Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 10
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Tây Tiến Đoạn 1 Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến
  • A/ Mở bài Bình Ngô đại cáo đoạn 1

    Sau thời gian cầm cự và tạm hoà hõan, từ năm 1424, Lê Lợi đã chuyển sang thời kì tổng phản công. Đến cuối năm 1427, khi 15 vạn quân tiếp viện của giặc tan tành, buộc Vương Thông phải giảng hoà. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã kết thúc thắng lợi. Đất nước ta bước vào thời kì mới. Trong không khí tưng bừng của toàn dân tộc đón mừng xuân chiến thắng, đầu năm 1428 Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi thảo bài Cáo này để tuyên bố với nhân dân cả nước biết: Cuộc kháng Minh đã thành công rực rỡ, đất nước trở lại thanh bình

    B/ Thân bài Bình Ngô đại cáo đoạn 1

    a/ Mở đầu bài Cáo, tác giả khẳng định lập trường chính nghĩa của ta trên cơ sở đạo lý:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Nhân nghĩa là quan niệm tư tưởng nhân sinh của Nho giáo. Nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí

    Và cũng theo quan niệm của nho giáo, nhân nghĩa là cái gốc của sự việc. Trong thư số 8 trả lời Phương Chính, Nguyễn Trãi đã từng nói: “Phàm mưu đồ việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, làm nên công lớn phải lấy nhân nghĩa làm đầu”

    Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến trong bài Cáo là “cốt ở yên dân”. Và vì thế muốn thực hiện được nó ta phải “trước lo trừ bạo”

    Bằng hai câu mở đầu, không chỉ nêu nên tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi còn nhấn mạnh mục đích và phương tiện để thực hiện tư tưởng nhân nghĩa đó. Nhân nghĩa phải biết tiêu trừ tham tàn bạo ngược, bảo vệ cuộc sống yên ổn cho nhân dân.

    Nhân nghĩa mà tác giả nói tới là nhân nghĩa chân chính, chứ không phải giả nhân giả nghĩa như bọn giặc vẫn huênh hoang

    Và cũng bằng cách vào đề lý luận khái quát, tác giả đã gây được không khí trang trọng thích hợp cho bài cáo và đồng thời xác định rõ lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến

    Dân tộc ta chiến đấu chống xâm lược là nhân nghĩa là phù hợp với đạo lí của thời đại thì sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của dân tộc Việt Nam là một chân lí khách quan

    Sau khi khẳng định lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến về mặt đạo lý, Nguyễn Trãi tiếp tục khẳng định tính thực tế của đạo lí đó qua

    b/ Truyền thống đấu tranh của dân tộc ta

    */ Mà trước hết ông khẳng định sự tồn tại của nước Đại Việt như một chân lý khách quan:

    Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Sông núi bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Nền văn hóa Đại Việt, nền văn hóa Thăng Long được hình thành, xây dựng và phát triển qua một quá trình lịch sử “đã lâu”, đã có “từ trước” đằng đẵng mấy nghìn năm. Đại Việt không chỉ có lãnh thổ chủ quyền “sông núi bờ cõi”, mà còn có thuần phong mỹ tục mang bản sức riêng, có lịch sử riêng, chế độ riêng “bao đời gây nền độc lập”, đã từng “xưng đế một phương, có nhiều nhân tài hào kiệt…”

    Khác với ý trong bài Hịch, Tổ Quốc ở đây không phải được hình dung bằng thái ấp, bổng lộc, gia quyến, vợ con, tông miếu phần mộ…mà với Nguyễn Trãi, Tổ Quốc được định nghĩa bằng những khái niệm trừu tượng đươc rằng nước ta là một nước có cương vực lãnh thổ, có quá trình độc lập, có quốc hiệu, có văn hoá phong tục chứ không phải là một quận, một huyện của Trung Quốc, cũng không phải là một bộ lạc man di mọi rợ

    Đến đây, giọng điệu câu văn ngắn gọn, khoẻ, chắc, cách lập luận chặt chẽ như một lời tuyên bố đanh thép, tác giả đã nêu bật được sự tồn tại của một quốc gia nhỏ bé bên cạnh một quốc gia lớn trong không gian, thời gian, với truyền thống đấu tranh anh dung của nó.

    Từ xa xưa chính sách đồng hoá của phong kiến Trung Quốc nhất là bọn giặc Minh rất hiểm độc. Chúng bắt nhân dân ta theo phong tục Trung Quốc, ăn mặc kiểu Trung Quốc, để tóc kiểu Trung Quốc, bó chân kiểu Trung Quốc, hòng làm cho ý thức dân tộc ta bị tiêu vong. Nhưng dân tộc ta vẫn tồn tại vì

    */ truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất của dân tộc:

    Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có

    Dân tộc ta có một lịch sử chiến đấu oanh liệt, có thể sánh ngang với Trung Quốc. Những chiến công của anh hùng dân tộc ta như Ngô Quyền, Hưng Đạo còn ghi trong sử sách, những trận Bạch Đằng, Hàm Tử được muôn đời ca ngợi. Hãy xem: Lưu Cung thất bại, Triệu Tiết tiêu vong, Toa Đô bị giết tươi, Ô Mã bị bắt sống. Đâu có phải là lời nói suông. Đó là một thực tế khách quan.

    Và với lối diễn đạt sóng đôi tương phản, tác giả đã khẳng định được truyền thống đấu tranh cũng như tư thế độc lập tự cường của dân tộc ta.

    Ta nói đến truyền thống dân tộc để ta tự tin, giặc nghe để chúng kinh

    hoàng. Quả vậy, dân tộc ta chẳng những đã phát huy thắng lợi trong việc đấu tranh chống phong kiến Trung Quốc, mà còn tiếp tục đấu tranh đánh đổ ách thực dân Phá, Nhật, Mỹ xâm lược.

    Và trước sau, thời nào cũng vậy, toàn thắng ắt về ta.

    c/ Kết luận Bình Ngô đại cáo đoạn 1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)
  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1
  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 10
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Tây Tiến Đoạn 1 Hay Nhất
  • Bài thơ: Đại cáo Bình Ngô (Bình ngô đại cáo)

    Bài giảng: Đại cáo bình ngô – Phần 1: Tác giả – Cô Trương Khánh Linh (Giáo viên VietJack)

    Nội dung Bài thơ: Đại cáo Bình Ngô

    I. Đôi nét về tác giả

    II. Đôi nét về tác phẩm Đại cáo Bình Ngô

    1. Hoàn cảnh ra đời

    – Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông buộc phải giảng hòa, rút quân về nước, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Đại cáo Bình Ngô.

    – Đại cáo bình Ngô có ý nghĩa trọng đại như một bản tuyên ngôn độc lập, được công bố vào thánh Chạp, năm Đinh Mùi (tức đầu năm 1428)

    2. Thể cáo

    – Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết.

    – Cáo có thể viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần lớn được viết bằng văn biền ngẫu, có vần hoặc không có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau.

    – Lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.

    3. Bố cục (4 phần)

    – Phần 1 (từ đầu đến “chứng cớ còn ghi”): Luận đề chính nghĩa (Tiền đề lí luận)

    – Phần 2 (tiếp đó đến “Ai bảo thần dân chịu được”): Bản cáo trạng hùng hồn, đẫm máu về tội ác của kẻ thù. (Soi chiếu lí luận vào thực tiễn)

    – Phần 3 (tiếp đó đến “Cũng là chưa thấy xưa nay”): Bản hùng ca về cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn

    – Phần 4 (còn lại): Lời tuyên bố độc lập

    4. Giá trị nội dung

    Đại cáo bình Ngô là bản tuyên ngôn độc lập, qua đó vạch tội ác của kẻ thù xâm lược, ca ngợi thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

    5. Giá trị nghệ thuật

    – Lí luận chặt chẽ, hợp lí lời lẽ hùng hồn

    – Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương

    – Sử dụng các biện pháp nghệ thuật: liệt kể, phóng đại, so sánh, đối lập….

    III. Dàn ý phân tích Đại cáo Bình Ngô

    I. Mở bài

    – Giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi là một bậc anh hùng, một nhà văn hóa lớn, ông đã để lại cho lớp lớp thế hệ sau một sự nghiệp văn học vĩ đại

    – Giới thiệu khái quát về thể cáo: Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết

    – Khái quát về Đại cáo bình Ngô: Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của giặc, Vương Thông buộc phải giảng hòa, rút quân về nước, Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết Đại cáo Bình Ngô. Đại cáo bình Ngô có ý nghĩa trọng đại như một bản tuyên ngôn độc lập.

    II. Thân bài

    1. Luận đề chính nghĩa

    a) Tư tưởng nhân nghĩa là tiền đề cơ sở lí luận cho cuộc kháng chiến

    – Nhân nghĩa có nghĩa thương người mà làm theo lẽ phải. (nhân là lòng thương người, nghĩa là lẽ phải)

    – Nhân nghĩa trong tư tưởng của Nguyễn Trãi:

    + Yên dân: nhân dân được sống yên bình, hạnh phúc trong một đất nước độc lập

    + Trừ bạo: diệt kẻ tàn bạo xâm lược đất nước và bọn tham tàn trong nước

    ⇒ Cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa là lấy dân làm gốc, vì dân mà diệt trừ bọn tàn bạo.

    b) Chân lí về độc lập dân tộc

    – Nguyễn Trãi khẳng định mỗi dân tộc có quyền bình đẳng vì mỗi dân tộc đều có: nền văn hiến riêng, có phong tục tập quán, có các triều đại làm chủ, có các anh hùng hào kiệt

    ⇒ Các dân tộc có quyền bình đẳng như nhau. Lời văn khẳng định quyền độc lập, tự chủ của dân tộc.

    – Thái độ của tác giả:

    + So sáng các triều đại của Việt Nam với các triều đại của Trung Hoa

    + Gọi các vị vua Đại Việt là “đế”

    ⇒ Thể hiện ý thức cao độ về độc lập chủ quyền của tác giả

    2. Tội ác của kẻ thù

    – Giặc minh xâm lược, cai trị nước ta và gây ra biết bao tội ác:

    + Lừa dối nhân dân ta

    + Tàn sát dã man những người vô tội

    + Bóc lột nhân dân ta bằng chế độ thuế khóa nặng nề

    + Bắt phu phen, phục dịch

    + Vơ vét của cải

    + Hủy hoại nền văn hóa Đại Việt

    – Thái độ căm phẫn của nhân dân:

    + Hình ảnh phóng đại “trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi” lấy cái vô cùng của tự nhiên để nói về tội ác của giặc Minh.

    + Câu hỏi tu từ “lẽ nào…chịu được”: Tội ác không thể dung thứ của giặc

    ⇒ Bản cáo trạng đanh thép về tội ác dã man của giặc minh, đồng thời là thái độ căm phẫn, tức giận khôn cùng của nhân dân ta

    3. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

    a) Hình ảnh người anh hùng Lê Lợi

    – Nguồn gốc xuất thân: là người nông dân áo vải “chốn hoang dã nương mình”

    – Lựa chọn căn cứ khởi nghĩa: “Núi Lam Sơn dấy nghĩa”

    – Có lòng căm thù giặc sâu sắc, sục sôi: “Ngẫm thù lớn há đội trời chung, căm giặc nước thề không cùng sống…”

    – Có lí tưởng, hoài bão lớn lao, biết trọng dụng người tài: “Tấm lòng cứu nước…dành phía tả”.

    – Có lòng quyết tâm để thực hiện lí tưởng lớn “Đau lòng nhức óc…nếm mật nằm chúng tôi xét đã tinh”.

    ⇒ Lê Lợi vừa là người bình dị vừa là anh hùng khởi nghĩa

    b) Cuộc khởi nghãi Lam Sơn

    – Buổi đầu gian khổ:

    + Những thiếu thốn về quân trang và lương thực: binh yếu, có khi lương cạn, nhân tài ít

    + Tinh thần của quân và dân: Gắng chí, quyết tâm (Ta gắng chí khắc phục gian nan), đồng lòng, đoàn kết (sử dụng 2 điển tích dựng cần trúc, hòa nước sông)

    ⇒ Giai đoạn đầu đầy khó khăn, thử thách, nhờ sự lạc quan, đồng lòng, đoàn kết, biết dựa vào dân đã giúp nghĩa quân Lam Sơn vượt qua mọi khó khăn.

    – Giai đoạn phản công và thắng lợi của ta:

    + Những trận tiến quân ra Bắc: trận Tây Kinh, Đông Đô, Ninh Kiều, Tốt Động

    + Chiến dịch diệt chi viện: trận Chi Lăng, Mã Yên, Xương Giang

    ⇒ Biện pháp liệt kê tái hiện không khí chiến trận máu lửa, sục sôi với những chiến thắng giòn giã liên tiếp của quân ta cũng như sự thất bại nhục nhã, ê trề của địch.

    – Thất bại của giặc Minh:

    + Nghệ thuật cường đại, nói quá miêu tả những thất bại thảm hại của giặc.

    + Binh lính cởi áo giáp xin hàng

    + Tướng giặc tham sống sợ chết cởi áo giáp xin hàng

    – Khí thế và cách ứng xử của quân, dân ta:

    + Nghệ thuật cường điệu: Gươm mài đá, đá núi phải mòn….

    + Cách ứng xử vừa khôn khéo vừa nhân nghĩa của nghĩa quân: “Thần vũ chẳng giết hại … nghỉ sức”

    ⇒ Nghệ thuật đối lập đã thể hiện rõ những nét đối cực trong cuộc chiến giữa ta và địch, từ tính chất cuộc chiến cho đến khí thế, sức mạnh, những chiến công và cách ứng xử

    4. Lời tuyên bố độc lập:

    – Giọng điệu trang trọng, hào sảng cho thấy niềm tin và những suy tư sâu lắng của tác giả

    – Sử dụng những hình ảnh về tương lại đất nước như “xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới, thái bình vững chắc”, các hình ảnh của vũ trụ “kiền khôn, nhật nguyệt, ngàn thu sạch làu”

    III. Kết bài

    Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài cáo

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    tac-gia-tac-pham-lop-10.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Những Hình Ảnh Ẩn Dụ Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)
  • Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1
  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 10
  • Tài liệu hướng dẫn làm văn phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm gợi ý cách làm bài, dàn ý chi tiết cùng tuyển tập top 4 bài văn hay phân tích nội dung đoạn đầu bài Bình Ngô đại cáo củaNguyễn Trãi.

    Cùng tham khảo ngay…

    Hướng dẫn phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

    Đề bài: Phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung đoạn 1 tác phẩm Bình Ngô đại cáo.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong đoạn thơ thứ nhất bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

    – Phương pháp lập luận chính : phân tích.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Tư tưởng nhân nghĩa.

    Luận điểm 2: Lời tuyên ngôn độc lập.

    Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược.

    3. Lập dàn ý chi tiết

    a) Mở bài

    – Giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm Bình Ngô đại cáo

    + Nguyễn Trãi là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, nhà văn nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ.

    + Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc ta.

    – Dẫn dắt và nêu vấn đề: nội dung đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo.

    b) Thân bài: Phân tích nội dung đoạn 1 Bình Ngô đại cáo

    * Luận điểm 1: Tư tưởng nhân nghĩa.

    – “Nhân nghĩa” là phạm trù tư tưởng của Nho giáo chỉ mối quan hệ giữa người với người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí.

    + Nhân: người, tình người (theo Khổng Tử)

    + Nghĩa: việc làm chính đáng vì lẽ phải (theo Mạnh Tử)

    – “Nhân nghĩa” trong quan niệm của Nguyễn Trãi:

    + Kế thừa tư tưởng Nho giáo: “yên dân” – làm cho cuộc sống nhân dân yên ổn, hạnh phúc

    + Cụ thể hóa với nội dung mới đó là “trừ bạo” – vì nhân dân diệt trừ bạo tàn, giặc xâm lược.

    * Luận điểm 2: Lời tuyên ngôn độc lập.

    – Nguyễn Trãi đã xác định tư cách độc lập của nước Đại Việt bằng một loạt các dẫn chứng thuyết phục:

    + Nền văn hiến lâu đời

    + Cương vực lãnh thổ riêng biệt

    + Phong tục Bắc Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc

    + Lịch sử lâu đời trải qua các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần, hào kiệt đời nào cũng có.

    – Các từ ngữ “từ trước, đã lâu, vốn xưng, đã chia” đã khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của Đại Việt.

    * Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược.

    “Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong. Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi.”

    – Nguyễn Trãi đã sử dụng phép liệt kê, dẫn ra những kết cục của kẻ chống lại chân lí:

    + Lưu Cung – vua Nam Hán thất bại với chủ ý thu phục Đại Việt.

    + Triệu Tiết – tướng nhà Tống thua nặng khi cầm quân đô hộ nước ta.

    + Toa Đô, Ô Mã,… là các tướng nhà Nguyên cũng phải bỏ mạng khi cầm quân xâm lược.

    * Đặc sắc nghệ thuật

    – Ngôn ngữ đanh thép

    – Giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ

    – Sử dụng các biện pháp so sánh, liệt kê,…

    – Sử dụng những câu văn song hành,…

    c) Kết bài

    – Khái quát lại nội dung đoạn 1 bài Bình Ngô đại cáo.

    – Cảm nhận của em về đoạn thơ.

    4. Sơ đồ tư duy phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo

    Top 4 bài văn hay phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo

    Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 1:

    Nhắc đến những nhà văn chính luận lỗi lạc của văn học trung đại chúng ta không thể nào không nhắc đến Nguyễn Trãi. Ông không chỉ là một nhà thơ trữ tình sâu sắc mà còn là một nhà văn chính luận kiệt xuất với các tác phẩm: “Quân trung từ mệnh tập”, các chiếu biểu viết dưới thời nhà Lê và tiêu biểu nhất là tác phẩm Bình Ngô đại cáo. Các áng văn chính luận này đã thể hiện được lòng yêu nước, thương dân của tác giả.

    Ngay câu đầu bài cáo đã bộc lộ tư tưởng nhân nghĩa ấy:

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    “Nhân nghĩa” là tấm lòng thương yêu người, là những hành động vì lợi ích của nhân dân, cộng đồng. Bên cạnh đó, “nhân nghĩa” cũng là sự tôn trọng lẽ phải, bênh vực lẽ phải. Chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” là “yên dân”, “trừ bạo”, cuộc sống và sự no ấm của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Giữa con người phải có tình yêu thương lẫn nhau, cùng chiến đấu để bảo vệ đất nước, thoát khỏi đời sống khổ cực, lầm than. Để được như vậy thì phải diệt trừ những kẻ bạo tàn, những thế lực xâm lược hung hãn, đó chính là giặc Minh đang xâm chiếm đất nước ta lúc bấy giờ. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chính là lòng yêu nước, thương dân và tinh thần chống giặc ngoại xâm quyết liệt. Đây không chỉ là mối quan hệ nằm trong phạm vi giữa con người với con người mà mở rộng ra là mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc.

    Để khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng và vô cùng thuyết phục:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có”.

    Nền văn hiến đã có từ lâu đời và được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc. Cùng với đó là sự phân chia về lãnh thổ, núi sông và các phong tập tập quán đặc trưng của hai miền Nam, Bắc đã thể hiện đất nước ta là một đất nước có chủ quyền, có các anh hùng hào kiệt luôn cống hiến, chiến đấu hết mình để bảo vệ non sông. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đặt các triều đại của nước ta ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh không kém. Điều đó đã thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả.

    Ông đã nhắc lại nhiều chiến thắng lừng lẫy của nước Đại Việt như một lời khẳng định sự thất bại thảm hại của kẻ thù:

    “Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong. Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét, Chứng cớ còn ghi”.

    Những tướng của nhà Tống, nhà Nguyên đều bị các tướng giỏi của ta đánh cho thất bại. Chúng vì “tham công”, “thích lớn” nên phải chịu hậu quả nặng nề. Các sự kiện ấy còn được nhân dân ta lưu lại trong sử sách để muôn đời ghi nhớ. Các phép đối, so sánh ngang hàng các triều đại phong kiến của nước ta với các triều đại phương Bắc cùng phép liệt kê và giọng điệu hào hùng, trang nghiêm ở đoạn thứ nhất của bài cáo đã thể hiện nổi bật tư tưởng nhân nghĩa của tác giả.

    Ông đã vạch trần, tố cáo những tội ác mà quân Minh xâm lược thực hiện với nhân dân ta:

    “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa, Bọn gian tà bán nước cầu vinh”.

    Quân Minh đã lợi dụng “chính sự phiền hà” của nhà Hồ để chớp lấy thời cơ xâm chiếm nước ta. Bước chân xâm lược của chúng giày xéo lên đất nước ta khiến nhân dân vô cùng oán hận, căm thù. Cũng lợi dụng điều đó mà bọn gian tà chỉ biết nghĩ đến lợi ích của cá nhân đã tiếp tay cho kẻ thù xâm lược để mang lại những vinh hoa, lợi lộc cho bản thân mà không chiến đấu vì nhân dân, tổ quốc.

    Giặc Minh đã gây ra những tội ác không thể dung tha:

    “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế, Gây binh kết oán trải hai mươi năm. Bại nhân nghĩa nát cả đất trời, Nặng thuế khóa sạch không đầm núi”.

    Nhân dân ta phải chịu cảnh khổ cực, lầm than dưới gót chân xâm lược của chúng. Chúng đem “nướng”, “vùi” nhân dân ta trên ngọn lửa và “dưới hầm tai vạ”. Chúng cai trị nhân dân ta bằng các loại thuế vô lí, các kế sách lừa lọc nham hiểm và cả sự tra tấn dã man, hung bạo. Những người dân vô tội phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề của giặc Minh.

    Không chỉ vậy, chúng còn hủy hoại cả môi trường sống, môi trường tự nhiên của dân tộc ta:

    “Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng. Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc. Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng, Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt”.

    Chịu sự đô hộ của quân Minh cũng đồng nghĩa với việc nhân dân ta phải đối mặt với sự cai trị tàn bạo và những hành động hung hãn của chúng. Chúng vô nhân tính đến mức bắt ép dân đen “xuống biển dòng lưng mò ngọc”, “vào núi đãi cát tìm vàng”, bắt nhân dân ta đến những nơi nguy hiểm luôn rình rập, đe dọa đến tính mạng để tìm kiếm những vật có giá trị cho quân cuồng Minh. Nhân dân ta bị biến thành nô lệ cho kẻ thù và cũng là miếng mồi ngon cho các loài động vật cá mập, thuồng luồng hung dữ. Chúng xâm chiếm nước ta để vơ vét hết sản vật quý hiếm như chim trả dùng để làm áo và đệm, hươu đen dùng để làm vị thuốc bổ. Có thể nói, tham vọng xâm lược nước ta của giặc Minh vô cùng lớn.

    Không chỉ đẩy dân ta vào nguy hiểm, chết chóc mà chúng còn “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”. Do quân Minh “máu mỡ bấy no nê chưa chán”, xây nhà đắp đất liên miên nên nhân dân ta rơi vào cảnh ngộ đầy bi thương, khốn khổ:

    “Nặng nề những nỗi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi”.

    Những tội ác của quân Minh không sao kể hết bởi lẽ:

    “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được”?

    Ngay cả trúc Nam Sơn, nước Đông Hải cũng không thể ghi hết tội ác và rửa sạch mùi dơ bẩn của quân xâm lược. Những hành động tàn ác, dã man của chúng khiến trời đất cũng không thể dung tha huống chi là con người. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thứ hai đã nhấn mạnh thêm một lần nữa tội ác của kẻ thù. Chúng ta không thể nào tha thứ cho những kẻ đã tàn sát đồng bào, tàn hại cả cây cỏ thiên nhiên của đất nước mình.

    Hình ảnh đối lập giữa những người dân đen vô tội bị bóc lột tàn bạo và kẻ thù vô nhân tính cùng giọng điệu cảm thương, đanh thép, lí luận sắc bén đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Hai đoạn đầu của bài cáo là bản cáo trạng hùng hồn tố cáo những hành động dã man của quân Minh. Đó là minh chứng tiêu biểu nhất cho sự khổ cực, áp bức, sự cướp bóc, bóc lột trắng trợn mà nhân dân ta phải gánh chịu trong suốt thời gian chúng “Gây binh kết oán trải hai mươi năm”.

    Chứng minh Bình Ngô Đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập Nghe bài văn phân tích đoạn 1 bài Bình Ngô Đại Cáo

    Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 2:

    Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba có công lớn trong công cuộc dẹp giặc Minh đem lại nền thái bình thịnh trị cho nước nhà. Ông còn là một nhà văn nhà thơ lớn với khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm cả văn học chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó phải kể đến một số tác phẩm như: Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập, Quốc Âm thi tập, Ức Trai thi tập… Đại cáo bình Ngô được coi là áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Trong đó, cốt lõi là phần đầu tác phẩm với lý tưởng nhân nghĩa được thể hiện rõ ràng:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của Đại cáo bình Ngô, là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mở đầu bài cáo tác giả nêu luận đề chính nghĩa. Việc nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở đây là “yên dân” và “trừ bạo”. “Yên dân” chính là giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, như vậy dân có yên thì nước mới ổn định, mới phát triển được. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia.

    Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là phạm trù đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội: phải chăm lo cho nhân dân được sống cuộc hạnh phúc, yên bình. Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác” Từ Triệu , Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có.

    Khi khẳng định chân lí này, Nguyễn Trãi đã đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập.Nếu như 400 năm trước, trong Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngô đại cáo, NguyễnTrãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Đây chính là điểm sáng tạo cho thấy trí tuệ của Nguyễn Trãi. Ở mỗi một quốc gia, nền văn hiến ngàn năm không ai có thể nhầm lẫn được, cương thổ, núi, sông, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với ” Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc , điều đó cho ta thấy, nếu không có một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì không thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thơn tính Đại Việt.

    Từ năm yếu tố trên, Nguyễn Trãi đã khái quát gần như toàn diện về nền độc lập của một quốc gia. So với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo thật sự hay hơn , đầy đủ, toàn diện hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ngoài ra , để nhấn mạnh tư cách độc lập của nước ta, tác giả còn sử dụng cách viết sánh đôi nước ta và Trung Quốc: về bờ cõi, phong tục – hai nước ngang bằng nhau, về triều đại-bốn triều đại cường thịnh của ta so với bốn triều đại của Trung Quốc cùng nhân tài thời nào cũng có đã chứng tỏ ta không hề thua kém chúng.

    Xuyên suốt đoạn thơ, Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu” ,”đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng sức thuyết phục lên gấp bội. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một – cũng như là bài cáo – chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác triệt để. Phần còn lại của đoạn đầu là chứng cớ để khẳng định nền độc lập, về các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử chúng đều thất bại là chứng cớ khẳng định rõ nhất:

    Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét Chứng cứ còn ghi.

    Nguyễn Trãi đã tổng kết những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Cách liệt kê, chỉ ra dẫn chứng rõ ràng, cụ thể, xác thực đã được công nhận bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Người đọc thấy ở đây ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi đã vươn tới một tầm cao mới khi nêu cụ thể, rõ ràng từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “cửa Hàm Tử”, “sông Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức : “Lưu chúng tôi công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ, có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Bất cứ kẻ nào có ý muốn thôn tính, xâm lược ta đều phải chịu kết quả thảm bại. Cuộc chiến chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc là một cuộc chiến vì chính nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà theo quy luật của tạo hóa.

    Đại cáo bình Ngô tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có. Trong đó, phần đầu tác phẩm, với nghệ thuật biền ngẫu, đã nêu được hai nội dung chính gần như hết bài cáo là nhân nghĩa và nền độc lập của dân tộc Đại Việt. Chính vì vậy, đoạn trích có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền độc lập riêng của mình. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũng như lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nước nhà.

    Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 3:

    “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

    Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại rừng núi Lam Sơn – Thanh Hóa. Sau 10 năm chiến đấu gian lao và anh dũng, quân ta đã quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc.

    Đầu xuân năm 1428, Nguyễn Trãi đã thay Lê Lợi viết bài “Bình Ngô đại cáo”, tổng kết những chiến công oanh liệt trong 10 năm kháng chiến và tuyên bố Đại Việt bước sang một kỉ nguyên mới “Muôn thuở nền thái bình vững chắc”.

    Phần đầu ” Bình Ngô đại cáo “, Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, đồng thời ca ngợi nền vàn hiến rực rỡ lâu đời của Đại Việt. Nhân nghĩa là mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta:

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

    Yên dân, điếu phạt, trừ bạo là cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa, tất cả đều hướng về con người, về nhân dân đang bị áp bức lầm than. Thuơng dân, đánh kẻ có tội (điếu phạt), tiêu diệt lũ tham tàn, bạo ngược (trừ bạo), cứu nhân dân thoát khỏi chết chóc đau thương, đem lại cuộc sống yên vui hạnh phúc cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa.

    Nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là một tư tưởng vô cùng cao đẹp: đánh giặc để cứu nước, cứu dân, vì độc lập của đất nước, vì tự do, hạnh phúc, hòa bình của nhân dân. Việc nhân nghĩa nên rất chính nghĩa. Nhân nghĩa là sức mạnh vô địch để chiến thắng quân “cuồng Minh”.

    “Đem đại nghĩa để tháng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

    Nhân dân ta giàu nhân nghĩa nên lấy nhân nghĩa để xây dựng và phát triển nền văn hiến lâu đời, rực rỡ của Việt Nam. Nếu ở “Nam quốc sơn hà”, Lí Thường Kiệt chỉ mới nói đến sông núi nước Nam là nơi “Nam đế cư”, lãnh thổ thiêng liêng ấy đã được “định phận rõ ràng ở sách Trời”, thì ở “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi đứng trên đỉnh cao thời đại “Bình Ngô” đã có một cái nhìn mới sâu sắc và toàn diện về đất nước, nhân dân Đại Việt:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đà lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cùng khác Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có”.

    Nước Đại Việt đâu phải “man đi mọi rợ” mà rất đáng tự hào.Có nền văn hiến đã lâu, Có lãnh thổ, núi sông, bờ cõi, Có thuần phong mĩ tục, Có nền độc lập trải qua nhiều triều đại “xưng để một phương”,Có nhân tài hào kiệt.

    Năm yếu tố ấy hợp thành đã tạo nên tầm vóc Đại Việt, sức mạnh Đại Việt để đánh bại mọi âm mưu xâm lược bành trướng của Thiên Triều, lập nên bao chiến công chói lọi.

    “Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”.

    Giọng văn đĩnh đạc hào hùng. Lí lẽ sắc bén, đanh thép và lối diễn đạt sóng đôi, cân xứng của những câu văn biền ngẫu đã khẳng định và ngợi ca tầm vóc lịch sử lớn lao của Đại Việt, biểu lộ một ý chí, tự cường dân tộc cao độ.

    Phần mở đầu đã góp phần thể hiện tuyệt đẹp giá trị tư tưởng và nghệ thuật của ” Bình Ngô đại cáo “, bản tuyên ngôn độc lập, áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc.

    Phân tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo mẫu số 4:

    Nhân nghĩa xưa nay vốn là một nội dung rất tích cực của Nho giáo. Đó là sự hi sinh, thương yêu và đùm bọc giữa con người với nhau. Thế nhưng, Nguyễn Trãi đã định nghĩa “nhân nghĩa” rất lạ. Theo ông “nhân nghĩa” tức là phải yêu dân, phải lo đặt hạnh phúc của nhân dân lên hàng đầu và hãy chiến đấu vì hạnh phúc đó.

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Rõ ràng đây là một mục đích cao đẹp: Chiến đấu cho nhân dân. Thế đấy, đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” giờ đây không còn là khái niệm mà phải biến nó thành hành động, thành “việc nhân nghĩa”.

    Vì cái đích rất cụ thể là giải phóng đất nước, đưa nhân dân thoát khỏi kiếp lầm than, không phải làm thân phận súc nô và có nguy cơ bị diệt chủng.

    Tiếp theo bài cáo, Nguyễn Trãi đã cất giọng, khẳng khái xưng danh hiệu tên nước: “Như nước Đạ Việt ta từ trước” và khẳng định: “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đúng thế, đây là một quốc gia hoàn toàn độc lập, có một nền văn hiến đã rất lâu đời, có những “phong tục” tập quán rất riêng không trùng lặp với bất cứ quốc gia nào khác, và quan trọng hơn nữa, đã bao thế kỉ qua, nó vẫn cứ tồn tại bình đẳng và đầy kiêu hãnh bên cạnh cách triều đại của các hoàng đế Trung Hoa.

    “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”

    Vâng, nước Đại Việt đã bao đời nay vẫn hùng mạnh như thế. Tuy đất nước này chỉ là một quốc gia nhỏ bé thôi nhưng cũng dám xưng “đế” như ai, quyết không chịu làm “vương” dưới chân kẻ khác và còn là một quốc gia đầy “nhân nghĩa”.

    Và sau cùng, Nguyễn Trãi đã rất hả hê khi nhắc lại những chiến công oanh liệt do những anh hùng hào kiệt nước Đại Việt lập nên. Ông như muốn cười vào mũi bọn phương Bắc – cái lũ đã xem nước ta như một quận huyện nhỏ của chúng, cái lũ chỉ tham công, thích lớn, thậm chí còn trắng trợn muốn làm cỏ nước Nam – thế mà lại thua te tua và thảm hại, thua hết sức nhục nhã mỗi khi giao chiến với nước Nam nhỏ bé ấy:

    Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong; Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.

    Phần một của bài cáo là một lời khẳng định hết sức tự hào và đầy khoa học về đất nước: Đây là một đất nước có nhân nghĩa, có một nền văn hiến hết sức lâu đời và nhờ lấy “nhân nghĩa” làm triết lí sống nên mới có được nền văn hiến lâu đời đến như vậy, mới đánh thắng được bọn xâm lược phương Bắc, những kẻ không có chút “nhân nghĩa” đó. Hơn nữa, qua phần một của bài cáo, ta còn cảm nhận được tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với đất nước: Ông hết sức tự hào về non sông này và ông đã thể hiện niềm yêu nước thật mãnh liệt. Tấm lòng ấy chắc chắn sẽ không bao giờ phai nhạt theo năm tháng và thời gian.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Những Hình Ảnh Ẩn Dụ Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Đề Cương Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 10
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Tây Tiến Đoạn 1 Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến
  • Những Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Lớp 11
  • Đề bài Phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

    Hoặc

    Phân tích tội ác của giặc Minh trong Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi

    Hướng dẫn làm bài phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu đề bài: phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo để thấy được những tội ác của giặc Minh và sự căm phẫn của tác giả

    – Phương pháp làm bài: phân tích

    2. Các luận điểm chính cần triển khai

    Luận điểm 1: Âm mưu xâm lược của giặc Minh

    Luận điểm 2: Vạch trần những chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc Minh

    Luận điểm 3: Tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác của giặc

    3. Dàn ý phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

    A. Mở bài:

    Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm Đại cáo bình Ngô và nội dung đoạn trích.

    B. Thân bài:

    Tác giả vạch trần tội ác của giặc Minh với một trình tự logic:

    – Tác giả chỉ rõ âm mưu xâm lược của giặc Minh

    + Vạch trần luận điệu “phù Trần diệt Hồ” của giặc Minh (việc nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần chỉ là một nguyên cớ để giặc Minh thừa cơ gây họa, mượn gió bẻ măng)

    + Âm mưu muốn thôn tính đất nước ta vốn đã có sẵn, có từ lâu.

    – Tác giả vạch trần những chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc Minh

    + Thu thuế khóa nặng nề.

    + Vơ vét sản vật, bắt chim trả

    + Ép người làm những việc nguy hiểm (dòng lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng,…).

    – Tác giả tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác của giặc.

    + Hủy hoại cuộc sống con người bằng hành động diệt chủng, tàn sát người dân vô tội (nướng dân đen, vùi con đỏ,…)

    + Hủy hoại cả môi trường sống (Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ)

    4. Sơ đồ tư duy

    Tham khảo: Nghệ thuật lập luận trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi

    Bài làm mẫu phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

    Bài văn mẫu 1

    Nguyễn Trãi là một trong ba danh nhân văn hóa của dân tộc được UNESCO công nhận, đồng thời là nhà quân sự lỗi lạc, nhà tư tưởng chính trị kiệt xuất của Việt Nam. Ông sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước rối ren, loạn lạc – nhà Trần suy yếu, nhà Hồ nhiễu nhương, lại phái quân cuồng Minh xâm lược, hoàn cảnh ấy càng thổi bùng lên tinh thần yêu nước vốn đã thấm nhuần trong tư tưởng truyền thống xuất phát từ dòng tộc. Sự cống hiến của Nguyễn Trãi lớn lao khôn tả, chẳng những là mưu sĩ với thần cơ diệu toán của khởi nghĩa Lam Sơn, ngòi bút của ông cũng góp phần quan trọng vào sự nghiệp đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại thái bình cho nước nhà, điển hình là hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Đại cáo bình Ngô”. Đặc biệt, tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” được xem như “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc có giá trị cả về mặt chính trị, lịch sử lẫn văn học. Không những là áng thiên cổ hùng văn về tư tưởng tự chủ tự cường của dân tộc mà còn là bản cáo trạng luận tội giặc Minh xâm lược, chỉ rõ sự độc ác nhơ bẩn của chúng:

    “…Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi…”

    Đoạn hai của tác phẩm với những lí luận sắc sảo, đanh thép, chứng cứ xác thực, đã vạch mặt lũ ngoại xâm với mưu mô, thủ đoạn dơ bẩn và sự tàn bạo, độc ác của chúng.

    Bằng biện pháp phóng đại, Nguyễn Trãi đã chỉ rõ những điều bại hoại nhân nghĩa, luân lí mà giặc Minh đã làm với dân tộc ta qua hình tượng “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội” và “Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”. Thực vậy, tội ác chúng gây ra nhiều không kể xiết đến nỗi ghi tạc chúng lên thân trúc Nam Sơn cũng chẳng hết, hình tượng này cho thấy sự căm phẫn lên đến tột độ của nhân dân đối với sự bạo ngược của quân xâm lược. Chẳng những quá đỗi tàn bạo, giặc Minh còn thi hành những chính sách hết sức nhơ bẩn, đê hèn và quỷ quyệt nhằm bẻ gãy ý chí dân tộc, tinh thần chiến đấu và âm mưu biến nước ta thành quận huyện, đồng hóa dân tộc ta thành người Hán và vĩnh viễn xóa sổ người Việt khỏi cõi trời đất. Chính vì lẽ ấy mà tác giả Nguyễn Trãi đã dành hẳn một phần lớn trong tác phẩm để đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng hùng hồn nhằm luận tội lũ giặc tàn bạo và xảo quyệt.

    Chính sử Việt Nam chép rất rõ về những chính sách cai trị vô cùng thâm độc trong ngót hai mươi năm đô hộ nước ta, song phần nhiều đều biên soạn dựa theo những bản ghi chép của Nguyễn Trãi, đặc biệt là “Đại cáo bình Ngô”, ấy cũng bởi mưu sĩ họ Nguyễn là người trực tiếp sống và chiến đấu trong giai đoạn nước ta bị giặc Minh xâm lược. Từ đó có thể thấy, những luận cứ trong bài đại cáo hết sức xác thực và giàu tính chiến đấu. Qua tác phẩm, tác giả đã tố cáo tội ác dã man của bè lũ xâm lược và bán nước:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà bán nước cầu vình…”

    Từ đây, từng câu từng chữ trong tác phẩm đều như một nét mực châm phá nên bức tranh về bối cảnh loạn lạc của đất nước, vè sự xảo trá, “mượn gió bẻ măng” và nham hiểm của giặc Minh. Chúng sử dụng chiêu bài xâm lược “phù Trần diệt Hồ” với quân bài chủ chốt Trần Thiêm Bình nhằm mua chuộc quý tộc nhà Trần về phe chúng để đô hộ nước ta Những chính sách của chúng đều sặc mùi dối trả, phỉnh gạt:

    “…Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế Gây binh kết oán trải hai mươi năm…”

    Chính từ đó, người đọc thấy rõ sự nhơ nhuốc, bại hoại nhân nghĩa và xảo quyệt không lường của bọn xâm lược:

    …Bại nhân nghĩa nát cả đất trời

    Nặng thuế khóa sạch không đầm núi…”

    Chung quy lại, mục đích duy nhất mà giặc Minh hướng đến khi gót giày chúng dẫm lên lãnh thổ Đại Việt là đô hộ và cai trị, âm mưu xóa sổ và thôn tính nước ta, vì lẽ đó nên những điều ngụy biện của chúng chẳng thể dối gạt nhân dân Việt Nam, và tội ác, thủ đoạn của chúng thật là “Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

    Sau khi chỉ rõ âm mưu và sự bẩn thỉu trong kế sách xâm lược của quân Minh, tác giả bắt đầu chuyển mạch ngôn từ và liệt kê hàng loạt tội ác của chúng:

    “…Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…”

    Không từ thủ đoạn, quân xâm lược tàn sát người vô tội chẳng những nhằm thỏa mãn thú tính và bản chất hung tàn của chúng mà còn âm mưu diệt chủng dân nước Nam, ép những người không phục tùng chúng phải đi vào chỗ chết. Chẳng những vậy, đối với những cuộc đấu tranh chống lại sự tàn độc của lũ xâm lược, chúng chẳng ngại ngần dìm những cuộc khởi nghĩa vào bể máu, gây cảnh binh đạo. CHưa hết, giặc Minh còn ra sức vơ vét của cải, sản vật quý hiếm của nước Nam để thảo mãn nhu cầu vật chât, thú vui xa hoa vô lối của chúng bằng cách bóc lột, bức ép người Việt phải săn lùng sản vật để cống nộp bất chấp mạng sống:

    …Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng

    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi đặt cạm…”

    Bằng biện pháp liệt kê, tác giả đã tài tình khắc họa về thảm cảnh tang tóc do chính sách cai trị tàn bạo và vô luân lí của giặc Minh gây nên. Không dừng lại ở đó, quân xâm lược còn thi hành hàng loạt biện pháp man rợ khác nhằm bóc lột sức lao động, vắt kiệt sinh khí của nước ta, đồng thời tàn phá kế sinh nhai của nhân dân:

    “…Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng…”

    Rồi thì:

    “…Nay xây nhà, mai đắp đất, tay chân nào phuc dịch cho vừa Nặng nề những nỗi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi…”

    Tất cả những tội ác của chúng đều được vạch rõ và chứng minh bằng những chứng cứ xác đáng, không thể chối cãi, rồi dồn lại vào hình tượng đối lập giữa lũ giặc mọi rợ hùng bạn với người dân nhỏ bé bị chúng hành hạ, vắt kiệt sức lực, mồ hôi, máu và nước mắt:

    “…Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bất no nê chưa thỏa…”

    Bại hoại nhân nghĩa, trời bất dung, đất bất thứ là những thứ dùng để diễn tả về những tội ác đẫm máu của quân Minh trên đất Đại Việt. Tất cả đều được ngòi bút sắc hơn ngọn giáo của Nguyễn Trãi ghi tạc vào sử sách bằng giọng điệu uất hận nghẹn ngào kết hợp với biện pháp phóng đại, hình ảnh kì vĩ, vô tận, tội ác chồng chất bị phơi bày trong bản cáo trạng đẫm máu và nước mắt. ở đây, bản tuyên ngôn độc lập còn có giá trị như một bản tuyên ngôn nhân quyền, vạch rõ sự bại hoại nhân nghĩa của quân thù:

    “…Lẽ nào trời đất dung tha Ai bảo thân nhân chịu được…”

    Tội ác mà thần bất dung, nhân bất thứ thì quả thật là ” Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội.”

    Qua những phân tích nêu trên, hậu thế có thể thấy thảm cảnh chiến tranh tang thương đến nhường nào, từ đó ra sức đấu tranh vì một cuộc sống độc lập tự do cố gắng gìn giữ nền hòa bình dân tộc, chủ quyền cương vực lãnh thổ. Đồng thời, phải ra sức phấn đấu rèn luyện nhằm cống hiến và xây dựng quốc gia giàu đẹp, ấy vậy mới xứng đáng với non sông mà ông cha phải đánh đổi cả máu xương mới gìn giữa được.

    Tóm lại, qua đoạn hai của “Đại cáo bình Ngô”, có thể thấy rõ sự tàn bạo, thâm hiểm, độc ác của giặc xâm lược, tất cả được khắc họa chi tiết nhờ nghệ thuật chính luận tài tình của Nguyễn Trãi. Qua đó, hậu thế thấy được giá trị của việc bảo vệ và gìn giữ non sông gấm vóc Việt Nam.

    Tham khảo: Dàn ý Bình Ngô Đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập

    Bài văn mẫu 2

    Nếu như đoạn 1 đề cao sự nhân nghĩa và khẳng định chủ quyền dân tộc thì đoạn 2 của tác phẩm Bình ngô đại cáo chủ yếu tố cáo những tội ác của giặc Minh trong thời gian chúng đô hộ nước ta.

    Tác giả đề cập đến thời gian nhà Hồ suy yếu, giặc Minh lợi dụng danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” gây chia rẽ trong nước, gây bạo loạn và mục đích cướp đất nước ta.

    “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận

    Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ Bọn gian ta còn bán nước cầu vinh”

    Giặc ngoại xâm thật thâm độc, chính sách cai trị tàn bạo, vô nhân tính chẳng khác nào hành động diệt chủng như giết hại nhân dân “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn- Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”, ra sức thu thuế khóa mục đích chiếm càng nhiều tài sản càng tốt, sử dụng con người khai thác tài nguyên đến nguy hiểm tính mạng “ép xuống biển mò ngọc” đối mặt với mối nguy từ các cá mập, thuồng luồng, “vào núi đãi cát tìm vàng” nơi chốn rừng thiêng nước độc và rất nhiều người đã bỏ mạng.

    Không chỉ với con người mà chúng còn “Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ” phá hoại môi trường nặng nề.

    Tất cả đều khiến rất nhiều gia đình ly tán chia lìa, xã hội tan thương, nhân dân rơi vào tình cảnh túng quẫn cùng cực.

    Nguyễn Trãi trong đoạn 2 Bình ngô đại cáo đã tố cáo tội ác man rợ của giặc Minh nhiều đến nỗi “trúc Nam Sơn không ghi hết tội” “nước Đông hải không rửa sạch mùi”, qua đó tỏ thái độ căm phẫn, uất ức bọn xâm lược đó cũng chính là nỗi đau nhân dân tầng lớp nghèo khổ trong xã hội. Chứng kiến những điều tàn bạo, phi đạo lý đó lẽ nào trời đất dung thứ cho chúng?

    Lẽ nào trời đất dung tha Ai bảo thần dân chịu được?

    Đoạn 2 Bình ngô đại cáo chính là lời tố cáo mạnh mẽ sự tàn bạo, độc ác mà giặc Minh đang giày xéo trên đất nước. Khi có sự áp bức chắc chắn sẽ có đấu tranh, khởi nghĩa và có thể khẳng định chính nghĩa chắc chắn sẽ giành thắng lợi sau cùng.

    Hoàn thành bài phân tích đoạn 2 bài Bình ngô đại cáo. Đoạn 1 và đoạn 2 Bình ngô đại cáo đều có nhiều nét đặc sắc. Các em cần đọc kỹ để hiểu rõ hơn về một trong những tác phẩm hay của tác giả Nguyễn Trãi.

    Bài văn mẫu 3

    Nếu như dân tộc ta biết đến Nam quốc sơn hà như một bản tuyên ngôn thứ nhất thì Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng thiên cổ hùng văn – bản tuyên ngôn đất nước thứ hai. Nguyễn Trãi bằng tài năng văn chương và chính trị của mình đã viết lên bố cáo cho toàn thiên hạ được biết về trận chiến với giặc Minh. Đặc biệt phần một và phần hai của bài cáo khẳng định chủ quyền dân tộc và vạch rõ âm mưu xâm chiếm nước ta của giặc Minh.

    Trước hết Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc của nước ta. Việc nhân nghĩa theo Nguyễn Trãi là:

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

    Tư tưởng nhân nghĩa được Nguyễn Trãi tiếp thu của nho giáo để đúc kết lên thành khái niệm. Theo nhà văn, nhân nghĩa là dân được yên ổn, sống một cuộc sống yên bình, ấm no. Mà để cho dân được sống một cuộc yên ổn thì phải lo trừ bạo, cụ thể là dẹp thù trong giặc ngoài.

    Sau khi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, Nguyễn Trãi bắt đầu khẳng định chủ quyền của dân tộc ta:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước Đã xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục bắc nam cũng khác Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Nhưng hào kiệt đời nào cũng có”

    Nước Đại Việt là một nước được xây dựng từ bao đời, có một nền văn hiến lâu đời. Từ thưở trước biên giới bờ cõi đã được phân chia rõ ràng. Phong tục hai bên cũng khác nhau. Tác giả đặt ngang hàng các thời đại của ta với các thời đại tương ứng của Trung Quốc để khẳng định chủ quyền dân tộc. Có thể thấy Nguyễn Trãi khẳng định chủ quyền đất nước ta trên tất cả các lĩnh vực: văn hóa, biên giới, thời đại. Biện pháp nghệ thuật so sánh, đối kết hợp với câu văn biền ngẫu đã thể hiện rõ quan điểm của tác giả. Dù mạnh yếu khác nhau từng song hào kiệt đời nào cũng có. Để chứng minh cho câu nói “hào kiệt đời nào cũng có” và khẳng định chủ quyền bờ cõi, Nguyễn Trãi đã nêu lên hàng loạt các dẫn chứng lịch sử về những trận bại lớn của giặc:

    Lưu Cung tham công nên thất bại Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã Việc xưa xem xét, chứng cớ còn ghi”

    Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã đều là những cái tên quan trọng của giặc. Chúng là những tên cầm đầu cả một đoàn quân với số lượng lớn nhằm xâm chiếm nước ta. Thế nhưng chiến tranh phi nghĩa thì không bao giờ có kết quả tốt. Đặc biết chúng là những tham công, thích lớn nên càng dễ bị thất bại và tiêu diệt. Hàm Tử, Bạch Đằng là những địa danh của ta, đó không chỉ nơi diễn ra trận chiến với giặc mà còn là nấm mồ chôn xác chúng.

    Sau khi khẳng định chủ quyền dân tộc trên các lĩnh vực triều đại, văn hóa, biên giới, lịch sử, Nguyễn Trãi trình bày cho toàn dân thiên hạ biết về âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa của bọn giặc Minh:

    “Vừa rồi:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”

    Nhà văn chỉ rõ nguyên nhân do chính sự nhà Hồ gặp rắc rối cho nên giặc Minh mượn cớ phù Trần diệt Hồ để hòng xâm chiếm nước Đại Việt. Không chỉ quân giặc ngoại xâm mưu mô xảo trá mà bọn nội phản trong nước cũng ngóc đầu dậy bán nước cầu vinh. Chúng nghe theo lời của giặc ngoại xâm, chấp nhận làm tay sai cho chúng.

    Tội ác của chúng gây ra cho nhân dân Đại Việt không hề nhỏ, chúng tán tận lương tẩm đẩy con dân ta vào những tình cảnh khổ tận cam lại, khốn nạn thay chúng vét sạch cả núi sông và cả sức người Đại Việt:

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế Gây thù kết oán trải mấy mươi năm Bại nhân nghĩa nát cả đất trời. Nặng thuế khoá sạch không đầm núi. Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng. Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc. Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng. Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt. Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng”

    Chúng “nướng dân đen” rồi vùi “con đỏ” xuống hầm để khai thác tài nguyên thiên nhiên cho chúng. Chúng lừa dối trời lừa dối dân bằng muôn ngàn kế sách nhằm vơ vét tài nguyên nước ta. Tội ác của chúng bại cả nhân nghĩa, tan nát cả đất trời, lòng dân oán hận biết bao nhiêu năm nhưng không thể làm gì được chúng. Chúng không chỉ vơ vét tài nguyên mà còn đặt ra hàng trăm thứ thuế đẩy người nông dân đến hoàn cảnh khốn cùng. Người thì bị chúng ép xuống biển mò ngọc dù nơi đó cá mập vây quanh, con dân có thể bị xé xác bất cứ lúc nào. Kẻ thì bị lên núi đãi cát tìm vàng dù rừng thiêng nước độc. Hiện trạng đất nước được phô ra trước mắt với những hình ảnh đau thương, khắp nơi khắp chốn cạm bẫy, lưới giăng đến cây cỏ còn bị sát hại huống chi đến con người. Từ những sản vật cho đến động vật, thực vật đều không sống nổi với sự tàn ác của giặc Minh. Khốn thay cho những người phụ nữ góa chồng.

    Đối lập với nỗi khốn khổ của nhân dân Đại Việt, lũ giặc Minh giống như một lũ quỷ răng nanh máu me kinh khủng:

    “Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán, Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa? Nặng nề những nổi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi. Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi ! Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?”

    Chúng hiện lên như những con quỷ béo mỡ, đáng sợ. Với cái miệng rộng và hàm răng quỷ dữ ấy chúng bắt nhân dân ta nay xây nhà mai đắp đất. Rồi ai phục dịch chúng cho vừa, nặng nề và tan tác cả nghề canh cửi. Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo cấu trúc câu “độc ác thay…” “Dơ bẩn thay…” nhằm nhấn mạnh vào sự khinh bỉ và căm phẫn tội ác của giặc Minh. Tội ác của chúng dẫu có bao nhiêu trúc Nam Sơn cũng không ghi hết tội, nước Đông Hải có nhiều cũng không rửa sạch mùi. Tội ác ấy trời đất chẳng lẽ nào dung tha cho chúng, lòng dân sẽ nổi dậy.

    Như vậy, phần một và phần hai của bài cáo đã khẳng định chủ quyền của nhân dân Đại Việt. Đồng thời vạch rõ âm mưu xâm chiếm của giặc Minh. Tội ác của chúng được phơi bày ra cho toàn dân thiên hạ được biết. Tội ác của chúng không thể nào dung tha. Bài cáo sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật như đối lập, miêu tả, so sánh kết hợp với lối văn biền ngầu tự do đã thể hiện rõ được nội dung mà tác giả muốn trình bày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1
  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)
  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)
  • Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1
  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Chúng ta cùng phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo để thấy được tư tưởng nhân nghĩa, lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã được nhà thơ Nguyễn Trãi đã trình bày vô cùng đặc sắc trong phần đầu bài thơ được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc.

    Đề bài: Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo

    Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo

    I. Dàn ý Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo (Chuẩn)

    – Giới thiệu những nét khái quát về tác giả Nguyễn Trãi. (đặc điểm con người, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác,…)

    – Giới thiệu những nét khái quát về tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” (hoàn cảnh ra đời, những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật,…)

    – Giới thiệu khái quát về đoạn 1 và đoạn 2 của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” (giá trị, nội dung và nghệ thuật,…)

    a. Nêu lên luận đề chính nghĩa và chân lí độc lập dân tộc, làm nền tảng, cơ sở lí luận cho cuộc kháng chiến

    – Nêu lên luận đề chính nghĩa:

    + “Nhân nghĩa” từ xưa đến nay luôn là một phạm trù tư tưởng lớn của Nho giáo, nó thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên cơ sở của tình thương và đạo lí.

    + Với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” luôn gắn liền với việc “yên dân” và muốn “yên dân” thì phải trừ bạo để đem lại cho nhân dân cuộc sống ấm no, yên bình

    – Chân lí độc lập của dân tộc ta:

    + Dân tộc Đại Việt chúng ta từ ngàn đời nay có một nền văn hiến lâu đời, có bờ cõi, lãnh thổ riêng và có phong tục, tập quán riêng của hai miền Nam Bắc.

    + Dân tộc ấy đã trải qua các triều đại khác nhau, sánh vai cùng các triều đại phong kiến của phương Bắc

    + Dân tộc ta đã có những chiến thắng vang dội, lẫy lừng của quân và dân ta trong lịch sử trước quân xâm lược.

    b. Soi chiếu lí luận vào thực tiễn để vạch rõ tội ác của kẻ thù

    + Tội ác của bọn giặc trước hơn hết chính là ở việc lợi dụng tình hình rối ren ở trong nước để từ đó chúng lấy cớ và tiến vào xâm lược nước ta.

    + Thi hành hàng loạt chính sách phi nhân đạo, tàn nhẫn: “nướng dân đen”, “vùi con đỏ”, đẩy nhân dân vào chốn rừng thiêng nước độc đầy rẫy những hiểm nguy,…

    + Ra sức vơ vét của cải, thuế khóa vô lí và phá hoại môi trường, cảnh quan trên đất nước ta.

    → Tác giả đã khép lại đoạn hai của tác phẩm bằng hai câu thơ giàu hình ảnh và đầy sức ám ảnh về những tội ác mà bọn giặc Minh đã gây ra trên đất nước ta.

    Khái quát lại giá trị về nội dung và nghệ thuật của đoạn 1 và đoạn 2 của bài “Bình Ngô đại cáo” và nêu cảm nhận của bản thân.

    II. Bài văn mẫu Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo

    1. Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, mẫu số 1 (Chuẩn)

    Nguyễn Trãi là một vị quan nhưng đồng thời cũng là nhà văn, là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc. Ông đã góp vào kho tàng văn học trung đại nói riêng và kho tàng văn học Việt Nam nói chung nhiều tác phẩm văn học có giá trị và “Bình Ngô đại cáo” là một trong số những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Bài cáo được xem là “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc. Đặc biệt, qua đoạn thứ nhất và đoạn hai của bài cáo, người đọc sẽ thấy rõ được luận đề chính nghĩa của dân tộc ta cũng như tội ác man rợ của kẻ thù.

    Trước hết, đoạn trích mở đầu tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” đã nêu lên luận đề chính nghĩa và chân lí độc lập dân tộc, đó chính là nền tảng, là tiền cơ sở lí luận xuyên suốt cuộc kháng chiến của quân và dân ta.

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

    Có thể thấy, “nhân nghĩa” từ xưa đến nay luôn là một phạm trù tư tưởng lớn của Nho giáo, nó thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên cơ sở của tình thương và đạo lí. Là một nhà nho, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo nên nền tảng tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng chính là tư tưởng “nhân nghĩa”. Với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” luôn gắn liền với việc “yên dân” và muốn “yên dân” thì phải trừ bạo để đem lại cho nhân dân cuộc sống ấm no, yên bình. Như vậy, có thể thấy, cốt lõi tư tưởng “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi chính là lấy dân làm gốc, làm nền tảng, vì cuộc sống yên ấm, hạnh phúc của nhân dân mà đánh đuổi bọn cường bạo.

    Thêm vào đó, tác giả còn nêu lên chân lí độc lập của dân tộc từ ngàn đời nay.

    Như nước Đại Việt ta từ trước

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

    Núi sông bờ cõi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

    Song hào kiệt đời nào cũng có.

    3 bài văn Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo tuyển chọn

    Chỉ với một đoạn văn ngắn nhưng tác giả Nguyễn Trãi đã gợi lên cả một chặng đường lịch sử ngàn năm văn hiến của dân tộc. Cũng như bao dân tộc, quốc gia khác, đất nước, dân tộc Đại Việt chúng ta từ ngàn đời nay có một nền văn hiến lâu đời, có bờ cõi, lãnh thổ riêng và có phong tục, tập quán riêng của hai miền Nam Bắc. Dân tộc ấy đã trải qua các triều đại khác nhau, sánh vai cùng các triều đại phong kiến của phương Bắc. Và với việc đặt các triều đại của dân tộc ta sánh ngang hàng với các triều đại phong kiến Trung Quốc vừa là lời khẳng định nền độc lập, truyền thống của dân tộc vừa thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc của tác giả. Thêm vào đó, để khẳng định chân lí độc lập của dân tộc, tác giả Nguyễn Trãi đã khéo léo kể ra những chiến thắng vang dội, lẫy lừng của quân và dân ta trong lịch sử.

    Lưu Cung tham công nên thất bại

    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

    Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

    Trên cơ sở tiền đề lí luận đã được nêu ra, trong phần tiếp theo của bài cáo, tác giả đã soi chiếu lí luận ấy vào thực tiễn để vạch rõ những tội ác dã man của kẻ thù. Tội ác của bọn giặc trước hơn hết chính là ở việc lợi dụng tình hình rối ren ở trong nước để từ đó chúng lấy cớ và tiến vào xâm lược nước ta.

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

    Để trong nước lòng dân oán hận

    Quân cuồng minh thừa cơ gây họa

    Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

    Không chỉ dừng lại ở đó, sau khi tiến vào xâm lược nước ta chúng còn thi hành hàng loạt chính sách phi nhân đạo, tàn nhẫn.

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

    Bọn giặc thật tàn nhẫn, chúng giết hại dân lành bằng những hành động rất man rợ, đến cả “dân đen” – những người dân vô tội và cả những đứa trẻ thơ chúng cũng không tha. Bằng việc sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đặt động từ “nướng” và “vùi” lên đầu các câu thơ, dường như tác giả muốn nhấn mạnh thêm sự tàn nhẫn, độc ác của bọn giặc. Cùng với đó, bọn giặc còn tàn sát nhân dân bằng cách đẩy chúng vào những nơi chứa đầy những hiểm nguy, ở những nơi mà người ta biết khi đi sẽ khó lòng có thể trở về được nữa.

    Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.

    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc

    Cùng với đó, tội ác của giặc còn ở chỗ chúng đã ra sức vơ vét của cải, thuế khóa vô lí và phá hoại môi trường, cảnh quan trên đất nước ta.

    Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

    Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

    Và để rồi, tác giả đã khép lại đoạn hai của tác phẩm bằng hai câu thơ giàu hình ảnh và đầy sức ám ảnh về những tội ác mà bọn giặc Minh đã gây ra trên đất nước ta.

    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

    Tác giả Nguyễn Trãi đã dùng cái vô hạn, vô cùng của “trúc Nam Sơn” và “nước Đông Hải” để nói về tội ác của kẻ thù. Từ đó, người đọc có thể thấy được tội ác không gì có thể kể hết, có thể diễn tả được của kẻ thù. Và trước những hành động ấy của giặc Minh, nhân dân ta, dân tộc ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường đứng lên để hành động.

    Lẽ nào trời đất dung tha,

    Ai bảo thần nhân chịu được?

    Tóm lại, với những hình ảnh thơ độc đáo cùng ngôn ngữ sắc sảo, giọng điệu linh hoạt, hai đoạn thơ mở đầu tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” không chỉ nêu lên cho người đọc thấy được luận đề chính nghĩa, chân lí độc lập của dân tộc ta mà qua đó người đọc còn thấy được những tội ác không thể nào tha thứ được của kẻ thù.

    2. Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, mẫu số 2:

    Nhắc đến những nhà văn chính luận lỗi lạc của văn học trung đại chúng ta không thể nào không nhắc đến Nguyễn Trãi. Ông không chỉ là một nhà thơ trữ tình sâu sắc mà còn là một nhà văn chính luận kiệt xuất với các tác phẩm: “Quân trung từ mệnh tập”, các chiếu biểu viết dưới thời nhà Lê và tiêu biểu nhất là tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”. Các áng văn chính luận này đã thể hiện được lòng yêu nước, thương dân của tác giả.

    Ngay câu đầu bài cáo đã bộc lộ tư tưởng nhân nghĩa ấy:

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

    “Nhân nghĩa” là tấm lòng thương yêu người, là những hành động vì lợi ích của nhân dân, cộng đồng. Bên cạnh đó, “nhân nghĩa” cũng là sự tôn trọng lẽ phải, bênh vực lẽ phải. Chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” là “yên dân”, “trừ bạo”, cuộc sống và sự no ấm của nhân dân phải được đặt lên hàng đầu. Giữa con người phải có tình yêu thương lẫn nhau, cùng chiến đấu để bảo vệ đất nước, thoát khỏi đời sống khổ cực, lầm than. Để được như vậy thì phải diệt trừ những kẻ bạo tàn, những thế lực xâm lược hung hãn, đó chính là giặc Minh đang xâm chiếm đất nước ta lúc bấy giờ. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi chính là lòng yêu nước, thương dân và tinh thần chống giặc ngoại xâm quyết liệt. Đây không chỉ là mối quan hệ nằm trong phạm vi giữa con người với con người mà mở rộng ra là mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc.

    Phân tích đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo để thấy được tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi

    Để khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng và vô cùng thuyết phục:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước,

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

    Núi sông bờ cõi đã chia,

    Phong tục Bắc Nam cũng khác.

    Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

    Song hào kiệt đời nào cũng có”.

    Nền văn hiến đã có từ lâu đời và được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc. Cùng với đó là sự phân chia về lãnh thổ, núi sông và các phong tập tập quán đặc trưng của hai miền Nam, Bắc đã thể hiện đất nước ta là một đất nước có chủ quyền, có các anh hùng hào kiệt luôn cống hiến, chiến đấu hết mình để bảo vệ non sông. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đặt các triều đại của nước ta ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh không kém. Điều đó đã thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả.

    Ông đã nhắc lại nhiều chiến thắng lừng lẫy của nước Đại Việt như một lời khẳng định sự thất bại thảm hại của kẻ thù:

    “Lưu Cung tham công nên thất bại,

    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.

    Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,

    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

    Việc xưa xem xét,

    Chứng cớ còn ghi”.

    Những tướng của nhà Tống, nhà Nguyên đều bị các tướng giỏi của ta đánh cho thất bại. Chúng vì “tham công”, “thích lớn” nên phải chịu hậu quả nặng nề. Các sự kiện ấy còn được nhân dân ta lưu lại trong sử sách để muôn đời ghi nhớ. Các phép đối, so sánh ngang hàng các triều đại phong kiến của nước ta với các triều đại phương Bắc cùng phép liệt kê và giọng điệu hào hùng, trang nghiêm ở đoạn thứ nhất của bài cáo đã thể hiện nổi bật tư tưởng nhân nghĩa của tác giả.

    Ông đã vạch trần, tố cáo những tội ác mà quân Minh xâm lược thực hiện với nhân dân ta:

    “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

    Để trong nước lòng dân oán hận.

    Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa,

    Bọn gian tà bán nước cầu vinh”.

    Quân Minh đã lợi dụng “chính sự phiền hà” của nhà Hồ để chớp lấy thời cơ xâm chiếm nước ta. Bước chân xâm lược của chúng giày xéo lên đất nước ta khiến nhân dân vô cùng oán hận, căm thù. Cũng lợi dụng điều đó mà bọn gian tà chỉ biết nghĩ đến lợi ích của cá nhân đã tiếp tay cho kẻ thù xâm lược để mang lại những vinh hoa, lợi lộc cho bản thân mà không chiến đấu vì nhân dân, tổ quốc.

    Giặc Minh đã gây ra những tội ác không thể dung tha:

    “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

    Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,

    Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

    Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

    Nặng thuế khóa sạch không đầm núi”.

    Nhân dân ta phải chịu cảnh khổ cực, lầm than dưới gót chân xâm lược của chúng. Chúng đem “nướng”, “vùi” nhân dân ta trên ngọn lửa và “dưới hầm tai vạ”. Chúng cai trị nhân dân ta bằng các loại thuế vô lí, các kế sách lừa lọc nham hiểm và cả sự tra tấn dã man, hung bạo. Những người dân vô tội phải chịu sự áp bức, bóc lột nặng nề của giặc Minh.

    Không chỉ vậy, chúng còn hủy hoại cả môi trường sống, môi trường tự nhiên của dân tộc ta:

    “Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.

    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.

    Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

    Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt”.

    Chịu sự đô hộ của quân Minh cũng đồng nghĩa với việc nhân dân ta phải đối mặt với sự cai trị tàn bạo và những hành động hung hãn của chúng. Chúng vô nhân tính đến mức bắt ép dân đen “xuống biển dòng lưng mò ngọc”, “vào núi đãi cát tìm vàng”, bắt nhân dân ta đến những nơi nguy hiểm luôn rình rập, đe dọa đến tính mạng để tìm kiếm những vật có giá trị cho quân cuồng Minh. Nhân dân ta bị biến thành nô lệ cho kẻ thù và cũng là miếng mồi ngon cho các loài động vật cá mập, thuồng luồng hung dữ. Chúng xâm chiếm nước ta để vơ vét hết sản vật quý hiếm như chim trả dùng để làm áo và đệm, hươu đen dùng để làm vị thuốc bổ. Có thể nói, tham vọng xâm lược nước ta của giặc Minh vô cùng lớn.

    Không chỉ đẩy dân ta vào nguy hiểm, chết chóc mà chúng còn “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”. Do quân Minh “máu mỡ bấy no nê chưa chán”, xây nhà đắp đất liên miên nên nhân dân ta rơi vào cảnh ngộ đầy bi thương, khốn khổ:

    “Nặng nề những nỗi phu phen

    Tan tác cả nghề canh cửi”.

    Những tội ác của quân Minh không sao kể hết bởi lẽ:

    “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

    Lẽ nào trời đất dung tha,

    Ai bảo thần nhân chịu được”?

    Ngay cả trúc Nam Sơn, nước Đông Hải cũng không thể ghi hết tội ác và rửa sạch mùi dơ bẩn của quân xâm lược. Những hành động tàn ác, dã man của chúng khiến trời đất cũng không thể dung tha huống chi là con người. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thứ hai đã nhấn mạnh thêm một lần nữa tội ác của kẻ thù. Chúng ta không thể nào tha thứ cho những kẻ đã tàn sát đồng bào, tàn hại cả cây cỏ thiên nhiên của đất nước mình.

    Hình ảnh đối lập giữa những người dân đen vô tội bị bóc lột tàn bạo và kẻ thù vô nhân tính cùng giọng điệu cảm thương, đanh thép, lí luận sắc bén đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Hai đoạn đầu của bài cáo là bản cáo trạng hùng hồn tố cáo những hành động dã man của quân Minh. Đó là minh chứng tiêu biểu nhất cho sự khổ cực, áp bức, sự cướp bóc, bóc lột trắng trợn mà nhân dân ta phải gánh chịu trong suốt thời gian chúng “Gây binh kết oán trải hai mươi năm”.

    3. Phân tích đoạn 1,2 Bình ngô đại cáo, mẫu số 3:

    Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, ba tác phẩm văn học có giá trị như những bản tuyên ngôn độc lập của đất nước. Đó là Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi và Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, Bình Ngô đại cáo đã thể hiện rõ lòng yêu nước và tự hào của dân tộc, như một “áng thiên cổ hùng văn” bất hủ của dân tộc. Bài thơ được viết vào những năm 1982, khi mà nghĩa quân vừa đánh bại giặc Minh, kết thúc chiến tranh xâm lược đất nước.

    Đoạn 1 và đoạn 2 của bài thơ đã nêu rõ tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt tác phẩm và vạch rõ tội ác “trời không dung, đất không tha” của kẻ thù.

    “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” .

    “Yên dân” là giúp cho đời sống của nhân dân được yên bình, đủ đầy, ấm no. Dân có yên thì đất nước mới ổn định, mới phát triển và vững bền. Việc “nhân nghĩa” là việc làm hợp lòng người, mục đích vì con người, vì ích lợi của nhân dân. Muốn dân yên thì phải lo “trừ bạo”, tiêu diệt lũ cướp nước và bán nước, trừ bạo cũng là nhân nghĩa. Nguyễn Trãi đã thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc, tư tưởng ấy xuất phát từ mục đích hành động cụ thể, đó là yêu nước, là thương dân, là lo cho dân, và đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm. Càng muốn đời sống nhân dân đủ đầy, ấm no phải phá tan kẻ thù hung tàn bạo ngược, đó là quy luật tất yếu.

    “Như nước Đại Việt ta từ trước,

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

    Phong tục Bắc Nam cũng khác;

    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;

    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

    Song hào kiệt thời nào cũng có.”

    Nhân nghĩa không chỉ là yên dân, nhân nghĩa còn là ý thức bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, là văn hoá, cốt cách dân tộc. Tác giả đã khẳng định nền văn hiến của nước Đại Việt ta từ hàng ngàn năm trước đã có, đó là sự trường tồn theo thời gian, mãi mãi vững bền. Lãnh thổ đã phân rõ, phong tục mỗi miền có đặc trưng, độc đáo riêng không thể nhầm lẫn được. Từ bao đời Triệu, Đinh, Lí, Trần đã thống nhất, dựng xây nên nền độc lập, Đại Việt cũng như các triều đại Trung Quốc vậy, cũng hưng thịnh và phát triển, cũng hùng mạnh và thống nhất. Đặt các triều đại của Đại Việt ngang hàng với các nhà Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc để cho thấy được lãnh thổ, sức mạnh riêng của dân tộc ta mà không ai có thể phủ nhận được. Tuy thời thế mạnh yếu khác nhau, song đất Việt luôn có những nhân tài, hào kiệt, thao lược tài ba. Câu thơ như một lời cảnh cáo đối với những kẻ lăm le thôn tính Đại Việt. Đó là sự tự hào, lòng tự tôn mãnh liệt về văn hoá, lãnh thổ và con người nước Việt, là căn cứ chắc chắn để khẳng định với thế giới rằng nước ta hoàn toàn có tư cách độc lập và xứng đáng được hưởng thụ nền độc lập ấy.

    Lưu Cung tham công nên thất bại;

    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;

    Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

    Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.”

    Bình Ngô đại cáo là tác phẩm “vô tiền khoáng hậu” của nền văn học Việt Nam

    Nhờ vậy mà bao chiến công lừng lẫy năm châu, khiến sông núi cũng phải cất lên tiếng reo hò vui mừng, bao thất bại của quân giặc gánh chịu là do chúng tự chuốc lấy. Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã không bị giết thì cũng bị bắt sống, chuốc lấy thất bại thảm thương. Những kẻ phi nghĩa, ác độc dù có lớn mạnh vẫn không thể thắng được chính nghĩa, thắng được lòng dân.

    Để minh chứng cho sự thất bại đó, tác giả đã tố cáo những tội ác mà chúng đã gây ra cho dân tộc ta:

    “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

    Để trong nước lòng dân oán hận

    Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ

    Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”

    Giặc Minh lợi dụng thời cơ đất nước rối ren mà xâm chiếm nước ta. Chúng áp bức, bóc lột đồng bào ta, ra sức vơ vét sức người sức của của nhân dân Đại Việt. Chúng tàn sát bao người vô tội:

    “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

    Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế

    Gây thù kết oán trải mấy mươi năm

    Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.

    Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.”

    Thuế khoá nặng nề, đàn áp vô nhân đạo, huỷ diệt thiên nhiên môi trường, vơ vét từng gốc cây ngọn cỏ của nhân dân Đại Việt. Những tội ác tày trời mà chúng gây ra khiến nhân dân càng thảm thương, đói khổ, đau thương làm sao kể xiết! Cùng với đó, bọn gian tà trong nước tham lợi mà bán nước, chống lại nhân dân, khiến lòng dân càng thêm căm phẫn. Chúng biến nhân dân ta thành kẻ nô lệ, chẳng màng tính mạng một ai:

    “Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.

    Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng.

    Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

    Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

    Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

    Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,

    Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?

    Nặng nề những nỗi phu phen

    Tan tác cả nghề canh cửi.”

    Nhân dân rơi vào sự khốn cùng, bị thương, sầu não. Nghề nghiệp không còn, tan tác, đau thương, đến cùng cực tội nghiệp. Nghiệp ác mà chúng gây ra bao nhiêu trúc Nam Sơn cũng không ghi hết tội, bao nhiêu nước Đông Hải cũng không rửa hết mùi tanh bẩn của giặc. Nhân dân căm phẫn, trời đất khôn thấu.

    Chỉ với hai đoạn thơ ngắn gọn, súc tích, nhưng bằng tài năng và sự sắc sảo trong ngòi bút của mình, Nguyễn Trãi đã thể hiện được tư tưởng nhân nghĩa, vì dân. Góp phần tạo tiền đề cho những phần sau của tác phẩm.

    Người viết: Taimienphi.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Những Hình Ảnh Ẩn Dụ Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương Chỉ Ra Giá Trị Thẩm Mĩ Của Nó Trong Mạch Cảm Xúc Bài Thơ Bằng Đoạn Văn 10 Câu Có Sử
  • Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 2 Dễ Hiểu Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • 4Div 2 Chỉ Ra Các Biện Pháp Nghệ Th…
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Bài Tập Đọc Bài Thơ Sau Và Thực Hi…
  • Giá Trị Của Phép Tu Từ Trùng Ngữ Trong Văn Chính Luận
  • Ba Bước Nhận Diện Và Phân Tích Một Biện Pháp Tu Từ
  • Trong phần 1, Kiến Guru đã có một bài phân tích chi tiết về tác giả của văn bản Bình Ngô đại cáo: anh hùng lịch sử Nguyễn Trãi.

    Trong bài này, Kiến Guru sẽ hướng dẫn các bạn soạn Bình Ngô đại cáo phần 2 – phần tác phẩm. Đây là một áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta, thể hiện sự tự hào và sức mạnh dân tộc trong cuộc chiến với quân xâm lược, để giành lại độc lập tự do cho nước nhà.

    I. Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 2: Kiến thức cơ bản bài Bình Ngô Đại Cáo

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    Tháng 1/1428, dân tộc ta kết thúc công cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược và giành thắng lợi. Nguyễn Trãi đã thay nhà vua (Lê Lợi) viết bài cáo này

    2. Nội dung cần nắm 

    Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn, là một bản cáo trạng với lập luận chặt chẽ, xác đáng,dẫn chứng hùng hồn đã tố cáo tội ác mà giặc Minh đã gây ra cho dân tộc ta. Dù chúng bạo ngược, gian ác như thế nào thì cũng phải thua lòng nhân nghĩa. Bởi vì theo lẽ trời thì cường bạo chưa bao giờ chiến thắng.  

    Đại cáo bình Ngô cũng kể lại quá trình chinh phạt gian khổ, nằm gai nếm mật của cuộc kháng chiến, và đồng thời cũng là bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố chủ quyền dân tộc, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa

    3. Nghệ thuật

    – Kết cấu: sử dụng linh hoạt kết cấu của thể Cáo

    – Lập luận: tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc là cơ sở chân lí để triển khai lập luận. Lí lẽ luôn gắn liền với dẫn chứng thực tiễn.

    – Bút pháp nghệ thuật: là sự kết hợp giữa bút pháp trữ tình, tự sự và bút pháp anh hùng ca.

    – Hình ảnh giàu sức biểu cảm.

    – Sử dụng các biện pháp so sánh, ẩn dụ, điệp từ làm tăng tính hình tượng cho câu văn.

    4. Bố cục

    Bố cục của Đại cáo bình ngô gồm 4 phần:

    Phần 1 (“Việc nhân nghĩa…chứng cứ còn ghi”): tuyên bố lập trường chính nghĩa của cuộc chiến

    Phần 2 (“Vừa rồi…Ai bảo thần dân chịu được”): lên án, tố cáo tội ác giặc Minh.

    Phần 3 ( “Ta đây…chưa thấy xưa nay”): kể lại quá trình kháng chiến gian khổ.

    Phần 4 (phần còn lại): Tuyên bố độc lập, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc.

    II. Hướng dẫn soạn Bình ngô đại cáo phần 2 theo chương trình sách giáo khoa 

    Câu 1: Bố cục của Đại cáo bình Ngô và ý nghĩa của từng phần

    Phần 1 (“Việc nhân nghĩa…chứng cứ còn ghi”): tuyên bố lập trường chính nghĩa của cuộc chiến

    Phần 2 (“Vừa rồi…Ai bảo thần dân chịu được”): lên án, tố cáo tội ác giặc Minh.

    Phần 3 ( “Ta đây…chưa thấy xưa nay”): kể lại quá trình kháng chiến gian khổ và kết quả tất thắng của cuộc khởi nghĩa. 

    Phần 4 (phần còn lại): Tuyên bố độc lập, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa.

    Câu 2: Tìm hiểu đoạn mở đầu 

    a. Nguyễn Trãi đã nêu lên nguyên lí chính nghĩa  là chỗ dựa và căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung bài Cáo. Trong nguyên lí chính nghĩa của Nguyễn Trãi đã nêu lên 2 nội chính:

    – Tư tưởng nhân nghĩa 

    – Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt

    b. Đoạn đầu có ý nghĩa nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập bởi vì tác giả đã đưa ra những luận đề xác đáng với nội dung khẳng định độc lập, chủ quyền đất nước.

    – Tính chất hiển nhiên vốn có, lâu đời của nước Đại Việt: từ trước, vốn có, đã chia, cũng khác.

    – Các yếu tố xác định độc lập của dân tộc:

    + Cương vực lãnh thổ

    + Phong tục tập quán

    + Nền văn hiến lâu đời

    + Lịch sử, triều đại riêng

    – Yếu tố văn hiến là yếu tố bản chất nhất, là hạt nhân để xác định chủ quyền dân tộc

    – So sánh Đại Việt và Trung Quốc ngang hàng: “mỗi bên xưng đế một phương”

    c. Để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc, Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định chủ quyền, độc lập của dân tộc: phong tục tập quán, cương vực lãnh thổ, nền văn hiến lâu đời và thêm nữa là lịch sử riêng, chế độ riêng và “hào kiệt đời nào cũng có”.

    Câu 3: Phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo

    a. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, thâm độc của kẻ thù:

    – Âm mưu: chỉ rõ âm mưu cướp nước của giặc ta, vạch trần luận điệu bịp bợm “ phù Trần diệt Hồ”. Những từ “nhân”, “thừa cơ” trong bản dịch đã góp phần lột trần giọng điệu giả nhân giả nghĩa của quân giặc.

    – Hành động: “nướng dân đen”, “vùi con đỏ”, tàn sát, bóc lột, phá hủy môi trường sống của người Đại Việt

    Âm mưu thâm độc và tội ác man rợ nhất là xâm lược, giết hại người vô tội một cách 

    b. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tố giác tội ác kẻ thù: 

    – Dùng hình tượng để diễn tả tội ác kẻ thù

    – Liệt kê liên tiếp và hàng loạt tội ác của kẻ thù

    – Giọng văn đầy uất hận, sôi sục đồng thời cũng diễn tả niềm thương cảm, nghẹn ngào 

    – Dùng cái vô hạn ( trúc Nam Sơn) để nói cái vô hạn ( tội ác của giặc)

    Câu 4: Tìm hiểu đoạn 3

    a. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

    Buổi đầu của cuộc khởi nghĩa gặp muôn vàn khó khăn:

    – Thiếu nhân tài, thiếu quân lương nghiêm trọng

    – Kẻ thù có lực lượng mạnh và cực kì hung bạo

    Mặc dù vậy nhưng ý chí, lòng quyết tâm, đặc biệt là tinh thần đoàn kết, nghĩa quân Lam Sơn đã từng bước lớn mạnh và giành được nhiều chiến thắng quan trọng.

    Trong đoạn này cũng tập trung khắc họa hình tượng vị tướng Lê Lợi: là người có xuất thân bình thường, nhưng có lòng căm thù giặc sâu sắc, có hoài bão lớn và quyết tâm cao để thực hiện lí tưởng. Nguyễn Trãi đã khắc họa Lê Lợi bằng cảm hứng anh hùng và truyền thống dân tộc.

    b. Tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

    Trận Bồ Đằng sấm chớp vang dậy

    Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay

    Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mất vía

    Tây Kinh quân ta chiếm lại

    Đông Đô đất cũ thu về

    Trận Chi Lăng

    Trận Mã An

    …..

    Nghệ thuật của đoạn cáo trạng: 

    – Sử dụng bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca

    – Động từ mạnh liên kết với nhau thành những chuyển rung dồn dập, thể hiện khí thế chiến thắng của ta và sự thất bại của địch

    – Câu văn khi dài khi ngắn, biến hóa linh hoạt

    – Phép liệt kê trùng điệp, gợi lên âm thanh giòn giã, hào hùng như sóng triều dâng lớp lớp

    Câu 5: Tìm hiểu đoạn kết Bình Ngô Đại Cáo

    Ở đoạn cuối, giọng văn trở nên nghiêm trang và trịnh trọng hơn với lời tuyên bố độc lập.Bởi vì đây là lời tuyên bố hào hùng và trịnh trọng về nền độc lập, tự do của dân tộc. Cuối cùng hòa bình đã được lặp lại, giang sơn đã thu về một mối

    Trong lời tuyên bố độc lập và chủ quyền của dân tộc, Bình Ngô đại cáo cũng đồng thời nêu lên bài học lịch sử: Để có được chiến thắng vang dội như vậy là nhờ vào truyền thống ngàn đời “ nhờ trời đất tổ tông khôn thiên ngầm giúp đỡ” và sức mạnh, ý thức tự tôn của dân tộc. Ý nghĩa của bài học lịch sử là nhắc nhở chúng ta luôn nhớ về cội nguồn,nhớ về những công lao dựng nước và giữ nước của lịch sử

    Câu 6: Giá trị nội dung và nghệ thuật tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo

    – Giá trị nội dung: Đại cáo Bình Ngô là áng thiên cổ hùng văn thể hiện rõ hào khí một thời đại oai hùng của toàn dân tộc

    – Giá trị nghệ thuật: sử dụng các biện pháp so sánh, ẩn dụ, điệp từ làm tăng tính hình tượng của câu văn

    Đây là những nội dung cơ bản mà các em học sinh cần phải nắm khi soạn văn Bình ngô đại cáo.

    Đừng quên tải ngay Ứng dụng Kiến Guru để học trực tuyến mọi lúc mọi nơi. Các bài giảng trên Kiến Guru được thực hiện dưới dạng video và hình ảnh sinh động, giúp bạn dễ dàng ghi nhớ bài học hơn đó. Điều đặc biệt hơn nữa là sau mỗi bạn học Kiến sẽ có infographic tổng quan bài học, để giúp các bạn hệ thống kiến thức sau buổi học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp 10 Biện Pháp Tu Từ + Sách Tham Khảo Ngữ Văn Cấp 3
  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu “Bài Ca Ngất Ngưỡng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại
  • Soạn Bài Thực Hành Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Lớp 10
  • Nghệ Thuật Lập Luận Trong Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 10
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Tây Tiến Đoạn 1 Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến
  • Những Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Lớp 11
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Tiếng Gà Trưa, Hay, Tuyển Ch
  • Đề bài

    Phân tích nghệ thuật lập luận trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi

    ****

    Phân tích đề

    – Yêu cầu đề bài: phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong tác phẩm Bình Ngôi đại cáo ở nhiều khía cạnh

    – Phương pháp làm bài: phân tích

    Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Đối tượng và mục đích sáng tác, bố cục, kết cấu của tác phẩm

    Luận điểm 2: Cách lập luận chặt chẽ, thuyết phục

    Luận điểm 3: Giọng điệu, ngôn ngữ và hình ảnh của tác phẩm

    Dàn ý chi tiết

    Xem dàn ý chi tiết: Dàn ý phân tích nghệ thuật lập luận trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi

    Bài văn mẫu 1

    Trên phương diện văn chương, Nguyễn Trãi được coi là một trong không nhiều các nhà văn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thời kì trung đại. Ông sáng tác trên nhiều thể loại, thể loại nào cũng có những sáng tác xuất sắc. Không chỉ là nhà thơ trữ tình sâu sắc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn chính luận kiệt xuất. Ông để lại khối lượng khá lớn văn chính luận (Quân trung từ mệnh tập, chiếu biểu viết dưới triều Lê…) nhưng chỉ cần Bình Ngô đại cáo cũng đủ để chứng minh chứng cho nghệ thuật chính luận tài tình của ông.

    Có thể nói, Bình Ngô đại cáo đạt tới trình độ mẫu mực từ việc xác định đối tượng, mục đích để sử dụng bút pháp thích hợp đến kết cấu chặt chẽ và lập luận sắc bén.

    Đối tượng của văn bản chính luận này không chỉ là giặc Minh với những tội ác tày trời chúng ta đã gieo cho nhân dân, đất nước ta mà còn là nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân đất nước Đại Việt. Bình Ngô đại cáo là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đó cũng chính là mục đích mà Nguyễn Trãi hướng tới.

    Nghệ thuật chính luận của bài cáo được thể hiện trước hết ở nghệ thuật kết cấu Nguyễn Trãi đã kết cấu văn bản này một cách sáng tạo theo kết cấu chung của thể cáo. Bình Ngô đại cáo có kết cấu bốn đoạn rất chặt chẽ. Đoạn thứ nhất, Nguyễn Trãi nêu nguyên lí chính nghĩa làm căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung Bình Ngô đại cáo:

    Trong nguyên lí chính nghĩa, Nguyễn Trãi trình bày hai nội dung chính là tư tưởng nhân nghĩa:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

    Và chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt:

    Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu…

    Sang đến đoạn thứ hai, bằng mười hai cặp tứ lục, tác giả đã hoàn thiện bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Minh. Bản cáo trạng được trình bày theo một trình tự lôgic. Ban đầu, tác giả vạch trần âm mưu xâm lược:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa, Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

    Tiếp đó tác giả lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ các hành động tội ác:

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ nướng dưới hầm tai vạ…

    Đoạn văn thứ ba là đoạn văn dài nhất của bài cáo, có ý nghĩa như bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tương ứng với hai giai đoạn của cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trãi đã khắc họa hình tượng chủ tướng Lê Lợi và bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa.

    Và cuối cùng, ở đoạn văn thứ tư, nhà văn đã kết thúc bài cáo bằng lời tuyên bố nền độc lập của dân tộc đã được lập lại và rút ra bài học lịch sử:

    Xã tắc từ đây vững bền, Giang sơn từ đây đổi mới…

    Sự điêu luyện của nghệ thuật chính luận Nguyễn Trãi không chỉ được thể hiện trong kết cấu chặt chẽ mà còn được thể hiện ở cách lập luận tài tình của nhà văn. Tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc là cơ sở chân lí làm cơ sở để lập luận. Trước hết, tác giả nêu tiền đề có tính chất chân lí làm cơ sở để lập luận. Tiền ề đó được khai sáng vào thực tiễn, giúp tác giả chỉ đâu là phi nghĩa để tố cáo, lên án, đâu là chính nghĩa để khẳng định, ngợi ca cơ sở tiền đề và thực tiễn, kết luận được rút ra.

    Nghệ thuật chính luận còn được thể hiện qua sự gắn bó chặt chẽ giữa lí lẽ với thực tiễn. Như khi luận giải về chân lí khách quan sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt, tác giả đã đưa ra những cơ sở chắc chắn từ thực tiễn lịch sử trên mọi phương diện cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, văn hiến, lichj sử riêng, chế độ riêng:

    Như nước Đại Việt ta…

    Sự gắn bó giữa chính luận và thực tiễn cũng được thể hiện rất đậm nét ở các đoạn văn sau này.

    Một phương diện khác làm nên sự tài tình trong nghệ thuật chính luận của Nguyễn Trãi là bút pháp. Bình Ngô đại cáo có sự kết hợp giữa bút pháp tự sự, trữ tình và bút pháp anh hùng ca. Nhà văn không độc tôn một bút pháp nào mà luôn hài hòa chúng trong lời văn của mình. Ở đoạn thứ ba, khi phản ánh giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, khắc họa hình tượng Lê Lợi chủ yếu trên phương diện tâm lí, Nguyễn Trãi đã kết hợp bút pháp trữ tình với bút pháp tự sự:

    Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi, Tự ta ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối…

    Khi dựng lại bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh nhịp điệu, tất cả đều đậm chất anh hùng ca

    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận, sạch không kình ngạc, Đánh hai trận, tan tác chim muông. Nổi gió to trút sạch lá khô, Thông tổ kiến phá toang đê vỡ…

    Như vậy từ kết cấu đến cách lập luận, đến bút pháp nghệ thuật, tất cả đều thể hiện Bình Ngô đại cáo là một áng văn chính luận xuất sắc. Với Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi xứng đáng là cây bút chính luận lỗi lạc của văn học trung đại Việt Nam.

    Bài văn mẫu 2

    Kì thực trong lịch sử văn học dân tộc, có không nhiều tác phẩm xuất sắc, đạt đến trình độ mẫu mực, đỉnh cao cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Muốn có được điều đó phải dựa trên rất nhiều yếu tố, trong đó chắc chắn phải dựa vào tài năng trác việt của tác giả. Nguyễn Trãi là nhà văn như vậy và Bình Ngô đại cáo là tác phẩm kiệt xuất của văn học dân tộc. Tài năng, tâm sức và nhiều khát vọng được ông dồn tụ vào áng văn chính luận bất hủ này. Và một trong những điểm sáng lớn nhất của bài cáo chính là ở nghệ thuật lập luận tài tình của nhà văn.

    Cáo vốn là một thể văn chính luận trung đại, thường dùng cho mục đích hành chính quan phương của vua chúa. Ít ai nghĩ rằng thể loại vốn khô khan, khó có “đất diễn” này có thể trở thành một tác phẩm văn chương đúng nghĩa. Nhưng Bình Ngô đại cáo lại khác, có nhiều yếu tố để Nguyễn Trãi đã biến nó trở thành một tác phẩm giàu chất văn chương, mà trước hết là ở nghệ thuật lập luận. Một tác phẩm văn chính luận (dù ở hình thức thể loại nào) đạt đến trình độ nghệ thuật đỉnh cao phải xác định được đối tượng, mục đích rõ ràng, có kết cấu chặt chẽ, cách lập luận sắc bén, giọng điệu hùng hồn, đanh thép, ngôn ngữ giàu tính luận chiến, có độ khái quát cao. Nếu xét ở tất cả các phương diện này, Bình Ngô đại cáo là một áng văn chính luận bất hủ, kiệt xuất.

    Nói tới đối tượng và mục đích sáng tác văn chương không phải là nói đến yếu tố nghệ thuật mà là nội dung. Nhưng đối với văn chính luận hai điều này lại vô cùng quan trọng chi phối đến kết cấu và cách thức lập luận của tác phẩm. Nếu xét ở bề nổi, đối tượng của Đại cáo bình Ngô chính là nhân dân bá tánh, mà vua Lê Lợi và Nguyễn Trãi muốn thông báo rộng rãi về nền hòa bình độc lập sau hơn hai mươi năm chịu ách đô hộ và kháng chiến chống giặc Minh. Nhưng tính chiến đấu của văn chính luận luôn ẩn chứa ngay từ đối tượng và mục đích mà văn bản đó được sáng tác. Việc tuyên bố độc lập, hòa bình với nhân dân đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi là điều bình thường, nhưng nó cũng chính là đòn cuối cùng trên mặt trận ngoại giao để kẻ thù không còn có cớ nào quay trở lại xâm lược nữa. Vì vậy, bản đại cáo đã tạo nên những cơ sở lí luận và thực tiễn đầy xác đáng, chân thực như gọng kìm cuối cùng để khóa chặt mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù.

    Kết cấu của bản đại cáo rất chặt chẽ, bao gồm bốn phần rõ ràng và được tạo từ hai cơ sở rất quan trọng để đi đến việc có thể tuyên bố hòa bình. Mở đầu Nguyễn Trãi đã tạo một căn cứ pháp lí không gì có thể chối cãi được, đó chính là tư tưởng nhân nghĩa và những yếu tố để xác lập chân lý chủ quyền dân tộc. Trong đó tư tưởng nhân nghĩa đóng vai trò cốt lõi, xuyên suốt của tác phẩm.

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

    Chưa kể cách Nguyễn Trãi đề xuất đầy mới mẻ, nhân văn trong quan điểm nhân nghĩa này, mà nó còn giữ vai trò chủ đạo để thực thi, phán xét mọi hành động của kẻ thù và quân ta. Nhân nghĩa là yên dân, muốn cho dân được yên thì phải lo trừ bạo ngược, mà trước mắt là diệt trừ họa xâm lăng. Vì vậy bao đời nay, trên tinh thần nhân nghĩa dân ta đã và luôn là một quốc gia độc lập, bất khả xâm phạm tới chủ quyền. Bất cứ kẻ nào đem quân đi xâm lược nước ta là trái với nhân nghĩa, chà đạp lên quyền độc lập tự do của dân tộc mình đều bị trừng trị thích đáng.

    Nền móng vững trãi đó đã giúp ông soi chiếu vào lịch sử hơn hai mươi năm giặc Minh đô hộ và xâm lược nước ta. Những dẫn chứng thực tiễn đẫm máu và nước mắt trong những ngày tháng đó được bài cáo đưa ra một cách chân thực. Đó là những nhân chứng, vật chứng đanh thép mà nhà văn – vị “luật sư” thiên tài đệ ra trước “tòa án nhân nghĩa”. Hơn nữa, lãnh tụ Lê Lợi cùng tướng sĩ của mình đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn, đồng sức chung lòng để làm nên thắng lợi. Chiến thắng ấy là chiến thắng của tinh thần đại nghĩa – chí nhân. Kết cấu của bài cáo vì thế mà vô cùng chặt chẽ.

    Bản Đại cáo bình Ngô còn được coi là đỉnh cao của nghệ thuật văn chính luận phải kể đến cách lập luận đầy sắc bén của nhà văn Nguyễn Trãi. Ngay ở phần mở đầu khi đưa ra chân lý độc lập, tác giả không đơn thuần khẳng định một cách chung chung mà từ các lí lẽ đến dẫn chứng đều khiến mọi người tỏ ra tâm phục khẩu phục. Ông liệt kê, so sánh rất chính xác qua các yếu tố xác lập chủ quyền độc lập như nền văn hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch sử, hào kiệt giữa hai quốc gia Đại Việt và Đại Hán. Vừa là thể hiện niềm tự hào về một quốc gia đã độc lập từ lâu đời, vừa là cách khẳng định vị thế ngang hàng với một đất nước lớn như Trung Quốc. Đó cũng chính là lời răn đe đối với mục đích, âm mưu xâm lược nước ta của kẻ thù. Chưa bao giờ trong lịch sử, tính tới thời điểm đó, vấn đề độc lập chủ quyền của nước ta lại được khẳng định một cách chắc chắn và vững trãi như vậy. Không những thế để chặt chẽ hơn ông còn đưa ra những dẫn chứng mà năm xưa quân xâm lược phương bắc đã làm và phải chịu thất bại như thế nào. Bởi vậy, mở đầu bài cáo một cơ sở pháp lí không còn gì thuyết phục hơn được đặt ra.

    Trong khi đó, đến cơ sở thực tiễn ông cũng luận tội kẻ thù bằng những dẫn chứng đanh thép. Cách luận tội vừa xác thực vừa chứa đựng nhiều cảm xúc đã phơi bày tất cả những gì đau thương nhất mà nhân dân phải trải qua:

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

    Cách sử dụng hình ảnh tuy có tính chất ước lệ, khái quát nhưng vẫn lột tả được hết thảy tội ác man rợ của quân cuồng Minh. Điều đó càng chứng thực cho những gì thuộc về nhân nghĩa bọn chúng đều vi phạm hết. Bởi vậy lập luận tăng phần thuyết phục, cuộc phản công lại của quân khởi nghĩa Lam Sơn vì thế mà ở trong thế chính nghĩa. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa lí luận và thực tiễn đã tạo sức nặng rất lớn trong cách lập luận của Đại cáo bình Ngô.

    Song bên cạnh đó bút pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng cũng là một trong những yếu tố làm nên giá trị đỉnh cao của tác phẩm này. Ở bài cáo có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa các yếu tố hiện thực và trữ tình, tả thực và ước lệ tượng trưng. Trong đó, bút pháp tương phản, đối lập được vận dụng một cách tài tình và linh hoạt nhất. Ngay ở đoạn văn luận tội kẻ thù, Nguyễn Trãi đã phơi bày một bức tranh đen tối của dân tộc dưới ách đô hộ của bè lũ cướp nước. Nhân dân ta phải chịu cảnh đàn áp dã man, còn kẻ thù hiện lên chân dung của những kẻ khát máu, man rợ. Hay khi tái hiện lại quá trình phản công đầy gian khổ và tất thắng của quân dân ta cũng đầy sự trái ngược. Sự lớn mạnh và liên tiếp thắng lợi của tướng sĩ Lam Sơn lại hoàn toàn đối lập với chân dung biếm họa của bọn quân tướng giặc Minh khi thua cuộc. Có thể nhận thấy, tác giả không sử dụng một bút pháp nào độc tôn, mà linh hoạt, mới mẻ trong từng đoạn, từng phần. Bởi vậy đọc bài cáo người đọc mới không thấy sự nhàm chán, khô khan như một văn bản hành chính thông thường. Hơn thế bút pháp trong bài cáo còn được thăng hoa nhờ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa yếu tố tâm lý và chất anh hùng ca. Bài cáo vì thế như một lời tự sự từ tận trái tim nhưng là hơi thở của cả một thời đại hào hùng.

    Chưa dừng lại ở đó, việc sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ đến âm hưởng, giọng điệu cũng tạo nên giá trị nghệ thuật lớn lao cho bài cáo này. Chắc chắn ai đọc Đại cáo bình Ngô không thể quên được những hình ảnh vừa khái quát vừa chân thực như nướng dân đen, vùi con đỏ, đứa há miệng, thằng nhe răng, hay khí thế hừng hực của đội quân chính nghĩa:

    Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông

    Ngôn ngữ giàu tính sáng tạo giữa việc sử dụng những điển cố văn chương với cách vận dụng ngôn ngữ cá nhân rất gần gũi, thân thuộc, khiến người đọc khó mà phân biệt được đâu là những ngôn từ sách vở, đâu là ngôn ngữ của chính nhà văn.

    Nhưng chất chính luận rất riêng của tác phẩm này còn phải kể đến âm hưởng, giọng điệu. Là một văn kiện lịch sử tuyên bố sự nghiệp quan trọng của nước nhà chắc chắn giọng điệu hào hùng, âm hưởng mạnh mẽ, khí thế là điều tất yếu. Nhưng Đại cáo bình Ngô còn mang đến nhiều cảm xúc hơn thế. Có sự đanh thép, cứng rắn trong việc luận bàn việc nhân nghĩa; có sự đau đớn, xót xa, uất nghẹn khi luận tội kẻ thù; có sự suy tư, cảm thông trong lời kể về chủ tướng Lê Lợi và những ngày đầu còn khốn khó của cuộc khởi nghĩa; nhưng đến khi hồi tưởng lại cuộc phản công oanh liệt của ta lại rất hùng hồn, quyết liệt. Và hồi kết thúc bài cáo, giọng điệu thư thái, nhẹ nhàng mà hảo sảng, sướng vui vang lên để tuyên bố độc lập. Cả bài cáo là sự hòa quyện của muôn vàn giọng điệu, chỉ có thể được tạo ra bởi một trí tuệ tài năng, một trái tim say mê, một thực tế đã từng trải. Vì thế nghệ thuật lập luận của bài cáo đạt đến mức độ đỉnh cao là điều dễ hiểu.

    Nguyễn Trãi, không ai có thể phủ nhận nhân cách, đức độ và tài năng của ông. Cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước là điều mà ai cũng thấy được ở bậc vĩ nhân này. Thế nhưng trong sáng tác văn chương Nguyễn Trãi cũng thể hiện sự đa tài hiếm có. Ở thể loại nào ông cũng thành công. Và một trong số những đặc điểm dễ nhận thấy là ông luôn có những tìm tòi, sáng tạo, phá vỡ tính quy phạm vốn có trong văn chương trung đại. Chưa kể đến những yếu tố về thời đại, về hoàn cảnh lịch sử chống quân Minh, về những bức thư đầy tính luận chiến trong Quân trung từ mệnh tập và ngay cả sự bạo ngược của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã đem đến một bài cáo rất đặc biệt trong cách lập luận mà trước nay chưa từng có. Vì thế ông xứng đáng là nhà văn chính luận kiệt xuất, Bình Ngô đại cáo trở thành áng văn chính luận mẫu mực, có giá trị cổ điển đưa Nguyễn Trãi trở thành cây bút bậc thầy ở thể loại này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Cảm Nhận Về Bình Ngô Đại Cáo Đoạn 1
  • Bài Thơ Đại Cáo Bình Ngô (Bình Ngô Đại Cáo)
  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương Chỉ Ra Giá Trị Thẩm Mĩ Của Nó Trong Mạch Cảm Xúc Bài Thơ Bằng Đoạn Văn 10 Câu Có Sử
  • Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    1.1. Có thể nói điểm độc đáo nhất của văn học, đưa văn học thoát khỏi hình

    thái nghệ thuật nguyên hợp ban đầu, phát triển độc lập bên cạnh các nghệ

    thuật khác như: âm nhạc, hội họa, điện ảnh… là ở chỗ văn học phản ánh hiện

    thực cuộc sống bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là phương tiện, chất liệu, là

    đối tượng để nhà văn xây dựng hình tượng, tái hiện sinh động hiện thực cuộc

    sống trong tác phẩm. Đồng thời, ngôn ngữ trong tác phẩm cũng là phương

    tiện để chuyển tải những tư tưởng, tình cảm của nhà văn trước hiện thực cuộc

    sống.

    Bakhtin trong “Mấy vấn đề thi pháp của Đôxtôiépxki” khẳng định:

    “Ngôn ngữ chẳng những là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả

    của văn học” .

    Cũng trong giáo trình này, tác giả Đinh Trọng Lạc phân chia thành 5

    kiểu điệp ngữ cơ bản đó là:

    – Lặp lại từ ở đầu câu văn.

    – Lặp lại từ ở cuối câu văn.

    – Lặp lại từ ở giữa câu văn.

    – Lặp vòng tròn.

    – Lặp cách quãng.

    Ông xếp điệp ngữ vào loại các biện pháp tu từ cú pháp và khẳng định:

    “Những cách điệp từ là những cách trùng điệp tiêu biểu nhất trong phạm vi

    cú pháp” .

    Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng xác định rằng: “Lặp từ vựng là phương

    thức liên kết phổ biến nhất trong văn bản”. Đồng thời, tác giả đưa ra các tiêu

    chí phân loại phép lặp như sau:

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    8

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    – Căn cứ cách thức lặp chủ tố và căn tố, có thể chia lặp từ vựng thành

    lặp từ và lặp cụm từ. Đồng thời cụm từ lại bao gồm: lặp hoàn toàn và lặp bộ

    phận.

    – Căn cứ vào bản chất từ loại của chủ tố và lặp tố có thể chia thành: lặp

    cùng từ loại, và lặp chuyển từ loại.

    – Căn cứ vào chức năng làm thành phát ngôn của chủ tố và lặp tố, có

    thể chia thành: lặp cùng chức năng hoặc lặp chuyển chức năng.

    2.2.2. Cũng đề cập đến các phương thức liên kết câu trong văn bản, tác giả

    Diệp Quang Ban, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” Nxb Giáo dục, 2005, đã

    đưa ra năm phép liên kết cơ bản sau:

    – Phép quy chiếu.

    – Phép thế.

    – Phép tỉnh lược.

    – Phép nối.

    – Phép liên kết từ vựng.

    Trong đó, phép liên kết từ vựng gồm ba phép nhỏ: lặp từ ngữ dùng từ

    đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa, phối hợp từ ngữ.

    Điệp ngữ được đề cập đến trong phép lặp từ ngữ của phương thức liên

    kết từ vựng.

    Ông cho rằng, phép liên kết từ vựng là: “Lựa chọn những từ ngữ có

    quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và trên cơ sở đó làm

    cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới được chọn này liên kết

    với nhau”

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    9

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    10

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Tiếp tục vấn đề này, sinh viên Trần Thị Minh Yến, K31 – Ngữ văn,

    ĐHSP Hà Nội 2, tìm hiểu “Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ

    lục bát hiện đại Đồng Đức Bốn”.

    Liệt kê một số công trình nghiên cứu khoa học về phép điệp từ ngữ của

    một số tác giả trên để thấy rằng nghiên cứu về vấn đề này không phải là mới

    mẻ. Song có thể nói điệp ngữ là biện pháp tu từ quan trọng, có khả năng tạo ra

    hiệu quả tu từ đặc biệt trong thơ văn.

    2.3.2. Về tác giả Ngô Văn Phú và việc nghiên cứu tác phẩm của ông

    Ngô Văn Phú là tên thật cũng chính là bút danh. Ông là một tác giả tiêu

    biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thành viên xuất

    sắc của hội nhà văn Việt Nam với trên 220 đầu sách bao gồm nhiều thể loại:

    thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo, dịch thuật. Tuy tác phẩm của Ngô

    Văn Phú chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhưng tên tuổi của

    ông được nhiều người trong giới phê bình khẳng định. Độc giả biết đến ông

    trước hết là một nhà thơ – một nhà thơ tiếp nối mạch thơ chân quê của Đoàn

    Văn Cừ và Nguyễn Bính.

    Tìm hiểu thơ Ngô Văn Phú, các tác giả quan tâm nhiều đến phương

    diện nội dung trong thơ của ông.

    Trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội nhà Văn, 1997, tác giả

    Nguyễn Hoành Sơn đã tìm hiểu nội dung thơ Ngô Văn Phú với đề tài “Ngô

    Văn Phú – Dấu ấn quê mùa trên thi đàn”.

    Tác giả Ngô Quân Miện, Nxb Hội nhà Văn, 1997, khai thác “Tâm hồn

    đồng nội trong thơ Ngô Văn Phú”.

    Cũng tìm hiểu nội dung thơ Ngô văn Phú tác giả Đinh Nam Khương có

    bài viết “Tìm về tán cọ xanh”

    Qua định nghĩa trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh một số nội dung của

    định nghĩa:

    – Điệp ngữ là phép tu từ ngữ nghĩa.

    – Điệp ngữ được các nhà sử dụng một cách có chủ định. Đó là việc sử

    dụng các phương tiện ngôn ngữ theo hướng lặp lại từ hay cụm từ nhằm tạo

    hiệu quả tu từ (nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo nghĩa mới bất ngờ giàu

    màu sắc tu từ học, tạo ra tính nhạc cho lời thơ, lời văn, đem lại thẩm mĩ cho

    người đọc người nghe).

    1.1.2. Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt

    Kế thừa có bổ sung quan điểm phân loại các kiểu điệp từ ngữ của tác

    giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú (đã trình bày ở mục trước) chúng tôi chú ý

    đến những kiểu điệp sau:

    1.1.2.1. Điệp ngữ nối tiếp.

    Điệp ngữ nối tiếp là dạng điệp, trong đó có những từ ngữ được lặp lại

    trực tiếp đứng bên nhau, nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng

    tiến.

    VD:

    Đêm qua ra bến xuôi đò

    Thương nhau qua cửa tò mò nhìn nhau.

    Anh đi đấy, anh về đâu?

    Cánh buồn nâu… Cánh buồm nâu… Cánh buồm…

    (Vô đề – Nguyễn Bính)

    1.1.2.2. Điệp ngữ cách quãng

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    15

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Điệp ngữ cách quãng là điệp ngữ trong đó những từ được lặp lại đứng

    cách xa nhau nhằm gây một ấn tượng nổi bật và có tác dụng âm nhạc cao.

    VD:

    Chỉ mong người sống có tình

    Cho sông hết lũ, cho mình vẫn ta

    Cho sao thành dải ngân hà

    Thương yêu chỉ biết thật thà thế thôi.

    (Xéo gai anh chẳng sợ đau – Đồng Đức Bốn)

    1.1.2.3. Điệp đầu

    Điệp đầu là dạng điệp trong đó từ được lặp lại đứng ở đầu câu.

    VD:

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn rơi xuống đất?

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn vắt lên vai?

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn chùi nước mắt?

    (Ca dao)

    1.1.2.4. Điệp đầu – cuối

    Điệp đầu – cuối là kiểu điệp trong đó các từ được điệp đứng ở đầu và

    cuối câu thơ, đoạn thơ hoặc bài thơ.

    VD:

    Tre xanh, xanh tự bao giờ

    Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

    (Tre xanh – Nguyễn Duy)

    1.1.2.5. Điệp cuối – đầu

    Điệp cuối – đầu là kiểu điệp trong đó các từ được điệp lại ở cuối câu thơ

    trước và đầu câu thơ sau.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    16

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    VD:

    Lá ngô lay ở bờ sông,

    Bờ sông vẫn gió, người chưa thấy về.

    (Bờ sông vẫn gió – Trúc Thông)

    1.1.2.6. Điệp hỗn hợp

    Điệp hỗn hợp là kiểu điệp trong đó sử dụng nhiều cách điệp khác nhau

    trong một đoạn văn bản.

    VD:

    Làm trời trời phải có sao

    Làm sông sông cứ dạt dào phù sa

    Làm đất đất phải nở hoa

    Làm tôi buồn cái người ta vẫn buồn.

    Từ đâu mà nước có nguồn

    Mà kim đã chỉ phải luồn vào nhau

    Đã trầu là phải có cau

    Từ đâu mà phải vàng thau rạch ròi

    Đã cho thì không được đòi

    Đã biển phải biết sông ngòi làm nên

    (Về lại chốn xưa – Đồng Đức Bốn)

    1.1.2.7. Điệp theo kiểu diễn đạt

    Điệp theo kiểu diễn đạt là kiểu điệp nhằm diễn tả một dụng ý nào đó

    của tác giả.

    VD:

    Ước gì anh hóa ra hoa,

    Để em nâng lấy rồi mà cài khăn

    Ước gì anh hóa ra chăn,

    Để cho em đắp, em lăn cùng giường.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    17

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Ước gì anh hóa ra gương

    Để cho em cứ ngày thường em soi.

    (Ca dao)

    1.1.2.8. Điệp vòng tròn

    Điệp vòng tròn là một dạng điệp ngữ có tác dụng tu từ lớn. Chữ cuối

    câu trước được láy lại thành chữ ở đầu câu sau và cứ thế làm cho câu văn, câu

    thơ liền nhau như đợi sóng, diễn tả một cảm giác triền miên

    VD:

    Thu về gọi gió heo may

    Heo may lá đã vàng cây ngô đồng.

    Ngô đồng thả lá theo sông

    Sông ơi, có thấp thỏm mong thu về.

    (Biến tấu ca dao – Đỗ Bạch Mai)

    1.1.3. Giá trị tu từ của điệp ngữ.

    “Giá trị tu từ” (màu sắc tu từ, sắc thái tu từ) là khái niệm phong cách

    học chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản

    của một thực từ. Nói cách khác đó là khía cạnh biểu cảm – cảm xúc của ý

    nghĩa của từ (diễn đạt những tình cảm, sự đánh giá những ý định), bên cạnh

    khía cạnh sự vật lôgic của ý nghĩa [10, 57-58].

    Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, giá trị tu từ của điệp ngữ được thể hiện ở

    một số phương diện sau.

    1.1.3.1. Nhờ biện pháp điệp ngữ, câu văn tăng tính nhạc, có tác dụng nhấn

    mạnh một sắc thái ý nghĩa tình cảm, cảm xúc nào đó làm nổi bật những yếu tố

    ngôn ngữ quan trọng. Làm cho lời văn thêm sâu sắc, tha thiết, có sức thuyết

    phục mạnh.

    VD:

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    18

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    “… Trong thơ văn Việt Nam nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không

    phải sáo Thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện

    một cái “tôi” mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm

    trúc bông lau, có phải niềm than van của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng

    một mình đang cảm thông cùng vì sao?”

    (Lời tựa cho tập lửa thiêng – Xuân Diệu)

    1.1.3.2. Chức năng tu từ học của điệp ngữ được phát hiện ra trong mối quan

    hệ qua lại với ngữ cảnh. Đó là việc gây ra một phản ứng trực tiếp có màu sắc

    biểu cảm – cảm xúc ở phía người nghe (người đọc): ngạc nhiên, vui mừng,

    bực bội sợ hãi… khi mà người nói nói ra.

    VD:

    Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

    Em có tuổi hay không có tuổi?

    Mái tóc em đây hay là mây là suối

    Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm dông

    Thịt da em hay là sắt là đồng

    Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt

    Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt

    Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh.

    Thân mình em đau đớn cả thân cành.

    (Người con gái Việt Nam – Tố Hữu)

    Trong một phát ngôn nhất định, điệp ngữ thường được dùng như một

    phương tiện tăng cường lôgic – cảm xúc nghĩa của phát ngôn.

    1.1.3.3. Trong văn nghệ thuật, điệp ngữ mới phát huy được đầy đủ khả năng

    tu từ học của mình ở khả năng tạo hình, mô phỏng âm thanh, diễn tả những

    sắc thái khác nhau của tính chất: vui mừng, ngạc nhiên, lo âu, bực tức…

    1.2. Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    19

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    1.2.1. Định nghĩa

    Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người.

    Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài

    người. Đó là thể loại xã hội nằm trong phương thức trữ tình gắn với chiều sâu

    thế giới nội tâm, với những vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con người. Từ xưa

    đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ:

    Nhà thờ Đuy Belây định nghĩa: “Thơ là người thư kí trung thành của

    những trái tim”.

    Nhà thơ Sóng Hồng bàn về thơ: “Thơ là một hình thức nghệ thuật cao

    quý, tinh vi. Người làm thơ phải có một tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng

    cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những

    hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác

    thường”.

    Theo Chế Lan Viên: “Thơ là đi giữa nhạc và ý”. Người làm thơ hay

    phải biết “vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý”

    Tố Hữu cho rằng: “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại, là tiếng

    nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”.

    Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn

    Khắc Phi, Nxb Giáo dục, định nghĩa về thơ như sau: “Thơ là hình thức sáng

    tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm

    mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.

    Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ, tuy nhiên các ý kiến

    này đều gặp gỡ nhau ở quan niệm: Thơ là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt,

    của trí tưởng tượng phong phú – là nghệ thuật ngôn từ tổng hợp của nhiều

    nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh.

    1.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ thơ.

    1.2.2.1. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc.

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    20

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm

    hồn. Nói cho cùng, thơ là kết quả của sự nhập tâm. Thơ chỉ tràn ra khi trong

    tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Chính vì vậy ngôn ngữ thơ trữ tình có những

    điểm khác biệt so với ngôn ngữ tự sự và kịch. Ngôn ngữ thơ không bao giờ là

    ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự. Đó là sự lắng kết chất thơ,

    lắng kết mạch thơ với đời sống được tích lũy lâu đời.

    Do vậy, yếu tố truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc thực

    hiện cảm xúc của thơ. Đó chính là việc sử dụng điển cố, điển tích, vận dụng

    thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

    VD:

    Lòng anh như biển sóng cồn

    Chứa muôn con nước nghìn con sông dài

    Lòng em như chiếc lá khoai

    Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu

    (Nguyễn Bính – Hai lòng)

    Những câu thơ sử dụng sáng tạo thành ngữ “nước đổ lá khoai”, “muôn

    sông nghìn sóng” kết hợp với hình ảnh so sánh và biện pháp điệp ngữ giàu

    sức gợi để khẳng định tình yêu của nhân vật trữ tình giành cho cô gái. Đó là

    một tình yêu dạt dào như “nước”, “bền bỉ” sâu sắc như sóng ngầm. Thế nhưng

    đó lại là tình yêu đơn phương, tuyệt vọng. Câu thơ nhuốm màu đau khổ sầu

    nặng.

    Cùng với sự phát triển của văn học, ngôn ngữ thơ ngày càng được chắt

    lọc tinh tế, sâu sắc phù hợp với tâm trạng, cảm xúc của con người trong sự hối

    hả bề bộn của cuộc sống hiện đại.

    1.2.2.2. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm súc.

    Tính hàm súc là một đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ trữ tình. Tính

    hàm súc được hiểu là khả năng biểu thị được nhiều nội dung tư tưởng nhất

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    21

    K32B – Ngữ Văn

    Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

    cho một số lượng yếu tố ngôn ngữ ít nhất “lời chật mà ý rộng – lời đã hết mà ý

    vô cùng”. Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ được tạo nên bởi cách sử dụng tối

    đa các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, phóng đại, phép

    đối, phép điệp,… Các hình ảnh biểu tượng các từ tượng thanh, tượng hình. Do

    vậy, thơ là sự biến hóa kỳ diệu, sự vận động linh điệu.

    VD: Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non,

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Bài thơ trước hết tả thực về hình dáng chiếc bánh trôi và quá trình làm

    bánh, nhưng bánh trôi ở đây cũng chính là hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ

    trong xã hội phong kiến với đầy định kiến bất công.

    Như vậy tính đa nghĩa của bài thơ chính là khả năng gợi ý những liên

    tưởng sâu sắc, những hàm nghĩa sâu xa.

    Ngôn ngữ thơ không có tính liên tục như ngôn ngữ văn xuôi, ngược lại

    nó tính nhảy vọt, gián đoạn, tạo ra những khoảng lặng giàu ý nghĩa và khoảng

    trống giữa các dòng, kích thích sự liên tưởng, suy ngẫm của độc giả. Chính

    điều này đã tạo nên tính đa nghĩa hàm súc cho ngôn ngữ thơ. Nói như Ngô

    Minh: “Khoảng lặng giữa các câu thơ mà nhà thơ dành cho người đọc tự do

    nghĩ ngợi càng rộng thì độ dồn nén của thơ càng cao”.

    VD:

    Ai cấm ta say, say thần thánh?

    Ngực lép bốn nghìn năm trưa nay cơn gió lạnh

    Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời.

    … Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi

    Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác

    Sv: Nguyễn Thị Hiền

    22

    K32B – Ngữ Văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ
  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Dựa Vào 4 Câu Thơ Đầu Của Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, Viết Đoạn Văn Ngắn Tả Cảnh Thiên Nhiên Trong Đó Có Sử Dụng 1 Vài Biện Pháp Tu Từ (Gạch Dưới Biện Pháp Tu Từ Đó)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thi Thpt Quốc Gia
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Không gian mùa xuân được gợi nên bởi những hình ảnh những chú chim én( nhân hóa) đang bay lượn rập rờn như thoi đưa. Sự mạnh mẽ, khỏe khắn của những nhịp cánh bay cho thấy rằng mùa xuân đang độ viên mãn tròn đầy nhất. Quả có vậy: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” có nghĩa là những ngày xuân tươi đẹp đã qua đi được sáu chục ngày rồi, như vậy bây giờ đang là thời điểm tháng ba. Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải như 1 dải lụa dài bao la( so sánh): “Cỏ non xanh tận chân trời”, sắc cỏ tháng ba là sắc xanh non, tơ nõn mềm mượt êm ái. Huống chi cái sắc ấy trải ra “tận chân trời” khiến ta như thấy cả một biển cỏ đang trải ra rập rờn, đẹp mắt. Có lẽ chính hình ảnh gợi cảm ấy đã gợi ý cho Hàn Mặc Tử hơn một thế kỉ sau viết nên câu thơ tuyệt bút này: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chỉ là “vài bông” bởi những bông hoa lê đang thì chúm chím chưa muốn nở hết. Hoa như xuân thì người thiếu nữ còn đang e ấp trong ngày xuân. Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. ở đây, tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông, đó là bút pháp chấm phá. Hai câu thơ tả thiên nhiên ngày xuân của Nguyễn Du có thể khiến ai đó liên tưởng đến hai câu thơ cổ của Trung Quốc: hương thơm của cỏ non, màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cành lê có điểm một vài bông hoa. Nhưng cảnh trong hai câu thơ này đẹp mà tĩnh tại. Trong khi đó gam màu nền cho bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ của Nguyễn Du là thảm cỏ non trải rộng tới tận chân trời. Trên cái màu xanh cùa cỏ non ấy điểm xuyết một vài bông lê trắng (câu thơ cổ Trung Quốc không nói tới màu sắc của hoa lê). Sắc trắng của hoa lê hoà hợp cùng màu xanh non mỡ màng của cỏ chính là nét riêng trong hai câu thơ của Nguyễn Du. Nói gợi được nhiều hơn về xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống lại vừa khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết. Thiên nhiên trong sáng, tươi tắn và đầy sức sống, con người cũng rộn ràng, nhộn nhịp để góp phần vào những chuyển biến kì diệu của đất trời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Trong Truyện Kiều
  • Hyip, Make Money Online, Crypto, Bitcoin,: Bài Tập Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Có Gợi Ý Và Hướng Dẫn Làm Bài
  • Các Biện Pháp Tu Từ Vựng Cac Bien Phap Tu Tu Tu Vung Ppt
  • Các Biện Pháp Tu Từ Vựng
  • Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100