Top 8 # Biện Pháp Nhân Hóa Tiếng Việt Lớp 3 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Tiếng Việt Lớp 3 Luyện Từ Và Câu: Nhân Hóa

Câu 1 (trang 126 sgk Tiếng Việt 3): Đọc và trả lời câu hỏi

Trả lời:

a) Đồng làng vương chút heo may

Mầm cây tỉnh giấc vườn đầy tiếng chim

Hạt mưa mải miết trốn tìm

Cây đào trước cửa lim dim mắt cười

– Trả lời câu hỏi: Bốn câu thơ trên có các hình ảnh nhân hoá sau :

Mầm cây tỉnh giấc

Hạt mưa trốn tìm

Cây đào lim dim mắt cười

Các sự vật trên được nhân hoá bằng cách dùng những từ ngữ chỉ các bộ phận của người (mắt) hoặc chỉ các hoạt động của người để miêu tả chúng (tỉnh giấc, trốn tìm, cười).

b) Cơn dông như được báo trước rào rào kéo đến. Ngàn vạn lá gạo múa lên, reo lên. Chúng chào anh em của chúng lên đường : từng loạt, từng loạt một, những bông gạo tung bay vào gió, trắng xoá như tuyết mịn, tới tấp toả đi khắp hướng. Cây gạo rất thảo, rất hiền, cứ đứng đó mà hát lên trong gió, góp với bốn phương kết quả dòng nhựa của mình.

Đoạn văn trên có các hình ảnh nhân hoá sau :

– Cơn dông kéo đến

– Lá gạo múa reo

– Chúng chào anh em chúng lên đường

– Cây gạo rất thảo, rất hiền, cứ đứng đó mà hát lên.

Tác giả đã nhân hoá cơn dông, lá gạo, hoa gạo, cây gạo bằng cách nói được sự tinh nghịch và nhanh nhẹn của các hạt mưa. Chúng giống như các em nhỏ đang vui vẻ chơi trò ú tim với nhau vậy.

Câu 2 (trang 127 sgk Tiếng Việt 3): Hãy viết một đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng phép nhân hóa để tả bầu trời buổi sớm hoặc tả một vườn cây

Trả lời:

Ban công nhà ông tuy nhỏ nhưng ông em trồng nhiều loại hoa. Hoa ti gôn dịu dàng rủ từng chùm rất đáng yêu. Hoa hồng đỏ thắm kiêu sa như nàng công chúa vừa độ đôi mươi. Cây đa ấn độ có rễ tròn và cứng. Nó như che nắng cho các loại hoa bé nhỏ.

Tham khảo các bài soạn Tiếng Việt 3 Tuần 33 khác:

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

bau-troi-va-mat-dat-tuan-33.jsp

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Viết Cho Thiếu Nhi Ở Chương Trình Tiếng Việt Lớp 3

ủa con người để biểu thị thuộc tính của đối tượng không phảI là con người . Nhân hoá chỉ có thể được thể hiện trong ngữ cảnh nhất định . Nếu tách nó ra khỏi ngữ cảnh thì hiệu quả biểu đạt của nó sẽ không còn giá trị. Vì vậy, khi thống kê những nhân hoá trong các bài thơ tôi luôn xem xét trong mối quan hệ với những yếu tố ngữ cảnh. 1.2. Dựa vào tính có lí và hợp logic. Các tác giả nghiên cứu phong cách học cho rằng: Nhân hoá là một loại, hoặc biến thể của ẩn dụ. Về hình thức cấu tạo, nhân hoá cũng giống như ẩn dụ chỉ có một vế được phô bày, nó không gọi thẳng tên đối tượgn mà để người ta tự tìm đến đối tượng đó trong ngữ cảnh theo qui luật logic. Qúa trình liên tưởng đến đối tượng đó là phân tích logic để xác lập đối tượng miêu tả. 1.3. Về mặt nội dung, cơ sở Để tạo nên nhân hoá là sự liên tưởng, nhằm đi đến phát hiện ra những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phảI là người. ở đây đòi hỏi một sự quan sát tinh vi, một sự hiểu biết chính xác về những thuộc tính của con người cũng như những thuộc tính không phảI là của con người. Như vậy sự thống nhất giữa tính chính xác của việc rút ra nét cá biệt giống nhau và những nét khác biệt, tính bất ngờ của sự liên tưởng trong nhân hoá là căn cứ bình giá nó. Muốn bình giá giá trị nghệ thuật của nhân hoá phải đi từ nguyên tắc: Nhân hoá chính là sự chuyển trường nghĩa của các từ, các từ vốn manghĩa của một trường nghĩa nhất định, nay được chuyển sang một trường nghĩa khác, tạo nên một sự đối lập mới. Chính sự đối lập này tạo ra sự bất ngờ trong khi diễn tả các sự vật hiện tượng. Ví dụ: Gắn đặc tính của con người: siêng năng, cần cù, chịu khó, đùm bọc lẫn nhau, . Cho cây tre từ đó tạo ra sự đối lập, làm nên tính hấp dẫn, mới mẻ, lý thú. Khi đó có sự chuyển trường nghĩa: Từ trường nghĩa sự vật vô tri vô giác sang trường nghĩa con người. 2. Tiêu chí phân loại 2.1. Quan điểm phân loại nhân hoá có nhiều quan điểm khác nhau 2.1.1. Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn "99 phương tiện và biện pháp tu từ" (Nxb GD, 1999) đã tóm gọn nhân hoá trong hai hình thức cấu tạo: Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động cho đối tượng không phải là con người. Coi đối tượng không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện. Tác giả Phan Thị Thạch (Giáo trình phong cách học Tiếng Việt, Nxb Hà Nội, 1992) cùng tác giả nghiên cứu về phương pháp khác thì xét các kiểu nhân hoá của Tiếng Việt phân chia thành 3 kiểu: Có thể dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người để gán cho đối tượng không phải là con người: chạy, nhảy, khóc, vui, cười, Có thể dùng các từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc của con người để gọi tên các đối tượng không phải là người: ông, bà, chú, bác,. Coi sự vật không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng 2.1.3. Các tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Thị Tú, Nguyễn Thái Hoà trong cuốn "Phong cách học Tiếng Việt" (Nxb Hà Nội, 1982) thì lại cho rằng nhân hoá có thể tổ chức bằng hai cách: Dùng các tính từ miêu tả, các động từ hành vi của người khoác lên cho các đối tượng không phải là người. Coi các đối tượng không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng. Trong khuôn khổ với mục đích của đề tài, theo tiêu chí phân loại của tác giả Phan Thị Thạch, tôi đi vào tìm hiểu ba loại nhân hoá - ba hình thức cấu tạo của nhân hoá. 2.2. Mặt khác trong quá trình nghiên cứu tôi thấy nhân hoá có thể được sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau: Cấp độ từ. Cấp độ câu. Cấp độ toàn văn bản. Vì vậy tôi cũng sẽ dựa vào cấp độ sử dụng biện pháp này dể phân loại. Mỗi nhân hoá khi sử dụng sẽ đạt một mục đích riêng, hiệu quả riêng và nhằm một ý dụng riêng. 2.2.1. Nhân hoá giúp người ta thể hiện tình cảm một cách tế nhị, tinh tế. Nhân hoá làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên, từ đó chúng trở thành người bạn của trẻ thơ, giúp trẻ dễ nhận biết thế giới xung quanh. Nhân hoá có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ 3. Khảo sát - thống kê - phân loại. Dựa vào cơ sở phát hiện và các tiêu chí trên tôi đã tiến hành khảo sát sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (2 tập) và thu được kết quả sau: 3.1: Các nhân hoá phân theo cấp độ Cấp độ nhân hoá Nhân hoá Cấp độ từ Cấp độ câu Cấp độ toàn V/bản Nhân hoá dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của người để gán cho các đối tượng không phải là người 29 V/ bản 19 V/ bản 1 V/ bản Nhâ hoá dùng các từ chỉ quan hệ thân thuộc của người để gọi tên các đối tượng không phải là người 4 V/ bản 7 V/ bản 4 V/ bản Coi các sự vật, hiện tượng không phải là người như con người, tâm tình, trò chuyện với chúng 0 11 V/ bản 1 V/ bản 3.2. Dựa vào các đối tượng nhân hoá có những loại nhỏ sau đây. Nhân hoá Đối tượng nhân hoá Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động Dùng từ chỉ quan hệ thân thuộc Tâm tình trò chuyện Tổng số Loài vật Sống trên trời 10 3 2 15 52 lượt = 36,8% Sống dưới nước 20 6 1 27 Sống trên mặt đất 8 2 10 Cây cối Cây lương thực 3 1 1 5 25 lượt = 17,7% Cây ăn quả 5 5 Cây công nghiệp 8 1 1 10 Hoa cây cảnh 5 5 Sự vật, hiện tượng tựnhiên 25 9 1 35 35lươt=24,8% Đồ vật 23 4 2 29 29 lượt=20,5% Nhận xét sơ bộ kết quả khảo sát. Qua kết quả thống kê trên ta thấy, nhân hoá là một biện pháp tu từ có vai trò không nhỏ trong tác phẩm nghệ thuật để diễn đạt nội dung tư tưởng của tác phẩm. Nhân hoá làm ngôn ngữ nghễ thuật giàu có phong phú, phù hợp với tư tưởng tình cảm của trẻ em. 3.3.1. Nhân hoá bằng cách dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để gán cho các đối tượng không phải là con người được sử dụng nhiều nhất (chiếm 92 lần). Từ đó cho thấy sự gâng gũi, hoà hợp của tự nhiên với con người, của những vật thể tự nhiên với con người. Đối tượng nhân hoá trong các bài thơ phần lớn là các loài vật. Tôi thống kê có đến 53 lần con vật được nhân hoá. Bởi động vật là đối tượng gần gũi, gắn bó nhất với con người: Loài vật là đối tượng dễ dàng nhất để gắn cho chúng những hoạt động, tình cảm, tính chất như con người bằng trí tưởng tượng và óc hình dung và động vật cũng là đối tượng mà học sinh tiểu học dễ dàng nhận biết. 3.3.2. Nhân hoá bằng cách coi các sự vật không phải là con người để tâm tình trò chuyện với chúng chiếm một số lượng nhỏ (sử dụng 10 lần). Thực chất, nhân hoá sự vật như con người để tâm tình trò chuyện với chúng thì hiệu quả đạt được rất lớn, tuy nhiên lại đòi hỏi ở học sinh sự cảm thụ ở mức độ cao hơn, tinh tế hơn; hình thức để tâm sự giãi bày cũng không đa dạng phong phú. Do đó ít xuất hiện trong các bài thơ cho học sinh lớp 3. 3.3.3. Nhân hoá bằng cách sử dụng các từ chỉ quan hệ thân thuộc của người trong gia đình để gọi tên các đối tượng không phải là người chiếm con số trung gian (sử dụng 24 lần). Các bài thơ sử dụng nhân hoá này mục đích là làm cho các vật, sự vật trở nên gần gũi, thân thiết với con người hơn - mối quan hệ như là người thân trong gia đình. 4. Xử lý phân tích kết quả thống kê. 4.1. Dùng từ chỉ hoạt động, tính chất của người cho đối tượng không phải là người . Đây là dạng nhân hoá được sử dụng nhiều nhất trong các bài thơ ở lớp 3. Đối tượng nhân hoá rất đa dạng phong phú. Ví dụ: Gặp bạn cười hớn hở Đứa tay bắt mặt mừng Đứa ôm vai bá cổ Cặp sách đùa trên lưng. (Ngày khai trường - TV3, Tập 1) ở đây chiếc cặp - đồ vật vô tri vô giác được tác giả nhân hoá trở nên có tình cảm, có hành động như con người. Cặp như cũng biết vui chung với niềm vui của các bạn học sinh trong ngày khai trường. Cặp sách trở thành người bạn thân thiết, gắn bó với các cậu học sinh và cũng có những niềm vui, nỗi buồn cùng với các bạn nhỏ. Ví dụ: " Bác kim giờ thận trọng Nhích từng li, từng li Anh kim phút lầm lì Đi từng bước, từng bước Bé kim giây tinh nghịch Chạy vút lên hàng trước" (Đồng hồ báo thức - TV3 - T2) Chiếc đồng hồ luôn mang bên mình dòng chảy của thời gian để nhắc nhở mọi người về sự trôi đi nhanh chóng của thời gian tác giả đã nhân hoá các bộ phận của đồng hồ bằng các từ chỉ tính chất hoạt động để nhắc nhở các em biết quý trọng thời gian bởi thời gian trôi đi rất nhanh và không bao giờ trở lại. Bằng cấch sử dụng nhân hoá chúng ta cảm nhận được từng chiếc kim đồng Bên cạnh chức năng biểu cảm( thể hiện tâm tư tình cảm một cách kín đáo) thì nhân hoá còn thực hiện chức năng nhận thức. nhờ nhân hoá mà các đồ vật trở nên có tính người, có hoạt động, tính chất như con người, làm cho thế giới đồ vật sống động, hồn nhiên, từ đó trở thành bạn tâm tình của trẻ thơ giúp trẻ dễ hiểu và nhận biết các đồ vật. Loại đối tượng nhân hoá là cây cối rất phong phú đa dạng. Cây cối có thể là cây hoa, cây lương thực - cây cảnh , cây công nhgiệp,.....Nhân hoá đã biến các loại cây này từ trường hữu sinh nhưng vô tri vô giác trở thành có hành động như con người: Ví dụ: "Tre, trúc thổi nhạc sáo Cây rủ nhau thay áo Nấm mang ô đi hội" (Ngày hội rừng xanh - TV3 - T2, Tr 62) Ví dụ: " Rừng mơ thay áo mới Xúng xính hoa đón mời" (Đi hội chùa Hương - TV3 - T2, Tr 68) Ví dụ: "Đồng làng vương chút heo may. Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim" Đây là đối tượng chính được nhân hoá nhiều nhất bao gồm những con vật quen thuộc của làng quê Việt nam. Ví dụ : " Anh đóm chuyên cần Lên đèn đi gác..." (Anh đom đóm - TV3 - T1, Tr 143) " Đàn cò áo trắng Khiêng nắng Qua sông " (TV3 - T2, Tr 61) Đàn cò "mặc áo trắng" và biết khiêng như con người. Lại không phải khiêng một cái gì cụ thể mà là khiêng nắng, đàn cò khiêng nắng qua sông - một bức tranh thật đẹp với đầy đủ những cảnh sắc tạo nên sự mê hồn mà dễ hiểu. Đó là bức tranh với hình ảnh những cánh cò màu trắng nổi bật trên nền vàng của nắng và lấp lánh của dòng nước trên sông. Cảnh vật sinh động hấp dẫn và bình yên. "Mèo con đi học ban trưa Nón nan không đội trời mưa ào ào Hiên che không chịu nép vào Tối về sổ mũi còn gào meo, meo" (TV3 - T2, Tr 104) Mèo con trong bài thơ được nhân hoá, vừa được gọi là Mèo con thân thương gần gũi như một người bạn, vừa được cắp sách đi học và có hành động như một cậu học sinh. Nhưng Mèo con lại có tính chủ quan: không chịu đội nón đi học mặc dù là buổi trưa....do đó Mèo con bị ốm. Thông qua hình ảnh chú Mèo con ngộ nghĩnh, sinh động với những đặc điểm giống hệt trẻ thơ, bài htơ là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía: Các em phải biết bảo vệ sức khoẻ bản thân, đi học phải đội mũ nón ,không được chủ quan. " Chỉ thương bác ếch Lặn lội trong mưa Xem từng cụm lúa Phất cờ lên chưa" (Mưa - TV3 - T2, Tr 134) ếch - một loài động vật sống lưỡng cư được nhân hoá thành một người chăm chỉ cần cù, chịu thương chịu khó . Bác ếch lặn lội trong mưa, xem từng cụm lúa, đây là hình ảnh của một bác nông dân vất vả sớm hôm lo lắng, có trách nhiệm với công việc. Nhân hoá ở đây đã góp phần đề cao vai trò của người nông dân, từ đó ca ngợi người lao động chăm chỉ lương thiện. "Cua Càng đi hội Cõng nồi trên lưng Vừa đi vừa thổi Mùi xôi thơm lừng" (Cua Càng thổi xôi - TV3 - T2, Tr 140) Cua Càng là một cách gọi thân thương con cua được nhân hoá có các hành động như con người: đi hội, cõng, đi, thổi,...khiến con vật trở nên sinh động gần gũi với những đông tác như con người. Con cua trong thơ của tác giả Nguyễn Ngọc Phú lại hiện lên thật rực rỡ với màu áo đỏ và hình ảnh của sự chăm chỉ cần cù: "Con cua áo đỏ Cắt cỏ trên bờ" (Mè hoa lượn sóng - TV3 - T2, Tr 116) Tuy là đối tượng vô tri vô giác nhưng khi được nhân hoá chúng lại trở nên thật thi vị và đầy sức sống: "Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con" (TV3 - T1, Tr 43) "Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp núi ngồi vào đâu Muôn sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn" (Tiếng ru - TV3 - T1, Tr 65) "Chị Mây vừa kéo đến Trăng sao chốn cả rồi" (Ông trời bật lửa - TV3 - T2) "Mặt trời lật đật Chui vào trong mây" (Mưa - TV3 - T2, Tr 134) Nhân hoá bằng cách dùng từ chỉ hoạt động , tính chất của người gắn cho các đối tượng không phải là người, khiến cho người đọc như "nhìn thấy" một con người thật hiện ra trước mắt cùng với lời nói cử chỉ, hành động có tính chất con người. Từ đó các sự vật hiện tượngtrở nên gần gũi gắn bó với con người, thấu hiểu chia sẻ mọi buồn vui với con người. Người và vật trở thành bạn bè thân thiết.Cũng từ đó, sự vật, loài vật "sống" hơn , đẹp hơn trong con mắt trẻ thơ. 4.2. Dùng đại từ nhân xưng, cách xưng hô của con người cho đối tượng không phải là con người. "Tớ là chiếc xe lu Người tớ to lù lù Con đường nào mới đắp Tớ san bằng tăm tắp...." (TV3 - t2, Tr85) Chiếc xe lu - đồ vật vô tri vô giác được nhân hoá trở thành con người có nhiều phẩm chất đáng quý. Tác giả để chiếc xe lu tự kể với bản thân mình, xe lu xưng tớ - kể về mình, xe lu cũng như một con người bình thường với thân hình to lớn, cồng kềnh, cũng có cái bụng sôi vì đói,... xe lu có tính rất hồn nhiên, vui vẻ và tốt bụng. Từ hình ảnh xe lu, chúng ta liên tưởng tới những người làm đường đáng kính trọng. Bằng biện pháp nhân hoá, tác giả ca ngợi những người công nhân làm đường, những người lao động thầm lặng vì sự nghiệp của đất nước. " Tôi là bèo lục bình Bứt khỏi sình đi dạo Dong mây trắng làm buồm Mượn trăng non làm giáo" (TV3 - T2, Tr61) Bèo lục bình - Thực vật sinh sống trên mặt nước, được tác giả nhân hoá thành một chàng thanh niên khí phách, đi đây đi đó để khám phá cuộc sống. Chúng ta biết được điều đó là qua lời kể của nhân vật, nó phù hợp với đặc điểm thích khám phá những điều chưa biết của trẻ thơ. Bài thơ không chỉ giúp trẻ hiểu thêm về đặc điểm cuộc sống của vây bèo lục bình mà còn mở ra một sự tưởng tượng bất ngờ thú vị về những chuyến đi, về ước mơ khám phá, tìm hiểu cuộc sống. Không chỉ dùng các đại từ : tôi, tớ các tác giả khác còn cho các nhân vật được nhân hoá xưng bằng tên: "Mặt trời ửng hồng Bạn đi chơi hết Sao mai còn ngồi Làm bài mải miết" (TV3 - T2, Tr 142) Sao mai tên gọi cụ thể như một con người, sao mai chăm học và ngoan ngoãn. Mặc dù bạn đi chơi, chỉ có một mình ngồi học sao maicũng không sao nhãng, vẫn làm bài mải miết mà không bị bất cừ một rtác động nào . Hình ảnh sao mai là một tấm gương để mọi học sinh noi theo và cảm phục. Ngoài những ví dụ trên ta còn thấy sự kết hợp hài hoấcc dạng nhân hoá trong các bài thơ, đoạn thơ sau: "Những chị lúa phất phơ bím tóc. Những cậu tre bá vai nhau đứng học" Hay bài : Ông trời bật lửa Chị mây vừa kéo đến Trăng sao chốn cả rồi Đất nóng lòng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!. Chớp bỗng loè chói mắt Soi sáng khắp ruộng vườn Ơ ! Ông trời bật lửa Xem lúa vừa trổ bông" (TV3 - T2, Tr 26) Hay bài: Cua Càng thổi xôi, của tác giả Nguyễn Ngọc Phú: "Cua Càng đi hội Cõng nồi trên lưng Vừa đi vừa thổi Mùi xôi thơm lừng.... Dã tràng móm mém (Rụng hai chiếc răng) Khen xôi nấu dẻo Có công cua Càng" (TV3 - T2, Tr 141) 4.3. Coi đối tượng vô tri vô giác như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng Là dạng nhân hoá chiếm số lượng không nhiều, tuy ít xuất hiện trong các bài thơ của chương trình sách giáo khoa TV3 nhưng không kém phần phong phú và đa dạng. "Rừng cọ ơi! rừng cọ! Lá đẹp lá ngời ngời Tôi yêu thương vẫn gọi Mặt trời xanh của tôi" (Mặt trời xanh của tôi -TV3 - T2, Tr 125) Rừng cọ được tác giả gọi như một người bạn, được yêu quí, được gọi là mặt trời xanh. Sự liên tưởng tương đồng đó giúp học sinh dễ hiểu hơn về lá cọ, về hình dáng màu sắc lá cọ. Rừng cọ đã trở thành người bạn thân thiết gắn liền với tuổi thơ của tác giả. "Chị mây vừa kéo đến Trăng sao trốn cả rồi Đất nóng lòng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!" (Ông trời bật lửa - TV3 - T2, Tr 26) "Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghê!" (Cái cầu - TV3 - T2, Tr 8) "Khói ơi vươn nhẹ lên mây Khói đừng bay quẩn làm cay mắt bà" (Khói chiều - TV3 - T2, Tr 75) Nhân hoá coi đối tượng không phải là người để tâm sự trò chuyện như với người giúp cho trể em cảm thấy gần gũi với thế giới sự vật, hiện tượng ở xung quanh, làm tăng thêm tình cảm từ giúp các em có thái độ và tình yêu với thế giới tự nhiên. Những lưu ý khi dạy học biện pháp tu từ nhân hoá. Từ phân tích kết quả thống kê trên tôi rút ra một số điểm lưu ý khi dạy học biện pháp tu từ nhân hoá cho học sinh lớp 3 như sau: Để học sinh nhận biết các biện pháp nhân hoá này giáo viên cần: Hướng dẫn các em xác dịnh rõ các sự vật, hiện tượng được nói đến trong câu thơ, đoạn thơ. Chỉ ra được các từ chỉ tính chất, hoạt động, (hoặc những đại từ, câu nói) có trong bài, giúp học sinh nắm được các từ đó thường dùng chỉ các tính chất, hoạt động của con người. Hướng dẫn để học sinh thay thế các từ chỉ tính chất trạng thái, hoạt động, (hoặc những đại từ, câu nói) bằng các từ thường dùng trong thực tế đối với các sự vật hiện tượng Hướng dẫn các em tìm ra cái "vô lí" đối với các sự vật, hiện tượng được nói đến trong câu thơ , đoạn thơ. Chính những từ ngữ "vô lí" đó là biện pháp tu từ nhân hoá đã được tác giả sử dụng trong khi miêu tả các sự vật, hiện tượng. Để học sinh cảm thụ tốt các câu thơ thông qua cách sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, giáo viên cần phải cho học sinh thấy được cái hợp lí khi tác giả áp dụng từng cách nhân hoá hợp. Nó phải có một nét tương đồng giữa sự vật, hiện tượng với những từ ngữ được dùng áp dụng cho sự vật hiện tượng đó. Học sinh cũng cần phải biết được nếu biện pháp nhân hoá đó mà tách ra khỏi ngữ cảnh trong văn bản thì nó sẽ không có nghĩa hoặc ít nghĩa biểu cảm đi. Chính vì vậy để học sinh hiểu rõ ý dụng của tác giả khi sử dụng nhân hoá thì các em phải nắm vững nôi dung của bài thơ. Từ việc nhận biết và cảm thụ các biện pháp nhân hoá ở trên sẽ giúp học sinh biết sử dụng biện pháp nhân hoá vào lời nói hoặc viết câu văn , đoạn văn. Khi đó giáo viên cần lưu ý cho học sinh tính hợp lý trong khi sử dụng nhân hoá đối với từng sự vật, hiện tượng, tránh việc sử dụng nhân hoá mà thiếu tính có lí và không có logic sẽ làm cho người đọc khó hiểu nội dung bài viết. Sau mỗi bài tập giáo viên cần chốt rõ đơn vị kiến thức này để học sinh nắm vững. 5. Tổ chức thực nghiệm. Cách tiến hành : Việc đầu tiên là tôi tổ chức củng cố lại cho giáo viên phần cở sở phát hiện, đánh giá và phân loại các biện pháp tu từ nhân hoá. Sau đó cùng các đồng chí giáo viên khảo sát - thống kê lại các biện pháp tu từ nhân hoá có trong các bài thơ được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt 3 và phân tích tác dụng của nhân hoá ở một số ví dụ ở mỗi dạng, rồi vạch ra những điểm cần lưu ý khi dạy phần kiến thức về nhân hoá. 5.2. Giáo viên áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp Loại Khá: 3 tiết Kết quả khảo sát đối với học sinh là: Tổng số học sinh Giỏi Khá TB Yếu SL TL SL TL SL TL SL TL 61 em

Ôn Tập So Sánh Và Nhân Hóa Lớp 3

Nhiệt liệt chào mừng thầy, cô giáo về thăm lớp dự giờThí sinh : Nguyễn Thị Thu HằngThứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2015Ti?ng Vi?tÔn tập biện pháp tu từ nhân hóaBài 1: Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:Chị tre chải tóc bên aoNàng mây áo trắng ghé vào soi gươngBác nồi đồng hát bùng boongBà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà Trần Đăng Khoaa,b,Cái trống trường emMùa hè cũng nghỉSuốt ba tháng liềnTrống nằm ngẫm nghĩ

Buồn không hả trốngTrong những ngày hè Bọn mình đi vắngChỉ còn tiếng ve?… Thanh Hào – Đoạn thơ trên sự vật nào được nhân hóa ? – Những từ ngữ nào giúp em nhận ra điều đó ?

Bài 1:– Tác giả nhân hóa các sự vật ấy bằng những cách nào ?Thứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2015Ti?ng Vi?tÔn tập biện pháp tu từ nhân hóaCác cách dùng để nhân hóa:+ Gọi sự vật bằng từ ngữ dùng để gọi con người+ Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để tả con người+ Nói với sự vật thân mật như nói với con ngườiBài 2: Từ những hình ảnh được nhân hóa trong bài tập 1, em thích nhất hình ảnh nào? Vì sao?Chị tre chải tóc bên aoNàng mây áo trắng ghé vào soi gươngBác nồi đồng hát bùng boongBà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà. Trần Đăng Khoaa,b,Cái trống trường emMùa hè cũng nghỉSuốt ba tháng liềnTrống nằm ngẫm nghĩ

Bài 4: Em hãy viết đoạn văn miêu tả bầu trời trong ngày nắng đẹp hoặc tả bồn hoa mà em thích (từ 4 đến 6 câu) trong đó có sử dụng biện pháp nhân hóa. Sau khi viết xong, em hãy gạch chân những từ ngữ thể hiện biện pháp nhân hóa.

Thứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2015Ti?ng Vi?tÔn tập biện pháp tu từ nhân hóaCó mấy cách dùng để nhân hóa? Đó là những cách nào?+ Gọi sự vật bằng từ ngữ dùng để gọi con người+ Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để tả con người+ Nói với sự vật thân mật như nói với con ngườiThứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2015Ti?ng Vi?tÔn tập biện pháp tu từ nhân hóaCác cách dùng để nhân hóa:+ Gọi sự vật bằng từ ngữ dùng để gọi con người+ Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để tả con người+ Nói với sự vật thân mật như nói với con ngườiCHÚC CÁC THẦY CÔ GIÁO MẠNH KHỎE, CÁC EM CHĂM NGOAN HỌC GIỎI,

Skkn Dạy Biện Pháp So Sánh Lớp 3

MỘT VÀI KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌCBIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH Ở LỚP 3

PHẦN MỘT: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I. Cơ sở lý luậnVới phương châm coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, tại đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa nhấn mạnh: “…Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá – hiện đại hoá – xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh… đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn”. Mục tiêu của cấp Tiểu học là giáo dục phổ cập cho trẻ em từ 6 đến 11 – 12 tuổi phát triển toàn diện về trí tuệ, tình cảm và sức khoẻ. Chính vì vậy mỗi môn học trong trường Tiểu học đều có một mục tiêu riêng và chính những mục tiêu riêng ấy hợp lại thành mục tiêu chung của cấp học.Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường tiểu học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Thể dục,Môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm rèn cho học sinh 4 kỹ năng: “Nghe – nói- đọc – viết” là một môn học gồm nhiều phân môn. Ở mỗi phân môn cụ thể có nội dung phương pháp cách thức dạy học khác nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau theo một lôgíc nhất định. Những kỹ năng của phân môn này hỗ trợ cho phân môn khác nhằm đạt mục tiêu của môn Tiếng Việt.Phân môn luyện từ và câu lớp 3 nhằm mở rộng vốn từ theo chủ điểm, củng cố hiểu biết về các kiểu câu và thành phần câu đã học ở lớp 2. Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh và nhân hoá thông qua các bài tập thực hành. Việc nhận biết biện pháp tu từ so sánh và bước đầu sử dụng vào việc dùng từ đặt câu là một trong những nội dung yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3. Cơ sở ban đầu của việc dạy biện pháp tu từ so sánh được bắt đầu từ việc: tìm các từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm của sự vật trong câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ; tìm những sự vật hay hoạt động, đặc điểm của sự vật được so sánh với nhau. Từ đó học sinh nhận biết được hình ảnh so sánh, dấu hiệu của sự so sánh và các kiểu so sánh. Thông qua các bài tập thực hành, học sinh sẽ nhận biết được: hình ảnh so sánh; các kiểu so sánh; các sự vật hay các đặc điểm, âm thanh, hoạt động của sự vật được so sánh với nhau; các từ chỉ sự so sánh (dấu hiệu so sánh). Từ đó giúp các em vận dụng vào việc nói, viết để đặt câu có hình ảnh so sánh; viết tiếp vào chỗ trống để tạo thành hình ảnh so sánh; chỉ ra được các hình ảnh so sánh mình thích và giải thích đơn giản vì sao mình thích hình ảnh đó. Đây chính là cơ sở ban đầu, là công cụ để giúp các em viết văn miêu tả, kể chuyện… và học tiếp lên các lớp trên.

II. Cơ sở thực tiễn. Thông qua quá trình dạy học, qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở trường, ở huyện; đặc biệt là qua việc chấm các bài kiểm tra định kỳ của học sinh, tôi thấy:* Về phía giáo viên:– Việc nắm nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, mức độ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên còn hạn chế. Một số giáo viên qua quá trình dạy chưa thực sự lấy học sinh làm trung tâm, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh dẫn đến chất lượng giảng dạy của thầy và việc tiếp thu bài của trò chưa cao.– Bên cạnh đó khi giảng dạy giáo viên chưa gây hứng thú học tập cho học sinh đối với tiết học. Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, tẻ nhạt, dạy học một cách máy móc khuôn mẫu, sáo mòn. Khi dạy học trên lớp nhiều giáo viên chủ yếu dựa vào sách giáo viên mà không có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy. – Mặt khác do sự thiếu thốn về cơ sở vật chất cũng như phương tiện dạy học khiến giáo viên chưa có điều kiện để đa dạng hoá các phương pháp dạy học. * Về phía học sinh:– Bản thân các em chưa có niềm say mê, hứng thú với môn học.– Trong dạng bài tập