Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Qua Bài Câ
  • Phân Tích 2 Câu Thực Bài Thương Vợ
  • Phân Tích Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Văn Bản Chị Em Thúy Kiều ( Theo Thứ Tự Bố Cục Văn Bản 4,4,12,4) Câu Hỏi 1062160
  • Bài 6. Chị Em Thúy Kiều
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Và Tài Hoa Của Thúy Kiều Qua Đoạn Thơ Chị Em Thúy Kiều
  • Bài thơ: Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

    Bài giảng: Câu cá mùa thu – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

    Nội dung bài thơ Câu cá mùa thu

    I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Khuyến

    – Nguyễn Khuyến (1835 – 1909)

    – Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo từng đỗ đầu ba kì thi Hương, Hội, Đình nên được mệnh danh là Tam nguyên Yên Đổ

    – Ông chỉ làm quan hơn 10 năm sau cáo quan về quê, phần lớn cuộc đời Nguyễn Khuyến là dạy học sống thanh bạc ở quê nhà

    – Nhưng Nguyễn Khuyến không được yên thân, thực dân Pháp tìm mọi thủ đoạn để mua chuộc nhưng trước sau Nguyễn Khuyến bày tỏ thái độ kiên quyết không hợp tác

    ⇒ Nguyễn Khuyến là người có tài năng cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân

    – Các tác phẩm chính:

    + Nguyễn Khuyến có hơn 800 bài gồm chữ Hán và chữ Nôm với nhiều thể loại phong phú: thơ, văn, câu đối

    + chủ yếu được sáng tác lúc ông từ quan về quê dạy học

    – Đặc điểm sáng tác:

    + Về nội dung:

    * Thể hiện tình yêu quê hương đất nước

    * Tấm lòng ưu ái với dân với nước

    * Phản ánh cuộc sống chất phác, khổ cực của người lao động

    * Châm biếm đả kích thực dân Pháp

    + Về nghệ thuật:

    * Sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ, việt hóa sâu sắc những thể loại thơ Đường luật

    * Ngôn ngữ hết sức bình dị, dân dã mà tinh tế, tài hoa

    * Có biệt tài sử dụng từ láy và các hư từ

    ⇒ Nguyễn Khuyến là nhà thơ Nôm xuất sắc, nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, nhà thơ lớn của nền văn học trung đại

    II. Đôi nét về tác phẩm Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

    1. Vị trí và hoàn cảnh sáng tác

    – Vị trí: nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến

    – Hoàn cảnh sáng tác: được sáng tác khi tác giả về ở ẩn tại quê nhà

    2. Bố cục

    – Phần 1 (hai câu đầu): giới thiệu việc câu cá mùa thu

    – Phần 2 (bốn câu tiếp): cảnh thu ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ

    – Phần 3 (còn lại): tâm trạng của tác giả

    3. Giá trị nội dung

    – Bài thơ là bức tranh cảnh sắc mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước cùng tâm trạng đau xót của tác giả trước thời thế

    4. Giá trị nghệ thuật

    – Nghệ thuật sử dụng từ ngữ đạt mức tinh tế, trong sáng và giàu phẩm chất nghệ thuật

    – Nghệ thuật sử dụng từ láy, cách gieo vần chọn vần, tả cảnh ngụ tình lồng ghép vào nhau

    III. Dàn ý phân tích Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến)

    1. Bức tranh mùa thu

    – Cảnh sắc mùa thu trong bài thơ hiện lên với những chi tiết điển hình cho mùa thu làng cảnh Việt Nam

    + điểm nhìn : từ gần đến cao xa rồi lại từ cao xa tới gần (từ chiếc cầu ⇒ mặt ao ⇒ bầu trời ⇒ ngõ trúc rồi lại trở về ao thu ⇒ thuyền câu) ⇒ không gian được mở ra nhiều hướng sống động

    + nét riêng của mùa thu được gợi lên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật:

    * Không khí mùa thu: thanh sơ, dịu nhẹ, nước trong, sóng biếc, đường nét chủ động nhẹ nhàng

    * Cái thú vị của bài tơ gói gọn trong cái điệu xanh: xanh ao, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo pha chung với một chút vàng của lá thu rơi

    ⇒ Cái hồn dân dã của mùa thu Bắc Bộ được gợi lên từ khung ao hẹp, từ chiếc thuyền câu, từ cánh bèo, từ ngõ trúc quanh co

    – Cảnh vắng lặng gợi cái buồn man mác:

    + vắng bóng người (khách vắng teo)

    + các đường nét chuyển động rất nhẹ: sóng hơi gợn, mây lơ lủng , lá khẽ đưa, nghe thấy cả tiếng cá đớp mồi ⇒ nghệ thuật lấy động tả tĩnh làm tăng thêm sự yên ắng, tịch mịch của không gian

    2. Tâm trạng cả thi nhân

    – Cõi lòng nhà thơ tĩnh lặng tuyệt đối

    – Tình cảm giao hòa với thiên nhiên

    – Không gian gói trọn một niềm cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ

    – Tâm hồn gắn bó với quê hương, đất nước, tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng không kém phần sâu sắc

    3. Nghệ thuật

    – Kết cấu niêm luật, vần điệu đối ngẫu rất chỉnh, bút pháp chấm phá tả cảnh ngụ tình tài hoa

    – Ngôn ngữ giản dị, tinh tế, giàu sức gơi hình biểu cảm

    – Vần eo – tử vận, oái oăm, được tác giả sử dụng thần tình

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    tac-gia-tac-pham-lop-11.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Bài Câu Cá Mùa Thu
  • Cảm Nhận Về 2 Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Biện Pháp Tu Từ Chơi Chữ Trong Tiếng Việt
  • Tài Liệu Ôn Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp.
  • Giải Thích Ý Nghĩa Bài Ca Dao “công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra”
  • Suy Nghĩ Về Câu Ca Dao Sau: Công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra. Một Lòng Thờ Mẹ Kính Cha. Cho Tròn Chữ Hiếu Mới Là Đạo Con.
  • Giáo án bài Câu cá mùa thu- Nguyễn Khuyến theo định hướng phát triển năng lực. Soạn bài Câu cá mùa thu Ngữ văn lớp 11

    Nguyễn Khuyến-

    – Vẻ đẹp bức tranh mùa thu của nông thôn đồng băng Bắc Bộ; tình yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng của tác giả.

    – Sự tinh tế, tài hoa trong nghệ thuật tả cảnh và trong cách sử dụng ngôn từ của Nguyễn Khuyến.

    Đọc- hiểu một bài thơ theo đặc trưng thể loại;

    – Phân tích, bình giảng thơ

    1. Về thái độ: Yêu mến thiên nhiên, đất nước.
    2. Về định hướng phát triển năng lực:

    Phương pháp và phương tiện dạy học

    – Phương pháp đọc hiểu,đọc diễn cảm, phân tích,bình giảng, kết hợp so sánh

    – Tích hơp phân môn: Làm văn, tiếng Việt, làm văn

    – Sgk. Giáo án, đọc tài liệu tham khảo.

    Nội dung và tiến trình lên lớp:

    3.1. Hoạt động khởi động: Thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người và mùa thu là đề tài quen thuộc của thi nhân từ xưa đên nay. Và nhiều tác giả có những vần thơ nổi tiếng về mùa thu như ” Tiếng thu” (Lưu trọng Lư), cảm thu, tiễn thu của (Tản Đà), Đây mùa thu tới( Xuân Diệu),… Và hôm nay ta sẽ đến với cảnh thu điển hình của làng cảnh Việt Nam: mùa thu ở Bắc Bộ qua bài ” Thu điếu” Nguyễn Khuyến.

    3.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới

    – GV yêu cầu hs đọc phần tiểu dẫn sgk

    – GV gợi ý câu trả lời cho HS thông qua thông tin đã cung cấp ở phần tiểu dẫn

    – GV nhận xét, bổ sung và chốt ý

    – GV hướng dẫn HS khái quát nội dung

    – GV hướng dẫn đọc diễn cảm bài thơ

    – GV hướng dẫn HS hạt động nhóm.

    GV yêu cầu Hs trình bày phần kết quả của nhóm trên bảng con.

    GV cho HS xem hình cảnh thu

    GV gợi ý cho HS tìm ra biện pháp nghệ thuật trong câu thơ.

    GV hướng dẫn hs tìm hiểu tâm trạng của tác giả

    GV gợi ý HS đánh giá, nhận xét

    – GV gợi ý cho HS tìm ra biện pháp nghệ thuật

    – GV nhận xét và đưa ra kết luận

    – GV hướng dẫn HS củng cố bài và đọc phần ghi nhớ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu
  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay
  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Ngôn Từ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)
  • Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu). Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến.
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Bài Câu Cá Mùa Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu
  • Bài Văn Mẫu Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Qua Bài Câ
  • Phân Tích 2 Câu Thực Bài Thương Vợ
  • Phân Tích Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Văn Bản Chị Em Thúy Kiều ( Theo Thứ Tự Bố Cục Văn Bản 4,4,12,4) Câu Hỏi 1062160
  • Bài 6. Chị Em Thúy Kiều
  • Tài liệu hướng dẫn phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong Câu cá mùa thu, dàn ý chi tiết và bài văn mẫu tham khảo phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến.

    Đề bài:Hãy phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ độc đáo của Nguyễn Khuyến qua bài thơ ” Câu cá mùa thu ” (Thu điếu).

    Hướng dẫn soạn bài Câu cá mùa thu (Thu điếu)

    Dàn ý chi tiết phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong Câu cá mùa thu

    – Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khuyến và bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu)

    + Nguyễn Khuyến (1838 – 1909), là người có tài năng, cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng.

    + Câu cá mùa thu nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Bài thơ ghi lại cảm nhận và gợi tả tinh tế cảnh sắc mùa thu ở làng quê Bắc Bộ đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm sự thời thế kín đáo của Nguyễn Khuyến.

    – Dẫn dắt vấn đề: Nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài Vội vàng.

    b) Thân bài

    – Nêu tóm gọn hoàn cảnh sáng tác và nội dung của chùm thơ thu, bài Thu điếu.

    – Những từ ngữ gợi nên phong vị riêng của mùa thu Bắc Bộ:

    – Gợi nên nét đặc sắc của ao mùa thu

    + Nước trong veo, sóng gợn tí: sự tĩnh lặng, nước không chảy, đứng yên như một một kẻ “buồn thiu”.

    – Sử dụng độc vận “eo”: Cách gieo vần “eo” là một từ vận rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo. Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ.

    c) Kết bài

    – Nêu tóm lược lại vấn đề: ngôn từ được sử dụng rất tài tình, độc đáo.

    – Gợi mở vấn đề.

    Chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến gồm Thu vịnh, Thu điểu, Thu ẩm đều viết về cảnh vật vùng quê Bắc Bộ lúc vào thu. Trong đó Thu điếu mang nét đặc trưng nhất của cảnh sắc mùa thu huyện Bình Lục (Hà Nam) quê hương bài thơ. Bài thơ bộc lộ tài quan sát, cảm nhận: thể hiện nghệ thuật miêu tả cảnh sắc thiên nhiên; đặc biệt là việc sử dụng hệ thống từ ngữ độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Khuyến – một trong những nhà thơ xuất sắc của giai đoạn văn học cuối thế kỉ XIX.

    Những từ ngữ tác giả sử dụng trong bài thơ như: Nước trong veo, bé tẻo teo, khẽ đưa vèo, xanh ngắt, ngõ trúc quanh co, vắng teo trước hết đã thể hiện chính xác, sâu sắc cảnh vật mà Nguyễn Khuyến quan sát, miêu tả trong bức tranh mùa thu. Nó có khả năng giúp người đọc cảm nhận được phong vị riêng của mùa thu, của những miền quê Việt Nam mà ta đã từng đặt chân đến.

    Không chỉ có vậy, bài thơ còn gợi ra nét đặc sắc của cảnh ao về mùa thu khác hẳn với cảnh ao về mùa xuân hay mùa hạ. Từ nước ao trong veo, phẳng lặng nhìn được tận đáy: từ chiếc thuyền câu bé tẻo teo đến lá vàng rụng vèo xuống mặt ao và bao trùm lên là một vòm trời xanh ngắt phản chiếu xuống mặt nước như làm cho nước ao xanh hơn lúc vào thu.

    Những từ ngữ hình ảnh được sử dụng trong bài thơ có một bức gợi tả phong phú. Hình ảnh ao thu lạnh lẽo nước trong veo gợi ra không khí xung quanh ao chuôm buổi sáng mùa thu se lạnh. Hình ảnh ao thu trong veo với thuyền câu bé tẻo teo – bé bỏng xinh xắn – đậu trên mặt ao, đem đến cho người đọc cái cảm nhận cái ao thu bé, bé đến dễ thương.

    Điểm xuyết vào cảnh ao thu là hình ảnh lá vàng. Nói đến mùa thu là nói đến lá vàng, đó là hình ảnh mang tính ước lệ của thi ca cổ. Nguyễn Khuyến cũng không ra ngoài những thông lệ đó. Những hình ảnh lá vàng trong bài thơ gắn với ao chuôm lại mang dáng dấp riêng của Nguyễn Khuyến khi miêu tả về mùa thu. Một chiếc lá vàng rời cành bởi làn gió rất nhẹ của mùa thu, xoay xoay rồi liệng nhẹ xuống mặt nước. Đó là một chi tiết rất thực, rất sống của cảnh mùa thu ở làng quê Việt Nam qua tài năng quan sát, qua tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ làm tăng thêm chất sống cho cảnh vật mùa thu nơi đây.

    Mở rộng cảnh thu từ ao chuôm đến bầu trời thu là phong cách quen thuộc trong ba bài thơ viết về mùa thu của thi nhân Nguyễn Khuyến. Nhưng trong Thu điếu lại là một vòm trời xanh ngắt. Màu xanh như nhân lên cảm giác về không gian mênh mông, về độ cao chót vót, bát ngát của trời thu.

    Trong một số bài thơ ở những giai đoạn sau, chúng ta cũng bắt gặp sự sáng tạo trong cách dùng từ, hình ảnh của các nhà thơ để gây ấn tượng về độ rộng, độ cao.

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.

    (Tràng giang – Huy Cận)

    Heo hút cồn mây súng ngửa trời.

    (Tây tiến – Quang Dũng)

    Bức tranh mùa thu lại được tô điểm thêm những chi tiết thật sống động:

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Nghệ thuật sử dụng tờ ngữ của tác giả trong bài thơ còn giúp người đọc cảm nhận ra linh hồn của cảnh sắc mùa thu, của cuộc sống ở huyện Bình Lục quê hương Nguyễn Khuyến, của làng quê Việt Nam xưa.

    Đó là một hồn thu thanh đạm, tinh khiết. Từ ao thu nhỏ bé nước trong veo đến chiếc thuyền câu bé tẻo teo; lá vàng trước gió khẽ đưa vèo, sóng biếc gợn tí và vòm trời thu xanh ngắt…

    Đó chính là hình ảnh một vùng quê vào thu thật quạnh quẽ, trông vắng; ngõ trúc quanh co khách vắng teo, cảnh sắc như gợi lên cuộc sống những con người chân quê ở đây có cái gì nhỏ bé, ẩn nhẫn xung quanh ao chuôm, lũy tre, ngõ trúc quanh co…

    Bài thơ còn đem lại cho người đọc cái cảm giác sự vật như ngưng đọng, từ làn nước trong veo, một da trời xanh ngắt, ngõ trúc vắng teo, một dáng người ngồi câu, tựa gối ôm cần, gần như bất động. Nếu có chuyển động thì thật khẽ khàng: sóng hơi gợn, lá vàng khẽ đưa vèo, cá đớp động dưới chân bèo. Thế nhưng hợp các yếu tố đó lại, bài thơ đem đến một nhận thức, một cảm giác về sự vận động bên trong, âm thầm, bền bỉ, liên tục và không thua kém phần mạnh mẽ của sự vật, của cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Đó là sức sống tiềm tàng, dẻo dai làm nên bản sắc của thiên nhiên, của con người Việt Nam từ xưa đến nay. Đây chính là điều Nguyễn Khuyến tâm đắc muốn gửi gắm qua bài Thu điếu để nói về bản chất muôn đời của quê hương đất nước mình.

    Thu điếu đến với người đọc không chỉ dừng lại ở đó. Qua hệ thống từ ngữ mà tác giả sử dụng còn cho chúng ta hiểu được chính con người Nguyễn Khuyến. Đó là một nhà nho thâm trầm, đôn hậu, bên trong chứa đựng một tâm trạng đầy mâu thuẫn thể hiện ngay trong ý thức hệ mà ông mang trong huyết quản của mình. Nguyễn Khuyến đã không thể giải quyết mâu thuẫn ấy bởi chính tính cách đôn hậu của ông. Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình một con đường phù hợp: bỏ mũ từ quan, xa lánh triều đình nhà Nguyễn, lui về ẩn dật tại quê nhà, tỏ thái độ phản đối cái chế độ phong kiến mục ruỗng lúc bấy giờ.

    Hai câu kết đã thể hiện sâu sắc hình ảnh con người Nguyễn Khuyến trong một hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời là tiếng nói thầm kín của nhà thơ muốn gửi đến cho thời đại ông đang sống và cho mai sau để hiểu đúng một con người, một nhân cách cao đẹp. Dù về ở ẩn, Nguyễn Khuyến vẫn gắn bó với đời, trong tâm hồn ông vẫn xao động bởi tình cảm vì nước vì dân. Thu điếu đã cho ta cảm nhận tình cảm sâu sắc và cao đẹp của một nhân cách ngời sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về 2 Khổ Thơ Đầu Trong Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Chi Tiết

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sông Núi Nước Nam
  • Thủ Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Việt Nam
  • Soạn Bài: Hịch Tướng Sĩ – Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Sóng Hay Và Chuẩn Nhất
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 4 Viết Văn Miêu Tả
  • I. Hướng dẫn soạn bài Câu cá mùa thu về tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả:

    Mở đầu việc soạn bài Câu cá mùa thu, Kiến xin được giới thiệu cho các bạn học sinh những điều cần lưu tâm về tác giả Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), ông quê ở Nam Định, ông sinh ra ở làng Hoàng Xá (thuộc huyện Ý Yên, Nam Định) – quê ngoại nhưng lại lớn lên và sinh sống chủ yếu ở xã Yên Đổ (thuộc huyện Bình Lục, Hà Nam) – quê nội. 

    Nguyễn Khuyến được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống Nho học thế nên ông có một nền tảng học thức vững chắc. Thêm vào đó là người có chí hướng nên Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả ba kì thi tuyển chọn nhân tài của đất nước lúc bây giờ: Hương, Hội, Đình. Tuy khẳng định được vị thế của mình trong chốn quan trường nhưng Nguyễn Khuyến không bao giờ màng đến một cuộc sống lợi danh, phù phiếm.

    Thay vào đó, ông chọn cuộc sống bình dị, chân phương ở quê nhà với công việc dạy học. Đặc biệt, trong suốt cuộc đời của mình, dù sống trong thời đại bị thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Khuyến vẫn kiên quyết giữ thái độ không hợp tác.

    Nguyễn Khuyến có số lượng lớn những tác phẩm viết bằng chữ Hán và chữ Nôm – trên 800 bài với nhiều thể loại khác nhau: thơ, văn, câu đối. Nội dung trong sáng tác của ông phần lớn nói về tình yêu quê hương, đất nước, gia đình, bạn bè. Không chỉ vậy, ông còn thể hiện trong dó cuộc sống khổ nhọc, lam lũ nhưng thuần phác và bình dị của con người. Tác phẩm của Nguyễn Khuyến đã góp vào nền văn học dân tộc những điểm sáng không thể thay thế. 

    Xem Thêm:

    Phân tích bài thơ câu cá mùa thu

    Soạn văn bài thương vợ ngắn gọn và đủ ý

    Phân tích bài thương vợ chuẩn giáo án

     

    2. Bài thơ Câu cá mùa thu:

    Khi soạn Câu cá mùa thu cần điểm qua một số nét chính của tác phẩm. Bài thơ Câu cá mùa thu là một trong số ba bài nằm trong chùm thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến, đó là: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. Ba bài thơ này được sáng tác bằng chữ Nôm và là những tác phẩm giúp Nguyễn Khuyến trở thành cái tên nức danh của làng thơ Việt Nam.

    II. Hướng dẫn soạn bài Câu cá mùa thu qua gợi ý trả lời câu hỏi SGK

    1. Câu 1:

    Nội dung đầu tiên chúng ta cần làm khi soạn bài Câu cá mùa thu là lí giải việc tác giả lựa chọn điểm nhìn đối với việc thể hiện nội dung trong thơ. Điểm nhìn cảnh thu của tác giả vô cùng đặc sắc và chính từ điểm nhìn ấy, nhà thơ đã thể hiện sự bao quát của mình trước cảnh vật.

    Mở đầu bài thơ là câu “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”, đó là cơ sở để dễ dàng nhận ra “ao thu” chính là nơi mà điểm nhìn cảnh thu xuất phát.

    Chính từ “vị trí” ao thu ấy, cảnh thu đã hiện lên trước mắt người đọc một cách đầy ấn tượng theo trình tư từ gần lên cao và ra xa: trong “ao thu” là “thuyền câu bé tẻo teo”, bên trên là “tầng mây lơ lửng” và phía xa xa là “sóng biếc”, “trời xanh ngắt”. Cuối cùng lại vẫn dừng lại ở vị trị xuất phát ban đầu là ao thu, thuyền câu. 

    Từ điểm nhìn và cảnh thu ấy, có thể thấy Nguyễn Khuyến đã vẽ lên trước mắt người đọc một bức tranh mùa thu tuyệt mĩ: chỉ từ điểm nhìn là từ chiếc ao, cảnh thu dần mở ra theo chiều chiều kích khác nhau.

    2. Câu 2:

    2. Câu 3:

    Những chuyển động màu sắc, hình ảnh, âm thanh đã góp phần tạo nên nét đặc trưng của không gian mùa thu. Trong bài thơ, nếu tầng thấp là hình ảnh của ao thu cùng với ngõ trúc tạo nên sự thu hẹp của cảnh vật thì phía trên là khoảng trời bao la, xanh mát. Chính sự đối lập ấy đã tạo nên độ mở của không gian.

    Bên cạnh đó, chính đặc tính của âm thanh và những màu sắc trong thơ đã khiến không gian trở nên hiu quạnh, vắng lặng, cái tĩnh của không gian đã lên đến độ nhân vật trữ tình có thể nghe thấy sự chuyển động khẽ khàng của cá dưới ao: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

    Với không gian thanh tĩnh và có chiều hướng mở rộng đã góp phần thể hiện nỗi lòng của tác giả trước nhân thế. Đó là nỗi lòng thời thế của nhà Nho, dù không ồn ã, vồ vập nhưng lại tha thiết vô cùng. Nhưng dù là bộc lộ tình cảm nào thì ta cũng thấy phảng phất đâu đó sự cô quạnh, buồn bã của nhà thơ.

    4. Câu 4:

    Điểm đặc biệt trong cách gieo vần của Nguyễn Khuyến chắc không khó để nhận ra vì nó hiển hiện ngay trên bề mặt câu chữ. Trong bài thơ, Nguyễn Khuyến sử dụng rất khéo léo cách gieo vần “eo”. Đây được xem là tử vận và rất khó lựa chọn từ ngữ để sáng tác.

    Tuy nhiên, cái khó đó lại giúp cho Nguyễn Khuyến bộc lộ tài năng của mình. Minh chứng là các câu thơ trong bài được kết hợp rất uyển chuyển với vần “eo” ấy. Đặc biệt, đây là vần không chỉ có thể giúp diễn tả được sự đìu hìu, thu nhỏ và khép kín của của không gian mà còn có thể giúp thi nhân thể hiện một phần nào đó nỗi niềm u uất canh cánh trong lòng của mình. Câu hỏi số 4 này cũng là một câu hỏi cần được khai thác phương diện nghệ thuật để giải đáp cho “nhiệm vụ” soạn văn bài Câu cá mùa thu.

    5. Câu 5:

    Việc soạn bài Câu cá mùa thu sẽ hoàn tất khi chúng ta trả lời xong câu hỏi số 5 này.. Qua bài Câu cá mùa thu, có thể cảm nhận được tấm lòng mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đối với thiên nhiên, đất nước. Dù cả bài thơ nhà thơ chỉ thuần tả cảnh thiên nhiên, dù trông bề ngoài thì tác giả có vẻ sống cuộc sống an nhàn, bình yên nhưng ẩn sau trong đó chính là tấm lòng yêu nước thầm kín và nỗi niềm khôn nguôi với cuộc đời.

    Soạn bài ca ngất ngưởng đầy đủ nhất

    Soạn bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Soạn bài hai đứa trẻ theo giáo án thầy cô

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nghệ Thuật Khổ Cuối “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy
  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Biện Pháp Tu Từ Chơi Chữ Trong Tiếng Việt
  • Tài Liệu Ôn Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp.
  • Giải Thích Ý Nghĩa Bài Ca Dao “công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra”
  • Đề bài: Qua bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu), hãy phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ độc đáo của Nguyễn Khuyến.

    Bài làm

    Chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến gồm Thu vịnh, Thu điểu, Thu ẩm đều viết vể cảnh vật vùng quê Bắc Bộ lúc vào thu. Trong đó Thu điếu mang nét đặc trưng nhất của cảnh sắc mùa thu huyện Bình Lục (Hà Nam) quê hương bài thơ. Bài thơ bộc lộ tài quan sát, cảm nhận: thể hiện nghệ thuật miêu tả cảnh sắc thiên nhiên; đặc biệt là việc sử dụng hệ thống từ ngữ độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Khuyến – một trong những nhà thơ xuất sắc của giai đoạn văn học cuối thế kỉ XIX.

    Những từ ngữ tác giả sử dụng trong bài thơ như: Nước trong veo, bé tẻo teo, khẽ đưa vèo, xanh ngắt, ngõ trúc quanh co, vắng teo trước hết đã thể hiện chính xác, sâu sắc cảnh vật mà Nguyễn Khuyến quan sát, miêu tả trong bức tranh mùa thu. Nó có khả năng giúp người đọc cảm nhận được phong vị riêng của mùa thu, của những miền quê Việt Nam mà ta đã từng đặt chân đến.

    Không chỉ có vậy, bài thơ còn gợi ra nét đặc sắc của cảnh ao về mùa thu khác hẳn với cảnh ao về mùa xuân hay mùa hạ. Từ nước ao trong veo, phẳng lặng nhìn được tận đáy: từ chiếc thuyền câu bé tẻo teo đến lá vàng rụng vèo xuống mặt ao và bao trùm lên là một vòm trời xanh ngắt phản chiếu xuốhg mặt nước như làm cho nước ao xanh hơn lúc vào thu.

    Những từ ngữ hình ảnh được sử dụng trong bài thơ có một bức gợi tả phong phú. Hình ảnh ao thu lạnh lẽo nước trong veo gợi ra không khí xung quanh ao chuôm buổi sáng mùa thu se lạnh. Hình ảnh ao thu trong veo với thuyền câu bé tẻo teo – bé bỏng xinh xắn – đậu trên mặt ao, đem đến cho người đọc cái cảm nhận cái ao thu bé, bé đến dễ thương.

    Điểm xuyết vào cảnh ao thu là hình ảnh lá vàng. Nói đến mùa thu là nói đến lá vàng, đó là hình ảnh mang tính ước lệ của thi ca cổ. Nguyễn Khuyến cũng không ra ngoài những thông lệ đó, Những hình ảnh lá vàng trong bài thơ gắn với ao chuôm lại mang dáng dấp riêng của Nguyễn Khuyến khi miêu tả về mùa thu. Một chiếc lá vàng rơi cành bởi làn gió rất nhẹ của mùa thu, xoay xoay rồi liệng nhẹ xuống mặt nước. Đó là một chi tiết rất thực, rất sống của cảnh mùa thu ở làng quê Việt Nam qua tài năng quan sát, qua tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ làm tăng thêm chất sống cho cảnh vật mùa thu nơi đây.

    Mở rộng cảnh thu từ ao chuôm đến bầu trời thu là phong cách quen thuộc trong ba bài thơ viết về mùa thu của thi nhân Nguyễn Khuyến. Nhưng trong Thu điếu lại là một vòm trời xanh ngắt. Màu xanh như nhân lên cảm giác về không gian mênh mông, về độ cao chót vót, bát ngát của trời thu.

    Trong một số bài thơ ở những giai đoạn sau, chúng ta cũng bắt gặp sự sáng tạo trong cách dùng từ, hình ảnh của các nhà thơ để gây ấn tượng về độ rộng, độ cao.

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.

    (Tràng giang – Huy Cận)

    Heo hút cồn mây súng ngửa trời.

    (Tây tiến – Quang Dũng)

    Bức tranh mùa thu lại được tô điểm thêm những chi tiết thật sống động.

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Nghệ thuật sử dụng tờ ngữ của tác giả trong bài thơ còn giúp người đọc cảm nhận ra linh hồn của cảnh sắc mùa thu, của cuộc sống ở huyện Bình Lục quê hương Nguyễn Khuyến, của làng quê Việt Nam xưa.

    Đó là một hồn thu thanh đạm, tinh khiết. Từ ao thu nhỏ, bé nước trong veo đến chiếc thuyền câu bé tẻo teo; lá vàng trước gió khẽ đưa vèo, sóng biếc gợn tí, và vòm trời thu xanh ngắt…

    Đó chính là hình ảnh một vùng quê vào thu thật quạnh quẽ, trông vắng; ngõ trúc quanh co khách vắng teo, cảnh sắc như gợi lên cuộc sống những con người chân quê ở đây có cái gì nhỏ bé, ẩn nhẫn xung quanh ao chuôm, lũy tre, ngõ trúc quanh co…

    Bài thơ còn đem lại cho người đọc cái cảm giác sự vật như ngưng đọng, từ làn nước trong veo, một da trời xanh ngắt, ngõ trúc vắng teo, một dáng người ngồi câu, tựa gối ôm cần, gần như bất động. Nếu có chuyển động thì thật khẽ khàng: sóng hơi gợn, lá vàng khẽ đưa vèo, cá đớp động dưới chân bèo. Thế nhưng hợp các yếu tố đó lại, bài thơ đem đến một nhận thức, một cảm giác về sự vận động bên trong, âm thầm, bền bỉ, liên tục và không thua kém phần mạnh mẽ của sự vật, của cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Đó là sức sống tiềm tàng, dẻo dai làm nên bản sắc của thiên nhiên, của con người Việt Nam từ xưa đến nay.

    Đây chính là điều Nguyễn Khuyến tâm đắc muốn gửi gắm qua bài Thu điếu để nói về bản chất muôn đời của quê hương đất nước mình.

    Thu điếu đến với người đọc không chỉ dừng lại ở đó. Qua hệ thống từ ngữ mà tác giả sử dụng còn cho chúng ta hiểu được chính con người Nguyễn Khuyến. Đó là một nhà nho thâm trầm, đôn hậu, bên trong chứa đựng một tâm trạng đầy mâu thuẫn thể hiện ngay trong ý thức hệ mà ông mang trong huyết quản của mình. Nguyễn Khuyến đã không thể giải quyết mâu thuẫn ấy bởi chính tính cách đôn hậu của ông. Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình một con đường phù hợp: bỏ mũ từ quan, xa lánh triều đình nhà Nguyễn, lui về ẩn dật tại quê nhà, tỏ thái độ phản đối cái chế độ phong kiến mục ruỗng lúc bấy giờ.

    Hai câu kết dã thể hiện sâu sắc hình ảnh con người Nguyễn Khuyến trong một hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời là tiếng nói thầm kín của nhà thơ muốn gửi đến cho thời đại ông đang sống và cho mai sau để hiểu đúng một con người, một nhân cách cao đẹp.

    Dù về ở ẩn, Nguyễn Khuyến vẫn gắn bó với đời, trong tâm hồn ông vẫn xao động bởi tình cảm vì nước vì dân.

    Thu điếu đã cho ta cảm nhận tình cảm sâu sắc và cao đẹp của một nhân cách ngời sáng.

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay
  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Ngôn Từ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)
  • Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu). Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến.
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu). Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến.
  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Ngôn Từ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)
  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay
  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu
  • 1. Tóm tắt nội dung bài Câu cá mùa thu

    • Vẻ đẹp cảnh thu điển hình cho mùa thu làng cảnh Việt Nam.
    • Tình yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng thời thế của nhà thơ

    1.2. Nghệ thuật

    • Tả cảnh ngụ tình
    • Sử dụng tiếng Việt tinh tế. trong sáng
    • Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, đậm đà chất dân tộc

    2. Soạn bài Câu cá mùa thu chương trình chuẩn

    2.1. Soạn bài tóm tắt

      Cảnh thu được đón nhận từ xa (mặt ao) tới gần (chiếc thuyền câu) rồi từ gần (chiếc thuyền câu) đến cao (bầu trời) xa (ngõ vắng): từ một khung ao hẹp, không gian và cảnh sắc mùa thu được mở ra nhiều hướng thật sinh động.
    • Màu sắc: nước, trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt.
    • Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng…
    • Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc,…

    ⇒ Cảnh thu của làng quê Bắc Bộ.

    • Không gian thu buồn, tĩnh lặng, phản phất nỗi niềm thi nhân.
    • Tâm trạng: cảnh làng quê trong trẻo, tĩnh lặng nhưng đượm buồn và ẩn chứa nhiều suy tư.
      Trong bài thơ, tác giả đã gieo vần “eo” ⇒ góp phần diễn tả một không gian vắng lặng và thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của thi nhân.
      Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tuy không bộc lộ trực tiếp bất cứ cảm xúc nào, nhưng người đọc vẫn thấy được tậm sự và tấm lòng của Nguyễn Khuyến dành cho đất nước một cách sâu sắc.

    2.2. Soạn bài chi tiết

    Câu 1: Điểm nhìn cảnh thu của tác giả có gì đặc sắc? Từ điểm nhìn ấy, nhà thơ đã bao quát cảnh thu như thế nào?

    • Điểm nhìn cảnh thu từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần:
    • Điểm nhìn cảnh thu là chiếc thuyền câu nhìn mặt ao nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc
    • Sau đó lại trở về với ao thu, với thuyền câu.

    ⇒ Từ điểm nhìn ấy, từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động.

    Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh nào gợi lên được nét riêng của cảnh sắc mùa thu? Hãy cho biết đó là cảnh thu ở miền quê nào?

      Nững từ ngữ, hình ảnh gợi lên được nét riêng cảnh sắc của mùa thu

      • Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt, lá vàng
      • Đường nét chuyển động nhẹ nhàng , khẽ khàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng….
      • Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao nhỏ, thuyền câu, ngõ trúc….
      • Không gian thu: cá đâu đớp động → yên ắng, tĩnh mịch; ngõ trúc quanh co….. ⇒ cảnh vắng người, vắng tiếng

    ⇒ Bức tranh thu đẹp, tĩnh lặng, đượm buồn, mang cái hồn dân giã của miền quê đồng bằng Bắc Bộ của làng cảnh Việt Nam.

    Câu 3: Anh (chị) có nhận xét gì về không gian trong Câu cá màu thu qua các chuyển động, màu sắc, hình ảnh, âm thanh? Không gian trong Câu cá mùa thu góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

    • Không gian thu buồn, tĩnh lặng, phảng phất nỗi niềm thi nhân.
      • Nước “trong veo”, sóng “gợn tí”, mây “lơ lửng”, lá “khẽ đưa vèo” các hình ảnh được miêu tả trong trạng thái ngưng chuyển động hoặc chuyển động rất khẽ, rất nhẹ càng làm nổi bật sự tĩnh lặng.
      • Đặc biệt câu kết “cá đâu đớp động dưới chân bèo” → càng làm nổi rõ hơn sự tĩnh lặng của không gian thu (ở đây tác giả đã sử dụng nghệ thuật: lấy động tả tĩnh)
      • Có thể nói: Không gian rộng, sâu đối lập với mặt ao hẹp, gợn sóng nhẹ và hiu hắt gió, lại cộng thêm với “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” tạo cho không gian một cảm giác hiu quạnh.
    • Tâm trạng của thi nhân: Cảnh làng quê trong trẻo trong ánh mắt của thi nhân nhưng phảng phất nỗi buồn. Cảnh đẹp nhưng tĩnh và vắng bởi cảm nhận của một người vẫn đầy suy tư trăn trở, chứng tỏ trong lòng nhà thơ còn rất nhiều trắc ẩn. Từ thân thế, cuộc đời, hoàn cảnh sống của tác giả có thể hiểu, tâm sự của người câu cá là chính là nỗi lòng non nước, nỗi lòng thời thế của nhà nho có lòng tự trọng và lòng yêu quê hương đất nước như Nguyễn Khuyến.

    Câu 4: Cách gieo vần trong bài thơ có gì đặc biệt? Cách gieo vần ấy gợi cho ta cảm giác gì về cảnh thu và tình thu?

    • Trong bài thơ rất đặc biệt: tác giả gieo vần: “eo”
    • Vần “eo” là một vần khó luyến láy, vốn rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo.
    • Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian vắng lặng và thu nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của thi nhân.

    Câu 5: Qua Câu cá mùa thu, anh (chị) có cảm nhận như thế nào về tấm lòng của nhà thơ Nguyễn Khuyến đối với thiên nhiên, đất nước?

    • Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nếu không xuất phát từ tình yêu quê hương tha thiết thì không thể vẽ lên một bức tranh thu đẹp, rất đặc trưng và có hồn như thế. Cảnh thu rất đẹp nhưng buồn phảng phất. Đó chính là nét buồn lan ra từ tâm trạng của nhân vật trữ tình.
    • Bài thơ không bộc lộ trực tiếp bất cứ cảm xúc nào của tác giả. Tuy nhiên, người đọc vẫn cảm nhận được tâm tư và tấm lòng của Nguyễn Khuyến dành cho đất nước một cách sâu sắc: Nhân vật trữ tình xuất hiện nhưng là xuất hiện trong cái tư thế của người đi câu (Tựa gối buông cần lâu chẳng được) một cách đày suy tư, trăn trở. Bởi đó không phải là dáng ngồi của một người đi câu mà đó là tư thế của con người u uẩn trong nỗi lo âu triền miên, chìm đắm. Phải chăng, cái tình của Nguyễn Khuyến đối với đất nước, đối với non sông trầm lặng, da diết và đậm chất suy tư.

    3. Soạn bài Câu cá mùa thu chương trình nâng cao

      Mặc dù câu cá chỉ là hình thức nhưng những cảnh câu cá vẫn được miêu tả với đầy đủ không gian thu, ao, thuyền câu và người đi câu. Cách miêu tả cảnh vật được triển khai theo nhan đề của bài thơ, tả từ cảnh ao thu, thuyền câu, mặt ao, cây cỏ bên bờ ao, bầu trời thu.
    • Cảnh sắc mùa thu được gợi ra
      • Màu sắc: nước, trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt.
      • Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng…
      • Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc,…
    • Đây là bức tranh mùa thu với những đặc trung của vùng Bắc Bộ.

    Câu 3: Phân tích 4 câu thơ đầu của bài thơ?

    • Bốn câu thơ đầu tả cảnh, một bức tranh phong cảnh rất đẹp với một không gian trong trẻo, xinh xắn và tĩnh lặng. Cái gì cũng nhỏ bé, thanh sơ gợi một không gian thật yên bình nhưng cô đơn, vắng lặng.
    • Tác giả đã sử dụng các từ láy: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng và các từ gợi tả, giàu chất hội họa: hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, xanh ngắt, vắng teo ⇒ lột tả được cái thần thái của cảnh vật làng quê.
    • Thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong tư thế người câu cá nhưng lại chẳng có vẻ gì chú ý đến việc câu cá mà hình như đang suy ngẫm điều gì đó.
    • Nhận thấy tình yêu quê hương cùng những suy tư đầy trắc trở của tác giả.

    ⇒ Đó là một nhà thơ, một con người bình dị, gắn bó và yêu quê hương tha thiết.

    4. Hướng dẫn luyện tập

    Câu 1: Phân tích cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài: Câu cá mùa thu.

    Gợi ý trả lời

    • Cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài thơ: Dùng từ ngữ để gợi cảnh và diễn tả tâm trạng
    • Ở Thu Điếu, ngôn ngữ thơ linh hoạt, tinh tế được thể hiện ở ba phương diện cơ bản sau:
      • Thứ nhất đó là cảnh thanh sơ dịu nhẹ được gợi lên qua các tính từ: trong veo, biếc, xanh ngắt; các cụm động từ: gợn tí, khẽ đưa, lơ lửng… đó là thứ ngôn ngữ được chắt lọc “trong bàn tay nhào nặn của người nghệ sỹ ngôn từ”. Ngôn ngữ giản dị nhưng nắm bắt được những chuyển động tế vi của trời đất, lột tả được cái run rẩy của tạo vật khi bước vào thu,. Sự run rẩy của lá (vèo), của sóng (hơi gợn), của mây (lơ lửng)… hợp lưu trong nỗi run rẩy của lòng người để gợi và để cảm về một bức tranh làng cảnh trác tuyệt.
      • Thứ hai đó là thứ ngôn ngữ lấy tĩnh chế động, lấy động tả tĩnh thêm vào đó là sự linh hoạt của ngôn ngữ, hư từ hay thực từ đều có hai chức năng vừa vẽ ngoại cảnh vừa khắc họa tâm cảnh. Từ “vèo” trong câu thơ “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” nói lên tâm sự thời thế của nhà thơ.
      • Thứ ba đó là việc khai thác tối đa vỏ ngữ âm của ngôn ngữ: những từ trùng phụ âm đầu đi liền nhau như: bé tẻo teo, lơ lửng, đâu đớp động hay cặp điệp vận teo-teo (cặp 2- 6) vừa tạo ra nhịp điệu bằng bằng vi biến trong những mơ hồ của đời, vừa tạo ra vòng lặp quẩn quanh u sầu trong tâm trạng đầy uẩn khúc của chính tác giả
    • Ngôn ngữ trong bài thơ: giản dị, tinh tế, và đặc biệt thổi vào từng câu chữ là tâm hồn của dân tộc: Một thứ ngôn ngữ giản dị, bình dị nhưng vô cùng phong phú trong từng cung bậc cảm xúc, tâm trạng.

    5. Một số bài văn mẫu bài thơ Câu cá mùa thu

    Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

    • Hướng dẫn soạn Câu cá mùa thu

      Hướng dẫn soạn bài : “Câu cá mùa thu” – Nguyễn Khuyến – Văn lớp 11

    • Con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Vịnh mùa thu

      Con người Nguyễn Khuyến qua bài thơ Vịnh mùa thu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Nghìn Đêm Thăm Thẳm Sương Dày…
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Cú Pháp Ngắn Nhất
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Bước Chân Nát Đá Muôn Tàn Lửa Bay
  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củalên Việt Bắc Đèo De, Núi Hồng” Trong Bài Việt Bắc
  • Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • I. Sơ lược về tác giả, tác phẩm khi phân tích bài Câu cá mùa thu

    1. Tác giả

    Trước khi bước vào Phân tích bài Câu cá mùa thu, hẳn các bạn cũng biết, chúng ta cần có bước khái quát một vài nét chính của tác giả Nguyễn Khuyến.

    Có thể giới thiệu như sau về Nguyễn Khuyến. Tác giả Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là người con sinh tại vùng đất Nam Định nhưng ông lại có khoảng thời gian lớn lên và gắn bó với xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Tuy gia đình nhà nho của ông phải sống cuộc sống vất vả nhưng Nguyễn Khuyến đã vượt khó và bằng tố chất sẵn có của mình, ông vượt qua các kì thi khoa bảng một cách xuất sắc: cả ba kì thi đều đỗ đầu (từ năm 1864 đến năm 1871). Đó là lí do mà người đời thường gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ. Dù có công danh nhưng Nguyễn Khuyến lại chọn sống một cuộc sống bình dị, chân phương nơi quê nhà với công việc dạy học chứ không chọn ra làm quan cả cuộc đời. Đó là con người có tài năng và phẩm chất thanh cao. Ở ông có những biểu hiện rất đặc biệt cho tấm lòng yêu nước sâu sắc thế nên suốt cuộc đời mình, ông đều thể hiện thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp một cách kiên quyết.

    Đóng góp nổi bật nhất của Nguyễn Khuyến vào nền văn học dân tộc nước nhà chính là ở mảng thơ Nôm, dù ông có viết cả những tác phẩm chữ Hán. Tác phẩm của Nguyễn Khuyến dù được nhà thơ thể hiện dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiển hiện rõ ràng và nhất quán nhất là tấm lòng ưu ái đối với dân, với nước.

    2. Bài thơ Câu cá mùa thu

    II. Hướng dẫn phân tích bài Câu cá mùa thu

    1. Hai câu đề:

    Việc phân tích Câu cá mùa thu sẽ được thực hiện qua từng cặp câu. Hai câu thơ đầu mở ra khung cảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam:

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

    Bài thơ sử dụng hình ảnh “ao thu” là điểm nhìn mở đầu. Tuy không gian mở đầu của tác phẩm thu hẹp trong phạm vi ao thu nhưng tiếp sau không gian thân thuộc ấy là “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” – hình ảnh không hề xa lạ nhưng diễn tả được động thái của mùa thu. Có thể thấy, cách Nguyễn Khuyến dẫn dắt người đọc vào bài thơ của mình là rất đặc biệt. Không nhất thiết là những hình ảnh to lớn, hoành tráng mà chỉ cần một không gian ao thu nhỏ xinh, một chiếc thuyền câu be bé như cũng muốn thu lại trong cảnh là đủ để thấy được hình ảnh bình dị, gần gũi của quê hương đang đắm mình trong mùa thu.

    Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến không chỉ đơn thuần tả cảnh, ẩn trong cảnh ấy vẫn là cái tình của con người. Các tính từ “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo” tuy được sử dụng để gợi tả đặc tính của cảnh nhưng cũng phần nào chuyển tải được tâm tư của con người. Trong không gian thu hẹp kia, con người xuất hiện và có khi con người ấy cũng nhận ra sự “lạnh lẽo”, “bé tẻo teo” của chính mình trong sự vắng vẻ, đìu hiu của cảnh nhưng cũng đồng thời cảm nhận được bản thân như cũng “trong veo” cùng cảnh ấy.

    2. Hai câu thực:

    Hai câu thơ tiếp theo là nét vẽ giúp cho bức tranh thu của Nguyễn Khuyến như có hồn hơn:

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

    Cặp câu có sự sóng đôi của hình ảnh “sóng biếc” và “lá vàng”, hơn nữa lại là sự kết hợp của màu “biếc” và sắc “vàng” tạo nên sự hài hoà của bức tranh ngày thu, dịu mát, nhẹ nhàng nhưng không hề nhạt nhoà. Bức tranh thu qua nét vẽ của bàn tay tài hoa của Nguyễn Khuyến lại trở nên sinh động hơn vì sự chuyển động của các sự vật khá gần gũi trong cuộc sống con người, nhưng sự chuyện động ấy lại có sự đối lập bởi bên dưới mặt ao sóng nước nương theo làn hơi để “gợn tí” nhưng bên trên khoảng không là trạng thái “khẽ đưa vèo” của lá vàng trước gió. Chữ “vèo” trong câu thơ sử dụng thật đắt, dường như đây chính là một trong số ít những câu thơ làm hài lòng vị Tam Nguyên Yên Đổ.

    3. Hai câu luận:

    Cặp câu tiếp theo giúp cho bức tranh thu thêm mở rộng về không gian và đặc biệt là có thấp thoáng bóng dáng của con người:

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

    Nếu như câu thơ trước tác giả khiến người đọc hướng mắt từ mặt ao lên khoảng không thì bây giờ không gian đã mở ra rộng lớn hơn bởi trời cao và xa hơn bởi con đường ngõ trúc quanh co. Trong câu thơ thứ năm, nhà thơ khiến người đọc có sự chú tâm đặc biệt vào màu “xanh ngắt” của mây trời trong cái trạng thái lơ lửng êm đềm trôi. Hướng cái nhìn từ trên cao xuống mặt đất và phóng tầm mắt ấy ra xa để thấy sự quanh co của ngõ làng có hàng trúc, mặc dù hiện tại con ngõ ấy “vắng teo” nhưng chắc chắn nó đã từng có người qua lại. Có thể ở đây, tác phẩm của Nguyễn Khuyến làm người đọc cảm thấy đìu hiu, vắng lặng nhưng tuyệt nhiên đó không phải là cái đìu hiu, vắng lặng của buồn bã, âu sầu.

    4. Hai câu kết:

    Bài phân tích Câu cá mùa thu sẽ khép lại bằng việc cảm nhận hình ảnh của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ cuối:

    Tựa gối buông cần lâu chẳng được

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo

    Trong thơ, nhân vật trữ tình hiện diện trong tư thế “tựa gối buông cần”. Nếu ứng nhân vật trữ tình vào cuộc đời nhà thơ thì đây là thời điểm nhà thơ đã từ bỏ chốn quan trường danh lợi để chọn cuộc sống bình dị, nhàn thân ở nơi thôn quê dân dã. Âm thanh “cá đâu đớp động” mà tác giả nghe được gợi một điều gì xa vắng, không rõ ràng nhưng cũng là sự bừng tỉnh. Điều đó cũng không khó hình dung vì Nguyễn Khuyến là người học rộng tài cao nhưng lại có tấm lòng yêu nước thương dân. Thế nên, ông không chấp nhận một cuộc sống làm bù nhìn, luồn cúi trước bọn thực dân độc ác, mưu mô. Và cuối cùng, Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình cuộc sống ẩn dật nhưng thanh bạch. Tưởng chừng, với ông đó là cuộc sống an nhàn nhưng thật ra có khi nhà thơ chỉ nhàn thân chứ không nhàn tâm bởi sâu trong ông vẫn còn nặng mối lo cho dân cho nước. Thế nên mới có cái thảng thốt nhói đau mỗi khi ngoại cảnh có gì xao động như tiếng cá đớp động dưới chân bèo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu) Nguyễn Khuyến
  • Suy Nghĩ Về Câu Ca Dao Sau: Công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra. Một Lòng Thờ Mẹ Kính Cha. Cho Tròn Chữ Hiếu Mới Là Đạo Con.
  • Giải Thích Ý Nghĩa Bài Ca Dao “công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra”
  • Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp.
  • Tài Liệu Ôn Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Ngôn Từ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay
  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Biện Pháp Tu Từ Chơi Chữ Trong Tiếng Việt
  • Tài Liệu Ôn Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • A. SƠ ĐỒ TÓM TẮT GỢI Ý

    B. DÀN BÀI CHI TIẾT

    1. Mở bài

    • Giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khuyến và bài thơ Mùa thu câu cá (Thu điếu)
      • Nguyễn Khuyến (1838 – 1909), là người có tài năng, cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước thương dân sâu nặng.
      • Thu điếu nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Bài thơ ghi lại cảm nhận và gợi tả tinh tế cảnh sắc mùa thu ở làng quê Bắc Bộ đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm sự thời thế kín đáo của Nguyễn Khuyến.
    • Dẫn dắt vấn đề

    2. Thân bài

    • Nêu tóm gọn hoàn cảnh sáng tác và nội dung của chùm thơ thu, bài Thu điếu.
    • Những từ ngữ gợi nên phong vị riêng của mùa thu Bắc Bộ
      • Trong veo, biếc, xanh ngắt ⇒ tính từ
      • Gợn, khẽ đưa, lơ lửng ⇒ động từ
      • Bức tranh mùa thu với những phong vị riêng của vùng quê Bắc Bộ Việt Nam: vẻ thanh sơ, dịu nhẹ
    • Gợi nên nét đặc sắc của ao mùa thu
      • Nước trong veo, sóng gợn tí: sự tĩnh lặng, nước không chảy, đứng yên như một một kẻ “buồn thiu”.
      • “Bé” là nhỏ không lớn, chiếc thuyền câu bé tẻo teo lại nằm trên một cái ao nhỏ ⇒ gợi nên sự thu nhỏ của một không gian hẹp.
      • Khách vắng teo, bé tẻo teo, sóng hơi gợn, mây lo lửng, lá khẽ đưa ⇒ các chuyển động trong bài thơ đều rất nhẹ, rất khẽ dường như không đủ để tạo âm thanh.
      • Một tiếng động tạo nên âm thanh duy nhất: cá đớp động dưới chân bèo ⇒ nhưng nó cũng chỉ có ý nghĩa càng làm tăng thêm sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Đây là cái động duy nhất để nhận ra tất cả không gian xung quanh đều yên ắng quá.
    • Sử dụng độc vận “eo”
      • Cách gieo vần “eo” là một từ vận rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo.
      • Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ.

    3. Kết bài

    • Nêu tóm lược lại vấn đề: ngôn từ được sử dụng rất tài tình, độc đáo.
    • Gợi mở vấn đề.

    C. BÀI VĂN MẪU

    Đề bài: Qua bài Câu cá mùa thu (Thu điếu). Hãy phân tích nghệ thuật sử dụng từ độc đáo của Nguyễn Khuyến.

    Chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến gồm Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm đều viết về cảnh vật vùng quê Bắc Bộ lúc vào thu. Trong đó Thu điếu mang nét đặc trưng nhất của cảnh sắc mùa thu huyện Bình Lục (Hà Nam) quê hương nhà thơ. Bài thơ bộc lộ tài quan sát, cảm nhận: thể hiện nghệ thuật miêu tả cảnh sắc thiên nhiên; đặc biệt là việc sử dụng hệ thống từ ngữ độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Khuyến – một trong những nhà thơ xuất sắc của giai đoạn văn học cuối thế kỉ XIX.

    Những từ ngữ tác giả sử dụng trong bài thơ như: Nước trong veo, bé tẻo teo,khẽ đưa vèo, xanh ngắt, ngõ trúc quanh co, vắng teo trước hết đã thể hiện chính xác, sâu sắc cảnh vật mà Nguyễn Khuyến quan sát, miêu tả trong bức tranh mùa thu. Nó có khả năng giúp người đọc cảm nhận được phong vị riêng của mùa thu, của những miền quê Việt Nam mà ta đã từng đặt chân đến.

    Không chỉ có vậy, bài thơ còn gợi ra nét đặc sắc của cảnh ao về mùa thu khác hẳn với cảnh ao về mùa xuân hay mùa hạ. Từ nước ao trong veo, phẳng lặng nhìn được tận đáy, từ chiếc thuyền câu bé tẻo teo đến lá vàng rụng vèo xuống mặt ao và bao trùm lên là một vòm trời xanh ngắt phản chiếu xuống mặt nước như làm cho nước ao xanh hơn lúc vào thu.

    Hai câu kết đã thể hiện sâu sắc hình ảnh con người Nguyễn Khuyến trong một hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời là tiếng nói thầm kín của nhà thơ muốn gửi đến cho thời đại ông đang sống và cho mai sau để hiểu đúng một con người, một nhân cách cao đẹp. Dù về ở ẩn, Nguyễn Khuyến vẫn gắn bó với đời, trong tâm hồn ông vẫn xao động bởi tình cảm vì nước vì dân. Thu điếu đã cho ta cảm nhận tình cảm sâu sắc và cao đẹp của một nhân cách ngời sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu). Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến.
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu). Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến.

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Ngôn Từ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)
  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay
  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Biện Pháp Tu Từ Chơi Chữ Trong Tiếng Việt
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Dàn ý 1. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến và bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu)

    Thu điếu nằm trong chùm ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Bài thơ ghi lại cảm nhận và gợi tả tinh tế cảnh sắc mùa thu ở làng quê Bắc Bộ đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên, đất nước, tâm sự thời thế kín đáo của Nguyễn Khuyến.

    – Dẫn dắt vấn đề

    2. Thân bài

    – Nêu tóm gọn hoàn cảnh sáng tác và nội dung của chùm thơ thu, bài Thu điếu.

    – Những từ ngữ gợi nên phong vị riêng của mùa thu Bắc Bộ:

    Trong veo, biếc, xanh ngắt ⇒ tính từ Gợn, khẽ đưa, lơ lửng ⇒ động từ

    – Bức tranh mùa thu với những phong vị riêng của vùng quê Bắc Bộ Việt Nam: vẻ thanh sơ, dịu nhẹ

    – Gợi nên nét đặc sắc của ao mùa thu

    + Nước trong veo, sóng gợn tí: sự tĩnh lặng, nước không chảy, đứng yên như một một kẻ “buồn thiu”.

    + “Bé” là nhỏ không lớn, chiếc thuyền câu bé tẻo teo lại nằm trên một cái ao nhỏ ⇒ gợi nên sự thu nhỏ của một không gian hẹp.

    – Khách vắng teo, bé tẻo teo, sóng hơi gợn, mây lo lửng, lá khẽ đưa ⇒ các chuyển động trong bài thơ đều rất nhẹ, rất khẽ dường như không đủ để tạo âm thanh.

    – Một tiếng động tạo nên âm thanh duy nhất: cá đớp động dưới chân bèo ⇒ nhưng nó cũng chỉ có ý nghĩa càng làm tăng thêm sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Đây là cái động duy nhất để nhận ra tất cả không gian xung quanh đều yên ắng quá.

    – Sử dụng độc vận “eo”

    Cách gieo vần “eo” là một từ vận rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo. Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy uẩn khúc của nhà thơ.

    – Nêu tóm lược lại vấn đề: ngôn từ được sử dụng rất tài tình, độc đáo.

    – Gợi mở vấn đề.

    Bài mẫu

    Chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến gồm Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm đều viết về cảnh vật vùng quê Bắc Bộ lúc vào thu. Trong đó Thu điếu mang nét đặc trưng nhất của cảnh sắc mùa thu huyện Bình Lục (Hà Nam) quê hương bài thơ. Bài thơ bộc lộ tài quan sát, cảm nhận: thể hiện nghệ thuật miêu tả cảnh sắc thiên nhiên; đặc biệt là việc sử dụng hệ thống từ ngữ độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Khuyến – một trong những nhà thơ xuất sắc của giai đoạn văn học cuối thế kỉ XIX.

    Những từ ngữ tác giả sử dụng trong bài thơ như: Nước trong veo, bé tẻo teo, khẽ đưa vèo, xanh ngắt, ngõ trúc quanh co, vắng teo trước hết đã thể hiện chính xác, sâu sắc cảnh vật mà Nguyễn Khuyến quan sát, miêu tả trong bức tranh mùa thu. Nó có khả năng giúp người đọc cảm nhận dược phong vị riêng của mùa thu, của những miền quê Việt Nam mà ta đã từng đặt chân đến.

    Không chỉ có vậy, bài thơ còn gợi ra nét đặc sắc của cảnh ao về mùa thu khác hẳn với cảnh ao về mùa xuân hay mùa hạ. Từ nước ao trong veo, phẳng lặng nhìn được tận đáy: từ chiếc thuyền câu bé tẻo teo đến lá vàng rụng vèo xuống mặt ao và bao trùm lên là một vòm trời xanh ngắt phản chiếu xuống mặt nước như làm cho nước ao xanh hơn lúc vào thu.

    Những từ ngữ hình ảnh được sử dụng trong bài thơ có một bức gợi tả phong phú. Hình ảnh ao thu lạnh lẽo nước trong veo gợi ra không khí xung quanh ao chuôm buổi sáng mùa thu se lạnh. Hình ảnh ao thu trong veo với thuyền câu bé tẻo teo – bé bỏng xinh xắn – đậu trên mặt ao, đem đến cho người đọc cái cảm nhận cái ao thu bé, bé đến dễ thương.

    Điểm xuyết vào cảnh ao thu là hình ảnh lá vàng. Nói đến mùa thu là nói đến lá vàng, đó là hình ảnh mang tính ước lệ của thi ca cổ. Nguyễn Khuyến cũng không ra ngoài những thông lệ đó. Những hình ảnh lá vàng trong bài thơ gắn với ao chuôm lại mang dáng dấp riêng của Nguyễn Khuyến khi miêu tả về mùa thu. Một chiếc lá vàng rơi cành bởi làn gió rất nhẹ của mùa thu, xoay xoay rồi liệng nhẹ xuống mặt nước. Đó là một chi tiết rất thực, rất sống của cảnh mùa thu ở làng quê Việt Nam qua tài năng quan sát, qua tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ làm tăng thêm chất sống cho cảnh vật mùa thu nơi đây.

    Mở rộng cảnh thu từ ao chuôm đến bầu trời thu là phong cách quen thuộc trong ba bài thơ viết về mùa thu của thi nhân Nguyễn Khuyến. Nhưng trong Thu điếu lại là một vòm trời xanh ngắt. Màu xanh như nhân lên cảm giác về không gian mênh mông, về độ cao chót vót, bát ngát của trời thu.

    Trong một số bài thơ ở những giai đoạn sau, chúng ta cũng bắt gặp sự sáng tạo trong cách dùng từ, hình ảnh của các nhà thơ để gây ấn tượng về độ rộng, độ cao.

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót.

    (Tràng giang – Huy Cân)

    Heo hút cồn mây súng ngửa trời.

    (Tây tiến – Quang Dũng)

    Bức tranh mùa thu lại được tỏ điểm thêm những chi tiết thật sống động: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

    và “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ của tác giả trong bài thơ còn giúp người đọc cảm nhận ra linh hồn của cảnh sắc mùa thu, của cuộc sống ở huyện Bình Lục quê hương Nguyễn Khuyến, của làng quê Việt Nam xưa. Đó là một hồn thu thanh đạm, tinh khiết. Từ ao thu nhỏ, bé nước trong veo đến chiếc thuyền câu bé tẻo teo; lá vàng trước gió khẽ đưa vèo, sóng biếc gợn tí, và vòm trời thu xanh ngắt… Đó chính là hình ảnh một vùng quê vào thu thật quạnh quẽ, trông vắng; ngõ trúc quanh co khách vắng teo, cảnh sắc như gợi lên cuộc sống những con người chân quê ở đây có cái gì nhỏ bé, ẩn nhẫn xung quanh ao chuôm, lũy tre, ngõ trúc quanh co…

    Bài thơ còn đem lại cho người đọc cái cảm giác sự vật như ngưng đọng, từ làn nước trong veo, một da trời xanh ngắt., ngõ trúc vắng teo, một dáng người ngồi câu, tựa gối ôm cần, gần như bất động. Nếu có chuyển động thì thật, khẽ khàng: sóng hơi gợn, lá vàng khẽ đưa vèo, cá đớp dộng dưới chân bèo. Thế nhưng hợp các yếu tố đó lại, bài thơ đem đến một nhận thức, một cảm giác về sự vận động bên trong, âm thầm, bền bỉ, liên tục và không thua kém phần mạnh mẽ của sự vật, của cuộc sống ở làng quê Việt Nam. Đó là sức sống tiềm tàng, dẻo dai làm lên bản sắc của thiên nhiên, của con người Việt Nam từ xưa đến nay. Đây chính là điều Nguyễn Khuyến tâm đắc muốn gửi gắm qua bài Thu điếu để nói về bản chất muôn đời của quê hương đất nước mình.

    Thu điếu đến với người đọc không chỉ dừng lại ở đó. Qua hệ thống từ ngữ mà tác giả sử dụng còn cho chúng ta hiểu được chính con người Nguyễn Khuyến. Đó là một nhà nho thâm trầm, đôn hậu, bên trong chứa đựng một tâm trạng đầy mâu thuần thể hiện ngay trong ý thức hệ mà ông mang trong huyết quản của mình. Nguyễn Khuyến đã không thể giải quyết mâu thuẫn ấy bởi chính tính cách đôn hậu của ông. Nguyễn Khuyến đã chọn cho mình một con đường phù hợp: bỏ mũ từ quan, xa lánh triều đình nhà Nguyễn, lui về ẩn dật tại quê nhà, tỏ thái độ phản đối cái chế độ phong kiến mục ruồng lúc bấy giờ.

    Hai câu kết đã thể hiện sâu sắc hình ảnh con người Nguyễn Khuyến trong một hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời là tiếng nói thầm kín của nhà thơ muốn gửi đến cho thời đại ông đang sống và cho mai sau để hiểu đúng một con người, một nhân cách cao đẹp.

    Dù về ở ẩn, Nguyễn Khuyến vẫn gắn bó với đời, trong tâm hồn ông vẫn xao động bởi tình cảm vì nước vì dân. Thu điếu đã cho ta cảm nhận tình cảm sâu sắc và cao đẹp của một nhân cách ngời sáng.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Nghìn Đêm Thăm Thẳm Sương Dày…
  • 5 Bài Mẫu Phân Tích Bài Thơ Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến, Văn Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Trong Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Bài Câu Cá Mùa Thu
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Biện Pháp Tu Từ Chơi Chữ Trong Tiếng Việt
  • Tài Liệu Ôn Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Hướng Dẫn Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp.
  • Khi Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến, các em học sinh sẽ cảm nhận rõ nét hơn vẻ đẹp của bức tranh mùa thu đặc trưng nơi làng quê Bắc Bộ Việt Nam với nét vẽ đầy dung dị, mộc mạc và thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước sâu sắc của nhà thơ.

    Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu, (Thu Điếu) của Nguyễn Khuyến

    1. Bài mẫu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu số 1:

    Thu điếu nằm trong chùm thơ thu gồm ba bài nức danh nhất về thơ Nôm cùa Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói lên một nét thu đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước. Thu điếu cũng như Thu ẩm, Thu vịnh chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884)

    Hai câu thơ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo – Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu nước trong veo có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu lạnh lẽo như bao trùm không gian. Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi nên mới lạnh lẽo như vậy. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền câu bé tẻo teo tự bao giờ. Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền câu. Bé tẻo teo nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự hun hút của cảnh vật (trong veo – bé tẻo teo). Đó là một nét thu đẹp và êm đềm.

    Văn mẫu phân tích bài thơ câu cá mùa thu lớp 11 chi tiết

    Hai câu thực (Sóng nước theo làn hơi gợn tí – Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo) tả không gian hai chiều. Màu sắc hòa hợp, có sóng biếc với lá vàng. Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn hơi gợn tí. Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thu, tô đậm cái nhìn thấy và cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với độ bay xoay xoay khẽ đưa vèo của chiếc lá thu. Chữ vèo là một nhân tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: vèo trông lá rụng đầy sân (cảm thu, tiễn thu).

    Bức tranh thu được mở rộng dần ra qua hai câu thơ:

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

    Bầu trời thu xanh ngắt thăm thẳm, bao la. Áng mây, tầng mây (trắng hay hồng?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Vắng teo nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. Ngõ trúc trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng khuâng, man mác:

    Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy

    Thuyền ai khách đợi bến đâu đây?

    (Nhớ núi Đọi)

    Ngõ trúc và tầng mây cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc cùa làng quê. Thi sĩ như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm vào cảnh vật.

    Đến hai câu kết thì bức tranh thu mới xuất hiện một đối tượng khác:

    Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Thu điếu nghĩa là mùa thu câu cá. Sáu câu đầu mới chỉ có cảnh vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc. Mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế nhàn: tựa gối ôm cần. Một sự đợi chờ: lâu chẳng được. Một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe cá đâu đớp động dưới chân bèo. Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc nghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá đớp động sau tiếng lá thu đưa vèo, đó là tiếng thu của làng quê xưa. Âm thanh ấy hòa quyện với một tiếng trên không ngỗng nước nào, như đưa hồn ta về với mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng cô đơn và lặng lẽ buồn. Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng trọng.

    Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái diệu xanh trong Thu điếu. Có xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo… và chỉ có một màu vàng của chiếc lá thu đưa vèo. Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man mác buồn. Một tâm thế an nhàn và thanh cao gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét thu là một sắc thu, tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết, vần thơ: veo – teo – vèo – teo – bèo, phép đối tạo nên sự hài hòa cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùng điêu luyện, hồn nhiên – đúng là xuất khẩu thành chương. Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.

    Sau khi tham khảo bài mẫu phân tích bài câu cá mùa thu, để học tốt các bài thơ, bài văn trong chương trình Ngữ văn lớp 11, các em cần tham khảo các bài mẫu Soạn bài Lẽ ghét thương (trích truyện Lục Vân Tiên), Đọc hiểu bài thơ Thương vợ, Soạn bài Chạy giặc, Tâm sự của nhân vật trữ tình qua bài thơ Tự tình,….

    2. Bài mẫu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu số 2:

    Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùm thơ ba bài: Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài thơ nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

    “Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

    Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” toả hơi thu “lạnh lẽo”. Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên”lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ -“bé tẻo teo”. Cái ao và chiếc thuyền câu là hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân Diệu cho biết vùng đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”:

    “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

    Các từ ngữ: “lạnh lẽo”, “trong veo”,”bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

    Những bài văn Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu hay nhất

    Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài hoạ làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:

    “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”.

    Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của sóng gợn. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”, “Vèo trông lá rụng đầy sân”.

    Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”:

    – “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

    (Thu vịnh)

    – “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”.

    (Thu ẩm)

    – “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”.

    (Thu điếu)

    “Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt một màu thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi, ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như người dân quê đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng, vắng teo. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

    “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

    Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sống biếc” đến “lá vàng”, từ”tầng mây lơ lửng đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh, … có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mỗi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!

    Cái ý vị của bài thơ “Thu điếu” là ở hai câu kết:

    “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo”.

    “Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của nhà thơ đã thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh”cá đâu đớp động”, nhất là từ “đâu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh bạch trốn đời đi ở ẩn. Đang ôm cần đi câu cá nhưng tâm hổn nhà thơ đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi”Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy – buồn cô đơn và trống vắng.

    Âm thanh tiếng cá”đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỉ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc “vàng” của lá thu, ở màu”xanh ngắt” của bầu trời thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo”…

    Thật vậy, “Thu điếu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, những nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa”vèo” trong làn gió thu, tiếng cá”đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

    Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi si Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”…

    Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc”Thu điếu”,”Thu vịnh”,”Thu ẩm”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

    3. Bài mẫu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu số 3:

    Trời vào thu với màu sắc thê lương ảm đạm, với gió heo may se sắt lạnh lùng và những chiếc lá vàng nhẹ rơi bỏ lại thân cây trơ trọi, não nề. Mùa thu có lẽ làm cho người ta bâng khuâng hoài cảm nhiều nhất và là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ. Quay ngược bánh xe lịch sử ta sẽ bắt gặp những mùa thu tuyệt vời ngập tràn trong những trang thơ của bao thế hệ. Nhắc đến mùa thu không thế không nhắc đến “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến – một bức tranh mùa thu mà Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”.

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

    Tựa gối buông cần lâu chẳng được

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Tiếp xúc với bài thơ điều đầu tiên cho ta ấn tượng là mật độ xuất hiện vần “eo” trong bài thơ. Chúng ta hãy đếm xem: có tất cả bảy tiếng sử dụng vần “eo”. Nếu để ý khảo sát trong tiếng Việt thì ta sẽ phát hiện ra một điều thú vị là vần “eo” trong ngôn ngữ của ta thường làm cho không gian, sự vật bị dồn nén, co lại, kết tinh lại trong cái khuôn khổ nhỏ nhất của nó. Trời thu đã mang sẵn cái khí lạnh trong nó lại càng lạnh thêm trong cái từ “lạnh lẽo” ấy. Nước hồ thu đã trong rồi nay lại càng trong thêm nữa bởi từ “trong veo”. Khoảng trống rộng lớn làm cho chiếc thuyền câu nhỏ bé lại càng nhỏ bé thêm khi nó được tác giả thấy rằng “bé tẻo teo”. Hình ảnh “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” làm chúng ta chợt nhớ đến hai câu thơ của Trần Đăng Khoa:

    Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

    Hướng dẫn Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến

    Trở về câu thơ của Nguyễn Khuyến động từ “vèo” gợi cảm giác rơi nghiêng của lá. “Khẽ đưa vèo” câu thơ có cấu trúc động từ thật là lạ, làm cho ta thấy dường như tiếng rơi ấy nó không là hiện thực mà nó đang diễn ra trong tâm thức của nhà thơ. Chiếc lá ấy của nhà thơ làng Yên Đỗ và Trần Đăng Khoa như là ảo ảnh. Trong cái ảo ảnh đó, người đọc và cả tác giả dường như không kiểm soát kịp nó có thật hay không nữa. Bức tranh mùa thu đến đây khẽ lay động dưới nét phát họa của nhà thơ.

    Qua hai câu đề của bài thơ bức tranh mùa thu không được đặt trong không gian rộng lớn như ở “Thu vịnh” mà nó bị giới hạn lại trong cái phạm vi nhỏ bé của “ao thu”. “Ao thu” hai tiếng ấy có vẻ gì đó là lạ, đặc thù. Hình ảnh “ao thu” như muốn chứng minh sự nhỏ bé khác thường của nó.

    Toàn bộ khung ảnh được vẽ lên như một bức tranh tí hon có thể đặt trọn trong lòng bàn tay ta vậy. Nó có một cái gì đó ngồ ngộ, dễ thương và cuốn hút lạ thường. Nó thu tóm toàn bộ không gian, làng cảnh Việt Nam im lìm, vắng lặng nhưng lại ẩn chứa một sức sống mãnh liệt.

    Đến đây không gian được mở rộng ra, nhà thơ đã di chuyển điểm nhìn từ khoảng gian nhỏ bé của “ao thu” hướng về không gian lớn của bầu trời. Ở đấy nhà thơ bắt gặp:

    “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”

    Cái động từ “lơ lửng” như gợi cho ta một cảm giác về một chuyển động mà ngỡ như là đứng yên. Những đám mây mùa thu như khẽ nhích từng tí một, bồng bềnh trong bầu trời thu xanh ngắt. Cái chuyển động của chiếc thuyền câu cũng vậy, nó như hơi khẽ lắc trong sóng nước mùa thu.

    Trở lại câu thơ:

    “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí”

    Ta thấy nó có một cái gì đó dễ gây ấn tượng. Chữ “làn” xuất hiện làm cho cảnh vật nó như mơ hồ, khó mà nắm bắt được. “Hơi gợn tí” nó gợi lên trước mắt chúng ta một hình dáng của sóng. Nó không ồn ào dữ dội như sóng biển mà có nó lăn tăn lan ra trên mặt hồ. Bức tranh mùa thu như trầm mình trong cái yên ả, tĩnh mịch ấy.

    Có một câu châm ngôn cho rằng: không có một vẻ đẹp xuất sắc nào mà không mang đôi nét kì quặc. Cho nên câu thơ:

    “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

    Tuy gợi cho ta cảm giác rờn rợn da thịt nhưng bức tranh mùa thu ở đây vẫn có một nét đẹp rất nên thơ, bình yên và trong sáng. Con người nhà thơ ở đây có phần nào lộ diện hơn:

    “Tựa gối buông cần lâu chẳng được

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

    Thế câu “Tựa gối ôm cần” thật lạ. Nó như thú nhận rằng nhà thơ đang lo nghĩ về một việc gì đó rất dữ dội, nó như đang giằng xé lấy ông. Phải chăng đó chính là nỗi buồn thời cuộc, nỗi buồn mà đến cuối đời nhà thơ vẫn không nguôi ngoai được phần nào. Kết thúc bài thơ cảnh vật mùa thu im lìm như bị đánh thức dậy trước cái âm thanh bật hơi thật mạnh của cụm từ “đâu đớp động”. Tạo ra một nét đối nghịch trong bài thơ: Cảnh vật ở trên được miêu tả là một bức tranh tĩnh lặng đến hoang vắng thì đến cuối bài thơ nó như bắt đầu tiếp nhận được sức sống, bức tranh như sinh động hẳn lên. Nhưng nó lại cũng khiến cho bài thơ im ắng vô cùng. Ba tiếng “đâu đớp động” chõi lên một chút rồi lại đè xuống dưới sự áp chế mãnh liệt của vần “eo”. Cách sử dụng nghệ thuật, dùng cái động để diễn tả cái tĩnh làm cho cảnh vật trong bài thơ càng vắng lặng hơn, nỗi buồn như bao trùm cả một khung cảnh rộng lớn.

    Bài thơ còn mang trong nó một sắc điệu xanh sắc xanh của mây trời, của lá cây, của nước mùa thu. Tất cả như hòa quyện vào nhau làm cho bài thơ tạo nên một bức tranh hài hòa cân đối, có một màu sắc rất riêng của Việt Nam. Một chiếc lá vàng đâm ngang tô thêm cho bức tranh mùa thu một vẻ đẹp mới lạ.

    Đọc “Câu cá mùa thu” ta càng yêu thêm non sông xứ sở đất Việt này. Bức tranh mùa thu đậm chất vẻ đẹp thiên nhiên của Việt Nam trong bao biến động xô bồ của cuộc đời này. Có cần chăng nhiều lúc lòng chúng ta nên lắng lại để thưởng thức “Thu điếu” để thanh lọc lại hồn mình, để yêu quê hương đất nước, yêu tiếng Việt trong sáng và giàu đẹp này hơn nữa …

    4. Bài mẫu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu số 4:

    Đi câu là một cái thú thanh tao của các bậc trí giả. Có bậc hiền nhân có tài, bất đắc chi đi câu để chờ thời. Ngồi trên bờ ai mà nghĩ đến chuyện năm châu bốn biển, nghĩ đến thế sự đảo điên. “Cá ăn đứt nhợ vểnh râu ngồi bờ” (có người còn dùng lưỡi câu thẳng như Khương Tử Nha – Trung Quốc). Có bậc đại nhân vác cần đi câu để hương thú nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên, suy tư trong trạng thái thư giãn. Nguyễn Khuyến đi câu theo kiểu này. Ông đã mở hết các giác quan để cảm nhận mùa thu, cũng là mùa câu của xứ Bắc. Như những đứa trẻ trong xóm, ông câu cá cũng chăm chú, cũng hồi hộp, cũng say mê. Kết quả của cuộc chơi ấy là ông đã được một bài thơ “Thu điếu” vào loại kiệt tác của nền vãn học nước nhà:

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

    Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Hình ảnh mùa thu hiện lên trong bài thơ với một không gian hẹp ở chốn làng quê của tác giả, trong một cái ao nhỏ với chiếc thuyền câu nhẹ thênh thênh:

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

    Cái tôi trữ tình lặn phía sau ngôn từ. Cảm giác của thi nhân thì hiện lên sắc sảo và tinh tế. Mùa thu đã vào chiều sâu, “ao thu lạnh lẽo” với mặt nước “trong veo” rất muốn nhìn, ao thu như là chiếc gương tròn của làng quê. Làng Bùi của nhà thơ là đồng chiêm trũng rất nhiều ao, ao nhỏ. Ao nhỏ thì thuyền câu cũng nhỏ theo “bé tẻo teo”, vần eo là thử vận hiểm hóc, vậy mà câu thơ trôi chảy tự nhiên như không, như không có chút gì là kĩ xảo cả.

    Văn mẫu Phân tích bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến

    Thuyền câu đã hiện ra đấy mà người câu đâu chẳng thấy. Cũng chưa thấy cần thấy nhợ gì cả. Người đi câu còn mải mê với trời nước của mùa thu:

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

    Lá vàng, trước gió khẽ đưa vèo.

    Ao thu không còn tĩnh lặng nữa mà đã nổi sóng với hai thanh trắc ở đầu câu (sóng biếc) và hai thanh trắc ở cuối câu (gợn tí). Sóng nhỏ vì ao nhỏ, lại là trong chỗ khuất. Gió nhẹ, gió heo may mùa thu. Sóng lại có màu sắc, “sóng biếc” thật đẹp. Ngòi bút của tác giả tinh tế đến từng chi tiết nhỏ. Hai câu thực đối rất chỉnh “sóng biếc” đối với “lá vàng”, đều là màu sắc đặc trưng của mùa thu. “Hơi gợn tí” đối với “khẽ đưa vèo”, vận động của chiều dọc tương xứng với vận động của chiều ngang thật tài tình.

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

    Nhà thơ đã thả hồn theo chiếc lá vàng “khẽ đưa vèo” trên mặt ao trong veo. Cái màu vàng của mùa thu mà bao nhiêu thi nhân đã ngợi ca:

    Con nai vàng ngơ ngác

    Đạp trên lá vàng khô

    (Lưu Trọng Lư)

    Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.

    (Bích Khê)

    Và đây là chiếc lá vàng của Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu điếu” dưới ánh mắt của Xuân Diệu: “Cái thú vị của bài Thu Điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…”. Lời bình của Xuân Diệu thật là tâm đắc.

    Nhà thơ mở không gian lên chiều cao tạo nên không khí khoáng đạt và không gian được mở rộng nên bức tranh “Thu điếu” thêm đường nét, thêm màu sắc:

    Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,

    Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.

    Màu da trời “xanh ngắt” thật là đẹp, màu xanh xao mà tha thiết. Trong màu “xanh ngắt” có cái thăm thẳm của chiều cao. Mây không trôi mà “lơ lửng” những áng mây trắng “lơ lửng” trên bầu trời “xanh ngắt” thật là thanh bình. Rồi tác giả lại trở về cận cảnh với hình ảnh của làng quê. “Ngõ trúc quanh co”, đường làng quanh co thân thuộc với bóng tre trùm mát rượi. Nhưng bao giờ trong thơ Nguyễn Khuyến tre cũng nói là trúc, “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” (Thu vịnh), “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Nguyễn Khuyến thích cái hình thể loại cây chí khí ấy “Trúc dầu cháy đốt ngay vẫn thẳng”. Những nét trúc thẳng đốì lập với những nét quanh co của đường làng thật là gợi cảm. Trời lạnh, đường quê vắng vẻ, “khách váng teo”. Bức tranh thu đượm buồn. Các thi sĩ thích miêu tả cảnh thu trong tĩnh lặng, đẹp, nhưng buồn. Sau Nguyễn Khuyến, nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu cũng viết:

    Đã nghe rét mướt luồn trong gió

    Đã vắng người sang những chuyến đò

    (Đây mùa thu tới)

    Bài thơ kết thúc với hình ảnh của người đi câu như một nét tự họa:

    Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    Nhà thơ thu mình lại “tựa gối ôm cần”, dường như để tương xứng với khung ao nhỏ, với chiếc thuyền “bé tẻo teo”. Người đi câu đang đắm chìm trong suy tư thì một cử động đã làm cho nhà thơ sực tỉnh:

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

    5. Bài mẫu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu số 5:

    Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”, “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết.

    “Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, Trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến.

    Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” toả hơi thu “lạnh lẽo”. Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ – “bé tẻo teo”. Cái ao và chiếc thuyền câu là hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân Diệu cho biết vùng đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”

    “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

    Các từ ngữ; “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

    Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu để thấy được bức tranh làng cảnh đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến

    Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:

    “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

    Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

    Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng ” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “Vèo trông lá rụng đầy sân”.

    Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu Trời “xanh ngắt” với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc Trời thu là “xanh ngắt”.

    “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”

    (Thu vịnh)

    “Da Trời ai nhuộm mà xanh ngắt”

    (Thụ ẩm)

    “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”

    (Thu điếu)

    “Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt một màu thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi, ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như người dân quê đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng, vắng teo. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

    “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”

    Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong một giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sóng biếc” đến “lá vàng”, từ “tầng mây lơ lửng” đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh, … có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế!

    Cái ý vị của bài thơ “Thu điếu” là ở hai câu kết:

    “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,

    Cá đâu đớp động dưới chân bèo”

    “Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của một nhà thơ đã thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động”, nhất là từ “đâu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh sạch trốn đời đi ở ẩn.

    Đang ôm cần đi câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ như đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, Trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy: ”buồn, cô đơn và trống vắng”.

    Âm thanh tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỷ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc vàng của lá thu, ở màu “xanh ngắt” của bầu Trời thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo “…

    Thật vậy, bài thơ “Câu cá mùa thu ” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, những nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “vèo ” trong làn gió thu, tiếng cá “đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước.

    Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài “Thu điếu ” ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh Trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi”…

    Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam.

    “Câu cá mùa thu” là tác phẩm nổi tiếng, hay xuất hiện trong các đề thi, bài kiểm tra môn Ngữ văn lớp 11. Cùng với việc tham khảo bài văn mẫu phân tích bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến, các em cần lưu tâm đến các bài văn mẫu Bình bài thơ Thu điếu (Câu cá mùa thu) của Nguyễn Khuyến, Phân tích tâm trạng Nguyễn Khuyến qua Thu điếu, Hãy phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ độc đáo qua bài Câu cá mùa thu, Cảm nhận của em về bức tranh thu trong Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến,…, để hiểu hơn về nội dung và ôn tập, rèn luyện kỹ năng viết văn phân tích bài Thu điếu của mình.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-bai-tho-cau-ca-mua-thu-thu-dieu-cua-nguyen-khuyen-37959n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Ngôn Từ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu)
  • Qua Bài Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu). Hãy Phân Tích Nghệ Thuật Sử Dụng Từ Ngữ Độc Đáo Của Nguyễn Khuyến.
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100