Phân Tích Bài Ca Dao: Thân Em Như Tấm Lụa Đào, Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen Lớp 10
  • Top 6 Bài Văn Phân Tích Bài Ca Dao “thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen” Lớp 10
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang
  • 3 Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Chi Tiết, Hấp Dẫn
  • Thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến đã chịu rất nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đã có rất nhiều điển hình về sự bất hạnh đó: một nàng Kiều gian truân, ngậm đắng nuốt cay khóc thầm cho cuộc đời mình; một Vũ Nương chịu hàm oan phải nuốt nước mắt tìm đến cái chết và còn bao nhiêu, bao nhiêu được biết đến và không biết đến nữa. Đến nỗi chuyện người phụ nữ bị bạc đãi đã trở thành thông lệ. Còn phụ nữ, họ không có khả năng chống chọi nữa hay là sức phản kháng của họ đã yếu dần, yếu dần cho đến khi lời cáo buộc trở thành một lời than thân buồn tủi:

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Lời than thân đó nghe thật chứa chan nước mất và cũng nhẹ tênh, mỏng manh như sợi khói toả vào không gian.

    Ca dao là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian rất phổ biến, đúc kết trong đó nhiều tình tứ và cũng là lời than thân trách phận. Các tác giả nhân dân có lẽ đã thấu suốt được nỗi đau đó, thông cảm với thân phận người phụ nữ nên mở đầu ca dao là một lời xưng hô nhỏ nhẹ, mềm mỏng: Thân em. Từ thân gợi nên một cảm giác nhỏ nhoi, yếu đuối. Người con gái khi tự giới thiệu mình cũng rụt rè, khiêm nhường thốt lên hai tiếng “thân em”. Thân phận của người phụ nữ đã được văn học thành văn nhắc đến. Hồ Xuân Hương thì đồng cảm với phận bảy nổi ba chìm của thân em vừa trắng lại vừa tròn. Nguyễn Du thương xót thốt lên: đau đớn thay phận đàn bà và Tú Xương cũng thổn thức khi viết về bà Tú: lặn lội thân cò khi quãng vắng. Còn ca dao lại nói về đời người con gái qua hình ảnh liên tưởng như dải lụa đào. Biện pháp so sánh ở đây thật nhẹ nhàng và thanh thoát, thấm vào lòng người đọc người nghe. Dải lụa đào mang dáng vẻ đẹp, nhẹ nhàng như chính tâm hồn và phẩm chất người phụ nữ, lại là một thứ vật liệu mềm mỏng dùng để may mặc, trang trí thêm cho người hay khung ảnh. Và phải chăng người phụ nừ trong cuộc đời cũ cũng vậy, họ là một món đồ trang sức, là chiếc bóng lặng lẽ, âm thầm trước những bất công. Dải lụa đào là một hình ảnh so sánh thật thanh cao, thật mềm mại nhưng quan trong đó một nỗi niềm nặng trĩu. Vì thế câu tiếp theo như tất cả tâm trạng đau khổ vất ra mà thành:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Dải lụa đào lại ở giữa chợ, giữa cảnh xô bồ kẻ bán người mua. Liệu ai có con mắt xanh để biết giá trị của tấm lụa đào. Từ phất phơ thật đúng và hay, nó lột tả được hết bản chất và trạng thái của tấm lụa. Dải lụa phất phơ không có hướng cố định cũng như hoa trôi man mác biết là về đâu. Bị số phận đưa đẩy đến như vậy mà nữ nhi lại không đủ sức, không thể chủ động định được một hướng đi cho mình để rồi đêm ngày tự hỏi cuộc đời mình sẽ vào tay ai. Một Mã Giám Sinh buôn sắc bán hương. Một Trương Sinh đa nghi, ích kỉ hay là một Kim Trọng hào hoa phong nhã? Họ hoàn toàn biết về số phận của mình cũng như mảnh lụa mềm nhẹ kia không biết có được một người tri kỉ chọn lựa hay không? Trong suốt cuộc đời mình, người phụ nữ xưa bị đẩy vào trạng thái thụ động, chỉ quanh quẩn trong nhà và quanh quẩn với việc thờ chồng, thờ cha, theo con. Dải lụa bay nhè nhẹ trong gió, phó mặc ngọn gió đưa mình đến một bàn tay thô bạo. Bay vào một đôi mắt hữu tình, phong nhã. Câu hỏi buông ra biết vào tay ai thật tinh tế và khéo léo, nó tạo cho người đọc một cảm giác xót xa. Câu hỏi đó có lẽ đã bám suốt cuộc đời người con gái.

    Toàn bộ câu ca dao là một lời than. Nó được sinh ra từ số phận cam chịu của người phụ nữ thời phong kiến. Không một ai trong số những tác giả vô danh sáng tác giả vô danh sáng tác câu ca dao trên lại có thể thanh thản khi nghĩ về đứa con tinh thần của mình. Câu ca dao là sản phẩm quá trình đông tụ những giọt nước mắt nuốt ngược và lòng. Từng lời từng chữ trong câu ca đều toát lên ý ngậm ngùi. Nước mắt đã chảy, chảy thường xuyên đến nỗi bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ tuôn ra. Câu ca dao là tiếng lòng của bao nhiêu người, là tiếng than của bao nhiêu thân phận!

    Với cách so sánh thật linh động và cũng rất gần với đời thường, câu ca dao đã tạo ra một hình ảnh gây nhiều cảm xúc. Tưởng chừng như những đám mây đang quấn lấy cảm xúc của con người, ôm trọn trong lòng nó tâm trạng của những người phụ nữ để rồi dần dần len lỏi vào từng ngóc ngách của dải lụa đào đang phất phơ giữa chợ. Bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ được sáng tác và lưu truyền nhưng câu nào cũng có sự liên hệ, liên tưởng đến những thứ nhỏ bé mỏng manh như: nước, hạt mưa, miếng cau, trái bầu… Vì thế câu ca dao này lột tả được tâm trạng của hầu hết giới nữ: người thiếu nữ vừa tới tuổi trâm cài lược giắt đã lo âu cho số phận của mình. Lo ngại cho hạnh phúc hẩm hiu của mình. Tất cả tạo nên một dòng cảm xúc buồn thương không ngừng chảy từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác và gieo vào không gian một tiếng vang vọng mãi. Người phụ nữ thời phong kiến đã chịu nhiều đau khổ, chấp nhận làm đẹp cho những người chung quanh. Số phận của họ như vải lụa bay trong gió không biết sẽ về đâu. Câu ca dao trong đề là một lời than thân yếu ớt. Phải chăng người phụ nữ xưa cũng từng ao ước:

    Ví đây đổi phận làm trai được.

    Những ước muốn đó tồn tại được bao lâu hay là lại phải quay trở về với những câu than thân bất lực?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”
  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai

    --- Bài mới hơn ---

  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

    – Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.

    Một trong những đặc điểm nghệ thuật của ca dao là sự lặp lại của các mô típ cấu trúc. Ba bài ca dao kể trên đều bắt đầu bằng hai từ “Thân em” chỉ thân phận người phụ nữ. Đó là lời than thân của người phụ nữ trong xã hội xưa. Ý thơ gợi lên cả một kiếp sống đầy đắng cay. Cuộc đời của người phụ nữ thật bấp bênh vô định bởi chính họ cũng không thể tự quyết định được tương lai, sô’ phận của mình. Cả ba bài ca dao đều được viết theo thể thơ lục bát, ngắn gọn nhưng thể hiện rõ tâm trạng của nhân vật trữ tình. Sau “Thân em” là từ như dùng để so sánh. Đôi tượng đem ra so sánh đều là những vật gần gũi, quen thuộc và có những nét tương đồng độc đáo với thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa như “tấm lụa đào”, “củ ấu gai”, “giếng giữa đàng”. Cách đem các sự vật ấy ra so sánh khiến cho đôi tượng được so sánh (người phụ nữ) hiện lên một cách sinh động, đồng thời cũng làm nổi bật được thân phận của họ. Tự viết về thân phận mình cũng là cách người phụ nữ bộc lộ sự tự ý thức về giá trị của bản thân cũng như những nỗi buồn tủi bất công mà những quan niệm, định kiến vô lí của xã hội phong kiến gây ra cho họ. Quả thật, ta thấy trong tiếng thở dài than thân kia còn chen lẫn niềm tự hào, sự kiêu hãnh kín đáo về sắc đẹp cũng như phẩm hạnh của người con gái.

    Tuỳ vậy, mỗi bài ca dao lại có những đặc sắc riêng về nội dung và nghệ thuật:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Nhân vật trữ tình trong bài ca dao này tự ý thức được vẻ đẹp và giá trị của mình. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người phụ nữ chọn “tấm lụa đào” để tự ví với mình. Chính cái tính cách dịu hiền của họ đã gắn liền với hình ảnh dải lụa đào, vừa nhẹ nhàng đằm thắm, vừa kín đáo duyên dáng, lại tươi tắn tràn đầy sức sống. Vật có giá trị như vậy đáng lẽ ra phải được người ta nâng niu trân trọng, cất giữ hay trưng diện ở những nơi sang trọng nhất. Nhưng đáng tiếc thay, lại là thứ để người ta ngã giá trao đổi “giữa chợ”. Thân phận người phụ nữ cũng vậy, cũng mỏng manh, cũng chìm nỗi, cũng phụ thuộc, cũng lạc lõng, đơn côi giữa dòng đời. Những giá trị đẹp đẽ giờ đây rơi vào quên lãng. Cả những cô gái còn xuân xanh phơi phới

    cũng không ngoại lệ. Tuổi xuân của họ bị ám ảnh bởi chính nỗi lo lắng, băn khoăn về tương lai vô định phía trước. Bài ca dao kết thúc bằng câu hỏi đầy chua xót: “biết vào tay ai?”. Chính xã hội phong kiến bất công, vô nhân đạo với quan niệm trọng nam khinh nữ đã đẩy người phụ nữ vào tình cảnh ấy. Họ không bao giờ có thể biết chắc rồi đây cuộc đời mình sẽ ra sao, bến bờ nào đang đợi mình phía trước.

    Nếu cô gái ở bài ca dao đầu tiên có phần tự hào về nhan sắc thì cô gái xuất hiện trong bài ca dao thứ hai lại có những suy nghĩ, ý thức về những hạn chế của bản thân:

    Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.

    Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.

    Cô gái trong bài ca dao này mang nét bình dị, gần gũi. Với người con gái, nhan sắc là điều quý giá và đáng để họ tự hào. Ấy vậy mà ở đây ta ngạc nhiên thấy cô gái khiêm nhường tự nhận mình là “củ ấu gai”. “Củ ấu gai” bên ngoài tuy xấu xí, thô kệch nhưng ruột rất trắng, ăn rất thơm và bùi. Người phụ nữ này biết rằng mình bề ngoài không được đẹp, không được hấp dẫn nhưng cô cũng tự hào mà khẳng định giá trị đích thực bên trong con người mình. Một hình ảnh hết sức mộc mạc và quen thuộc nhưng được các tác giả dân gian sử dụng khéo léo nên đã miêu tả thành công người phụ nữ vừa chân thực lại vừa đẹp đẽ, đúng với quan niệm của người xưa: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Đáng tiếc thay, trong cuộc sống, dù cô có “ruột trong thì trắng” nhưng có mấy ai hiểu được hay chịu khó tìm hiểu cái đẹp nội tâm đáng trân trọng ẩn sau lớp vỏ ngoại hình thô nhám? Câu ca dao vì thế còn mang khát khao được người đời hiểu, trân trọng phẩm chất trong trắng, cao đẹp của người phụ nữ.

    So với hai bài trước, bài ca dao thứ ba thể hiện sắc thái than thân rõ nét nhất. Bài ca dao thứ nhất mới dừng ở sự lo lắng, bài thứ hai diễn tả ước mơ, mong muôn. Nhân vật trữ tình trong cả hai bài ca dao đều đang hướng đến tương lai, đến những điều có lẽ chưa xảy ra trong hiện tại. Tuy nhiên, ở bài ca dao thứ 3, nhân vật trữ tình đã nói lên sự phũ phàng, đau khổ mà mình phải chịu đựng:

    Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân

    “Người khôn” ở đây không chỉ là những người hiểu nhiều hay biết rộng, tính toán tài. Cái “khôn” ở đây là chỉ tấm lòng nhân ái, biết trân trọng phẩm giá con người. Hiểu theo nghĩa này, “người khôn” là những người có thể nhận ra, quan tâm và trân trọng những giá trị tốt đẹp của tâm hồn. Đó là con người có trí tuệ, hiểu rõ đạo nhân nghĩa trên đời. Trái ngược với “người khôn” là “người phàm” – hạng người phàm phu tục tử, thấp kém,

    thô lỗ. “Rửa mặt” là sự coi trọng. “Rửa chân” ám chỉ sự khinh miệt. Tuy vậy, dù là “người khôn” hay “kẻ phàm” thì họ đều nắm trong tay quyền sinh sát, quyền định đoạt số phận của người phụ nữ. Trong xã hội phong kiến xưa không có khái niệm bình đẳng giới. Người đàn bà suốt đời nhất nhất chỉ biết ép mình theo khuôn khổ “tam tòng tứ đức”, lặng lẽ ngậm bồ hòn làm ngọt, lấy hạnh phúc của người khác làm niềm vui, lẽ sông, lấy sự hi sinh cho chồng con làm hạnh phúc của chính mình. “Giếng nước giữa đàng” là hình ảnh gợi lên sự lẻ loi, đơn chiếc. Ví thân phận người phụ nữ với “giếng nước giữa đàng”, tác giả dân gian còn ngầm ngợi ca người phụ nữ như một dòng nước mát lành, đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho người khác cho dù họ là “người khôn” hay “người phàm”. Nhưng đáng thương thay, số phận của họ lại thật bé nhỏ; cái tài, cái đẹp của họ hoàn toàn không được coi trọng. Không tự quyết định được sô” phận của bản thân, người phụ nữ chỉ còn biết mong chờ vào sự may rủi. Nếu may mắn gặp được người đàn ông tử tế thì có được một cuộc sống bình yên còn nếu lỡ gặp phải kẻ bạc, “người phàm” thì xác định chịu sự giày vò cả về thể chất lẫn tinh thần trong suốt quãng đời còn lại.

    Mô típ “Thân em” là một trong những cấu trúc điển hình quen thuộc của ca dao than thân. Tuy có đôi nét khác nhau ở nội dung thể hiện ở từng bài nhưng nhìn chung, ba bài ca dao trên đều thể hiện nỗi buồn của người phụ nữ trong xã hội xưa và phản ánh ước mơ, khát vọng của họ về một tương lai tốt đẹp hơn. Bằng những câu ca dao với mô típ “Thân em”, người phụ nữ đã thốt lên những tiếng than thân, trách phận rất đáng được cảm thông, chia sẻ. Bên cạnh đó, qua những bài ca dao trên, họ còn thể hiện sự tự ý thức về giá trị của bản thân và bước đầu có thái độ đấu tranh, phản kháng.

    Cả ba bài ca dao đều thuộc chùm ca dao than thân nhưng mỗi bài lại có cách thể hiện riêng độc đáo, tạo nên sự đồng cảm vô cùng sâu rộng. Nó giúp ta nhìn về quá khứ để so sánh với hiện tại, để trân trọng những điều tốt đẹp, phê phán những bất công và biết quý trọng cuộc sông mà chúng ta đang có hôm nay.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao: Thân Em Như Tấm Lụa Đào, Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen Lớp 10
  • Top 6 Bài Văn Phân Tích Bài Ca Dao “thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen” Lớp 10
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Dàn ý I. Mở bài

    – Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

    II. Thân bài 1. Mô típ “thân em”.

    – Là mô típ quen thuộc được sử dụng để nói về tiếng khóc than của người phụ nữ không được làm chủ số phận của cuộc đời mình

    – “Thân em” thường được so sánh với hai đối tượng:

    + Những vật nhỏ nhoi, tầm thường không đáng được quan tâm: Thân em như giếng giữa đàng, thân em như quả cau khô, thân em như trái bần trôi,…

    + Những thứ tốt đẹp nhưng không được coi trọng: Thân em như tấm lụa đào, thân em như cánh hoa hồng, thân em như đóa hoa rơi,…

    2. Người phụ nữ tự ý thức về vẻ đẹp của mình

    – Hình ảnh so sánh “tấm lụa đào”

    + Nghĩa đen: Tấm lụa đào là một mảnh vải đẹp, mềm mại, có giá trị. Tấm lụa đào là món đồ trang sức trang trí cho con người hoặc đồ vật.

    + Nghĩa bóng: Tấm lụa đào gợi liên tưởng đến vẻ đẹp của người phụ nữ, mềm mại nuột nà. Trong cuộc sống, người phụ nữ cũng âm thầm, lặng lẽ chịu đựng nhiều bất công.

    – So sánh với bài thơ “Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương” để thấy sự đồng cảm của đời sau “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    – Từ láy “phất phơ”:

    + Miêu tả trạng thái của tấm lụa đào khi đứng trong gió

    + Nói đến sự vô định, nổi trôi, không tự làm chủ được số phận của người phụ nữ.

    – Hình ảnh “chợ”

    + Nơi để trao đổi, giao lưu buôn bán, rất phức tạp.

    + Sự hiện diện của một xã hội phức tạp với đủ các loại người.

    – Câu hỏi tu từ “biết vào tay ai”: Thể hiện sự chua xót, bất lực, vô vọng của người phụ nữ trước số phận.

    3. Nghệ thuật

    – Sử dụng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ gợi liên tưởng độc đáo.

    – Sử dụng các từ láy, câu hỏi tu từ

    – Giọng điệu xót thương, ngợi ca.

    4. Ý nghĩa của bài ca dao

    – Thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ

    – Nói nên niềm cảm thông, chia sẻ với số phận bấp bênh của người phụ nữ.

    – Tố cáo xã hội phong kiến tàn bạo chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của người phụ nữ

    III. Kết bài

    – Khái quát lại vấn đề

    Bài mẫu

    Thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến đã chịu rất nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đã có nhiều điển hình về sự bất hạnh đó. Một nàng Kiều gian truân, ngậm đắng nuốt cay khóc thầm cho cuộc đời mình. Một Vũ Nương chịu hàm oan phải nuốt nước mắt tìm đến cái chết. Và còn bao nhiêu, bao nhiêu được biết và không biết nữa. Đến nỗi chuyện người phụ nữ bị bạc đãi đã trở thành thông lệ. Còn phụ nữ, họ không có khả năng chống chọi nữa hay là sức phản kháng của họ đã yếu dần, yếu dần cho đến khi lời cáo buộc trở thành một lời than thân buồn tủi:

    Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Lời than thân đó nghe chứa chan nước mắt và mỏng mảnh như khói tỏa vào không gian, như thân phận người phụ nữ vậy.

    Ca dao là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian rất phổ biến, đúc kết trong đó nhiều tình cảm và cũng là lời than thân trách phận. Các tác gia dân gian có lẽ đã thấu suốt được nỗi đau đó, thông cảm với thân phận người phụ nữ nên mở đầu ca dao là một lời xưng hô nhỏ nhẹ, mềm mỏng; Thân em, từ thân gợi nên một cảm giác nhỏ nhoi, yếu đuôi. Người con gái khi tự giới thiệu mình cũng rụt rè, khiêm nhường thốt lên hai tiếng “thân em”. Thân phận của người phụ nữ đã được văn học thành văn nhắc đến. Hồ Xuân Hương thì đồng cảm với phận bảy nổi ba chìm của thân em vừa trắng lại vừa tròn. Nguyễn Du thương xót thốt lên: đau đớn thay phận đàn bà và Tú Xương cũng thổn thức khi viết về bà Tú: Lặn lội thân cò khi quãng vắng. Còn ca dao lại nói về đời người con gái qua bình ảnh liên tưởng như dải lụa đào. Biện pháp so sánh ở đây thật nhẹ nhàng và thanh thoát, thấm vào lòng người đọc, người nghe. Dải lụa đào mang dáng vẻ đẹp, nhẹ nhàng như chính tâm hồn và phẩm chất người phụ nữ, lại là một thứ vật liệu mềm mỏng dùng để may mặc, trang trí thêm cho người hay khung ảnh. Và phải chăng người phụ nữ trong cuộc đời cũ cũng vậy, họ là một món đồ trang sức, là chiếc bóng lặng lẽ, âm thầm trước những bất công. Dải lụa đào là một hình ảnh so sánh thật thanh cao, thật mềm mại nhưng quấn trong đó một nỗi niềm nặng trĩu. Vì thế câu tiếp theo là tất cả tâm trạng đau khổ vắt ra mà thành:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Dải lụa đào lại ở giữa chợ, giữa cảnh xô bồ kẻ bán người mua. Liệu ai có con mắt xanh để biết giá trị của tấm lụa đào. Từ phất phơ không có hướng cố định cũng như hoa trôi man mác biết là về đâu. Bị số phận đưa đẩy đến như vậy mà nữ nhi lại không đủ sức, không thể chủ động định được một hướng đi cho mình để rồi đêm ngày tự hỏi cuộc đòi mình sẽ vào tay ai. Một Gã Giám Sinh buôn sắc bán hương. Một Trương Sinh đa nghi, ích kỉ hay là một Kim Trọng hào hoa phong nhã? Họ hoàn toàn biết về số phận của mình cũng như mảnh lụa mềm nhẹ kia không biết có được một người tri kỉ chọn lựa hay không? Trong suốt cuộc đời mình, người phụ nữ xưa bị đẩy vào trạng thái thụ động, chỉ quanh quẩn ‘trong nhà và quanh quẩn vói việc thờ chồng, thờ cha, theo con. Dải lụa bay nhè nhẹ trong gió, phó mặc ngọn gió đưa mình đến một bàn tay thô bạo. Bay vào đôi mắt hữu tình, phong nhã. Câu hỏi buông ra biết vào tay ai thật tinh tế và khéo léo, nó tạo cho người đọc một cảm giác xót xa. Câu hỏi đó có lẽ đã bám suốt cuộc đòi người con gái.

    Toàn bộ câu ca dao là một lời than. Nó được sinh ra từ số phận cam chịu của người phụ nữ thòi phong kiến. Không một ai trong số những tác giả vô danh sáng tác câu ca dao trên lại có thể thanh thản khi nghĩ về đứa con tinh thần của mình. Câu ca dao là sản phẩm quá trình đông tụ những giọt nước mắt ngược vào lòng. Từng lời từng chữ trong câu ca toát lên ý ngậm ngùi. Nước mắt đã chảy. Câu ca dao là tiếng lòng của bao nhiêu người, là tiếng than của bao nhiêu thân phận!

    Với cách so sánh thật linh động và cũng rất gần với đời thường, câu ca dao đã tạo ra một hình ảnh gây nhiều cảm xúc. Tưởng chừng như những đám mây đang quấn lấy cảm xúc của con người, ôm trọn trong lòng nó tâm trạng của những người phụ nữ để rồi dần dần len lỏi vào từng ngóc ngách của dải lụa đào đang phất phơ giữa chợ. Bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ được sáng tác và lan truyền nhưng câu nào cũng có sự liên hệ, liên tưởng đến những thứ nhỏ bé mỏng manh như: nước, hạt mưa, miếng cau, trái bầu… Vì thế câu ca dao đã lột tả được tâm trạng của hầu hết giói nữ: người thiếu nữ vừa tới tuổi trâm cài lược giắt đã lo âu cho sô” phận của mình. Lo ngại cho hạnh phúc hẩm hiu của mình. Tất cả tạo nên một dòng cảm xúc buồn thương không ngừng chảy từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác vào không gian một tiếng vang vọng mãi. Người phụ nữ thòi phong kiến đã chịu nhiều đau khổ, chấp nhận làm đẹp cho những người xung quanh. Sô” phận của họ như vải lụa bay trong gió không biết sẽ về đâu. Câu ca dao trong đề là lời than thân yếu ớt. Phải chăng người phụ nữ xưa cũng từng ao ước:

    Ví đây đôi phận làm trai được.

    Những ước muôn đó tồn tại được bao lâu hay là lại phải quay trở về với những câu than thân bất lực?

    (Lê Huỳnh Phương – Trường PTTH Bùi Thị Xuân) chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Việc Tạo Nên Tính Hình Tượng Ở Câu Ca Dao Sau: “thân Em Như Quế Giữa

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Của Nguyễn Quỳnh Anh
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 10
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Phân Tích Bài Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú)
  • Ca dao Việt Nam vô cùng phong phú và đặc sắc, trong đó mảng ca dao nói về thân phận người phụ nữ cũng là một đề tài nổi bật và quen thuộc, nó thường có dạng “Thân em…..” trong đó câu thơ :”Thân em như quế giữa rừng- Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay” là một tiêu biểu.

    Mở đầu câu ca dao là 2 tiếng “Thân em”- đây có thể coi là yếu tố nhận biết của ca dao than thân ngươì phụ nữ, cũng là một biện pháp cảm thán, yếu tố này có thể bắt gặp trong rất nhiều câu ca dao khác như một mô típ, một thủ pháp nghệ thuật , “thân em” đọc lên ta cảm thấy có một sự giãi bày, một niềm tự thương xót của người nói cất lên . Sau đó người phụ nữ tự ví mình “như quế giữ rừng”. Cây quế là một loại có vỏ cay và thơm được dùng để làm gia vị, thuốc, hương liệu… Cây quế thơm là thế, tốt là thế nhưng lại đặt giữa rừng để rồi “Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay” , có đẹp đẽ có tốt lành cũng chẳng để làm gì hết. Từ biện pháp so sánh tự ví mình như cây quế qua đó ẩn dụ về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa- xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, thân phận người phụ nữa bị rẻ rúng, bị coi thường. Người phụ nữa dẫu có đẹp về thể xác, đẹp về tâm hồn (ở trong câu ca dao này chủ yếu nói về vẻ đẹp tâm hồn) bao nhiêu thì cũng chẳng ai quan tâm. Không ai coi trọng vẻ đẹp của họ, cuộc đời họ là cuộc đời tùy tay người khác sắp đặt, may mắn thì họ sẽ được gả cho người chồng không vũ phu chứ chẳng dám mơ ước được yêu chiều, sống sung sướng gấm lụa, và ngược lại phải gả cho kẻ không ra gì thì “em” chẳng khác với người hầu , kẻ hạ.

    Câu ca dao như một tiếng thở dài mà nhẹ nhàng , không khóc lóc thảm thiết nhưng phả trong đó là một nỗi ai oán , sầu muộn. Không buồn sao được khi mà cuộc đời mình không được sống theo ý muốn, luôn bị phụ thuộc vào người khác, chỉ mong có một người nhận ra được vẻ đẹp của mình cũng không có.

    Niếm ai oán này có phải không chỉ có của riêng một người con gái nào đó? Đại từ phiếm chỉ “em” chung chung, điều này chứng tỏ đây không chỉ là bi kịch của một người mà là của chung nhiều người phụ nữ khác. Tránh làm sao được khi cả xã hội đều là một sự bất công, khó khăn với người phụ nữ.

    Ngoài ra, ta có thể bắt gặp được rất nhiều câu thơ có nội dung, hình thức tương tự như:

    “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    “Thân em như miếng cau khô – Người thanh tham mỏng người thô tham dày”

    “Thân em như giếng giữa đàng – Người thanh rửa mặt người phàm rửa chân”

    “Thân em như hạt mưa sa – Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”…..

    ….

    Trong hệ thống ca dao Việt Nam còn rất nhiều câu ca mà câu ca dao chúng ta vừa phân tích trên chỉ là một phần rất nhỏ góp phần tạo nên sự phong phú cho ca dao Việt nói chung và ca dao than thân mảng than thân phụ nữa nói riêng. Chỉ bằng một vài biện pháp nghệ thuật đơn giản và hết sức quen thuộc như: so sánh, ẩn dụ và sử dụng đại từ phiếm chỉ, dân gian đã tạo nên những câu ca dao thật ý nghĩa, đầy nhịp điệu, phản ánh được thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa đồng thời với đó là cáo xã hội cướp đi quyền sống con người. Tài năng , sản phẩm tinh thần của người xưa vẫn luôn có giá trị,có sức sống đến ngày nay và mai sau.

    Phong Cầm

    Nguồn: http://diendankienthuc.net.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đặc Sắc Nội Dung, Giá Trị Nghệ Thuật Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ
  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5
  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Luyện Thi Vào Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Giúp Học Sinh Học Tốt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ, Hoán Dụ
  • Giáo Án Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ, Soạn Văn Lớp 10
  • Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ (Chi Tiết)
  • Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • 1

    So sánh

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, tạo ra lối nói hàm súc, giúp người đọc (nghe) dễ nắm bắt tư tưởng, tình cảm của người nói (viết).

    Có hai kiểu so sánh:

    – So sánh ngang bằng ( như, là, bằng, tựa).

    Ví dụ: Công chanhư núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. (Ca dao)

    – So sánh không ngang bằng ( hơn, thua, chẳng bằng…).

    Ví dụ: Bóng Bác cao lồng lộng/ Ấm hơn ngọn lửa hồng. (Minh Huệ)

    2

    Nhân hóa

    Nhân hóa là tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gợi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, cây cối, động vật… trở nên sống động, gần gũi với con người, biểu thị được những ý nghĩ, tình cảm của con người.

    Các kiểu nhân hóa:

    – Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật.

    Ví dụ: Ông trời nổi lửa đằng đông/ Bà Sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay. (Trần Đăng Khoa).

    – Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tinh chất của vật.

    Ví dụ: Sông được lúc dềnh dàng/ Chim bắt đầu vội vã. (Hữu Thỉnh)

    – Trò truyện xưng hô với vật như đối với người.

    Ví dụ: Bởi tôi ăn uống điều đồ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. (Tô Hoài)

    3

    Ẩn dụ

    Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, tạo tính hàm súc cho câu thơ, câu văn.

    Dựa vào các mối quan hệ tương đồng (về hình thức, về cách thức, về phẩm chất và về cảm giác) để tạo ra các loại ẩn dụ:

    – Ẩn dụ tượng trưng (biểu tượng).

    Ví dụ: Vẫn biết trời xanh là mãi mãi/ Mà sao nghe nhói ở trong tim. (Viễn Phương)

    – Ẩn dụ nhân hóa.

    Ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. (Ca dao)

    – Ẩn dụ vật hóa.

    Ví dụ: Người nách thước, kẻ tay đao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. (Nguyễn Du)

    – Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

    Ví dụ: Ngoại thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng. (Trần Đăng Khoa)

    4

    Hoán dụ

    Hoán dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Các quan hệ tương cận (gần gũi) là:

    – Lấy bộ phận chỉ toàn bộ.

    Ví dụ: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm. (Hoàng Trung Thông)

    – Lấy vật chưa chỉ vật bị chứa.

    Ví dụ: Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong bác nỗi mong cha. (Tố Hữu)

    – Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật.

    Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li/ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. (Tố Hữu)

    – Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ: Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. (Tục ngữ)

    5

    Nói giảm, nói tránh

    Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển nhằm tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề hoặc thô tục, thiếu lịch sự.

    Dùng trong các trường hợp:

    – Nói về sự đau đớn, hoạn nạn, mất mát (chuyện đau buồn).

    Ví dụ: Bác đãđi rồi sao Bác ơi/ Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời. (Tố Hữu)

    – Để biểu thị thái độ nhã nhặn, lịch sự, tránh thô tục.

    Ví dụ: Cháu mời bà đi nghỉ ạ!

    6

    Nói quá

    Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng và tăng sức biểu cảm.

    Nói quá là biện pháp tu từ độc lập nhưng đôi khi sử dụng kết hợp với biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ.

    Ví dụ: – Lỗ mũi mười tám gánh lông/ Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho. (Ca dao)

    Cày đồng đang buổi ba trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. (Ca dao)

    7

    Điệp ngữ

    Khi nói hoặc viết, người ta có thể dùng biện pháp lặp lại từ ngữ (hoặc cả câu) để làm nỏi bật ý, gây cảm xúc mạnh.

    Có nhiều kiểu điệp:

    – Điệp nối tiếp.

    – Điệp cách quãng.

    – Điệp vòng.

    – Điệp từ.

    – Điệp ngữ.

    Ví dụ:

    – (Nguyễn Vĩnh Tiên)

    Ta làm con chim hót/ Ta làm một cành hoa. (Thanh Hải)

    Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. (Hồ Chí Minh)

    8

    Chơi chữ

    Chơi chữ là lợi dụng các đặc điểm về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo ra sắc thái dí dỏm, hài hước, bất ngờ, thú vị.

    Các lối chơi chữ thường gặp:

    – Dùng từ ngữ đồng âm, gần âm.

    Ví dụ: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. (Bà Huyện Thanh Quan)

    – Dùng lối nói trại âm.

    Ví dụ: Chữ tài liền với chữ tai một vần. (Nguyễn Du)

    – Dùng cách điệp âm.

    – Dùng lối nói lái.

    Ví dụ: Một đống chuột chù (Một chú chuột đồng)

    – Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa…

    Ví dụ: Mời cô mời bác ăn cùng/ Sầu riêng mà hóa vui chung toàn nhà. (Phạm hổ)

    Về biện pháp tu từ so sánh

    Cần phân biệt so sánh thông thường (co sánh lôgic) với so sánh tu từ. So sánh thông thường chỉ mang lại giá trị nhận thức còn so sánh tu từ có giá trị gợi hình, biểu cảm.

    Ví dụ:

    Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan (So sánh tu từ)

    (Hồ Chí Minh)

    Về phép tu từ ẩn dụ

    Ẩn dụ là một phép tu từ vô cùng phong phú về khả năng liên tưởng. Trong phạm vi kiến thức phổ thông, cần nắm được một số đặc điểm như sau:

      Ẩn dụ là kết quả rút gọn của phép so sánh (so sánh ngầm). Nếu như so sánh phải có hai đến bốn yếu tố để tạo nên một so sánh thì ẩn dụ chỉ còn lại một yếu tố (vế B – sự vật, sự việc so sánh). Ví dụ:

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    • Trong lời nói hằng ngày thường dùng những cách nói như: chân bàn, chân trời, miệng bát, đầu sông… Đây là những ẩn dụ cố định, tạo nên hiện tượng từ nhiều nghĩa, không có giá trị tu từ nghệ thuật.
    • Trong văn chương, thường gặp các ẩn dụ tu từ đem lại cho lời văn sức gợi hình, gợi cảm, hàm súc. Ẩn dụ tu từ mang đậm dấu ấn cá nhân tác giả.

    Ví dụ:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thông Đông Cau thôn Đoài nớ trâu không thôn nào?

    (Nguyễn Bính)

    Về phép hoán dụ – sự khác nhau giữa hoán dụ và ẩn dụ

      Cũng nhưu ẩn dụ, trong lời nói hằng ngày, hoán dụ được dùng như một phép chuyển nghĩa cố định, không có sắc thái biểu cảm gọi là hoán dụ thông thường. Chẳng hạn như: bốn miệng ăn, chân sút, trăm hay không bằng tay quen (Tục ngữ). Còn trong văn chương, hoán dụ tu từ có sức gợi hình, gợi cảm.

    Ví dụ:

    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.

    Mùa xuân: một thời đoạn của năm để thay cho đơn vị thời gian tròn một năm, một tuổi – ” bảy mươi chín mùa xuân ” nghĩa là bảy mươi chín tuổi.

    Sự giống và khác nhau giữa hoán dụ và ẩn dụ:

    Giống nhau

    Gọi sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác.

    Khác nhau

    Dựa vào mối quan hệ tương cận, cụ thể là:

    + Bộ phận – tổng thể

    + Vật chứa đựng – vật bị chưa đựng.

    + Dấu hiệu của sự vật – sự vật.

    + Cụ thể – trừa tượng.

    Dựa vào mối quan hệ tương đồng, cụ thể là:

    + Tương đồng về hình thức.

    + Tương đồng về cách thức, hành động.

    + Tương đồng về phẩm chất.

    + Tương đồng về cảm giác.

    Về biện pháp tu từ nói quá

    • Nói quá còn có các tên gọi khác như: cường điệu, phóng đại, khoa trương, ngoa dụ, thậm xưng.
    • Khi phân tích phép nói quá phải hướng tới mục đích là làm rõ hơn, nhấn mạnh hơn bản chất của đối tượng, gây ấn tượng mạnh, làm tăng sức biểu cảm.

    • Nói quá không phải là nói dối, nói sai sự thật mà là để làm rõ bản chất của đối tượng.

    • Nói quá thường kết hợp các phép tu từ so sánh, ẩn dụ.

    Ví dụ:

    Làm trai cho đáng nên trai Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng

    (Ca dao)

    Về phép tu từ điệp ngữ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Tác Dụng Và Cách Ghi Nhớ
  • Bí Quyết Đạt Điểm Tuyệt Đối Phần Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Bài 23: Vai Trò Và Tác Dụng Của Một Số Biện Pháp Tu Từ
  • Xác Định Và Phân Tích Tác Dụng Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Các Đoạn Trích Sau
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • Nghe Tiếng Giã Gạo: Gạo Đem Vào Giã Bao Đau Đớn / Gạo Giã Xong Rồi Trắng Tựa Bông / Sống Ở Trên Đời Người Cũng Vậy / Gian Nan Rèn Luyện Mới Thành Công (Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…
  • Đề Thi Về Bài Ca Dao: Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Trường THPT Dân lập Yên Hưng

    Thế nào là trường nghĩa ? Hãy cho biết các từ ngữ sau đây có thuộc cùng một trường nghĩa không: nhà, lều, cao ốc, gạch, cửa, ngói, nhà sàn, vũ trụ, xi-măng, nhà cao cửa rộng, đau đớn, ruộng, nhà rông.

    Bài

    Các biện pháp tu từ từ vựng

    Ví dụ:

    Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Nội dung của câu ca dao trên là gì ? Những từ ngữ nào được dùng để diễn tả nội dung ấy ?

    Bản thân các từ ngữ này, nếu tách ra khỏi câu ca dao có mang nghĩa như vậy không ?

    Bài

    Các biện pháp tu từ từ vựng

    A-Biện pháp tu từ từ vựng:

    – Là biện pháp sử dụng từ, ngữ cố định một cách sáng tạo để diễn đạt nội dung một cách nghệ thuật (làm tăng hiệu quả diễn đạt của từ ngữ).

    B-Các biện pháp tu từ từ vựng:

    I-So sánh và ẩn dụ:

    1- So sánh:

    Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

    * Định nghĩa: Là biện pháp tu từ đối chiếu hai đối tượng A, B vốn có một sự tương đồng nào đó, nhằm làm nổi bật A.

    * Cách phân tích: phải căn cứ vào đặc điểm (x) đã biết của B để tìm hiểu đặc điểm của A, từ đó tìm hiểu ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của so sánh.

    * Tác dụng:

    +Đem lại những hiểu biết về đối tượng được so sánh (nhận thức).

    I-So sánh và ẩn dụ:

    1- So sánh:

    +Tăng thêm tính hình tượng, tính hàm súc, tính truyền cảm cho câu văn.

    Luyện tập:

    Bài tập 1:

    Những phương án nào trong những phương án sau không thể sử dụng làm cái dùng để so sánh (B) được ? Tại sao ?

    Da nó trắng như ???(a) như gỗ mun.

    (b) như trứng gà bóc.

    (c) như cột nhà cháy.

    Bài tập 2;

    Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

    Nhân tài như lá mùa thu.

    (Nguyễn Trãi)

    Hãy xác định A (cái chưa biết) và B (cái đã biết ).

    Hiệu quả, giá trị nghệ thuật của so sánh trên là gì ?

    Bài tập 3:

    Hãy phân tích giá trị của biện pháp tu từ so sánh trong câu ca dao sau:

    Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

    2- ẩn dụ:

    Ví dụ: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    (Viễn Phương)

    2-ẩn dụ:

    * Định nghĩa: Là biện pháp dùng từ hay cụm từ vốn dùng để chỉ sự vật B để chỉ sự vật A, vì giữa A và B có sự tương đồng nào đó, nhằm làm nổi bật A.

    * Hai loại ẩn dụ:

    + ẩn dụ tu từ: Không cố định, mang tính chất sáng tạo của mỗi cá nhân.

    * Một số loại ẩn dụ thường gặp:

    + ẩn dụ từ vựng: Cố định, mọi người sử dụng.

    Ví dụ 1:

    Mặt trời lặn, mặt trời không gọi

    Mặt trời đi, mặt trời không chờ

    (Tiễn dặn người yêu)

    + Nhân hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của người gán cho vật.

    Ví dụ 2:

    Râu hùm, hàm én, mày ngài,

    Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.

    ( Nguyễn Du)

    + Vật hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của vật gán cho người.

    Ví dụ 3:

    Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

    (Xuân Diệu)

    + Chuyển đổi cảm giác: Lấy cảm giác của giác quan này để chỉ cảm giác của giác quan khác hoặc các cảm giác nội tâm.

    * Một số loại ẩn dụ thường gặp:

    + Nhân hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của người gán cho vật.

    + Vật hoá: Lấy đặc điểm, trạng thái, tính chất, ?của vật gán cho người.

    + Chuyển đổi cảm giác: Lấy cảm giác của giác quan này để chỉ cảm giác của giác quan khác hoặc các cảm giác nội tâm.

    * Tác dụng và cách phân tích tu từ ẩn dụ: Như biện pháp tu từ so sánh.

    Luyện tập

    Xác định A, B và phân tích giá trị của các biện pháp tu từ ẩn dụ sau:

    Bài tập 2:

    Trận Bồ Đằng, sấm vang chớp giật,

    Miền Trà Lân, trúc chẻ tro bay.

    (Nguyễn Trãi)

    Bài tập 1:

    Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

    (Trần Tế Xương)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Nhắc đến kho tàng ca dao dân ca Việt Nam thì người đọc luôn phải tự hào về khối lượng của những bài ca dao ấy. Nó không chỉ đa dạng về phong cách mà còn về hình ảnh và nội dung được truyền tải. Một trong số đó chính là về hình ảnh và số phận của người phụ nữ xưa, sống theo chế độ phong kiến cũ hà khắc hay cả những quy tắc trọng nam khinh nữ mà cho tới bây giờ người phụ nữ vẫn phải gồng gánh với quan niệm đó. Thật sâu sắc và uyển chuyển khi 4 câu ca dao sau đã truyền tải hết thông điệp của người xưa đối với người phụ nữ:

    Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

    Điểm chung của câu ca dao nói về người phụ nữ hầu hết đều sử dụng hình ảnh ẩn dụ là thân em. Người phụ nữ xưa số phận hèn mọn không có tên có tuổi có khi theo chồng về nhà chồng lại bị gọi theo tên của chồng. Giống như cuộc đời và số phận của người phụ nữ luôn không được tự mình làm chủ và khó có thể nắm vững số phận của mình trong tay mà phụ thuộc và chồng vào người đàn ông hoặc những người khác. Thân em gợi lên hình ảnh mong manh yếu đuối và đơn chiếc. Thân em như vừa để nói để giãi bày mà cũng có thể là lời trách hờn của những người phụ nữ yếu đuối một cách bâng quơ chả dám kêu to hét lớn gì cả

    Thân em được ví như hạt mưa, mưa thì cũng nhiều và mong manh lắm nhưng mưa rơi xuống đất thấm vào đâu trôi dạt vào đâu nào đâu có được lựa chọn. Thân em là hạt mưa nhưng đâu phải hạt nào cũng được làm mát cho cây cối hoa thơm quả ngọt, có phải hạt nào cũng được trở thành thứ mà con người ta trân trọng nâng niu. May mắn thay thì được vào nhà có danh giá một chút sống cuộc đời êm ấm giàu sang nhưng không may mắn hơn thì lại rơi vào nhà dân bần hàn có khi cả cuộc đời nghèo khổ lang bạt vất vưởng

    Chưa dừng lại đó để nhấn mạnh thêm nữa tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh ở câu thứ hai để ví thân em như hạt mưa nhưng lần này mưa rơi vào chốn đài các hoặc ra ruộng cày. Đài các là nơi sang trọng phú quý không phải ai cũng có cơ hội bước chân vào đó nhưng ruộng cày cuộc sống bần nông vất vả thì hầu hết đều phải chịu và sống tiếp số kiếp của mình đến sau này. Số phận của người phụ nữ là vay may mắn thì được sung túc ấm êm , không may mắn thì phải chịu cảnh nghèo hàn rẻ mạt.

    Tuy nhiên điểm chung ở đây là thân em được ví như hạt mưa cũng chính như tính cách và con người phụ nữ. Dù rơi vào đâu thì cũng trong sáng thanh mát tắm mát cho cây cối ruộng đồng cho hoa thơm đơm trái cho vụ mùa bội thu nhà nhà thắng lợi. Dù có mềm yếu có dễ vỡ đến đâu thì vẫn là thứ quý giá và rất cần thiết cho cuộc sống mỗi con người, điều đó hoàn toàn không thể phủ nhận được.

    Nhờ vào câu ca dao mà chúng ta lại càng hiểu thêm về con người phụ nữ trong chế độ cũ, vừa là cảm thông và vừa trân trọng những số phận mềm yếu cần được chia sẻ và nâng đỡ. Dù họ có yếu đuối đến đâu thì thiếu họ là thiếu cả nửa thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Câu Hỏi Tu Từ Dễ Không? Phân Biệt Câu Hỏi Tu Từ Và Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Thi Công Chống Thấm Mạch Dừng, Mạch Ngừng Khi Đổ Bê Tông
  • Hướng Dẫn Thi Công Băng Cản Nước Pvc Waterstop Tại Tphcm
  • Thi Công Rọ Đá Thảm Đá Công Trình Nông Nghiệp Xây Dựng
  • Hướng Dẫn Thi Công Băng Cản Nước Chống Thấm
  • Giải Pháp Chống Thấm Sàn Hầm, Vách Tường Hầm, Chống Thấm Ngược
  • KHÁI NIỆM CÂU HỎI TU TỪ

    Câu hỏi tu từ là một dạng câu hỏi không yêu cầu trả lời. Đó chính là loại câu hỏi hướng suy nghĩ của người đọc vào nội dung nhất định nhằm tăng khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc. Và tăng cường sức biểu cảm cho bài thơ, văn.

    Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi được dùng nhiều trong văn học nghệ thuật. Dạng câu hỏi này không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời, làm rõ vấn đề. Mà nhằm mục đích khẳng định lại, nhấn mạnh nội dung mà người nói người viết muốn gửi gắm.

    Trong câu hỏi tu từ ý nghĩa nghi vẫn không phải là quan trọng, ý nghĩa tình thái bổ sung mới là ý nghĩa mà người viết (nói) muốn nhấn mạnh và người đọc (nghe) cần phải chú ý. Hỏi chỉ là cách thức thể hiện chứ không phải mục đích”

    “Một thói quen cổ truyền trong việc xem xét câu nghi vấn là nêu lên hiện tượng trong câu nghi vấn tu từ học. Đó là cách dùng câu nghi vấn không cần câu trả lời và nhiều khi hỏi về những điều đã biết, nhằm thu hút sự quan tâm và làm cho thế văn trở nên hoạt bát”

    Ví dụ về câu hỏi tu từ trong thơ văn:

    Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?

    Có thể thấy câu hỏi tu từ trên, tác giả không dùng để hỏi. Mục đích của câu thơ trên là để cảm thán, khẳng định vẻ đẹp của cô gái.

    CÂU HỎI TU TỪ WIKI

    Tu từ học là nghệ thuật nói chuyện, nhằm mục đính tăng cường khả năng trình bày, thuyết phục và động viên những đối tượng tiếp thu nhất định của người nói và người viết trong những tình huống cụ thể

    CÂU HỎI TU TỪ TRONG THƠ

    Đó là dạng câu hỏi được đặt ra mà không cần câu trả lời hoặc câu trả lời nằm ngay chính trong câu hỏi, thường dùng trong văn thơ. Trong lời nói bình thường ngoai đời cũng hay gặp câu hỏi tu từ nhưng mà là loại bình dân.

    CÂU HỎI TU TỪ CÓ TÁC DỤNG GÌ

    Là đặt câu hỏi nhưng không đòi hỏi câu trả lời mà nhằm nhấn mạnh một ý nghĩa khác.

    CÂU HỎI TU TỪ TRONG TIẾNG ANH

    “Câu hỏi tu từ” dịch ra tiếng Anh là rhetorical question.

    Rhetorical question là dạng câu hỏi để gây ấn tượng chứ chẳng phải để trả lời.

    Ví dụ:

    When a speaker states, “How much longer must our people endure this injustice?”, no formal answer is expected.

    Khi một người phát biểu: “Mọi người của chúng ta còn phải chịu đựng sự bất công này bao lâu nữa?” Không có câu trả lời chính thức được mong đợi.

    HIỆU QUẢ CỦA CÂU HỎI TU TỪ

    Biểu hiện của câu hỏi tu từ:

    Có hình thức nghi vấn.

    Ngầm ẩn một nội dung khẳng định hoặc phán đoán.

    Mục đích là nhằm khẳng định, nhấn mạnh ý của người nói. Hay đôi khi là ẩn dụ, nói lái đi ý kiến chê trách về một vấn đề nào đó.

    Tùy vào mục đích người sử dụng, câu hỏi tu từ hầu như đều mang lại hiệu quả tức thì. Nhưng đôi khi, người nghe không hiểu dụng ý của người nói. Câu hỏi tu từ sẽ mất đi tác dụng.

    SOẠN BÀI CÂU HỎI TU TỪ

    Câu hỏi tu từ cũng vậy, muốn nhấn mạnh thì đưa thẳng chủ thể trữ tình vào và cảm thán.

    Hạnh phúc nào không là hạnh phúc đầu tiên?

    Tôi nói thế bao giờ?

    PHÂN BIỆT CÂU HỎI TU TỪ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ

    Biện pháp tu từ:

    Khi nói và viết ngoài những cách sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có thể sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt gọi là biện pháp tu từ.

    Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ nào đó (từ, câu, văn bản) trong một ngôn ngữ cảnh cụ thể nhằm mục đích tạo ra một hiệu quả nhất định với người đọc, người nghe như ấn tượng về một hình ảnh, một cảm xúc, một thái độ…

    So với cách sử dụng ngôn ngữ thông thường, sử dụng biện pháp tu từ đúng sẽ tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm.

    Biện pháp tu từ trong văn bản nghệ thuật

    Trong tiếng Việt, các biện pháp tu từ rất phong phú, đa dạng. Do khả năng biểu đạt, biểu cảm đặc biệt, các biện pháp tu từ rất được chú trọng sử dụng trong những văn bản nghệ thuật.

    Với một văn bản nghệ thuật, người ta có thể sử dụng một hoặc nhiều biện pháp tu từ khác nhau và thậm chí có thể khai thác tối đa sức mạnh nghệ thuật của một vài biện pháp tu từ nào đó.

    Góp phần tạo nên dấu ấn cá nhân độc đáo trong nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nói Quá Là Gì? Tác Dụng Của Nghệ Thuật Nói Quá
  • Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Tốt Nhất
  • Đây Chính Là Cách Tránh Thai Tự Nhiên, An Toàn Hiệu Quả Mà Không Cần Dùng Thuốc
  • Tránh Thai Tự Nhiên Bằng Cách Cho Con Bú
  • Sau Sinh, Biện Pháp Tránh Thai Nào Được Các Mẹ Ưa Dùng Nhất?
  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao Thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen Lớp 10
  • Top 6 Bài Văn Phân Tích Bài Ca Dao “thân Em Như Củ Ấu Gai Ruột Trong Thì Trắng Vỏ Ngoài Thì Đen” Lớp 10
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Tràng Giang
  • 3 Bài Văn Phân Tích Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Chi Tiết, Hấp Dẫn
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Tràng Giang
  • (Những bài văn hay ) – Anh (Chị) hãy Phân tích bài ca dao thân em như củ ấu gai . (Bài làm của bạn Nguyễn Phúc Lâm).

    Người phụ nữ là một hình tượng tiêu biểu cho những số phận bi đát, đáng thương trong xã hội cũ. Họ là những người có đủ tài sắc đức hạnh nhưng bị xã hội vui dập đến ngõ cụt, họ đã tự mình cất lên những tiếng hát than thân từ cuộc đời nhiều đắng cay mà cho đến ngày nay vẫn vang vọng tiếng kêu cứu não nùng, đau đớn của những con người trong vũng lầy xã hội, tiêu biểu qua bài ca dao:

    Chắc hẳn ai cũng biết người phụ nữ Việt Nam chứa đựng nhiều phẩm chất cao đẹp, họ là những viên ngọc sáng vô giá trị. Nhưng hỡi ơi! Dưới cái xã hội phong kiến suy đồi mục nát thì họ bị vùi dập xô đẩy, đối xử tệ bạc bất công thậm chí còn không có quyền quyết định số phận của mình mà chỉ bị phụ thuộc vào may rủi cuộc đời.

    Củ ấu gai là một loại củ sống ở đồng ruộng bên ngoài sần sùi xấu xí thô kệch nhưng bên trong lại trắng nõn nà thanh tao.Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo hình ảnh người phụ nữ càng được tôn lên, họ xấu xí đen đuốt vì họ phải lam lũ nắng mưa ngoài đồng ruộng để tìm kế mưu sinh nhưng họ chứa đựng một vẻ đẹp tiềm tàng đó là tâm hồn trong sáng thanh cao, thuần khiết một vẻ đẹp thật giản dị mà không thể bị mất đi hay phai nhòa theo năm tháng như sự hào nhoáng bên ngoài kia.

    Tương tự như thế hai câu ca dao tiếp theo họ đã một lần nữa khẳng định vẻ đẹp phẩm giá của mình là không thấy cân, đo,đông, đếm bằng hình thức bên ngoài mà phải dùng trái tim chân thành để cảm nhận mới hiểu thấu được hết :

    Bài ca dao như một tiếng than thân ai oán mà chắc hẳn ai nghe qua cũng phải nào lòng xót dạ, từng câu từng chữ như xoáy vào tâm hồn người đọc, cái âm điệu u buồn ấy nó lắng động sâu lắng như tiếng đàn cầm vân vẫn bên tai. Người phụ nữ Việt Nam hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp chung thủy, hiếu thảo, đảm đang và dành trọn cuộc đời mình cho cha mẹ chồng con. Không từ ngữ nào có thể diễn tả hết được đức hy sinh cao cả, nhưng chính xã hội đã khiến cuộc đời họ phải sa vào bế tắc đau khổ đến cùng cực đến rồi bà chúa thơ Nôm phải đau đớn mà thốt lên rằng :

    Dù đã cố gắng nhưng rồi số phận bà bao giờ cũng lâm vào cảnh “chồng chung” nhưng đâu chỉ thế mà còn bị vùi dập

    Những hủ tục khắc khe thời phong kiến đã xô đẩy cuộc đời người phụ nữ đi đến ngỏ cụt, những quan niệm ” trọng nam khinh nữ” hay “trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng ” hết sức phi lý và bất công nhưng rồi họ cũng chỉ biết chấp nhận thôi, số phận hẩm hiu chỉ biết phụ thuộc vào may rủi nhưng dù có ra sao thì tấm lòng chung thủy sắc son luôn tồn tại vĩnh cữu trong họ. Họ khao khát hạnh phúc, cuộc đời họ chỉ mong được một lần hầu hạ chồng con mà có thể bỏ qua hết những quyền lợi hay nhiều thứ quan trọng của bản thân, thế nên mới có câu ca dao :

    Phía sau bức màn thành công của người đàn ông, một gia đình hạnh phúc luôn hiện hữu hình ảnh người phụ nữ đảm đang nâng khăn sửa gối cho chồng, là một người có đủ các yếu tố ” Công- Dung- Ngôn- Đức- Hạnh” . Ngày nay người phụ nữ càng khẳng định giá trị của mình trên trường quốc tế, họ không hề thua kém đàn ông và biết đấu tranh dành quyền lợi cho mình. Là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật đã ban hành nhiều chính sách đòi lại công bằng cho phụ nữ vì thế mà họ càng phát huy được vẻ đẹp tài năng trong con người mình.

    Thế đấy mà cũng thật đáng buồn khi mà người phụ nữ bị danh vọng phù hoa, tiền tài vật chất mà làm mai một đi sự trong sáng và vẻ đẹp thanh cao của người phụ nữ Việt Nam, làm nhiều điều không đúng để rồi lâm vào cảnh tù tội. Hơn thế nữa họ dùng thân xác của mình để đổi lấy tiền tài vật chất hoặc có nhiều nữ sinh khi xảy ra mâu thuẫn để dùng bạo lực để giải quyết. Thật làm xấu đi hình tượng cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

    Bằng biện pháp nghệ thuật so sánh độc đáo, bài ca dao chị vẻn vẹn hai mươi tám từ mà giúp ta thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc về thân phận người phụ nữ trong cuộc đời đầy ngang trái. Đồng thời bài ca dao còn lên án gay gắt xã hội phong kiến đã đẩy con người vào bế tắc cũng từ đó ta thấy được tầm quan trọng của người phụ nữ. Dù cho bạn đang làm gì hay đang ở đâu luôn có một người phụ nữ luôn ngày đêm giỏi theo bạn đó chính là người mẹ kính yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao: Thân Em Như Tấm Lụa Đào, Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”
  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100