Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa (Bằng Việt)

--- Bài mới hơn ---

  • Đọc Đoạn Thơ Và Trả Lời Câu Hỏi. Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Chủ Yếu Trong Đoạn Trích Và Nêu Tác Dụng
  • Nêu Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Một Ngọn Lửa,lòng Bà Luôn Ủ Sẵn…
  • Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương ( Lớp 9 )
  • Bài 24. Nói Với Con
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương, Văn Mẫu 9,
  • Phân tích các biện pháp tu từ và nghệ thuật trong bài thơ Bếp lửa

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt) là tài liệu văn mẫu lớp 9 hay. chúng tôi đã tổng hợp và biên soạn đầy đủ cả những biện pháp tu từ trong bài Bếp lửa và những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ này chi tiết nhất cho các em học sinh tham khảo. Mời các em tải tài liệu miễn phí.

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật bài thơ Bếp lửa

    I. Vài nét về tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả:

    – Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941.

    – Quê ở Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội).

    – Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

    – Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ hay những kí ức tuổi ấu thơ không thể nào quên.

    – Tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ, 1968), Những gương mặt, những khoảng trời (1973), Cát sáng (1983)…

    2. Tác phẩm:

    – 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành luật tại nước Nga xa xôi.

    – In trong tập “Hương cây – Bếp lửa” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    NHỮNG NỘI DUNG ÔN LUYỆN VĂN 9 THI VÀO 10 ĐỐI VỚI BÀI THƠ BẾP LỬA

    – Phương thức biểu đạt trong Bếp Lửa: Biểu cảm + Tự sự + Miêu tả + Nghị luận.

    – Thể thơ: kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ, 8 chữ.

    – Nội dung bao trùm: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” đã gợi lại những kỷ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu. Đồng thời, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Mạch cảm xúc của bài thơ Bếp Lửa: Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Người cháu nay đã trưởng thành, suy ngẫm, thấu hiểu về bà với bao cảm phục, biết ơn. Từ nước Nga xa xôi, người cháu đã gửi niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài đã đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.

    II. Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong Bếp lửa của Bằng Việt

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà: BIỆN PHÁP TU TỪ VÀ NGHỆ THUẬT KHỔ 1 BÀI THƠ BẾP LỬA Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Hình ảnh bếp lửa hiện lên giản dị mà nồng ấm biết bao!

    – Điệp ngữ “Một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.

    – “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.

    – Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến hình ảnh bập bùng ẩn hiện trong buổi sớm mai hoà cùng làn sương sớm.

    – “Ấp iu” gợi bàn tay khéo léo, tấm lòng chi chút của người nhóm lửa lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.

    – Từ “nắng mưa” gợi tả sự đằng đẵng của thời gian, vừa thể hiện sự tảo tần, vất vả triền miên của cuộc đời bà.

    2. Hồi tưởng về bà và những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà: 2.1 Tuổi thơ của tác giả có nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn: BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 2 BẾP LỬA Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    – Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ ấy đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cơ cực gắn liền với một giai đoạn đau thương, khủng khiếp nhất của đất nước bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.

    – Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất của cái “đói mòn đói mỏi”, của dáng hình người cha “khô rạc ngựa gầy” trong lao động vất vả. Tất cả gợi những tháng ngày đói quay đói quắt ở làng quê Việt Nam. Khi nhớ về những tháng ngày gian khổ ấy, người cháu không khỏi xúc động. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hoà lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

    2.2. Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu nhóm lên ngọn lửa ấm áp để nuôi dưỡng bao bọc, chở che cho đứa cháu BIỆN PHÁP TU TỪ VÀ NGHỆ THUẬT TRONG KHỔ 3 BÀI THƠ BẾP LỬA Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    – Điệp từ: bà – cháu tạo nên hình ảnh quấn quýt, gần gũi và đầy yêu thương của bà cháu.

    Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, dạy bảo, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học… Cảm cái công ơn ấy, người cháu lại càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa của bà là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc bà dành cho cháu.

    – Điệp từ “tu hú” thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của âm thanh, vừa có sự gần gũi nhưng vẫn thể hiện khoảng không mênh mông. Gợi nhớ về kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.

    – Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi! Chẳng….” thể hiện tâm trạng của người cháu, nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi.

    2.3. Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ THỨ 4 BÀI THƠ BẾP LỬA “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.”

    Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá, huỷ diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu. Vẻ đẹp của tình người toả sáng trong những năm chiến tranh khói lửa. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh khói lửa chiến tranh. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

    “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.

    Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm kháng chiến. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà thật là giàu lòng yêu thương. Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận được lòng biết ơn, niềm tự hào của người cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

    2.4. Hình ảnh người bà và những kỉ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 5 BẾP LỬA Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    – “Bếp lửa” được bà nhen lên thành “ngọn lửa” mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm lên từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, tình yêu thương, niềm tin. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Hình ảnh người bà, hình ảnh bếp lửa toả sáng lung linh trong kí ức tuổi thơ và có ý nghĩa nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Điệp ngữ “một ngọn lửa” với kết cấu song hành đã làm giọng thơ ngân vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    3. Suy nghĩ về bà và tự cảm của người cháu BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 6 BÀI THƠ BẾP LỬA Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    – Tác giả thương bà thật thấm thía, chân thành. Hình ảnh mưa nắng trở đi trở lại, bao xót xa. Nhưng bà vất vả vì bà luôn “giữ thói quen dạy sớm” để nhóm lửa, vì bà luôn ấp iu yêu thương bằng tất cả sự nồng đượm của tấm lòng. Thì ra, giặc giữa, đói kém, nắng mưa… làm bà lận đận đã đành, nhưng thương con, thương cháu mà bà tự nguyện lận đận trọn kiếp người.

    – Điệp từ: “nhóm” diễn tả những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời bà:

    + Bà là người nhóm lửa cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình.

    + Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm niềm yêu thương, niềm vui, niềm tin trong lòng người cháu.

    – Hình ảnh “bếp lửa”: từ nghĩa tả thực đã được tác giả cất giữ trong tâm hồn như một biểu tượng: hơi ấm tình thương, sự che chở, nơi quần tụ, nơi dẫn dắt, niềm tin… bà dành cho cháu, giản dị mà thiêng liêng.

    – Phép ẩn dụ “nhóm niềm…” nó không chỉ khơi gợi niềm yêu thương gia đình, tình làng nghĩa xóm mà nó còn khơi gợi cả những kí ức tuổi thơ, kỉ niệm khó quên nhất.

    4. Lòng kính yêu, tự hào về bà, về quê hương đất nước BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 7 BÀI BẾP LỬA Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    – Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”… nhưng với cháu, bếp lửa của bà luôn hiện diện. Cháu không nguôi nhớ về bà, về bếp lửa và nỗi nhớ ấy luôn thường trực, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    3. Bài thơ Bếp Lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về,

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ 4 Trong Bài Tràng Giang (Huy Cận)
  • Tuần 23. Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Các Đề Văn Về Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Học Câu ‘ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây’ Đã Lâu, Vậy Đến Nay Bạn Đã Thực Hiện Những Gì Về Lòng Biết Ơn Rồi?
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu
  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Sáng
  • Biện pháp tu từ trong 7 câu thơ đầu (khổ 1) bài Đồng Chí

    Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

    Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính Cách mạng:

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    + Phép tương đối: hoàn cảnh sống, xuất thân của hai người lính

    + Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”

    + Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện

    Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp ngữ: kề vai sát cánh, gắn bó keo sơn

    – “Đồng chí” – câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao tình cảm. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan, nó là tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 2) bài Đồng Chí

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

    – Hình ảnh “gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câu thơ giúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn của một gia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại.

    – Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ là một sự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công.

    – Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa qua động từ “nhớ: để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi.

    – Sự lặp lại của cụm từ “anh với tôi” cùng từ “từng” đã gợi cho ta cảm xúc đẹp nhất của anh bộ đội cụ Hồ, mặc dù thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần nhưng mà họ luôn sẵn sàng là điểm tựa dành cho nhau.

    – Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 3) bài Đồng Chí

    Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

    – Phép liệt kê bằng những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi “áo anh rách vai” -“quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn, miêu tả chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến.

    – Cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    Biện pháp tu từ trong 3 câu thơ cuối (khổ 4) bài Đồng Chí

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

    – Rừng hoang sương muối: sự khắc nghiệt của thời tiết, của gian khổ nhưng qua đó thể hiển rõ nét hơn sức mạnh của tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang; giúp họ phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, ý nghĩa cuộc chiến đấu.

    – Động từ “chờ” gợi tới tư thế sẵn sàng, tinh thần trách nhiệm cao cả của người lính.

    – “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn. “Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.

    – Từ “treo” tạo nên hình ảnh ánh trăng về đêm lơ lửng treo trên đầu súng là hình ảnh tạo nên nét thi vị, đặc sắc hơn cho bài thơ.

    – Nhịp thơ đều đều 2/2/2 – 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tôi Yêu Em ( Puskin )
  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • * Tác giả, tác phẩm.

    – Là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng Việt Nam giải phóng Miền nam thời kì chống Mĩ.

    – Bài thơ được sáng tác năm 1976 khi công trình lăng vừa hoàn thành…

    * Bố cục: Ba phần

    – Phần 1: Khổ thơ đầu- Cảnh bên ngoài lăng.

