Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Hãy phân tích những đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ ở đoạn thơ sau:

    “Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

    Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Tôi dang tay ôm nước vào lòng

    Sông mở nước ôm tôi vào dạ

    Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

    Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

    Kể cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông…”

    (Tế Hanh – Nhớ con sông quê hương)

    Bài văn hay phân tích Những đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các biện pháp tu từ trong Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh

    Có người ví một tác phẩm văn học như con người mà nội dung là thể xác, nghệ thuật là tâm hồn. Nếu quả như vậy thì đoạn thơ:

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    …….

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    (Tế Hanh – Nhớ con sông quê hương)

    là “con người-thơ” thực sự, kết hợp bởi cả thể xác và tâm hồn. Đoạn thơ in dấu ấn trong người đọc chính vì “tâm hồn” nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng:

    Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

    Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

    Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Lối dùng từ láy và đảo ngữ tạo cho hai câu thơ trên sự nhịp nhàng, uyển chuyển như nhịp đi của cảm xúc tâm trạng tác giả. Hơn thế nữa, lối đảo ngữ đó còn chạm khắc rất rõ nét trước mắt ta, hình ảnh bên con sông. Cảnh sinh động, rộn rã lạ thường:

    …. ríu rít tiếng chim kêu

    …. chập chờn con cá nhảy

    Cuộc sống của chim trên cạn, cá dưới nước được tái hiện linh hoạt, giàu hình ảnh. Từ láy “ríu rít” gợi ra âm thanh trong trẻo, đông vui, “chập chờn” ghi lại hình ảnh từng chú cá nhảy lên rồi lại lặn xuống. Cảnh thật vui tươi, sống động.

    Bầy chim non bơi lội trên sông

    Lối vật hóa kết hợp cùng ẩn dụ một cách hài hòa, nhuần nhị đã diễn đạt khá thành công ý nghĩ về sự thơ ngây, hồn nhiên của tuổi thơ tác giả. Trong hồi ức của ông, ngày đó, ông và bạn bè hết sức vô tư và non dại, cứ ngây thơ như “bầy chim non”. Nghệ thuật đó còn bộc lộ cả tình yêu, thái độ trìu mến của nhà thơ với những kỉ niệm thời niên thiếu. Chỉ một khổ thơ bốn câu nhưng đã nói với chúng ta bao điều về tuổi thơ tác giả. Đó là tuổi thơ hòa mình với tiếng chim trong veo, hót “ríu rít”, gắn với con cá, mặt nước, bạn bè… thật đẹp, thật đáng nhớ, đáng yêu:

    Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

    Sông mở nước ôm tôi vào dạ

    Thật khó tìm được bài thơ nào viết về con sông mà có những hình ảnh tuyệt đẹp, hết sức độc đáo đó. Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ kết hợp nhuần nhuyễn. Từ hình ảnh thực: tác giả ôm nước và tắm giữa lòng sông, nhà thơ đã nâng lên thành hình ảnh đặc sắc, có tầm nghĩa khái quát cao hơn. Đó là con người tác giả và con sông rất gắn bó với nhau, mật thiết như là anh em, máu thịt của nhau. Cả hai đến với nhau cùng nhau giao hòa cộng hưởng, dành cho nhau khoảnh khắc tuyệt diệu nhất của tuổi trẻ. Phải yêu sông lắm, thực sự gắn bó với sông, Tế Hanh mới có được kỉ niệm, và lưu giữ được những kỉ niệm đó, gửi gắm được vào những dòng thơ tuyệt vời, giàu hình ảnh đến như vậy.

    Đoạn thơ khép lại:

    Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

    Kẻ sớm hôm chài lưới bên sông

    Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng

    Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

    Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

    Vẫn trở về lưu luyến bên sông

    Từ “kẻ” được lặp đi lặp lại đến hai lần, nó vừa có ý nghĩa nhấn mạnh về sự chia xa, tản mát của bạn bè, vừa ẩn chứa sự tiếc nuối vô hạn của tác giả vì kỉniệm tuổi thơ nay đành gác lại, trả về thời gian, dĩ vãng.

    Khi so sánh “lòng tôi như mưa nguồn gió biển” hẳn nỗi nhớ trong lòng tác giả đang cuộn lên dâng tràn dào dạt. Hình ảnh ấy giúp ta “thấy” được nỗi nhớvốn vô hình vô ảnh, giúp ta nắm bắt được tâm trạng, nỗi lòng nhớ nhung của tác giả khi nghĩ về dòng sông ở quê hương.

    Đoạn thơ có cái gì như ngậm ngùi, chua xót, nuối tiếc những kỉ niệm ấu thơ. Không buồn sao được khi chuỗi ngày tươi đẹp gắn liền với dòng sông quê hương giờ không thể nào, không bao giờ có lại được. Tác giả tiếc như tự mình đánh mất một cái gì vô cùng quý giá, vô giá. Kỉ niệm với bao khoảnh khắc “khi bờ tre…”, “khi mặt nước…”, điệp từ “khi” chỉ ra bao khoảng thời gian giờ đành im lặng nghẹn ngào.

    Đoạn thơ trên, với nghệ thuật đa dạng, phong phú đã ghi lại tấm lòng “nhớ con sông quê hương” của tác giả, và đó cũng đồng thời là nỗi nhớ, tình yêu nước thiết tha, sâu nặng của tác giả, người con đất Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 11: Thương Vợ
  • Biện Pháp Nghệ Thuật, Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Vội Vàng
  • Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng (Bài Viết Số 2, Sgk Ngữ Văn Nâng Cao, Tập 1)
  • Các Phép Tu Từ Trong Tiếng Anh
  • Cảm Nhận Về Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Quê Hương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ: Việt Nam Quê Hương Ta (Nguyễn Đình Thi)
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta
  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Tuần 22. Rừng Xà Nu
  • Văn Mẫu Lớp 8 Tập 2: Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ.
  • Thời điểm đoàn thuyền ra khơi là một bình minh lí tưởng: “trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng”. Bầu trời trong sáng, không một gợn mây, gió nhè nhẹ thổi, ánh hồng bình minh phớt hồng chân trời. Khung cảnh ấy dự báo một chuyến ra khơi gặp trời êm biển lặng. Những chiếc thuyền buồm là biểu tượng cho sức mạnh và khí thế ra khơi đánh cá của đoàn trai tráng làng chài:

    “Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

    Phăng mái chèo vội vã vượt trường giang”.

    “Hăng” nghĩa là hăng hái, hăng say gợi tả khí thế ra khơi vô cùng mạnh mẽ, phấn chấn. Con thuyền được so sánh “hăng như con tuấn mã” là một so sánh độc đáo. Tuấn mã là ngựa tơ, ngựa khỏe, ngựa đẹp và phi nhanh. Những con thuyền lướt sóng như đoàn tuấn mã phi như bay với khí thế hăng say, với tốc độ phi thường. Những chiếc mái chèo từ cánh tay của “dân trai tráng” như những lưỡi kiếm dài, to lớn chém xuống, “phăng” xuống mặt nước, đẩy con thuyền vượt trường giang một cách “vội vã”, “mạnh mẽ”. Trước đây, nhà thơ viết: “Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang”, nhưng sau này, tác giả thay chữ “mạnh mẽ” bằng chữ “vội vã”. Có lẽ vừa diễn tả một chuyến ra khơi hối hả, khẩn trương, vừa để hiệp vần: tiếng “vã” vần với tiếng “mã” làm cho vần thơ giàu âm điệu gợi cảm. Hình ảnh thứ ba là cánh buồm. Cánh buồm nâu dãi dầu mưa nắng, sương gió biển khơi nên đã trắng bạc, thành “chiếc buồm vôi”:

    “Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp giỏ”.

    “Trương” là “giương” lên cao to, được gió thổi căng phồng đê “bao la thâu góp gio”. Lần thứ hai, Tế Hanh sáng tạo nên một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp: “Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng”. Cánh buồm tượng trưng cho sức mạnh và khát vọng ra khơi đánh cá, chinh phục biển để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Cánh buồm – mảnh hồn làng – ấy còn là niềm hi vọng to lớn của làng chài quê hương. Chữ “rướn” là từ gợi tả, đặc sắc. Con thuyền, cánh buồm như ưỡn ngực ra, hướng vẻ phía trước, xốc tới với sức mạnh to lớn, với khí thế hăm hở phi thường, vượt qua mọi trở lực, khó khăn.

    Bốn câu thơ tiếp theo ghi lại không khí làng chài đón đoàn thuyên đánh cá trở về:

    “Ngày hôm sau, ồn ào, trên bến đỗ

    Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

    Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe,

    Những con cá tươi ngon, thân bạc trắng”.

    Sau một ngày đêm ra khơi đánh cá, đoàn thuyền đã trở về bến. Cả làng chài, hàng trăm người, già trẻ, gái trai, những ông bố bà mẹ, những người vợ đứa con… ra bến đợi từ sáng sớm. Đông vui “tấp nập” và “ồn ào”. Có niềm vui sướng nào to lớn hơn? “Cá tươi ngon, thân bạc trắng” đầy ắp các khoang thuyền. Câu thơ “Nhờ ơn trời, biến lặng, cá đầy ghe” đã thể hiện một cách cảm động nỗi niềm, tâm trạng, tấm lòng của bà con làng chài: sống gắn bó với biển khơi, tin vào trời đất một cách thánh thiện. “Nhờ ơn trời” nên ra khơi gặp nhiều may mắn: biển lặng, sóng êm, gặp luồng cá đánh bắt được nhiều, “cá đầy ghe”. Làm ruộng, đánh cá, hay đi rừng, đi biển,… qua hàng nghìn năm, sống gắn bó với thời tiết, với thiên nhiên, cho nên “ơn trời mưa nắng phải thì…”, “Nhờ trời hạ kế sang đông…”, “Trời cho chân cứng đá mềm”, v.v… là lời cầu mong, là niềm tin thánh thiện, phác thực của bà con lao động xưa nay. Tế Hanh đã diễn tả niềm tin ấy, lời cầu mong chúc phúc ấy một cách giản dị chân thành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 2. Cho Câu Thơ: “khi Trời Trong, Gió Nhẹ, Sớm Mai Hồng”.. 1. Chép Chính Xác Những Câu Thơ Còn Lại Để Hoản Thành Khổ Thơ Thứ 2 Bài “quê Hương” Của Tế Ha
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Bài 7. Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời Câu Hỏi Sau: “quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng Quê Hương Là Con Đò Nhỏ Êm Đềm Khua Nước Ven Sông” (Quê
  • 1 Chỉ Ra Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Được Và Nêu Tác Dụngcuar Chúng Trong Vd Sau: A Quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng ( Đỗ Trung Quân) B Qu
  • Phân Tích Hiệu Quả Diễn Đạt Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Là Con Diều Biếc…

    --- Bài mới hơn ---

  • 1 Chỉ Ra Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Được Và Nêu Tác Dụngcuar Chúng Trong Vd Sau: A Quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng ( Đỗ Trung Quân) B Qu
  • Bài 7. Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời Câu Hỏi Sau: “quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng Quê Hương Là Con Đò Nhỏ Êm Đềm Khua Nước Ven Sông” (Quê
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương
  • Bài 2. Cho Câu Thơ: “khi Trời Trong, Gió Nhẹ, Sớm Mai Hồng”.. 1. Chép Chính Xác Những Câu Thơ Còn Lại Để Hoản Thành Khổ Thơ Thứ 2 Bài “quê Hương” Của Tế Ha
  • Phát hiện rồi phân tích các yếu tố ngôn ngữ có giá trị tu từ trong đoạn thơ:

    – Hai hình ảnh so sánh “Quê hương là con diều biếc…” và “Quê hương là con đò nhỏ…” là hai hình ảnh cụ thể, thân thuộc, bình dị của quê hương.

