Top 20 # Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Ca Ngất Ngưởng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Đọc Hiểu Bài Ca Ngất Ngưởng / 2023

1. Tác giả

Nguyễn Công Trứ làm quan cho nhà Nguyễn, nhưng tính tình phóng khoáng, thích tự do nên cuộc đời quan trường khá lận đận. Nguyễn Công Trứ là nhà nho yêu nước thương dân. Ông để lại khoảng 50 bài thơ, hơn 60 bài ca trù và một bài phú nổi tiếng Hàn nho phong vị phú. Các sáng tác của ông chủ yếu viết bằng chữ Nôm.

2. Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi ông đã cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản. Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sống quan trường. Bài thơ là sự ý thức rất rõ tài năng và nhân cách sống của một nhà nho có tài, có nhân cách.

3. Khi đọc chú ý nhấn giọng từ ngất ngưởng ở những vị trí khác nhau, chú ý cách ngắt nhịp, âm điệu các câu thơ, xen kẽ giữa nhịp dồn với câu dài : 3/3/4 (câu 3), 3/3 (câu 5)…, 5 câu thơ cuối (2/2/2, 2/2/3…).

1. Bài ca ngất ngưởng được làm theo thể hát nói – một thể thơ bác học phát triển mạnh đầu thế kỉ XIX do các tác gia người Việt sáng tạo trong môi trường văn hoá song ngữ Hán Nôm thời trung đại, đó là thể thơ “nửa hát, nửa nói, có tính chất kể chuyện”. Nhiều nhà nho, nhà thơ, nhà chính trị nổi tiếng lúc đó, dường như đều gửi gắm tâm sự của mình trong hát nói. Nhờ đó thể loại này nhanh chóng chiếm được vị trí độc tôn và trở thành một khuynh hướng văn học của thời đại.

Có thể nói, so với các bài thơ Đường luật gò bó, hát nói phóng khoáng hơn nhiều. Hát nói có quy định về số câu, về cách chia khổ nhưng nhìn chung người viết hoàn toàn có thể phá cách toàn bộ điều này để tạo nên một tác phẩm tự do về số câu, số chữ, về cách gieo vần, nhịp điệu,… Sự phóng khoáng của thể thơ đặc biệt thích hợp với việc chuyển tải những quan niệm nhân sinh mới mẻ của tầng lớp nhà nho tài tử khao khát khẳng định mình, sống theo mình, coi thường những ràng buộc chật chội của lễ nghi, của cuộc đời trần thế mà Nguyễn Công Trứ là một đại biểu ưu tú nhất.

Bài thơ thuộc loại hát nói dôi khổ gồm 19 câu, gieo vần theo một bài hát nói điển hình. Câu đầu tiên gieo vần chân, thanh trắc, câu 2, 3 gieo vần lưng, thanh bằng, các cặp câu cứ như thế luân phiên đến hết bài. Trong bài có xen kẽ những câu thơ chữ Hán và số lượng từ trong các câu không cố định. Điều đó làm nên giọng điệu đặc trưng của bài hát nói, thể hiện được tâm trạng và tình cảm của nhân vật trữ tình.

2. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng các từ, cụm từ mang tính chất tự xưng, đó là : Ông Hi Văn, tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng, phường Hàn, Phú. Những cách tự xưng này đã góp phần thể hiện cái ngất ngưởng, thái độ tự tôn, sự ngông ngạo của Nguyễn Công Trứ, làm nổi bật hình ảnh cái tôi cá nhân cao ngạo của tác giả.

3. Ngất ngưởng là một từ láy tượng hình vốn được dùng chỉ sự vật ở độ cao chênh vênh, bất ổn định. ở bài thơ này, từ ngất ngưởng được dùng với nghĩa chỉ sự khác thường, vượt lên thói thường, coi thường dư luận. Ngoài nhan đề, từ ngất ngưởng được nhắc đi nhắc lại 4 lần ở cuối các khổ thơ trở thành một biểu tượng cho một phong cách sống, thái độ sống vượt thế tục, một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân.

4. Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường bon chen, Nguyễn Công Trứ có những hành vi kì quặc, lập dị đến ngất ngưởng. Người ta cưỡi ngựa đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ lẫn tớ đều ngất ngưởng. Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo “một đôi dì”. Rõ ràng trong bộ dạng từ bi, Nguyễn Công Trứ vẫn vương đầy nợ trần, vẫn đèo bòng đằng sau mấy bóng giai nhân. Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó… Đó là lối sống phá cách của một con người thích làm những chuyện trái khoáy ngược đời để ngạo đời, thể hiện thái độ và khát vọng sống tự do tự tại. Không bận tâm đến những lời khen chê, những chuyện được mất. Đó là một quan niệm sống, triết lí sống phóng khoáng tự do, thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường. Coi sự được mất là lẽ thường tình, ông đã ra khỏi vòng danh lợi để sống thảnh thơi, tự do, tự tại để hưởng mọi lạc thú, cầm, kì, thi, tửu, giai nhân giữa cuộc đời trần thế một cách thoả thích.

Nhà thơ đã vận dụng nghệ thuật tương phản, đặt những cái đối lập nhau để thể hiện thái độ ngất ngưởng của mình.

5. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm là một con người có cá tính ngông, một con người đầy tự tin, yêu thích cuộc sống tự do tự tại, coi thường danh lợi. Con người ấy tự tin vào tài năng và tin tưởng vào quan điểm sống của mình nên đã rất bản lĩnh vượt lên trên thói thường cuộc đời để sống và làm điều mình thích. Nhưng dù ngất ngưởng, ngông ngạo đến đâu, ông vẫn ý thức rất rõ trách nhiệm của mình đối với cuộc đời. Vì thế, sau những phút giây cao hứng, thả mình phóng túng cùng trời đất tự do, ông vẫn không quên tự nhắc : “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”. Tư tưởng ấy không hề mâu thuẫn với cái ngông ngạo, ngất ngưởng của ông. Trên thực tế, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho có trách nhiệm với đất nước. Tuy cuộc sống quan trường gặp nhiều lận đận nhưng ông vẫn luôn một lòng trung thành với triều đình. Dù ham cuộc sống tự do phóng túng nhưng ông vẫn nhiệt tình thực hiện trách nhiệm quân thần.

6. Cá tính sáng tạo của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở chỗ nhà thơ sử dụng khá nhiều khẩu ngữ trong bài thơ. Điều này tạo nên tính chất sống động, gần gũi, hóm hỉnh cho thể hát nói. Các từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ: ông, tay, vào lồng, một đôi dì, nực cười, phường, kìa núi nọ phau phau mây trắng, nên dạng, chẳng… cũng… cũng góp phần khắc hoạ rõ nét tâm hòn tự do, khoáng đạt và thái độ tự tin của tác giả.

1. Trong một bài thơ khác, Nguyễn Công Trứ viết về “Chí nam nhi”:

Thông minh nhất nam tử. Trót sinh ra thời phải có chi chi, Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu. Nợ tang bồng quyết trả cho xong. Đã xông pha bút trận thì gắng gỏi kiếm cung, Làm cho rõ tu mi nam tử. Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh gì với núi sông. Đi không chẳng lẽ về không !

