Cách Nhớ Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Dễ Dàng

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Biên Pháp Tu Từ Trong Bài Lỗ Mũi Mười Tám Gánh Lông…
  • Phân Tích Bài Ca Dao ” Lỗ Mũi Mười Tám Gánh Lông …”
  • Phân Tích Bài Ca Dao Lỗ Mủi Mười Tám Gánh Lông Chồng Yêu Chồng Bả
  • A Bai Tap Noi Qua Bai Tap Noi Qua Doc
  • Phân Tích Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ Và Viếng Lăng Bác
  • Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người độc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.

    Mục đích của biện pháp tu từ là gì?

    a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    Chi tiết nội dung bài học trong trương trình: Soạn bài So sánh

    c/ Các kiểu so sánh:

    – Phân loại theo đối tượng:

    Lưu ý:

    Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

    – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng (giống nhau)

    – Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

    – Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    Để ôn lại kiến thức và các bài tập vận dụng có thể xem: Soạn bài nói quá

    – Khái niệm: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

    1.Biện pháp tu từ nhân hóa

    Đối với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm cuả người viết thì tạo ra những lối nói cảm xúc làm giá trị biểu đạt cao.

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ.

    trong biên pháp ẩn dụ về A thường ẩn đi mà chỉ xuất hiện vế B

    Ví dụ: Làn thu thủy nét xuân sơn

    8. Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh:

    xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng trong câu văn sau:

    a,Trăng bao nhiêu tuổi là trăng già

    Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non

    Trả lời: Hai câu thơ trên đã sử dụng biện pháp tu từ Điệp ngữ và Chơi chữ. Điệp ngữ ” Bao nhiêu tuổi ” được lặp lại 2 lần với ý muốn nói đến sự bất tận của trăng và núi. Trăng và núi không hề có tuổi tác. trăng luốn sống mãi với núi, luôn xanh tươi. Ngoài ra biện pháp nghệ thuật Chơi chữ đã dùng cặp từ trái ngữ là ” già” và “non ” chỉ sự vĩnh cửu của trăng và núi.

    b, mặt trời xuống biển như hòn lửa

    Sóng đã cài then đêm sập cửa

    Hai câu thơ trên đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh. Biện pháp tu từ so sánh đã được sử dụng trong câu thơ ” Mặt trời xuống biển như hòn lửa” ý muốn nói mặt trời trong lúc hoàng hôn buông xuống có màu đỏ, cảnh hoàng hôn trở nên huy hoàng, tráng lệ. Biện pháp nhân hoá trong câu “sóng đã cài then” và “đêm sập cửa”. khi mặt trời xuống biển như hòn lửa thì đó là lúc muôn vật của biển gác mọi noạt động tạo nên khung cảnh yên bình lãng mạn, nhân hoá giúp thiên nhiên có linh hồn, trở nên gần gũi, vũ trụ giống như một ngôi nhà chung ấm áp.

    Nguồn : luyện 9 lên 10 tại Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 4 Bài Phân Tích Đoạn 1 Tây Tiến Hay Chọn Lọc
  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến, Văn Mẫu Lớp 12
  • Một Số Kiến Thức Cơ Bản Về Tác Phẩm ” Tây Tiến” Của Quang Dũng.
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng, Văn Mẫu Hay, Chọn Lọc
  • Phân Tích Đoạn 1 Bài Thơ Tây Tiến
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu
  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • 06 Tháng 03, 2021

    So sánh, một trong các biện pháp tu từ lớp 9 thường gặp nhất

    So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Vd: Cầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêu.

    Thường thì dấu hiệu tìm ra phép so sánh luôn được mặc định là chữ “như”. Thế nhưng trong một số trường hợp đặc biệt hoặc kì thi mang tính phân loại cao thi như chuyên hoặc thi cuối cấp phép so sánh thường được làm khó đi để đánh đố học sinh. Cần phân biệt và làm rõ hai sự việc cũng như tính chất tương đồng/ tương phản của nó để hiểu rõ phép này.

    Nhân hóa, mảng dễ nhất trong các biện pháp tu từ lớp 9

    Nhân hóa là gọi hoặc tả, nhân vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ khác vốn được dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loại vật, cây cối, loài vật trở nên gần gũi với loài người biểu thị suy nghĩ tình cảm của con người.

    VD: Cây Bàng cũng biết đau.

    Trong trường hợp này tác giả dùng từ “đau” một từ ngữ vốn được mặc định là dành riêng cho con người hay loài vật để gọi cây Bàng. Tạo cho nó một cảm giác, một biểu hiện gần gũi hơn với thế giới loài người.

    Ẩn dụ, phép tu từ khó nhất trong tất cả các phép tu từ

    Ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Về thăm quê Bác làng Sen/ Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.

    Không phải tự nhiên mà ẩn dụ được xem là phép tu từ khó nhất trong tất cả các phép tu từ bởi nếu không để ý kĩ thật sự rất dễ bỏ qua. Trong ví dụ trên lửa hồng chính là phép ẩn dụ bởi hình dáng râm bụt phần nào giống với ngọn lửa đồng thời cũng nói lên ngọn lửa (ý chí) rạo rực của dân tộc Việt.

    Một mẹo nhỏ là khi gặp phải những tình huống như thế này ta có thể để ý một từ ngữ nào đó gợi cho ta một cảm giác khác, làm ta liên tưởng đến hình ảnh nào đó thì đó thường là ẩn dụ.

    Hoán dụ, không khó nhưng cần luyện tập nhiều trong các biện pháp tu từ lớp 9

    Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác có mối quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Sen tàn, cúc lại nở/ Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân.

    Hoán dụ ở đây là Sen tức chỉ mùa hạ, cúc tức chỉ mùa xuân. Hoán dụ không khó nhưng thường phải dựa trên kĩ năng cảm, hiểu. Sen chỉ nở vào mùa hạ, là một phần của mùa hạ, nhắc tới sen là nhắc tới hạ vậy nên nói sen chỉ mùa hạ là hoán dụ, tức lấy những thứ có quan hệ gần gũi để ám chỉ nhau, Điều này tương tự với cúc.

    Điệp từ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật.

    VD: Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân.

    Không có quá nhiều điều để nói về phép này khi chỉ cần tìm những từ giống nhau lặp đi. lặp lại trong một đoạn văn bản nhằm nói lên hoặc nhấn mạnh điều gì đó, như trong ví dụ chính là nhấn mạnh mùa xuân.

    Câu hỏi tu từ, phần gỡ điểm trong các biện pháp tu từ lớp 9

    Thường có dấu chấm hỏi ở cuối câu nhằm tạo ấn tượng mạnh hoặc khẳng định chính kiến của người viết.

    VD: Tự hỏi với những kẻ gian trá, nhân phẩm của chúng được mấy hào?

    Thường thì với câu hỏi tu từ, câu hỏi không cần được phải trả lời mà thường là để khẳng định cho một chính kiến nào đó, như ở đây là biểu lộ sự khinh thường với bè lũ gian trá, không đáng bậc chính nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Đề Kiểm Tra Môn Văn 15 Phút Lớp 9 Học Kì 1: Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Ví Dụ Sau

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Ở Tiểu Học Bien Phap Diep Tu Diep Ngu Doc
  • Soạn Bài Thực Hành Các Phép Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối (Chi Tiết)
  • Thực Hành Biện Pháp Tu Từ: Phép Điệp Và Phép Đối Tgphep Diep Va Phep Doi Ppt
  • Thuc Hanh Bien Phap Tu Phep Diep Va Phep Doi Thuc Hanh Phep Diepphep Doi Dc Ppt
  • Ôn Tập Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Phân tích giá trị nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong hai ví dụ sau: 1. Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng. Những mùa quả mẹ tôi hái được 2. Lúc người còn sống tôi lên mười Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội Ảo đỏ người đưa trước dậu phơi. Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời * Yêu cầu cần đạt:

    ( Mẹ và quả – Nguyễn Khoa Điềm)

    ( Nắng mới – Lưu Trọng Lư)

    Đây là câu hỏi ôn lại kiến thức về phép tu từ đã học trong chương trình THCS. Qua việc chỉ ra các phép tu từ, học sinh nêu giá trị của nó trong việc thể hiện ý nghĩa nội dung.

    1. a. “Tay mẹ vun trồng”: là hình ảnh hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể).

    Giá trị của phép hoán dụ: “Tay mẹ vun trồng” gợi lên hình ảnh người mẹ cần mẫn gieo trồng, vun xới để có những giây phút nâng trên tay mình những mùa quả. Đó chính là lúc mẹ hái được những niềm vui và hạnh phúc lao động.

    Phép hoán dụ khẳng định niềm hi vọng tin yêu của người mẹ vào cuộc sống, mùa màng và sức lao động. Qua đó, ta cảm nhận được niềm tự hào của một người con về mẹ, niềm tự hào được dệt nên bằng tấm lòng người con yêu mẹ.

    b. Phép so sánh: “Những mùa quả lặn rồi lại mọc ” ví “Như Mặt Trời, khi như Mặt Trăng”xem những thành quả là những mùa quả mà mẹ trồng như ánh sáng kì diệu của mặt trời, mặt trăng. Mỗi sáng mọc lên, mỗi đêm rọi mát, bàn tay mẹ như có phép màu kì lạ. Đó là phép màu cùa tình yêu thương và sức lao động bền bỉ. Nhà thơ đã dành cho mẹ niềm trân trọng, ngưỡng mộ đức thành kính, thiêng liêng trong sáng. Lời thơ thân quen quá, chân thành quá! Và hình ảnh người mẹ của nhà thơ hoà nhịp trong hình ảnh người mẹ Việt Nam rạng ngời những phẩm chất cao đẹp.

    2. Đoạn thơ ghi lại những cảm xúc của Lưu Trọng Lư khi kí ức tràn về. Tác giả được trở về với khung trời cổ tích, được tận hưởng niềm hạnh phúc dịu ngọt, ấm áp khi được sống bên mẹ: “Tôi nhớ mẹ tôi”…

    a. Phép nhân hoá: “Nắng mới reo ngoài nội”. Nắng reo, nắng hát cùng gió, nhảy múa cùng cỏ cây hoa lá đồng nội. Nắng trải trong không gian mênh mông, bừng sáng, phóng khoáng. Đó chính là nắng của niềm hạnh phúc hồng tươi, dịu ấm, trong trẻo của tuổi thơ những ngày bên mẹ.

    b. Phép đảo ngữ: “Ảo đỏ người đưa trước dậu phơi” nhấn mạnh nỗi nhớ của người con. Trong nỗi nhớ ấy, màu áo đỏ trở thành kỉ niệm đỏ tươi, thắm thiết. “Áo đỏ” là hình ảnh gắn liền với bóng hình, cử chỉ, hoạt động của mẹ khi còn sông. Màu áo đỏ mẹ phơi trước dậu thật gần gũi, bình dị và thắm thiết trong nắng mới. Và mãi mãi, hình ảnh người mẹ đã khắc in trong trái tim con vẹn nguyên, không mờ, không phai theo năm tháng.Nỗi xúc động cứ vậy mà trào dâng trong lòng người .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đoạn Văn Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Tu Từ
  • Dạng Bài Tập Về Biện Pháp Tu Từ; Nghệ Thuật Dùng Từ, Đặt Câu
  • Thao Giảng: Nói Giảm Nói Tránh Noi Giam Noi Tranh Ppt
  • Soạn Bài: Nói Giảm Nói Tránh
  • Suy Nghĩ Của Em Về Cái Chết Của Lão Hạc Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Nói Quá Tài Liệu Học Tập
  • Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp.

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Thích Ý Nghĩa Bài Ca Dao “công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra”
  • Suy Nghĩ Về Câu Ca Dao Sau: Công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra. Một Lòng Thờ Mẹ Kính Cha. Cho Tròn Chữ Hiếu Mới Là Đạo Con.
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu) Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Cú Pháp Ngắn Nhất
  • Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU.

    I. Đặt vấn đề.

    Văn học là một môn nghệ thuật giàu tính hình tượng và có tính biểu cảm cao.

    Muốn cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong nội dung, tư tưởng của tác phẩm đòi

    hỏi người đọc phải có năng lực cảm thụ và biết khai thác ở nhiều khía cạnh như

    ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ, hình tượng nghệ thuật… Việc

    khai thác ở nhiều khía cạnh giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về

    tác phẩm. Một trong những cách sử dụng đạt hiệu quả cao nhất là khai thác và phân

    tích các biện pháp tu từ.

    Sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy và qua thực tế ôn thi học sinh giỏi môn

    Ngữ Văn lớp 9, tôi nhận thấy rằng khi phân tích một tác phẩm văn học đòi hỏi học

    sinh phải vận dụng nhuần nhuyễn kiến thức về các biện pháp tu từ. Đặc biệt với đối

    tượng là học sinh giỏi lớp 9 những kiến thức này càng quan trọng hơn bởi qua đó

    đánh giá năng lực và khiếu văn chương của học sinh. Tuy nhiên trong chương trình

    Ngữ Văn THCS lại chưa thể hiện đầy đủ kiến thức về các biện pháp tu từ cú pháp

    gây lúng túng và khó khăn cho học sinh khi phân tích các tác phẩm văn học. Nhận

    thấy điều đó bản thân đã tìm tòi, nghiên cứu, áp dụng và mạnh dạn đưa vào sáng

    kiến “Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 tìm hiểu một số phép tu từ

    cú pháp” để đồng nghiệp tham khảo với hi vọng có thể giúp tháo gỡ một chút khó

    khăn trong quá trình giảng dạy.

    II. Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu.

    1. Mục tiêu.

    Tìm ra được giải pháp giúp cho học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 nắm vững

    kiến thức về các phép tu từ cú pháp từ đó cái cái nhìn tổng quát hơn về các biện

    pháp tu từ trong chương trình Ngữ văn THCS.

    Học sinh vận dụng những kiến thức về các biện pháp tu từ nói chung và tu từ

    cú pháp nói riêng vào việc phân tích, cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn

    chương.

    Trang 1

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    2. Nhiệm vụ.

    Nghiên cứu thực trạng về dạy học Ngữ Văn nói chung và dạy về các biện pháp

    tu từ cú pháp nói riêng ở cấp THCS. Từ đó đề ra những giải pháp hiệu quả và cụ

    thể để giúp học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 có kĩ năng cảm thụ văn học qua các

    biện pháp tu từ cú pháp.

    PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

    I. Cơ sở lí luận của vấn đề.

    Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các

    phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh

    rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc thái

    độ hoàn cảnh)

    Tác giả Đinh Trọng Lạc đã chia biện pháp tu từ thành các loại: Biện pháp tu từ

    từ vựng, biện pháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn

    bản, biện pháp tu từ ngữ âm văn tự. Tuy nhiên trong chương trình Ngữ Văn THCS

    hiện nay chủ yếu đề cập đến hai biện pháp tu từ cơ bản đó là: Biện pháp tư từ từ

    vựng và biện pháp tu từ cú pháp.

    Với phạm vi đề tài này, tôi đi vào tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú pháp

    nhằm cung cấp cho học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 những kiến thức cơ bản nhất

    giúp học sinh vận dụng vào việc cảm thụ về ngôn ngữ tiếng Việt. Đồng thời thấy

    được nội dung tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ, nhà văn gửi gắm trong những sáng

    tác của mình từ đó thêm yêu thích văn học cũng như tiếng mẹ đẻ.

    II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

    1. Thuận lợi.

    Về phía nhà trường: Được sự quan tâm động viên kịp thời của Ban Giám Hiệu

    nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí trong tổ chuyên môn.

    Về phía giáo viên: Giáo viên giảng dạy nhiệt tình, luôn tìm tòi học hỏi để trau

    dồi kiến thức đồng thời tìm ra được những phương pháp học tập tích cực. Giáo viên

    đã được trực tiếp giảng dạy nhiều năm, đặc biệt là dạy học sinh lớp 9 và tham gia

    Trang 2

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    ôn thi học sinh giỏi các cấp. Có một số kinh nghiệm trong quá trình ôn luyện và đã

    thu được kết quả khả quan.

    Về phía học sinh: Với đối tượng là học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9, học sinh

    có nền tảng kiến thức cơ bản tốt, lại chăm chỉ, tiếp thu kiến thức nhanh đó là một

    thuận lợi lớn trong quá trình ôn thi.

    2. Khó khăn.

    Trong quá trình ôn luyện cho học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 phân tích một

    tác phẩm văn học, tôi thường hướng dẫn học sinh tìm ra các biện pháp tu từ thông

    qua các từ ngữ, hình ảnh để qua đó giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp

    trong tư tưởng, tình cảm mà tác giả muốn biểu đạt. Tuy nhiên ở chương trình Ngữ

    văn THCS chủ yếu dành nhiều thời lượng để giúp học sinh nắm được các biện pháp

    tu từ từ vựng. Cụ thể lớp 6 có các tiết: 78, 86, 91, 95, 101; lớp 7 có các tiết: 55, 59;

    lớp 8 có các tiết: 37, 40; lớp 9 có các tiết: 52, 53 ôn tập lại các phép tu từ từ vựng.

