Top 10 # Biện Pháp Tu Từ So Sánh Lớp 3 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Biện Pháp Tu Từ So Sánh

Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

Biện pháp tu từ so sánh

Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Ví dụ :

– Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

(Đoàn Giỏi)

– Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

(Nguyễn Du)

– Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

(Tô Hoài)

2. Cấu tạo của phép so sánh

So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

– Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

– Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

– Từ so sánh.

– Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

Ta có sơ đồ sau đây :

Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

+ Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

+ Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

– Như có sắc thái giả định.

– Là có sắc thái khẳng định.

-Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

+ Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

(Tế Hanh)

3. Các kiểu so sánh

Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

a) So sánh ngang bằng

Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

(Tố Hữu)

b) So sánh hơn kém

Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

(Tục ngữ)

Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

– Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

4. Tác dụng của so sánh

+ So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

(Ca dao)

+ So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

(Trần Đăng Khoa)

Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

II. – BÀI TẬP 1.

Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

“Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

(Đoàn Giỏi)

2. Trong câu ca dao :

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

– Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

– Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

(Ca dao)

Skkn Dạy Biện Pháp So Sánh Lớp 3

MỘT VÀI KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌCBIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH Ở LỚP 3

PHẦN MỘT: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I. Cơ sở lý luậnVới phương châm coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, tại đại hội Đảng lần thứ IX một lần nữa nhấn mạnh: “…Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá – hiện đại hoá – xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh… đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn”. Mục tiêu của cấp Tiểu học là giáo dục phổ cập cho trẻ em từ 6 đến 11 – 12 tuổi phát triển toàn diện về trí tuệ, tình cảm và sức khoẻ. Chính vì vậy mỗi môn học trong trường Tiểu học đều có một mục tiêu riêng và chính những mục tiêu riêng ấy hợp lại thành mục tiêu chung của cấp học.Trước những yêu cầu thực tế đó, chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường tiểu học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Thể dục,Môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm rèn cho học sinh 4 kỹ năng: “Nghe – nói- đọc – viết” là một môn học gồm nhiều phân môn. Ở mỗi phân môn cụ thể có nội dung phương pháp cách thức dạy học khác nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau theo một lôgíc nhất định. Những kỹ năng của phân môn này hỗ trợ cho phân môn khác nhằm đạt mục tiêu của môn Tiếng Việt.Phân môn luyện từ và câu lớp 3 nhằm mở rộng vốn từ theo chủ điểm, củng cố hiểu biết về các kiểu câu và thành phần câu đã học ở lớp 2. Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh và nhân hoá thông qua các bài tập thực hành. Việc nhận biết biện pháp tu từ so sánh và bước đầu sử dụng vào việc dùng từ đặt câu là một trong những nội dung yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3. Cơ sở ban đầu của việc dạy biện pháp tu từ so sánh được bắt đầu từ việc: tìm các từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm của sự vật trong câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ; tìm những sự vật hay hoạt động, đặc điểm của sự vật được so sánh với nhau. Từ đó học sinh nhận biết được hình ảnh so sánh, dấu hiệu của sự so sánh và các kiểu so sánh. Thông qua các bài tập thực hành, học sinh sẽ nhận biết được: hình ảnh so sánh; các kiểu so sánh; các sự vật hay các đặc điểm, âm thanh, hoạt động của sự vật được so sánh với nhau; các từ chỉ sự so sánh (dấu hiệu so sánh). Từ đó giúp các em vận dụng vào việc nói, viết để đặt câu có hình ảnh so sánh; viết tiếp vào chỗ trống để tạo thành hình ảnh so sánh; chỉ ra được các hình ảnh so sánh mình thích và giải thích đơn giản vì sao mình thích hình ảnh đó. Đây chính là cơ sở ban đầu, là công cụ để giúp các em viết văn miêu tả, kể chuyện… và học tiếp lên các lớp trên.

II. Cơ sở thực tiễn. Thông qua quá trình dạy học, qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở trường, ở huyện; đặc biệt là qua việc chấm các bài kiểm tra định kỳ của học sinh, tôi thấy:* Về phía giáo viên:– Việc nắm nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, mức độ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cũng như kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên còn hạn chế. Một số giáo viên qua quá trình dạy chưa thực sự lấy học sinh làm trung tâm, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh dẫn đến chất lượng giảng dạy của thầy và việc tiếp thu bài của trò chưa cao.– Bên cạnh đó khi giảng dạy giáo viên chưa gây hứng thú học tập cho học sinh đối với tiết học. Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, tẻ nhạt, dạy học một cách máy móc khuôn mẫu, sáo mòn. Khi dạy học trên lớp nhiều giáo viên chủ yếu dựa vào sách giáo viên mà không có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy. – Mặt khác do sự thiếu thốn về cơ sở vật chất cũng như phương tiện dạy học khiến giáo viên chưa có điều kiện để đa dạng hoá các phương pháp dạy học. * Về phía học sinh:– Bản thân các em chưa có niềm say mê, hứng thú với môn học.– Trong dạng bài tập

De Tai ” Biện Pháp Tu Từ So Sánh

Tên đề tàiPhuong phỏp d?y h?c “Bi?n phỏp tu t? so sỏnh” cho h?c sinh l?p 6 theo hu?ng tớch h?p v tớch c?c.

