó chết, Con diều xúc nếp làm chay, Con bịp nó dậy, nó bày mâm ra. Mẹ nó đi chợ đàng xa chưa về.

    Bài ca dao tập hợp những con chim sống trọng bụi quạ, diều, tu hú, bìm bịp, cuốc, cho mỗi con đóng vai trò thích hợp với đặc điểm của chúng: diều với quạ cùng loại nên đóng vai trò chính; tu hu đầu mùa hè hay kêu; bìm bịp thường hay ở trong bụi rậm, ít bay đi đêm, như người nội trợ; cuốc lủi trong bụi như tìm ai, tiếng kêu của nó sầu não như khóc như than. Đây là cách chơi chữ dùng các từ cùng trường nghĩa để khắc hoạ lên những bức tranh dân gian về một đám ma nghèo nhưng đầy đủ lễ thức. Vừa phản ảnh một phong tục ngày trước với nhiều màu sắc độc đáo nhưng cũng không giấu tính châm biếm sắc sảo.

    Cùng kiểu như vậy ta còn có thể gặp trong các bài ca dao tương tự:

    Con chết rủ trên cây, Chim ri ríu rít bò ra chia phần Chim chích cỡi trần vác mõ đi rao.

    Hoặc:

    Con quạ ở nhà mua nếp làm chay Con cu đánh trống bằng tay

    Chọn những con vật cùng trường nghĩa khác, bài ca sau đây cũng dùng cách chơi chữ ấy:

    Tiền đâu mà trả nợ làng ngoé ơi!

    Tác giả dân gian tập hợp trong bài ca dao này các con vật cùng loài với cóc: nhái, chẫu chuộc, chầu chàng (chẫu chàng thân và chi mảnh, dài; chẫu chuộc cũng giống như chẫu chàng nhưng lớn hơn); ễnh ương, ngoé là giống nhái bén. “Chàng” trong câu câu ca trên vừa là con vật (chẫu chàng) vừa là đại từ chỉ người trong cặp đại từ nhân xưng cổ: chàng – nàng. Như vậy, bài ca dao vừa chơi chữ bằng cách dùng từ đồng âm, vừa chơi chữ bằng cách dùng các từ cùng trường nghĩa.

    Đôi lúc ghép những từ cùng trường nghĩa để chơi chữ với tính chất “trào lộng”:

    Những từ đồng âm khác nghĩa (Xuân, thu, đông) và các kết hợp các từ cùng trường nghĩa với nhau tạo nên nét độc đáo: hoá ra đó là bốn mùa trong năm!

    Một bài khác:

    Vui đùa với chữ là dụng ý chính của những câu ca dao này!

    Hoặc để chỉ một cảnh sinh hoạt bình thường của một gia đình làm nghề chài lưới:

    Hay như để chỉ các sản vật là lương thực mà con người đổ không biết bao nhiêu giọt mồ hôi để tạo ra, tác giả dân gian gửi gắm:

    Thấy nếp thì lại thèm xôi Ngồi bên thúng gạo nhớ nồi cơm thơm Hai tay xới xới đơm đơm Công ai cày cấy sớm hôm đó mà. Chiết tự ra từ một từ láy, hoặc một từ ghép để “chơi chữ”: Cô giỏi cô giang, cô đang xúc tép Cô thấy anh đẹp cô đổ tép đi

    Từ “giỏi giang” được chiết tự ra làm hai thành tố để rồi kết hợp lại nhằm nhấn mạnh tính cách của chủ thể “cô” trong câu ca trên. Đó cũng là một dạng của nghệ thuật chơi chữ!

    Việc dùng từ trái nghĩa trong cùng một câu thơ, cũng là một hiện tượng chơi chữ của dân gian: Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít Trầu cả khay sao dám gọi trầu không.

    Hoặc như:

    Chạch là loại cá trông giống lươn cỡ nhỏ, thân ngắn. Thờn bơn là loại cá thân dẹt, miệng và mắt lệch lên phía trên đầu. Trai là loại động vật thân mềm, vỏ cứng, gồm hai mảnh, thường há ra như cái miệng. Với nghệ thuật chơi chữ để giễu nhại giống như kiểu: “Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới trả lời cả họ mày thơmtác giả dân gian muốn châm biếm những người đem chủ quan của mình gán ghép cho người khác mà không thấy được mình cũng có khuyết điểm tương tự như thế, chả ai hơn ai, chả biết mèo nào cắn mỉu nào!