    Còn về biện pháp tu từ cú pháp trong chương trình Ngữ Văn THCS trong chương

    trình Ngữ văn lớp 7 mới chỉ giới thiệu một tiết 114. Với thời lượng quá ít và chưa

    cung cấp đầy đủ các biện pháp tu từ cú pháp sẽ gây ra một số khó khăn trong quá

    trình cảm thụ văn học đối với cả giáo viên và học sinh.

    Về phía giáo viên: Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn THCS giáo viên

    không có trong tay những tài liệu hướng dẫn cụ thể nên gặp khó khăn trong khâu

    chuẩn bị kiến thức để truyền đạt tới học sinh. Bên cạnh đó một số giáo viên vẫn

    chưa tìm tòi, nghiên cứu, hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức cũng như định

    hướng phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ cú pháp.

    Về phía học sinh: Số lượng tiết học về phép tu từ cú pháp trong sách giáo

    khoa còn hạn chế thành thử học sinh chưa có cái nhìn đầy đủ, chính xác, khác quan

    nhất về các biện pháp tu từ cú pháp. Học sinh chỉ nghe và hiểu qua lời giảng nôm

    na của giáo viên dẫn đến việc gặp khó khăn, lúng túng trong việc chủ động trong

    việc phát hiện các phép tu từ cú pháp để vận dụng trong quá trình phân tích tác

    phẩm văn học.

    Trang 3

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Với thực tế nhiều năm dạy môn Ngữ Văn khối 9, năm học 2013-2014 là năm

    đầu tiên tôi được BGH nhà trường giao trách nhiệm ôn thi học sinh giỏi khối 9.

    Ngay sau khi lựa chọn đội tuyển bản thân đã ra một số bài tập khảo sát năng lực

    của học sinh để từ đó có định hướng và nội dung ôn luyện phù hợp. Trong phần

    tiếng Việt tôi ra các dạng bài tập về các biện pháp tu từ (có cả tu từ từ vựng và tu

    từ cú pháp) yêu cầu học sinh phát hiện và phân tích tác dụng của các phép tu từ đó.

    Cụ thể:

    Đề bài: Em hãy chỉ ra các biện pháp tu từ và nêu tác dụng của các biện pháp tu

    từ trong những câu thơ sau:

    “Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”

    (Phạm Tiến Duật- Bài thơ về tiểu đội xe không kính)

    Sau khi chấm bài của học sinh tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:

    Thứ nhất: Trong số 4 học sinh tham gia làm bài thì 4 học sinh phát hiện được

    các biện pháp tu từ từ vựng là điệp từ, 3 học sinh phân tích được tác dụng của các

    biện pháp tu từ đó nhưng chưa đầy đủ.

    Thứ hai: Trong 4 học sinh tham gia làm bài thì có 1 học sinh phát hiện được

    biện pháp tu từ cú pháp là đảo ngữ nhưng phân tích tác dụng còn mơ hồ, chung

    chung.

    Như vậy vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để giúp học sinh, đặc biệt là đối

    tượng học sinh giỏi môn Ngữ Văn lớp 9 có cách hiểu đầy đủ nhất về các biện pháp

    tu từ cú pháp. Từ sự trăn trở của bản thân, tôi nhận thấy vấn đề cần thiết là hình

    thành cho học sinh một cách cụ thể và đầy đủ nhất các phép tu từ cú pháp giúp các

    em có thể vận dụng trong việc phát hiện và phân tích tác phẩm văn học.

    III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

    Trang 4

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    1. Giải pháp 1: Hình thành những kiến thức cơ bản về các biện pháp tu từ

    cú pháp.

    Trong chương trình học Ngữ văn THCS từ lớp 6 đến lớp 9 chỉ có một tiết 114

    cung cấp cho học sinh kiến thức về biện pháp tu từ cú pháp đó là bài “Liệt kê”.

    Tuy nhiên trong quá trình cảm thụ thơ văn học sinh vẫn gặp rất nhiều các biện pháp

    tu từ cú pháp khác như điệp cú pháp, đảo ngữ, đối ngữ, câu hỏi tu từ… Chính vì vậy

    muốn học sinh nắm vững hơn kiến thức về các biện pháp tu từ để dễ dàng trong

    quá trình cảm thụ văn thơ, tôi sẽ giúp học sinh hình thành kiến thức cơ bản trước

    khi vận dụng vào phân tích.

    Ví dụ: Trước khi đi vào từng biện pháp cụ thể, tôi sẽ hình thành cho học sinh

    hiểu biết khái quát nhất về biện pháp tu từ cú pháp:

    Biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu trong

    một ngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn và trong văn bản trọn

    vẹn nhằm đem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc cho những mảnh đoạn của lời nói

    do chúng cấu tạo nên.

    Sau đó tôi sẽ đưa ra kiến thức cơ bản của một số biện pháp tu từ cú pháp

    thường gặp. Cụ thể như sau:

    1.1. Liệt kê: Là biện pháp tu từ cú pháp, được thể hiện qua việc sắp xếp nối

    tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những

    khía cạnh khác nhau của thực tế hay của tư tưởng, tình cảm.

    Các kiểu kiệt kê:

    Xét theo cấu tạo: Có thể phân biệt kiểu liệt kê theo từng cặp với kiểu liệt kê

    không theo từng cặp.

    Xét theo ý nghĩa: Có thể phân biệt kiểu liệt kê tăng tiến với kiểu liệt kê không

    tăng tiến.

    Ví dụ:

    “Tin vui chiến thắng trăm miền

    Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

    Vui từ Đồng Tháp, An Khê

    Trang 5

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Vui lênViệt Bắc, đồi De, núi Hồng.”

    (Tố Hữu- Viết Bắc)

    1.2. Đảo ngữ: Là biện pháp tu từ thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông

    thường của câu nhưng không làm mất đi quan hệ cú pháp vốn có, nhằm nhấn mạnh

    ý, thể hiện cảm xúc của người nói và làm câu thơ câu văn thêm sinh động, gợi

    cảm, hài hòa.

    Ví dụ:

    “Bạc phơ mái tóc người cha

    Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng người.”

    (Tố Hữu- Ba mươi năm đời ta có Đảng)

    1.3. Sóng đôi (điệp cú pháp): Là biện pháp tu từ cú pháp dựa trên cấu tạo

    giống nhau giữa hai hay nhiều câu hoặc hai hay nhiều bộ phận của câu. Biện pháp

    song đôi có tác dụng tạo nên những sắc thái biểu cảm đặc sắc, bổ sung phát triển ý

    cho hoàn chỉnh, tạo nên một vẻ đẹp hài hòa cân đối trong câu, trong đoạn.

    Biện pháp sóng đôi có thể chia làm hai loại:

    Sóng đôi đầy đủ được trình bày dưới dạng các dãy trực tiếp của các cấu trúc

    đồng nhất.

    Ví du:

    “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

    (Hồ chí Minh)

    Sóng đôi bộ phận là sự lặp lại một vài đơn vị cú pháp tiếp theo giống nhau

    trong giới hạn của một câu.

    Ví dụ:

    “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất

    định không chịu làm nô lệ.”

    (Hồ Chí Minh)

    Trang 6

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Nếu chỉ cung cấp kiến thức lí thuyết cơ bản thì học sinh sẽ không thể hình

    thành năng lực phát hiện và phân tích các biện pháp tu từ cú pháp một cách thành

    thục. Những kiến thức lí thuyết học sinh học được sẽ nhanh chóng lãng quên. Trên

    cơ sở nắm vững các đơn vị kiến thức về các phép tu từ cú pháp, tôi chú trọng

    hướng dẫn học sinh phát hiện và phân tích một số các biện pháp tu từ cú pháp

    thông qua qua các dạng bài tập để học sinh dễ nhớ, dễ hiểu.

    Trong quá trình làm bài tôi đưa ra mệnh lệnh cụ thể nhưng thường yêu cầu học

    thực hiện hai bước sau:

    Bước 1: Phát hiện được biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng là gì.

    Bước 2: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp để thấy được nội

    dung tư tưởng, tình cảm mà tác giả biểu đạt. Cụ thể là:

    2.1. Liệt kê.

    Yêu cầu: Hãy chỉ ra và phân tích tác dụng của phép liệt kê trong các câu sau:

    Câu 1:

    “Tỉnh lại em ơi qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, rùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!”

    (Tố Hữu- Người con gái Việt Nam)

    Đoạn thơ được trích trong bài ” Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu. Trong

    đoạn thơ biện pháp liệt kê thể hiện trong câu “Điện giật, rùi đâm, dao cắt, lửa

    nung”. Với việc liệt kê hàng loạt những hình thức tra tấn dã man mà kẻ thù đã sử

    dụng để tra tấn người con gái anh hùng Trần Thị Lý đã làm nổi bật lên tinh thần

    dũng cảm, kiên cường, sức sống bền bỉ và ý chí cách mạng vững vàng của người

    con gái Việt Nam.

    Câu 2:

    “Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

    Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

    Trang 8

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.

    Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.”

    (Huy Cận- Đoàn thuyền đánh cá)

    Khổ thơ trên được trích trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận.

    Với thủ pháp nghệ thuật liệt kê kể tên hàng loạt các loài cá “cá nhụ, cá chim,cá

    đé,cá song…” tác giả đã gợi tả sự phong phú của các loài cá và sự giàu đẹp của

    biển cả quê hương.

    Câu 3:

    “Hồi nhỏ sống với đồng

    với sông rồi với bể

    hồi chiến tranh ở rừng

    vầng trăng thành tri kỉ”

    (Nguyễn Duy- Ánh trăng)

    Khổ thơ trên được trích từ bài thơ “Ánh trăng” của tác giả Nguyễn Duy.

    Trong khổ thơ tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật liệt kê kể tên những không

    gian sống gắn liền với tác giả từ khi thơ ấu cho đến khi trưởng thành “đồng, sông,

    bể, rừng”. Đó là không gian êm đềm và trong sáng của tuổi thơ nơi chốn cất giữ

    bao kỉ niệm của một thời ấu thơ, là nơi mà tác giả sống và chiến đấu trong những

    năm tháng chiến tranh máu lửa. Dù ở không gian nào trăng đều gần gũi, sát cánh

    bên nhau và cùng trở thành những người bạn tri âm, tri kỉ, người bạn nghĩa tình.

    2.2. Đảo ngữ.

    Yêu cầu: Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép đảo ngữ trong các câu sau:

    Câu 1:

    “Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác Đác bên sông chợ mấy nhà”

    (Bà Huyện Thanh Quan- Qua đèo Ngang)

    Bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là bài thơ hay miêu tả

    khung cảnh đèo Ngang lúc chiều tà qua đó bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Với việc

    Trang 9

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    đảo trật tự cú pháp đưa vị ngữ lên đầu câu “Lom khom”, ” lác đác” tác giả đã nhấn

    mạnh cảnh vật tiêu điều, hoang sơ, heo hút thấp thoáng có sự sống con người. Đồng

    thời gợi tả cảnh ngộ cô đơn, sầu tủi, nhớ nhà, nhớ người thân của chủ thể trữ tình.

    Câu 2:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc”

    (Thanh Hải- Mùa xuân nho nhỏ)

    Hai câu thơ trên được trích từ bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh

    Hải. Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã phác họa nên bức tranh thiên nhiên khoáng đạt,

    tươi tắn có sự hài hòa tuyệt diệu về màu sắc. Đặc biệt với việc sử dụng phép đảo

    ngữ, nhà thơ đã đảo động từ “mọc” lên đầu câu thơ đã làm cho bức tranh thiên

    nhiên mùa xuân trở nên sinh động tràn đầy sức sống.

    Câu 3:

    “Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

    (Phạm Tiến Duật- Bài thơ về tiểu đội xe không kính)

    Hai câu thơ được trích từ tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của

    nhà thơ Phạm Tiến Duật. Với việc sử dụng phép đảo ngữ trong câu”Ung dung

    buồng lái ta ngồi” tác giả đã khắc họa thành công tư thế hiên ngang, đỉnh đạc, đàng

    hoàng, làm chủ tình thế của người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn.

    Câu 4:

    “Nhà ai mới quá tường vôi mới,

    Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong

    Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng

    Giếng vườn ai vậy nước khơi trong”.

    (Tố Hữu- Mẹ Tơm)

    Khổ thơ trên được trích từ bài thơ “Mẹ Tơm” của nhà thơ Tố Hữu. Trong khổ

    thơ tác giả có sử dụng biện pháp tu từ đổi trật từ cú pháp qua các câu:

    Trang 10

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    “Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong

    Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng”

    Với việc đổi vị ngữ lên trước chủ ngữ, câu thơ đã giúp người đọc cảm nhận

    ngay được bằng khứu giác, thị giác và cảm giác về sự sung túc, no ấm, đủ đầy của

    một làng quê ven biển, đồng thời gợi một cuộc sống mới đang dẫn đổi thay của quê

    hương.

    2.3. Sóng đôi (Điệp cú pháp)

    Yêu cầu: Hãy phát hiện và phân tích tác dụng của biện pháp sóng đôi trong

    các câu sau:

    Câu 1:

    “Quê hương anh nước mặn đồng chua

    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

    (Chính Hữu- Đồng chí)

    “Đồng Chí” là bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Chính Hữu viết về hình tượng

    những người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hai câu thơ mở

    đầu “Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

    trong bài thơ sử dụng biện pháp sóng đôi cú pháp với sự cân đối, hài hòa giúp ta

    thấy được cảnh ngộ xuất thân nghèo khó của những người lính cách mạng. Họ là

    những người nông dân áo vải, ra đi từ những miền quê nghèo khó – miền biển nước

    mặn, vùng đồi núi trung du nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc ra đi làm

    cách mạng.

    Câu 2:

    “Mùa xuân người cầm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao.”

    Trang 11

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    (Thanh Hải- Mùa xuân nho nhỏ)

    Khổ thơ trên được trích từ bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải. Trong

    khổ thơ có sử dụng phép điệp cấu trúc cú pháp “Tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn

    xao.” để nhấn mạnh nhịp điệu khẩn trương, hối hả của toàn thể dân tộc đang ngày

    ngày đêm chiến đấu bảo vệ và xây dựng đưa đất nước đi lên.

    2.4. Đối ngữ (Phép đối).

    Yêu cầu: Em hãy chỉ ra phép đối được sử dụng trong các đoạn thơ sau và

    phân tích tác dụng của nó.

    Câu 1:

    “Chân phải bước tới cha

    Chân trái bước tới mẹ

    Một bước chạm tiếng nói

    Hai bước tới tiếng cười”.

    (Y Phương- Nói với con)

    Đoạn thơ trên được trích trong bài thơ “Nói với con” của nhà thơ Y Phương.

    Trong đoạn thơ tác giả sử dụng phép đối “Chân phải- chân trái”, “mẹ- cha” giúp

    ta hình dung hình ảnh một em bé đang lẫm chẫm tập đi những bước đi đầu đời

    trong sự trông mong và đón đợi của cha mẹ. Mỗi bước đi của con chạm đến tiếng

    nói tiếng cười, niềm vui sướng hân hoan của cha mẹ. Từ đó gợi ra khung cảnh một

    gia đình đầm ấm, hạnh phúc, yên vui. Đó chính là tổ ấm, là nôi êm che chở cho

    người con.

    Câu 2:

    “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

    Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

    Bốn bề bát ngát xa trông

    Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.”

    Trang 12

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”

    (Thế Lữ- Nhớ rừng)

    Đoạn thơ trên được trích từ bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ. Trong đoạn thơ

    tác giả đã sử dụng liên tiếp năm câu hỏi tu từ làm nổi bật nỗi nhớ nhung tiếc nuối

    quá khứ đến cồn cào, day dứt trong lòng con hổ, đồng thời bộc lộ rõ niềm xót xa

    đau đớn và sự bất lực khi hồi tưởng lại những kĩ niệm đẹp trong quá khứ và ý thức

    được quá khứ vàng son ấy không bao giờ quay trở lại.

    Câu 2:

    “Năm nay hoa đào nở,

    Không thấy ông đồ xưa.

    Những người muôn năm cũ

    Hồn ở đâu bây giờ?”

    (Vũ Đình Liên- Ông đồ)

    Đoạn thơ là khổ thơ cuối trong bài thơ “Ông đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên.

