Hướng Dẫn Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng
  • Giá Trị Nghệ Thuật Khổ Cuối “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Chi Tiết
  • Soạn Bài Sông Núi Nước Nam
  • Tài liệu hướng dẫn soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ với việc phân tích chi tiết từng khổ thơ của Kiến Guru sẽ giúp các em học sinh hiểu rõ được vẻ đẹp của thôn Vĩ và nỗi lòng của thi nhân gửi gắm vào trong bài thơ này.

    Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ miêu tả cảnh đẹp nên thơ và bình yên của thôn Vĩ Dạ – một thôn nhỏ bên bờ sông Hương thơ mộng. Nhưng ẩn ý thật sự của nhà thơ Hàn Mặc Tử là mượn cảnh để tỏ lòng.

     

    I. Nội dung chính cần nắm khi soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ

    1. Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hàn Mặc Tử

    a. Cuộc đời

    Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí. Ông sinh ra trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa ở tỉnh Quảng Bình. Cha thì mất sớm nên ông sống với mẹ tại Quy Nhơn và hai năm trung học thì ông lại học ở Huế. Sau đó, ông làm việc ở Bình Định một thời gian rồi vào làm việc tại Sài Gòn.

    Do mắc căn bệnh phong cùi quái ác, lúc đó chưa có thuốc chữa trị nên những năm cuối đời, ông trở về Quy Nhơn để chữa bệnh và mất tại trại phong Quy Hòa.

    Soạn bài đây thôn vĩ dạ – tác giả Hàn Mặc Tử

    b. Sự nghiệp 

    Tuy cuộc đời của Hàn Mặc Tử chịu nhiều bi thương và chỉ có  khoảng 12 – 13 năm sáng tác, sự nghiệp thơ ca của ông không đồ sộ nhưng được đánh giá là một nhà thơ có sức sáng tác mãnh liệt và mang đậm dấu ấn của phong trào thơ mới. Do vậy mà Hàn Mặc Tử cũng đã để lại cho nền văn chương Việt Nam một lượng tác phẩm có giá trị 

    Những tác phẩm tiêu biểu của ông: Gái Quê, Thơ Điên, Duyên Kì Ngộ, Chơi Giữa Mùa Trăng…

    c. Phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử

    – Hàn Mặc Tử là một cây bút tạo nên nhiều ấn tượng và gây nhiều chú ý với các nhà phê bình văn học cả ở giai đoạn bấy giờ và sau này.

    – Các tác phẩm của ông mang đậm chất trữ tính, lãng mạn đến siêu thực, huyền bí, nhưng lúc nó cũng toát lên tình yêu đời và yêu người tha thiết. Cũng có lẽ vì ông mắc bệnh khá sớm nên những sáng tác của ông đều nói lên nỗi khao khát thầm kín của chính ông- được sống, được yêu thương.

    – Nếu là một người yêu thích thơ văn của Hàn Mặc Tử đều có thể thấy được hình ảnh “trăng” xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm của ông. Theo nhiều tài liệu cho biết thì cả cuộc đời của ông bị ánh trăng ám vào, gắn bó vô cùng mật thiết:

    + Hàn Mặc Tử sinh vào tháng 8 âm lịch cũng chính là thời điểm mà trăng đẹp nhất trong năm. Ông cũng lớn lên tại vùng biển Quy Nhơn – đây là vùng núi và biển ôm lấy nhau nên khi trăng lên mang một vẻ đẹp rất thơ mộng và đầy hoang sơ, không chỉ với riêng Hàn Mặc Tử mà với với thi nhân khác thì phong cảnh này là nguồn cảm hứng để viết lên những vần thơ lãng mạn.

    + Những ngày trăng tròn, ánh trăng tác động lên cơ thể và đầu óc của những bệnh nhân phong cùi, gây ra những đau đớn thể xác và tinh thần vô cùng kinh khủng. Để tạm quên và vượt qua nỗi đau đớn đó mà Hàn Mặc Tử đã lựa chọn cách làm thơ để bày tỏ những nỗi niềm trong lòng”Ai mua trăng tôi bán trăng cho” 

    2. Tác phẩm

    a. Hoàn cảnh sáng tác Đây thôn Vĩ Dạ

    Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ lấy nguồn cảm hứng từ mối tình đơn phương của nhà thơ với bà Hoàng Thị Kim Cúc. Bà Kim Cúc và Hàn Mặc Tử quen nhau tại Quy Nhơn, sau đó ông chuyển vào Sài Gòn làm việc còn bà thì theo gia đình về lại quê gốc là thôn Vĩ Dạ – Huế. Hai người sau đó có thư từ qua lại, một lần bà Kim Cúc gửi cho ông một tấm bưu thiếp vẽ phong cảnh Huế. Chính tấm bưu thiếp và tấm chân tình trong lòng đã tạo cảm hứng cho Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

    b. Ý nghĩa nội dung tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ

    Hình ảnh trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ thật ra không phải là cảnh mà tác giả chứng kiến nhưng chỉ là những cảnh vật xuất phát từ trí tưởng tượng của ông về thôn Vĩ từ những yêu thương và khát vọng trong lòng của ông, nên bài thơ thường xuất hiện những hình ảnh siêu thực mờ ảo như một giấc mơ.

    Hướng Dẫn Soạn Chiếc Thuyền Ngoài Xa – Câu Chuyện Về Người Đàn Bà Làng Chài

    Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy – Tố Hữu ngắn gọn nhất

    Soạn Bài Tràng Giang – Huy Cận: Nỗi Buồn Trước Thiên Nhiên Rộng Lớn

    II. Hướng dẫn soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Câu 1: Phân tích khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ: nét đẹp phong cảnh và tâm trạng của tác giả

    – Tác giả mở đầu bài thơ bằng một câu hỏi tu từ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

    Câu thơ này mang ý nghĩa như một lời trách móc nhẹ nhàng và cũng là lời mời về thăm quê của người con gái tại thôn Vĩ Dạ. Cũng có thể ý thật của câu nói này là lời tự trách bản thân của tác giả vì chưa có dịp về thăm xứ Huế – nơi có người con gái mà ông vẫn luôn nhớ về.

    Ở đây nhà thơ sử dụng từ “về chơi” chứ không phải là đến chơi, đến thăm, về thăm bởi vì từ lâu vùng đất này trong lòng ông đã trở nên thân thuộc, việc dùng từ ngữ như vậy thể hiện sự tự nhiên, gần gũi và chân tình.

    – Câu tiếp theo: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

    Khi đọc câu thơ này lên ta có thể hình dung đây là một khung cảnh vào một buổi sáng sớm tinh khôi. Trong câu thơ này, từ “nắng” được lặp lại hai lần muốn nhấn mạnh đặc điểm của cái nắng miền Trung: là một vùng đất đón nắng từ rất sớm, cái nắng của đất miền Trung là một cái nắng chói chang, rực rỡ ngay từ lúc bình mình. Cái nắng sớm này lại hòa quyện với màu xanh mát của hàng cau tạo nên một khung cảnh tươi mát và trong trẻo, không chỉ làm bừng sáng cảnh vật mà còn làm bừng sáng cả tâm hồn người thi sĩ.

    Nếu câu thơ này gợi hình ảnh tác giả đang nhìn cảnh vật thôn Vĩ từ xa thì câu tiếp theo “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” lại như đang dẫn dắt ông đi vào những khu vườn xanh mát của thôn Vĩ. 

    Hướng dẫn soạn văn Đây thôn vĩ dạ 

    Câu thơ cuối trong khổ thơ đầu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” đã làm xuất hiện hình bóng con người khiến cảnh vật các trở nên sinh động, đây có thể chính là chủ nhân của khu vườn mà tác giả đã miêu tả trong những câu thơ trên, là “ai” đó mà Hàn Mặc Tử đã nhắc đến trong câu Vườn ai

    Mặt chữ điền là một khuôn mặt phúc hậu, ngay thẳng theo quan niệm của người xưa, cũng có thể là khuôn mặt người thương của tác giả. Hình ảnh “lá trúc che ngang” là một hình ảnh thể hiện sự e ấp, ngại ngùng, nhẹ nhàng mà kín đáo, đây cũng là một nét riêng của người con gái xứ Huế.

    Câu 2: Phân tích khổ hai bài Đây thôn Vĩ Dạ: ý nghĩa của hình ảnh gió, mây, sông, trăng

    Nếu khổ thơ đầu là cảnh thôn Vĩ Dạ vào lúc bình mình, tươi vui, rực rỡ thì khổ thơ thứ hai làcảnh thôn Vĩ Dạ vào chiều tối khi mặt trời buông xuống trên dòng sông Hương thơ mộng. Toàn bộ khổ thơ này toát lên một cảm giác rất buồn và chia li.

    ” Gió theo lối gió mây đường mây

    Dòng nước đìu hiu, hoa bắp lay”

     Từ xưa đến nay trong các tác phẩm văn chương, hình ảnh gió và mây luôn gắn liền với nhau, có gió thì mây mới bay. Nhưng trong ý thơ của Hàn Mặc Tử lại là sự chia lìa, mây và gió không còn gắn bó với nhau nữa. Gió với mây được nhân hóa lên như một con người, cũng là ám chỉ sự chia li của hai người có tình cảm với nhau.

    Hướng dẫn soạn bài Đây thôn vĩ dạ

    Dòng nước đìu hiu là một hình ảnh nhân hóa đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dụ, dòng nước đìu hiu đó cũng chính là tâm trạng của tác giá: cô đơn trống vắng khi “gió theo lối gió, mây đường mây”. Hình ảnh hoa bắp lay như là những xáo động trong lòng của tác giả, tô đậm thêm cái sự đìu hiu của cảnh vật.

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?”

    Hai câu thơ này gợi lên hình ảnh vừa hư vừa thực. Dòng sông không chỉ đơn thuần là dòng nước mà nó được phủ đầy ánh sáng của trăng, trở thành “sông trăng” làm cho không gian thềm huyền diệu và hư ảo. Có lẽ trước sự cô đơn trống vắng đó mà Hàn Mặc Tử mong muốn có một người để tâm sự bầu bạn nhưng không có ai hiểu, chỉ có ánh trắng mới thấu được nỗi lòng của ông. Nhưng ánh trăng vừa như đang ở trước mắt ông lại vừa như rất xa xôi khiến ông không chạm đến được nên mới có câu ” có chở trăng về kịp tối nay?” khiến cho ông đã cô đơn càng trở nên cô đơn hơn

    Câu 3: Phân tích khổ thơ 3 bài thơ đây thôn Vĩ Dạ: tâm sự của nhà thơ

    Hai khổ thơ đầu, Hàn Mặc Tử mượn cảnh xứ Huế để nói lên tâm trạng thì ở khổ thơ cuối này, ông đã trực tiếp dùng lời thơ để bộc lộ tâm trạng của mình. 

    “Mơ khách đường xa khách đường xa”: tác giả một lần nữa dùng phép lặp, cụm từ “khách đường xa” được lặp lại hai lần để diễn tả sự xa cách, sự xót xa trong lòng ông. Có lẽ ông chỉ mãi là một vị khách xa xôi, chỉ có thể đứng từ xa nhìn “em” chứ không thể đến gần. Động từ “mơ” càng khiến cho cảnh vật thêm huyền ảo, không thực, điều này càng tô đậm thêm hình ảnh như trong mơ của câu

    “Áo em trắng quá nhìn không ra”

    Hình ảnh người con gái mặc áo trắng có thể là hình ảnh thật cũng có thể là hình ảnh xuất hiện trong mơ của tác giả. Bởi vì không thể tiếp cận, bởi vì mơ, bởi vì sự mờ ảo nên Hàn Mặc Tử chỉ thấy được hình bóng của người con gái ấy chứ không thể đến gần để nhìn rõ.

    Hướng dẫn soạn văn Đây thôn vĩ dạ

     

    “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà”

    Ta có thể hiểu câu này theo hai nghĩa:

    Nghĩa thứ nhất là nghĩa tả thực: Huế là một vùng đất nhiều sương khói nên hình ảnh sương khói đó khiến cảnh vật trở nên mờ màng khiến cho ông “nhìn không ra” người con gái ấy, chỉ thấy một hình ảnh mơ hồ

    Nghĩa thứ hai là nghĩa ẩn dụ: Hình ảnh sương khói ấy như là hình ảnh tự ông mơ, tự ông huyễn hoặc, cũng có thể ám chỉ khoảng cách cả về địa lý và khoảng cách trong tâm hồn – mặc cảm về cuộc đời, mặc cảm về tình người khiến ông không thể nhìn ra được tình cảm của người con gái xứ Huế. 

    ” Ai biết tình ai có đậm đà?”

    Đây là một câu hỏi tu từ không mong có lời giải, “ai” là một đại từ phiếm chỉ mở ra hai tầng ý nghĩa cho câu thơ này:

    – Ý nghĩa thứ nhất: như là một chút hờn trách của tác giả, không biết tình cảm của ai đó có đậm đà hay lại như khói như sương vừa mờ ảo vừa chóng tan. 

    – Ý nghĩa thứ hai: liệu ai đó đang ở xứ Huế có thấy hiểu tình cả sâu nặng của người “khách đường xa” hay không? Nhưng người khách ấy vẫn rất yêu mến và quen thuộc với cảnh vật và con người xứ Huế

    Câu 4: Soạn bài đây thôn vĩ dạ – Nghệ thuật

    – Tứ thơ là ý chính bao quát toàn bộ bài thờ, tứ thơ đi từ hình ảnh chân thực đến những hình ảnh ngày càng mờ ảo, đây cũng là bút pháp tượng trưng trong thơ của Hàn Mặc Tử. Từ đó mở ra một khung cảnh hư hư thực thực để diễn tả nỗi niềm cảm xúc trong lòng ông.

    – Bút pháp là sự kết hợp hài hòa giữ yếu tố tả thực, vừa mang tính tượng trưng, trữ tình để tăng thêm sự lãng mạn của cảnh vật và tô đậm sự trống vắng cô đơn trong lòng ông.

    Đây thôn Vĩ Dạ là một tác phẩm rất nổi tiếng của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ không chỉ miêu tả cảnh đẹp của thôn Vĩ Dạ mà còn là tình cảm, là lời tâm sự của một con người tài hoa nhưng phải chịu nhiều bất hạnh trong cuộc sống.

    Phần hướng dẫn soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ của ứng dụng học tập Kiến Guru không chỉ giúp các em có tư liệu để trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa mà còn phân tích chi tiết nội dung, ý nghĩa của từng khổ thơ. Tài liệu này, cám em có thể dùng để tham khảo cho kiểm tra và thi cử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Từ Ấy
  • Tổng Hợp Thuật Ngữ Tiếng Anh Chuyên Ngành Văn Học
  • Soạn Bài Đất Nước Ngắn Gọn Đầy Đủ Nhất
  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Chi Tiết
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Ngữ Văn Có Đáp Án
  • Tuần 23. Đây Thôn Vĩ Dạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ 4 Trong Bài Tràng Giang (Huy Cận)
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Đọc Đoạn Thơ Và Trả Lời Câu Hỏi. Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Chủ Yếu Trong Đoạn Trích Và Nêu Tác Dụng
  • Nêu Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Một Ngọn Lửa,lòng Bà Luôn Ủ Sẵn…
  • Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương ( Lớp 9 )
  • CHÚC CÁC EM CÓ MỘT TIẾT HỌC BỔ ÍCH VÀ LÍ THÚ!

    ĐÂY THÔN VĨ DẠ

    Hàn Mặc Tử

    I. TÌM HIỂU KHÁI QUÁT

    1. Về tác giả: Tên thật là Nguyễn Trọng Trí (1912 – 1940)

    – Quê hương – Gia đình – Quá trình trưởng thành – Sự nghiệp (sgk)

    – Ghi nhớ: Trong các nhà thơ mới, HMT là người bất hạnh nhất. Ông bước vào đời thơ với tâm trạng đau thương nghiệt ngã. Khát vọng được sống, được hoà nhập nhưng căn bệnh hiểm nghèo đã không để lại cho anh một tia hi vọng. Hồn thơ HMT bởi vậy mãnh liệt nhưng luôn quằn quại, đau đớn giữa linh hồn và thể xác. Mặc dù vậy, con người ấy vẫn dành tình yêu tha thiết với cuộc đời để sáng tạo nên những vần thơ trong sáng, nồng nàn, say đắm. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế.

    1. Về tác phẩm

    a. Xuất xứ và đánh giá: Tác phẩm in trong tập Thơ điên (sau đổi là Đau thương). Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử.

    b. Hoàn cảnh ra đời: Có ý kiến cho rằng bài thơ được gợi cảm hứng từ bức ảnh phong cảnh của người con gái Vĩ Dạ – Hoàng Thị Kim Cúc, mối tình đơn phương của nhà thơ gửi tặng khi ông đang lâm bệnh nặng? Nếu đặt bài thơ trong hoàn cảnh ranh giới giữa sự sống và cái chết ta có thể hiểu, bài không đơn thuần chỉ để giãi bày tình yêu đơn phương của mình. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ chính là tình yêu đời, yêu cuộc sống, yêu con người và yêu thiên nhiên đất nước. Có nét buồn về sự chia xa, về tình yêu tan vỡ, nhưng đã được thăng hoa làm giầu thêm những tình cảm đẹp của con người.

    c. Nội dung, tư tưởng:

    ? Từ hoàn cảnh ra đời của bài thơ hãy nêu nội dung tư tưởng của bài thơ

    Bài thơ là một bức tranh đẹp về một miền quê đất nước và tiếng lòng thi nhân với cuộc đời.

    d. Kết cấu

    ? Nêu kết cấu của bài thơ

    – Khổ 1: Vĩ Dạ lúc hừng đông

    – Khổ 2: Vĩ Dạ một đêm trăng

    – Khổ 3: Nỗi niềm thi nhân

    II. PHÂN TÍCH/CẢM NHẬN

    1. Khổ 1: Vĩ Dạ lúc hừng đông

    3. Khổ 3

    Nếu hai khổ đầu, nỗi niềm thi nhân bộc lộ gián tiếp thì khổ thơ cuối nỗi niềm ấy được thể hiện một cách trực tiếp.

    Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?

    – Cả khổ thơ xoáy vào hình ảnh một giai nhân, nhưng không phải là một giai nhân cụ thể nào đó, cũng không phải là một giai nhân đang hiện ra trước mắt mà là một giai nhân trong mộng ảo. “Mơ khách đường xa, khách đường xa”.

    – Chữ “Mơ” đưa thế giới thơ HMT đi từ cõi thực (khổ 1) đến nửa thực nửa hư (khổ 2) và đi vào ảo hóa… Đó cũng chính là sự chuyển biến trong thế giới tâm trạng của thi nhân.

    ? Câu thơ đầu tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì. Nêu hiệu quả của biện pháp nghệ thuật đó?

    – Điệp ngữ “khách đường xa” vừa gợi khoảng cách xa xôi, cách trở vừa làm cho thể thơ gấp gáp, khẩn khoản như một tiếng gọi đầy khát khao nhưng càng gọi càng thấy xa. Tác giả không dùng là “mong” mà dùng là “mơ” bởi mong không được nên phải mơ. Mơ để vơi bớt nỗi cô đơn trống trải trong lòng.

    ? Theo em nhân vật “khách đường xa” và “em” ở đây được hiểu như thế nào.

    – “khách đường xa” và nhân vật “em” ở đây có lẽ được hiểu là người con gái Vĩ Dạ, người con gái Huế. Người con gái ấy xuất hiện trong màu áo trắng, tượng trưng cho vẻ đẹp trong trắng, tinh khôi nhưng chỉ là ảo ảnh mà thôi “trắng quá nhìn không ra”.

    ? Em hiểu thế nào về hai chữ “ở đây” (ở đâu?). Màu “sương khói” là màu của cái gì?

    – “ở đây” chính là ở cái nơi HMT đang phải cách li với thế giới ngoài kia. (lãnh cung – trong này). Màu ‘khói sương” là màu sương khói của xứ Huế mộng mơ hay cũng chính là màu của thời gian, của kỉ niệm, của tình yêu… tất cả đã xa rồi. Chỉ còn lại trong cõi mộng mà thôi. Nói đến đây ta chợt nhớ đến những vần thơ đầy đau thương của HMT “Làm sao giết được người trong mộng/ Để trả thù duyên kiếp lỡ làng”

    ? Chỉ ra những biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong câu thơ cuối và nêu hiệu quả của nó.

    – Điệp từ “ai” và sự trùng điệp câu hỏi tu từ trong câu thơ cuối “Ai biết… đà” vừa như xoáy sâu vào hình ảnh giai nhân. Vừa như một sự khắc khoải, hoài nghi, vừa buồn đau vô vọng… Ẩn sau nỗi niềm ấy là tình yêu tha thiết …

    * Nhận xét:

    – Bài thơ sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: điệp từ, nhân hóa, so sánh, câu hỏi tu từ … Hàn Mặc Tử đã mang đến cho người đọc một bức tranh đẹp về một miền quê đất nước. Từ đó thể hiện nỗi niềm thi nhân với cuộc đời

    – Bài thơ thực sự xứng đáng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ HMT.

    – Với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” HMT đã mang tới người đọc một bức thông điệp: chúng ta đang sống giữa cuộc đời hãy biết nâng niu, trân trọng tất cả những gì đang có quanh ta.

    – III. KẾT LUẬN

    Có ai đó đã từng nói: Thơ văn là sự lên tiếng của số phận và cuộc đời. Điều đó quả là đúng. Nếu chúng ta biết được “Mùa xuân nho nhỏ” khúc hát yêu đời tha thiết của Thanh Hải được viết khi ông đang trên giường bệnh chúng ta sẽ cảm phục ông bởi một tấm lòng. Và đặt bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” ra đời từ một nhà thơ đang hàng ngày hàng giờ phải đối diện với căn bệnh nan y quái ác mà không có cách nào cứu vãn nổi, chúng ta càng mến mộ HMT hơn, không chỉ ở cái tài mà còn ở cái tình của ông với cuộc đời, với con người.

    Nói về thế giới thơ HMT, nhà phê bình Hoài Thanh có nhận xét: “… Một nguồn thơ dạt dào và lạ lùng” và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến và càng đi xa càng ớn lạnh…”

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền

    Tiểu kết:

    Khổ2: Vĩ Dạ một đêm trăng

    Tâm trạng: Từ niềm vui trong sáng tâm trạng tác giả đã đột ngột chuyển sang nỗi phấp phỏng, lo âu.