    Trong nhiều lời hát đối đáp cũng có hiện tượng như vậy:

    Cá vàng hoá bạc chàng rày đối chi? Chơi chữ là dùng cách nói lái, tức là đảo vị trí phần vần và thanh điệu của hai từ liền kề nhau:

    Và:

    Chơi chữ bàng cách dùng các từ thuần Việt đồng nghĩa với nhau: Đi tu Phật bắt ăn chay Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không.

    “Chó với cầy là những từ cùng nghĩa, gần nghĩa được sử dụng “chơi” để phê phán một hiện tượng “ngược đời”

    Hay:

    Bạn vàng chơi với bạn vàng Chớ chơi với Vện ra đàng cắn nhau.

    Từ “bạn vàng” của “những con chó” làm cho người nghe liên tưởng đến “bạn vàng của con người” cũng là một dụng ý thật đắc mà nghệ thuật chơi chữ tạo ra.

    Hoặc đôi lúc dùng một tiếng Việt đồng nghĩa với một từ Hán Việt để chơi chữ: Lúc trăng đang tỏ thì hoa đang thì.

    “Nha” là từ Hán Việt tương đương với từ thuần Việt “răng”!

    Hay như:

    Rồi thì:

    Cái độc đáo ở nghệ thuật chơi chữ trong câu thơ này là vừa có hai từ tương đương nghĩa “cha con” (thuần Việt) với “phụ tử” (Hán Việt); “về quê” (thuần Việt) với “hồi hương” (Hán Việt). Rồi “thầy thuốc” để chỉ nghề nghiệp của hai “cha con” mà “hồi hương”, “rồi phụ tử” là những vị thuốc nổi tiếng trong đông y!

    Cuối cùng hết của các dạng chơi chữ trong ca dao mà chúng tôi khảo sát được là việc đảo trật tự từ ngữ để tạo ra nghĩa ngược với thực tế:

    Bao giờ cho đến tháng ba Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng Hùm nằm cho lợn liếm lông Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi Nắm xôi nuốt bé lên mười, Con gà mâm rượu nuốt người lao đao Lươn nằm cho trúm bò vào Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô Lúa mạ nhảy lên ăn bò, Cỏ năn, có lác rình mò bắt trâu Gà con đuổi bắt diều hâu, Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông.

    Tất cả các sự việc, các hành động và chủ thể tạo nên hành động trong bài ca dao trên đều ngược nghĩa so với hiện thực cuộc sống. Đều mà tác giả dân gian muốn gửi gắm ở đây có lẽ với hai dụng ý rõ rệt: vừa mua vui với chữ nghĩa, vừa muốn nói lên một sự bất công ngang trái trong xã hội ngày trước!

    Như vậy, tuy khác nhau về lời lẽ song có thể thấy mấy điểm chung trong các cách hiểu trên về chơi chữ.

    – Chơi chữ là một biện pháp tu từ được dùng trong ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn thơ)

    – Biện pháp chơi chữ được thực hiện dựa trên các tiềm năng về chất liệu ngôn ngữ dân tộc. Các tiềm năng về âm thanh, chữ viết, từ đồng âm, đồng nghĩa, v.v, …càng phong phú thì càng tạo điều kiện cho chơi chữ phát triển.

    – Chơi chữ tạo nên những liên tưởng bất ngờ, thú vị về nhận thức, đồng thời có tác dụng châm biếm, hài hước, thư giãn bằng chữ nghĩa, v.v…

    Riêng trong ca dao chơi chữ đã thể hiện nét phong phú độc đáo trong tâm hồn của người nông dân “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Đồng Âm Và Nghệ Thuật Chơi Chữ
  • Tổng Hợp 35 Đề Thi Vào Lớp 10 Phát Triển Năng Lực Chuẩn
  • Bài Tập Đọc Hiểu Ngữ Văn 12
  • Bài 4: Đọc Bài Thơ Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Bên Dưới: Hơi Ấm Ổ Rơm (Nguyên Duy) Tôi Gõ Cửa Ngôi Nhà Tranh Nhỏ Bé Ven Đồng Chiêm Bà Mẹ Đón Tôi Trong Gió
  • Đề Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 12 Trường Thpt Chương Mỹ A, Hà Nội
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Việc Tạo Nên Tính Hình Tượng Ở Câu Ca Dao Sau: “thân Em Như Quế Giữa

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Của Nguyễn Quỳnh Anh
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Phân Tích Bài Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú)
  • Ca dao Việt Nam vô cùng phong phú và đặc sắc, trong đó mảng ca dao nói về thân phận người phụ nữ cũng là một đề tài nổi bật và quen thuộc, nó thường có dạng “Thân em…..” trong đó câu thơ :”Thân em như quế giữa rừng- Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay” là một tiêu biểu.

    Mở đầu câu ca dao là 2 tiếng “Thân em”- đây có thể coi là yếu tố nhận biết của ca dao than thân ngươì phụ nữ, cũng là một biện pháp cảm thán, yếu tố này có thể bắt gặp trong rất nhiều câu ca dao khác như một mô típ, một thủ pháp nghệ thuật , “thân em” đọc lên ta cảm thấy có một sự giãi bày, một niềm tự thương xót của người nói cất lên . Sau đó người phụ nữ tự ví mình “như quế giữ rừng”. Cây quế là một loại có vỏ cay và thơm được dùng để làm gia vị, thuốc, hương liệu… Cây quế thơm là thế, tốt là thế nhưng lại đặt giữa rừng để rồi “Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay” , có đẹp đẽ có tốt lành cũng chẳng để làm gì hết. Từ biện pháp so sánh tự ví mình như cây quế qua đó ẩn dụ về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa- xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, thân phận người phụ nữa bị rẻ rúng, bị coi thường. Người phụ nữa dẫu có đẹp về thể xác, đẹp về tâm hồn (ở trong câu ca dao này chủ yếu nói về vẻ đẹp tâm hồn) bao nhiêu thì cũng chẳng ai quan tâm. Không ai coi trọng vẻ đẹp của họ, cuộc đời họ là cuộc đời tùy tay người khác sắp đặt, may mắn thì họ sẽ được gả cho người chồng không vũ phu chứ chẳng dám mơ ước được yêu chiều, sống sung sướng gấm lụa, và ngược lại phải gả cho kẻ không ra gì thì “em” chẳng khác với người hầu , kẻ hạ.

    Câu ca dao như một tiếng thở dài mà nhẹ nhàng , không khóc lóc thảm thiết nhưng phả trong đó là một nỗi ai oán , sầu muộn. Không buồn sao được khi mà cuộc đời mình không được sống theo ý muốn, luôn bị phụ thuộc vào người khác, chỉ mong có một người nhận ra được vẻ đẹp của mình cũng không có.

    Niếm ai oán này có phải không chỉ có của riêng một người con gái nào đó? Đại từ phiếm chỉ “em” chung chung, điều này chứng tỏ đây không chỉ là bi kịch của một người mà là của chung nhiều người phụ nữ khác. Tránh làm sao được khi cả xã hội đều là một sự bất công, khó khăn với người phụ nữ.

    Ngoài ra, ta có thể bắt gặp được rất nhiều câu thơ có nội dung, hình thức tương tự như:

    “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    “Thân em như miếng cau khô – Người thanh tham mỏng người thô tham dày”

    “Thân em như giếng giữa đàng – Người thanh rửa mặt người phàm rửa chân”

    “Thân em như hạt mưa sa – Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”…..

    ….

    Trong hệ thống ca dao Việt Nam còn rất nhiều câu ca mà câu ca dao chúng ta vừa phân tích trên chỉ là một phần rất nhỏ góp phần tạo nên sự phong phú cho ca dao Việt nói chung và ca dao than thân mảng than thân phụ nữa nói riêng. Chỉ bằng một vài biện pháp nghệ thuật đơn giản và hết sức quen thuộc như: so sánh, ẩn dụ và sử dụng đại từ phiếm chỉ, dân gian đã tạo nên những câu ca dao thật ý nghĩa, đầy nhịp điệu, phản ánh được thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa đồng thời với đó là cáo xã hội cướp đi quyền sống con người. Tài năng , sản phẩm tinh thần của người xưa vẫn luôn có giá trị,có sức sống đến ngày nay và mai sau.

    Phong Cầm

    Nguồn: http://diendankienthuc.net.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đặc Sắc Nội Dung, Giá Trị Nghệ Thuật Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ
  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100