Biện Pháp Tu Từ Và Phương Tiện Tu Từ Thường Gặp Ôn Thi Thpt Quốc Gia Văn

--- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Ôn Thi Học Sinh Giỏi Môn Văn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Hỗ Trợ Giúp Học Sinh Học Tốt Phân Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Tổ Chức Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Môn Ngữ Văn Khối 6 Ở Trường Thcs Đông Nam– Đông Sơn
  • Những Biện Pháp Được Cho Phép Để Di Chuyển Các Sản Phẩm Là Ký Chủ Của Ruồi Đục Trái Queensland (Qfly) Trong Phạm Vi Tiểu Bang
  • An Toàn Lao Động Và Những Biện Pháp Cần Biết Để Đảm Bảo An Toàn Trong Lao Động
  • Chuyên đề đọc – hiểu

    Biện pháp tu từ, phương tiện tu từ thường gặp

    Có 3 loại: tu từ từ vựng, tu từ cú pháp và tu từ ngữ âm.

    Một số biện pháp và phương tiện tu từ từ vựng (ngữ nghĩa)

    Phóng đại:

    Dấu hiệu nhận biết: Cách sử dụng từ ngữ nói quá đặc điểm, tính chất của sự vật, sự việc.

    Hiệu quả:

    Gây ấn tượng mạnh

    Bày tỏ quan điểm: phê phán hay tôn vịnh

    Ví dụ:

    Nghe đồn bố mẹ anh Hiền “ cắn cơm không vỡ, cắn tiền vỡ đôi”.

    “ Dân công đỏ đuốc từng đoàn / Bước chân nát đá muôn vàn lửa bay”. (Việt Bắc – Tố Hữu)

    Nói giảm, nói tránh:

    Dấu hiệu nhận biết: Cách sử dụng từ ngữ để làm giảm nhẹ hay yếu đi đặc trưng nào đó của đối tượng được nói tới.

    Hiệu quả:

    Thể hiện tế nhị, kín đáo thái độ của người đánh giá trước đối tượng

    Thể hiện sự tinh tế trong cách bộc lộ cảm xúc

    Ví dụ:

    “ Bác Dương thôi đã thôi rồi / Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” (Nguyễn Khuyến)

    “ Áo bào thay chiếu anh về đất” ( Tây Tiến – Quang Dũng )

    Ẩn dụ:

    Cách sử dụng tên gọi của B để chỉ A, giữa A và B có sự tương đồng (trong thực tế hay tưởng tượng).

    Các kiểu ẩn dụ thường gặp:

    -Nhân hóa: Gắn tên gọi, hành động, tính cách,.. của con người lên sự vật.

    Khiến đối tượng không phải con người sẽ trở nên sinh động hơn.

    -Vật hóa: Gắn đặc tính của sự vật lên con người.

    Tô đậm một thuộc tính của con người, đồng thời bày tỏ quan điểm của tác giả với đối tượng ( thường là quan điểm tiêu cực).

    -Chuyển đổi cảm giác: Miêu tả đặc điểm, tính chất của sự vật được thể hiện bằng giác quan A thành giác quan B.

    Tạo ấn tượng cho người đọc, khiến đối tượng trở nên sinh động hơn.

    Hoán dụ:

    Dấu hiệu nhận biết: Lấy tên gọi, thuộc tính của B để chuyển sang cho A, giữa A và B có quan hệ tương cận.

    Có các dạng sau:

    Lấy bộ phận để chỉ toàn thể.

    Lấy vật sở hữu để chỉ người sở hữu.

    Lấy vật chứa để chỉ đối tượng được chứa.

    Quan hệ giữa cụ thể và trừu tượng

    Dùng con số cụ thể để chỉ con số tổng quát.

    Lấy công cụ lao động để chỉ đối tượng lao động.

    Hiệu quả:

    Biểu hiện nhận thức và cảm xúc

    Khắc sâu biểu hiện tiêu biểu của đối tượng được nói tới.

    Tương phản (đối lập)

    Dấu hiệu nhận biết: sắp xếp từ ngữ, hình ảnh trái ngược nhau.

    Hiệu quả: làm nổi bật bản chất của đối tượng được nói tới.

    So sánh:

    Dấu hiện nhận biết: miêu tả đặc điểm, tính chất đối tượng bằng một hình ảnh có sự tương đồng.

    Hiệu quả:

    Làm rõ đặc điểm của đối tượng được nói tới.

    Một số phương tiện và biện pháp tu từ ngữ âm.

    Khái niệm: là cách vận dụng các yếu tố âm thanh để tạo nên màu sắc biểu cảm, cảm xúc.

    Có 2 nhóm chính:

    Nhóm 1: Lặp các yếu tố ngữ âm:

    Biện pháp điệp phụ âm đầu

    -Biện pháp điệp vần

    Nhóm 2: Nhóm hòa hợp các yếu tốt: người viết có ý thức sử dụng một cách tổng hợp các yếu tố ngữ âm để tạo nên hiệu quả diễn đạt.

    Hài âm:

    Cách sử dụng tổng hợp cả biện pháp điệp phụ âm đầu và điệp vần để tạo nhạc điệu.

    Ví dụ: “ Đã yêu thì yêu cho chắc / Bằng như trúc trắc thì trục trặc cho luôn.”

    Tạo nhạc điệu:

    Tạo nên những cụm từ, những lời văn cân đối để làm nên âm hưởng hấp dẫn trong văn xuôi,

    Ví dụ: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.” ( Hồ Chí Minh).

    Các biện pháp tu từ cú pháp ( tu từ về câu)

    Biện pháp tỉnh lược:

    Biện pháp tu từ lược bỏ 1 hoặc 2 thành phần chính của câu nhưng ý nghĩa của phần tỉnh lược vẫn có thể được khôi phục nhờ vào hoàn cảnh hay ngữ cảnh.

    Hiệu quả: Góp phần bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, nhịp điệu câu văn, câu thơ.

    Ví dụ: “ Nhiều đấy ư em? Mấy tuổi rồi

    Hai mươi

    Ừ nhỉ! Tháng năm trôi” ( Mẹ Tơm – Tố Hữu)

    Biện pháp im lặng:

    Là sự ngắt lời đột ngột do cảm xúc bị dồn nén hay do lượng lự không muốn tiếp tục câu chuyện.

    Hiệu quả: bộc lộ thái độ, cảm xúc của chủ thể.

    Ví dụ: “ Lão chua chat bảo: “ Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra nó sung sướng hơn một chút…kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn…”” (Lão Hạc – Nam Cao)

    Sử dụng câu đơn đặc biệt:

    Sử dụng liên tiếp những câu chỉ có cấu tạo ngữ pháp là một cụm từ.

    Hiệu quả: bộc lộ tối đa cảm xúc.

    Ví dụ: “ Cây tre Việt Nam! Cây tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm, cây tre mang những đức tính là tượng trưng cao quý của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam” ( Tre Việt Nam – Thép Mới)

    Câu hỏi tu từ

    Đảo trật tự ngữ pháp:

    Đảo các vị trí ngữ pháp như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ,…

    Hiệu quả: Nhấn mạnh đến đối tượng mà người viết hướng tới.

    Ví dụ: “ Lom khom dưới núi tiều vài chú / Lác đác bên song chợ mấy nhà” ( Quang đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan)

    Điệp cấu trúc.

    Biện pháp sóng đôi cú pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3. Rèn Luyện Cơ Thể Cho Trẻ Bằng Các Yếu Tố Tự Nhiên
  • Bài Văn Hay Tả Con Mèo Nhà Em
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Tại Trường Mầm Non Xuân Thượng
  • Tăng Cường Đảm Bảo Vệ Sinh Môi Trường Và An Ninh, An Toàn Cho Người Dân, Du Khách
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Ở Việt Nam Và Các Giải Pháp Khắc Phục.
  • Ba Bước Nhận Diện Và Phân Tích Một Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Về Cảnh Ngày Hè Nguyễn Trãi
  • Phân Tích: Cảnh Ngày Hè – Nguyễn Trãi
  • Soạn Bài Tràng Giang
  • Đề Kiểm Tra Học Kì I Môn: Ngữ Văn 12 (Chương Trình Chuẩn)
  • Câu Hỏi: Câu Hỏi Tu Từ
  • Ba bước nhận diện và phân tích một biện pháp tu từ:

    Thực hành làm bài trắc nghiệm và quan sát kết quả bằng sơ đồ tư duy:

    Câu 1:

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    (Ca dao)

    Câu 2:

    Trong gió trong mưa

    Ngọn đèn đứng gác

    Cho thắng lợi, nối theo nhau

    Đang hành quân đi lên phía trước.

     (Ngọn đèn đứng gác- Chính Hữu)

    Câu 3:

    Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông

     (Truyện Kiều– Nguyễn Du)

    Câu 4:

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

                                                                        (Việt Bắc  – Tố Hữu)

    Câu 5:

    Những tiếng đàn bọt nước

    Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

    Li la li la li la

                                                                        (Đàn ghita của Lorca  – Thanh Thảo)

    Câu 6:

    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

                                                                        (Tây Tiến  – Quang Dũng)

    Câu 7:

    Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng cảm thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

                                                                        (Người lái đò sông Đà  – Nguyễn Tuân)

    Câu 8:

    Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ.

                                                              (Ai đã đặt tên cho dòng sông  – Hoàng Phủ Ngọc Tường)

    Câu 9:

    Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị đã oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt trái sai đã thắm hồng da dẻ chị.

                                                                        (Hòn đất  – Anh Đức)

    Câu 10:

    Bao nhiêu anh ngã trên tuyến tiếp theo, bao nhiêu anh trước vùi xương trên những đất đi cày, … bao nhiêu chị, con cháu những mẹ vệ quốc quân, bao nhiêu những Nguyễn, Trần, Lê… nhẫn nại, nhẫn nhục, chịu thương, chịu khó, đau đớn, căm thù, yêu thương, anh dũng.

                                                                        (Nhận đường  – Nguyễn Thi)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Của Phép Tu Từ Trùng Ngữ Trong Văn Chính Luận
  • Bài Tập Đọc Bài Thơ Sau Và Thực Hi…
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • 4Div 2 Chỉ Ra Các Biện Pháp Nghệ Th…
  • Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 2 Dễ Hiểu Nhất
  • Tổng Hợp 10 Biện Pháp Tu Từ + Sách Tham Khảo Ngữ Văn Cấp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 2 Dễ Hiểu Nhất
  • 4Div 2 Chỉ Ra Các Biện Pháp Nghệ Th…
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Bài Tập Đọc Bài Thơ Sau Và Thực Hi…
  • Giá Trị Của Phép Tu Từ Trùng Ngữ Trong Văn Chính Luận
  • Biện pháp tu từ là gì?

    Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc

    biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định

    tăng sức gợi hình, gợi cảm trong cách diễn đạt và tạo ấn tượng với người đọc.

    So sánh là biện pháp tu từ đối chiếu 2 sự vật, sự việc, hiện

    tượng mà giữa chúng có nhiều nét tương đồng để tăng sức gọi hình, gợi cảm cho lời

    văn.

    Ví dụ:

    “Người ta hoa đất”(tục ngữ)

    “Quê hương chùm khế ngọt”  

    Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa.

    Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động,

    tính cách, suy nghĩ, tên gọi…vốn dành cho con người để ví von miêu tả cho đồ vật,

    sự vật, con vật, cây cối để khiến những đối tượng được nhân hóa thêm sinh động

    và có sức hấp dẫn hơn.

    • Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…
    • Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật.

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ.

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng

    tên sự vật, hiện tượng khác có chung nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi

    hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Phân loại: có 4 loại ẩn dụ thường gặp.

    • Ẩn dụ hình thức – Tương đồng về hình thức.
    • Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức.
    • Ẩn dụ phẩm chất – Tương đồng về phẩm chất.
    • Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – Chuyển từ cảm giác

      này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ.

    Hoán dụ là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng, khái

    niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó.

    Phân loại: Có 4 loại hoán dụ thường gặp.

    • Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể.
    • Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng.
    • Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật
    • Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

    5. Biện pháp tu từ nói quá – phóng đại.

    Nói quá hay còn gọi với những cái tên như phóng đại, kho

    trương, ngoa dụ,…là biện pháp phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật hiện

    tượng lên để nhấn mạnh gây ấn tượng với người đọc.

    “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

    6. Biện pháp tu từ nói giảm – nói tránh.

    Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng để diễn đạt sự tế

    nhị, uyển chuyển nhằm tránh gây những cảm giác đau buồn, ghê sợ, nặng nề, thô tục.

    Ví dụ:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta”

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ.

    Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại một từ, một cụm từ trong

    một bài thơ, đoạn văn nhằm làm tăng cường điệu quá diễn đạt nhấn mạnh, tạo ấn

    tượng, gợi liên tương và cảm xúc trong văn bản.

    Phân loại: Có 3 loại điệp ngữ chính.

    • Điệp ngữ cách quãng.
    • Điệp nối tiếp.
    • Điệp vòng tròn.

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ.

    Chơi chữ là biện pháp tu từ lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa

    của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

    Phân loại: Có 5 loại chơi chữ thường gặp.

    • Dùng từ ngữ đồng âm.
    • Dùng từ nói trại âm (gần âm).
    • Dùng lối nói lái.
    • Dùng cách điệp âm.
    • Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê.

    Liệt kê là biện pháp tu từ sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay

    cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của

    thực tế hay tư tưởng, tình cảm.

    Ví dụ:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!”

    10. Biện pháp tu từ tương phản.

    Tương phản là biện pháp tu từ sử dụng từ ngữ đối lập, trái

    ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Ví dụ:

    “O du kích nhỏ giương cao sung

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”

    Những cuốn sách Tham Khảo Ngữ Văn Lớp 10 – 11 – 12.

    COMBO ĐỀ KIỂM TRA NGỮ VĂN – 15 PHÚT – 1 TIẾT – HỌC KÌ LỚP 10 + 11 +12.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu “Bài Ca Ngất Ngưỡng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại
  • Soạn Bài Thực Hành Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Lớp 10
  • Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Ca Dao
  • Soạn Bài Thực Hành Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Lớp 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại
  • Đề Bài: Đọc – Hiểu “Bài Ca Ngất Ngưỡng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Đề Thi Thử Môn Văn Thpt Quốc Gia Số 23
  • Tổng Hợp 10 Biện Pháp Tu Từ + Sách Tham Khảo Ngữ Văn Cấp 3
  • Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 2 Dễ Hiểu Nhất
  •  

    1. Ngữ văn 10 Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ

    1.1. Mẫu 1: Soạn bài Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ lớp 10 (ngắn nhất)

    Ẩn dụ

    Câu 1 (trang 135 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Hình ảnh con đò, cây đa, bến nước mang hai tầng ý nghĩa, nghĩa thực và nghĩa tượng trưng cho những người ra đi và những người ở lại

    Câu (1) là thề ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự chung thủy

    Câu (2) trở thành lời than tiếc vì thề xa “lỗi hẹn”

    b, Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực.

    Giữa chúng gợi ra những liên tưởng giống nhau (mang nghĩa hàm ẩn chỉ người đi, kẻ ở)

    + Thực tế, các hình ảnh con thuyền, bến nước, cây đa, con đò là những hình ảnh gắn liền với nhau.

    + Những hình ảnh trên tượng trưng tình cảm gắn bó bền chặt của con người.

    + Mang ý nghĩa chỉ sự ổn định, giúp ta liên tưởng tới hình ảnh phụ nữ nhung nhớ, chung thủy

    + Thuyền, đò: di chuyển, không cố định được hiểu là người con trai.

    → Ý nghĩa câu (1) lời ước hẹn chung thủy, son sắt. Câu số (2) trở thành lời than tiếc vì “lỗi hẹn”

    Câu 2 (trang 135 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    a, Hình ảnh ẩn dụ: lửa lựu (hoa lựu đỏ như lửa). Cách nói ẩn dụ này đã miêu tả được cảnh rực rỡ của cây lựu, gợi tả sức sống mãnh liệt của cảnh vật hè

    b, Biện pháp ẩn dụ: thứ văn nghệ ngòn ngọt, sự phè phỡ thỏa thuê… cá nhân co rúm. Ý nói tới thứ văn nghệ mơ mộng, xa rời thực tế, không phản ánh được hiện thực. Sự biểu lộ tình cảm nghèo nàn, thiếu sáng tạo của những tác giả chỉ đi theo lối mòn

    c, Âm thanh tiếng chim được chuyển thành “giọt”, sự hiện hữu có thể nắm bắt được.

    d, Thác: ẩn dụ cho sự gập ghềnh, khó khăn của thử thách trên con đường chúng ta đi

    e, Phù du ẩn dụ cho cuộc sống vật vờ, tạm bợ, không có ích. Phù sa ẩn dụ cho những thứ có giá trị, làm cuộc đời trở nên màu mỡ, tươi sáng

    Câu 3 (trang 136 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Hình ảnh so sánh:

    – Cuộc đời con người những dòng sông cứ chảy mãi, chảy vào hư vô.

    – Những giọt nắng khẽ buông mình xuống những phiến lá còn non mỡ màng sau trận mưa tối qua.

    Hoán dụ

    Câu 1 (trang 136 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    – Hình ảnh “đầu xanh” và “má hồng: chỉ những người trẻ tuổi, phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Cách nói chỉ Thúy Kiều

    – Áo nâu: chỉ người dân lao động nông thôn. Áo xanh chỉ người công nhân ở thành thị

    b, Để hiểu được đúng đối tượng khi nhà thơ thay đổi tên gọi của đối tượng, muốn hiểu cần dựa vào mối quan hệ tương cận giữa hai sự vật, hiện tượng:

    – Quan hệ giữa bộ phận với tổng thể ( đầu xanh, má hồng- cơ thể)

    – Quan hệ giữa bên ngoài với bên trong (áo nâu, áo xanh – người mặc áo)

    Câu 2 (trang 137 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Hai câu thơ có phép tu từ: ẩn dụ và hoán dụ

    – Hoán dụ: thôn Đoài và thôn Đông ý chỉ người thôn Đoài và người thôn Đông (dùng cái để chưa nói về cái được chứa)

    Ẩn dụ: cau- trầu chỉ tình cảm trai gái (cau – trầu dùng trong cưới hỏi)

    b, Nỗi nhớ người yêu trong thơ Nguyễn Bính có cả ẩn dụ, hoán dụ, ẩn dụ trong thơ Nguyễn Bính lấp lửng hơn, phù hợp với việc diễn tả trạng thái cảm xúc mơ hồ khi yêu.

    Câu 3 (trang 137 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Dòng sông – thường tượng trưng cho cuộc đời con người.

    Nước – ẩn dụ, hoán dụ chỉ lòng người (sóng ở trong lòng)

    1.2. Mẫu 2. Soạn bài thực hành phép tu từ ẩn dụ hoán dụ

     Ẩn dụ

    Câu 1 (trang 135 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

    a. Nội dung ý nghĩa khác là:

    – Các hình ảnh thuyền (con đò) – bến (cây đa) lần lượt tạo nên ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người ra đi và người ở lại.

    – Câu (1) trở thành lời thề ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự thủy chung.

    – Câu (2) trở thành lời than tiếc vì thề xa “lỗi hẹn”.

    b. Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực (chỉ sự vật). Xét về ý nghĩa biểu trưng, chúng là những liên tưởng giống nhau (đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi – kẻ ở). Để hiểu đúng ý nghĩa hàm ẩn này, thông thường chúng ta giải thích rằng: Các sự vật thuyền – bến – cây đa, bến cũ – con đò là những vật luôn gắn bó với nhau trong thực tế. Vì vậy chúng được dùng để chỉ “tình cảm gắn bó keo sơn” của con người. Bến, cây đa, bến cũ mang ý nghĩa hiện thực chỉ sự ổn định, vì thế nó giúp người ta liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, tới sự chờ đợi, nhung nhớ, thủy chung. Ngược lại thuyền, con đò thường di chuyển không cố định nên được hiểu là người con trai, hiểu là sự ra đi. Có nắm được quy luật liên tưởng như vậy, chúng ta mới hiểu đúng ý nghĩa của các câu ca dao trên.

    Câu 2 (trang 135 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Tìm và phân tích phép ẩn dụ:

    (1) Hình ảnh ẩn dụ: lửa lựu (hoa lựa đỏ như lửa nên gọi là lửa lựu). Cách nói ấn dụ này đã miêu tả được cảnh sắc rực rỡ của cây lựu, đồng thời nói lên sức sống mãnh liệt của cảnh vật ngày hè.

    (2) Biện pháp ẩn dụ được dùng là: thứ văn nghệ ngòn ngọt, sự phè phỡn thỏa thuê, cay đắng chất độc của bệnh tật, tình cảm gầy gò, cá nhân co rúm. Ý nói đến thứ văn nghệ mơ mộng, trốn tránh thực tế, hoặc không phản ánh đúng bản chất hiện thực (… thứ văn nghệ ngòn ngọt bày ra sự phè phỡn thỏa thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật), sự thể hiện tình cảm nghèo nàn, thiếu sáng tạo (tình cảm gầy gò) của những tác giả chỉ mãi đi theo lối mòn, không có sự sáng tạo, không dám đổi mới (những cá nhân co rúm lại).

    (3) “Giọt” âm thanh của tiếng chim chiền chiện cho ta thấy âm thanh của tiếng chim thanh trong tựa như những giọt sương ngày sớm, khe khẽ rơi để đánh thức không gian tĩnh lặng.

    (4) “Thác”: những cản trở trên đường đi (ý nói những trở lực, khó khăn trên con đường cách mạng); “chiếc thuyền ta”: con thuyền cách mạng. Ý cả câu: dẫu con đường cách mạng có nhiều khó khăn, gian khổ nhưng sự nghiệp cách mạng dân tộc vẫn luôn vững tiến.

    (5) Phù du: Một loại sâu bọ sống ở nước, có cuộc sống ngắn ngủi. Dùng hình ảnh con phù du để chỉ cuộc sống tạm bợ, trôi nổi, không có ích; phù sa: chất màu mỡ, chỉ cuộc sống có ích.

    Câu 3 (trang 135 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Ví dụ một số câu văn có dùng phép ẩn dụ:

    a. Ngoài trời đang mưa thì phải. Từng giọt, từng giọt rơi… tiếng rơi rất mảnh.

    b. Tức mình bà ta quát: Anh là loại đàn ông mặc váy!

    c. Cho đến tận bây giờ, khi cuộc sống đã sung túc, ông vẫn không bao giờ quên những tháng ngày tăm tối của mình khi còn trẻ.

    Hoán dụ

    Câu 1 (trang 136 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

    a.(1) Đầu xanh: tóc còn xanh, ý nói người còn trẻ.

    Má hồng: Gò má người con gái thường ửng hồng rất đẹp, dùng hình ảnh đó để nói đến người phụ nữ trẻ đẹp. Ở trong văn cảnh câu thơ này, Nguyễn Du dùng các cụm từ đó để chỉ nhân vật Thúy Kiều.

    (2) Áo nâu: Người nông dân xưa kia thường nhuốm áo màu nâu để mặc, ở đây dùng áo màu nâu để chỉ người nông dân.

    Áo xanh: Màu áo thường thấy của công nhân, ở đây dùng áo màu xanh để chỉ chung tầng lớp công nhân.

    b. Trong trường hợp, khi chúng ta gặp phải một đối tượng đã bị tác giả thay đổi cách gọi tên, để hiểu đúng được đối tượng ấy, chúng ta phải chú ý xem tác giả đã chọn cái gì để thay thế các đối tượng ấy. Cái được tác giả chọn để thay thế thường là một bộ phận, một tính chất, một đặc điểm nào đó… tiêu biểu. Phương thức chuyển đổi nghĩa này là phép tu từ hoán dụ. Nó giúp cho việc gọi tên sự vật, hiện tượng… trở nên phong phú, sinh động và hấp dẫn hơn.

    Các trường hợp này đều là hoán dụ tu từ.

    Câu 2 (trang 137 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

    a. Nguyễn Bính viết:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

    – Phép hoán dụ: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Dùng “thôn Đoài” để chỉ người ở thôn Đoài, “thôn Đông” để chỉ người ở thôn Đông (lấy tên địa danh để chỉ người ở địa danh đó).

    – Phép ẩn dụ: “Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào”. Dùng hình ảnh cau và trầu để chỉ hai nhân vật trữ tình đang yêu nhau, bởi vì mối quan hệ giữa hai người yêu nhau cũng có những nét tương đồng với mối quan hệ giữa trầu và cau, đều là mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời và khi kết hợp lại thì rất thắm thiết. Cách nói lấp lửng trầu không thôn nào thực chất là ám chỉ người ở thôn Đông. Nó tạo cho câu thơ nét duyên dáng, ý nhị.

    b. Cùng là bày tỏ nỗi nhớ người yêu nhưng nếu câu ca dao “Thuyền ơi có nhớ bến chăng…?” sử dụng những liên tưởng có phần mòn sáo thì câu thơ của Nguyễn Bính (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông) lại có những liên tưởng vô cùng mới mẻ. Những liên tưởng này tạo ra nét đẹp riêng và sự thích thú, hấp dẫn cho mỗi câu thơ.

    Câu 3 (trang 137 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Ví dụ một số câu văn có dùng phép tu từ hoán dụ:

    Tôi nhớ như in cái ngày đầu khai giảng cấp 3. Khung cảnh hôm ấy khiến lòng tôi không khỏi xao xuyến, bồi hồi mỗi lần nhắc đến. Đằng sau cánh cổng trường là những hàng ghế xếp sẵn ngay ngắn thẳng hàng, sân khấu được bày trí trông thật bắt mắt. Một lúc sau, cả sân trường như được bao phủ bởi màu áo trắng học sinh thân thuộc. Những tà áo dài thướt tha bước đi khiến ai đó cũng một lần muốn ngó lại. Sân trường nhộn nhịp hẳn lên bởi những tiếng chào hỏi nhau sau mùa hè xa cách rồi trở lên im bặt khi cô hiệu trưởng phát biểu. Đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ từng nhịp trống ngày ấy… tiếng trống rộn rã mà trang nghiêm để bắt đầu năm học mới.

    2. File tải miễn phí ngữ văn 10 thực hành phép ẩn dụ và hoán dụ:

    Soạn bài Thực hành biện pháp tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ lớp 10.Doc

    Soạn bài Thực hành biện pháp tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ lớp 10.PDF

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Ca Dao
  • Ẩn Dụ Về Con Người Trong Ca Dao Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hoá
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém
  • Vận Chuyển Và Xử Lý Chất Thải Nguy Hại
  • Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Nguy Hại An Toàn, Hiệu Quả Nhất
  • Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Thi Công Dự Án Đường 42M
  • Những Biện Pháp Thi Công Tầng Hầm/ Bán Hầm Của Nhà Cao Tầng
  • Biện Pháp Thi Công Đào Đất Tầng Hầm
  • Giải Pháp Thiết Kế Và Thi Công Tầng Hầm Nhà Cao Tầng – Navicons
  • Biện Pháp Thi Công Tầng Hầm
  • Các biện pháp tu từ cú pháp thường gặp trong tiếng Việt: Điệp ngữ, liệt kê, câu hỏi tu từ, đảo ngữ.

    1. Điệp ngữ

    a. Điệp ngữ là gì?

    Khi nói hoặc viết, người ta có thể dùng biện pháp lặp lại từ ngữ (hoặc cả một câu) để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh.

    b. Phân loại

    – Điệp ngữ ngắt quãng.

    * Ví dụ:

    “Mùa xuân người cầm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài lương mạ”

    – Điệp ngữ nối tiếp.

    * Ví dụ:

    “Muốn làm con chim hót quanh lăng bác

    Muốn làm con chim tỏa hương đâu đây

    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”.

    – Điệp ngữ chuyển tiếp (vòng).

    * Ví dụ:

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    2. Liệt kê

    a. Liệt kê là gì?

    Liệt kê là sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay của tư tưởng, tình cảm.

    b. Phân loại

    – Xét về mặt cấu tạo:

    + Liệt kê theo từng cặp.

    * Ví dụ:

    “Vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, giữa thanh cao và giản dị”.

    + Liệt kê không theo từng cặp.

    * Ví dụ:

    Hằng ngày, việc ăn uống của người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cá muối, cháo hoa”

    – Xét về mặt ý nghĩa:

    + Liệt kê tăng tiến.

    * Ví dụ:

    + Liệt kê không tăng tiến.

    * Ví dụ:

    “Và chủ nhân chiếc nhà sàn này cũng trang phục hết sức giản dị, với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như các chiễn sĩ Trường Sơn được một học giả phương Tây ca ngợi như một vật thần kì”.

    3. Câu hỏi từ từ

    a. Câu hỏi tu từ là gì?

    Câu hỏi tu từ là cách sử dụng câu hỏi nhưng không có câu trả lời nhằm biểu thị một ý nghĩa nào đó trong diễn đạt.

    b. Tác dụng

    Gợi lên boăn khoăn, suy nghĩ của người đọc, người nghe.

    * Ví dụ:

    “Xót người tựa cửa hôm mai,

    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?”

    4. Đảo ngữ

    a. Đảo ngữ là gì?

    Đảo ngữ là thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh ý, nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng.

    b.Tác dụng

    Làm câu thơ, câu văn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa về âm thanh,…

    * Ví dụ:

    “Mọc giữ dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc”

    Lưu ý: Cần phân biệt giữa các biện pháp tu từ từ vựng và các biện pháp tu từ cú pháp để có thể vận dụng một cách linh hoạt trong bài làm. Đồng thời, cần nắm chắc dấu hiệu của các biện pháp tu từ cú pháp, để không bị nhầm lẫn trong quá trình tìm hiểu, phân tích văn bản.

    Làm chủ kiến thức ngữ văn – Luyện thi vào 10 (Phần II)

    Tác giả: Phạm Trung Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đa Dạng Sinh Học, Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học : Trường Thcs Quảng Phương
  • Ngăn Chặn Và Đẩy Lùi Suy Thoái Đa Dạng Sinh Học Bởi Các Loài Động Thực Vật Xâm Lấn Ở Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Pù Hu
  • Ngăn Chặn Đà Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học Ở Việt Nam
  • Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Chưa Hoàn Thành Môn Toán Lớp 3
  • Bài Tập Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Có Gợi Ý Và Hướng Dẫn Làm Bài

    --- Bài mới hơn ---

  • Do Do Bai Sau Lập Dan 4 Aua Thang H…
  • Những Câu Nói Lưu Danh Sử Sách Của Đức Thánh Trần.
  • Bình Bài Thơ “Tình Ca Ban Mai” Của Chế Lan Viên
  • Thơ Tình Chế Lan Viên
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 6
  • từ học?

       Gợi ý:

      Trả lời:

    Ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học là phép chuyển nghĩa tạo nên nghĩa mới

    thực sự của từ, các nghĩa này đư­ợc ghi trong từ điển.

    là phép chuyển nghĩa tạo nên nghĩa mới thực sự của từ, các nghĩa này đư­ợc ghi trong từ điển.

    Bài 2. Biện pháp tu từ so sánh ở đây thực hiện nhờ những từ so sánh nào?

    A, Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    B, Cờ như mắt mở thức thâu canh

    Như lửa đốt hoài trên chót đỉnh.

    C, Rắn như thép, vững như đồng

    Đội ngũ ta trùng trùng, điệp điệp

    Cao như núi , dài như sông

    Chí ta lớn như biển Đông trước mặt.

    D, Đẹp như hoa hồng, cứng hơn sắt thép.

     Gợi ý:

      Trả lời:

    So sánh không ngang bằng- sử dụng từ so sánh “hơn”.

    A.

    B. So sánh ngang bằng, sử dụng từ so sánh “ như”

    C. So sánh ngang bằng sử dụng từ so sánh “như”

    D. Vừa có so sánh ngang bằng sử dụng từ so sánh “như”, vừa có so sánh không ngang bằng sử dụng từ so sánh “ hơn”.

    Bài 3. Tìm 5 thành ngữ có sử dụng so sánh và đặt câu với chúng

    Bài 4. Tìm từ so sánh trong những câu ca dao sau

    A. Cầu bao nhiêu dịp dạ em sầu bấy nhiêu.

    B. Đình bao nhiêu ngói ta thương mình bấy nhiêu.

    A và B:

    Từ so sánh : Bao nhiêu- Bấy nhiêu.

    Bài 5. Phân tích hiệu quả của phép tu từ so sánh

    trong bài thơ sau:

    Phân tích hiệu quả của phép tu từ so sánh trong bài thơ sau:

    Sau làn mưa bụi

    tháng ba

    Lá tre bỗng đỏ

    như là lửa thiêu

    Bầu trời rừng rực ráng

    treo

    Tưởng như ngựa

    sắt sớm chiều vẫn bay.

     Gợi ý

    Không khí của buổi chiều tháng ba – gợi hồi ức về 1 quá khứ lịch sử oai hùng: chiến công của Thánh Gióng: có lá tre đỏ vì ngựa phun lửa, có hình ảnh ngựa sắt bay… Nền trời trở thành 1 bức tranh, biểu lộ trí tưởng tượng bay bổng của nhà thơ TĐK và niềm tự hào về quá khứ hào hùng oanh liệt trong không khí của thời đại chống Mĩ.

    Bài 6. Chỉ ra các hoán dụ trong những câu sau và cho biết chúng thuộc

    kiểu hoán dụ nào?      

    Câu 1:

    A. Họ là hai chục tay sào, tay chèo,làm ruộng cũng giỏi mà làm thuyền cũng giỏi.

    B. Tự nhiên, Xa Phủ rút cây sáo. Tiếng sáo thoát ra từ ống trúc, véo von… Tiếng sáo theo chân hai người tới lối rẽ.

    Câu 2:

    A. Nhận của quá khứ những con đê vỡ, những nạn đói, ta đã làm nên những mùa vàng năm tấn, bảy tấn.

    B. Bóng hồng nhác thấy nẻo xa

    Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai

    Gợi ý

    Bài 7. Trong lời ăn tiếng

    nói hàng ngày chung ta thường nói:

    – Nói ngọt lọt đến xương.

    – Nói nặng quá.

    Gợi ý

    * Đây là những ẩn dụ chuyển đổi cảm giác- Lấy những từ ngữ chỉ cảm giác của giác quan này để chỉ cảm giác của giác quan khác:

    Ngọt : Vị giác sang Thính giác

    Bài 8.

    Trong câu ca dao :

    Nhớ ai bồi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than

    a) Từ bồi hổi bồi hồi là từ gì?

    b) Gải nghĩa từ bồi hổi bồi hồi

    c) Phân tích cái hay của câu thơ do phép so sánh đem lại.

    Gợi ý

    a) Đây là từ láy

    chỉ mức độ cao.

    c) Trạng thái mơ hồ, trừu tượng chỉ được bộc lộ bằng cách đưa ra hình ảnh cụ

    thể: đứng đống lửa, ngồi đống than để người khác hiểu được cái mình muốn nói

    một cách dễ dàng. Hình ảnh so sánh có tính chất phóng đại nên rất gợi cảm.

    b) Giải nghĩa : trạng thái có những cảm xúc , ý nghĩ cứ trở đi trở lại trong cơ thể con người.c) Trạng thái mơ hồ, trừu tượng chỉ được bộc lộ bằng cách đưa ra hình ảnh cụ thể: đứng đống lửa, ngồi đống than để người khác hiểu được cái mình muốn nói một cách dễ dàng. Hình ảnh so sánh có tính chất phóng đại nên rất gợi cảm.

    Bài 9.

    Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

    Mẹ già như chuối và hương

    Như xôi nếp một, như đường mía lau.

                                                           

    (Ca dao)

    Gợi ý:

    Chú ý những chỗ đặc biệt sau đây:

    – Từ ngữ chỉ phương diện so sánh bị lược bỏ.

    Vế (B) là chuẩn so sánh không phải có một mà có ba: chuối và hương – xôi nếp

    mật – đường mía lau là nhằm mục đích ca ngợi người mẹ về nhiều mặt, mặt nào

    cũng có nhiều ưu điểm đáng quý.

    Bài 10.

    Tìm và phân tích phép so sánh (theo mô hình của so sánh) trong các câu

    thơ sau:

    a) Ngoài thềm rơi chiếc la đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

                                                    

    (Trần Đăng Khoa)

    b) Quê hương là chùm khế ngot

    Cho con chèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay.

                                                  

    (Đỗ Trung Quân)

    Gợi ý:

    Chú ý đến các so sánh

    a) Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

    b) Quê hương là chùm khế ngọt

    Quê hương là đường đi học

     

    Bài 11.

     

    Hai câu thơ sau  sử dụng những biện pháp tu từ nào?

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa

                Sóng đã cài then

    đêm sập cửa”

    Gợi ý:

    Nhân hoá và so sánh

    Bài 12. Trong câu ca dao sau đây: 

    Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta

    Cách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ?

     Gợi ý: 

    – Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi.

    Bài 13.

    Tìm phép nhân hoá và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau:

    Trong gió trong mưa

    Ngọn đèn đứng gác

    Cho thắng lợi, nối theo nhau

    Đang hành quân đi lên phía trước.

                    (Ngọn đèn đứng gác- Chính Hữu)

    Gợi ý:

    Chú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như:

    – Đứng gác, nối theo nhau, hành quân, đi lên phía trước.

    Bài 14 :

    Phân tích nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ sau:

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

    (Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)

    * Gợi

    ý:

    – Nghĩa đen: Bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng

    – Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình đầy đặn .

    (nghĩa bóng) – từ đó gợi cảm xúc cho người đọc về người phụ nữ xưa

    Khi phân tích ta làm như sau : Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh cái bánh nhà thơ đã gợi cho người đọc hình dung được một hình ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh …- từ đó gợi cảm xúc cho người đọc về người phụ nữ xưa …

    Bài 15

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

             Thấy một mặt trời trong lăng rất

    đỏ  

    (Viễn Phương – Viếng lăng

    Bác)

    (Viễn Phương – Viếng lăng Bác)

    Chỉ ra biện

    pháp tu từ  trong hai câu thơ ?

    – Phân tích giá trị biểu cảm ?

    * Gợi ý:  

    Phép tu từ ẩn dụ

    : Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ

    – Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình

    ảnh “mặt trời” là một vầng thái dương “nghĩa đen”, tác giả tạo ra một hình ảnh

    so sánh ngầm sâu sắc, tế nhị làm cho người đoc suy nghĩ và hình dung ra được

    hình ảnh của Bác Hồ (nghĩa bóng) một con người rực rỡ và ấm áp như mặt trời dẫn

    dắt dân tộc ta trên con đường giành tự do và độc lập xây dựng tổ quốc công bằng

    dân chủ văn minh từ đó tạo cho người đọc một tình cảm yêu mến khâm phục vị lãnh

    tụ kính yêu của dân tộc chúng ta.

    Bài 16.

    Tìm và phân tích các hoán dụ trong các ví dụ sau:

    Chồng ta áo rách ta thương

    a.

        Chồng người áo gấm xông hương mặc người

    (Ca dao)

    Sen tàn cúc lại nở hoa

    b.

    Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

    (Nguyễn Du)

    Một viên gạch hồng, Bác chống lại

    cả một mùa băng giá…

    c.

    (Chể Lan Viên)

     Gợi

    ý:

    “ áo rách” là hoán dụ lấy

    quần áo (áo rách) để thay cho con người (người nghèo khổ).

    * a.là hoán dụ lấy quần áo (áo rách) để thay cho con người (người nghèo khổ).

    “áo

    gấm” cũng là hoán dụ lấy quần áo (áo gấm) để thay cho con người( người giàu

    sang, quyền quí).

    cũng là hoán dụ lấy quần áo (áo gấm) để thay cho con người( người giàu sang, quyền quí).

    * b. “ Sen” là hoán dụ lấy loài hoa đặc trưng ( hoa sen) để chỉ mùa (mùa hạ).

    Cúc” là hoán dụ lấy loài hoa đặc trưng ( hoa cúc) để chỉ mùa (mùa thu).

    – Chỉ với hai câu thơ nhưng Nguyễn Du đã diễn đạt được bốn mùa chuyển tiếp trong một năm, mùa hạ đi qua mùa thu lại đến rồi mùa thu kết thúc, đông bước sang, đông tàn, xuân lại ngự trị.

    * c. “Viên gạch hồng” là hoán dụ lấy đồ vật (viên gạch hồng) để biểu trưng cho nghị lực thép, ý chí thép của con người. (Bác Hồ vĩ đại).

    – “ Băng giá” là hoán dụ lấy hiện tượng tiêu biểu (cái lạnh ở Pa-ri) để gọi thay cho mùa (mùa đông)

    Bài 17. Xác định các loại điệp ngữ:

    Trâu ơi ta bảo trâu nàyTrâu ăn no cỏ trâu cày với taCách trò chuyện với trâu trong bài ca dao trên cho em cảm nhận gì ?- Chú ý cách xưng hô của người đối với trâu. Cách xưng hô như vậy thể hiện thái độ tình cảm gì ? Tầm quan trọng của con trâu đối với nhà nông như thế nào ? Theo đó em sẽ trả lời được câu hỏi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Yếu Lớp 1
  • Tìm Hiểu Về Hạn Hán: Nguyên Nhân, Cách Phân Loại Và Các Biện Pháp Chống Hạn Hán
  • Sán Lá Gan Lớn Và Các Biện Pháp Phòng Ngừa
  • Những Cần Biết Về Dịch Bệnh Sán Lá Phổi
  • Người Nhiễm Sán Lá Gan Có Những Nguy Hiểm Gì ?
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • 1.1. Lí do chọn đề tài.

    Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng “kép” (vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất. Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản cho mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện, nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoa học, nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Học Tiếng Việt không chỉ dừng lại ở những hiểu biết về nó, mà điều quan trọng là sử dụng nó ngày một thành thạo hơn, tốt hơn vào các hoạt động giao tiếp đa dạng trong xã hội.

    Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần không nhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong đó có biện pháp tu từ so sánh. Đây là mảng kiến thức rất mới đối với học sinh lớp 3.

    Môn Tiếng Việt lớp 3 nằm trong hệ thống các môn học ở Tiểu học, với mục tiêu nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt như nghe – nói – đọc – viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.

    Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.

    Trong chương trình Tiểu học hiện nay, phân môn Luyện từ và câu lớp 3, không có bài học riêng về kiến thức, chỉ trình bày các kiến thức (về từ gồm cả thành ngữ, tục ngữ về lao động sản xuất, văn hoá, xã hội, bảo vệ Tổ quốc; kiến thức về ngữ pháp như từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất; Dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm. Học sinh nhận biết sơ giản về các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá ) học sinh cần làm quen và nhận biết thông qua các bài tập thực hành. Qua các bài học, các em sẽ nhận biết được các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong mỗi khổ thơ, mỗi đoạn văn, các em cần phân biệt được kiểu so sánh của mỗi hình ảnh so sánh ấy; thấy được ý nghĩa, tác dụng của biện pháp so sánh trong biểu đạt ngôn ngữ làm cho sự vật hiện lên sinh động và gần gũi hơn. Để viết được những câu văn hay, những bài văn giàu hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ nhà văn phải có sự quan sát tinh tế và kết hợp với các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sự thành công của tác phẩm mà trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một phần không nhỏ để làm nên điều đó . Vì vậy dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 là trên cơ sở lấy quan điểm giao tiếp làm định hướng cơ bản và dạy theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hành làm bài tập nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

    Xuất phát từ đó mà tôi chọn đề tài: Giúp học sinh lớp 3 học tốt ” biện pháp tu từ so sánh ” trong phân môn Luyện từ và câu.

    1.2. Mục đích nghiên cứu.

    Tiếng Việt cùng với môn Toán là môn học quan trọng ở Tiểu học. Nó chiếm nhiều thời gian trong quá trình học tập, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3 cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức về mảng nghĩa của từ. Đặc biệt là các hình ảnh so sánh là một trong những nội dung mới và khó đối với học sinh. Học sinh hay nhầm lẫn về hình ảnh so sánh và nhân hóa. Vậy để giúp học sinh đạt kết quả học tập tốt hơn trong phân môn Luyện từ và câu. Tôi đã đưa ra một số biện pháp nhận biết biện pháp tu từ so sánh.

    1.3. Đối tượng nghiên cứu.

    Tôi chọn học sinh lớp 3B làm đối tượng nghiên cứu trong năm học 2021-2019 tại nơi tôi công tác.

    1.4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Đọc, tham khảo, nghiên cứu tài liệu.

    – Quan sát học sinh và giáo viên khi dạy phân môn luyện từ và câu trong khi đi dự giờ.

    – Điều tra, khảo sát thực tế.

    – Thực nghiệm.

    – Thống kê, so sánh đối chiếu.

    – Kiểm tra, đánh giá.

    2. NỘI DUNG .

    2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

    Thế nào là so sánh? So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc có nét tương đồng, có dấu hiệu chung nào đó nhằm tăng sức gợi cảm hoặc diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của sự vật, sự việc.

    Trong thực tế có 2 loại so sánh là so sánh tu từ và so sánh luận lý.

    So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh. Mục đích của so sánh tu từ nhằm diễn tả một cách sinh động đặc điểm của sự vật, sự việc.

    So sánh luận lý nhằm mục đích xác lập sự tương đương giữa 2 đối tượng.

    Mặt khác, Nội dung chương trình học Luyện từ và câu lớp 3 về phần so sánh được học trong 10 tiết ở các tuần ở tuần 1,3,5,7,9,10,15,18 của học kỳ 1 với 22 bài tập khác nhau. Nội dung “so sánh” được dạy kèm với các nội dung khác. Có bài chỉ dạy một nội dung về so sánh (bài 5) nhiều bài do kết hợp với các nội dung khác như:

    So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu: “Ai là gì ?” trong 4 tiết.

    So sánh được dạy cùng nội dung ôn kiểu câu “ Ai làm gì ?” trong 2 tiết

    So sánh được dạy cùng nội dung Danh từ (chỉ sự vật) trong 4 tiết

    Riêng tuần 9 có thêm nội dung “Từ ngữ về quê hương”

    Ở lớp 3, học sinh vẫn chỉ đang ở cuối giai đoạn của một quá trình nhận thức nên nội dung dạy học so sánh không có tiết lý thuyết riêng phần hình thành kiến thức được cung cấp thông qua hệ thống bài tập. Các bài tập được đưa ra dưới nhiều dạng khác nhau.

    Việc hiểu và tìm đúng các hình ảnh so sánh giúp học sinh làm bài tập một cách chính xác, tránh những cách hiểu khác nhau. Vậy cần có một số biện pháp đưa ra để giúp học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh.

    2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

    2.2.1. Về việc dạy của giáo viên.

    Theo quy trình dạy học phân môn Luyện từ và câu, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh nắm kiến thức. Tuy nhiên do thời lượng một tiết có hạn nên giáo viên chưa lồng ghép liên hệ, phân biệt biện pháp tu từ so sánh trong các bài học được. Do đó sau các bài học về so sánh học sinh chỉ nắm được kiến thức một cách riêng biệt. Đôi khi trong dạy học các nội dung này giáo viên có lúc bí từ ( hạn chế về vốn từ) khi lấy thêm ví dụ cụ thể ngoài sách giáo khoa để giúp học sinh phân biệt biện pháp tu từ so sánh với các mạch kiến thức khác.

    2.2.2. Về việc học biện pháp tu từ so sánh của học sinh.

    Khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực

    quan, vốn kiến thức văn học của học sinh rất ít ỏi nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế.

    Một thực tế cho thấy khi học và làm bài tập về so sánh tu từ học sinh tiếp thu và làm bài tập nhanh hơn về so sánh lí luận, có lẽ bởi so sánh lí luận trừu tượng hơn so sánh tu từ.

    Đặc biệt khi làm bài tập biện pháp tu từ so sánh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài tập chưa đạt yêu cầu. Các em chưa nắm được yêu cầu cơ bản như: cách nhận diện sự vật, nhận diện về đặc điểm của sự vật được đem ra so sánh, từ thể hiện sự so sánh sao cho phù hợp.

    Để kiểm tra khả năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh tôi đã cho học sinh lớp 3B làm bài tập sau:

    Đề bài:

    Tìm các hình ảnh so sánh trong các câu thơ, câu văn sau:

    a) Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành

    b) Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    c) Trường Sơn: chí lớp ông cha

    Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào

    d) Mảnh trăng non đầu tháng lơ lửng giữa trời như một cánh diều.

    Kết quả khảo sát:

    Tổng số

    học sinh

    Số học sinh

    trả lời đúng

    Số học sinh

    trả lời sai

    Số học sinh

    không trả lời được

    25 em

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    10

    40

    10

    40

    5

    20

    Chỉ có 10 em trả lời đúng, 10 em chưa xác đinh được các hình ảnh so sánh, còn 5 em không hiểu gì.

    Đứng trước thực trạng trên, bản thân tôi rất trăn trở. Làm thế nào để giúp học sinh có thể nhận biết được biện pháp so sánh trong quá trình học tập. Bản thân tôi đã đưa ra một số biệp pháp để giúp các em nhận biết được biện pháp so sánh như sau:

    2.3. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

    2.3.1. Giáo viên phải nắm vững kiến thức về biện pháp tu từ so sánh.

    a) Về nội dung, yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng.

    *) Néi dung vÒ “biện pháp so sánh” trong phân môn Luyện từ và câu ë ch­¬ng tr×nh Tiếng Việt lớp 3.

    Kiến thức lý thuyết về so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: “Luyện từ và câu”. Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 – Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài với các nội dung sau:

    – So sánh: Sự vật – Sự vật.

    Ví dụ: Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành.

    – So sánh: Sự vật – Con người.

    Ví dụ: Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

    – So sánh: Âm thanh – Âm thanh.

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ, bóng lòng hoa.

    – So sánh: Hoạt động – Hoạt động.

    Ví dụ: Con voi đen lông mượt

    Chân đi như đạp đất.

    *) Yêu cầu cơ bản về kiến thức và kĩ năng:

    – Tìm được những sự vật được so sánh với nhau câu văn, câu thơ.

    – Tìm được hình ảnh so sánh trong câu văn, câu thơ.

    – Nhận biết được các từ chỉ sự so sánh.

    – Nắm được các kiểu so sánh: So sánh hơn kém ; so sánh sự vật với con người ; so sánh âm thanh với âm thanh ; so sánh hoạt động với hoạt động.

    – Nêu được các từ so sánh.

    – Điền từ ngữ vào câu có hình ảnh so sánh.

    b) Biện pháp tu từ so sánh:

    So sánh là biện pháp tu từ trong đó người ta đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó, để hiểu rõ hơn đối tượng được nói đến.

    So sánh bao gồm:

    – Đối tượng được so sánh

    – Phương diện so sánh

    – Từ biểu thị quan hệ so sánh ( như, như thể, như là, giống, giống như, tựa như, không khác gì, bằng, là, chẳng bằng )

    – Đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh.

    So sánh có tác dụng như sau:

    – Về nhận thức: Qua so sánh, đối tượng nói đến được hiểu rõ hơn.

    – Về biểu cảm: Hình ảnh so sánh làm tăng thêm tính biểu cảm cho câu văn.

    Bài tập về so sánh có hai loại nhỏ :

    – Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh

    – Bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh

    2.3.2. H­íng dÉn häc sinh c¸ch häc tõng m¹ch kiÕn thøc vÒ so sánh th«ng qua c¸c bµi tËp cô thÓ.

    Sách Tiếng Việt lớp 3 không trực tiếp giới thiệu khái niệm so sánh ( với tư cách là một biện pháp tu từ ) cho học sinh, mà thông qua hàng loạt bài tập, dần dần hình thành ở học sinh khái niệm này. Hình thức bài tập thường là nêu câu văn, câu thơ, đoạn văn trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh với nhau trong câu văn, câu thơ, đoạn văn ấy.

    Chính vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh nhận biết biện pháp tu từ so sánh thông qua các bài tập cụ thể.

    a) Kiểu so sánh: Sự vật – Sự vật.

    Dạng bài tập này được cung cấp đan xen trong 4 tuần : Tuần 1, 3 , 9 và 15 với các bài tập cụ thể như sau:

    * Ví dụ:

    a. “Hai bàn tay em

    Như hoa đầu cành”

    (Huy Cận)

    b. “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch”

    (Vũ Tú Nam)

    c. “Cánh diều như dấu á

    Ai vừa tung lên trời”

    (Lương Vĩnh Phúc)

    d. “Ơ cái dấu hỏi

    Trông ngộ ngộ ghê

    Như vành tai nhỏ

    Hỏi rồi lắng nghe”

    (Phạm Như Hà) – (Bài tập SGK-trang 8)

    a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

    Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

    Thanh Hải

    b. Em yêu nhà em

    Hàng xoan trước ngõ

    Hoa sao xuyến nở

    Như mây từng chùm.

    Tô Hà

    c. Mùa đông

    Trời là cái tủ ướp lạnh

    Mùa hè

    Trời là cái bếp là nung

    Lò Ngân Sủn

    d. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

    Đất nước ngàn năm.

    (Bài tập SGK-trang 25)

    Bài 3 : Ghi lại những sự vật được so sánh với nhau trong những câu sau :

    a. Từ trên cao nhìn xuống, mặt hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ, sáng long lanh. ( Ngô Quân Miện)

    b. Cầu Thê Húc màu son, cong cong như con tôm, dẫn vào đền Ngọc Sơn.

    (Ngô Quân Miện)

    c. Người ta thấy con rùa lớn, đầu to như trái bưởi, nhô lên khỏi mặt nước.

    (Bài tập SGK-trang 69)

    Cách dạy loại bài tập này, trước hết giáo viên cho một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập. Các em khác vừa nghe, vừa nhìn vào bài tập trong sách giáo khoa. Ấn tượng thính giác kết hợp với ấn tượng thị giác giúp các em dễ nhận ra hiện tượng so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn. Sau bước nhận biết sơ bộ đó, giáo viên hướng dẫn học sinh đi vào phân tích từng trường hợp, tìm các sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh so sánh theo yêu cầu của bài tập.

    Với dạng bài tập này tôi thường hướng dẫn học sinh làm theo các bước sau :

    – Đọc yêu cầu bài tập. Lưu ý đọc toàn bộ bài tập

    – Hướng dẫn HS phân tích yêu cầu.

    + Bài tập yêu cầu làm gì ?

    + Để tìm được các sự vật, hình ảnh được đem ra so sánh em cần làm gì ?

    (Đọc kĩ yêu cầu và các câu văn câu thơ đề tìm các sự vật, các hình ảnh được đem ra so sánh)

    – Tìm sự vật được so sánh hoặc các hình ảnh được so sánh.

    Lưu ý HS : Đã gọi là so sánh thì phải có ít nhất 2 sự vật hoặc 2 hình ảnh trở lên được đem ra để so sánh.

    – Kết luận : Giáo viên kết luận và phân tích rõ để HS hiểu và tự làm lại được bài tập nếu sai.

    Theo cách làm này HS sẽ tìm được những sự vật hoặc những hình ảnh được so sánh với nhau theo yêu cầu của bài tập : Cụ thể là :

    1. Bài tập 2 – trang 8

    a. hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành.

    b. mặt biển được so sánh với tấm thảm khổng lồ.

    c. cánh diều được so sánh với dấu á.

    d. dấu hỏi được so sánh với vành tai nhỏ.

    Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao “Hai bàn tay em” được so sánh với “Hoa đầu cành” hay vì sao nói “Mặt biển” như “tấm thảm khổng lồ”? Lúc đó giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn:

    + Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

    + Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.

    + Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.

    + Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai.

    Hai bàn tay

    Hoa đầu cành

    Dấu hỏi

    Vành tai

    2. Bài tập 1 – trang 25

    a. Mắt hiền sáng tựa vì sao

    b. Hoa sao xuyến nở như mây từng chùm.

    c. Trời là cái tủ ướp lạnh / Trời là cái bếp lò nung

    d. Dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng

    3. Bài tập 2 – trang 69

    a. Hồ như một chiếc gương bầu dục khổng lồ

    b. Cầu Thê Húc cong cong như con tôm

    c. Đầu (con rùa) to như trái bưởi

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về:

    – Nhận biết được sự vật hoặc hình ảnh được đem ra so sánh.

    – Để so sánh được cần phải có ít nhất hai sự vật hoặc hai hình ảnh trở lên trong cùng một ví dụ.

    – Từ để so sánh trong kiểu so sánh sự vật với sự vật là: như, là, tựa

    b) Kiểu so sánh hơn kém:

    Bước đầu sách giáo khoa chỉ cung cấp cho HS làm quen với kiểu so sánh này nên có rất ít trong chương trình.

    Ví dụ : Bài tập – trang 42, 43

    Tìm các hình ảnh so sánh trong những khổ thơ sau :

    a. Bế cháu ông thủ thỉ

    – Cháu khỏe hơn ông nhiều

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng

    (Phạm Cúc)

    b. Ông trăng tròn sáng tỏ

    Soi rõ sân nhà em

    Trăng khuya sáng hơn đèn

    Ơi ông trăng sáng tỏ

    (Trần Đăng Khoa)

    Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    (Trần Quốc Minh)

    Ở phần này khi kết luận cần cho HS nhận biết được các từ so sánh trong các khổ thơ để khắc sâu cho HS và giúp HS dễ dàng nhận biết được đó chính là kiểu so sánh hơn kém.

    Từ các bước làm trên HS tìm được các hình ảnh so sánh và kiểu so sánh cụ thể là :

    Hình ảnh so sánh

    Kiểu so sánh

    a. Cháu khỏe hơn ông nhiều

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng

    hơn kém

    ngang bằng

    ngang bằng

    b. Trăng khuya sáng hơn đèn

    hơn kém

    c.Những ngôi sao thức chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    hơn kém

    ngang bằng

    Lưu ý: Trong câu “Trăng khuya sáng hơn đèn” HS sinh gạch dưới từ trăng hoặc cả cụm từ trăng khuya đều được xem là đúng. Hay trong câu

    “Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    HS có thể gạch dưới Những ngôi sao hay Những ngôi sao thức ngoài kia, mẹ hay mẹ đã thức vì chúng con đều được. Điều quan trọng là trong mỗi cụm từ đều có các từ nòng cốt : trăng, những ngôi sao, mẹ là được.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi củng cố cho HS về:

    – Các hình ảnh được so sánh trong câu thơ.

    – Các từ so sánh: là – hơn – chẳng bằng

    – Kiểu so sánh: hơn kém, ngang bằng.

    c) Kiểu so sánh: Sự vật – Con người.

    Dạng của mô hình so sánh này là:

    A như B: + A có thể là con người.

    + B sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh.

    Với kiểu so sánh này tôi hướng dẫn HS nắm được yêu cầu của đề bài; tìm các hình ảnh so sánh; nhận biết về kiểu so sánh.

    a. Trẻ em như búp trên cành

    Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan

    (Hồ Chí Minh)

    b. Ngôi nhà như trẻ nhỏ

    Lớn lên với rời xanh

    (Đồng Xuân Lan)

    c. Cây pơ-mu đầu dốc

    Im như người lính canh

    Ngựa tuần tra biên giới

    Dừng đỉnh đèo hí vang

    (Nguyễn Thái Vận)

    d. Bà như quả ngọt chín rồi

    Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng.

    (Võ Thanh An)

    Với dạng bài tập này học sinh sẽ tìm được sự vật so sánh với con người nhưng các em chưa giải thích được “Vì sao?”. Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:

    Giáo viên cho học sinh xem ảnh chụp búp trên cành và giải thích thêm:

    Trẻ em” giống như “búp trên cành”. Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống, chứa chan niềm hy vọng.

    Cây pơ- mu cao lơn đứng hiên ngang như người lính dũng cảm đứng canh gác giữa bầu trời.

    “Bà” sống đã lâu, tuổi đã cao giống như “quả ngọt chín rồi” đều phát triển đến độ già dặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi khắc sâu cho HS về:

    – Các hình ảnh so sánh có trong câu thơ, câu văn, chỉ rõ cho HS biết hình ảnh nào chỉ sự vật hình ảnh nào chỉ người.

    – Từ so sánh là từ như

    – Kiểu so sánh: Sự vật với con người

    d) Kiểu so sánh: Âm thanh – Âm thanh:

    Mô hình này có dạng sau:

    A như B: + A là âm thanh thứ 1.

    + B là âm thanh thứ 2.

    * Ví dụ: Bài tập 2 – trang 80

    a. “Côn Sơn suối chảy rì rầm

    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

    (Nguyễn Trãi)

    b. Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

    c. Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xóc những rổ tiền đồng. Chim đầu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá. (Đoàn Giỏi)

    Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ “như”. Chẳng hạn:

    Âm thanh thứ nhất

    Từ so sánh

    Âm thanh thứ hai

    Tiếng suối

    Tiếng suối

    Tiếng chim

    như

    như

    như

    tiếng đàn cầm

    tiếng hát xa

    tiếng xóc những rổ tiền đồng

    Lưu ý: GV giải thích cho HS hiểu những gì ta chỉ có thể nghe được mà không cầm nắm được đó chính là âm thanh.

    * Kết luận: Với kiểu so sánh này tôi vừa củng cố và mở rộng cho HS về:

    – Xác định được từ chỉ âm thanh có trong câu thơ, câu văn.

    – Từ so sánh: như

    – Kiểu so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh

    đ) Kiểu so sánh: Hoạt động – Hoạt động.

    Mô hình này có dạng như sau:

    + A như B.

    * Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + “Con trâu đen lông mượt

    Cái sừng nó vênh vênh

    Nó cao lớn lênh khênh

    Chân đi như đạp đất”

    (Trần Đăng Khoa)

    + “Cau cao, cao mãi

    Tàu vươn giữa trời

    Như tay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • BIỆN PHÁP TU TỪ:

    cách sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn. Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ được kết hợp mà BPTT được chia ra: BPTT ngữ âm, BPTT từ vựng – ngữ nghĩa, BPTT cú pháp, BPTT văn bản. Vd. điệp âm, điệp vần, điệp thanh, hài âm… là những BPTT ngữ âm; tương phản, so sánh, ẩn dụ, nói lái, phản ngữ… là những BPTT từ vựng ngữ nghĩa; sóng đôi, câu hỏi tu từ… là những BPTT cú pháp; hài hoà tương phản, quy định về đoạn trong văn bản là những BPTT văn bản.

    A. Các biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng

    Ðặc điểm chung của những biện pháp thuộc nhóm này là trong văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng chuyển đổi ý nghĩa lâm thời. Tức là, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này được lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác, dựa trên cơ sở của hai mối quan hệ liên tưởng : liên tưởng tương đồng và logic khách quan. Mặc dù so sánh không phải là hiện tượng chuyển nghĩa nhưng nó là cơ sở của nhiều biện pháp tu từ trong nhóm này.

    I- So Sánh         

    1- Khái niệm:

                        So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe. Ví dụ:

    Công cha như núi thái sơn

                      Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. ( Ca dao )

    Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí. Dù đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau nhưng hai loại so sánh này lại có sự khác nhau về chất. Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. Nếu so sánh tu từ  nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi.Ví dụ :

    So sánh tu từ

    So sánh luận lí

    – Ðôi ta như cá ở đìa

    Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung

    -         Ðứt tay một chút chẳng đau

    Xa nhau một chút như dao cắt lòng.

    – Khôi đã cao bằng mẹ.

    - Con hơn cha nhà có phúc.

    - Nam học giỏi như Bắc.

    2- Cấu tạo:

    2.1- Hình thức: Bao giờ cũng công khai phô bày hai vế :

    -         Vế so sánh

    -         Vế được so sánh.

                   Ở dạng thức đầy đủ nhất, so sánh tu từ  gồm có bốn yếu tố:

    Vế so sánh

    Cơ sở so sánh

    Từ so sánh

    Vế được so sánh

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    Gái có chồng

    như

    gông đeo cổ

    Lòng ta vẫn

    vững

    như

    kiềng ba chân

    *A bao nhiêu B bấy nhiêu:

    Qua đình ngả nón trông đình

                   Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.  ( Ca dao)

    * A là B :    

    Em là gái trong song cửa

    Anh là mây bốn phương

    Anh theo cánh gió chơi vơi

    Em vẫn nằm trong nhung lụa.

                                                                             ( Một mùa đông -Lưu Trọng Lư)          

    * A ( ẩn từ so sánh) B:                                   Tấc đất, tấc vàng  

    2.2- Nội dung: Các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ. Nếu nét giống nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ ( cơ sở giống nhau) thì ta có so sánh nổi; nếu nét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ thì ta có so sánh chìm.

    3- Chức năng :

                So sánh tu từ có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm.Biện pháp tu từ này được vận dụng rộng rãi trong nhiều phong cách khác nhau như :khẩu ngữ, chính luận, thông tấn, văn chương,…

    II- Ẩn dụ tu từ :    

    1- Khái niệm: Ẩn dụ là cách lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này để chỉ đối tượng kia dựa vào nét tương đồng giữa hai đối tượng. Ví dụ:

    Tưởng nước giếng sâu nối sợi dây dài

    Ai ngờ  giếng cạn tiếc hoài sợi dây.  

                                                            ( Ca dao )

    2- Cấu tạo:

    2.1- Hình thức: Ẩn dụ tu từ chỉ phô bày một đối tượng- đối tượng dùng để biểu thị- còn đối tượng định nói đến- được biểu thị- thì dấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh tu từ.

    2.2- Nội dung:  Ẩn dụ tu từ cũng giống như so sánh tu từ  (do đó người ta còn gọi là so sánh ngầm), nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng. Những mối quan hệ liên tưởng tương đồng thường được dùng để cấu tạo ẩn dụ tu từ là: tương đồng về màu sắc, tương đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu…

    3- Chức năng :  Ẩn dụ tu từ có hai chức năng: biểu cảm và nhận thức. Biện pháp tu từ này cũng được dùng rộng rãi trong các PCCN tiếng Việt.

    III- Nhân hoá :        

    1- Khái niệm: Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoat động giữa người và đối tượng không phải là người. Ví dụ:

    Những chị luá phất phơ bím tóc

    Những cây tre bá vai nhau thì thầm đứng học

    Ðàn cò trắng

    Khiêng nắng qua sông.

                                                                           ( Trần Ðăng Khoa )              

    2- Cấu tạo :

    2.1- Hình thức:

    + Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là người. Ví dụ:

    Ðây những tháp gầy mòn vì mong đợi

    Những đền xưa đổ nát dưới thời gian

    Những sông vắng lê mình trong bóng tối

    Những tượng đài lở lói rỉ rên than.

                                                                                        ( Chế Lan Viên)

    + Xem đối tượng không phải là người như con người để tâm tình trò chuyện. Ví dụ:

    Ðêm nằm than thở, thở than

    Gối ơi hỡi gối, bạn lan đâu rồi?

                                                                                          ( Ca dao)                 

    2.2- Nội dung:  Dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa đối tượng không phải là người và người.          

    3- Chức năng:  Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm. Nhân hoá được dùng rộng rãi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chương.

          Ngoài ra còn có biện pháp vật hoá. Ðó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người. Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm. Ví dụ:

    Gái chính chuyên lấy được chín chồng

    Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,

    Ai ngờ quang đứt lọ rơi

    Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.

                                                                                                   ( Ca dao)  

    IV- Hoán dụ :       

    1- Khái niệm:   Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó dựa vào mối quan hệ liên tưởng logic khách quan giữa hai đối tượng.

     Ví dụ:

    Aó chàm đưa buổi phân ly

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay .

                                        ( Việt Bắc – Tố Hữu )

    2- Cấu tạo:

    2.1- Hình thức: Giống ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ chỉ có một vế biểu hiện, vế được biểu hiện ko phô ra. 

    2.2- Nội dung: Nếu ẩn dụ dựa trên mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng thì hoán dụ dựa vào mối quan hệ có thực, quan hệ tiếp cận. Một số mối quan hệ logic khách quan thường được dùng để cấu tạo nên hoán dụ tu từ: 

    – Quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng.

    – Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.   

    – Quan hệ giữa cái chứa đựng và vật được chứa đựng ( cải dung).

    – Quan hệ giữa chủ thể và vật sở thuộc.

    – Quan hệ giữa số lượng xác định và số lượng không xác định ( cải số ).

    – Quan hệ giữa tên riêng và tính cách con người ( cải danh).

    3- Chức năng

    Hoán dụ chủ yếu có chức năng nhận thức. Biện pháp tu từ này được dùng rộng rãi trong các PCCN tiếng Việt.  

    V- Tượng trưng:       

    1- Khái niệm : Tượng trưng là biện pháp tu từ biểu thị đối tượng định miêu tả bằng ước lệ có tính chất xã hội. Người ta quy ước với nhau rằng từ này có thể được dùng để biểu thị một đối tượng khác ngoài nội dung ngữ nghĩa thông thường của nó.

    Ví dụ:

    Kiếp sau xin chớ làm người

    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

    Giữa trời vách đá cheo leo

    Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

                                                        ( Nguyễn Công Trứ )  

    2- Cấu tạo:

    2.1- Hình thức: Chỉ có một vế biểu hiện giống như ẩn dụ và hoán dụ tu từ.          

    2.2- Nội dung: Ðược xây dựng trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng tương đồng và logic khác quan.

    * Tượng trưng ẩn dụ:

    Chênh vênh thẳng đuột bách tùng

    Với hàng lau cỏ đứng cùng được sau.

                                                                         ( Nguyễn Công Trứ)

    *Tượng trưng hoán dụ:

    Ðứng lên thân cỏ thân rơm

    Búa liềm đâu sợ súng gươm bạo tàn.

                                                                                        (Tố Hữu)

    3- Chức năng Tượng trưng chủ yếu có chức năng nhận thức và chủ yếu được dùng trong PCVC.

    B. Các biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ kết hợp

    Ðặc điểm chung của những biện pháp thuộc nhóm này là trong văn cảnh cụ thể, nhờ cách sắp xếp từ ngữ theo những mối quan hệ kết hợp nhất định mà có được nội dung biểu hiện bổ sung. Sự đối lập giữa các hình thức kết hợp khác nhau nhằm cùng biểu hiện một thông báo cơ sở là nguyên nhân sinh ra các cách tạo hình, gợi cảm của những biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ kết hợp.   

    I- Ðiệp ngữ:

    1-Khái niệm : Ðiệp ngữ  là biện pháp lặp đi lặp lại những từ ngữ nào đó nhằm mục đích mở rộng, nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc.

     Ví dụ:    

    Cũng cờ, cũng biển cũng cân đai

    Cũng gọi ông nghè có kém ai.

                                                         ( Nguyễn Khuyến )

    2-Hình thức   Có một số hình thức điệp như : điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ cách quãng.

    2.1- Ðiệp ngữ nối tiếp:

    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai.

                                                           ( Chinh Phụ Ngâm- Ðặng Trần Côn)

    2.2- Ðiệp ngữ cách quãng:

    Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.

    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông, mưa xa khơi

                                                                  (Tây Tiến- Quang Dũng)

    3-Chức năng:  Ðiệp ngữ vừa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm. Biện pháp này được dùng rộng rãi trong các PCCN.  

     II- Phối hợp từ:          

    1- Khái niệm: Phối hợp từ ( còn gọi là đồng nghĩa kép) là biện pháp tu từ trong đó người ta dùng phối hợp nhiều từ ngữ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa nhằm mục đích biểu hiện đầy đủ các phương diện khác nhau của cùng một đối tượng hoặc cùng một nội dung trình bày.

    Ví dụ:  

    Xoè bàn tay bấm đốt

    Tính đã bốn năm ròng

    Người ta bảo … và ý nghĩa. 

    c- Ðặc điểm :

    1- Ngữ âm: Có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Khi phát biểu trong hội nghị hoặc diễn thuyết trong mit tinh, ngữ điệu được xem là phương tiện bổ sung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe. 

    2- Từ ngữ:- Ðặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, công cụ riêng của PC chính luận. PC chính luận đòi hỏi khi dùng từ chính trị phải luôn luôn tỏ rõ lập trường, quan điểm và tình cảm cách mạng của mình

    – Từ ngữ đòi hỏi sự minh xác cao. Ðề tài được đưa ra bàn luận ở PC chính luận là những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội cho nên khi cần thiết người ta phải dùng tất cả các lớp từ ngữ có quan hệ đến đề tài này.

    – Khi cần bày tỏ sự đánh giá tình cảm của mình một cách mạnh mẽ đối với các vấn đề nêu ra, người ta coön chọn lọc và sử dụng các  đơn vị từ khẩu ngữ, bởi vì đây là lớp từ giàu sắc thái ý nghĩa và sắc thái biểu cảm

    3- Cú pháp:

    -Do phải thực hiện chức năng thông báo, chứng minh và tác động nên phong cách chính luận dùng nhiều kiểu câu khác nhau: câu đơn, câu ghép, câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán.

    – Câu văn chính luận thường dài, có kết cấu tầng bậc làm cho tư tưởng nêu ra được xác định chặt chẽ.

              – Ðể nhấn mạnh ý tưởng, gây sự chú ý ở người đọc, PC chính luận sử dụng nhiều lối nói trùng điệp, phép điệp từ, điệp ngữ, các cách so sánh giàu tính liên tưởng và tương phản để tăng cường độ tập trung thông tin và hiệu quả bình giá, phán xét.

    5- Phong cách hành chính :

    a- Khái niệm :

           PC hành chính là PC đuợc dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực hành chính. Ðấy là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác. 

              b- Chức năng và đặc trưng:

               1- Chức năng: PC hành chính có hai chức năng: thông báo và sai khiến. Chức năng thông báo thể hiện rõ ở  giấy tờ hành chính thông thường, ví dụ như: văn bằng, chứng chỉ các loại, giấy khai sinh, hoá đơn, hợp đồng…Chức năng sai khiến bộc lộ rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của cấp trên gởi cho cấp dưới, của nhà nước đối với nhân dân, của tập thể với các cá nhân. 

              2- Ðặc trưng: PC hành chính  có 3 đặc trưng:

              2.1- Tính chính xác- minh bạch: Văn bản hành chính chỉ cho phép một cách hiểu. Nếu hiểu không thống nhất sẽ dẫn đến việc thi hành các văn bản hành chính theo những cách khác nhau. Tính chính xác này đòi hỏi từ dấu chấm câu đến từ ngữ, câu văn và kết cấu của văn bản. Nói cách khác, quan hệ giữa hình thức và nội dung biểu đạt là  quan hệ 1-1. Ðặc trưng này đòi hỏi người tạo lập văn bản không được dùng các từ ngữ, các kiểu cấu trúc ngữ pháp mơ hồ. 

              2.2- Tính nghiêm túc- khách quan: Tính khách quan gắn với chuẩn mực luật pháp nhằm để diễn đạt tính chất xác nhận, khẳng định của những tài liệu này. Văn bản hành chính thuộc loại giấy tờ có quan hệ đến thể chế quốc gia , của xã hội có tổ chức cho nên sự diễn đạt ở đây phải luôn luôn thể hiện tính nghiêm túc. Các văn bản như : hiến pháp, luật, quyết định, thông tư,… mang tính chất khuôn phép cao cho nên không chấp nhận PC diễn đạt riêng của cá nhân. Ngay cả những văn bản hành chính mang tính cá nhân cũng phải đảm bảo đặc trưng này.

               2.3- Tính khuôn mẫu: Văn bản hành chính được soạn thảo theo những khuôn mẫu nhất định do nhà nước quy định. Những khuôn mẫu này được gọi là thể thức văn bản hành chính. Thể thức đúng không những làm cho văn bản được sử dụng có hiệu quả trong hoạt động hiện hành của các cơ quan mà còn làm cho văn bản có giá trị bền vững về sau.         

    c- Ðặc điểm:

              1- Ngữ âm: Khi phát âm ở phong cách này phải hướng tới chuẩn mực ngữ âm, phát âm phải rõ ràng, chính xác. Khác với các PC khác, khi tồn tại ở dạng nói,  PC hành chính không phải là sự trình  bày , diễn đạt theo văn bản đã viết hoặc soạn đề cương  mà là đọc lại.Nghĩa là chúng không chịu một sự biến đổi nào bên trong. Ngữ điệu đọc hoàn toàn bị phụ thuộc vào cấu trúc của nội dung văn bản. 

              2- Từ ngữ:

    – Những từ ngữ xuất hiện nhiều ở PC này là lớp từ ngữ chuyên dùng trong các hoạt động của bộ máy nhà nước và các đoàn thể, còn được gọi là từ hành chính. Loại từ này tạo nên vẻ riêng nghiêm chỉnh, có thể chế của sự diễn đạt hành chính.

    – Có khuynh hướng dùng những từ ngữ thật chính xác đứng về mặt nội dung và những từ ngữ trung hoà hoặc những từ ngữ trang trọng đứng về mặt sắc thái biểu cảm. Những từ ngữ này góp phần biểu thị tính chất thể chế nghiêm chỉnh của các giấy tờ và văn kiện hành chính.

    – Từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ khá lớn. 

                3- Cú pháp: 

    – Dùng câu tường thuật là chủ yếu, các kiểu câu cảm thán , nghi vấn không thích hợp với yêu cầu thông tin của phong cách này.

    – Câu văn hành chính không chấp nhận sự mơ hồ. Tính thống nhất và chặt chẽ của các văn bản hành chính không cho phép sử dụng những câu trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần không rõ ràng khiến nội dung câu văn bị hiểu theo nhiều cách.

    – Câu văn hành chính không cho phép sự sáng tạo về ngôn ngữ của cá nhân, những yếu tố cảm xúc của cá nhân. Do yêu cầu cao về sự thống nhất theo thể thức hành chính nên một số văn bản hành chính viết theo mẫu đã quy định thống nhất.

    – Cú pháp của bất kỳ một quyết định hành chính nào cũng chỉ được trình  bày trong một câu. 

    6- Phong cách văn chương :

              a- Khái niệm:

           PC văn chương ( còn gọi là PC nghệ thuật) là PC được dùng trong sáng tác văn chương. PC này là dạng tồn tại toàn vẹn và sáng chói nhất của ngôn ngữ toàn dân. PC văn chương không có giới hạn về đối tượng giao tiếp, không gian và thời gian giao tiếp. 

              b- Chức năng và đặc trưng:

               1- Chức năng: PC ngôn ngữ văn chương có ba chức năng: thông báo, tác động, thẩm mĩ. Việc thực hiện chức năng của phong cách văn chương không bằng con đường trực tiếp như ở các PC khác mà bằng con đường gián tiếp thông qua hình tượng văn học.

              2- Ðặc trưng: PC văn chương có ba đặc trưng: 

              2.1- Tính cấu trúc: Mỗi tác phẩm văn chương là một cấu trúc. Các  thành tố nội dung tư tưởng, tình cảm , hình tượng và các thành tố ngôn ngữ diễn đạt chúng không những phụ thuộc vào nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung. Trong tác phẩm văn chương, có khi chỉ cần bỏ đi một từ hay thay bằng một từ khác là đủ làm hỏng cả một câu thơ, phá tan nhạc điệu của nó, xoá sạch mối quan hệ của nó với hoàn cảnh xung quanh. Từ nghệ thuật không sống đơn độc, tự nó, vì nó, từ nghệ thuật đứng trong đội ngũ, nó góp phần mình vào các từ đồng đội khác. Tính cấu trúc là điều kiện của cái đẹp. Một yếu tố ngôn ngữ chỉ có được ý nghĩa thẩm mĩ khi nằm trong tác phẩm. Chính là trên cái nền văn bản phù hợp mà từ ngữ có thể thay đổi ý nghĩa: cũ kĩ hay mới mẻ, dịu dàng hay thâm độc, trang trọng hay hài hước…[8,140] 

              2.2- Tính hình tượng: Ngôn ngữ văn chương được xem là công cụ cơ bản để xây dựng hình tượng văn học  Khi khảo sát, đánh giá ngôn ngữ văn chương phải xem xét ngôn ngữ ở đây đã góp phần xây dựng và thể hiện hình tượng văn học như thế nào. Khi giao tiếp ở phong cách khẩu ngữ, người ta có thể dùng những từ ngữ bóng bẩy, văn hoa, giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm nhưng hiệu quả ở đây còn tuỳ thuộc vào người nói là ai, nói trong hoàn cảnh nào và vì mục đích gì. Giao tiếp ở phong cách này, người phát ngôn có vai trò quyết định:Miệng nhà quan có gang, có thép; Vai mang túi bạc kè kè. Nói ấm nói ớ, người nghe ầm ầm. Trong khi đó, ở phong cách văn chương, địa vị cao thấp, sang hèn của nhà văn nhà thơ không đóng vai trò quyết định nhiều. Tính hình tượng của ngôn ngữ văn chương bắt nguồn từ chỗ đó là ngôn ngữ của một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ xã hội có tầm khái quát nhất định. Chính vì thế ngôn ngữ văn chương dễ đi vào lòng người, nó trở thành ngôn ngữ của muôn người.        

    Tính hình tượng trong phong cách văn chương thể hiện ở chỗ ngôn ngữ ở đây có khả năng truyền đạt sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh vật, con người vào trong tác phẩm. Ngôn ngữ trong phong cách khẩu ngữ cũng có khả năng này nhưng nó không là điều bắt buộc. Trong văn chương, trái lại, đó là điều không thể thiếu. Ngôn ngữ văn chương phải làm sống dậy các động tác, vận động đầy ý nghĩa của sự vật trong những thời khắc nhất định.

    Bất kỳ một phương tiện từ ngữ nào trong một văn cảnh nhất định đều có thể chuyển thành một từ ngữ nghệ thuật, nếu có thêm một nét nghĩa bổ sung nào đó.         

            2.3- Tính cá thể hoá: Tính cá thể hoá được hiểu là dấu ấn phong cách tác giả trong tác phẩm văn chương. Dấïu ấn PC tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương. Sêkhôp nói: Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả. Lối nói riêng mà Sêkhôp gọi chính là PC tác giả. Xét về mặt ngôn ngữ, PC tác giả thể hiện ở hai dấu hiệu:

              – Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả; 

              – Sự sáng tạo ngôn ngữ của tác giả         

    c- Ðặc điểm:

              1- Ngữ âm: Trong PCVC, những yếu tố ngữ âm như: âm, thanh, ngữ điệu, tiết tấu, âm điệu rất quan trọng. Có thể nói, tất cả những tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt đều được vận dụng một cách nghệ thuâtû để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ về mặt ngữ âm của người đọc, người nghe. Hầu như mọi biến thể của ngữ âm tiếng Việt đều được khai thác. 

              2- Từ ngữ:  Từ ngữ trong PCVC rất đa dạng, gồm cả từ phổ thông và từ địa phương, biệt ngữ; từ hiện đại và từ lịch sử, từ cổ; từ khiếm nhã và từ trang nhã. Từ trong sinh hoạt bình thường chiếm tỉ lệ cao, song vẫn xuất hiện đủ các lớp từ văn hoá, kể cả thuật ngữ khoa học. Nguyên nhân là tác phẩm văn chương có chức năng phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Nhờ sử dụng toàn bộ các phương tiện biểu hiện mà PCVC luôn luôn chuyển đổi, biến động, luôn luôn đa dạng mới mẻ trong cách phô diễn. 

              3- Cú pháp: PCVC sử dụng hầu như tất cả các kiểu cấu trúc câu. Song cấu trúc câu đơn vẫn chiếm tỉ lệ cao.

              PCVC thường sử dụng các loại câu mở rộng thành phần định ngữ, trạng ngữ  và các  loại kết cấu tu từ  như đảo ngữ, sóng đôi cú pháp, câu chuyển đổi tình thái… Ví dụ:

    -Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

    Củi một cành khô lạc mấy dòng

                                              (Tràng giang- Huy Cận)

    -Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc?

    Khi lòng ta đã hoá những con tàu,

    Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?

                                                    ( Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)

    1. Má ghiền miến gà.

    2. Nương khoái khoai nướng.

    3. Bi khóai khoai bí.

    4. Con cò lửa đứng trước cửa lò.

    5. Đôi trò dắt chiếc đò trôi.

    6. Con cá đối nằm trong cối đá.

    7. Quán đãi toàn món quái đản.

    8. Sáng ăn khoai mà cứ nói là khoái ăn sang!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm) – Đặng Trần Côn
  • Câu Hỏi Hướng Dẫn Ôn Thi Cuối Năm Ngữ Văn 10
  • Phân Tích: Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú) – Trương Hán Siêu
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Bài 1: Tìm và nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong các câu thơ sau:

    a, Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

    (Trần Đăng Khoa )

    b, Quê hương là chùm khế ngọt

    Cho con trèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay.

    (Đỗ Trung Quân )

    Bài 2: Hãy tìm phép so sánh trong các câu ca dao sau:

    a, Qua cầu ngả nón trông cầu

    Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu

    b, Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

    So sánh ở đây được thực hiện nhờ những từ so sánh nào?

    Bài 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của phép so sánh trong việc diễn đạt của các câu văn sau:

    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

    Tôi có ngay cái ý nghĩ vừa non nớt vừa thơ ngây này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước. Ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi

    Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ.

    ( Tôi đi học – Thanh Tịnh )

    Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

    ( Trong lòng mẹ – Nguyên Hồng )

    Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ ti ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh. Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội nữa mà là cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa. Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự.

    ( Mùa xuân của tôi – trích “ Thương nhớ mười hai “ – Vũ Bằng )

    Tôi yêu Sài Gòn da diết.Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang ui ui buồn bã, bống nhiên trong vắt lại như thuỷ tinh. Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm.

    ( Sài gòn tôi yêu – Minh Hương )

    Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải vì thế.

    ( Mùa xuân của tôi – trích “ Thương nhớ mười hai “ – Vũ Bằng )

    Bài 5: Đọc bài thơ sau:

    Dòng sông mặc áo

    Dòng sông mới điệu làm sao

    Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha

    Trưa về trời rộng bao la

    Áo xanh sông mặc như là mới may

    Chiều trôi thơ thẩn áng mây

    Cài lên màu áo hây hây rang vàng

    Dèm thêu trước ngực vầng trăng

    Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên

    Khuya rồi sông mặc áo đen

    Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ

    Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ

    Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa

    Ngước lên bỗng gặp la đà

    Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa áo ai

    ( Nguyễn Trọng Tạo )

    (?) Bài thơ tả cảnh gì? Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì để miêu tả? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó bằng một đoạn văn.

    Bài 6: Hãy viết tiếp những câu văn sau bằng cách dùng hình ảnh so sánh:

    a. Con đường làng uốn lượn..

    b. Mùa đông, cây hồng trụi hết lá, chỉ còn hàng trăm quả trĩu trịt trên cành

    ..

    c. Bầu trời đầy sao.

    d. Những quả dừa lúc lỉu trên cao.

    e. Trong buổi bình minh, chim chóc đua nhau cất tiếng hót ríu ran

    Bài 7: Dùng nghệ thuật nhân hoá để viết lại những câu văn tả sau đây sao cho cách diễn đạt trở nên giàu hình ảnh hơn:

    a. Về mùa hè, nước sông trong xanh màu ngọc bích.

    b. Trưa hè, lũ trẻ thường rủ nhau ra chơi dưới bóng cây đa cổ thụ.

    c. Khi diều hâu xuất hiện, gà mẹ xoè cánh che chở cho đàn con.

    d. Cần trục vươn tới, kéo lên từng thùng hang khổng lồ, nhẹ nhàng đặt vào khoang những chiếc xe tải đang chờ sẵn.

    Bài 8: Tìm và điền những từ tượng hình, tượng thanh phù hợp vào chỗ trống trong các đoạn văn sau:

    a. “ Nắng đã lên. Sau một đợt mưa (1) kéo dài, chút ánh nắng (1) ấy thật đáng quý biết bao. Bầu trời không còn khoác chiếc áo choàng trắng (3) nữa. Những khoảng xanh thẫm trên vòm cao loang ra rất nhanh, phủ kín tạo thành một chiếc áo khoác mới tinh. Nổi lên trên cái nền trời xanh (4) đó là những cụm mây trắng muốt trôi (5). Mặt trời ló ra. Nắng (6). Rồi nắng (7) dần lên. Trong khu vườn nhỏ, chim choc gọi nhau (8) nghe vang động và (9) biết bao ”.

    b. “ Dòng sông trong chiều hè thật (1). Gió thổi (2) đủ làm cho sóng nước gợn (3). Ánh nắng cuối ngày vàng rực, phủ sáng trên dòng nước trong xanh. Một vài con đò nhỏ lướt qua. Tiếng hò của cô lái đò vọng lên (4), (5). Hai bên bờ sông, những bãi ngô xanh rờn (6). Trên vòm cao (7), cánh diều đang chao lượn. Tiếng sáo diều (8), (9) lan toả trong bóng chiều.

    Bài 9: Hãy sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hóa để viết lại đoạn văn sau đây sao cho tạo thành một đoạn văn mới giàu hình ảnh và giàu sức gợi hơn.

    a. Trước sân trường có một cây bàng to lớn. Dưới gốc cây bàng nổi lên nhiều cái u rất to. Cành lá bàng xòe ra rất rộng. Mùa đông lá bàng màu đỏ. Mùa hè, lá bàng màu xanh.

    b. Đêm đã về khuya. Gió bấc thổi hun hút. Cái lạnh bao trùm khắp nơi. Cây cối im lìm trong giá rét. Thỉnh thoảng có tiếng côn trùng rả rích nghe càng thêm não nùng.

    *Ẩn dụ – Hoán dụ

    Bài 1: Thay thế các từ ngữ in đậm sau bằng những ẩn dụ thích hợp:

    Trong ánh hoàng hôn, những nương sắn với màu nắng vàng lộng lẫy có trên khắp các sườn đồi.

    Trong đôi mắt sâu thẳm của ông, tôi thấy có một niềm hi vọng.

    Bài 2: Xác định các kiểu ẩn dụ trong các câu sau đây:

    a, Bây giờ mận mới hỏi đào

    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

    (Ca dao)

    b, Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

    Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn

    (Ca dao)

    c, Chỉ có thuyền mới biết

    Biển mênh mông nhường nào.

    (Xuân Quỳnh)

    d, Này lắng nghe em khúc nhạc thơm.

    (Xuân Diệu)

    đ, Em thấy cơn mưa rào

    Ngập tiếng cười của bố

    (Phạm Thế Khải)

    e, Mà bên nước tôi thì đang hửng lên cái nắng bốn giờ chiều cái nắng đậm đà của mùa thu biên giới.

    (Nguyễn Tuân)

    Bài 3: Những câu sau đây có câu nào sử dụng ẩn dụ không? Nếu có, em hãy chỉ ra những ẩn dụ cụ thể:

    Chúng ta không nên nướng tiền bạc của cha mẹ.

    Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    Bài 4: Nêu ý nghĩa của từ miền Nam trong các câu thơ sau. Chỉ rõ trường hợp nào là hoán dụ và thuộc kiểu hoán dụ nào?

    a, Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    ( Viễn Phương )

    b, Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thủy

    Đang xông lên chống Mĩ tuyến đầu

    ( Lê Anh Xuân )

    Bài 5: Chỉ ra các hoán dụ trong những câu sau và cho biết chúng thuộc kiểu hoán dụ nào?

    a, Họ là chục tay sào, tay chèo, làm ruộng cũng giỏi mà làm thuyền cũng giỏi.

    (Nguyễn Tuân)

    b, Tự nhiên, Xa Phủ rút cây sáo. Tiếng sáo thoát ra từ ống trúc, véo vonTiếng sáo bay theo chân hai người tới chỗ rẽ.

    (Ma Văn Kháng)

    Bài 6: Tìm ẩn dụ và hoán dụ trong các câu sau:

    a, Nhận của quá khứ những con đê vỡ, những nạn đói, ta đã làm nên các mùa vàng năm tấn, bảy tấn.

    (Chế Lan Viên)

    b, Bóng hồng nhác thấy nẻo xa

    Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai

    (Nguyễn Du)

    a, Nhớ chân Người bước lên đèo

    Người đi rừng núi trông theo bóng Người

    (Tố Hữu)

    b, Hội làng ta năm nay to hơn mọi năm. Mới bảnh mắt ông thủ chỉ và mấy tay thủ trống đã có mặt trên sân cỏ bên đầm sen, chuẩn bị cho buổi đấu vật.

    (Trần Đình Khôi)

    c, Còi máy gọi bến tàu hầm mỏ

    Hòn Gai kêu Đất Đỏ đấu tranh

    Áo nâu liền với áo xanh

    Nông thôn liền với thị thành đứng lên

    (Tố Hữu)

    d, Tay ta, tay búa, tay cày

    Tay gươm tay bút dựng xây nước mình

    (Tố Hữu)

    đ, Đứng lên, thân cỏ, thân rơm

    Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn!

    (Tố Hữu)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm) – Đặng Trần Côn
  • Câu Hỏi Hướng Dẫn Ôn Thi Cuối Năm Ngữ Văn 10
  • Phân Tích: Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú) – Trương Hán Siêu
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cách Sử Dụng Biện Pháp Này
  • Bài Học Về Việc Vận Dụng Các Phương Tiện Ngôn Ngữ Châm Biếm Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt, Luyện Thi Thpt Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Tranngan Môn Văn Hãy Tìm Các Biện P…
  • Bài Học Về Việc Vận Dụng Các Phương Tiện Ngôn Ngữ Châm Biếm Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cách Sử Dụng Biện Pháp Này
  • Phân Tích: Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú) – Trương Hán Siêu
  • Câu Hỏi Hướng Dẫn Ôn Thi Cuối Năm Ngữ Văn 10
  • Các biện pháp tu từ trong tiếng Việt: Ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nhân hóa, phép điệp, phép đối, nói quá, nói giảm, nói tránh, …

    Đề bài :Chỉ ra và phân tích các biện pháp tu từ trong các câu sau:

    1.

    Trăm năm đành lỗi hẹn hò

    Cây đa bến cũ con đò khác đưa

    2.

    Thuyền ơi có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

    3.

    Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông

    4

    .

    Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng

    5.

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào

    6.

    Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ

    Bắp chân đầu gối vẫn săn gân

    7.

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn rơi xuống đất

    Khăn thương nhớ ai

    Khăn vắt lên vai

    8.

    Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

    9.

    Về thăm nhà Bác làng Sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng

    10.

    Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm

    11.

    Đầu xanh đã tội tình gì

    Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi.

    12.

    Áo nâu liền với áo xanh

    Nông thôn liền với thị thành đứng lên

    13

    Làm trai cho đáng nên trai

    Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng

    14.

    Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại.Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người, đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng.

    15.

    Thác bao nhiêu thác cũng qua

    Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên bờ

    16.Cờ bạc, r­ượu chè, lô đề,… nó đều thông thạo cả. Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng l­ưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh

    17.Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.

    ĐÁP ÁN:

    1.

    Bài ca dao đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ ” cây đa, bến cũ, con đò” . Trong đó “cây đa”, “bến cũ” là những vật đứng yên,” con đò” là vật thường xuyên di chuyển, chúng dùng để biểu hiện nỗi buồn của đôi trai gái khi phải xa nhau.

    2. Ẩn dụ : thuyền, bến

    Cách nói ẩn dụ là cho câu ca thêm tế nhị, phù hợp với việc bày tỏ nỗi nhớ, tình cảm thủy chung của người con gái

    3. Ẩn dụ : lửa lựu ,chỉ hoa lựu nở nhiều, đỏ rực như những đốm lửa. Cách nói ẩn dụ làm cho bức tranh trở nên sinh động, rực rỡ sắc màu, hoa lựu không chỉ có màu, mà còn có độ sáng, độ nóng. Điệp phụ âm đầu “L” trong các từ ” lửa lựu lập lòe ” làm cho câu thơ có sức tạo hình .

    4.Hình ảnh ẩn dụ ” giọt long lanh ” có thể hiệu là giọt sương , giọt nắng , giọt mưa xuân … Đó chính là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện được kết tủa lại . Sự chuyển đổi cảm giác rất sáng tạo độc đáo của tác giả . Từ tiếng hót của loài chim mà ông cảm nhận bằng thính giác giờ đây trở thành giọt long lanh rơi mà ông đã trông thấy chúng sắp rơi xuống .

    5. Hoán dụ : Thôn đoài , thôn Đông : lấy địa danh để chỉ người sống ở địa danh đó

    Cau , trầu : Ẩn dụ chỉ người con trai và người con gái

    Cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ, hán dụ rất phù hợp với lối nói bóng gió, xa xôi, tế nhị của tình yêu.

    6.Hoán dụ : bắp chân, đầu gối : chỉ người/ ý chí của người

    7. Điệp ngữ : Khăn thương nhớ ai

    Hán dụ “khăn : chỉ người cọn gái

    Tác dụng của biện pháp tu từ: bộc lộ nỗi niềm thương nhớ một cách kín đáo , tế nhị nhưng không kém phần mãnh liệt của cô gái

    8.Hoán dụ : “Áo chàm” chỉ đồng bào  Việt Bắc

    9. Lửa : ẩn dụ chỉ hoa dâm bụt

    Cách nói ẩn dụ khắc họa vẻ đẹp của hoa dâm bụt : đỏ, rực rỡ, đầy sức sống…

    11. Hoán dụ :

    Đầu xanh : chỉ người còn trẻ

    Má hồng : người con gái đẹp

    12. Hoán dụ :

    Áo nâu: người nông dân

    Áo xanh : người công nhân

    13. Biện pháp phóng đại :khom lưng chống gối ( cố gắng hết sức) để gánh 2 hạt vừng ( công việc quá nhỏ nhặt, không đáng kể)

     

    14.  

    Ẩn dụ Văn nghệ ngòn ngọt : thứ văn nghệ tầm thường, hào nhoáng bề ngoài, không có giá trị

    Tình cảm gầy gò: (phản ánh ) những tình cảm ,cảm xúc thoáng qua,vô nghĩa, tầm thường…

    1. Thác bao nhiêu thác cũng qua

    Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên bờ

    Ẩn dụ thác: những khó khăn trở ngại.

    Thuyền : ý chí, nghị lực của con người

    16. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng l­ưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh

    Ẩn dụ lá vàng: người già

    Kẻ đầu xanh : người còn trẻ

    17.Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.

    Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Nắng giòn tan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Sóng Xuân Quỳnh Hay Nhất
  • Phân Tích Khổ Thơ 5 Và 6 Trong Bài Thơ Sóng – Xuân Quỳnh
  • Ôn Tập Văn Vào Lớp 10
  • Phân Tích: Vội Vàng – Xuân Diệu
  • Khái Niệm, Cách Dùng, Ví Dụ Về Dấu Chấm Lửng Và Dấu Chấm Phẩy
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50