    – Hình ảnh “con diều”, “con đò” kết hợp với những từ ngữ giàu màu sắc, đường nét “biếc”,”nhỏ”; từ láy “êm đềm” cùng với những động từ chỉ hoạt động “thả”, “khua” giàu sức gợi cảm, nhà thơ đã diễn tả một cách cụ thể, hình tượng gương mặt “tâm hồn” quê hương

    – Tác giả đã sử dụng những dòng thơ sáu tiếng, chủ yếu là các tiếng mang thanh bằng cùng với lối điệp cấu trúc “Quê hương là…” tạo nên âm điệu du dương, dìu dịu, lan trải đưa những hình ảnh thân thuộc, đong đầy những kỉ niệm của quê hương lắng nhẹ vào tâm hồn con người để rồi cứ ngân vang mãi.

    – Đoạn thơ cho ta thấy tác giả đã bộc lệ những suy nghĩ về quê hương thông qua những hình ảnh rất cụ thể. Quê hương yêu dấu gắn liền với những hoại niệm của tuổi thơ. “Cánh diều biếc” thả trên cáh đồng từng mang đấu ấn của tuổi thơ đẹp. Đó là cánh diều thả sau mùa gặt. Chữ “biếc”gợi tả cánh diều tuyện đẹp. – Âm thanh của “con đò nhỏ” khua nước trên dòng sông quê hương êm đềm mà lắng đọng. Âm thanh mộc mạc, giải dị nhưng rất đỗi thân thiết không thể nào quên. Tiếng mái chèo khua nước ấy là kỷ niệm của thổi thơ với quê hương yêu dấu. – Có thể nói những kỷ niệm đơn sơ, giải dị của quê hương luôn có sự gắn bó bằng tình cảm của con người gần như là máu thịt. Nghĩ về quê hương như vậy, ta thấy tình cảm của nhà thơ đối với quê hương thật đẹp đẽ va sâu sắc. – Nghệ thuật so sánh tạo nên hình ảnh đẹp đầy sáng tạo, đặc sắc và độc đáo đã gợi tả một không gian nghệ thuật có chiều cao, sắc biếc của bầu trời, có chiều rộng của cánh đồng quê, có chiều dài của năm tháng, có âm thanh thân thuộc của mái chèo trên dòng sông quê. Nhà thơ đã nói lên một cách đằm thắm, thiết tha một tình yêu quê hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1. Bốn Câu Thơ Cuối Bài ” Quê Hương” Thể Hiện Nỗi Nhớ Của Nhà Thơ. Theo Em, Nỗi Nhớ Ấy Có J Đặc Biệt. 2. Bài Thơ ” Quê Hương” Cho Em Hiểu J Về Tình Cảm Của Tế
  • Bài Văn Phân Tích Khổ 2 Của Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương, Văn Mẫu
  • Nêu Xuất Xứ Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Và Qua Đèo Ngang Nêu Ý Nghĩa Cảu Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Và Qua Đèo Ngang Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Bài Th
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phân Tích Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một…

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Ngữ Văn 11 Thpt Trường Chinh
  • Đề Thi Chọn Hsg De Thi Chon Hsg Lop 8 Cap Truong Lan 1 Docx
  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Đỗ Trung Quân
  • Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một
  • Bài Thơ Của Đỗ Trung Quân Có Đoạn: Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một …. Sẽ Không Lớn Nổi Thành Người. Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Của Những Câu Thơ Trên Và Nêu Vai Trò Tác Dụng Của Tình Quê Hương Đất Nước Với Cuộc Sống Tâm Hồn Của Mỗi Con Người. (Dàn Bài&
  • 1. Giải thích

    – Cách so sánh độc đáo, thú vị: quê hương là mẹ.

    – Qua cách so sánh, nhà thơ khẳng định tình cảm gắn bó của con người với quê hương.

    2. Bàn luận

    – Lời thơ mộc mạc, giản dị nhưng chứa đựng những tình cảm chân thành, sâu sắc của tác giả đối với quê hương: tình cảm với quê hương là tình cảm tự nhiên mang giá trị nhân bản, thuần khiết trong tâm hồn mỗi con người, đó là nơi ta sinh ra, lớn lên, có gia đình, kỉ niệm thời thơ ấu…

    – Quê hương chính là nguồn cội, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó, nuôi dưỡng sự sống, đặc biệt là đời sống tâm hồn của mỗi người. Quê hương luôn bồi đắp cho ta những giá trị tinh thần cao quí (tình làng nghĩa xóm, tình cảm quê hương, gia đình sâu nặng…).

    – Quê hương là bến đỗ bình yên, là điểm tựa tinh thần của con người trong cuộc sống. Dù đi đâu, ở đâu hãy luôn nhớ về nguồn cội.

    – Đặt tình cảm với quê hương trong quan hệ với tình yêu đất nước, hướng về quê hương không có nghĩa chỉ hướng về mảnh đất nơi mình sinh ra mà phải biết hướng tới tình cảm lớn lao, thiêng liêng bao trùm là Tổ quốc, là Đất nước để Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

    – Có thái độ phê phán trước những hành vi suy nghĩ chưa tích cực về quê hương: chê quê hương nghèo khó lạc hậu….

    3. Bài học nhận thức và hành động

    – Có nhận thức đúng đắn về tình cảm với quê hương : Xây đắp, bảo vệ quê hương, phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mổi con người.

    – Có ý thức tu dưỡng, học tập, phấn đấu xây dựng quê hương: Là HS, ngay từ bây giờ phải tu dưỡng, tích lũy kiến thức để sau này xây dựng, bảo vệ quê hương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa
  • Cac Bien Phap Tu Tu
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Câu: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/thương …
  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Về Bài Ca Dao: Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Phân Tích Bài Ca Dao Sau: Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…nhớ Ai Tát Nước Bên Đường Hôm Nao.
  • Cảm Nghĩ Về Bài Ca Dao Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Cách Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Các Phép Tu Từ Trong Tiếng Anh
  • Anh đi anh nhớ quê nhà,

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương,

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

    Về bài ca dao này, có người cho rằng nó là lời tỏ tình với cô thôn nữ của chàng trai làng sắp đi xa. Cách hiểu thứ hai: Chàng trai đã đi xa lâu ngày, anh nhớ quê, nhớ người con gái làng anh mà anh từng thầm yêu trộm nhớ. Quê nhà và cô gái đã trở thành kỉ niệm sâu sắc, kết đọng thành nỗi nhớ không thể nào quên.

    Hai câu đầu nói lên nỗi nhớ quê:

    Anh đi anh nhớ quê nhà,

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

    Anh đi trong văn cảnh, nghĩa là đã đi xa, đã lâu ngày. Anh đi làm thợ, đi lính thú, đi tha hương cầu thực… Nay ở nơi đất khách quê người, năm tháng đã trôi qua, anh mới có nỗi nhớ ấy: nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Ba chữ nhớ diễn tả nỗi nhớ triền miên, day dứt, khôn nguôi. Nhớ quê nhà là nhớ ông bà, mẹ cha, anh chị em; là nhớ mái rạ, hàng cau, mảnh vườn, chiếc áo, luỹ tre; là nhớ đồng lúa xanh, cánh cò

    trắng, con diều biếc… nhớ bạn bè tuổi thơ. Bốn tiếng anh nhớ quê nhà thật hàm súc, gợi lên bao nỗi nhớ đầy vơi. Đúng là

    Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

    (Chế Lan Viên)

    Câu thứ hai nói lên hai nỗi nhớ rất cụ thể. Anh đi xa, anh nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Đó là hương vị đậm đà của quê nhà thân yêu. Quê nghèo, chỉ có món ăn bình dị ấy. Anh mộc mạc, chất phác, anh rất yêu quê nhà, anh nhớ hương vị của canh rau muống, nhớ quả cà dầm tương. Đâu cứ phải cảnh giàu sang phú quý, có cơm gà cá gỡ… mới nhớ? Anh nhớ cái bình dị của quê hương, một bát canh, một quả càvới tất cả tâm hồn. Anh thuần hậu, chất phác và đáng yêu. Vả lại, bát canh rau muống, quả cà dầm tương là hương vị của cây nhà lá vườn, trong đó còn có tình thương của người mẹ hiền tần tảo sớm khuya. Sau này, nhiều nhà thơ đã có những vần thơ đẹp viết về hương quê như hương nhãn, hương cốm mới, canh cá tràu, canh mồng tơi… Hương quê, tình quê sâu đậm biết dường nào:

    Canh cá trầu mẹ thường hay nấu khế

    Khế trong vườn, thèm một tí rau thơm

    Ừ, thể đó mà một đời xa cách mẹ

    Ba mươi năm trở lại nhà, nước mắt xuống mâm cơrn

    (Canh cá trầu – Chế Lan Viên)

    Hai câu 3, 4, nỗi nhớ của anh đã hướng sang một đối tượng mới. Từ nhớ cảnh, nhớ quê, nhớ hương vị quê nhà, anh nhớ đến người:

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương,

    Nhớ ai tát nước bèn đường hôm nao.

    Nhớ ai rồi lại nhớ ai dào dạt trào dâng trong lòng. Ai là đại từ nhân xưng phiếm chỉ. Nỗi nhớ ấy hướng về những người thầm thương ở quê nhà dãi nắng dầm sương, chân lấm tay bùn vất vả. Nhớ ai ở đây còn có thể nhớ cả những người không quen biết như nhà thơ Tế Hanh đã thổ lộ trong bài Nhớ con sông quê hương.

    Điệp ngữ nhớ ai diễn tả nỗi nhớ nhiều man mác, bâng khuâng. Nỗi nhớ mà anh hướng tới cuối cùng là “Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”. Ai trong câu thơ này là cô thôn nữ hay lam hay làm, duyên dáng mà anh đã thầm yêu trộm nhớ. Hôm nao là hôm nào, là đêm trăng. Cảnh lao động của em mà anh nhớ là tát nước. Nơi tát nước cũng là nơi hò hẹn, đó là bên đàng. Có thế đó là một kỉ niệm mà nghìn năm chưa dễ mấy ai quên. Kỉ niệm ấy đã hơn một lần được nói đến:

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

    Bốn câu lục bát có âm điệu nhẹ nhàng, diễn tả một tình cảm đẹp: tình thương nhớ quê nhà. Giọng thơ cũng thật bồi hồi, bâng khuâng. Điệp từ nhớ và điệp ngữ nhớ ai chính là thủ pháp tạo nên giọng thơ ấy. Cái hay, cái đậm đà của bài ca dao là nhớ hương quê, nhớ cô thôn nữ từng hẹn ước đã làm cho nỗi nhớ quê nhà thêm thiết tha, sâu nặng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghe Tiếng Giã Gạo: Gạo Đem Vào Giã Bao Đau Đớn / Gạo Giã Xong Rồi Trắng Tựa Bông / Sống Ở Trên Đời Người Cũng Vậy / Gian Nan Rèn Luyện Mới Thành Công (Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Viết Một Đoạn Văn Chủ Đề Quê Hương Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Ôi! sông nước quê hương đẹp làm sao. Sau một năm gặp lại, lần đầu tiên, em được nhìn cây cổ thụ già nơi các bạn nhỏ đang nô đò và những tiếng vỗ tay hò reo giữa nơi yên tĩnh ở đồng quê. Không những thế nơi đây đã thay đổi hơn trước, những tòa nhà cao tầng đã được xây nhiều hơn trước hòa với con đường đã được trán một lớp nhữa dày ôi! thật tuyệt vời làm sao. Tiếp sau đó em còn được thưởng thức các món đặc sản ở quẹ em trông nó ngon tuyệt!. Tuy những ngày về quê không được bao lâu nhưng nó là những kỷ niệm rất có ý nghĩa mà em không thể nào quên được, vì ở đây em còn được ở gần bà nội, ngắm cảnh đồng quê thanh bình yên ả.

    Đoạn văn ngắn 2

    Quê hương em đẹp biết bao, nơi đây có đồng lúa chín vàng, những cánh cò trắng là là bay. Các cô bác nông dân chăm chỉ làm việc quanh năm suốt tháng. Những đứa trẻ mục đồng thổi sao trên lưng trâu. Dòng sông thơ mộng chảy quanh. Em gọi to: Quê hương! Quê hương ơi!. Phải, quê hương, nơi chúng ta sinh ra và lớn lên, đã cho ta tiếng khóc từ khi chào đời. Để cho quê hương giàu đẹp hơn, ta cần phải học tập, rèn luyện thật tốt để xây dựng quê hương.

    *câu đặc biệt có màu xanh. đề nghị cho một tràng vỗ tay!!!!!!!!!

    Đoạn văn ngắn 3

    Cũng giống như những con sông khác, con sông quê em cũng uốn lượn như một con rồng. Nó mang hương vị mặn mòi của vùng quê em, vùng quê có di tích lịch sử (đền thờTiên La), vùng quê địa linh nhân kiệt. Chính cài hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt. Tuy con sông không rộng lắm nhưng nó rất dài. Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụa đào tha thướt, trưa về chiếc áo lụa đào ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may, chiều về chiếc áo lại được dát vàng long lanh. đêm đến, sông mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực và những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương.

    Nước sông như dòng sữa ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng, dòng nước mát luôn dang tay đón chúng em tắm mát, bơi lội nô đùa trong những ngày hè oi bức.

    Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rồi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng rồi có đi đâu xa chân trời góc biển em vẫn nhớ về quê em, những kỉ niệm với dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em

    Đoạn văn ngắn 4

    Quê hương em đẹp biết bao, nơi đây có đồng lúa chín vàng, những cánh cò trắng là là bay. Các cô bác nông dân chăm chỉ làm việc quanh năm suốt tháng. Những đứa trẻ mục đồng thổi sao trên lưng trâu. Dòng sông thơ mộng chảy quanh. Em gọi to: Quế hương! Quế hương ơi!!! Phải, quê hương, nơi chúng ta sinh ra và lớn lên, đã cho ta tiếng khóc từ khi chào đời. Để cho quê hương giàu đẹp hơn, ta cần phải học tập, rèn luyện thật tốt để xây dựng quê hương.

    *câu đặc biệt có màu xanh. đề nghị cho một tràng vỗ tay!!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ: Từ Ấy (Tố Hữu
  • Tìm Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Từ Ấy Trong Tôi Bừng Nắng Hạ…
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Tiên Trong Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Bỗng Nhận Ra Hương Ổi…sang Thu
  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Và Dấu Hiệu Đặc Sắc Trong Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “sang Thu”
  • Bài 7. Đọc Đoạn Thơ Sau Và Trả Lời Câu Hỏi Sau: “quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng Quê Hương Là Con Đò Nhỏ Êm Đềm Khua Nước Ven Sông” (Quê

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Của Nhà Thơ Tế Hanh
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương
  • Bài 2. Cho Câu Thơ: “khi Trời Trong, Gió Nhẹ, Sớm Mai Hồng”.. 1. Chép Chính Xác Những Câu Thơ Còn Lại Để Hoản Thành Khổ Thơ Thứ 2 Bài “quê Hương” Của Tế Ha
  • Cảm Nhận Về Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Quê Hương
  • Bài Thơ: Việt Nam Quê Hương Ta (Nguyễn Đình Thi)
  • Câu 6:

    Câu ca dao được cha ông ta đúc kết từ hàng nghìn năm nay nhưng đến tận bây giờ, nó vẫn là bài ca hay nhất về công lao của cha mẹ dành cho con cái.

    Cha sinh mẹ dưỡng, nuôi nấng con nên người. Cha mẹ đã phải trải qua biết bao nhiêu khó khăn, vất vả để mang đến cho con tiếng cười, niềm hạnh phúc. Dân gian xưa đã lấy hình ảnh ngọn núi Thái Sơn để ví như công lao của người cha. Đây là một hình ảnh so sánh vừa chân thực, vừa cụ thể. Núi Thái Sơn là một trong những ngọn núi cao và hùng vĩ nhất Trung Quốc. Công lao nuôi dưỡng của người cha cũng vậy, không thể nào cân đong đo đếm dược. Trong quan niệm phong kiến xưa, người cha được coi là trụ cột của gia đình, là người lo toan gánh vác những công việc to lớn, nặng nhọc. Dân gian ta có câu: Con có cha như nhà có nóc. Nóc đối với ngôi nhà là vô cùng quan trọng, che mưa, gió, bão giúp cho ngôi nhà được chắc chắn. Ngôi nhà không có nóc cũng như những đứa trẻ bất hạnh mồ côi cha, không có một chỗ dựa tinh thần vững chắc. Có thể nói vai trò của người cha trong xã hội trọng nam khinh nữ xưa hay trong cuộc sống hiện đại ngày nay là vô cùng quan trọng.

    Công lao sinh dưỡng của mẹ cũng vô cùng to lớn: Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Cách so sánh này quả thực rất hay. Bởi lẽ nước trong nguồn không bao giờ chảy hết cũng như tình cảm mẹ dành cho con cũng không bao giờ vơi cạn. Mẹ mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày rồi cho con bú mớm, rồi nuôi dưỡng con nên người. Nước trong nguồn chảy ra cũng ngọt ngào, dịu mát như dòng sữa mẹ vậy. Dòng sữa trắng trong chứa đựng biết bao tình cảm, sự hi sinh mẹ dành cho con.

    Câu 7:

    a)

    Phát hiện rồi phân tích các yếu tố ngôn ngữ có giá trị tu từ trong đoạn thơ:

    – Hai hình ảnh so sánh “Quê hương là con diều biếc…” và “Quê hương là con đò nhỏ…” là hai hình ảnh cụ thể, thân thuộc, bình dị của quê hương

    – Hình ảnh “con diều”, “con đò” kết hợp với những từ ngữ giàu màu sắc, đường nét “biếc”,”nhỏ”; từ láy “êm đềm” cùng với những động từ chỉ hoạt động “thả”, “khua” giàu sức gợi cảm, nhà thơ đã diễn tả một cách cụ thể, hình tượng gương mặt “tâm hồn” quê hương

    – Tác giả đã sử dụng những dòng thơ sáu tiếng, chủ yếu là các tiếng mang thanh bằng cùng với lối điệp cấu trúc “Quê hương là…” tạo nên âm điệu du dương, dìu dịu, lan trải đưa những hình ảnh thân thuộc, đong đầy những kỉ niệm của quê hương lắng nhẹ vào tâm hồn con người để rồi cứ ngân vang mãi

    b)

    “…Quê hương là cánh diều biếc

    Tuổi thơ con thả trên đồng

    Quê hương là con đò nhỏ

    Êm đềm mùa nước bên sông…”

    Bạn sẽ cảm thấy gì khi nghe bài hát này lúc khuya vắng hay lúc lòng mình đang ngổn ngang cảm xúc? Tôi không thể diễn tả được cái cảm giác đó, chỉ biết nó làm cho Tôi cảm thấy nhớ nhà da diết, hoặc muốn làm một cái gì đó vĩ đại hoặc cũng chẳng muốn làm gì cả. Và lúc đó Tôi chỉ biết lang thang trên các con ngõ nhỏ gần nhà trọ để nhìn sâu thẳm vào trời đêm! Cuộc sống bon chen chốn Đô thành khiến con người ta cứ phải gồng mình nên để gánh chịu những áp lực của đời sống vật chất và tinh thần, sự ngột ngạt của không khí, sự chật chội sinh hoạt hàng ngày. Và nhiều nhiều những thứ khác nữa khiến cho con người ta thật khó tìm được những phút giây thảnh thơi. Những lúc đó Tôi thường nghĩ về Quê hương, về những năm tháng đã đi qua.Những tháng ngay còn đi học thường rất hay về thăm quê. Nhưng khi đi làm thì việc về quê cứ ít dần đi theo năm tháng bởi nhiều lý do khác nhau. Và cũng vì thế mà những ngày được về quê thật đáng quý biết bao. Một bầu trời thanh bình và dịu mát , không khí thật trong lành và tình người cũng thật ấm áp…Tôi muốn được tận hưởng cái thời gian ấy thật nhiều, thật nhiều, những con đường đầy cỏ dại, những lùm cây xanh và cả con sông nhỏ dẫu không còn thơ mộng như ngày nào. Một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên luôn tạo cho chúng ta những cảm giác tuyệt vời hơn khi phải sống ơ những nơi mà “Mưa không tới mặt, nắng chẳng tới đầu”Tuổi thơ đi qua thật nhanh, giờ đây chỉ còn là kỷ niêm, và nó đang bị mờ nhạt dần bởi cuộc sống đời thường. Cuộc sống hiện tại là sự chen lấn và xô đẩy đến khắc nghiệt và Tôi không thể thoát nổi khỏi cái vòng luẩn quẩn đó. Những kỷ niệm đó dần qua đi để nhường chỗ cho những nếp nhăn của sự nhọc nhằn đang dần được hình thành. Nghe thì thật xót xa, nhưng các bạn và Tôi vẫn đang chấp nhận nó đó thôi, chấp nhận nó như một quy luật của tạo hoá.Nhìn các thế hệ đàn em đang ngày càng khôn lớn, rồi nó sẽ như chúng ta, hoặc hơn chúng ta (?!) Nhưng thật khó tìm lại hình ảnh của chúng ta qua đó, bởi cuộc sống bây giờ của chúng đã khác xa chúng ta rồi. Đó cũng là niềm vui khi càng ngày cuộc sống càng được nâng cao, nhưng cũng không khỏi chạnh lòng khi thấy mình đang mất dần đi những kỷ niệm đáng yêu đó. Còn đâu những trò chơi khăng, đánh đáo, hay là những trò nghịch đất nặn lên những đồ vật ngây thơ theo đúng suy nghĩ trẻ thơ… giờ đây là những đồ chơi điện tử, games, và cả những truyện tranh đầy hình ảnh bạo lực …Cuộc sống là như vậy, Các bạn và Tôi sẽ sống như thế nào đây nếu chỉ ngồi đó mà suy nghĩ và hoài niệm. Đó chỉ là những phút giây khiến ta mềm lòng mà thôi.

    “Quê hương nếu ai không nhớ

    Sẽ không lớn nổi thành người”

    Rồi đây công việc lại tiếp diễn theo những quy luật của nó và cả những chu kỳ riêng của mỗi người. Ngày lại qua ngày…

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1 Chỉ Ra Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Được Và Nêu Tác Dụngcuar Chúng Trong Vd Sau: A Quê Hương Là Con Diều Biếc Tuổi Thơ Con Thả Trên Đồng ( Đỗ Trung Quân) B Qu
  • Phân Tích Hiệu Quả Diễn Đạt Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Là Con Diều Biếc…
  • 1. Bốn Câu Thơ Cuối Bài ” Quê Hương” Thể Hiện Nỗi Nhớ Của Nhà Thơ. Theo Em, Nỗi Nhớ Ấy Có J Đặc Biệt. 2. Bài Thơ ” Quê Hương” Cho Em Hiểu J Về Tình Cảm Của Tế
  • Bài Văn Phân Tích Khổ 2 Của Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương, Văn Mẫu
  • Nêu Xuất Xứ Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Và Qua Đèo Ngang Nêu Ý Nghĩa Cảu Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Và Qua Đèo Ngang Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Bài Th
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Câu: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/thương …

    --- Bài mới hơn ---

  • Cac Bien Phap Tu Tu
  • Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa
  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một…
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Ngữ Văn 11 Thpt Trường Chinh
  • Đề Thi Chọn Hsg De Thi Chon Hsg Lop 8 Cap Truong Lan 1 Docx
  • Trong hai câu thơ:

    “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

    Bà huyện Thanh Quan đã sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ: chơi chữ đồng âm – đồng nghĩa, nhân hóa đôi và đảo ngữ.

    Hai câu thơ trên nằm trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của tác giả. Đèo Ngang xưa kia vốn là ranh giới ngăn cách đất nước ta trong một thời gian dài tạo ra hai khu vực riêng biệt Đàng Trong – Đàng Ngoài. Khi làm bài thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã từ giã quê nhà là thành Thăng Long để lên đường vào Huế. Rời Đèo Ngang đây là bà rời Đàng Ngoài xưa để bước vào nơi Đàng Trong. Nỗi buồn sầu phải rời xa quê hương cùng với lịch sử xa xưa của Đèo Ngang đã khiến tâm hồn đa cảm của nữ sĩ đã khiến bà viết nên hai câu thơ thật buồn.

    Nơi Đèo Ngang heo hút, sự sống con người vắng vẻ và xơ xác. Nhiều hơn là sự hoang dã của cỏ cây muông thú. Tiếng chim cuốc và chim đa đa vang lên khiến bà chạnh lòng nghĩ đến nỗi buồn riêng. Tiếng kêu của hai loài chim được liên tưởng đồng âm với hai danh từ “quốc” và “gia” nên thành loài chim “quốc quốc” và “gia gia”. Mặt khác, “quốc” có nghĩa là “nước” và “gia” có nghĩa là “nhà” vậy nên có sự tương ứng giữa nỗi buồn đau được nhân hóa của mỗi loài vật với tên gọi và tiếng kêu của chúng: con quốc đau lòng nhớ nước, con gia gia mỏi miệng thương nhà. Phép chơi chữ độc đáo ấy tạo nên nét riêng rất đặc sắc cho hai câu thơ.

    Chẳng những vậy, hai câu thơ còn sử dụng phép đảo ngữ và phép đối. Theo cách viết thông thường, hai câu thơ trên sẽ được viết là: con quốc quốc nhớ nước đau lòng, cái gia gia thương nhà mỏi miệng (kêu). Nhưng nay, những động từ thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình đều được đảo lên phía đầu câu thơ đồng thời hai câu thơ có đối nhau rất nhịp nhàng: “Nhớ nước” – “Thương nhà”, “đau lòng” – “mỏi miệng”, “con quốc quốc” – “cái gia gia”. Điều đó góp phần quan trọng nhấn mạnh tâm trạng của chủ thể trữ tình trong hai câu thơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản
  • Phương Thức Biểu Đạt, Nội Dung Chính, Biện Pháp Tu Từ “tre Việt Nam”
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)
  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Bài thơ: Quê hương (Tế Hanh)

    Nội dung bài thơ Quê hương

    I. Đôi nét về tác giả Tế Hanh

    – Tế Hanh (1921- 2009), tên khai sinh là Trần Tế Hanh

    – Quê quán: sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi

    – Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

    + Ông có mặt trong phong trào thơ Mới ở chặng cuối với những bài thơ mang nỗi buồn và tình yêu quê hương

    + Sau năm 1945, Tế Hanh sáng tác phục vụ cách mạng và kháng chiến

    + Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

    – Phong cách sáng tác: thơ ông chân thực với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh, bình dị mà tha thiết

    II. Đôi nét về bài thơ Quê hương

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ viết năm 1939, khi Tế Hanh đang học tại Huế trong nỗi nhớ quê hương-một làng chài ven biển tha thiết. Bài thơ được rút trong tập Nghẹn ngào (1939) và sau đó được in trong tập Hoa niên (1945)

    2. Bố cục

    – 2 câu đầu: Giới thiệu chung về làng quê.

    – 6 câu tiếp: Cảnh dân chài bơi thuyền ra khơi đánh cá

    – 8 câu tiếp: Cảnh thuyền cá về bến.

    – 4 câu tiếp: Nỗi nhớ làng chài, nhớ quê hương

    3. Nội dung

    – Bài thơ đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển. Trong đó nổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và cảnh sinh hoạt lao động chài lưới. Qua đó cho thấy thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.

    4. Nghệ thuật

    – Ngôn ngữ bình dị mà gợi cảm, giọng thơ khỏe khoắn hào hùng

    – Hình ảnh thơ phong phú, giàu ý nghĩa

    – Nhiềuphép tu từ được sử dụng đạt hiệu quả nghệ thuật

    III. Dàn ý phân tích bài thơ Quê hương

    I/ Mở bài

    – Nỗi niềm buồn nhớ quê hương là nỗi niềm chung của bất kì người xa quê nào, và một nhà thơ thuộc phong trào Thơ Mới như Tế Hanh cũng không phải là ngoại lệ

    – Bằng cảm xúc chân thành giản dị với quê hương miền biển của mình, ông đã viết nên “Quê hương” đi vào lòng người đọc

    II/ Thân bài

    1. Hình ảnh quê hương trong nỗi nhớ của tác giả

    – “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới”: Cách gọi giản dị mà đầy thương yêu, giới thiệu về một miền quê ven biển với nghề chính là chài lưới

    – Vị trí của làng chài: cách biển nửa ngày sông

    ⇒ Cách giới thiệu tự nhiên nhưng cụ thể về một làng chài ven biển

    2. Bức tranh lao động của làng chài

    a. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

    – Không gian “trời xanh”, “gió nhẹ”

    ⇒ Người dân chài đi đánh cá trong buổi sáng đẹp trời, hứa hẹn một chuyến ra khơi đầy thắng lợi

    – Hình ảnh chiếc thuyền “hăng như con tuấn mã”: phép so sánh thể hiện sự dũng mãnh của con thuyền khi lướt sóng ra khơi, sự hồ hởi, tư thế tráng sĩ của trai làng biển

    – “Cánh buồn như mảnh hồn làng”: hồn quê hương cụ thể gần gũi, đó là biểu tượng của làng chài quê hương