2. Khi “Thăm nhà thờ Nguyễn Công Trứ”, nhà thơ Hồng Nhu tâm sự :

Giật mình gặp một ánh nhìn Trẻ xanh như lá nổi chìm như mây Mắt cười cợt ngắm tháng ngày đi qua Lên voi xuống chó vào ra sự đời Tướng thì tướng thật cũng oai Lính thì lính cũng là nòi trời ơi Khi vui thì chạy làm người Khi buồn thì đứng giữa trời làm thông !… Một vùng Uy Viễn Tướng công, Bàn thờ nghi ngút bóng bồng khói hương. Thuỳ dương dừng lại bên đường Sững sờ hạ cháy đỏ tường vông vangNhấp nhô điệu ví gái làng Ngực như nón úp hai hàng đò đưa Tôi nay xin được theo liền Hát rằng “tứ thập niên tiền…” mà chơi… chúng tôi , . , . , , . , . . . ,

Tuần 4. Bài Ca Ngất Ngưởng / 2023

Nguyễn Công Trứ Bài ca ngất ngưởngGV: HỒ LÊ ANH THẢO1234Tác giả, tác phẩmKhái niệm”ngất ngưởng”“Ngất ngưởng” chốn quan trường“Ngất ngưởng” lúc về hưu5“Ngất ngưởng” lúc triều chung6Tổng kết-Nguyễn Công Trứ (1778-1858)hiệu là Hi Van, quê ở Hà Tĩnh.-Là ngưuời văn võ song ton , nhuưnggặp nhiều thăng trầm trên conđuường công danh.-Ông rất giàu lòng yêu nuớc.

I.TÌM HIỂU CHUNG: 2.Tác phẩm:-Chủ yếu là thơ chữ Nôm.-Thể loại ưua thích: Hát nói-Bài ca ngất ngưuởng duợc sáng tác sau năm 1848 (năm Nguyễn Công Trứ về nghỉ tại quê nhà).Một số hình ảnh về hát ca trùBố cục của tác phẩm?3) Bố cụcbố cụcGiới thiệu tài năng danh vị xã hội của nhà thơ.(6 câu đầu)Phong cách sống và phẩm chất, bản lĩnh của nhà thơ(12 câu tiếp)Khẳng định phong cách sống của mình(câu kết)II. Đọc- hiểu văn bản1. Khái niệm ” Ngất ngưởng”– Xuất hiện: 4 lần (câu 4, 8, 12 và câu cuối)Ngất ngưởng: diễn tả vị thế cao mà không vững.Thái độ sống “Ngất ngưởng”: + Là khác người, xem mình cao hơn người khác+ Là thoải mái, tự do, phóng túng, không theo một khuôn khổ nào hết

2. “Ngất ngưởng ở chốn quan trường”II. Đọc- hiểu văn bảnTài năng của tác giả đuợc bộc lộ nhuư thế nào?Biện pháp nghệ thuật?

* Thú ăn chơi: “ca”, “tửu”, “cắc”. “tùng”: thái độ hành lạc thỏa thích, phong túng, tự do, thích gì làm nấy, sống theo cách mình * Quan niệm sống, thái độ sống:– Ngất ngưởng: coi thường sự được mất, khen chê ở đời.– Ngất ngưởng: sống thanh nhã, không vướng tục, không danh lợi.Ngất ngưởng: tự khẳng định mình là cái tôi trung thành, sánh ngang hàng với các danh tướng TQ: Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật.3. ” Ngất ngưởng” lúc về hưu:Lúc về hưu không thấy yến tiệc linh đình, không có tặng phẩm, ngựa quý vua ban mà thay vào đó là?Thú vui của NCT được thể hiện trong câu thơ nào?NCT có quan điểm sống như thế nào?

Qua đây cho chúng ta thấy nhà thơ đã ý thức rõ về bản thân? Em có cảm nhận gì về phẩm chất của NCTPhẩm chất, bản lĩnh trưuớc số phận:Ung dung, t? do, phúng khoỏng, c?ng c?i– Khẳng định: nhà thơ là một đại thần ngất ngưởng trong triều: không ai trong triều như ông, bằng ông– Dụng ý: nêu bật sự khác biệt của mình đối với tập đoàn PK  đó là cái tôi đứng bên ngoài đám quan lại nhợt nhạt。4.”Ngất ngưởng ở chốn triều cung”Tại sao đang nói về cái tôi “ngất ngưởng” ở chốn quê nhà, tác giả lại quay về chốn quan trường để k/đ cái tôi ngất ngưởng của mìnhQua đó, em có đánh giá ntn về cái tôi “ngất ngưởng” của NCT?Nhận xét: – Nhà thơ đã ý thức rõ về bản lĩnh và phẩm chất giá trị của bản thân. Cái tôi ngất ngưỡng của NCT là cái tôi đáng trọng.

– Đây là bài hát nói viết theo lối tự thuật, có hình thức tự do (về vần, nhịp)Có sự kết hợp hài hòa giữa từ Hán Việt, chữ Nôm và ngôn ngữ hàng ngày.BPNT: điệp từ, liệt kê, phép đối, câu nghi vấn, so sánh…NGHỆ THUẬTYÊU CẦU VỀ NHÀ壹贰bài tập trắc nghiệm

Câu 1: Câu “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” cho thấy Nguyễn Công Trứ là con nguười nhưu thế nào ? A-Có trách nhiệm cao với cuộc đời. B-Có tài năng xuất chúng, hơn nguười. C-Có niềm tin sắt đá vào bản thân. D-Có lòng yêu nuước tha thiết.bài tập trắc nghiệm

Câu 2: Hình ảnh mây trắng trong câu “Kìa núi nọ phau phau mây trắng” là biểu tưuợng cho cái gì ? A-Vẻ đẹp của thiên nhiên. B-Cuộc sống ẩn dật thanh cao. C-Tột đỉnh của vinh hiển trong cuộc đời làm quan của tác giả. D-Sự bất tử của con nguười nổi tiếng.CÂU HỎI THẢO LUẬN(?) Nếu ngất ngưởng là một phong cách sống thì phong cách sống ấy như thế nào?

Đó có phải là cách sống lập dị giống như một số người hiện đại?Ngất ngưởng: là phong cách sống có bản lĩnh, có cá tính, trung thực, thảng thắn, ý thức rõ về bản thânKhác lối sống lập dị.(?) Muốn thể hiện phong cách sống tích cực như Nguyễn Công Trứ, tuổi trẻ cần có những phẩm chất, năng lực gì? CÂU HỎI THẢO LUẬNCó những phẩm chất trí tuệ và năng lực nhất định.CỦNG CỐTừ “Ngất ngưởng” trong Bài ca ngất ngưởng được hiểu là:A. Một người với thân hình cao vượt hẳn xung quang nhưng trong tư thế ngả nghiêng , chông chênh không vững chắc.B. Một thái độ khoe tài, tự tôn, cố tình làm những điều khác thường trái với thế tục, với lễ giáo phong kiến.C.Một ý thức về trách nhiệm, tài năng, danh vị, bản lĩnh, phẩm chất, giá trị , quyền lợi của bản thân nhà thơ.D. Một quan điểm sống, triết lí sống cao đẹp của Nguyễn Công Trứ: mình vì mọi người, mọi người vì mình.

Phân Tích Bài Thơ “Bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ / 2023

Bài làm 1

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc đến ông người ta nhớ đến công lao khai khẩn đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng không quên một nhà thơ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội mà mình đang sống. Nếu như Chí anh hùng tràn đầy khí phách của người tuổi trẻ, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ.

Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, nhà thơ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra không phải để đọc mà để ngâm nga, hát xướng. Người thể hiện có thể theo đà cảm xúc mà luyến láy cho phù hợp. Bài thơ vì vậy mà đầy âm sắc, nhạc điệu.

Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có đến năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài.

Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự.

Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này không có việc gì không phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhàng như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng không hề né tránh. Ngay cả cách đưa biệt hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống ai. Hi Văn – chữ Hán có nghĩa là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình như vậy thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, không chịu ép mình vào cái ta chung của cộng đồng, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả tầng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết như vậy. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại không nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đau đớn xót xa đến tuyệt vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Thiên hạ ai người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn ấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn bóng gió, chung chung.

Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Khi trai trẻ, hoạt động hăng hái hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát ả đào (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giải thích: Để che miệng thế gian:

Điển viên dạo chiếc xe bò cái

Sẵn chiếc mo che miệng thế gian

Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời:

Được mất dương dương người tái thượng

Khen che phơi phới ngọn đông phong

Khi cơ, khi tửu, khi cắc khi tùng

Không phật, không tiên, không vướng tục

Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, bẩn thỉu, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan không có, có gai chông (Vịnh cây vông).

Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ không rơi vào tình thế bi quan bế tắc hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục đích sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước:

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu:

Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ

Không quân thần phụ tử đếch nên người.

Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng phẳng nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng đến cùng cực. Ông không muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ tham quan vô lại.

Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng không ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, thể hiện quan niệm sống của nhà thơ.

Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như bản chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc đến với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi bản lĩnh vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn chương đương đại, đưa yếu tố cá nhân, cái tôi cần được giãi bày vào trực tiếp trong văn chương. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt bậc, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố cá nhân, cho văn chương Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại thế giới nói chung.

ĐINH THỊ THÚY LAN Bài làm 2

Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ. Không những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân. Ai đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, nhà thơ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa.

Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà lài cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy tự tin và đầy bản lĩnh. Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tói “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng diệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như trang nghiêm lại vừa như “u mua”, hài hước.

Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức “Khi Thủ khoa, khi Tham tá, khii Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có khi về Phủ doãn Thừa Thiên” mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã “tháo cũi, sổ lồng”, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế:

“Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gói tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng”

Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời:

“Được mất dương dương người Tái thượng

Khen chề phơi phới ngọn đông phong”.

Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện bình thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quảng gánh lo đi mà vui sống” (Lâm Ngữ Đường).

“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không Tiên, không vương tục”.

Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều luật lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thách thức, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình. Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Thái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ mà nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ:

“Đã sinh ra ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông.

Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời… Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay.

Từ khóa tìm kiếm:

bài ca ngất ngưỡng (401)

phân tích bài ca ngất ngưởng (252)

phan tich bai ca ngat nguong cua nguyen cong tru (72)

bai ca ngất ngương của nguyễn công trứ (43)

phan tich bai tho bai ca ngat nguong (36)

bai ca ngat nguong nguyen cong tru (23)

phân tích bài bài ca ngất ngưởng (23)

phân tích bài ca ngất ngưởng lớp 11 (20)

thơ nguyễn công trứ (18)

Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng / 2023

Tiết: 13-14 Nguyễn Công Trứ

Ngày soạn: Ngày dạy:

A/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS:

HS hiểu được phong cách sống của Nguyễn Công Trứ với tính cách một nhà nho và hiểu được vì sao có thể coi đó là sự thể hiện bản lĩnh cá nhân mang ý nghĩa tích cực.

Hiểu đúng khái niệm “ngất ngưởng” để không nhằm lẫn với lối sống lập dị của một số người hiện đại.

Nắm được những tri thức về thể hát nói là thể thơ dân tộc bắt đầu phổ biến rộng rãi từ thế kỉ XIX.

Học sinh: Đọc kĩ SGK, tìm hiểu tác giả, tác phẩm, lưu ý từ ngữ khó hiểu, trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài, lưu ý hoàn cảnh và môi trường mà Nguyễn Công Trứ đang sống.