    Hai câu thơ cuối của bài thơ với hình thức câu hỏi tu từ “Những người muôn năm

    cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?” tác giả đã gửi gắm vào đó nỗi niềm thương tiếc, khắc

    khoải trước việc vắng bóng “ông đồ xưa” đồng thời nói lên tâm trạng bâng khuâng,

    xót xa khi nghĩ tới những người “muôn năm cũ” không bao giờ còn thấy nữa. Câu

    hỏi không có câu trả lời đã gieo vào lòng người đọc những niềm cảm thương, tiếc

    nuối về vẻ đẹp văn hóa tinh thần dân tộc nay không còn nữa.

    Câu 3:

    Trang 14

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa

    Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

    (Nguyễn Du- Truyện Kiều)

    Đoạn thơ trên được trích trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” của tác

    giả Nguyễn Du. Đoạn thơ tiêu biểu cho thủ pháp tả cảnh ngụ tình của tác giả.

    Thông qua cái nhìn về cảnh vật đã bộc lộ sâu sắc tâm trạng của Thúy Kiều khi bị

    giam lỏng tại lầu Ngưng Bích. Đặc biệt trong đoạn thơ tác giả sử dụng hai câu hỏi

    tu từ “Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?” và “Hoa trôi man mác biết là về

    đâu?” đã gợi tả nỗi cô đơn, lẻ loi và nỗi nhớ gia đình, người thân của Kiều nơi đất

    khách quê người đồng thời nhấn mạnh nỗi băn khoăn, thấp thỏm, lo lắng về thân

    phận lênh đênh, chìm nổi, vô định không biết rồi sẽ trôi dạt về đâu, bị vùi dập như

    thế nào.

    Câu 4:

    “Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

    Em có tuổi hay không có tuổi

    Mái tóc em đây, hay là mây là suối

    Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

    Thịt da em hay là sắt là đồng?”

    (Người con gái Việt Nam – Tố Hữu)

    Đoạn thơ là khổ thơ đầu trong bài thơ “Người con gái Viêt Nam” của nhà thơ

    Tố Hữu viết về người con gái anh hùng Trần Thị Lý. Trong khổ thơ với việc sử

    dụng hình thức là câu hỏi tu từ, nhà thơ Tố Hữu đã nhấn mạnh được vẻ đẹp của

    người con gái Việt Nam. Đó không chỉ là vẻ đẹp về hình thức bên ngoài mà hơn hết

    đó là vẻ đẹp được toát lên từ tinh thần dũng cảm ngoan cường, không sợ hi sinh

    trước kẻ thù. Đấy cũng chính là biểu tượng cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

    Trang 15

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Như vậy thông qua hệ thống các bài tập, học sinh đã nắm vững kiến thức về

    các biện pháp tu từ cú pháp. Học sinh cũng đã vận dụng tốt vào việc phân tích, cảm

    thụ các tác phẩm văn học, từ đó việc học văn không còn nhiều trở ngại. Hơn nữa

    học sinh còn có ý thức sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp làm lập luận trong bài

    viết của mình, khiến cho các bài văn thêm sâu sắc và thuyết phục hơn.

    IV. Tính mới của giải pháp.

    Trước khi tìm tòi và nghiên cứa đưa ra giải pháp giáo viên chưa có một tài liệu

    hướng dẫn cũng như còn lúng túng và khó khăn trong quá trình giảng dạy ở các

    biện pháp tu từ cú pháp. Đặc biệt khi cảm thụ văn học, học sinh chưa nhận biết và

    vận dụng phân tích và làm sáng rõ được các biện pháp tu từ cú pháp.

    Sau khi có đề tài bản thân tự tin hơn khi ôn luyện và bước đầu hình thành và

    giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản nhất về các biện pháp tu từ từ cú

    pháp. Từ những kiến thức lí thuyết học sinh có thể vận dụng làm các bài tập về các

    phép tu từ cú pháp và hình thành kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học thông qua các

    biện pháp tu từ.

    V. Hiệu quả SKKK.

    Với việc áp dụng các giải pháp trong quá trình ôn luyện đối tượng học sinh

    giỏi môn Ngữ Văn lớp 9, bản thân đã giúp học sinh nắm được những kiến thức cơ

    bản nhất về các phép tu từ cú pháp. Các dạng bài tập tiếng Việt về các phép tu từ

    (cả tu từ từ vựng và tu từ cú pháp) đa số học sinh đều làm được. Hơn nữa học sinh

    còn rất tự tin trong việc vận dụng vào phân tích, cảm thụ các tác phẩm văn, thơ.

    Cụ thể:

    Sau khi áp dụng đề tài vào quá trình ôn luyện, cũng với đề bài: Em hãy chỉ ra

    các biện pháp tu từ và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong những câu thơ

    sau:

    “Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Trang 16

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”

    (Phạm Tiến Duật- Bài thơ về tiểu đội xe không kính)

    Kết quả học sinh làm bài đã có sự khác biệt đặc biệt:

    Năm học 2014- 2021: Số học sinh làm bài là 4.

    Số học sinh phát hiện được biện pháp tu từ từ vựng là 4, học sinh phân tích

    được tác dụng của biện pháp tu từ là 3.

    Số học sinh phát hiện được biện pháp từ cú pháp là 3, học sinh phân tích được

    tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp là 3.

    Năm học 2021- 2021: Số học sinh làm bài là 5.

    Số học sinh phát hiện được biện pháp tu từ từ vựng là 5, học sinh phân tích

    được tác dụng của biện pháp tu từ là 5.

    Số học sinh phát hiện được biện pháp từ cú pháp là 5, học sinh phân tích được

    tác dụng của biện pháp tu từ cú pháp là 5.

    Không những thế hầu hết các bài tập về các biện pháp tu từ học sinh đều nhận

    diện rất nhanh và giải quyết rất tốt. Trong qua trình cảm thụ văn học hầu như tác

    dụng của các phép tu từ cú pháp đều được học sinh khai tác triệt để từ đó cảm nhận

    được nội dung tư tưởng mà tác giả muốn biểu đạt. Tôi nhận thấy đó là một kết quả

    đáng mừng trong quá trình giảng dạy của bản thân.

    Bên cạnh đó kết quả đạt được trong những đợt thi HSG cấp huyện, cấp tỉnh đã

    phần nào đó đánh giá hướng đi đúng đắn trong việc lên kế hoạch cũng như phương

    pháp ôn luyện. Kết quả cụ thể như sau:

    Năm học

    Cấp huyện

    Cấp tỉnh

    2013-2014

    1 nhất, 1 nhì, 2 công nhận

    2 nhất, 2 nhì

    2014-2015

    1 nhất, 1 khuyến khích

    1 nhất, 1 khuyến khích

    2018-2019

    1 nhất, 2 nhì, 2 khuyến khích

    2 nhì, 2 ba

    PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.

    1. Kết luận.

    Trang 17

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Trịnh Thị Hằng

    Trang 18

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Trang 19

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tìm hiểu một số biện pháp tu từ cú

    pháp.

    Tài liệu tham khảo

    1. Sách giáo khoa và sách giáo viên ngữ văn 9.

    2. 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt- Đinh Trọng Lạc- NXB Giáo

    dục.

    3. Phong cách học tiếng Việt- Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa- NXB Giáo

    dục.

    4. Từ điển thuật ngữ văn học- Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc PhiNXB đại học quốc gia Hà Nội.

    5. Một số bài viết được đăng tải thông tin theo nguồn internet.

    Trang 20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Ôn Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Biện Pháp Tu Từ Chơi Chữ Trong Tiếng Việt
  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu
  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu
  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Tích Cực “xây Dựng Trường Học Thân Thiện

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Trong Trường Mầm Non
  • Một Vài Biện Pháp Giúp Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Cho Trẻ Hoạt Động Ở Trường Mầm Non Đông Hồ Thị Xã Hà Tiên
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Trong Và Ngoài Lớp Học
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Cho Trẻ 24
  • Yếu tố quyết định thành công của phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là lòng quyết tâm, nhận thức đầy đủ, tinh thần trách nhiệm cũng như năng lực, biện pháp giáo dục ngày càng được nâng cao và sự huy động tham gia tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm đạt được mục tiêu xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả; đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp và hiệu quả.

    Các biện pháp giáo dục tích cực mang lại nhiều lợi ích mong muốn cuả trẻ em, giúp các em có tâm trạng vui vẻ lúc ở nhà, tinh thần thoải mái khi đến trường học tập và vui chơi đạt kết quả tốt. Tinh thần thoải mái làm cho các em thân thiết với mọi thành viên trong gia đình, thân thiện với bạn bè và trường lớp, vui vẻ, yêu thích đến trường và tích cực học tập.

    Hưởng ứng phong trào thi đua ” Xây dựng Trường học thân thiện -Học sinh tích cực” trong ngành học phổ thông năm học 2009-2010 và giai đoạn 2008-2013 của Bộ GD-ĐT phát động, trong phạm vi bài viết này, tôi muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp một số kinh nghiệm thực tế áp dụng : Một số biện pháp giáo dục tích cực “Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực ”

    Nhằm mang đến sự hứng thú, phát triển những kĩ năng học sinh, chủ động tiếp thu kiến thức, trong đó đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo cần có cho các em học sinh, làm cho các em cảm nhận được rằng ” Mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui”.

    Để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, tại chỉ thị 40/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng Trường học thân thiện-học sinh tích cực” trong ngành học phổ thông từ năm học 2008-2009 và giai đoạn 2008-2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ một trong những yêu cầu cần đạt được qua đợt phát động này . Thiết nghĩ để những mục tiêu và yêu cầu của phong trào đạt hiệu quả thì yêu cầu mỗi giáo viên chúng ta, cần phải ý thức việc chủ động cùng với nhà trường, ngành giáo dục phối hợp với các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội và mọi người dân cùng phối hợp “Xây dựng Trường học thân thiện – học sinh tích cực” thành công và hiệu quả.

    PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN NÚI THÀNH TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ THỊ SÁU š› S¸NG KIÕN KINH NGHIÖM Tên đề tài : MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍCH CỰC " XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN - HỌC SINH TÍCH CỰC " & HỌ VÀ TÊN : HUỲNH THỊ HÒA CHỨC VỤ : PHÓ HIỆU TRƯỞNG ĐƠN VỊ CÔNG TÁC : TRƯỜNG TH VÕ THỊ SÁU (Núi Thành - Quảng Nam) Năm học 2009 - 2010 I.TÊN ĐỀ TÀI : MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍCH CỰC " XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN- HỌC SINH TÍCH CỰC " II. ĐẶT VẤN ĐỀ: Yếu tố quyết định thành công của phong trào thi đua " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" là lòng quyết tâm, nhận thức đầy đủ, tinh thần trách nhiệm cũng như năng lực, biện pháp giáo dục ngày càng được nâng cao và sự huy động tham gia tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm đạt được mục tiêu xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả; đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp và hiệu quả. Các biện pháp giáo dục tích cực mang lại nhiều lợi ích mong muốn cuả trẻ em, giúp các em có tâm trạng vui vẻ lúc ở nhà, tinh thần thoải mái khi đến trường học tập và vui chơi đạt kết quả tốt. Tinh thần thoải mái làm cho các em thân thiết với mọi thành viên trong gia đình, thân thiện với bạn bè và trường lớp, vui vẻ, yêu thích đến trường và tích cực học tập. Hưởng ứng phong trào thi đua " Xây dựng Trường học thân thiện -Học sinh tích cực" trong ngành học phổ thông năm học 2009-2010 và giai đoạn 2008-2013 của Bộ GD-ĐT phát động, trong phạm vi bài viết này, tôi muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp một số kinh nghiệm thực tế áp dụng : Một số biện pháp giáo dục tích cực "Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực " Nhằm mang đến sự hứng thú, phát triển những kĩ năng học sinh, chủ động tiếp thu kiến thức, trong đó đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo cần có cho các em học sinh, làm cho các em cảm nhận được rằng " Mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui". Để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, tại chỉ thị 40/CT-BGDĐT về việc phát động phong trào thi đua "Xây dựng Trường học thân thiện-học sinh tích cực" trong ngành học phổ thông từ năm học 2008-2009 và giai đoạn 2008-2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ một trong những yêu cầu cần đạt được qua đợt phát động này . Thiết nghĩ để những mục tiêu và yêu cầu của phong trào đạt hiệu quả thì yêu cầu mỗi giáo viên chúng ta, cần phải ý thức việc chủ động cùng với nhà trường, ngành giáo dục phối hợp với các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể xã hội và mọi người dân cùng phối hợp "Xây dựng Trường học thân thiện - học sinh tích cực" thành công và hiệu quả. III./ CƠ SỞ LÍ LUẬN : - Trong thời kỳ đất nước hội nhập quốc tế, chúng ta đang dần đến nền kinh tế tri thức của thế kỉ XXI, đó là nơi đòi hỏi học sinh cần có những kĩ năng tư duy bậc cao, tự tin phát triển năng lực của mình. Phương pháp giáo dục cũ không thể xây dựng và phát triển cho học sinh những kĩ năng đó, vì thế giáo viên cần phát huy phương pháp dạy học thế kỷ XXI, từng bước sử dụng có hiệu quả công nghệ dạy học tiên tiến để đổi mới phương pháp dạy học, để yêu cầu trên đạt kết quả hiện thực cần phải có những biện pháp tích cực trong việc xây dựng mô hình đó là : "Trường học thân thiện - Lớp học thân thiện". - Phong trào thi đua " Xây dựng Trường học thân thiện - học sinh tích cực" trong ngành học phổ thông năm học 2008-2009 và giai đoạn 2008-2013 của Bộ GD-ĐT phát động nhằm xây dựng trường học có chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao. Các thầy cô giáo phải thân thiện trong giảng dạy, thân thiện trong đánh giá học sinh kết quả học tập và rèn luyện cuả học sinh, công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm cuả nhà giáo. Trường học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực cuả học sinh. Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh hứng thú học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt cuả người thầy, gắn chặt giữa học và hành, biết tổ chức thư giãn khoa học, biết rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo. Trong suốt quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, thực hiện phong trào thi đua trên, các biện pháp giáo dục tích cực là cơ sở để hình thành mô hình lớp thân thiện- trường thân thiện. Vì thế ta có thể nói: Để kết quả của phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đạt hiệu quả thì các biện pháp giáo dục tích cực cần được quan tâm, cụ thể hóa; trong đó các biện pháp giáo dục tích cực để xây dựng mô hình lớp học thân thiện từ cơ sở là điều cần thực hiện. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN: - Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực chính là sự cụ thể hóa của yêu cầu "Dạy tốt, học tốt" mà chúng ta đã tiến hành thực hiện trước đây, tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện nay dạy tốt không chỉ là hoạt động của các cá nhân giáo viên, mà còn là hoạt động của tập thể thầy cô, là sự tham gia của gia đình, đoàn thể vào quá trình sư phạm, là tạo môi trường thân thiện cho các em. Dạy tốt không chỉ là nói cho các em nghe, chỉ cho các em làm mà còn là tạo điều kiện để các em nói, để các em tự đề xuất việc mình cần làm và tự làm . Dạy tốt không chỉ có các thầy cô là người dạy, mà chính các em, qua các hoạt động tích cực trong học tập, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội mà tự giúp nhau trưởng thành, tự rèn luyện. Các em không chỉ là đối tượng cần được giáo dục mà thông qua hoạt động tích cực của các em, các em chính là những người nuôi dưỡng và phổ biến văn hóa dân tộc, truyền thống cách mạng của đất nước. - Các biện pháp giáo dục trước đây đã cho thấy những mặt hạn chế là chưa phát huy được tính tích cực và sự hứng thú học tập cho học chúng tôi hai năm 2008-2009, 2009-2010 hưởng ứng phong trào thi đua " Xây dựng Trường học thân thiện - học sinh tích cực", ngay từ đầu đợt phát động, cùng những kinh nghiệm được tích lũy qua phong trào " dạy tốt học tốt" trước đây, tôi đã có thêm hành trang tự tin để chỉ đạo đổi mới dạy học áp dụng các biện pháp tích cực nhằm tạo mô hình lớp học thân thiện ở trường tôi, phát huy cao nhất khả năng tích cực, chủ động và vốn sống của học sinh. - Thực trạng tại Trường tôi là một trường được công nhận Trường chuẩn Quốc gia nên áp lực ngay từ đầu năm học rất lớn, kỳ vọng của phụ huynh khi gởi gắm con em mình vào trường rất nhiều. Giữ vững uy tín của trường, góp phần thi đua "Xây dựng Trường học thân thiện - học sinh tích cực" trong ngành học phổ thông năm học 2008-2009 đã phát động, thiết nghĩ người giáo viên cần phải chủ động, sáng tạo hơn, tìm các biện pháp tích cực để giúp đỡ các em có được sự tự tin về bản thân, sự hứng thú, chủ động trong học tập; giúp các em từng bước hoàn thiện để phát triển những kĩ năng cần thiết mà xã hội yêu cầu. Từ đó, tôi đã chủ động, mạnh dạn đề ra những biện pháp tích cực chỉ đạo để xây dựng hình thành mô hình thân thiện-tích cực trong trường học vào thực tế trong quá trình giảng dạy. V./ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢI PHÁP V.1. Nội dung nghiên cứu : Trường học thân thiện là mô hình do Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) đề xướng. Năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT quyết định mở rộng mô hình này không ngoài mục đích nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục toàn diện cho học sinh. Phong trào thi đua"Xây dựng Trường học thân thiện - học sinh tích cực" có tính chất gợi ý cho các trường, tuy nhiên trong quá trình nhân rộng và triển khai phong trào, vận dụng một cách linh hoạt, chủ động, sáng tạo phù hợp với tình hình thực tế của trường mình, các trường cần phải bám chắc vào các nội dung chính của chị thị, có như thế kết quả phong trào đạt được mới tập trung và hiệu quả cao. Trên cơ sở đó, trước tình hình thực tế của trường, tôi mạnh dạn đề ra các nội dụng thiết thực phù hợp tình hình thực tế của trường, không vượt quá khả năng, không sáo rỗng, mang tính khả thi cao, đó là: * Xây dựng môi trường ,trường học thân thiện: bảo đảm các lớp học an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. Học sinh tích cực tham gia tạocảnh quan lớp học, giữ gìn vệ sinh lớp học và cá nhân. * Giảng dạy tích cực: Các thầy, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh. Hiệu quả dạy và học ngày càng cao. * Rèn luyện kỹ năng học, sinh hoạt theo nhóm và kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống bằng trò chơi học tập tích cực. * Hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh qua các tiết sinh hoạt tập thể lớp thân thiện. * Giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và anh hùng cách mạng qua tủ sách thư viên của trường và các câu chuyện kể; Học sinh tham gia tìm hiểu ý nghĩa trường mang tên.. Ngoài những nội dung trên tôi còn gắng xây dựng phát triển mối quan hệ thân thiện giữa: Trò-Thầy,giữa Trò-Trò, giữa Thầy-Trò-Phụ huynh nhằm cũng cố và duy trì, phát huy những thành quả đã xây dựng được từ phong trào đã đề cập. V.2/ Những giải pháp : V.2.1) Xây dựng môi trường lớp học thân thiện: Một trường học thân thiên thì kiến trúc của toàn bộ trường học cũng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý học sinh.Cảnh quan và môi trường trong trường cũng cần được quan tâm khi thiết kế để tạo một môi trường thân thiện và an toàn cho học sinh khi ra chơi và các hoạt động ngoài trời. Không chỉ chú trọng phát triển mảng xanh trong khuôn viên trư ... ch cực phát biểu bài Tiến bộ trong học tập Tiến bộ trong việc rèn chữ , giũ vở Tích cực tham gia các phong trào V.2.6) Giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và anh hùng cách mạng qua tủ sách của nhà trường và các câu chuyện kể; Học sinh tham gia tìm hiểu ý nghĩa tên trường . Giáo dục truyền thống dân tộc cho các em ở tuổi mới đến trường không gì bằng qua các câu chuyện kể về các gương anh hùng dân tộc, các địa danh lịch sử, qua các câu truyện trong sách em đọc. Đối với các em chưa có ý niệm về lịch sử, truyền thống, hình thành dần ở các em đó hình ảnh gần gũi của các nhân vật anh hùng nhỏ tuổi, đồng lứa như Thánh Gióng, Cô Tấm , Kim Đồng,... cần chú ý chọn lựa các đầu sách truyện tranh lịch sử, cổ tích,..hợp với lứa tuổi các em đồng thời qua đó ngầm giáo dục hình thành trong các em những truyền thống lịch sử dân tộc, truyền thống. Ngoài ra tôi có kế hoạch để giáo dục truyền thống nhà trường ở các em, qua những lần khen thưởng động viên " Hãy xứng đáng học sinh Núi Thành" hay " Phát huy truyền thống Núi Thành" qua đó động viên các em tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của " Núi Thành" mà Huyện nhà vinh dự được mang tên: Đó là một trận đánh giặc Mỹ xâm lược đầu tiên trên đất Núi Thành - Quảng Nam.Tượng đài Núi Thành,.. dần dần qua đó hình thành trong các em lòng tự hào truyền thống, quý trọng di tích lịch sử,... V.2.7) Thường xuyên củng cố các mối quan hệ thân thiện : Mối quan hệ đầu tiên cần phải thân thiện đó là quan hệ thầy trò. Phương pháp dạy theo hướng "Lấy người dạy là trung tâm" hiện nay đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ thầy trò. Nhiều thầy cô vẫn duy trì quan niệm rằng thầy là "người trên" và học trò là "người dưới". Quan niệm này đã dẫn đến sự xa cách trong quan hệ thầy trò. Học trò rất ít khi dám tranh luận với thầy cô vì sợ thầy cô phật ý. Các thầy thường ít khi dám thừa nhận mình sai hay nhầm lẫn vì sợ học sinh đánh giá. Do đó, họ thường có thái độ áp đặt và chủ quan với học trò. Các thầy cô hiện nay rất khó có thể trở thành người bạn tin cậy để học sinh có thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa họ và học sinh luôn có khoảng cách về tuổi tác và tri thức như vậy. Việc thay đổi phương pháp giảng dạy theo đường hướng "Lấy người học làm trung tâm" giúp các thầy cô có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì học sinh được xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục. Các em được tôn trọng và được tự do bày tỏ ý kiến cá nhân mình. Mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi hơn, thoải mái hơn. Người thầy cần học cách lắng nghe ý kiến của học sinh và biết chấp nhận những ý kiến "đối lập" và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với học trò. Người thầy có thể lấy ý kiến đánh giá của học trò thông qua các phiếu điều tra không ghi tên để không ngừng tự hoàn thiện mình. - Mối quan hệ giữa các học trò Ngoài các mối quan hệ nêu trên tôi còn chú ý chỉ đạo xây dựng các mối quan hệ khác như: Quan hệ tốt giữa học sinh trong lớp với các học sinh trong khối, giữa học sinh các khối với nhau, giữa cha mẹ và học sinh, giữa phụ huynh và giáo viên, giữa học sinh với họ hàng. VI/ KẾT QUẢ : VI.1/ Đối với học sinh: Sĩ số học sinh Học sinh giỏi Học sinh tiên tiến Học sinh trung bình Lên lớp thẳng Cuối năm 08-09 367 161 (43,9%) 167/(45,5%) 34/(9,3%) 98,6% Cuối HKII 09-10 371 211 (56,9%) 116(31,3%) 44/(11,8%) 99,7% Qua việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, tôi nhận thấy không khí trong các tiết học ở các lớp năm nay khác hẳn so với những năm học trước. Học sinh luôn học tập với tâm trạng hồ hởi, thích thú, các em tỏ ra say mê và tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Dựa vào bảng thống kê kết quả học tập cho thấy, các em có sự tiến bộ rõ rệt trong học tập, số lượng học sinh giỏi và tiên tiến tăng, học sinh trung bình giảm. Không những việc học tập có tiến bộ mà các em còn phát triển các kĩ năng: nghe, nói, hợp tác..một cách rõ rệt. Các em học sinh ngày càng năng động hơn, tư duy của các em phát triển hơn nhiều so với đầu năm. Ngoài ra, các em còn biết lập cho mình những kế hoạch học tập ở lớp, ở nhà và cả kế hoạch giúp đỡ những bạn học chậm. So với đầu năm học những học sinh thụ động nhút nhát, các em đã dần mạnh dạn hơn, tự tin hơn, thân ái mạnh dạn giao tiếp với bạn bè, bây giờ các em yêu thích đến trường. Trong các giờ học, các em đã có ý kiến chia sẻ với thầy cô, với bạn bè và nhiều em đã có khả năng trình bày suy nghĩ trước lớp. Mối quan hệ bạn bè trong lớp ngày càng tốt đẹp hơn, các em luôn biết quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong học tập. VI. 2/ Đối với phụ huynh học sinh: Mặc dù trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm, tôi đã trình bày và phân tích rõ những hiệu quả của phương pháp dạy học tích cực mới nhưng nhiều phụ huynh vẫn còn lo lắng, chưa tin tưởng. Họ sợ con em mình không đảm bảo kiến thức khi thấy các em chơi trong giờ học hoặc lượng bài tập về nhà ít hẳn đi. Nhưng thông qua kết quả học tập và chính sự tiến bộ rõ rệt của các em, tôi đã thuyết phục được họ. Phụ huynh cảm thấy hài lòng khi con em mình trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát, biết đưa ra ý kiến cá nhân và nhất là ý thức học tập của các em ngày càng được nâng cao.Rất nhiều phụ huynh đến gặp và cảm ơn BGH nhà trường, con em họ có rất nhiều tiến bộ . Tôi xin trích ra 2 phụ huynh sau : Ví dụ phụ huynh em : Nguyễn Duy Phúc nói : "Tôi cảm ơn nhà trường và GVCN ,nhờ vậy mà bây giờ con tôi thích đi học , mạnh dạn và tự tin hơn nhiều so với đầu năm" . Còn phụ huynh em : Văn Phú Quý nói :" Nhờ sự động viên và quan tâm , gần gũi , luôn quan tâm đặc biệt đến học tập của cháu, từ một em không biết một âm nào vì không qua mẫu giáo , bản thân tiếp thu còn hạn chế , nói chưa rõ ràng , còn nhiều tiếng nói ngọng thế mà bây giờ cháu đã tiến bộ đạt điểm trung bình cả 2 môn Toán và Tiếng Việt. Cảm ơn cô nhiều lắm" . VII/ KẾT LUẬN Trong tình hình hiện nay, với xu hướng đổi mới giáo dục, thiết nghĩ đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề vô cùng quan trọng. Chính việc vận dụng những phương pháp dạy học tích cực đã giúp tôi "xây dựng trường học thân thiện- Học sinh tích cực" đạt hiệu quả qua các ý kiến của các bậc phụ huynh . Qua đó từng bước hoàn thiện những kĩ năng chỉ đạo sư phạm của mình, từ đó GV vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong công tác giảng dạy. Trong quá trình vận dụng những phương pháp dạy học tích cực này, sự say mê học tập và những tiến bộ rõ rệt của học sinh chính là nguồn động lực thúc đẩy tôi luôn nỗ lực và phấn đấu không ngừng. Việc áp dụng chỉ đạo giảng dạy theo hướng chuyên môn hóa đã tạo mọi nhiều thuận lợi cho người giáo viên nắm bắt được các đối tượng học sinh. Từ đó sẽ vận dụng những phương pháp dạy học tích cực sao cho phù hợp, từng bước uốn nắn và tạo điều kiện để các em khắc phục những mặt còn tồn tại đồng thời giúp các em phát huy tối đa khả năng của bản thân. Giáo viên tiểu học là người đặt nền móng cơ bản xây dựng các thế hệ học sinh. Vì vậy, với lương tâm và nhiệm vụ cao cả của người quản lý , chúng ta hãy giúp GV giảng dạy các em hoàn thiện về kiến thức, kĩ năng và nhân cách để các em có thể tự tin bước vào tương lai. Bài học kinh nghiệm rút ra từ kết quả trên là : - Xây dựng kế hoạch cụ thể - Chỉ đạo môi trường giáo dục càng thân thiện- hoạt động dạy và học càng tích cực. -Luôn có sự chỉ đạo đổi mới trong các hình thức rèn luyện, thi đua, giáo dục tạo hứng thú mới mẻ đối với học sinh. - GVCN phải hiểu rõ tâm sinh lý, tính cách của từng học sinh có những biện pháp giáo dục cụ thể, thích hợp. -Thật sự xem mỗi học sinh là một đứa con của mình để từ đó giáo dục bằng tất cả tấm lòng, tình thương yêu. VIII/ ĐỀ NGHỊ : +Nên cụ thể hóa các tiêu chí cuộc vận động thi đua "Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực" đối với nhà trường, lớp học và từng đối tượng giáo viên, học sinh. +Trong sơ, tổng kết cuộc vận động thi đua "Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực" nên mạnh dạn nêu các gương điển hình thực hiện tốt cuộc vận động để làm gương tiêu biểu cho các trường, các cá nhân GV, HS noi gương thực hiện. +Cuộc vận động thi đua "Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực" cần được triển khai rộng rãi đến toàn xã hội để tranh thủ sự đồng tình, đồng thuận và sự hỗ trợ của xã hội trong các hoạt động của ngành giáo dục. TÀI LIỆU THAM KHẢO : + Chỉ thị số 40/CT-BGD-ĐT của Bộ GD-ĐT v/v thực hiện Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực" + Kế hoạc số 307/KH-BGD-ĐT của Bộ GD-ĐT ngày 22/7/2008 v/v thực hiện Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực" + Kế hoạch số 2829/KH-SGD-ĐT ngày 04/9/2008 của Sở GD-ĐT Quảng Nam về Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực" trong các trường PT giai đoạn 2008-2013 +Kế hoạch số 146/KH-PGD-ĐT ngày 30/9/2008 của Phòng GD-ĐT Núi Thành về Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực" trong các trường PT giai đoạn 2008-2013. +Phương hướng nhiệm vụ năm học 2009-2010 của Sở GD-ĐT Quảng Nam và Phòng GD-ĐT Núi Thành +Một số bài báo viết về Phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực" trên báo Giáo dục-Thời đại và Mạng Internet edu của ngành Giáo dục. MỤC LỤC Thứ tự Nội dung Trang I II III IV V VI VII VIII Tên đề tài Đặt vấn đề Cơ sở lý luận Cơ sở thực tiễn Nội dung nghiên cứu và các giải pháp - Nội dung nghiên cứu - Các giải pháp Kết quả Kết luận Đề nghị Tài liệu tham khảo 1 1 2 2 3 3 4 13 14 15 15 16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Phong Trào Thi Đua “xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Số 1 Xã Mường Than
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực Tại Lớp 5 Tuổi A
  • Food Marketing: 6 Cách Thức Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả
  • 7 Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Nhất Hiện Nay Ở Việt Nam
  • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực Tại Lớp 5 Tuổi A

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Phong Trào Thi Đua “xây Dựng Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Số 1 Xã Mường Than
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Tích Cực “xây Dựng Trường Học Thân Thiện
  • Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Trong Trường Mầm Non
  • Một Vài Biện Pháp Giúp Giáo Viên Xây Dựng Môi Trường Cho Trẻ Hoạt Động Ở Trường Mầm Non Đông Hồ Thị Xã Hà Tiên
  • Mục Lục Nôi dung Trang A. Đặt vấn đề 2 I. Lý do chon đề tài 2 II. Những thuận lợi và khó khăn 2 1. Thuận lợi 2 2. Khó khăn 3 B. Giải quyết vấn đề 4 I. Khảo sát thực tế 4 II. Một số biện pháp thực hiện 4 1. Xây dựng trường lớp xanh - sạch - đẹp, an toàn, thân thiện 4 1.1 - Xây dựng trường lớp xanh - sạch - đẹp 4 1.2 - Xây dựng môi trương an toàn 6 1.3 - Xây dựng môi trường thân thiện 6 III. Kết quả 10 1. Xây dựng trường lớp xanh - sạch - đẹp, an toàn, thân thiện 11 2. Kết quả thể hiện trên trẻ 12 IV. Bài học kinh nghiệm 13 V. Phạm vi áp dụng đề tài 14 C. Kết luận 15 I. Kết luận chung 15 II. Một số đề xuất và kiến nghị 15 A - Đặt vấn đề I- Lý do chọn đề tài Đất nước, con người Việt Nam đang chuyển mình tiến nên, ngày càng lớn mạnh đó là sự lớn mạnh về kinh tế, chính trị, công nghệ khoa học kỹ thuật. Để đào tạo ra những con người mới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đòi hỏi ngành Giáo dục phải đổi mới, trong đó Giáo dục mầm non một mắt xích đầu tiên của nền Giáo dục thì sự đổi mới này càng quan trọng hơn bao giờ hết. Sự đổi mới này không chỉ đơn thuần đổi mới về phương pháp mà còn đổi mới cả về nội dung và hình thức. Năm học 2008 - 2009 được xác định là " Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ". Đây chính là hình thức và nội dung mới được đưa vào trong các trường học đặc biệt là trong trường mầm non, với nội dung này nhằm xây dựng một phong trào thi đua " Dạy tốt học tốt " tạo môi trường sư phạm an toàn thân thiện, lành mạnh để trẻ tích cực hoạt động và học tập. Khi thực hiện phong trào " Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực " ở trường mầm non, trước tình hình thực tế tôi đã trăn trở và suy nghĩ mình phải làm gì? Làm như thế nào để xây dựng thành công " Môi truờng thân thiện ,học sinh tích cực" tại nhóm lớp của mình, góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua của toàn trường. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: " Một số biện pháp xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực tại lớp 5 tuổi A ". II - Những thuận lợi và khó khăn 1- Thuận lợi: Nhà trường tạo mọi điều kiện để lớp 5 tuổi A chúng tôi thực hiện điểm. 30 cháu đạt 100% tỷ lệ ra lớp và được theo học đúng độ tuổi. 100% trẻ khoẻ mạnh cụ thể kênh A = 28 cháu đạt tỷ lệ 93,3%, kênh B = 2 cháu đạt tỷ lệ 6,7 %. Bản thân là một Đảng viên, một giáo viên trẻ, khoẻ, có năng khiếu, có trình độ sư phạm trên chuẩn, nhiều năm liền đạt giáo viên giỏi và chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Luôn được đồng nghiệp và phụ huynh tin yêu. 2- Khó khăn: Đây là một nội dung khó đối với trẻ mầm non, nhận thức của trẻ chưa đầy đủ và đăc biệt là ý thức của trẻ chưa cao. Cùng với khó khăn chung của toàn trường do cơ sở vật chất được xây dựng từ những năm 60, đã xuống cấp , lỗi thời, lạc hậu, đồ dùng, đồ chơi thiếu thốn ảnh hưởng không ít đến mọi hoạt động của cô và trò. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến trẻ, còn coi nhẹ việc học tập của trẻ, hoặc chưa gương mẫu trước trẻ. B Giải quyết vấn đề I - Khảo sát thực tế Để thực hiện theo kế hoạch một cách khoa học và đạt hiệu quả ngay đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát thực tế nhóm lớp của mình kết quả thu được như sau: STT Giai đoạn Số trẻ Tỷ lệ chuyên chăm Chất lượng trên trẻ Ghi chú Tốt Tỷ lệ % Khá Tỷ lệ % TB Tỷ lệ % Yếu Tỷ lệ % 1 I 30 90 7 23,3 8 26,6 10 33,3 5 16,8 Nhận xét chung: Nhìn vào bảng trên ta thấy trẻ đến lớp chưa đều, tỷ lệ trẻ ngoan có nề nếp, tự tin, tích cực trong các hoạt động học tập và vui chơi là 15 cháu đạt 50%. Trẻ chưa ngoan, chưa có nề nếp, chưa mạnh dạn, còn thụ động trong mọi hoạt động chiếm tỷ lệ cao cụ thể số lượng trẻ TB và yếu là 15 trẻ đạt 50%. Trước thực tế như trên để giúp trẻ tự tin, mạnh dạn, tích cực trong mọi hoạt động tôi đã áp dụng một số biện pháp sau nhằm tạo môi trường an toàn, thân thiện, lành mạnh giúp trẻ tích cực hoạt động. II - Một số biện pháp thực hiện 1 - Xây dựng trường lớp xanh sạch đẹp, an toàn , thân thiên 1.1- Xây dựng trường lớp xanh sạch đẹp: * Tại nhóm lớp: - Xây dựng các góc và sắp đặt đồ dùng tại các góc một cách khoa học và hợp lý Ví dụ: Góc sách của bé. Tôi chọn khoảng không gian cạnh cửa sổ để làm thư viện của bé, với tủ sách xinh xắn được trưng bày: - Sách vở học tập của bé hàng ngày; Các loại tranh truyên phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ do phụ huynh tặng, cô giáo sưu tầm, một số sách do cô và trẻ tự làm, kích thích trí tò mò, thích khám phá của trẻ. Với việc sắp đặt như trên giúp cho trẻ thuận lợi trong việc sử dụng sách từ đó tạo thói quen lấy đọc và cất sách, yêu quí và giữ gìn tủ sách. Tương tự với các góc khác tôi luôn sắp đặt đồ đùng đồ chơi để làm phong phú và nổi bật đặc trưng của góc, để lôi cuốn trẻ tham gia vào hoạt động của các góc một cách sôi nổi và hứng thú. * Môi trường bên ngoài: Mặc dù phần đất của khu không nhiều song tập thể giáo viên trong khu đã kết hợp với phụ huynh ngay đầu xuân đã trồng được một số cây bóng mát, cây cảnh tạo cho cảnh quan khu trường thêm xanh và đẹp hơn. Để giữ cho môi trường luôn xanh, sạch ,đẹp chúng tôi hàng ngày, hàng tuần thường xuyên làm vệ sinh: Nhóm lớp, sân trường, nguồn nước sạch, nhà vệ sinh. Đặc biệt vào chiều thứ sáu hàng tuần chúng tôi thường tổ chức cho trẻ tham gia lao động vệ sinh vừa sức như : Nhặt lá, rác ở sân trường bỏ vào đúng nơi quy định, lau rửa đồ dùng đồ chơi cùng cô. Từ đó tạo cho trẻ thói quen thích được lao động, biết tham gia bảo vệ môi trường. Hàng tháng giáo viên chúng tôi kết hợp với dân trong xóm quét sạch đường làng ngõ xóm, phát quang bụi dậm, khơi thông cống rãnh xung quanh điểm trường. Nhờ đó mà mối quan hệ giữa giáo viên và nhân dân quanh khu trường trở nên đoàn kết, gắn bó hơn và người dân đã có ý thức rõ rệt trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường chung, không còn hiện tượng đổ rác bừa bãi quanh khu trường như trước đây nữa. 1.2- Xây dựng môi trường an toàn . - Tất cả đồ chơi trong lớp đảm bảo an toàn với trẻ về mọi mặt như an toàn về vệ sinh, an toàn về sức khoẻ, an toàn về tính mạngMuốn vậy thì giáo viên cần giữ vệ sinh nhóm lớp, đồ dùng sạch sẽ, thông thoáng thường xuyên để nhóm lớp có đầy đủ ánh sáng, không khí trong lành, ấm áp về mùa đông , thoáng mát về mùa hè. Đặc biệt giáo viên phải chú ý quan tâm tới trẻ. 1.3- Xây dựng môi trường thân thiện Trong cuộc sống hàng ngày ai ai chúng ta đều mong muốn được sống trong môi truờng lành mạnh, an toàn thân thiện, được sống trong tình yêu thương của mọi người, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau để vươn tới một cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Song đối với trẻ thơ tình yêu thương lại cần thiết hơn bao giờ hết. Làm được điều đó thì mỗi giáo viên mầm non chúng ta ngay từ bây giờ hãy bắt đầu từ những việc làm nhỏ nhất để các cháu đến lớp được sống trong một bầu không khí vui vẻ, đầm ấm , yêu thương đầy tình người. a. Mọi lúc mọi nơi: Ngay từ khi đón hoặc trả trẻ giáo viên cần phải chú ý trong việc giao tiếp , ứng xử để tạo cho phụ huynh sự yên tâm khi gửi con đồng thời tạo cho trẻ một cảm giác vui vẻ, gần gũi yêu bạn, mến cô. Cũng từ đó dần dần hình thành ở trẻ những nề nếp thói quen tốt như chuyên chăm tới lớp, biết lấy và cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định, tự tin, thích được giao tiếp, được kể về mình, về người thân trong gia đình cho cô và các bạn nghe. Qua đó làm cho phụ huynh quan tâm đến nhóm lớp, đến trẻ nhiều hơn và cũng từ đó mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh, giữa cô và trẻ giữa trẻ với nhau trở nên gắn bó, gần gũi, thân thiết hơn. Cụ thể đã có phụ huynh mang cây trồng tại sân trường, phụ huynh tặng đồ dùng đồ chơi cho nhóm lớp làm cho trường lớp ngày càng đẹp hơn. b- Hoạt động vui chơi Đối với trẻ mầm non hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi, thông qua hoạt động vui chơi trẻ phản ánh được thái độ hành vi của mình . Vì vậy sử dụng hoạt động vui chơi để giáo dục trẻ thì giáo viên luôn phải tạo cho trẻ tính tự nguyện, tự giác để trẻ thực hiện yêu cầu, mong muốn được tham gia chơi thôi thúc trẻ chấp hành mọi yêu cầu. Tham gia trò chơi trẻ sống với tâm trạng thực, trẻ cảm nhận vai chơi và tự điều khiển hành vi của mình. Trẻ đóng vai mẹ chỉ đạo các con, nếu các con chưa vâng lời người mẹ sẽ tỏ thái độ khó chịu, trẻ tự trải nghiêm đến cuộc sống thật khi thấy mẹ tỏ thái độ khó chịu hoặc không vui với trẻ có nghĩa là trẻ biết mình chưa ngoan và tự điều khiển hành vi của mình. Để trò chơi đạt hiệu quả cao trước khi tổ chức cho trẻ chơi cô cần phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi cho trẻ và đồ chơi để ở những nơi dễ tìm, dễ kiếm tạo môi trường chơi phong phú đa dạng giúp trò chơi của trẻ luôn tích cực và phát triển. Cần phải chuẩn bị tri thức kỹ năng trạng thái tâm lý tốt cho trẻ. Trong khi trẻ chơi cô phải luôn luôn tạo tình huống, tạo mối quan hệ để tạo điều kiện cho trẻ được giao tiếp , ứng xử và tự điều khiển hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của vai chơi. Giúp trẻ tìm tòi và tạo ra những ý tưởng mới, gợi sự tò mò tạo động cơ thôi thúc trẻ tự chơi . Cô phải chú ý đến hành vi có văn hoá của trẻ để điều chỉnh hành vi của trẻ một cách phù hợp, không nên can thiệp trực tiếp mà cô phải coi mình là một thành viên của nhóm hoặc đóng một vai chơi. Hoạt động vui chơi được tổ chức tốt sẽ rèn cho trẻ những kỹ năng chơi, kỹ năng giao tiếp, lối ứng xử có văn hoá. Tạo dựng cho trẻ có được những nề nếp thói quen cần thiết trong cuộc sống thường ngày của trẻ. c - Phát triển văn hoá nói cho trẻ: Đối với trẻ mẫu giáo do cơ quan phát âm chưa được hoàn thiện trẻ hít vào chưa sâu , thở có tiếng kêu, khi nói chưa biết ngắt nghỉ, có nhiều trẻ nói còn rụt rè, ít nói dẫn đến tư duy chậm phát triển . Vì vậy cần phải sửa để trẻ phát âm đúng cùng với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Cần phải hình thành cho trẻ nhịp độ và đặc tính của giọng nói, giọng nói phải linh hoạt để có thể biểu lộ trạng thái tình cảm khác nhau, trẻ phải biết điều chỉnh giọng nói của mìmh phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp. Cô phải dạy trẻ nói không vội vàng, khi nói phải nhịp nhàng và dừng lại ở cuối câu. Ví dụ: Trong khi kể chuyện cô dạy trẻ kể diền cảm: Khi nào thì nói to, khi nào thì nói khẽ, khi nào thì nói nhanh, khi nào thì nói chậm qua các ngôn ngữ của các nhân vật trong truyện. Tính diễn cảm thể hiện ở giọng nói diễn cảm tự nhiên trong ngôn ngữ hàng ngày, trong giao tiếp với những người xung quanh của trẻ. Khi kể chuyện còn phải dạy trẻ thể hiện thái độ của mình có thể nhấn mạnh một số từ diễn cảm qua ngắt nghỉ, qua nét mặt , qua ánh mắt , qua cử chỉ điệu bộ. qua nhịp độ giọng nói. Cần phải dạy trẻ ngôn ngữ diễn cảm có chủ định, cần phải giữ lại cái tự nhiên, hồn nhiên, nhí nhảnh của giọng nói trẻ thơ. d- Giáo dục văn hoá giao tiếp cho trẻ: Trẻ mẫu giáo trong giao tiếp cần phải có giọng nói vui vẻ hồn nhiên dịu dàng với các bạn và với người lớn, cần phải sửa giọng nói nũng nịu, điệu bộ hay thô thiển . Trẻ cần phải nói tự nhiên, khi nói cần chú ý đến người cùng nói chuyện, tay để ở tư thế tự nhiên, không có những cử động thừa như mâm mê áo, chân tay khua khoắng, quay đi, quay lại. Khi kết thúc giao tiếp trẻ cần biết chào hỏi và tạm biệt. g - Các biện pháp thực hiện nhằm "Rèn kỹ năng sống cho trẻ". - Nghiêm túc thực hiện thời gian biểu để: Rèn nề nếp thói quen vệ sinh chung và riêng cho trẻ. Rèn nề nếp thói quen trong học tập,vui chơi, biết yêu quý và bảo vệ đồ dùng, đồ chơi. Biết ứng xử lịch sự lễ phép, nói đúng, nói đủ câu, không nói bậy, nói ngọng. Biết yêu quý, sống gần gũi, chan hoà cùng mọi người, yêu quê hương đất nước. - Bước đầu biết chấp hành theo luật: Luật chơi trò chơi. Luật an toàn giao thông. - Mỗi cô giáo là một tấm gương sáng về mọi mặt để cho trẻ noi theo. h - Làm tốt công tác tuyên truyền trong việc chăm sóc giáo dục trẻ: * Vân động tuyên truyền phụ huynh: Trẻ em sinh ra, lớn nên và hoạt động tích cực đầu tiên ở gia đình, nhiều năng lực xã hội và những đặc trưng cơ bản của con người được hình thành ở trẻ từ gia đình. Gia đình chính là trường học đầu tiên của trẻ vì vậy gia đình cần giáo dục và xây dựng cho trẻ những thói quen, hành vi tốt: - Thoả mãn các nhu cầu cơ bản cho trẻ ( Trước khi trẻ ăn phải rửa chân tay, khi ăn phải mời ) - Thói quen trong giao tiếp ứng xử với những người xung quanh ( Biết xin lỗi cảm ơn, biết kính trọng với người trên nhường nhịn người dưới ) - Thói quen sử dụng đồ dùng dụng cụ trong gia đình ( Biết giữ gìn, biết bảo vệ ) - Thói quen hành vi tốt trong tự phục vụ bản thân ( Biết bảo vệ, giữ gìn, vệ sinh đồ dùng cá nhân ) - Dạy trẻ lễ phép, lễ độ với mọi người xung quanh Muốn giáo dục trẻ ngoan trước hết bố mẹ và người lớn phải là tấm gương sáng về mọi mặt để cho trẻ noi theo - Giáo dục trẻ chăm học, chăm làm, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ - Giáo dục trẻ nhận thấy bổn phận trách nhiệm của trẻ với việc học, với công việc. Muốn giáo dục cho trẻ những chuẩn mực hành vi xã hội đòi hỏi các bậc cha mẹ và các thành viên trong gia đình phải thường xuyên uốn nắn những hành vi lệch chuẩn trở về đúng chuẩn. Ngoài ra trong gia đình phải thường xuyên chăm sóc giáo dục trẻ hành vi giới vì tất cả những hành vi giới đều mang chuẩn mực của xã hội. Muốn giáo dục trẻ tốt thì bố và mẹ phải là mẫu chuẩn về giới. Nhu cầu tinh thần: - Tình yêu của con người bắt nguồn từ tình yêu gia đình: Tình yêu của trẻ do các tấm gương và sự quan tâm chia sẻ của các thành viên trong gia đình đem lại. Phải dạy cho trẻ biết chia sẻ đồng cảm với những người xung quanh như biết yêu thương , tức giận tha thứNhu cầu của trẻ về tình cảm thể hiện như thế nào để những người xung quanh nhận biết được như trẻ muốn gì, thích gì, .. Việc tuyên truyền cho các bậc cha mẹ trẻ về kiến thức nuôi dạy con là vô cùng quan trọng và cần thiết . Chính vì làm tốt nhiệm vụ này mà mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên được năng nên rõ rệt cụ thể phụ huynh quan tâm tới con cái nhiều hơn, thường xuyên gặp gỡ trao đổi với giáo viên về tình hình con cái của mình. Cũng từ đó mà tình cảm giữa cô và trẻ, giữa trẻ với nhau trở nên gắn bó thân thiết hơn. * Tuyên truyền vận đông với các ban ngành đoàn thể, nhân dân: Bản thân là một bí thư đoàn truờng tôi đã tích cực tham mưu với chính quyền địa phương, phối hợp với các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là đoàn thanh niên thanh niên, hội phụ nữ ....tăng cường công tác tuyên truyền và huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư, các tổ chức cá nhân, phong trào xây dựng trường học thân thiện , học sinh tích cực . Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho cha mẹ và cộng đồng , kết hợp với gia đình đưa trẻ đến trường, rèn nề nếp thói quen tốt cho trẻ bồi dưỡng tình yêu quê hương làng xóm. III- Kết quả Sau khi triển khai, thực hiện phong trào thi đua " Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cưc" vào nhóm lớp của mình tôi đã thu được một số kết quả như sau 1- Xây dựng trường lớp xanh - sạch- đẹp, an toàn, thân thiện . Trường lớp sạch sẽ thoáng mát, đủ ánh sáng , đồ dùng, đồ chơi tối thiểu phù hợp với lứa tuổi. Trường lớp có tường bao hàng rào chắn , có cổng bảo vệ . Sân chơi có đồ chơi ngoài trời, có cây xanh , được vệ sinh sạch sẽ. Có đủ nguồn nước sạch đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của các cháu Giáo dục trẻ có nề nếp , có ý thức lao động tự phục vụ và giữ gìn vệ sinh môi trường . Toàn thể GV trong khu trường chúng nắm vững mục tiêu của phong trao "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" nắm vững nội dung, yêu cầu, tiêu chuẩn trường học thân thiện, học sinh tích cực, thực hiện đạt hiệu quả việc tuyên truyền sâu rộng, tranh thủ sự đồng tình tham gia hưởng ứng của các lực lượng xã hội. *- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Bản thân tôi thấy tự tin chủ động sáng tạo trong việc đổi mới , vận dụng phương pháp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ . Sáng tạo trong việc xây dựng môi trường, giáo dục nhằm tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia vào các hoạt động vui chơi.... Tạo cơ hội khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động vui chơi , tìm tòi khám phá . Giáo dục trẻ các hành vi lễ phép trong giao tiếp ứng sử ,trẻ được bảo đảm an toàn tuyệt đối cả thể chất lẫn tinh thần . Đảm bảo an toàn cho trẻ về mọi mặt. 100% trẻ đến trường được theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ Trong đợt hội giảng chào mừng ngày Nhà giáo VN thi GVG cấp trường, cấp huyện 100% giáo viên trong khu chúng tôi tham gia và kết quả đạt được như sau:100 % GV được công nhận GV giỏi cấp trường, cấp huyện, trong đó 1 đ/c đạt khuyến khích. *-Xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên , cán bộ nhân viên và phụ huynh nhà trường Thể hiện tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm và công bằng trong việc chăm sóc giáo dục trẻ . Đoàn kết chia sẻ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thể hiện thái độ hành vi văn minh, lịch sự Gần gũi , tôn trọng và kết hợp với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ. Tích cực sưu tầm tuyển chọn và sử dụng các bài hát dân ca, trò chơi dân gian vào các hoạt động giáo dục trẻ . * - Tổ chức tập thể vui tươi lành mạnh . Nhà trường tổ chức ngày hội, ngày lễ theo từng tháng, học kỳ năm học phù hợp như: Ngày hội đến trường của bé; 20/11, tết nguyên đán, 8/3, 26/ 3, Tổ chức nhiều trò chơi dân gian ca dao dân ca và các hoạt động vui chơi tích cực với trẻ *- Công tác tuyên truyền: * Kết hợp chặt chễ với phụ huynh trong việc chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. * Kết hợp với các ban ngành đoàn thể khác: - Đoàn thanh niên xã làm tặng khu trường một giếng nước sạch, thường xuyên giao lưu văn hoá văn nghệ với nhà trường. - Kết hợp với hội phụ nữ trong thôn vệ sinh xung quanh điểm trường vào những ngày cuối tháng. 2- Kết quả thể hiện trên trẻ: STT Giai đoạn Số trẻ Tỷ lệ chuyên chăm Chất lượng trên trẻ Ghi chú Tốt Tỷ lệ % Khá Tỷ lệ % TB Tỷ lệ % Yếu Tỷ lệ % 1 I 30 90 7 23,3 8 26,6 10 33,3 5 16,8 2 II 30 100 12 40 12 40 6 20 Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy: - Số cháu đạt tỷ lệ giỏi và khá của giai đoạn II so với giai đoạn I tăng nhanh rõ rệt, cụ thể: - Tỷ lệ số cháu đạt loại giỏi của giai đoạn II tăng gấp 1,7 lần so với giai đoạn I (từ 23,3% nên 40%). - Tỷ lệ số cháu đạt loại khá của giai đoạn II tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn I (từ 26,6% nên 40%). - Tỷ lệ số cháu đạt yêu cầu giảm, không còn tỷ lệ số cháu không đạt yêu cầu. Điều đó chứng tỏ với các biện pháp như đã nêu ở trên cho thấy bước đầu đã đạt kết quả tương đối tốt. IV- Bài học kinh nghiệm Để thực hiện phong trao "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"có hiệu quả: - Giáo viên phải gương mẫu trong mọi hoàn cảnh tích cực trong mọi công việc. - Linh hoạt, sáng tạo trong quá trình lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phù hợp với thời gian không gian của lớp. Luôn lấy trẻ làm trung tâm trong các hoạt động để phát huy tính tích cực của trẻ. Đặc biệt giáo viên phải nghiêm túc thực hiện chuyên môn , và thực hiện chế độ trong ngày của trẻ, quan tâm và thực hiện công bằng với trẻ. - Cần tạo được mối quan hệ thân thiết gắn bó với phụ huynh và tích cực tuyên truyền vận động các ban ngành đoàn thể cùng tham gia xây dựng phong trào. Bản thân mỗi giáo viên phải tự giác tích cực học tập không ngừng năng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu của giáo dục mầm non hiện nay. Xây dựng mối đoàn kết, thân ái trong tập thể nhà trường để mọi người luô

    --- Bài cũ hơn ---

  • Food Marketing: 6 Cách Thức Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả
  • 7 Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Nhất Hiện Nay Ở Việt Nam
  • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp, Kéo Giảm Phạm Pháp Hình Sự
  • Luận Văn: Nạn Nhân Của Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Tphcm
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3, Trường Thcs Lạc Hòa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Luận Văn: Nạn Nhân Của Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Tphcm
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp, Kéo Giảm Phạm Pháp Hình Sự
  • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • 7 Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Nhất Hiện Nay Ở Việt Nam
  • 2.5, Phát huy vai trò của BCS lớp 14

    2.6, Phương pháp giáo dục cá biệt và phương pháp tác động tập thể 17

    KẾT THÚC VẤN ĐỀ

    1. Kết quả 20

    1.1, Duy trì sĩ số: 20

    1. 2, Chất lượng hai mặt giáo dục ở HK I 20

    1.3, Thi đua hàng tuần giữa các lớp trong trường: 21

    1.4, Tham gia phong trào: 21

    2. Bài học kinh nghiệm 22

    3. Kiến nghị 22

    4. Lời kết 23

    Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Dũng Trang 1

    Trường THCS Lạc Hòa Sáng kiến kinh nghiệm

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình

    giáo dục học sinh. Chính vì vậy, muốn làm tốt công tác chủ nhiệm, trước hết

    người GVCN cần nắm vững chức năng, nhiệm vụ và nội dung của công tác

    chủ nhiệm.

    1, Nhiệm vụ, chức năng và nội dung của người giáo viên chủ

    nhiệm.

    a, Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp trước hết phải quản lí toàn diện lớp học và cần

    nắm vững: hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến học

    sinh của lớp chủ nhiệm; quản lí toàn diện đặc điểm học sinh của lớp. Nắm

    vững mục tiêu đào tạo cả về mặt nhân cách và kết quả học tập của học sinh, …

    để kết hợp giáo dục.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp phải thực hiện tốt nhiệm vụ của một thầy cô giáo

    nói chung, mẫu mục về đạo đức, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật

    và những quy định của nhà nước; nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục và

    vận dụng sáng tạo vào thực tiễn dạy học. Người giáo viên pải tham gia các

    hoạt động chính trị – xã hội với tư cách là lực lượng tri thức trong công cuộc

    đổi mới, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm nắm vững tình hình học sinh của

    lớp về mọi mặt, báo cáo cho hiệu trưởng và BGH kịp thời các vấn đề của lớp

    chủ nhiệm để giải quyết. Kịp thời kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan

    quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh.

    Có kế hoạch tổ chức hoạt động của tập thể học sinh thực hiện nhiệm vụ

    chung của nhà trường cùng với các tập thể lớp khác làm chủ lớp chủ nhiệm trở

    thành thành viên tích cực của cộng đồng trường học. Thông qua tổ chức hoạt

    Giáo viên thực hiện: Nguyễn Đức Dũng Trang 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3
  • Một Số Kinh Nghiệm Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 2
  • Những Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Thẻ Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Luận Văn Rủi Ro Lãi Suất Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng
  • Hãy Nêu Một Số Biện Pháp Phòng Chống Thiên Tai Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Ở Lớp 9A3, Trường Thcs Lạc Hòa
  • Biện Pháp Giảm Ô Nhiễm Tiếng Ồn
  • Luận Văn: Nạn Nhân Của Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Tại Tphcm
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Biện Pháp, Kéo Giảm Phạm Pháp Hình Sự
  • 4 Cách Tiếp Thị Ít Tốn Kém Mà Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp Nhỏ
  • ĐẶT VẤN ĐỀ

    1, Chức năng, nhiệm vụ và nội dung của người giáo viên chủ nhiệm……….. 2

    a, Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    b, Nội dung công tác của người giáo viên chủ nhiệm.

    2, Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………….. 4

    3, Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………………………. 4

    GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    1, Đặc điểm tình hình lớp 9A3……………………………………………………………… 5

    1.1, Thuận lợi.

    2.2, Khó khăn.

    1.3, Kết quả chất lượng hai mặt giáo dục ở năm học 2007 – 2008:

    2, Biện pháp thực hiện – cách làm mới: ………………………………………………… 6

    2.1, Nhận lớp chủ nhiệm……………………………………………………………………. 6

    2.2, Bầu ban cán sự (BCS) lớp – chia tổ………………………………………………. 7

    a, Cơ sở chọn BCS lớp – chia tổ.

    b, Tiến hành bầu BCS lớp.

    c, Phân công nhiệm vụ cho BCS lớp.

    2.3, Lập sơ đồ lớp học……………………………………………………………… 10

    2.4, Xây dựng tiêu chí đánh giá, xếp loại học lực học sinh……………………. 12

    2.5, Phát huy vai trò của BCS lớp……………………………………………… 14

    2.6, Phương pháp giáo dục cá biệt và phương pháp tác động tập thể……… 17

    KẾT THÚC VẤN ĐỀ

    1. Kết quả ………………………………………………………………………………………… 20

    1.1, Duy trì sĩ số:……………………………………………………………………………… 20

    1. 2, Chất lượng hai mặt giáo dục ở HK I……………………………………………. 20

    1.3, Thi đua hàng tuần giữa các lớp trong trường: ……………………………….. 21

    1.4, Tham gia phong trào:………………………………………………………………….. 21

    2. Bài học kinh nghiệm ……………………………………………………………………… 22

    3. Kiến nghị……………………………………………………………………………………… 22

    4. Lời kết …………………………………………………………………………………………. 23

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục học sinh. Chính vì vậy, muốn làm tốt công tác chủ nhiệm, trước hết người GVCN cần nắm vững chức năng, nhiệm vụ và nội dung của công tác chủ nhiệm.

    1, Nhiệm vụ, chức năng và nội dung của người giáo viên chủ nhiệm.

    a, Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp trước hết phải quản lí toàn diện lớp học và cần nắm vững: hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến học sinh của lớp chủ nhiệm; quản lí toàn diện đặc điểm học sinh của lớp. Nắm vững mục tiêu đào tạo cả về mặt nhân cách và kết quả học tập của học sinh, để kết hợp giáo dục.

    Giáo viên chủ nhiệm lớp phải thực hiện tốt nhiệm vụ của một thầy cô giáo nói chung, mẫu mục về đạo đức, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật và những quy định của nhà nước; nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn dạy học. Người giáo viên pải tham gia các hoạt động chính trị – xã hội với tư cách là lực lượng tri thức trong công cuộc đổi mới, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Giáo viên chủ nhiệm còn có trách nhiệm nắm vững tình hình học sinh của lớp về mọi mặt, báo cáo cho hiệu trưởng và BGH kịp thời các vấn đề của lớp chủ nhiệm để giải quyết. Kịp thời kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan quá trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh.

    Có kế hoạch tổ chức hoạt động của tập thể học sinh thực hiện nhiệm vụ chung của nhà trường cùng với các tập thể lớp khác làm chủ lớp chủ nhiệm trở thành thành viên tích cực của cộng đồng trường học. Thông qua tổ chức hoạt động tự quản của tập thể mà rèn luyện nhân cách, khả năng ứng xử, năng lực sáng tạo, khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn cuộc sống.

    Giáo viên chủ nhiệm cùng giáo viên bộ môn phối hợp với các tổ chức, đoàn thể khác tổ chức cho học sinh có điều kiện tham gia vào các hoạt động của nhà trường, xã hội,

    Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa BGH, các tổ chức trong trường, các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớp chủ nhiệm. Nói cách khác, giáo viên chủ nhiệm là người đại diện cho hai phía, một mặt đại diện cho các lực lượng giáo dục của nhà trường, mặt khác đại diện cho tập thể học sinh . Với tư cách là người đại diện cho lớp chủ nhiệm, GVCN có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực những quyền lợi chính đáng cho học sinh của lớp.

    GVCN là cố vấn tổ chức hoạt động tự quản của tập thể học sinh

    Học sinh lớp 9 là những em ở lứa tuổi cuối thiếu niên, đầu thanh niên – lứa tuổi giàu ước mơ, đang muốn khẳng định mình, năng động, giám nghĩ giám làm nhưng còn thiếu kinh nghiệm, khi có thành công thì dễ tự tin quá mức, gặp thất bại lại dễ mất niềm tin, Vì vậy, việc định hướng, giúp đỡ học sinh kịp thời là rất cần thiết. Chức năng cố vấn có ý nghĩa quan trọng nhất đối với giáo viên chủ nhiệm vì chức năng này, về bản chất là sự điều chỉnh, vai trò định hướng, điều khiển quá trình tự giáo dục của từng học sinh và tập thể học sinh, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong giáo dục.

    Cố vấn còn là quá trình giáo dục, định hướng của giáo viên chủ nhiệm lớp đối với hoạt động tự quản của tập thể học sinh lớp chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm không trực tiếp tham gia điều khiển công việc của lớp, không làm thay cho các em mọi hoạt động.

    Chức năng cố vấn đối với học sinh phải quán triệt được toàn bộ nội dung giáo dục, kế hoạch hoạt động của cá nhân và tập thể lớp chủ nhiệm bao gồm từ học tập, rèn luyện đạo đức, thể dục thể thao, diễn ra trong nhà trường và ngoài xã hội. GiVCN cần tư vấn cho học sinh trong quan hệ ứng xử xã hội, gia đình, cộng đồng và trong bạn bè, định hướng nghề nghiệp , cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 9 – lớp học cuối cấp.

    b, Nội dung công tác của người giáo viên chủ nhiệm.

    Người giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững đường lối, quan điểm, lí luận giáo dục để vận dụng vào công tác chủ nhiệm lớp Đặc biệt cần nắm vững phương pháp, nghệ thuật sư phạm.

    Ví dụ: Nắm vững các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách, vai trò của giáo dục, hoạt động; mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh; các phương pháp tác động song song, tác động tay đôi, bùng nổ sư phạm, đó là những lí luận mà người giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững.

    Giáo viên chủ nhiệm có kế hoạch nghiên cứu đặc điểm gia đình và đặc điểm tâm sinh lí của từng học sinh. Điều đặc biệt quan trọng đối với giáo viên chủ nhiệm là bằng các phương pháp, phân tích cho được nguyên nhân của các hiện tượng, đặc điểm của từng học sinh.

    Lập kế hoạch chủ nhiệm cho từng tháng, cho năm học để đảm bảo tính hệ thống phát triển nhân cách học sinh. Kế hoạch chủ nhiệm lớp cần thể hiện một số nội dung sau:

    Khái quát chung về đặc điểm lớp chủ nhiệm.

    Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh khá – giỏi, phụ đạo học sinh yếu – kém.

    Giáo viên chủ nhiệm phải dạy tốt môn học được phân công dạy ở lớp chủ nhiệm và các lớp khác.

    Giáo viên chủ nhiệm phải không ngừng tự hoàn thiện bản thân về mọi mặt, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

    2, Lý do chọn đề tài.

    Trong thời gian qua, Việt Nam đã hội nhập mạnh mẽ với thế giới bên ngoài. Những thành quả gặt hái được trong quá trình đó thì không bất cứ ai có thể chối cãi được. Nhưng cũng có một thực tế rõ rang, cùng với những giá trị tốt đẹp thì hàng loạt giá trị thấp kém cũng theo gót vào Việt Nam. Chính điều đó đã làm băng hoại, xói mòn nhiều giá trị tốt đẹp của dân tộc.

    Ta thường nói rằng: tâm hồn học sinh là một tờ giấy trắng mà ai cũng có thể vẽ lên đó những nét bút cho dù là nét đẹp hay xấu. Nói cách khác, học sinh là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi các luồng văn hóa từ ngoài vào. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin thì điều đó lại càng dễ dàng.

    Thực tế cho thấy có rất nhiều học sinh tốt, có ý thức, chịu học, nhưng số học sinh chưa tốt cũng không ít. Bất cứ lớp học nào cũng có học sinh chưa tốt, học sinh hư, học sinh “lạc đường” trong nhận thức vấn đề. Lớp học do tôi chủ nhiệm cũng không là ngoại lệ.

    Bên cạnh đó, trong quá trình làm công tác chủ nhiệm, ở những năm trước tôi chưa đi sâu vào vấn đề chủ nhiệm mà chỉ ở mức hoàn thành nhiệm vụ, chủ yếu tôi tập trung vào công tác chuyên môn. Chính vì vậy, ở những năm trước số học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ về mặt đạo đức chưa nhiều, tôi chưa phát huy được vai trò trung tâm, khả năng tự quản của các em; có một số học sinh chưa có ý thức tổ chức kỉ luật; chưa giúp Ban cán sự lớp hoạt động hiệu quả, vì vậy không tạo được một điểm nào nổi bật ở lớp chủ nhiệm.

    Những vấn đề trên đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Khi nhìn lại quá trình làm công tác chủ nhiệm tôi thấy mình còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Điều đó làm cho tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi để nâng cao khả năng công tác của mình. Nhiều biện pháp đã được tôi nghĩ đến và thử nghiệm. Và đến nay tôi đã tạo được bước đột phá trong công tác chủ nhiệm.

    Tất cả những gì tôi tìm tòi và áp dụng thành công sẽ được tôi trình bày trong “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở LỚP 9A3, TRƯỜNG THCS LẠC HÒA”.

    Những biện pháp này được tôi áp dụng từ học kì II, năm học 2007 – 2008 và hoàn thiện ở năm học 2008 – 2009.

    3, Phạm vi nghiên cứu.

    Trong quá trình nghiên cứu và tìm tòi, tôi không tập trung vào tất cả các vấn đề mà tập trung nhiều vào các vấn đề sau:

    Ý thức chấp hành nội quy của học sinh.

    Ý thức học tập.

    Khả năng tự quản.

    Xây dựng đội ngũ BCS lớp.

    Vận dụng tâm lý và dựa vào tính cách, thái độ của học sinh để xử lý tình huống

    GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    Giáo dục là một quá trình lâu dài, trong đó người làm giáo dục phải áp dụng nhiều biện pháp, từ khâu tổ chức, giáo dục, đến tác động vào từng cá nhân và tập thể. Quá trình đó cũng không phải chỉ diễn ra trong một hay hai ngày mà là quá trình tác động lâu dài, như dân gian thường nói “mưa dầm thấm lâu” .

    1, Đặc điểm tình hình lớp 9A3.

    Năm học 2008 – 2009, lớp 9A3 chính là lớp 8A3 và một số học sinh của cá lớp 9A2 – 9A5 của năm học 2007 – 2008 chuyển lên. Lớp có 30 học sinh, trong đó có:

    13 học sinh nữ.

    06 học sinh dân tộc Kinh.

    19 học sinh dân tộc Hoa.

    05 học sinh dân tộc Khmer.

    01 học sinh nữ dân tộc Khmer.

    Đầu năm học lớp có một số thuận lợi và khó khăn như sau:

    1.1, Thuận lợi.

    – Được sự quan tâm của BGH, Đoàn – Đội và các tổ chức trong nhà trường.

    – Có một số học sinh có ý thức học tập tốt, nhiệt tình, năng động,

    – Ban cán sự (BCS) lớp có năng lực, tinh thần trách nhiệm cao.

    – Lớp có tinh thần đoàn kết, không chia phe – nhóm.

    – Trong lớp có một số học sinh nhà gần trường

    2.2, Khó khăn.

    – Đa số học sinh nhà ở xa trường. Đặc biệt có 2 học sinh nhà ở “điền” (em Triệu Hải và em Lâm Văn Bé), rất khó khăn trong việc đi lại.

    – Lớp có 2 học sinh mồ côi cha (mẹ), 1 học sinh có mẹ bỏ đi, 1 học sinh có cha mẹ bất hòa đã lâu năm.

    – Nhiều học sinh ý thức học tập chưa cao, còn ham chơi, thậm chí tham gia tệ nạn xã hội (đá gà).

    – Nhiều cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học của con em.

    – Môi trường xã hội xung quanh trường học tương đối phức tạp, làm ảnh hưởng không tốt đến học sinh.

    1.3, Kết quả chất lượng hai mặt giáo dục ở năm học 2007 – 2008:

    Hạnh kiểm

    Học lực

    Tốt

    22

    Giỏi

    1

    Khá

    7

    Khá

    5

    TB

    1

    TB

    21

    Yếu

    /

    Yếu

    3 (thi lại)

    2, Biện pháp thực hiện – cách làm mới:

    2.1, Nhận lớp chủ nhiệm.

    Trước ngày khai giảng, GVCN nhận sự phân công của BGH nhà trường nhận lớp chủ nhiệm. Sau khi có danh sách học sinh, GVCN cố gắng nhớ hết tên học sinh trong lớp. Đây là điều rất quan trọng. Bởi con người, ai cũng muốn mình là người quan trọng đối với người khác, là người được người khác tôn trọng. Việc giáo viên gọi tên các em học sinh ngay khi mới gặp nhau là biểu hiện của điều đó. Học sinh sẽ rất vui, bất ngờ vì việc này. Chính việc này sẽ giúp người giáo viên chủ nhiệm nhanh chóng để lại ấn tượng của mình trong các em. Điều quan trọng là các em cảm nhận được sự tôn trọng của GVCN đối với mỗi học sinh.

    Ví dụ: Khi BGH trao cho tôi danh sách lớp 9A3, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần để nhớ tên của học sinh lớp mình và tôi cố gắng biết mặt của 1/3 số học sinh trong lớp trước ngày tôi gặp lớp. Khi vào lớp tôi gọi tên những học sinh mà tôi biết mặt để hỏi thăm tình hình trong dịp nghỉ hè. Trước việc làm đó học sinh đã rất bất ngờ vì không biết tại sao thầy chủ nhiệm lại biết tên trong lúc chưa tiếp xúc lần nào. Thực sự các em rất thích thú về điều đó.

    Tiếp theo GVCN sẽ gặp những giáo viên chủ nhiệm cũ kết hợp với buổi học nội quy, buổi lao động đầu năm của các em để nắm bắt tình hình chung, tình hình của một số học sinh trong lớp (như học sinh giỏi, học sinh cá biệt, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, ). Cũng qua đó GVCN sẽ định hình được đội ngũ BCS lớp sau này cũng như đưa ra được biện pháp giáo dục học sinh phù hợp.

    Ví dụ: Sau khi nhận lớp, tôi đã gặp các GVCN cũ là thầy Phan Thanh Quân, cô Liêu Thị Sà Dem và thầy Lý Thanh Quyền. Qua đó tôi nắm được một số thông tin quan trọng về một số học sinh do tôi chủ nhiệm như sau:

    Học sinh trong lớp cư trú ở nhiều địa bàn khác nhau, có những học sinh nhà rất xa trường; trong lớp có 2 học sinh mồ côi cha(mẹ), 1 học sinh nhà rất nghèo, 1 học sinh có cha mẹ đang trong tình trạng bất ổn về hôn nhân,

    Trên cơ sở những thông tin này, trước các hành vi ứng xư của học sinh, GVCN sẽ đưa ra được biện pháp xử lý phù hợp, có thái độ, lời nói đúng mực. Tránh được việc đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm của các em cũng như có thể động viên các em kịp thời.

    Khi mới nhận lớp GVCN không nên áp đặt ngay những quy định của lớp, buộc các em vào khuôn khổ ngay lập tức. Vì điều này tạo cho các em sự gò bó, mất tự do mà tự do là điều mà đa số các em đang muốn có.

    2.2, Bầu ban cán sự (BCS) lớp – chia tổ.

    a, Cơ sở chọn BCS lớp – chia tổ.

    Để bầu BCS lớp đạt hiệu quả – hoạt động tốt, GVCN tham khảo ý kiến của GVCN cũ bởi họ là người nắm rõ khả năng của các em học sinh.

    Một cán bộ lớp tốt phải là người năng động, nhiệt tình, biết sống vì tập thể, không ích kỉ, cho nên khi chọn BCS lớp giáo viên cần chú ý đến tính cách của người học sinh mà mình chọn.

    Ngoài ý thức trách nhiệm các thành viên trong BCS còn phải có năng lực tốt. Muốn biết điều này cần phải dựa vào học bạ.

    Khi chọn BCS lớp, cố gắng bảo đảm ở mỗi địa bàn cư trú có một thành viên của BCS lớp. Làm được như vậy thì trong quá trình hoạt động giáo viên có thể để nắm tình hình các thành viên trong lớp thông qua các em.

    Ví dụ: Ở lớp 9A3 có lớp trưởng ở Vĩnh Thạnh A (Vĩnh Hải), lớp phó học tập ở Hòa Nam (Lạc Hòa), tổ trưởng tổ 1 ở Ca Lạc (Lạc Hòa),

    Vai trò của GVCN trong việc chọn BCS lớp rất quan trọng nhưng các thành viên trong lớp cũng có vai trò không kém. Vì vậy khi lựa chọn giáo viên cần căn cứ vào sự tín nhiệm của tập thể, điều này thể hiện qua việc bình bầu dân chủ đầu năm.

    Khi tiến hành chia tổ, GVCN cần tạo sự đồng đều trong tổ. Có nghĩa là mỗi tổ sẽ có các đối tượng học sinh có học lực, ý thức chấp hành nội quy khác nhau.Nói cách khác, mỗi tổ phải bảo đảm nhiều đối tượng: có học sinh yếu, học sinh giỏi, học sinh ở địa bàn xa – gần, có học sinh ngoan, học sinh cá biệt, Làm được như vậy thì trong quá trình học tập các em có thể hỗ trợ nhau, nhắc nhở nhau trong học tập, trong lao động.

    Ví dụ: Lớp 9A3 đầu năm có 30 học sinh, tôi chia làm ba tổ:

    Tổ 1 gồm 10 thành viên, có một số học sinh có học lực nổi bật như Ong Kiều Tiên, Võ T Nhân ái, Trịnh Tú Miệm, một số học sinh có ý thức chưa tốt như Thái Tếch Hển, Trần Văn Tuấn, La Văn Thành,

    Tổ 2 gồm 10 học sinh, có 2 học sinh nổi bật về học lực là em Lâm Hồng Nguyên và Huỳnh Thiếu Lâm; một số học sinh ý thức chưa tốt như Trịnh Thuận Kiệt, Võ Hoàng Mến, Trịnh Thị Bé Hương,

    Tổ 3 gồm 10 thành viên trong đó có những học sinh nổi bật về học lực như Võ Hoàng Bửu, Trương Văn Nền, những học sinh có ý thức chưa tốt như Lâm Văn Bé, Đền Đươl,

    Trong quá trình chia tổ, tôi đưa học sinh mà mình dự định cho làm tổ trưởng vào tổ đó.

    b, Tiến hành bầu BCS lớp.

    Trước khi tiến hành bầu, giáo viên chủ nhiện nêu ý kiến: “BCS lớp do thầy chọn hay các em chọn?” Khi học sinh quyết định do các em chọn thì giáo viên chủ nhiệm thỏa thuận: “Thầy đồng ý cho các em chọn nhưng khi chọn xong các em phải tôn trọng, hoạt động theo sự điều hành của các bạn trong BCS lớp”.

    Việc bầu chọn BCS lớp được tiến hành trong tiết SHCN của tuần thứ nhất hoặc tuần thứ hai đầu năm học.

    Trước khi bầu, GVCN thông qua tiêu chuẩn của các chức danh được bầu.

    Ví dụ: tiêu chuẩn của lớp trưởng: Học lực từ khá trở lên, hạnh kiểm tốt, năng động, nhiệt tình, có khả năng tổ chức, có uy tín với bạn trong lớp

    Tiêu chuẩn của lớp phó học tập: học lực giỏi, nhiệt tình giúp đỡ bạn, tính tình hòa đồng,

    Ở các chức danh khác giáo viên cũng đưa ra tiêu chuẩn tương tự.

    Sau khi thông qua tiêu chuẩn các chức danh, GVCN đề cử luôn chức danh lớp trưởng và các lớp phó.

    Ví dụ: Chức danh lớp trưởng: Huỳnh Tuấn Bửu, Trịnh Tú Miên.

    Lớp phó học tập: Ong Kiều Tiên, Huỳnh Tuấn Bửu.

    Lớp phó lao động: Phùng Như Trường, Thạch Vương

    Qua việc nêu tiêu chuẩn và đề cử thì các em học sinh đã định hình được những người mà mình sẽ chọn. Bây giờ cho các em tiến hành ứng cử, đề cử và tiến hành biểu quyết chọn BCS lớp.

    Chọn xong lớp trưởng và các lớp phó, GVCN cho các tổ tự bầu tổ trưởng trên cơ sở tiêu chuẩn đã đưa ra. Khi bầu tổ trưởng giáo viên cũng nên định hướng cho các em.

    Kết quả bầu chọn BCS lớp ở lớp 9A3 như sau:

    Lớp trưởng: Huỳnh Tuấn Bửu

    Lớp phó học tập: Ong Kiều Tiên

    Lớp phó lao động: Mai Hữu Thành

    Lớp phó văn – thể: Lâm Hồng Nguyên

    Thủ quỹ: Lâm Hồng Nguyên

    Tổ trưởng tổ 1: Võ Thị Nhân Ái

    Tổ trưởng tổ 2: Huỳnh Thiếu Lâm

    Tổ trưởng tổ 3: Mai Hữu Thành

    Là một trường học ở vùng khó khăn nên các vấn đề của lớp không nhiều nên tôi chỉ chọn tổ trưởng mà không chọn tổ phó. Thiết nghĩ đó cũng là điều hợp lí.

    Qua quá trình hoạt động của lớp, tôi thấy rằng BCS làm việc hiệu quả, được các thành viên trong lớp tôn trọng. Chính điều này là nhân tố tích cực giúp lớp tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ và luôn nằm trong tốp 5 lớp dẫn đầu về thi đua giữa các lớp.

    c, Phân công nhiệm vụ cho BCS lớp.

    BCS lớp là đại diện cho lớp, chịu trách nhiệm trước GVCN về toàn bộ hoạt động học tập, rèn luyện của lớp trong thời gian học. BCS lớp do tập thể lớp bầu ra, được GVCN quyết định công nhận. Nhiệm kì của BCS lớp là một năm.

    — Cơ cấu của BCS lớp gồm: 1 lớp trưởng

    3 lớp phó

    1 thủ quỹ

    3 tổ trưởng

    Ngoài ra còn có 2 cờ đỏ (1 cờ đỏ nội, 1 cờ đỏ ngoại), có BCH liên đội gồm: 1 chi đội trưởng, 1 chi đội phó và 1 ủy viên.

    — Nhiệm vụ của lớp trưởng:

    Là người chịu sự điều hành, quản lí trực tiếp của GVCN. Lớp trưởng là người điều hành, quản lí toàn bộ các hoạt động của lớp và từng thành viên trong lớp. Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ và nghiêm chỉnh nội quy của trường, quy định của lớp. Thực hiện nề nếp tự quản trong lớp.

    Lớp trưởng là người thay mặt GVCN quản lí lớp, kịp thời nắm bắt thông tin của lớp, báo cáo cho giáo viên chủ nhiệm.