    Khổ 1:

    – Thời gian: bình minh

    – Không gian: vườn

    Vấn đề đặt ra?

    Bài tập

    1. Bình giảng khổ thơ mà em thích nhất trong bài.

    Kính chúc thầy cô:

    Mạnh khoẻ, hạnh phúc!

    Chúc các em:

    Vui, thành đạt!

    Giáo viên: Lê Kim Dung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Các Đề Văn Về Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Học Câu ‘ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây’ Đã Lâu, Vậy Đến Nay Bạn Đã Thực Hiện Những Gì Về Lòng Biết Ơn Rồi?
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây
  • Cảm Nhận Của Em Về Hai Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Các Đề Văn Về Bài Đây Thôn Vĩ Dạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Tuần 23. Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ 4 Trong Bài Tràng Giang (Huy Cận)
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Đọc Đoạn Thơ Và Trả Lời Câu Hỏi. Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Chủ Yếu Trong Đoạn Trích Và Nêu Tác Dụng
  • Tổng hợp các đề văn về bài Đây thôn Vĩ Dạ cùng các đề đọc hiểu Đây thôn Vĩ Dạ được tổng hợp đầy đủ, chi tiết cho các em học sinh lớp 11, 12 ôn luyện về tác phẩm này

    I. Các đề đọc hiểu Đây thôn Vĩ Dạ

    Đọc khổ thơ sau và trả lời câu hỏi bên dưới:

    Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà ?

    (Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

    1/ Chỉ ra nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong câu thơ : Áo em trắng quá nhìn không ra.

    2/ Nêu biện pháp nghệ thuật trong khổ thơ.

    3/ Câu thơ : Ai biết tình ai có đậm đà? có những cách hiểu nào? Ý nghĩa?

    Gợi ý trả lời

    1/ Chỉ ra nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong câu thơ:

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    – Nghĩa sự việc : Áo em trắng, nhìn không ra.

    – Nghĩa tình thái : đánh giá mức độ trắng cao (từ quá)

    2/ Nêu biện pháp nghệ thuật trong khổ thơ :

    – Điệp ngữ : Mơ khách đường xa.

    – Câu hỏi tu từ : Ai biết tình ai có đậm đà ?

    3/ Câu thơ : Ai biết tình ai có đậm đà ?

    Hai cách hiểu :

    – Ai có biết chăng tình cảm ( Hàn Mặc Tử ) vẫn đậm đà với con người và cảnh vật Vĩ Dạ.

    – Ai mà biết được tình cảm của ai đó với ai có đậm đà hay không ?

    Ý nghĩa : vừa khẳng định, vừa hoài nghi.

    Đọc đoạn trích trả lời các câu hỏi sau

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền

    (Trích Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử)

    Đọc đoạn thơ trên và trả lời các câu hỏi sau:

    a. Giải thích ý nghĩa câu hỏi mở đầu bài thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”.

    b. Xác định phép điệp trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật mà nó mang lại

    c. Cảm nhận về tình cảm của nhà thơ với mảnh đất và con người thôn Vĩ

    Gợi ý trả lời câu hỏi

    a. Ý nghĩa câu mở đầu

    – Hình thức: câu hỏi tu từ mang nhiều ý nghĩa.

    – Chủ thể trữ tình tự phân thân

    + Chữ “anh” nếu hiểu ở ngôi thứ 2 lời của người phương xa (cô gái/ người thôn Vĩ) vừa hỏi, vừa trách cứ, vừa mời mọc đầy duyên dáng nhân vật trữ tình về với thôn Vĩ.

    + Chữ “anh” nếu hiểu ở ngôi thứ 1: nhà thơ tự trách mình đồng thời bộc lộ khao khát được trở về với cảnh cũ, người xưa.

    Dù hiểu theo cách nào thì lời chào mời nửa phiền trách ấy cũng là cánh cửa, mở đường cho dòng hồi tưởng của tác giả về với xứ Huế mộng mơ.

    b. Điệp từ “Nắng”:

    – Như một tiếng ngân khiến không gian tràn đầy ánh sáng. Nắng ở đây là nắng mới, thứ nắng ban mai, tinh khiết đầu tiên trong ngày trên những thân cau còn ướt đẫm sương đêm.

    – Điệp từ nắng cùng cụm hình ảnh tiểu đối: nắng hàng cau – nắng mới lên khiến ta cảm giác ánh sáng như đang đầy dần trong khu vườn thôn Vĩ không gian động

    c. Cảm nhận tình cảm của nhà thơ với đất và người thôn Vĩ

    – 4 câu thơ đã đặc tả vẻ đẹp của phong cảnh và con người xứ Huế sinh động tràn đầy sức sống, cảnh thì đẹp dáng, đẹp màu, người thì đẹp lòng, đẹp nết.

    – Lời thơ tha thiết chứa đựng cả 1 tình yêu, 1 niềm khao khát. Có lẽ nhà thơ hiểu rất rõ hoàn cảnh thực tại đầy đau đớn của mình, hiểu rằng cảnh và người thôn Vĩ mãi mãi chỉ là trong mộng mà thôi.

    – Tuy nhiên, buồn mà không tuyệt vọng, đau khổ mà vẫn ước mơ, hồn thơ dạt dào sức sống ấy chỉ hồi tưởng 1 cuộc gặp gỡ trong tâm linh mà niềm vui như thấm vào đường nét của cảnh vật, nghe như có tiếng thì thầm reo vui của cuộc hội ngộ đích thực trong hiện tại.

    II. Các đề văn về bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 1: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

    Đề 2: Hình ảnh thiên nhiên và con người xứ Huế qua bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 3: Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 4: Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

    Đề 5: Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

    Đề 6: Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 7: Cảm nhận khổ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ dạ

    Đề 8: Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 9: Có ý kiến cho rằng: Đây thôn Vĩ Dạ chỉ thể hiện tình yêu đối với một người con gái xứ Huế

    Đề 10: Ấn tượng của anh (chị) về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 11: Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 12: Tình đời và tình người trong Đây thôn Vĩ Dạ

    Đề 13: Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước; là tiếng lòng của một thi sĩ tha thiết yêu đời, yêu người

    Đề 14: Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Đây thôn vĩ dạ của Hàn Mặc Tử

    Đề 15: Cảm nhận của em về hai khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Với các đề văn về bài Đây thôn Vĩ Dạ cùng các đề đọc hiểu Đây thôn Vĩ Dạ ở trên, Đọc tài liệu đã tổng hợp đầy đủ những nội dung chính xoay quanh tác phẩm, các em học sinh có thể từ đó liên hệ vào với đề bài cụ thể của mình để triển khai thành những bài văn chi tiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Câu ‘ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây’ Đã Lâu, Vậy Đến Nay Bạn Đã Thực Hiện Những Gì Về Lòng Biết Ơn Rồi?
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây
  • Cảm Nhận Của Em Về Hai Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Dàn Ý Chi Tiết Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Tràng Giang
  • Cảm Nhận Khổ 1 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Nhà Thơ Quang Dũng
  • Phân Tích Hình Tượng Người Lính Tây Tiến Qua Đoạn 3
  • Phân Tích Hình Tượng Người Lính Qua Đoạn Thơ Thứ 3 Tây Tiến Quang Dũng
  • Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Hướng dẫn cách làm, lập dàn ý và tham khảo những bài văn mẫu hay phân tích, cảm nhận về khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

    Hướng dẫn cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

    Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu: cảm nhận nội dung khổ thơ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : những câu thơ, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

    – Phương pháp lập luận chính: phân tích, nêu cảm nhận.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên xứ Huế bình yên, thơ mộng.

    Luận điểm 2: Hình ảnh con người xứ Huế đôn hậu, dịu dàng.

    3. Lập dàn ý chi tiết

    – Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm:

    Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa nhưng không được may mắn trong cuộc sống. Khi ra đi ông để lại một kho tàng văn thơ vô cùng to lớn. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hàn Mặc Tử đó là bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ nói về cảnh nơi thôn Vĩ, nơi có người ông thương.

    – Giới thiệu khái quát nội dung khổ thơ đầu: Cảnh đẹp nơi thôn Vĩ được thể hiện rõ nhất qua khổ 1 của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

    b) Thân bài: Cảm nhận khổ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    * Khái quát về bài thơ:

    – Hoàn cảnh ra đời bài thơ:

    + Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác vào khoảng năm 1938, in lần đầu tiên trong tập Thơ điên (về sau đổi tên thành Đau thương).

    + Bài thơ được viết khi Hàn Mặc Tử nhận được một tấm bưu thiếp từ người con gái mà nhà thơ thầm thương, Hoàng Thị Kim Cúc.

    – Địa danh “thôn Vĩ Dạ” : Vĩ Dạ là một phường thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

    * Luận điểm 1: Bức tranh thiên nhiên xứ Huế bình yên, thơ mộng.

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

    – Lời trách móc nhẹ nhàng, duyên dáng, thân tình, cũng có thể là lời nhà thơ tự vấn lòng mình

    “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.”

    – Nhờ ánh nắng, cảnh vật như bừng sáng hơn

    + Những hàng cau thẳng tắp và nắng ban mai tràn ngập không gian

    + Nắng lan tỏa đến khắp nơi, mang một sắc màu đẹp đẽ

    – ” nắng mới lên ” : cái nắng sớm ban mai, nhẹ nhàng, tinh khiết

    “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

    – ” mướt “: một trạng thái gợi lên sự sống mơn mởn, mướt mát của cảnh vật

    – sắc xanh “như ngọc” mang ý nghĩa tượng trưng cho một làng quê yên bình, trù phú.

    * Luận điểm 2: Hình ảnh con người xứ Huế đôn hậu, dịu dàng.

    “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    – ” lá trúc che ngang mặt chữ điền “: hình ảnh con người hiện lên với nét đôn hậu, dịu dàng.

    * Đặc sắc nghệ thuật

    – Ngôn ngữ điêu luyện

    – Bút pháp vừa lãng mạn vừa tượng trưng

    – Câu hỏi tu từ, điệp từ, so sánh, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác…

    c) Kết bài:

    – Nêu cảm nhận của em về khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả với thành phố Huế mộng mơ. Đồng thời qua đó hình ảnh thiên nhiên Huế được thể hiện hết sức sinh động, đẹp đẽ và sống động.

    4. Sơ đồ tư duy cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ mẫu số 1:

    Hàn Mặc Tử một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới 1932-1945 với những tác phẩm tiêu biểu. Các nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên, gắm nhìn cảnh đẹp quê hương đất nước dù ông đang phải trải qua những đau đớn cảu bệnh tật với mong muốn được gắn bó lâu hơn với cuộc sống này. Đó là một tinh thần đáng ngợi ca và tâm trạng ấy đã được khắc họa rõ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”. Khổ 1 là bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp cùng tâm trạng tiếc nuối của tác giả.

    Khổ thơ bắt đầu bằng một câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” câu hỏi vang lên như một lời trách thầm, nhắn nhủ của nhân vật trữ tình trong tâm trạng vời vợi nhớ mong. Câu hỏi đó là của ai mà lại vừa hỏi vừa trách móc vừa nhớ mong nhất định không phải của Hoàng Cúc, không phải của cô gái nào ở thôn Vĩ. Vậy có thể là của ai? Có thể là của Hàn Mặc Tử tác giả đang phân thân để chất vấn chính mình. Câu hỏi đó như xác nhận một sự thật đã lâu rồi tác giả không được về thôn Vĩ hay không biết đến bao giờ có thể trở lại thôn Vĩ một lần nữa. Đó là cái cớ rất giàu chất thơ vừa nhẹ bẫng xót xa để gọi về những kỉ niệm thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng có tới sáu thanh bằng, thanh trắc duy nhất vút lên cuối câu như một nốt nhấn khiến cho lời thơ nhẹ nhàng mà thấm thía những nỗi niềm tiếc nuối vọng lên da diết khôn nguôi. Từ niêm nhớ thương được khơi nguồn như thế, hình ảnh thôn Vĩ chợt sống dậy trong lòng nhà thơ:

    “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

    Chỉ ba câu thơ Hàn Mặc Tử đã khắc họa được những nét đực trưng của thiên nhiên xứ Huế. Mỗi câu thơ là một nét vẽ, mỗi chi tiết sống động tạo thành sự khắc họa sống động đẹp đẽ của thôn Vĩ trong hoài niệm.Trước tiên là vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của buổi sớm mai: nắng hàng cau nắng mới lên không phải là cái nắng chang chang dọc bờ sông trắng mà là cái nắng trong trẻo tin khôi của một ngày. Chỉ miêu tả nắng thôi mà đã gợi lên trong lòng người đọc bao nhiêu liên tưởng đẹp. Những cây cau mảnh dẻ vút cao vươn mình đón lấy tia nắng ban mai trong lành ấm áp. Khung cảnh quen thuộc ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ góc sân khoảng trời nào từ miền quê đất Việt thân yêu. Phép luyến láy: nắng hàng cau nắng mới lên làm cho cái nắng như lan tỏa hơn bừng sáng hơn. Điệp từ “nắng” đã vẽ ra một bức tranh ánh nắng trong không gian nắng lan đến đâu vạn vật bừng sáng đến đó từ trên cao tràn xuống thấp và tràn đầy cả khu vườn, thôn Vĩ như được khoác lên một chiếc áo mới thanh tân, tươi tắn.

    Đến câu thơ thứ ba là cảnh vườn tược được tắm đẫm trong nắng mai ngời sáng lên như một viên ngọc xang diệu kì: ” Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Câu thơ như một tiếng reo đầy ngỡ ngàng thích thú, không phải xanh non xanh biếc mà là xanh như ngọc. Còn gì trong sáng và cao quý hơn ngọc. Cảnh giản dị mà thanh khiết cao sang vô cùng. Phải chăng sương đêm đã gột rửa hết những bụi bặm để khoác lên cây lá tấm áo choàng trong suốt lấp lánh khi nắng lên. Chữ “mướt” tác động mạnh mẽ vào giác quan người đọc ấn tượng vẻ mượt mà loáng mướt của khu vườn. Nhưng cái thần của câu thơ lại dồn cả vào chữ “ai” chỉ một chữ mà khiến cho cảnh đang gần gũi bỗng bọ đẩy ra xa, hư thực khó nắm bắt. Âm hưởng nhẹ bẫng của tiếng này khiến hơi thơ như thoáng xuôi về một cõi hư ảo mơ hồ.Với Hàn Mặc Tử lúc này, đó là thế giới ở ngoài kia, của sự sống ngoài kia chứ không phải thế giới của bệnh tật. Và rất tự nhiên theo mạch cảm xúc, nhắc đến “ai” lập tức nhà thơ nhớ đến hình bóng con người:

    “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Câu thơ kết đoạn là nét cách điệu hóa rất tài tình của Hàn Mặc Tử nhằm ghi lấy hồn Vĩ Dạ. Có lẽ hình ảnh cành trúc đã trở nên quen thuộc khi nhắc đến con người nơi đây, mảnh đất cố đô văn hiến. Con người như hòa vào, như ẩn vào thiên nhiên một vẻ đẹp kín đáo tao nhã. Đó là vẻ đẹp riêng trong mảnh đất cố đô nhưng ngay trong dòng cảm xúc miên man ấy ta đã thấy nỗi buồn man mác xa nỗi thấm vào lòng người. Nhưng cũng có một điều đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử là vừa có ảnh hưởng thơ ca dân gian vừa có sản phẩm của lối thơ sáng tạo hay vẽ khuôn mặt sau hàng liễu được viết lên bởi mặc cảm chia lìa của con người luôn tự nhận mình đứng ngoài cuộc vui.

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh cảnh và người xứ Huế vừa trần thế vừa trong sáng, tinh khôi trong tâm trí Hàn Mặc Tử. Qua đó có thể thấy ở Hàn Mặc Tử một tình yêu quê, yêu người tha thiết, và cũng vời vợi nỗi nhớ mong của thi sĩ hướng về cảnh và người thôn Vĩ.

    Đọc bài thơ mà khơi gợi trong lòng người tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên sâu sắc, yêu con người cảnh vật nơi đây. Từ đó mà dạy chúng ta cách giữ gìn và bảo vệ những thứ xung quanh mình.

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ mẫu số 2:

    Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới. Tuy có cuộc đời nhiều bi thương nhưng qua hồn thơ phong phú, sáng tạo, đầy bí ẩn, người đọc vẫn cảm nhận được một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế của ông. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những sáng tác để đời của Hàn Mặc Tử, đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong lòng người đọc. Chính vì vậy, qua bao nhiêu thế hệ, người ta có ba ý kiến nhận định về bài thơ: đó là bài thơ về tiếng nói trăn trở của mối tình thầm kín; là lời yêu thương vói một miền quê; là niềm khao khát được sống trong niềm sẻ chia, đồng cảm được trở về với cuộc đời. Đoạn thơ đầu của thi phẩm đã thể hiện một cách thật tha thiết, xúc động những tâm tình ấy.

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

    “Đây thôn Vĩ Dạ” được Hàn Mặc Tử viết khi đang mắc bệnh nan y – bệnh phong, căn bệnh khiến nhiều người xa lánh, hắt hủi ông nên ông luôn mang trong mình nỗi niềm khao khát được sẻ chia, đồng cảm, muốn trở về với cuộc đời. Nằm trong bệnh viện và nhận được tấm bưu thiếp của người con gái ông thầm thương trộm nhớ, Hàn Mặc Tử lấy đó làm cảm hứng để bài thơ được ra đời. Qua đó, ông đã vẽ nên bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi niềm cô đơn của ông về một mối tình đơn phương xa xăm vô vọng. Không chỉ vậy, bài thơ cũng là tấm lòng yêu tha thiết của nhà thơ đối với thiên nhiên, cuộc sống, con người xứ Huế.

    Mở bài bài thơ, tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” vừa như một lời chào thân mật vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của cô gái thôn Vĩ. Không thô lỗ, bỗ bạ mà hết sức ân cần, tế nhị. Vì thôn Vĩ có em, vì thôn Vĩ là quê hương anh, là nơi thân thiết của anh. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là lời tự nhủ, tự trách của tác giả. Ông tự hỏi bản thân sao bấy lâu nay không về thăm lại vùng đất ấy, thôn quê ấy. Ông khao khát được về thăm quê hương, nỗi nhớ thương mảnh đất ấy cứ đau đáu mãi. Ngặt nỗi, lúc ấy Hàn Mặc Tử đang bị bệnh, làm sao có thể trở về được mà cũng có thể mãi không trở về được…

    Qua ba câu thơ sau, khung cảnh thiên nhiên và con người hiện lên trong hoài niệm, tưởng tượng của Hàn Mặc Tử rất đỗi bình dị, quen thuộc:

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

    Nắng mới lên là nắng sớm buổi bình minh. Ánh sáng tinh khôi, rực rỡ ấy làm sáng bừng không gian rộng lớn, khoáng đạt của xứ Huế. Điệp từ “nắng” không chỉ thể hiện sự tràn ngập ánh sáng, sức sống mà còn bộc lộn tâm hồn luôn hướng về ánh sáng, hướng về cuộc đời của Hàn Mặc Tử. Câu thơ ấy đã vẽ nên một hàng cau đầy sức sống, mãnh liệt đang vươn lên đón lấy những tia sáng đâu tiên của buổi sớm. Nhớ đến Vĩ Dạ, nhà thơ nhớ đến hàng cau đầu tiên. Bởi lẽ hình ảnh hàng cau, vun vút cao quá đỗi quen thuộc đối với người dân thôn Vĩ. Nhịp thơ 1/3/3 như bước chân khoan thai của bất kì vị khách nào, trầm ngâm nhìn nắng mới lên trên những hàng cau xanh biếc rạng ngời.

    “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

    Câu thơ như lời khen ngợi, trầm trồ, ngạc nhiên thốt lên trước vẻ đẹp thanh tao, mơn mởn của cỏ cây, thiên nhiên. Vườn ai ? Phải chăng là vườn nhà em ? Cảnh cũ người xưa nhưng vì lâu chưa về nên mới thốt lên ngỡ ngàng như vậy. Tác giả dùng biện pháp tu từ so sánh “xanh như ngọc” và từ “mướt”, như vậy có thể thấy thôn Vĩ không chỉ xinh đẹp mà còn rất trù phú. Câu hỏi tu từ “Vườn ai mướt quá” như tiếng reo của trẻ thơ, một tiếng reo trong sung sướng, một lời trầm trồ khen ngợi buột ra tự nhiên khi chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn. Tưởng chừng như nghe thấy tiếng nhựa sống đang chảy trong cây. Tất cả đều rạo rực, đều đầy sức sống. Chỉ có vườn xuân mới xanh mướt, phì nhiêu đến vậy. Hay chỉ có vườn nhà em mới đẹp đẽ, hữu hình đến thế.

    “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Nhắc đến con gái Huế, người ta nghĩ ngay đến hình ảnh cô gái duyên dáng, thướt tha trong tà áo dài tím mộng mơ cùng chiếc nón lá trắng, dịu dàng, yểu điệu mà tinh tế. “Mặt chữ điền” chỉ tướng mạo phúc hậu, dịu dàng. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ tài tình, gợi lên hình ảnh gương mặt thấp thoáng của thiếu nữ. Một nét vẽ ấy đã miêu tả vẻ đẹp thanh tao, dịu dàng. Một nét vẽ ấy đã vẽ ra dáng vẻ e lệ, ẩn sau lá trúc của người con gái. Và chính hình ảnh cô gái e lệ thấp thoáng sau những lá trúc càng chứng tỏ “vườn ai” và vườn cô gái đứng chỉ là một. Thiên nhiên và con người dưới ngòi bút đầy sắc sảo của Hàn Mặc Tử đã kết hợp hài hòa với nhau tạo nên một bức tranh phong cảnh tươi đẹp, đầy sức sống và có sức hút lạ lùng.

    Bằng âm điệu tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng, Hàn Mặc Tử đã vẽ nên một bức tranh thôn Vĩ Dạ cho người nghe cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ thật mơ mộng, bình dị. Qua đó cho thấy tình yêu to lớn của ông đối với mảnh đất yên bình, trù phú này. Tuy nhiên, ẩn sau mỗi ý thơ là nỗi niềm luyến tiếc, vấn vương về người và cảnh nơi đây. Ông vấn vương, trăn trở về mối tình thầm kín của mình với người con gái thôn Vĩ. Ông vấn vương, thương nhớ về cảnh sắc tươi đẹp của thôn Vĩ. Nhưng tất cả đối với nhà thơ thời điểm ấy chỉ còn là hoài niệm.

    Nếu ở khổ một là không gian vui tươi, đầy sức sống thì ở phần còn lại của bài thơ, giọng thơ chùng xuống, ảm đạm hơn nhiều. Chính xác hơn, bắt đầu từ khổ hai, Hàn Mặc Tử đã bộc lộ tâm trạng đau buồn, u uất của mình. Lúc bấy giờ, ông mắc bệnh phong, căn bệnh khiến ông bị mọi người xa lánh. Sống trong lãnh cung của sự chia lìa, tác giả ao ước, khát khao một vị tri âm, tri kỉ. Ông khao khát hơn bao giờ hết về sự sẻ chia, giao cảm. Ông khát khao tình người, tình đời, hạnh phúc. Ông khát khao được trở về cuộc sống bình thường, được trở về thôn Vĩ Dạ. Ông biết căn bệnh hiểm nghèo của mình, biết thời gian minh còn rất ít. Vậy nên nhà thơ vừa như bồn chồn, lo lắng vừa như hy vọng một cái gì đó sẽ rời xa. Đây chính là nỗi niềm ao ước tha thiết cùng nỗi buồn man mác khi tác giả hoài niệm của tác giả.

    Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp lãng mạn đầy sức gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, Hàn Mặc Tử đã họa nên bức tranh nên thơ, tươi đẹp của một miền quê. Và ẩn sau đó không chỉ là tiếng nói trăn trở của mối tình thầm kín hay lời yêu thương với một miền quê mà còn là nỗi niềm khao khát được đồng cảm, được trở về với cuộc đời.

    “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. Bài thơ như bông hoa rực rỡ giữa rừng hoa của văn học nước nhà. Qua đó cho thấy tâm hồn thanh khiết, yêu đời dù là trong lúc khổ đau, tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử.

    Phan Hồ Phúc Ngân – 11A10 – THPT Krongana, Đắk Lắk

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ mẫu số 3:

    Nhà thơ Hàn Mặc Tử được biết đến với sức sáng tạo nhất trong số các nhà Thơ mới. Ông có một cuộc đời ngắn ngủi và đầy bi kịch. Ông là một gương mặt đặc sắc của phong trào Thơ mới. Thơ của Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn và tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ tiêu biểu của nhà thơ, thể hiện một hồn thơ tha thiết nhưng tuyệt vọng. Khổ thơ đầu tiên của bài mang đến một bức tranh thiên nhiên đầy vẻ đẹp.

    Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được khơi nguồn cảm hứng từ bức ảnh khung cảnh Huế với lời thăm hỏi của một cô gái Vĩ Dạ lúc thi sĩ đang mắc bệnh hiểm nghèo. Có thể xem bài thơ như một lời tỏ tình với cuộc đời, của một hồn thơ tha thiết với cuộc đời. Khổ thơ đầu tiên là cảnh cây vườn thôn Vĩ tươi sáng trong nắng mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà thanh tú, nghiêng về cõi thực. Cảm xúc ẩn trong cảnh là nỗi ước ao và niềm đắm say mãnh liệt.

    Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên được gợi ra thật đặc biệt:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Câu thơ đầu tiên, độc giả bắt gặp từ “sao”, là một từ để hỏi đứng đầu câu thơ, mở đầu bài thơ. Nó gợi ra sự xao động, băn khoăn của nhân vật trữ tình. Từ “anh” chỉ nhà thơ, thể hiện nhân vật phiếm chỉ trong thơ. Đây là hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện một sắc thái gần gũi, dân dã, thể hiện tình cảm chân thật. Khi đọc câu thơ đầu tiên, độc giả sẽ đặt a vấn đề: câu hỏi đó là lời mời mọc, lời trách móc hay đó có phải là lời của cô gái? Đây như là lời của chính tác giả, thể hiện niềm khao khát, lời thúc giục niềm khao khát được về thôn Vĩ. Vì tác giả lâm bệnh nặng mà lại quá khát khao nên bằng tâm tưởng, tác giả đã về thôn Vĩ. Thôn Vĩ hiện ra trong trí nhớ của nhà thơ, cả một thế giới sống đã ùa về, gợi ra trong lòng người bao cảm xúc.

    Câu thơ thứ hai, từ “nhìn” là cái cảm nhận được bằng thị giác, rất chân thực. Dường như nhà thơ đang có mặt tại thời điểm nói để chiêm ngưỡng và miêu tả. Tác giả nhận ra sự di chuyển của nắng. Điệp từ “nắng” thể hiện nắng như len lỏi vào bức tranh, tràn trề trong bức tranh. “Nắng mới” là nắng buổi sớm, trong trẻo, tinh khôi, như mang đến luồng sinh khí, mang đến sự sống cho con người. Hình ảnh “hàng cau” lấp lánh trong nắng. Cau là loại cây thân thẳng, trong khu vườn là loại cây đón ánh nắng đầu tiên. Tác giả mở ra một bức tranh khỏe khoắn và tạo cho khu vườn có chiều sâu.

    Câu thơ thứ ba góp phần mở ra bức tranh thiên nhiên xứ Huế đẹp. Đại từ “ai” là từ phiếm chỉ, gợi chút mặc cảm của nhà thơ. Từ “mướt” gợi cảm giác xanh non, láng mượt, láng mượt, long lánh, có sự phản quang, có ánh sáng và có sức sống. Từ “quá” như thể hiện một lời reo vui vì ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thiên nhiên. Biện pháp nghệ thuật so sánh “xanh như ngọc” thể hiện màu xanh phát ra ánh sáng, tự phát ra ánh sáng của sự sống, cảnh vật như phát ra ánh sáng nội sinh, sức mạnh tràn trề của khu vườn. Bức tranh thiên nhiên xứ Huế đẹp, trong sáng và tràn đầy sức sống.

    Câu thơ cuối cùng nêu lên vẻ đẹp của con người xứ Huế. “Mặt chữ điền” để chỉ người có khuôn mặt phúc hậu. Ý thơ gợi ra niềm khao khát của tác giả mong được hòa hợp, giao cảm, được trở về với cuộc sống. Hình ảnh “lá trúc che ngang” khiến khuôn mặt chỉ hiện ra có một nửa, như gợi sự mặc cảm của tác giả. Dù hiểu theo ý thơ như thế nào thì tình cảm của nhà thơ với con người xứ Huế không bao giờ thay đổi.

    Cảm nhận khổ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ. Đó là tiếng lòng yêu đời tha thiết, dù đang có sự đau đớn cả về thể xác lẫn tâm hồn, nhưng tác giả vẫn dành cho đời cái nhìn đầy tin yêu, phải là một con người yêu đời lắm mới mơ tưởng về thôn Vĩ đẹp như vậy. Càng xót xa về số phận của Hàn Mặc Tử bao nhiêu, ta càng trân trọng niềm yêu đời quý giá của tác giả bấy nhiêu.

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ mẫu số 4:

    Trong suốt dòng chảy của nền văn học, đã có không ít văn sĩ, thi sĩ rẽ ngược dòng hoài niệm để tìm về một “miền nhớ”, ví như ” Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu, ” Hai cây phong” của Aitmatov, ” Việt Bắc” của Tố Hữu,… Những mảnh đất ấy không đơn thuần chỉ là một địa danh mà đã trở thành nơi ấp ôm trọn vẹn tiếng lòng xao động của người cầm bút, là một bến đỗ để ngàn năm vỗ về tâm hồn con người. Cũng để ngòi bút của mình tuôn chảy trong nguồn cảm hứng vô tận ấy, đốm lửa cháy mãnh liệt của phong trào Thơ Mới, người khởi xướng ra “Trường thơ Loạn” – Hàn Mặc Tử – đã để lại dấu ấn sâu sắc trên thi đàn Việt Nam với thi phẩm ” Đây thôn Vĩ Dạ “. Bài thơ là cuộc hành trình về thăm chốn cũ trong tâm tưởng của tác giả, thể hiện một hồn thơ đầy thiết tha với cuộc đời và tình yêu chưa bao giờ tắt với mảnh đất và con người xứ sông Hương, núi Ngự. Điều đó được thể hiện rõ nét trong khổ thơ:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Tựa như những thanh âm trong trẻo nhất, êm ái nhất để mở đầu một khúc giao hưởng với nhiều cung bậc, khổ thơ nhẹ nhàng hé mở tâm hồn người đọc để cảm xúc len qua từng câu chữ, ùa vào tâm khảm. Nếu chỉ đọc một cách đơn thuần thì bốn dòng thất ngôn này miêu tả cảnh sắc xứ Huế vốn không còn xa lạ trong thơ ca. Nhưng đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ, người đọc lại bắt gặp một tầng ý nghĩa khác. Khi còn làm ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử có gặp gỡ và phải lòng một cô gái Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc. Chưa có dịp bộc bạch nỗi lòng thì thi sĩ họ Hàn mắc bệnh nan y (bệnh phong), phải đến ở trong trại phong Quy Hòa. Năm 1938, Hoàng Cúc gửi tặng ông bức bưu ảnh phong cảnh Huế cùng vài dòng hỏi thăm mà không đề tên. Để tạ lòng cố nhân, cũng là để cõi lòng phiêu bồng trong mộng ảo, Hàn Mặc Tử viết bài thơ ” Đây thôn Vĩ Dạ“.

    Ban đầu bài thơ có tên là ” Ở đây thôn Vĩ“. Nếu đặt nhan đề như vậy, người đọc sẽ chỉ bó hẹp trong cảm quan của nhà thơ, rằng đó là một mảnh đất trong quá khứ, nhuốm sắc phong trần của thời gian. Có lẽ cũng bởi vậy mà Hàn Mặc Tử đã thay đổi nhan đề thành ” Đây thôn Vĩ Dạ“. Không chỉ tăng tính nhạc, nhan đề này còn tựa như một lối dẫn quanh co, đưa người đọc băng qua xóm làng, qua bãi bờ để đến với thôn nhỏ mang tên Vĩ Dạ. Từ “đây” mang ý nghĩa nhấn mạnh, vừa để chỉ điểm vị trí, lại vừa thể hiện niềm khao khát chạm đến tình và cảnh. Không phải nơi nào khác mà chính là Huế, chính là thôn Vĩ Dạ. Cũng không phải người nào khác mà là người ông hằng nhớ thương, rung động: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Phải chăng, chính vì nỗi niềm không thể giãi bày và nỗi đau thể xác, nỗi sầu nhân thế đã là nguồn cảm hứng vô tận cho không chỉ một ” Đây thôn Vĩ Dạ” mà cả tập ” Thơ Điên” (sau đổi thành ” Đau thương “).

    Bài thơ được mở ra bằng một lời mời gọi tha thiết:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

    Ta bắt gặp một địa danh được đặt trang trọng ở cuối câu thơ, cũng là cuối một câu hỏi: “Thôn Vĩ”. “Thôn Vĩ” chính là thôn Vĩ Dạ, mảnh đất mà tác giả luôn ấp ôm trong lòng, luôn khao khát được một lần trở lại. Thôn Vĩ có gì mà nhà thơ yêu mến đến vậy? Địa danh này chỉ là một thôn nhỏ nằm bên bờ sông Hương, cũng có những rặng tre đầu làng, những mái lá liêu xiêu trong ráng chiều lờ mờ khói tỏa, cũng có những cánh đồng xanh mướt thẳng cánh cò bay…, một vẻ đẹp đã trở nên mẫu mực, cổ điển trong thơ ca muôn đời, cũng hết sức quen thuộc ngoài đời thực. Nhưng có lẽ, nơi này đặc biệt hơn bởi ông đã gửi gắm một phần linh hồn ở đó, cũng mang theo một mảnh hồn quê xứ sở, gìn giữ trong tim đến suốt cuộc đời. Dù chỉ lưu lại nơi ấy trong một khoảng thời gian không dài nhưng vì lẽ “tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”, thôn Vĩ chẳng khác nào một bến đỗ để sau bao phong ba của cuộc đời, Hàn Mặc Tử lại trở về trầm mình trong sự vỗ về ấm áp.

    Thi sĩ hết sức tài tình khi thổi vào tứ thơ chất Huế rất riêng, đầy ngọt ngào, ý vị. Câu thơ chỉ toàn thanh trắc nhẹ nhàng cất lên khiến người đọc cảm tưởng như có một cô gái Huế đang nhỏ nhẹ mở lời. Cô gái ấy dường như đang mời mọc một cách ý nhị, cũng đang khẽ khàng trách móc chàng thi sĩ sao đã lâu như vậy không “về chơi”. Hai tiếng “về chơi” nghe sao mà chân thành, gần gũi, sao mà thổn thức như tiếng mẹ quê hương gọi đứa con xa trở về! Biết bao nhiêu tình cảm được chở chứa trọn vẹn trong hai chữ giản đơn ấy. Chỉ vậy thôi mà sao ta thấy ý thơ dâng đầy nỗi xót xa. Nào có phải Hàn Mặc Tử không muốn về thăm chốn cũ! Về thăm mảnh đất đã “hóa quê hương” ấy là cả một niềm khao khát đến bỏng cháy, chưa bao giờ nguôi ngoai trong tâm hồn thi sĩ. Ấy vậy mà đến tận lúc cuối đời, ông vẫn chưa một lần được về thăm lại chốn xưa.

    Nhà thơ sử dụng câu hỏi tu từ ngay ở câu thơ đầu, khác nào đặt một niềm thắc mắc, dằn vặt xuyên suốt cả thi phẩm. Để rồi ở tứ thơ nào, hình ảnh nào, dù đẹp đến đâu thì người đọc cũng chợt bâng khuâng nhận ra một nỗi nhớ, nỗi sầu ứ nghẹn bên trong.

    Bằng ngòi bút tài hoa, Hàn Mặc Tử đã họa lên bức tranh ngôn từ về vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ:

    “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

    Thôn Vĩ Dạ dưới cái nhìn của thi sĩ ngập trong nắng. Vẻ đẹp của làng quê Việt Nam mới chân phương, bình dị làm sao! Bức tranh sơn dầu với quang phổ tỏa ra lấp lánh, nhè nhẹ rơi từng hạt, từng hạt óng ánh vàng vào cõi lòng người đọc. Ta vốn biết đây chẳng phải là cảnh vật do chính tác giả tận mắt trông thấy mà chỉ được điểm xuyết từ những hồi ức trong trí nhớ. Hẳn là tình yêu dành cho xứ Vĩ ấy phải lớn lao đến nhường nào mới có thể khiến những kí ức mờ nhòa trở nên sống động, chân thực đến kì lạ. Hàn Mặc Tử đã phủi đi lớp bụi mờ của thời gian, đem vẻ đẹp từ quá khứ của thôn Vĩ Dạ vượt qua những đớn đau của thể xác, thương tổn của tinh thần để đến thực tại. Chính bởi vậy, người đọc cảm nhận cảnh sắc không chỉ qua thị giác mà còn qua những xúc cảm, rung động của trái tim.

    Phải chăng, ngày Hàn Mặc Tử từng đến thăm “quê” trong tiềm thức là một buổi sớm đẹp đến nao lòng? Hay vì thôn Vĩ trong ông quá đẹp đẽ, đến mức nếu hồi tưởng lại không phải là trong một buổi sớm tinh sương thì chẳng có thời khắc nào hơn thế nữa? Có lẽ là cả hai! Trong cùng một câu thơ, chữ “nắng” được lặp lại đến hai lần. Ánh nắng ấy rực rỡ đến độ đong đầy không gian, vương trên vạn vật, chảy tràn sánh vàng tựa mật. Ánh nắng ấy cũng ấm áp đến độ sưởi ấm, thắp lên chút ánh sáng nơi cõi lòng lạnh lẽo của nhà thơ.

    Giữa không gian đầy nắng ấy, thẳng tắp vươn lên những thân cau như nét bút muốn khuấy động cả khoảng trời trong trẻo, lắng nghe tiếng chuông chùa Diệu Đế, Thiên Mụ. Miền Trung đầy nắng và gió có hàng cau là điểm nhìn thân thuộc. Trong khu vườn thôn dã, cau là loài cây cao nhất, đón nắng đầu tiên. Bởi vậy, thứ “nắng hàng cau” là thứ nắng trong trẻo nhất, thanh tân nhất, thuần khiết nhất. Cây cau chia đốt thẳng, giống như thước đo tự nhiên cân đong mực nắng trong vườn. Nắng trong tâm tưởng Hàn Mặc Tử là thứ chất lỏng sánh ngọt lành của mẹ thiên nhiên rót đầy vườn, mặt trời càng lên cao, mực chất lỏng ấy càng dâng lên cho đến lúc phủ qua tán cau, cũng là bao trùm cả khu vườn bằng thứ sắc màu lấp lánh của nó.

    Các nhà thơ khác trong phong trào Thơ Mới thường miêu tả cảnh vật với vẻ đẹp rượi buồn:

    “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”

    (“Tràng giang” – Huy Cận)

    Hay:

    “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

    (“Đây mùa thu tới” – Xuân Diệu)

    Với Hàn Mặc Tử, dù trong rất nhiều bài thơ khác đã bày tỏ một nỗi đau nghẹn ứ, đau thấu tâm can, ấy vậy mà với thôn Vĩ, ông vẫn để ngòi bút tuôn trào trong cảm hứng tươi sáng nhất, đầy sức sống. Đại từ phiếm chỉ “ai” khiến cho câu thơ thêm phần ý vị, mang âm hưởng của điệu Nam Ai, Nam Bình, của điệu hò trên sông Hương. “Vườn ai” không chỉ riêng một khu vườn cụ thể nào mà tựa như theo từng nhịp bước chân của người phiêu lãng, theo dấu cuộc hành trình trong tâm tưởng, hai bên đường đều là những mảnh vườn như thế.

    Đắm chìm trong sắc xanh của cây lá miệt vườn, Hàn Mặc Tử chợt nảy ra một sáng tạo nghệ thuật độc đáo: “mướt quá”. “Mướt” là trạng thái mỡ màng, tươi tốt, căng tràn sức sống, ánh lên sắc xanh ngọc bích dưới nắng hồng của bình minh. Hẳn khu vườn phải được chăm sóc hết sức tỉ mỉ, cẩn thận bởi một bàn tay khéo léo. Hay do chính nhà thơ cũng cẩn thận nâng niu, gìn giữ, ươm trồng từng phiến lá trong tâm khảm của mình nên mới có thể thoát lên thành ý thơ đẹp đẽ đến vậy!

    Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” là nét vẽ thần tình tô đậm hồn cây lá trong “vườn ai”, người đọc tưởng như có thể nghe thấy tiếng nhựa sống chuyển mình xôn xao trong tán lá, thấy hương vườn yểu điệu bước ra. Tất cả đều rạo rực, hân hoan một niềm vui tươi mới. Vẻ đẹp được sánh ngang với “ngọc” không chỉ tráng lệ mà còn quý giá vô cùng. Đến sắc xanh dân dã của cỏ hoa cũng có thể trở thành thức ảnh diệu vợi, đẹp tựa phép màu vừa lướt qua, đẹp đến độ thành hình, thành ảnh.

    Giữa màu xanh cây lá, thấp thoáng hình bóng con người:

    “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Người con gái xứ Huế thường gắn với tà áo dài tím mộng mơ, chiếc nón bài thơ “mang hình bóng quê hương”,… Nhưng trong thơ Hàn Mặc Tử, thiếu nữ ấy lại e ấp “che ngang” gương mặt sau “lá trúc”. Một nét vẽ rất đẹp họa ra vẻ dịu dàng, duyên dáng và tình tứ của thiếu nữ sông Hương. Người xưa có thanh nữ vịn cành mẫu đơn, giai nhân tựa nhành lan,… nay lại có “mặt chữ điền” ẩn hiện sau cành trúc, lá trúc.

    Cây trúc trong thi ca trung đại vốn biểu tượng cho người quân tử. Nơi mảnh vườn “xanh như ngọc” ấy lại có một người con gái nhẹ nhàng, e ấp mượn “lá trúc” “che ngang” gương mặt. Vẻ đẹp ấy thực sự giàu giá trị, vừa hồn hậu, mỏng manh, dịu dàng, lại vừa cứng cáp, tràn đầy sức sống, dẻo dai, bền bỉ, mang cốt cách của tao nhân nghìn xưa.

    Khổ 1 của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã kết tinh nhiều giá trị nghệ thuật độc đáo. Thể thơ thất ngôn vừa cổ điển, trang trọng lại vừa chân phương, dạt dào xúc cảm. Hình ảnh thơ tuy chỉ là những kí ức mờ nhòa và qua tấm bưu ảnh nhưng lại hết sức sống động, đẹp đẽ. Ngôn ngữ thơ giản dị mà chọn lọc, hàm súc. Đặc biệt, nhà thơ đã thổi hồn vào cảnh vật, để chúng thay mình giãi bày tâm trạng. Tình và cảnh, cảnh và tình đan xen nhau tạo nên cấu tứ rất riêng, rất “Hàn Mặc Tử”, thể hiện một tình yêu đến đau đớn với cuộc đời trần thế. Từ nơi đầy rẫy đau thương, thi sĩ vẫn dành những gì đẹp đẽ nhất, trong lành nhất để gửi đến xứ Huế yêu thương, gửi đến người con gái ông từng khao khát trao tấm chân tình.

    Theo dấu những vần thơ của Hàn Mặc Tử, người đọc như lạc trong cuộc hành trình từ thực tại đến mơ ảo, “vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh…” (Hoài Thanh). Dù thời gian đã trôi qua rất lâu song bài thơ ” Đây thôn Vĩ Dạ ” vẫn để lại ấn tượng trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc. Bài thơ là một trong số những tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ thi sĩ họ Hàn, một tâm hồn nhạy cảm với đời, với tình yêu, cuộc sống.

    (Trịnh Minh Anh, Lớp 12A1 – THPT Mạc Đĩnh Chi, Hải Phòng)

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ mẫu số 5:

    Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút xuất sắc có đóng góp không nhỏ trong phong trào Thơ mới nói riêng và thành tựu thơ ca Việt Nam nói chung, ông còn được nhớ đến là “thi nhân của những mối tình” “khuấy” mãi không thành khối. Với “Đây thôn Vĩ Dạ” ông đã chạm khắc vào tâm khảm muôn triệu trái tim một vần thơ tình yêu đơn phương, thơ mộng mà huyền ảo ở xứ Huế mộng mơ.

    Thôn Vĩ Dạ được biết đến như sông Hương, núi Ngự… của xứ Huế. Bởi vậy, không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân… đều nảy sinh cảm hứng về xứ sở này. Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một thời gian và không gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ đều gắn với thiên nhiên và con người thôn Vĩ với những kỉ niệm khó phai mờ.

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

    Đây là lời trách yêu, một sự dỗi hờn thể hiện nỗi ngóng trông da diết của cô gái ở thôn Vĩ. Là lời nói dịu dàng chứa đầy yêu thương ấy chính đã gây xôn xao, đã trở thành giai điệu và phát ra lời nói.

    Ở câu thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhanh chóng có mặt ở không gian Vĩ Dạ. Đây là một cuộc hành trình trong tâm thức nhà thơ:

    “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

    Cái nắng được miêu tả “nhìn nắng hàng cau” song hành với một cái nắng tinh khôi mới mẻ khiến nhà thơ phải reo lên như con trẻ “nắng mới lên”; “nắng” được thắp trên những hàng cau. Du khách thấy được nắng hàng cau và càng đến gần khu vườn càng thấy màu xanh ngọc của là cây. Đôi mắt thi nhân đang ở trên khu vườn thôn Vĩ, như đang muốn xé toạc vòm trời đen để nhìn thấy bình minh nắng mới diệu kì thắp lên từ thôn Vĩ Dạ. Nơi có người mình thương nhớ như là một nơi ẩn chứa phép màu cổ tích.

    “Vườn ai mướt qua xanh như ngọc”

    Đã “vườn ai mướt quá” lại còn phát hiện ra cái “mướt quá” ấy còn “xanh như ngọc”. Tất cả đều non tơ và xanh như ngọc cho ta cảm nhận không chỉ bằng thị giác mà còn cảm nhận được thanh âm của những chiếc lá ngọc. Vì “vườn ai” có phải chính là vườn em, là ta thấy khuôn mặt của em trong khu vườn ấy. Đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta bắt gặp nhiều hình tượng, một thế giới vừa thực vừa ảo. Bởi thế, thật khó tin nhưng Hàn Mặc Tử đã gặp lại chính mình với gương mặt chữ điền thời còn là chàng trai trên đất Huế.

    “Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

    Thi sĩ của trăng muốn yêu một tình yêu trong trắng, một tình yêu đắm say thì phải trở lại là con người của ngày hôm qua, con người trong quá khứ, hẳn phải là nhà thơ đa tình phong lưu thời còn làm bạn với Huế. Phải chăng Hàn Mặc Tử đang muốn quên mình trong hiện thực phũ phàng để đươc yêu thêm lần nữa, yêu nhiều hơn nữa?

    Lá trúc phải chăng đang ngăn cách tình người? Làm “Gió theo lối gió, mây đường mây”, tạo nên “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” đưa đến tâm trạng hy vọng mong manh mà thất vọng tràn trề: “Có chở trăng về kịp tối nay” và kết lại trong lời trách móc:

    “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?”

    Hàn Mặc Tử đã khắc họa bức tranh vườn quê thôn Vĩ qua nỗi lòng nuối tiếc bâng khuâng về một mối tình dở dang rồi chạm vào tâm khảo lớp lớp thế hệ Việt Nam trong một tâm trạng nhớ thương. Với 4 câu thơ trong khổ thơ đầu, cảnh nói lên tình, tình buồn thấm sâu vào cảnh vật, và nếu đặt khổ thơ trong cảm hứng chung của cả ta mới cảm nhận được đúng tình và ý thi nhân.

    Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ mẫu số 6:

    “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như ngôi sao chổi với cái đuôi chói lòa rực rỡ”. Trong làng thơ mới, Hàn Mặc Tử là thi sĩ có diện mạo thơ vô cùng phức tạp và bí ẩn. Thơ Hàn có sự đan xen cả những gì thân thuộc, thanh khiết nhất, cả những gì ghê rợn, ma quái, cuồng loạn nhất… Trong thế giới đó, trăng, hoa, nhạc, hương hòa lẫn với linh hồn, yêu ma. Đằng sau diện mạo thơ hết sức phức tạp ấy, ta thấy hằn lên tình yêu mãnh liệt đến đau đớn hướng về cuộc đời. In trong tập ” Thơ Điên“, “Đây thôn Vĩ Dạ” là những vần thơ tinh khôi trong trẻo trong gia tài Hàn Mặc Tử mà vẫn ẩn chứa tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời như thế.

    Đây Thôn Vĩ Dạ ” bắt đầu câu hỏi khá đặc biệt: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Mới đọc, ta ngỡ đây là lời hỏi của Hoàng Cúc hay một cô gái Huế nào đó. Nhưng trong bức thư gửi Hàn Mặc Tử, ta không thấy Cúc hỏi như vậy. Vậy đây là lời tự hỏi lòng mình của Hàn Mặt Tử hay nhà thơ đang tưởng tượng ra một lời hỏi như thế? Dù hiểu theo cách nào thì đây cũng là lời hỏi vọng lên từ trái tim của thi sĩ và chất chứa biết bao nhiêu nỗi niềm. Một nỗi nhớ nhung, da diết, một niềm khát khao trở về khắc khoải, một nỗi tiếc nuối đến ngậm ngùi, xót xa. Chữ “về” được nhà thơ dùng khá tinh tế. Nhờ chữ ấy mà ta biết, với Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ là nơi chốn thân thuộc, yêu thương gắn bó biết mấy nhưng chớ chêu thay, càng thân thương bao nhiêu thì nỗi nhớ nhung khát khao càng khắc khoải bấy nhiêu.

    Sau lời tự hỏi lòng mình rất tự nhiên, những kí ức về vườn Vĩ Dạ bỗng thức dậy, ùa về trong tâm tưởng của thi sĩ. Vườn Vĩ Dạ vốn đẹp và rất thơ, qua lăng kính của một tình yêu say đắm và tuyệt vọng, vườn Vĩ Dạ càng lộng lẫy hơn, phút chốc trở thành nơi nên thơ đầy quyến rũ: “Nhìn nắng hàng cao, nắng mới lên”. Vĩ Dạ là xứ sở của cau, những hàng cau thẳng tắp, cao vút vươn mình lên đón nắng ban mai là một nét đẹp làm đắm say bao du khách đến đây. Từng có một thời gian gắn bó với thôn Vĩ, nhớ về Vĩ Dạ ngay lập tức, những ấn tượng về nắng hàng cao nắng mới lên bỗng ùa về trong trang thơ của Hàn. Hình ảnh “nắng hàng cau mới lên” gần gũi, giản dị mà hội tụ bao vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết của vườn Vĩ Dạ. Nắng mới lên là nắng ban mai, nắng của buổi bình minh dịu dàng, tinh khôi. Lại là thứ nắng đọng trên những tàu cau xanh mướt đẫm sương đêm nên lại càng thêm lung linh, rạng ngời hơn. Hương nắng mới quyện với hương cau thoang thoảng dịu ngọt, thanh cao biết mấy. Điệp từ “nắng” gợi hình và tạo nhạc. Có cảm giác từng chùm nắng xuyên qua tàu cau nhảy nhót rồi cứ dâng đầy, dâng đầy khắp mảnh vườn. Cả mảnh vườn chan hòa trong biển nắng lung linh. Từ “nắng” đứng đầu hai vế câu thơ khiến lời thơ du dương, ngân nga như một tiếng reo thầm. Có phải chăng trong khoảnh khắc này, vẻ đẹp thanh khiết lộng lẫy của Vĩ Dạ đã mê hoặc Hàn Mặc Tử khiến thi sĩ quên đi thực trạng đau thương này.

    Dưới nắng sớm, vườn Vĩ Dạ tắm trong nắng sớm bỗng trở thành chốn nước non thanh tú: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Tính từ “mướt” và hình ảnh so sánh xanh như ngọc đã cộng hưởng tạo nên vẻ đẹp đầy sức lôi cuốn của vườn Vĩ Dạ. Một màu xanh mượt mà, non tơ, óng mả đến nuột nà phủ lên khắp khu vườn. Cả khu vườn tựa như một viên ngọc bích khổng lồ không chỉ rời rợi sắc xanh mà còn tỏa ra ánh sáng xanh non ấy. Trước vẻ đẹp tinh khôi, thanh tú ấy, thi sĩ không thể kìm nén sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, trầm trồ. Chữ “quá” trong thơ đã dồn nén cảm xúc ấy của thi sĩ. Xong đi liền với sự ngỡ ngàng trầm trồ là nỗi u hoài xót xa. Từ “em” gần gũi thân thương bao nhiêu thì từ “ai” xa vời, mông lung bấy nhiêu. Vườn Vĩ Dạ đẹp lộng lẫy này tưởng như đang hiện ra trước mắt, đang nằm trong tầm tay mà hóa ra lại xa vời vô cùng. Nõ đã thuộc về ai đó, đã thuộc về thế giới ngoài kia. Nó đang tuột khỏi tầm tay mình, nhòa mờ trước mắt mình.

    Khép lại khổ thơ đầu tiên là hình ảnh thơ hàm chứa nhiều tầng nghĩa xâu xa: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Hình ảnh thơ này đã châm ngòi cho cuộc tranh luận nảy lửa của giới phê bình nghiên cứu văn học. Người ta đưa ra nhiều cách lí giải khác nhau cho câu thơ này. Tuy nhiên, đặt trong mạch cảm xúc của toàn bài, có thể hiểu câu thơ vừa gợi tả gương mặt của người thôn VĨ và người trở về thôn Vĩ. Trong quan niệm thẩm mĩ của người dân xứ Huế, mặt chữ điền là gương mặt của người phụ nữ phúc hậu, đoan trang:

    “Mặt em vuông tựa chữ điền Da em thì trắng, áo xanh mặc ngoài Lòng em có đất, có trời Có câu nhân nghĩa, có lòng thủy chung”

    Hiểu thư thế, hình ảnh lá trúc che ngang mặt chữ điền gợi lên vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng, kín đáo, e ấp của người cô gái Huế. Lại có thể hiểu mặt chữ điền ở đây là gương mặt của người trở về thôn Vĩ, và người đó không ai khác chính là Hàn Mặc Tử. Có thể, Hàn Mặc Tử chợt bồi hồi nhớ lại cái ngày xa Huế, mang theo tập ” Gái quê” tìm đến nhà Hoàng Cúc ở Vĩ Dạ mà chỉ dám đứng ngoài vén cành trúc ngóng vọng vào mà thôi. Cũng có thể thi sĩ tưởng tượng ngày được trở về thôn Vĩ nhưng cũng có khác nào kí ức xưa, chỉ dám vén cành trúc che ngang khuôn mặt mà lặng ngắm khu vườn thần tiên. Hàn Mặc Tử thường chỉ dám trở về cuộc đời một cách vụm trộm, thầm kín như vậy. Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ ẩn trong hình ảnh thơ là cả niềm yêu đời mãnh liệt của một tâm hồn trĩu nặng mặc cảm chia lìa, bị cự tuyệt.

    Với Hàn Mặc Tử, vườn Vĩ Dạ chẳng khác nào một thiên đường, một mảnh vườn địa đàng không còn thuộc về mình nữa. Trở về Vĩ Dạ bỗng trở thành một ước muốn quá tầm với, một khát khao quá tầm tay. Cảnh đẹp lộng lẫy mà tình buồn xót xa.

    -/-

    Với đề bài nêu cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử bao gồm đầy đủ cả lập dàn ý khổ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ, các em học sinh cần tìm hiểu kĩ càng để từ đó có thể xây dựng cho mình một bài văn cảm nhận chân thực và giàu ý nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ 1 Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận.
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Hai Bài Tràng Giang
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Tràng Giang
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào
  • 2. Tóm tắt nội dung bài học

      Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của tác giả Hàn Mặc Tử là bức tranh toàn bích về cảnh vật và con người. Qua đó, ta thấy được tình yêu đời, yêu người, niềm ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khuất của nhà thơ.

    2.2. Nghệ thuật

    • Hình ảnh thơ độc đáo, đẹp, gợi cảm, sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ác
    • Ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng; âm điệu, nhịp điệu tinh tế, thiết tha
    • Nghệ thuật liên tưởng so sánh, nhân hóa
    • Câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ

    3. Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ chương trình chuẩn

    Câu 1: Phân tích nét đẹp của phong cảnh Thôn Vĩ và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu.

      Nét đẹp của phong cảnh thôn Vĩ và tâm trạng của tác giả trong khổ thơ đầu:

        Nét đẹp của phong cảnh Thôn Vĩ hiện lên với:

        • “Nắng hàng cau nắng mới lên”:

          • Nắng tinh khôi (nắng mới lên)
          • Điệp từ “nắng” nhấn mạnh đặc điểm của nắng miền trung, dường như đã đầy mà còn nhiều hơn nữa.
          • Câu thơ diễn tả ánh nắng tinh khôi trong trẻo, mới lên đậu trên những hàng cau, và cũng có thể làm người đọc liên tưởng những hàng cau thẳng tắp kia giống như những cây thước giữa thôn Vĩ đang đo sự trong trẻo, tinh khôi củng từng tia nắng. Có lẽ, hàng cau đang vươn mình đón ánh nắng ban mai, ánh nắng ngập tràn buổi sớm nơi đây.
        • “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

          • Khu vườn thôn Vĩ hiện lên với vẻ non tơ mơn mởn được tác giả liên tưởng so sánh qua cụm từ “xanh như ngọc” và tính từ “mướt quá”
            • Xanh như ngọc: Màu xanh của sự trong trẻo, mượt mà, tinh khôi
            • Mướt quá: Tính từ chỉ mức độ → diễn tả sự non tơ, mơn mởn, xanh tươi và cũng là bộc lộ cảm xúc, tiếng reo ngỡ ngàng của nhân vật trữ tình
          • Câu thơ diễn tả sự xanh tươi, xuân sắc của khu vườn thôn Vĩ vô cùng trong trẻo, bình dị và tràn đầy sự sống
        • Hình ảnh con người qua câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
          • Con người hiện lên với nét đẹp đôn hậu, dịu dàng của con người Huế “che ngang”
          • “mặt chữ điền” nét đẹp tượng trưng chi sự phúc hậu, của con người Huế

    → Phong cảnh xứ Huế hiện lên với những nét đẹp hài hòa giữa cảnh và người.

      Tâm trạng của tác giả: Có chút bâng khuâng, nuối tiếc, trách móc, hờn dỗi, khao khát, thiết tha. Điều này thể hiện rõ qua câu thơ đầu của khổ thơ đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

      • Câu hỏi tu từ được tác giả tự phân thân đã thể hiện rõ nỗi lòng của tác giả
        • Lời mời gọi tha thiết, ướm hỏi về với thôn Vĩ, về với cảnh cũ người xưa
        • Lời trách móc, dỗi hờn để nhắc nhở sự chờ đợi của người thôn Vĩ, cảnh thôn Vĩ.
        • Lời tác giả tự hỏi bản thân mình, tự vấn bản thân để rồi tìm về với dòng hồi niệm về cảnh và con người Huế
      • Sau câu hỏi tu từ thể hiện tâm trạng có chút thiết tha, chút luyến tiếc, chút trạc móc ấy là khao khát của tác giả, là tâm hồn ao ước vê với cảnh cũ người xưa, về về với cuộc đời. Bởi vậy, cho nên, sau câu hỏi tu từ, ba câu thơ còn lại của khổ thơ đầu đã tái hiện cảnh và người thôn Vĩ trong tâm tưởng của tác giả một cách chân thực và sinh động.

    Câu 2: Hình ảnh gió, mây, trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm xúc gì?

      Hình ảnh gió, mây, trăng trong khổ thơ thứ hai gợi cảm xúc: Sự chia lìa tan tác cho đến sự hoài nghi, khắc khoải trước cuộc đời.

      • “Gió theo lói gió”, “Mây đường mây” → đi ngược lại với quy luật của thiên nhiên: chia lìa, phân li.
      • Dòng nước: buồn thiu → Dòng sông lặng lờ như bất động, không muốn chảy như đánh mất đi sự sống của mình.
      • Hoa bắp lay: sự lay động khẽ khàng.
      • Sông trăng, con thuyền: lung linh, kì ảo.
      • Bút pháp tượng trưng thể hiện sự khát khao hạnh phúc.
      • Câu hỏi: thể hiện sự mong ngóng, hi vọng và cả nỗi đau thương, tuyệt vọng.

    → Câu thơ đẹp, gợi cảm. Gợi cảm giác bâng khuâng, chời đợi, xót xa, có chút hoài nghi trước cuộc đời (câu hỏi tu từ + từ “kịp”)

    Câu 3: Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như thế nào? Chút hoài nghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời không? Vì sao?

    • Ở khổ thơ thứ ba, nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình:
        Thiết tha hướng về người thôn Vĩ nhưng cảm thấy xa vời, khó tiếp cận.

        • Điệp ngữ “khách đường xa” (Huế và Quy Nhơn không quá xa về không gian địa lí. Đây là không gian tâm trạng. Đối với Hàn Mặc Tử, Huế và Quy Nhơn là hai thế giới cách biệt).
        • Các từ: Xa, trắng quá, sương khó, mờ, ảnh … càng tăng cảm giác khó nắm bắt.
    • Chút hoài nghi trong câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời. Vì
        Chính bởi trong hoàn cảnh của tác giả bấy giờ, ta mới thấy được phải có một tấm lòng tha thiết, quý mến cuộc sống biết bao, tác giả mới suy tư, trăn trở về cuộc đời, tình đời, tình người. Tác giả mới khao khát người đời hiểu tấm lòng của tác giả dành cho cuộc đời, cũng như mong mỏi sự chờ đợi, hi vọng tình đời, tình người không như mây khói ảo ảnh.

    Câu 4: Có gì đáng chú ý trong tứ thơ và bút pháp của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ?

    • Đáng chú ý trong tứ thơ và bút pháp bài thơ:
        Tứ thơ:

        • Toàn bài thơ là một khối thống nhất có sự liên kết về lôgíc nội tại của tâm trạng thi nhân, nhưng giữa ba khổ thơ lại có sự “nhảy cóc” về ý thơ, tứ thơ: từ cảnh vườn quê thôn Vĩ (khổ 1) đến cảnh sông trăng và thuyền trăng (khổ 2) đến cảnh “áo em trắng quá nhìn không ra” (khổ 3) ngỡ như không có liên hệ gì với nhau cả.
    • Bút pháp:
        Bút pháp của Hàn Mặc Tử trong bài thơ là bút pháp trữ tình thiên về gợi tả và giàu liên tưởng với những hình ảnh biếu hiện nội tâm nhằm bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Bài thơ có sự hoà điệu tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình. Cho nên, cảnh đẹp xứ Huế đậm nét tả thực mà lại có tính chất tượng trưng. Sự mơ mộng làm tăng thêm sắc thái lãng mạn. Nét chân thực của cảm xúc làm đậm thêm chất trữ tình.

    4. Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ chương trình Nâng cao

    Câu 1: Bài thơ có ba khổ, mỗi khổ ngiêng về một cảnh sắc, một tâm tình. Hãy nêu nhận xét về sắc thái khác nhau ở mỗi khổ thơ và mạch liên kết giữa các khổ.

      Cảnh sắc, tâm tình được thể hiện trong mỗi khổ thơ có một sắc thái riêng. Trong khổ đầu, cảnh hiện lên tươi trong, sắc nét, gieo vào lòng người một cảm xúc nhẹ nhàng, hân hoan. Sang khổ hai, cảnh trở nên bất định, mơ hồ, được bao bọc trong một thứ ánh trăng mơ màng, da diết, biểu hiện nỗi khắc khoải, bất an của một cõi lòng tràn đầy dự cảm về sự chia lìa. Ở khổ cuối, hư thực dường như không còn phân biệt được, khoảng cách dù tương đối giữa ngoại cảnh và nội tâm bị xoá đi và người đọc tưởng như nghe được những tiếng nói trái ngược nhau của một nội tâm đầy bi kịch.

    Câu 2: Mỗi khổ thơ trong bài đều chứa đựng câu hỏi. Các câu hỏi ấy đã góp phần tạo nên âm điệu riêng của bài thơ. Âm điệu ấy đã thể hiện mạch tâm trạng gì của tác giả?

      Mỗi khổ thơ trong bài chứa đựng một câu hỏi. Những câu hỏi này đã giúp độc giả nhận ra được tiếng nói trữ tình sâu thẳm của bài thơ. Với câu hỏi đầu tiên vốn có dáng dấp của một lời tự nhắc (“Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?”), ta nghe được niềm xốn xang trong lòng nhân vật trữ tình khi kỉ niệm về Huế, về thôn Vĩ được đánh thức một cách đột ngột. Câu hỏi thứ hai (“Có chở trăng về kịp tối nay ?”) cho thấy nhân vật trữ tình đang dần chìm sâu vào mặc cảm về thân phận và tự thấy mình là kẻ “chậm chân”, “lỡ chuyến” giữa cuộc đời. Câu hỏi xuất hiện cuối bài (“Ai biết tình ai có đậm đà ?”) chứa đựng một chút hoài nghi, một chút trách móc, vừa thoáng vẻ cam chịu vừa nhói lên khát vọng sống khôn cùng.

    Câu 3: Hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” thật giản dị, cũng thật giàu sức gợi. Hãy dùng những hiểu biết và trí tưởng tượng của mình để cảm nhận và tái tạo vẻ đẹp của hình ảnh ấy.

      Khổ thơ đầu giống như một bức tranh tuyệt đẹp về vườn thôn Vĩ. Gây ấn tượng trước hết là hình ảnh hàng cau thẳng vút đang vươn lên để đón nhận những tia nắng đầu tiên, tinh khiết của buổi mai. Tiếp theo, cả khu vườn ửng rạng lên trong một thứ ánh sáng huyền ảo như ngọc. Sau nhành lá trúc, ta thấy thấp thoáng một khuôn mặt chữ điền bình dị, gợi cảm xúc thân thụộc, đầm ấm. Đằng sau lời thơ tả cái mướt của cây lá đẫm sương đêm, ta nghe được một tiếng reo trầm trồ, ngỡ ngàng, thán phục,… Tuy nhiên, bức tranh này cũng đậm màu sắc tượng trưng. Vườn thôn Vĩ thực chất cũng là “vườn mơ ước”, cõi mơ ước của tác giả.

    Câu 4: Anh (chị) có cảm nhận gì về ý nghĩa của hai câu thơ: “Gió theo lối gió mây đường mây – Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”?

      Xét theo lô gích thông thường, hai câu thơ đầu của khổ hai thật vô lí vì nó diễn tả một điều không xảy ra trong thực tế : gió và mây mỗi thứ đi mỗi đường chứ không phải là gió thổi mây bay, mây cuốn theo chiều gió. Thêm nữa, từ buồn thiu cũng như muốn thông báo về một cái gì khác hơn việc vẽ cảnh dòng nước trôi chậm quạnh hiu. Đặt vào mạch cảm xúc của bài thơ, ta hiểu hai câu này còn muốn gợi lên tình trạng phân rẽ, chia lìa trong cuộc đời, trong tình yêu và tình trạng đó đem lại cho nhân vật trữ tình một nỗi buồn lạ lùng, thảm đạm, không có cách gì làm tan loãng được.

    Câu 5: Khổ thơ thứ hai có hai câu: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay?”. Chữ “kịp” gợi lên điều gì về mối tâm tư đầy uẩn khúc của tác giả? Câu 6: Câu thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” có chút hoài nghi. Theo anh (chị), đó là nỗi hoài nghi của sự chán đời hay của niềm tha thiết với cuộc đời? Tại sao?

      Đúng là từ kịp ờ câu “Có chở trăng về kịp tối nay?” mang thông điệp về một số phận, cho dù tác giả có thể không hoàn toàn ý thức được điều này. Nhìn bề ngoài, câu thơ khá “tối nghĩa”, tuy vậy, nó đã biểu đạt được một cách thật “sáng rõ” cảm giác lo âu, bồn chồn, phấp phỏng, nghi ngờ,… đang dấy lên trong lòng nhân vật trữ tình – thứ cảm giác thường đến “làm bạn” với những con người có số phận không may mắn hoặc đau khổ.

    • Hình ảnh “Áo em trắng quá nhìn không ra” là một hình ảnh thơ đa nghĩa, gợi nhiều cách lí giải khác nhau. Thực ra, đây không hoàn toàn là một hình ảnh. Đúng hơn, đây là một cảm giác, cảm nhận. Qua nó, dường như nhân vật trữ tình tự thú sự bất lực trong việc thu hẹp khoảng cách giữa mình với những cái gì mơ ước (cũng có thể cái mơ ước đó là cái vốn thân thuộc nhưng bây giờ đã tuột ra khỏi tầm tay). Màu áo trắng kì lạ có thể hiểu là biểu tượng của một cái gì thực sự hiện hữu nhưng lại không thể tri giác được và có sức ám ảnh vô cùng lớn đối với thi nhân.
    • Lòng yêu đời không phải bao giờ cũng được diễn đạt theo chiều thuận. Đọc khổ thơ sau cùng ta có thể thấy rõ điều này. Câu hỏi cuối có thoáng qua một ý trách móc, nghi ngờ, giận dỗi (tất nhiên, không phải là sự trách móc, nghi ngờ, giận dỗi đối vói một cá nhân cụ thể nào). Tất cả các cung bậc tình cảm đã nêu không hề nói lên sự lụi tắt của niềm hi vọng. Ngược lại, nó giúp ta nhận ra bản năng sống mạnh mẽ của nhân vật trữ tình – một con người dù lâm vào tình thế bi đát vẫn không thôi tra vấn, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời.

    5. Hướng dẫn luyện tập

    Câu 1: Những câu hỏi trong bài thơ hướng tới ai và có tác dụng gì trong việc biểu hiện tâm trạng của tác giả Hàn Mặc Tử?

    Câu 1:

    Câu 2: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ gợi cho anh (chị) cảm nghĩ gì?

    Câu 3*: Đây là bài thơ về tình yêu hay tình quê? Vì sao bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ diễn tả tâm trạng riêng của nhà thơ Hàn Mặc Tử lại tạo được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn các thế hệ bạn đọc.

    • Ba câu hỏi trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ không phải là những câu hỏi vấn đáp. Hỏi đề bày tỏ tâm trạng. Các câu hỏi xuất hiện ở cả ba khổ thơ kết nối cảm xúc toàn bài thơ. Cụ thể:
      • Khổ 1: Câu hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”.
      • Khổ 2: Câu hỏi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó – Có chở trăng về kịp tối nay?”
      • Khổ 3. Câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?”
    • Những câu hỏi trên đều không hướng tới một đối tượng nào cụ thể, vì không phải là những câu hỏi kiểu vấn đáp mà chỉ là những hình thức tỏ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.
    • Mạch lô-gic của tâm trạng, cảm xúc của tác giả song hành cùng ba câu hỏi trên, ta thấy bao tâm sự với cuộc đời, với con người đều được tác giả ít nhiều thể hiện qua các câu hỏi tu từ trong khổ thơ.

    Câu 2: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ gợi suy nghĩ:

    • Nội dung bài thơ thể hiện nỗi buồn, niềm khao khát của một con người tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên, yêu con người.
    • Trên thực tế bài thơ được tác giả sáng tác trong một hoàn cảnh thật tối tăm, tuyệt vọng (bệnh tật giày vò, nỗi ám ảnh về cái chết, về sự xa lánh của người đời).

    → Thương xót và cảm thông với số phận của tác giả, thêm cảm phục một con người đầy tài năng và nghị lực, con người ấy đã dùng cảm xúc của một trái tim kihao khát tình đời, yêu cuộc sống và ham sống biết bao để rồi làm rung động trái tim bao bạn đọc qua bài thơ.

    Câu 3: Nếu phải nói bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chỉ có tình quê thì không đúng, và nếu phải nói bài thơ chỉ có tình yêu thì chưa mấy chính xác, bởi:

    • Bài thơ này làm hiện lên những vẻ đẹp về cảnh và người xứ Huế qua đó cho thấy được tình yêu thiết tha, đằm thắm của tác giả đối với quê hương đất nước.
    • Ẩn trong lớp câu ngữ, bài thơ còn thể hiện tình cảm của Hàn Mặc Tử hướng về người thôn Vĩ: nhớ mong, khắc khoải, hoài nghi, vô vọng.
    • Như vậy, qua cảnh ta hiểu được tâm tình con người, qua tình quê ta hiểu được tình đời mà nhân vật trữ tình đã thể hiện. Hay chính tình yêu cuộc đời, niềm ham sống được biểu hiện, minh chứng từ những cảm xúc tình cảm trước bức tranh quê thôn Vĩ. Từ đó, ta thấy rõ sự tiếc nuối, nỗi đau và cả sự bất lực của nhà thơ trước một mối tình xa xăm, vô vọng; nhưng vẫn hiện rõ một tấm lòng tha thiết yêu đời, yêu người.

    6. Một số bài văn mẫu về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    7. Hỏi đáp về văn bản bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

    • Phân tích bài Đây thôn Vĩ Dạ

      Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mạc Tử

    • Hướng dẫn soạn Đây thôn vĩ dạ

      Hướng dẫn soạn bài thơ ” Đây thôn vĩ dạ” của Hàn Mạc Tử

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích 2 Khổ Thơ Đầu Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Viết Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Viết Một Đoạn Văn Chủ Đề Quê Hương Có Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ
  • Bài Thơ: Từ Ấy (Tố Hữu
  • Tìm Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Từ Ấy Trong Tôi Bừng Nắng Hạ…
  • Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Thế Giới Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • 2 Bài Văn Mẫu Bình Giảng Khổ Hai Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Phân Tích Đoạn Trích “chí Khí Anh Hùng” Trong “truyện Kiều” Của Nguyễn Du
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích ” Truyện Kiều”
  • Tài liệu hướng dẫn làm văn cảm nhận khổ thơ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ gồm gợi ý cách làm, lập dàn ý chi tiết cùng tuyển tập top 3 bài văn hay phân tích, cảm nhận về nội dung khổ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử).

    Cùng tham khảo ngay…

    Hướng dẫn làm bài cảm nhận khổ thơ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Cảm nhận khổ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

    “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra… Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?”

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu: nêu cảm nhận về khổ thơ cuối của bài Đây thôn Vĩ Dạ.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ thơ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

    – Phương pháp lập luận chính: phân tích, cảm nhận.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Cảm nhận về nội dung khổ cuối

    Luận điểm 2: Cảm nhận về giá trị nghệ thuật của khổ thơ.

    a) Mở bài

    – Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm:

    + Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là một nhà thơ gặp nhiều bi thương trong cuộc sống nhưng hồn thơ của ông lại luôn dồi dào nguồn cảm hứng sáng tạo.

    + Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp và thơ mộng về thôn Vĩ Dạ, thể hiện nỗi buồn cô đơn của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng. Qua đó thể hiện tấm lòng thiết tha của nhà thơ với thiên nhiên, cuộc sống và con người.

    – Giới thiệu khổ thơ cuối: là sự bộc lộ những tâm trạng và sự hoài nghi của nhân vật trữ tình, nhưng nổi bật lên là niềm khát khao được sống, được giao hòa cùng với thiên nhiên và con người ở xứ Huế.

    b) Thân bài * Cảm nhận về nội dung khổ thơ cuối

    – Tâm trạng nhà thơ đầy mộng ảo:

    – Tâm trạng hoài nghi, suy tư về cuộc đời và tình người:

    + Đại từ phiếm chỉ “ai” càng làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương đối với con người và cuộc đời.

    * Cảm nhận về giá trị nghệ thuật

    – Hình ảnh “khách đường xa” gợi lên nỗi nhớ và khát khao được gặp lại người xưa, chốn cũ của nhân vật trữ tình.

    – Điệp ngữ (khách đường xa, ai): sự chìm đắm trong vô thức với khát vọng được gặp lại cố nhân (khách đường xa), sự ngậm ngùi tiếc nuối (ai).

    – Điệp ngữ “khách đường xa” được lặp lại hai lần như chứa đựng hai tâm trạng, hai cung bậc cảm xúc khác nhau. Đó là khát vọng: mơ về khách đường xa, mơ được gặp lại người xa, cảnh cũ (mơ khách đường xa); là thực tại: sự vô vọng khi có quá nhiều khát vọng, mơ ước không thể trở thành hiện tại (khách đường xa).

    – Đại từ phiếm chỉ (ai), đại từ (đây): làm bật lên cảm giác của sự vô định và hoài nghi của nhân vật trữ tình.

    – “Ở đây” nhằm chỉ về không gian hiện thực nơi xứ Huế hay là không gian tâm tưởng, không gian nơi tác giả đang đắm chìm trong đau thương, tuyệt vọng.

    – Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” : để hỏi người mà cũng để hỏi mình, vừa gần gũi nhưng cũng xa xôi, vừa hoài nghi nhưng cũng giận hờn, trách móc.

    – Từ “nhân ảnh” : từ Hán – Việt duy nhất được tác giả sử dụng trong bài, có sự dự cảm về chính cuộc đời của tác giả.

    – Nhịp thơ 4/3 ( Mơ khách đường xa khách đường xa) tạo ra sự khác biệt với luật thơ của những câu thơ thất ngôn.

    – Ngôn từ trong sáng, giản dị, giàu sức tạo hình và có sức biểu cảm tinh tế.

    – Nghệ thuật cực tả (sắc trắng) : tạo nên vẻ đẹp thanh khiết, trinh nguyên của nhân vật “em” nhưng đồng thời cũng làm bật lên sự bất lực về thị giác, bất lực về tâm hồn của một trái tim khi phải xa cách cuộc sống thực ngoài kia.

    c) Kết bài

    – Khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật của khổ thơ cuối bài:

    + Giá trị nội dung: nỗi lòng hướng về xứ Huế sau bao nhiêu năm xa cách trong sự mờ nhòa giữa hiện thực và mộng ảo của nhân vật trữ tình.

    + Giá trị nghệ thuật: sử dụng những biện pháp tu từ hiệu quả làm toát lên được những cung bậc, tâm trạng của nhân vật trữ tình.

    – Gợi mở vấn đề.

    4. Sơ đồ tư duy cảm nhận khổ thơ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ

    Với dàn ý chung về đề bài cảm nhận khổ cuối bài Đây thôn Vĩ Dạ, các em học sinh đã có thể thử hình dung được những ý chính trong bài. Ngoài ra, Đọc tài liệu cũng tổng hợp những bài văn mẫu cảm nhận khổ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất cho các em tham khảo về cấu tứ và ngôn từ trong cách hành văn cảm nhận. “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra.”

    Top 3 bài văn hay cảm nhận khổ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Cảm nhận khổ cuối Đây thôn Vĩ Dạ bài số 1:

    Hàn Mặc Tử một trong ba nhà thơ đỉnh cao của phong trào thơ mới, là nhà thơ tài hoa nhưng bạc mệnh. Các tác phẩm của ông đều được sáng tác với một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại trong đau đớn, luôn có sự giằng xé giữa tâm hồn và thể xác. Đặc biệt bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ đầy tâm trạng của ông giằng cho người mình yêu. Khổ thơ cuối bài là dòng tâm trạng mơ hồ, kì ảo.

    Từ giọng khắc khoải da diết ở khổ 2 thì sang khổ 3 đã chuyển thành giọng gấp gáp, khấn khoản, niềm khao khát được gắn liền với hình bóng cụ thể:

    “Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra.”

    Hình bóng cụ thể lúc đầu là khách đường xa, lúc sau là em với tà áo trắng tinh khôi. Hình tượng giai nhân từ khách đường xa mà dần dần thành em với giấc mộng dài say đắm. Khách đã xa vời mà giờ đây khách đường xa lại càng xa xôi diệu vời mà gắn với nó là “mơ” lại càng hư ảo. Có phải những hình bóng ấy dù đẹp nhưng nó vẫn thuộc về thế giới ngoài kia của quá khứ và với thi sĩ nó chỉ hiện hữu bằng một giấc mơ dài. Hàn Mặc Tử với mong muốn gặp được khách, gặp được giai nhân nhưng mong muốn ấy của ông sẽ không trở thành hiện thực bởi chỉ trong mơ ông mới dám mơ ước về điều ấy.

    Ở câu thơ thứ hai thì “áo em trắng quá”. Từ “quá” chung sắc thái biểu cảm tiếng kêu phát hiện trầm trồ ngỡ ngàng về vẻ đẹp giai nhân hiện hữu. Sắc trắng hiện ra không ít hai lần: trong văn học trung đại thì đó là cái trắng tang tóc, cái màu trắng đau thương, buồn dường như nói về sự ra đi, chia tay. Còn trong văn học hiện đại thì đó là một sắc trắng mới, tràn đầy màu sắc và tươi trẻ hơn. Đó là cái trắng tinh khôi, tinh khiết. Quả thực Hàn Mặc Tử đã có một quan niệm mới mẻ, một quan niệm thẩm mĩ cách tân, hiện đại.

    Đó là sắc màu tinh khiết thánh thiện. Nó gắn với một kí ức xa xôi về người con gái gắn với sắc màu tinh khiết “nhìn không ra” cực tả sắc áo vừa gợi vẻ đẹp xa vời khó nắm bắt như thực mà lại như mơ nghĩa là có một nét vè đẹp mà nhà thơ mãi tôn thờ đang tuột dần khỏi tầm tay. Đúng lúc hình bóng giai nhân hiện về rõ nét nhất trong tâm tưởng, lung linh nhất thì lại tuyệt vọng nhất. Nhà thơ mượn giấc mơ nhưng lại nói về cái thực đang diễn ra trong tâm hồn con người.

    Nhưng đến hai câu thơ cuối:

    “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà.”

    Chủ thể trữ tình trở về với thế giới thực của mình từ thế giới ngoài kia đầy xót xa với thực tại đau thương, đầy chia lìa với sự ám ảnh của cái chết:

    “Tôi đang còn đây hay ở đâu Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu.”

    Hoặc:

    “Trời hỡi bao giờ tôi chết đi Bao giờ tôi hết được yêu vì.”

    Trong “Đây thôn Vĩ Dạ” sự trở lại của “sương khói mờ nhân ảnh”. Nó là sương khói của thực tại xứ Huế hay là sương khói của dòng thời gian khiến cho tất cả trở nên xa vời hư ảo “mờ nhân ảnh”. Cau hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?” đã kết lại bài thơ một cách đầy khắc khoải. “Ai” động từ phiếm chỉ vang lên khiến câu thơ xa vắng có chút hụt hẫng có thể là tác giả hay người con gái. Chỉ biết rằng nó khép bài thơ lại trong nỗi buồn mênh mang khắc khoải đầy xót xa trong khát khao khôn nguôi về tình đời, tình người.

    Câu thơ cuối có thể hiểu theo hai cách. Đó là người con gái xứ Huế có biết tình cảm của nhà thơ sâu đậm đến đâu hay nhà thơ có biết cô gái cũng có tình cảm với mình. Nhưng hiểu theo cách nào vẫn là chia sẽ thấu hiểu và được yêu thương dẫu cô đơn, đớn đau tuyệt vọng nhưng không thôi khao khát. Nhưng dù tuyệt vọng dù cô đơn đau đớn nhưng tác giả vẫn không nguôi đầy khát khao. Hàn Mặc Tử dù đang phải đối mặt với bệnh tật, trải qua những đớn đau nhưng không bao giờ ông tuyệt vọng mà luôn mong về một cuộc sống mới, khát khao được sống.

    Cảm nhận về khổ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ ta như chạm đến trái tim người đọc thấu hiểu được những ước mơ, khát vọng mà Hàn Mặc Tử muốn có dù nó rất đời thường nhưng với tác giả nó vô cùng thiêng liêng. Khổ thơ đã dạy ta cách trân trọng cuộc sống này hơn.

    Cảm nhận khổ cuối Đây thôn Vĩ Dạ bài số 3:

    Trong phong trào thơ mới, Hàn Mặc Tử là hiện tượng thơ kì lạ nhất, “một giọng thơ độc đáo không chia sẻ âm hưởng với bất kì ai”. Viết thơ để trải niềm đau trên mảnh giấy mỏng manh, đi đến tận cùng đau thương, thơ Hàn Mặc Tử thực sự là “huyết lệ” của một linh hồn trước giờ hấp hối sắp chia phôi. Tuy nhiêm, bên cạnh những vần thơ huyết lệ, Hàn Mặc Tử vẫn có những tiếng thơ tinh khôi như ánh ban mai, trong trẻo như nước suối đầu nguồn. Rút ra từ tập “Thơ điên”, “Đây thôn Vĩ Dạ” là những vần thơ tinh khôi trong trẻo trong gia tài Hàn Mặc Tử nhưng vẫn ẩn chứa tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời. Nếu khổ thơ đầu tiên diễn tả vườn Vĩ Dạ buổi ban mai, khổ thứ hai là đêm trăng xứ Huế cùng với những mặc cảm, chia lìa, xa cách thì khổ thơ thứ ba lại nói về hình bóng khách đường xa va nỗi niềm mơ tưởng của thi sĩ:

    Mơ khách đường xa, khách đường xa

    Áo em trắng quá nhìn không ra

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

    Ai biết tình ai có đậm đà?

    Bị cuộc đời tuyệt giao, nhưng Hàn Mặc Tử không bao giờ chịu tuyệt tình. Càng chia lìa, càng bị cuộc đời bỏ rơi, thi sĩ càng yêu đời thiết tha, đắm say đến đau đớn. Ao ước trở về thôn Vĩ không thành, thi sĩ lại mơ tưởng đến người thương thôn Vĩ: “Mơ khách đường xa, khách đường xa”. Thật xót xa trong giấc mơ, người thương đã thành khách đường xa. Lời gọi “khách đường xa, khách đường xa” chất chứa biết bao nhiêu mặc cảm chia li, xa cách. Nỗi cách chở chia li như nhân lên trùn trùng qua nghệ thuật điệp liên tiếp 4/3. Ta tưởng như trong giấc mộng của thi sĩ, bóng dáng người lính vừa chợt hiện lên đã mờ dần, khuất xa, mất hút. Người tình xưa như đang chạy trốn ta vậy. Câu thơ tự sự mà mang âm diệu của tiếng nấc nghẹn ngào, của lời than chới với, hụt hẫng.

    Trong giấc mơ của thi sĩ, bóng hình em hiện lên thật ám ảnh: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Áo em lẫn vào sương khói nên không nhìn thấy, không rõ? Có lẽ không phải vậy. Câu thơ chỉ là một cách cực tả sắc trắng tuyệt đối, trắng đến lạ lùng của thi sĩ mà thôi. Cực tả vốn là một thiên hướng của Hàn Mặc Tử. Hơn nữa, những nàng thơ trong cõi thơ của Hàn luôn hiện ra với vẻ đẹp lí tưởng trinh bạch, thanh khiết và vẻ đẹp ấy bao giờ cũng được biểu lộ bằng sắc áo trắng tinh khôi. Ví như vẻ đẹp thanh khiết của cô gái đồng trinh đã được cực tả bằng hình ảnh: “Chết rồi xiêm áo trắng như tinh”. Vẻ đẹp trinh bạch của người chị trong trang văn “Chơi giữa mùa trăng” cũng được thi sĩ gợi tả bằng áo trắng: “Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát và tinh khôi như pho tượng đức bà Maria. Sao đêm nay chị tôi đẹp thế này. Mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi”. Vậy, cực tả sắc trắng lạ lùng của người con gái Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử muốn gửi gắm tâm sự gì? Phải chăng đó là niềm đắm say tột bậc trước vẻ đẹp tinh khôi, trinh nguyên, thanh tiết đến tuyệt vời của người mình yêu dấu. Cùn với vườn ngọc, trăng huyền ảo, hính bóng trinh nguyên của người khách đường xa đã hợp thành thế giới ngoài kia, lộng lẫy, quyến rũ. Nhưng cũng giống như những hoài niệm về vườn Vĩ Dạ lúc hửng đông, sông nước xứ Huế đêm trăng đi liền với niềm đắm say tột bậc là nỗi đau thương đến xót xa. Câu thơ không chỉ đơn giản là lời thú nhận bất lực về thị giác mà là bất lực về tâm hồn của một trái tim phải cách xa cuộc đời ngoài kia cả nghìn thế giới, cả một tầm tuyệt vọng.

    Mơ tưởng về người thôn Vĩ, thi sĩ không sao thoát khỏi nỗi đau thương, hình ảnh người tình xa càng lộng lẫy thì khoảng cách càng đẩy xa vời vợi. Cuối cùng, thi sĩ đành ngậm ngùi mà trở về với thực tại: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. “Ở đây” là không gian nào, Vĩ Dạ mộng mơ hay trại phong lạnh lẽo, là lãnh cung chia lìa mà ngày đêm thi sĩ đang một mình chống chọi ác quái. Ở đây sương khói mịt mù, vùi lấp cả bóng người. Sương khói nào mà lại có sức phủ ghê gớm đến vậy. Đó chỉ có thể là sương khói của thời gian xa cách đằng đẵng, của không gian xa cách nghìn trùng, của mối tình đơn phương vô vọng, của mặc cảm chia lìa. Những lớp sương khói mịt mù, trùng trùng ấy đã phủ kín hình ảnh, bóng ảnh. Thành thử, thi sĩ ơ nơi này mà như không còn tồn tại nữa. Trong câu thơ như có tiếng người khổ đau của kiếp người lãng quên:

    Tôi đang ở đây hay ở đâu Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu

    Mọi thứ trên cõi đời này đều quay lưng với Hàn Mặc Tử. Chỉ có chút tình kia là sợi dây duy nhất níu buộc thi sĩ với cuộc đời. Thế mà cái tình kia cũng mong manh, xa với lắm: “Ai biết tình ai có đậm đà”. Đại từ phiếm chỉ “ai” được sử dụng linh hoạt biến hóa đem đến cho câu thơ những hàm nghĩa phong phú, thú vị. Có thể hiểu thơ là “Em có biết tình anh vẫn đậm đà”. Hiểu thư thế, câu thơ là lời khẳng định tình cảm tha thiết, sâu đậm mà thi sĩ luôn dành cho người em Vĩ Dạ. Ẩn sau lời bày tỏ tha thiết ấy là chút giận hớn trách móc. Sao em vô tâm không thấu hiểu lòng anh. Lại có thể hiểu ý thơ theo hướng khác: “Anh nào có biết tình em có đậm đà hay không?”. Theo hướng này, câu thơ đưa ra như một lời hỏi đầy hoài nghi, một tiếng thở dài ngậm ngùi chua xót. Và nói có thể chính là câu trả lời cho câu hỏi buôn ra từ đầu bài thơ:

    (lời hỏi) Sao anh không về chơi thôn Vĩ? (lời đáp) Ai biết tình ai có đậm đà?

    Ao ước khát khao đến cháy long được trở về Ví Dạ nhưng anh không thể về Vĩ Dạ vì anh nào có biết tình em có đậm đà. Những lời hỏi áy cứ xoáy xâu vào lòng người đọc một nỗi buồn xót xa. Tình yêu mãnh liệt mà vô vọng đau đớn khi hướng về cuộc đời trần thế đã được thể hiện một cách cảm động trong những câu thơ cuối.

    Khép lại ” Đây thôn Vĩ Dạ“, ta mới thấu được tình cảnh của thi sĩ. Không chỉ xúc động lòng người bởi tính khắc khoải, xót xa, ” Đây thôn Vĩ Dạ ” còn mê hoặc người đọc bởi vẻ đẹp của thơ. Cảm nhận khổ thơ cuối bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ với ngôn từ trong sáng, giàu sức tạo hình và có sức biểu cảm tinh tế, chạm tới trái tim. Cảnh sắc thiên nhiên liên tục, không tuân theo tính thống nhất về không gian và thời gian nhưng vẫn gây ấn tượng cho người đọc. Tất cả tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm cũng nhưng làm bật lên ngòi bút tài hoa của Hàn Mặc Tử. Quả không sai, khi có ai đó tưng nói:

    Cảm nhận khổ cuối Đây thôn Vĩ Dạ bài số 3:

    Hàn Mặc Tử – thi nhân của những mối tình “khuấy” mãi không thành khối, ông yêu nhiều nhưng chỉ nhận lại sự đắng cay, bẽ bàng trong những cuộc tình. Cuộc đời ông niềm vui thì ít mà chỉ toàn nỗi cô đơn, đau buồn. Mọi nỗi niềm tâm tư Hàn Mặc Tử đều gửi vào trong thơ. Thơ ông quằn quại trong đớn đau, thấm đẫm nước mắt và có phần điên loạn. Giữa những vần thơ ma quái, kì dị ấy vẫn có những vần thơ thật trong sáng tinh khôi đó chính là kiệt tác “Đây thôn Vĩ Dạ”. Đặc biệt là khổ thơ cuối ánh lên niềm khát khao tình đời, tình người của thi nhân mạnh mẽ nhất những cũng thật xót xa.

    Nếu khổ thơ đầu mở ra khung cảnh thiên nhiên trong trẻo đẹp say đắm lòng người của Vĩ Dạ tắm mình trong ánh nắng buổi ban mai. Tiếp đến khổ thơ thứ hai là cảnh sông nước, mây trời trong đêm trăng huyền ảo trên dòng Hương giang hư hư thực thực với những mặc cảm đớn đau, nuối tiếc tuột cùng của thi nhân khi sắp phải xa lìa cõi đời. Để những sông trăng, thuyền trăng đã đưa Hàn Mặc Tử vào cõi mơ đầy huyền ảo ở khổ thơ cuối. Đây cũng là khổ thơ thấm đẫmtình người, khao khát được sống của nhà thơ.

    Bị cuộc đời tuyệt giao, bỏ rơi nhưng Hàn Mặc Tử không quay lưng lại với cuộc đời, mà ông càng thiết tha với đời nhiều hơn. Thực tại quá đớn đau, nghiệt ngã, thi nhân đành tìm niềm an ủi trong cõi mộng. Bao trùm khổ thơ thứ ba là một màu sắc hư vô. Thật thật, giả giả khó lòng phân tách đâu là thực đâu là mơ. Tình yêu đối với con người và thiên nhiên nhiên xứ Huế sâu đậm, ám ảnh nhà thơ đến những giây phút cuối đời. Nhưng căn bệnh hiểm nghèo, quái ác đôi khi làm nhà thơ như không còn tỉnh táo, không phân biệt đâu là hiện thực đâu là giấc mơ:

    “Mơ khách đường xa khách đường xa”

    Nhà thơ đang chìm vào trong cõi mộng, trong trạng thái vô thức “mơ”. Điệp ngữ “khách đường xa” được lặp lại hai lần, lần lặp thứ hai chữ “mơ” đã được bỏ đi khiến cho câu thơ như ẩn chứa hai tâm trạng, hai cung bậc cảm xúc khác nhau: lần đầu là khát vọng, lần sau là thực tại. Khát vọng là mơ về khách đường xa, mơ một lần được gặp lại người xưa, cảnh cũ nhưng hiện thực càng mơ, càng mong, càng khao khát lại càng xa, xa mãi đến vô vọng, không thể còn một lần nào gặp gỡ.

    Câu thơ thứ hai: “Áo em trăng quá nhìn không ra” trong không gian hư ảo khó phân biệt đó, hình ảnh “áo em trắng quá” làm thi nhân vừa choáng ngợp, nghẹn ngào, vừa xót xa, tiếc nuối dù khao khát đến cháy bỏng được chiêm ngưỡng tà áo em trắng tinh khôi thuở nào, những bệnh tật đã làm cho thi nhân chẳng còn chút tỉnh táo, lạc mất vào cõi hư không “nhìn không ra”, không rõ đấy là màu trắng của áo em hay là màu của tâm tưởng, của những kỉ niệm xưa cũ.

    “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, “ở đây” có thể là không gian hiện thực nơi xứ Huế vốn nhiều nắng, nhiều mưa, nơi sương khói hư ảo nhưng cũng có thể lại chính là không gian tâm tưởng, không gian nơi tác giả đang đắm chìm trong đau thương, tuyệt vọng đến cùng cực để rồi thốt lên một câu hỏi, chẳng có câu trả lời “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Một câu hỏi tu từ chứa đựng bất an, hoài nghi về tình người của con người xứ Huế. Liệu sau quãng thời gian xa cách, liệu với căn bệnh hiểm nghèo, người dân xứ Huế vẫn thương yêu, trìu mến hay là đã lãng quên mình, xa lánh, ruồng rẫy thi nhân. Câu thơ cuối cũng chính là câu trả lời cho câu thơ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Nhà thơ ao ước được trở về nơi xưa, được gặp lại cố nhân nhưng “Cảnh xưa còn đó, lòng người đổi thay”. Câu thơ khép lại bải thơ trong nỗi hoài nghi, tuyệt vọng nhưng vẫn thấy ở đó là niềm khát khao của thi nhân với tình người, với trần thế chẳng thể nào lụi tàn.

    Khổ thơ cuối đượm buồn, mang màu sắc ảo ảnh vừa có chút hoài nghi, trách móc, vừa chứa chan niềm tha thiết với cuộc đời, với con người của một tâm hồn cô đơn ham sống, khát khao sống đến mãnh liệt.

    Với những hình ảnh thơ độc đáo, đẹp, gợi cảm, ngôn ngữ giàu tâm trạng, âm điệu, nhịp thơ trong sáng, thiết tha kết hợp với nghệ thuật nhân hóa, so sánh, những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, Hàn Mặc Tử đã phác họa ra một khung cảnh thiên nhiên và con người xứ Huế đầy sức sống, một bức tranh toàn bích hòa quyện giữa cõi thực và cõi ảo, giữa tâm tưởng và ước mong. Qua việc để cho người đọc cảm nhận khổ thơ cuối của bài Đây thôn Vĩ Dạ, tác giả muốn bộc lộ tình yêu mãnh liệt của mình với thiên nhiên, với con người cùng niềm ham sống, khát khao sống của mình.

    Sáng tác bài thơ trong hoàn cảnh cái chết cận kề. Song cái ta bắt gặp vẫn là tình yêu, niềm gắn bó tha thiết với thiên nhiên, con người và sự sống. Cành làm ta đồng cảm, mến phúc trước nghị lực sống phi thường, vượt lên trên hoàn cảnh nghiệt ngã của biết bao phũ phàng, ruồng rẫy để sống, đề cống hiến.

    Giữa giây phút cận kề với cái chết,của sự hoảng loạn và tuyệt vọng nhưng khát khao cháy bỏng Hàn Mặc Tử đã để lại, đã cống hiến cho đời những vần thơ hoàn mĩ đến tuyệt bích “Đây thôn Vĩ Dạ”. Ra đời cách đây gần tám thập kỉ những những vần thơ đầy suy tư, khắc khoải ấy vẫn làm hàng triệu trái tim độc giả cùng thổn thức, cùng xót xa và cùng hoài niệm với thi nhân. Thật vậy, chỉ một phút thăng hoa cũng đủ để tạo nên một trang tuyệt bút.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu Lớp 11, 6 Bài Mẫu Chuẩn Hay Nhất, Đ
  • Bài Thơ Từ Ấy (Tố Hữu)
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả , Tác Phẩm
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Thế Giới Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • 2 Bài Văn Mẫu Bình Giảng Khổ Hai Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

    Lập dàn ý Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    • Dẫn dắt và giới thiệu tác giả, tác phẩm
    • Giới thiệu khổ hai

    – Khổ hai là bức tranh sông nước nhuốm màu tâm trạng

    Mây gió: ngược chiều , trái tự nhiên, chia cắt đôi ngả

    Dòng nước: nhân hóa ” buồn thiu”

    Dòng sông không còn là sự vật vô tri vô giác

    Sự chảy trôi buồn một nỗi buồn li tán

    – Hoa bắp lay: gợi buồn

    Thuyền và sông trăng: hình ảnh ảo, khó phân định vừa mơ vừa thực

    Trăng: chứa đựng vẻ đẹp tác giả luôn muốn gửi gắm

    Dòng sông trăng: trăng tan vào nước để trôi chảy từ vũ trụ về nơi xa.

    ” kịp” không chỉ là khát khao mong đợi mà còn âu lo

    Tóm tắt nội dung khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ và nêu lên giá trị, những đóng góp của khổ 2 với cả bài thơ.

    Với dàn ý chung về đề bài Cảm nhận khổ hai bài Đây thôn Vĩ Dạ, các em học sinh đã có thể thử hình dung được những ý chính trong bài. Ngoài ra, Đọctàiliệu cũng tổng hợp những bài văn mẫu Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ hay nhất cho các em tham khảo về cấu tứ và ngôn từ trong cách hành văn cảm nhận.

    “Có chở trăng về kịp tối nay?”

    Văn mẫu Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt đặc sắc của phong trào Thơ mới. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng nói của một tâm hồn yêu cuộc sống, yêu cảnh vật, yêu con người nồng nàn, tha thiết. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là bài mang một tình yêu, khát khao cuộc sống như vậy. Khổ thơ thứ 2 của bài thơ mang đến một hoài niệm và tâm trạng lo âu của thi sĩ.

    Mở đầu bài thơ, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và vẻ đẹp tâm hồn người thi sĩ. Ta thấy thi sĩ tuy phải sống cuộc đời đầy bi kịch nhưng vẫn khát khao được sống và yêu đời tha thiết.

    Khổ thơ thứ hai được mở ra, khiến người đọc cảm nhận được hoài niệm về cảnh sông nước đêm trăng, hòa theo đó là tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ. Cảnh sông nước đêm trăng được gợi ra:

    “Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

    Dòng sông có nhiều cách hiểu, nhưng dù hiểu theo cách nào thì vẫn gợi ý thức về sông Hương-linh hồn của Huế. Cảnh vật được miêu tả rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi đặc điểm riêng của Huế: gió khẽ lay, mây khẽ bay, hoa bắp khẽ đung đưa, chuyển động rất nhẹ nhàng, êm ả, gợi không gian rất thanh bình, rất Huế. Cảnh vật đượm buồn: buồn thiu, buồn sâu lắng, buồn nhuốm vào không gian, cảnh vật, thường là nỗi buồn từ thế giới bên ngoài tác động. Câu thơ như dài ra, căng ra, khiến nỗi buồn như dằng dặc. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật “nhân hóa”, dòng sông đã trở thành một sinh thể, có tâm trạng, có hồn, mang nỗi niềm của con người. Cảnh vật như nhuốm màu chia ly “Gió theo lối gió mây đường mây”. Câu thơ tách nhịp 4/3 chia làm hai nửa: một gió một mây. Từ “gió” được điệp lại ở vế một, đóng khung một thế giới đầy gió, chỉ có gió, chỉ riêng gió. Từ “mây” điệp ở vế hai, tạo nên một thế giới mây khép kín chỉ có mây. Vậy là hai sự vật vốn dĩ chỉ đi liền với nhau thì nay tác biệt và chia lìa. Gió đóng khung trong gió, mây khép kín trong mây. Câu thơ mang đến một hiện thực phi lý về hiện thực khách quan, nhưng rất có lý về hiện thực tâm trạng. Thi sĩ đang sống trong cảnh chia ly, cách biệt, sống trong cảnh đời đầy nghịch lý cho nên gió cứ gió, mây cứ mây. Từ “lay” mang một nỗi buồn trong ca dao, chỉ hoạt động rất nhẹ của sự vật hiện tượng khi có gió nhẹ. Nó mang nỗi buồn truyền thống của ca dao, thổi vào nỗi buồn muôn thủa của con người.

    Hai câu thơ sau, ta nhận ra được tâm trạng lo âu, phấp phỏng của thi sĩ:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Cảnh vật được gợi ra một cách lung linh, huyền ảo, tràn ngập ánh trăng, mang ý nghĩa vừa thực vừa ảo. “Sông trăng” có thể hiểu là dòng sông tràn ngập ánh trăng, cũng có thể là trăng tuôn chảy thành dòng. “Thuyền trăng” là con thuyền chở đầy trăng, cũng có thể hiểu là trăng giống như hình ảnh một con thuyền. Dù hiểu theo cách nào thì trăng đã tràn ngập cả không gian, vừa thực vừa ảo, tạo nên một cảm giác mơ hồ. Trong thơ của Hàn Mặc Tử có cả một miền trăng, để có một thế giới tri âm, chất chứa tâm sự, giải tỏa những niềm đau, trăng đối với Hàn Mặc Tử là một người bạn tri âm. “Thuyền ai” lại gợi ra một danh từ phiếm chỉ. Hai câu thơ chứa đựng cả những hình ảnh mâu thuẫn. Câu dưới không có trăng, ý thơ phi lý về hiện thực nhưng chúng ta có thể lí giải được khi dựa vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. Trăng lúc có lúc không, mong manh và mờ ảo, người tri kỉ cũng mờ ảo và mong manh nên lo âu, phấp phỏng là thế. Chờ trăng là chờ sự tri âm, chờ sự đồng điệu, chờ sự sẻ chia và chờ được khát khao, giao cảm với đời, là một con người bình thường mong muốn sự giao cảm. Từ “kịp” thể hiện một tâm trang lo âu của nhà thơ, tâm trạng đợi chờ, khao khát. Qua đó thể hiện được quỹ thời gian sống đang bị vơi cạn đi từng ngày, cuộc chia lìa vĩnh viễn có thể đến bất cứ lúc nào. Với một người bình thường nếu không trở về tối nay thì còn nhiều những đêm khác, nhưng với Hàn Mặc Tử nếu thuyền không trở về tối nay, không có sự tri âm thì thi sĩ sẽ ra đi vĩnh viễn trong đau buồn.

    Những cảm nhận khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ cho ta thấy được hoài niệm của tác giả về cảnh sông nước đêm trăng, đồng thời cũng hiểu được tâm trạng lo âu, phấp phỏng của nhà thơ. Tác giả cũng đang chờ đợi sự tri âm, sự chia sẻ để dịu bớt nỗi đau trên hành trình trở về thế giới bên kia. Đó hay chăng chính là sự xót xa trên bi kịch cuộc đời của một thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh.

    Phong trào thơ mới năm 1932-1945 là sự nở rộ của cái tôi cá nhân. Có thể thấy nếu thơ trung đại gắn liền với những điều lớn lao, ước lệ thì thơ mới gắn liền với cảm xúc. Như nhà thơ Hàn Mạc Tử nói rằng: ” tôi làm thơ nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”. Về cơ bản thơ Hàn luôn hướng tới quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật nhưng cái đẹp trong thơ ông lại riêng biệt, nó là nét đẹp kì dị, đau thương đan xen với những thứ hư ảo. Thiên nhiên trong thơ ông cũng vậy, nhuốm màu tâm trạng, như thực mà như mơ:

    Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?

    Bốn câu thơ được trích trong bài thơ nổi tiếng Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử đã vẽ lên một bức tranh sông nước xứ Huế nhưng bức tranh ấy cũng đượm nỗi buồn lo. Mở đầu khổ thơ với hình ảnh ” gió” và “mây”. Gió và mây xưa kia thường ” gió thổi mây bay” nhưng trong thơ ông hai sự vật ấy lại chia làm đôi ngả.

    Những thứ vốn dĩ không thể tách rời thì hồn thơ Hàn Mạc Tử đã chia cắt những thứ không thể cắt chia. Bản thân dòng nước cũng là một vật vô tri vô giác trong tự nhiên nhưng với biện pháp nhân hóa ” dòng nước buồn thiu” khiến nó có những cảm xúc buồn, vui của con người. Điệu chảy ” buồn thiu” của dòng sông Hương lững lờ yên tĩnh như điệu làn êm ả. Không những vậy dường sự chảy trôi vô định của dòng nước thẫm đẫm nỗi buồn li tán của sự vận động giữa mây và gió hay chính là sự mặc cảm chia lìa của Hàn Mạc Tử lây lan sang cảnh vật.

    Đúng như lời Nguyễn Du đã nói trong truyện Kiều ” lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trên dòng sông Hương xứ Huế ấy là những “hoa bắp lay” khẽ lay động ở đôi bờ, rất nhẹ và rất khẽ, đặt cùng gió, mây, nước hoa bắp “lay” ấy trong ca dao và cũng gặp cái buồn ấy trong thơ , trong nỗi buồn của người chinh phụ, Trúc Thông có viết: “Lá ngô lay ở bờ rông”.

    Cảnh sông Hương xứ Huế hiện lên thật buồn , gió mây đôi ngả, hoa bắp lay , hoang vắng rợn ngợp thấm thía nỗi buồn của sự thê lương. Nỗi buồn thi sĩ hòa hợp với nhịp buồn xứ Huế cùng những khát khao khôn nguôi:

    Thuyền ai chở bến sông trăng đó

    Có trở trăng về kịp tối nay

    Trong tâm trạng thẻ lương ấy, chợt bật lên những ước ao hy vọng là có một điều gì đó có thể trở về với mình để níu giữ, để bám víu. Dường như ước mơ của thi sĩ thường gắn với trăng, với thuyền thể hiện khao khát tri âm. Bởi thuyền chở trăng mang một vẻ đẹp mà tác giả luôn hướng tới, vẻ đẹp hư ảo huyền hoặc khó phân định . Đây quả là một sản phẩm củ trí tưởng tượng với dòng sông trăng đang trôi chảy, hay trăng đang lan mình thành nước để trôi chảy từ vũ trụ về nơi xa. Thuyền chở trang vừa mơ vừa thực. Bên cạnh những khát khao mong đợi ấy còn là những lo âu qua từ “kịp”, nỗi mong ước thầm kín đã tìm được nơi gửi gắm là con thuyền trên sông trăng nhưng càng khao khát hy vọng thì lại càng lo âu bởi nỗi mặc cảm vì hiện tại ngắn ngủi. Khát vọng thì ít mà cảm giác tuyệt vọng thì lấp đầy tâm hồn. Những mong muốn tưởng trừng giản đơn ấy của Hàn Mạc Tử lại gắn liền với những đau thương và dự cảm đổ vỡ.

    Nếu khổ thơ mở đầu là cảnh thực thì cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ dạ nghiêng về thế giới ảo. Trong nỗi buồn da diết thì nhà thơ muốn nương tựa vào cái đẹp của tình đời tình người nhưng càng trông đợi thì vẫn không tránh khổ những tuyệt vọng để rồi tác giả chìm sâu vào cõi mộng. Khổ thơ thứ hai này góp phần tạo sự liên kết và giá trị sâu sắc cho cả bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ giúp khẳng định tài năng và thể hiện những cảm xúc chân thật nhất của Hàn Mạc Tử- nhà thơ “điên”.

    Ai đó đã từng nói “Thơ là tiếng lòng. Đọc thơ, ta nghe thấy tiếng nói cất lên từ sâu thẳm trái tim của thi sĩ. Thơ là sự lên tiếng củathân phận. Đến với bài thơ, ta cảm được tình cảnh, tình thế số phận của nhà thơ”. Và “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là một bài thơ như thế. Đọc thơ của Hàn Mặc Tử, ta thấy được một trong những nét độc đáo làm nên phong cách thơ rất lạ của ông, đó là mạch thơ đứt đoạn mà thống nhất, nghĩa là bề ngoài kết cấu như rời rạc nhưng lại có sự thống nhất trong chiều sâu của mạch cảm xúc. Nếu khổ thơ đầu là sự bừng sáng kí ức của hoài niệm về vườn Vĩ Dạ lúc hửng đông thì khổ thơ thứ hai lại cảnh xứ Huế đêm trăng thơ mộng cùng bao nỗi niềm chia lìa, lạc loài bơ vơ, buồn thương tuyệt vọng:

    Gió theo lối gió mấy đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có trở trăng về kịp tối nay.

    Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế, gợi cảm Hàn Mặc Tử đã gợi dậy một cách thần tình cả linh hồn của xứ Huế đêm trăng thơ mộng, huyền ảo. Ở phương diện tả cảnh, mới đọc câu thơ “Gió theo lối gió mây đường mây” cứ tưởng là phi lí nhưng ngẫm kĩ đó lại là sản phẩm của ngòi bút xuất thần. Hàn Mặc Tử đã gợi tả tinh tế, chính xác tài hoa vẻ êm dịu của mây trời xứ Huế. Êm dịu đến mức ta thấy gió thổi mà nhu mây đứng yên. Hai chữ “buồn thiu” gợi tả vẻ dùng dằng, lặng lờ của dòng nước sông Hương. Nói như Hoàng Phủ Ngọc Tường thì dòng nước sông Hương cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Sông Hương chảy chậm, thực chậm, đó là điệu slow tình cảm mà dòng sông Hương dành cho sứ Huế. Trong đêm trăng Hương giang thật huyền ảo ấy, bầu trời trong vắt, trăng vằng vặc dải ánh vàng trên sông. Dòng nước bỗng hóa thành dòng sông trăng, những con thuyền gối bãi ăm ắp đầy trăng. Hàn Mặc Tử vốn say trăng, yêu trăng là vậy. Bài thơ nào của ông cũng có đôi câu về trăng. Đọc “Đây thôn Vĩ Dạ”, dễn thấy đây là những vần thơ dịu êm và huyền ảo nhất trong dòng thơ trăng của thi sĩ.

    Bị cuộc đời tuyệt giao từ chối, thơ ca thiên nhiêm là nơi Hàn Mặc Tử chút bầu tâm sự, dãi bày lòng mình. Ngoại cảnh dường nhủ chỉ là cái cơ để thi sĩ bày tỏ tâm sự, trải niềm đau của hồn mình, bức tranh “Đây thôn Vĩ Dạ” cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Ngay ở trong câu thơ đầu tiên của khổ thơ thứ hai, ta đã thấy được sự chia lìa, ngang trái:

    “Gió theo lối gió mây đường mây” ,Gió mây luôn đi đôi với nhau, sóng đôi cùng nhau, vậy mà ở đây lại chia lìa xa cách, gió một đằng, mây một nẻo. Tại sao vậy? Có phải chăng trái tim thi sĩ luôn trĩu nặng chia lìa, thành ra nhìn đâu cũng thấy chia li cách biệt. Không chỉ gió mây chia lìa, sông nước hắt hiu, dòng nước buồn thiu hoa bắp lay. Dòng sông ôm lấy nỗi buồn ngậm ngùi câm lặng, rười rượi. Dòng sông vốn ủ sẵn mối sầu hay sự chia lìa, li tán của gió mây đã gieo vào lòng sông chết lặng? Hay mối sầu thăm thẳm trong lòng củathi sĩ đã ám bào dòng sông? Khó có thể lí giải một cách rõ ràng được. Chỉ thấy đọc câu thơ lên, lòng ta bỗng trào dâng một nỗi niềm bâng khuâng ma da diết, khắc khoải mà khôn nguôi. Phụ họa với dòng nước buồn thiu là bông hoa bắp xám bạc khẽ lay trong gió. Động từ “lay” tự nó vốn không vui, không buồn như trong câu thơ này, không hiểu sao nó lại ẩn chứa nỗi niềm hiu hắt đến vậy. Có phải chữ “lay” ấy đã mang theo nỗi buồn trong câu ca dao:

    Ai về Rồng Dứa, ao Chuông

    Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em

    Trong không gian nghệ thuật, hình ảnh hoa bắp lay thật tủi sầu. Tất cả dường như đang bỏ nơi này mà đi. Gió bay đi, mây bay đi, dòng nước cũng trôi xuôi, chỉ còn bông hoa bắpcô đơn, côi cút, vật vờ trên triền sông hoang vắng. Động thái “lay” như một sự níu giữ vu vơ, một lưu luyến vô vọng. Hình ảnh hoa bắp “lay” cứ như hiện thân cho thân phận lạc loài, bơ cơ, bị cuộc đời lãng quên của thi sĩ.

    Đối mặt với xu thế tất cả đang bỏ đi, rời xa mình, thi sĩ chợt ao ước có một thứ gì đó ngược dòng trôi chảy trở về với mình, gắn bó với mình. Với Hàn Mặc Tử, đó là trăng, và cũng chỉ có chăng mà thôi:

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có trở trăng về kịp tối nay

    Tại sao Hàn Mặc Tử lại mong ngóng ao ước, khao khát có trăng như vậy? Phải chăng bị chôn vùi trong lãnh cung chia lìa, mù tối, “không có niềm trăng và tiếng nhạc” nên thi sĩ ao ước có trăng như thế? Hơn thế, với Hàn Mặc Tử, chí có trăng sao là bất tử. Đặc biệt, với thi sĩ, trăng không chỉ đơn thuần là nguồn sáng, huyền ảo, diệu kì nhất của thiên nhiên mà trăng là biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, tràn ngập hạnh phúc mà thi sĩ khao khát. Với những ý nghĩ như thế, giờ đây, “trăng là bám víu duy nhất”, là tri ân, tri kỉ, là cứu tinh với Hàn Mặc Tử. Giọng điệu, chữ nghĩa trong câu thơ bật lên niềm khát khao, da diết, khắc khoải đến cháy bỏng. Câu thơ mang vóc dáng của một lời khẩn cầu, khẩn nguyện tha thiết. Nhưng thật xót xa, bi kịch thay cho thi sĩ, ngay trong lời khẩn cầu da diết đến cháy bỏng ấy, ta thấy hằn lên một nỗi lo âu hoài, tuyệt vọng, đến đau đớn. Nỗi niềm ấy ghim chặt vào mấy chữ “kịp tối nay”. Cơ hội đón trăng, đắm mình trong trăng thật ngắn ngủi mong manh biết chừng nào.

    Chỉ còn đêm nay thôi, sáng mai đã là một dấu chấm hết. Lưỡi hái tử thần đang kể tận cổ, chuông nguyện hồn ai đã dóng lên. Cơ hội mong manh, thời gian ngắn ngủi là thế mà bến sông trăng cứ ở mãi ngoài kia xa vời vợi. Không dùng hình thức cầu khiến, câu thơ là lời hỏi hoài nghi đầy tuyệt vọng. Cólẽ khi cất lên lời khẩn cầu tha thiết, thi sĩ đã có lời giải đáp cho mình. Chẳng bao giờ con thuyền trở trăng về kịp tối nay cho thi sĩ. Thi sĩ sẽ mãi rời xa cõi đời này trong đau đớn, tuyệt vọng. Đọc những vần thơ này, ta cảm thấy quặn lòng đau đớn. Vọng về đâu đây dự cảm xót xa:

    Một mai kia ở bên khe nước ngọc

    Với sao sương anh nằm chết như trăng

    Chẳng tìm thấy nàng tiên mô đến khóc

    Đến thương anh và rửa vết thương tâm.

    Với bút pháp gợi tả, hình ảnh tinh tế, “Đây thôn Vĩ Dạ” là một miền quê hương đất nước, Vĩ Dạ-xứ Huế mộng và thơ. Bài thơ còn là tiếng lòng uẩn khúc của một trái tim yêu người, yêu đời, thiết tha, mãnh liệt trong vô vọng. “Đây thôn Vĩ Dạ” xứng đáng là kiệt tác thơ Hàn, một viên ngọc chói lọi nghìn năm.

    Trong phong trào Thơ Mới các nhà thơ được tựdo thể hiện cái tôi cá nhân của mình. Nếu như Xuân Diệu thể hiện tình yêu thiên nhiên yêu con người nhưng vẫn cô đơn hoài nghi của mình, Lê Trọng Lư thì thả sức phiêu lưu cùng những bài ca tình yêu thì Hàn Mạc Tử lại quằn quại đau đớn trong những vần thơ về bệnh tật. Đọc thơ Hàn Mạc Tử ta không thể nào không nhớ đến bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – một bài thơ trở đầy những cảm xúc của nhà thơ về con người về mảnh đất Huế thương. Đặc biệt trong bài thơ ấy ta ấn tượng nhất với những cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ khi nó mang đầy bi kịch và chất chứa bao nỗi buồn.

    Bài thơ được sáng tác khi nhà thơ nhận được tấm bưu thiếp của người con gái mang tên một loài hoa đó là nàng Hoàng Cúc. Nhà thơ gặp cô gái ấy ở Huế và đã có một khoảng thời gian ở cạnh nhau. Cả nhà thơ cũng như cô gái đều hiểu được tấm lòng của mình trái tim của mình nhưng khổ nỗi nhà thơ vốn là người nhút nhát. Trước Hoàng Cúc cũng có biết bao cô gái phải lòng ông cũng như ông mến họ nhưng ông lại không một lần nào ngỏ lời, dần dần những cô gái ấy không thể đợi chờ thêm được nữa nên đã rời xa ông. Và Hoàng Cúc cũng không ngoại lệ. Khi đã chia xa thì cô gái ấy đã đi lấy chồng nhưng trong lòng vẫn coi ông là một người bạn. Biết tin ông bị bệnh cô gái ấy đã gửi cho ông một tấm bưu thiếp để hỏi thăm và trách móc sao không về chơi thôn Vĩ. Vậy là bây nhiêu nỗi nhớ niềm thương con người và cảnh vật Huế thương cứ thế ngập đến nhà thơ một cách tự nhiên.

    Đoạn thơ thứ hai mang đến cho chúng ta biết bao nhiêu trăn trở suy nghĩ của mình về cuộc sống và số phận của nhà thơ tài năng này. Đây có thể coi là đoạn mang tâm trạng nhất, buồn nhất bi kịch nhất.

    Mở đầu khổ thơ nhà thơ đã nhắc đên sự chia ly buồn bã. Bởi hiện tại làm cho nhà thơ luyến tiếc những gì đã qua và bốn bức tường cách ly kia chính là sự cản trở ngăn cách:

    “Gió theo lối gió, mây đường mây”

    Theo quy luật tự nhiên thì gió thổi mây bay vậy mà ở đây nhà thơ lại tách mây và gió ra, gió theo lối gió còn mây đi đường mây thể hiện sự chia ly cách trở. Nhà thơ sầu thảm buồn bã nên đã phá quy luật của tự nhiên để thể hiện sự khắc nghiệt của sự chia ly này. Gió và mây ở đây có phải chính là nhà thơ và người con gái Huế phúc hậu xinh đẹp ấy. Hay cũng chính là nhà thơ và cuộc đời này. Ngày nhà thơ ra đi khỏi Huế nhà thơ không biết được đó lại là ngày cuối cùng và vĩnh viễn không thể quay lại thăm con người cảnh vật nơi đây được nữa. Hàn Mạc Tử vẫn còn lưu luyến lắm cái cuộc đời này vậy mà số phận đưa đẩy làm sao để cho nhà thơ phải mắc một căn bệnh không thuốc chữa, để cho nó ngày ngày phá hoại cơ thể, nhà thơ phải chịu đau đớn. Chính vì thế mà Hàn Mạc Tử nhìn đâu cũng thấy chia ly cách xa. Nhà thơ có nỗi sầu vạn kỉ Cù Huy Cận cũng đã từng thể hiện sự chia ly qua hình ảnh:

    “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

    Cũng sầu đấy, chia ly đấy nhưng sao nó chưa trở thành bi kịch như câu thơ của hàn Mạc Tử được nỗi buồn không chỉ lan tỏa trên bầu trời nơi mà ánh mắt của nhà thơ hướng tới để tìm sự hi vọng mà nó còn lan tỏa khắp cảnh vật nơi đây. Bởi:

    “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”

    ” Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

    Dòng nước kia như được nhân hóa cũng biết buồn giống y như thi sĩ vậy, tâm trạng không tốt thì nhìn đâu cũng thấy không vui. Ta có thể cảm nhận được dòng nước kia lững lờ trôi chậm như thế nào đểcho nỗi buồn của nhà thơ càng có chỗ chiếm đóng, càng dằn vặt nhà thơ nhiều hơn. Cơn gió kia cũng không mạnh mẽ, không tươi mát không mang lại cảm giác xao xuyến cho con người. Nó chỉ khẽ lay hoa bắp bên sông. Những từ “buồn thiu” , “khẽ” sao mà khiến cho người ta đau lòng đến thế.

    Trước dòng sông, bên bờhoa bắp ấy lại xuất hiện con thuyền, bến cũ, trăng mờ:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó”

    Đại từai vang lên không biết rằng đó là thuyền của Hoàng Cúc của người dân xứ Huếhay của ai. Hay đơn giản nhà thơ chỉ nói một cách bâng quơ như thế. Chính sự bâng quơ ấy lại thể hiện được tâm trạng của nhà thơ. Đó là một tâm trạng mơ hồ, khó tả, đau mà lại không đau, nhớ mà lại thương, vui khi nhận được tấm bưu thiếp của Hoàng Cúc nhưng lại không vui vì hiện thực này. Con thuyền ấy chắc cũng đi hết chặng đường của một ngày và nó đang nằm im trên bến đậu. Chợt nghĩ đến nhà thơ sống cũng được gần nữa đời người mà giờ cũng trong trạng thái nằm im một chỗ. Thế nhưng con thuyền kia chỉ nghỉ ngơi rồi sáng mai lại lên đường tiếp tục qua sông này sông khác còn Hàn Mạc Tử thì chỉcó một đời người vậy thôi. Ánh trăng như in từng nét lờ mờ trên dòng sông ấy. Một bức tranh nên thơ nên họa mà sao lại buồn man mác thế này!

    Đặc biệt nhất, ấn tượng nhất, bi kịch nhất lại chính là câu thơ cuối cùng của khổ thơ này:

    “Có chở trăng về kịp tối nay?”

    Mộtcâu hỏi tu từ vang lên mà không có lời giải đáp. Từ”kịp” chính là từ mang đầy bi kịch. Nhà thơ như lo lắng bối rối khi nghĩ không biết con thuyền kia có chở được ánh trăng về kịp tối nay. Chở ánh trăng hay chính là trở người con gái kia đến kịp với nhà thơ. Ông không tham lam gì cảmà ông chỉlo sợ rằng cái lưỡi hái tử thần có thể cướp ông đi khỏi thế gian này bất cứ lúc nào và điều ông mong muốn chỉ là gặp lại người xưa một lần thôi.

    Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đem lại cho ta cảm xúc về tình cảm và cuộc đời của nhà thơ, Ai mà không thương xót cho số phận không may mắn ấy. Khi người ta sắp phải rời xa cuộc đời này và họ còn quá trẻ vẫn còn hoài bão, vẫn còn tình yêu dang dở thì họ sẽ hiểu nhà thơ đã đau khổ như thế nào.

    Với đề bài Nêu cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử bao gồm đầy đủ cả lập dàn ý khổ hai bài Đây thôn Vĩ Dạ, nội dung khổ 2 bài Đây thôn Vĩ Dạ, các em học sinh cần tìm hiểu kĩ càng để từ đó có thể xây dựng cho mình một bài văn cảm nhận chân thực và giàu ý nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu Lớp 11, 6 Bài Mẫu Chuẩn Hay Nhất, Đ
  • Bài Thơ Từ Ấy (Tố Hữu)
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả , Tác Phẩm
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu
  • Phân Tích Nghệ Thuật Trong Từng Khổ Thơ Trong Bài Từ Ấy
  • Phân Tích Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mạc Tử.

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Hệ Thống Kiến Thức Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 12
  • Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm Trong Tiếng Việt Học Sinh Cần Lưu Ý
  • Bài Soạn Lớp 12: Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Hàn Mặc Tử một nhà thơ tài năng, một diện mạo thơ bí ẩn, phức tạp bậc nhất trong thơ ca Việt Nam. Thơ ông vừa có sự trong trẻo, tinh khiết vừa có cái ma quái, bí ẩn, chính những yếu tố đó đã làm nên sự hấp dẫn trong thơ Hàn Mặc Tử. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những sáng tác tiêu biểu của Hàn Mặc Tử.

    Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938 lúc đầu có tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ” sau được đổi lại. Tác phẩm được in trong tập “Thơ điên” (sau đổi thành “Đau thương”). “Đây thôn Vĩ Dạ” được gợi nguồn cảm hứng từ mối tình đơn phương của nhà thơ với một người con gái xứ Huế mộng mơ là Kim Cúc. Đó là con gái của viên chức cấp cao, thiếu nữ mang trong mình nét đẹp dịu dàng, duyên dáng giữ nét chân quê. Hàn Mặc Tử yêu người con gái thầm kín, chỉ dám đứng nhìn từ xa. Mối chân tình ấy được nhà thơ ấp ủ gửi vào tập “Gái quê”. Sau đó Hoàng Cúc theo cha về thôn Vĩ Dạ ở Huế nên ông buồn tủi, đau đớn lại mang trong mình căn bệnh phong khiến nỗi đau ấy càng da diết. Bạn của Hàn Mặc Tử là Hoàng Tùng Ngâm (anh họ Hoàng Cúc) biết được nỗi tâm tình đó nên đã viết thư gửi ra Huế cho Cúc khuyên nàng viết thư thăm hỏi, động viên một tâm hồn bất hạnh. “Thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái danh thiếp. Trong ảnh có mây, có nước, có cô gái chèo đò với chiếc đò ngang, có mấy khóm tre, có cả ánh trắng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm Tử rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau một thời gian, tôi nhận được bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” và một bài thơ nữa do Ngâm gửi về”. Chính tấm bưu ảnh trực tiếp sự khơi gợi cảm xúc cùng với mối tình thầm kín của Hàn Mặc Tử đã viết nên một thi phẩm giàu cảm xúc, giàu hình ảnh mộng mơ và thẫm đẫm nỗi buồn man mác trong tâm hồn thi nhân.

    Bài thơ có ba khổ, mỗi khổ thơ là một bức tranh, nhà thơ Xuân Diệu gọi mỗi cấu trúc ấy là một bài thơ tứ tuyệt.

    Mở đầu là câu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Đây có thể là Hàn Mạc Tử nhắc lại lời thăm hỏi của Hoàng Cúc ghi trong bức bưu ảnh hoặc bức bưu ảnh gợi nhớ những kỉ niệm về thôn Vĩ. Bốn câu thơ (khổ đầu) có tính chất tạo hình như một bức tranh có ba chiều: chiểu rộng, chiều cao, lẫn chiều sáu. Đó là nỗi nhớ giúp tác giả hình dung ra trước mắt mình một cảnh tượng sống động.

    Bức tranh thôn Vĩ được phác họa bằng mấy nét xinh xắn. Ánh nắng ban mai chiếu xuống những hàng cau, “nắng mới lên” đem lại cảm giác trong lành, bình yên; những hàng cau đứng thẳng tắp, hình ảnh rất quen, nét đặc trưng của thôn Vĩ:

    “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

    Những vườn cây trái sum sê, tươi tốt của thôn Vĩ {mướt quá), một màu xanh mà nhà thơ so sánh: “xanh như ngọc”. Trong hồi tường của nhà thơ giữa cảnh và người hòa quyện với nhau đưa đến cảm xúc trìu mến, dịu ngọt. Thấp thoáng đằng sau những khóm trúc có bóng dáng mặt con người dịu dàng, phúc hậu khi ẩn khi hiện:

    “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

    Bốn câu tiếp theo trong khổ thơ thứ hai, nhà thơ tìm đến dòng kỉ niệm về Huế gắn liền với con sông Hương thơ mộng, êm đềm. Con sông có gió, có mây, có dòng nước, có con thuyền và ánh trăng. Hầu như sông nước sông Hương rất hiền lành, nước chầm chậm trôi giữa đôi bờ sương khói như mang một nỗi “buồn thiu”.

    “Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?…

    Nhịp điệu thơ nhẹ nhàng chậm rãi uyển chuyển, cảnh ở khổ thơ trên tươi sáng, đến khổ thơ này trở nên buồn: gió và mây không đi liền nhau mà gió một lối, mây một đàng gợi lên nỗi buồn xa cách. Dòng nước trôi lững lờ, vắng vẻ “buồn thiu”, hai bên bờ sông Hương đoạn chảy qua thôn Vĩ có những vườn bắp, gió đưa hoa bắp khẽ lay động, một khung cảnh vắng lặng và gợi buồn. Đây là hình ánh thấm đượm tâm hồn xao xuyến của nhà thơ.

    Hình ảnh con “sông trăng” là một tứ thơ rất mới mẻ. Trăng trên sông Hương thật mơ mộng, “sông trăng”, thuyền “chở trăng” làm cho cảnh trở nên huyền ảo lung linh. Có thể nói chưa có nhà thơ nào tả dòng Hương Giang với nét đẹp hư ảo như Hàn Mạc Tử. Trong nỗi nhớ nhung mơ màng của nhà thơ, thuyền và trăng đã thành những vật thể có linh hồn.

    Khổ ba tiếp tục những kỉ niệm về Huế:

    Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?…

    Trong những kỉ niệm về Huế, hình ảnh người thiếu nữ của Huế và cũng là thôn Vĩ – hiện lên đậm nét hơn cả, trở thành điểm sáng của bài thơ. Cô gái Huế của Hàn Mạc Tử có nét hư hư, thực thực, cô gái và nhà thơ có một khoảng cách về không gian, về thời gian, hơn nữ giữa hai người cũng chưa có những hứa hẹn, gắn bó cho nên chỉ là “khách đường xa”. Hình ảnh người thiếu nữ trở nên xa vời. Câu thơ trở nên đa nghĩa phủ lên kí ức một lớp sương mờ nên “Áo em trắng quá nhìn không ra”, nhưng trong tâm tưởng nhà thơ dù chỉ là kỉ niệm của một thời, “em” vẫn là hình bóng thân yêu.

    Hình ảnh người thân xa cách chìm đi trong “sương khói” của trời đất xứ Huế, kết thúc bài thơ là một câu hỏi:

    “Ai biết tình ai có đậm đà?….”

    Câu thơ thứ hai chứa đầy tâm trạng. “Ai”, “ai” là anh hay là em, đúng hơn là cả hai người, nhà thơ tự hỏi mình và cũng hỏi “em” về mối tình đơn phương chưa nói nên lời. Nay giữa hai người là màn “sương khói” của không gian và thời gian làm sao biết được mối tình này có đậm đà hay nhạt phai. Có thể hiểu đây là bài thơ hướng nội, ẩn dấu cái sâu xa nhất của tâm hồn thi nhân là tình đời; ta thấy thấp thoáng bóng hình một mối tình dang dở giữa nhà thơ và người con gái thôn Vĩ Dạ. Mối tình đơn phương này qua năm tháng chưa tàn phai. Bởi thế, khi chỉ có tấm bưu thiếp và mấy lời hỏi thăm từ xứ Huế gửi đến đã làm sống dậy trong lòng nhà thơ cả một trời thương nhớ. Có người cho rằng mỗi khổ thơ đều có hai giọng nói. Hai câu trên của một người, hai câu dưới của một người. Thật ra thì khó phân định. Ví dụ câu: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Đây là lời trách móc hay là lời mời hỏi của “thi nhân” hay của “cố nhân” ? Nhưng có điều có thể xác định được đó chính là lời hỏi thăm kia (ở tấm bưu thiếp) đã được Hàn Mặc Tử tiếp nhận một cách đầy tình cảm ngọt ngào. Vì vậy, có thể nói đây là bức tranh tâm trạng. Một mối tình đã gieo vào lòng nhà thơ biết bao nỗi nhớ nhung khắc khoải.

    Về nghệ thuật, đây là bài thơ có những nét nghệ thuật độc đáo trong diễn tả, diễn cảm và biểu hiện một tâm trạng đầy xúc động.

    Có thể nói bài thơ là những bức tranh đẹp. Bức tranh vườn cây thôn Vĩ, bức tranh sông nước sông Hương hiền hòa, êin dịu, bức tranh tâm trạng có bóng dáng người con gái Huế. Về thời gian thì khổ một là buổi sáng, khổ hai cảnh ban đêm, khổ ba thì không thể xác định. Về không gian thì khổ một là vườn cây thôn Vĩ, khổ hai bến sông Hương, có đôi bờ, có thuyền và trăng, nhưng đến khổ thứ ba thì hầu như không có không gian hoặc khó xác định. Nhưng ở đây có thể nhận ra là nhà thơ muốn nói sát hơn về mối tình không trọn vẹn với người thôn Vĩ. Đối tượng có thể xác định “khách đường xa” là “em”. Đây không phải là một bức tranh tả cảnh nên nhà thơ không diễn tả theo một trật tự nào. Vì nó là “bức tranh tâm trạng”, tả cảnh để nói tâm trạng cho nên trật tự của bài thơ là dòng xúc cảm của tác giả, cách sắp xếp đó làm tăng hiệu quả biểu hiện hồn thơ.

    Trong bài thơ, tác giả dùng phương pháp láy lại một số từ để biểu cảm: Nắng hàng cau, nắng mới lên…/Gió theo lối gió, mây đường mây…/ Mơ khách đường xa, khách đường xa…/ Ai biết tình ai có đậm đà?. Đây là biện pháp điệp từ, điệp ngữ ta thường gặp trong thơ. Nhưng trong bài thơ này, Hàn Mạc Tử đã sử dụng biện pháp nghệ thuật này có hiệu quả thẩm mĩ cao, vì những từ ngữ đó gây ấn tượng mạnh. Nhất là điệp từ “ai” gợi nhớ bao thân thương trong những câu hò xứ Huế.

    Cuộc đời Hàn Mạc Tử là một bi kịch khắc nghiệt nhưng nhà thơ đã sáng tạo cho đời những áng văn chương làm say đắm lòng người. Bài thơ có một cấu trúc độc đáo, lấy cảnh để ngụ tình, tình trang trải dịu buồn khôn khuây.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Của Anh/chị Về Hai Đoạn Thơ Sau: Gió Theo Lối Gió, Mây Đường
  • Bình Giảng Khổ Thơ Sau Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử: Gió Theo Lối Gió, Mây Đường Mây, Dòng Nước Buồn Thiu, Hoa Bắp Lay; Thuyền Ai Đậu Bến Sông Trăng Đó Có Chở Trăng Về Kịp Tối Nay?
  • Hãy Bình Giảng Đoạn Thơ Thứ Hai Trong Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Để Thấy Rằng: Thơ Hàn Mạc Tử Là Thơ Trữ Tình Hướng Nội.
  • Đề Kiểm Tra Học Kỳ Ii Môn Ngữ Văn Lớp 11
  • Gió Theo Lối Gió Mây Đường Mây
  • 2 Bài Văn Mẫu Bình Giảng Khổ Hai Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Trích “chí Khí Anh Hùng” Trong “truyện Kiều” Của Nguyễn Du
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích ” Truyện Kiều”
  • Phân Tích Chí Khí Anh Hùng
  • Phân Tích “chí Khí Anh Hùng” Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ
  • Để giúp em biết cách Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, chúng tôi giới thiệu một số mẫu văn để em tham khảo, em có thể tham khảo để biết cách viết bài văn này đơn giản hơn bên cạnh đó chọn lọc được cách viết mà em thấy phù hợp nhất.

    Đề bài: Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    2 bài văn mẫu Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Bài mẫu số 1: Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Huế đẹp và thơ. Núi sông diễm lệ. Con gái Huế xinh tươi và đa tình. Nếp sống thanh lịch của miền núi Ngự sông Hương đã trở thành ấn tượng và cảm mến sâu sắc đối với bao người gần xa:

    “Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ

    Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt…”

    Thơ ca viết về Huế có nhiều bài hay. Tiêu biểu là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), nhà thơ lỗi lạc trong phong trào “Thơ mới”. Bài thơ có ba khổ thớ thất ngôn nói về cảnh sắc và cô gái Vĩ Dạ trong hoài niệm với bao cảm xúc bâng khuâng, man mác, thẫn thờ.

    Vĩ Dạ, một làng cổ xinh đẹp nằm bên bờ Hương Giang thuộc cố đô Huế, qua hồn thơ Hàn Mặc Tử mà trở nên gần gũi yêu thương đối với nhiều người trong bảy mươi năm qua. Đây là khổ thơ thứ hai của bài “Đây thôn Vĩ Dạ”:

    “Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?”

    Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi “nắng mai lên”… Ở khổ thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhớ đến một miền sông nước mênh mang, bao la, một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến. Có gió, nhưng ” gió theo lối gió”. Cũng có mây, nhưng “mây đường mây”. Mây gió đôi đường, đôi ngả:

    “Gió theo lối ,gió/mây đường mây”.

    Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi tả một không gian gió, mây chia xa, như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. Chữ “gió” và “mây” được điệp lại hai lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thoáng đãng, mênh mông. Thi nhân đã và đang sống trong cảnh ngộ chia li và xa cách nên mới cảm thấy gió mây đôi ngả đôi đường như tình và lòng người bấy nay. Ngoại cảnh gió mây chính là tâm cảnh Hàn Mặc Tử.

    Không có một bóng người xuất hiện trước cảnh gió mây ấy. Mà chỉ có “Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm. Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hoá thành “dòng nước buồn thiu”, càng thêm mơ hồ, xa vắng. “Buồn thiu” là buồn héo hon cả gan ruột, một nổi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu mãi vào hồn người. Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế. Bờ bãi đôi bờ sông cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy “hoa bắp lay”. Chữ ” lay” gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió. Hoa bắp, hoa bình dị của đồng nội cũng mang tình người và hồn người.

    Hai câu thơ thất ngôn với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã hội tụ hồn vía cảnh sắc thôn Vĩ. Hình như đó là cảnh chiều hôm? Hàn Mặc Tử tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng. Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn lặng lẽ biểu hiện một tâm cảnh: thấm thía nỗi buồn xa vắng, cô đơn.

    Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên Hương Giang ngày nào. “Dòng nước buồn thiu” đã biến hoá kì diệu thành “sông trăng” thơ mộng:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay?”.

    Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được nhiều người ngợi ca, kết tinh rực rỡ bút pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn. Một vần lưng tài tình. Chữ “đó” cuối câu 3 bắt vần với chữ “có” đầu câu 4, âm điệu vần thơ cất lên như một tiếng khẽ hỏi thầm “có chở trăng về kịp tối nay?”. “Thuyền ai” phiếm chỉ gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng, tưởng như quen mà lạ, gần đó mà xa xôi. Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi “sông trăng” là một nét vẽ thơ mộng và độc đáo. Đã có “Thuyền ai đậu bến Cô Tô” hiện lên trong ánh trăng tà và tiếng quạ kêu sương trong thơ Trương Kế đời Đường. Đã có “Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng” trong “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của Trương Nhược Hư, 1300 năm về trước. Lại có cảnh “Gió trăng chứa một thuyền đầy” (Nguyễn Công Trứ). Còn có “Trăng sông Trà như tấm gương soi dòng nước bạc” (Cao Bá Quát) Qua đó, ta thấy hình tượng “sông trăng” là mới mẻ, sáng tạo. Cả hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, câu thơ nào cũng có trăng. Ánh trăng tỏa sáng dòng sông, con thuyền và bến đò. Con thuyền không chở người (vì người xa cách chia li) mà chỉ “chở trăng về”. Phải “về kịp tối nay” vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng. Con thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vô vọng! Bến sông trăng trở nên vắng lặng vì “thuyền ai” chỉ là con thuyền mồ côi.

    Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng, cảnh đẹp một cách mộng ảo. Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm trạng cô đơn, thương nhớ đôi với cảnh và người nơi thôn Vĩ. Như ta đã biết, thời trai trẻ, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế từng có một mối tình đơn phương với một thiếu nữ thôn Vĩ, mang tên một loài hoa. Với chàng thi sĩ tài hoa, đa tình và bất hạnh, đang sống trong cô đơn và bệnh tật, nhớ Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa. Cảnh “gió theo lối gió, mây đường mây”, cảnh “thuyền ai đậu bến sông trăng đó” là cảnh đẹp mà buồn. Buồn vì chia lìa, xa vắng, lẻ loi và vô vọng.

    Bên cạnh Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ các em cần tìm hiểu thêm những nội dung khác như Bình giảng khổ thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ hay phần Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ nhằm củng cố kiến thức của mình.

    Bài mẫu số 2: Bình giảng khổ hai trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

    Hàng triệu năm anh qua trái đất có một lần

    Có một lần anh là tài năng.

    … Rút ra cái gì như là tuyết băng

    Trao cho người viên ngọc thơ tuyệt vời chói lọi

    (Di cảo Thơ 2)

    Đó là những dòng thơ Chế Lan Viên viết về Hàn Mặc Tử và điều ấy thật đúng với bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng của xứ Huế và kín đáo gởi gắm niềm khát khao gắn bó với tình người, tình đời của nhà thơ. Gợi tả cảnh mà chan chứa nỗi niềm là khổ thứ hai của bài thơ:

    Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay ?

    Khổ thơ đầu gợi tả vẻ đẹp trong sáng tinh khôi, mới mẻ, vui tươi của thôn Vĩ. Lòng người như quyến luyến trước vẻ đẹp ấy. Bức tranh còn gợi nhiều rung động khao khát yêu thương thầm kín, nên mạch thơ soi vào nội tâm tác giả. Hàn Mặc Tử mong ước được gặp người xưa, cảnh cũ nhưng thực tế đắng cay oan nghiệt, vì vậy chuyện tình duyên gắn bó chỉ là chuyện gió mây chia đường:

    Gió theo lối gió, mây đường mây

    Câu thơ cắt đôi, gió cuốn trong gió, mây về phía mây, mỗi vế được chắn trước sau bởi một từ gió và mây, tất cả như đóng khung số phận. Gió một đường và mây trôi về một ngả, trái ngược với quy luật tự nhiên. Đáng lý ra gió thổi mây bay, mây nương theo gió để có thể đưa nhau đến cuối đất cùng trời. Thế nhưng tất cả đều cách xa chia lìa. Khách thể phi lô gích ấy, trong tình cảnh này đã nói được sự xa cách của nhà thơ đối với cuộc đời và với người mình thầm yêu mến. Số phận cay nghiệt, nỗi vật vã bởi nỗi đau của bệnh tật làm cho duyên tình trở nên ngang trái vô vọng. Khát vọng không thành, nỗi đau tràn ngập tâm hồn, tràn ra ngoại cảnh thấm vào núi sông, buồn đến từng lá cây ngọn cỏ, dòng nước buồn nên cũng chẳng muốn trôi, còn hoa bắp khẽ lay trong gió nhẹ:

    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

    Tác giả không chỉ gợi tả dòng sông buồn mà còn làm hiện lên cảnh dòng sông trong xanh lững lờ trôi trong nắng chiều tà gợi vẻ đẹp êm ả, hiền hòa của dòng Hương. Cảnh dòng sông còn gợi không khí riêng: trầm tư, mặc tưởng, chút sâu lắng, nhẹ nhàng đặc trưng của xứ Huế vẻ duyên dáng trữ tình của dòng Hương giang cũng đã được Tố Hữu ca ngợi:

    Hương giang ơi, dòng sông êm

    Quả tim ta vẫn ngày đêm tự tình

    Tình yêu của nhà thơ đã mang dòng sông Hương đi xa.

    Nỗi buồn nặng trĩu tâm tư đưa nhà thơ dần tách khỏi thực tại để bay về thế giới huyền ảo, thần tiên: cảnh dòng Hương chìm trong đêm trăng vừa như thực vừa như mộng:

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

    Có chở trăng về kịp tối nay ?

    Cả một miền quê chìm dưới ánh trăng đẹp như miền cổ tích, vẻ đẹp này của xứ Huế được nhà thơ Pháp ca ngợi:

    Núi Ngự lơ thơ chòm cỏ mới,

    Sông Hương lai láng bóng trăng xưa.

    (Chailli Bert)

    Cảnh thơ đã sáng lên với con thuyền trăng nằm trên bến sông trăng, cả không gian tràn ngập ánh trăng vàng. Cảnh thơ có vẻ đẹp như trong huyền thoại, lãng mạn, bay bổng mà có lần nhà thơ Hồ Chí Minh đã viết:

    Giữa dòng bàn bạc việc quân

    Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

    Tâm hồn tác giả như đang sống trong miền cực lạc, sáng láng ấy. Nhưng trái tim đau buồn chưa tách hẳn khỏi cõi thực đế về vời bến mơ. Nên trong cảnh đẹp thiếu vắng tình người ấy, lòng nhà thơ đã trỗi lên niềm khao khát yêu thương hạnh phúc, dù biết rằng xa xôi vô vọng. Vì thế khổ thơ đọng lại với câu hỏi đầy khắc khoải âu lo:

    Có chở trăng về kịp tối nay?

    Thơ của Hàn Mặc Tử là cả một thế giới của trăng với nhiều màu vẻ khác nhau. Có khi trăng tạo thành thể giới huyền hồ:

    Không gian dày đặc toàn trăng cả

    Tôi cũng trăng và nàng cũng trăng.

    (Huyền ảo)

    Còn trăng trong Đây thôn Vĩ Dạ là hình ảnh của cái đẹp, là biểu tượng cửa hạnh phúc nên con thuyền mộng chở trăng về bến mơ, nhưng phải về kịp tối nay. Phải tối nay đó là giới hạn thời gian cuối cùng, không thì tất cả sè dở dang. Tác giả đang chạy đua với thời gian. Ai sẽ đem hạnh phúc từ vầng trăng tròn đầy trở về trong tối nay để tác giả thay đối dòng sông buồn thiu ám ảnh, để tác giả thay đổi đường đời, số phận nghiệt ngã? Lòng nhà thơ luôn khát khao tìm kiếm, gặp gỡ hình ảnh huyền diệu, thiên thần ấy:

    Tôi đi trên ánh trăng mờ

    Tìm con trăng lạc ngoài bờ bên kia

    Nhưng mong ước dù khắc khoải, thảng thốt cũng chỉ là mong ước hão huyền mà thôi. Vì con thuyền ai chưa xác định và trăng chỉ là thứ hạnh phúc xa xăm, mong manh, mơ hồ khó nắm bắt ở bài thơ khác nhà thơ cũng nhắc đến con thuyền tình đầy mơ ước:

    Thuyền anh buông lững lờ trong hiu quạnh

    Tới em chưa đã tới bến lòng em?

    (Khói hương tan)

    Con thuyền mơ của tác giả thật khó cập bến bờ hạnh phúc. Chuyện tình duyên mộng ảo như đêm trăng. Tuy vậy ở khổ thơ cuối, lòng thơ vẫn không thôi khao khát. Khổ thơ mang âm hưởng buồn, nhưng tiếp tục đoạn thơ trên, tác giả đã gợi tả được vẻ đẹp dịu dàng, mộng mơ của xứ Huế qua dòng Hương. Khổ thơ giúp ta thêm yêu quý vẻ đẹp quê hương, đất nước Việt Nam. Qua đó nhà thơ bộc lộ được tâm sự u hoài, thầm kín, nhưng nỗi khao khát vẫn trỗi dậy đầy ám ảnh, bởi tình yêu cuộc sống thiết tha, mãnh liệt của hồn thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ giúp người đọc hiểu và biết trân trọng vẻ đẹp và giá trị cuộc sống.

    Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ nhằm chuẩn bị cho bài học này.

    Bên cạnh nội dung đã học, các em cần chuẩn bị bài học sắp tới với phần Soạn bài Bản tin để nắm vững những kiến thức Ngữ Văn 11 của mình.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/binh-giang-kho-hai-trong-bai-tho-day-thon-vi-da-40957n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Giới Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Thế Giới Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Bình Giảng Khổ Hai Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Phân Tích Đoạn Trích “chí Khí Anh Hùng” Trong “truyện Kiều” Của Nguyễn Du
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích ” Truyện Kiều”
  • Phân Tích Chí Khí Anh Hùng
  • Phân Tích “chí Khí Anh Hùng” Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • B. DÀN BÀI CHI TIẾT

    1. Mở bài

    • Giới thiệu khái quát về tác giả Hàn Mặc Tử
      • Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí
      • Quê ở làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá – Phong Lộc – Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
      • Là một trong những cây bút tài năng của phong trào Thơ Mới
    • Dẫn dắt vấn đề :
        Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một thế giới với những hình ảnh thơ mộng, ngôn từ tinh tế,…

    2. Thân bài

    • Định nghĩa: Thế giới nghệ thuật là gì?
        Khái niệm: Thế giới nghệ thuật xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác phẩm văn học trong dạng chỉnh thể (từ những năm 70 của thế kỉ XX). Theo ngành Thi pháp học: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm một loại hình sáng tác của một tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh thế giới ấy. Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có qui luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng…chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật(…). Như vậy, mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới… Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới một cách cắt nghĩa về thế giới… Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ. (Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi, tr.201-202)
    • Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
      • Nhìn từ góc độ không – thời gian (Chronotope): bài thơ gồm ba khổ nhưng giữa ba khổ không hề có sự liên kết với nhau theo tính liên tục của không gian và thời gian.
        • Thời gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục mà bị đứt nối, ngắt quãng: cảnh thôn Vĩ vào buổi sáng tinh mơ (khổ 1), cảnh đêm trăng (khổ 2) và sự vô thức, không đoán định về mặt thời gian (khổ cuối).
        • Không gian cũng không tuân theo một trình tự nào. Không gian trong bài thơ là không gian của sự chia lìa, không gian giữa thực và hư của hai vùng đất: xứ Vĩ Dạ và vùng đất Qui Nhơn.
        • ⇒ Vậy bài thơ liên kết với nhau như thế nào? Nó được liên kết thông qua mạch cảm xúc được vận động một cách nhất quán trong dòng ý thức, suy tưởng của nhân vật trữ tình. Đây là nét độc đáo của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.
      • Tính hàm súc, mới lạ của ngôn từ, các biện pháp tu từ:
        • Đại từ phiếm chỉ “Ai”
        • Câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, “Có chở trăng về kịp tối nay?” và “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Những câu hỏi không cần phải có câu trả lời nhưng nó lại chứa đựng biết bao sự đau đớn, hoài nghi và bế tắc nhưng cũng đầy niềm hy vọng, khát khao của nhân vật trữ tình.
      • Hình ảnh đầy chất thơ và gợi cảm: Hình ảnh gần gũi, nên thơ của thôn Vĩ: nắng sớm, hàng cau, khu vườn, lá trúc, bến nước, con thuyền, trăng,… (khổ 1); Hình ảnh của sự chia lìa: gió, mây, dòng nước, hoa bắp, trăng (khổ 2); Hình ảnh đầy mộng ảo, mơ hồ (khổ 3).
      • Nhịp thơ: có sự đứt gãy bất thường (câu thơ thất ngôn thường ngắt nhịp 2/2/3 những lại được ngắt nhịp 4/3).
      • ⇒ Nhịp điệu và hình ảnh thơ: gợi lên những ý nghĩa mới trong văn học.

    3. Kết bài

    • Tóm tắt lại những nét đặc sắc về thế giới nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.
      • Sự kết nối bài thơ không nằm trong logic thông thời theo trật tự không – thời gian tuyến tính mà nằm ở sự chuyển biến tâm trạng của nhân vật trữ tình.
      • Sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các biện pháp tu từ: ẩn dụ, đại từ, câu hỏi tu từ,…
    • Gợi mở thêm vấn đề: ngoài bài thơ Đây thông Vĩ Dạ, thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc tử cũng là một trong những đề tài được nhiều người quan tâm.

    C. BÀI VĂN MẪU

    Đề bài: Nét nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

    Hàn Mặc Tử là một hiện tượng thơ kì lạ vào bậc nhất của phong trào Thơ mới. Đọc thơ Hàn thi sĩ ta bắt gặp một tâm hồn tha thiết yêu cuộc sống, yêu thiên cảnh, yêu con người đến khát khao, cháy bỏng: một khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng. Trong thơ Hàn, nhiều bài thơ mang khuynh hướng siêu thoát vào thế giới siêu nhiên, tôn giáo…nhưng đó là hình chiếu ngược của khát vọng sống, khát vọng giao cảm với đời. Một số bài thơ cuối đời của thi sĩ họ Hàn còn đan xen những hình ảnh ma quái – dấu ấn của sự đau đớn giày vò về thể xác lẫn tâm hồn. