Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước
  • 1. Tác giả

    Nguyễn Công Trứ làm quan cho nhà Nguyễn, nhưng tính tình phóng khoáng, thích tự do nên cuộc đời quan trường khá lận đận. Nguyễn Công Trứ là nhà nho yêu nước thương dân. Ông để lại khoảng 50 bài thơ, hơn 60 bài ca trù và một bài phú nổi tiếng Hàn nho phong vị phú. Các sáng tác của ông chủ yếu viết bằng chữ Nôm.

    2. Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sống quan trường. Bài thơ là sự ý thức rất rõ tài năng và nhân cách sống của một nhà nho có tài, có nhân cách.

    3. Khi đọc chú ý nhấn giọng từ ngất ngưởng ở những vị trí khác nhau, chú ý cách ngắt nhịp, âm điệu các câu thơ, xen kẽ giữa nhịp dồn với câu dài : 3/3/4 (câu 3), 3/3 (câu 5)…, 5 câu thơ cuối (2/2/2, 2/2/3…).

    1. Bài ca ngất ngưởng được làm theo thể hát nói – một thể thơ bác học phát triển mạnh đầu thế kỉ XIX do các tác gia người Việt sáng tạo trong môi trường văn hoá song ngữ Hán Nôm thời trung đại, đó là thể thơ “nửa hát, nửa nói, có tính chất kể chuyện”. Nhiều nhà nho, nhà thơ, nhà chính trị nổi tiếng lúc đó, dường như đều gửi gắm tâm sự của mình trong hát nói. Nhờ đó thể loại này nhanh chóng chiếm được vị trí độc tôn và trở thành một khuynh hướng văn học của thời đại.

    Có thể nói, so với các bài thơ Đường luật gò bó, hát nói phóng khoáng hơn nhiều. Hát nói có quy định về số câu, về cách chia khổ nhưng nhìn chung người viết hoàn toàn có thể phá cách toàn bộ điều này để tạo nên một tác phẩm tự do về số câu, số chữ, về cách gieo vần, nhịp điệu,… Sự phóng khoáng của thể thơ đặc biệt thích hợp với việc chuyển tải những quan niệm nhân sinh mới mẻ của tầng lớp nhà nho tài tử khao khát khẳng định mình, sống theo mình, coi thường những ràng buộc chật chội của lễ nghi, của cuộc đời trần thế mà Nguyễn Công Trứ là một đại biểu ưu tú nhất.

    Bài thơ thuộc loại hát nói dôi khổ gồm 19 câu, gieo vần theo một bài hát nói điển hình. Câu đầu tiên gieo vần chân, thanh trắc, câu 2, 3 gieo vần lưng, thanh bằng, các cặp câu cứ như thế luân phiên đến hết bài. Trong bài có xen kẽ những câu thơ chữ Hán và số lượng từ trong các câu không cố định. Điều đó làm nên giọng điệu đặc trưng của bài hát nói, thể hiện được tâm trạng và tình cảm của nhân vật trữ tình.

    2. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng các từ, cụm từ mang tính chất tự xưng, đó là : Ông Hi Văn, tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng, phường Hàn, Phú. Những cách tự xưng này đã góp phần thể hiện cái ngất ngưởng, thái độ tự tôn, sự ngông ngạo của Nguyễn Công Trứ, làm nổi bật hình ảnh cái tôi cá nhân cao ngạo của tác giả.

    3. Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, bất ổn định. ở bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, vượt lên thói thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề, từ ngất ngưởng được nhắc đi nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống, thái độ sống vượt thế tục, một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân.

    4. Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường bon chen, Nguyễn Công Trứ có những hành vi kì quặc, lập dị đến ngất ngưởng. Người ta cưỡi ngựa đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ lẫn tớ đều ngất ngưởng. Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo “một đôi dì”. Rõ ràng trong bộ dạng từ bi, Nguyễn Công Trứ vẫn vương đầy nợ trần, vẫn đèo bòng đằng sau mấy bóng giai nhân. Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó… Đó là lối sống phá cách của một con người thích làm những chuyện trái khoáy ngược đời để ngạo đời, thể hiện thái độ và khát vọng sống tự do tự tại. Không bận tâm đến những lời khen chê, những chuyện được mất. Đó là một quan niệm sống, triết lí sống phóng khoáng tự do, thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường. Coi sự được mất là lẽ thường tình, ông đã ra khỏi vòng danh lợi để sống thảnh thơi, tự do, tự tại để hưởng mọi lạc thú, cầm, kì, thi, tửu, giai nhân giữa cuộc đời trần thế một cách thoả thích.

    Nhà thơ đã vận dụng nghệ thuật tương phản, đặt những cái đối lập nhau để thể hiện thái độ ngất ngưởng của mình.

    5. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, một con người đầy tự tin, yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi. Con người ấy tự tin vào tài năng và tin tưởng vào quan điểm sống của mình nên đã rất bản lĩnh vượt lên trên thói thường cuộc đời để sống và làm điều mình thích. Nhưng dù ngất ngưởng, ngông ngạo đến đâu, ông vẫn ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Vì thế, sau những phút giây cao hứng, thả mình phóng túng cùng trời đất tự do, ông vẫn không quên tự nhắc : “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”. Tư tưởng ấy không hề mâu thuẫn với cái ngông ngạo, ngất ngưởng của ông. Trên thực tế, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho có trách nhiệm với đất nước. Tuy cuộc sống quan trường gặp nhiều lận đận nhưng ông vẫn luôn một lòng trung thành với triều đình. Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông vẫn nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần.

    6. Cá tính sáng tạo của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ngữ trong bài thơ. Điều này tạo nên tính chất sống động, gần gũi, hóm hỉnh cho thể hát nói. Các từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ: ông, tay, vào lồng, một đôi dì, nực cười, phường, kìa núi nọ phau phau mây trắng, nên dạng, chẳng… cũng… cũng góp phần khắc hoạ rõ nét tâm hòn tự do, khoáng đạt và thái độ tự tin của tác giả.

    1. Trong một bài thơ khác, Nguyễn Công Trứ viết về “Chí nam nhi”:

    Thông minh nhất nam tử. Trót sinh ra thời phải có chi chi, Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu. Nợ tang bồng quyết trả cho xong. Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung, Làm cho rõ tu mi nam tử. Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh gì với núi sông. Đi không chẳng lẽ về không !

    2. Khi “Thăm nhà thờ Nguyễn Công Trứ”, nhà thơ Hồng Nhu tâm sự :

    Giật mình gặp một ánh nhìn Trẻ xanh như lá nổi chìm như mây Mắt cười cợt ngắm tháng ngày đi qua Lên voi xuống chó vào ra sự đời Tướng thì tướng thật cũng oai Lính thì lính cũng là nòi trời ơi Khi vui thì chạy làm người Khi buồn thì đứng giữa trời làm thông !… Một vùng Uy Viễn Tướng công, Bàn thờ nghi ngút bóng bồng khói hương. Thuỳ dương dừng lại bên đường Sững sờ hạ cháy đỏ tường vông vangNhấp nhô điệu ví gái làng Ngực như nón úp hai hàng đò đưa Tôi nay xin được theo liền Hát rằng “tứ thập niên tiền…” mà chơi… chúng tôi , . , . , , . , . . . ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh
  • Tuần 4. Bài Ca Ngất Ngưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Trang 39 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tự Tình ( Bài Ii )
  • Vận Dụng Kết Hợp Thao Tác Lập Luận Phân Tích Và So Sánh Viết Về Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Tự Tình 2
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Đáp Án Nào Không Phải Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Thơ Tây Tiến?
  • Nguyễn Công Trứ

    Bài ca ngất ngưởng

    GV: HỒ LÊ ANH THẢO

    1

    2

    3

    4

    Tác giả, tác phẩm

    Khái niệm”ngất ngưởng”

    “Ngất ngưởng” chốn quan trường

    “Ngất ngưởng” lúc về hưu

    5

    “Ngất ngưởng” lúc triều chung

    6

    Tổng kết

    -Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

    hiệu là Hi Van, quê ở Hà Tĩnh.

    -Là ngưuời văn võ song ton , nhuưng

    gặp nhiều thăng trầm trên con

    đuường công danh.

    -Ông rất giàu lòng yêu nuớc.

    I.TÌM HIỂU CHUNG:

    2.Tác phẩm:

    -Chủ yếu là thơ chữ Nôm.

    -Thể loại ưua thích: Hát nói

    -Bài ca ngất ngưuởng duợc sáng tác sau năm 1848 (năm Nguyễn Công Trứ về nghỉ tại quê nhà).

    Một số hình ảnh về hát ca trù

    Bố cục của tác phẩm?

    3) Bố cục

    bố cục

    Giới thiệu tài năng danh vị

    xã hội của nhà thơ.

    (6 câu đầu)

    Phong cách sống và phẩm

    chất, bản lĩnh của nhà thơ

    (12 câu tiếp)

    Khẳng định phong cách

    sống của mình

    (câu kết)

    II. Đọc- hiểu văn bản

    1. Khái niệm ” Ngất ngưởng”

    – Xuất hiện: 4 lần (câu 4, 8, 12 và câu cuối)

    Ngất ngưởng: diễn tả vị thế cao mà không vững.

    Thái độ sống “Ngất ngưởng”:

    + Là khác người, xem mình cao hơn người khác

    + Là thoải mái, tự do, phóng túng, không theo một khuôn khổ nào hết

    2. “Ngất ngưởng ở chốn quan trường”

    II. Đọc- hiểu văn bản

    Tài năng của tác giả đuợc bộc lộ nhuư thế nào?

    Biện pháp nghệ thuật?

    * Thú ăn chơi:

     “ca”, “tửu”, “cắc”. “tùng”: thái độ hành lạc thỏa thích, phong túng, tự do, thích gì làm nấy, sống theo cách mình

    * Quan niệm sống, thái độ sống:

    – Ngất ngưởng: coi thường sự được mất, khen chê ở đời.

    – Ngất ngưởng: sống thanh nhã, không vướng tục, không danh lợi.

    Ngất ngưởng: tự khẳng định mình là cái tôi trung thành, sánh ngang hàng với các danh tướng TQ: Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật.

    3. ” Ngất ngưởng” lúc về hưu:

    Lúc về hưu không thấy yến tiệc linh đình, không có tặng phẩm, ngựa quý vua ban mà thay vào đó là?

    Thú vui của NCT được thể hiện trong câu thơ nào?

    NCT có quan điểm sống như thế nào?

    Qua đây cho chúng ta thấy nhà thơ đã ý thức rõ về bản thân? Em có cảm nhận gì về phẩm chất của NCT

    Phẩm chất, bản lĩnh trưuớc số phận:

    Ung dung, t? do, phúng khoỏng, c?ng c?i

    – Khẳng định: nhà thơ là một đại thần ngất ngưởng trong triều: không ai trong triều như ông, bằng ông

    – Dụng ý: nêu bật sự khác biệt của mình đối với tập đoàn PK  đó là cái tôi đứng bên ngoài đám quan lại nhợt nhạt。

    4.”Ngất ngưởng ở chốn triều cung”

    Tại sao đang nói về cái tôi “ngất ngưởng” ở chốn quê nhà, tác giả lại quay về chốn quan trường để k/đ cái tôi ngất ngưởng của mình

    Qua đó, em có đánh giá ntn về cái tôi “ngất ngưởng” của NCT?

    Nhận xét:

    – Nhà thơ đã ý thức rõ về bản lĩnh và phẩm chất giá trị của bản thân.

    Cái tôi ngất ngưỡng của NCT là cái tôi đáng trọng.

    – Đây là bài hát nói viết theo lối tự thuật, có hình thức tự do (về vần, nhịp)

    Có sự kết hợp hài hòa giữa từ Hán Việt, chữ Nôm và ngôn ngữ hàng ngày.

    BPNT: điệp từ, liệt kê, phép đối, câu nghi vấn, so sánh…

    NGHỆ THUẬT

    YÊU CẦU VỀ NHÀ

    bài tập trắc nghiệm

    Câu 1: Câu “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” cho thấy Nguyễn Công Trứ là con nguười nhưu thế

    nào ?

    A-Có trách nhiệm cao với cuộc đời.

    B-Có tài năng xuất chúng, hơn nguười.

    C-Có niềm tin sắt đá vào bản thân.

    D-Có lòng yêu nuước tha thiết.

    bài tập trắc nghiệm

    Câu 2: Hình ảnh mây trắng trong câu “Kìa núi nọ phau phau mây trắng” là biểu tưuợng cho

    cái gì ?

    A-Vẻ đẹp của thiên nhiên.

    B-Cuộc sống ẩn dật thanh cao.

    C-Tột đỉnh của vinh hiển trong cuộc đời làm quan của tác giả.

    D-Sự bất tử của con nguười nổi tiếng.

    CÂU HỎI THẢO LUẬN

    (?) Nếu ngất ngưởng là một phong cách sống thì phong cách sống ấy như thế nào?

    Đó có phải là cách sống lập dị giống như một số người hiện đại?

    Ngất ngưởng: là phong cách sống có bản lĩnh, có cá tính, trung thực, thảng thắn, ý thức rõ về bản thân

    Khác lối sống lập dị.

    (?) Muốn thể hiện phong cách sống tích cực như Nguyễn Công Trứ, tuổi trẻ cần có những phẩm chất, năng lực gì?

    CÂU HỎI THẢO LUẬN

    Có những phẩm chất trí tuệ và năng lực nhất định.

    CỦNG CỐ

    Từ “Ngất ngưởng” trong Bài ca ngất ngưởng được hiểu là:

    A. Một người với thân hình cao vượt hẳn xung quang nhưng trong tư thế ngả nghiêng , chông chênh không vững chắc.

    B. Một thái độ khoe tài, tự tôn, cố tình làm những điều khác thường trái với thế tục, với lễ giáo phong kiến.

    C.Một ý thức về trách nhiệm, tài năng, danh vị, bản lĩnh, phẩm chất, giá trị , quyền lợi của bản thân nhà thơ.

    D. Một quan điểm sống, triết lí sống cao đẹp của Nguyễn Công Trứ: mình vì mọi người, mọi người vì mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Bài Chí Khí Anh Hùng Của Nguyễn Du
  • Giao An Van 11 Chuan
  • Giáo Án Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực : Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Phân Tích Giá Trị Hiện Thực Của Đoạn Trích Vào Phủ Chúa Trịnh
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • I. Sơ lược về tác giả, tác phẩm

    Trong bài phân tích bài thơ Bài Ca Ngất Ngưởng này, đầu tiên chúng ta nên giới thiệu sơ lược về tác giả Nguyễn Công Trứ.

    1. Tác giả

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là người con của vùng đất học vang danh – Hà Tĩnh.Ngay từ bé, ông đã tỏ rõ khí chất của một con người bản lĩnh, cứng cỏi. Sau khi đỗ đạt vinh quy, ông có hai mươi tám năm phụng sự cho triều đình. Dù chỉ là một vị quan, nhưng Nguyễn Công Trứ luôn thể hiện tư tưởng, chính kiến của mình chứ không hề nhân nhượng trước bất kì phe phái, thế lực nào trong chốn quan trường. Đối diện với nhiều thăng trầm và dù tính tình phóng khoáng, ngất ngưởng nhưng trước sau như một, Nguyễn Công Trứ vẫn là người hết lòng vì dân, vì nước. Biểu hiện là trong suốt quá trình làm quan hay đến khi lui về sống cuộc sống riêng của mình, ông vẫn rất nhiệt tâm với công cuộc khai khẩn, tu bổ nhà chùa hay dẹp giặc ngoại xâm. Đặc biệt khi về già, ở tuổi bảy mươi, ông vẫn thể hiện khí khái của mình bằng việc tự nguyện xin xông pha ra trận địa để quyết chiến với kẻ thù.

    Về sáng tác thơ văn, đa phần các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ đều viết bằng chữ Nôm nhưng được biểu hiện bằng nhiều thể loại khác nhau: phú, hát nói, thơ Đường luật. Dấu ấn tác giả thể hiện đặc sắc nhất trong các tác phẩm ấy chính là nét phong lưu tài tử và tiết tháo khảng khái của ông.

    2. Tác phẩm

    Bài phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng xin được tiếp tục với phần giới thiệu về tác phẩm. Bài ca ngất ngưởng được viết bằng thể loại hát nói. Tác phẩm được đánh giá là một trong những bài thơ xuất sắc của Nguyễn Công Trứ ở thể loại này. Bài ca ngất ngưởng được ra đời trong hoàn cảnh có tính dấu mốc quan trọng trong cuộc đời nhà thơ, đó là khi ông đã cáo quan về hưu. Bài ca ngất ngưởng được viết để người đọc có dịp nhìn lại hành trình cuộc đời của tác giả.

    II. Hướng dẫn phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    Việc phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng sẽ được triển khai qua bốn vấn đề sau:

    1. Cảm hứng chủ đạo của tác giả

    Cảm hứng chủ đạo của bài thơ được gợi lên bởi từ “ngất ngưởng”. Từ này mang ý nghĩa gợi tư thế không chắc chắn, dễ bị ngã đổ, chao nghiêng. Trong bài thơ, “ngất ngưởng” được Nguyễn Công Trứ diễn tả mang hàm ý nói về tư thế, thái độ sống phóng khoáng, tự do và có phần ngang tàng của ông.

    Qua cảm hứng ấy, có thể thấy phần nào thấy được việc Nguyễn Công Trứ tự nhận thức như thế nào về bản lĩnh, khí khái của mình. Đó cũng nét tính cách mà ông bộc lộ trong suốt quá trình làm quan và kể cả khi đã cáo lui về hưu.

    Nói về cảm hứng chủ đạo là nội dung quan trọng của việc phân tích Bài ca ngất ngưởng.

    2. Sáu câu thơ đầu

    Trong sáu câu thơ đầu, nhà thơ đã tóm tắt sơ lược về cuộc đời làm quan của mình. Mở đầu, ông tuyên bố suy nghĩ của mình về chí làm trai:

    Vũ trụ nội mạc phi phận sự

    Câu thơ ấy có nghĩa là trong trời đất, dường như không có điều gì mà tác giả không xem là phận sự của mình. Bên cạnh đó ông xem việc “vào lồng” chính là cơ hội để ông bộc lộ tài năng, tính cách của bản thân hơn việc xem đó là thử thách, là trói buộc. Từ quan niệm đó của mình, Nguyễn Công Trứ đã lược thuật về những nhiệm vụ ông đảm đương như Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng, Phủ doãn Thừa Thiên. Thái độ khi khoe danh vị chức tước bộc lộ rõ là sự tự tin, bởi ông làm được những điều đó đều dựa vào tài năng, sức lực của mình. Ông có thế mạnh cả về văn chương lẫn tài dùng binh. Đó chính là cơ sở để nhà thơ khẳng định lí tưởng cũng như tài năng, công trạng của chính mình.

    3. Mười câu thơ tiếp theo

    Ở những câu thơ tiếp theo, nhà thơ giới thiệu về sở thích của mình cũng như quan niệm của ông về cách sống ở đời. Đầu tiên, ông thể hiện niềm vui nếu được cưỡi bò đeo đạc ngựa hay đi chùa mà theo sau là gót tiên. Đó đều là những sở thích có phần khác thường, lạ lẫm thậm chí là ngông nghênh. Nhưng dẫu cho “bụt có nực cười”, ông vẫn một mực giữ thái độ “ngất ngưởng” và coi là tôn chỉ của cuộc đời.

    Sau đó, Nguyễn Công Trứ gửi gắm vào những dòng thơ quan niệm sống cụ thể. Ông nói về chuyện “được mất”, đặt mình vào thế đối sánh với thái thượng nhằm nói lên sự bất cần, không màng đến dư luận, đến sự dèm pha của người đời. Ông nói về thú vui ca, tửu, cắc, tùng để tự sự về cảm giác thích thú, vui vẻ trước cuộc sống muôn màu mà ông khám phá. Ông cũng nói về việc sống thoát tục nhưng không phải là Phật, cũng chẳng phải là tiên. Tất cả những điều nói trên nhằm thể hiện một điều, đó là quan niệm mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ.

    4. Ba câu thơ cuối

    Những câu thơ cuối là một sự khẳng định một lần nữa về bản thân. Trước hết đó là sự khẳng định về tài năng và phẩm chất trung kiên của bản thân. Ông dẫn ra các trường hợp về những người nổi tiếng có chiến công hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật,… như một sự đối chiếu để nói về tài năng cũng như sự trung thành của một bề tôi.

    Thứ hai, cái ông muốn khẳng định hơn cả có lẽ là sự “ngất ngưởng” – đây cũng là điều được ông thể hiện thường xuyên trong bài. Ông bảo “Trong triều ai ngất ngưởng được như ông” như một lời tuyên ngôn về cá tính của mình – ông sẽ sống đúng với tinh thần ngất ngưởng ấy, dù có vượt ra ngoài quan điểm hà khắc của giáo lí Nho gia.

    Làm rõ ba câu cuối cũng chính là phần khép lại nội dung của bài phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng.

    5. Nghệ thuật độc đáo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Phân Tích “chí Khí Anh Hùng” Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Phân Tích Chí Khí Anh Hùng
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích ” Truyện Kiều”
  • Phân Tích Đoạn Trích “chí Khí Anh Hùng” Trong “truyện Kiều” Của Nguyễn Du
  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • 1. Tóm tắt nội dung bài học

    • Bài hát nói thể hiện tài năng của Nguyễn Công Trứ
    • Ngất ngưởng là cách mà Nguyễn Công Trứ thể hiện bản lĩnh cá nhân, phong thái của riêng ông trước cuộc sống

    1.2. Nghệ thuật

    • Những đặc sắc về nhịp điệu, hình ảnh, từ ngữ
    • Các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ

    2. Soạn bài Bài ca ngất ngưởng chương trình chuẩn

    2.1. Soạn bài tóm tắt

    Câu 1: Trong bài, từ “ngất ngưởng” được sử dụng mấy lần? Nêu nghĩa của những từ ấy?

      Trong bài, từ “ngất ngưởng” được sử dụng 4 lần (không tính nhan đề)

      • Từ “ngất ngưởng” thứ nhất: chỉ tài năng thao lược và phong cách ngạo nghễ của Nguyễn Công Trứ khi làm quan.
      • Từ “ngất ngưởng” thứ hai: chỉ sự ngang tang khi tác giả vừa trả ấn quan để về quê.
      • Từ “ngất ngưởng” thứ ba: chỉ sự chơi ngông của tác giả khi dẫn theo các cô hầu lên chùa.
      • Từ “ngất ngưởng” thứ tư: chỉ sự coi thường danh lợi, những lời khen chê và cứ vui chơi cho thỏa thú vui.

    Câu 2: Nguyễn Công Trứ cho rằng làm quan là bị gò bó, vậy sao ông vẫn ra làm quan? Câu 3: Vì sao Nguyễn Công Trứ tự cho mình là ngất ngưởng? Câu 4: So sánh thể hát nói và thể thơ Đường luật?

    Câu 1. Trong bài, từ ” ngất ngưởng” được sử dụng 4 lần. (không tính cả nhan đề)

    • “Ngất ngưởng” tại triều: ông là một vị quan trí dũng có thừa nhưng chỉ để ” làm nên tay ngất ngưởng”. Sự ngất ngưởng mà ông thể hiện khi làm quan là coi việc làm quan như bị trói buộc hay giam trong lồng, cũi…
    • “ngất ngưởng” khi “ Đô môn giải tổ” : sống theo ý thích mà không quan tâm đến sự đàm tiếu của dư luận. Ông muốn là một người sống tự nhiên, không cao siêu như tiên, như Phật nhưng cũng không phải sống cuộc sống dung tục tầm thường.
    • ngất ngưởng” khi bụt cũng nực cười: thể hiện cái “ngông”, bản lĩnh, sự tự do và phóng túng của tác giả
    • Ngất ngưởng” ⇒ thể hiện bản lĩnh cá nhân, nhất là bản lĩnh này lại thể hiện trong xã hội Nho giáo đề cao lễ nghĩa, thủ tiêu cá nhân.

    Câu 2: Nguyễn Công Trứ cho rằng làm quan bị gò bó nhưng ông vẫn ra làm quan vì:

    • Ông có tư tưởng giúp nước cứu đời
    • Kiêu hãnh, tự hào về sự có mặt của mình trên cõi đời
    • “nợ công danh” ( Phạm Ngũ Lão” : NCT từng nói ” Làm trai đứng ở trong trời đất / Phải có danh gì với nuí sông” ⇒ khẳng định vai trò lớn lao mình phải đảm nhiệm,gánh vác trong cuộc đời.

    ⇒ Những việc đó cho thấy sự tự tin, tự ý thức, đề cao cái tôi cá nhân của Nguyễn công Trứ.

    Câu 3: Nguyễn Công Trứ cho mình là ngất ngưởng. Vì :

    • Ông có tài năng khác người. Ông ra làm quan nhưng chỉ coi đó như một việc đùa, thoải mái suy nghĩ, nói năng…
    • Có lúc ông phóng túng nhưng không trần tục để rồi Bụt cũng phải ” nực cười tay ngất ngưởng”.
    • Nguyễn Công Trứ đề cao, tự hào về phong cách, lối sống ngất ngưởng. Vì:
      • Với tư cách là một nhà nho, ông đã nhập thế tích cực, trải qua nhiều cương vị làm quan khác nhau, có mặt ở nhiều nơi trên đất nước, có những công lao đáng tự hào mà vẫn giữ đúng nghĩa vua tôi.
      • Mặt khác, ông cũng giữ được bản lĩnh cá nhân, giữ được cá tính của mình.

    Câu 4: Thể hát nói có nhiều nét tự do, nhất là so với thơ Đường:

    • Thể hát nói phát triển mạnh bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XIX. Nhiều nhà nho, nhà thơ đã gửi gắm tâm sự của mình trong những sáng tác bằng thể hát nói. Nhờ đó, thể loại này phát triển nhanh chóng và chiếm vị trí độc tôn trong một thời gian dài, trở thành một khuynh hướng của văn học thời đại.
    • So với thể thơ Đường luật, hát nói phóng khoáng và tự do hơn nhiều. Hát nói có quy định về số câu, về cách chia khổ nhưn nhìn chung người viết hoàn toàn có thể phá cách để tạo nên một tác phẩm tự do về số câu, số chữ, cách gieo vần, nhịp điệu…
    • Sự phóng khoáng của thể thơ đặc biệt thích hợp với việc chuyển tải những quan niệm nhân sinh của những nhà nho khao khát khẳng định chính mình, sống theo mình, coi thường những ràng buộc của xã hội, những lễ nghi phong kiến.

    3. Soạn bài Bài ca ngất ngưởng chương trình nâng cao

    Câu 1: Nêu ấn tượng chung của anh (chị) về con người tác giả thể hiện qua bài thơ. Câu 2: Liệt kê những từ, cụm từ mang tính chất tự xưng của tác giả. Nhận xét về cách tự xưng ấy.

    • Những từ, cụm từ mang tính chất tự xưng của tác giả: ông Hi Văn, Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, ông, tay kiếm cung, ông ngất ngưởng.
    • Thông qua các từ và cụm từ mang tính chất tự xưng này cho thấy Nguyễn Công Trứ đã ý thức rất rõ về cái tôi, về tài năng và địa vị xã hội của bản thân mình.

    Câu 3: Tìm hiểu ý nghĩa của từ ngất ngưởng trong bài thơ (chú ý số lần xuất hiện cùng vị trí mà từ này đặt vào, đối chiếu nghĩa từ trong từ điển với nghĩa từ toát lên trong tác phẩm.

      Tham khảo câu trả lời tại mục 2 (hướng dẫn soạn bài chương trình chuẩn) câu hỏi số 1.

    Câu 4: Làm rõ phong cách sống, thái độ sống của tác giả thể hiện trong bài thơ, từ câu 9 đến câu 19. Những thủ pháp nghệ thuật gì đã được vận dụng ở đây?

    • Sau khi từ quan, Nguyễn Công Trứ chọn cách về sống ẩn dật tại quê nhà. Tại đây ông theo thú hát ả đào, sống phóng túng.
    • Những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng: phép liệt kê, điệp từ.

    Câu 5: Theo anh (chị), giữa lối sống ngất ngưởng với tâm niệm “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung” có gì mâu thuẫn?

      Giữa lối sống ngất ngưởng và đạo vua tôi không có sự mâu thuẫn bởi khi làm quan Nguyễn Công Trứ đã làm quan và hoàn thành tốt tất cả những công việc của mình.

    Câu 6: Nêu cảm nghĩ về ý vị của những khẩu ngữ mà nhà thơ đã đưa vào tác phẩm?

      Những khẩu ngữ được nhà thơ đưa vào tác phẩm tạo nên sự phóng khoáng, không gò bó, thoát ra khỏi những khuôn khổ của các chuẩn mực đã có sẵn, từ đó góp phần tạo nên các ngông cho tác giả.

    Câu 1: Theo anh (chị), so với bài Bài ca phong cảnh Hương Sơn, Bài ca ngất ngưởng có sự khác biệt gì về mặt từ ngữ?

    • Sự khác biệt về từ ngữ giữa bài Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh.
    • Ngôn ngữ của Bài ca ngất ngưởng vừa phù hợp với nội dung, vừa phù hợp với phong cách của Nguyễn Công Trứ. Nó phóng khoáng, tự do, có chút ngạo nghễ.

    5. Một số bài văn mẫu bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    Trong một xã hội mà cá nhân không được coi trọng, cá tính bị thủ tiêu thì thái độ “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ chẳng những là khí phách của ông mà còn là một giá trị nhân văn vượt thời đại. Vậy sự ngất ngưởng ấy của Nguyễn Công Trứ được biểu hiện như thế nào, mời các em cùng tham khảo một số bài văn mẫu sau:

    Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

    • Vì sao Nguyễn Công Trứ biết rằng việc làm quan là gò bó nhưng vẫn làm

      trong bài ca ngất ngưởng hãy giải thích vì sao nguyễn công trứ biết rằng việc lm quan là gò bó nhưng vẫn ra lm quan ?

    • Phân tích Bài ca ngất ngưởng

      ai giúp em làm bài phân tích bài ca ngất ngưởng với ạ

    • Vẻ đẹp nhân cách của nhà Nho qua Bài ca ngắn đi trên bãi cát và Bài ca ngất ngưỡng

      Vẻ đẹp nhân cách của nhà nho chân chính qua hai tác phẩm bài ca ngắn đi trên bãi cát và bài ca ngất ngữơng

    • Giá trị nhân đạo trong Bài ca ngất ngưởng

      Giá trị nhân đạo trong tác phẩm bài ca ngất ngưởng là gì ?

    • Soạn bài Bài ca ngất ngưởng

      Hướng dẫn soạn bài ” Bài ca ngất ngưởng” – Nguyễn Công Trứ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Những Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ, Hình Ảnh Và Các Biện Pháp Tu Từ Trong Nhớ Con Sông Quê Hương Của Tế Hanh
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn 11: Thương Vợ
  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Bài làm 1

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc đến ông người ta nhớ đến công lao khai khẩn đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng không quên một nhà thơ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội mà mình đang sống. Nếu như Chí anh hùng tràn đầy khí phách của người tuổi trẻ, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

    Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, nhà thơ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra không phải để đọc mà để ngâm nga, hát xướng. Người thể hiện có thể theo đà cảm xúc mà luyến láy cho phù hợp. Bài thơ vì vậy mà đầy âm sắc, nhạc điệu.

    Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có đến năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

    Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

    Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

    Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này không có việc gì không phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhàng như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng không hề né tránh. Ngay cả cách đưa biệt hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống ai. Hi Văn – chữ Hán có nghĩa là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình như vậy thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, không chịu ép mình vào cái ta chung của cộng đồng, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả tầng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết như vậy. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại không nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đau đớn xót xa đến tuyệt vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Thiên hạ ai người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn ấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn bóng gió, chung chung.

    Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Khi trai trẻ, hoạt động hăng hái hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát ả đào (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giải thích: Để che miệng thế gian:

    Điển viên dạo chiếc xe bò cái

    Sẵn chiếc mo che miệng thế gian

    Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

    Được mất dương dương người tái thượng

    Khen che phơi phới ngọn đông phong

    Khi cơ, khi tửu, khi cắc khi tùng

    Không phật, không tiên, không vướng tục

    Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, bẩn thỉu, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan không có, có gai chông (Vịnh cây vông).

    Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ không rơi vào tình thế bi quan bế tắc hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục đích sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

    Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

    Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

    Không quân thần phụ tử đếch nên người.

    Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng phẳng nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng đến cùng cực. Ông không muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ tham quan vô lại.

    Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng không ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, thể hiện quan niệm sống của nhà thơ.

    Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như bản chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc đến với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi bản lĩnh vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn chương đương đại, đưa yếu tố cá nhân, cái tôi cần được giãi bày vào trực tiếp trong văn chương. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt bậc, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố cá nhân, cho văn chương Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại thế giới nói chung.

    ĐINH THỊ THÚY LAN Bài làm 2

    Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ. Không những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân. Ai đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, nhà thơ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

    Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà lài cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy tự tin và đầy bản lĩnh. Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

    Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tói “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng diệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như trang nghiêm lại vừa như “u mua”, hài hước.

    Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức “Khi Thủ khoa, khi Tham tá, khii Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có khi về Phủ doãn Thừa Thiên” mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã “tháo cũi, sổ lồng”, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế:

    “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

    Gói tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

    Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng”

    Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời:

    “Được mất dương dương người Tái thượng

    Khen chề phơi phới ngọn đông phong”.

    Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện bình thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quảng gánh lo đi mà vui sống” (Lâm Ngữ Đường).

    “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

    Không Phật, không Tiên, không vương tục”.

    Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều luật lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thách thức, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình. Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Thái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ mà nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ:

    “Đã sinh ra ở trong trời đất

    Phải có danh gì với núi sông”

    Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

    Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời… Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay.

    Từ khóa tìm kiếm:

    • bài ca ngất ngưỡng (401)
    • phân tích bài ca ngất ngưởng (252)
    • phan tich bai ca ngat nguong cua nguyen cong tru (72)
    • bai ca ngất ngương của nguyễn công trứ (43)
    • phan tich bai tho bai ca ngat nguong (36)
    • bai ca ngat nguong nguyen cong tru (23)
    • phân tích bài bài ca ngất ngưởng (23)
    • phân tích bài ca ngất ngưởng lớp 11 (20)
    • thơ nguyễn công trứ (18)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Phép Tu Từ
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ

    --- Bài mới hơn ---

  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão
  • Trong bài soạn văn Bài ca ngất ngưởng này, Kiến Guru xin gửi đến các bạn những gợi ý để trả lời các câu hỏi tìm hiểu nội dung bài học trong SGK Ngữ văn 11, tập một. Sau khi tham khảo bài viết, mong rằng các bạn học sinh sẽ có những định hướng để chuẩn bị thật tốt phần soạn Bài ca ngất ngưởng trước khi đến lớp.

    I. Hướng dẫn soạn văn Bài ca ngất ngưởng: Tác giả – Tác phẩm

    Trước nhất, các bạn nên giới thiệu sơ lược về tác giả khi soạn bài Bài ca ngất ngưởng. Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) có tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn. Ông là người con của miền đất miền Trung Hà Tĩnh, tại huyện Nghi Xuân, làng Uy Viễn. Nguyễn Công Trứ vốn có tinh thần ham học từ bé nhưng lận đận trên con đường khoa cử nên mãi đến năm bốn mươi hai tuổi thì con đường công danh của ông mới hiển lộ.

    Nguyễn Công Trứ có khoảng thời gian dài tận hai mươi tám năm làm quan cho triều đình nhà Nguyễn. Mặc dù ở chốn quan trường phải đối diện với nhiều thăng trầm nhưng tuyệt nhiên, ở Nguyễn Công Trứ vẫn toát lên khí khái cứng rắn, bình tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó và lập được nhiều chiến tích lẫy lừng, cả việc triều chính, khai khẩn đất hoàng, tu bổ chùa chiền hay chống giặc ngoại xâm.

    Đến năm ông bước sang tuổi thứ bảy mươi, ông về quê sống cuộc đời riêng của mình sau hai lần cáo quan. Dù chọn về quê nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn dành sự quan tâm rất nhiệt thành dành cho đất nước và nhân dân. Bằng chứng là khi biết đến thông tin Pháp xâm lược Việt Nam, ông vẫn quyết tâm xin tòng quân diệt giặc dù tuổi đã cao.

    II. Hướng dẫn soạn văn Bài ca ngất ngưởng qua gợi ý trả lời câu hỏi SGK

    Bắt đầu với câu 1 trong soạn Bài ca ngất ngưởng. Trong bài thơ, ngoài nhan đề thì có 4 lần tác giả sử dụng từ “ngất ngưởng” và mỗi lần lặp lại ấy có vai trò nhất định. Trước hết, cần lí giải nghĩa của từ “ngất ngưởng”, đây vốn là từ láy tượng hình, gợi ra thế không vững, lắc lư nghiêng ngả như chực ngã. Tuy từ “ngất ngưởng” mang ý nghĩa trên nhưng với mỗi lần nhắc đến, tác giả lại giúp người đọc hình dung những trạng thái “ngất ngưởng” riêng biệt.

    Lần thứ nhất, từ “ngất ngưởng” xuất hiện để miêu tả hình ảnh của Nguyễn Công Trứ khi có công danh vinh hiển và đảm nhiệm những trọng trách quan trọng: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông. Lúc này, ông tỏ rõ là người có khí khái của một vị quan ngạo nghễ và đặc biệt là có tài năng thao lược.

    Lần thứ hai, từ “ngất ngưởng” cũng dùng để khắc hoạ hình ảnh của chính Nguyễn Công Trứ, nhưng lúc này đã ở trong hoàn cảnh khác – trở thành dân thường. Thế nhưng dù vai trò xã hội có thay đổi thì ông vẫn bộc lộ phong thái tự tại, phóng khoáng của mình.

    Từ “ngất ngưởng” ở lần thứ ba trong câu “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” thêm lần nữa khẳng định cá tính ngang tàng của nhà thơ. Thế nên, mặc dù nói về thú chơi ngông của mình, Nguyễn Công Trứ tỏ rõ việc muốn khẳng định những gì thuộc về nét riêng biệt của bản thân, dù có thể nó khác biệt rất nhiều với số đông.

    Ở lần cuối, “ngất ngưởng” diễn tả nhân cách của Nguyễn Công Trứ trong việc xem thường vinh hoa phú quý, tĩnh tại thưởng ngoạn những sở thích bản thân mà không màng đến điều tiếng của nhân gian, thế sự. Ông không muốn bị ràng buộc, gò ép trong bất cứ điều gì.

    Có thể thấy Nguyễn Công Trứ vẫn quyết định ra làm quan dù biết trước làm quan là gò bó, mất tự do bởi lẽ: làm quan chính là cách ông tạo cơ hội cho chính mình để thể tài năng và khí khái, hoài bão và khát vọng của một đấng nam nhi. Thế nên, ông đã chọn làm quan như một cách để tôn trọng khát vọng của chính mình nhưng là làm quan một cách “ngất ngưởng”, vẫn phóng túng, tự do, không gò ép mình vào khuôn phép cứng nhắc và cũng không chịu khuất phục trước những cái xấu, cái ác.

    Bài thơ chính là một cách để nhà thơ bộc lộ cách nhìn nhận lại và tự đánh giá chính bản thân mình. Việc tự nhìn nhận ấy được ông thể hiện cụ thể:

    Thứ nhất, giọng điệu kể chuyện khảng khái, mạnh mẽ nhưng cũng đầy cá tính

    Thứ hai, qua cách kể chuyện, ông thể hiện sự tự ý thức về tài năng, phong cách, khí tiết của bản thân và ông tự hào vì mình là người dám nghĩ dám làm, dám sống cho mình chứ không bị chi phối bởi dư luận hay định kiến của lễ giáo hà khắc.

    Thể hát nói là thể loại được khá nhiều những nhà thơ, nhà văn và chính trị gia sử dụng để bày tỏ tâm tư và giải toả nỗi niềm của mình. Chính vì những đặc điểm riêng biệt về thể loại, đặc biệt là tính chất phóng khoáng, tự do nên chuyên chở những quan niệm về lẽ sống một cách thoải mái, gần gũi với con người. Bởi những lí do trên mà thể hát nói chuyển tải ít nhiều hiệu quả những điều mà họ trăn trở và khi làm được sứ mệnh đó, nó được ưu ái và trở thành một khuynh hướng văn học. Đây là câu hỏi cuối cùng của soạn văn 11 Bài ca ngất ngưởng.

    Soạn văn bài Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam

    Phân tích nhân vật Liên – Hai Đứa Trẻ

    Soạn văn bài Chữ Người Tử Tù

    Như vậy, với những gợi ý nêu trên, mong rằng các bạn học sinh sẽ có thêm gợi ý từ Kiến Guru để soạn văn Bài ca ngất ngưởng hiệu quả!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Ngắn Gọn Nhất (Có Dàn Ý)
  • Mùa Xuân Là Cả Một Mùa Xanh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Tv
  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    Phân tích Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ

    Phân tích Bài ca ngất ngưởng – Hoatieu xin chia sẻ đến các bạn dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng cùng với mẫu bài phân tích Bài ca ngất ngưởng của tác giả Nguyễn Công Trứ. Hy vọng đây sẽ là tài liệu học tốt môn Ngữ Văn 11 bổ ích cho các bạn học sinh.

    1. Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng

    1. Mở bài

    – Giới thiệu những nét khái quát về tác giả Nguyễn Công Trứ (đặc điểm con người, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác,…)

    – Giới thiệu những nét khái quát về bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” (hoàn cảnh ra đời, cảm hứng chủ đạo, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ,…)

    – Giới thiệu khái quát bài học được rút ra từ tác phẩm.

    2. Thân bài

    a. Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

    * Cảm hứng chủ đạo của bài thơ – “ngất ngưởng”

    – Xuất hiện 4 lần trong toàn bộ tác phẩm

    – Là một từ láy giàu ý nghĩa:

    + Xét về nghĩa đen: tả độ cao ở trạng thái không vững, chực đổ nhưng không đổ.

    + Trong bài thơ, là lối sống, là thái độ sống của Nguyễn Công Trứ.

    * “Ngất ngưởng” khi ở chốn làm quan

    – Câu thơ chữ Hán mở đầu đã khẳng định mạnh mẽ lí tưởng nam nhi mà tác giả tự nguyện hướng theo, đây chính là lí tưởng chung của những người đi theo con đường Nho học: trong vòng trời đất không có việc gì là không phải việc của mình.

    – Bằng việc sử dụng hàng loạt từ ngữ Hán Việt cùng biện pháp liệt kê, Nguyễn Công Trứ đã khéo léo điểm lại hàng loạt các chức quan, danh vị mà mình đã từng đảm nhiệm, điều đó cho thấy ông là người văn võ song toàn.

    → Việc khoe tài năng, danh vị ấy của Nguyễn Công Trứ không phải là tự cao, tự đại, khoe khoang hợm hĩnh mà nó dựa trên tài năng và sự nghiệp của chính bản thân ông, là cái vỏ bên ngoài để giấu sâu bên trong là một cái tôi ý thức rõ về tài năng, danh vị của bản thân mình

    * “Ngất ngưởng” khi đã cáo quan về hưu

    – Lối sống khác đời, khác người và có phần trái khoáy:

    + Con bò vàng đã được nhà thơ “trang sức” cho nó bằng đạc ngựa.

    + Vãn cảnh chùa còn mang theo một cô gái đẹp đến nước bụt cũng phải chào thua.

    – Có quan niệm sống rõ ràng, không quan tâm đến chuyện được – mất, khen – chê: Với ông, giữa được và mất, khen và chê không biết cái nào hơn cái nào

    – Ông đã lựa chọn cho mình một lối sống tự do, được thỏa chí làm những việc mình muốn: Coi trọng hiện tại, hiện thế và biết thưởng thức những thú vui có trong cuộc đời như thú hát cô đầu, thú uống rượu và đặc biệt là ái tình.

    → Thái độ sống, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ đã vượt ra ngoài vòng cương tỏa nhưng ông vẫn luôn là một bề tôi hết mực trung thành.

    b. Những bài học rút ra cho bản thân từ bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”

    – Cần ý thức được vai trò, vị trí của bản thân trong cuộc sống và ý thức rõ ràng về tài năng của chính mình

    – Có một quan niệm sống, lí tưởng sống đúng đắn, phải biết vượt ra khỏi cuộc sống tù túng, tẻ nhạt để sống một cuộc sống giàu ý nghĩa.

    – Không được sống nhỏ nhen, ích kỉ, chỉ biết quan tâm đến chuyện được, mất, khen, chê của mình mà quên đi những người xung quanh.

    3. Kết bài

    Khái quát những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của bài thơ, bài học rút ra cho bản thân và nêu cảm nghĩ của bản thân.

    2. Phân tích Bài ca ngất ngưởng – mẫu 1

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. Văn chương lỗi lạc, có tài kinh bang tế thế, lưu danh sử sách. Lúc sống cuộc đời một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan. Vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trải, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:

    “Đã mang tiếng ở trong trời đất,

    Phải có danh gì với núi sông”.

    Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm “Hàn nho phong vị phủ”, và trên 60 bài thơ hát nói cực kì tài hoa. “Bài ca ngất ngưởng” là một trong những bài thơ hát nối kiệt tác trong nền thơ ca dân tộc. Bài hát nói này có hai khổ dôi tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hắt nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ, chất nhạc kết hợp rất hài hoà, hấp dẫn.

    Nguyễn Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau gần 30 năm làm quan với triểu Nguyễn. Bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tự thuật vể cuộc đời, qua đó ông Hi Văn tự hào vể tài năng, đức độ và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời.

    “Ngất ngưởng” nghĩa là không vững, ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (Từ điển tiếng Việt). Trong bài thơ này nên hiểu “ngất ngưởng” là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cả niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy.

    Khổ đầu cất cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng tài trai. Rất trang trọng và hào hùng: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” – mọi việc trong vũ trụ chằng có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói phủ định để khẳng đinh tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: “Vũ trụ giai ngô phận sự” (Những việc trong vũ trụ đểu thuộc phận sự của ta )

    – Nợ tang bồng; “Vũ trụ chức phận nội” (Việc trong vũ trụ là chức phận của ta – Gánh trung hiếu). Có cái tâm thế ấy, chính vì “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài năng lớn, nhiều tài năng. Chữ “lồng” trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. “Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa cái nơi chật hẹp, tù túng trái với cái tài đội trời đạp đất của ông” (Lê Trí Viễn). Có người lại giải thích: “lồng là trời đất, vũ trụ”. Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: “Đã mang tiếng ở trong trời đất”, hoặc “Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn” (trần hoàn: cõi đời, cõi trần). Cách hiểu thứ hai hợp lí hơn, vì có vào lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh, như ông nói:

    “Chí làm trai nam bắc tây đông,

    Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.

    Sau khi đã xưng danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế mình, “tài bộ” mình, chí nam nhi của mình mang tầm vốc vũ trụ.

    Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Học hành thi cừ, ông dám thí thố với thiên hạ: “Cái nợ cẩm thư phải trả xong”. Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên). Tiếng tăm lẫy lừng “Làm nên đấng anh hùng đâuu đấy tỏ” (“Chí anh hùng”). Đứng trên đỉnh cao danh vọng bời có văn võ toàn tài, bởi có “gốm thao lược”, và chính lúc đó ông Hi Văn mới trở thành “tay ngất ngưởng”, một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), ba lần điệp lại chữ “khi” đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phí thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:

    “Khi Thủ khoa! khi Tham tán ! khi Tổng đốc Đông,

    Gồm thao lược ! đã nên tay ! ngất ngưởng”.

    Bốn câu tiếp theo (khổ giữa), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế. Thời loạn thì xông pha trận mạc, giữ trọng trách trước ba quân: “Bình Tây cờ Đại tướng”. Thời bình thì giúp nước giúp vua, làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng. Ông đã từng nói: “Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thế làm vinh, lúc làm lính thú, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục”. Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ vể trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi (1848):

    “Đô môn giải tổ chi niên,

    Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

    Trở lại đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để giễu đời với tất cả sự ngất ngưởng. Vị đại quan thuở nào “ngựa ngựa xe xe” nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa. Cả người và bò vàng đều ngất ngưởng. Như một sự thách đố với “miệng thế”. Cho đến nay dân gian vẫn cười và truyền tụng bài thơ đề vào chiếc mo cau của ông Hi Văn thuở nào:

    “Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng nhàn.

    Lợm mùi giáng chức với thăng quan.

    Điền viên dạo chiếc xe bò cái,

    Sẵn tấm mo che miệng thế gian”.

    Tám câu tiếp theo trong hai khổ dôi nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng – “tay kiếm cung” – thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị “nên dạng từ bi”. Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì”, nhũng nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên đủng đỉnh”…

    “Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

    Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.

    Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì.

    Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”

    Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào gợi ít nhiều hóm hỉnh. Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hi Văn tự cười mình? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện “được, mất” là lẽ đời, như tích “Thất mã tái ông” mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào cá tính cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm đến chuyện “được, mất”, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hổn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong “Bài ca ngất ngưởng”:

    “Khi ca / khi tửu / khi cắc / khi tùng /

    Không Phật / không Tiên / không vướng tục”.

    Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hoà thanh (bằng, trắc), lối nhấn, lối diễn tả trùng điệp (khi… không..,) đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần. Có đọc to và hát lên, có lắng nghe tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu, ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hoà quyện trong những vẩn thơ đẹp như thế! Đúng là ngất ngưởng mà tài hoa, tài tử.

    Khổ xếp của bài hát nói chỉ có 3 câu. Câu cuối gọi là câu keo chỉ có 6 từ. Nên ghi đúng như văn bản ‘Tuyến tập thơ ca trù” – NXB Văn học 1987 mớí đúng thi pháp:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

    Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung,

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”

    Nguyễn Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thuỷ chung, trọn vẹn “nghĩa vua tôi”. Ông đã viết trong bài “Nợ tang bồng”:

    “Chí tang bồng hẹn với giang san,

    Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác”.

    Tài năng, công danh mà Nguyễn Công Trứ để lại cho đất nước và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Hai so sánh gần xa, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” đĩnh đạc, hào hùng: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Cái bản ngã phi thường của nhà thơ đã được phô bày cực độ.

    Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưỏng của Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô trọc, không vướng tục”, cũng không thoát li. Ngất ngưởng thế mới sang trọng.

    Cái nhan đề, thi đề “Bài ca ngất ngưởng” của ông Hi Văn rất độc đáo. Cách bộc lộ bản ngã của nhà thơ cũng rất độc đáo. Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đậm đặc chất “ngông”. Một đằng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn.

    Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Các câu thơ chữ Hán đem lại sự bề thế, uyên bác. Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hòa, lôi cuốn, hấp dẫn.

    Trong nền thi ca cổ điển Việt nam, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… là nhũng nhà thơ cự phách để lại một số bài hát nói tuyệt tác. Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hoà nhập với chí anh hùng, nợ tang bồng, chí nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. “Bài ca ngất ngưởng” đích thực là “Bài ca từ đáy lòng” của ông Hi Văn cho ta nhiều thú vị.

    3. Phân tích Bài ca ngất ngưởng – mẫu 2

    Nguyễn Công Trứ là người có tài, hoạn lộ gặp nhiều thăng trầm. Ông để lại cho hậu thế khoảng 150 tác phẩm trên nhiều thể loại nhưng thành công nhất ở thể loại hát nói. Bài ca ngất ngưởng là một trong những tác phẩm hát nói xuất sắc nhất của ông thể hiện cá tính tài tử của bản thân.

    Bài thơ được sáng tác trong thời gian ông cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Với thể loại hát nói tự do, phóng khoáng rất phù hợp để thể hiện cá tính, con người của Nguyễn Công Trứ. Văn bản thể hiện rõ lối sống ngất ngưởng của ông khi làm quan cũng như khi cáo quan về ở ẩn.

    Theo quan điểm của Nguyễn Công Trứ, ngất ngưởng là sự thể hiện của tính cách cao ngạo, thoát ra ngoài khuôn khổ xã hội phong kiến chuyên chế. Đây đồng thời cũng là phong sống có bản lĩnh cá nhân, khác đời và hơn đời.

    Sáu câu thơ đầu thể hiện lối sống ngất ngưởng khi ông đang làm quan. Trước hết ở ý thức trách nhiệm của ông trước cuộc đời và lòng kiêu hãnh tự tin về bản thân: Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Ông khẳng định mọi việc trong trời đất này đều thuộc trách nhiệm của ông. Lời nói đó cho thấy Nguyễn Công Trứ dám khẳng định ý nghĩa, vai trò của bản thân đối với đất nước. Thể hiện ở quan niệm về việc làm quan rất khác người – vừa là danh lại vừa là nợ:

    Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

    Là danh bởi đây chính là cơ hội để ông chứng tỏ bản thân, chứng tỏ tài năng hơn người, khác người của mình, dùng tài năng đó để cống hiến, phục vụ cho đất nước. Nhưng lại là nợ bởi làm quan sẽ bị ràng buộc bởi trách nhiệm, ông buộc phải chấp nhận cuộc sống gò bó, mất tự do khi ở chốn quan trường. Vốn là người mang trong mình bản tính tự do, tự tại khi bị ép vào khuôn phép cũng là một điều khó khăn đối với Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên vì ý thức trách nhiệm và niềm kiêu hãnh tự tin nên Nguyễn Công Trứ đã gạt đi thú vui thích của bản thân, theo đuổi con đường khoa cử, đỗ đạt ra làm quan để thực hiện hoài bão giúp nước, giúp đời. Hoài bão to lớn, cao đẹp ấy là hoài bão của biết bao người quân tử trong xã hội lúc bấy giờ.

    Trong những năm cống hiến cho đời, ông đã làm được nhiều điều và ông tự hào về những điều mình đã làm được, mình đã cống hiến:

    Khi thủ khoa, khi tham tán, khi Tổng đốc Đông

    Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

    Lúc bình tây cờ Đại Tướng

    Có khi về phủ doãn Thừa Thiên.

    Trong cuộc đời làm quan, Nguyễn Công Trứ đã trải qua nhiều chức quan khác nhau: tham tán, tổng đốc Đông, bình tây đại tướng,… đều là những chức vụ quan trọng trong triều đình. Điều đó cho thấy tài năng hơn người của ông. Đồng thời đã cho thấy ý thức trách nhiệm cũng như thái độ tự tin, kiêu hãnh của Nguyễn Công Trữ trước những thành quả mình đạt được. Những cống hiến ấy không chỉ thể hiện tài năng hơn đời mà còn thể hiện tấm lòng ưu dân ái quốc của ông.

    Khi đang ở đỉnh cao ở vinh quang, năm 70 tuổi Nguyễn Công Trứ xin cáo quan về quê mãi cho đến lần thứ mười hai ông mới được chấp nhận. Về quê ông hưởng thụ cuộc sống tự do, tự tại, ngao du sơn thủy. Hành động của ông khi cáo quan về quê cũng thể hiện tư thế ngất ngưởng, khác người: Đô môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Hành động đó như một sự thách thức đối với hệ thống quan lại đương thời, đồng thời cũng khẳng định thái độ không còn luyến tiếc với hư vinh mà triều đình đem lại. Không chỉ vậy cái ngất ngưởng của ông còn thể hiện trong nhu cầu, sở thích cá nhân, điều mà rất ít khi các nhà thơ khác bộ lộ trực tiếp: nơi ở như chốn thần tiên: “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”; du ngoạn cảnh chùa chiền: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi/ Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” hay thưởng thức thu vui hát ả đào: “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng/ Không Phật không tiên, không vướng tục”. Ngoài ra nó còn thể hiện trong thái độ sống an nhiên, tự tại, không quan tâm đến những lời khen chê của dư luận: “Được mất dương dương người thái thượng/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

    Ông kiêu hãnh, tự hào với lối sống ngất ngưởng của mình: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung. Nguyễn Công Trứ tự xếp mình ngang hàng với những người tài năng, nhân cách lỗi lạc. Khẳng định sự khác đời và hơn đời của phong cách sống ngất ngưởng: Trong triều ai ngất ngưởng như ông? Câu hỏi tu từ khép lại bài thơ là thái độ tự tin và bằng lòng của Nguyên Công Trứ về phong cách sống có bản lĩnh mà ông suốt đời tâm niệm. Đây là lối sống có trách nhiệm với đời, cần phải tận lực cống hiến và cống hiến có kết quả. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng cần phải biết hưởng thụ những niềm vui mà cuộc sống dành cho mình. Đó còn là lối sống trung thực, dám là chính mình, vượt ra khỏi khuôn mẫu khắc kỉ phục lễ chật chội, giả dối.

    Với thể thơ hát nói tự do, phóng khoáng đã giúp Nguyễn Công Trứ thể hiện thành công lối sống ngất ngưởng của bản thân. Lối sống đó thể hiện cá tính tự do, phóng khoáng, bản lĩnh sống lành mạnh, có sự phá cách về quan niệm sống, vượt qua những khe khắt, giáo điều của lễ giáo phong kiến.

    4. Phân tích Bài ca ngất ngưởng – mẫu 3

    Nếu như thể “ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn, đau xót đi tìm những giá trị của mình bị mất mát” thì hát nói “một thể thông dụng trong ca trù thể hiện một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, danh lợi, nắm lấy phút vui hiện tại”. Nhắc đến thể hát nói không thể không nhắc đến tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ bài thơ đem đến cho hát nói một nội dung phù hợp với chức năng và thể loại của nó. Bài thơ thể hiện cái tôi ngông của tác giả, một phong cách sống khác đời vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến trên cơ sở ý thức về tài năng và giá trị của bản thân.

    Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho nghèo đã từng thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan xong con đường công danh ấy không được bằng phẳng, thăng trầm. Sáng tác của ông hầu hết là bằng chữ Nôm, thể loại ưa thích nhất của ông là hát nói bởi ông đã có điều kiện tham gia ca trù vốn khá phát triển ở làng Cổ Đạm gần làng ông. Đề tài và nội dung trong các bài thơ hát nói của ông rất đa dạng như: tình yêu, đồng tiền, chí làm trai, sự ăn chơi hưởng lạc….

    “Bài ca ngất ngưởng” thuộc đề tài sự ăn chơi hưởng lạc, bài thơ được sáng tác 1848 là năm nhà thơ cáo quan về hưu, sống cuộc đời tự do, thoải mái. Điều đó được thể hiện rõ nét qua từ “ngất ngưởng”. Theo Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một tinh thần, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người mà dường như không nhìn thấy ai, đi giữa cuộc đời mà dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”.

    Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật về cuộc đời thi thố tài năng ở chốn quan trường của tác giả với những sự kiện tiêu biểu. Mở đầu bài thơ là một câu thơ chữ Hán thể hiện quan niệm, triết lí sống mà nhà thơ đã theo đuổi. Do cảm hứng phóng túng, làm chơi, buông thả nên hát nói được cấu tạo một cách đặc biệt. Nó pha trộn lời Hán với lời Việt. Hầu hết các bài đều có một câu chữ Hán là một câu dẫn ngữ nói một tư tưởng nào đó được sẵn đặt ở đầu câu.”Vũ trụ nội mạc phi phận sự” nghĩa là mọi việc trong khoảng trời đất đều là phận sự của ta. Cho thấy sự làm chủ của con người trong vũ trụ, con người với tinh thần nhập thế, trách nhiệm gánh vác việc đời. Ý thơ này đã được ông thể hiện nhiều lần trong những bài thơ khác nhau như: “Vũ trụ chức phận nội” việc trong vũ trụ là phận sự của ta hay “Vũ trụ giao ngô phận sự” mọi việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta. Ông luôn xác định cho mình một lối sống tích cực, sống với đời và đóng góp cho đời. Ông đã chịu ảnh hưởng chí làm trai của Nho giáo và kế thừa tinh thần bậc tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi Phan Bội Châu như “Sinh vi nam tử yếu hi kì/ Há để càn khôn tự chuyển di”…

    Tiếp theo nhà thơ tự nói về mình điều hiếm thấy trong thơ văn trung đại. Bởi con người trong giai đoạn ấy cái tôi cá nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại không coi mình là trung tâm mà chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Nhưng ở đây tác giả đã tự tin thể hiện cá tính, con người riêng của mình.

    “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

    …Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

    Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài hoa. Ông tự khẳng định mình là một người “tài năng lỗi lạc xuất chúng” đã “vào lồng” tức ông coi việc làm quan trong triều bị giam hãm trong lồng gò bó, mất tự do. Nhà thơ hẳn phải là con người phóng khoáng, có chí tung hoành, không hám danh hám lợi nên mới tự tin bộc lộ bản thân. Ông liệt kê các học vị, các chức quan lớn mà mình đã nắm giữ. Với câu văn dài ngắn khác nhau, nhịp thơ linh hoạt cùng với cách sử dụng điệp từ “khi” và hệ thống từ Hán Việt đã thể hiện một cảm hứng tự hào, tự tin khẳng định cái tôi cá nhân của một con người tài năng.

    Phần còn lại là sự giãi bày cách sống ngất ngưởng khác thường của thi sĩ. Lại một câu thơ chữ Hán xuất hiện “Đô môn giải tố chi niên” đánh dấu sự kiện chuyển biến trong cuộc đời nhà thơ với ý nghĩa cả câu: năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu, sống một lối sống như mình mong muốn:

    “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

    …Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

    Chỉ với bốn câu thơ mà đến hai lần từ “ngất ngưởng” xuất hiện phải chăng nhà thơ quá yêu thích lối sống ấy. Trong các câu thơ trên có sử dụng nghệ thuật đối ý tương phản. Đạc ngựa mà lại đeo cho bò vàng, tay kiếm cung mà nên dạng từ bi nhắc đến đao kiếm là con người ta nghĩ ngay đến binh đao, chém giết làm sao có thể từ bi, đi vãng cảnh chùa để thoát tục mà “Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì”… chính sự đối lập gay gắt trong nhân cách của nhà thơ tạo nên sự khác biệt của ông.

    Nguyễn Công Trứ là người có công lớn với triều đình, với nhân dân từng giúp dân trị thủy, khai hoang và lập nhiều chiến công trong việc dẹp loạn các cuộc nổi dậy chống triều đình. Ý thức được tài năng của mình ông lựa chọn cho mình một phương thức sống, một cách sống khác người. Trước tiên ông nguyện một lòng phò vua giúp nước, cống hiến tài năng trí tuệ của mình “đem tất cả sở tồn làm sở dụng” (đem tất cả chí bình sinh của mình ra cống hiến cho đời) với trí nam nhi của mình:

    “Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây

    Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

    Sau khi đã hoàn thành trách trách nhiệm trên vai người trí sĩ yêu nước thương nòi, ông cho phép mình được hưởng thú tiêu dao, hành lạc với quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy”. Chính bởi vậy ông chẳng bận tâm đến chuyện được mất, khen chê ở trên đời, ông bỏ ngoài tai tất cả để toàn tâm tận hưởng thú vui của riêng mình:

    “Được mất dương dương người thái thượng

    Khen chê phơi phới ngọn đông phong”

    Hai câu thơ tiếp theo với cách ngắt nhịp 2/2/2/2, 2/2/3 linh hoạt, dồn dập liệt kê các thú vui của tác giả, tạo cho câu thơ phong phú về âm điệu, nhạc điệu:

    “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

    Không phật, không tiên, không vướng tục”

    Điệp từ “khi” và ba từ “không” liên tiếp lặp lại cho thấy một tâm hồn tự do, phóng khoáng không vướng bận thế tục, không vướng việc đời, một phong thái ung dung, tự tại. Nguyễn Công Trứ đang tiêu dao tận hưởng những ngày tháng của một kẻ sĩ tài hoa, tài tử: “Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp/ Trong thú yên hà mặt tỉnh say”

    Cuối cùng nhà thơ đúc kết lại toàn bộ cuộc đời mình bằng ba câu thơ với sự khẳng định chắc nịch tài năng và phẩm chất của bản thân:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

    Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông”

    Nhà thơ đã tự xếp mình ngang hàng với các vị danh tướng lỗi lạc của đời Hán, đời Tống bên Trung Hoa. Trái, Nhạc, Hàn, Phú là Trái Tuân, Hàn Phi, Hàn Kì, Phú Bật. Ông tự định vị, tự ý thức được tài đức của mình. Ông rong chơi cho thỏa chí của mình nhưng vẫn vẹn đạo vua tôi. Thật đúng như nhận xét của Trần Đình Sử về Nguyễn Công Trứ “Nhập thế tục mà không vương tục, rong chơi mà vẫn trọn nghĩa vua tôi”. Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi cá nhân được phô diễn cực độ, tự tin khẳng định trong triều chẳng có ai được như ông.

    “Bài ca ngất ngưởng” với bút pháp nghệ thuật đặc sắc sử dụng các điệp từ, câu cảm thán làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, nó làm cho tính chủ thể của lời văn nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái ngang tàn, ngạo nghễ, thách thức. Sử dụng tiếng thô, tiếng lóng trong sinh hoạt hàng ngày tạo ra giọng nói sống động pha tạp vừa thanh vừa tục. Trong một bài thơ tính cả nhan đề có đến năm lần nhà thơ dùng từ “ngất ngưởng” thể hiện cá tính ngông của ông.

    Bài thơ đã khắc họa chân dung của cụ Nguyễn Công Trứ một con người tài ba, lỗi lạc vừa làm trọn phận bề tôi, vừa thỏa chí của bản thân mình. Bài thơ đã góp phần làm cho thể thơ hát nói được thể hiện đúng với cấu trúc, chức năng của mình.

    5. Phân tích Bài ca ngất ngưởng – mẫu 4

    Trong văn học, ngoài cái tôi lãng mạn, hào hoa khiến người ta say đắm thì còn một cái tôi ngang tàn, ngạo nghễ cũng không kém phần thu hút. Nếu như cái “ngông” của Nguyễn Tuân thể hiện ở sự phản ứng tiêu cực và đầy kiêu ngạo trước cuộc đời, ông thể hiện phong cách tài hoa của mình qua những trang viết lịch lãm, đặt mình lên trên thiên hạ thì Nguyễn Công Trứ cũng thể hiện sự “ngất ngưởng”, phóng khoáng trong cả tài năng, trí tuệ lần cốt cách của ông. Điều đó được thể hiện rõ nét qua tác phẩm Bài ca ngất ngưởng. Có thể nói, bài thơ chính là lời khẳng định của nhà thơ về thái độ sống của mình với cuộc đời.

    Bài ca ngất ngưởng được sáng tác năm 1848, Nguyễn Công Trứ từ quan về quê nhà sau hơn 30 năm ông làm quan dưới triều Nguyễn. Trong suốt hơn 30 năm, Nguyễn Công Trứ lúc làm lính thú, lúc cầm quân chinh chiến, khi lại làm đại quan ông đã từng vinh nhục kinh qua, thăng trầm có cả nên có thể nói bài thơ Bài ca ngất ngưởng vang lên như một lời tự thuật về cuộc đời, qua đó ông Hi Văn tự hào về tài năng, đức độ và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời. Bài hát nói này có hai khổ đôi, tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hát nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ, chất nhạc kết hợp rất hài hoà, hấp dẫn.

    Mở đầu bài thơ là lời khẳng định của tác giả về quan niệm sống của một đấng làm trai:

    “Vũ trụ nội mạc phi phận sự.”

    (Mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của ta).

    “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

    Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

    Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

    Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

    Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.”

    Là một người có kinh nghiệm làm quan trên 30 năm, tác giả kể ra những chức vụ mà mình đã từng đảm nhiệm trong suốt những năm tháng phụng sự cho đất nước ấy. Đó là: “Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông…”. Hẳn phải là một người tài giỏi, trí tuệ hơn người, thông minh, điều sự đều nhanh trí thì Nguyễn Công Trứ mới được giao cho nhiều trọng trách như vậy. Vì lẽ đó mà không một công việc gì mà tác giả chưa từng nếm trải qua, nên ông đã khẳng định với những đấng nam nhi còn lại trên cuộc đời này một lí lẽ chắc nịch như vậy. Những chứng cứ nhà thơ nêu ra rất xác đáng, là ví dụ không thể chối cãi cho lập luận ban đầu của ông.

    Những tưởng chỉ khi làm quan, có chức có quyền thì Nguyễn Công Trứ mới bày tỏ cái tôi ngạo nghễ, phi thường đến như vậy nhưng không, kể cả trong cuộc sống thường ngày hay khi cáo quan về quê thì cái tôi ấy vẫn không hề mất đi mà còn tự do hơn:

    “Đô môn giải tổ chi niên

    Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”

    Hình ảnh “đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” cho thấy thái độ giễu cợt của tác giả đối với cuộc đời. Ông chưa từng thấy cái tôi của mình nhỏ bé, thấp hèn mà luôn thấy nó to lớn, sánh ngang với cuộc đời, để có thể hiển nhiên mà chế giễu. Đến cả Bụt cũng phải cười trước sự ngất ngưởng của nhà thơ:

    “Kìa núi nọ phau phau mây trắng

    Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

    Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

    Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.”

    Từ giã cuộc đời làm quan, trở về với cuộc sống bình thường giản dị nhưng lối sống của Nguyễn Công Trứ lại không tầm thường một chút nào. Hình ảnh miêu tả thật hóm hỉnh “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi”, cũng dễ hiểu thôi bởi nhà thơ trước kia là một người ở chốn quan trường đầy xô bồ, mưu mẹo, nay sống một cuộc sống của người dân bình thường bỗng cảm thấy mình thật “từ bi”. Ông đi lễ chùa mà cũng phải “Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì”. Quả thật, Nguyễn Công Trứ là một con người sống vô cùng phóng túng, sống hết mình mà chơi cũng hết mình. Ông luôn tỏ một thái độ hiên ngang, giễu cợt trước cuộc đời, khiến cho đến cả Bụt cũng phải cười trước sự “ngất ngưởng” của riêng ông. Có thể nói, mấy ai đạt được đến cái sự bất cần, ung dung như Nguyễn Công Trứ. Nhà thơ có được cái phong thái này bởi lẽ:

    “Được mất dương dương người thái thượng

    Khen chê phơi phới ngọn đông phong”

    Chốn quan trường giờ đây đã chẳng còn có ý nghĩa đối với tác giả. Bởi ông không còn phải phục tùng bề trên, nghĩa lệnh cho cấp dưới nữa. Mọi khen, chê, thưởng, phạt của cuộc đời làm quan giờ chỉ là hư vô. Nhà thơ đã thoát khỏi cái vòng danh lợi luẩn quẩn, để được thỏa sức vẫy vùng khắp bốn phương. Cuộc sống ấy thật đáng ngưỡng mộ:

    “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

    Không Phật, không Tiên, không vướng tục.”

    Nhà thơ không còn phải vướng bận bất cứ điều gì trên trần thế, ông có thể vui chơi, đàn hát, uống rượu một cuộc sống tự do, tự tại hơn bao giờ hết. Trải qua biết bao nhiêu năm cống hiến và phụng sự cho triều Nguyễn, tác giả cuối cùng cũng được tận hưởng trọn vẹn cuộc sống của riêng mình một cách “ngất ngưởng” nhất. Thái độ, phong thái này vốn có từ khi nhà thơ bắt đầu làm quan nhưng càng thể hiện rõ nét hơn khi ông về già, về nghỉ hưu.

    Ba câu thơ cuối nhà thơ khẳng định rằng “không có một ai ngất ngưởng bằng mình”:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

    Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”

    Nguyễn Công Trứ khẳng định với mọi người rằng ông là một vị trung thần tận tâm với triều đình bằng lối so sánh với những bậc anh hùng như Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật… của đời Hán, Tống bên Trung Quốc. Công lao và những đóng góp của ông là vô cùng nhiều và to lớn. Giọng văn đĩnh đạc, hào hùng như là lời khẳng định đầy tự hào của tác giả về bản thân. Cho nên ông đã tuyên bố: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!” Câu thơ cuối cùng nói lên nội dung của toàn bài, là sự cắt nghĩa, lí giải về quan niệm làm một đấng nam nhi ở trong trời đất của nhà thơ. Bằng việc khẳng định thái độ sống của mình, ông muốn gửi tới những bậc nam nhi trong thiên hạ rằng phải biết vị trí của mình đối với trời đất, “trị quốc bình thiên hạ” là phận sự của mỗi người. Lời khẳng định tuy ngắn gọn mà xúc tích, bày tỏ sự chắc chắn trong chí hướng của một người đã từng làm quan.

    Toàn bộ bài thơ với nội dung mà nó truyền tải, người đọc chắc chắn sẽ hiểu được cái “ngất ngưởng” trong thơ của Nguyễn Công Trứ. Bằng tài năng, kinh nghiệm và những đóng góp của mình cho non sông, đất nước, tác giả đã khiến cho mọi người ý thức hơn về trách nhiệm của mỗi con người, đặc biệt là người con trai đối với cuộc đời. Như vậy, cái tôi “ngất ngưởng” của nhà thơ không phải là một thái độ tiêu cực mà là sự khẳng định bản thân của mình, là bản lĩnh dám sống ở đời, và một phong cách sống tài hoa, tài tử.

    Chỉ qua một bài thơ ngắn mà tác giả đã gửi gắm được toàn bộ lối sống và cái nhìn của mình trước cuộc đời. Thể thơ Nôm độc đáo với nhịp điệu rõ ràng, nhấn mạnh được phong thái hơn người của Nguyễn Công Trứ. Đọc bài thơ, ta thấy thêm cảm phục những người nam nhi đã cống hiến hết mình cho đất nước trong thời kì phong kiến, cũng thấy trân trọng thêm thái độ và tinh thần của tác giả đối với cuộc đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Ngắn Gọn Nhất (Có Dàn Ý)
  • Mùa Xuân Là Cả Một Mùa Xanh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Tv
  • 5 Bài Văn Phân Tích 8 Câu Đầu Của Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Ngữ Văn Lớp 12
  • Tiết: 13-14 Nguyễn Công Trứ

    Ngày soạn: Ngày dạy:

    A/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS:

    HS hiểu được phong cách sống của Nguyễn Công Trứ với tính cách một nhà nho và hiểu được vì sao có thể coi đó là sự thể hiện bản lĩnh cá nhân mang ý nghĩa tích cực.

    Hiểu đúng khái niệm “ngất ngưởng” để không nhằm lẫn với lối sống lập dị của một số người hiện đại.

    Nắm được những tri thức về thể hát nói là thể thơ dân tộc bắt đầu phổ biến rộng rãi từ thế kỉ XIX.

    Học sinh: Đọc kĩ SGK, tìm hiểu tác giả, tác phẩm, lưu ý từ ngữ khó hiểu, trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài, lưu ý hoàn cảnh và môi trường mà Nguyễn Công Trứ đang sống.

    Tuần: 4 BÀI CA NGẤT NGƯỞNG Tiết: 13-14 Nguyễn Công Trứ Ngày soạn: Ngày dạy: A/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS: HS hiểu được phong cách sống của Nguyễn Công Trứ với tính cách một nhà nho và hiểu được vì sao có thể coi đó là sự thể hiện bản lĩnh cá nhân mang ý nghĩa tích cực. Hiểu đúng khái niệm "ngất ngưởng" để không nhằm lẫn với lối sống lập dị của một số người hiện đại. Nắm được những tri thức về thể hát nói là thể thơ dân tộc bắt đầu phổ biến rộng rãi từ thế kỉ XIX. B/ CHUẨN BỊ: Học sinh: Đọc kĩ SGK, tìm hiểu tác giả, tác phẩm, lưu ý từ ngữ khó hiểu, trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài, lưu ý hoàn cảnh và môi trường mà Nguyễn Công Trứ đang sống. C/ TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC: 1/ Kiểm tra bài cũ: 2/ Vào bài: - Thế nào là ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân? - Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân được hiểu như thế nào? a. Giới thiệu bài: Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ mấy phen thăng giáng: có khi quan văn, có khi quan võ, có khi bị cách chức. Thơ văn ông thường thể hiện khát vọng tự do, thái độ khinh đời, ngạo thế, sự tự ý thcs về tài năng, phẩm chất và giá trị của bản thân bằng những phong cách vừa trào phúng, vừa là màu sắc triết lí có dư âm truyền thống, vừa hiện đại. Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng tìm hiểu bài: BÀI CA NGẤT NGƯỞNG. b. Tiến trình dạy và học: TG HOẠT ĐỘNG GV HOẠT ĐỘNG HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT 10 phút 40 phuùt 10 phuùt * HĐ 1: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm. + Quê hương, gia đình. + Con người. + Cuộc đời. + Sự nghiệp. - Nêu câu hỏi tìm hiểu chung về tác phẩm: + Dự đoán HCST? + Thể loại của bài thơ? + Phân chia bố cục? * HĐ 2: Hướng dẫn phân tích: - Yêu cầu HS đọc diễn cảm, lưu ý ngắt nhịp, giọng chắc khoẻ, khôi hài. - Yêu cầu HS lưu ý một số từ ngữ khó hiểu. - Hệ thống câu hỏi: + Em hiểu gì về câu thơ mở đầu? + Vì sao làm quan là gò bó, mất tự do nhưng ông vẫn làm quan? Nghệ thuật thể hiện? + Cách tự xưng của ông nói lên điều gì? - Nhận xét, chuyển ý. - Yêu cầu đọc đoạn 2. - Câu hỏi phân tích: + Thời gian cáo quan ông dùng để làm gì? + Điều gì lạ qua hành động và quan niệm sống? + Phân tích những từ ngữ chỉ tâm trạng? + Ông chỉ quan tâm đến những thú vui nào? * HĐ 3: Hướng dẫn HS tổng kết. - Ấn tượng chung về con ngươì tác giả qua bài thơ? - Lứa tuổi HS chúng ta có nên sống theo lối ngất ngưởng của NCT không ? Tại sao? - Dựa vào bài soạn trả lời. - Dựa vào tác phẩm, dự đoán HCST? - Đọc diễn cảm bài thơ. - Nêu cách hiểu những từ ngữ khó. - Trả lời cá nhân. - Phân tích tác dụng của nghệ thuật liệt kê, điệp từ. - Đọc đoạn thơ. - Trả lời câu hỏi. - Nêu cảm nhận, phát biểu cảm nghĩ. I/ GIỚI THIỆU: 1/ Tác giả: Nguyễn Công Trứ (1778-1858) - Tên tự: Tồn Chất - Biệt hiệu: Hi Văn - Quê: Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tỉnh - Xuất thân trong gia đình Nho học, thi đỗ làm quan, lập nhiều công cho nhà Nguyễn. Con đường làm quan nhiều lúc thăng trầm. Có tài năng và nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, văn hóa, kinh tế, quân sự. Sáng tác: hầu hết bằng chữ Nôm, dùng nhiều thể hát nói. - Ông luôn quan tâm đến cuộc sống của nhân dân nên ông được dân chúng lập miếu để tôn thờ. - Ông là người mở hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. 2/ Hoàn cảnh sáng tác: - Bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" được Nguyễn Công Trứ sáng tác sau năm 1848, lúc các quan về ở ẩn, sống một cuộc đời tự do thoải mái ông luôn thể hiện phong cách sống khác đời , tự do phóng túng, vượt ra ngoài khuôn khổ, đạo đức phong kiến, trên cơ sở tự ý thức về tài năng, phẩm chất và giá trị của mình. 3/ Thể loại: - Bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" được Nguyễn Công Trứ viết theo thể hát nói (ca trù), một thể thơ phóng khoáng. 4/ Bố cục: - Sáu câu đầu: Tài năng và địa vị. - 12 câu kết: Phong cách sống khác đời. - Câu kết: Khẳng định sự cá biệt độc đáo. II/ ĐỌC HIỂU: 1/ Ngất ngưởng tại triều đình: "Vũ trụ nội mạc phi phận sự, Ông Hi Văn tài bộ dã vào lồng. Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng." Lúc bình Tây cờ đại tướng Có khi về Phủ doãn thừa Thiên." - Từ "vào lồng": xem làm quan như một sự bó buộc, giam hãm, gò bó. 2/ Ngất ngưởng khi cáo quan: * Hành động: Dành nhiều thời gian để sống tiêu dao qua những hình ảnh: - "Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng". - "Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi" - "Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì." * Quan niệm sống: - Chỉ thích cầm kì, thi, tửu, sống tự do, phóng túng thuận theo tự nhiên. - Nhưng vẫn giữ được đạo lý ở đời, hết lòng phò vua giúp nước. 3/ Lời tuyên bố: "Chẳng Trái , Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung." Trong triều ai ngất ngưởng như ông!". - "Ngất ngưởng": diễn tả một thái độ, một tinh thần vươn lên trên thế tục, một cách chơi ngông của kẻ có tài. - Tự coi mình là duy nhất, không ai sánh được, tự tách mình ra khỏi thế giới quan tù túng. Ý thức về tài năng, khẳng định về đạo vua tôi, vẫn giữ được đạo lý ở đời, hết lòng phò vua giúp nước. III/ TỔNG KẾT: Ghi nhớ, trang 39. 3/ Củng cố: HS đọc lại bài thơ, nêu cảm nghĩ về quan niệm sống ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ? Bài ca ngất ngưởng - Từ ngữ chỉ địa danh, quan chức: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phủ doãn Thừa Thiên - Từ ngữ chỉ sinh hoạt, giải (ca, tửu, cắc, tùng ) Bài ca phong cảnh ca - Từ chỉ tôn giáo: bụt, niệm Nam mô Phật, cúng, nghe kinh, chày kình, từ bi, công đức) Bài ca ngất ngưởng Từ ngữ chỉ địa danh, quan chức: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phủ doãn Thừa Thiên - Từ ngữ chỉ sinh hoạt, giải (ca, tửu, cắc, tùng ) Bài ca phong cảnh ca Từ chỉ tôn giáo: bụt, niệm Nam mô Phật, cúng, nghe kinh, chày kình, từ bi, công đức) ? Đối với nhà nho, đi nghe hát có phải là ngất ngưởng không? Vì sao? - Nguyễn Công Trứ đã nhận đây là thú chơi tao nhã của nhà nho, điều này trước nguyễn Công Trứ ít nhà nho nào dám đưa vào trong thơ. Đây chính là sự ngất ngưởng của ông. Ông dám đề cao thú hát nói, bày ra sự gần gũi của mình với các ca nhi ả đào. 4/ Dặn dò: - Học bài: Thuộc lòng bài thơ, phân tích được cảm hứng chủ đạo "ngất ngưởng", nắm ý phần ghi nhớ. - Soạn bài: BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT + Đọc SGK, tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm, sưu tầm giai thoại. + Phân nhóm, trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài. D/ RÚT KINH NGHIỆM:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Soạn Bài Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Ngắn Gọn Nhất (Có Dàn Ý)

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • I. Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng chi tiết

    1. Mở bài

    1.1 Giới thiệu sơ lược về tác giả

    – Khái quát về thân thế, sự nghiệp của tác giả:

    + Nguyễn Công Trứ là một nhà văn có tính cách “ngông”, một nhân vật lịch sử nổi tiếng, nhà chính trị, nhà quân sự và nhà thơ

    + Thơ văn ông có nội dung phản ánh nhân sinh và thế sự sâu sắc.

    1.2 Khái quát về tác phẩm

    – Giới thiệu hoàn cảnh lịch sử, xã hội, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác Bài ca ngất ngưởng

    – Chủ đề nội dung của Bài ca ngất ngưởng: thể hiện bản lĩnh cứng cỏi, sự thức tỉnh ý thức cá nhân và một nhân sinh quan tiến bộ hiện đại.

    – Ý nghĩa nhan đề: tập trung vào hai chữ “ngất ngưởng”

    + Nghĩa đen: Chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, không vững, nghiêng ngả

    + Nghĩa bóng: Cách sống vượt lên trên những khuôn mẫu, gò bó, thể hiện tính cách, thái độ, cách sống ngang tàng của Nguyễn Công Trứ.

    2. Thân bài

    2.1 Quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan

    – ” Vũ trụ nội mạc phi phận sự “: quan niệm con người sinh ra do “ý của trời đất”, nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời (những việc trong vũ trụ đều thuộc trong phận sự của ta).

    – Quan niệm ấy trong Nguyễn Công Trứ gắn liền với ý tưởng “tu, tề, trị, bình”, với chí làm trai và chủ nghĩa anh hùng mà ông đeo đuổi với tất cả lòng tin tưởng, lạc quan trong suốt cuộc đời mình.

    – ” Ông Hi Văn… vào lồng “:

    + Coi nhập thế là việc làm trói buộc, làm quan sẽ mất tự do, gò bó nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng, hoài bão, trọn nghĩa vua tôi.

    – Nêu những việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình:

    + Tài năng: giỏi văn chương (khi thủ khoa), tài dùng binh (thao lược)

    + Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

    2.2 Quan niệm sống ngất ngưởng khi về hưu

    – Cách sống theo ý chí và sở thích cá nhân:

    + Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

    + Đi chùa có gót tiên theo sau.

    + “Bụt cũng nực cười”: thể hiện hành động của tác giả là những hành động khác thường, ngược đời, đối nghịch với quan điểm của các nhà nho phong kiến.

    – Quan niệm sống:

    + ” Được mất… ngọn đông phong “: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian.

    + ” Khi ca… khi tùng”: tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “khi” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên.

    2.3 Quãng đời khi cáo quan về hưu

    – ” Chẳng trái Nhạc… Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung “: dùng điển cố ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật,…

    – Tự khẳng định mình là con người trung thần, làm tròn đạo vua tôi, điều này góp phần khẳng định thêm quan niệm về chí làm trai của tác giả ở đầu bài thơ.

    – Tự hào khẳng định tài năng và công lao của mình một cách đĩnh đạc hào hùng.

    – “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”.

    3. Kết bài

    – Khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật

    + Nội dung: thể hiện phong cách sống tốt đẹp, bản lĩnh cá nhân trong khuôn khổ của xã hội phong kiến chuyên chế, sự tự ý thức giá trị bản thân của tác giả.

    + Đặc sắc nghệ thuật: Vận dụng thành công thể hát nói, giọng điệu hóm hỉnh, trào phúng; sử dụng điển tích, điển cố; kết hợp hài hòa giữa hệ thống từ ngữ Hán Việt với từ ngữ Nôm thông dụng trong đời sống hàng ngày.

    – Phát biểu cảm nghĩ, ấn tượng chung của bản thân về tác phẩm.

    – Rút ra bài học tư tưởng, tình cảm… đối với bản thân.

    Mẫu dàn ý chi tiết khác: Dàn ý phân tích bài thơ Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ)

    II. Bài phân tích Bài ca ngất ngưởng ngắn gọn (tham khảo)

    Bài văn mẫu ngắn phân tích tác phẩm Bài ca ngất ngưởng dành cho các em tham khảo và nắm được cách làm bài, bám sát nội dung dàn ý.

    Mở bài phân tích Bài ca ngất ngưởng

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. Văn chương lỗi lạc, có tài kinh bang tế thế, lưu danh sử sách. Lúc sống cuộc đời một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan. Vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trải, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:

    “Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”.

    Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm ” Hàn nho phong vị phủ“, và trên 60 bài thơ hát nói cực kì tài hoa. “Bài ca ngất ngưởng” là một trong những bài thơ hát nói kiệt tác trong nền thơ ca dân tộc. Bài hát nói này có hai khổ dôi tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hát nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ, chất nhạc kết hợp rất hài hòa, hấp dẫn.

    Nguyễn Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau gần 30 năm làm quan với triều Nguyễn. Bài thơ ” Bài ca ngất ngưởng” được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tự thuật về cuộc đời, qua đó ông Hi Văn tự hào về tài năng, đức độ và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời.

    Thân bài phân tích Bài ca ngất ngưởng

    “Ngất ngưởng” nghĩa là không vững, ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi ( Từ điển tiếng Việt). Trong bài thơ này nên hiểu “ngất ngưởng” là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cả niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy.

    Khổ đầu cất cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng tài trai. Rất trang trọng và hào hùng: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” – mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói phủ định để khẳng định tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: “Vũ trụ giai ngô phận sự” (Những việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta – Nợ tang bồng); “Vũ trụ chức phận nội” (Việc trong vũ trụ là chức phận của ta – Gánh trung hiếu). Có cái tâm thế ấy, chính vì “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ, “tài bộ” là tài năng lớn, nhiều tài năng, chữ “lồng” trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Lê Trí Viễn, ” Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa cái nơi chật hẹp, tù túng trái với cái tài đội trời đạp đất của ông“. Có người lại giải thích: “lồng là trời đất, vũ trụ”. Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: “Đã mang tiếng ở trong trời đất”, hoặc “Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn” (trần hoàn: cõi đời, cõi trần). Cách hiểu thứ hai hợp lí hơn, vì có vào lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh, như ông nói:

    “Chí làm trai Nam Bắc Tây Đông, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.

    Sau khi đã xưng danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế mình, “tài bộ” mình, chí nam nhi của mình mang tầm vóc vũ trụ.

    Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Học hành thi cử, ông dám thi thố với thiên hạ: “Cái nợ cẩm thư phải trả xong”. Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên), tiếng tăm lẫy lừng “Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ” ( Chí anh hùng). Đứng trên đỉnh cao danh vọng bởi có văn võ toàn tài, bởi có “gồm thao lược”, và chính lúc đó ông Hi Văn mới trở thành “tay ngất ngưởng”, một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), ba lần điệp lại chữ “khi” đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phi thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:

    “Khi Thủ khoa! khi Tham tán ! khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược ! đã nên tay ! ngất ngưởng”.

    Bốn câu tiếp theo (khổ giữa), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế. Thời loạn thì xông pha trận mạc, giữ trọng trách trước ba quân: “Bình Tây cờ Đại tướng”. Thời bình thì giúp nước giúp vua, làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng. Ông đã từng nói: “Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thế làm vinh, lúc làm lính thú, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục”. Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ về trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi (1848):

    “Đô môn giải tổ chi niên, Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”. Tư thế cưỡi bò vàng “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ

    Trở lại đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để giễu đời với tất cả sự ngất ngưởng. Vị đại quan thuở nào “ngựa ngựa xe xe” nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa. Cả người và bò vàng đều ngất ngưởng. Như một sự thách đố với “miệng thế”. Cho đến nay dân gian vẫn cười và truyền tụng bài thơ đề vào chiếc mo cau của ông Hi Văn thuở nào:

    “Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng nhàn. Lợm mùi giáng chức với thăng quan. Điền viên dạo chiếc xe bò cái, Sẵn tấm mo che miệng thế gian”.

    Tám câu tiếp theo trong hai khổ dôi nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng – “tay kiếm cung” – thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị “nên dạng từ bi”. Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì”, những nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên đủng đỉnh”…

    “Kìa núi nọ phau phau mây trắng, Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”

    Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào gợi ít nhiều hóm hỉnh. Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hi Văn tự cười mình? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện “được, mất” là lẽ đời, như tích “Thất mã tái ông” mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào cá tính cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm đến chuyện “được, mất”, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hồn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong ” Bài ca ngất ngưởng“:

    “Khi ca / khi tửu / khi cắc / khi tùng / Không Phật / không Tiên / không vướng tục”.

    Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hoà thanh (bằng, trắc), lối nhấn, lối diễn tả trùng điệp (khi… không…) đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần. Có đọc to và hát lên, có lắng nghe tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu, ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hòa quyện trong những vần thơ đẹp như thế! Đúng là ngất ngưởng mà tài hoa, tài tử.

    Khổ xếp của bài hát nói chỉ có 3 câu. Câu cuối gọi là câu keo chỉ có 6 từ. Nên ghi đúng như văn bản “Tuyển tập thơ ca trù” – NXB Văn học 1987 mới đúng thi pháp:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung, Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”

    Nguyễn Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thủy chung, trọn vẹn “nghĩa vua tôi”. Ông đã viết trong bài “Nợ tang bồng”:

    “Chí tang bồng hẹn với giang san, Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác”.

    Tài năng, công danh mà Nguyễn Công Trứ để lại cho đất nước và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Hai so sánh gần xa, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” đĩnh đạc, hào hùng: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Cái bản ngã phi thường của nhà thơ đã được phô bày cực độ.

    Kết bài phân tích Bài ca ngất ngưởng

    Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô trọc, không vướng tục”, cũng không thoát li. Ngất ngưởng thế mới sang trọng.

    Cái nhan đề, thi đề Bài ca ngất ngưởng của ông Hi Văn rất độc đáo. Cách bộc lộ bản ngã của nhà thơ cũng rất độc đáo. Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đậm đặc chất “ngông”. Một đằng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn.

    Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Các câu thơ chữ Hán đem lại sự bề thế, uyên bác. Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hòa, lôi cuốn, hấp dẫn.

    Trong nền thi ca cổ điển Việt Nam, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… là nhũng nhà thơ cự phách để lại một số bài hát nói tuyệt tác. Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hòa nhập với chí anh hùng, nợ tang bồng, chí nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. “Bài ca ngất ngưởng” đích thực là “Bài ca từ đáy lòng” của ông Hi Văn cho ta nhiều thú vị.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mùa Xuân Là Cả Một Mùa Xanh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Tv
  • 5 Bài Văn Phân Tích 8 Câu Đầu Của Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Hay Nhất
  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • 5 bài Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ hay nhất

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ

    Bài giảng: Bài ca ngất ngưởng – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) là nhà thơ lớn của dân tộc ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. Văn chương lỗi lạc, có tài kinh bang tế thế, lưu danh sử sách. Lúc sống cuộc đời một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan. Vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trải, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:

    “Đã mang tiếng ở trong trời đất,

    Phải có danh gì với núi sông”.

    Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm “Hàn nho phong vị phủ”, và trên 60 bài thơ hát nói cực kì tài hoa. “Bài ca ngất ngưởng” là một trong những bài thơ hát nối kiệt tác trong nền thơ ca dân tộc. Bài hát nói này có hai khổ dôi tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hắt nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ, chất nhạc kết hợp rất hài hoà, hấp dẫn.

    Nguyễn Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau gần 30 năm làm quan với triểu Nguyễn. Bài thơ “Bài ca ngất ngưởng” được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tự thuật vể cuộc đời, qua đó ông Hi Văn tự hào vể tài năng, đức độ và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời.

    “Ngất ngưởng” nghĩa là không vững, ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (Từ điển tiếng Việt). Trong bài thơ này nên hiểu “ngất ngưởng” là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cả niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy.

    Khổ đầu cất cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng tài trai. Rất trang trọng và hào hùng: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” – mọi việc trong vũ trụ chằng có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói phủ định để khẳng đinh tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: “Vũ trụ giai ngô phận sự” (Những việc trong vũ trụ đểu thuộc phận sự của ta ~-Nợ tang bồng0; “Vũ trụ chức phận nội” (Việc trong vũ trụ là chức phận của ta – Gánh trung hiếu). Có cái tâm thế ấy, chính vì “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài năng lớn, nhiều tài năng. Chữ “lồng” trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. “Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa cái nơi chật hẹp, tù túng trái với cái tài đội trời đạp đất của ông” (Lê Trí Viễn). Có người lại giải thích: “lồng là trời đất, vũ trụ”. Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: “Đã mang tiếng ở trong trời đất”, hoặc “Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn” (trần hoàn: cõi đời, cõi trần). Cách hiểu thứ hai hợp lí hơn, vì có vào lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh, như ông nói:

    “Chí làm trai nam bắc tây đông,

    Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”.

    Sau khi đã xưng danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế mình, “tài bộ” mình, chí namnhi của mình mang tầm vốc vũ trụ.

    Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Học hành thi cừ, ông dám thí thố với thiên hạ: “Cái nợ cẩm thư phải trả xong”. Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ Thủ khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên). Tiếng tăm lẫy lừng “Làm nên đấng anh hùng đâuu đấy tỏ” (“Chí anh hùng”). Đứng trên đỉnh cao danh vọng bời có văn võ toàn tài, bởi có “gốm thao lược”, và chính lúc đó ông Hi Văn mới trở thành “tay ngất ngưởng”, một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2), ba lần điệp lại chữ “khi” đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phí thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:

    “Khi Thủ khoa! khi Tham tán ! khi Tổng đốc Đông,

    Gồm thao lược ! đã nên tay ! ngất ngưởng”.

    Bốn câu tiếp theo (khổ giữa), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế. Thời loạn thì xông pha trận mạc, giữ trọng trách trước ba quân: “Bình Tây cờ Đại tướng”. Thời bình thì giúp nước giúp vua, làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng. Ông đã từng nói: “Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thế làm vinh, lúc làm lính thú, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục”. Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ vể trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi (1848):

    “Đô môn giải tổ chi niên,

    Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

    Trở lại đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để giễu đời với tất cả sự ngất ngưởng. Vị đại quan thuở nào “ngựa ngựa xe xe” nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa. Cả người và bò vàng đều ngất ngưởng. Như một sự thách đố với “miệng thế”. Cho đến nay dân gian vẫn cười và truyền tụng bài thơ đề vào chiếc mo cau của ông Hi Văn thuở nào:

    “Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng nhàn.

    Lợm mùi giáng chức với thăng quan.

    Điền viên dạo chiếc xe bò cái,

    Sẵn tấm mo che miệng thế gian”.

    Tám câu tiếp theo trong hai khổ dôi nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng – “tay kiếm cung” – thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị “nên dạng từ bi”. Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì”, nhũng nàng hầu xinh đẹp với “gót tiên đủng đỉnh”…

    “Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

    Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.

    Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì.

    Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”

    Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào gợi ít nhiều hóm hỉnh. Bụt cười, hay thiên hạ cười? Hay ông Hi Văn tự cười mình? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện “được, mất” là lẽ đời, như tích “Thất mã tái ông” mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào cá tính cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng, phong tình và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm đến chuyện “được, mất”, bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách nhi nhiên, hổn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong “Bài ca ngất ngưởng”:

    “Khi ca / khi tửu / khi cắc / khi tùng /

    Không Phật / không Tiên / không vướng tục”.

    Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hoà thanh (bằng, trắc), lối nhấn, lối diễn tả trùng điệp (khi… không..,) đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần. Có đọc to và hát lên, có lắng nghe tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu, ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hoà quyện trong những vẩn thơ đẹp như thế! Đúng là ngất ngưởng mà tài hoa, tài tử.

    Khổ xếp của bài hát nói chỉ có 3 câu. Câu cuối gọi là câu keo chỉ có 6 từ. Nên ghi đúng như văn bản ‘Tuyến tập thơ ca trù” – NXB Văn học 1987 mớí đúng thi pháp:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

    Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung,

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”

    Nguyễn Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thuỷ chung, trọn vẹn “nghĩa vua tôi”. Ông đã viết trong bài “Nợ tang bồng”:

    “Chí tang bồng hẹn với giang san,

    Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác”.

    Tài năng, công danh mà Nguyễn Công Trứ để lại cho đất nước và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Hai so sánh gần xa, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” đĩnh đạc, hào hùng: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Cái bản ngã phi thường của nhà thơ đã được phô bày cực độ.

    Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưỏng của Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô trọc, không vướng tục”, cũng không thoát li. Ngất ngưởng thế mới sang trọng.

    Cái nhan đề, thi đề “Bài ca ngất ngưởng” của ông Hi Văn rất độc đáo. Cách bộc lộ bản ngã của nhà thơ cũng rất độc đáo. Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đậm đặc chất “ngông”. Một đằng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn.

    Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Các câu thơ chữ Hán đem lại sự bề thế, uyên bác. Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hòa, lôi cuốn, hấp dẫn.

    Trong nền thi ca cổ điển Việt nam, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… là nhũng nhà thơ cự phách để lại một số bài hát nói tuyệt tác. Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hoà nhập với chí anh hùng, nợ tang bồng, chí nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. “Bài ca ngất ngưởng” đích thực là “Bài ca từ đáy lòng” của ông Hi Văn cho ta nhiều thú vị.

    Bài văn mẫu 2

    Nếu như thể “ngâm khúc thể hiện một con người cô đơn, đau xót đi tìm những giá trị của mình bị mất mát” thì hát nói “một thể thông dụng trong ca trù thể hiện một con người tài tử thoát vòng cương tỏa, thoát sáo, thoát tục lụy, danh lợi, nắm lấy phút vui hiện tại”. Nhắc đến thể hát nói không thể không nhắc đến tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ bài thơ đem đến cho hát nói một nội dung phù hợp với chức năng và thể loại của nó. Bài thơ thể hiện cái tôi ngông của tác giả, một phong cách sống khác đời vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến trên cơ sở ý thức về tài năng và giá trị của bản thân.

    Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho nghèo đã từng thi đỗ Giải nguyên và được bổ làm quan xong con đường công danh ấy không được bằng phẳng, thăng trầm. Sáng tác của ông hầu hết là bằng chữ Nôm, thể loại ưa thích nhất của ông là hát nói bởi ông đã có điều kiện tham gia ca trù vốn khá phát triển ở làng Cổ Đạm gần làng ông. Đề tài và nội dung trong các bài thơ hát nói của ông rất đa dạng như: tình yêu, đồng tiền, chí làm trai, sự ăn chơi hưởng lạc….

    “Bài ca ngất ngưởng” thuộc đề tài sự ăn chơi hưởng lạc, bài thơ được sáng tác 1848 là năm nhà thơ cáo quan về hưu, sống cuộc đời tự do, thoải mái. Điều đó được thể hiện rõ nét qua từ “ngất ngưởng”. Theo Nguyễn Đình Chú đó là “nhằm để diễn tả một tư thế, một thái độ, một tinh thần, một con người vươn lên trên thế tục, sống giữa mọi người mà dường như không nhìn thấy ai, đi giữa cuộc đời mà dường như chỉ biết có mình, một con người khác đời và bất chấp mọi người”.

    Sáu câu thơ đầu là lời tự thuật về cuộc đời thi thố tài năng ở chốn quan trường của tác giả với những sự kiện tiêu biểu. Mở đầu bài thơ là một câu thơ chữ Hán thể hiện quan niệm, triết lí sống mà nhà thơ đã theo đuổi. Do cảm hứng phóng túng, làm chơi, buông thả nên hát nói được cấu tạo một cách đặc biệt. Nó pha trộn lời Hán với lời Việt. Hầu hết các bài đều có một câu chữ Hán là một câu dẫn ngữ nói một tư tưởng nào đó được sẵn đặt ở đầu câu.”Vũ trụ nội mạc phi phận sự” nghĩa là mọi việc trong khoảng trời đất đều là phận sự của ta. Cho thấy sự làm chủ của con người trong vũ trụ, con người với tinh thần nhập thế, trách nhiệm gánh vác việc đời. Ý thơ này đã được ông thể hiện nhiều lần trong những bài thơ khác nhau như: “Vũ trụ chức phận nội” việc trong vũ trụ là phận sự của ta hay “Vũ trụ giao ngô phận sự” mọi việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta. Ông luôn xác định cho mình một lối sống tích cực, sống với đời và đóng góp cho đời. Ông đã chịu ảnh hưởng chí làm trai của Nho giáo và kế thừa tinh thần bậc tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi Phan Bội Châu như “Sinh vi nam tử yếu hi kì/ Há để càn khôn tự chuyển di”…

    Tiếp theo nhà thơ tự nói về mình điều hiếm thấy trong thơ văn trung đại. Bởi con người trong giai đoạn ấy cái tôi cá nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại không coi mình là trung tâm mà chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn. Nhưng ở đây tác giả đã tự tin thể hiện cá tính, con người riêng của mình.

    “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

    …Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

    Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. “Tài bộ” là tài hoa. Ông tự khẳng định mình là một người “tài năng lỗi lạc xuất chúng” đã “vào lồng” tức ông coi việc làm quan trong triều bị giam hãm trong lồng gò bó, mất tự do. Nhà thơ hẳn phải là con người phóng khoáng, có chí tung hoành, không hám danh hám lợi nên mới tự tin bộc lộ bản thân. Ông liệt kê các học vị, các chức quan lớn mà mình đã nắm giữ. Với câu văn dài ngắn khác nhau, nhịp thơ linh hoạt cùng với cách sử dụng điệp từ “khi” và hệ thống từ Hán Việt đã thể hiện một cảm hứng tự hào, tự tin khẳng định cái tôi cá nhân của một con người tài năng.

    Phần còn lại là sự giãi bày cách sống ngất ngưởng khác thường của thi sĩ. Lại một câu thơ chữ Hán xuất hiện “Đô môn giải tố chi niên” đánh dấu sự kiện chuyển biến trong cuộc đời nhà thơ với ý nghĩa cả câu: năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu, sống một lối sống như mình mong muốn:

    “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

    …Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

    Chỉ với bốn câu thơ mà đến hai lần từ “ngất ngưởng” xuất hiện phải chăng nhà thơ quá yêu thích lối sống ấy. Trong các câu thơ trên có sử dụng nghệ thuật đối ý tương phản. Đạc ngựa mà lại đeo cho bò vàng, tay kiếm cung mà nên dạng từ bi nhắc đến đao kiếm là con người ta nghĩ ngay đến binh đao, chém giết làm sao có thể từ bi, đi vãng cảnh chùa để thoát tục mà “Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì”… chính sự đối lập gay gắt trong nhân cách của nhà thơ tạo nên sự khác biệt của ông.

    Nguyễn Công Trứ là người có công lớn với triều đình, với nhân dân từng giúp dân trị thủy, khai hoang và lập nhiều chiến công trong việc dẹp loạn các cuộc nổi dậy chống triều đình. Ý thức được tài năng của mình ông lựa chọn cho mình một phương thức sống, một cách sống khác người. Trước tiên ông nguyện một lòng phò vua giúp nước, cống hiến tài năng trí tuệ của mình “đem tất cả sở tồn làm sở dụng” (đem tất cả chí bình sinh của mình ra cống hiến cho đời) với trí nam nhi của mình:

    “Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây

    Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”

    Sau khi đã hoàn thành trách trách nhiệm trên vai người trí sĩ yêu nước thương nòi, ông cho phép mình được hưởng thú tiêu dao, hành lạc với quan niệm “Cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy”. Chính bởi vậy ông chẳng bận tâm đến chuyện được mất, khen chê ở trên đời, ông bỏ ngoài tai tất cả để toàn tâm tận hưởng thú vui của riêng mình:

    “Được mất dương dương người thái thượng

    Khen chê phơi phới ngọn đông phong”

    Hai câu thơ tiếp theo với cách ngắt nhịp 2/2/2/2, 2/2/3 linh hoạt, dồn dập liệt kê các thú vui của tác giả, tạo cho câu thơ phong phú về âm điệu, nhạc điệu:

    “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

    Không phật, không tiên, không vướng tục”

    Điệp từ “khi” và ba từ “không” liên tiếp lặp lại cho thấy một tâm hồn tự do, phóng khoáng không vướng bận thế tục, không vướng việc đời, một phong thái ung dung, tự tại. Nguyễn Công Trứ đang tiêu dao tận hưởng những ngày tháng của một kẻ sĩ tài hoa, tài tử: “Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp/ Trong thú yên hà mặt tỉnh say”

    Cuối cùng nhà thơ đúc kết lại toàn bộ cuộc đời mình bằng ba câu thơ với sự khẳng định chắc nịch tài năng và phẩm chất của bản thân:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

    Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông”

    Nhà thơ đã tự xếp mình ngang hàng với các vị danh tướng lỗi lạc của đời Hán, đời Tống bên Trung Hoa. Trái, Nhạc, Hàn, Phú là Trái Tuân, Hàn Phi, Hàn Kì, Phú Bật. Ông tự định vị, tự ý thức được tài đức của mình. Ông rong chơi cho thỏa chí của mình nhưng vẫn vẹn đạo vua tôi. Thật đúng như nhận xét của Trần Đình Sử về Nguyễn Công Trứ “Nhập thế tục mà không vương tục, rong chơi mà vẫn trọn nghĩa vua tôi”. Kết thúc bài hát tác giả tự xưng bằng một tiếng “ông” hào hùng. Cái tôi cá nhân được phô diễn cực độ, tự tin khẳng định trong triều chẳng có ai được như ông.

    “Bài ca ngất ngưởng” với bút pháp nghệ thuật đặc sắc sử dụng các điệp từ, câu cảm thán làm cho ngữ điệu nói bộc lộ rõ, nó làm cho tính chủ thể của lời văn nhất quán và xuất hiện giọng điệu khẳng khái ngang tàn, ngạo nghễ, thách thức. Sử dụng tiếng thô, tiếng lóng trong sinh hoạt hàng ngày tạo ra giọng nói sống động pha tạp vừa thanh vừa tục. Trong một bài thơ tính cả nhan đề có đến năm lần nhà thơ dùng từ “ngất ngưởng” thể hiện cá tính ngông của ông.

    Bài thơ đã khắc họa chân dung của cụ Nguyễn Công Trứ một con người tài ba, lỗi lạc vừa làm trọn phận bề tôi, vừa thỏa chí của bản thân mình. Bài thơ đã góp phần làm cho thể thơ hát nói được thể hiện đúng với cấu trúc, chức năng của mình.

    Bài văn mẫu 3

    Nguyễn Công Trứ là người có tài, hoạn lộ gặp nhiều thăng trầm. Ông để lại cho hậu thế khoảng 150 tác phẩm trên nhiều thể loại nhưng thành công nhất ở thể loại hát nói. Bài ca ngất ngưởng là một trong những tác phẩm hát nói xuất sắc nhất của ông thể hiện cá tính tài tử của bản thân.

    Bài thơ được sáng tác trong thời gian ông cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Với thể loại hát nói tự do, phóng khoáng rất phù hợp để thể hiện cá tính, con người của Nguyễn Công Trứ. Văn bản thể hiện rõ lối sống ngất ngưởng của ông khi làm quan cũng như khi cáo quan về ở ẩn.

    Theo quan điểm của Nguyễn Công Trứ, ngất ngưởng là sự thể hiện của tính cách cao ngạo, thoát ra ngoài khuôn khổ xã hội phong kiến chuyên chế. Đây đồng thời cũng là phong sống có bản lĩnh cá nhân, khác đời và hơn đời.

    Sáu câu thơ đầu thể hiện lối sống ngất ngưởng khi ông đang làm quan. Trước hết ở ý thức trách nhiệm của ông trước cuộc đời và lòng kiêu hãnh tự tin về bản thân: Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Ông khẳng định mọi việc trong trời đất này đều thuộc trách nhiệm của ông. Lời nói đó cho thấy Nguyễn Công Trứ dám khẳng định ý nghĩa, vai trò của bản thân đối với đất nước. Thể hiện ở quan niệm về việc làm quan rất khác người – vừa là danh lại vừa là nợ:

    Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

    Là danh bởi đây chính là cơ hội để ông chứng tỏ bản thân, chứng tỏ tài năng hơn người, khác người của mình, dùng tài năng đó để cống hiến, phục vụ cho đất nước. Nhưng lại là nợ bởi làm quan sẽ bị ràng buộc bởi trách nhiệm, ông buộc phải chấp nhận cuộc sống gò bó, mất tự do khi ở chốn quan trường. Vốn là người mang trong mình bản tính tự do, tự tại khi bị ép vào khuôn phép cũng là một điều khó khăn đối với Nguyễn Công Trứ. Tuy nhiên vì ý thức trách nhiệm và niềm kiêu hãnh tự tin nên Nguyễn Công Trứ đã gạt đi thú vui thích của bản thân, theo đuổi con đường khoa cử, đỗ đạt ra làm quan để thực hiện hoài bão giúp nước, giúp đời. Hoài bão to lớn, cao đẹp ấy là hoài bão của biết bao người quân tử trong xã hội lúc bấy giờ.

    Trong những năm cống hiến cho đời, ông đã làm được nhiều điều và ông tự hào về những điều mình đã làm được, mình đã cống hiến:

    Khi thủ khoa, khi tham tán, khi Tổng đốc Đông

    Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

    Lúc bình tây cờ Đại Tướng

    Có khi về phủ doãn Thừa Thiên.

    Trong cuộc đời làm quan, Nguyễn Công Trứ đã trải qua nhiều chức quan khác nhau: tham tán, tổng đốc Đông, bình tây đại tướng,… đều là những chức vụ quan trọng trong triều đình. Điều đó cho thấy tài năng hơn người của ông. Đồng thời đã cho thấy ý thức trách nhiệm cũng như thái độ tự tin, kiêu hãnh của Nguyễn Công Trữ trước những thành quả mình đạt được. Những cống hiến ấy không chỉ thể hiện tài năng hơn đời mà còn thể hiện tấm lòng ưu dân ái quốc của ông.

    Khi đang ở đỉnh cao ở vinh quang, năm 70 tuổi Nguyễn Công Trứ xin cáo quan về quê mãi cho đến lần thứ mười hai ông mới được chấp nhận. Về quê ông hưởng thụ cuộc sống tự do, tự tại, ngao du sơn thủy. Hành động của ông khi cáo quan về quê cũng thể hiện tư thế ngất ngưởng, khác người: Đô môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Hành động đó như một sự thách thức đối với hệ thống quan lại đương thời, đồng thời cũng khẳng định thái độ không còn luyến tiếc với hư vinh mà triều đình đem lại. Không chỉ vậy cái ngất ngưởng của ông còn thể hiện trong nhu cầu, sở thích cá nhân, điều mà rất ít khi các nhà thơ khác bộ lộ trực tiếp: nơi ở như chốn thần tiên: “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”; du ngoạn cảnh chùa chiền: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi/ Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì/ Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” hay thưởng thức thu vui hát ả đào: “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng/ Không Phật không tiên, không vướng tục”. Ngoài ra nó còn thể hiện trong thái độ sống an nhiên, tự tại, không quan tâm đến những lời khen chê của dư luận: “Được mất dương dương người thái thượng/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

    Ông kiêu hãnh, tự hào với lối sống ngất ngưởng của mình: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung. Nguyễn Công Trứ tự xếp mình ngang hàng với những người tài năng, nhân cách lỗi lạc. Khẳng định sự khác đời và hơn đời của phong cách sống ngất ngưởng: Trong triều ai ngất ngưởng như ông? Câu hỏi tu từ khép lại bài thơ là thái độ tự tin và bằng lòng của Nguyên Công Trứ về phong cách sống có bản lĩnh mà ông suốt đời tâm niệm. Đây là lối sống có trách nhiệm với đời, cần phải tận lực cống hiến và cống hiến có kết quả. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng cần phải biết hưởng thụ những niềm vui mà cuộc sống dành cho mình. Đó còn là lối sống trung thực, dám là chính mình, vượt ra khỏi khuôn mẫu khắc kỉ phục lễ chật chội, giả dối.

    Với thể thơ hát nói tự do, phóng khoáng đã giúp Nguyễn Công Trứ thể hiện thành công lối sống ngất ngưởng của bản thân. Lối sống đó thể hiện cá tính tự do, phóng khoáng, bản lĩnh sống lành mạnh, có sự phá cách về quan niệm sống, vượt qua những khe khắt, giáo điều của lễ giáo phong kiến.

    Bài văn mẫu 4

    Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) quê ở Hà Tĩnh, một danh nhân văn hoá văn võ toàn tài, là nhà thơ lỗi lạc của nước ta trong thế kỉ XIX.

    Ông còn để lại trên 60 bài hát nói, khoảng 50 bài thơ Nôm. Bài “Hàn nho phong vị phú bài thơ “Đi thi tự vịnh”, bài hát nói “Bài ca ngất ngưởng”… là những áng văn thơ tuyệt bút của ông để lại cho đời.

    “Bài ca ngất ngưởng” được Nguyễn Công Trứ viết trong thời gian 10 năm cuối đời (1848 – 1859) khi ông về trí sĩ ở cố hương. Bài thơ thể hiện một phong cách sống đẹp của ông thi nhân tài tử.

    Ngất ngưởng: Không vững ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (Từ điển tiếng Việt). Ở bài thơ này, nên hiểu là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người.

    Khổ đầu, câu 1, 2 đối lập giữa phận sự mang tầm vóc vũ trụ lớn lao với cảnh ngộ đã vào lồng rất chật hẹp tù túng. Thế mà ông Hi Văn đây – tự xưng rất đỗi kiêu hãnh tự hào – vẫn thi thố được tài năng, học giỏi, thi Hương đỗ giải nguyên (thủ khoa) làm quan võ là Tham tán, làm quan văn là Tổng đốc Đông. Là một con người có tài thao lược nên ta (ông Hi Văn) đã nên tay ngất ngưởng, một con người khác đời, khác thiên hạ, và bất chấp mọi người. Câu 3, 4 với cách ngắt nhịp (3-3-4-3-3-2) đã tạo nên một giọng điệu hào hùng:

    “Khi Thủ khoa! khi Tham tán khi Tổng đốc Đông,

    Gồm thao lược! đã nên tay! ngất ngưởng”.

    Khổ giữa: Tác giả khẳng định mình là một con người có tài kinh bang tế thế, lúc loạn thì giúp nước “bình Tây cờ đại tướng”, lúc bình thì giúp vua làm “Phủ doãn Thừa Thiên”. Đó là việc đã qua, còn nay đã về trí sĩ, nên ta sống ngất ngưởng bất chấp mọi người:

    “Đô môn giải tổ chi niên,

    Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”.

    Nay đã trả áo mũ cho triều đình, ta về quê không cưỡi ngựa mà là cưỡi bò vàng; con bò vàng của ta cũng đeo đạc ngựa, đó là một sự ngất ngưởng, rất khác người!

    Khổ dôi (hai khổ 3, 4) nói lên một cách sống ngất ngưởng. Xưa là một danh tướng (tay kiếm cung) thế mà nay rất từ bi hiền lành, bình dị. Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp (Rú Nài): “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì” (một hai nàng hầu). Và do đó “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. Bụt cười hay thiên hạ cười, hay ông Hi Văn tự cười mình? Chuyện “được, mất” là lẽ đời như tích “thất mã tái ông” mà thôi, chẳng bận tâm làm gì! Chuyện “khen, chê” của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai như ngọn gió đông (xuân) thổi phơi phới qua: “khen chê phơi phới ngọn đông phong”.

    Không quan tâm đến chuyện được mất, bỏ ngoài tai mọi lời khen, chê thị phi, ông đã sống những tháng ngày thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà vẫn trong sạch, thanh cao. Cách ngắt nhịp 2/2, nghệ thuật hoà thanh (bằng trắc) lối nhấn, lỗi diễn tả trùng điệp đã tạo nên câu thơ giàu tính nhạc, biểu lộ một phong thái ung dung, yêu đời, ham sống, chẳng vướng chút bụi trần:

    “Khi ca ! khi tửu ! khi cấc ! khi tùng,

    Không Phật ! không Tiên !không vướng tục”

    Khổ xếp, Nguyên Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thẩn thuỷ chung trong đạo “vua tôi” chẳng kém gì những Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Rồi ông đĩnh đạc tự xếp vị thế của mình trong lịch sử:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phườtig Hàn, Phủ,

    Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”.

    Hai so sánh xa gần, ngoại, nội (Bắc sử và trong triều Nguyễn), tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng “ông” vang lên đĩnh đạc hào hùng.

    Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, phải có thực tài, phải có thực danh, phải “vẹn đạo vua tôi” thì mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng” được. Và cách sống ngất ngưởng của ông thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô trọc, “không vướng tục” cũng không thoát li.

    Bài văn mẫu 5

    Nguyễn Công Trứ (1778-1858) biệt hiệu là Hi Văn, một danh tướng triều Nguyễn, văn võ toàn tài. về sự nghiệp văn chương, ông để lại khoảng 150 bài thơ, câu đối, bài “Hàn nho phong vị phú ” là một kiệt tác. Với những bài thơ hát nói, Nguyễn Công Trứ có giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng: “Chí nam nhi”, “Chí khí anh hùng”, “Nợ tang bồng”… trong đó, độc đáo nhất là “Bài ca ngất ngưởng”.

    Vẻ đẹp của “Bài ca ngất ngưởng” thật đặc sắc và rất thú vị. Đó là vẻ đẹp của một nhà nho giàu cá tính, dám đem tài năng thi thố với đời, dám hành động cho thoả chí nam nhi, đồng thời cũng dám hành lạc biểu lộ bản ngã của một khách tài tử.

    Vẻ đẹp của “Bài ca ngất ngưởng” còn là chất thơ, chất nhạc in đậm dấu ấn của một tao nhân mặc khách, một tài tử mang cốt cách anh hùng.

    Thơ trung đại vốn phi ngã, nhưng “Bài ca ngất ngưởng” đã thể hiện cái tôi một cách đàng hoàng với tất cả niềm tự hào hiếm thấy.

    Một cách xưng danh thật hào hùng. Trong xã hội phong kiến đã mấy ai dám nói như Nguyễn Công Trứ?

    “Vũ trụ nội mạc phi phận sự,

    Ông Hi Vân tài bộ đã vào lồng.”

    Kẻ nam nhi dám đem “tài bộ ” ra thi thố với thiên hạ, làm tròn trách nhiệm với đời.

    Phải ngất ngưởng, phải sống khác người, vì đã có công danh, về cử nghiệp đã đỗ thủ khoa. Về binh nghiệp đã làm Tham tán. về hoạn lộ đã làm Tổng đốc Đông. Có tài thao lược mới có thể ngất ngưởng, mới dám sống ngất ngưởng:

    “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

    Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”.

    Có thể hiểu ngất ngưởng vì hơn đời, hơn người, do có “tài bộ”.

    Con đường công danh như được trải dài và mở rộng. Ông Hi Văn đang sống lại những tháng ngày oanh liệt:

    “Lúc bình Tây cờ đại tướng,

    Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

    Chữ “khi” được điệp lại bốn lần, đan xen với chữ “lúc”, đã nêu bật tính thời gian và con đường công danh của một kẻ sĩ anh hùng được mở ra với bao tự hào, kiêu hãnh. Giọng thơ mạnh mẽ hào hùng thể hiện cốt cách của một đấng nam nhi tài ba lỗi lạc. Con người ấy đã sống đẹp hơn bao giờ hết:

    “Đã mang tiếng ở trong trời đất,

    Phải có danh gì với núi sông”.

    (Nợ tang bồng)

    Bức chân dung tự hoạ của ông Hi Văn là một trong những vẻ đẹp của “Bài ca ngất ngưởng” mà ta cảm nhận được.

    Giữa triều đình, ông Hi Văn đã sống hết mình, đem tài bộ ra thi thố với thiên hạ “đã nên tay ngất ngưởng”. Lúc trả áo mũ về trí sĩ, ông Hi Văn lại chơi hết mình: “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”. Chiếc mo cau đeo sau đuôi con bò cái như để che miệng thế gian, như để giễu đời.

    Thật ung dung và thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền. Như có một sự hoá thân kì lạ:

    “Kìa núi nọ phau phau mây trắng,

    Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.

    Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,

    Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.

    Nhìn thấy “dạng từ bi” đó của ông Hi Văn, làm sao Bụt chẳng “nực cười” được?

    Mọi chuyện được mất, khen chê bỏ hết ngoài tai, “ông ngất ngưởng” chính là một khách tài tử, rất thanh cao. Các điệp ngữ (khi, không) làm cho nhịp thơ, điệu thơ, giọng thơ như nhún nhảy. Cũng là một nét đẹp của ông Hi Văn, cũng là một nét đẹp của “Bài ca ngất ngưởng”:

    “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,

    Không Phật, không Tiên, không vướng tục”.

    Bức chân dung tự hoạ của “ông ngất ngưởng” đã hoàn chỉnh, vừa bề thế, vừa trang trọng. Sự thuỷ chung về “nghĩa vua tôi” là cái thần của bức chân dung tự hoạ ấy. Sao không tự hào được?

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng phường Hàn, Phú,

    Nghĩa vua tôi cho vẹn dạo sơ chung,

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”.

    Vẻ đẹp của “Bài ca ngất ngưởng” đâu chỉ có thế. Còn là vẻ đẹp văn chương, vẻ đẹp của một bài thơ hát nói dôi khổ (hai khổ thơ). Ngôn từ thật biến hoá: khi là “tay ngất ngưởng” rồi lại “đeo ngất ngưởnglúc trở thành “ông ngất ngưởng” rồi còn cất tiếng hỏi: ‘Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”.

    Câu thơ co duỗi biến hoá: sáu chữ, bảy chữ, tám chữ; sử dụng điệp ngữ thần tình, giọng thơ du dương, trầm bổng. Chất nhạc cũng làm nên vẻ đẹp của “Bài ca ngất ngưởng”.

    Nguyễn Công Trứ đã làm Dinh điền sứ tổ chức di dân lấn biển, lập nên hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình) đến nay vẫn được nhân dân hai miền quê ấy thờ cúng, đội ơn sâu.

    Nguyễn Công Trứ đã trải qua nhiều thăng trầm trên con đường hoạn lộ, nhưng lúc nào ông cũng thể hiện một bản lĩnh đáng trọng và tự hào: “Lúc làm đại tướng, ta không thấy thế làm vinh; lúc làm lính thú, ta cũng không lấy thế làm nhục”.

    Nói về vẻ đẹp của “Bài ca ngất ngưởng” là nói về vẻ đẹp của chí anh hùng, chí nam nhi là nói về vẻ đẹp ung dung thanh cao của một tao nhân mặc khách đã để lại nhiều bài thơ hát nói nổi tiếng.

    Ngất ngưởng sao mà đẹp vậy!

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Ngắn Gọn Nhất (Có Dàn Ý)
  • Mùa Xuân Là Cả Một Mùa Xanh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Tv
  • 5 Bài Văn Phân Tích 8 Câu Đầu Của Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100