    – Phần 2: Khổ 2- Cảnh đoàn người xếp hàng viếng lăng Bác.

    – Phần 3: Khổ 3 – Cảnh bên trong lăng

    – Phần 4: Khổ thơ cuối- ứơc nguyện của nhà thơ.

    Có thể tham khảo nội dung: Soạn bài Viếng lăng Bác để ghi nhớ nội dung bài trước nha!

    Biện pháp tu từ trong bài thơ Viếng Lăng Bác

    1. Cảm xúc của nhà thơ trước cảnh bên ngoài lăng.

    Biện pháp tu từ trong khổ 1 bài Viếng Lăng Bác

    – Giới thiệu việc nhà thơ ra viếng lăng Bác.

    – Câu thơ mang tính tự sự, giản dị như câu nói bình thương.

    – Xưng hô con lời xưng hô thân mật, gần gũi, cảm động. Tác giả coi mình là con xa cách lâu ngày mới được gặp lại người cha già của dân tộc.

    – Câu thơ dùng từ thăm ngụ ý nói giảm đi. Bác như còn sống mãi với nhân dân Việt Nam .

    – Hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương sớm.

    – Đã từ lâu hình ảnh hàng tre là biểu tượng cho làng quê, cho con người dân tộc Việt Nam.

    2. Cảnh đoàn người xếp hàng vào lăng viếng Bác.

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 bài Viếng Lăng Bác

    – Mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thực, mặt trời của tự nhiên.

    – Ở câu thơ thứ hai mặt trời là hình ảnh ẩn dụ sự vĩ đại của Bác như mặt trời chiếu sáng cho con đường giải phóng dân tộc, đem lại sức sống mới cho dân tộc Việt Nam. Lòng tôn kính của nhân dân đối với Bác.

    – Tấm lòng thành kính của nhân dân đối với Bác.

    – Bốn câu thơ xen lẫn tả thực và ẩn dụ, nhịp điệu chậm rãi như mô phỏng nhịp điệu trang nghiêm tiến dần từng bước của đoàn người đi vào lăng viếng Bác. Nhịp điệu thơ đã thể hiện rõ những xúc động và suy tưởng sâu lắng của nhà thơ.

    3. Tâm trạng của nhà thơ khi vào trong lăng.

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Viếng Lăng Bác

    – Ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian được tác giả miêu tả chính xác, tinh tế, một khung cảnh trang nghiêm, yên tĩnh nơi Bác nằm nghỉ.

    – Liên tưởng đến vầng trăng.

    – Hình ảnh vầng trăng gợi cho ta nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong của bác. Hai câu thơ vừa miêu tả cảnh thực, vừa gửi gắm lòng kính yêu vô hạn của tác giả đối với bác.

    – Tuy lí trí đã nhận thức Bác vẫn còn sống mãi với non sông đất nước nhưng tình cảm thì không thể không đau xót vì sự ra đi của Người. Nhà thơ đau xót trước sự thực Bác đã đi xa.

    4. Tâm trạng của nhà thơ khi rời xa lăng.

    Biện pháp tu từ trong khổ 4 bài Viếng Lăng Bác

    Khổ cuối chính là ước muốn giản dị bé nhỏ, thể hiện tâm trạng lưu luyến của nhà thơ không muốn rời xa Bác…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử
  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thi Thpt Quốc Gia
  • Dựa Vào 4 Câu Thơ Đầu Của Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, Viết Đoạn Văn Ngắn Tả Cảnh Thiên Nhiên Trong Đó Có Sử Dụng 1 Vài Biện Pháp Tu Từ (Gạch Dưới Biện Pháp Tu Từ Đó)
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa
  • Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022
  • Bài Tập Đọc Hiểu: Đọc Đoạn Thơ Sau Rồi Trả Lời Câu Hỏi: Bao Giờ Cho Tới Mùa Thu, Trái Hồng Trái Bưởi Đánh Đu Giữa Rằm, Bao Giờ Cho Tới Tháng Năm, Mẹ Ra Trải Chiếu Ta Nằm Đếm Sao … (Trích “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa”
  • Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy
  • Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy
  • Vài nét về tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả:

    – Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941.

    – Quê ở Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội).

    – Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

    – Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ hay những kí ức tuổi ấu thơ không thể nào quên.

    – Tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ, 1968), Những gương mặt, những khoảng trời (1973), Cát sáng (1983)…

    2. Tác phẩm:

    – 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành luật tại nước Nga xa xôi.

    – In trong tập ” Hương cây – Bếp lửa ” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    Những nội dung ôn luyện văn 9 thi vào 10 đối với bài thơ Bếp lửa

    – Phương thức biểu đạt trong Bếp Lửa: Biểu cảm + Tự sự + Miêu tả + Nghị luận.

    – Thể thơ: kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ, 8 chữ.

    – Nội dung bao trùm: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” đã gợi lại những kỷ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu. Đồng thời, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Mạch cảm xúc của bài thơ Bếp Lửa: Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Người cháu nay đã trưởng thành, suy ngẫm, thấu hiểu về bà với bao cảm phục, biết ơn. Từ nước Nga xa xôi, người cháu đã gửi niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài đã đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong Bếp lửa của Bằng Việt

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà:

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật khổ 1 bài thơ Bếp lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Hình ảnh bếp lửa hiện lên giản dị mà nồng ấm biết bao!

    – Điệp ngữ “Một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.

    – “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.

    – Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến hình ảnh bập bùng ẩn hiện trong buổi sớm mai hoà cùng làn sương sớm.

    – “Ấp iu” gợi bàn tay khéo léo, tấm lòng chi chút của người nhóm lửa lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.

    – Từ “nắng mưa” gợi tả sự đằng đẵng của thời gian, vừa thể hiện sự tảo tần, vất vả triền miên của cuộc đời bà.

    2. Hồi tưởng về bà và những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà: 2.1 Tuổi thơ của tác giả có nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 Bếp lửa

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    – Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ ấy đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cơ cực gắn liền với một giai đoạn đau thương, khủng khiếp nhất của đất nước bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.

    – Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất của cái “đói mòn đói mỏi”, của dáng hình người cha “khô rạc ngựa gầy” trong lao động vất vả. Tất cả gợi những tháng ngày đói quay đói quắt ở làng quê Việt Nam. Khi nhớ về những tháng ngày gian khổ ấy, người cháu không khỏi xúc động. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hoà lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

    Có thể em quan tâm: Văn mẫu phân tích khổ 2 Bếp lửa

    2.2. Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu nhóm lên ngọn lửa ấm áp để nuôi dưỡng bao bọc, chở che cho đứa cháu

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong khổ 3 bài thơ Bếp lửa

    Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    – Điệp từ: bà – cháu tạo nên hình ảnh quấn quýt, gần gũi và đầy yêu thương của bà cháu.

    Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, dạy bảo, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học… Cảm cái công ơn ấy, người cháu lại càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa của bà là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc bà dành cho cháu.

    – Điệp từ “tu hú” thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của âm thanh, vừa có sự gần gũi nhưng vẫn thể hiện khoảng không mênh mông. Gợi nhớ về kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.

    – Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi! Chẳng….” thể hiện tâm trạng của người cháu, nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi.

    2.3. Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu

    Biện pháp tu từ trong khổ thứ 4 bài thơ Bếp lửa

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.”

    Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá, huỷ diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu. Vẻ đẹp của tình người toả sáng trong những năm chiến tranh khói lửa. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh khói lửa chiến tranh. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

    “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.

    Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm kháng chiến. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà thật là giàu lòng yêu thương. Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận được lòng biết ơn, niềm tự hào của người cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

    2.4. Hình ảnh người bà và những kỉ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa

    Biện pháp tu từ trong khổ 5 Bếp lửa

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    – “Bếp lửa” được bà nhen lên thành “ngọn lửa” mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm lên từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, tình yêu thương, niềm tin. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Hình ảnh người bà, hình ảnh bếp lửa toả sáng lung linh trong kí ức tuổi thơ và có ý nghĩa nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Điệp ngữ “một ngọn lửa” với kết cấu song hành đã làm giọng thơ ngân vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    3. Suy nghĩ về bà và tự cảm của người cháu

    Biện pháp tu từ trong khổ 6 bài thơ Bếp lửa

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa ….. Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    – Tác giả thương bà thật thấm thía, chân thành. Hình ảnh mưa nắng trở đi trở lại, bao xót xa. Nhưng bà vất vả vì bà luôn “giữ thói quen dạy sớm” để nhóm lửa, vì bà luôn ấp iu yêu thương bằng tất cả sự nồng đượm của tấm lòng. Thì ra, giặc giữa, đói kém, nắng mưa… làm bà lận đận đã đành, nhưng thương con, thương cháu mà bà tự nguyện lận đận trọn kiếp người.

    – Điệp từ: “nhóm” diễn tả những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời bà:

    + Bà là người nhóm lửa cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình.

    + Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm niềm yêu thương, niềm vui, niềm tin trong lòng người cháu.

    – Hình ảnh “bếp lửa”: từ nghĩa tả thực đã được tác giả cất giữ trong tâm hồn như một biểu tượng: hơi ấm tình thương, sự che chở, nơi quần tụ, nơi dẫn dắt, niềm tin… bà dành cho cháu, giản dị mà thiêng liêng.

    – Phép ẩn dụ “nhóm niềm…” nó không chỉ khơi gợi niềm yêu thương gia đình, tình làng nghĩa xóm mà nó còn khơi gợi cả những kí ức tuổi thơ, kỉ niệm khó quên nhất.

    4. Lòng kính yêu, tự hào về bà, về quê hương đất nước

    Biện pháp tu từ trong khổ 7 bài Bếp Lửa

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    – Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”… nhưng với cháu, bếp lửa của bà luôn hiện diện. Cháu không nguôi nhớ về bà, về bếp lửa và nỗi nhớ ấy luôn thường trực, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    Bài thơ Bếp Lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa! Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay! Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về,

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa? Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Nói Giảm, Nói Tránh
  • Chủ Đề: Nói Quá, Nói Giảm, Nói Tránh
  • Chủ Đề Các Biện Pháp Tu Từ (Nói Quá, Nói Giảm Nói Tránh)
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm (Chi Tiết)
  • Đề Thi Khảo Sát Chất Lượng Đầu Năm Môn Ngữ Văn Lớp 12 Trường Thpt Thuận Thành Số 1, Bắc Ninh Năm Học 2022
  • Bài Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, 7 Bài Văn,
  • Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 10: Bài
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Ngữ Văn 9 Thời Gian Làm Bài: 15 Phút
  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • 10-1954

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tháng 7-1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được kí kết. Hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ cân cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc.

    Trích đoạn bài thơ này từ đầu tới câu “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

    Một phụ lưu của sông Hồng, chảy ở các huyện phía tây tỉnh Yên Bái, bắt nguồn từ hợp lưu nhiều suối ở vùng núi huyện Trạm Tấu.

    Tức sông Phó Đáy, bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo thuộc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, là phụ lưu lớn thứ hai của sông Lô sau sông Gâm. Chiều dài sông khoảng 170km, chảy qua địa phận các tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc rồi đổ vào sông Lô ở TP Việt Trì (Phú Thọ), vào Tuyên Quang ở xã Trung Minh, sang Hùng Lợi rồi chảy qua nhiều xã thuộc Yên Sơn và Sơn Dương tổng cộng dài hơn 84km. Nhiều tên đất, tên làng dọc bên sông này còn lưu giữ nhiều dấu tích của Thủ đô Cách mạng và kháng chiến: Trung Minh, Hùng Lợi, Trung Sơn, Kim Quan, Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên…

    Địa danh nay ở giáp ranh giữa hai xã Phú Đình, huyện Định Hoá, và Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đây là nơi “Chùa rách bụt vàng” như lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bởi dưới chân đèo De là Tỉn Keo, nơi đặt trụ sở Phủ Chủ tịch trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

    Nguồn:

    1. Tố Hữu, Việt Bắc, NXB Văn học, 1962

    2. Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 2003

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bằng Đoạn Văn Diễn Dịch (Khoảng 12 Câu) Nêu Hiệu Quả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng
  • Văn Mẫu Lớp 8 Tập 2: Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ.
  • Tuần 22. Rừng Xà Nu
  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta
  • Biện Pháp Nghệ Thuật, Tu Từ Sử Dụng Trong Bài Thơ Vội Vàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 11: Thương Vợ
  • Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh
  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Một số nội dung cần ghi nhớ về Vội vàng của Xuân Diệu

    – Xuân Diệu ( 1916 – 1985), quê cha ở Can Lộc- Hà Tĩnh, quê mẹ ở Tuy Phước- Bình Định. Ông là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới và là nhà thơ của tình yêu của mùa xuân và tuổi trẻ với giọng thơ sôi nổi đắm say và yêu đời thắm thiết. Xuân Diệu đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại trên nhiều lĩnh vực: Thơ ca, văn xuôi, tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học,

    – Thơ Xuân Diệu thể hiện hai tâm trạng trái ngược nhau: Vừa rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống; vừa hoài nghi, chán nản, cô đơn.

    – Bài Vội vàng được in trong tập Thơ thơ. Đây là bài thơ thể hiện rõ tâm trạng của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.

    Biện pháp nghệ thuật trong Vội vàng của Xuân Diệu

    1. Nội dung ở khổ đầu tiên chính là ý tưởng táo bạo và lãng mạn của nhà thơ trước cuộc đời tươi đẹp:

    Biện pháp tu từ và nghê thuật trong 4 câu đầu bài Vội vàng

    “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”

    Đây là hình ảnh Xuân Diệu đang lo âu trước sự phai tàn của cái đẹp,”sợ” sắc màu “nhạt mất”, “sợ” hương thơm “bay đi” bởi ông vô cùng trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống.

    * Điệp ngữ ” Tôi muốn ” xuất hiện hai lần với mục đích:

    + Thể hiện khao khát lưu giữ hương sắc cuộc đời đang nồng cháy và rạo rực trong tâm hồn thi sĩ.

    + Nó cũng khẳng định cái tôi trữ tình của nhà thơ, một cái tôi dám đứng lên bộc bạch ước muốn của bản thân, dù những ước muốn ấy hết sức phi lý và quá tầm với. Đây chính là một trong những cái “mới” của “Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”, nó trái ngược hoàn toàn với tính phi ngã của văn học trung đại.

    * Những động từ “tắt nắng”, “buộc gió” cho thấy:

    + Khát khao đoạt quyền tạo hóa, ngăn lại dòng chảy của thời gian của Xuân Diệu không chỉ lãng mạn, mà còn ngông cuồng, táo bạo.

    + Những mong ước mãnh liệt của thi sĩ xuất phát từ tình yêu da diết với cuộc sống và cái tôi say mê trần thế.

    * Giọng điệu trong bốn câu đầu bài mang âm điệu tình yêu tha thiết và mạnh mẽ. Cảm nhận sâu hơn, ta thấy trong lời thơ còn có cả sự tiếc nuối trong những chữ “đừng” đầy day dứt.

    2. Nội dung trong khổ 2 bài Vội vàng

    Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn 2 bài Vội vàng

    2.1 Bức tranh thiên đường trần thế qua cảm nhận tuyệt vời của Xuân Diệu “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần.”

    – Một ước muốn hết sức táo bạo mãnh liệt: muốn ngự trị thiên nhiên, tước đoạt quyền của tạo hóa: “Ước muốn ngăn thời gian chặn sự già nua tàn tạ để tận hưởng hết hương sắc của mùa xuân”.

    – Điệp ngữ “này đây” lặp lại trong năm câu thơ liên tiếp đã bộc lộ dụng ý nghệ thuật của tác giả:

    + Âm hưởng thơ vui tươi như bản hòa ca rộn ràng.

    + Tác giả trầm trồ ngạc nhiên khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp cuộc sống.

    + “Này đây” như lời giới thiệu, lời mở khi Xuân Diệu miêu tả về một loạt những hình ảnh thiên nhiên sinh động.

    – Biện pháp liệt kê cùng trường từ vựng thiên nhiên với những từ “ong bướm”, “hoa”, “đồng nội”, “lá”, “cành tơ”, “yến anh”, “ánh sáng”,… giúp người đọc hình dung ra bày tay kì diệu của tạo hóa reo rắc trên mảnh đất trần thế những gì tinh tú và tươi tốt, trong lành, đẹp đẽ nhất.

    2.2. Tiếp theo nữa chính là tâm trạng chán nản hoải nghi bi oan trước thực tế :

    – Niềm vui phút chốc tan biến, nỗi lo âu xuất hiện:

    “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”

    – Dấu chấm giữa câu: cách ngắt câu giữa dòng, một tâm trạng trái ngược xuất hiện: Một của khao khát say mê, một của ai hoài, u uất. Cấu trúc câu đặc biệt này nhấn mạnh và tách biệt cảm xúc của nhà thơ. Ông càng sung sướng đón chào cái đẹp và niềm vui cuộc sống bao nhiêu thì càng nuối tiếc và mong muốn ghìm giữ nó bấy nhiêu.

    – Nhà thơ cảm nhận được sự trôi chảy của thời gian, vạn vật sẽ thay đổi. Niềm vui tan nhanh như một giấc mộng hão huyền trước cái sự thật khắc nghiệt, phũ phàng, cái lạnh lùng nghiệt ngã của quy luật thời gian.

    Còn trời đất – chẳng còn tôi. Tuổi trẻ – chẳng hai lần thắm lại.

    – Nghệ thuật :

    + Đối lập giữa còn – mất; con người – thiên nhiên; quy luật của đất trời – với quy luật của đời người,

    + Giọng thơ cũng trở nên buồn, ngao ngán, nặng nề u uất.

    – Thiên nhiên vì thế nhuốm màu tang thương, ảm đạm – đối kháng với con người:Chia phôi, tiễn biệt, hờn, sợ phai tàn,

    – Tác giả rơi vào tâm trạng tuyệt vọng:

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Vội vàng

    3. Nội dung khổ cuối của bài Vội vàng chính là lòng yêu cuộc sống đến đô cuồng si 3.1. Sống với tốc độ phi thường

    – Để khắc điều đó, thi sĩ đề ra lối sống gấp gáp, vội vàng: Sống hưởng thụ cái vui trong hiện tại.

    3.2. Sống với cường độ sâu sắc, mãnh liệt

    – Tình yêu cuồng nhiệt với cuộc sống với đời được thể hiện qua một loạt các động từ và tính từ mạnh: Ôm, riết, say, thâu, cắn; chếnh choáng, no nê, đã đầy, nhiều,

    – Nhịp thơ dồn dập, sôi nổi hối hả,cuồng nhiệt.

    – Biện pháp điệp: Ta muốn, và, cho…

    Tác dụng: Nhịp thơ gấp gáp, sôi nổi; ý thơ nhấn mạnh khát vọng tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời và sống đẹp từng giây từng phút.

    – Biện pháp liệt kê: mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, non, nước, mây, cỏ…

    Tác dụng: Gợi tả vẻ đẹp tươi, mơn mởn, sự đa dạng, phong phú của thiên nhiên, của cuộc đời khiến nhà thơ đắm say, ngây ngất…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Bài Tây Tiến Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Vẻ Đẹp Ngôn Ngữ Thơ Qua Bài Tây Tiến Của Quang Dũng (Bài Viết Số 2, Sgk Ngữ Văn Nâng Cao, Tập 1)
  • Các Phép Tu Từ Trong Tiếng Anh
  • Cách Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Cảm Nghĩ Về Bài Ca Dao Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Phân Tích 8 Câu Thơ Đầu Bài Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Việt Bắc
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Việt Bắc Hay Chọn Lọc
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Hay Nhất
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)
  • Phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc – Tố Hữu để thấy hình ảnh bịn rịn giữa kẻ ở và người về, thể hiện tình cảm đặc biệt của người dân Việt Bắc dành cho người lính.

    Hướng dẫn phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc (Tố Hữu)

    : Phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc của Tố Hữu

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các câu thơ, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong 8 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

    – Phương pháp lập luận chính : phân tích.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Nỗi nhớ của người ở lại dành cho người ra đi

    Luận điểm 2: Tiếng lòng của người ra đi mang bao nhớ thương, bịn rịn

    3. Lập dàn ý chi tiết

    a) Mở bài:

    – Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

    + Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.

    + Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

    – Khái quát nội dung 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc : Đoạn thơ đã tái hiện niềm thương nỗi nhớ, cũng chính là niềm trăn trở chung của đồng bào ta trong lần chia tay lịch sử.

    b) Thân bài: Phân tích nội dung 8 câu thơ đầu

    * 4 câu đầu: Nỗi nhớ của người ở lại dành cho người ra đi

    – Khơi gợi kỷ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.

    • Điệp từ “nhớ” thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng
    • Cách xưng hô “mình – ta” : thân mật gần gũi như trong ca dao
    • Điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” : lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.

    * 4 câu sau: Tiếng lòng của người về xuôi mang bao nỗi nhớ thương, bịn rịn

    • Từ láy “bâng khuâng” thể hiện sự xao xuyến, “bồn chồn” thể hiện sự không yên tâm trong dạ, không nỡ rời bước
    • Hình ảnh “áo chàm” chỉ người dân Việt Bắc thân thương giản dị
    • Cử chỉ “cầm tay nhau” thay lời nói chứa đầy cảm xúc.

    – Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi: Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt Bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình…

    • Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm
    • Ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai
    • Điệp từ “mình”
    • Cách ngắt nhịp 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.

    * Đặc sắc nghệ thuật

    – Thể thơ lục bát truyền thống

    – Sử dụng hình ảnh đối đáp quen thuộc trong ca dao

    – Sử dụng hình ảnh hoán dụ, từ láy, câu hỏi tu từ, lặp cấu trúc.

    – Giọng thơ trữ tình, đằm thắm

    – Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu.

    c) Kết bài

    – Khái quát nội dung 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc.

    – Cảm nhận của em về đoạn thơ.

    Tham khảo thêm mẫu dàn ý và tuyển chọn các bài cảm nhận 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc hay nhất

    4. Sơ đồ tư duy phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc

    Để hiểu rõ hơn về tác phẩm, về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến các em có thể tham khảo qua hướng dẫn chi tiết và các bài văn phân tích Việt Bắc đặc sắc nhất được ĐọcTàiLiệu biên soạn.

    Top 3 bài văn mẫu hay phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc

    Khung cảnh chia ly đầy tâm trạng bịn rịn, lưu luyến bâng khuâng của kẻ ở người đi

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Geneve được ký kết, tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, khắc họa lại cuộc chia tay lịch sử với những tình cảm thủy chung son sắt. Tình cảm ấy được thể hiện qua những câu thơ sau:

    “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    Đoạn thơ tràn đầy một nỗi nhớ tưởng như không thể kìm nén được, cứ trào ra theo ngòi bút và tuôn chảy thành những dòng thơ. Có đến bốn chữ “nhớ” trong một đoạn thơ tám câu chắc hẳn nỗi nhớ ấy phải thật da diết và sâu nặng. Đây là nỗi nhớ quê hương cách mạng của người đã từng gắn bó sâu sắc với vùng đất thiêng đầy kỷ niệm ấy, là nỗi nhớ của nghĩa tình, của ân tình thủy chung.

    Khúc hát dạo đầu đã nhắc đến nỗi nhớ của đạo lí Việt Nam, cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ, người ở lại hỏi người ra đi cũng chỉ một nỗi nhớ và người ra đi trả lời bằng chính nỗi nhớ ấy của mình. Tố Hữu đã diễn tả nỗi nhớ quê hương cách mạng bằng tiếng nói ngọt ngào, tha thiết của khúc hát đối đáp giao duyên nam nữ trong dân ca. Khúc hát ấy thấm nhuần đạo lí ân tình thủy chung:

    “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”.

    Nghe như ca dao, lại phảng phất âm hưởng thơ Kiều, hai câu đầu gợi ta nhớ đến một câu thơ trong Truyện Kiều:

    “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”

    Việt Bắc đã hỏi người cán bộ về xuôi có còn nhớ mình không? Có còn nhớ những tình cảm thiết tha, mặn nồng trong suốt khoảng thời gian mười lăm năm gắn bó. Nhìn cây còn có nhớ núi, nhìn sông còn có nhớ đến nguồn? Bốn câu thơ nhưng thực chất là hai câu hỏi tu từ. Lời của người ở nhưng thực chất là lời nói của người đi để nói lên đạo lí Việt Nam truyền thống vốn là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta. Không chỉ nói lên mà chính là nhắc nhở mọi người, nhắc nhở chính mình bởi vì cái đạo lí ấy thiêng liêng lắm, quý giá lắm, phải giữ gìn và phát huy.

    “Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    Có âm thanh da diết và màu sắc đậm đà thủy chung, có bước chân bồn chồn và những cái nắm tay đầy lưu luyến. Mỗi bước chân của người đi mang theo nỗi niềm luyến lưu cho người ở lại. “Tiếng ai” không phải là câu hỏi, cũng chẳng phải là đại từ phiếm chỉ mà đó chính là cách nói thể hiện nỗi niềm “bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”. “Bâng khuâng” vì “đi không nỡ”, nhưng “bồn chồn” vì ở cũng chẳng đành bởi lẽ Việt Bắc đã trở thành ký ức, thành tình yêu, thành tâm hồn:

    “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”

    Từ láy bâng khuâng, bồn chồn được Tố Hữu sử dụng rất tinh tế ở câu thơ này. Nó thể hiện được nỗi niềm, được tâm trạng và cả những chuyển động trong cảm xúc, để rồi hình ảnh tiếp theo xuất hiện là chiếc áo chàm qua thủ pháp hoán dụ gợi tả con người Việt Bắc:

    “Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    Màu áo chàm là một hình ảnh đầy ý nghĩa, đó là màu áo của Việt Bắc đậm đà, son sắt như chính lòng thủy chung của con người nơi đây. Màu áo ấy nhắc nhở người ra đi nhiều ký ức khó phai nhòa.

    Câu thơ “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” mang một giá trị biểu cảm rất lớn. “Cầm tay nhau” nhưng chẳng “biết nói gì” vì có quá nhiều nỗi niềm cần bày tỏ, vì trong lòng họ tràn ngập nỗi nhớ thương nên không biết nói điều gì trước, điều gì sau, điều gì nên giãi bày, điều gì nên giấu kín trong tim. Cho nên chẳng “biết nói gì” chính là nói lên rất nhiều tấm lòng thương nhớ. Câu thơ ngắt nhịp 3/3/2 như sự ngập ngừng lưu luyến, làm ta liên tưởng đến buổi tiễn đưa của người chinh phu và chinh phụ trong Chinh phụ ngâm:

    “Bước đi một bước, giây giây lại dừng”.

    Trong màn đối đáp giao duyên của cuộc chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã để cho người ở lại lên tiếng trước. Điều này không chỉ hợp lý, tế nhị mà còn cần thiết cho sự phát triển mạch thơ trong cả bài thơ.

    Bằng việc sử dụng đại từ “mình – ta” cùng thể thơ lục bát, Tố Hữu đã tái hiện cuộc chia tay lịch sử của Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng với biết bao ân tình, chung thủy. Con người dễ cộng khổ nhưng khó đồng cam, Việt Bắc ra đời chính là lời nhắc nhở tình nghĩa gắn bó cùng đạo lý tri ân muôn đời của dân tộc.

    Nghe bài văn phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc hay nhất

    8 câu thơ đầu bài Việt Bắc: Cuộc chia ly đầy lưu luyến giữa kẻ ở người đi

    Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. ” Việt Bắc” là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ “tống biệt” của Tố Hữu. Mặc dù là đề tài cũ, nhưng bài thơ vẫn mới mẻ bởi ” Việt Bắc” ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954. Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ không mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn đầy nước mắt, mà là nỗi niềm chia ly trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân sâu đậm ân tình. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là sự thể hiện tinh tế và sâu sắc những rung động trong trái tim của người đi và người ở trong giờ phút phân li:

    – Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? – Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi:

    – Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?

    Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu: “Mình về mình có nhớ ta”. “Mình về” là hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm. “Về” gợi đến sự chia li, đó là sự chia li của người ra đi và người ở lại. Về mặt kết cấu câu thơ thì “mình” đứng ở đầu câu, còn “ta” đứng ở cuối câu thơ. Nó gợi lên cái khoảng cách giữa “ta” và “mình”. Nỗi niềm gợi lên qua câu hỏi ấy của người ở lại là nỗi nhớ, tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Đứng giữa câu thơ là một từ “nhớ”, nó làm cho “mình” và “ta” dường như được xích lại gần nhau hơn. Cơ sở tạo nên nỗi nhớ ấy là: “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều, nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. “Mười lăm năm ấy” gợi đến một quãng thời gian khó khăn, một thời đau thương, mất mát. Tuy vậy, dường như tất cả mất mát đau thương ấy chìm đi, đọng lại trong câu thơ chỉ còn là tình cảm “thiết tha mặn nồng”. Đó chính là sự gắn bó thân thiết, tình cảm chia bùi sẻ ngọt trong “mười lăm năm ấy” giữa “ta” và “mình”. Bởi vậy, hỏi nhưng cũng chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi chính là thể hiện mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình.

    Đến câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi. Câu hỏi: “Mình về mình có nhớ không” cũng có sự lặp lại gần giống câu thơ đầu. Tuy vậy, đối tượng hỏi không chỉ còn bó hẹp trong mối quan hệ giữa “ta – mình” và nỗi nhớ dường như không còn chỉ hướng tới “ta”, mà nỗi nhớ đó đã hướng vào đối tượng rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là không gian “núi rừng” và “sông nguồn”. Câu hỏi gợi về không gian có “núi”, có “nguồn” ở núi rừng Việt Bắc. Đây chính là không gian quen thuộc gắn với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Không gian đó với người ra đi và người ở lại không còn là không gian vô hồn, vô cảm mà là không gian chứa đầy kỉ niệm, nó góp phần tạo nên tình cảm cho người ra đi.

    Ở trong câu thơ xuất hiện nhiều lần hai động từ chỉ hành động “nhìn” và “nhớ”. Một hành động tác động vào thị giác, một hành động tác động vào tâm tưởng; một hành động hướng tới hiện tại, một hành động hướng về quá khứ. Sự đan xen giữa các hành động đó mà người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở hiện tại đừng quên về quá khứ, sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua. Đó chính là mong muốn của người ở lại nhắn nhủ tới người ra đi. Trước khi mong muốn người ra đi để nhớ thì người ở lại đã thể hiện nỗi nhớ của mình. Nỗi nhớ đó biểu đạt trực tiếp qua động từ “nhớ” xuất hiện nhiều lần ở khổ thơ, càng về cuối thì từ “nhớ” xuất hiện càng nhiều đã thể hiện cường độ nhớ ngày một tăng và nó đã tạo nên âm hưởng chủ đạo cho bài thơ. Đó là âm hưởng nhớ thương, ân tình tha thiết.

    Bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, nhưng chủ yếu là để giãi bày tình cảm và để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình, bởi giữa hai đối tượng đó có sự gắn bó khăng khít trong một thời kháng chiến và một vùng kháng chiến. Để rồi từ đó, người ra đi đáp lại người ở lại bằng bốn câu thơ:

    – Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    Người ở lại đặt ra câu hỏi nhưng người ra đi không trực tiếp trả lời câu hỏi đó mà thay vào đó người ra đi thể hiện tình cảm lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay. Ấn tượng ban đầu đã tác động đến người ra đi: “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. “Ai” là đại từ không xác định. “Ai” có thể là nhân vật đang xuất hiện trước mắt người ra đi, quen thuộc với người ra đi – một con người cụ thể xuất hiện “bên cồn” trong buổi chia li. “Ai” có thể là bất cứ người dân Việt Bắc đã cùng sống, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với người ra đi. Dù hiểu theo cách nào thì ấn tượng tác động đến người ra đi là âm thanh tiếng nói tha thiết – đó chính là âm thanh rất đỗi ngọt ngào, thiết tha, sâu lắng. Và âm thanh đó dường như gọi về biết bao kỉ niệm, biết bao buổi trò chuyện tâm tình và âm thanh đó gọi về mối tình keo sơn gắn bó thân thiết giữa người ở lại với người ra đi. Chính âm thanh đó đã khiến cho người ra đi “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”.

    Câu thơ ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối trong tương quan đối lập giữa bên trong và bên ngoài. “Trong dạ” thì “bâng khuâng” còn hành động bên ngoài biểu hiện sự “bồn chồn” thấp thỏm của người ra đi, nhưng lại có sự tương đồng trong cảm xúc và hành động. Chính vì cảm xúc “bâng khuâng” thì mới có hành động “bồn chồn” đó được.

    Trong cảm nhận của người ra đi, một hình ảnh bình dị, quen thuộc thường xuất hiện trong cuộc sống đời thường đó là hình ảnh “áo chàm”. Hơn thế nữa chiếc “áo chàm” gợi đến sắc màu bền bỉ khó phai. Tác giả sử dụng hình ảnh hoán dụ “áo chàm” để chỉ người dân Việt Bắc và bởi vậy nói “áo chàm đưa buổi phân li” là nói về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa người Việt Bắc với người cách mạng. Mượn hình ảnh “áo chàm” dường như tác giả muốn nói đến tình cảm thủy chung sắt son khó phai mờ của người dân Việt Bắc với người chiến sĩ cách mạng. Và ấn tượng đậm nét nhất với người ra đi chính là hành động “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”.

    Trước tiên là hành động “cầm tay nhau” là hành động quen thuộc và rất đẹp của những ai khi chia li, nó thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết và đồng thời thể hiện sự lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Họ cầm tay nhau trong tâm trạng nghẹn ngào, vì thế không nói lên lời. Dấu ba chấm xuất hiện cuối dòng thơ như nốt nặng không lời, nhưng chính nó lại quý giá hơn rất nhiều những lời nói thường ngày bởi cái cầm tay đã nói lên tất cả những lưu luyến, bịn rịn. Câu thơ kết lại đoạn thơ có nhịp thơ thay đổi khác thường. Sự thay đổi của nhịp thơ không chỉ tạo nên sự ngập ngừng cho giọng điệu của câu thơ mà còn tạo nên cái ngập ngừng của tình cảm. Và đồng thời sự khác lạ trong nhịp thơ ấy đã diễn tả sự khác lạ trong diễn biến tình cảm của kẻ ở người đi.

    Văn mẫu 12 phân tích 8 câu thơ đầu bài Việt Bắc – Tố Hữu

    Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đậm chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị như tập thơ ” Từ ấy”, “Máu và hoa“… trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ ” Việt Bắc” trích trong tập thơ ” Việt Bắc “. Bài thơ đã thể hiện một cách thành công về nỗi nhớ nhung, tâm trạng bồi hồi, lưu luyến trong buổi chia tay của người Việt Bắc với cán bộ cách mạng. Điều đó được thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ:

    “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là cái nôi kháng chiến. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơ ne vơ được kí kết. Tháng 10 năm 1954, Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử ấy Tố Hữu đã viết bài thơ ” Việt Bắc “.

    Câu thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ chứa nhiều cảm xúc:

    “Mình về mình có nhớ ta”

    “Mình” là chỉ người ra đi – người chiến sĩ cách mạng, “ta” chính là người Việt Bắc. Câu hỏi chính là lời của người ở lại hỏi người ra đi rằng khi người chiến sĩ cách mạng về xuôi rồi còn có nhớ đến người Việt Bắc hay không? Với cách xưng hô “mình – ta” đậm chất ca dao cùng với điệp từ mình đã cho ta thấy được tình cảm gắn bó thân thiết đầy yêu thương, làm cho nỗi nhớ càng trở nên day dứt khôn nguôi. Người Việt Bắc muốn hỏi người kháng chiến có nhớ:

    “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”

    Mười lăm năm là từ chỉ thời gian, là khoảng thời gian gắn bó keo sơn giữa người chiến sĩ và người Việt Bắc. Đó là một khoảng thời gian dài cùng nhau chiến đấu, cùng nhau vượt qua biết bao gian khổ. Từ “ấy” vang lên chứ tác giả không sử dụng từ “đó” như để làm tăng thêm ý nghĩa của khoảng thời gian “mười lăm năm” đồng thời thể hiện sự trân trọng của tác giả với những ngày tháng gắn bó. Những từ “thiết tha”, “mặn nồng” là những từ nhấn mạnh tình cảm gắn bó keo sơn giữa người Việt Bắc và người cách mạng. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh hơn về tình nghĩa thủy chung son sắt luôn hướng tới cách mạng, hướng tới những người chiến sĩ của người dân Việt Bắc.

    Câu thơ tiếp theo như một lời nhắc nhở đối với người chiến sĩ cách mạng:

    “Mình về mình có nhớ không”

    Vẫn là câu hỏi tu từ, vẫn là cách xưng hô “mình” nhưng đây là câu hỏi vang lên như một lời nhắc nhở “có nhớ không”. Người Việt Bắc muốn nhắc nhở người chiến sĩ cách mạng về xuôi hãy nhớ đến Việt Bắc, hãy:

    “Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

    Khi về tới Hà Nội, người cách mạng khi nhìn thấy cây ở Hà Nội phồn hoa thì hãy nhớ đến núi rừng nơi Việt Bắc. Hãy nhớ nơi gắn bó thủy chung, son sắc, nơi người cách mạng và người Việt Bắc đã cùng chiến đấu, cùng nhau vượt qua bao gian khổ. Khi nhìn thấy sông thì hãy nhớ đến nguồn, hãy nhớ đến sông núi Việt Bắc, nhớ đến những dòng sông cùng các chiến sĩ cách mạng chiến đấu. Hay đó chính là lời nhắc nhở của người Việt Bắc đối với người chiến sĩ cách mạng khi trở về xuôi nhìn thấy cảnh vật nơi phồn hoa đô thị tươi đẹp ấy thì hãy nhớ đến con người Việt Bắc, nhớ đến những ngày tháng chiến đấu gian khổ nơi núi rừng đầy hiểm trở, cheo leo. Điệp từ “nhìn” và “nhớ” dường như đã nhấn mạnh ý hỏi của người ở lại. Mong muốn những người cách mạng luôn nhớ về nơi Việt Bắc. Nơi có những con người sắt son, thủy chung, luôn mong nhớ về người cách mạng.

    Bốn câu thơ đầu tiên là lời của người Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi. Với lối đối đáp cách xưng hô “mình – ta”, điệp từ cùng với từ láy, đặc biệt là kết hợp với câu hỏi tu từ đã cho thấy được tình cảm gắn bó thiết tha, mặn nồng, thủy chung son sắt của người Việt Bắc. Qua đó ta có thể cảm nhận được phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây. Dù phải sống trong khó khăn, đồi núi hiểm trở, thiếu thốn nhưng tình yêu của họ đối với người chiến sĩ là không hề thay đổi, luôn luôn cồn cào, da diết và mãnh liệt.

    Vẻ đẹp của đoạn thơ không chỉ là lời của người Việt Bắc mà còn là câu trả lời của người cách mạng dành cho Việt Bắc:

    “Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    Với đại từ nhân xưng “ai” đó chính là tiếng lòng của người Việt Bắc vang vọng như muốn gọi người chiến sĩ ở lại, hay đó chính là tiếng lòng của người chiến sĩ không muốn chia xa. Từ “tha thiết” như làm cho tiếng gọi đó vang vọng hơn, sâu lắng hơn, làm cho ta cảm nhận được tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng như vô cùng sâu nặng. Câu thơ tiếp theo càng làm rõ hơn điều đó:

    “Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”

    Từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” chính là để chỉ tâm trạng người ra đi. “Bâng khuâng” là trạng thái lưu luyến day dứt, như còn lâng lâng một điều gì đó sâu sắc lắm trong tình cảm của mình. Nó khiến cho tâm trạng của con người day dứt đến khó chịu ,”bồn chồn” là chỉ sự ray rứt trong tâm trạng của con người như lo lắng điều gì đó. Tất cả đã tạo nên tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng về xuôi, khi trở về xuôi vẫn còn mang trong mình nỗi nhung nhớ, ray rứt khôn nguôi, cả sự lo lắng trong tâm trạng của người cán bộ cách mạng. Qua đó ta có thể cảm nhận được tình cảm của người cách mạng đối với Việt Bắc cũng sâu nặng không kém gì tình cảm của người Việt Bắc dành cho họ.

    Hai câu thơ cuối là hình ảnh chia tay đầy nước mắt giữa người chiến sĩ cách mạng và người Việt Bắc:

    “Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    “Áo chàm” là màu áo nâu, là màu áo của người nông dân nghèo khổ, cực nhọc, vất vả quanh năm suốt tháng lao động cần cù để phục vụ cho cách mạng. Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” chính là để chỉ người Việt Bắc. Những người Việt Bắc ra tiễn những người cách mạng về xuôi trong một tâm trạng day dứt, bâng khuâng. Từ “phân li” như thể hiện buổi chia tay ấy như là sự chia cắt. Dường như họ không muốn rời xa nhau nhưng do hoàn cảnh họ phải chia li, xa rời nhau mỗi người một nơi. Qua đó thể hiện nỗi tiếc thương nhung nhớ, khẳng định tình cảm gắn bó sâu đậm của người Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng. Tình cảm ấy được khẳng định rõ ràng hơn trong câu thơ cuối:

    “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

    Không phải không có gì để nói mà là có quá nhiều điều để nói, không thể nói hết và không biết nói điều gì đầu tiên, từ “biết nói gì” đã thể hiện điều đó. Mười lăm năm gắn bó keo sơn, mười lăm năm cùng nhau vượt qua bao khó khăn gian khổ tình cảm của họ quá sâu đậm, có quá nhiều điều để nói nhưng những lời nói ấy tại sao không thốt nên lời, nó cứ nghẹn lại trong cổ họng mà thứ trào ra chỉ có nước mắt của sự chia li. Không nói ra được họ chỉ biết cầm tay nhau, chỉ hành động “cầm tay” thôi đã cho ta cảm nhận thấy tình yêu thương mặn nồng giữa họ. Hành động “cầm tay” thay cho những lời nói yêu thương, những lời gửi gắm, tình cảm giữa họ dường như được truyền hết qua hành động ấy. Đó còn là sự thể hiện tình cảm, tâm trạng chưa xa đã nhớ của người chiến sĩ cách mạng và đó cũng chính là tiếng lòng của họ.

    Tám câu thơ ngắn gọn nhưng mang biết bao ý nghĩ. Qua đó cho ta cảm nhận sâu sắc về tình cảm thủy chung son sắt, gắn bó sâu nặng giữa người Việt Bắc và người cán bộ cách mạng về xuôi. Qua đó ta thấy được tâm trạng bồi hồi lưu luyến day dứt của họ.

    Không chỉ thành công về nội dung, đoạn thơ còn thành công về nghệ thuật. Với lối đối đáp, cách xưng hô mình – ta, điệp từ, điệp ngữ cùng với hình ảnh hoán dụ, từ láy, ngôn từ bình dị, đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.

    Qua đoạn thơ ta đã cảm nhận được một cách rõ nét tình cảm, tấm lòng, tình yêu thương mà người Việt Bắc và người cán bộ cách mạng dành cho nhau. Tám câu thơ trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu mang lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Những ân tình ấy sẽ sống mãi trong lòng người đọc hôm nay và mai sau.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Của Anh Chị Về Đoạn Thơ Sau,trích Tác Phẩm “việt Bắc”
  • 4 Bài Văn Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củal
  • Phân Tích Đoạn Thơ “những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèn Pha Bật Sáng Như Ngày Mai Lên”
  • Phân Tích Đoạn Thơ Những Đường Việt Bắc Của Ta… Đèo De, Núi Hồng
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Phân Tích Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ 3 Bài Nhớ Rừng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành) Có Lời Giải
  • Kiến Thức Bài Rừng Xà Nu
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Bài Rừng Xà Nu Theo Hướng Mới 2022
  • Xác Định Và Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • ✅ Cảnh Khuya; Rằm Tháng Giêng
  • Trong những năm tháng rực rỡ nhất của phong trào Thơ mới, Thế Lữ hiện lên như một vì sao mai sáng lòa, lấp lánh. Còn lại với thời gian hôm nay, Thế Lữ gắn bó với bạn đọc bởi bài thơ nổi tiếng nhất của ông: bài thơ Nhớ rừng. Bài thơ ấy dưới tiêu đề của nó, tác giả đã đề một dòng chữ nhỏ: “Lời con hổ trong vườn bách thú”. Xuyên suốt tác phẩm, người đọc hiểu rằng bài thơ là những tâm sự đầy uất hận của con hổ trước cảnh đời hiện tại bức bách, tù túng; nó mơ về những ngày xưa tung hoành, lẫm liệt. Bài thơ đã kín đáo bộc lộ tấm lòng yêu nước của người dân ta thuở đó. Nhưng không dừng lại ở đó, thành công của bài thơ còn nằm ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt mĩ – cảnh rừng sơn lâm trong hồi ức đau thương của con hổ “nhớ rừng”. Tiêu biểu phải kể đến bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:

    “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

    (Nhớ rừng – Thế Lữ)

    Đoạn thơ nằm trong chuỗi hồi ức về những ngày tháng lẫm liệt chốn rừng xanh uy nghi của con hổ. Giữa cảnh núi rừng dữ dội, lộng lẫy nó là vị chúa tể độc tôn. Đoạn thơ dựng lên bốn cảnh rừng tuyệt mĩ: cảnh đêm trăng, cảnh mưa rừng, cảnh bình minh và cảnh hoàng hôn. Mỗi cảnh được thể hiện bằng hai câu thơ, câu thứ nhất tả cảnh rừng, câu thứ hai miêu tả hình ảnh con hổ trên nền thiên nhiên kì vĩ ấy.

    “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”.

    “Đêm vàng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ đêm trăng sáng mọi vật như được nhuộm vàng, ánh trăng như vàng tan chảy trong không gian. Trong đêm trăng, đứng bên bờ suối càng khiến ta cảm nhận hết được sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Mặt nước trong trẻo đón nhận trọn vẹn sắc vàng của trăng càng trở nên lóng lánh kì lạ. Đứng trước khung cảnh ấy, con hổ “say mồi” không chỉ bởi bữa ăn no nê mà còn bởi “uống ánh trăng tan”. Đó là một hình ảnh lãng mạn, nó tưởng như mình được chiếm lĩnh trọn vẹn cái đẹp của vũ trụ. ‘

    Nếu như hình, ảnh đêm trăng thanh bình bao nhiêu thì cảnh mưa rừng dữ dội bấy nhiêu:

    “Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”

    Cơn mưa ngàn dữ đội, mịt mờ làm rung chuyển núi rừng, làm kinh hoàng những con thú hèn yếu. Nhưng với hổ thì khác, nó không những không sợ hãi trước uy lực của trời đất mà còn coi đó là một thú vui: “Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”. Cái im lặng say mê trong từ “lặng ngắm” của hổ chứa đựng những sức mạnh chế ngự của một bản lĩnh vững vàng. Nó đang lấy cái tĩnh của một vị chúa tể để chế ngự cái dữ dội của rừng già đại ngàn. Hình ảnh của hổ hiện lên thật phi thường, dũng mãnh.

    Câu thơ vừa căng lên đã nhanh chóng tan ra trong tiếng reo ca của cảnh bình minh:

    “Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”.

    Sau ngày mưa bầu trời bình minh tươi sáng hơn. Con hổ càng khẳng định được vị trí của mình. Ban đêm thì nó thức cùng vũ trụ. Ngày mưa nó “lặng ngắm” giang san. Lúc vạn vật thức dậy thì nó say sưa trong giấc ngủ. Hình ảnh của chúa sơn lâm tự do tự tại muốn gì được nấy, hổ có thể chi phối, chế ngự kẻ khác chứ không ai có thể chế ngự được mình.

    Dữ dội nhất, say mê nhất là cảnh rừng thời khắc hoàng hôn:

    “Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

    Bức tranh rừng rực rỡ trong gam màu đỏ, đó là màu của máu, màu của ánh sáng mặt trời. Khi chiều tà, ánh mặt trời chuyển sang màu đỏ rực, đó cũng là lúc mặt trời lặn xuống. Nhưng trong con mắt của hổ, thứ ánh sáng bỏng rẫy kia là máu của mặt trời và mặt trời thì đang lịm dần trong cái chết dữ dội. Hổ đang giành lấy quyền lực từ tay vũ trụ để ngự trị.

    Đoạn thơ là bộ tranh tứ bình đẹp lộng lẫy. Bốn cảnh thiên nhiên, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ tráng lệ với hình ảnh con hổ uy nghi. Nhưng đau xót thay, đây chỉ là cảnh trong dĩ vãng huy hoàng, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ. Trước mỗi cảnh thơ đều xuất hiện cụm từ “nào đâu”, “đâu những”, chúng thể hiện niềm nuối tiếc khôn nguôi, nỗi xót xa đau đớn trong lòng hổ. Giấc mơ huy hoàng khép lại trong tiếng than: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Soạn Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành)
  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củalên Việt Bắc Đèo De, Núi Hồng” Trong Bài Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • “Những đường Việt Bắc của ta Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng” Dàn ý I. Mở bài:

    – Giới thiệu tác giả Tố Hữu

    – Giới thiệu bài thơ Việt Bắc

    – Giới thiệu đoạn trích

    II. Thân bài

    – Phân tích 12 câu thơ trên thành 2 luận điểm:

    + Luận điểm 1: 8 câu đầu chính là khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam

    + Luận điểm 2: 4 câu còn lại chính là khí thế, niềm vui chiến thắng tại các chiến trường khác nhau.

    – Chi tiết như sau:

    1. Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam

    + 2 câu đầu: M.6ở ra một cảnh tượng sôi động của Việt Bắc trong những đêm hành quân vào chiến dịch:

    – “Những đường Việt Bắc”: không gian vô cùng rộng lớn.

    – Điệp từ “đêm đêm” “thời gian liên tục tiếp nối.

    – So sánh “như là đất nung” + từ láy “rầm rập” ” Khí thế hào hùng làm rung đất chuyển trời.

    – Sự lớn mạnh của quân đội ta về lực lượng, khí thế.

    + 6 câu tiếp: Sự phối hợp các lực lượng chiến đấu:

    * Đoàn quân:

    – Từ láy: ” điệp điệp trùng trùng” ” những đoàn quân tiếp nhau bước đi như những đợt sóng trào kéo dài vô tận.

    – Hình ảnh “ánh sao đầu súng” là một tứ thơ đẹp gợi nhiều liên tưởng:

    – Nghệ thuật nhân hóa: ánh sao theo chân đoàn quân, treo lơ lửng trên đầu súng, soi sáng khắp các ngả đường hành quân _thiên nhiên đã thành người bạn đồng hành cùng chiến sĩ.

    – Ần dụ: ánh sao _lí tưởng cách mạng luôn soi sáng dẫn đường, đến tương lai tươi sáng _niềm tin tưởng lạc quan đầy khí thế.

    * Đoàn dân công:

    – Những bó đuốc đỏ rực soi đường, làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn quân dân công tiếp lương, tải đạn với đủ cả: già, trẻ, gái, trai… họ đến từ những miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở: xe đạp thồ, gùi, cáng…quyết tâm kiên cường vượt qua khó khăn nguy hiểm để bảo đàm vũ khí, thuốc men, lương thực…cho tiến tuyến.

    – Cách nói cường điệu “bước…bay”: vừa diễn tả lực lượng đông đảo vừa diễn tả một sức mạnh hùng hậu phục vụ chiến trường. Cuộc chiến đấu cảu ta là đấu tranh nhân dân, đã phát huy sức mạnh toàn dân.

    – Hình ảnh thơ thật đẹp ” muôn tàn lửa bay”, “đỏ đuốc” _ xua tan những lạnh lẽo, tăm tối nơi rừng núi.

    – Từ láy” điệp điệp” “trùng trùng” + từ “nát đá” ” góp phần tạo nên âm điệu hùng tráng mạnh mẽ.

    * Đoàn ô tô quân sự:

    – Hình ảnh ” đèn pha bật sáng” ” ánh sáng rực rỡ xuyên thủng đêm dày tăm tối.

    – Hình ảnh ẩn dụ:

    “nghìn đêm” Quá khứ nô lệ.

    “sương dày”: những khó khăn vất vả, thiếu thốn trong hiện tại.

    – So sánh: “Như ngày mai lên” “niềm tin tưởng, lạc quan _hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu trưng cho tương lai tươi sáng của đất nước.

    – Nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, gấp gáp. Âm hưởng hào hùng, sôi nổi nào nức; hình ảnh thơ hoành tráng, mỹ lệ.

    2. Niềm vui khi tin chiến thắng cũa mọi miền đất nước tiếp nối báo về:

    – Đoạn thơ tràn ngập ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha…, ánh sáng của niềm tin tưởng, niềm vui tràn ngập. Tất cả tạo thành khúc hùng ca chiến thắng. Việt Bắc không còn là của mình hay là cảu riêng ta mà là của ta – của chúng ta, của tất cả mọi người Việt Nam kháng chiến.

    – Điệp từ “vui” như tiếng reo mừng chiến thắng, cảm xúc náo nức, vui sướng, tự hào khi tin vui chiến thắng dồn dập đổ về từ khắp mọi miền đất nước.

    – Liệt kê những địa danh kết hợp từ “trăm miền” mở ra không gian rộng lớn của chiến thắng từ miền núi đến đồng bằng, từ bắc tới nam.

    – Nhịp điệu thơ dồn dập, tươi vui, náo nức cho thấy tốc độ thần kỳ, nhanh chóng của những chiến thắng.

    – Những từ: “vui về”, “vui lên”, ‘vui từ” đã đặt Việt Bắc làm tâm điểm của mọi niềm vui.

    – Giọng thơ say mê, náo nức tràn ngập niềm vui sướng trong lòng hàng triệu con người từ bắc chí nam.

    III. Kết bài:

    Bài mẫu BÀI LÀM

    – Khái quát vấn đề

    Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như lá đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng.

    Bài thơ Việt Bắc được nhà thơ Tố Hữu viết vào tháng 10 – 1954, tức sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5 – 1954), miền Bắc được giải phóng. Các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ Việt Bắc (thủ đô của cuộc kháng chiến) về Hà Nội. Sự lưu luyến kẻ ở người về là nguồn cảm xúc lớn cho Tố Hữu viết nên bài thơ này. Bài thơ Việt Bắc được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954) của Tố Hữu. Bài thơ đã bộc lộ nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng (cũng chính là nhà thơ) đối với chiến khu Việt Bắc khi rời chiến khu về thủ đô Hà Nội. Bài thơ là lời ca ngợi phong cảnh và con người Việt Bắc: cảnh vật Việt Bắc đẹp, hùng vĩ… con người Việt Bắc đáng yêu, cảnh vật và con người nơi đây đã ghi dấu nhiều chiến công là làm nên những kỉ niệm thật vô cùng sâu sắc mà nhà thơ không thể nào quên được. Đặc biệt, trong bài thơ, Tố Hữu đã viết nên một khúc ca hùng tráng về con người kháng chiến và cuộc kháng chiến. Điều đó thể hiện rõ trong đoạn thơ sau:

    Bài thơ có tiêu đề là Việt Bắc. Việt Bắc được xem là quê hương của cách mạng, ở đây có Pắc Pó, nơi Bác Hồ đặt chân đầu tiên khi Người trở về nước (tháng 2/1941), ở đây, diễn ra hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, thành lập mặt trận Việt Minh. Việt Bắc lại có mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào – nơi họp Quốc dân đại hội ngày (16/8/1945) bầu ra ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc và cũng là nơi xuất phát của đội quân cách mạng tiến về giải phóng Thái Nguyên.

    Trong kháng chiến chống Pháp, Việt Bắc là một chiến khu vững chãi, nơi đóng các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Việt Bắc cũng là nơi chứng kiến biết bao nhiêu chiến công oanh liệt, thể hiện khí thế hào hùng của quân và dân ta trong chín năm kháng chiến.

    Thứ nhất, đoạn thơ đã tái hiện nên những hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta là một cuộc kháng chiến toàn dân. Các tầng lớp nhân dân bất phân già trẻ, gái trai, lớn bé đều tham gia kháng chiến. Trong đó, nổi bật nhất là hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ. Người lính thời chống Pháp đã trải qua biết bao nhiêu hi sinh gian khổ nhưng rất hùng tráng và đầy lạc quan.

    Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

    Hình ảnh hào hùng của đoàn quân ấy được thể hiện trong hai câu đầu của đoạn thơ:

    Hai từ láy “điệp điệp” và “trùng trùng” đi liền nhau ở câu thơ có sức gợi tả đó, nó vừa gợi lên hình ảnh của một đoàn quân đông đúc, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của một đoàn quân. Đoàn quân ra mặt trận hùng tráng, mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quân thù.

    Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

    Câu thơ thứ hai đưực ngắt theo nhịp 4/4: “Ánh sao đầu súng / bạn cùng mũ nan” càng làm tăng thêm vẻ đẹp của người lính – một vẻ đẹp vừa mang tính lãng mạn vừa mang tính hiện thực sâu sắc. Hình ảnh “Ánh sao đầu súng” có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân như “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; “ánh sao đầu súng” ấy cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi, như nhà thơ Vũ Cao trong bài Núi đôi đã viết:

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn Dấu chân nát đá, muôn tàn lửa bay

    Góp phần vào sự hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta có cả một tập thể quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến. Họ là những “dân công đỏ đuốc từng đoàn” tải lương thực, súng đạn để phục vụ cho chiến trường. Hình ảnh của họ cũng thật đẹp, thật hào hùng và đầy lạc quan không kém những người lính:

    Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng.

    Bằng một cách nói cường điệu “dấu chân nát đá “, nhà thơ đã làm nổi bật sức mạnh yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng, ý chí quyết tâm đánh thắng quân thù của người nông dân lao động. Người nông dân lao động (lực lượng nòng cốt của cách mạng) là lực lượng góp phần rất lớn để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn sau này – Họ là những người nông dân đôn hậu, chất phác, lớn lên từ bờ tre, gốc lúa nhưng họ đi vào cuộc kháng chiến với tất cả những tình cảm và hành động cao đẹp, họ bất chấp những hi sinh, gian khổ, chấp mưa bom bão đạn của quân thù, đạp bằng mọi trở lực để đi theo tiếng gọi của lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nói trong bài Đất Nước:

    Hai hình ảnh “dấu chân nát đá” và “muôn tàn lửa bay” đã thể hiện cái khí thế hào hùng đó của nhân dân.

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

    Dù có trải qua bao nhiêu gian khổ, có nghìn đêm đi trong “thăm thẳm sương dày” nhưng niềm lạc quan tin tưởng vào ngày mai thắng lợi vẫn sáng ngời. Như “ngọn đèn pha bật sáng” giữa cái “nghìn đêm thăm thẳm sương dày” ấy, mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, đó chính là ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi đường cho dân tộc ta bước qua đêm trường nô lệ để đến một ngày mai tươi sáng, một thời đại thắng lợi huy hoàng của cách mạng – một thời đại độc lập, tự do:

    Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng

    Chính những sức mạnh ấy, niềm tin ấy đã đem lại những niềm vui chiến thắng. Những tin vui chiến thắng dồn dập, liên tục trên nhiều mặt trận được gửi về làm nức lòng quân và dân ta:

    Điệp từ “vui” được lặp đi lặp lại nhiều lần gợi lên những đợt sóng tình cảm trào dâng, đợt sóng này kế tiếp đợt sóng kia cứ dâng lên, dâng lên mãi, tràn ngập tâm hồn nhà thơ, trong lòng quân dân cả nước.

    chúng tôi

    Với lối thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với chất thơ trữ tình cách mạng, thật sôi nổi, hào hùng, thiết tha, nhà thơ Tố Hữu trong đoạn thơ này đã thể hiện nổi bật khí thế hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc; đồng thời đoạn thơ còn thể hiện niềm lạc quan cách mạng, ý chí chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, làm nên những chiến thắng vẻ vang, mang niềm vui về cho dân tộc. Đoạn thơ như một đoạn sử thi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Bước Chân Nát Đá Muôn Tàn Lửa Bay
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Cú Pháp Ngắn Nhất
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu) Nguyễn Khuyến
  • Suy Nghĩ Về Câu Ca Dao Sau: Công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra. Một Lòng Thờ Mẹ Kính Cha. Cho Tròn Chữ Hiếu Mới Là Đạo Con.
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • I. CỦNG CỐ LÍ THUYẾT

    Các biện pháp tu từ từ vựng: So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, điệp ngữ, chơi chữ, nói quá, nói giảm – nói tránh.

    1. So sánh: Là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hoá: là cách dùng những từ ngữ vốn dùng để miêu tả hành động của con người để miêu tả vật, dùng loại từ gọi người để gọi sự vật không phải là người làm cho sự vật, sự việc hiện lên sống động, gần gũi với con người.

    VD: Chú mèo đen nhà em rất đáng yêu.

    3. ẩn dụ: Là cách dùng sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa vào nét tương đồng (giống nhau) nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    4. Hoán dụ: Là cách dùng sự vật này để gọi tên cho sự

    vật, hiện tượng khác dựa vào nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Đầu bạc tiễn đầu xanh (Người già tiễn người trẻ: dựa vào dấu hiệu bên ngoài).

    5. Điệp ngữ: là từ ngữ (hoặc cả một câu) được lặp lại nhiều lần trong khi nói và viết nhằm nhấn mạnh, bộc lộ cảm xúc…

    VD: Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    6.Chơi chữ: là cách lợi dụng đặc sắc về âm, nghĩa nhằm tạo sắc thái dí dỏm hài hước.

    VD:

    7. Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, qui mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    VD: Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng khen chồng bảo râu rồng trời cho.

    8 Nói giảm, nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Ví dụ:

    Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

    II. Luyện tập

    Bài tập 1: Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học và ẩn dụ, hoán dụ tu từ học?

    Gợi ý: 1.( 1điểm)

    – ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học là phép chuyển nghĩa tạo nên nghĩa mới thực sự của từ, các nghĩa này đư­ợc ghi trong từ điển.

    – ẩn dụ, hoán dụ tu từ học là các ẩn dụ, hoán dụ tạo ra ý nghĩa lâm thời (nghĩa ngữ cảnh) không tạo ra ý nghĩa mới cho từ. Đây là cách diễn đạt bằng hình ảnh, hình t­ượng mang tính biểu cảm cho câu nói; Không phải là phư­ơng thức chuyển nghĩa tạo nên sự phát triển nghĩa của từ ngữ.

    Bài tập 2: Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau là gì ?

    Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi .

    ( Truyện Kiều – Nguyễn Du )

    A. ẩn dụ C. Tương phản

    B. Hoán dụ D. Nói giảm , nói tránh .

    Bài tập 3: Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào ?

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    A. Nhân hoá và so sánh C. ẩn dụ và hoán dụ.

    B. Nói quá và liệt kê. D. Chơi chữ và điệp từ.

    Bài tập 4: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ từ vựng trong hai câu thơ sau:

    Ngày ngày mặt trờ đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trog lăng rất đỏ.

    Gợi ý: Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Kiến Thức Bài Tây Tiến
  • 5 Bài Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Tuyển Chọn, Dàn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100