Các biện pháp tu từ nói chung và tu từ so sánh nói riêng là một nội dung tri thức chuyên sâu mang tính chất sáng tạo, phục vụ trực tiếp và đắc lực cho việc học văn. Văn học là nghệ thuật ngôn từ, văn là học sự phát hiện và rung cảm với cái hay, cái đẹp của hình tượng nghệ thuật. Sự phát hiện và rung cảm này bắt đầu bằng ngôn từ và thông qua ngôn từ. Do đó văn học và Tiếng Việt có mối quan hệ khăng khít với nhau. Dạy Tiếng Việt vừa để làm công cụ tư duy giao tiếp vừa cung cấp tri thức chuyên sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ phục vụ cho việc cảm thụ, lý giải và bình giá đúng đắn, tinh tế, sâu sắc các giá trị nghệ thuật.

Qua đó, học sinh học Tiếng Việt được vững chắc hơn và hiệu quả hơn khi học văn. Đúng như lời khẳng định của GS-TS. Lê A trong cuốn “phương pháp dạy học Tiếng Việt” – NXB GD-2001-trang 10: “kết hợp hài hoà giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao cho hai môn Văn và Tiếng Việt”. Trên tinh thần này, tổ chức dạy tốt biện pháp tu từ so sánh sẽ góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn chương và năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách sinh động, giàu hình ảnh trong giao tiếp cho học sinh. Xuất phát từ lí do trên tôi xin mạnh dạn trình bày một vài ý kiến xem như là ý kiến của bản thân đã trải qua thực nghiệm giảng dạy về dạy học biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực. Mong góp phần bé nhhỏ của mình vào việc đổi mới PPDH Ngữ văn nói chung và dạy học phần tu từ về từ nói riêng theo hướng tích hợp và tích cực trong nhà trường phổ thông đầu thế kỉ XXI khi mà “giáo dục là chìa khoá mở cửa tiến vào tương lai”. (Đỗ Mười).

II – Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học theo hướng tích hợp tích cực. Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đai đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng từ lâu và có hiệu quả lớn. Vận dụng dạy học ở Việt Nam, tích hợp bước đầu được hiểu là: Phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình dạy học riêng rẽ, các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau. Chương trình môn Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là làm sao kết hợp được thật tốt việc hinhd thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học với việc hình thành bốn kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết (hiểu theo nghĩa rộng) vốn là hai quá trình gắn bó hữu cơ và hỗ trợ nhau hết sức đắc lực. Việc cải tiến chương trình Ngữ Văn theo hướng tích hợp có ssự vận dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới nhưng trước hết xuất phát từ thực tiễn giáo dục của Việt Nam. Trên 2o năm qua, việc tách môn Văn thành ba phần môn đã dem lại một số kinh nghiệm nhất định nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế không nhỏ, nhất là bậc THCS. Nên việc tích hợp này là cần thiết và đáp ứng yêu cầu phát triển toàn xã hội. Dạy học biện pháp tu từ phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn lớp 6 theo hướng tích hợp và tích cực giáo viên cần khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi để đạt hiệu quả cao. Còn xét về thực trạng hiện nay: chương trình SGK Ngữ văn lớp 6 đac rõ ràng cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp và tích cực. Về thời lượng cho từng bài còn phải bàn thêm cho thật cân đối và hợp lý với chương trình và phù hợp với hoàn cảnh đa diện của học sinh. Đặcc biệt là các biện pháp tu từ về từ cần chú ý thêm về thời lượng và cách thực hành tạo lập trong nói và viết cho học sinh .

Thực trạng đội ngũ giáo viên Ngữ văn hiện nay ở THCS về số lượng, chất lượng khiến chúng ta không khỏi băn khoăn suy nghĩ. Trong một số nhà trường THCS còn song song tồn tại giáo viên ở nhiều hệ đào tạo khác nhau. Vì vậy, việc giảng dạy không đồng đều, ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách học tập của học sinh và chất lượng chung. Hiện nay có hai thái cực trái ngược nhau: Những giáo viên có tâm huyết đã đi sâu tìm tòi và thực thi dạy theo hướng tích hợp và tích cực đã có kết quả bước đầu. Một só giáo viên vẫn dạy học theo thói quen cũ: Giáo viên chạy theo chương trình, tách rời chuyên môn, lo truyền thụ kiến thức bằng loói thuyêts trình hoặc chứng minh cho các khái niệm. Học sinh chir có một nhiệm vụ ghi chép thụ động để về học thuộc, làm bài tập đối phó qua loa.

So sánh tu từ bộc lộ phong cách sáng tạo của tác giả: mỗi nhà văn có tư duy nghệ thuật riêng, thế giới nghệ thuật riêng, phương thức diễn đạt riêng tạo nên phong cách tác giả. Dựa trên vốn từ vựng Tiếng Việt, nha văn cho mình vốn từ riêng mang đậm dấu ấn cá nhân. So sánh tu từ cũng nằm trong quy luật ấy. ở mỗi tác giả, hình ảnh đưa ra làm chuẩn so sánh đều mang tính điển hình. Qua so sánh tu từ, người ta có thể nhận ra những nét riêng thuộc về người sử dụng. Có tác giả ưa dùng so sánh tu từ mang tính phát hiện của trí tuệ. Có tác giả ưa sự mộc mạc, chân chất, chính xác mà vẫn tràn đầy cảm xúc yêu thương. Chẳng hạn: Trong thơ Tố Hữu, so sánh tu từ thường là những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên như: Trái đất, trường sơn, biển cả, núi sông . khắc hoạ lên vóc dáng to lớn, đẹp đẽ, giàu sức sống, khí thế cao cả mạnh mẽ và tấm lòng thuỷ chung trong sáng của con người. “Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa Chỉ biết quên mình cho hết thảy Như dòng sông chảy nặng phù sa”. Còn đây là so sánh nghệ thuật của Chế Lan Viên với những hình ảnh giàu nhận thức lý trí: “Tây Bắc ư, có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?” Một so sánh đẹp là so sánh phát hiện. Phát hiện những gì người thường không nhận ra, không nhìn thấy. Cả hai tác giả, với sự sáng tạo riêng đã xây dựng những hình tượng thẫm mỹ bằng phương thức so sánh nghệ thuật. Hai cách so sánh đều có nhưng nét độc đáo riêng, đặc sắc và thể hiện phong cách mỗi tác giả.

Học sinh lấy một ví dụ bất kỳ. Chẳng hạn: “Ngôi nhà như trẻ nhỏ Lớn lên với trời xanh” (Đồng Xuân Lan). Giáo viên có thể tiến hành bước 1 sau khi kiểm tra bài cũ của học sinh, để chuyển tiếp vào bài mới với việc hình thành khái niệm.Bước 2: Giúp học sinh phân tích các nét đặc trưng cơ bản của khái niệm so sánh. Để thực hiện công việc này có thể sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để hình thành khái niệm so sánh.Ví dụ: Khi hình thành khái niệm so sánh, giáo viên yêu cầu học sinh: Tìm so sánh trong các ngữ liệu đã cho? chỉ ra cơ sở để có thể so sánh như vậy? So sánh như thế nhằm mục đích gì? So sánh với ví dụ khác cũng sử dụng phép so sánh? Rút ra kết luận về so sánh?

Em hãy trả lời các câu hỏi và làm bài tập sau đây: Có mấy kiểu so sánh thường gặp? Em hãy cho ví dụ và chỉ rõ từng kiểu so sánh đó?2. Chỉ rõ và phân tích giá trị tu từ của phép so sánh được sử dụng trong đoạn văn sau: “Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quoai hàm bạnh ra, cặp mắt nẩy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Dượng Hương Thư vượt thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”. (Trích “Quê nội”- Võ Quảng)3. Em hãy viết một đoạn văn trong đó sử dụng cả hai kiểu so sánh đã học?* Phiếu 3: Họ và tên: ……… Lớp: ………. Trường: ………. Mong em vui lòng điền dấu (X) mỗi ý kiến mà em đồng ý: Hoạt động nhóm trong giờ học Tiếng Việt khi học các biện pháp tu từ giúp em:A. Tạo thêm nhiều hứng thú trong học tập ( ).B. Tiếp thu bài dễ dàng, củng cố và khắc sâu kiến thức tốt ( ).C. Thực hiện đúng và nhanh các nhiệm vụ giao tiếp ( ).* Phiếu 4 Họ và tên: ……… Lớp: ………. Trường: ………. Việc phân tích, đánh giá giá trị tu từ so sánh giúp em: A. Nhận diện nhanh, chính xác phép tu từ so sánh ( ). B. Phân tích và đánh giá được giá trị tu từ của phép tu từ so sánh ( ). C. Mong muốn được nói, viết các câu, đoạn sử dụng phép so sánh ( ). Em hãy đánh dấu (X) vào mỗi ý kiến em đồng ý.C. Kết luận: Đổi mới PP nhằm nâng cao chất lượng day và học là một nhiệm vụ quan trọng của ngành GD hiện nay.Vận dụng PPDH theo hướng tích hợp và tích cực vào việc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 6 chính là thực hiện đổi mới về PPDH trong nội dung một bài cụ thể. Thực hiện PPDH các biện pháp tu từ về phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ vâưn 6 theo hướng tích hợp và tích cực ngoài việc dựa trên những cơ sở lí luận còn cần quan tâm đến mối quan hệ hữu cơ giữa PPDH với mục tiêu, nội dung dạy học và PPDH là một thành tố của quá trình dạy học.

Đổi mới PPDH theo hướng tích cực và tích hợp là một quá trình lâu dài và phải được thực hiện ở tất cả các lớp học, các môn học, các cấp học. Nhưng việc đổi mới có thể thực hiện được ngay đối với GV môn Ngữ văn khi dạy biện pháp tu từ ở phần Tiếng Việt lớp 6 nếu như mỗi GV trong từng tiết học giúp HS hoạt động nhiều hơn, nhất là được suy nghĩ và giao tiếp nhiều hơn. Khi đó,lớp học qua nhiều cách học khác nhau sẽ là nơi biến quá trình học thành niềm vui thích với nhiều “sản phẩm” sáng tạo của GV và HS. Và chắc chắn HS sẽ tự tin để tham gia vào các hoạt động học tập và giao tiếpcộng đồng.Đó cũng là con đường nối liền nhà trường với xã hội.

Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Tiểu học Xuân Lãnh 1, cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho tôi hoàn thành bảng báo cáo thu hoạch này.

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng giáo dục – đào tạo huyện Đồng Xuân, hội đồng khoa học Phòng giáo dục Đồng Xuân đã quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thu hoạch này.

Vì thời gian nghiên cứu có hạn và trình độ của bản thân chưa cao nên bảng báo cáo thu hoạch của tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Mong hội đồng khoa học các cấp cùng các bạn đồng nghiệp chân thành góp ý cho bảng báo cáo thu hoạch của tôi được tốt hơn.

LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Tiểu học Xuân Lãnh 1, cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 đã tạo điều kiện và giúp đỡ cho tôi hoàn thành bảng báo cáo thu hoạch này. Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng giáo dục - đào tạo huyện Đồng Xuân, hội đồng khoa học Phòng giáo dục Đồng Xuân đã quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thu hoạch này. Vì thời gian nghiên cứu có hạn và trình độ của bản thân chưa cao nên bảng báo cáo thu hoạch của tôi chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Mong hội đồng khoa học các cấp cùng các bạn đồng nghiệp chân thành góp ý cho bảng báo cáo thu hoạch của tôi được tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC Phần mở đầu: 1. Lý do chọn đề tài...trang 3 2. Mục đích nghiên cứu trang 3 3. Đố tượng nghiên cứu trang 4 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bản thu hoạch trang 4 Phần nội dung: Chương I: 1.1 Cơ sở lý luận ...trang 5 1.2 Các dạng bài tập về biện pháp tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3..trang 5 1.3 Các phương pháp dạy học chủ yếu..trang 5 Chương II: 2.1 Thực trạng ...trang 6 2.1.1 Về sách giáo khoa trang 6 2.1.2 Về sách giáo viên .trang 6 2.1.3 Về phía học sinh ...trang 6 Chương III: 3.1 Nội dung chương trình trang 7 3.2 Những biện pháp cụ thể...trang 7 Chương IV: 4.1 Kết luận ..trang 19 4.2Các ý kiến đề xuất ...trang 19PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Mặt khác, so sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm. Có ai sinh ra mà không biết rằng: "Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Chỉ cần sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong câu ca dao trên , tâm tư tình cảm của con người sẽ được bộc lộ một cách kín đáo và tế nhị. Nó gởi gắm vào đó cả một niềm tâm sự thầm kín .Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ cũng đã sử dụng Biện pháp so sánh tương đồng để viết : " Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng . Tạo hoá cho họ những quyền mà không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống , quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Như vậy đối với tác phẩm văn học nói chung, so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm. Nhờ những hình ảnh bóng bẩy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi. So sánh tu từ giúp các em hiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh. Biện pháp nghệ thuật so sánh đã chính thức đưa vào phân môn Luyên từ và câu lớp 3. Điều đó cũng khẳng định vai trò trách nhiệm của mỗi giáo viên trong việc hình thành cho học sinh kĩ năng nhận biết và sử dụng. Giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện để học sinh phát triển một cách toàn diện đồng thời giúp giáo viên có được các phương pháp rèn luyện học sinh về kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Đó chính là mục đích của đề tài này. 2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Tìm hiểu nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để giúp học sinh lớp 3 học tốt biện pháp nghệ thuật so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. Bước đầu giúp học sinh biết cảm thụ những cái hay trong thơ ca và qua đó bồi đắp tình yêu tiếng Việt cho các em. Tìm hiẻu những thuận lợi khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy và học biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu môn Tiếng Việt lớp 3 tại trường Tiểu học Xuân Lãnh 1. 3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Tất cả học sinh khối lớp 3 trường Tiểu học Xuân Lãnh 1. - Các phương pháp chỉ đạo của hội đồng khoa học trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 - Tập thể giáo viên trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 4.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA BẢN THU HOẠCH - Tầm quan trọng của biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. - Tìm hiểu các phương pháp dạy học biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. - Nghiên cứu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học cụ thể là học sinh khối lớp 3 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I 1.1CƠ SỞ LÝ LUẬN: Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học.Nếu học tốt bộ môn này các am sẽ viết văn, đặt câu chau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc, biết sàn lọc để dưa hình ảnh hay vào trong bài viết, lời nói. Nhưng tình hình thưc tế của trường tiểu học Xuân Lãnh 1 nói chung và học sinh khối lớp 3 nói riêng: vốn tiếng Việt dùng trong giao tiếp của các em còn hạn chế, khả năng cảm nhận các biện pháp nghệ thuật trong thơ văn chưa cao. Vì vậy khi đặt câu, viết văn hay khi diễn đạt bằng ngôn ngữ chưa hay lắm, lời nói chưa hấp dẫn được người nghe. Nên việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học tôt môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Cụ thể hơn là giúp các em cảm nhận và sử dụng biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 là hết sức cần thiết. 1.2 CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3: Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3 có các dạng bài tập về biện pháp tu từ sau: 1.2.1 Nhận biết biện pháp tu từ: 1.2.2 Bước đầu sử dụng biện pháp tu từ vào việc dùng từ đặt câu 1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU: Để hướng dẫn học sinh lớp 3 làm các bài tập về biện pháp tu từ so sánh, giáo viên thường sử dụng phương pháp dạy học sau: 1.3.1 Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập 1.3.2 Giáo viên giúp học sinh chữa một phần bài tập để làm mẫu 1.3.3 Giáo viên tổ chức cho học sinh làm bài. 1.3.4 Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét , trao đổi về kết quả, rút ra những điểm cần ghi nhớ. Tóm lại để bồi dưỡng học sinh lớp 3 thói quen dùng từ, đặt câu thành thạo, có ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hoá trong giao tiếp, lựa chọn hình ảnh hay vào trong bài viết, lời nói để lôi cuốn người đọc, người nghe. Và sự ham thích học tiếng Việt của em. Thì đòi hỏi người giáo viên phải lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp để giúp các em học tốt hơn biện pháp so sánh tu từ trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3. Đó là cơ sở để tôi chọn đề tài nghiên cứu này. CHƯƠNG II 2.1 TTHỰC TRẠNG: 2.1.1. VỀ SÁCH GIÁO KHOA: 2.1.2. VỀ GIÁO VIÊN: Người giáo viên còn gặp khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt. Đặc biệt với điểm trường Tiểu học Xuân Lãnh1 là một điểm trường miền núi nên những khó khăn nêu trên của giáo viên càng khó khăn hơn. 2.1.3. VỀ PHÍA HỌC SINH: Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế. Vốn kiến thức văn học của học sinh còn nghèo .Một số em chưa có khả năng nhận biết về nghệ thuật, học sinh chỉ mới biết các sự vật một cách cụ thể. Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh tu từ rất khó khăn. Nhất là học sinh trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 ít có điều kiện giao lưu học hỏi , tiếp cận với những tác phẩm văn hoc như: truyện, thơ và những cái hay trong giao tiếp của cộng đồng. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cần hướng dẫn một cách tỉ mỉ, cụ thể, rõ ràng, gần gũi với tư duy thực tế của học sinh. Qua khảo sát chất lượng đầu năm về kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh của học sinh lớp 3A trường Tiểu học Xuân Lãnh 1 năm học 2010 - 2011 tôi đã thu được kết quả như sau: Tổng số học sinh lớp 3A là 30 em: Số học sinh đạt yêu cầu về nhận biết tu từ so sánh : 10/30 học sinh chiếm tỉ lệ 33,3% Số học sinh chưa có kỹ năng nhận biết tu từ so sánh : 15/30 học sinh chiếm tỉ lệ 50% Số học sinh không nhận biết tu từ so sánh: 5/30 học sinh chiếm tỉ lệ 16,7% Đây là một thực trạng mà đòi hỏi người giáo viên phải hết sức nổ lực trong việc lựa chọn phương pháp dạy học để thoát khỏi thực trạng này. CHƯƠNG III 3.1 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH: Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các hướng nghiên cứu biện pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" của chương trình SGK lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy. Kiến thức về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài ở các tuần: Tuần 1,3,5,7, 10,12,15 và tuần ôn tâp 18. 3.2 NHỮNG BIỆN PHÁP CỤ THỂ: 3.2.1 Dạy đúng quy trình : Để học sinh học tốt dạng bài tu từ so sánh . Bất cứ một bài tập nào, GV cần làm theo các yêu cầu sau: - Đọc kỹ đề bài - Xác định đúng yêu cầu của bài - Phân tích yêu cầu của bài - Học sinh làm bài - So sánh đối chiếu kết quả của học sinh với đáp án ( HS phải lí giải được đáp án của mình ) - GV phải giải thích cho học sinh rõ vì sao có đáp án đó . * Ví dụ : Bài tập 2 (Trang 8): Tìm sự vật được so sánh trong khổ thơ sau: Ơ cái dấu hỏi Trông ngộ ngộ nghê Như vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe - Giáo viên yêu cầu HS đọc yêu cầu của đề - Giải thích cho học sinh hiểu từ ngữ chỉ sự vật. - HS gạch chân bằng bút chì từ chỉ sự vật vào SGK - Học sinh trình bày ( Giáo viên có thể hỏi vì sao để học sinh giải thích lí do lại sao em chọn từ đó ) - Giáo viên đưa ra đáp án Sự vật ... (Svật ) "Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng" Svật 2( Svật ) Svật 2( người ) + Dạng A chẳng bằng B: * Ví dụ: Bài tập 1c/trang 43 : Tìm các hình ảnh so sánh trong câu : Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Đem nay con ngủ giấc tròn Mẹ là ngọn gió của con suốt đời Trần Quốc Minh Dạng bài tập này chỉ cần học thực hiện được hai yêu cầu : - Xác định sự vật so sánh ( ngôi sao - mẹ ) , ( mẹ - ngọn gió ) - Xác định từ so sánh ( Chẳng bằng , là ) Xác định được hai yêu cầu trên là học sinh đã xác định được hình ảnh so sánh . 3.2.3 .1.3 Mô hình 3:So sánh: Hoạt động - Hoạt động. Mô hình này có dạng như sau: + A x B. + A như B. * Ví dụbài tập 2 /trang 98: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + "Con trâu đen lông mượt Cái sừng nó vênh vênh Nó cao lớn lênh khênh Chân đi như đạp đất" (Trần Đăng Khoa) + "Cau cao, cao mãi Tàu vươn giữa trời Như tay ai vẫy Hứng làn mưa rơi" (Ngô Viết Dinh) Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn: + Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như". + Hoạt động " Vươn" của tàu lá dừa giống hoạt động " vẫy" tay của con người 3.2.3 .1.4 Mô hình 4:So sánh: Âm thanh - Âm thanh: Mô hình này có dạng sau: A như B: + A là âm thanh thứ 1. + B là âm thanh thứ 2. Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như". Chẳng hạn: + "Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai" (Nguyễn Trãi) Âm thanh của "Tiếng suối" được so sánh với âm thanh của "Tiếng đàn cầm" qua từ "như". 3.2.3.2 Dạng 2 : Bài tập sáng tạo Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách sử dụng biện pháp tu từ so sánh . Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn.tuy nhiên , dạng bài tập này trong SGK rất ít . Nó tập trung ở cuối chương trình HKI gồm 2 bài tập . 3.2.3.2 1: Nhìn tranh đặt câu Tương tự Bài tập 3/SGKtrang126: Ta có thể đưa ra bài tập sau : Ví dụ : Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh Xe ô tô lao nhanh như tên bắn . Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng. Cây thông cao như ngọn tháp . Nụ cười của cô ấy xinh như hoa hồng . Thỏ thì hiền hơn báo. 3.2.3.2 2: Dạng bài tập điền khuyết : Ví dụ : Bài tập 4 / SGKtrang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ trống : Công cha nghĩa mẹ được so sánh như..., như... Trời mưa, đường đất sét trơn như... Ơ thành phố có nhiều toà nhà cao như .... Ở mỗi câu , giáo viên nên để học sinh xác định sự vật đã cho để cho học sinh có thể tìm nhiều từ cần điền . Ví dụ : a) như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn chảy, như sông như biển b) như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu ... núi ,những ngọn tháp ... Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy , nhất là các tiết Tiếng Việt (Tăng cường) Giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương tự hai dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức . Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh: Ngang bằng và hơn kém. Kiểu so sánh này thường gặp các từ sơ sánh như : Tựa, giống , giống như , không thua, không khác. ( So sánh bằng ) và các từ hơn ,kém, thua , chẳng bằng ( so sánh hơn kém ). 3.2.4 Trò chơi học tập : Đây là hình thức hấp dẫn nhất trong đó chơi là phương tiện , học là mục đích . Thông qua hình thức chơi mà học ,học sinh sẽ được hoạt động , tự củng cố kiến thức .Tuy nhiên, muốn tổ chức trò chơi có hiệu quả , cần xác định mục đích của trò chơi, hình thức chơi cũng phải đa dạng, cách chơi cần phải đơn giản, dễ hiểu. Ví dụ : Trò chơi " Thử tài so sánh" Mục đích: - Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cum từ có hình ảnh so sánh đúng . Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng , liên tưởng về hoạt động hay đặc điểm, tính chất ...của sự vật. Chuẩn bị : - Làm các bộ phiếu bằng giấy ( Kích thước : 3 x 4 cm) - Mỗi bộ phiếu gồm 3-5 từ chỉ hoạt động, trạng thái , đặc điểm, màu sắc ... của sự vật ( Tuỳ thời gian chơi, nội dung bài học ) . Lớp 3 chủ yếu là từ chỉ hoạt động, trạng thái , đặc điểm , tính chất Ví dụ : + Bộ phiếu A( 5 từ chỉ hoạt động,trạng thái) : Đọc , viết cười ,nói , khóc ( Dành cho Tiết 7: ôn tập từ chỉ trạng thái , tính chất ) + Bộ phiếu B ( 5 từ chỉ màu sắc )Trắng , xanh, đỏ, vàng , đen ( Dành cho tiết 15: Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh ) + Bộ phiếu C ( 5 từ chỉ đặc điểm , tính chất ): đẹp, cao, khoẻ, nhanh, chậm( Dành cho tiết 14 , 17: ôn tập từ chỉ đặc điểm ) - Phiếu được gấp tư để "bốc thăm" - Cử trọng tài, thư kí theo dõi cuộc thi . Tiến hành : Trọng tài để một bộ phiếu lên bàn cho học sinh xụng phong lên thử tài so sánh ( 1 bộ phiếu 5 từ thì dành cho 5 người "thử tài"). Học sinh 1 (HS1) lên "bốc thăm", mở phiếu đọc từ cho các bạn nghe rồi nêu thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh để làm rõ nghĩa từ đó. Ví dụ: HS1: "bốc thăm" được từ trắng - Có thể nêu cum từ so sánh: trắng như tuyết, trắng như vôi, ( hoặc : trắng như trứng gà bóc ). Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai + Đúng được bao nhiêu kết quả được bấy nhiêu điểm . + Trọng tài đếm từ 1-5 vẫn không nêu được kết quả thì không có điểm . Lần lượt 5 học sinh lên bốc thăm thử tài .Hết 5 phiếu thì về chỗ , thư kí công bố kết quả . Mỗi bộ phiếu sẽ chọn ra 1 người có tài so sánh cao nhất là người thắng cuộc. Cách tiến hành này có thể thay đổi tùy sự linh động của giáo viên . Cũng có thể mỗi học sinh lần lược bốc cả 5 phiếu . Mỗi phiếu chỉ cần nêu 1 cụm từ . Người thứ không được nêu lặp cụm từ của người trước . Hoặc cũng có thể bốc cả 5 phiếu và tiến hành theo nhóm . Nhóm nào tìm được nhiều cụm từ nhất thì nhóm đó thắng . 1/ Gợi ý các cụm từ có hình ảnh so sánh nêu ở mục chuẩn bị Bộ phiếu A: ( 5 từ chỉ hoạt động, trạng thái) Đọc : Đọc như đọc kinh, đọc như rên rỉ, đọc như cuốc kêu, đọc như nói thầm ... Viết : viết như gà bới , viết như giun bò , viết như rồng bay phượng múa, viết như in,... Cười : cười như nắc nẻ, cười như pháo nổ , cười như mếu, ... Nói : nói như khướu, nới như vẹt, nói như Trạng Quỳnh, nói như thánh tướng ,... Khóc : khóc như mưa, hkhóc như ri, hkhóc như cha chết , ... Bộ phiếu B ( 5 phiếu từ chỉ màu sắc ): Trắng : trắng như trứng gà bóc , trắng như tuyết , trắng như vôi, trắng như bột lọc , trắng như ngà voi ,... Xanh: xanh như tàu lá, xanh như pha mực, xanh như nước biển ... Đỏ : Đỏ như máu , đỏ như son, đỏ như gấc , đỏ như mận chín , đỏ như ớt , đỏ như quả cà chua,... Đen : đen như than, đen như gỗ mun, đèn như cột nhà cháy , đen như bồ hóng , đen như quạ , đen như cuốc ,... Vàng: vàng như nghệ, vàng như mật ong, vàng như tơ, vàng như nắng , vàng như lụa ,... Bộ phiếu C: ( 5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất ) Đẹp : đẹp như tiên, đẹp như hoa, đẹp như tranh,đẹp như mơ,... Cao: cao như núi , cáo như ngọn tháp , cao như sếu , cao như cây sào ,.. Khoẻ : khoẻ như voi, khoẻ như trâu, khoẻ như bò mộng , khoẻ như hổ, khoẻ như lực sĩ ,... Nhanh: nhanh như sóc , nhanh như điện, nhanh như cắt, nhanh như gió , nhanh như chớp ,... Chậm: chậm như sên, chậm như rùa, ... 2/ Gợi ý thêm một số bộ phiếu để " thử tài so sánh" Bộ phiếu D: ( 5 từ chỉ trạng thái) Buồn : buồn như đưa đám, buồn như mất của, buồn như cha chết ,... Vui: vui như tết, vui như hội, vui như bắt được vàng, vui như mở cờ trong bụng ,... Sướng : sướng như tiên , sướng như vua, sướng như ông Hoàng(vua) Khổ : khổ như trâu ngựa, khổ như ăn mày, khổ như nô lệ,... Im: im như thóc , im như hến , im như ngủ,... Bộ phiếu E: (5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất ) Lạnh : lạnh như tiền, lạnh như đồng , lạnh như ướp đá , lạnh như băng,... Nóng : nóng như thiêu, nóng như lửa đốt, nóng như bếp lò nung,... Chua: chua như dấm , chua như mẻ, chua như khế ,... Ngọt : ngọt như đường cát, ngọt như mía lùi , ngọt như mật ong,... Đắng : đắng như bồ hòn, đắng như mật gấu, Bộ phiếu G: (5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất ) Gầy : gầy như cò hương, gầy như hạc, gầy như que tăm, gầy như cây củi, gầy như ống sậy,... Hiền : hiền như phật, hiền như bụt, hiền như cô Tấm , hiền như đất ,... Dữ : dữ như báo, dữ như cọp, dữ như hổ, dữ như chó sói ,... Tròn : tròn như bi ve, tròn như cái đĩa, tròn như quả bóng ,... Cong: cong như lưỡi liềm, cong như cầu vồng, cong như con tôm, cong như cánh cung,.. * Kết luận : Khi hướng dẫn học sinh tìm biện pháp tu từ so sánh và sử dụng triệt để các biện pháp trên . Tập trung trò chơi ở phần củng cố và các tiết tăng cường. CHƯƠNG IV 4.1 KẾT LUẬN Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi, tôi đã tìm thấy một số biện pháp như đã nêu ở trên để rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Qua việc áp dụng những biện pháp trên tôi thấy kỹ năng nhận biết của học sinh lớp 3 tôi dạy đã được nâng lên đáng kể . Học sinh không những nhận biết mà cờn sử dụng tốt biện pháp so sánh . Góp phần đáng kể vào việc viết văn và diễn đạt bằng ngôn ngữ của học sịnh. Tôi nghĩ, phương pháp này rất đơn giản, dễ sử dụng và hiệu quả . 4.2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT: Muốn áp dụng đề tài nghiên cứu này một cách có hiệu quả thì: 4.2.1 Người giáo viên phải nắm vững đặt điểm tâm sinh lí của học sinh lứa tuổi lớp 3. 4.2.2 Người giáo viên phải tăng cường sủ dụng đồ dụng dạy học có hiệu quả. 4.2.3 Phụ huynh học sinh cùng phối hợp với giáo viên cùng nhà trưòng tạo mọi điều kiện để học sinh tiếp cận, mở rộng phạm vi giao lưu văn hoá. 4.2.4 Giáo viên phải khắc phục những khó khăn để về cơ sở vật chất tạo mọi điều kiện để học sinh học tập tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Xuân lãnh, ngày 20 tháng 09 năm 2010 Người thực hiện Ngô Thị Thu Thuỷ T ÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bùi Văn 2Huệ (1997), Tâm lý học tiểu học , Nxb.Giáo dục. 2. Phạm Thị Hoà, "Bài giảng phương pháp dạy học Tiếng việt" Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội2. 3.Lê Phương Nga (1999), Phương pháp dạy học Tiếng việt ở tiểu học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 4. Bộ sách Tiếng việt tiểu học nâng cao, Nxb. Giáo dục. 5. Bộ sách giáo khoa , sách giáo viên Tiếng Việt, Nxb. Giáo dục. XÁC NHẬN CỦA BAN GIÁM HIỆU