Tuần: 4 BÀI CA NGẤT NGƯỞNG Tiết: 13-14 Nguyễn Công Trứ Ngày soạn: Ngày dạy: A/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT: Giúp HS: HS hiểu được phong cách sống của Nguyễn Công Trứ với tính cách một nhà nho và hiểu được vì sao có thể coi đó là sự thể hiện bản lĩnh cá nhân mang ý nghĩa tích cực. Hiểu đúng khái niệm "ngất ngưởng" để không nhằm lẫn với lối sống lập dị của một số người hiện đại. Nắm được những tri thức về thể hát nói là thể thơ dân tộc bắt đầu phổ biến rộng rãi từ thế kỉ XIX. B/ CHUẨN BỊ: Học sinh: Đọc kĩ SGK, tìm hiểu tác giả, tác phẩm, lưu ý từ ngữ khó hiểu, trả lời các câu hỏi hướng dẫn học bài, lưu ý hoàn cảnh và môi trường mà Nguyễn Công Trứ đang sống. C/ TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC: 1/ Kiểm tra bài cũ: 2/ Vào bài: - Thế nào là ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân? - Mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân được hiểu như thế nào? a. Giới thiệu bài: Nguyễn Công Trứ là một nhà thơ mấy phen thăng giáng: có khi quan văn, có khi quan võ, có khi bị cách chức. Thơ văn ông thường thể hiện khát vọng tự do, thái độ khinh đời, ngạo thế, sự tự ý thcs về tài năng, phẩm chất và giá trị của bản thân bằng những phong cách vừa trào phúng, vừa là màu sắc triết lí có dư âm truyền thống, vừa hiện đại. Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng tìm hiểu bài: BÀI CA NGẤT NGƯỞNG. b. Tiến trình dạy và học: TG HOẠT ĐỘNG GV HOẠT ĐỘNG HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT 10 phút 40 phuùt 10 phuùt * HĐ 1: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm. + Quê hương, gia đình. + Con người. + Cuộc đời. + Sự nghiệp. - Nêu câu hỏi tìm hiểu chung về tác phẩm: + Dự đoán HCST? + Thể loại của bài thơ? + Phân chia bố cục? * HĐ 2: Hướng dẫn phân tích: - Yêu cầu HS đọc diễn cảm, lưu ý ngắt nhịp, giọng chắc khoẻ, khôi hài. - Yêu cầu HS lưu ý một số từ ngữ khó hiểu. - Hệ thống câu hỏi: + Em hiểu gì về câu thơ mở đầu? + Vì sao làm quan là gò bó, mất tự do nhưng ông vẫn làm quan? Nghệ thuật thể hiện? + Cách tự xưng của ông nói lên điều gì? - Nhận xét, chuyển ý. - Yêu cầu đọc đoạn 2. - Câu hỏi phân tích: + Thời gian cáo quan ông dùng để làm gì? + Điều gì lạ qua hành động và quan niệm sống? + Phân tích những từ ngữ chỉ tâm trạng? + Ông chỉ quan tâm đến những thú vui nào? * HĐ 3: Hướng dẫn HS tổng kết. - Ấn tượng chung về con ngươì tác giả qua bài thơ? - Lứa tuổi HS chúng ta có nên sống theo lối ngất ngưởng của NCT không ? Tại sao? - Dựa vào bài soạn trả lời. - Dựa vào tác phẩm, dự đoán HCST? - Đọc diễn cảm bài thơ. - Nêu cách hiểu những từ ngữ khó. - Trả lời cá nhân. - Phân tích tác dụng của nghệ thuật liệt kê, điệp từ. - Đọc đoạn thơ. - Trả lời câu hỏi. - Nêu cảm nhận, phát biểu cảm nghĩ. I/ GIỚI THIỆU: 1/ Tác giả: Nguyễn Công Trứ (1778-1858) - Tên tự: Tồn Chất - Biệt hiệu: Hi Văn - Quê: Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tỉnh - Xuất thân trong gia đình Nho học, thi đỗ làm quan, lập nhiều công cho nhà Nguyễn. Con đường làm quan nhiều lúc thăng trầm. Có tài năng và nhiệt huyết trên nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, văn hóa, kinh tế, quân sự. Sáng tác: hầu hết bằng chữ Nôm, dùng nhiều thể hát nói. - Ông luôn quan tâm đến cuộc sống của nhân dân nên ông được dân chúng lập miếu để tôn thờ. - Ông là người mở hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. 2/ Hoàn cảnh sáng tác: - Bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" được Nguyễn Công Trứ sáng tác sau năm 1848, lúc các quan về ở ẩn, sống một cuộc đời tự do thoải mái ông luôn thể hiện phong cách sống khác đời , tự do phóng túng, vượt ra ngoài khuôn khổ, đạo đức phong kiến, trên cơ sở tự ý thức về tài năng, phẩm chất và giá trị của mình. 3/ Thể loại: - Bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" được Nguyễn Công Trứ viết theo thể hát nói (ca trù), một thể thơ phóng khoáng. 4/ Bố cục: - Sáu câu đầu: Tài năng và địa vị. - 12 câu kết: Phong cách sống khác đời. - Câu kết: Khẳng định sự cá biệt độc đáo. II/ ĐỌC HIỂU: 1/ Ngất ngưởng tại triều đình: "Vũ trụ nội mạc phi phận sự, Ông Hi Văn tài bộ dã vào lồng. Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng." Lúc bình Tây cờ đại tướng Có khi về Phủ doãn thừa Thiên." - Từ "vào lồng": xem làm quan như một sự bó buộc, giam hãm, gò bó. 2/ Ngất ngưởng khi cáo quan: * Hành động: Dành nhiều thời gian để sống tiêu dao qua những hình ảnh: - "Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng". - "Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi" - "Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì." * Quan niệm sống: - Chỉ thích cầm kì, thi, tửu, sống tự do, phóng túng thuận theo tự nhiên. - Nhưng vẫn giữ được đạo lý ở đời, hết lòng phò vua giúp nước. 3/ Lời tuyên bố: "Chẳng Trái , Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung." Trong triều ai ngất ngưởng như ông!". - "Ngất ngưởng": diễn tả một thái độ, một tinh thần vươn lên trên thế tục, một cách chơi ngông của kẻ có tài. - Tự coi mình là duy nhất, không ai sánh được, tự tách mình ra khỏi thế giới quan tù túng. Ý thức về tài năng, khẳng định về đạo vua tôi, vẫn giữ được đạo lý ở đời, hết lòng phò vua giúp nước. III/ TỔNG KẾT: Ghi nhớ, trang 39. 3/ Củng cố: HS đọc lại bài thơ, nêu cảm nghĩ về quan niệm sống ngất ngưỡng của Nguyễn Công Trứ? Bài ca ngất ngưởng - Từ ngữ chỉ địa danh, quan chức: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phủ doãn Thừa Thiên - Từ ngữ chỉ sinh hoạt, giải (ca, tửu, cắc, tùng ) Bài ca phong cảnh ca - Từ chỉ tôn giáo: bụt, niệm Nam mô Phật, cúng, nghe kinh, chày kình, từ bi, công đức) Bài ca ngất ngưởng Từ ngữ chỉ địa danh, quan chức: Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phủ doãn Thừa Thiên - Từ ngữ chỉ sinh hoạt, giải (ca, tửu, cắc, tùng ) Bài ca phong cảnh ca Từ chỉ tôn giáo: bụt, niệm Nam mô Phật, cúng, nghe kinh, chày kình, từ bi, công đức) ? Đối với nhà nho, đi nghe hát có phải là ngất ngưởng không? Vì sao? - Nguyễn Công Trứ đã nhận đây là thú chơi tao nhã của nhà nho, điều này trước nguyễn Công Trứ ít nhà nho nào dám đưa vào trong thơ. Đây chính là sự ngất ngưởng của ông. Ông dám đề cao thú hát nói, bày ra sự gần gũi của mình với các ca nhi ả đào. 4/ Dặn dò: - Học bài: Thuộc lòng bài thơ, phân tích được cảm hứng chủ đạo "ngất ngưởng", nắm ý phần ghi nhớ. - Soạn bài: BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT + Đọc SGK, tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm, sưu tầm giai thoại. + Phân nhóm, trả lời câu hỏi hướng dẫn học bài. D/ RÚT KINH NGHIỆM: