Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Môi Trường, Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Vùng Cao Trong Trường Mầm Non

--- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Xây Dựng Môi Trường Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Tại Trường Mâm Non Hoa Pơ Lang
  • Bài Viết: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kiểm Tra, Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Sinh Viên Ở Các Trường Đại Học
  • Luận Văn Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Sinh Viên Dưới Hình Thức Trắc Nghiệm Khách Quan
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Thcs
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quán Triệt Nghị Quyết
  • KINH NGHIỆM

    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG, TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT

    CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG CAO TRONG TRƯỜNG MẦM NON”.

    I . ĐẶT VẤN ĐỀ:

    Tiếng Việt là ngôn ngữ sử dụng chính thức dùng trong nhà trường và các

    cơ sở Giáo dục khác (quy định tại Luật giáo dục Việt Nam). Như vậy học sinh

    dân tộc thiểu số (DTTS) được giáo dục thông qua ngôn ngữ tiếng Việt trong hệ

    thống nhà trường. Bởi vì Tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của các em

    DTTS mà ngôn ngữ sử dụng trong gia đình và cộng đồng của trẻ DTTS chủ yếu

    bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc).Vì vậy, trẻ em các DTTS trước khi đi học chưa

    biết hoặc biết rất ít Tiếng Việt. Đây là một cản trở lớn đến khả năng tiếp thu

    kiến thức khi trẻ đến trường.

    Nếu trẻ em DTTS đi học ở các cơ sở Giáo dục mầm non thì khả năng

    tiếp cận với tiếng Việt so với trẻ em người dân tộc Kinh vẫn muộn hơn ít nhất là

    3 năm và có thể muộn hơn nữa nếu trẻ không có cơ hội học ở các cơ sở giáo

    dục mầm non. Để trẻ em dân tộc thiểu số có thể chủ động trong lĩnh hội kiến

    thức ở Tiểu học, cần thiết phải chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ ngay ở lứa tuổi mầm

    non. (Theo tạp chí giáo dục mầm non số 4 -2008)

    Vì sao phải tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng DTTS ?

    Tất cả các trường Mầm non của Việt nam đều dạy học trực tiếp bằng tiếng

    Việt trong khi không phải tất cả học sinh đều biết tiếng Việt trước tuổi đến

    trường. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất đối với học sinh người Kinh, nhưng là

    ngôn ngữ thứ hai đối với học sinh DTTS. Giữa việc học bằng ngôn ngữ thứ nhất

    và ngôn ngữ thứ hai có những khác biệt. Cụ thể là:

    * Ngôn ngữ học tập của học sinh người Kinh là ngôn ngữ 1 (TV)

    1

    Học sinh đến trường và sử dụng TV là ngôn ngữ giao tiếp và học tập. Đối

    với học sinh người Kinh, học tập bằng Tiếng Việt là một lợi thế, vì:

    Trước khi đến trường trẻ đã biết nghe và nói bằng Tiếng Việt, đã có vốn

    về Tiếng Việt khá phong phú, trẻ 5 tuổi có khả năng học được từ 300 đến 500 từ

    Tiếng Việt trong một năm học.

    * Ngôn ngữ học tập của học sinh người DTTS là ngôn ngữ 2 (TV).

    Học sinh người DTTS đến trường học tập bằng Tiếng Việt với tư cách

    ngôn ngữ 2. Trẻ học Tiếng Việt – một ngôn ngữ mới và học bằng tiếng Việt. So

    với học sinh Kinh, học sinh DTTS sử dụng tiếng Việt ngôn ngữ học tập một

    cách khó khăn, vì:

    – Học sinh chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt qua nghe nói.

    – Học sinh học ngôn ngữ 2 nói chung bằng tư duy gián tiếp, thông qua sự

    tiếp cận áp đặt- từ việc ngôn ngữ có chủ định (qua bài học) đến việc vận dụng

    nó trong sinh hoạt hàng ngày, do đó học sinh không thật tự tin. Điều này có thể

    được khắc phục tốt nếu như học sinh DTTS được học nghe- nói nhiều hơn trước

    khi vào lớp 1.

    – Học sinh ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng;

    hơn nữa tiếng mẹ đẻ có thể còn cản trở việc học ngôn ngữ 2 . (Theo cuốn hướng

    dẫn giáo viên tăng cường tiếng việt sách của Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh

    khó khăn)

    Như vậy có thể khẳng định rằng việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS

    ngay từ lứa tuổi Mầm non sẽ là cơ hội để thực hiện quyền bình đẳng trong học

    tập và phát triển của trẻ. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng

    Việt cho trẻ DTTS trong trường Mầm non. Năm học 2006-2007 Sở GD&ĐT

    Nghệ An đã triển khai chuyên đề ” Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu

    số”. Thực hiện triển khai chuyên đề trường Mầm non Lưu Kiền đã khảo sát

    thực trạng như sau:

    2

    II. THỰC TRẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG TIẾNG VIỆT VÀ VỐN TỪ TIẾNG

    VIỆT CỦA TRẺ DTTS TRƯỜNG MN LƯU KIỀN.

    1.Thực trạng về vốn từ tiếng Việt của trẻ DTTS:

    Lưu Kiền là xã miền núi thuộc vùng đặc biệt khó khăn đang thụ hưởng

    chế độ theo QĐ 112/QĐ-TTGCP, với tổng dân số là 3.822 người, thuộc hai dân

    tộc Thái và H Mông: Trong đó: Dân tộc Thái là 3.529 người Tỷ lệ 92%

    Dân tộc H Mông là 293 người 8%

    Trẻ em từ 0- 5 tuổi toàn xã: 446 cháu, trong đó số trẻ được huy động đến

    học tại trường mầm non là 204 cháu, tỷ lệ 46 %.

    Trường mầm non Lưu Kiền đã tổ chức huy động trẻ từ 12-72 tháng tuổi

    đến trường gồm có:

    Nhóm trẻ 14 cháu

    Mẫu giáo 189 /237 cháu tỷ lệ 79%

    Trẻ 5 tuổi 78 cháu tỷ lệ 100 %

    a. Chất lượng khảo sát vốn từ tiếng Việt của trẻ mẫu giáo tại trường

    cho thấy:

    Néi dung

    TrÎ 3 tuæi

    TS SL %

    TrÎ 4 tuæi

    TS

    SL %

    101 35 69

    TrÎ 5 tuæi

    TS SL %

    TrÎ høng thó víi c¸c ho¹t 18 5

    ®éng vui ch¬i, häc tËp do

    c” tæ chøc.

    25

    32 46

    TrÎ m¹nh d¹n tù nhiªn 18 5

    trong c¸c ho¹t ®éng.

    25

    101 32 31

    69 33 47

    TrÎ chñ ®éng tÝch cùc 18 4

    trong giao tiÕp TiÕng ViÖt

    23

    101 30 30

    69 28 40

    36

    3

    víi c” gi¸o vµ b¹n bÌ.

    TrÎ hiÓu c©u hái yªu cÇu 18 2

    cña c” gi¸o vµ biÕt c¸ch

    ph¸t ©m chuÈn, diÔn ®¹t

    c©u ®óng ng÷ ph¸p.

    11

    101 10 10

    69 12 16

    TrÎ hiÓu néi dung bµi häc, 18 3

    thùc hiÖn ®îc c¸c kü n¨ng

    thùc hµnh díi sù híng dÉn

    cña c” gi¸o.

    15

    101 28 27

    69 21 30

    TrÎ thÝch ®i häc vµ häc tËp 18 10 56

    cã nÒn nÕp.

    101 71 70

    69 50 72

    b. M”i trêng häc tËp tiÕng ViÖt t¹i c¸c líp mÉu gi¸o .

    Néi dung

    KÕt qu¶

    Tèt Kh¸ TB

    YÕu

    Líp häc ®îc trang trÝ vµ xÕp ®Æt an 9

    toµn ph¶n ¸nh néi dung chñ ®Ò,

    phong phó ng”n ng÷ ch÷ viÕt

    0

    2

    5

    2

    Cã c¸c ®å dïng, ®å ch¬i häc liÖu 9

    cho trÎ thùc hiÖn tr¶i nghiÖm vµ

    thuËn tiÖn khi sö dông.

    0

    3

    4

    2

    C¸c s¶n phÈm cña trÎ cã tªn gäi, ®- 9

    îc trng bµy vµ sö dông ë c¸c gãc

    kh¸c nhau.

    0

    3

    4

    2

    M”i trêng ngoµi líp an toµn, cã vên 9

    hoa c©y c¶nh, vên rau, vên thuèc

    nam, vên c©y ¨n qu¶ vµ ®å ch¬i trªn

    s©n (cã biÓn tªn gäi) ®Ó trÎ t×m hiÓu,

    kh¸m ph¸.

    0

    2

    4

    2

    Cã n¬i cung cÊp th”ng tin trao ®æi 9

    víi phô huynh

    0

    3

    5

    Trêng líp vÖ sinh s¹ch sÏ

    9

    1

    5

    2

    1

    c. Kh¶o s¸t chÊt lîng gi¸o viªn.

    Néi dung

    KÕt qu¶

    Tèt Kh¸ TB

    YÕu

    Sö dông hîp lý vµ linh ho¹t c¸c h×nh 14

    thøc tæ chøc ho¹t ®éng GD.

    1

    4

    7

    2

    C¸c ho¹t ®éng GD tæ chøc ®¹t môc 14

    ®Ých yªu cÇu bµi häc.

    1

    4

    7

    2

    Ho¹t ®éng GD tæ chøc s¸ng t¹o, hÊp 14

    dÉn, tù nhiªn l”i cuèn trÎ tÝch cùc

    tham gia.

    1

    4

    7

    2

    C¸c ho¹t ®éng GD dùa trªn kinh 14

    nghiÖm tËn dông s¶n phÈm cña trÎ.

    0

    4

    8

    2

    C¸c ho¹t ®éng GD cã sö dông 14

    nguyªn vËt liÖu dÔ kiÕm , rÎ tiÒn vµ

    s½n cã cña ®¹i ph¬ng cho trÎ tr¶i

    nghiÖm.

    1

    3

    8

    2

    Lu”n quan t©m vµ t¹o c¬ héi cho 14

    mäi trÎ ®Òu tham gia c¸c ho¹t ®éng

    GD. §Æc biÖt lµ trÎ cã cã héi nãi

    TiÕng viÖt (tr¶ lêi, nãi, kÓ chuyÖn…)

    1

    3

    8

    2

    Cã ph¬ng ph¸p khuyªn kÝch trÎ suy 14

    nghÜ, t duy, t×m tßi, kh¸m ph¸, s¸ng

    t¹o. quyÕt ®Þnh lùa chän vµ chia sÎ ý

    kiÕn c¸ nh©n cho c” vµ b¹n.

    0

    4

    8

    2

    14

    4

    8

    2

    0

    – Phần lớn ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của phụ huynh với trẻ là tiếng

    mẹ đẻ

    – Ít dành thời gian đưa con đến trường học (chủ yếu trẻ tự đi và về)

    b. Về trẻ.

    – Ngôn ngữ đầu tiên của trẻ DTTS là tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc NN1)

    – Trẻ DTTS tiếp thu ngôn ngữ thứ 2 (tiếng Việt) bằng cách gián tiếp,

    thông qua bài học của cô giáo.

    – Trẻ ít được tiếp xúc rộng rãi nên thường nhút nhát, thiếu tự tin khi đứng

    trước người lạ và chỗ đông người.

    c. Về môi trường học tập.

    – Đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học chưa đảm bảo, chưa

    phong phú cho việc dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS.

    – Giáo viên chưa biết cách xây dựng môi trường học tập tiếng Việt cho

    trẻ DTTS trong lớp học.

    – Khả năng đóng góp, phối kết hợp của phụ huynh trong xây dựng môi

    trường học tập cho trẻ gặp khó khăn và hạn chế.

    d. Về cô giáo.

    – Lúng túng trong lựa chọn các biện pháp tổ chức các hoạt động GD tăng

    cường Tiếng Việt cho trẻ.

    – Chưa sáng tạo trong sự dụng các nguyên liệu, phế liệu thiên nhiên để

    giúp trẻ thực hành trải nghiệm.

    – Cung cấp cho trẻ DTTS nhiều khái niệm, kỹ năng khó, đặt các câu hỏi /

    yêu cầu chưa phù hợp với nhận thức, khả năng của trẻ DTTS.

    – Chưa quan tâm đến giáo dục cá nhân, cá biệt từng trẻ.

    – Công tác tuyên truyền cho các bậc phụ huynh hiệu quả chưa cao.

    7

    Biện pháp phối kết hợp với phụ huynh:

    8

    – Tạo mỗi quan hệ thân mật và tin tưởng giữa giáo viên và gia đình, phối

    hợp với phụ huynh trong việc dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS. Yêu cầu giáo viên

    làm tốt các nội dung sau:

    – Tổ chức các buổi tuyên truyền giúp phụ huynh hiểu được về lợi ích của

    tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS (qua họp phụ huynh, họp phụ nữ, họp xã

    viên, loa phát thanh bản, hội thi, góc tuyên truyền nhóm lớp, buổi tuyên truyền

    điểm…)

    Cô Mai HT trường MN Lưu Kiền

    Lạnh đạo và phụ huynh xem tuyên

    tuyên bố lý do buổi tuyên truyền

    truyền

    – Vận động phụ huynh đóng góp, mua sắm đồ dùng, tư trang phục vụ học

    tập, ăn ngủ.. tại trường cho trẻ ( có thêu, viết tên, ký hiệu riêng cá nhân trẻ)

    – Phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu gia đình

    cho lớp học để cô giáo làm đồ dùng đồ chơi và tổ chức cho trẻ thực hành trải

    nghiệm tự tạo sản phẩm.

    – Tăng cường giao tiếp tiếng Việt với con cái tại gia đình như: Trò

    chuyện, kể chuyện, hát dân ca địa phương và dịch lời bài hát ra tiếng Việt; đặt

    các câu hỏi và yêu cầu câu trả lời về đồ vật, con vật, sự vật; tổ chức một số trò

    chơi với con cái bằng tiếng Việt v..v

    9

    – Quan tâm và thường xuyên theo dõi góc tuyên truyền của lớp.

    Giáo viên đang tuyên truyền cho phụ huynh

    3. X©y dùng m”i trêng häc tËp tiÕng ViÖt.

    a. Sè lîng:

    01

    ChØ ®¹o ®iÓm

    §Þa ®iÓm

    Sè líp

    28

    Lín K.KiÒn

    Sè ch¸u

    08

    ChØ ®¹o ®¹i trµ

    §Þa ®iÓm

    161

    Cßn l¹i

    Góc học tập lớp 5 tuổi Khe Kiền

    Góc nghệ thuật

    – Đồ chơi bố trí trên góc phải có tên ( viết theo chữ in thường hoặc viết

    thường), sắp xếp theo chủng loại gọn gàng, thuận tiện trong sử dụng và ở dạng

    mở.

    – Chỉ đạo làm các bài tập góc ngôn ngữ (LQCC và LQVH) dán tường.

    Bài tập góc LQVH: Chủ điểm Thế giới thực vật

    VÝ dô:

    Hoa kÕt tr¸i ( ST Thu Hµ)

    G¾n h/¶ hoa cµ

    G¾n h/¶ hoa míp

    G¾n h/¶ hoa lùu

    §á nh

    tim tÝm

    vµng vµng

    chãi chang

    G¾n h/¶ ®èm löa

    G¾n h/¶ hoa võng

    nho nhá

    G¾n h/¶ hoa ®ç

    xinh xinh

    G¾n h/¶ hoa mËn

    tr¾ng tinh

    11

    Rung rinh tríc giã

    Nµy

    §õng h¸i

    G¾n h/¶ hoa

    Nªn hoa

    G¾n h/¶ c¸c b¹n nhá

    G¾n h/¶ hoa

    yªu mäi ngêi

    G¾n h/¶ mét sè qña

    Bài tập góc làm quenvăn học

    Bài tập góc : LQCC

    Ví dụ: Chủ điểm thế giới thực vật

    LQCC: l,m,n

    G¾n h/¶ qu¶

    G¾n h/¶ qu¶ G¾nh/¶ qu¶ Lùu

    Na

    12

    quả …ơ

    quả….a

    quả….ựu

    Trẻ đang thực hiện bài tập góc làm quen chữ cái

    – Dòng 1, gắn đúng hình ảnh (quả m¬, quả na, quả lùu)

    – Dòng 2, tìm chữ in rỗng tô màu và gắn đúng vị trí tương ứng với hình

    ảnh.

    – Dòng 3, tìm và gắn chữ còn thiếu để từ có ý nghĩa, phát âm chữ cái, đọc

    từ (Quả mơ, quả na, quả lựu)

    Từ bài tập góc trẻ được hoạt động tích cực và phát triển ngôn ngữ thứ 2

    tiếng Việt nhiều hơn. Các bài tập sẽ thay đổi sau mỗi chủ điểm để tránh sự nhàm

    chán cho trẻ. Khi hướng dẫn trẻ chơi cô giáo luôn chú ý yêu cầu trẻ phát âm tên

    gọi các hình ảnh, phát âm chữ cái, đọc và điền các chữ cái có trong từ (đối với

    trẻ 5 tuổi).

    -Sáng tạo bài tập góc về môn LQVT cho trẻ 5 tuổi về nhận biết số lượng.

    13

    Trẻ 5 tuổi đang thưc hiện bài tập góc môn Làm quen với toán

    Trẻ 5 tuổi đang thưc hiện bài tập góc môn

    làm quen văn học dán trên tường

    Trẻ 5 tuổi đang chơi ở góc sách

    *. Tạo môi trường học tập tiếng Việt ngoài lớp học:

    14

    – Tên trường, tên lớp: có biển ghi tên trường, lớp học gắn ở cổng, cửa

    chính. Thường xuyên hỏi trẻ tên trường mình, lớp học mình là gì?

    Trường Mn Lưu Kiền

    Vườn rau sạch trường MN Lưu Kiên

    Xây dựng vườn hoa, cây cảnh, vườn rau, vườn thuốc nam, vườn cây ăn

    quả ở các ví trí hợp lý. Viết tên và cắm biển cho chúng. Thường xuyên tổ chức

    cho trẻ chăm sóc, khám phá MTXQ để mở rộng vốn tiếng Việt cho trẻ.

    Vườn hoa trường MN Lưu Kiền

    Vườn thuốc nam trường MN Lưu Kiền

    15

    Nhà vệ sinh có ghi biển hướng dẫn khu vệ sinh nam, nữ, biển cấm đi

    chân đất, biển hướng dẫn đi xong dội nước, rửa tay bằng xà phòng..gắn ở các vị

    trí hợp lý, dễ quan sát.

    – Toàn bộ khu vực trong và ngoài lớp phải sạch sẽ, an toàn.

    4. Bồi dưỡng nâng cao kiến thức về phương pháp ” Tăng cường tiếng

    Việt cho trẻ DTTS” cho giáo viên.

    Đầu năm học tổ chức tập huấn nội dung chuyên đề cho GV toàn trường

    với các nội dung chính sau:

    – In ấn cung cấp tài liệu cho GV (chuyên đề tăng cường TV, 150 buổi học

    cho trẻ 5tuổi DTTS, hướng dẫn GV về tăng cường TV….)

    – Tổ chức các tiết dạy mẫu chuyên đề (3 tiết/năm), rút kinh nghiệm.

    Tài liệu tham khảo

    Dự giờ dạy mẫu

    – Hướng dẫn ứng dụng một số trò chơi giúp tăng cường tiếng Việt cho trẻ.

    – Hướng dẫn xây dựng môi trường điểm về tăng cường TV cho trẻ DTTS.

    – Tổ chức buổi tuyên truyền điểm về huy động phụ huynh tham gia đóng

    góp, xây dựng môi trường học tập TV cho trẻ DTTS

    16

    TT C¸c chñ ®Ò xËy dùng trong n¨m cña ch¬ng tr×nh CSGD trÎ

    Chñ ®Ò lång ghÐp t¨ng cêng

    TV cho trÎ DTTS.

    1

    Trêng MÇm non

    Lêi chµo vµ lµm quen

    2

    Gia ®×nh

    Nh÷ng ngêi bÐ yªu quý.

    3

    §éng vËt

    Nh÷ng con vËt sèng chung quanh bÐ

    4

    Thùc vËt

    Hoa qu¶ ë ®Þa ph¬ng

    17

    5

    TÕt vµ mïa xu©n

    LÔ héi quª em

    6

    HiÖn tîng thiªn nhiªn

    Nói rõng vµ thêi gian

    7

    Ph¬ng tiÖn giao th”ng

    §êng bÐ ®Õn trêng

    8

    Mét sè ngµnh nghÒ phæ biÕn

    NghÒ ®an l¸t vµ dÖt thæ cÈm.

    9

    Trêng TiÓu häc

    Lµm quen trêng TH ë ®Þa ph¬ng.

    Ho¹t ®éng trong ngµy

    Néi dung lång ghÐp t¨ng cêng TV

    1

    §ãn trÎ

    BÐ chµo c”, chµo mÑ

    2

    §iÓm danh

    H·y nªu tªn b¹n nµo v¾ng häc

    3

    ThÓ dôc s¸ng

    TËp ®Õm theo nhÞp h”

    4

    Giê häc chung

    MTXQ:Lµm quen tªn

    gäi mét sè ®å dïng ®å

    ch¬i trong líp MG

    Häc h¸t: Trêng chóng

    ch¸u lµ trêng MN

    5

    Ho¹t ®éng ngoµi trêi

    Lµm quen tªn c”, tªn b¹n; trß ch¬i: kÕt b¹n th©n

    6

    Ho¹t ®éng gãc

    Ch¬i tù chän víi ®å ch¬i yªu thÝch ë c¸c gãc.( khuyÕn

    khÝch trÎ cïng b¹n ch¬i chung)

    7

    ¡n tra

    Gäi tªn mãn ¨n

    8

    Ngñ tra

    Nghe h¸t d©n ca Inh l¶ ¬i b”ng 2 tiÕng ViÖt vµ Th¸i

    9

    Ho¹t ®éng chiÒu

    D¹y trÎ chµo c”, chµo b¹n.

    10

    VÖ sinh tr¶ trÎ

    xÕp hµng vÖ sinh c¸ nh©n ®óng thao t¸ckÕt hîp ®äc th¬ ”

    18

    tay s¹ch”

    Chµo c”, chµo b¹n.

    c. Tăng cường dạy trẻ nghe – nói thông qua vật thật và đồ dùng trực

    quan.

    Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo là trực quan hành động, trẻ ghi nhớ và

    nhớ lại những sự kiện, những ấn tượng mà trẻ đã được trải nghiệm, vì vậy lựa

    chọn vật thật và đồ dùng trực quan dạy trẻ phải là những đồ vật gần gũi, có ở địa

    phương.

    Việc dạy trẻ thông qua vật thật, vừa giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh,

    vừa cung cấp vốn từ cho trẻ. Đối với trẻ em DTTS giáo viên không nên tham vọng

    quá nhiều khi cung cấp kiến thức cho trẻ. Cần biết lựa chọn đối tượng cung cấp

    gần gũi với cuộc sống trẻ, kết hợp chuẩn bị vật thật hoặc đồ dùng trực quan để trẻ

    quan sát, lựa chọn câu hỏi ngắn gọn, từ dễ đến khó. Khuyến khích trẻ trả lời đủ

    câu.

    Ví dụ: Đề tài lớp lớn: làm quen một số loại hoa( chủ điểm: thế giới thực

    vật)

    – Chọn đối tượng làm quen: Các loại hoa có ở địa phương như: Hoa Ban,

    hoa Mào gà, hoa Cúc vàng, Hoa Gạo

    – Sử dụng đồ dùng truyền thống gần gũi của địa phương bằng vật thật giúp

    trẻ tăng cường tiếng Việt có hiệu quả hơn như cái bế, cái niếng ( hông xôi), váy

    thổ cẩm, khung cửu, vạch (cuốc nhỏ làm cỏ lúa rãy), chum rượu cần, ghế mây….

    19

    Niếng( hông xôi)

    Chum rượu cần

    Khung cửu dệt thổ cẩm

    Váy thổ cẩm

    Ghế mây

    Cái quay sợi

    – Số lượng làm quen : vừa phải (3- 4 loại) phụ thuộc vào độ tuổi

    – Phương pháp hướng dẫn: Giáo viên chỉ vào từng bông hoa và nói tên ví dụ

    cô chỉ vào “Bông hoa Ban” cho trẻ nhắc lại “Bông hoa Ban” mỗi từ như vậy nhắc

    lại 3- 4 lần. Sau khi trẻ nắm vững từ mới thì dạy trẻ nói cả câu “Đây là Bông hoa

    Ban”. sau đó đưa ra từ mệnh lệnh “Cắm bông hoa Ban vào lọ”. Khi trẻ thực hiện

    đúng yêu cầu của cô giáo có nghĩa là trẻ đã hiểu được nghĩa của từ.

    Tích cực thu thập các nguyên liệu thiên nhiên và phế liệu gia đình để dạy

    trẻ tạo sản phẩm theo chủ để. Đưa sản phẩm của trẻ tạo ra vào các hoạt động vui

    chơi, học tập.

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Giải Pháp Thực Hiện Chuyên Đề “xây Dựng Trường Mầm Non Lấy Trẻ Làm Trung Tâm”
  • Xây Dựng Môi Trường Văn Hóa Quân Đội
  • Tổng Kết 25 Năm Xây Dựng Môi Trường Văn Hóa Trong Quân Đội
  • Môi Trường Văn Hóa Quân Sự Với Việc Xây Dựng Nhân Cách Quân Nhân
  • 25 Năm Xây Dựng Môi Trường Văn Hóa Trong Quân Đội
  • Các Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Hs Dtts

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Thi Công Điện Nhẹ Trong Xây Dựng 2022
  • Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Phân Biệt Áp Giải Với Dẫn Giải
  • Cách Hiểu Đúng Về “áp Giải” Và “dẫn Giải” Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Hiện Hành
  • Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2022
  • hằm phát triến các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Việt, bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt cho học sinh. Động viên khích lệ phong trào thi đua học tốt môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiếu số, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung. Giúp học sinh dân tộc thiếu số có cơ hội giao lưu, học hỏi kinh nghiệm học tập tôt môn tiêng Việt ở cấp tiểu học. Học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp, ứng xử bằng tiếng Việt được thông thạo.

    dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh theo kế họach đã điều chỉnh cần phải tổ chức dạy 2 buổi/ngày. Mặc dù phòng học còn thiếu nhưng nhà trường đã sắp xếp ưu tiên có đủ phòng để học 2 buổi/ ngày (07 buổi/tuần) để dạy học tăng cường tiếng Việt cho HS theo kế hoach đã điều chỉnh và ôn tập, củng cố kiến thức cho HS. Trong đó tập trung ôn tập cho HS chưa hoàn thành, đẩy mạnh hoạt động các phong trào; duy trì sĩ số nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

    Thực hiện kế hoạch số 43/KH-UBND ngày 28/3/2017 của UBND huyện Phú Thiện về việc thực hiện mô hình bán trú, 2 buổi/ngày của giáo dục phổ thông theo đặc thù huyện Phú Thiện, giai đoạn 2022 – 2022. Theo đó, nhà trường đã tổ chức mô hình bán trú theo đặc thù của huyện.

    Năm học 2022-2018 có 84 HS và năm học 2022-2019 có 110 HS ăn trưa bán trú tại trượng. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhà trường đã làm tốt công tác bán trú. HS DTTS được học 2 buổi/ngày để củng cố kiến thức và . Tỷ lệ HS bỏ học trong 2 năm qua đã giảm, năm học 2022-2019 đến thời điểm này chưa có HS bỏ học; Chất lượng môn Tiếng việt đã được nâng lên.

    tạo ra một môi trường thân thiện, thoải mái, hấp dẫn thu hút HS tham gia vào các hoạt động của thư viện, nhà trường xây dựng “Thư viện xanh” nhằm xây dựng thói quen đọc sách, tăng cơ hội tiếp cận sách, tiếp cận thông tin, phát triển khả năng tìm kiếm thông tin, rèn kỹ năng đọc hiểu tiếng Việt, góp phần hỗ trợ học tốt môn Tiếng Việt.

    1.5. Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục

    Trong 2 năm học, thực hiện kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho HS DTTS, nhà trường đã vận động CB,GV,NV tham gia hỗ trợ ngày công để phục vụ và quản lý HS ăn, nghỉ trưa và trồng rau sạch cung cấp đủ rau sạc cho bếp bán trú để tăng thêm khẩu phần ăn của HS đảm bảo đủ chất dinh dưỡng.

    Năm học 2022-2019, Trường Tiểu học Kpă Klơng đã rất cố gắng trong công tác xã hội hóa để tổ chức bữa ăn cho học sinh đảm bảo chất lượng. Trong đó Đạo tràng Thiền thất Hạnh Nguyện TP HCM đã hỗ trợ 1300 kg gạo, 60 lít dầu ăn, 30 lít tương và 60 kg đường.

    Mọi sự hỗ trợ của cá nhân, tổ chức đều được công khai minh bạch để tất cả các thành viên trong đơn vị, phụ huynh học sinh và nhân dân được biết.

    2. Kết quả đạt được

    Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, các ngành, các tổ chức, cá nhân, phụ huynh HS và tinh thần nhiệt tình trách nhiệm, tấm lòng thương yêu HS của đội ngũ GV trong trường đã khích lệ thái độ học tập của HS, các em có sự tương thân tương ái, tinh thần đoàn kết, coi trường là nhà. Tỷ lệ HS đi học chuyên cần tăng hơn so với kỳ I năm học trước. Đến tại thời điểm này, nhà trường chưa có HS bỏ học. So với KHI năm học trước giảm 01 HS bỏ học.

    Chất lượng giáo dục đại trà của nhà trường đã được nâng lên.Thông qua các hoạt động giáo dục HS đã có nhiều tiến bộ đặc biệt là HS DTTS chất lượng môn Tiếng Việt đã được nâng lên; HS tích cực tham gia hoạt động tập thể của trường, khả năng giao tiếp của các em mạnh dạn hơn, bước đầu các em đã tự tin hơn trong giao tiếp. Chất lượng 2 môn Toán và Tiếng Việt HKI năm học 2022-2019 như sau:

    3. Bài học kinh nghiệm

    – Thường xuyên làm tốt công tác tham mưu với chính quyền địa phương trong việc thực hiện kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến năm 2025 như huy động và duy trì sĩ số học sinh, đảm bảo an ninh học đường và công tác bán trú theo đặc thù của huyện.

    – Xây dựng kế hoạch điều chỉnh nội dung chương trình dạy học, soạn giảng tăng cường Tiếng Việt cho học sinh DTTS; phát huy nội lực, chủ yếu là tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt tình và sự quan tâm chăm sóc, giáo dục học sinh như chính con mình của đội ngũ CB,GV,NV trong trường.

    – Làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các đơn vị đứng chân trên địa bàn làm tốt công tác bảo vệ cơ sở vật chất, hỗ trợ kinh phí để xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp và tặng quà động viên kích lệ HS chăm chỉ trong học tập.

    – Xây dựng niềm tin trong nhân dân và cộng đồng để huy động được cộng đồng, đặc biệt là cha mẹ học sinh chăm lo cho công tác giáo dục của nhà trường.

    – Phát huy tính hiệu quả các nguồn đóng góp và hỗ trợ, chứng minh cho mọi người thấy những sự đóng góp đó được nhà trường sử dụng đúng mục đích và hiệu quả trong việc xây dựng nhà trường và giáo dục HS.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Sử Dụng Tiết Kiệm Điện Năng
  • Vì Sao Phải Tiết Kiệm Điện Năng? Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Hiệu Quả?
  • Các Biện Pháp Cơ Bản Để Sử Dụng Tiết Kiệm Điện Năng?
  • Giải Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Trong Gia Đình
  • Các Biện Pháp Sử Dụng Tiết Kiệm Điện Năng Trong Gia Đình
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Độ Tuổi 5
  • Máy Lạnh Âm Trần Hàng Việt Nam
  • 5 Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Trong Năm 2012
  • Lựa Chọn Và Giải Pháp Nào Cho Nền Kinh Tế Xanh Việt Nam? (Phần I)
  • 2 Kịch Bản Và Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Thời Corona
  • Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông.

    Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở các bậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt. Việc phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học hàng ngày trên lớp.

    Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình .vv. Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngoài những hình ảnh ” chụp ” được từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong những trường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩ của mình. Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác hay không ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từ trường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ.

    Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ để trao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày.

    MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG 1 1.Mở đầu 1 2 1.1 .Lý do chon đề tài 1 3 1.2.Mục đích nghiên cứu 2 4 1.3.Đối tượng nghiên cứu 2 5 1.4. Phương pháp nghiên cứu 2 6 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3 7 2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 8 2.2. Thực trạng vấn đề 4 9 2.3. Các biện pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm 7 10 2.4.Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 16 11 3. Kết luận, kiến nghị 17 12 3.1.Kết luận 17 13 3.2. Kiến nghị 18 1.Mở đầu 1.1. Lý do chọn đề tài: Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông. Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở các bậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt. Việc phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học hàng ngày trên lớp. Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình.vv. Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngoài những hình ảnh " chụp " được từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong những trường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩ của mình. Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác hay không ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từ trường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ. Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ để trao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày. Năm học 2022-2018 nhà trường phân công tôi đứng lớp 4-5 tuổi với 100% trẻ là người dân tộc thiểu số (dân tộc mường). khả năng giao tiếp và sử dụng Tiếng Việt của trẻ còn hạn chế, môi trường Tiếng Việt của trẻ chỉ thu gọn trong trường lớp mầm non vì vậy để chuẩn bị tốt khả năng sử dụng Tiếng Việt cho trẻ giúp trẻ phát âm thành thạo lưu loát thì cần chuẩn bị tốt Tiếng Việt ban đầu cho trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo ở trẻ bằng các phương pháp giáo dục như: Qua trò chuyện, quan sát đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua dạo chơi ngoài, qua chơi hoạt động góc, qua hoạt động vui chơi mọi lúc mọi nơi giúp trẻ học tập có hiệu quả thông qua các thủ thuật lôi cuốn, gây hứng thú trẻ, lôi cuốn trẻ đảm bảo cho trẻ tự tin không lo lắng khi học Tiếng Việt. Chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề rất thiết thực trong giảng dạy trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số hiện nay nói chung và lớp mẫu giáo 4-5 tuổi (Thôn Muốt) Trường Mầm Non Cẩm Thành nói riêng. Chính vì vậy muốn nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ cần phải chuẩn bị tốt Tiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non. Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi có nguồn Tiếng Việt tốt để bước vào lớp lớn và các lớp học sau này tôi đã lựa chọn đề tài: " Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi" 1.2. Mục đích nghên cứu: Bởi việc dạy trẻ biết nói Tiếng Việt là nội dung hết sức quan trọng trong nội dung giáo dục mầm non. Phát triển ngôn ngữ là một trong 5 lĩnh vực của giáo dục: phát triển thể chất, phát triển quan hệ tình cảm xã hội, phát triển nhận thức, phát triển thẩm mỹ và phát triển ngôn ngữ. Vì vậy từ khi trẻ học ở trường mầm non giáo viên phải có nhiệm vụ xây dựng vốn ngôn ngữ ban đầu cho trẻ. Tôi nhận thức rõ sự khác nhau về khả năng diễn đạt ngôn ngữ giữa trẻ này với trẻ khác để khi rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ dân tộc đạt kết quả tốt nhất, tập cho trẻ nói đúng Tiếng Việt giáo viên phải có những phương pháp phù hợp với từng độ tuổi, từng trường, từng vùng địa phương. Khi nghiên cứu đề tài này tôi thực sự muốn trao dồi về ngôn ngữ và khả năng nói Tiếng Việt thành thạo, lưu loát cho trẻ để giúp trẻ phát triển toàn diện. 1.3. Đối tượng nghiên cứu: Tổng hợp một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi. Nhằm tăng cường nguồn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, để trẻ có thể học tập và giao lưu, giao tiếp hằng ngày lưu loát bằng Tiếng Việt thứ tiếng chung của quốc gia. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Phương pháp này bản thân đã dựa vào tài liệu tham khảo để làm cơ sở lý thuyết để nghiên cứu. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Khi nghiên cứu đề tài này bản thân đã điều tra và khảo sát thực tế về đối tượng trẻ và thực tế lớp đang trực tiếp giảng dạy. Phương pháp thống kê: Từ những phương pháp trên tôi đã thống kê và mô tả lại thực trạng, đưa ra hướng giải quyết vấn đề trong qua trình nghiên cứu. 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm Ngày 2 tháng 6 năm 2022, Thủ tướng chính phủ phê duyệt quyết định số 1008/QĐ-TTg về đề ắn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến 2025". Thực hiện Quyết định số 1682/QĐ-UBND ngày 23/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án "Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2022-2020, định hướng đến 2025". Phòng Giáo dục đã tham mưu QĐ số 900 ngày 22 tháng 06 năm 2022 kèm theo kế hoạch thực hiện giai đoạn 2022-2020, định hướng đến 2025" đến từng địa phương để thực hiện và nhà trường đã cụ thể hóa QĐ theo giai đoạn và từng năm học cụ thể tại nhà trường. Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số, cho thấy việc làm quen Tiếng Việt và chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số có tác động rất lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này. Muốn phát triển kỹ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việt theo cô, trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua chơi hoạt động góc, chơi ngoài trời, hoạt động vui chơi mọi lúc, mọi nơi ... Là vô cùng quan trọng nhưng hình thành như thế nào đây mới thật là điều không phải dễ. Trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu bắt đầu học Tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt. Môi trường giáo tiếp Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trường lớp mầm non). Việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất là sự giáo thoa ngôn ngữ giữa tiếng mẹ đẻ với Tiếng Việt. Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ cũng ảnh hưởng tới việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số. Sự khác biệt về điều kiện sống của các dân tộc thiểu số có tác động nhất định đối với việc học Tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số. Một số dân tộc sống ở khu vực gần nơi có nhiều người Kinh sinh sống, Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc trong cộng đồng đó nên việc học Tiếng Việt của trẻ có nhiều thuận lợi. Một số dân tộc sống ở vùng sâu, điều kiện sống tách biệt, hoặc khu vực chỉ có một dân tộc thuần túy, không có nhu cầu giao tiếp giữa các dân tộc với nhau và Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ giao tiếp chung trong cộng đồng, chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp nên trẻ em ở môi trường này chỉ có duy nhất kinh nghiệm ngôn ngữ trong phạm vi tiếng mẹ đẻ. Ngoài ra, do đời sống kinh tế còn khó khăn, đại bộ phận các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu các phương tiện thông tin như máy thu thanh, vô tuyến truyền hình, sách báo... trình độ văn hóa của các bậc cha mẹ còn thấp, một bộ phận không biết đọc, biết viết nên khi ở nhà trẻ em ít có cơ hội giao tiếp với những người thân trong gia đình và cộng đồng bằng Tiếng Việt. Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt, ít có môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt. Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động chơi, trò chuyện hàng ngày và thậm chí ngay cả trong môi trường học tập. Do đó, trẻ em dân tộc thiểu số sẽ không có vốn Tiếng Việt ban đầu cần thiết để học tập bằng Tiếng Việt ở trường phổ thông nếu không được chuẩn bị Tiếng Việt Tiếng Việt rất qua trọng đối với người dân Việt Nam. Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số. Song thực tế hiện nay đa số trẻ vúng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở trong thôn bản nhỏ trong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ, trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng Việt và cơ sở giáo dục khác. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. 2.2.1.Thuận lợi Được sự quan tâm của sở giáo dục và phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấn chuyên đề " Hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục mầm non" Dưới sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường về chuyên môn, xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non tạo mọi điều kiện giúp tôi những tài liệu dạy học, nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi dạy học. Được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đến giáo dục mầm non đã từng bước chăm lo cho cơ sở vật chất nhà trường, cho lớp học tai địa phương. Đặc điểm của lớp tôi được phân công phụ trách: Lớp mẫu giáo 4-5 tuổi của tôi phụ trách tại thôn Muốt xã Cẩm thành Thuộc điểm lẻ của trường mầm non Cẩm Thành. Lớp học ở tại khu trung tâm thôn Muốt nên thuận lợi cho việc đưa đón trẻ đến lớp . Bản thân luôn tâm huyết với nghề, yêu trẻ như con của mình . 2.2.2. Khó khăn Cẩm Thành là một xã vùng cao đời sống kinh tế xa hội còn gặp nhiều khó khăn và đặc biệt là lớp tôi trực tiếp giảng dạy là một lớp điểm lẻ. Địa bàn sinh sống của toàn người dân tộc Mường và đặc biệt lớp tôi phụ trách 100% trẻ là người dân tộc Mường vì vậy khả năng truyền thụ bài học bằng ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ là một điều đặc biệt khó khăn. Ngay cả người lớn cũng vậy việc phát âm chuẩn tiếng phổ thông cũng gặp những khó khăn. Ví dụ: Cán bộ thôn, bản là người dân tộc mường trong các cuộc họp đang triển khai bằng tiếng phổ thông là tiếng kinh cho mọi người nghe nhưng có những đoạn khó diễn đạt thì ông cán bộ đó lại sử dụng bằng tiếng địa phương của mình là tiếng mường. Hay có những người dân tộc đang giao tiếp bằng tiếng phổ thông lại nói lẫn cả tiếng dân tộc. Vì đa số chưa phát âm chuẩn tiếng phổ thông dẫn đến phát âm lẫn lộn, chưa rõ ràng làm cho người nghe hiểu sai lệch về nội dung diễn đạt. Điều này làm ảnh hưởng đến cách diễn đạt ý của trẻ, vì thế cần rèn luyện khả năng phát âm chuẩn, nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ từ độ tuổi mẫu giáo là việc làm hết sức cần thiết. 2.2.3. Kết quả thực trạng như sau Từ những nguyên nhân hạn chế trên trên tôi thấy việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ còn hạn chế. Trẻ chưa thực sự hứng thú với hoạt động do giáo viên tổ chức vì trẻ còn ngại giao tiếp. Các Trẻ dân tộc mường chưa nói rõ tiếng kinh, khi đến trường đến lớp giao tiếp cùng cô giáo, cùng bạn bè bằng tiếng phổ thông vẫn bị lẫn những câu bằng tiếng mường. Trẻ giao tiếp bằng tiếng phổ thông chủ yếu bằng mấy câu xã giao còn những điều cần diễn đạt hơi khó một chút trẻ lại sử dụng bằng tiếng địa phương của mình. Ví dụ: Điện sáng trẻ nói "điện cháy". Thịt gà - trẻ gọi - "canh". Con Trâu- trẻ gọi con tru. Khi nói không những trẻ sử dụng tiếng địa phương mà khi phát âm trẻ còn phát âm ngọng, phát âm sai, ví dụ: Cô Thảo - trẻ gọi - Cô sảo; Cô Thơm - trẻ gọi - Cô Sơm. Bên cạnh đó trong quá trình học tập vui chơi và giao tiếp với mọi người trẻ thường nói lẫn dấu hỏi (?) sang dấu ngã (~), hoặc dấu (~) sang dấu (?), chữ S thành chữ Th, ví dụ: Con thỏ - trẻ gọi - Con sỏ; Con Lợn - trẻ gọi - Con cùnvv. Có nhiều cháu muốn nói lên ý kiến của mình cháu thường lúng túng trong khi diễn đạt ý của mình. Đấy chỉ là một trong một trong số rất nhiều ví dụ mà tôi muốn đưa ra. Cụ thể hơn tôi đã khảo sát thực trạng sử dụng Tiếng Việt và hiểu Tiếng Việt lớp tôi phụ trách như sau: Kết quả khảo sát TT Tiêu chí Tổng số trẻ kết quả khảo sát Tốt Khá TB Yếu 1 Trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt 13 2 = 15,4% 4=30,8% 5=38,5% 3=23,1% 2 Trẻ có thể nói và nghe được các câu bằng Tiếng Việt 13 3 = 23,1% 3 =23,1% 5=38,5% 3=23,1% 3 Trẻ biết sử dụng Tiếng Việt thường xuyên trong giao tiếp 13 2 =15,4% 3= 23,1% 4=30,8% 4=30,8% Qua thực trạng khảo sát trên bản thân tôi thấy ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ. Nó không chỉ ảnh hưởng trong học tập về nhận thức cho trẻ mà còn ảnh hưởng trong quan hệ xã hội tác động đến trẻ rất nhiều. Ngôn ngữ Tiếng Việt còn là phương tiện thể hiện tình cảm, thái độ ước mơ và nhu cầu giao tiếp của trẻ. Nhu cầu giao tiếp, mong muốn được nói chuyện với người xung quanh ở trẻ có từ rất sớm, vì vậy giáo viên phải khuyến khích trẻ thực hiện những mong muốn đó. Chỉ có ở trường mầm non trẻ mới được những chuẩn mực về ngôn ngữ mà cô giáo cũng là người trực tiếp cung cấp các vốn từ và uốn nắn cho trẻ chuẩn mực trong phát âm Tiếng Việt. Để khắc phục vấn đề còn vướng mắc trong thực hiện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt trong hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp một số nội dung, phương pháp nói đúng Tiếng Việt cho trẻ. 2.3. Các biện pháp thực hiện. 2.3.1. Biện pháp 1: Xác định nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Qua nghiên cứu bản thân tôi đã căn cứ vào nội dung giáo giục phát triển ngôn ngữ trong chương trình GDMN Nội dung cụ thể theo độ tuổi trong chương trình GDMN và tùy thuộc vào khả năng cụ thể của trẻ lớp tôi đang trực tiếp phụ trách. Tôi dựa vào chuyên đề hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Tôi luôn chú ý đến khả năng nghe nói Tiếng Việt đối với nhóm lớp. Khả năng nghe của trẻ. Nghe các từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động các từ chỉ biểu cảm, từ chỉ khái quát. Nghe lời nói trong giao tiếp hằng ngày. Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi. Khả năng Nói: Phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các kiểu câu khác nhau. Sử dụng đúng từ ngữ trong câu giao tiếp hằng ngày. Trả lời và đặt câu hỏi. Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện. Lễ phép và tự tin trong giao tiếp. Nội dung tăng cường Tiếng Việt được tích hợp phù hợp với các nội dung giáo dục của các lĩnh vực phát triển. 2.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng cách trò chuyện với trẻ Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt, diễn đạt câu còn vụng về, thiếu ý để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp mẫu giáo lớn và các cấp học được tốt. Là người giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đứng lớp 4-5 tuổi tôi luôn trăn trở suy nghĩ sau khi tìm hiểu thực trạng và trên cở sở lý thuyết tôi đã thử nghiệm một số thực trạng trên như sau: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ bằng cách trực tiếp trò chuyện với trẻ để tạo cho trẻ sự gần gũi thân thiết. Thực tế cho ta thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngay từ những buổi đầu trẻ đến lớp cô luôn ân cần gần gũi trò chuyện giao tiếp hỏi trẻ các câu hỏi hàng ngày trẻ thường va chạm hoặc cho trẻ quan sát các hình ảnh, đồ dùng, đồ chơi trong lớp để rèn Tiếng Việt cho trẻ. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn Tiếng Việt bằng phương châm " Mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả, Ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc cho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa? Ăn bao nhiêu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việc Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Ở Lớp Lá
  • Cty Cp Giải Pháp Siêu Việt
  • Công Ty Vds Chuyên Sản Xuất Các Sản Phẩm Như Hệ Thống Xếp Hàng Tự Động, Bảng Điện Tử, Màn Hình Led…
  • Đề Án Giải Pháp Đầu Ra Cho Thị Trường Nông Sản Việt Nam
  • 8 Giải Pháp Thúc Đẩy Sản Xuất Và Tiêu Thụ Nông Sản Năm 2022
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Thanh Hóa
  • Giải Pháp Cho Ngành Công Nghiệp Dệt May Việt Nam
  • Phát Triển Ngành Dệt May Việt Nam Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Tuyển Dụng Kế Toán Trưởng Tại Công Ty Cp Giải Pháp Bao Bì Thông Minh Việt Nam (Sps)
  • Học sinh là người dân tộc thiểu số vốn dĩ rất nhút nhát, ngại giao tiếp với bạn bè người Kinh và thầy cô giáo. Nhiều em khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng và im lặng vì hoặc là không hiểu được câu hỏi hoặc là không tự tin với những câu trả lời bằng tiếng phổ thông của mình do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Trong khi chương trình sách giáo khoa quá tải, chưa thật sự phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số; giáo viên thì ôm đồm, “tham”, chạy đua với thời gian, tìm mọi cách để làm sao truyền đạt, chuyển tải hết những kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian của 1 tiết học. Do đó tiết học thường rơi vào tình trạng hối hả nhưng trầm lặng, nặng nề, khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều. Vì vậy, muốn tiết dạy đạt hiệu quả cần tạo ra một không khí thật nhẹ nhàng, hấp dẫn. Đây là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tất cả các Bậc học đặc biệt là bậc Mầm non.

    Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số, trường tiểu mẫu giáo Hoa Tang Bi đã có những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và nhiều giáo viên ở trường mẫu giáo Hoa Tang Bi đã áp dụng những phương pháp phù hợp tùy theo các môn học nhưng đều chú trọng đến những yếu tố vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học (chủ yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ sử dụng ngôn ngữ) như: Đọc thơ luyện phát âm cho trẻ…

    * Tạo điều kiện bồi dưỡng cho giáo viên học tiếng Êđê

    Cán bô, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có rất nhiều thuận lợi để học tiếng Êđê để phục vụ cho việc giao tiếp với trẻ, vì ở trường chiếm 50% là giáo viên người Êđê, tiếp xúc và trao đổi những câu từ đơn giản và thông dụng nhất, nhà trường cũng tạo điều kiện và khuyên khích chị em đi học lớp học tiếng Êđê và tìm hiểu thêm về bản sắc và phong tục tập quán của người Êđê.

    * Kết hợp với hội cha mẹ học sinh là người Êđê

    Nhà trường và Ban chấp hành hội phụ huynh cùng nhau kết hợp để tham gia tổ chức các phong trào của nhà trường cũng như của ngành đưa ra. Tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các khối lớp với nhau, tổ chức các ngày lễ hội như ngày 8/3, Gia đình dinh dưỡng trẻ thơ…để có dịp giao tiếp giữa cô trò và cả phụ huynh gần gũi thân mật, tự tin hơn.

    * Kết hợp với Ban tự quản thôn, Buôn, tổ dân phố

    Ban giám hiệu nhà trường cùng kết hợp với Ban tự quản, thôn, Buôn, tổ dân phố tổ chức họp dân trong Buôn để tuyên truyền rộng rãi các mặt hoạt động tổ chức của nhà trường và có ích cho nhân dân, như đưa con em đi học đầy đủ khi đến tuổi đi học, để trẻ nhanh tiếp xúc và giao tiếp với bạn bè ở trường bằng tiếng phổ thông, trẻ được học, được chơi sạch sẽ. Tham gia đầy đủ các phong trào của trường tổ chức cũng như của thôn, Buôn tổ chức.

    Thời gian hè đề nghị đoàn thanh niên của Buôn phải tổ chức những trò chơi có ích cho trẻ, được giao lưu học hỏi từ bạn bè, giao tiếp với bạn bè bằng tiếng phổ thông. Tạo sự mạnh dạn cho trẻ khi đi học tốt hơn, trẻ sẽ không bị nhút nhát hoặc kì thị phân biệt ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam Về Đưa Người Lao Động Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng
  • Một Số Định Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Ở Vn Hiện Nay
  • Bất Cập Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Hợp Đồng Ở Việt Nam, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải
  • Yêu Cầu Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Công Ty Luật Hợp Danh
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Độ Tuổi 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Máy Lạnh Âm Trần Hàng Việt Nam
  • 5 Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Trong Năm 2012
  • Lựa Chọn Và Giải Pháp Nào Cho Nền Kinh Tế Xanh Việt Nam? (Phần I)
  • 2 Kịch Bản Và Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Thời Corona
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Và Ứng Dụng Thẻ Việt Nam
  • Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết. Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu này của trẻ vùng dân tộc thiểu số, là giáo viên tôi luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng một giọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã tạo được tâm thế cho trẻ trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằng ngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần gũi, thật dễ hiểu đối với trẻ, giáo viên đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tác minh học phù hợp, để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô, tiếp đến tôi giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để giúp trẻ dễ hiểu, tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ theo tôi từng câu, tôi luôn đổi cách cho trẻ đọc thơ theo lớp tổ, nhóm, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thi đua nhằm tạo khí thế cho trẻ trong một giờ học thơ, còn đối với chuyện thì cần kể nhiều lần và đàm thoại theo trình tự nội dung câu chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các nhân vật trong chuyện, sau đó tôi tiến hành mời cháu khá lên kể lại chuyện cho cả lớp nghe, tôi không quên khuyến khích trẻ bằng một món quà hay thưởng bằng những tràng pháo tay động viên.

    Chính nhờ như vậy học sinh lớp tôi ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số của tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và tiếp tục áp dụng một số biện pháp khác để ngày nâng cao hiệu quả hơn.

    một ngày. Khi trẻ đã có một số vốn từ nhất định, mức độ tiếp thu ngôn ngữ của trẻ nhanh hơn thì cô giáo có thể dạy trẻ số từ nhiều hơn. Các từ được ôn luyện thường xuyên trong các hoạt động khác nhau, ngữ cảnh, ngôn ngữ khác nhau, trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi có khả năng học thông thạo được từ 600 đến 800 từ tiếng Việt trong một năm. Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, tuỳ theo điều kiện khả năng của từng lớp, từng trẻ để đưa ra các biện pháp tích cực như: Dạy tiếng Việt thông qua chữ cái, kể chuyện, đọc thơ và các hoạt động khác Việc lặp lại các từ chính là để trẻ nghe và ghi nhớ các câu, từ trong từng nội dung bức tranh. Ví dụ: Cô mời bạn Y' Nêpan đi tìm bức tranh có hình ảnh (người mẹ bế em bé )... Để trẻ làm quen với từ "Mẹ bế em bé". 2. Thực trạng Năm học 2022- 2022 toàn trường có 404 học sinh trong đó có 172 học sinh dân tộc thiểu số chiếm 42,5%. Với phần trăm học sinh dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao như vậy, nên lãnh đạo nhà trường đã gặp không ít khó khăn trong công tác triển khai và lên kế hoạch giảng dạy cho các lớp đặc biệt việc phân công giáo viên về đúng lớp tại các lớp có 100% học sinh là dân tộc thiểu số. * Về ưu điểm Được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Phòng GD& ĐT huyện Krông Ana, sự quan tâm chính quyền địa phương và lãnh đạo Nhà trường Mầm non Ea Na, nên phân hiệu buôn Tơ Lơ đã có cơ sở vật chất kiên cố, phòng học thoáng mát sạch sẽ, sân chơi rộng rãi, nhà trường đã đầu tư một số trang thiết bị trong công tác dạy và học. Bên cạnh đó, giáo viên yêu nghề mến trẻ, tận tụy với học sinh, hết lòng hết sức nuôi dạy trẻ. Đặc biệt là có sự cần cù chịu khó và tinh thần đoàn kết, giáo viên và sự phối kết hợp giúp đỡ từ phía Hội cha mẹ học sinh. Đã tạo cho trường Mầm non Ea Na yên tâm về mặt tinh thần và ổn định về cơ sở vật chất. Gây hứng thú cho trẻ hoạt động, có môi trường xanh- sạch- đẹp, tạo được môi trường đảm bảo các hoạt động trong lớp, giúp trẻ có đủ điều kiện để phát triển tiếng Việt. Bên cạnh những ưu điểm trên vẫn còn một số tồn tại như sau: Lớp lá 4 phân hiệu Buôn Tơ Lơ thuộc trường Mầm non Ea Na là vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn của xa Ea Na. Một số trẻ chưa học qua lớp mầm, chồi, đã học thẳng lên lớp lá như cháu Y- Hur Ayun, Y - Thum Niê, Y- Quy Bkrông chính vì vậy việc nghe và hiểu tiếng Việt của trẻ là rất khó khăn. Dân cư sống không tập chung, 100% là đồng bào dân tộc Êđê, việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ, do vậy làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục trẻ. Địa hình phức tạp việc đi đến lớp học của trẻ mầm non còn gặp nhiều khó khăn. Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm rẫy, một số phụ huynh chưa nhận thức được rõ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con em mình nó có tác dụng cần thiết như thế nào đối với việc nhận thức và hình thành nhân cách của trẻ. Mặt khác, một số phụ huynh không biết chữ, không được học qua trường lớp nào nên khả năng nhận thức của phụ huynh rất hạn chế dẫn đến không quan tâm đến việc học của con em mình. Phụ huynh không kết hợp với giáo viên để chăm lo việc học cho con em mình đạt kết quả tốt hơn Chính từ những khó khăn đó vào đầu năm học khi tôi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trong công tác dạy học ở lớp Lá 4, chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả thông qua các lĩnh vực thể hiện qua bảng kiểm tra đầu vào như sau: Lĩnh vực GD trẻ Trẻ không hiểu Trẻ hiểu Trẻ rất hiểu Phát triển ngôn ngữ 18/27 = 66,6% 6/27 = 22,2% 3/27 = 11,1% Phát triển nhận thức 16/27 = 59,2% 8/27 = 29,6% 3/27 = 11,1% Phát triển TC-XH 16/27 = 59,2% 7/27 = 25,9% 4/27 = 14,8% Phát triển thể chất 13/27 = 48,1% 9/27 = 33,3% 5/27 = 18,5% Phát triển thẩm mỹ 14/27 = 51,8% 10/27 = 37,0% 3/27 = 11,1% Nguyên nhân chủ quan dẫn đến kết quả trên: Do đầu năm cô vẫn chưa có phương hướng về công tác dạy trẻ làm quen tiếng Việt cho trẻ. Nguyên nhân khách quan: Do môi trường sống tạo ra, trẻ sống trong gia đình, thôn buôn 100% người dân dùng tiếng mẹ đẻ. Từ những ưu điểm, khuyết điểm, và nguyên nhân trên đã thôi thúc tôi cần có "Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số độ tuổi 5- 6 tuổi tại lớp Lá 4 trường Mầm non Ea Na". 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp - Hiểu được ngôn ngữ phổ thông. - Biết lắng nghe và phát âm đúng tiếng Việt. - Trẻ mạnh dạn tự tin giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng Việt b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt. Khi lên kế hoạch dạy trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt, trước hết tôi bám sát kế hoạch hoạt động của Nhà trường, trên cơ sở đó tôi xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình của lớp, lựa chọn nội dung cho trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt, nhẹ nhang, đi từ dễ đến khó phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Trước tiên để xây dựng được một kế hoạch tôi dựa trên kế hoạch giáo dục trẻ mầm non, bộ chuẩn phát triển trẻ 5- 6 tuổi, sau đó nhìn vào tình hình thực tế của nhà trường, của lớp để lựa chọn nội dung phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ mình. Khi lựa chọn giải pháp này, tôi phải theo dõi sự phát triển của từng trẻ trong tiết học, ở mọi lúc mọi nơi, để điều chỉnh các yêu cầu về hình thức luyện tập. Hệ thống câu hỏi, đàm thoại từng trẻ giúp trẻ không khó khăn trong việc lĩnh hội kiến thức. Xây dựng các góc hoạt động khác nhau trong lớp, có gắn các từ tiếng Việt nhằm tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng hơn. Để trẻ học tiếng Việt thực sự có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển ngôn ngữ giao tiếp. Ví dụ: Kế hoạch tổ chức cho trẻ làm quen tăng cường tiêng Việt cho trẻ 5- 6 tuổi. Cô cho trẻ làm quen tăng cường tiếng Việt thông qua tiết dạy thơ bằng cách cho trẻ đọc và phát âm chuẩn từng câu, từng từ trong bài thơ, cô cho trẻ đọc theo lớp, tổ, cá nhân, cô nhấn mạnh những từ khó hiểu và lồng ghép giải thích cho trẻ hiểu ý nghĩa của từ đó, như vậy sẽ giúp trẻ hiểu nhiều hơn ngôn ngữ tiếng Việt, từ đó giúp trẻ định hướng và hình dung được ý nghĩa của từ. Biện pháp 2: Tổ chức các tiết học làm quen tăng cường tiếng Việt nhẹ nhàng lôi cuốn trẻ. Mặt khác để góp phần đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non, giáo viên trực tiếp giảng dạy các cháu, tôi đã tổ chức họp tuyên truyền phụ huynh tích cực hợp tác với giáo viên, cùng thống nhất dạy tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Đặc biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng tiếng Việt giao lưu với trẻ thường xuyên. Giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng Việt một cách tự nhiên không gò bó. Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành động giúp cho người học tiếp thu có hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên hứng thú. Mục đích của phương pháp này nhằm giúp cho người học đạt được các mục đích như: hiểu và sử dụng ngôn ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ mới. Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện thành thạo được các hành động, để có thể tập trung lắng nghe chuẩn xác. Khi đã nghe rõ, hiểu, thuộc và tự tin làm đúng, trẻ sẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành với bạn của mình, giáo viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học. Chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gọn, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa hiểu tiếng việt. Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào sẽ sử dụng khi hướng dẫn trẻ. Nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ để ra hiệu cho trẻ hiểu ý đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy. Lúc đầu dạy từ 1- 2 từ dễ hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống... đến ngày hôm sau cô giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên- ngồi xuống, ngồi xuống- đứng lên, rửa tay- rửa chân Dạy tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện pháp này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở Ngoài ra, tôi còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học tiếng Việt qua kể chuyện, đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng minh hoạ. Hoặc trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng việt. Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái. Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với tiếng Việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với tiếng Việt. Cách gọi làm quen với tiếng Việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái. Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với tiếng Việt không chỉ là dạy trẻ phát âm, dạy trẻ tập tô 29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các chữ cái, các từ trong tranh, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong tiếng Việt. Có một số ít trẻ nói được tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của tiếng Việt. Vì vậy việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái. Ví dụ: Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ s -x chẳng hạn: Cô cho trẻ xem tranh " Hoa Sen xanh " cho trẻ đọc từ: Hoa sen xanh Trẻ nhận biết trong từ Hoa sen xanh có bao nhiêu tiếng ? Có mấy chữ cái ? Rồi cô ghép thẻ chữ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ đó. Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen s- x, tôi phân tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái s- x, cho trẻ phát âm chữ s- x nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái. Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua việc làm quen với chữ cái: Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái s- x trong từ "Hoa sen " Tôi viết bài thơ lên giấy Rô ki (mỗi tờ tranh đã được viết nôi nội dung một bài ), chia lớp thành 2 đội, mời đại diện của 2 đội lên dùng bút tìm và gạch chân chữ s- x có trong các từ trong mỗi câu thơ và đọc chữ cái gạch chân. Đội nào tìm và gạch chân được nhiều chữ s- x thì chiến thắng và được tuyên dương. Tôi còn cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như "Nối chữ cái với từ có chứa chữ cái đó ", "Tìm chữ cái trong đoạn thơ " Dạy trẻ phát âm tiếng Việt thông qua trò chơi tìm chữ cái theo yêu cầu của cô" Tăng cường tiếng Việt thông qua trò chơi gắn chữ cái trên đồ dùng, đồ chơi, "Xếp chữ cái bằng hột hạt ". "Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái "... Bên cạnh đó tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm thêm một số đồ dùng đồ chơi để cho trẻ được thực hành trải nghiệm. Tôi thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập phát âm tiếng Việt một cách chuẩn hơn. Từ đó cũng góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ. Qua một thời gian thực hiện, lớp tôi tiến bộ rõ rệt, trẻ hứng thú trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm đúng chữ cái do tôi cung cấp. Tôi tiến hành lên kế hoạch nghiên cứu và áp dụng việc cung cấp tiếng Việt vào các hoạt động như: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua môn văn học: Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết. Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc thiểu số rất hiếu động thời gian tập trung chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu này của trẻ vùng dân tộc thiểu số, là giáo viên tôi luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng một giọng nói lúc trầm lúc bổng để gây sự chú ý, khơi gợi tính tò mò của trẻ, đã tạo được tâm thế cho trẻ trước khi vào học tôi tiến hành đi vào giờ học chính bằng ngôn ngữ giới thiệu hấp dẫn từ ngữ thật gần gũi, thật dễ hiểu đối với trẻ, giáo viên đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm, phối hợp các động tác minh học phù hợp, để lôi cuốn trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô, tiếp đến tôi giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để giúp trẻ dễ hiểu, tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ theo tôi từng câu, tôi luôn đổi cách cho trẻ đọc thơ theo lớp tổ, nhóm, cá nhân, hay bạn nam và bạn nữ thi đua nhằm tạo khí thế cho trẻ trong một giờ học thơ, còn đối với chuyện thì cần kể nhiều lần và đàm thoại theo trình tự nội dung câu chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các nhân vật trong chuyện, sau đó tôi tiến hành mời cháu khá lên kể lại chuyện cho cả lớp nghe, tôi không quên khuyến khích trẻ bằng một món quà hay thưởng bằng những tràng pháo tay động viên. Chính nhờ như vậy học sinh lớp tôi ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số của tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và tiếp tục áp dụng một số biện pháp khác để ngày nâng cao hiệu quả hơn. Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Thực tế cho ta thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngoài những biện pháp nêu trên áp dụng có hiệu quả, tôi tiến hành cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua mọi lúc mọi nơi. Biệp pháp 3: Sử dụng phương tiện trực quan trong hoạt động làm quen tăng cường tiếng Việt. - Sử dụng công nghệ thông tin. Để đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của công nghệ thông tin mà ngành Giáo dục đặt ra, khi hoạt động Làm quen tăng cường tiếng Việt cần đầu tư sử dụng có hiệu quả, hơn nữa trẻ mầm non với đặc điểm tư duy trực quan hành động là chủ yếu, khả năng tập trung của trẻ còn ngắn và chưa bên vững nhưng trẻ rất hứng thú với các hình ảnh trực quan minh họa gây ấn tượng tá động đến mọi giác quan như: hình ảnh, âm thanh, màu sắc, sống động Vì thế, việc ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế và sử dụng giáo án điện từ, cài đặt và sử dụng một số phần mềm vui chơi, học tập đa dạng và phong phú. Sẽ kích thích hứng thú, sự tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định của trẻ vào bài giảng. Ví dụ: Cô cho tổ cho trẻ làm quen với từ "con vật sống trong rừng " qua chủ để thế giới động, cụ thể ở đây cô cho trẻ quan sát hình ảnh con "con voi, con sư tư, con nai " dưới hình ảnh cô có từ "con vật sống trong rừng ", cô sẽ tải hình ảnh video và dạy trẻ thông qua máy tính, từ hình ảnh trong đoạn video trẻ sẽ được lôi cuốn bởi những con vật mới lạ, ngộ nghĩnh, kích thích sự tò mò của trẻ, từ đó giúp tập trung trong giờ học, trẻ tiếp thu bài tốt hơn và có hiệu quả hơn, mặt khác thông qua đó trẻ không cảm thấy chán nản và mệt mỏi, mà giúp trẻ chú ý vào giờ học lâu hơn khả năng tiếp thu bài nhanh mà những đồ dùng dạy học khác không thể nào mang lại được. Ngoài việc sử dụng công nghệ thông tin cho việc minh họa cho một số bài dạy ở trên lớp, giáo viên còn thiết kế các bài dạy để có thể đàm thoại về nội dung tác phẩm hoặc cho trẻ thể hiện từng đoạn trong tác đề tài dạy tăng cường tiếng Việt. Biện pháp 4: Tích hợp tăng cường tiếng Việt vào các hoạt động khác trong ngày. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn tiếng Việt bằng phương châm "Mưa dầm thấm lâu " cho nên việc cung cấp ngôn ngữ tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả, ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc cho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa ? Ăn bao nhiêu cơm ? Ăn với thức ăn gì ? Con ăn có ngon không ? Hay tôi hỏi về gia đình trẻ: Nhà con có bao nhiêu người ? Con có em bé không ? Mẹ con làm nghề gì ?... Qua trò chuyện với trẻ như vậy. Giáo viên sẽ nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn tiếng Việt. Giờ chơi tự do tôi hay dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở các góc, giáo viên cần dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ phát âm chữ cái có trong tranh con vật, hoa, cây quả có từ mang chữ cái đang học, trẻ đọc qua nhiều lần như vậy. Trẻ dân tộc trường tôi phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn, bạn biết chỉ cho bạn chưa biết, hoặc mạnh dạn đến hỏi cô, từ đó trẻ không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi còn chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm các lớp cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Tạo không khí thân thiện, gần gũi giữa cô giáo và trẻ, vấn đề này đặc biệt cần thiết và không thể thiếu được đối với trẻ dân tộc thiểu số. Giờ vui chơi tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình, bên cạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trả lời không có trọng tâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số 4
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việc Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Ở Lớp Lá
  • Cty Cp Giải Pháp Siêu Việt
  • Công Ty Vds Chuyên Sản Xuất Các Sản Phẩm Như Hệ Thống Xếp Hàng Tự Động, Bảng Điện Tử, Màn Hình Led…
  • Đề Án Giải Pháp Đầu Ra Cho Thị Trường Nông Sản Việt Nam
  • Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Một Số Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Thông Tin, Dữ Liệu Của Vks Hai Cấp Tỉnh Quảng Ngãi
  • Giải Pháp Thi Công Xây Dựng Đảm Bảo An Toàn Lao Động
  • Hướng Dẫn Thi Công Lắp Đặt Cột Đèn Chiếu Sáng Đạt Tiêu Chuẩn
  • #9+ Dụng Cụ Bảo Vệ Và Các Biện Pháp An Toàn Điện
  • Các Biện Pháp Phòng Ngừa An Toàn Khi Làm Việc Với Bàn Ủi (7 Ảnh): Các Quy Tắc Sử Dụng Thiết Bị Điện Để Ủi Đồ An Toàn
  • “Trẻ em như búp trên cành”, như những mầm non nhỏ bé cần được che chở và bao bọc. Chúng chưa có khả năng tự bảo vệ bản thân khỏi những nguy hiểm xung quanh mình. Chính vì vậy, các cơ sở mầm non cần đảm bảo cho các bé được sống trong một môi trường an toàn cả về sức khỏe, tinh thần và tính mạng. Nhà trường cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ trẻ một cách tốt nhất.

    Trường mầm non được đánh giá là môi trường học tập khá an toàn cho trẻ. Tuy nhiên, sự an toàn này chỉ mang tính chất tương đối bởi bất cứ tình huống nào cũng có thể bất ngờ xảy ra. Chúng ta cần ý thức được điều đó và phải chuẩn bị để sẵn sàng ứng phó trong mọi trường hợp.

    Đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non là chúng ta đang đáp ứng quyền lợi chính đáng của trẻ. Chúng cần được học tập và vui chơi một cách lành mạnh, an toàn dưới sự giám sát và hướng dẫn của đội ngũ giáo viên cũng như của toàn thể nhà trường. Bên cạnh đó, uy tín của nhà trường có được giữ vững và củng cố hay không cũng còn phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm của nhà trường đối với các em học sinh của chính họ. Vì thế, đừng xem nhẹ vấn đề này mà hãy thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ và hiệu quả bằng mọi biện pháp.

    2. Chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo về đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non

    Theo chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo đối với bậc giáo dục mầm non, các đơn vị mầm non cần thực hiện các yêu cầu:

    • Tiến hành các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.
    • Xây dựng môi trường học tập thân thiện, đảm bảo cho trẻ được an toàn tuyệt đối cả về thể chất lẫn tinh thần.
    • Kiểm tra cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ chơi, đồ dùng một cách thường xuyên. Phát hiện kịp thời và chỉ đạo khắc phục nhanh chóng các yếu tố có nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ khi chúng tham gia các hoạt động tại trường, lớp.
    • Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe.
    • Quản lý và nâng cao chất lượng các bữa ăn bán trú tại trường mầm non. Thực hiện chế độ ăn cấn đối, hợp lý, đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu cho từng nhóm tuổi của các bé.
    • Kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc của các loại thực phẩm dùng chế biến bữa ăn cho trẻ, thực hiện nghiêm túc các quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại các bếp ăn trường mầm non.

    3. Biện pháp đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non

    a. Nguyên nhân xảy ra tai nạn, thương tích tại trường mầm non

    • Do sự giám sát, trông nom của giáo viên còn hời hợt, thiếu trách nhiệm nên trẻ có cơ hội tiếp xúc với các yếu tố gây nguy hiểm.
    • Do cơ sở vật chất chưa đảm bảo an toàn, cầu thang, ban công không có thanh chắn, trẻ hiếu động trèo lên lan can, ban công ngã

    b. Nguyên tắc đảm bảo an toàn cho trẻ

    • Tạo môi trường học tập và vui chơi lành mạnh.
    • Xây dựng cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn an toàn theo quy định.
    • Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với các thiết bị, đồ dùng dễ gây nguy hiểm.
    • Đào tạo đội ngũ giáo viên, công nhân viên về vấn đề giáo dục, hướng dẫn và đảm bảo an toàn cho trẻ.

    c. Các biện pháp đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non

    – Phòng tránh tai nạn ở ban công, cầu thang:

    • Giường, cũi, bàn ghế hay các thiết bị học tập phải được thiết kế chắc chắn, đạt chuẩn.
    • Đồ chơi phải đúng quy cách, an toàn, không sắc nhọn, hư hỏng, gãy vỡ,..
    • Không cho trẻ tiếp xúc trực tiếp với dao, kéo, đồ vật sắc nhọn,…
    • Tránh trường hợp trẻ bị hóc, sặc ở đường thở bởi các vật như đồng xu, ốc vít, cúc áo, cháo, bột,…hoặc bị chăn, gối bịt đường thở khi đang ngủ.
    • Cửa phải có song chắn
    • Cầu thang thấp, có tay vịn, độ dốc đạt yêu cầu.
    • Sàn nhà hay lối đi phải bằng phẳng, không trơn trượt, khuyến khích trải thảm cỏ nhân tạo thay vì nền gạch hay xi măng để trẻ không bị va đập, trầy xước.

    Tại sao lắp lưới an toàn cầu thang cho các trường mầm non

    Tại các trường học mầm non, việc lắp lưới an toàn cầu thang và lưới chắn các khung cửa sổ là điều nên thực hiện. Nó không làm che đi quá nhiều tầm nhìn của trẻ nhỏ. Nhưng lại đảm bảo được các sự cố về ngã lộn từ trên cao xuống. Cũng như tình huống bị chui đầu qua song lan can.

    Hầu như, các vị trí bé có nguy cơ bị rơi từ trên cao xuống đều nên thực hiện lắp đặt lưới an toàn này. Bạn cần lưu ý rằng, trong trường mầm non thường một cô phải trông đến 7 – 10 em nhỏ, các bé thì thường rất hiếu động nên dù các cô có cẩn thận đến mấy cũng không thể tránh được việc sơ sẩy trong vài phút.

    Vậy nên điều các bậc phụ huynh khi đến thăm quan tìm hiểu trường mầm non để cho con theo học thì trước tiên họ sẽ nhìn cơ sở vật chất xem có đảm bảo an toàn để dù họ không có mặt ở trường thì con họ cũng luôn được bảo vệ không?

    Khi có lưới chắn cầu thang và các ô thoáng. Các bậc phụ huynh sẽ yên tâm hơn nhiều vì Con họ được bảo vệ kể cả khi không được quan sát liên tục. Ngay cả khi bé hiếu kỳ chạy ra bên ngoài thì nguy cơ rơi từ trên cao xuống dưới để ảnh hưởng đến tính mạng thấp hơn rất nhiều.

    Lắp lưới an toàn như thế nào phù hợp với trường mầm non?

    Có vài ba cách lắp đặt lưới cho khu cầu thang cũng như khu cửa sổ lớp học ở trường mầm non. Tuy nhiên, an toàn nhất thì siêu thị lưới an toàn HT xin khuyến khích các bạn lắp loại cáp dạng đứng. Phủ toàn bộ không gian của giếng trời.

    Các sợi cáp được gắn trực tiếp vào bậc cầu thang. Như vậy nó mới ép chặt lan can một cách tốt nhất.

    Lưới an toàn cáp inox 304 tại siêu thị lưới an toàn HT có khả năng chịu tải khoảng 90kg. Ngoài ra, do khoảng cách giữa các sợi cáp ở mức từ 5cm đến 10cm nên việc lắp đặt loại lưới này đảm bảo tuyệt đối trẻ không gặp phải nguy hiểm khi chơi đùa.

    Lắp lưới an toàn sẽ tránh được việc rơi ngã, đồng thời cũng phân nhỏ các khe hở song lan can. Trẻ sẽ không thể đưa đầu lọt qua lan can được nữa.

    Mặt khác, vì các sợi cáp được bọc ngoài bởi lớp nhựa PE trong suốt nên sự xuất hiện của loại lưới này không hề khiến không gian trường trở nên bí bách, hay tù túng.

    • Siêu thị lưới an toàn ban công chúng tôi cam kết mang lại cho khách hàng sản phẩm tốt nhất, lưới ban công giá cạnh tranh nhất so với thị trường.
    • Lưới của chúng tôi là loại lưới cap inox 304 siêu bền, siêu tải trọng được sản xuất đạt tiêu chuẩn ISO
    • Cam kết sản phẩm đạt tiêu chuẩn về chất lượng và thẩm mỹ cho ngôi nhà của bạn
    • Lắp đặt lưới an toàn ban công nhanh chóng, chuyên nghiệp, chưa đầy 24h sau khi nhận được yêu cầu chúng tôi sẽ tiến hành lắp đặt hoàn thành sản phẩm cho bạn.
    • Hiện nay, chúng tôi đang có chương trình ưu đãi giảm giá làm lưới an toàn khi lắp cùng giàn phơi thông minh. Quý khách liên hệ ngay đến số hotline để được hưởng mức ưu đãi tốt nhất.

    Siêu thị lưới an toàn ban công chúng tôi chuyên cung cấp các loại lưới an toàn ban công cho trường học, chung cư, nhà riêng của các hãng nổi tiếng trên thị trường hiện nay với chất lượng đảm bảo giá cả cạnh tranh nhất thị trường.

    Ngoài lưới an toàn ban công, chúng tôi còn cung cấp các sản phẩm giàn phơi thông minh nhập khẩu chính hãng từ Nhật Bản, Hàn Quốc như giàn phơi thông minh Hòa Phát , giàn phơi Sankaku, Giàn phơi Kosi với giá cả cạnh tranh nhất thị trường.

    Đặc biệt khi lắp đặt combo lưới an toàn và giàn phơi quý khách sẽ được hưởng mức triết khấu cao nhất.

    Siêu thị giàn phơi thông minh & lưới an toàn ban công HT

    Quý khách có nhu cầu lắp lưới bảo vệ ban công, lưới bảo vệ lan can cho trường học, chung cư, công ty, hoặc lắp giàn phơi thông minh. Hãy liên hệ với chúng tôi qua số Hotline

    Địa chỉ: 108 Nguyễn Đức Cảnh, Hoàng Mai, Hà Nội.

    Điện thoại: 0966.847.449 – Hotline: 0888.808.459

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chăn Nuôi An Toàn Sinh Học: Giải Pháp Hữu Hiệu Phòng, Chống Dịch Bệnh
  • Giải Pháp Phát Triển Chăn Nuôi: An Toàn Sinh Học
  • Chăn Nuôi An Toàn Sinh Học
  • Các Biện Pháp An Toàn Sinh Học
  • Tái Đàn Lợn Cần Có Kiểm Soát Và Áp Dụng Các Biện Pháp An Toàn Sinh Học
  • 8 Biện Pháp Phòng Chống Tai Nạn Thương Tích Cho Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Tiếp Tục Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Làm Sao Để Học Sinh, Sinh Viên Tham Gia Giao Thông An Toàn?
  • Giải Pháp Nào Nhằm Đảm Bảo An Toàn Cho Giao Thông Việt Nam ?
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 4C Thực Hiện Tốt An Toàn Giao Thông Đường Bộ
  • Nghiêm Túc Thực Hiện 8 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non

    Tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến di chứng tàn tật suốt đời hay thậm chí là tử vong ở trẻ nhỏ, không chỉ gây ra những đau đớn về thể xác mà nó còn khiến tinh thần của trẻ bị tổn thương. Đa phần, các trường hợp này xảy ra là do sự bất cẩn, thiếu hiểu biết của người lớn. Vì vậy, việc phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong mỗi gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

    Ở lứa tuổi mầm non, các em thường rất hiếu động, nghịch ngợm, tò mò về thế giới xung quanh và chưa có kiến thức, kỹ năng để nhận biết cũng như phòng tránh những mối nguy hiểm, nên rất dễ gặp phải tai nạn thương tích.

    Tai nạn là những tác động bất ngờ, ngoài ý muốn do các tác nhân bên ngoài, gây nên thương tích cho cơ thể.

    Thương tích là tổn thương trên cơ thể khi phải chịu tác động đột ngột nằm ngoài khả năng chịu đựng của cơ thể, hoặc là hiện tượng rối loạn chức năng do thiếu những yếu tố cần thiết cho sự sống như không khí, nước và nhiệt độ phù hợp.

    9 loại tai nạn thương tích cho trẻ mầm non

    Là những trường hợp bất ngờ xảy ra va chạm trong quá trình tham gia giao thông, và nó nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do sự bất cẩn của người điều khiển xe cộ, hoặc do chất lượng đường xá, chất lượng máy móc của xe không đảm bảo an toàn…

    Bỏng được chia làm 2 loại: bỏng nóng và bỏng lạnh. Bóng nóng là tai nạn thương tích mà các em nhỏ thường gặp phải, nó là hiện tượng tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da do tiếp xúc với nhiệt độ cao như nước sôi, lửa hay do tia cực tím, phóng xạ, điện giật, chất hóa học…; hoặc là hiện tượng phổi bị tổn thương do hít phải khói độc hại.

    Bỏng lạnh là trường hợp khá hiếm gặp, đó là tình trạng mô sống trên cơ thể người bị đông cứng và tổn thương do tiếp xúc với nhiệt đột quá thấp.

    Đuối nước là những trường hợp tai nạn thương tích xảy ra khi bị chìm trong các chất lỏng như nước, xăng, dầu… gây ra tình trạng ngạt thở do thiếu oxy dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng khác như chết tế bào não hoặc thậm chí là ngừng nhịp tim, tử vong.

    Đây là tai nạn thương tích xảy ra do tiếp xúc với nguồn điện dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như bỏng hay tử vong.

    Ngã là tai nạn mà các bạn nhỏ rất dễ gặp phải bởi tính hiếu động, nghịch ngợm ở lứa tuổi này. Ngã xảy ra do vấp phải những vật cản trong quá trình di chuyển hoặc là rơi từ trên cao xuống, dẫn đến những tổn thương ngoài da hay nghiêm trọng hơn là gãy xương…

    Là những tai nạn thương tích khi bị các loại động vật tấn công như cắn, húc, đâm phải…

    Là trường hợp ăn vào, hút vào, tiêm vào cơ thể những chất độc tố dẫn đến tình trạng hoa mắt, chóng mặt, nôn mửa hay đi ngoài, nghiêm trọng hơn là hiện tượng co giật, mê man hặc thậm chí dẫn tới tử vong.

    Trẻ nhỏ gặp phải tai nạn khi tiếp xúc với các loại máy móc đang vận hành (máy cưa, máy xát…) hay đùa nghịch những vật sắc nhọn (dao, kéo, liềm…) gây thương tích ngoài da hoặc những thương tổn nghiêm trọng hơn như mất đi bộ phận cơ thể…

    Bạo lực là hành động dùng sức mạnh vũ lực của một người hay một nhóm người gây ra những tổn thương cơ thể và tinh thần cho người khác.

    Những biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ mầm non

    Để phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ mầm non, phụ huynh cũng như các giáo viên tại nơi trông giữ trẻ phải có ý thức thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, chủ động quan tâm và quản lý các con để có thể xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ nhỏ.

    Đảm bảo cho không gian vui chơi của trẻ luôn thoáng mát, sạch sẽ; các sân chơi cần bằng phẳng và không bị trơn trượt, có hệ thống thoát nước tốt để tránh tình trạng đọng nước trong những ngày mưa gió.

    Cửa sổ, hành lang hay cầu thang trong nhà phải có lan can, tay vịn. Tránh để trẻ chơi tại những nơi có nguy cơ sập đổ, bàn ghế hỏng phải được sửa chữa hoặc thay mới kịp thời.

    Đồ chơi ngoài trời như đu quay, cầu trượt… dụng cụ thể thao, đồ dùng cho chuyên đề giáo dục phải đảm bảo chắc chắn, hoạt động an toàn và được kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên.

    Bên cạnh đó, người lớn cũng cần nhắc trẻ không được leo trèo, đu bám lên lan can hay cây cối để phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non.

    Đối với các bạn nhỏ hiếu động và nghịch ngợm thì hiện tượng đánh nhau xảy ra khá thường xuyên, vì vậy các bậc phụ huynh cũng như giáo viên cần nhắc nhở kịp thời, giáo dục các con không được xô đẩy, đánh bạn.

    Không cho phép các bạn nhỏ sử dụng những vật sắc nhọn để tránh gây thương tích cho bản thân và những người xung quanh.

    Đồng thời, người lớn cần trông chừng và quan tâm, để con luôn giữ tinh thần vui vẻ, hòa nhã, đoàn kết với các bạn. Tránh gieo rắc cho các con những suy nghĩ tiêu cực và cách ứng xử bạo lực.

    Trong quá trình tham gia giao thông, ba mẹ cần trang bị đầy đủ những đồ bảo hộ cơ bản cho bé như mũ bảo hiểm khi ngồi xe máy, thắt dây an toàn hay ghế chuyên dụng cho các bạn nhỏ khi ngồi ô tô. Người lớn cũng cần chấp hành tốt luật an toàn giao thông để tránh những tai nạn thương tích không đáng có.

    Các trường mầm non cần có hàng rào và cổng để học sinh không chạy ra ngoài đường, gây nguy hiểm. Bên cạnh đó, giáo viên hãy hướng dẫn các con chấp hành luật an toàn giao thông và tuyên truyền, nhắc nhở phụ huynh không nên lái xe trong sân trường cũng như những sân chơi ngoài trời của con trẻ.

    Việc gắn biến báo trường học ở khu vực gần trường giúp thông báo cho người tham gia giao thông cần chú ý quan sát, giảm tốc độ ở đoạn đường này cũng là một biện pháp phòng chống tai nạn khá hiệu quả mà các nhà trường nên áp dụng.

    Những thứ dễ gây bỏng như phích nước nóng, nồi cơm điện, bếp nấu… cần được bố trí hợp lý, tránh xa tầm tay trẻ em.

    Tuyệt đối không để trẻ tiếp xúc với bật lửa, diêm quẹt, nến…; các loại vật liệu dễ cháy nổ như xăng, ga, cồn… Và phụ huynh nhớ để ý cũng như nhắc nhở trẻ tránh xa ống bô xe máy khi vừa tắt máy, bởi những trường hợp bỏng do ống bô xảy ra khá nhiều ở trẻ nhỏ.

    Để hộp đựng thuốc và hóa chất xa tầm tay với của trẻ, cho trẻ uống thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ.

    Tập bơi không chỉ giúp trẻ rèn luyện thể lực, tốt cho sức khỏe mà đây còn là một cách phòng chống tai nạn đuối nước vô cùng hữu hiệu. Bên cạnh đó, đừng để trẻ chơi gần bờ ao, sông suối một mình; và khi đi thuyền, đò phải mặc áo phao bảo hộ.

    Giếng, bể nước trong gia đình hay trường học cần phải có nắp đậy và không để thùng, chum vại nước tại những nơi trẻ có thể thiếp cận.

    Lắp đặt hệ thống điện an toàn, không để dây trần, các thiết bị như ổ điện, bảng điện cần để xa tầm với của trẻ. Với những ổn điện cố định trên tường cần có biện pháp che chắn để trẻ không thể tiếp xúc với nguồn điện.

    Khi chuẩn bị đồ ăn cho trẻ, ba mẹ cần lựa chọn những thực phẩm tươi, sạch và tránh những đồ mà bé bị dị ứng. Cũng không nên cho trẻ ăn ở những quán ăn vỉa hè, thiếu vệ sinh.

    Ở trường cũng vậy, các cô cần lựa chọn nguyên liệu nấu ăn đảm bảo an toàn thực phẩm, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

    Để tránh gây ra trường hợp hóc – sặc, ba mẹ nên gỡ kĩ thức ăn không còn xương trước khi cho con ăn và dạy trẻ nhai kỹ khi ăn uống.

    Để ý và nhắc nhở trẻ không được cho hột, hạt hay những vật thể lạ vào tai, mũi và miệng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Về Atgt: Biện Pháp Mạnh Có Cải Thiện Ý Thức?
  • Nghiên Cứu Tai Nạn Giao Thông Để Xây Dựng Chính Sách An Toàn Giao Thông Quốc Gia
  • Xây Dựng, Quản Lý Cơ Sở Dữ Liệu Atgt: Vô Cùng Cần Thiết
  • Nội Dung Giáo Dục An Toàn Giao Thông Trong Trường Học
  • Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền, Giáo Dục Pháp Luật Về An Toàn Giao Thông
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việc Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Ở Lớp Lá

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số 4
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Độ Tuổi 5
  • Máy Lạnh Âm Trần Hàng Việt Nam
  • 5 Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Trong Năm 2012
  • Lựa Chọn Và Giải Pháp Nào Cho Nền Kinh Tế Xanh Việt Nam? (Phần I)
  • Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà nội dung giáo dục khác nhau. Trẻ ở độ tuổi mầm non là tuổi học nói, những nhu cầu của trẻ thông qua lời nói để đến với người lớn, chính vì thế cung cấp Tiếng việt cho các cháu, nhất là trẻ người dân tộc thiểu số là rất quan trọng. Phần đa các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, nên khi đến lớp các cô giáo của cháu là người kinh cháu không biết tiếng kinh nên trong qúa trình cô giáo giảng dạy bằng tiếng việt thì trẻ rất khó tiếp thu bài giảng cũng như những chỉ dẫn, khẩu lệnh của cô trẻ không hiểu để thực hiện, cháu trở nên nhút nhát, thụ động, thậm chí tự ti, mặc cảm, dẫn đấn khả năng tiếp thu bài rất chậm. Bởi thế nên việc tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề đáng để tất cả chúng ta quan tâm, việc làm này sẽ góp phần vào việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ.

    Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy các cháu lớp 5 tuổi của trường mẫu giáo Hoa Thủy Tiên với số lượng trẻ hàng năm của lớp tôi là 35-40 cháu trong đó số trẻ con em dân tộc thiểu số chiếm 90%. Đa số các cháu là người dân tộc ê đê, các cháu lên lớp đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không hiểu được tiếng Việt, vì trình độ dân trí thấp nên bố mẹ các cháu chưa thực sự quan tâm đến việc việc học tập của con em mình, còn các cháu thì vì không hiểu tiếng việt nên các hoạt động trên lớp của giáo viên chưa cảm hóa, thu hút được trẻ đến lớp đầy đủ.

    Cùng một môi trường học tập như nhau, cũng bài học đó, lượng kiến thức đó, phương pháp đó sao sự chêng lệch về khả năng tiếp thu của trẻ người kinh và trẻ người dân tộc thiểu số lại cách xa nhau đến vậy? phải chăng là bất đồng ngôn ngữ, là vốn tiếng việt của trẻ dân tộc thiểu số quá ít, bởi vì mọi cử chỉ, hành động của con người đều thông qua ngôn ngữ để hiểu và làm theo nhưng chính vì trẻ không hiểu nên không biết để làm theo.

    Đứng trước thực trạng đó tôi rất băn khoăn, lo lắng phần vì ngay từ đầu năm mồi giáo viên đã kí cam kết chất lượng với hiệu trưởng phải thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu giáo dục độ tuổi. Trẻ 5 tuổi khi ra lớp một trong những mục tiêu đó là trẻ phải thuộc 29 chữ cái, 10 chữ số thuộc một số bài thơ, biết kể một số câu chuyện … làm thế nào để tất cả các cháu cuối năm học đều đạt được yêu cầu cần đạt theo bộ chuẩn đây? Khi các cháu con em dân tộc thiểu số đến lớp chưa biết nghe, nói và chưa hiểu tiếng kinh? đó là câu hỏi, là nổi lo lắng, băn khoăn mà hàng đêm tôi trăn trở, phần nữa là lương tâm trách nhiệm của người giáo viên tôi không thể hàng ngày đến lớp hết giờ ra về mặc cho các cháu với một hành trang trống rỗng khi ra trường, vậy nên bản thân tôi tự thấy mình cần tìm cách nghiên cứu, chọn lọc một số phương pháp, biện pháp để cho các cháu học sinh dân tộc trong lớp của tôi biết nghe, nói và hiểu tiếng việt. Để các cháu không tự ti,mặc cảm, thích thú đến lớp, vốn tiếng việt được tăng lên, biết giao tiếp băng tiếng việt để từ đó thu hút trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động trong lớp để cuối năm trẻ có một hàng trang vững bước vào lớp 1.

    Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp:

    *Giải pháp thứ nhất: “Tạo hứng thú cho trẻ đi học chuyên cần

    Ngay từ đầu năm học tôi lên kế hoạch để duy trì sĩ số học sinh, duy trì tỉ lệ các cháu đi học chuyên cần 97%. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã huy động phụ huynh động viên trẻ đến trường, tuyên truyền cho cha mẹ trẻ về nội dung của các môn học, các hoạt động ở bậc học mẫu giáo nhất là lớp 5-6 tuổi, đó là gốc rễ, nền móng cho các cháu trong chương trình của tiểu học mà gần nhất là lớp 1 trong năm học tới của các cháu.

    Phải làm sao để các cháu thực sự thích đến lớp mỗi ngày để các cháu được tiếp thu, được lĩnh hội đầy đủ kiến thức là hành trang theo cháu vào lớp 1. Trong khi các cháu phần đông là năm đầu đi học mẫu giáo lớp 5 tuổi mà không qua lớp mầm, chồi, rồi ngôn ngữ tiếng việt của các cháu thì hạn chế, bố mẹ đưa đến lớp các cháu còn khóc nhè đòi về, cô dỗ cháu không hiểu tiếng kinh, nên không nín. Phụ huynh thì chiều con thấy con khóc thì không muốn cho con học nữa, còn mong muốn con lớn lên có đất, có rẫy làm là được rồi. Trước cách nghĩ đó tôi thật sự rất lo lắng tôi đã tự nhủ mình phải thu hút được các cháu đến lớp đã sau đó rồi tính tiếp, hàng ngày phụ huynh đưa trẻ đến lớp tôi trò chuyện với họ, kể cho họ nghe một số trường hợp các cháu ở trong buôn năm học 2022-2019 đủ tuổi vào lớp 1 mà chưa qua mẫu giáo vào học lớp 1 được một thời gian rồi gia đình đến gặp hiệu trưởng trường mẫu giáo xin gửi vào học mẫu giáo để cho biết chữ cái đã chứ chưa biết chữ cái vào học lớp 1 không theo được các bạn…

    Tôi cũng đưa ra một số gương mặt các cháu người dân tộc thiểu số đi học chuyên cần từ lớp 3-4, 4-5 tuổi giờ đang học lớp 5-6 tuổi thì cháu rất mạnh dạn, trong năm học cô cho cháu tham gia các hội thi mà nhà trường tổ chức cháu đạt kết quả cao như cháu H Quy, cháu Hà Thị Gia Như , Hà Thị Linh Đan…….

    – Những việc làm đó thật đơn giản nhưng với những trẻ không hiểu tiếng kinh thì với tôi đó lại là một thách thức lớn bởi bản thân tôi là một giáo viên người kinh vậy nên để làm được điều đó tôi đã phải nhờ cô giáo H Trinh (Một đồng nghiệp chủ nhiệm lớp chồi bên cạch lớp tôi) chỉ cho tôi một số tiếng dân tộc như: ‘Nín đi, đừng khóc nữa, học ngoan chiều bố mẹ đón về, muốn đi tiểu con hãy xin cô, lúc vào học không được nói chuyện….” . Những việc làm đó tôi không quên thực hiện thường xuyên xen kẽ một cách sáng tạo đi kèm những lời nói, việc làm đó ngoài tình yêu thương trẻ như con cháu của mình rồi thì cần phải mày mò làm thêm đồ dùng đồ chơi lạ mắt, bữa thì những con bướm, con trâu làm từ lá cây, bữa thì mua bột cho trẻ cùng cô nặn bánh, bữa thì thiết kế trang phục cho trẻ làm người mẫu để cô đo đo, cắt cắt để cố tình cho trẻ đứng đợi cô mà quên đi sự nhút nhát e dè.

    Cứ thế và kết quả thật đáng ghi nhận là các cháu sau 2 tuần đến lớp đã không khóc nữa, qua trò chuyện với phụ huynh tôi được biết trẻ về nhà không còn sợ phải đến lớp như trước nữa mà cháu thích thú khi bố, mẹ chuẩn bị chở đi học, không còn đòi quà bánh trước khi vào lớp, đến lớp cháu biết chào cô đi cất đồ dùng cá nhân đúng chỗ và vào chơi cùng các bạn một cách hòa đồng.

    * Giải pháp thư hai: Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua các môn học”

    Đầu năm học tôi lên kế hoạch năm, tháng và đặc biệt là cụ thể vào kế hoạch tuần những nội dung tăng cường tiếng việt cho trẻ qua các môn học cụ thể tôi có kế hoạch hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 mỗi ngày tôi tăng cường cho trẻ 3-4 từ mới đồng thời trẻ được ôn luyện lại vốn từ cũ một cách thường xuyên.

    Khi tổ chức hoạt động tôi đã mời các cháu người đồng bào tham gia vào các hoạt động. Nhưng kết quả chưa được như mong đợi, so với trước đây trẻ đã nghe và hiêu cô giáo nói và làm theo yêu cầu của cô giáo nhưng vẫn còn bỡ ngỡ, chưa thật tự tin, mạnh dạn.

    : Xây dựng kế hoạch tuần có nội dung tăng cường tiếng việt cụ thể

    KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TRONG TUẦN

    – Đón trẻ vào lớp, hướng dẫn trẻ cất đồ dùng cá nhân,trò chuyện với bố mẹ trẻ về tình hình của cháu khi ở nhà.

    – Trò chuyện với trẻ về GĐ có những ai, mọi người trong GĐ làm gì?….

    – Dạo chơi hít thở không khí trong lành.

    – Trò chuyện về quang cảnh, khí hậu, dự báo thời tiết.

    – Ôn cũ hoặc gợi mới

    * Mục đích: Rèn luyện phản xạ nhanh, khéo léo

    * Chuẩn bị: Vẽ 3 vòng tròn rộng giữa lớp làm nhà của gấu mũ 3 màu trắng, đen, vàng

    * Cách chơi: Cô qui định vòng tròn 1 là nhà của gấu trắng,vòng 2 là nhà của gấu đen, vòng 3 là nhà của gấu vàng

    – Chia trẻ thành 3 nhóm, mỗi nhóm đội một loại mũ khác màu phân biệt gấu trắng, gấu vàng, gấu đen.

    – Nghe nhạc các chú gấu đi chơi,bò qua cổng, qua hầm khi có hiệu lệnh trời mưa các chú gấu về đúng nhà của mình.

    – TCDG: Nu na nu nống

    + Mục đích: Trẻ dân tộc thiểu số được luyện đọc, biết chơi cùng nhau, củng cố thêm kĩ năng đếm, phân biệt bên phải, bên trái,ở giữa…và phát triển ngôn ngữ.

    – Chơi tự do với đồ chơi đã chuẩn bị sẵn.

    – Góc phân vai: Gia đình: Bố mẹ và con.

    * Chuẩn bị: Một số đồ dùng như: Giày dép, túi ba lô, mũ, kính đeo mắt, đồ dùng nấu ăn, đồ dùng bán hàng.(tiềng dân tộc để gọi tên đồ dùng)

    * Hoạt động: Trẻ đóng vai bố mẹ đưa các con đi chơi, tổ chức chơi vui vẻ, trẻ xưng hô lễ phép. Bố mẹ chăm sóc các con, đi mua thực phẩm, nấu ăn, mang theo 1 số thức ăn nhẹ.

    – Góc xây dựng: Xây nhà cho bé.

    * Chuẩn bị: Các khối gỗ, cổng, hộp giấy… để xây nhà, cây cối, hoa…

    * Hoạt động: Trẻ biết xếp chồng các hộp giấy, khối gỗ để xây nhà, xung quanh có trồng cây xanh, có chuồng nuôi một số con vật như gà vịt….

    – Góc học tập: Ôn chữ cái chữ số đã học, chơi lô tô.

    * Chuẩn bị: . Vở bài tập chưa thực hiện xong. Nhóm chữ cái chữ số đã học.

    * Hoạt động: Ôn chữ cái chữ số đã học, trẻ làm tiếp vở chưa xong

    – Ôn kiến thức buổi sáng, làm quen kiến thức mới.

    – Trò chơi học tập: “Đoán xem đó là ai”.

    – Vệ sinh, nêu gương, bình cờ, trả trẻ.

    + Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học môi trường xung quanh:

    Tôi nắm được tâm lí của trẻ là thích tìm tòi khám phá, thích những cái mới lạ và trực quan hình ảnh, trực quan hành động chiếm ưu thế ở trẻ nên ngay trong môn khám phá tùy vào từng đề tài tôi chuẩn bị tranh ảnh sinh động đẹp mắt, đa dạng để thu hút trẻ tập trung chú ý kết hợp cho trẻ đọc từ dưới tranh, đồ dùng, tôi ưu tiên những cháu dân tộc được đọc trước, cho các cháu đọc theo từ, tôi tăng cường và cho trẻ nói theo tôi câu có từ.

    – Và không chỉ gợi ý cho các cháu bằng lời, tôi đã hành động để các cháu nắm vững cách : Thường xuyên tổ chức theo nhóm, theo tổ, xen kẽ các cháu người Kinh và các cháu đồng bào dân tộc. Hay những giờ sinh hoạt ngoài trời, giờ vui chơi, nói chuyện với trẻ bằng tình cảm chân tình và gần gũi.Ví dụ như: ” bạn H Sinh mới cắt tóc phải không, đẹp quá nhỉ, ai đưa cháu đi cắt tóc đó, bạn Y Dư sáng đi học quần áo, đầu tóc thật gọn gàng đẹp thật đấy phải không các bạn…” Những lần quan tâm hỏi han trẻ tôi trerất thích thú, gần gũi, tôi xoa đầu âu yếm trẻ. Để trẻ cảm nhận được tình thương yêu của cô giáo đối với mình.

    – Những buổi sinh hoạt cuối tuần tôi thường đưa ra những tấm gương các bạn chăm phát biểu, sáng tạo, nói tiếng kinh giỏi…Để thúc đẩy sự cố gắng , phấn đấu hơn của các cháu trong thời gian tới, tạo cho trẻ vui tươi, mạnh dạn, tự tin, tôi luôn gần gũi trò chuyện cùng trẻ không rầy la khi cháu làm sai. Mà ngược lại tôi luôn tôn trọng, yêu thương cháu. Không phân biệt đối xử bất công bằng với trẻ. Thường xuyên để ý giao tiếp và tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động.

    Các hoạt động cô giáo sử dụng tiếng kinh trẻ không hiểu thì giáo viên sử dụng cả hai thứ tiếng hoặc vừa nói vừa cho trẻ nhìn, chỉ vào sự vật.

    + Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học Làm quen chữ cái:

    Sau mỗi tiết học làm quen chữ cái tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái như trẻ nói từ có chứa chữ cái đã học thi đua tìm, nói tên các bạn trong lớp ví dụ học chữ e,ê trẻ tìm tên bạn lê, bạn sen…và không chỉ là tên các bạn mà những đồ dùng, những bức tranh, những món đồ chơi có tên chứa chữ cái tôi đều khai thác để cho trẻ được luyện đọc vừa tăng cường cho trẻ phát âm chữ cái để ghi nhớ chữ cái tôi còn có mục đích cho trẻ được luyện âm tiếng việt và hơn nữa qua đó trẻ có ý thức thi đua và làm sôi nổi hơn các hoat động. Với đặc điểm của trẻ mầm non là học qua chơi, chơi mà học nên tôi luôn có gắng chuyển thể các bài học sang hình thức vui chơi để trẻ được: thứ nhất là nhẹ nhàng không áp lực, thứ 2 là huy động được tính tích cực, hứng thú tự giác của trẻ. Tôi thường cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái như: trò chơi bánh xe chữ cái (vòng quay kì diệu)., nối chữ cái trong từ về chữ cái tương ứng, xếp chữ cái bằng hội hạt, nặn chữ cái, gắn chữ cái lên đồ dùng có tên chứa chữ cái theo yêu cầu của cô…ví dụ: gắn chữ u lên cái xích đu,chữ e lên tranh em bé, chữ a lên mái nhà… bên cạnh đó tô thường cho trẻ được trải nghiệm thực tế như cho trẻ đi dao chơi tham quan tìm chữ cái trong các bảng hiệu, cổng thôn… thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi, tiếp xúc thực tế ngoài xã hội sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập phát âm Tiếng việt một cách chính xác hơn. Chính những việc làm đó đã góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ.

    Vd: Tôi cho trẻ đi thăm nhà văn hóa cộng đồng tôi giait thích cho trẻ hiểu đó là nơi sinh hoạt văn hoa, văn nghệ của tất cả mọi người trong buôn vào những dịp lễ, cho trẻ nhận biết, tự hào về buôn làng của mình và tôi không quên cho trẻ nhận biết, tìm chữ cái đã học trong những bảng hiệu, những dòng chữ trong nhà văn hóa, vô tình những lần trẻ theo bố mẹ đến sinh hoạt văn nhóa, văn nghệ trẻ khoe với bố me, với các bạn là trẻ đã biết được các chưc cái trên dòng chữ kia…

    Qua một thời gian thực hiện lớp tôi tiến bộ rõ rệt, cháu hứng thú trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm chuẩn chữ cái khi đã được làm quen.

    + Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học làm quen văn học:

    Muốn trẻ giao tiếp, tiếp thu được kiến thức cô giáo truyền thụ trước hết thì trẻ phải nghe hiểu được yêu cầu của cô giáo nên việc giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống là vấn đề cần thiết. đối với trẻ 5 tuổi môn văn học là môi trường, là cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều nhân vật trong thơ, chuyện…qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc, được thể hiện lời thoại…và được phát triển ngôn ngữ, với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi phần đông là học sinh người dân tộc thiểu số nên mỗi lúc lên kế hoạch tôi đã chú ý tới việc lựa chọn những bài thơ, câu chuyện không quá dài, nội dung dễ hiểu,nhân vật gần gũi với trẻ vì vốn từ cũng như thời gian tập trung chú ý của các cháu không được như những trẻ người kinh, khi lên tiết tôi luôn tạo tình huống bất ngờ để thu hút trẻ trẻ tập trung chú ý, khơi gợi ở trẻ tính tò mò dể tạo tâm thế cho trẻ trước khi vào học. trước lúc vào giờ học tôi trò chuyện dẫn dắt trẻ bằng những câu hỏi gần gũi, thân thiện vào bài một cách nhẹ nhàng không gây áp lực cho trẻ, trong quá trình đọc, kể tôi thường dừng lại trực tiếp ở những câu, từ khó để giải thích cho trẻ hiểu ngay trong quá trình tôi đọc một cách kịp thời, kết hợp tranh, ảnh, đồ dùng trực quan để giải thích là một cách làm tôi thấy rất hiệu quả, ngoài ra tôi không quên phối hợp các động tác minh họa đơn giản phù hợp, và tôi cho trẻ thực hiện động tác minh họa cùng với cô nhằm lôi cuốn, khích lệ trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô mà không bị mệt mỏi, uể oải, có thể nói đó là chất xúc tác, tiếp sức cho các cháu một cách hiệu quả.

    Vd: khi tôi kể chuyện cáo, thỏ gà trống cho cacvs cháu nghe đến những lời thoại các nhân vật tôi cho trẻ nói theo như “gâu gâu cáo ở đâu”của bầy chó,cúc cù cu cu cu của anh gà trống… tôi cho trẻ nói và làm điệu bộ và trẻ đã rất thích. Khi đã lôi cuốn được sự chú ý của trẻ tôi tiến hành các công việc tiếp theo và không quên gọi những cháu dân tộc đọc từ, đọc câu với nhiều hình thức như là tôi đố trẻ, nhờ trẻ, gợi ý cho trẻ, cho các cháu thi đua, cho trẻ nói tiếp…và tất nhiên là sử dụng những câu từ gần gũi, cụ thể để giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để trẻ có thể tiếp thu một cách nhẹ nhàng sau đó tôi cho trẻ nói tên nhân vật trong thơ, chuyện qua tranh ảnh, và không quên khuyến khích trẻ bằng những món quà hay những tràng pháo tay động viên, bởi thế nên học sinh lớp tôi ngày càng mạnh dạn, tự tin, ham thích học thơ, kể chuyện và nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, qua những việc làm đó học sinh dân tộc của lớp tôi so với trước vốn từ được tăng lên rất nhiều, trẻ nghe, hiểu được lời của cô, nắm được yêu cầu của bài và tôi nghĩ mình đã gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước.

    * Giải pháp thư ba: Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động vui chơi”

    Hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, không thể thiếu ở lứa tuổi mầm non. Nhận thức được điều đó, bản thân tôi luôn thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà nghành đề ra. Ngoài việc dạy và học thì hoạt động vui chơi luôn diến ra trong các ngày trẻ được đến lớp, tôi luôn sáng tạo làm nhiều đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi của trẻ. Bởi vì đối với trẻ những món dồ chơi mới mẻ, lạ mắt là điểm đến, là động lực thu hút trẻ nhiều nhất và qua hoạt động vui chơi này phát huy cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin trước đám đông. Trẻ thể hiện hết cái tôi của mình trẻ biết và độc lập trong suy nghĩ và dám khẳng định chính bản thân mình và đó cũng là cơ hội giúp trẻ được tăng cường tiếng việt, trong khi các cháu chơi thì trẻ vô tư thể hiện hết những gì trẻ biết, trẻ có và cô giáo qua đó phát hiện được khả năng của trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để thuận tiện trong việc phát triển các lĩnh vực khác ở trẻ. Nhờ sự tích cực hứng thú trong hoat động vui chơi mà trong năm học này chúng tôi đã đạt được những thành tích đáng kể về chiến lược tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc.

    Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp hàng ngày của trẻ không chỉ là trong quá trình học mà ngay cả khi trẻ vui chơi thì ngôn ngữ giúp trẻ phân, nhận vai chơi, thể hiện vai chơi của mình trong quá trình chơi. Vui chơi là trẻ được tái tại lại những hành động, việc làm lời nói của người lớn ở môi trường xã hội bên ngoài vào trong các góc chơi của trẻ, ở đây thành phần trẻ được thể hiện, giao tiếp rất đa dạng và phong phú nên chính ở môi trường này ngôn ngữ của trẻ được cung cấp nhiều hơn, trẻ được thoải mái thể hiện mình qua vai chơi. Tận dụng thời gian này tôi đã thực hiện ý đồ tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc bằng cách: tôi làm nhiều đồ chơi ở các góc tạo môi trường mới lá, đẹp mắt thu hút sự hứng thú của trẻ, cho trẻ được tự chọn góc chơi, vai chơi, lúc trẻ chọn vai chơi tôi luôn gợi ý cho trẻ đổi vai hàng ngày để tất cả trẻ đều có cơ hội vào vai các thành viên trong xã hội hôm nay bé là bác sĩ, mai bé làm bệnh nhân, ngày kia là người đầu bếp, chúng tôi khi cháu H Sinh về chơi ở góc phân vai làm cô bán hàng lần đầu khi chơi tôi trực tiếp làm người đi mua hàng đến cữa hàng tôi chào bác H Sinh hôm nay cửa hàng có bán những thứ gì? Tất nhiên là lúc đầu cháu sẽ e dè thì tôi gợi ý cho trẻ cầm các món hàng lên và nói tên các món hàng đó bằng 2 thứ tiếng vừa tiếng kinh và tiếng dân tộc, những lần sau tôi gợi ý rủ các bạn khác đi chợ và hỏi mua những món đồ theo nhu cầu…giải thích cho trẻ những từ (mua, bán, trả tiền…) kèm theo những hàng động mô phỏng cụ thể cho trẻ hiểu từ tiếng việt và cho trẻ nói theo.

    Đến góc xây dựng cũng như những góc chơi khác tôi hỏi cháu Y Dư hôm nay bác thợ xây gì?( xây nhà cho gia đình ở) vật liệu, dụng cụ xây dựng có những gì?(viên gạch, cái bay, cái thước, …) cho cháu cầm viên gạch và đọc nói từ viên gạch, cái bay…những lầnchơi sau tôi cho trẻ tập nói cả câu dài hơn và cứ như vậy tôi ghé đến các góc chơi khác xin tham gia chơi với trẻ vài phút để tìm hiểu nhận ra điểm mạnh và hạn chế của từng trẻ và qua đó tôi thực hiện công việc tăng cường tiếng việt cho những trẻ thiếu hụt tiếng việt, nhắc nhở, khuyến khích, hướng dẫn các cháu giao tiếp với bạn chơi bằng tiếng việt. Khi trẻ đã hòa nhịp được với các bạn, các cháu dân tộc đã tự tin, mạnh dạn tôi không cần nhập vai chơi với trẻ nữa mà gợi ý để trẻ giao lưu với nhau liên kết với các nhóm chơi khác để trẻ mạnh dạn, tự tin trao đổi trong lúc chơi cùng bạn, khi trẻ tham gia các góc chơi là thế giới người lớn được trẻ tái tạo lại trong trò chơi của trẻ tất cả mối quan hệ, giao tiếp của xã hội được trẻ thể hiện hơn nữa hoạt động vui chơi của trẻ là hoạt động diễn ra thường xuyên trong quá trình trẻ đến lớp nên đây chính là thời điểm tốt nhất để trẻ được tiếp thu, tăng cường vốn từ tiếng việt với phương châm “Mưa dầm thấm lâu” song hành với việc trẻ chơi tôi kết hợp tăng cường tiếng việt cho trẻ, với trẻ đây là lúc trẻ thoải mái thể hiện bản thân, thể hiện vốn có của mình, với cô đây là thời điểm thuận lợi để nắm bắt tình hình, thực tế sử dụng ngôn ngữ của các cháu nên việc cung cấp ngôn ngữ ở hoạt động vui chơi rất hiệu quả.

    * Giải pháp thư tư: Tăng cường tiếng việt cho ở mọi lúc, mọi nơi”

    * Giải pháp thư năm: Kết hợp với phụ huynh để tăng cường tiếng việt cho trẻ”

    Bên cạnh sự nỗ lực chung sức của cô và trẻ khi trẻ ở lớp, ở trường, chúng ta phải phối kết hợp với phụ huynh khi trẻ về nhà bởi vì khi về nhà đa số trẻ được sinh hoạt trong môi trường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, qua các buổi thăm nhà phụ huynh học sinh tôi thấy rằng người gia và phụ nữ trong mỗi gia đình người thiểu số ít khi biết nói tiếng kinh, mọi nhu cầu, hoạt động trong gia đình họ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp mà hàng ngày thời gian đến lớp của trẻ cô giáo khó khăn lắm mới cho trẻ nói vài từ tiếng việt bập bẹ trong khi thời gian trẻ về nhà thì bố mẹ ông bà chú bác lại sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách đại trà, đó cũng là cái khó khăn tôi gặp phải, để đẩy ùi khó khăn này tôi phải tranh thủ thời gian buổi tối đến nhà gặp gỡ phụ huynh, tận dung những buổi sinh hoạt cộng đồng để tuyên truyền đến các bậc phụ huynh.

    Đồng ý là mỗi chúng ta phải nhớ cội nguồn, tôn vinh bản sắc vùng miền, những cần phải đảm bảo được cái chung để đáp ứng với nhu cầu học tập của thế hệ trẻ. tôi đã tuyên truyền tới phụ huynh tầm quan trọng của việc nghe, hiểu và giao tiếp bằng tiếng phổ thông, tôi trò chuyện giải thích với phụ huynh rằng các cháu nhà mình đến lớp không được mạnh dạn như những cháu người kinh, vì cháu nói tiếng kinh không thành thạo, nên những bài giảng của cô cháu nghe không hiểu được hết các yêu cầu nên kho cô hỏi trẻ chưa trả lời được, chưa làm được bài tập theo yêu cầu của cô nếu các cháu biết nói, nghe hiểu thành thạo tiếng kinh thì các cháu cũng học rất giỏi…vậy nên rất mong phụ huynh tạo điều kiện, môi trường cho trẻ được giao tiếp bằng tiếng kinh, khi ở lớp cô đã cho cháu nghe, nói tiếng kinh thì về nhà phụ huynh nên sử dụng tiếng kinh để giao tiếp với cháu, kềm cặp cháu các môn hoạc chữ cái, số, cho cháu đọc thơ, kể chuyện, khuyến khích cháu hát để rèn luyện cách phát âm cho cháu như thế cháu đến lớp cháu sẽ nghe cô giáo giảng bài và biết trả lời thành thạo các câu hỏi của cô, tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và cũng là tiền đề tốt cho các cấp học sau này và đúng như mong muốn của tôi phụ huynh đã biết quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn.không những thế mà phụ huynh còn tuyrn truyền tới những người khác trong buôn qua những dịp gặp gỡ nhau bên những ché rượu cần, họ khoe nhau những thành tích con em mình đạt được mad cứ cuối tuần, cuối tháng tôi vẫn báo cáo về cho phụ huynh những tiến bộ của con em họ việc làm đó của tôi đã mang lại hiệu quả cao hiện nay trẻ dân tộc thiểu số lớp tôi nói tiếng kinh lưu loát, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh.

    “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo chỉ thị của bộ chính trị là việc làm mà chi bộ, ban giám hiệu trương tôi luôn chỉ đạo sát sao tới đảng viên,giáo viên trường.

    Tôi nhận thấy rằng đây chính là một tài sản vô giá của dân tộc và là cơ sở bền vững cho mỗi người Đảng viên, cán bộ giáo viên học tập và noi theo. Tuyệt đối không vi phạm đạo đức nhà giáo, luôn luôn là tấm gương sáng cho các cháu noi theo ” Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người“. Bỏi vì lẽ đó, tôi tự nhủ rằng mình phải làm gì để chuẩn bị cho các cháu một hàng trang tốt nhất khi bước vào lớp 1. Nhất là những cháu dân tộc thiểu số, cuối năm học nhận biết, phát âm chuẩn 29 chữ cái, 10 chữ số, biết nói tiếng phổ thông thành thạo, đạt được các yêu cầu phát triển 5 lĩnh vực, đảm bảo chất lượng cuối năm để từ cái nền móng cơ ban đó các cháu sẵn sàng tiến bước vào cấp học tiếp theo. Và bản thân cũng góp phần nhỏ vào sự thành công của nhà trường, vào sự nghiệp giáo dục mầm non của xã nhà, tiến lên đáp ứng nhu cầu hiện tại. Với bao khó khăn vất vả khi trường lớp ở xa trung tâm đa số là người dân tộc tại chỗ, trình độ nhận thức của người dân chưa cao, kinh tế bà con còn nghèo nàn, lạc hậu, phụ huynh học sinh còn coi nhẹ ngành học mầm non các cháu đi học không đều, đến lớp còn khóc nhè, ngôn ngữ giao tiếp còn hạn chế, trẻ chư hòa đồng với bạn, nhút nhát rụt rè nên trẻ không dám thể hiện mình, đến lớp trẻ thụ động cũng chính vì ngôn ngữ thứ 2 của trẻ còn quá ít ỏi, Cơ sở vật chất quá nghèo nàn thiếu thốn, giáo viên nhà xa đi lại rất vất vả.

    Nhưng trong một thời gian ngắn, với sự quan tâm của ban giám hiệu, chính quyền địa phương, và nhất là với sự sự băn khoăn, lo lắng trước sự thiếu hụt, thiệt thòi của các cháu đã thúc đẩy sự nổ lực, tận tâm của bản thân một lòng tâm huyết với nghề cho đến nay lớp là 1chúng tôi đã đi vào ổn định. Các cháu đã đi học chuyên cần, đến lớp hòa đồng với các bạn, thể hiện tốt cái tôi của mình, chất lượng các môn học đối với các cháu tăng lên rõ rệt qua bảng theo dõi đánh giá hàng tháng. Cho đến thời điểm này đã có trên 95% cháu nhận biết nhanh và phát âm đúng chữ cái Tiếng việt đã được học. 96% cháu biết cách tô các nét cơ bản và tô đúng quy trình. 97% cháu hiểu được ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng ngôn ngữ Tiếng việt để diễn đạt thành câu có nghĩa, trẻ nói lưu loát bằng ngôn ngữ Tiếng việt. Ngoài việc học trẻ đã mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với cô giáo, với bạn bè lúc ở nhà cũng như lúc mọi nơi.

    Kết quả theo dõi sau khi áp dụng các phương pháp, biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ của lớp tôi thì kết quả về 5 lĩnh vực phát triển cuối tháng 12 của lớp tôi cụ thể như sau:

    – Tỉ lệ phần trăm của năm mặt phát triển tăng lên rõ rêt, nhất là về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, thẩm mĩ, phát triển ình cảm xã hội…

    Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện, hổ trợ kinh phí để giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi, trang trí các góc đẹp mắt thu hút sự chú ý của trẻ cũng như sự nhìn nhận của phụ huynh để càng ngày càng tin tưởng vào giáo viên và cũng từ đó phụ huynh đã nhận thức rõ việc đưa con em đến trường là cần thiết vậy nên tỷ lệ huy động trẻ đi học 98%..

    Học kì I lớp luôn đứng đầu trong các phong trào về nề nếp thói quen của trẻ, duy trì sĩ số, phong trào làm đồ dùng trang trí lớp, và đặc biệt là không còn tình trạng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học theo bố mẹ đi nương đi rẫy theo thời vụ như những năm học trước vẫn thường diễn ra. Phụ huynh nhiệt tình trong việc tạo môi trường tiếp xúc cho trẻ, để trẻ được giao lưu với các bạn, nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường tiếng việt cho trẻ.cụ thể là những buổi tập văn nghệ các bậc cha mẹ trẻ rất nhiệt tình bớt thời gian chở các cháu đến lớp tập, nhìn thấy con em của họ được hát, múa họ rất vui và tự hào.

    Khi các cháu đến lớp vệ sinh rất sạch sẽ, biết chào hỏi, thưa gởi lễ phép, các hoạt động trẻ hứng thú tham gia và tạo mối quan hệ hòa đồng, đoàn kết trong lớp. các cháu manh dạn giao lưu, tham gia tích cực vào các giờ học, như tham gia kể chuyện, đoạc thơ, biểu diễn văn nghệ…

    Vận dụng một số biện pháp giúp tăng cường tiếng việt cho các cháu học sinh con em dân tộc thiểu số tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp giúp cho trẻ sử dụng tiếng việt một cách thành thạo bản thân tôi đã nghiên cứu những nội và áp dụng linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập,mọi lúc mọi nơi phù hợp với hoàn cảnh thực tế tình hình của lớp, của địa phương.giáo viên luôn tạo tình cảm cho trẻ giao lưu trò chuyện với cô,với bạn nghe hiểu lời nói của cô, của bạn. tăng cường công tác làm đồ dùng đồ chơi đẹp, tạo ra môi trường mới lạ để thu hút trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú, thực hiện thông qua các hoạt động ở lớp và mọi lúc mọi nơi. Với vốn kinh nghiệm tích luỹ ít ỏi về việc tăng cường tiếng việt ấy tôi đã áp dụng và có hiệu quả cao, tại lớp của mình. Tôi tin rằng cuối năm học này 97% trẻ dân tộc thiểu số nói được tiếng việt thàng thạo.

    Xác định mục tiêu nhận ra tầm quan trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ trong trường Mẫu Giáo để giúp trẻ nghe hiểu tiếng việt, Phải coi trọng những hành động, suy nghĩ của trẻ dù là nhỏ nhất và luôn đạt câu hỏi ” Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” lên hàng đầu. Tạo được nề nếp hoạt động thường xuyên, liên tục, mang tính tự giác, tự nguyện cao, và quyết tâm thực hiện không ngại khó khăn.

    Luôn luôn làm tốt công tác tham mưu, công tác xã hội hoá giáo dục để toàn xã hội chung tay xây dựng trường học ngày càng đi lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cty Cp Giải Pháp Siêu Việt
  • Công Ty Vds Chuyên Sản Xuất Các Sản Phẩm Như Hệ Thống Xếp Hàng Tự Động, Bảng Điện Tử, Màn Hình Led…
  • Đề Án Giải Pháp Đầu Ra Cho Thị Trường Nông Sản Việt Nam
  • 8 Giải Pháp Thúc Đẩy Sản Xuất Và Tiêu Thụ Nông Sản Năm 2022
  • ‘giải Cứu’ Nông Sản Nhưng Cũng Cần Các Giải Pháp Căn Cơ Cho Nông Nghiệp
  • 5 Phương Pháp Giáo Dục Trẻ Mầm Non Nổi Tiếng Trên Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Mầm Non – Phòng Gd&đt Mộc Châu
  • 3 Nguyên Tắc Vàng Trong Phương Pháp Giáo Dục Con Cái
  • Những Vấn Đề Về Giáo Dục Con Cái Ngày Nay
  • Phương Pháp Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Là Động Lực Cho Cán Bộ, Đảng Viên Thực Hiện Tốt Nhiệm Vụ Chính Trị Của Cơ Quan, Đơn Vị
  • Trẻ em trong giai đoạn

    vàng từ 0 đến 6 tuổi cần được nuôi dưỡng bằng những phương pháp khoa học phù hợp

    nhất để phát triển toàn diện về mặt thể chất lẫn tâm hồn. Ở độ tuổi mầm non, bé

    bắt đầu có những khám phá mới mẻ làm quen với thế giới bên ngoài. Đồng thời,

    chúng bắt đầu nhạy cảm với những biến đổi xung quanh cuộc sống và sở hữu khả

    năng ghi nhớ đặc biệt, tò mò thích tìm hiểu và chinh phục vô số vấn đề lạ lùng

    chưa có lời giải đáp.

    Chính vì vậy, tìm được

    một giải pháp phù hợp để giáo dục bé ngay từ khi còn nhỏ là vấn đề được rất nhiều

    ba, mẹ quan tâm trong cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, giữa rất nhiều những

    phương pháp khác nhau thì định hướng nuôi dạy trẻ “đúng” và làm sao để “hiệu quả”

    thì không phải phụ huynh nào cũng hiểu rõ. Vậy nên, Yellow Kitty ngày hôm nay sẽ

    giúp ba, mẹ tìm hiểu sâu hơn về 5 phương pháp giáo dục trẻ mầm non nổi tiếng

    trên thế giới đang được áp dụng vô cùng hiệu quả tại các hệ thống trường mầm

    non.

    “Montessori

    – giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ”

    Là phương pháp tạo dựng

    nền tảng cơ bản cho bé ngay từ những năm đầu đời. Montessori được Tiến sĩ, bác

    sĩ người Italia Maria Montessori (31/8/1870 – 6/5/1952) – một chuyên gia trong

    các lĩnh vực giáo dục học, nhân văn học, triết học nghiên cứu và sáng lập.

    Phương pháp giáo dục

    này tận dụng tối đa giai đoạn “vàng” từ 0 đến 6 tuổi để kích thích sự phát triển

    vượt bậc của “trí tuệ thẩm thấu” và khơi dậy tiềm năng sẵn có của bé. Với

    phương châm giáo dục cốt lõi lấy trẻ làm trung tâm của mọi hoạt động, tôn trọng

    những điểm riêng biệt của trẻ nhằm khuyến khích chúng chủ động với môi trường

    xung quanh và mang đến cơ hội thể hiện năng lực, trí tuệ, óc sáng tạo mang bản

    sắc và dấu ấn cá nhân. Bằng những ưu điểm đặc biệt đó, Montessori đã từng bước

    khẳng định đây là phương pháp giáo dục phù hợp cho các bạn nhỏ mầm non.

    Glenn

    Doman

    Phương pháp này được

    nghiên cứu và sáng lập bởi giáo sư Glenn Doman về những phương pháp giáo dục sớm

    cho trẻ tại nhà dành riêng cho ba, mẹ. Phương pháp Glenn Doman được áp dụng

    trong quá trình giáo dục trẻ thông quá các loại thẻ bao gồm thẻ từ và thẻ số

    tương ứng với chương trình đọc, chương trình tính toán phù hợp với trẻ từ 3

    tháng tuổi trở lên. Thông qua các bài học bằng thẻ mỗi ngày, trẻ được kích

    thích phát triển trí não và có cơ hội trau dồi vốn từ, tạo khả năng nhanh nhạy

    về ngôn ngữ để làm chủ kiến thức.

    Phương pháp Steiner

    Một giải pháp độc đáo

    nhằm khai phá tiềm năng đặc biệt của trẻ còn được gọi với tên Waldorf do

    Rudolph Steiner do triết gia người Áo sáng lập. Phương pháp Steiner đặt trọng

    tâm vào 3 yếu tố cơ bản của con người là: suy nghĩ, cảm xúc, ý chí. Cách giáo dục

    hiện đại này thường tập trung để thúc đẩy sự liên tưởng, hợp tác và tạo cơ hội

    nhằm giúp các bé học tập, sáng tạo và phát triển thông qua các hoạt động múa

    hát, đọc truyện… Khai thác những tiềm năng bí ẩn ở mỗi bé đồng thời bổ sung những

    năng lượng mới mẻ để bé phát triển bản thân với cá tính riêng độc đáo hơn. Đó

    cũng là tâm ý trong lời chia sẻ của triết gia Steiner: “Sử dụng phương pháp giáo

    dục Steiner chính là một nghệ thuật – nghệ thuật của việc đánh thức những gì có

    sẵn trong con người”.

    Phương pháp giáo dục Reggio Emilia

    Được nghiên cứu và phát

    triển mạnh mẽ bởi nhà tâm lý học Loris Malaguzzi và các phụ huynh học sinh trong

    ngôi làng quanh thành phố Reggio Emilia, Italia. Phương pháp giáo dục “trao quyền

    tự chủ cho trẻ” mầm non chú trọng tới việc tăng cường và bồi dưỡng cho trẻ khả

    năng tự tư duy thông qua tổng hợp các loại hình ngôn ngữ biểu đạt, giao tiếp

    hay nhận thức. Trẻ em khi được giáo dục bằng phương pháp này sẽ tự giác thực hiện

    các hoạt động với người dẫn dắt là ba, mẹ hoặc thầy, cô. Để ý tưởng và sáng tạo

    của bé được mở rộng và phát triển hơn nữa, Reggio Emilia hướng đến có thể triển

    khai những dự án dựa trên ý tưởng muôn hình, muôn vẻ của các bé.

    Phương pháp Mother Goose Time

    Mother Goose Time được

    biết đến là một giáo trình Anh ngữ nổi tiếng dành để đào tạo cho các trường mầm

    non tại Mỹ. Chương trình giảng dạy này hướng đến sự phát triển toàn diện của “8

    trí thông minh được khoa học chứng minh và 33 kỹ năng đánh giá qua các hoạt động

    hằng ngày”.

    Thông qua chương trình

    đào tạo Mother Goose Time, các bé được tích hợp những kỹ năng nhạy bén để phát

    triển toàn diện trí thông minh ngay từ những năm đầu đời. Bên cạnh đó, phương

    pháp giáo dục này còn giúp trẻ khai thác triệt để trí tưởng tượng phong phú nhằm

    phát triển kỹ năng sáng tạo vượt trội và đa dạng. Hơn hết, Mother Goose Time

    chú trọng đặc biệt vào các chương trình đào tạo ngôn ngữ thứ 2 cho bé ngay từ

    khi còn nhỏ. Để bé có thể phát triển toàn diện nhất về cả mặt thể chất lẫn tinh

    thần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Nhân Cách Văn Hóa Cho Sinh Viên Sư Phạm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục An Toàn Giao Thông
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Bảo Vệ Bản Thân Cho Trẻ 5
  • Hãy Hiểu Đặc Điểm Của Tuổi Vị Thành Niên Để Tránh Hậu Quả Xấu Cho Trẻ Và Gia Đình
  • Nên Áp Dụng Các Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Phù Hợp Tâm Lý, Lứa Tuổi
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Thanh Hóa
  • Giải Pháp Cho Ngành Công Nghiệp Dệt May Việt Nam
  • Phát Triển Ngành Dệt May Việt Nam Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Tuyển Dụng Kế Toán Trưởng Tại Công Ty Cp Giải Pháp Bao Bì Thông Minh Việt Nam (Sps)
  • Luận Văn Thực Trạng, Định Hướng Và Giải Pháp Phát Triển Ngành Dệt May Xuất Khẩu Việt Nam
  • PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Bối cảnh của giải pháp

    Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số. Sự nghiệp văn hoá giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc nói chung, dân tộc Dao, dân tộc Thái và dân tộc Mường ở xã Quy Hướng nói riêng đã có nhiều tiến bộ, góp phần tích cực vào sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế địa phương. Tuy vậy, trình độ dân trí của đồng bào còn hạn chế nhất định, cộng với đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên hạn chế đến việc chăm lo học hành cho con em.

    Với nhiệm vụ chung của năm học: Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy giáo cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 03 của Bộ Chính trị. Tập trung chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.

    Điều chỉnh nội dung dạy học và đánh giá, xếp loại theo TT 30/BGD&ĐT và TT 22/ TT – BGDĐT sửa đổi bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh Tiểu học ban hành kèm theo TT30/2014/TTBGDĐT ngày 28/8/2014 của bộ giáo dục và đào tạo, sửa đổi bổ sung một số phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học. Tăng cường giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống. Đổi mới phương pháp dạy học. Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lí chỉ đạo, bồi dưỡng giáo viên, đề cao trách nhiệm, khuyến khích sự sáng tạo cũng như đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lí.

    II. Lý do chọn giải pháp

    Để góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của năm học, cũng như góp phần từng bước nâng cao chất lượng giáo dục tại địa bàn xã mà dân tộc Thái, Mường và dân tộc Dao chiếm phần lớn dân số của xã Quy Hướng, đặc biệt Trường Tiểu học và THCS Quy Hướng thì học sinh dân tộc Thái chiếm 37,2%, dân tộc Dao 32,8%, dân tộc Mường 22%; Do vậy các em gặp không ít khó khăn khi phải học tập và tiếp nhận sự giáo dục bằng Tiếng Việt, bởi vì:

    + Hầu hết các em còn rất hạn chế về ngôn ngữ nói, như : Nói chưa chuẩn, chưa đúng về một số hoặc nhiều tiếng, từ Tiếng Việt, tuỳ theo khu vực khác nhau của xã (với khu vực bản ở gần với người dân tộc Kinh thì trẻ em nói được nhiều Tiếng Việt chuẩn hơn bản ở xa người kinh).

    + Kỹ năng giao tiếp, diễn đạt bằng ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế. Các em chỉ giao tiếp với nhau bằng Tiếng Việt trong các tiết học hoặc khi tiếp xúc với thầy, cô giáo. Mà chủ yếu giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Mặt khác do bản tính rụt rè, ít nói chuyện, ít giao tiếp với người khác, đặc biệt là người dân tộc Kinh nên vốn từ tiếp thu được rất hạn chế. Chính vì vậy mà đại bộ phận học sinh có khi hiểu nhưng lại diễn đạt sai dẫn đến hiểu sai nghĩa. Ví dụ: Cô đi đâu ? thì học sinh lại nói: Đâu đi cô? hoặc Em đi học chưa? thì các em nói: Chưa học đi em? Hoặc là nói lẫn với tiếng dân tộc, tiếng mẹ đẻ của các em, hay các em chua biết diễn đạt đầy đủ câu, đủ ý mà các em muốn nói ra.

    + Kỹ năng nghe – hiểu – viết của học sinh nhìn chung là chậm, khả năng hiểu và xác định nghĩa của từ Tiếng Việt còn hạn chế hay dùng sai từ trong khi nói và viết.

    + Do ảnh hưởng thói quen nói tiếng mẹ đẻ, khả năng nhận diện con chữ chậm. Dẫn đến khả năng đọc của các em chậm, việc đọc liền mạch từ, câu gặp rất nhiều khó khăn. Khả năng đọc diễn cảm còn hạn chế.

    + Khả năng tiếp nhận thông tin, tư duy để xử lý, tái tạo nội dung thông tin của học sinh còn chậm. Vậy làm thế nào để dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3, làm giàu thêm vốn Tiếng Việt cho các em, giúp các em lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động và đạt được chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học theo yêu cầu, tôi là một giáo viên công tác 20 năm trên địa bàn xã khó khăn có đến 92% học sinh toàn trường là người dân tộc Dao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam Về Đưa Người Lao Động Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng
  • Một Số Định Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Ở Vn Hiện Nay
  • Bất Cập Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Hợp Đồng Ở Việt Nam, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100