    – Phép nhân hóa “rướn thân trắng” kết hợp với các động từ mạnh: con thuyền từ tư thế bị động thành chủ động

    ⇒ Nghệ thuật ẩn dụ: cánh buồm chính là linh hồn của làng chài

    ⇒ Cảnh tượng lao động hăng say, hứng khởi tràn đầy sức sống

    b. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về

    – Không khí trở về:

    + Trên biển ồn ào

    + Dân làng tấp nập

    ⇒ Thể hiện không khí tưng bừng rộn rã vì đánh được nhiều cá

    ⇒ Lòng biết ơn đối với biển cả cho người dân chài nhiều cá tôm

    – Hình ảnh người dân chài:

    ⇒ Bức tranh sinh động về một làng chài đầy ắp niềm vui, gợi tả một cuộc sống bình yên, no ấm

    3. Nỗi nhớ quê hương da diết

    – Nỗi nhớ quê hương thiết tha của tác giả được bộc lộ rõ nét:

    + Màu xanh của nước

    + Màu bạc của cá

    + Màu vôi của cánh buồm

    + Hình ảnh con thuyền

    + Mùi mặn mòi của biển

    ⇒ Những hình ảnh, màu sắc bình dị, thân thuộc và đặc trưng

    ⇒ Nỗi nhớ quê hương chân thành da diết và sự gắn bó sâu nặng với quê hương

    III/ Kết bài

    – Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

    – Bài học về lòng yêu quê hương, đất nước

    Loạt bài Tác giả – Tác phẩm gồm đầy đủ các bài Giới tiệu về tác giả, nội dung tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, dàn ý phân tích tác phẩm giúp bạn yêu thích môn Ngữ Văn 8 hơn.

    tac-gia-tac-pham-lop-8.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Khi Đọc Đoạn Trích Sau Phút Chia Li (Chinh Phụ Ngâ
  • Phân Tích Tác Phẩm Sau Phút Chia Li
  • Bài 7. Sau Phút Chia Li
  • Nội Dung, Nghệ Thuật, Biện Pháp Tu Từ Của Bài “sông Núi Nước Nam”

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Bài Sông Núi Nước Nam Và Phò Giá Về Kinh
  • Bài Thơ: Sông Núi Nước Nam
  • Bài 5. Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) Bai 5 Song Nui Nuoc Nam Nam Quoc Son Ha Ppt
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Hãy Viết Đoạn Văn ( Khoảng 10 Câu) Miêu Tả Hàng Phượng Vĩ Vào Những Ngày Hè . Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ ( Gạch Chân Dưới Biện Pháp Ẩn Dụ
  • Nội dung đầu tiên (2 câu đầu): Nước Nam là của người Nam. Điều đó được sách trời định sẵn, rõ ràng.

    + Thời đó (thế kỉ XI), xưng Nam quốc là có ý nghĩa sâu xa bởi sau một ngàn năm đô hộ nước ta, bọn phong kiến phương Bắc chỉ coi nước ta là một quận của chúng và không thừa nhận nưởc ta là một quốc gia độc lập, có chủ quyền về lãnh thổ. Tiếp đó, xưng Nam đế cũng có nghĩa như vậy. Đế là hoàng đế. Xưng Nam đế có nghĩa đặt vua của nước ta ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa (vua các nước chư hầu chỉ được gọi là Vương). Khẳng định nước Nam là của người Nam là khẳng định chủ quyền độc lập của nước ta. Đó là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Đó còn là sự khẳng định tư thê làm chủ đất nước của dân tộc ta – một tư thế tự hào, hiên ngang.

    + Sự thật lịch sử trên lại được ghi “tại thiên thư” – điều ấy đã được trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu 2 nhuốm màu thần linh khiến cho sự khẳng định ở câu 1 tăng thêm.

    – Nội dung thứ hai (2 câu sau): Kẻ thù không được xâm phạm. Xâm phạm tất sẽ thảm bại.

    + Sau khi khẳng định chủ quyền của dân tộc, câu 3 bộc lộ thái độ đối với bọn giặc cướp nưởc – đó là thái độ vừa ngạc nhiên, vừa khinh bỉ: Tại sao quân lính của một nước tự xưng là thiên triều lại dám ngang nhiên xâm phạm trái lệnh trời? Đúng là bọn giặc, lũ phản nghịch mới dám hành động như vậy (nghịch lỗ: giặc dữ).

    + Câu 4 như là lời trực tiếp nói với bọn giặc dám xâm phạm tới đạo trời và lòng người, rằng: chúng sẽ thua to và nhất định chuốc lấy thất bại thảm hại. Điều đó chứng tỏ người sáng tác có niềm tin sắt đá là sẽ có đủ sức mạnh để bảo vệ chân lí, bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ đất nước. Hai câu sau khẳng định một lần nữa chân lí về chủ quyền độc lập của dân tộc. Chân lí ấy hợp ý trời và thuận lòng người.

    Đặc sắc về nghệ thuật của bài Sông núi nước Nam

    – Bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, cô đọng với việc sử dụng từ ngữ chính xác. Các từ ngữ đế, cư, tiệt nhiên, thiên thư, thủ bại góp phần khẳng dịnh chân lí thiêng liêng cao cả. Nước Nam là của người Việt, nước Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

    – Bài thơ viết bằng chữ Hán, có nhiều yếu tố Hán Việt khiến cho lời thì ít nhưng ý vô cùng.

    – Giọng điệu chung của bài thơ là đanh thép, dứt khoát như dao chém đá. Cảm xúc của người viết được dồn nén trong ý tưởng. Đó cũng là đặc điểm chung của thơ trung đại Việt Nam viết bằng chữ Hán – bày tỏ ý chí, quan điểm, tấm lòng,… Lời thơ như những câu nghị luận, mang tính chất tuyên ngôn và ẩn trong đó là cảm xúc tự hào dân tộc, là ý chí quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, cương vực đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Sông Núi Nước Nam
  • Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Sông Núi Nước Nam
  • 4 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu, Văn Mẫu Lớp 9
  • Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100