Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2

--- Bài mới hơn ---

  • Khám Chữa Bệnh, Phổ Biến Kiến Thức Y Học
  • An Toàn Công Tác Bốc Xếp Và Vận Chuyển Trong Công Trường Xây Dựng – Trung Tâm Ứng Phó Sự Cố An Toàn Môi Trường
  • Vận Chuyển Vật Tư Công Trình Xây Dựng Tp.hcm
  • Qui Tắc An Toàn Đề Phòng Vật Rơi Trên Công Trường
  • Giá Trị Văn Hóa Việt Nam: Yêu Thương Đồng Chí, Đồng Đội
  • PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

    I. Lí do chọn đề tài.

      Chữ viết xuất hiện là bước ngoặt trong lịch sử văn minh của loài người. Chữ viết trở thành một công cụ vô cùng quan trọng trong việc hỡnh thành và phỏt triển văn hoá, văn minh của từng dân tộc. Nhờ có chữ viết mà thông tin của con người được lưu truyền từ đời này sang đời khác.  Chữ viết là một trong những công cụ giao tiếp thuận lợi và quan trọng nhất của con người. Chưa cần biết nội dung văn bản đó viết như thế nào nhưng nếu chữ viết rừ ràng, đẹp thường làm cho người đọc có cảm tỡnh ngay.

    Con người không phải từ khi cắp sách đến trường đó biết viết chữ mà phải trải qua một quỏ trỡnh rốn luyện rất kiờn trỡ. Từ xa xưa đó cú tấm gương rèn luyện của ông Cao Bá Quát – một người nổi tiếng “văn hay chữ tốt”. Từ một người viết xấu đến mức không ai đọc được, nhưng nhờ có lũng kiờn trỡ luyện tập mà ụng trở thành một người có tài viết đủ các loại chữ, mà chữ nào cũng đẹp, cũng rừ ràng.

        Học tập tấm gương của người xưa, nhiều năm nay, trong các trường tiểu học đó giấy lên phong trào “ Vở sạch  – Chữ đẹp”.  Ngay từ khi bắt đầu vào học lớp 1, học sinh đó được giáo viên rèn viết chữ.  Như chúng ta đó biết, đối với học sinh tiểu học, việc rèn cho các em “Viết đúng, viết đẹp”  là một vấn đề rất quan trọng. Bởi vỡ, chữ viết có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em. Ngoài ra, việc rốn chữ viết sẽ rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, kiên trỡ, tớnh kỉ luật và úc thẩm mĩ.

    Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh ?  Đó là câu hỏi đặt ra  cho mỗi người giáo viên tiểu học. Để làm được  điều đó đũi hỏi người giáo viên phải có sự tỡm tũi, nghiờn cứu và khổ luyện sao cho chữ viết của cụ đúng là mẫu của trũ. Đồng thời phải tỡm ra cỏc biện phỏp hướng dẫn các em rèn chữ viết sao cho hiệu quả.  Đối với học sinh lớp 2, cỏc em vừa mới từ lớp 1 lên, bước đầu mới làm quen với cỏch viết cỡ chữ nhỡ và cỡ chữ nhỏ, kĩ năng viết chữ của các em cũn nhiều hạn chế. Cỏc em chỉ mới viết ở mức độ tương đối, ghi nhớ các nét cơ bản cũn chưa chắc chắn, nột chữ cũn vụng về. Tốc độ viết cũn chậm, kĩ thuật viết và độ điêu luyện chưa cao. Khi cỏc em lờn học lớp 2 yêu cầu chữ viết ở mức độ cao hơn, có chiều sâu hơn. Học lớp 2, cỏc em một lần nữa được củng cố chữ viết và tăng tốc độ viết, độ nét, kĩ thuật. Qua đó, ta thấy chữ viết của học sinh lớp 2 là hết sức quan trọng.Vỡ vậy, giỏo viờn dạy lớp 2 phải tăng cường rèn luyện chữ viết cho học sinh để làm tiền đề cho các lớp trên. Đó chính là lí do tôi thực hiện đề tài:  “Một số biện pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 2”.

    II.Mục đích nghiên cứu:

         Nghiên cứu đề tài này, mục đích của tôi hướng tới là trên cơ sở đánh giá thực trạng và mức độ thành công của việc rèn chữ viết cho học sinh lớp 2; Xác định nguyên nhân thành công và từ đó nâng cao chất lượng chữ viết ở lớp 2 nói riêng, ở trường tiểu học nói chung.

    III. Nhiệm vụ nghiên cứu

         – Nghiên cứu các vấn đề lí luận làm cơ sở cho đề tài.

         – Tỡm hiểu thực trạng chữ viết của học sinh lớp 2 trong lớp mỡnh phụ trỏch và trong trường mỡnh,  nguyờn nhõn dẫn đến thực trạng đó. Từ đó, tỡm ra cỏc biện phỏp hữu hiệu để rèn chữ viết cho học sinh  đạt hiệu quả cao.

        -  Tìm hiểu nhận thức, sự quan tâm của cha mẹ học sinh về việc rốn chữ viết của con mình.

    IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    1. Đối tượng nghiên cứu

          Phương  pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 2.

    2. Phạm vi nghiờn cứu:

        Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng phương pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 tại trường  Tiểu học nơi tôi công tác.

    V.Giải thuyết khoa học

          Nếu trong quỏ trỡnh dạy học, giáo viên biết áp dụng những biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 như trong đề tài này một cách phù hợp thỡ chất lượng chữ viết của học sinh sẽ được nâng lên rõ rệt.

    VI.Phương pháp nghiên cứu

          – Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu.

          – Phương pháp điều tra.

    – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

    – Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.

    – Phương pháp luyện tập, thực hành

    VII. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

         Tôi nghiên cứu đề tài này vào năm học 2022 – 2022

    PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    I. CƠ SỞ KHOA HỌC

    1. Cơ sở lí luận:

          Từ ngàn xưa, trong nền văn hóa của dân tộc chữ viết đã được ông cha ta coi trọng. Không phải ngẫu nhiên mà người ta có những nhận xét: “Văn như Siêu, chữ như Quát” mà đó chính là câu nói được truyền từ đời này qua đời khác để ca ngợi tài năng của con người và cũng là tấm gương cho những thế hệ sau học tập . Hay ta thường dùng thành ngữ : “Văn hay chữ tốt” để khen những học trò giỏi mà lại nhắc nhở những học trò yếu bằng câu: “Văn giai như chảo, chữ vuông như hòm”. Rõ ràng chữ viết cũng được coi trọng chẳng kém gì nội dung văn chương. Chữ viết đẹp, dễ xem sẽ gây được thiện cảm cho người đọc. Mặt khác chữ viết phần nào phản ánh ý thức rèn luyện, óc thẩm mỹ và tính nết con người.

         Trong báo Tiền phong số 1760 ngày 18 tháng 01 năm 1960 thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết : “Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình”.

             Ngày nay, trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin dù đã có rất nhiều phương tiện in ấn hiện đại song chữ viết vẫn được coi trọng, dạy chữ cũng là để dạy người.

    2. Cơ sở thực tiễn:

        Việc rèn luyện chữ viết cho học sinh luôn được coi trọng ở bậc tiểu học. Vì      mục tiêu của dạy học tiếng Việt trong trường tiểu học là rèn cho học sinh 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết.  Thế nhưng hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp nhằm rèn luyện chữ viết cho học sinh đạt được chưa cao. Vậy nên, cần phải quan tâm hơn nữa để tìm ra các biện pháp hữu hiệu, đồng thời thực hiện các biện pháp đó để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh nói riêng và chất lượng học tập của học sinh nói chung .

    II. Thực trạng:

          Năm học 2022-2019, tôi được phân công trực tiếp giảng dạy lớp 2G. Bước đầu kiểm tra sách vở của học sinh, tôi rất băn khoăn và lo lắng về tình trạng chữ viết của học sinh . Hầu hết, chữ viết của các em chưa đúng với quy định chung. Bài viết còn mắc nhiều lỗi chính tả. Có thể nói các em mới chỉ nghĩ đến việc viết cho có bài chứ không quan tâm đến vấn đề hình thức.  Ngay từ đầu năm học,  tôi đã gặp giáo viên chủ nhiệm lớp 1 năm trước để nắm tình hình chung đồng thời khảo sát lại kết quả tổng hợp về vở sạch chữ đẹp trong sổ chủ nhiệm của giáo viên năm trước. Quả thật kết quả vở sạch chữ đẹp của học sinh đạt được chưa cao.

          Đầu năm học,  tôi đã khảo sỏt chữ viết của lớp qua vở chớnh tả.  Kết quả kiểm tra như sau : 

    Bảng 1:

    Loại

    Số HS

    A

    B

    C

    Số lượng

    Tỉ lệ %

    Số lượng

    Tỉ lệ %

    Số lượng

    Tỉ lệ %

    19

    3

    15.8

    9

    47.4

    7

    36.8

         Kết quả bảng trờn cho thấy tỉ lệ chữ viết loại A cũn ớt , loại C cũn nhiều. Chữ viết của nhiều em cũn mắc lỗi chớnh tả.

    Bảng 2:

    Tổng số học sinh

    Học sinh viết đúng cỡ

    chữ

    Học sinh viết đúng nét cơ bản

     

    19

    Số lượng

    Tỉ lệ

    Số lượng

    Tỉ lệ

    4

    21,1

    8

    42,1

       Kết quả ở bảng 2 cho thấy:  Hầu hết chữ viết của học sinh không đồng đều, sai quy định về kích thước, sai cỏc hình nét cơ bản . Số em viết sai cỡ chữ và sai các nét cơ bản cũn nhiều.

    III. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.

          Bàn ghế chưa phù hợp với từng học sinh. Vỡ trong một lớp học nhưng chiều cao của học sinh không bằng nhau, có những em cao lớn vượt trội so với lứa tuổi song có những em lại thấp bé hơn nhiều so với các bạn trong lớp.

         Giáo viên chưa chú trọng đến chữ viết của mỡnh, xem nhẹ mụn tập viết, chớnh tả, lờn lớp cũn qua loa, thiếu sự nhiết tỡnh, ớt quan tõm đến chữ viết của học sinh dẫn đến học sinh thường viết và trỡnh bày bài vở một cỏch tựy tiện, cẩu thả. Một số giáo viên thường máy móc phân tích, hướng dẫn không đúng trọng tâm làm mất nhiều thời gian, học sinh thực hành được rất ít.

          Trong việc rèn luyện kĩ năng chữ viết, do khi ở lớp Một các em không được hướng dẫn tỉ mỉ về chữ viết, tính hiếu động chỉ lo viết nhanh cho xong mà không chú ý đến viết đúng, viết chuẩn, thiếu kiờn trỡ, khú thực hiện đúng các động tác đũi hỏi sự khộo lộo, cẩn thận. Do vậy cỏc em thường viết sai các nét “ nối” từ con chữ này sang con chữ kia, khi đặt bút bắt đầu viết con chữ không đúng với vị trí của dũng kẻ, viết khụng đúng chiều rộng con chữ mà cũn viết chữ dón ra hoặc co lại, khụng tự ước lượng khoảng cách giữa chữ này với chữ kia, ghi dấu thanh, dấu phụ không đúng vị trí, chưa nắm chắc luật chớnh tả nờn cũn viết sai.

          Hàng tuần,  lớp 2 cú hai tiết luyện viết vào buổi chiều. Tôi thấy hầu như tất cả giáo viên vẫn chưa nắm được quy trỡnh dạy luyện viết nên giáo viên đó vụ hỡnh dung biến tiết Luyện viết buổi chiều thành tiết dạy Chính tả. Giáo viên thường cho học sinh đọc, tỡm hiểu từ khú viết, dễ nhầm lẫn cho học sinh viết bảng con. Sau đó đọc cho học sinh viết vào vở. Giáo viên chưa thực sự chú trọng xem trong bài viết của các em đó sai chỗ nào? Là các nét cơ bản hay các chữ hoa… để tiết sau phải rèn luyện lại. Vỡ những hạn chế đó nên hiệu quả của tiết Luyện viết buổi chiều ở các lớp chưa đạt kết quả cao. Học sinh học tập mang tớnh nhàm chỏn vỡ sự đồng điệu của môn này với môn khác.

    IV. Biện pháp thực hiện:

         Tôi thiết nghĩ, chữ viết không phải là năng khiếu bẫm sinh sẵn có của con người mà viết đẹp hay xấu phụ thuộc phần lớn vào quá trình rèn luyện. Quá trình đó lại phụ thuộc một phần vào bản thân người học và phụ thuộc phần nhiều vào người trực tiếp hướng dẫn chỉ đạo quá trình rèn luyện đó. Vậy, trong quỏ trỡnh rốn luyện chữ viết cho học sinh cần rốn luyện cho cỏc em những gỡ? Đó là chúng ta tiếp tục củng cố kĩ thuật viết các nét cơ bản và nâng cao tốc độ viết, độ nét của chữ…

        Từ suy nghĩ đó, đồng thời qua thực tế dạy học sinh luyện viết chữ đẹp ở trường, tôi đã rút ra được một số giải pháp và tôi đã áp dụng thực tế vào việc rèn luyện chữ viết  cho lớp tôi một cách khá thành công. Các giải pháp đó như sau:

    1. Khơi gợi ở học sinh mong muốn viết chữ đẹp:

        Tôi kể cho học sinh nghe những câu chuyện về gương viết chữ đẹp như Cao Bá Quát, những học sinh viết chữ đẹp của trường… Đồng thời cho các em xem những bài viết đẹp của học sinh khóa trước…Từ đó gợi lên trong học sinh lũng yờu thớch và mong muốn viết chữ đẹp.

    2. Những quy định chung :

        Cho học sinh học tập các quy định về mẫu chữ, kích cỡ chữ viết hoa và viết thường theo quy định của Bộ GD-ĐT ngay từ đầu năm.

         – Yêu cầu học sinh có đầy đủ số vở để ghi các môn học theo quy định của nhà trường cho học sinh lớp 2.

    – Thống nhất loại bút dùng để luyện viết( bút máy).

        – Học sinh phải viết đồng loại mực .

        – Học sinh phải thuộc và nhớ quy định về các nét viết, độ cao, khoảng cách giữa các con chữ trong tiếng, giữa các tiếng trong từ và luyện viết chữ theo quy định đó . Cụ thể :

    a) Củng cố cho học sinh về độ cao các chữ trong bảng chữ mẫu viết thường:

      – Chữ cái b, g, h, k, l, y được viết chiều cao 2,5 đơn vị.

      – Chữ t được viết được viết độ cao 1,5 đơn vị.

      – Các chữ cái d, đ, p, q được viết độ cao 2 đơn vị.

      – Các chữ cái o, ô, a, ă,  â, i, u, m, n, v, x cao 1 đơn vị.

      – Các chữ cái ơ, ư , r, s cao 1,15 đơn vị.

      – Các chữ cái viết hoa:a, ă, â, b, c, d, đ, e, ê, l, m, n, h, i, k,…có chiều cao 2,5 đơn vị, riêng chữ y và g cao 4 đơn vị.

      – Khoảng cách giữa chữ cách chữ là một chữ o.

      – Các chữ của con chữ trong một chữ phải nối liền nét.

         Những nội dung này tụi củng cố cho cỏc em trong tất cả cỏc tiết Luyện viết, Chớnh tả, Tập viết.

    b) Những yêu cầu cơ bản của việc tập viết:

          Trước hết, muốn viết chữ đúng mẫu, đẹp giáo viên cần phải nắm được những yêu cầu cơ bản của môn tập viết:

    Kiến thức: Giáo viên phải có hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng và tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các nét chữ và chữ cái, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ  viết thường, các chữ viết hoa, dấu thanh và chữ số.

    Kĩ năng: Viết đúng quy trình viết nét, viết chữ cái và liên kết chữ cái tạo ra chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch, viết thẳng hàng các chữ. Ngoài ra cần rèn các kĩ năng khác như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, đặt vở…

    2. Biện pháp sữa lỗi chữ viết:

    * Đối với học sinh viết sai độ cao các chữ cái:

          Trong hệ thống chữ cái Tiếng Việt mỗi nhóm chữ có đặc điểm riêng và độ cao khác nhau vì vậy khi học sinh mắc lỗi  về độ cao các con chữ  giáo viên cần phải:

    – Giúp học sinh nắm vững hình dáng, cấu tạo, quá trình viết chữ cái. Trước hết giáo viên cần cho học sinh nắm vững các đường kẻ trong vở luyện viết, toạ độ các nét chữ, chữ cái trong khung chữ mẫu.

    Trong vở luyện viết (vở ô li) của các em đã có sẵn các đường kẻ, giáo viên hướng dẫn học sinh gọi tên các đường kẻ. Các chữ cái có độ cao một đơn vị được xác định từ dưới lên bằng đường kẻ li 1 và đường kẻ li 2;…đường kẻ li 5  các chữ cái có độ cao 2 đơn vị được xác định bằng đường kẻ li 1 đến đường kẻ li 3.

    – Phân loại hệ thống chữ cái Tiếng Việt thành các nhóm, mỗi nhóm là các chữ cái có cùng độ cao để học sinh luyện viết (giáo viên gắn trong lớp hai bảng chữ cái mẫu chữ in hoa và chữ viết thường để học sinh quan sát và học tập).

    Ví dụ: Các chữ cái b, g, h, k, l, y có chiều cao là 2,5 đơn vị tức là bằng hai lần rưỡi chiều cao ghi nguyên âm  (a, o,u, n , m…).

        Đối với viết số, giáo viên cũng chia các chữ số theo nhóm để học sinh luyện viết.

    * Đối với học sinh viết sai các nét chữ:

           Để sửa lỗi này cho học sinh trước hết giáo viên cần cho học sinh nắm chắc tên gọi của từng nét chữ rồi hướng dẫn kĩ năng viết các nét chữ:

    – Nét sổ thẳng: Điểm đặt bút trên đường kẻ 3, đưa từ trên xuống,

    – Nét cong: Điểm đặt bút ở đường kẻ li 3 hoặc phía dưới 1/3 vòng sang trái hoặc sang phải tạo nét cong kín hoặc cong trái, cong phải. Khi viết nét cong kín không nhấc bút, không đưa bút ngược chiều.

    – Nét khuyết: Cách viết nét khuyết dựa vào đường kẻ li 2 làm chuẩn.

    + Nét khuyết trên: Điểm đặt bút  từ đường kẻ li 2 giữa ô vuông nhỏ 1/2 đơn vị, đưa nét bút sang phải, lượn vòng lên trên chạm vào đường kẻ li 6 thì kéo thẳng xuống đường kẻ li 1, điểm dừng bút tại đường kẻ ngang li 1.

    + Nét khuyết dưới: Điểm đặt bút ở đường kẻ li 3 kẻ thẳng xuống gặp đường kẻ ngang dưới thì lượn cong sang trái, đưa tiếp nét bút sang phải, điểm dừng bút cao hơn đương kẻ li 1 một chút.

    – Nét móc:

    + Nét móc ngược: Điểm đặt bút xuất phát từ đường kẻ li 3 kéo thẳng xuống gần đường kẻ li1 thì lượn cong nét bút chạm đường kẻ li 1 rồi đưa vòng lên dừng bút tại li 2 .

    + Nét móc xuôi: Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ li 3 trên 1/2 đơn vị, lượn cong tròn nét bút sang bên phải sau đó viết tiếp nét thẳng đến khi chạm vào đường kẻ li 1 thì dừng lại.

    – Nét móc hai đầu: Nét này có phần nét móc xuôi phía trên rộng gấp đôi nét móc  bình thường, phần nét móc phía dưới bằng độ rộng của nét móc ngược. Cách viét phối hợp giữa nét móc xuôi và nét móc ngược.

    – Nét móc hai đầu có vòng ở giữa: Nét này có cấu tạo là một nét cong hở trái và một nét móc hai đầu biến dạng. Viết nét cong hở trái trước sau đó viết tiếp nét móc hai đầu. Sự chuyển tiếp giữa hai nét này phải đảm bảo yêu cầu: độ cong của nét móc hai đầu không quá lớn để kết hợp với nét cong hở tạo thành một vòng khép kín; điểm kết thúc nằm trên đường kẻ ngang dưới một chút và rộng gấp đôi độ rộng của nét móc bình thường.

    – Nét thắt (nét vòng): Cấu tạo của nét thắt gồm hai nét cong biến thể (một nét cong hở trái và một nét cong hở phải). Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang giữa một chút đưa nét bút sang phải uốn lượn nhẹ để tạo một nét cong khép kín. Điểm dừng tại đường kẻ li 2.

    c) Đối với học sinh viết sai khoảng cách giữa các con chữ:

         Trước hết giáo viên phải cho học sinh nắm vững khoảng cách giữa các con chữ trong từng tiếng, khoảng cách giữa các con chữ trong từng từ.

          Giúp học sinh nắm vững cấu tạo các con chữ dựa vào các ô vuông và các chữ cái được chia thành các nhóm chữ. Dựa vào đặc điểm cơ bản của một số tiếng mà học sinh cần phải có khoảng cách giữa các con chữ hay dãn khoảng cách giữa các con chữ.

    Ví dụ:  nhanh

    Trong tiếng “nhanh “ con chữ n phải giãn khoảng với con chữ  h  thì chữ mới đẹp.

    d) Đối với học sinh viết sai vị trí dấu thanh:

           Giáo viên hướng dẫn học sinh cách đánh dấu thanh ngay bên trên hoặc bên dưới âm chính của tiếng. Điều này không những giúp học sinh đánh dấu thanh đúng vị trí mà còn giúp các em viết đúng quy trình và nhanh hơn

    Ví dụ:  nhà trường

           Sau khi viết các chữ  nh,  a, từ điểm dừng bút của chữ a lia bút lên trên đầu chữ a viết dấu huyền từ trên chéo sang phải không chạm đầu vào chữ cái a. Đối với tiếng “trường” sau khi viết các chữ cái  tr,u, o, ng từ điểm dừng bút của chữ cái  g lia bút lên trên đánh dấu móc của các con chữ ư,ơ  cuối cùng là đánh dấu huyền trên con chữ ơ

    3. Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất:

         – Giáo viên phải luôn quan tâm đến các điều kiện:  Bàn ghế, ánh sáng trong lớp học,   phấn viết và bút viết, vở viết  của học sinh .

    4. Biện pháp rèn luyện chữ viết:

    4.1. Hướng dẫn học sinh làm quen với một số thuật ngữ trong quá trình rèn chữ viết.

    – Điểm đặt bút:  Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. Điểm đặt bút có thể nằm ở đường kẻ ngang hoặc nằm trên đường kẻ ngang.

    – Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái, điểm dừng bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.

    – Viết liền mạch: Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng trước tới điểm bắt đầu của nét tiếp theo.

    – Kĩ thuật lia bút: Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngói bút, phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) thao tác trên không đó gọi là “lia bút”.

    – Hướng dẫn học sinh viết nét thanh nét đậm:

         Muốn vậy trước tiên giáo viên cho học sinh viết chữ theo kiểu đứng nét rồi tăng dần đến luyện cách viết theo kiểu nghiêng nét thanh, nét đậm. Để làm được điều này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh mua loại bút phù hợp, hướng dẫn học sinh cách cầm bút.

    4. 2. Rèn tư thế ngồi viết và cách cầm bút.

    – Tư thế ngồi viết: Khi viết cần phải ngồi ngay ngắn:

    + Lưng thẳng, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25 – 30 cm.

    + Ngồi không tì ngực vào cạnh bàn, hai chân để thoải mái.

    + Tay trái tì giữa vở, tay phải cầm bút viết bằng 3 ngón tay: ngói cái, ngón trỏ và ngón giữa.

    • Cách cầm bút:

    + Khi viết cầm bút bằng tay phải, cầm bằng 3 ngón tay: ngón trỏ, ngón giữa và ngón cái,  khuỷu tay di chuyển bút mềm mại, thoải mái từ trái sang phải.

    + Các chữ viết liền mạch, không nhấc bút từng nét, từng chữ cái.

    4.3. Lập thời gian biểu về luyện viết cho học sinh:

    – Luyện viết vào vở ô li ở lớp vào chiều thứ 2 và thứ 6 hàng tuần.

    – Ở nhà mỗi tuần luyện viết  ít nhất 2 bài .

    4.4.Luyện chữ viết trong giờ tập viết.

            Mục tiêu chính của giờ tập viết là rèn luyện kĩ năng viết chữ  đúng mẫu và đẹp. Nội dung Tập viết của học sinh lớp 2 chủ yếu là rèn viết chữ hoa. Từ đó, học sinh vận dụng vào viết từ ứng dụng và câu ứng dụng tương ứng với chữ chữ hoa vừa học.                                                                                                                                                                                     Đối với việc rèn luyện kĩ năng viết chữ hoa, để viết đúng và đẹp đòi hỏi học sinh   phải nắm được hình dáng, đặc điểm từng con chữ, các nét viết, các thao tác viết từng chữ và nhóm chữ .

            Tâm lý học sinh tiểu học thường thiếu tính kiên trì luyện tập, khó thực hiện các động tác đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ. Trong khi đó việc rèn luyện các thao tác tập viết chữ lại đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ và khéo léo cao.

            Để khắc phục được nhược điểm này cho học sinh giáo viên cần nắm vững các thao tác kỹ thuật viết từng con chữ và thường xuyên rèn luyện để có kỹ năng viết chữ hoa thành thạo, đúng, đẹp để viết mẫu cho học sinh. Đồng thời hướng dẫn thật cụ thể về:

            – Cấu tạo các âm trong vần, các vần trong tiếng và các tiếng trong câu.

            – Các nét viết, độ cao, khoảng cách giữa các con chữ.

            – Thao tác viết mẫu .

    4.5. Luyện chữ viết trong giờ chính tả .

            Việc viết chính tả rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói quen viết chữ ghi tiếng Việt đúng với chuẩn. Chính tả cùng với tập viết, tập đọc giúp cho người học chiếm lĩnh được tiếng Việt văn hóa, là công cụ để giao tiếp, tư duy và học tập.Viết đúng chính tả giúp cho học sinh có điều kiện để sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ môn văn hóa.Việc luyện viết chính tả liên tục kết hợp với ôn tập các quy tắc chính tả, học sinh sẽ có khả năng viết đúng các chữ ghi tiếng Việt, rèn luyện cho học sinh tính kỷ luật, tính cẩn thận, óc thẩm mĩ đồng thời bồi dưỡng lòng yêu quý tiếng Việt, chữ Việt, biểu thị tình cảm qua chữ viết. 

          Để thực hiện tốt việc luyện chữ trong giờ Chính tả trước hết giáo viên phải nắm rõ các lỗi chính tả cụ thể của từng học sinh. Qua kiểm tra tôi thấy học sinh thường phạm các lỗi chính tả sau:

       + Lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã.

                 + Nhầm lẫn giữa i, y: giữa các vần dễ lẫn như  ưa với uơ, uya với ua.

       +Viết sai các phụ âm đầu như c với k, ng với ngh, g với gh, d với gi.

          – Để học sinh khắc phục được những lỗi trên trước hết giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát âm đúng các từ đó .

        – Rút ra các tiếng, các từ khó mà học sinh dễ viết sai trong bài chính tả để phân tích cụ thể về cấu tạo chính tả và hướng dẫn học sinh viết đúng.

       – Cho học sinh học thuộc luật ghi chính tả:

    +Viết k vối các tiếng bắt đầu bằng i, e , ê.

    +Viết c vối các tiếng bắt đầu bằng các âm còn lại trong bảng chư cái.

    +Viết ngh với các tiếng bắt đầu bằng i, e , ê.

    +Viết ng với các tiếng còn lại.

              +Viết gh với các tiếng bắt đầu bằng i, e, ê.

    +Viết g với các tiếng còn lại.

        – Chọn bài chính tả theo khu vực: ở mỗi địa phương, học sinh do ảnh hưởng của phương ngôn nên thường mắc một số lỗi đặc trưng. Do đó trước khi dạy giáo viên cần phải tiến hành điều tra để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh. Từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy cho phù hợp .

        – Một nhiệm vụ nữa trong giờ chính tả là việc đánh giá nhận xét kết quả bài viết của học sinh. Giáo viên phải thường xuyên chấm chữa bài, nhận xét sửa chữa  ngay các lỗi chính tả cụ thể, tỉ mỉ của từng học sinh,  đồng thời lưu ý cho các học sinh khác .

        – Hướng dẫn cho các em tự đánh giá lẫn nhau để tìm ra lỗi sai của bạn và cùng nhau sửa lỗi.

          Thụng qua việc vận dụng luyện viết trong giờ chớnh tả, chúng ta cũng không thể không nhớ đến những quy định cơ bản về tốc độ viết chữ của học sinh lớp 2 là:

    + Giữa học kì I: Khoảng 35 chữ /15 phút.

    + Cuối học kì I: Khoảng 40 chữ/15 phút.

    + Giữa học kì II: Khoảng 45 chữ/15 phút.

    + Cuối học kì II: Khoảng 50 chữ/15 phút.

           Như vậy, việc luyện viết thụng qua tiết chính tả sẽ là một mắt xích quan trọng trong quá trình rèn luyện chữ viết cho học sinh nhằm đạt hiệu quả cao.

    4.6. Rèn chữ viết trong tiết luyện viết  buổi chiều:

        *Một thực tế hiện nay ở các tiết Luyện viết (buổi chiều) hầu hết các giáo viên thường cho học sinh viết lại một đoạn văn, đoạn thơ đó học, điều này vô hình chung đó biến tiết Luyện viết ( buổi chiều)  như tiết Chính tả ( buổi sáng). Thực tế này dẫn đến ở học sinh tâm lí nhàm chán và mục đích rèn luyện chữ viết cho học sinh đạt được cũng không cao. Vì thế, tụi đó suy nghĩ và tìm ra cách dạy tiết Luyện

    viết phù hợp đó là:

         – Trong quá trình dạy Luyện viết, tụi định hướng rừ tiết học này cần luyện nhóm nét cơ bản nào? Cần luyện chữ hoa nào? Dựa vào tiết học trước để định hướng cách chọn chữ hoa, chọn nét cơ bản dạy cho phù hợp với tiết học sau, đồng thời chỉnh sửa  ngay những lỗi cơ bản mà tiết trước các em còn sai nhiều. Sau khi luyện tốt phần trên, tôi mới chọn một đoạn văn hoặc bài thơ tương đồng với nội dung luyện trên cho học sinh vận dụng để luyện viết vào vở. Sau một tiết luyện viết, tôi thu vở chấm – chữa bài cẩn thận để nhận ra bài viết của các em sai những lỗi gỡ? Từ đó, học sinh mới nhận ra những lỗi của mỡnh để sửa chữa và giáo viên cũng biết được mức tiến bộ của học sinh, định hướng cho tiết học sau.

    Vớ dụ: Lớp học có nhiều em viết sai lỗi chữ C viết hoa và một số nét cơ bản như : nét khuyết trên, khuyết dưới…Tôi sẽ cho học sinh luyện viết nhóm nét cơ bản là các nét khuyết ( khuyết trên, khuyết dưới). Từ đó, học sinh vận dụng luyện viết cỏc tiếng cú chứa cỏc nột mà học sinh cũn viết sai. Cuối cựng, tụi cho học sinh vận dụng viết đoạn văn

         Ngoài ra, tụi cũn giao thờm một số bài tập luyện viết nhằm thay đổi hỡnh thức bài tập, kớch thớch được hứng thú học tập của học sinh và cũng nhằm củng cố thêm kiến thức cho các phân môn khác của môn Tiếng Việt như Luyện từ và câu, Chính tả…..

     

    4.7. Rèn chữ viết trong các giờ học khác:

    Việc rèn luyện chữ viết không phải chỉ thực hiện trong phân môn Tập viết và Chính tả mà phải thực hiện ở các môn học khác như viết chữ số trong môn Toán, viết đúng hành văn, ngữ pháp, chính tả trong môn Tập làm văn.v.v…Rèn chữ cho các em không chỉ ngày một, ngày hai mà cả một quá trình rèn luyện lâu dài. Đối với học sinh lớp 2 việc rèn chữ lại càng khó vì các em vừa từ lớp 1 lên nên mức độ viết chỉ mang tính tương đối chưa vững chắc. Để rèn chữ viết cho các em trong những môn học khác có hiệu quả, tôi đã phân chia các chữ cần luyện viết theo từng nhóm chữ cú nột tương đồng để giúp các em có thể viết chữ đúng và đẹp trong các môn học khác.

    Tôi đó tiến hành luyện cho cỏc em bằng cỏch: Cứ đầu mỗi tuần tôi ghi lên lề trái của bảng lớp một nhóm chữ có nét tương đồng. Trong tuần đó tôi yêu cầu các em chú trọng hơn về luyện viết nhóm chữ đó trong các bài học.Tùy vào độ khó của từng nhóm chữ mà cú thời gian luyện thớch hợp. Tôi phân chia luyện viết như sau:

    4.7.1. Chữ viết thường:

    * Nhóm 1: Các chữ có nét cong phối hợp với nét móc hoặc nét thẳng như: a, ă, â, d, đ, g. Tôi sẽ dạy nhóm chữ này vào 3 tuần cụ thể:

    Tuần 1: Tôi ghi các chữ có nét cong: a, ă, â lên bên lề trái của bảng, hướng dẫn học sinh khi viết quan sát các chữ trên để vận dụng viết đúng các tiếng. Hàng ngày chấm bài cho học sinh, tôi luôn chú trong xem các em đã luyện viết tốt các chữ này chưa, có nhận xét chi tiết để các em chỉnh sửa kịp thời.

    Tuần 2:  Tôi ghi tiếp 3 chữ có nét cong như: d, đ, g sang bên trái lề bảng và tiếp tục hướng dẫn học sinh luyện viết tiếp những tiếng có chữ tiếp theo. Yêu cầu học sinh khi viết cần chú ý vào mẫu để viết được chuẩn xác. Khi chấm bài các môn học, tôi gạch chân những chữ viết chưa đúng nét, nhắc nhở để các em biết chính sửa vào tiết học sau.

     Tuần 3 : Tôi củng cố lại tất cả các chữ thuộc nhóm chữ trên, kiểm tra các em viết xem đã viết đúng các nhóm trên chưa, đánh giá nhận xét cụ thể.

    Tiến hành tương tự như thế đối với các nhóm khác.

    * Nhóm 2: Các chữ có nét tương đồng cơ bản là nét cong như: o, ô, ơ, c, e, ê, x

    Tuần 4: Ghi lên lề trái của bảng các chữ có nét tương đồng cơ bản là nét cong : o, ô, ơ .Yêu cầu học sinh quan sát kĩ mẫu để vận dung vào viết bài. Tôi theo dõi, kiểm tra từng em, có nhận xét kịp thời để học sinh chỉnh sửa.

    Tuần 5: Ghi tiếp sang bên trái của bảng các chữ e, ê, c, x. Tương tự như thế, tôi kiểm tra bài làm của các em nhận xét cụ thể qua từng môn học. Yêu cầu học sinh luyện lại những chữ còn chưa đúng vào tuần tiếp theo.

    Tuần 6: Tiếp tục hướng dẫn học sinh luyện viết các chữ của nhóm trên. Nhận xét chú trọng thêm phần chữ viết cho học sinh.

    Tuần 7 : Tôi tiếp tục củng cố lại tất cả các chữ thuộc nhóm chữ trên, kiểm tra các em viết xem đã viết đúng các nhóm trên chưa, đánh giá nhận xét cụ thể.

    * Nhóm 3: Nhóm chữ có nét cơ bản là nét móc như: i, u, ư, n, m, t, p.

    Tuần 8:  Tương tự trên, tôi cho học sinh luyện  các chữ i, u, ư.

    Tuần 9: Luyện tiếp chữ  n, m, t, p

    Tuần 10: Tiếp tục luyện lại các chữ thuộc nhóm chữ trên.

      Sau mỗi tuần, tôi kiểm tra, nhận xét cụ thể cách viết của các em. Hướng cho các em nhận ra những ưu điểm, khắc phục những tồn tại đang còn vấp phải để tiếp tục luyện lại trong tuần sau.

    Tuần 11: Tiếp tục ôn lại các chữ đã luyện trong  tuần trước và đặc biệt là các chữ các em còn viết chưa chính xác ở nhóm chữ luyện trên.

    * Nhóm 4: Các chữ có nét khuyết trên, khuyết dưới như: l, h, k, b, g, y   

    Tuần 12: Tương tự như các tuần, tôi ghi các chữ có nét khuyết trên: l, h, b, k  vào lề trái của bảng để luyện.

    Tuần 13: Yêu cầu học sinh tiếp tục luyện các chữ có nét khuyết dưới như: g, y

    Tuần 14: Tiếp tục củng cố các chữ ở nhóm khuyết trên, khuyết dưới.

    * Nhóm 5: Các chữ có nét tương đồng là nét cong( khó), nét thắt như: r, s, v, b.

    Tuần 15: Tôi ghi các chữ r, s, v, b sang bên lề trái của bảng . Yêu cầu học sinh luyện.

    Tuần 16 : Luyện lại các chữ có nét tương đồng trên.

    Tuần 17, tuần 18 : Củng cố các chữ đã luyện trong nhóm 5

    Từ tuần 19 trở đi tôi tiếp tục củng cố lại những lỗi mà các em chưa sửa được ….

    4.7.2. Mẫu chữ hoa

         Tôi cũng chia các nhóm chữ hoa để học sinh luyện tương tự như mẫu chữ thường cụ thể như sau:

    * Nhóm 1: Các chữ : A,Ă, Â, M, N

    Tuần 1: Tôi ghi mẫu chữ hoa A, Ă, Â sang lề trái của bảng. Yêu cầu học sinh luyện được các tiếng có chữ trên. Tôi đi đến từng học sinh quan sát để chỉnh sửa cho các em.

    Tuần 2 : Luyện chữ M, N .Tôi cũng ghi vào bên trái của bảng và hướng dẫn học sinh luyện.

    Tuần 3: Củng cố lại các chữ đã luyện trong nhóm 1.

    Tiến hành tương tự như thế đối với các nhóm khác.

    * Nhóm 2: Các chữ hoa: C, G, E, Ê, L, S

    Tuần 4: Tương tự cho học sinh luyệnchữ hoa: C, G, L

    Tuần 5: Luyện chữ hoa:  S, E, Ê

    Tuần 6: Tiếp tục luyện lại các chữ hoa trên.

    Tuần 7: Củng cố lại các chữ hoa đã luyện ở nhóm 2.

    * Nhóm 3: Chữ hoa B, R, P, D, Đ

    Tuần 8: Luyện chữ hoa B, R, P

    Tuần 9: Luyện chữ hoa: D, Đ

    Tuần 10: Củng cố lại các chữ hoa đã luyện ở nhóm 3.

    * Nhóm 4: Chữ hoa H, I, K, V, T

    Tuần 11: Luyện chữ hoa: H, I, T

    Tuần 12: Luyện chữ hoa K, V

    Tuần 13: Luyện lại các chữ hoa đã luyện ở nhóm 4

    * Nhóm 5: Chữ hoa U, Ư, Y

    Tuần 14: Luyện chữ hoa U, Ư, Y

    Tuần 15: Ôn các chữ hoa đã luyện ở nhóm 5

    * Nhóm 6: Chữ hoa O, Ô, Ơ,   , Q

    Tuần 16: Luyện chữ hoa O, Ô, Ơ

    Tuần 17: Luyện chữ hoa Q,

     Tuần 18: Củng cố luyện lại nhóm 6.

    Từ tuần 19 trở đi giáo viên tiếp tục luyện các chữ hoa học sinh viết chưa chính xác và rèn luyện thường xuyên các chữ hoa.

         Với biện pháp rèn chữ viết như trên, tôi thấy học sinh đã nâng chữ viết lên một cách vượt bậc. Từ đó, Tôi rút ra một điều là luyện chữ viết cho học sinh cần phải có thời gian. Giáo viên phải chấm chữa bài thật tỉ mỉ,  thường xuyên nhắc nhở và đôn đốc học sinh có ý thức rèn luyện thì lúc đó học sinh mới đạt được kết quả tốt: Trình bày đẹp , chữ viết rõ ràng, sạch đẹp.

    4.8.  Một số biện pháp khác :

             a. Nhân rộng điển hình

          Dựa vào đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học là hay bắt chước. Vì thế, ngay từ đầu năm học, tôi đã phân loại học sinh, đối với học sinh viết chữ tốt, tôi luôn chú trọng, nhân rộng. Những bài viết đẹp và những bộ hồ sơ đẹp của học sinh. Tôi trưng bày cho học sinh cả lớp xem để học tập. Ngoài ra, tôi còn phân cho những học sinh viết chữ xấu ngồi gần học sinh có chữ viết đẹp và hướng cho các em học tập lẫn nhau, nhắc nhở nhau cùng tiến bộ .

             Những học sinh nào còn quá yếu tôi cho các em lên ngồi bàn trên để tiện việc theo dõi và hướng dẫn .

            b. Giao việc ở nhà cho học sinh :   

                Nắm rõ tồn tại của từng học sinh: học sinh yếu và sai phần nào thì giáo viên giao việc cho học sinh để luyện tập về phần đó. Chẳng hạn : Học sinh sai cách viết nét thẳng thì giáo viên yêu cầu học sinh luyện viết các chữ có nét thẳng; học sinh viết sai nét cong thì giáo viên cho học sinh luyện viết các chữ có nét cong …

              Đối với những học sinh có khả năng viết chữ đẹp giáo viên có thể sưu tầm các bài chữ viết đẹp của những học sinh năm trước hoặc của học sinh lớp khác hay trong sách báo để giới thiệu với các em, làm mẫu cho các em luyện viết theo.

            c. Hàng tháng kiểm tra, chấm điểm vở sạch chữ đẹp, xếp loại nhận xét rõ ràng, cụ thể từng học sinh, nêu rõ cần bổ sung điểm nào, sửa chữa vấn đề gì và yêu cầu học sinh khắc phục ngay.

             Có tuyên dương khen thưởng hàng tháng để tạo hứng thú, tính tự giác và niềm say mê trong việc rèn luyện chữ viết.

           d. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc viết chữ đẹp đó là bút viết và vở viết. Vì vậy ngay từ đầu năm học giáo viên phải hướng dẫn học sinh mua loại vở do nhà trường đặt hàng, chọn loại bút máy phù hợp, bút viết nét mảnh, mực đều đặn .

              Giáo viên yêu cầu học sinh viết đúng loại vở quy định của nhà trường, bút cùng một màu mực vừa thuận tiện trong việc rèn luyện chữ viết, vừa thuận lợi cho việc xây dựng hồ sơ vở sạch chữ đẹp của lớp.

       e. Phối hợp với phụ huynh

          Vào đầu năm học, trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, trao đổi về tỡnh hỡnh học tập của cỏc em, tụi mạnh dạn cho phụ huynh xem toàn bộ sỏch vở của con mỡnh và xem một số vở của một số học sinh viết đẹp, chuẩn trong lớp , trong trường. Tụi nờu thờm vai trũ của chữ viết trong cỏc mụn học khỏc, một số biện pháp rèn luyện viết chữ đẹp và các điều kiện cần và đủ để đảm bảo cho việc xây dựng phong trào “ Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”. Tất cả phụ huynh của lớp hưởng ứng và đồng tỡnh cao. Từ đó, tôi xây dựng kế hoạch phong trào này. Trước tiên, tôi hướng dẫn cho phụ huynh các nét cơ bản, kích cỡ, phô tô phát cho phụ huynh một số bài viết đẹp của lớp để phụ huynh tham khảo, về nhà phụ huynh cũng có thể kiểm tra được chữ viết của con ở nhà và nhắc nhở học sinh luyện viết tốt ở nhà. Ngoài ra, tụi cũn định hướng cho phụ huynh mua cho con mỡnh loại vở đặt của nhà trường, khi viết không giậm, mua loại bút máy phù hợp có nét thanh, nét đậm…

    4.9. Chữ viết của giáo viên là một tấm gương cho học sinh noi theo.

          Ngày ngày các em tiếp xúc với chữ viết của giáo viên thường xuyên trên bảng lớp. Bởi vậy chữ viết của giáo viên như một tấm gương soi, như một trực quan sinh động, một tài liệu sống để các em học tập. Vì thế chữ viết của giáo viên phải chuẩn ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi chi tiết cho dù đó chỉ là một nét vẽ, một chữ số hay một đường kẻ nhỏ trên bảng lớp cũng như ở lời nhận xét trong vở của học sinh .

              Là một người giáo viên nói chung và một người giáo viên tiểu học nói riêng thì việc rèn chữ, luyện viết của các thầy cô giáo là một việc làm thường xuyên và cần thiết.

    V. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

           Sau một thời gian ngắn áp dụng những biện pháp nêu trên trong quá trình rèn luyện chữ viết cho học  sinh lớp tôi phụ trách, tôi thấy đã có những chuyển biến rõ

    rệt so với đầu năm như sau:

            – Học sinh rất có ý thức trau dồi chữ viết.

            – Chữ viết của học sinh tiến bộ nhìn thấy rõ rệt sau mỗi tuần học. Đến thời điểm cuối tháng 11 của năm học 2013-2014 hầu hết học sinh có chữ viết đúng và đẹp, trình bày sạch sẽ,  gọn gàng, khoa học.

            *  Kết quả kiểm tra chất lượng chữ viết  của học sinh lớp 2G  trong  tháng 9, 10,  11 năm 2013 như sau:

         

    Xếp loại chữ

    Tháng 9

    Tháng 10

    Tháng 11

    Số lượng

    Tỉ lệ

    Số lượng

    Tỉ lệ

    Số lượng

    Tỉ lệ

    Loại A

    3

    15,8

    9

    47,4

    12

    63,2

    Loại B

    9

    47,4

    8

    42,1

    6

    31,6

    Loại C

    7

    36,8

    2

    10,5

    1

    5,2

     Các giáo viên trong tổ 2 trường tôi đã áp dụng các biện pháp nêu trên vào việc rèn luyện chữ viết cho học sinh bước đầu có những kết quả đáng khích lệ.

     

    Xếp loại chữ

    Tháng 12

    Tháng 1

    Tháng 2

    Số lượng

    %

    Số lượng

    %

    Số lượng

    %

    Loại A

    12

    63,2%

    15

    78,9%

    16

    84,2%

    Loại B

    7

    36,8%

    4

    21,1%

    3

    15,8%

    Loại C

    0

     

    0

     

    0

     

    Phần thứ tư:  KẾT LUẬN

          Rèn chữ không những đơn thuần để chữ viết chuẩn, đúng, đẹp mà cũn là để rèn người nữa. Giáo viên giúp học sinh rèn chữ viết cũng chính là để rèn nhân cách cho cỏc em, giỳp cỏc em giữ gỡn sự trong sỏng của Tiếng Việt. Vì vậy, để việc rèn luyện chữ viết cho học sinh đạt hiệu quả cao trước hết người giáo viên phải có lòng nhiệt tình, sự tận tâm và tinh thần trách nhiệm. Đồng thời trong quá trình rèn chữ viết cho học sinh, giáo viên cần chú ý những vấn đề sau:

             – Rèn luyện chữ viết cho học sinh là một quá trình lâu dài, không nên nóng vội. Cần tôn trọng cá tính của học sinh, đi từ cái dễ đến cái khó, từ cái chưa đạt đến cái đạt được, không đốt cháy giai đoạn dễ gây cho học sinh tính cẩu thả sau này.

             – Trong quá trình rèn luyện chữ viết phải quan tâm tới việc bảo vệ sức khỏe cho học sinh, gây hứng thú, tránh ép buộc làm cho học sinh nhàm chán.

              – Tìm hiểu ngôn ngữ địa phương là một việc làm cần thiết nhằm rút ra những lỗi phương ngôn phổ biến để điều chỉnh cho học sinh viết đúng chính tả.

              – Việc rèn luyện chữ viết cần phải được thực hiện ở tất cả các môn học.

              – Kết hợp với phụ huynh học sinh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện chữ viết khi học sinh học ở nhà.

              – Chữ viết của giáo viên phải đẹp, đúng mẫu, đúng chuẩn là một tấm gương để học sinh noi theo.

              – Thường xuyên rèn luyện để học sinh luôn có ý thức đẩy mạnh nâng cao và duy trì phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp.

     

     

    PHẦN THỨ TƯ:  KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

    *  Đối với Phòng và Sở GD-ĐT

    – Tiếp tục duy trì cuộc thi “ Văn hay-Chữ đẹp” hàng  năm để tạo phong trào thi đua rèn chữ trong các nhà trường.

    * Đối với các nhà trường:

    – Đẩy mạnh phong trào giữ “ Vở sạch chữ đẹp”. Kết thúc mỗi năm học, các trường nên giữ lại những bộ vở  chữ viết đẹp để lưu lại phũng Truyền thống của nhà trường làm chuẩn để kích thích phong trào “ Vở sạch chữ đẹp” cho năm học tiếp theo.

    – Tăng cường tổ chức các hình thức ngoại khóa thi viết đẹp, viết nhanh để động viên,  khuyến khích học sinh luyện  viết.

     

                                                                            Hà Nội, ngày 10  tháng 12 năm 2022

                                                                                         

     

    Tác giả: Khối 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Rèn Chữ Viết Đúng, Đẹp Cho Học Sinh Lớp 2 Qua Phân Môn Tập Viết
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Rèn Luyện Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non Thế Nào Hiệu Quả Cao Nhất?
  • Thực Trạng Quản Lý Thuế Đối Với Hộ Kinh Doanh
  • Giải Pháp Thu Thuế Đối Với Hộ Kinh Doanh
  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Cho Học Sinh Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Giải Pháp Chống Xả Rác Và Giải Quyết Rác Thải
  • Bài Giảng Ô Nhiểm Đất Do Rác Thải Và Biện Pháp Xử Lý
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • ích cỡ, khoảng cách giữa các chữ không đều. Hiện tượng viết sai nét, sai cỡ chữ, hở nét, thừa nét, thiếu dấu hoặc đánh dấu không đúng vị trí diễn ra thường xuyên. + Một số học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút chưa đúng. * Nguyên nhân tiếp theo là do một số các bậc phụ huynh chưa phối kết hợp cùng cô giáo sửa lỗi phát âm tư thế ngồi cho các em. Một số em cả bố, mẹ đi làm ăn xa để mặc các em ở nhà với ông bà. Bên cạnh đó một số phụ huynh còn phát âm sai chính tả đã làm nền cho con cái làm sai theo. Trước vấn đề này, tôi đã tìm hiểu, suy nghĩ kết hợp với sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường cùng với sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình về " Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 " mà tôi đã thực hiện bước đầu có hiệu quả. 3. Phương pháp nghiên cứu 1.Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 2.Phương pháp điều tra. 3.Phương pháp phân tích tổng hợp. 4.Phương pháp luyện tập thực hành. 5.Phương pháp so sánh, đối chiếu. Qua thực tế kiểm tra kỹ năng viết của học sinh lớp 1 tôi thấy có những mức độ đạt được khác nhau. Các em đã bước đầu nhận ra nhiệm vụ của mình là phải quan sát chữ mẫu của cô rồi làm theo và viết vào vở của mình nhưng kết quả đạt được còn quá chênh lệch. Bên cạnh những ưu điểm như: biết cách quan sát, cầm bút,để vở thì vẫn còn tồn tại một số em không biết viết lại hoặc đã biết viết nhưng nội dung không đúng mẫu. Vì mới vào lớp 1, tuần đầu các em học viết, giai đoạn này một số em còn quên với động lệnh của cô giáo đồng thời lúng túng trong việc cầm bút viết bài. + Không biết cách trình bày bài viết. + Quên độ cao , khoảng cách từng con chữ. Vậy chúng ta cần phải làm gì giúp các em khỏi bị lúng túng khi viết và trình bày bài, đặc biệt ở những bài đầu của phân môn tập viết? Với học sinh Tiểu học, đặc biệt học sinh lớp 1, các em " nói đấy, nghe đấy" rồi cũng " quên ngay đấy". Nếu như các em không được làm quen, được nhắc nhở thường xuyên thì các em sẽ không biết làm, nếu làm thì cũng dễ sai, dễ nhầm lẫn và không tránh khỏi lúng túng. Với lớp tôi, tôi đã thực hiện như sau: Soạn và nghiên cứu các quy trình thật kĩ, tự đặt ra các tình huống có thể sảy ra trong tiết học phải giải quyết Lựa chọn những câu hỏi khai thác sự phát hiện một cách ngắn gọn, rễ hiểu nhất. Chú ý đến thói quen cầm bút, tư thế ngồi và để vở của học sinh Kẻ bảng các dòng kẻ li theo vở tập viết và vở ô li Hướng dẫn xác định kĩ các li kẻ và cách viết trên cơ sở xác định dòng kẻ li chắc chắn sẽ giúp các em có quy trình viết chuẩn xác hơn. Từ đó hình thành thói quen cho các em. Tất cả các công việc này phải được tiến hành thường xuyên và liên tục qua từng tiết học và từng ngày học. Giới thiệu chữ viết thường cỡ nhỡ. Sau khi học sinh đã được học âm rồi tôi cho học sinh nắm cấu tạo con chữ, độ cao, độ rộng của từng con chữ cũng như kĩ thuật viết từng con chữ cỡ vừa. Khi đến khi luyện viết, tôi giới thiệu với học sinh các con chữ trong bài học hôm đó . Ví dụ con chữ " ă, â" , viết theo cỡ chữ nhỡ có độ cao 2 đơn vị, con chữ " t" có độ cao 3 đơn vị. Trong một số tiết luyện Tiếng Việt sau, khi có các con chữ đó theo cỡ chữ nhỡ thì học sinh sẽ biết ngay. Làm như vậy, học sinh vừa nắm chắc cấu tạo ,vừa viết đúng. Để thực hiện tốt việc này đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo trong cách ôn luyện và điều quan trọng hơn giáo viên phải nắm chắc cấu tạo chữ. Nếu kể chiều cao của con chữ thấp nhất không kể các dấu phụ trên các con chữ ấy( như các chữ a,ă,â,c,e,ê..) là đơn vị chiều cao của chữ và lấy dòng kẻ dưới cùng của khuông kẻ vở làm dòng chuẩn thì các chữ viết thường có các độ cao khác nhau : 2 đơn vị:. a,ă,â,c,e,ê. u,ư,x,v,n,m,i. 2,5 đơn vị: r,s.3 đơn vị : t. ( Các chữ 2 đơn vị, 2,5 đơn vị, 3 đơn vị trên đều viết trên dòng chuẩn) 4 đơn vị: d,đ ( với 4 đơn vị trên dòng chuẩn) p,q ( với 2 đơn vị trên và 2 đơn vị dưới dòng chuẩn) 5 đơn vị: b, h,k ,l ( với 5 đơn vị trên dòng chuẩn) g,y ( với 2 đơn vị trên và 3 đơn vị dưới dòng chuẩn) Ở các giờ luyện Tiếng việt ( buổi chiều) và giờ Tập viết ,giáo viên có thể giúp học sinh so sánh độ cao, độ rộng cũng như kỹ thuật viết chữ. Nhưng giáo viên chú ý không nên đi sâu phân tích, nhận diện mà ở đây tôi chỉ muốn với hình thức giáo viên ôn lại cho học sinh là chính, tránh làm mất nhiều thời gian của tiết học. Như vậy qua các bước ôn đó, phần nào học sinh đã nhớ để khi chuyển sang viết nội dung bài dài học sinh không còn lúng túng và viết sai về độ cao các con chữ cũng như kĩ thuật viết. Sự phối hợp của phụ huynh để tạo điều kiện tốt cho các em học tập là một vấn đề quan trọng . Do vậy việc sắm sửa đầy đủ đồ dùng cho các em là không thể thiếu. Không chỉ rèn chữ trong phân môn Tập viết mà trong các môn học khác tôi cũng chú ý đến kỹ năng viết của học sinh , kịp thời nhắc nhở các em để các em hoàn thiện hơn về chữ viết. Hình thành thói quen cho các em khi viết bài đó là: Ngoài kỹ năng viết đúng còn khuyến khích các em viết đẹp và nhanh.. - Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học chứ không phải người dạy, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu hứng thú, thói quen và năng lực của người học. như vậy, mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Khi dạy học, hoạt động tư duy của trẻ em khơi dậy, phát triển và coi trọng, đó chính là dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Trong các giờ tập viết, giáo viên thường lạm dụng con đường giải thích cách viết, nhận xét luôn bài của học sinh. Như vậy chưa phát huy tính tích cực của học sinh vì vậy khi dạy tập viết giáo viên cần lưu ý: + Với những tiếng khó viết trong bài, giáo viên nên để học sinh tự phát âm- phân tích- viết bảng, sau đó học sinh tự nhận xét, sửa sai cho nhau. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn rồi tổng kết. + Qua những bài tập viết để giúp học sinh hiểu nghĩa từ- ghi nhớ từ, nắm quy tắc viết. - Xây dựng "Đôi bạn cùng tiến" Ngoài ra, trong giờ học tôi còn xây dựng " Đôi bạn giúp nhau tiến bộ" đối với học sinh của lớp, cụ thể: + Những học sinh đọc viết đúng sẽ giúp đỡ bạn còn đọc viết sai. + Học sinh viết chữ đẹp sẽ giúp bạn còn viết sai nét, sai chính tả. Để việc thực hiện có hiệu quả, giáo viên chủ động xếp học sinh ngồi gần nhau để học sinh tự sửa khi nói, khi viết cho nhau và cả khi trò chuyện cùng nhau hay lúc ra chơi. Xưa có câu: "Học thầy không tày học bạn". Chính vì vậy, khi giáo viên giúp học sinh hiểu rõ điều này trong học tập thì việc tổ chức cho học sinh cùng nhau học hỏi, cùng nhau thi đua, rèn luyện đó là việc tốt nên làm. Sau từng tuần, từng tháng,giáo viên tổng kết, tuyên dương từng em, từng " đôi bạn". Nhận xét mang tính khuyến khích, động viên các em là chính. - Chú ý tư thế ngồi và cách cầm bút. Hiện nay, trong các trường học vẫn còn tồn tại không ít học sinh ngồi viết không đúng tư thế và cách cầm bút. Có trách nhiệm đầu tiên và lớn nhất trong hiện trạng nói trên là những người dạy các em cầm bút tập viết lần đầu tiên. Các em ngồi không ngay ngắn và cầm bút không đúng kiểu mà không được uốn nắn ngay cho đến khi có cách ngồi và cách cầm bút đúng thì sau này rất khó sửa. Luyện cho học sinh tư thế ngồi và cách cầm bút viết cho đúng không phải chỉ là việc làm ở đầu học kì I mà là việc làm thường xuyên của giáo viên. Tay các em còn non, cầm bút không nhẹ nhàng như người lớn. Nhưng nếu cầm sai mà được uốn nắn ngay thì cũng dễ sửa hơn người lớn. Lưng các em còn rất mềm ngồi viết không đúng tư thế sẽ dẫn đến cong vẹo cột sống và cận thị. Chính vì vậy, ngay từ các buổi học đầu tiên của lớp 1, tôi hướng dẫn học sinh tỉ mỉ, cẩn thận về cách cầm bút cũng như tư thế ngồi, cách để vở,.. *Tư thế ngồi của học sinh: Trước khi viết GV cần nhắc các em phải ngồi đúng tư thế là phải ngồi ngay ngắn, thẳng lưng, không tì ngực vào bàn, vai thăng bằng, đầu hơi cúi và nghiêng sang trái, mắt cách vở 25- 30 cm. Hai tay để trên bàn, tay trái giữ vở, tay phải cầm bút, hai chân để song song thoải mái. Nhiều giáo viên chỉ mải hướng dẫn, chú ý đến chữ của học sinh mà quên đi tư thế ngồi của các em. Để mặc HS ngồi tự do, lệch lạc, đầu cúi sát vở, ngả nghiêng người,..Điều đó sẽ dẫn đến thói quen không tốt và ảnh hưởng đến mắt , tư thế của các em. *Cách cầm bút, tay viết. Hướng dẫn các em cầm bút bằng 3 ngón tay, ngón tay giữa ở phía dưới, ngón trỏ ở phía trên và ngón cái giữ bút ở phía ngoài cho ngón tay cái thẳng với cánh tay. Bàn tay để lên trang vở, cổ tay thẳng thoải mái. Bút nghiêng về phía cánh tay khoảng 45 độ so với mặt giấy và song song mép dọc của trang vở. Ngòi bút úp xuống mặt giấy. GV không chú ý có những HS cầm bút bằng 4 ngón tay để khuỳnh ra rất khó viết khi lên lớp trên sửa lại cho các em thật khó. Chính vì có sự chuẩn bị tốt của giáo viên và sự cố gắng hết mình của học sinh kết hợp với sự đồng tình hỗ trợ của phụ huynh nên sau 11 tuần học kết quả viết của các em đã đạt được những kết quả khả quan , có sự tiến bộ hẳn. Thông qua bài kiểm tra giữa kì I và bài kiểm tra giáo viên tự đưa ra với nội dung khó hơn , số lượng chữ viết nhiều hơn. Cụ thể như viết các chữ: tuổi thơ, thay đổi , leo trèo, chào hỏi, lưỡi rìu. Gà gáy báo ngày mới. Bố tôi đi lấy củi. Mẹ ngồi thêu gối. Bà bổ bưởi chia cho cả nhà. Kết quả đạt được như sau; TSHS Viết đẹp Viết đúng Biết viết Chưa biết viết 29 7 14 7 1 Với kết quả trên tôi nhận thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt sau 8 tuần (sau đợt kiểm tra đầu tiên) CHƯƠNG III: KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ Kết luận Trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước hiện nay cùng với sự phát triển của ngành kinh tế, ngành GD&ĐT cũng có sự phát triển và thay đổi. Để đáp ứng được sự phát triển của đất nước, các trường Tiểu học luôn là những cái nôi ươm những mầm non tương lai và tài năng tạo ra nguồn nhân tài cho đất nước. Chính vì vậy, làm thế nào để phát triển được tri thức và mở mang tầm hiểu biết của các em hay đào tạo và giáo dục các em trở thành những con người toàn diện vừa có tri thức vừa có khả năng viết tốt. Đấy mới là vấn đề cần đặt ra cho ngành giáo dục hiện nay và vấn đề rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh Tiểu học qua các giờ Tập viết là một trong những vấn đề cần thiết. Ngành giáo dục hiện nay đã có những phương pháp và hình thức dạy học mới làm cho tiết học sôi nổi và phong phú hơn nhưng hiệu quả thật sự vẫn chưa cao. Đó cũng là một phần nội dung mà tôi viết qua bài này. Nhưng do trình độ của cá nhân tôi còn hạn hẹp nên những đề đạt, những ý kiến và phương hướng trên của tôi có thể vẫn là vấn đề lí tưởng. Theo tôi để thực hện được điều đó nhất thiết phải tạo được sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, kêu gọi các gia đình có con vào lớp 1 hãy " Vì tương lai con em chúng ta". Có như thế thì việc tổ chức cho các em rèn luyện và học tập ở trường mới đạt kết quả cao. Tuy nhiên điều đó còn phụ thuộc vào năng lực , trình độ của đội ngũ giáo viên tiểu học, phụ thuộc vào sự tâm huyết với nghề của đội ngũ giáo viên ấy. Bởi thực tế muốn có những học sinh tốt thì đòi hỏi người dạy trực tiếp học sinh ấy phải có chuyên môn , trình độ và nghiệp vụ tốt, có các biện pháp tổ chức rèn luyện cho học sinh ở nhiều hình thức. cũng vì lẽ đó tôi thấy rằng việc học hỏi những kinh nghiệm của những đồng nghiệp đi trước là rất cần thiết,mỗi giáo viên hãy tự cố gắng học hỏi để tự hoàn thiện bản thân ,để có đủ năng lực của một giáo viên tiểu học. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu phát triển của học sinh tiểu học ngày nay và tương lai. Chúng ta đều biết rằng sứ mệnh nước nhà sẽ phồn vinh hay tụt hậu đều trông chờ vào lớp trẻ hôm nay- những con người do chính chúng ta đào tạo,rèn luyện hôm nay. Các em là những người kế tục dất nước như Bác hằng mong đợi " Non sông Việt nam có trở nên vẻ vang hay không? Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các em" Việc rèn chữ cho học sinh là trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo . Rèn được học sinh viết chữ đẹp là niềm vui của thầy cô, hạnh phúc của trẻ và là niềm tự hào của cha mẹ. Nhưng chúng ta không chỉ rèn đọc - viết cho học sinh trong chốc lát, mà đó là cả một quá trình rèn luyện lâu dài và liên tục. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực chuyên môn vững vàng, có lòng yêu nghề mến trẻ, giáo viên cần có tính cẩn thận tỉ mỉ, tránh nóng nảy. có vậy việc rèn chữ cho học sinh mới thành công. Không chỉ có vậy, người giáo viên cần phải lựa chọn, phối hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung từng bài, với đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động tìm và lĩnh hội kiến thức. Học sinh lớp 1 rất thích được khen. Lời khen kịp thời sẽ giúp các em có hứng thú học tập và mau tiến bộ. Do vậy , giáo viên phải biết động viên khuyến khích các em kịp thời, giúp các em tự tin trong khi rèn chữ. Rèn kĩ năng viết chữ đẹp không chỉ đòi hỏi yêu cầu ở người thầy hướng dẫn, mà phần quyết định đó chính là học sinh. Học sinh phải biết lắng nghe, biết tiếp thu ý kiến đóng góp của bạn, của thầy; chịu khó tự giác rèn luyên dưới sự hướng dẫn của thầy cô. 2 . Kiến nghị Việc rèn chữ viết cho học sinh là một việc làm hết sức quan trọng , để nâng cao hơn nữa chất lượng rèn chữ cho học sinh lớp 1 tôi có một số kiến nghị sau: 1.Đối với giáo viên: - Phải viết chữ mẫu đúng quy trình, đúng quy định của ngành. - Nhất thiết chữ mẫu phải được viết trên dòng kẻ li và được viết rõ ràng trên bảng lớn để học sinh quan sát. - Luôn tâm huyết hết lòng với nghề. - Cần phải rèn đọc chuẩn, rèn chữ viết của mình, thường xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. - Tích cực học hỏi đồng nghiệp cũng như đọc các tài liệu nhằm phục vụ cho việc rèn chữ.. - Điều quan trọng hơn nữa là người giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tụy với học sinh. - Có các hình thức khuyến khích , động viên kịp thời sự tiến bộ của học sinh để học sinh phấn khởi học tập. - Tạo mối liên hệ giữa gia đình và giáo vên thường xuyên để cùng có biện pháp giáo dục học sinh. 2.Đối với học sinh - Có ý thức tự giác, tích cực trong học tập. Biết lắng nghe nhận xét của cô, của bạn để tự sửa chữa, khắc phục nhược điểm của mình. Mạnh dạn góp ý, sửa sai giúp đỡ bạn trong học tập cũng như trong rèn chữ. 3. Đối với nhà trường và các cấp quản lí - Bàn ghế phải phù hợp với học sinh theo từng lứa tuổi. - Phòng học đủ ánh sáng cho học sinh viết bài trong những ngày mùa đông rét, trời tối. - Cần có biện pháp chỉ đạo các tổ chuyên môn thực hiện một cách đồng loạt( từ khối 1 đến khối 5) về rèn chữ viết cho học sinh qua giờ chính tả. Tổ chức các cuộc thi trong các buổi ngoại khóa dưới những hình thức khác nhau để rèn cho học sinh các kĩ năng: nghe- đọc- nói- viết.. - Vấn đề viết đúng, viết đẹp phòng đã chỉ đạo tới các trường nhưng để giáo viên và học sinh thực hiện tốt, theo tôi phòng giáo dục nên có biện pháp cụ thể về rèn chữ như cho tập huấn các giáo viên cốt cán ở các trường. 4. Đối với phụ huynh học sinh - Kết hợp với nhà trường cụ thể là giáo viên chủ nhiệm để rèn kĩ năng viết cũng như các kĩ năng khác cho con em mình. - Phụ huynh cần quan tâm hơn nữa tới việc học tập của con em mình. - Bản thân phụ huynh cũng cần phải tự rèn cách đọc , cách nói chuẩn, cách viết chuẩn. * Với thời gian nghiên cứu không nhiều, kinh nghiệm nghề nghiệp còn hạn chế chắc chắn bài viết của tôi còn nhiều thiếu sót. Riêng đối với bản thân tôi , điều cần thiết và không thể coi nhẹ là phải dạy tốt, luôn quan tâm , gần gũi tới tất cả các học sinh trong lớp . Từ đó mới phát triển được tư duy , tính sáng tạo của các em. Với bài viết này tôi tin bản thân mình cũng sẽ ý thức được nhiều hơn trong lĩnh vực nghề nghiệp và với mong muốn được bạn bè , đồng nghiệp quan tâm , có nhiều ý kiến đóng góp hơn để công tác giáo dục của xã nhà tiến xa hơn . Dù mới nghiên cứu nhưng cá nhân tôi cũng mạnh dạn đề xuất một số ý kiến đóng góp và tất nhiên những ý kiến đó còn nhiều khiếm khuyết , chưa đầy đủ phù hợp với yêu cầu hiện nay . Mọi suy nghĩ trong bài viết cũng chỉ là ý kiến của riêng cá nhân tôi chưa có cơ sở khoa học chắc chắn. Chính vì vậy , tôi rất mong được sự dóng góp ý kiến của các đồng nghiệp đi trước , sự chỉ đạo , giúp đỡ của ban giám hệu nhà trường để tôi có được những ý kiến cụ thể giúp cho bài viết được hoàn thiện hơn, giúp tôi cải thiện được phương pháp giảng dạy về sau. Đông fht[i giúp tôi tổng kết được những kinh nghiệm kết hợp giữa lí luận và thực tiễn , tiếp thu thêm những kinh nghiệm để chuyên môn được vững vàng và phần nào nâng cao được nghiệp vụ của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn. Mông Sơn ,ngày 25 tháng 11 năm 2014 Người viết Nguyễn Thị Minh Thìn TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách giáo khoa , sách giáo viên Tiếng Việt lớp 1 Tài liệu tập huấn bồi dưỡng hề 2001, 2002, 2007 Tập san chuyên đề giáo dục số 48,49,52,53,56,57,62,63,64. Chương trình chuẩn kiến thức kỹ năng Tiếng Việt lớp 1 Các phương pháp dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT GV: Giáo viên HS: Học sinh BGD&ĐT; Bộ giáo dục và đào tạo QĐ: Quyết định TT: Thông tư CNH-HĐH; Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa HĐSK: Hội đồng sáng kiến MỤC LỤC TIÊU ĐỀ TÊN ĐỀ MỤC TRANG 1 2 3 Phần 1 : Thông tin tác giả sáng kiến Phần II: Nội dung sáng kiến Chương I: Những vấn đề chung Khái quát đặc điểm, tình hình Trường Tiểu học Mông sơn lí do chọn sáng kiến Mục đích của sáng kiến Phương pháp nghiên cứu viết sáng kiến Cơ sở khoa học của sáng kiến 6. Cơ sở pháp lí của sáng kiến Chương II : Nội dung 1.Thực trạng về việc dạy và học phân môn Tập viết 1.1 Sơ lược lịch sử bài viết 1.2 Đặc điểm chung của lớp 2. Thực tế giảng dạy môn Tập viết 2.1 :Nội dung bài kiểm tra 2.2: Nguyên nhân của thực trạng 3. Phương pháp nghiên cứu Chương III: Kết luận - Kiến nghị Kết luận Kiến nghị Tài liệu tham khảo 1 2 2 2 3 5 7 8 9 10 10 10 11 12 12 12 13 19 19 22 25 25 XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG Hiệu trưởng ĐÁNH GIÁ ,XẾP LOẠI CỦA HĐSK HUYỆN YÊN BÌNH ĐÁNH GIÁ ,XẾP LOẠI CỦA HĐSK TỈNH YÊN BÁI .......................

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Top 9 Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Hiệu Quả Nhất 2022
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Học Cho Học Sinh Lớp 3 Skkn Thi Sang Doc
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Cho Học Sinh Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Giải Pháp Chống Xả Rác Và Giải Quyết Rác Thải
  • Bài Giảng Ô Nhiểm Đất Do Rác Thải Và Biện Pháp Xử Lý
  • (29 ch ữ cái M 1 + mẫu 2) "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A Nắm được kích cỡ của của từng chữ viết hoa (thể hiện trong khung chữ trong mối quan hệ với chữ viết thường: VD : trong cùng một cỡ ch ữ các chữ cái viết hoa A, Ă, Â, B, C...có độ cao bằng các chữ cái viết th ường b, g, h,l , y - 2,5 đơn vị . Riêng hai chữ cái Y, G được viết với chiều cao 4 đơn vị ). Nắm được thao tác viết từng nét chữ tạo nên các chữ cái viết hoa ( đưa bút, lia bút theo đúng qui trình viết). Dạy cho HS biết nối ( ghép ) chữ cái viết hoa với chữ th ường trong một chữ ghi tiếng, để đảm bảo tính thẩm mĩ, phục vụ cho yêu cầu vi ết chính t ả và trình bày bài. Mặt khác, một vấn đề quan trọng nữa là: phải làm th ế nào đ ể HS luôn hiểu và hướng dẫn thế nào để HS viết đúng, viết đẹp. Đây là cả một quá trình lâu dài mà bắt buộc m ỗi ng ười th ầy chúng ta ph ải quan tâm và chú ýngay từ đầu đối với HS Tiểu học. 1.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2010. Lớp 2A - Trường Tiểu học An Sinh A II. Phần nội dung II.1 Chương I: TổNG QUAN I. Nghiên cứu lí luận : * Tầm quan trọng của phân môn Tập viết: Trong bộ môn Tiếng Việt gồm có các phân môn: Tập đọc, Chính t ả, Luy ện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Tập viết.Tất cả các phân môn c ủa b ộ môn Tiếng Việt giúp cho người học chiếm lĩnh nền văn hoá Việt, đó là công cụ để giao tiếp , tư duy và học tập, là ngôn ngữ nói, ngôn ng ữ vi ệt. Do v ậy phân môn Tập viết trong trường Tiểu học là quan trọng hàng đầu của môn Ti ếng Vi ệt, giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúng m ẫu, đúng chính t ả, rèn tính cẩn thận cho HS. Năm học 2009 - 2010 tôi được nhà trường phân công ch ủ nhiệm lớp 2A, đồng thời trực tiếp 2 phân môn: Chính tả và Tập Viết tại trường Tiểu học An Sinh A. Trong quá trình tìm hiểu chữ viết của HS và tr ực ti ếp gi ảng d ạy ở môn Tập viết ở các lớp 2,3 tôi thấy tỉ lệ HS viết ch ữ xấu, sai m ẫu còn khá cao ở các lớp. Tôi thấy rằng tầm quan trọng của phân môn Tập viết trong giai đoạn hi ện nay là rất cấp bách. II. Cơ sở lí luận: 1. Cơ sở tâm lí học: Mục đích của phân môn Tập viết là: + Rèn kĩ năng viết chữ cho HS theo đúng mẫu quy định, + Kết hợp kĩ thuật dạy viết chữ với rèn kĩ năng viết đúng chính t ả, mở rộng vốn từ ngữ phục vụ cho học tập và phát triển t ư duy. Góp ph ần rèn luy ện những phẩm chất như: tính cẩn thận, lòng yêu thích cái đẹp, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự trọng thể hiện qua chữ viết. 2. Cơ sở ngôn ngữ học: Trong quá trình hình thàn biểu tượng về chữ viết và hướng dẫn HS viết chữ, giáo viên thường sử dụng tên gọi các nét cơ bản để mô tả hình dáng, cấu tạo và quy trình viết một chữ cái theo các nét viết và quy định ở bảng mẫu chữ. + Nét viết + Nét cơ bản Dùng tên gọi các nét cơ bản , mẫu chữ cái viết hoa có nhiều nét cong, nét lượng tạo dáng Để hướng dẫn học sinh nhận diện hình chữ cái viết hoa phục vụ yêu cầu thực hành luyện viết chữ là chính, không sa vào ph ần phân tích lí thuyết cấu tạo nét chữ Tên gọi các kiểu chữ chỉ dùng khi giáo viên mô t ả c ấu t ạo, hình dáng ch ữ viết hoa cho cụ thể, rõ ràng. Không bắt HS học thuộc nhưng phải nắm chắc quy trình viết mẫu chữ. III. Chương trình SGK "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A - SGK phân môn Tập viết được lồng ghép trong SGK Ti ếng Vi ệt l ớp 2 t ập 1-2. - Vở thực hành tập 1 - 2 của HS. - Mỗi tuần có 1 tiết, cả năm học có 35 tiết, mỗi tiết học có 35 phút . - Cấu tạo một bài tập viểt trong SGK gồm 2 phần: + Viết chữ hoa + Viết ứng dụng (Tên riêng dịa danh, câu ca dao, câu tục ngữ) -Bài viết quy định HS phải viết những phần sau: + Tập viết ở lớp + Tập viết chữ nghiêng tự chọn + Luyện viết thêm + Có 2 hình thức luyện viết : luyện viết ch ữ viết hoa trong PP ch ương trình vở tập viết 2 và luyện viết trong vở luyện viết chữ đẹp Mỗi bài tập viết được in trong 2 trang vở liền kề. Thời gian một tiết học rất là ngắn, mà phần viết HS ph ải th ực hành r ất là nhiều. Qua tìm hiểu cấu tạo một bài viết trong vở th ực hành của HS tôi có vài nhận xét sau: Cấu trúc của một bài viết còn dài. Mẫu chữ cái viết hoa có nhi ều n ết ph ức tạp. Do vậy trong quá trình hướng dẫn giáo viên cần ph ải s ử d ụng nhi ều đ ồ dùng trực quan mô tả bằng lời ngắn gọn cho HS dễ hiểu. Cho HS luyện viết bảng con, GV uốn nắn, sửa sai chỉ ra từng chỗ sa để HS có ý thức tự sửa chữa và rèn luyện mình. II.2 Chương 2: Nội dung vấn đề Nghiên cứu II.2.1. Đặc điểm HS Trường Tiểu học An Sinh A - 100% các em sống ở vùng niền núi, cha mẹ các em đa số làm ngh ề nông. Điều kiện kinh tế ở một số gia đình còn hạn chế, còn có những gia đình không quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn coi nhẹ việc học tập và phó mặc cho nhà trường. Bản thân các em chưa có ý th ức t ự giác trong h ọc t ập, h ọc mang tính chất học cho xong. Do các nguyên nhân trên d ẫn đ ến k ết qu ả h ọc t ập của các em chưa cao. Phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp còn hạn chế. II.2.2. Quan điểm của giáo viên về giờ tập viết: - Nhiều GV còn xem nhẹ về phân môn Tập viết. Chưa nghiên c ứu h ết t ầm quan trọng và chưa hiểu hết tầm quan trọng của nó. Nhiều giờ dạy mang tính chất là cho HS quan sát qua mẫu chữ qua loa. GV phân tích cấu tạo chữ còn lúng túng, chưa cụ thể hoặc chưa chính xác. Dẫn đén HS còn l ơ m ơ, ch ưa n ắm ch ắc quy trình viết. - Luyện viết trên bảng con: GV chưa chu đáo, tỉ mỉ chỉ ra cái mà HS còn sai, HS chưa có ý thức tự sửa chữa. - Khi hướng dẫn HS tự viết bài GV còn coi thường việc HS quan sát mẫu chữ, HS chưa nắm được điểm đặt bút và điển dừng bút, dẫn đến HS vi ết sai, t ừ tồn tại trên dẫn đến kết quả giờ tập viết đạt chưa cao. II.2. 3. Thực tế môn tập viết của lớp, của khối, của trường: * Thực tế của lớp: - Lớp có 1/3 hs viết xấu, viết chưa đúng mẫu chữ quy định. Chữ viết sai lỗi chính tả, viết mất dấu thanh, bỏ nét chữ. Một số em viết chậm, bài viết còn bỏ giở, chư có ý thức tự rèn luyện. Về thực trạng của khối, của toàn trường đều rơi vào tình trạng nêu trên. Để khắc phục được tình trạng trên, theo tôi bản thân mỗi giáo viên ph ải có trách nhiệm, đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, để giờ học đạt kết quả cao. "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A Về phía HS: Bản thân mỗi HS phải có ý th ức tự rèn luy ện mình tron t ất c ả các môn học và có thói quen giữ vở sạch, viết chữ đẹp. Qua thực tế giảng dạy và quá trình tìm hiểu đối t ượng HS l ớp 2A Tr ường Tiểu học An Sinh A. Tôi thấy trong khi viết bài còn mắc phải lỗi sai cụ thể là: Bài chữ hoa B: Lỗi HS sai là 2 nét cong phải đều viết bằng nhau. Bài chữ hoa E: Lỗi sai là nét xoắn nhỏ viết không cân đối. Bài chữ hoa H: Lỗi sai là nét khuy ết ngược và nét khuy ết xuôi vi ết không cân đối, HS thường víêt đầu to, đầu nhỏ. Bài chữ hoa P: Lỗi sai là nết cong trái nhỏ hơn nét cong phải. Bài chữ hoa R: Lỗi sai là nét cong phải trên to hơn nét móc ngược phải. Bài chữ hoa T: Nét conh trái lượn nhiều về bên trái. Bài chữ hoa X: Nét xiên trên và nét xiên dưới không đều nhau. Bài chữ hoa V: Không có độ lượn của nết móc xuôi phải... Ngoài những lỗi HS hay viết saỉ mẫu chữ cái hoa, HS hay vi ết sai ở c ụm từ ứng dụng, sai về chính tả, sai dấu thanh và khoảng cách, độ cao các chữ. Ví dụ : Cụm từ ứng dụng: - Bạn bè xum họp viết thành Bạn bè sum họp - Chia ngọt sẻ bùi - Chia ngọt xẻ bùi. - Dân giầu nước mạnh - Dân ràu nước mạnh . - Góp sức chung tay - Góp xức trung tay... Qua xem xét các bài tập viết, thu vở chấm bài viết tại ch ỗ c ủa HS tôi th ấy có kết quả như sau: Sĩ số HS: 20 em + Sai mẫu chữ : 7 em = 35% + Sai cỡ chữ : 5 em = 25% + Sai quy trình : 6 em = 30% + Sai khoảng cách : 5 em = 25% Ngoài các lỗi trên, các em còn mắc phải một số lỗi khác: Khi viết nh ững tiếng có chữ viết hoa, các em lia bút còn ngắt quãng, không li ền m ạch, ch ưa k ể bài viết của một số em còn bẩn, trình bày chưa khoa học theo yêu cầu. Để khảo sát thêm một số yêu cầu luyện viết, tôi cho các em viết thêm trong vở luyện viết vào buổi 2, các em viết sai về mẫu chữ khá phổ biến. Phần ch ữ đứng, một số em viết thành chữ nghiêng. II.2.4. Thực tế giảng dạy: Thực tế giảng dạy ở Trường Tiểu học An Sinh A: để nắm được tình hình thực tế của học sinh và tồn tại của phân môn Tập viết lớp 2 nói riêng và phân môn Tập viết của cả trường nói chung, tôi đã dự một số giờ iập viết sau: 3/ Dự giờ tiết 1: Tập viết ( Đồng chí Dạo lớp 2D) Bài 4: Chữ hoa C I. ổn định: II. Kiểm tra bài cũ: + GV hỏi : " Giờ trước chúng ta học bài gì? + GV gọi 2 HS lên bảng viết chữ hoa B, từ ứng d ụng B ạn, c ả l ớp vi ết bảng con + Lớp và GV nhận xét, sửa sai, ghi điểm. III. Bài mới : 1. Giới thiệu bài: Trong tiết học hôm nay cô hướng dẫn các con tập viết chữ hoa C. 2. Hướng dẫn viết chữ hoa: "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A - GV hướng dẫn mẫu: + GV đính mẫu chữ hoa C lên bảng - Yêu cầu HS quan sát và trả lời: Chữ hoa C cao mấy dòng li? Chữ hoa C cao 5 dòng li. Chữ hoa C gồm mấy nét? Đó là Chữ hoa C gồm 1 nét là kết hợp những nét nào? của 2 nét cơ bản: cong dưới và cong trái nối liền nhau, tạo thành vòng xoắn to ở đầu chữ. *) GV hướng dẫn quy trình viết: Đặt bút trên đường kẻ 6, viết nét cong dưới rồi chuyển hướng viết tiếp nét cong trái, tạo thành vòng xoắn to ở đầu chữ, phần cuối nét cong trái lượn vào trong, dừng bút trên đường kẻ 2 *) GV viết mẫu : vừa viết vừa nêu cách viết. *) Hướng dẫn HS luyện viết bảng con. - GV uốn nắn, sửa sai. 3/ Hướng dẫn viết cụm từ ứng dụng: 2 em đọc : Chia ngọt sẻ bùi. GV gọi HS đọc cụm từ ứng dụng GV giải nghĩa cụm từ: Phải thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Yêu cầu HS quan sát tiếp cụm từ C, h, g, b cao 2,5 li. t cao 1,5 li, s ứng dụng cao 1,2 li. Những chữ còn lại cao 1 Những chữ nào cao 2,5 li? Chữ nào li cao 1,5 li?1,2 li? 1 li? *) GV hướng dẫn HS viết chữ " Chia" vaò bảng con, + GV uốn nắn, sửa sai. 4/ Hướng dẫn HS viết vào vở tập viết. HS viết bài vào vở tập viết + GV nhắc nhở HS tư thế ngồi viết, cách để vở, cách cầm bút và quan sát kỹ mẫu trước khi viết bài. + GV theo dõi, uốn nắn. 5/ Chấm- chữa bài: GV chấm 5 bài: nhận xét, tuyên dương những em viết đúng, đẹp. 6/ Củng cố, dặn dò: + GV nhận xét, đánh giá tiết học. Giao bài về nhà. Nhận xét giờ dạy * Ưu điểm: Thời gian phân bố hợp lí. + Bài dạy đi đủ và đúng các bước. + Dạy đúng đặc trưng của một giờ Tập viết. + Giáo viên hướng dẫn HS tỉ mỉ, nhẹ nhàng, tình cảm. + HS nắm được bài và áp dụng viết bài tốt. * Tồn tại : "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A + Giáo viên viết chữ mẫu chữ đẹp, một số học sinh khi vi ết còn ng ồi ch ưa ngay ngắn. + Một số em viết nét chữ chưa đều, cụm từ viết chưa liền mạch. 50% học sinh trong lớp viết chữ còn xấu và sai mẫu quy định. Dự giờ Tiết 2 : Tập viết ( Đ/C Nguyễn Thị Ngoan Lớp 2B) Bài 6: Bài Chữ hoa Đ I. ổn định II. Kiểm tra bài cũ: + GV kiểm tra bài viết ở nhà, nhận xét + 2 HS nhắc lai bài viết trước + 2 em lên bảng viết chữ hoa D và lớp viết cụm từ ứng dụng : Dân giàu nước mạnh. + GV nhận xét, ghi điểm. III. Dạy bài mới: 1. Giới thiệu bài: Bài hôm nay cô hướng dẫn các con tập viết tiếp chữ hoa Đ. - GV gắn mẫu chữ hoa lên bảng 2. Hướng dẫn HS viết chữ hoa: a. Hướng dẫn HS quan sát và nhận xét: Chữ hoa Đ cao mấy dòng li? Chữ hoa Đ cao 5 dòng li. Chữ hoa Đ được viết bằng mắy Chữ hoa Đ gồm 2 nét.Nét1 như chữ nét? Đó là những nét nào? hoa D, nét 2 là nét thẳng ngang (ngắn) - GV nêu quy trình viết: Nét 1 : viết liền 1 nét để tạo thành chữ hoa D. - Nét 2: từ điểm dừng bút của nét 1 lia bút xuống đường kẻ 3 ( gần giữa thân chữ), viết nét thẳng ngang ngắn ( nết viết trùng đường kẻ), để thành chữ hoa Đ. - GV viết mẫu, vừa viết , vừa nêu quy trìh viết cho HS nắm được. - Yêu cầu HS viết bảng con chữ + HS thực hành trên bảng con theo hoa Đ - Đẹp. yêu cầu của GV - GV uốn nắn, sửa sai. b, Hướng dẫn cụm từ ứng dụng: " Đẹp trường, đẹp lớp" + Yêu cầu HS đọc cụm từ trên. 2 học sinh đọc - cả lớp đọc đồng thanh. Con hiểu cụm từ trên như thế nào? + Đưa ra lờ khuyên luôn giữ gìn + Yêu cầu HS nhận xét cụm từ ứng trường lớp sạch đẹp. dụng . + d, g, l cao 2m 5 li, p cao 2 li, t cao Hãy nêu độ cao của các chữ? 1,5 li,các chữ còn lại cao 1 dòng li. - Hướng dẫn HS viết chữ Đẹp cỡ nhỏ. - Hướng dẫn HS viết chữ Đẹp vào bảng con - GV uốn nắn, sửa sai. 3. Hướng dẫn HS viết bài vào vở Tập viết. "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A - GV nhắc nhở HS tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở + HS viết bài vào vở theo yêu cầu -Yêu cầ HS quan sat kĩ mẫu chữ của GV trước khi viết. - GV theo dõi, nhắc nhở. 4. Chấm, chữa bài: - GV thu 7 bài chấm và nhận xét, tuyên dương HS viết bài đạt điểm tốt, nhắc nhở HS còn viết chưa đạt. 5. Củng cố - Dặn dò: - GV nhận xét, đánh giá tiết học. - Giao bài về nhà. Nhận xét tiết dạy * Ưu điểm - Giáo viên đi đúng đặc trưng của phân môn Tập viết. - Thời gian phân bố hợp lí. - GV hướng dẫn mẫu chữ tỉ mỉ, đầy đủ. - Đồ dùng và thiết bị dạy học hợp lí, khoa học - Giáo viên nhẹ nhàng, tình cảm, tự tin. * Tồn tại: - GV viết mẫu chữ hoa chưa chính xác, chưa quan tâm đến các đối tượng HS. - 50% HS trong lớp viết chưa đẹp, sai mẫu, sai khoảng cách, cach đánh d ấu thanh. - 1 số em trình bày chưa sạch sẽ. * Từ 2 tiết dạy trên tôi thấy rằng: để HS nắm đ ược quy trình vi ết ch ữ hoa và áp dụng viết từ ứng dụng tốt thì mỗi giáo viên phải có nhiều s ự đầu tư và nghiên cứu kỹ cho tiết dạy, về phía HS phải có sự cố gắng rèn luy ện để viết đẹp và đúng mẫu chữ. II. 2 5. Nguyên nhân của các lỗi sai và các biện pháp sửa chữa: 1. Nguyên nhân 1: Viết sai mẫu chữ quy định - Hiện tượng mắc lỗi sai này khá phổ biến trong nhà trường, cái khó là ở chữ cái viết hoa, có nhiều nét cong phức tạp. Bên cạnh đó khi giáo viên h ướng dẫn viết thì một số HS không chú ý quan sát, còn hời hợt, xem nh ẹ phân môn này. *Biện pháp: - Để khắc phục được tồn tại này, GV phải đưa ra nhiều hình thức rèn luyện khác nhau. - GV chú trọng vào bước quan sát và nhận xét của HS. - HS có nắm được đặc điểm, cấu tạo của nét chữ, nắm được quy trình ti ến hành viết, biết được cách đặt bút từ đâu? và điểm dừng bút ở chỗ nào? Làm tiền đề vững chắc từng bước để áp dụng thực hành luyện viết tốt. 2. Nguyên nhân 2: - Tính cẩu thả khi thực hành luyện viết: + Nhiều em HS chưa trú trọng vào bài viết, chưa có tính cẩn th ận và chính xác. Các em chỉ viết thật nhanh để cho hết lượng bài được giao, ch ưa hiểu hết được tầm quan trọng của chữ viết. Các em còn coi thường bước quan sát mẫu trước khi viết. * Biện pháp: - Để khắc phục được lỗi là, giáo viên phải đề ra quy chế rõ rệt để HS áp dụng khi thực hành bài viết. - Yêu cầu quan sát thật kĩ mẫu chữ trong vở Tập viết. "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A - Viết bài theo hiệu lệnh của GV là: viết từng dòng, hết một dòng d ừng l ại để tìm xem mẫu chữ nào viết chưa đúng, chưa chuẩn. Sau m ới chuy ển sang dòng khác. - Để thực hiện được điều này GV phải đi quan sát từng HS, đặc bi ệt là phải quan tâm tới những HS yếu, viết chữ xấu. - GV phải chấm, chữa bài thường xuyên, để phát hiện ra cái cẩu th ả c ủa HS để kịp thời uốn nắn các em để các em luyện viết đúng và đẹp hơn. 3. Nguyên nhân 3: - Tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cách để vở, xê dịch vở khi viết: Với HS lớp 2, các em mới làm quen với cách cầm bút, cách để vở, cách xê dịch vở và tư thế ngồi viết, vì vậy GV phải chú trọng công vi ệc này trong m ỗi giờ tập viết để uốn nắn kịp thời cụ thể là: * Tư thế ngồi viết: Ngồi lưng phải thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu h ơi cúi, m ắt cách v ở t ừ 25 - 30 cm, hai chân song song thoải mái. * Cách cầm bút: Cầm bút bằng tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở,cầm bút b ằng 3 ngón tay, (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa) với độ chắc vừa phải, (không c ầm bút ch ắc quá hay lỏng quá. Khi viết dùng 3 ngón tay di chuy ển bút nh ẹ nhàng t ừ trái sang phải. Cầm bút nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay, cánh tay c ử động nh ẹ nhàng. Ngoài ra chữ mẫu của GV phải thật chuẩn so với mẫu chữ hiện hành, khi GV hướng dẫn HS luyện viết chữ hoa, GV phải nói và viết cùng một lúc cho HS quan sát và theo dõi, vừa viết vừa nhắc HS lưu ý độ cao, nét gi ống và khác nhau với các chữ đã học.Đối với phần HS luyện viết tên riêng, câu ứng dụng , GV cần hướng dẫn HS luyện viết từng tên riêng trên bảng con, GV uốn n ắn, rút kinh nghiệm. GV cần giúp đỡ trực tiếp đối với HS viết sai, vi ết x ấu không đ ảm bảo yêu cầu của phân môn Tập viết. Khi HS được luyện viết trên bảng con hay vở Tập viết2, GV quan sát các em viết. Chú ý đến tốc độ viết của HS, rèn tính t ỉ m ỉ, c ẩn th ận khi vi ết ch ữ tráng qua loa, viết ẩu. GV căn cứ vào mục đích yêu cầu đặt ra cho t ừng bài theo quy đ ịnh c ủa chương trình để chấm bài Tập viết lớp 2, giúp HS tự nhận th ức đ ược ưu đi ểm (thành công) để phát huy, thấy rõ những thiếu sót (hạn ch ế) đ ể kh ắc ph ục, s ửa chữa kịp thời. Động viên những cố gắng, nỗ lực của HS khi viết chữ. Cách chấm bài Tập viết lớp 2 về cơ bản nhiều điểm giống ch ấm bài chính t ả, đi ểm khác ở chỗ: sau khi GV gạch chân ở dưới những chữ HS viết sai hoặc không đúng mẫu GV có thể viết mẫu chữ đó ra lề vở cho đối chiếu, so sánh tự rút ra "chỗ chưa được" để khắc phục, GV tuyệt đối không gạch đè lên chữ viết của HS. Bên cạnh việc ghi điểm GV cũng càn phải ghi lời nhận xét ngắn gọn th ể hiện sự biểu dương hay góp ý yêu cầu về chữ viết. Thang điểm đánh giá bài viết của HS là thang điểm 10, tuyệt đối không cho điểm 0. * Tổ chức thi viết trước lớp : Trong tiết Tập viết lớp 2 sau mỗi lần hướng dẫn để HS được th ực hành luyện tập tại lớp, GV có thể khuyế khích các em thi viết đúng, đẹp, nhanh tại lớp (Có thể thi sau khi HS đã hoàn thành bài trong vở). * Nêu gương, triển lẫm bài viết đẹp . Dạy, học Tập viết GV sử dụng phương pháp trực quan là vô cùng quan trọng, GV biểu dương những chữ viết đúng, đẹp tại lớp sau khi HS viết chữ trên bảng lớp, bảng con hay trong vở tập viết, GV cho HS xem những bài viết, "Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết" Nguy ễn Thị Nhan- Tr ường ti ểu h ọc An Sinh A vở sạch chữ đẹp từ năm học trước, hoặc của GV nhằm kích thích s ự rèn luy ện chữ viết của HS. * Tham gia hội thi viết chữ đẹp của trường, của huy ện, tỉnh, HS t ự kh ảng định chữ viét của bản thân, học hỏi ở bạn bè. * Để rèn chữ đẹp, GV nên hướng cho HS sử dụng bút viết trong giờ Tập viết. Hiện nay chưa có văn bản nào quy định về loại bút được sử dụng trong trường tiểu học, nhưng gần đây, (nhất là từ khi Bộ GD - ĐT ban hành m ẫu ch ữ viết dùng trong trường tiểu học ) ở những vùng thuận lợi , nhiều HS đã sử dụng bút mực (Bút bi ngòi nước, bút máy ngòi mềm, bút dạ kim...) để viết bài. Dùng loại bút này để tập viết, HS viết chữ nắn nót hơn, nết chữ gọn h ơn..., một số em còn sử dụng bút máy đặc biệt, có khả năng viết kiểu chữ nét thanh, nét đậm . Thực tế dạy phân môn Tập viết ở Trường Tiểu học An Sinh A cho thấy GV quan tâm, nhắc nhở HS thực hiện đúng một số nề nếp, thói quen khi h ọc tập viết.( chuẩn bị bút, mực, bảng con, phấn...), tránh để mực giây, cầm bút đúng cách, viết chữ cẩn thận . Chất lượng viết chữ của các em ti ến b ộ rõ r ệt. Ngoài ra một yếu tố nừa cũng rât quan trọng để cho các em vi ết được ch ữ đ ẹp đó là : bàn ghế phải đúng quy cách, ánh sáng đầy đủ, vở HS được in trên gi ấy t ốt, GV phái có tính cẩn thận và viết chữ đẹp. Về thực tế lớp 2A do tôi chủ nhiệm gồm 29 em. Tôi quy đ ịnh đ ến gi ờ t ập viết và chính tả 100% HS phải viết bằng bút máy bơm mực. Yêu c ầu này đã được tất cả các bậc phụ huynh nhất trí cao. II.3 Chương III: Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu. II. 3. I: Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 1. Thu thập tài liệu và các phương pháp nghiên cứu. a. Thu thập tài liệu: - Sách dạy và học tập viết ở tiểu học. - Bộ thiết kế bài soạn Tiếng Viết tập 1-2 ( lớp 2) - Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Tiếng Việt tập 1-2 ( lớp 2) - SGK Tiếng Việt tập 1-2 .( lớp 2) - Vở tập viết HS tập 1-2 ( lớp 2) -Vở luyện viết lớp 2 tập 1-2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Top 9 Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Hiệu Quả Nhất 2022
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Học Cho Học Sinh Lớp 3 Skkn Thi Sang Doc
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiêm Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Tiểu Học Định Công: Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Skkn Rèn Chữ Viết Cho Hs Lớp 1(Hay)
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1: Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Yếu
  • Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Việc Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 1
  • Rèn Luyện Tính Kỷ Luật Như Thế Nào?
  • a) Rèn nếp chuẩn bị, tư thế ngồi viết, cách cầm bút và sử dụng đồ dùng:

    Bảng con, phấn trắng, khăn lau, vở viết, bút chì, bút mực đúng quy định.

    Chọn vở viết phải dầy, không nhòe mực.

    Chọn bút viết: Giai đoạn viết bút chì yêu cầu bút chì mềm, không đậm quá. Giai đoạn viết bút mực, tôi cho các em viết bằng bút kim thiên long loại đắt tiền hoặc bút máy bơm mực của học sinh.

    Bởi vì rèn chữ cho các em trên hai hình thức viết trên bảng (bảng con, bảng lớp viết bằng phấn) và viết bằng bút chì trong vở “Em tập viết” và vở “Chính tả”. Nếu thiếu một trong những đồ dùng này thì khiến cho việc viết chữ cũng bị hạn chế.

    Cách đặt vở: chếch khoảng 15 0

    Cách cầm bút: Cầm bút bằng 3 ngón tay; Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải. Khi viết di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút nghiêng về phía bên phải cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại thoải mái.

    – Muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viên phải rèn cho các em tư thế ngồi viết đúng: Lưng thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25cm đến 30cm. Hai chân đặt vuông góc dưới bàn, tay trái tì nhẹ nhàng mép vở để giữ vở.

    Việc giúp học sinh ngồi viết đúng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các em viết đúng và viết nhanh được.

    b) Rèn các em viết đúng các nét cơ bản:

    Hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét cơ bản của chữ; nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét thẳng đứng, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu (là kết hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt… Việc nắm chắc cách viết, viết đúng, viết đẹp, thành thạo các nét cơ bản, nắm được cấu tạo của từng chữ cái giúp cho việc nối các nét thành chữ cái sẽ dễ dàng hơn.

    Sau đó, dạy học sinh cách xác định tọa độ của điểm đặt bút và điểm dừng bút phải dựa trên khung chữ làm chuẩn. Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái hay một chữ.

    Điểm dừng bút là vị trí kết thúc của nét chữ đa số điểm kết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ. Riêng đối với con chữ o vì là nét cong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm dừng bút.

    Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét, giáo viên cấn nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc các em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật.

    Những em viết nét khuyết sai và chưa đẹp tôi yêu cầu các em quan sát kĩ và viết đi viết lại nét khuyết bao giờ đúng thì mới thôi và liên tục cho các em viết các tiếng từ ứng dụng có nét khuyết như: anh, ách, nhà tranh, khách sạn, tủ sách…

    Những học sinh viết thiếu nét hất thì yêu cầu các em viết lại các nét hất rồi ứng dụng viết lại các chữ có nét hất.

    c) Dạy cách rê bút, cách lia bút

    Rê bút là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên. Từ rê được hiểu theo nghĩa di chuyển chậm đều đều, liên tục trên bề mặt của giấy, do vậy giữa đầu bút và mặt giấy không có khoảng cách).

    Lia bút là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy. Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy.

    Trong quá trình hướng dẫn học sinh về quy trình viết một chữ cái, rèn kĩ thuật nối chữ, viết liền mạch người giáo viên cần lưu ý sử dụng các thuật ngữ trên cho chính xác.

    Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ m, tôi hướng dẫn như sau:

    Nét 1: Đặt bút giữa đường kẻ 2 (ĐK 2) và đường kẻ 3 (ĐK 3), viết nét móc xuôi trái chạm ĐK3, dừng bút ở ĐK 1.

    Nét 2: Từ điểm dừng bút nét 1, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc xuôi thứ hai có độ rộng bằng một ô li rưỡi; dừng bút ở ĐK 1.

    Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc hai đầu (độ rộng bằng nét 2); dừng bút ở ĐK2.

    d) Rèn viết đúng trọng tâm các nhóm chữ

    Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái, để học sinh viết đúng kĩ thuật, viết đẹp, nắm chắc mẫu chữ. Chia chữ viết thành các nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ gồm những nét nào, những nét chữ nào học sinh hay viết sai, học sinh gặp khó khăn gì khi viết các nhóm chữ đó để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết đúng và đẹp mẫu chữ trong trường tiểu học cỡ vừa như sau:

    Nhóm 1: Gồm các chữ: m, n, u, ư, i, t, v,r, p

    Với nhóm này, các lỗi học sinh hay mắc là viết chưa đúng nét nối giữa các nét, nét móc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra không đúng.

    Cách khắc phục: Cho học sinh luyện viết nét sổ có độ cao 2 ô li, sau đó mới viết nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu có độ cao 2 ô li thật đúng, thật thẳng.

    Khi học sinh viết thành thạo các nét đó, cho học sinh ghép các nét thành chữ. Khi ghép chữ luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độ rộng của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp.

    Nhóm 2: Gồm các chữ: b, l, h, k, y

    Các lỗi hay mắc: Học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét, chữ viết còn cong vẹo.

    Cách khắc phục: Trước tiên cho học sinh viết nét sổ có độ cao 5 dòng li một cách ngay ngắn, thành thạo để rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh. Sau đó dạy học sinh viết nét khuyết trên có độ cao 5 dòng li, độ rộng trong lòng 1 ô li.

    Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết, hướng dẫn học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào sát đường kẻ dọc, trên dòng kẻ ngang 2 của li thứ tư và rèn cho học sinh luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi mới đưa bút lên tiếp viết nét khuyết trên có độ rộng bằng 1 li.

    Tương tự như vậy khi hướng dẫn viết chữ y, dạy học sinh viết nét khuyết dưới có độ cao 5 dòng li kéo dài xuống phía dưới, độ rộng trong lòng 1ô li.

    Ví dụ: Khi dạy viết chữ h, hướng dẫn viết nét khuyết trên trước, từ điểm dừng bút của nét khuyết trên ở ĐK ngang 1 rê bút viết tiếp nét móc hai đầu có độ cao 2 li, độ rộng 1 li dừng bút ở ĐK ngang 2. Tương tự như vậy với các chữ còn lại.

    Nhóm 3: Gồm các chữ: o, ô, ơ, a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s

    Các lỗi học sinh hay mắc: viết chữ o chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không tròn đều đầu to, đầu bé, chữ o méo. Hầu hết các em viết chữ o xấu.

    Cách khắc phục: Để viết được đúng và đẹp nhóm chữ này thì cần phải viết chữ o đúng và đẹp tròn theo quy định.

    Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nét nối, nhất là chỗ rê bút, từ điểm dừng bút của con chữ vừa viết, rê bút lên viết liền mạch đến đâu mới được nhấc bút.

    Ở phần đầu học chữ ghi âm, học sinh đã được hướng dẫn rất kĩ về độ cao, độ rộng của từng nét chữ, con chữ.

    Trong quá trình hướng dẫn học sinh viết, trước tiên là phương pháp trực quan, giáo viên đưa ra chữ mẫu cho học sinh quan sát khắc sâu biểu tượng chữ: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập. Ngoài ra giáo viên còn đưa ra phương pháp đàm thoại, gợi mở để dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo của chữ, độ cao kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đang phân tích.

    Ví dụ 1: Khi dạy chữ “a”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Chữ “a” được cấu tạo bằng những nét nào (nét cong kín và nét móc dưới). Chữ cao mấy dòng li, độ rộng của chữ là bao nhiêu? nét nào viết trước, nét nào viết sau? Chữ “a” giống chữ “o” ở điểm nào?…. Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích để chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập. Việc hướng dẫn cho học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu. Lúc đầu là việc việc đúng hình dáng, cấu tạo kích thước các cỡ chữ, sau đó là việc viết đúng dòng và đúng tốc độ quy định.

    Ví dụ 2: Dạy học sinh viết chữ n, trước tiên cho học sinh phân tích chữ cái n có mấy nét, nét nào kết hợp với nét nào để tạo được chữ n (nét móc xuôi kết hợp với nét móc hai đầu), độ cao chữ cái n là một đơn vị chữ, độ rộng chữ cái n là 1,5 đơn vị. Sau đó hướng dẫn học sinh nắm được các đường kẻ nào đưa bút ra sao và dừng bút ở đường kẻ nào.

    Giáo viên vừa viết vừa hưỡng dẫn quy trình viết, học sinh chú ý theo dõi.

    Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần phải luôn luôn chú ý uốn nắn để các em cầm bút đúng tư thế, cụ thể: Cầm bút bằng ba ngón tay đó là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Khi viết dùng ba ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải, nếu là bút mực thì ngòi bút úp xuống không quay nghiêng.

    Khi dạy sang phần vần tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chữ song giáo viên vẫn cần thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ cái, những chữ cái nào có độ cao bằng nhau, nét nối giữa các chữ cái trong một chữ ghi tiếng, khi viết các con chữ cần viết liền nét, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng ( bằng một con chữ o).

    Khi hướng dẫn học sinh viết chữ nét thanh, nét đậm, giáo viên vừa viết mẫu vừa nói rõ quy trình viết (viết như quy trình), chỉ khác bằng một mẹo nhỏ để học sinh dễ làm theo.

    Chú ý, viết các nét rê lên đưa nhẹ tay hơn một chút tạo nét thanh bé, nét kéo xuống theo chiều đầu ngòi bút tạo nét đậm hơn nét thanh một chút. Đối với bút mực học sinh cần viết úp ngòi xuống, cổ tay, cánh tay để vuông góc.

    Với học sinh trung chưa hoàn thành kĩ năng viết chỉ yêu cầu các em viết đúng cỡ chữ, thẳng hàng, ngay ngắn, đều nét, liền mạch. Đối với học sinh viết tốt, yêu cầu ở mức độ cao hơn các em viết được chữ nét thanh, nét đậm.

    Nét chữ có độ đều, không cong vẹo, nghiêng ngả. Chữ viết thẳng đứng, các nét chữ song song với nhau, đều nét, liền mạch, ngay ngắn và sạch đẹp.

    “Khi dạy học sinh cỡ chữ nhỏ cũng thường xuyên luyện theo cách đó giúp các em nhớ lâu và viết đều nét, liền mạch, đúng độ cao, độ rộng các chữ cái”

    e) Rèn học sinh phát âm đúng để viết đúng:

    Lỗi này là do ảnh hưởng của địa phương hay phát âm sai. Vì muốn học sinh viết đúng thì trước tiên phải yêu cầu học sinh phát âm thật đúng bằng cách tôi đặt hai tiếng có chứa âm / tr / và / ch/ song song nhau rồi yêu cầu học sinh phát âm nhiều lần cho thật chuẩn.

    Ví dụ1: Cho học sinh đọc phân biệt tro/ cho, trỏ/chỏ sau đó yêu cầu học sinh viết bảng con và đọc lại.

    Ví dụ 2: Cho học sinh phát âm các tiếng có âm đầu l/n như: la/na, lá/ná yêu cầu các em viết bảng con.

    Những học sinh viết nhanh, viết ẩu tôi đến tận nơi quan sát kèm các em từng chữ bao giờ em đó viết đúng tốc độ viết đẹp thì mới thôi.

    Giải pháp 2: Duy trì phong trào “vở sạch chữ đẹp”; Tuyên dương nêu điển hình kịp thời nhằm động viên khuyến khích những em thực hiện tốt đồng thời làm gương để các em học sinh khác noi theo.

    Ngoài các giải pháp đã nêu trên ta có thể tổ chức phong trào học tập ” Rèn chữ viết đẹp” trong lớp bằng cuộc thi đua ” Đôi bạn cùng tiến” xếp những em viết xấu ngồi bên cạnh những học sinh viết đẹp dể các em học tập lẫn nhau.

    Hàng tháng chấm vở sạch chữ đẹp trong lớp nhằm kích thích các em thi đua viết đẹp hơn, có ý thức trong việc rèn chữ giữ vở.

    Trong quá trình dạy môn Tiếng Việt sau khi học sinh viết xong ở các việc 2 và việc 4 GV nhận xét khen ngợi những em viết đẹp trước nhằm kích thích các em khác noi theo đồng thời khuyến khích các em trong giờ ra chơi mượn vở của bạn xem để học tập. Tổng kết mỗi đợt thi đua có khen ngợi tuyên dương cụ thể. Trưng bày bài viết đẹp ở cuối lớp, nhận xét đánh giá xếp loại từng tháng vào sổ chủ nhiệm.

    Việc sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh cũng rất quan trọng trong việc rèn chữ cho học sinh vì thế tôi bố trí chỗ ngồi cho những em viết chưa đẹp, chưa đúng quy trình ngồi hai bên dãy đi liền nhau để thuận tiện cho việc theo dõi uốn nắn của giáo viên.

    Trong khi học sinh viết tôi đi đến từng em kiểm tra uốn nắn sửa sai ngay cho học sinh, các em viết sai chỗ nào đặt bút, độ rộng chưa đúng tôi vừa bắt tay vừa nói cách viết để em tiếp thu kịp thời.

    Chữ mẫu và động tác viết mẫu của giáo viên viết trên bảng giúp học sinh nắm vững quy trình viết các nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh.

    Kết luận: Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế khi chấm bài, ghi nhận xét trong vở học sinh, giáo viên cũng cần phải viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng. Để đạt hiệu quả cao trong việc rèn chữ viết cho học sinh thì người giáo viên cần nghiên cứu kỹ các mẫu chữ viết trong trường tiểu học, nắm được tên gọi các nét quy trình hướng dẫn viết, nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, nắm vững mục đích yêu cầu của từng bài.

    Giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy sao cho phù hợp với đối tượng học sinh đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. Đồng thời cần tạo điều kiện cho mỗi cá nhân học sinh bộc lộ và phát triển khả năng, năng khiếu của mình.

    Phạm Thị Thu Hiền @ 15:58 01/03/2019

    Số lượt xem: 1978

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Dùng Đập Tam Hiệp Sai Cách: Tự Hại Chính Mình, Tq Sẽ Hối Không Kịp Với Đại Hồng Thủy Trên Toàn Trường Giangviệc Đập Tam Hiệp Ngăn Lũ Vừa Và Nhỏ Để Giảm Sức Ép Cho Ở Hạ Lưu Sông Dương Tử Được Cho Là Biện Pháp Không Cần Thiết Và Tiềm Ẩn Nhiều Rủi Ro
  • Các Giải Pháp Tổng Thể Thủy Lợi Phát Triển Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • 8 Giải Pháp Phòng Chống Và Giảm Nhẹ Thiên Tai
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Năm 2022
  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Lớp 1 2 3 4 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Học Nói Không Với Rác Thải Nhựa
  • ‘nói Không Với Rác Thải Nhựa’ Trong Trường Học
  • Tuyên Truyền Thực Hiện Công Tác Bảo Vệ Môi Trường, Chống Rác Thải Nhựa Tại Trường Tiểu Học Phúc Lợi
  • Nâng Cao Ý Thức Rác Thải Nhựa
  • Các Phương Pháp Tái Chế Rác Thải Nhựa
  • Chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người thường ngồi với chiếc máy vi tính của mình để soạn thảo một văn bản thay vì cầm bút viết trên giấy. Việc rèn chữ viết của mọi người bị chìm vào quên lãng.

    Ở trong trường tiểu học cũng vậy, trong những năm học gần đây, học sinh viết chữ xấu là một tình trạng đáng báo động. Hiện nay học sinh lựa chọn đủ các loại bút để viết, đặc biệt là học sinh rất yêu thích với chiếc bút bi của mình hơn là những loại bút chấm mực như ngày xưa. Mặt khác, chữ viết của khá nhiều giáo viên chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn chữ viết của học sinh. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản chiếu để học sinh soi rọi vào đó. Lứa tuổi của học sinh tiểu học là lứa tuổi hay “bắt chước”, giáo viên viết như thế nào thì học sinh viết như thế đó; đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh lớp 1.

    Trẻ em đến trường là để được học đọc, học viết. Nếu phân môn tập đọc – học vần giúp trẻ biết đọc thông thì phân môn tập viết sẽ giúp trẻ viết thạo. Trẻ đọc thông, viết thạo sẽ giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt hơn.

    Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: ” Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài của mình”.

    Thật vậy, nhìn trang vở của học sinh với những dòng chữ đều tăm tắp, sạch sẽ thì cả cha mẹ và thầy cô đều dấy lên một niềm vui. Chúng ta như đặt niềm tin vào tương lai con trẻ.

    Việc rèn chữ viết cho học sinh còn là môi trường quan trọng bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, tinh thần kỷ luật và óc thẩm mỹ. Nhưng muốn viết thạo trẻ phải gắng công khổ luyện dưới sự dìu dắt tận tình của các thầy giáo, cô giáo.

    Trong trường tiểu học, việc dạy tập viết được phối hợp nhịp nhàng với dạy học vần, chính tả, tập làm văn, việc ghi bài vào vở các môn học, vở luyện viết chữ đẹp của học sinh.

    Dạy tập viết không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản về chữ viết mà còn rèn kỹ thuật viết chữ. Trong các tiết tập viết, học sinh nắm bắt được các tri thức cơ bản về cấu tạo các chữ cái tiếng Việt được thể hiện trên bảng cài, bảng lớp, bảng con, trong vở tập viết và vở ghi bài các môn học khác… Đồng thời, học sinh được giáo viên hướng dẫn các yêu cầu kỹ thuật viết từng nét chữ để hình thành nên một chữ cái rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu.

    Ở giai đoạn đầu, trọng tâm của việc dạy tập viết là dạy viết chữ cái và kết nối các chữ cái lại để ghi tiếng.

    Ở giai đoạn cuối, song song với việc rèn viết chữ hoa, học sinh còn được rèn viết văn bản, có thể là: nhìn một đoạn văn, đoạn thơ chép lại cho đúng (tập chép) hoặc nghe giáo viên đọc mẫu, học sinh viết bài vào vở (nghe viết) hoặc nhớ để viết lại (nhớ viết).

    Cụ thể:

    * Về tri thức: giáo viên cần dạy cho học sinh những khái niệm về dòng kẻ (đường kẻ) tương ứng với bao nhiêu ô li? Đặt bút ở đường kẻ nào? Dừng bút ở đường kẻ nào? Chữ cái đó có mấy nét? Tên gọi của các nét? Vị trí của dấu phụ, dấu thanh đặt ở đâu? Cách nối nét như thế nào?… Từ đó hình thành cho học sinh những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự cân đối, tính thẩm mỹ của chữ viết.

    Ví dụ: Học sinh viết chữ O có hình dáng như hạt gạo, giáo viên cho học sinh xem chữ O mẫu rồi hỏi: Chữ O giống hình gì? – học sinh trả lời: Chữ O giống quả trứng gà, giống số 0… Từ đó, giáo viên cho học sinh so sánh và hướng dẫn học sinh viết đúng.

    * Về kỹ năng: Trước khi cho học sinh viết bài vào vở, giáo viên cần hướng dẫn học sinh về tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở.

    a/ Tư thế ngồi viết: Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tỳ ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở từ 25 – 30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái lề vở, bàn tay trái tỳ vào mép vở, giữ vở không xê dịch khi viết. Cánh tay phải cùng ở trên mặt bàn; khi viết bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển từ trái sang phải và từ phải sang trái dễ dàng.

    b/ Cách cầm bút: Cầm bút bằng 3 ngón tay của bàn tay phải: ngón trỏ, ngón cái và ngón giữa. Đầu ngón trỏ đặt trên thân bút, đầu ngón cái giữ bên trái thân bút; đầu ngón giữa tựa vào bên phải thân bút. Khi viết 3 ngón tay này giữ bút, điều khiển bút dịch chuyển. Ngoài ra cần sự phối hợp của cổ tay, cánh tay, khuỷu tay khi viết.

    Tiếp theo, giáo viên dạy cho học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, dạy cho học sinh kỹ năng viết các nét, cách lia bút và cách nối nét. Đồng thời giúp học sinh xác định được khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành kỹ năng viết đúng mẫu, rõ ràng và tiến tới là viết đẹp, viết nhanh.

    5.2.3. Giáo viên viết mẫu luyện viết chữ đẹp:

    Việc viết mẫu của giáo viên là một thao tác trực quan trên bảng lớp giúp học sinh nắm bắt được quy trình viết từng nét của từng chữ cái. Do vậy, giáo viên phải viết chậm, đúng theo quy tắc viết chữ vừa giảng giải, phân tích cho học sinh. Khi viết mẫu, giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh nhìn thấy tay của giáo viên viết từng nét chữ.

    Khi viết, giáo viên vừa kết hợp giảng giải, phân tích: đưa bút như thế nào? Thứ tự các nét viết ra sao? Giáo viên cũng cần chú ý phân tích cả cách viết dấu phụ và dấu thanh.

    5.2.4. Hướng dẫn học sinh luyện tập viết: a. Luyện viết trên không

    Việc học sinh luyện viết trên không là bước giúp học sinh rèn luyện đôi tay và rèn luyện quy trình viết các nét để học sinh khỏi ngỡ ngàng khi viết. Giáo viên cũng có thể cho học sinh tì đầu ngón tay trên mặt bàn để hình thành dần kỹ năng viết các nét cho đều đặn. Bước này có thể lặp lại từ 2 – 3 lần.

    b. Luyện viết trên bảng con, bảng lớp

    • Giáo viên cho vài em luyện viết trên bảng lớp, cả lớp viết bảng con chữ cái và cụm từ mà giáo viên yêu cầu hoặc giáo viên có thể chọn cho học sinh viết những chữ khó viết mà học sinh hay viết sai.
    • Khi nhận xét chữ viết của học sinh, giáo viên cần cho học sinh quan sát lại chữ mẫu; giáo viên gợi ý để học sinh tự nhận xét chữ viết của mình và của bạn, biết tự tham gia chữa lại những chỗ đã viết sai.
    • Giáo viên chữa lỗi sai chung bằng cách viết lại chữ đúng ngay bên cạnh chữ viết của học sinh, tránh viết đè lên chữ viết sai của học sinh.

    c. Luyện viết bài vào vở

    • Giáo viên yêu cầu học sinh viết chữ gì? Từ gì? Câu gì? Cỡ chữ nào? Viết mấy dòng?
    • Trước khi cho học sinh viết bài; giáo viên nên hướng dẫn lại tư thế ngồi viết, cách cầm bút, nhắc nhở học sinh trước khi viết: đặt bút ngay điểm bắt đầu viết, viết chữ đúng nét, đúng độ cao của các nét, các chữ, khoảng cách giữa các chữ, các cụm từ.
    • Học sinh thực hành viết bài vào vở. Giáo viên theo đõi, uốn nắn cho một số em có chữ viết còn xấu. Có thể, giáo viên cầm tay hướng dẫn cho học sinh viết 1 đến 2 chữ đầu tiên.

    5.2.5. Chấm, chữa bài:

    • Giáo viên chấm điểm từ 5 – 7 bài tại lớp. Giáo viên kết hợp chấm điểm những học sinh có chữ viết xấu và những học sinh rèn viết chữ đẹp. Số bài viết của các học sinh còn lại, giáo viên thu về nhà chấm để kịp thời chữa cách viết của học sinh ở tiết sau.
    • Giáo viên chữa những lỗi học sinh sai phổ biến, hướng dẫn kỹ lại cách viết của chữ cái đó để học sinh khắc sâu cách viết một lần nữa.
    • Cho cả lớp xem bài viết đẹp. Kịp thời động viên, khích lệ những học sinh có chữ viết tiến bộ. Tuyên dương những học sinh có bài viết đẹp.
    • Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm nhỏ, cho học sinh thi đua giữa các nhóm, nhóm nào có nhiều bài viết đẹp, nhóm đó nhận được cờ thi đua.
    • Hàng tháng, giáo viên chấm điểm vở sạch, chữ đẹp cho từng học sinh sơ kết thi đua.

    5.2.6. Củng cố bài và luyện chữ viết lớp 2

    Giáo viên có thể củng cố bằng nhiều hình thức sau:

    • Giáo viên yêu cầu học sinh viết lại những chữ cái đã viết trên bảng lớp.
    • Cho học sinh thi viết chữ cái giữa các nhóm.
    • Hoặc có thể dùng các nét rời rồi cho học sinh thi ghép các nét chữ với nhau để tạo thành chữ cái đã học.
    • Phối hợp viết chữ với các môn học khác.

    Kết quả việc rèn chữ viết cho học sinh không phải ngày một, ngày hai mà có được. Mà đó là kết quả của một quá trình dày công khổ luyện của cả thầy và trò, dưới sự dìu dắt, chăm sóc tận tình của các thầy giáo, cô giáo.

    Theo Báo Giáo Dục

    Thân : Luyen Viet Chu Dep Tái Bút !

    --- Bài cũ hơn ---

  • “một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học”
  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viêt Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viêt Cho Học Sinh Tiểu Học
  • “một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học”
  • Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Lớp 1 2 3 4 5
  • Trường Học Nói Không Với Rác Thải Nhựa
  • ‘nói Không Với Rác Thải Nhựa’ Trong Trường Học
  • 1. Tên đề tài:

    BIỆN PHÁP RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

    2. Đặt vấn đề:

    Chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người thường ngồi với chiếc máy vi tính của mình để soạn thảo một văn bản thay vì cầm bút viết trên giấy. Việc rèn chữ viết của mọi người bị chìm quên vào quên lãng. Ở trong trường Tiểu học cũng vậy, trong những năm học gần đây, học sinh viết chữ xấu là tình trạng đáng báo động. Hiện nay, HS lựa chọn đủ các loại bút để viết. Đặc biệt, HS rất yêu thích với chiếc bút bi của mình hơn là những loại bút chấm mực như ngày xưa. Mặt khác, chữ viết của khá nhiều GV chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn chữ viết của HS. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản chiếu để HS soi rọi vào đó. Lứa tuổi của HS Tiểu học hay “bắt chước” nên GV viết như thế nào thì HS viết như thế đó. Đặc biệt là lứa tuổi HS Tiểu học.

    Trẻ em đến trường là để được học đọc, học viết. Nếu phân môn Tập đọc – Học vần giúp trẻ biết đọc thông thì phân môn Tập viết sẽ giúp các em viết thạo. Đọc thông, viết thạo sẽ giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt hơn.

    Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho HS viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài của mình”.

    Thật vậy, nhìn trang vở của HS với những dòng chữ đều tăm tắp, sạch sẽ thì cả cha mẹ và thầy cô đều dấy lên một niềm vui. Chúng ta như đặt niềm tin vào tương lai con trẻ.

    Việc rèn chữ viết cho HS còn là môi trường quan trọng bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật và óc thẩm mĩ. Nhưng muốn viết thạo, trẻ phải gắng công khổ luyện dưới sự dìu dắt tận tình của các thầy giáo, cô giáo.

    Xuất phát từ những vấn đề trên và qua thực tế giảng dạy, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Biện pháp rèn chữ viết cho học sinh Tiểu học” nhằm giúp các em viết đúng, ngay ngắn và đẹp, góp phần thực hiện tốt phong trào “Vở sạch, chữ đẹp” trong học sinh Tiểu học.

    Đề tài được thực hiện trên học sinh lớp 2 trong năm học 2010 – 2011.

    3. Cơ sở lý luận

    Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở tiểu học, nhất là đối với các lớp đầu cấp. Phân môn tập viết trang bị cho học sinh bộ chữ La Tinh và những yêu cầu về kỹ thuật để sử dụng bộ chữ cái này trong học tập và giao tiếp. Với ý nghĩa này, tập viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập của các môn học khác mà còn góp phần rèn luyện một trong những kỹ năng hàng đầu của việc học Tiếng Việt trong nhà trường – kỹ năng chữ viết. Nếu viết đúng, viết đẹp, tốc độ nhanh thì học sinh có điều kiện ghi chép bài học tốt, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn. Viết xấu, chậm sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập.

    Mặt khác tập viết là phân môn có tính chất thực hành. Tính chất thực hành có mục đích của việc dạy học tập viết cũng góp phần khẳng định vị trí quan trọng của phân môn này ở trường tiểu học.

    Ngoài ra tập viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tính kỷ luật và khiếu thẩm mỹ.

    Đặc biệt theo chương trình sách giáo khoa mới ở tiểu học và theo quyết định số 31/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về mẫu chữ viết trong trường tiểu học thì tính chất thực hành của phân môn tập viết càng thể hiện rõ. Qua việc thực hành của học sinh, người giáo viên lại một lần nữa rèn cho học sinh tính cẩn thận và khiếu thẩm mỹ của các em.

    Trong một năm học, học sinh được học 35 tiết Tập viết, như vậy mỗi tuần có 1 tiết tập viết. Ở lớp 2 học sinh học viết các chữ cái viết hoa, tiếp tục luyện cách viết các chữ viết thường và tập nối nét chữ từ chữ hoa sang chữ thường. Trong mỗi tiết tập viết, học sinh được hướng dẫn và tập viết từng chữ cái viết hoa, sau đó tập viết cụm từ hoặc câu ứng dụng (có nội dung phù hợp với chủ điểm và tương đối dễ hiểu) có chữ hoa ấy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam
  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Chữ viết là một trong những phương tiện giao tiếp của con người, là công cụ thứ hai của ngôn ngữ trong tất cả các cấp học. Khi xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu nhận thức càng vươn xa: Không chỉ dừng lại là tín hiệu của ngôn ngữ mà còn phải viết đẹp. Nét chữ đầu đời không chỉ ghi lại quá trình tiếp thu tri thức mà nó còn phản ánh được bản chất bên trong của nó: Tính cẩn thận, tính kỹ luật, yêu cái đẹp… như tục ngữ đã từng đúc kết “Nét chữ, nết người”.

    Năm học 2013 – 2014 tôi được nhà trường giao nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 3A. Theo chỉ tiêu được giao phải đạt chuẩn 24/25 học sinh lên lớp. Nắm được tầm quan trọng của chữ viết và chỉ tiêu phải thực hiện tôi đã đi sâu nghiên cứu, tìm giải pháp “Rèn chữ viết” cho học sinh. Bởi thông qua chữ viết giúp giáo viên đánh giá học sinh chính xác hơn thông qua thông tư 32: Một học sinh giỏi, tiên tiến hay được lên lớp khi các em đạt chuẩn về mọi mặt trong đó có chữ viết. Theo quyết định số: 31/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chữ viết trong trường Tiểu học, mẫu chữ được áp dụng trong trường tiểu học từ năm học 2002-2003, nhiều em đã nhận biết, viết mẫu chữ ngay từ hồi lớp 1, lớp 2 nhưng chữ của các em vẫn viết sai, kích thước chưa đúng, chưa đều, dấu thanh đặt sai vị trí, viết hoa tùy tiện và viết chậm. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học môn Tiếng Việt và các môn học khác. Nếu học sinh đọc nhanh, lưu loát giúp các em hiểu bài vững, tiếp nhận được nhiều tri thức thì viết đúng mẫu, viết nhanh, đẹp sẽ giúp các em có điều kiện ghi chép bài học tốt hơn. Vậy việc “Rèn chữ viết cho học sinh” là tất yếu. Rèn chữ viết không chỉ là ngày một ngày hai mà rèn lâu dài, rèn suốt cuộc đời. Rèn chữ viết không chỉ là nhiệm vụ của trò mà là trách nhiệm của giáo viên, phụ huynh và sự quan tâm của toàn xã hội. Rèn chữ viết không chỉ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa chữ Việt mà nó còn góp phần quảng bá chữ Việt.

    Thực chất “rèn chữ” là “rèn người” như sinh thời thủ tướng Pham Văn Đồng đã nói: ” Chữ viết cũng là biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình”. Đó là lý do tôi chọn đề tài: Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 3.

    Chữ viết không dành riêng cho bất cứ một môn học nào mà chữ viết là tổng hòa của tất cả các môn học. Tuy vậy do đặc trưng bộ môn, nội dung, thời gian, thời lượng nên tôi đã chọn 2 môn học Tập viết và Chính tả làm nòng cốt cho việc rèn chữ. Ngoài rèn chữ ở lớp tôi luôn khuyến kích các em rèn chữ viết ở nhà, tổ chức rèn ngoại khoá. Dù là rèn trong giờ học chính khóa hay ngoại khóa thì tôi luôn hướng học sinh: viết từ dễ đến khó, chậm đến nhanh; từ viết đúng, viết thành thạo đến viết đẹp, đến viết chữ nét thanh, nét đậm, sáng tạo chữ viết. Để sát sao từng đối tượng học sinh, qua theo dõi hằng ngày và kết quả các đợt khảo sát để có biện pháp rèn cụ thể như sau:

    – Đầu giờ mỗi tiết học tôi luôn cho học sinh tự kiểm tra, chuẩn bị đồ dùng phục vụ cho mỗi môn học để sẵn dưới hộp bàn.

    – Trước khi viết phải kiểm tra phấn, bút lau khô (bơm ½ sức chứa), thử bút vào giấy nháp, khi dừng viết nhớ vặn nắp vào (chưa nên dùng bút bi). Khăn kê tay không để sát dòng chữ đang viết dễ gây nhòe mực. Dùng bút chì gạch chân lỗi chính tả, đọc lại chữ đã viết. . .

    Tôi rèn cho các em thói quen thể hiện những động tác thể dục nhẹ nhàng trước khi viết hoặc sau khi bàn tay mỏi bằng cách: Hai bàn tay đan vào nhau, xoay tròn 4-5 lượt để khi viết dễ di chuyển bút.

    b.2. Biện pháp thứ hai: Rèn viết đúng, viết thành thạo, viết đẹp.

    b.2.1. Viết đúng kích thước, hình dáng

    – Để giúp học sinh tái hiện lại kích thước, hình dáng các chữ cái viết thường, chữ số, dấu thanh và đặc biệt là chữ cái viết hoa. Các em được củng cố lại kiến thức qua giờ học Tập viết: Nêu cấu tạo và cách viết chữ trước khi viết; điểm đặt bút, dừng bút ở vị trí nào trong dòng kẻ? Không chỉ là lý thuyết suông mà phải kết hợp chữ viết mẫu của giáo viên trên bảng lớp: Viết chậm, đúng theo quy tắc viết chữ và đẹp để đủ sức thuyết phục. Viết kết hợp phân tích các chữ cái trong các từ, câu ứng dụng. Để giảm dần tính tự ti, rụt rè mọi hoạt động tôi luôn ưu tiên học sinh yếu, đối tượng hay mắc lỗi, phát huy năng khiếu chữ viết cho những học sinh viết đẹp để những học sinh khác noi theo.

    – Nhiều học sinh viết đúng kích thước mà tại sao chữ vẫn chưa đẹp bởi hình dáng các con chữ chưa đạt. Tôi hướng dẫn các em khi viết phải tuân thủ quy trình, kỹ thuật viết chữ, không nhấc bút tùy tiện để các con chữ có nét cong kín không tròn, nét hất có góc nhọn, trên nét chữ nổi vân.

    b.2.2. Viết đúng vị trí dấu thanh, dấu câu.

    * Dấu thanh, dấu câu viết không đúng hình dạng, đặt tùy tiện làm giảm đi tính thẩm mĩ của bài viết. Bởi vậy tôi cho các em tái tạo lại những kiến thức cơ bản, cụ thể thông qua các ví dụ trong giờ học:

    + Dấu thanh thường đặt ở âm chính của vần trong chữ ghi tiếng, đặt cân đối (hà, cá…)

    + Trường hợp chữ ghi tiếng có nguyên âm đôi ở phần vần thì dấu thanh đặt ở con chữ thứ 2 của nguyên âm đôi ( rượu, miến, luồn. . . ), nếu không có âm cuối thì đặt ở con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi( mía, múa).

    + Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các chữ ghi tiếng mà phần vần có dấu phụ( â, ă) thì viết hơi cao và hơi lệch phía phải của dấu mũ (trồng, cắm, lấn. . . ).

    * Dấu câu không đơn thuần đánh dấu về mặt ngữ pháp của câu mà là sự quy định chuẩn mực nói, viết và biểu hiện kỹ năng nắm vững ngôn ngữ. Khi viết các em phải thể hiện đúng hình dạng, đặt sau chữ vừa viết (bằng 1/3 khoảng cách so với khoảng cách giữa chữ ghi tiếng này với chữ ghi tiếng kia).

    * Để sớm khắc phục nhanh lỗi về dấu thanh, dấu câu tôi luôn căn dặn các em: Nắm vững kỹ thuật viết và cẩn thận khi đặt bút viết.

    b.2.3. Viết liền mạch, đều nét, đúng khoảng cách.

    * Rèn chữ viết cho các em không chỉ phải biết cấu tạo của từng chữ cái mà còn phải biết tạo ra chữ viết và sử dụng chữ viết. Khi viết chữ phải đảm bảo mối liên hệ giữa âm và chữ, tổ hợp các chữ cái để ghi âm tiết, các chữ cái phải viết nối với nhau tạo thành chữ ghi tiếng. Để làm được điều đó, tôi đã tiến hành khâu ” Học đến đâu, hành đến đấy; lý thuyết đi đôi với thực hành”. Cho các em nắm vững kỹ thuật viết chữ: kỹ thuật nối nét, lia bút, rê bút gồm những nhóm chữ.

    – Liên kết hai đầu: Chữ cái đứng sau có nét nhọn đầu( u, y, i, t. . . ), nét tròn đầu ( n, m). Ví dụ: Chữ ” An, Kim. . . ”

    – Liên kết một đầu:

    + Chữ cái đứng trước có liên kết, chữ cái đứng sau không có liên kết. Bởi vậy khi viết đến điểm dừng bút của của chữ cái đứng trước cần ” lia bút” đến điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau rồi viết. Ví dụ: Chữ H¶i. . .

    + Chữ cái đứng trước không có nét liên kết, chữ cái đứng sau có nét liên kết. Khi viết đến điểm dừng bút của chữ cái đứng trước thì lia bút đến điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau, hoặc rê bút tạo nét phụ và viết tiếp theo quy trình viết liền mạch. Ví dụ: Chữ ¤ng, . . .

    – Không có liên kết: Cả hai chữ đứng cạnh nhau không có nét liên kết nên khi viết cần có độ doãng bằng 1/3 đơn vị giữa hai con chữ

    Để viết liền mạch tôi luôn nhắc các em phải biết phối hợp các liên kết các nét của các con chữ để nét không bị gãy, không bị rời rạc, tuân thủ nguyên tắc viết chữ, lựa chọn viết chữ đứng hay chữ nghiêng phải viết đều nét. Trước khi viết học sinh phải hiểu được ý nghĩa của từ, nhận ra điểm xuất phát, điểm nối, điểm dừng bút rồi mới thực hành viết.

    * Thông thường các em chưa nắm vững và chưa ước lượng được khoảng cách khi viết. Nên khi thực hành viết các em cần tập thói quen cẩn thận, ước lượng từ chữ ghi tiếng này với chữ ghi tiếng kia bằng “1 đơn vị” rồi mới đặt bút.

    Ví dụ: Khi hướng dẫn viết từ “Lãn Ông”, (ở tuần 21 Tập viết 3 Tập 2) học sinh thấy được ” Lãn Ông” là tên riêng của một người và biết được các vị trí liên kết chữ tạo bởi các chỗ nối:

    – Chữ ” Lãn”: Từ chữ “L”viết tiếp chữ “a” thực hiện bằng nét nối một đầu. Từ chữ “a” viết tiếp chữ “n” bằng nét nối hai đầu.

    Chữ “Ông”: Chữ ” Ô” không có nét liên kết nên khi vừa viết xong chữ cái trước thì điểm đặt bút của chữ “n” chạm vào chữ “Ô”, thực hiện liên kết một đầu hai chữ cái ” n” và “g”

    – Khoảng cách chữ “Lãn” và chữ “Ông” bằng 1 đơn vị: L·n ¤ng

    b.2.4. Viết đúng chính tả:

    Xuất phát từ nguyên nhân thường viết sai lỗi chính tả trên, tôi đã cho các em:

    * Nắm nguyên tắc, luật viết chính tả.

    * Luyện viết những từ ngữ khó (từ thường mắc lỗi ở các bài trước, từ các phát âm không chuẩn) vào giấy nháp, bảng con, phát âm lại từ vừa viết thành thạo trước khi viết vào vở.

    * Thực hành viết vào vở: Mỗi cụm từ, câu giáo viên đọc 3 lần ( lần 1- các em lắng nghe, lần 2- các em viết, lần 3- các em soát lỗi), đặc biệt khi đọc tôi luôn nhấn mạnh, đọc chậm các từ khó.

    Dù cùng một lúc phối kết hợp rèn các kĩ năng viết đúng, đẹp, thành thạo thì tôi luôn chỉ cho học sinh thấy được những lỗi các em thường mắc và có hướng khắc phục. Ví dụ: Khi viết một đoạn trích trong bài Chính tả “Hội vật”

    (Tiếng Việt 3, Tập 2), tôi đã dùng hai hình ảnh để các em so sánh và nhận thấy:

    Kết hợp các thao tác trên, sau một thời gian ngắn học sinh đã tiến bộ rõ rệt. Các em không ngần ngại trong mỗi giờ học Chính tả hay giờ học Tập viết như trước đây nữa.

    b.3. Biện pháp thứ ba: Rèn viết chữ nét thanh, nét đậm; sáng tạo chữ viết.

    Việc khảo sát chữ viết, theo dõi hằng ngày và biện pháp rèn viết đúng là cơ sở để tuyển chọn nhóm đối tượng học sinh có năng lực. Với những học sinh này tôi không cần hướng dẫn tỉ mĩ như các em khác vì các em đã viết đúng theo mẫu chữ. Chính vì thế tôi cho các em thổi hồn vào trong từng nét của chữ bằng hình thức luyện viết:

    – Viết chữ nét thanh, nét đậm: Khi viết nét bút đưa lên rê nhẹ tay hơn nét đưa xuống

    – Viết chữ sáng tạo: Là những chữ cái đã viết đúng mẫu chữ, tạo thêm những nét phụ khác. Ví dụ: Viết sáng tạo chữ cái viết hoa: An, H¶i.

    b.4. Biện pháp thứ tư: Lựa chọn bút viết phù hợp với đối tượng học sinh

    Ngay từ đầu năm học, tôi đã tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp của lớp. Qua việc nắm bắt chữ viết và thể trạng học sinh là cơ sở để lựa chọn bút viết. Những học sinh chữ viết còn gãy nét, nguệch ngoạc chứng tỏ tay cầm bút còn yếu, hiếu động, chưa cẩn thận dễ thay đổi ngòi bút khi dịch chuyển nên tôi hướng dẫn các em nên dùng loại bút có kích thước vừa phải, nhẹ, ngòi bút tròn hoặc bút nước (bút chữ A). Còn đối tượng có chữ viết rắn rỏi, trơn nét, thể trạng khỏe mạnh nên dùng loại bút có ngòi mài để khi viết dễ tạo chữ có nét thanh, nét đậm. Kết hợp khen ngợi trong giờ sinh hoạt lớp tôi đã phân tích để học sinh thấy rõ nên sử dụng bút bơm mực để sử dụng lâu dài, tiết kiệm về kinh tế, tiện lợi khi mong muốn rèn luyện chữ viết.

    b.5. Biện pháp thứ năm: Tổ chức thi viết chữ đẹp:

    Cứ mỗi tháng tôi tổ chức viết chữ đẹp ở lớp 1 lần và kết hợp kiểm tra vở viết của các em nhằm uốn nắn, động viên khuyến khích các em . Đây là cơ hội các em học hỏi trao đổi kinh nghiệm, khám phá những bài viết đẹp. Bài viết đẹp ấy được công khai kết quả và gắn ở góc học tập và là một trong những tiêu chí thi đua trong tháng. Học sinh đạt kết quả cao trong các cuộc thi tôi đã khuyến khích các em bằng những món quà nhỏ ” Một số đồ dùng học tập”.

    Với hình thức đó, phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp đã dấy lên và mang lại hiệu quả cao trong phong trào thi viết chữ đẹp cấp huyện: Năm học 2012 – 2013 có 2 học sinh đạt giải nhì cấp huyện. Năm học 2013-2014 có 2 học sinh đạt giải nhất cấp trường: Phan Nữ Tố Trinh và Đinh Vi Anh Đào.

    b.6. Biện pháp thứ sáu: Vai trò của giáo viên

    – Người ta thường bảo “Nét chữ nết người, cô (thầy) nào trò nấy”. Không có đồ dùng trực quan nào thay thế được và có hiệu quả hơn chữ viết của giáo viên. Nên khi viết bất cứ ở đâu: viết vở, chấm bài, lời nhận xét hay bảng lớp tôi luôn tuân thủ nguyên tắc ” phải cẩn thận- phải đẹp”. Giáo viên rèn chữ viết đẹp không chỉ là tấm gương sáng cho học sinh noi theo mà còn tạo niềm tin cho phụ huynh và đồng nghiệp của mình.

    – Rèn viết chữ cho học sinh nhỏ tuổi là một việc làm không đơn giản. Bởi tri giác của các em thiên về nhận biết tổng quát, tính hiếu động, thiếu kiên trì mà viết được chữ thì người viết phải cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ và đòi hỏi sự khéo léo cẩn thận nên tôi luôn rèn mình tính kiên trì, chu đáo và đưa cái tâm vào trong từng con chữ. Mặc dầu mẫu chữ viết đã có sẵn nhưng tôi luôn học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu, khám phá những bài viết đã từng đạt giải.

    * Với suy nghĩ và quá trình “Khổ công tôi luyện” tôi đạt giải ba thi viết chữ đẹp cấp huyện năm 2011,

    Đồng hành với sự nghiệp “trồng người”, gánh nặng trên đôi tay giáo viên là trang giấy, nhân cách của mỗi học sinh. Việc rèn chữ viết không phải trong ngày một ngày hai, một sáng một chiều. Thực chất “rèn chữ” là “rèn người”, là khổ công tôi luyện “tâm thành tài”. Nếu mọi người cùng đồng tâm hợp sức, nắm được cốt lõi bên trong của việc rèn chữ, kiên trì rèn chữ thì sẽ có một xã hội phát triển cao về văn hóa chữ viết, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

    * Bài học kinh nghiệm

    + Đối với giáo viên:

    – Mỗi giáo viên cần gắn lương tâm trách nhiệm của mình vào mỗi cá thể học sinh, vào từng nét chữ viết. Thổi “văn hóa chữ viết đẹp” vào tâm hồn, đạo đức lối sống của học sinh.

    – Giáo viên cần: Nói rõ, viết đúng, đẹp, biết sáng tạo, sửa bài cẩn thận, chu đáo để chinh phục được đồng nghiệp và nhân dân. Nghiên cứu các bài viết đã từng đạt giải.

    – Biết phân loại đối tượng học sinh để có biện pháp rèn chữ thích hợp “sai ở đâu sửa ở đấy, học đi đôi với hành”. Hiểu được tâm lý, sức khỏe, chất lượng chữ viết để động viên khuyến khích kịp thời, lựa chọn bút viết phù hợp đối tượng học sinh với hoàn cảnh thực tế.

    – Phối hợp với phụ huynh để rèn thói quen, nền nếp viết chữ, giữ vở sạch.

    – Duy trì thường xuyên các cuộc thi viết chữ đẹp. Sáng tạo trong việc trao phần thưởng để gây sự hứng thú, tạo tâm lý thoải mái, ham muốn rèn chữ của học sinh.

    – Cần quan tâm việc rèn chữ viết ở tất cả các môn học, phối hợp linh hoạt với các môn học khác. Không chờ đến các tiết học Tập Viết hay Chính tả mới nhắc nhở rèn chữ viết.

    + Đối với học sinh:

    – Có ý thức tự rèn thói quen nền nếp viết chữ, rèn chữ, tinh thần thi đua học hỏi, cầu tiến.

    – Tuyệt đối không được viết chữ nét phăng như người lớn: mất nét, mất dấu. . .

    – Không được nhờ người khác viết hộ.

    Bấm vào đây để tải về

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Tính Mạnh Dạn Tự Tin Cho Trẻ Lớp 5 Tuổi C Trường Mầm Non Phú Lạc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Tính Mạnh Dạn Trong Giao Tiếp Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Nêu Biện Pháp Rèn Luyện Để Xương Phát Triển Cân Đối
  • Giải Bài Tập Sinh Học 8
  • Rèn Luyện Tính Kỷ Luật Như Thế Nào?
  • Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2 Skkn Luyen Chu Viet Cho Hs Lop 2 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Biện Pháp Tránh Thai Lâu Dài Nhất Hiện Nay
  • Biện Pháp Tránh Thai Cho Nam Dùng Một Lần Hiệu Quả Lâu Dài
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Hiện Đại Hiệu Quả Tốt Nhất * Hi Bacsi
  • Tìm Hiểu 7 Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh An Toàn Và Khoa Học Nhất
  • 10 Cách Tránh Thai Sau Sinh Tạm Thời Và Ngừa Thai Vĩnh Viễn Tốt Nhất Hiện Nay
  • Tên đề tài: Một số kinh nghiệm hướng dẫn cho học sinh lớp 2 luyện chữ viết

    KINH NGHIỆM RÈN CHỮ CHO HỌC SINH LỚP 2

    *. Lí do chọn đề tài:

    Đất nước ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xã hội phát triển mạnh đặc biệt là công nghệ tin học, đòi hỏi chất lượng giáo dục phải nâng cao. Chính vì thế con người đòi hỏi phải có tri thức, có khả năng đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của đất nước.

    Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cơ bản là hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết giúp các em học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện thao tác tư duy. Xong mỗi phân môn của Tiếng Việt lại có một nhiệm vụ riêng như phân môn tập viết: Tập viết đúng tư thế, hợp lí, đúng cỡ chữ, viết đúng chữ hoa theo mẫu quy định. Với nhiệm vụ cơ bản như trên thì giáo viên hướng dẫn các em viết trên bảng con, trên vở viết từ dễ đến khó, tuỳ theo đối tượng học sinh và thời gian cho phép. Trong thực tế giảng dạy, cơ bản học sinh ngồi học đúng tư thế và viết đúng độ cao, độ rộng của con chữ.

    B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Trong những năm học gần đây chữ viết của học sinh trong các nhà trường tiểu học là vấn đề các cấp lãnh đạo, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh học sinh hết sức quan tâm. Các phong trào ” Giữ vở sạch, viết chữ đẹp ” của giáo viên và học sinh được duy trì thường xuyên theo định kỳ hàng năm và phát triển sâu rộng trong phạm vi toàn quốc. Song vì nhiều lý do mà chất lượng chữ viết của học sinh chưa tốt. Bên cạnh học sinh viết chữ đẹp. Còn khá phổ biến học sinh viết chữ xấu, nét chữ nguệch ngoạc, không đúng mẫu, cỡ chữ qui định. Cá biệt còn có em mắc nhiều nỗi chính tả. Vì vậy có em nhận thức rất nhanh nhưng lại không đạt danh hiệu học sinh giỏi cũng chỉ vì chữ viết xấu. Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ. ở giai đoạn đầu tiên ( bậc tiểu học ) trẻ tiếp tục được hoàn thiện năng lực nói tiếng mẹ đẻ. Nhà trường xuất phát từ dạng thức nói, từ hệ thống ngữ âm tiếng mẹ đẻ để dạy trẻ học chữ. Trẻ em biết chữ mới có phương tiện để học Tiếng Việt và học các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác. Trẻ không biết chữ, không có điều kiên tiếp xúc ngôn ngữ văn hoá, không thể tiếp thu trí thức văn hoá, khoa học một cách bình thường được. Biết chữ là biết phân biệt hình nét các ký hiệu, biết tạo ra ký hiệu ( chữ viết ), biết dùng chữ ghi lời nói, biết đọc và hiểu được ý nghiã chữ viết. Nói tóm lại, biết chữ là biết đọc thông viết thạo một ngôn ngữ.

    C hữ viết tiếng việt của chúng ta hiện nay ( còn là chữ Quốc ngữ) được xây dựng dựa theo các con chữ của hệ thống chữ cái La tinh gồm 24 chữ cái ( hay còn gọi là con chữ) được sắp xếp theo trật tự cố định gọi là Bảng chữ cái. Các chữ cái Tiếng Việt dùng để nghi nguyên âm và phụ âm.

    Trên thực tế, các chữ cái Tiếng Việt thoả mãn tương đối các điều kiện trên. Nhưng có những âm biểu thị bằng nhiều chữ cái do đó học sinh rất dễ nhầm lẫn, khó phân biệt.

    Nhà trường có đủ các phòng học cho học sinh học hai buổi trên ngày. Tuy nhiên một số phòng học chưa bảo đảm về tiêu chuẩn như: Ánh sáng trong phòng học, bàn ghế của học sinh, bảng lớp…

    + Bảng lớp: Các lớp được trang bị một bảng chống loá to, sơn mầu xanh thẫm và được treo cân đối, hợp lý giúp học sinh quan sát dễ dàng. Nhưng bảng lại không có các dòng kẻ nên khi viết mẫu cho học sinh giáo viên còn gặp nhiều khó khăn như viết chậm, viết các nét không chuẩn. Nhiều giáo viên đã khắc phục bằng cách tự kẻ lấy các dòng kẻ cho nên các dòng kẻ không đều nhau và cũng chỉ trong thời gian ngắn các dòng kẻ đó lại mờ dần.

    a, Tài liệu dạy hoc.

    + Bảng con: Bảng con được coi là phương tiện hữu hiệu nhất để học sinh luyện tập kỹ năng viết chữ trước khi viết vào vở. Bảng của học sinh tuy đầy đủ về số lượng chất lượng chưa đảm bảo. Nhiều bảng không có dòng kẻ, trơn khi viết nét không ăn, chữ nguệch ngoạc, một số bảng lại xù xì, khi viết các nét chữ lần sau lại đè lên chữ trước nên khó nhìn và mất đi cái đẹp.

    + Vở ô li: Học sinh dùng loại vở ô li có 6 dòng kẻ chất lượng tương đối tốt để luyện viết các nét chữ cơ bản, các chữ, các nhóm chữ viết thường, viết hoa, từ, câu ứng dụng…

    Cũng như lớp 1, vở viết lớp 2 bám sát nội dung bài học trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (31 tuần): Ôn tập, cách viết 29 chữ cái viết hoa và một số tổ hợp chữ ghi câu đầu có chữ cái viết hoa ( Ví dụ: Ch, Gh, Gi,….) Luyện viết ứng dụng các tên riêng, các câu ( tục ngữ, ca dao, thơ) có số chữ dài hơn ở lớp 1. Tuy 4 tuần ôn tập và kiểm tra định kỳ không có tập dạy, tập viết trên lớp, nhưng vở tập viết lớp 2 vẫn có nội dung luyện viết thêm ( ở nhà) để học sinh luyện viết kỹ năng viết chữ và trìng bày. một đoạn văn ( hoặc một bài ngắn)

    viết hoa hoặc tổ hợp chữ ghi âm đầu có chữ cái viết hoa xuất hiện trong tên riêng hoặc câu ứng dụng) . Trọng tâm là luyện viết dòng thứ nhất.

    – Hai dòng viết ứng dụng tên riêng theo cỡ nhỏ.

    Bên cạnh những ưu điểm thì tập viết 2 cũng khônng tránh khỏi một số nhược điểm như: Học sinh chỉ được luyện viết các chữ viết hoa theo thứ tự bảng chữ cái A, B, C …mà không được luyện theo nhóm chữ đồng dạng cho nên các em không được luyện kĩ năng viết nhiều, hay có chữ dễ thì viết sau còn chữ khó thì viết trước như chữ C,Ê,…

    b. Đồ dùng dạy học.

    Các lớp được trang bị đầy đủ đồ dùng dạy học như .

    + Bộ chữ rời từng chữ cái, kiểu chữ viết thường và kiểu chữ viết hoa ( do cô ng ty Thiết bị giáo dục Trung ương I Bộ giáo dục – Đào tạo sản xuất) . Bộ chữ gồm từng chữ cái phóng to, in từng chữ cái trên bìa cứng, có kẻ các ô vuông đơn vị chữ và hướng mũi tên biểu hiện qui trình viết chữ theo số thứ tự của từng nét chữ.

    2. Hoạt động dạy học.

    2.1 Hoạt động dạy của giáo viên

    Giáo viên nhiệt tình công tác, chịu khó học hỏi việc đổi mới phương pháp dạy học, thương yêu học sinh, coi trọng việc rèn chữ cho học sinh.

    + Chưa quen với cách viết hoa mới nên viết chưa đúng mẫu chữ.

    + Ngại nghiên cứu tài liệu, đọc sách báo, để tự bồi dưỡng nên dẫn đến tình trạng.

    – Nhầm lẫn khi đổi tên chữ cái, lúng túng khi sử dụng thuật ngữ để hướng dẫn học sinh.

    + Đổi mới phương pháp dạy học chưa có chất lượng.

    + Chưa đầu tư thời gian và công thức cho việc rèn chữ cho học sinh. Có giáo viên cho rằng trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay máy móc làm thay con người nên không cần phải vất vả viết chữ,…

    + Chưa coi trọng phương pháp làm gương, vẫn còn giáo viên viết chưa đẹp, viết bảng các môn học khác còn cẩu thả, không đúng mẫu.

    + Chưa kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết cho học sinh mà mới dừng lại ở phần môn tập viết.

    + Chưa coi trọng việc sử dụng đồ dùng dạy học mà chỉ khi nào có người dự giờ mới đem ra sử dụng.

    + Hướng dẫn học sinh viết qua loa, đại khái rồi cho học sinh viết ngay vào vở không sợ hết giờ.

    + Chưa kịp thời sửa chữa các sai sót của học sinh nên lâu ngày tạo thành thói quen xấu cho các em như tư thế ngồi, cách cầm bút, để vở, viết các nét không đúng mẫu,…

    – Ngoan, nhiều em chăm chỉ, có ý thức phấn đấu trong học tập, thích thi đua.

    – Thiếu tính kiên trì, ham chơi, nhiều em còn cẩu thả, ý thức luyện chữ chưa cao.

    – Kỹ năng viết chưa thành thạo.

    ChÝ nh v× vÊn ®Ò ®ã mµ t”i k hảo sát chữ viết lớp 2A2 qua bài chính tả nghe viết ” Mẹ” Tiếng Việt 2 / tập 1 tuần 11 (tám dòng thơ cuối ). Kết quả sau khi chấm điểm:

    Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, Chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 nhằm đưa chất lượng chữ viết được đi lên

    III. Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh.

    1, Rèn tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở.

    Khi ngồi viết, học sinh phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào canh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách mặt vở từ 23 cm đến 30 cm. Cánh tay phải cũng ở trên mặt bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào mép vở giữ vở không xê dịch khi viết. Cánh tay phải cũng ở trên mặt bàn. Với cách để tay như vậy, khi viết, bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải dễ dàng.

    Khi viết, học sinh cầm bút và điều khiển bút viết bằng ba ngón tay ( ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa) của bàn tay phải. Đầu ngón tay trỏ đặt ở bên trái của đầu bút dịch chuyển linh hoạt. Ngoài ra động tác viết cần có sự phối hợp cử động của cổ tay, kh öyu tay và cánh tay.

    Khi viết chữ, vở viết cần đặt so với mép bàn một góc khoảng 30 độ (nghiêng về bên phải ). sở dĩ phải đặt như vậy vì chiều thuận của vận động tay khi viết chữ Việt là vận động từ trái sang phải.

    2. Củng cố các nét cơ bản tạo nên chữ viết thường.

    Để viết đúng mẫu, đảm bảo không gây nhầm lẫn các chữ cái với nhau, học sinh phải nắm được hệ thống nét cấu tạo chữ cái La tinh nghi âm Tiếng Việt. Đây là cơ sở để viết nhanh, nâng cao tính thẩm mỹ của chữ viết.

    a, Các nét thẳng:

    + Nét ngang ( ) Nét có trong các chữ đ, t…

    + Nét xiên: Xiên phải ( / ), xiên trái ( )

    + Nét hất ( / ) : Nét có trong các chữ : i, u, ư…

    b. Các nét cong.

    + Nét cong kín ( hình bầu dục đứng O ) : Nét có trong các chữ o, ô, ơ, a,…

    + Nét cong hở: Cong phải ( ….), cong trái ( C )…Nét có trong các chữ x, c.

    + Nét móc xuôi (móc trái) (l) … Nét cong trong các nét cong các chữ như: a, ă, i, u,…

    + Nét móc ngược (móc phải) ( …): Nét có trong các chữ: m, n, v.

    + Nét móc hai đầu có thắt ở gữa ( …): Nét có trong chữ k.

    d, Nét khuyết.

    + Nét khuyết trên ( …) : Nét có trong các chữ: y, g.

    + Nét khuyết dưới (…): Nét có trong các chữ: b, h, k, l.

    Kích thước của chữ viết thường được chia thành năm nhóm.

    + Nhóm chữ có độ cao một đơn vị: a, ă, â, c, e, ê, i, m, n, o, ô, ơ, ư, v, x.

    + Nhóm chữ có độ cao 1,25 đơn vị: r, s.

    + Nhón chữ có độ cao 1,5 đơn vị: t.

    + Nhóm chữ có độ cao 2 đơn vị: d, đ, p, q.

    + Nhóm chữ có độ cao 2,5 đơn vị: g, h, l, k, b, y.

    + Các chữ viết hoa có độ cao giống nhau cao 2,5 đơn vị, trừ chữ G, Y cao 4 đơn vị.

    Ví dụ: Quê hương tươi đẹp.

    4. Luyện viết các chữ cái theo nhóm.

    a, Chữ cái viết thường.

    + Nhóm chữ cái có cấu tạo từ nét cong là cơ bản. c, o, ô, ơ, e, ê, x.

    + Nhóm chữ cái có cấu tạo nét cong phối hợp với nét móc: a, ă, â, d, đ, q.

    + Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, u, ư, n, m, p.

    + Nhóm chữ cái có nét móc phối hợp với nét cong : r, v, s,.

    b, Chữ cái viết hoa:

    + Nhóm chữ A: A, Ă, Â, N, M.

    + Nhóm chư U: U, Ư, Y, V, X, N, M.

    + Nhóm chữ V: V, Y, K, H.

    + Nhóm chữ L: L, S, C, G, E, Ê, C, T.

    + Nhóm chữ P: P, B, R, D, Đ.

    + NHóm chữ O: O, Ô, Ơ, Q.

    5. Luyện viết liền mạch.

    Trong thực tiễn viết chữ ghi tiếng của Tiếng Việt có thể xảy ra các trường hợp viết liên kết như sau:

    a, Trường hợp viết nối thuận lợi:

    a n ối với ….. an AN.

    x nối với inh… .. xinh , XINH.

    Ở lại liên kết này có thể xảy ra hai kiểu.

    + Liên kết trong nội bộ phần vần.

    Vần không có âm đệm: Chú ý khoảng cách giữa âm chính và âm chính và âm cuối vần để khoảng cách không hẹp quá hoặc rộng quá.

    Nét nối của chữ cái đứng sau là nét nhọn đầu trong các chữ: u, i, y… nét nối tròn đầu của chữ n, m: chú ý điều tiết nét kết thúc của chữ cái đứng trước sao cho điểm gặp gỡ với điểm đặt bút của nét chữ đi sau cần tự nhiên không có chỗ gẫy.

    Đó là những trường hợp nối các chữ cái mà ở vị trí liên kết không thể viết các nét nối từ nét cuối của chữ cái đứng trước với điểm bắt đầu của chữ cái đứng sau.

    + Liên kết một đầu:

    Chữ cái đứng trước có liên kết, chữ cái thứ hai không có liên kết.

    Khi viết chữ ” xinh “, cần nối liền nét cuối chữ x với nét đầu chữ i, nét cuối chữ i với nét đầu chữ n, nét cuối chữ n với nét đầu chữ h rồi nhấc bút viết nét chấm của chữ i. Từ chữ xinh cách một khoảng bằng con chữ o rồi viết tiếp chữ ”xắn”.

    6. Hướng dẫn dấu thanh.

    Vị trí của dấu thanh có tác dụng khác biệt các chữ nghi tiếng. Dấu thanh chỉ đặt vào chữ cái. Các dấu thanh: huyền ( ), sắc ( / ), hỏi ( ? ), ngã ( …) đặt phía trên các chữ cái. Dấu nặng ( .) đặt phía dưới của chữ

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    + Ở các chữ nghi tiếng không có âm đệm và không có âm cuối vần, dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính.

    + Ở các chữ nghi tiếng có âm chính là nguyên âm đơn và âm cuối vần cũng là bán nguyên âm, dấu thanh đặt trên chữ nghi âm đơn làm âm chính.

    + Ở các chữ nghi tiếng có âm đệm đầu vần, dấu thanh đặt trên hoặc dưới âm chính.

    + Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các tiếng có nguyên âm đôi ở vần.

    – Trong trường hợp chữ viết ghi tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối vần thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ nhất của nguyên âm đôi.

    – Trong trường hợp chữ viết ghi tiếng có nguyên âm đôi nhưng lại có âm cuối vần thì dấu thanh được viết ở vị trí con chữ thứ hai của nguyên âm đôi.

    + Trường hợp dấu thanh xuất hiện trong các tiếng mà nguyên âm ở phần đầu có dấu phụ thì dấu thanh viết như sau:

    – Ở các nguyên âm có dấu mũ ( A) : â, ê, ô dấu sắc ( / ) dấu huyền ( ), dấu hỏi ( ? ) được viết hơi cao hơn và hơi lệch về phía phải của mũ.

    – Ở các nguyên âm có dấu thanh ở vị trí phía trên của dấu ( V )

    Do ở tư thế nằm ngang nên khi xuất hiện trong các chữ mà phần vần có nguyên âm mang dấu phụ, dấu ngã được viết trên các dấu phụ.

    7. Kết hợp với các môn học khác để rèn chữ viết như phân môn. Chính tả. Tập đọc.

    7.1 Phân môn Chính tả.

    – Cho học sinh học lại qui tắc đánh dấu thanh và thường xuyên kiểm tra lại như trong lúc kiểm tra bài cũ, luyện viết chữ khó, chữa lỗi.

    Ví dụ: Trong chữ ‘ ‘lúa ” dấu sắc đặt ở vị trí nào? hay trong chữ ” cười ” dấu huyền đặt ở vị trí nào?

    – Nhắc lại qui tắc viết hoa.

    * Tên người, địa danh viết hoa tất cả những con chữ đầu của tiếng.

    – Lập bảng để học sinh ghi nhớ qui tắc phân bổ các ký hiệu cùng biểu thị một âm rôi cho học sinh học thuộc.

    – Tìm từ so sánh giải nghĩa những từ dễ lẫn.

    – Hướng dẫn học sinh cách trình bày bài khoa học, sạch sẽ đúng mẫu cỡ chữ. Ở mỗi kiểu bài, nhất là những bài đầu tiên của năm học, tôi hướng dẫn các em rất cẩn thận.

    Đối với những bài chính tả là văn xuôi thì mỗi lần xuống dòng đều phải viết lùi vào một ô vuông so với dòng kẻ lề.

    – Đối với bài chính tả ở thể loại thơ lục bát, câu sáu chữ viết lùi vào so với câu tám chữ một ô vuông.

    – Ở những bài thơ có chia thành khổ thơ thì giữa các khổ thơ để một dòng trống ngăn cách.

    Khi đọc những bài đầu tiên cho học sinh viết, tôi thường đọc chậm để cho tất cả học sinh trong lớp đều viết được, sau đó mới đọc nhanh dần đạt đúng tốc độ qui định.

    Chấm một số bài ngay trên lớp, phát hiện lỗi, cho học sinh chữa ngay những lỗi sai cơ bản. Số bài còn lại chấm ở nhà.

    – Cho học sinh làm một số bài tập ngay trên lớp như: Điền vào chỗ trống, tìm và viết các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ( L,n) thì tìm nhanh các từ ngữ chỉ hoạt động chứa tiếng bắt đầu bằng ( L, n).

    Cho học sinh luyện viết chữ sai vào vở.

    – Luôn nhắc nhở học sinh giữ gìn vở viết sạch đẹp, không làm quăn mép, vẽ bậy, giây mực vào vở, nhàu vở…Chú ý khi viết tay, chân, quần áo, mặt mũi phải sạch sẽ,…

    7.2 Phân môn tập đọc.

    Trong khi dạy Tập đọc, tôi thường luyện cho học sinh phát âm đúng các từ ngữ dễ lẫn.

    + Giáo viên nêu: “l” là phụ âm xát vang bên, đầu lưỡi, răng. Khi phát âm đầu lưỡi chạm hàm trên, lưỡi cong, hơi phát ra ngoài.

    ”n” là phụ âm tắc, vang mũi, đầu lưỡi, răng. Khi phát âm lưỡi không cong lên mà đầu lưỡi hơi đưa vào đẩy hơi qua hai hàm răng.

    + Cho học sinh luyện phát âm l/n bằng cách: Lấy hai ngón tay ( ngón cái và ngón trỏ ) bịt mũi và phát âm l/n. Học sinh dễ nhận thấy khi phát âm “l” hơi không đi qua mũi, còn khi phát âm ”n ‘ ‘ hơi sẽ đẩy ra lỗ mũi.

    Na, no, nô, nu, ni.

    Đi Hà Nội mua cái nồi về nấu cơm nếp.

    Lúa lổ lung linh.

    Cô nàng ăn nói nết na.

    8. Chữ viết của giáo viên.

    Để học sinh có chữ viết đẹp thì người giáo viên phải có kỹ năng viết chữ thành thạo, phải có khả năng viết chữ mẫu cho học sinh noi theo trong mỗi tiết học. Chữ viết của thầy cô sẽ để lại một ấn tượng và kết quả lâu dài đối với nhiều thế hệ học sinh rèn chữ mà mỗi giáo viên phải có ý thức rèn chữ viết để có chữ viết chuẩn mực, là tấm gương để học sinh nôi theo. Ở bậc Tiểu học, chữ viết của thầy cô chính là nội dung giảng dạy và đồ dùng trực quan để học sinh học tập. Viết trình bày bảng cần thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cho nên khi trình bày trên bảng cũng giống như trình bày trên trang giấy cần phải để lề, viết thẳng hàng, nét phấn thanh mảnh, đều nét, …từ các vị trí trong lớp học sinh nhìn thấy rõ, không bị loá,…

    IV. Một số bài tập luyện viết chữ đẹp.

    1. Bài tập luyện viết chữ thường được sắp xếp theo từng nhóm chữ từ dễ đến khó, viết ứng dụng.

    2. Bài tập luyện viết chữ hoa được sắp xếp theo từng nhóm chữ từ dễ đến khó, viết ứng dụng.

    C. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

    – Sau khi áp dụng biện pháp rèn chữ viết. Tôi cũng tiến hành kiểm tra chữ viết của học sinh qua bài ”Sông Hương” Tiếng Việt 2/ tập 2 (tuần 26) đoạn 2 từ ” Sông Hương là một … dát vàng ” đối tượng học sinh tham gia cũng là học sinh lớp 2A2 kết quả sau khi chấm bài như sau:

    Việc rèn chữ đẹp cho học sinh là một công việc hết sức tỉ mỉ đòi hỏi giáo viên và học sinh phải kiên trì, diễn ra thường xuyên, liên tục. Rèn chữ viết cho học sinh là trách nhiệm của mỗi thầy cô giáo. Học sinh viết chữ đẹp là niềm vui của thầy cô giáo, hạnh phúc của trẻ là niềm vui , tự hào của cha mẹ các em. Trong các biện pháp rèn chữ viết nêu trên, muốn đạt được kết quả như mong muốn thì cần phải kết hợp hài hoà giữa các biện pháp. Cần tạo điều kiện để các em tự tìm ra, chiếm lĩnh kiến thức bằng khả năng của mình. Người thầy chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn các em học tập. Các em học sinh tiểu học rất thích khen, những lời khen, động viên kịp thời giúp các em tiến bộ hơn. Viết chữ đẹp sẽ giúp các em học tập tiến bộ hơn, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, đạt được mục tiêu đã đề ra.

    D. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    Muốn nói gì thì nói trong nghề dạy học thì chất lượng thực của học sinh cũng phải đặt lên hàng đầu. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội ngày nay.

    – Phải hết lòng yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với con đường mà mình đã chọn, coi học sinh là niềm vui, niềm hy vọng lớn trong đời.

    – Không ngừng học tập, bồi dưỡng, áp dụng các chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở Tiểu học, tìm tòi sáng tạo, thay đổi linh hoạt các biện pháp giáo dục, các hình thức tổ chức học tập, nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh. Biết phân loại đối tượng học sinh, sắp xếp chỗ ngồi hợp lý phù hợp chiều cao, nhận thức từng em, có kế hoạch kèm cặp học sinh yếu, viết chữ xấu, bồi dưỡng rèn kỹ năng viết đẹp cho những em có năng khiếu vào những buổi học ( 6, 7, 8, 9, 10) trong tuần.

    Trong quá trình dạy viết cho học sinh chữ viết của thầy phải mẫu mực, đẹp, trình bày bảng khoa học để gây ấn tượng tốt cho học sinh các em đồng thời thời phát âm chuẩn, ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu thầy luôn tận tình chu đáo, kiên trì luyện chữ viết cho học sinh theo tinh thần đổi mới, Luôn khơi dậy ở học sinh hứng thú, lòng say mê trong học tập.

    Phải chấm, chữa bài thường xuyên, kịp thời thông tin đến các bậc phụ huynh, bàn biện pháp hướng dẫn các em luyện viết tốt ở lớp cũng như ở nhà. Kết hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường, gia đình nhà trường, đoàn thể cùng giáo dục rèn luyện các em trở thành con ngoan, trò giỏi.

    Các điểm còn hạn chế:

    Bên cạnh những ưu điểm trên còn một số hạn chế sau:

    – Do tình hình phát âm của địa phương chưa chuẩn, bản thân giáo viên và học sinh phát âm cũng chưa chuẩn do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến chữ viết của trò.

    – Trong thực tế dù cố gắng đến đâu song không phải chữ viết của thầy cô nào cũng đẹp chữ viết mẫu của thầy cô chưa chuẩn cũng ảnh hưởng đến chữ viết của trò.

    – Ý thức học tập của các em còn chưa cao, ít suy nghĩ, ít rèn luyện đẫn đến chữ viết xấu.

    – Gia đình một số em còn khó khăn, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng học tập của các em, có em còn thiếu sách, đồ dùng học tập, vở viết dân tới việc luyện chữ viết ở trường cũng như ở nhà còn khó khăn.

    E. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

    Rèn chữ viết cho học sinh là vấn đề cấp bách trong các nhà trường Tiểu học hiện nay. Để đạt được kết quả mong muốn ta không chỉ tiến hành ở môn Tiếng Việt mà kết hợp rèn chữ cho các em ở tất cả các môn, môn nọ rèn bổ trợ cho môn kia và tiến hành thường xuyên liên tục ở tất cả các lớp, sự quan tâm của nhà trường, gia đình, đoàn thể, các cấp, các ngành chắc chắn rằng chất lượng chữ viết của học sinh ngày sẽ càng tiến bộ.

    2- Đối với gia đình: Tạo mọi điều kiện cho chúng tôi nghiên cứu, áp dụng sáng

    kiến vào giảng dạy.

    3- Đối với học sinh: Có đầy đủ sách vở, đồ dùng phục vụ học tập như: sách, vở, bút, phấn bảng, đúng mẫu theo quy định. Các em có ý thức học tập tốt, kiên trì,

    cẩn thận, sáng tạo khi luyện chữ. Các bậc phụ huynh quan tâm, tạo điều kiện về mọi mặt, cả vật chất lẫn tinh thần.

    4, Đối với đoàn thể: Đoàn thanh niên, công đoàn cùng nhà trường luôn góp ý, động viên, kích lệ kịp thời những thành quả mà thầy trò lớp chúng tôi đạt được.

    6, Đối với bản thân: Không ngừng học tập, nghiên cứu rèn chữ viết, luyện phát âm chuẩn, tận tâm, tận lực, kiên trì, tỉ mỉ trong quá trình truyền thụ trí thức và rèn chữ viết cho học sinh.

    7, Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ việc dạy học.

    – Có đủ phòng học 10 buổi/ tuần. Phòng học đủ ánh sáng, bảng lớp đẹp, rõ dòng kẻ ( bảng chống loá) Bàn ghế đúng qui cách, phù hợp chiều cao học sinh lớp 2. Qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu tôi đã rút ra kinh nghiệm ” rèn chữ viết cho học sinh lớp 2 ” áp dụng vào lớp 2A2 do tôi thực dạy. Kết quả cho thấy chất lượng chữ viết của học sinh được nâng lên rõ rệt so với những năm chưa áp dụng sáng kiến. Các em đều nắm kĩ thuật viết. Có nhiều em viết đúng, viết đẹp và viết tương đối nhanh, giảm đáng kể những em viết sai, viết xấu. Song vì trình độ có hạn, sáng kiến của tôi còn nhiều thiếu sót so với các đồng nghiệp dầy dạn kinh nghiệm. Rất mong ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, sự chỉ đạo giúp đỡ của các cấp lãnh đạo để đề tài của tôi được hoàn hảo và áp dụng giảng dạy trong các trường Tiểu học hiện nay.

    Kim Thư, ngày tháng , năm 2014 Người viết

    Lưu Thị Kim Oanh

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… ……

    Sáng kiến kinh nghiệm, năm học 2013 – 2014 – Tác giả: Lưu Thị Kim Oanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non: Dạy Con Kỹ Năng Sống Mầm Non Tự Lập
  • Biện Pháp Dạy Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Như Thế Nào Là Phù Hợp?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biệp Pháp Rèn Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Hiệu Quả Nhất
  • Đề Tài Rèn Chữ Viết Đúng, Đẹp Cho Học Sinh Lớp 2 Qua Phân Môn Tập Viết

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 2
  • Khám Chữa Bệnh, Phổ Biến Kiến Thức Y Học
  • An Toàn Công Tác Bốc Xếp Và Vận Chuyển Trong Công Trường Xây Dựng – Trung Tâm Ứng Phó Sự Cố An Toàn Môi Trường
  • Vận Chuyển Vật Tư Công Trình Xây Dựng Tp.hcm
  • Qui Tắc An Toàn Đề Phòng Vật Rơi Trên Công Trường
  • I.1 Lí do chọn đề tài:

    * Tính lịch sử:

    Trước cải cách giáo dục, mẫu chữ viết (chữ quốc ngữ) được dạy và học ở trường tiểu học, về cơ bản là mẫu chữ phổ biến thường dùng trong xã hội.

    Hầu hết các chữ viết thường, viết hoa bảng chữ mẫu có chiều cao là một đơn vị và 2 đơn vị chữ viết có nét thanh, nét đậm.

    Trong cải cách giáo dục, từ năm 1981 đến nay, mẫu chữ viết ở trường Tiểu học có nhiều thay đổi so với mẫu chữ thường dùng, dư luận xã hội có nhiều ý kiến phê phán là chữ viết thường đã bỏ đi những nét bụng. Chữ viết hoa gần giống chữ in hoa ở dạng đơn giản nhất.

    Thực hiện nghị quyết 40 của Quốc hội khoá 10 và chỉ thị của thủ tướng chính phủ triển khai chương trình Tiểu học mới bắt đầu lớp 1 từ năm 2002 đến năm 2003 về kế hoạch mẫu chữ viết trong nhà trường Tiểu học mới.

    Ngày 16/2/2002 mẫu chữ viết trong trường Tiểu học đã được ban hành và đáp ứng được các nguyên tắc cơ bản sau:

    – Đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống.

    – Có tính thẩm mĩ.

    – Đảm bảo tính sư phạm

    – Có tính kế thừa phát triển phù hợp với thực tiễn.

    Trong lịch sử loài người, có nhiều tấm gương không ngại khó, ngại khổ, dày công luyện tập họ đã trở thành người văn hay, chữ đẹp như Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu… Tấm gương đó lưu truyền mãi mãi cho đời sau noi theo.

    * Tính cấp thiết: Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học, đời sống. Do vậy, ở trong trường Tiểu học việc dạy học sinh biết chữ và từng bước làm chủ được công cụ chữ viết để phục vụ cho học tập và giao tiếp là yêu cầu quan trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt.

    Dạy chữ viết gắn liền với kĩ năng đọc, phục vụ thiết thực cho học sinh viết chính tả, viết đoạn văn, bài văn ngắn.

    Phân môn Tập viết là tiền đề cho các môn học khác và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.

    Thực trạng :

    Thực tế ở Trường Tiểu học xã Quân Chu: Theo nghiên cứu và giảng dạy tại trường tôi thấy có tới 60% HS viết cẩu thả, viết sai lỗi chính tả

    Về thực hành vở tập viết của các emcòn viết sai nhiều chữ cái hoa, cụm từ ứng dụng, dấu thanh …v v.

    Về giáo viên vẫn còn nhiều giaó viên viết chữ xấu, cẩu thả, chữ viết bảng không đúng mẫu chữ qui định, Chữ viết tự do nhiều, không có sự rèn luyện và đầu tư vào rèn chữ viết, nhiều giáo viên còn coi nhẹ phân môn này dẫn đến việc rèn kĩ năng viết đúng cho học sinh đạt kết quả chưa cao.

    Xuất phát từ tình hình thực tế, nhiều năm gần đây, Sở Giáo dục& Đào tạo cũng như Phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Đại Từ đã quan tâm đến vấn đề chữ viết và đã mở nhiều kì thi viết chữ đẹp các cấp như cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh cho giáo viên và học sinh. Đây là một vấn đề cấp bách mà đòi hỏi mỗi giáo viên và học sinh phải có ý thức về rèn luyện chữ viết, để tham gia tốt các kì thi.

    Sự yếu kém của phân môn Tập viết đã hạn chế đến các môn học khác. Đây chính là lí do khiến tôi phải đổi mới phương pháp dạy phân môn Tập viết để nâng cao hiệu quả về chữ viết và học tập của học sinh. Vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu: Rèn chữ viết đúng, đẹp cho học sinh lớp 2 qua phân môn Tập viết.

    1.2. Mục đích nghiên cứu:

    * Việc nghiên cứu đề tài này giúp cho việc nâng cao hiệu quả giáo dục, đáp ứng mục tiêu giáo dục của môn Tiếng Việt 2 chương trình Tiểu học.

    * Theo chương trình Tiểu học mới, phân môn Tập viết 2 chú trọng phương pháp rèn kĩ năng viết chữ đẹp cho học sinh, trọng tâm là rèn viết chữ hoa (Ôn các chữ hoa đã học ở lớp 1). Học sinh không những có kĩ năng, kĩ xảo về chữ viết hoa mà còn viết đúng, viết đẹp các chữ có trong tất cả các các bài học ở tất cả các môn học khác để nâng cao tầm hiểu biết và có những quan điểm đúng đắn giúp ích cho bước đường học tập sau này của mỗi học sinh.

    * Kết hợp giáo dục, dạy kỹ thuật viết chữ với rèn chính tả, mở rộng vốn từ, phát triển tư duy. Góp phần rèn luyện cho các em một số đức tính tốt: cẩn thận, tỉ mỉ, óc thẩm mỹ, ý thức tự trọng và tôn trọng người khác. đây cũng là cơ sở tốt nhất để giáo dục lòng yêu quý của các em đối với Tiếng Việt và đó cũng chính là thứ ngôn ngữ riêng của dân tộc ta. Qua đó các em có thái độ đúng đắn, biết bảo vệ và tôn trọng ngôn ngữ Tiếng Việt, ngôn ngữ rất riêng của quê hương Việt Nam.

    Mặt khác, việc nghiên cứu đề tài này giúp tôi trau dồi thêm kinh nghiệm giảng dạy thực tế, qua sách vở góp phần nâng cao tay nghề cho bản thân, tập dượt nghiên cứu về một vấn đề khoa học, đáp ứng yêu cầu của nhà trường, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong thời đại mới.

    Việc nghiên cứu đề tài này là mong muốn tới mức cao nhất của bản thân tôi khi dạy môn tập viết lớp 2. Giúp học sinh có những hiểu biết nhất định về mẫu chữ do Bộ Giáo dục ban hành, nhằm tạo điều kiện cho các em rèn kĩ năng viết chữ hoa cụ thể:

    Nhớ được hình dáng, các chữ cái viết hoa theo mẫu quy định (29 chữ cái mẫu 1 + mẫu 2)

    Nắm được kích cỡ của của từng chữ viết hoa (thể hiện trong khung chữ mối quan hệ với chữ viết thường:

    Ví dụ : trong cùng một cỡ chữ các chữ cái viết hoa A, Ă, Â, B, C…có độ cao bằng các chữ cái viết thường b, g, h,l , y -2,5 đơn vị . Riêng hai chữ cái Y, G được viết với chiều cao 4 đơn vị ).

    Nắm được thao tác viết từng nét chữ tạo nên các chữ cái viết hoa ( đưa bút, lia bút theo đúng qui trình viết).

    Dạy cho học sinh biết nối (ghép) chữ cái viết hoa với chữ thường trong một chữ ghi tiếng, để đảm bảo tính thẩm mĩ, phục vụ cho yêu cầu viết chính tả và trình bày bài.

    Mặt khác, một vấn đề quan trọng nữa là: phải làm thế nào để học sinh luôn hiểu và hướng dẫn thế nào để học sinh viết đúng, viết đẹp.

    Đây là cả một quá trình lâu dài mà bắt buộc mỗi người thầy chúng ta phải quan tâm và chú ý ngay từ đầu đối với học sinh Tiểu học.

    II. nội dung

    II.1 Chương I

    I. Nghiên cứu lí luận :

    * Tầm quan trọng của phân môn Tập viết:

    Trong bộ môn Tiếng Việt gồm có các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện, Tập viết.Tất cả các phân môn của bộ môn Tiếng Việt giúp cho người học chiếm lĩnh nền văn hoá Việt, đó là công cụ để giao tiếp , tư duy và học tập, là ngôn ngữ nói, ngôn ngữ việt. Do vậy phân môn Tập viết trong trường Tiểu học là quan trọng hàng đầu của môn Tiếng Việt, giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúng mẫu, đúng chính tả, rèn tính cẩn thận cho HS.

    Năm học 2010 – 2011 tôi làm công tác chuyên môn và giảng dạy một số tiết học tôi đã nghiên cứu 2 phân môn: Chính tả và Tập Viết tại trường Tiểu học xã Quân Chu. Trong quá trình tìm hiểu chữ viết của học sinh và trực tiếp giảng dạy ở môn Tập viết ở các lớp 2, 3 tôi thấy tỉ lệ HS viết chữ xấu, sai mẫu còn khá cao ở các lớp.

    Tôi thấy rằng tầm quan trọng của phân môn Tập viết trong giai đoạn hiện nay là rất cấp bách.

    II. Cơ sở lí luận:

    1. Cơ sở tâm lí học:

    Mục đích của phân môn Tập viết là:

    + Rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh theo đúng mẫu quy định,

    + Kết hợp kĩ thuật dạy viết chữ với rèn kĩ năng viết đúng chính tả, mở rộng vốn từ ngữ phục vụ cho học tập và phát triển tư duy. Góp phần rèn luyện những phẩm chất như: tính cẩn thận, lòng yêu thích cái đẹp, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự trọng thể hiện qua chữ viết.

    2. Cơ sở ngôn ngữ học:

    Trong quá trình hình thàn biểu tượng về chữ viết và hướng dẫn học sinh viết chữ, giáo viên thường sử dụng tên gọi các nét cơ bản để mô tả hình dáng, cấu tạo và quy trình viết một chữ cái theo các nét viết và quy định ở bảng mẫu chữ.

    + Nét viết

    + Nét cơ bản

    Dùng tên gọi các nét cơ bản , mẫu chữ cái viết hoa có nhiều nét cong, nét lượn tạo dáng để hướng dẫn học sinh nhận diện hình chữ cái viết hoa phục vụ yêu cầu thực hành luyện viết chữ là chính, không sa vào phần phân tích lí thuyết cấu tạo nét chữ.

    Tên gọi các kiểu chữ chỉ dùng khi giáo viên mô tả cấu tạo, hình dáng chữ viết hoa cho cụ thể, rõ ràng. Không bắt học sinh học thuộc nhưng phải nắm chắc quy trình viết mẫu chữ.

    III. Chương trình SGK

    – SGK phân môn Tập viết được lồng ghép trong SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 1-2.

    – Vở thực hành tập 1 – 2 của học sinh.

    – Mỗi tuần có 1 tiết, cả năm học có 35 tiết, mỗi tiết học có 35 phút .

    – Cấu tạo một bài tập viết trong SGK gồm 2 phần:

    + Viết chữ hoa

    + Viết ứng dụng (Tên riêng địa danh, câu ca dao, câu tục ngữ)

    -Bài viết quy định học sinh phải viết những phần sau:

    + Tập viết ở lớp

    + Tập viết chữ nghiêng tự chọn

    + Luyện viết thêm

    + Có 2 hình thức luyện viết : luyện viết chữ viết hoa trong phân phối chương trình vở tập viết 2 và luyện viết trong vở luyện viết chữ đẹp.

    Mỗi bài tập viết được in trong 2 trang vở liền kề.

    Thời gian một tiết học rất là ngắn, mà phần viết học sinh phải thực hành rất là nhiều.

    Qua tìm hiểu cấu tạo một bài viết trong vở thực hành của học sinh tôi có vài nhận xét sau:

    Cấu trúc của một bài viết còn dài. Mẫu chữ cái viết hoa có nhiều nết phức tạp. Do vậy trong quá trình hướng dẫn giáo viên cần phải sử dụng nhiều đồ dùng trực quan mô tả bằng lời ngắn gọn cho học sinh dễ hiểu.

    Cho học sinh luyện viết bảng con, giáo viên uốn nắn, sửa sai chỉ ra từng chỗ sai để học sinh có ý thức tự sửa chữa và rèn luyện mình.

    II.2 Chương 2: Nội dung vấn đề Nghiên cứu

    II.2.1. Đặc điểm học sinh Trường Tiểu học Xã Quân Chu

    – 100% các em sống ở vùng niền núi, cha mẹ các em đa số làm nghề nông. Điều kiện kinh tế ở một số gia đình còn hạn chế, còn có những gia đình không quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn coi nhẹ việc học tập và phó mặc cho nhà trường. Bản thân các em chưa có ý thức tự giác trong học tập, học mang tính chất học cho xong. Do các nguyên nhân trên dẫn đến kết quả học tập của các em chưa cao. Phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp còn hạn chế.

    II.2.2. Quan điểm của giáo viên về giờ tập viết:

    – Nhiều giáo viên còn xem nhẹ về phân môn Tập viết. Chưa nghiên cứu hết tầm quan trọng và chưa hiểu hết tầm quan trọng của nó. Nhiều giờ dạy mang tính chất là cho học sinh quan sát qua mẫu chữ qua loa. Giáo viên phân tích cấu tạo chữ còn lúng túng, chưa cụ thể hoặc chưa chính xác. Dẫn đến học sinh còn lơ mơ, chưa nắm chắc quy trình viết.

    – Luyện viết trên bảng con: Giaó viên chưa chu đáo, tỉ mỉ, chưa chỉ ra được hết cái mà học sinh còn sai, học sinh chưa có ý thức tự sửa chữa.

    – Khi hướng dẫn học sinh tự viết bài GV còn coi thường việc học sinh quan sát mẫu chữ, học sinh chưa nắm được điểm đặt bút và điển dừng bút, dẫn đến học sinh viết sai, từ tồn tại trên dẫn đến kết quả giờ tập viết đạt chưa cao.

    II.2. 3. Thực tế môn tập viết của lớp, của khối, của trường:

    * Thực tế của lớp:

    – Lớp có 1/3 hs viết xấu, viết chưa đúng mẫu chữ quy định. Chữ viết sai lỗi chính tả, vi … cao.

    Giáo án cải tiến : giáo án cải tiến số 1

    Tập viết

    Bài 15: Chữ hoa :N

    I. Mục tiêu:

    – Rèn kỹ năng viết chữ hoa N cỡ vừa và nhỏ.

    – Viết đúng cụm từ ứng dụng “ Nghĩ trước nghĩ sau”.

    – học sinh có ý thức rèn luyện chữ viết.

    II. Đồ dùng dạy học :

    + giáo viên : chữ mẫu

    + học sinh : Vở tập viết, bảng con, phấn.

    III. Các hoạt động dạy học chủ yếu:

    A. Kiểm tra bài cũ: (5’)

    – Gọi 2 học sinh lên bảng viết chữ M, miệng. học sinh dưới lớp viết “ Miệng nói tay làm”.

    – GV đánh giá, cho điểm.

    B. Dạy bài mới:

    1. Giới thiệu bài:(1’)

    – Tiết học hôm nay cô hướng dẫn các con viết chữ hoa N và cụm từ ứng dụng “ Nghì trước, nghĩ sau”.

    2. Hướng dẫn viết chữ hoa:(5’)

    Hoạt động của thầy

    Hoạt động của trò

    a, Hướng dẫn HS quan sát mẫu và nhận xét:

    Chữ hoa N cao mấy li?

    Chữ N gồm mấy nét, đó là những nét nào?

    – Nêu quy trình viết:

    + Nét 1: Đặt bút trên đường kẻ 2, viết nét móc ngược trái từ dưới lên hơi lượn sang phải, khi chạm tới đường kẻ 6 thì dừng lại.

    + Nét 2: Từ điểm dừng của nét 1chuyển hướng đầu bút để viết thẳng xiên, dừng bút ở đường kẻ 1.

    +Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, chuyển hướng đầu bút để viết nét móc xuôi phải từ dưới lên (hơi nghiêng sang phải) đến đường kẻ 6 thì lượn cong xuống, dừng bút ở đường kẻ 5.

    – GV viết mẫu, và lưu ý cách viết. GV vừa viết vừa nêu cách viết

    b. Hướng dẫn viết bảng con:

    + Yêu cầu học sinh viết chữ hoa N và chữ Nghĩ vào bảng con.

    + GV uốn nắn, sửa sai

    3. Hướng dẫn viết cụm từ ứng dụng:(5’)

    a, Giới thiệu cụm từ ứng dụng

    + giáo viên đọc : Nghĩ trước nghĩ sau.

    giáo viên giải thích cụm từ:Suy nghĩ chín chắn trước khi làm.

    Cụm từ này có nhữg chừ nào cao 2,5 li?

    Chữ nào cao 1,5 li? Chữ nào cao 1,25 li?

    Những chữ còn lại cao ? li?

    b , Hướng dẫn học sinh viết chữ hoa N và chữ ứng dụng Nghĩ cỡ nhỏ vào bảng con

    + giáo viên uốn nắn, sửa sai

    4 , Hướng dẫn học sinh viết vào vở tập viết(15’)

    + giáo viên hướng dẫn tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở, xê dịch vở.

    + Yêu cầu học sinh viết 1 dòng chữ N cỡ vừa, 2 dòng chữ N cỡ nhỏ, 1 dòng chữ nghĩ cỡ vừa, 1 dòng chữ nghĩ cỡ nhỏ. 2 dòng cụm từ ứng dụng cỡ nhỏ.

    + giáo viên theo dõi, giúp đỡ những em yếu.

    5. Chấm, chữa bài:(5’)

    + giáo viên chấm 5-7 bài, nhận xét, tuyên dương những em viết đẹp, lư ý những em viết còn yếu.

    IV. Củng cố- Dặn dò: (4’)

    + giáo viên nhận xét – Đánh giá tiết học

    + Giao bài về nhà.

    Chữ hoa N cao 5 dòng li.

    Chữ hoa N được viết bằng 3 nét.

    + Móc ngược trái(Giống nét 1 ở chữ hoa N)

    + Thẳng xiên

    + Móc xuôi phải( hơi nghiêng)

    + Theo dõi

    + Nêu lại quy trình viết chữ hoa N.

    + học sinh quan sát mẫu, nghe và quan sát giáo viên viết

    + học sinh viết bảng con: N, Nghĩ

    + 1 học sinh đọc cá nhân, sau đó cả lớp đọc đồng thanh.

    + Chữ N, g, h cao 2,5 li.

    + Chữ t cao 1, 5. Chữ r, s cao 1,25 li. Các chữ còn lại cao 1 li.

    + HS viết vào bảng con

    + học sinh nghe

    + học sinh thực hành viết bài theo yêu cầu.

    + học sinh lắng nghe

    Giáo án cải tiến số 2

    Tập viết

    Bài 15: Chữ hoa N ( Kiểu 2)

    I. Mục tiêu:

    – Rèn kỹ năng viết chữ hoa N ( kiểu 2) cỡ vừa và nhỏ.

    – Viết đúng cụm từ ứng dụng “Người ta là hoa đất”.

    – học sinh có ý thức rèn luyện chữ viết.

    II.Đồ dùng dạy học :

    +giáo viên : chữ mẫu

    + học sinh: Vở tập viết, bảng con, phấn.

    III.Các hoạt động dạy học chủ yếu:

    A.Kiểm tra bài cũ: (5’)

    – Gọi 2 học sinh lên bảng viết chữ M, Mắt. học sinh dưới lớp viết “Mắt sáng như sao”

    – GV đánh giá, cho điểm.

    B. Dạy bài mới:

    1. Giới thiệu bài:(1’)

    – Tiết học hôm nay cô hướng dẫn các con viết chữ hoa N( kiểu 2) và cụm từ ứng dụng “ Người ta là hoa đất”.

    2. Hướng dẫn viết chữ hoa:(5’)

    Hoạt động của thầy

    Hoạt động của trò

    1.3. Thời gian nghiên cứu:

    3

    1.3. Thời gian nghiên cứu:

    3

    1.3. Thời gian nghiên cứu:

    3

    1.3. Thời gian nghiên cứu:

    3

    a. Hướng dẫn HS quan sát mẫu và nhận xét:

    Chữ hoa N( kiểu 2) cao mấy li?

    Chữ N ( kiểu 2) gồm mấy nét, đó là những nét nào?

    – Nêu quy trình viết:

    + Nét 1: Đặt bút trên đường kẻ 5, viết nét móc 2 đầu trái (hai đầu đều lượn vào trong), dừng bút ở đường kẻ 2.

    + Nét 2: Từ điểm dừng của nét 1 lia bút lên đoạn nét móc ở đường kẻ 5, viết nét lượn ngang rồi chuyển hướng đầu bút trở lại để viêt tiếp nét cong trái, dừng bút ở đường kẻ 2.

    – Giáo viên viết mẫu, và lưu ý cách viết. Giáo viên vừa viết vừa nêu cách viết

    b, Hướng dẫn viết bảng con:

    + Yêu cầu học sinh viết chữ hoa N và chữ Người vào bảng con.

    + Giáo viên uốn nắn, sửa sai

    3 , Hướng dẫn viết cụm từ ứng dụng:(5’)

    a, Giới thiệu cụm từ ứng dụng

    + Giáo viên đọc : Người ta là hoa đất.

    Giáo viên giải thích cụm từ:ý ca ngợi con người, con người là đáng quý nhất, là tinh hoa của trái đát.

    Cụm từ này có nhữg chừ nào cao 2,5 li?

    Chữ nào cao 1,5 li? Những chữ còn lại cao ? li?

    b , Hướng dẫn học sinh viết chữ hoa N và chữ ứng dụng Người cỡ nhỏ vào bảng con

    + GV uốn nắn, sửa sai

    4 , Hướng dẫn học sinh viết vào vở tập viết(15’)

    + Giáo viên hướng dẫn tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở, xê dịch vở.

    + Yêu cầu học sinh viết 1 dòng chữ N cỡ vừa, 2 dòng chữ N cỡ nhỏ, 1 dòng chữ nghĩ cỡ vừa, 1 dòng chữ Người cỡ nhỏ.2 dòng cụm từ ứng dụng cỡ nhỏ.

    + Giáo viên theo dõi, giúp đỡ những em yếu.

    5. Chấm, chữa bài:(5’)

    + Giáo viên chấm 7 bài, nhận xét, tuyên dương những em viết đẹp, lư ý những em viết còn yếu.

    IV. Củng cố- Dặn dò: (4’)

    + Giáo viên nhận xét – Đánh giá tiết học

    + Về nhà các con hoàn thành bài luyện tập.

    Chữ hoa N cao 5 li.

    Chữ hoa N được viết bằng 2 nét.

    + Nét móc hai đầu

    + Nét 2 là kết hợp của 2 nét cơ bản: lượn ngang và cong trái nối liền nhau tạo thành vòng xoắn nhỏ phía trên.

    + Theo dõi

    + Nêu lại quy trình viết chữ hoa N.

    + học sinh quan sát mẫu, nghe và quan sát giáo viên viết

    + học sinh viết bảng con: N, Người

    + 1 học sinh đọc cá nhân, sau đó cả lớp đọc đồng thanh.

    + Chữ N, g,l, h cao 2,5 li.

    + Chữ t cao 1, 5. Các chữ còn lại cao 1 li.

    + học sinh viết vào bảng con

    + học sinh nghe

    + học sinh thực hành viết bài theo yêu cầu.

    – Sau khi dạy 2 bài thực hành, tôi thu vở chấm và có kêt quả như sau:

    Nhìn chung bài viết của học sinh đều đạt yêu cầu về mẫu chữ, đảm bảo quy trình viết chữ viết hoa, cách nối chữ.

    * Kết quả thu được:

    Qua quá trình điều tra,tìm hiểu nắm được số lượng học sinh viết chữ còn sai ở một số lỗi ,để ra một số biện pháp để rèn luyện chữ đẹp cho học sinh lớp 2A, tôi tiến hành dạy thử nghiệm 2 giờ tại lớp 2A, trong giờ dạy thử nghiệm, bản thân tôi đã cố gắng áp dụng triệt để các biện pháp đề ra cho bài dạy tới đối tượng là học sinh lớp 2A

    Bài mẫu chữ hoa N (kiểu hai,cấu tạo lớp chữ đơn giản, dễ viết. Học sinh có ý thức viết bài đúng, đẹp, học sinh khá giỏi đạt 70%.

    Kiểu chữ hoa N (kiểu 1).Cấu tạo nét chữ khó viết, một số học sinh viết sai . Điểm khá giỏi đạt tỷ lệ thấp đạt 65%. Qua 2 tiết dạy tôi thấy phương pháp dạy theo đề xuất trên là phù hợp, giáo viên đã giúp học sinh nắm chắc quy trình viết mẫu khắc sâu đặc điểm của mẫu chữ, từ đó các em viết đúng mẫu, viết đẹp hơn.

    III. Kết luận kiến nghị:

    I. Kết luận:

    Qua thời gian nghiên cứu, thự tế giảng dạy ở trường tiểu học xã Quân Chu, tôi rút ra một điều quan trọng của việc rèn luyện chữ viết cho học sinh, nhằm thúc đẩy phong trào giữ vở sạch, rèn luyện chữ viết cho học sinh. Để nâng cao chất lượng của môn tập viết của giáo viên tiểu học.

    Quá trình thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, phục vụ cho yêu cầu. Luyện viết chữ đẹp trong trường tiểu học.

    Những năm học vừa qua trường đã có nhiều học sinh đạt giải trong kỳ thi viết chữ đẹp cấp huyện, cấp tỉnh.

    II. Kiến nghị:

    Để đẩy mạnh phong trào vở sạch chữ đẹp ở trường tiểu học, với mỗi giáo viên đều thực hiện gương mẫu đi đầu trong việc rèn luyện viết chữ đẹp -để làm gương cho học sinh noi theo.

    Trường tăng cường phát động thi đua viết chữ đẹp cấp trường – để giáo viên và học sinh có dịp rèn luyện và phấn đấu.

    Phòng mở nhiều kì thi viết chữ đẹp cấp huyện để giáo viên và học sinh hưởng ứng tích cực nữa – đưa phong trào chữ đẹp ở trường tiểu học xã Quân Chu vươn cao hơn nữa.

    * Nói tóm lại:

    Sau khi dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, áp dụng các biện pháp rèn luyện chữ đẹp cho học sinh lớp 2A mà tôi đã mạnh dạn đề xuất thì học sinh có tiến bộ rõ rệt về chữ viết.Tuy nhiên kết quả chữ phải như mong muốn (100% số học sinh trong lớp đạt chuẩn về chữ viết)

    Do thời gian không nhiều,việc dạy thử nghiêm tiến hàng áp dụng các biện pháp rèn viết chữ đẹp cho học sinh tôi sẽ tiếp tục thực hiện cho những năm tiếp theo với học sinh ở các khối từ lớp 1 đến lớp 2 để các em luôn viết đúng, đẹp, không còn hiện tượng học sinh mắc phải các lỗi về viết chữ.

    IV. Tài liệu tham khảo – phụ lục

    Những tài liệu cần cho việc nghiên cứu, làm sáng kiến kinh nghiệm của tôi; bao gồm:

    – Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 Tập một, tập hai.

    – Sách giáo viên Tiếng Việt tập một, tập hai.

    – Chuyên đề Giáo dục tiểu học tập sáu -2003.

    – Chuyên đề Giáo dục tiểu học tập mười một -2004.

    – Vở Tập Viết lớp hai tập một.

    – Vở Tập Viết lớp hai tập hai.

    – Tài liệu dạy và học Tập Viết ở Tiểu học của nhà xuất bản Giáo dục.

    – Vở luyện chữ đẹp lớp hai Tập một, tập hai.

    – Các chuyện san.

    Với việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm, áp dụng trong giảng dạy Tập Viết 2, tôi đã ý thức được rằng: Rèn luyện chữ đẹp cho học sinh lớp 2 là vô cùng kịp thời, phù hợp nó thực sực ần thiết cho công cuộc giáo dục hiện nay theo chương trình tiểu học mới.

    Tuy nhiên, với bản thân mình, tôi cũng tự nhận thấy rằng: Là một Giáo viên trực tiếp dạy lớp 2, qua nhiều năm được tiếp xúc, rèn dạy mẫu chữ mới nên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu lĩnh vực này bởi đó là điều kiện thuận lợi cho chính bản thân mình.

    Tôi sẽ cố gắng hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của địa phương, cùng các em “rèn chữ, rèn người ’’.

    2. Phụ lục

    I. Phần mở đầu

    1

    I.1 Lí do chọn đề tài:

    4

    1.2. Mục đích nghiên cứu:

    2

    II. Phần nội dung

    4

    II.1 Chương I

    4

    I. Nghiên cứu lí luận :

    4

    II. Cơ sở lí luận

    4

    III. Chương trình SGK

    5

    II.2 Chương 2: Nội dung vấn đề Nghiên cứu

    6

    II.2.1. Đặc điểm học sinh Trường Tiểu học xã Quân Chu

    6

    II.2.2. Quan điểm của giáo viên về giờ tập viết:

    6

    II.2. 3. Thực tế môn tập viết của lớp, của khối, của trường

    6

    II.2.4. Thực tế giảng dạy:

    8

    II. 2 5. Nguyên nhân của các lỗi sai và các biện pháp sửa chữa

    13

    II.3 Chương III: Phương pháp nghiên cứu

    kết quả nghiên cứu.

    17

    II. 3. I: Phương pháp nghiên cứu:

    17

    II.3.2 Kết quả nghiên cứu:

    18

    III. Kết luận kiến nghị:

    25

    I. Kết luận:

    25

    II. Kiến nghị:

    25

    IV. Tài liệu tham khảo – phụ lục

    26

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Rèn Luyện Kỹ Năng Giao Tiếp Cho Trẻ Mầm Non Thế Nào Hiệu Quả Cao Nhất?
  • Thực Trạng Quản Lý Thuế Đối Với Hộ Kinh Doanh
  • Giải Pháp Thu Thuế Đối Với Hộ Kinh Doanh
  • Quản Lý Chất Lượng Của Nhà Thầu Thi Công Xây Dựng Công Trình
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Đẹp Cho Học Sinh Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một
  • Kỷ Luật Tích Cực Trong Nhà Trường Là Yếu Tố Quan Trọng Chống Lại Bạo Lực Học Đường
  • Trường Trung Học Phổ Thông Đông Đô
  • Rèn Nề Nếp Đầu Năm Cho Học Sinh Lớp 1
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh – Định Nghĩa Mọi Thứ.
  • Xuất phát từ vấn đề trên tôi quyết định chọn đề tài “ Một số biện pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1 ”

    2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

    Mục đích của đề tài là nghiên cứu và giới thiệu những biện pháp tích cực trong việc dạy chữ viết Tiếng Việt, góp phần giúp học sinh lớp 1 viết đúng và đẹp. Thông qua các biện pháp này tôi có thể nâng cao kiến thức của bản thân và ý thức được việc nghiên cứu, tìm tòi phương pháp giảng dạy là một nhu cầu cũng như nhiệm vụ của mình.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Biện pháp rèn chữ viết

    4. Giới hạn của đề tài

    Một số biện pháp rèn chữ viết đẹp cho học sinh lớp 1A, trường Tiểu học Trần Quốc Toản, năm học 2022 – 2022.

    5. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp trực quan

    – Phương pháp đàm thoại gợi mở

    – Phương pháp luyện chữ

    – Phương pháp quan sát

    – Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

    – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

    II. PHẦN NỘI DUNG

    1. Cơ sở lí luận

    Học sinh tiểu học chủ yếu ở độ tuổi từ 6- 11 tuổi. Ở độ tuổi này nó còn ngây thơ trong trắng hay bắt chước học đòi. Như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nhi đồng là hoa Thiếu niên là quả. Hoa như thế nào thì quả như thế đó”.

    Học sinh lớp 1, ngay từ những ngày đầu tiên đi học ở trường Tiểu học còn nhiều bỡ ngỡ, rụt rè. Việc giúp các em làm quen với chữ viết thật là khó khăn, bởi đôi tay cầm bút còn vụng về lóng ngóng. Là giáo viên dạy lớp 1, tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu hỏi: Ở lớp 1 có nên tiến hành dạy các em viết đẹp ngay không? Qua việc giảng dạy sau mỗi tiết học môn Tập Viết tôi nhận thấy rằng đối với học sinh lớp 1 nếu cùng một lúc mà đòi hỏi các em vừa viết đúng, viết đẹp ngay là một điều khó có thể thực hiện được. Do vậy, đối với giáo viên cần có sự dạy dỗ công phu, nhiệt tình, tập trung xây dựng biện pháp rèn chữ viết cho phù hợp với lứa tuổi, để các em tiếp thu được một cách vững chắc, chúng ta cần được sự kết hợp với gia đình để được sự kèm cặp sát sao của phụ huynh học sinh. Vậy để việc rèn chữ viết đẹp của từng học sinh có hiệu quả, trước tiên cần xây dựng được nề nếp và kĩ thuật viết chữ đúng đó là cơ sở để viết chữ đẹp và cũng chính là yếu tố có tính quyết định việc rèn chữ viết đẹp của các em trong quá trình học tập.

    2. Thực trạng

    – Các em từ mẫu giáo vào lớp 1 nên chữ viết chưa thống nhất. Có em không biết viết, hoặc chỉ viết chữ in, chưa xác định đúng được dòng kẻ, viết không đúng mẫu chữ, ngồi viết chưa đúng tư thến, ngồi học không tập trung.

    – Các em chưa xác định được điểm đặt bút, điểm dùng bút khi viết chữ.

    – Chưa xác định được khoảng cách viết giữa các con chữ và các chữ trong từ.

    – Các em viết sai về độ cao, thế chữ chưa đúng mẫu.

    – Viết nối giữa các con chữ (ch, tr, nh, ph, ng, ngh, gh, gi) chưa đẹp.

    – Mặt khác các em chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học nhiều hơn, phải viết nhiều các em mỏi tay dẫn đến nản chí khi viết.

    Qua khảo sát các em vào đầu năm kết quả như sau:

    Lớp

    Sĩ số

    Thời gian

    Viết đẹp, đúng mẫu

    Viết đẹp nhưng chưa đúng mẫu mẫu

    Viết chưa rõ ràng

    1A

    28

    Đầu năm

    2

    26

    Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do:

    * Về phía giáo viên:

    Việc học sinh viết đúng và đẹp hay không phụ thuộc rất nhiều vào người giáo viên trực tiếp dạy học. Người giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình viết chữ đẹp hay xấu của học sinh. Qua thực tế ta thấy có rất nhiều nguyên nhân từ phía giáo viên dẫn đến việc học sinh viết chữ chưa đẹp.

    – Chữ viết chưa đáp ứng yêu cầu trực quan trong việc giảng dạy.

    – Ít chú trọng việc rèn chữ viết cho học sinh.

    – Chưa có biện pháp rèn chữ viết cụ thể. Chưa giúp học sinh nắm các nét cơ bản, cấu tạo con chữ, dòng kẻ, kĩ thuật viết.trong các tiết luyện viết mà chỉ cần nhấn mạnh về độ cao các con chữ.

    – Hướng dẫn rèn chữ viết chưa theo đối tượng học sinh. Chưa dạy theo chuẩn kiến thức và kĩ năng.

    * Về phía học sinh:

    – Nguyên nhân chủ yếu do học sinh chưa nắm được các nét cơ bản cấu tạo chữ ghi âm, vần, tiếng, dấu thanh, chưa nắm vững quy trình viết chữ cái, luật chính tả, quy trình nối các nét trong chữ cái trong chữ ghi tiếng nên chữ viết mới sai độ cao.

    – Một số em chưa biết cách cầm bút và ngồi học đúng tư thế.

    – Đa số học sinh không có thói quen rèn chữ viết, không có ý thức trong việc rèn chữ viết, thậm chí không cần quan tâm đến chữ viết đẹp hay xấu.

    – Vẫn còn 1 số học sinh chưa nghiêm túc nghe giảng lúc đầu, các em chưa cẩn thận khi viết, các em muốn viết nhanh để hoàn thành bài viết nhằm ghi “thành tích”với giáo viên và các bạn.

    – Ngoài ra còn có một số học sinh chưa ý thức được việc giữ gìn sức khỏe, đồ dùng học tập, bên cạnh còn có 1 số em hay ra mồ hôi tay.

    3. Nội dung và hình thức của giải pháp

    a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

    Nhằm phát huy những biện pháp đã có và khắc phục những hạn chế của giáo viên và học sinh. Giúp giáo viên và học sinh phối hợp với nhau trong việc luyện viết chữ đẹp. Đồng thời phối hợp tốt với nhà trường và gia đình cùng làm tốt công việc này.

    b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp

    Biện pháp 1: Phương pháp trực quan

    Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ viết cho các em bằng nhiều con đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện viết.

    Chữ mẫu là hình thức quan trọng ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết đúng.

    Tập việt – Tập 1 công nghệ giáo dục gồm 24 chữ cái.

    VD: Bài a, b trang 17: GV cho học sinh quan sát mẫu chữ, cho học sinh nhận xét sau đó GV viết mẫu lên bảng. Học sinh nhận xét độ cao, độ rộng chữ a, b, học sinh viết bảng con. Bước tiếp theo học sinh quan sát vở em tập viết, đọc nội dung bài viết, nêu lại độ cao, độ rộng, khoảng cách các con chữ, các em viết vở ( việc 2 ).

    Biện pháp 2: Phương pháp đàm thoại gợi mở

    Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với các chữ cái phân tích.

    VD1: k, h – Giáo viên cho học sinh quan sát chữ mẫu

    – Chữ “k” cao mấy li? Gồm mấy nét?

    – Chữ “h” cao mấy li? Gồm mấy nét?

    – So sánh chữ “k” và “h” có đặc điểm gì giống và khác nhau?

    VD2. Dạy bài: uơ, huơ, thuở bé ( trang 12 Tập 2 công nghệ 1 ) – GV cho học sinh quan sát chữ mẫu và hỏi:

    – Chữ uơ, huơ, thuở bé gồm mấy con chữ? Độ cao các con chữ? Khoảng cách giữa các con chữ.

    – So sánh độ cao, khoảng cách các con chữ, các tiếng.

    Biện pháp 3: Phương pháp luyện chữ

    Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc hướng dẫn cho học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu.

    Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần luôn luôn chú ý hướng dẫn để các em cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế. Điều quan trọng học sinh phải nắm được các nét cơ bản. Bài viết đẹp phải đi cùng với tư thế đúng, rèn cho trẻ viết đẹp mà quên mất việc uốn nắn cách ngồi viết là một thiếu sót lớn của Giáo viên.

    * Dạy các nét cơ bản

    Đầu tiên giáo viên dạy cho học sinh viết hai nét ngang vào sổ. Viết cơ bản hai nét trên cũng dễ viết và nó giúp học sinh giúp học sinh sau này có dạng chữ viết thẳng, ngay ngắn từ đầu. Sau khi rèn kỹ hai nét trên, giáo viên mới tiến hành dạy các nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu, nét khuyết.

    Để trong quá trình dạy tập viết được thông nhất trong cách gọi tên các nét, giáo viên thống nhất với học sinh cách gọi tên các nét như sau:

    Nét sổ Nét cong hở trái

    Nét ngang Nét cong hở phải

    Nét xiên phải Nét cong kín

    Nét xiên trái Nét cong kín

    Nét móc xuôi Nét khuyết trên

    Nét móc ngược Nét khuyết dưới

    Nét móc 2 đầu Nét thắt giữa

    Làm tốt phần này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi viết chữ được đúng đẹp theo mẫu.

    Biện pháp 4: Những điều kiện cơ bản để rèn chữ viết cho học sinh

    a) Chuẩn bị điều kiện vật chất để học sinh tập viết

    Một nhân tố không thể thiếu được khi dạy tập viết cho học sinh là sự chuẩn bị về phòng học, bàn ghế, bảng lớp cùng với bảng con, bút, vở của học sinh.

    * Phòng học

    Nhân tố quan trọng đầu tiên là phòng học đúng quy định, có hệ thống cửa sổ thoáng mát, đủ ánh sáng. Được sự quan tâm của nhà trường và hội phụ huynh học sinh của khối lớp 1 được trang bị đầy đủ bóng điện và 2 chiếc quạt treo trần trong các lớp để phục vụ cho việc dạy và học trong những ngày trời mưa, trời tối không có ánh sáng mặt trời các em có đủ ánh sáng để học tập và viết bài, các em không bị nóng bức chảy mồ hôi làm ướt vở trong những ngày hè nóng bức.

    * Bàn ghế học sinh

    Bàn ghế phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 1 tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh ngồi học, ngồi viết tốt.

    * Bảng lớp

    – Bảng lớp là phương tiện rất cần thiết đối với giáo viên. Việc trình bày bảng là bài mẫu cho học sinh học tập và noi theo. Bảng lớp là bảng từ có những đường kẻ ô vuông chuẩn sẽ giúp cho giáo viên trình bày bài viết trên bảng lớp được đúng đẹp và dễ dàng. Đồng thời cũng là để giúp học sinh dễ theo dõi nội dung bài viết.

    * Bảng con của học sinh

    – Trong lớp chúng tôi yêu cầu thống nhất 1 loại bảng nhựa cùng kích thương 20 x 25cm mặt bảng có kẻ ô vuông rõ ràng cỡ (5 x 5cm) có chia thành các dòng kẻ nhỏ. .

    Dùng khăn ẩm giặt sạch, để lau bảng

    – Phấn và bút viết

    * Phấn viết

    Chúng tôi yêu cầu học sinh dùng phấn trắng, mềm (hãng phấn Mic). Đồng thời chúng tôi hướng dẫn cách trình bày bảng sao cho khi viết không phải xoá đi nhiều lần để đỡ mất thời gian và tránh được thao tác thừa khi viết bảng.

    VD: Dạy bài 62: ôm, ơm – khi luyện viết bảng giáo viên yêu cầu học sinh trình bày vào bảng một dòng ôm rồi mới giơ bảng.

    * Bút viết

    – Giai đoạn viết bút chì: Chọn bút chì đốt loại mềm để thuận tiện khi sử dụng và đỡ mất thời gian vót chì, dành thời gian đó để cho luyện viết.

    – Giai đoạn viết bút mực: Chúng tôi cho các em viết bằng bút mực kim thiên long là tốt nhất.

    b) Rèn tư thế ngồi viết – cách cầm bút

    Hoạt động viết thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào tư thế và cách cầm bút

    – Muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viên phải rèn cho các em tư thế ngồi viết đúng: Lưng thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25 đến 30cm. Hai chân đặt vuông góc dưới bàn, tay trái tì nhẹ nhàng mép vở để giữ vở.

    – Cầm bút bằng 3 ngón tay: Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải. Khi viết di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút nghiêng về phía bên phải cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại thoải mái.

    Việc giúp học sinh ngồi viết đùng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các em viết đúng và viết nhanh được.

    c) Rèn cách để vở khi viết

    – Ở lớp 1, học sinh chủ yếu rèn viết chữ đứng nên học sinh cần để vở ngay ngắn trước mặt.

    – Khi viết chữ về bên phải, quá xa lề vở, cần xê dịch vở sang trái để mắt nhìn thẳng nét chữ, tránh nhoài người về bên phải để viết tiếp.

    d) Rèn giữ vở sạch và trình bày vở

    – Vở phải luôn giữ sạch, có đủ bìa nhãn, không bỏ vở, xé trang. Không bôi mực ra vở, không làm quăn mép vở. Vở viết của học sinh chọn cùng một loại giấy trắng, không nhoè mực…

    – Khi học sinh chuyển viết bút mực, giáo viên thường xuyên nhắc nhở để các em nhớ và trình bày vở đúng, sạch, đẹp.

    e) Rèn luyện học sinh viết đúng mẫu chữ

    Đây là bước vô cùng quan trọng và khó khăn với tất cả giáo viên và học sinh. Ngay ở học kỳ I, trong các giờ học Tiếng Việt đều có phần tập viết, giáo viên cần hướng dẫn kỹ để các em nắm được cấu tạo chữ viết theo đúng quy trình mẫu. Ngoài ra, giáo viên viết mẫu trên bảng và ở vở cho học sinh quan sát – chữ viết của cô phải đúng theo mẫu và đẹp. Giáo viên nhận xét, chữa lỗi một cách cụ thể để học sinh phát hiện ra lỗi sai của mình và chữa kịp thời.

    Để giúp học sinh viết đúng mẫu trong phần tập viết, giáo viên hướng dẫn các em viết qua hai giai đoạn.

    * Giai đoạn quan sát mẫu trên bảng và viết ra bảng con: giáo viên cho các em quan sát kĩ chữ mẫu trên bảng. Qua phân tích, giảng giải các em nắm được cấu tạo chữ viết và nắm được quy trình viết. Sau đó giáo viên cho các em viết trên bảng con. Giai đoạn đầu khi các em mới viết, sau khi giáo viên hướng dẫn trực tiếp trên bảng lớp sau đó mới hướng dẫn trên bảng con hoặc có chữ mẫu đã trình bày sẵn trên bảng để học sinh nhìn vào đó mà viết theo. Giai đoạn sau các em quan sát và tự viết vào bảng con dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên ở trên bảng lớn. Sau đó giáo viên kiểm tra và sửa chữa lỗi sau cho các em trực tiếp ở bảng con. Giáo viên lưu ý sửa cho các em học sinh về độ cao, độ rộng. khoảng cách các con chữ đã đúng mẫu chưa.

    VD: Bài a, b trang 17:

    – Sau khi cho học sinh quan sát chữ mẫu và phân tích, so sánh chữ mẫu (như phần phương pháp trực quan)

    – GV hướng dẫn quy trình viết từng chữ.

    – Chữ a, b được cấu tạo các nét cơ bản nào?

    – Học sinh nêu lại các nét cơ bản.

    – Học sinh luyện viết bảng con:

    + Lần 1: a, b

    + Lần 2: ba, bà

    – Cho nhận xét bài viết của bạn trên bảng, GV yêu cầu học sinh nhận xét:

    + Bạn viết đúng chữ chưa?

    + Đúng độ cao và khoảng cách chưa?

    Giai đoạn quan sát chữ mẫu và viết vào trong vở tập viết. Giáo viên cho học sinh quan sát kĩ chữ mẫu đầu dòng xem chữ cần viết, từ cần viết cao bao nhiêu, khoảng cách các con chữ trong một chữ, khoảng cách các chữ trong từ là bao nhiêu, sau đó mới đặt bút viết.

    VD: Dạy bài tô chữ hoa A (phần luyện tập tổng hợp)

    – Học sinh đọc nội dung bài, quan sát chữ mẫu đầu dòng.

    + Một dòng tô mấy chữ A?

    + Chữ ai viết rộng trong mấy ô ? (một ô)

    + vật một dòng viết được mấy chữ ai? (viết được 6 chữ ai)

    – Giáo viên nêu quy trình viết, cho học sinh quan sát vở mẫu rồi viết bảng.

    g) Xác định vị trí các đường kẻ, điểm dừng bút, điểm đặt bút

    Đường kẻ ly (1,2,3,4,5)

    Đường kẻ dọc (6, 7,8)

    Điểm dừng bút

    Là vị trí kết thúc của chữ trong một chữ cái. Điểm dừng bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ li.

    Điểm đặt bút

    Là vị trí bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ li hoặc không nằm trên đường kẻ ly.

    VD: Khi hướng dẫn viết chữ an trong bài: Tô chữ hoa C, giáo viên nêu quy trình viết như sau: Đặt bút dưới đường kẻ ly hai viết con chữ a nối liền với con chữ n đều cao hai dòng ly, điểm dừng bút chạm đường ly hai.

    h) Xác định khoảng cách

    Qua các giờ tập viết giáo viên giúp học sinh nhận thấy rằng:

    Khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ là nửa thân con chữ, các nét chữ trong một chữ phải viết liền nét.

    Khoảng cách giữa các chữ trong một từ là cách nhau một thân con chữ.

    VD: Viết An cư lạc nghiệp: (quyện 3, trang 5 Công nghệ 1)

    – Khi hướng dẫn viết từ: An cư lạc nghiệp , GV nêu câu hỏi

    + Nêu khoảng cách giữa các con chữ trong từ An cư lạc nghiệp?

    + Khoảng cách giữa bốn chữ trong từ An cư lạc nghiệp là bao nhiêu?

    Hướng dẫn cách ghi dấu thanh: khi viết dấu các chữ có dấu thanh quy trình viết liền mạch bằng cách li bút theo chiều từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, đánh dấu nguyên âm trước, đánh dấu thanh sau.

    Các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã đặt phía trên âm chính con chữ, dấu nặng đặt phía dưới âm chính con chữ. Viết vừa phải các dấu thanh không viết dài quá, to quá hoặc nhỏ quá.

    Biên pháp 5: Giáo viên phối hợp với phụ huynh

    Để thống nhất cách hướng dẫn đọc và luyện viết ở nhà.

    Phụ huynh luôn nhắc nhở các em khi luyện viết ở nhà cũng như giữ vở sạch khi ở nhà

    Bện pháp 6: Động viên, khen thưởng

    Cuối mỗi tháng, sau khi chấm vở sạch chữ đẹp giáo viên có nhận xét và động viên tuyên dương khen thưởng những học sinh có tiến độ về chữ viết, học sinh viết đẹp giữ vở sạch…

    c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

    Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, biện pháp này làm tiền đề cho biện pháp kia. Nếu học sinh nắm vững độ cao, độ rộng, vị trí đặt các dấu thanh, khoảng cách các con chữ, các tiếng, các từ thì học sinh sẽ viết đúng, đẹp.

    d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu

    Qua nghiên cứu, thực nghiệm chuyên đề chúng tôi nhận thấy chữ viết của học sinh đã có nhiều tiến bộ, chữ viết của các em rõ ràng, đúng độ cao, đủ nét, viết đúng khoảng cách giữa các con chữ, giữa các từ, đã xác định được điểm đặt bút và điểm dừng bút, các em luôn có ý thức rèn chữ và giữ vở sạch…

    Kết quả thu được như sau:

    Lớp

    Sĩ số

    Thời gian

    Viết đẹp, đúng mẫu

    Viết đẹp nhưng chưa đúng mẫu mẫu

    Viết chưa rõ ràng

    1A

    28

    Đầu năm

    2

    26

    28

    Cuối kì 1

    5

    20

    3

    28

    Cuối năm

    20

    7

    1

    Ngoài những kết quả đã đạt được như thống kê ở trên việc rèn luyện chữ viết còn có tác dụng đem lại hứng thú học tập cho các em . Nhiều em bắt đầu cố gắng nổ lực và có tính kiên trì chịu khó cao.

    Tuy thời gian nghiên cứu lí luận và khảo sát không dài nhưng cũng giúp tôi nhận ra được vai trò của việc rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1. Nhận thức được điều đó tôi đã áp dụng các biện pháp trên và đã thu lại kết quả khá mĩ mãn .Và từ đó tôi cũng nhận ra rằng : Mọi hoạt động muốn thu lại kết quả đều dựa vào chủ thể học sinh rất nhiều

    Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng nhưng cũng có vai trò không kém phần quan trọng. Sự rèn luyện của giáo viên không chỉ giúp học sinh hình thành kỹ năng mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức cho các em

    III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    Trong suốt thời gian giảng dạy lớp 1, qua việc nghiên cứu lí luận, tìm hiểu thực tế và tiến hành các biện pháp rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1 bản thân tôi đã rút ra được nhiều bài học bổ ích.

    Để trở thành giáo viên giỏi không phải là dễ nhưng như vậy không có nghĩa là không làm được. Mỗi một giáo viên muốn thực hiện điều mong muốn của mình trong nghề nghiệp trước hết phải có lòng yêu nghề, ý chí quyết tâm và có năng lực sư phạm vững chắc.

    Trong việc đầu tiên mà người giáo viên phải hoàn thành đó là cần tìm hiểu, gần gũi học sinh, phải nâng cao ý thức tinh thần tìm hiểu, xâm nhập thực tế. Trước hết một giờ lên lớp người giáo viên phải chuẩn bị hết sức chu đáo về mọi mặt như là đồ dùng dạy học, kế hoạch dạy học và xâm nhập kỹ bài dạy của mình một tâm thế chủ động.

    Khi lên lớp giáo viên phải giữ cho mình một phong thái tự tin và bình tĩnh. Có như vậy bài dạy mới có “hồn” mới khơi dậy tính tò mò của học sinh. Đồng thời người giáo viên phải có nghệ thuật vận dụng kiến thức, phương pháp, kỹ năng sư phạm để dẫn dắt học sinh vào quá trình học tập và rèn luyện. Đó là yêu cầu đặt ra với bất kỳ giáo viên nào.

    2. Kiến nghị

    1. Về phía giáo viên

    – Mỗi giáo viên phải biết sử dụng và lựa chọn linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học

    – Có kỹ năng truyền đạt

    – Có đồ dùng trực quan đẹp, phù hợp, biết cách sử dụng.

    – Tôn trọng sự phát triển tự do của học sinh, định hướng cách học cho các em

    – Thường xuyên quan tâm, thương yêu, ân cần dạy bảo và có biện pháp giáo dục phù hợp với các em.

    Thường xuyên tự rèn luyện chữ viết của bản thân.

    – Dùng lời nhận xét sửa sai cho các em ngắn gọn, cụ thể, rõ ràng,

    2. Về phía nhà trường

    – Thường xuyên quan tâm và đầu tư cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy học.

    – Hàng năm nên tổ chức hội thảo và tổ chức nhiều chuyên đề ở tiết tập viết để giáo viên học hỏi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1
  • Đề Tài “ Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 1”. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Nhận Diện Lũ Quét, Lũ Bùn Đá Và Các Biện Pháp Giảm Thiểu Tác Hại
  • Nguyên Nhân Và Giải Pháp Hạn Chế Sự Gia Tăng Lũ Quét Và Sạt Lở Đất Ở Tây Nguyên
  • Cách Bảo Vệ Bản Thân Và Người Khác
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100