    Cuối tuần, trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm, lớp trưởng tổng kết, đưa ra đánh giá, nhận xét về quá trình hoạt động của lớp. Trên cơ sở báo cáo của tổ trưởng, lớp trưởng xếp loại hạnh kiểm c

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Để Làm Tốt Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 2
  • Những Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Thẻ Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Luận Văn Rủi Ro Lãi Suất Trong Hoạt Động Kinh Doanh Ngân Hàng
  • Hãy Nêu Một Số Biện Pháp Phòng Chống Thiên Tai Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Biện Pháp Thi Công Ốp Lát Nền
  • Đánh Giá Và Đề Xuất Các Biện Pháp Giảm Thiểu Khí Nhà Kính Của Ngành Gia Công Kim Loại Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Một Số Phương Pháp Cách Âm Hiệu Quả
  • Làm Phòng Cách Âm Chống Ồn Từ Đơn Giản Đến Phức Tạp
  • Các Biện Pháp Cách Âm Cho Phòng Karaoke Hiệu Quả Mà Tiết Kiệm Chi Phí?
  • Biện Pháp Cách Âm Và Hạn Chế Tiếng Ồn Nơi Làm Việc
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam Chi Nhánh Cầu Giấy
  • MỤC LỤC

    DANH MỤC BẢNG

    DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ

    1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2

    1.3 Tình hình nghiên cứu khí thải nhà kính trong và ngoài nước 8

    1.4 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 10

    1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 11

    1.7 Ý nghĩa của đề tài 22

    CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT

    THẢI KHÍ NHÀ KÍNH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP NÓI CHUNG 24

    2.1 Tổng quan về hiệu ứng nhà kính 24

    2.1.1Khái niệm về hiệu ứng nhà kính 24

    2.1.2 Nguồn gây phát thải khí nhà kính 24

    2.2Hiện trạng phát thải KNK của một số quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam 27

    3.1.1 Quy mô sản xuất công nghiệp tại chúng tôi 39

    3.2 Giới thiệu về ngành sản xuất kim loại tại chúng tôi 43

    3.5.2 Các nguồn ô nhiễm phát sinh trong quá trình sản xuất 57

    Thu thập số liệu về CTR của ba công ty 61

    3.5.3 Việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất kim loại tại

    TP.HCM 61

    CHƯƠNG 4: TÍNH TOÁN LƯỢNG PHÁT THẢI KNK TẠI CÁC CƠ SỞ SẢN

    XUẤT KIM LOẠI TRÊN ĐỊA BÀN chúng tôi 62

    4.2.1 Tính toán phát thải KNK cho Công Ty Liên Doanh Wu Feng 64

    5.2 Đề xuất các biện pháp giảm thiểu phát thải KNK từ hoạt động sản xuất kim loại tại

    TP.HCM 87

    5.2.1 Biện pháp quản lý 88

    TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

    PHỤ LỤC A 102

    i

    DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

    BOD Nhu cầu oxy sinh hoá Biochemical oxygen Demand

    CDM Cơ chế phát triển sạch Clean Development Mechanism

    CTR Chất thải rắn

    DO Dầu diesel Diesel Oil

    EPA Cơ quan bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ United States Environmental

    Protection Agency

    IEA Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế International Energy Agency

    INEST Viện Khoa học và Công nghệ Môi

    trường

    Institute for Environmental

    Science and Technology

    IPCC Ủy ban Liên Chính Phủ về biến

    đổi khí hậu

    Intergovernmental Panel on

    Climate Change

    QCVN quy chuẩn Việt Nam

    KNK Khí nhà kính

    SXSH Sản xuất sạch hơn

    TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

    TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

    ii

    DANH MỤC BẢNG

    Bảng 1.2: các thông số cần tính toán

    Bảng 1.3: bảng tra hệ số phát thải mặc định của các loại nhiên liệu

    Bảng 1.4: tỷ trọng và nhiệt trị của nhiên liệu

    Bảng 1.5: bảng tra khu vực sản xuất và theo thu nhập khu dân cư

    Bảng 1.6: bảng tra hệ thống xử lý nước thải

    Bảng 1.7: bảng tải lượng ô nhiễm của các nước trên thế giới

    Bảng 1.8: bảng lựa chọn phương pháp xử lý cho nước thải sản xuất

    Bảng 2.1: số liệu phát thải các khí nhà kính từ năm 1996-2007, liệt kê theo sáu loại khí

    Bảng 2.2: phát thải khí CO

    = năng lượng tiêu thụ * hệ số phát thải nhiên liệu (1.4)

    Trong đó:

    EN

    2

    O

    : lượng phát thải CH

    4

    (kg)

    Lượng nhiên liệu tiêu thụ: (TJ)

    Hệ số phát thải măc định của nhiên liệu: (kg/TJ), tra bảng 1.3

    Bảng 1.3: bảng tra hệ số phát thải mặc định của các loại nhiên liệu (tấn/TJ)

    Nhiên liệu Hệ số phát thải (tấn/TJ)

    CO

    2

    CH

    4

    N

    2

    O

    Khí gas 56,1 0,001 0,0001

    Dầu DO 74,1 0,003 0,0006

    Dầu FO 77,4 0,003 0,0006

    Than đá 94,6 0,01 0,0015

    Than củi 112,0 0,20 0,004

    Củi, mùn cưa 112,0 0,20 0,004

    Nguồn: Tập 2, chương 2, IPCC 2006

    Công thức tính năng lượng tiêu thụ (TJ)

    Năng lượng tiêu thụ = q * m / 10

    3

    (1.5)

    Trong đó:

    q: Nhiệt trị của nhiên liệu (GJ/tấn)

    m: Khối lượng nhiên liệu (tấn)

    TJ =10

    3

    GJ

    16

    Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại

    thành phố Hồ Chí Minh

    Bảng 1.4: Tỷ trọng và nhiệt trị của nhiên liệu

    Loại nhiên liệu Tỉ trọng Nhiệt trị (TJ/Gg) (GJ/tấn)

    Xăng 0,7407(kg/lit) 44,75

    Gas 0,545 (kg/lit) 48,0

    Dầu DO 0,86 (kg/lit) 43,0

    Dầu FO 0,97(kg/lit) 40,4

    Than đá – 28,2

    Than củi – 29,5

    Củi đốt 550 (kg/m

    3

    ) 15,6

    Mùn cưa 210 (kg/m

    3

    ) 17

    Nguồn: Bảng 1.2 Chương 2, tập 2, IPCC 2006

     Phương pháp tính tải lượng phát thải từ nước thải

    Tải lượng phát thải KNK từ nước thải

    E

    NT

    = ENT

    SH

    + ENT

    SX

    (1.6)

    ENT

    SH

    : Tải lượng phát thải khí CO

    2

    tương đương từ quá trình xử lý nước thải sinh

    hoạt (kg)

    ENT

    SX

    : Tải lượng phát thải khí CO

    2

    tương đương từ quá trình xử lý nước thải sane

    xuất (kg)

    Tính tải lượng phát thải khí CO

    2

    tương đương từ quá trình xử lý nước thải

    ENT

    SH

    = 25ECH

    4SH

    + 298EN

    2

    O

    SH

    ( 1.7)

    Trong đó:

    ECH

    4SH

    : Tải lượng phát thải khí CH

    4

    từ quá trình xử lý nước thải sinh hoạt (kg

    CH

    4

    /năm)

    EN

    2

    O

    SH

    : Tải lượng phát thải khí N

    2

    O từ quá trình xử lý nước thải sinh hoạt (kg

    N

    2

    O /năm)

    17

    Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại

    thành phố Hồ Chí Minh

     Phương pháp tính phát thải KNK cho nước thải sinh hoạt

    Công thức tính phát thải CH

    4

    có trong nước thải sinh hoạt

    ECH

    4SH

    = (U

    I

    *T

    IJ

    *EFCH

    4

    ) (TOW CH

    4

    – S)- R (1.8)

    Nguồn: IPCC, công thức 6.1, tập 5, chương 6

    Trong đó:

    E

    CH4SH

    : tải lượng CH

    4

    có trong nước thải sinh hoạt, kg CH

    4

    /năm

    TOW: tổng lượng hữu cơ có trong nước thải kgBOD/năm

    S: bùn tuần hoàn trong hệ thống sử lý nước thải kgBOD/năm

    U

    i

    : nhóm thu nhập xét theo khu dân cư, tra bảng 1.5

    T

    ij

    : mức độ xử lý cho từng hệ thống xử lý nước thải, tra bảng 1.5

    i: nhóm nông thôn, thành thị thu nhập thấp, thành thị có thu nhập cao

    j: kiểu xả thải của hệ thống

    EF

    j

    : hệ số phát thải CH

    4

    trong nước thải sinh hoạt, kg CH

    4

    /kgBOD

    R: số lượng CH

    4

    tuần hoàn trong năm, kg CH

    4

    /năm

    18

    Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại

    thành phố Hồ Chí Minh

    Bảng 1.5: bảng tra khu vực sản xuất và theo thu nhập khu dân cư

    Quốc

    gia

    Khu vực sản

    (U

    i

    )

    Thành thị có thu

    nhập cao (T

    ij

    )

    Thành thị có thu

    nhập thấp (T

    ij

    )

    Nông

    thôn

    ĐT thu

    nhập

    cao

    ĐT thu

    nhập

    thấp

    Bể tự

    hoại

    Hố xí Khác

    Bể tự

    hoại

    Hố xí Khác

    Trung

    Quốc

    0,59 0,12 0,29 0,00 0,47 0,5 0,14 0,10 0,03

    Ấn

    Độ

    0,71 0,06 0,23 0,00 0,47 0,1 0,14 0,10 0,03

    Indon

    esia

    0,54 0,12 0,34 0,00 0,47 0,00 0,14 0,10 0,03

    Pakist

    an

    0,65 0,07 0,28 0,00 0,47 0,00 0,14 0,10 0,03

    Nguồn: IPCC, tập 5, chương 6

    Công thức tính hệ số phát thải CH

    4

    trong nước thải sinh hoạt

    E

    fj

    = B

    o

    * MCF

    j

    (1.9)

    Nguồn: IPCC, công thức 6.2, tập 5, chương 6

    E

    fj

    : hệ số phát thải của nhà máy kg CH

    4

    /kgBOD

    j: loại kiểu xả

    B

    o

    : CH

    4

    được sinh ra tối đa trong hệ thống là 0,6 kgCH

    4

    /kgBOD

    MCF

    j

    : định mức CH

    4

    sinh ra, tra bảng 1.6

    19

    Đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính của ngành gia công kim loại tại

    thành phố Hồ Chí Minh

    Bảng 1.6: bảng tra hệ thống xử lý nước thải

    Hệ thống xử lý Biện pháp quản lý MCF Mức thay đổi

    Nhà máy xử lý tập trung Được quản lý đúng chuẩn 0 0- 1

    Hệ thống bùn kỵ khí CH

    4

    không tuần hoàn 0,8 0,8- 10

    Bể tự hoại Một nửa BOD lắng lại 0,5 0,5

    Nguồn: IPCC, tập 5, chương 6

    Tính toán tổng hàm lượng hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt

    TOW= P* BOD* 0,001* I* 365 (1.10)

    Nguồn: IPCC, công thức 6.3, tập 5, chương 6

    TOW: tổng hàm lượng hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt, kgBOD/năm

    P: số lượng công nhân trong công ty trong năm đó (người)

    BOD: tải lượng BOD của một người trong năm, g/người/ngày, tra bảng 1.7

    0,001: quy đổi từ gam BOD sang kg BOD

    I: hệ số hiệu chỉnh BOD chọn từ 1- 1,2

    365: số ngày làm việc thức tế của công ty trong năm (ngày)

    Bảng 1.7: bảng tải lượng ô nhiễm của các nước trên thế giới

    Quốc gia Tải lượng ô nhiễm BOD (g/người/ngày)

    Châu Á, Mỹ Latinh 40

    Nhật Bản 42

    Đức

    62

    Nguồn: IPCC, tập 5, chương 6

     Công thức tính phát thải N

    2

    O có trong nước thải sinh hoạt

    EN

    2

    O

    SH

    = N

    hữu cơ

    * 0,005 * 44 / 28 (1.11)

    Nguồn: IPCC, tập 5, chương 6

    Trong đó:

    EN

    2

    O

    SH

    : Tải lượng phát thải khí N

    2

    O từ quá trình xử lý nước thải sinh hoạt (kg

    N

    2

    O/năm)

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Đoàn Adm Thúc Đẩy Các Cam Kết Bền Vững Về Giảm Thiểu Khí Thải Nhà Kính Và Năng Lượng Tiêu Thụ
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giảm Tỉ Lệ Suy Dinh Dưỡng Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Tài Liệu Skkn Một Số Biện Pháp Giảm Tỉ Lệ Suy Dinh Dưỡng Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống, Cải Thiện Tình Trạng Suy Dinh Dưỡng Và Thừa Cân Béo Phì Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • Chế Độ Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân
  • Một Số Biện Pháp Để Giảm Tỷ Lệ Trẻ Suy Dinh Dưỡng Ở Các Lớp Bán Trú

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân
  • Một Số Lưu Ý Khi Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân, Béo Phì
  • Suy Dinh Dưỡng Và Thừa Cân, Béo Phì Ở Trẻ Mầm Non
  • Chế Độ Chăm Sóc Trẻ Thừa Cân
  • Một Số Biện Pháp Phòng Chống, Cải Thiện Tình Trạng Suy Dinh Dưỡng Và Thừa Cân Béo Phì Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non
  • TRƯỜNG

    Đề Tài: Một số biện pháp để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở các lớp bán trú

    Giáo viên :

    Đơn Vị :

    Năm Học: –

    Tên đề tài:

    1

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢM TỶ LỆ TRẺ SUY DINH

    DƯỠNG Ở CÁC LỚP BÁN TRÚ

    Họ và tên tác giả:

    Chức vụ:

    I. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến kinh nghiệm:

    Trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào và dưới mọi chế độ xã hội thì việc đào tạo

    con người cũng đều vô cùng quan trọng, đặc biệt là việc chăm sóc, giáo dục khi

    còn nhỏ, bởi vì trẻ em là tài sản và là công dân tương lai của đất nước, những con

    người sau này sẽ kế tục sự nghiệp của cha ông.

    Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là:”Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho

    đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

    căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta trong Di chúc của Người.

    Đảng ta đã chỉ rõ:”Các em thiếu niên, nhi đồng ngày nay sẽ là lớp người

    xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa và chủ nghĩa Cộng sản sau này. Quan tâm đến thiếu

    niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới không

    những phục vụ cho sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay mà còn chính là cho sự

    nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản sau này”.

    Đất nước ta đang hội nhập thực hiện CNH – HĐH, nguồn nhân lực là chiến

    lược quan trọng mà Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Làm thế nào để tạo nên

    một thế hệ tương lai: khỏe mạnh, thông minh, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối.

    Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tốt trẻ em là chuẩn bị một nguồn lực bổ sung liên

    tục, lực lượng lao động mới có phẩm chất, năng lực, trình độ và thể lực ngày càng

    cao hơn phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước.

    Từ 0 – 5 tuổi là thời kỳ hoàn chỉnh hệ thống thần kinh trung ương và vỏ

    não, quyết định năng lực trí tuệ tương lai của trẻ. Dinh dưỡng hợp lý, chăm sóc

    giáo dục có khoa học sẽ tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển và trưởng thành, góp

    2

    phần quan trọng trong việc tạo ra một thế hệ mầm non khỏe mạnh, thông minh

    xây dựng đất nước trong tương lai. Đây là trách nhiệm cao cả mà toàn xã hội, gia

    đình, giáo viên mầm non đặc biệt là cán bộ quản lý trường mầm non, mẫu giáo

    phải thực hiện tốt.

    Trong nhiều năm quản lý đơn vị, tôi nhận thấy hiện nay cùng với kinh tế

    địa phương phát triển, bậc học mầm non cũng phát triển theo, chất lượng chăm

    sóc và giáo dục trẻ được nâng dần, các lớp bán trú được hình thành tuy nhiên số

    trẻ học mẫu giáo vẫn còn bị suy dinh dưỡng khoảng 10%. Đây là điều làm tôi băn

    khoăn, suy nghĩ làm thế nào giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong trường tiến đến

    xóa tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ khi đạt trường chuẩn quốc gia vào năm

    2015.

    Hình ảnh những cháu khỏe mạnh, tích cực trong học tập, hồn nhiên tung

    tăng vui đùa trong giờ chơi, tự tin khi trả lời hoặc đặt câu hỏi để hỏi cô giáo về

    những hiện tượng, sự vật xung quanh thôi thúc tôi phải phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ

    suy dinh dưỡng trong đơn vị mà trước tiên là giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở các

    lớp bán trú. Tôi đã chọn: “Một số biện pháp để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở

    các lớp bán trú” thực hiện trong năm học 2011 – 2012.

    II/ Quá trình thực hiện và các giải pháp :

    Theo kế hoạch khi thực hiện “Một số biện pháp để giảm tỷ lệ trẻ suy dinh

    dưỡng ở các lớp bán trú” tôi cần phải thực hiện các bước sau:

    – Cần có đội ngũ giáo viên, cấp dưỡng nhiệt tình, yêu nghề, có năng lực,

    kiến thức trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ.

    – Làm tốt công tác vận động, tuyên truyền về dinh dưỡng.

    – Thực hiện tốt việc chăm sóc (nuôi) và dạy trẻ.

    – Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục.

    – Quản lý chặt chẽ công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong đơn vị.

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng Lạm Phát Ở Việt Nam Giai Đoạn 1989 Đến Nay Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • Luận Văn Tiểu Luận Thực Trạng Và Một Số Biện Pháp Hạn Chế Lạm Phát Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Khả Thi Với Mục Tiêu Lạm Phát Năm 2021 Khoảng Mức 4%
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Phương Pháp Mới Giảm Thiểu Khí Co2 Hỗ Trợ Sản Xuất Đất Hiếm
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50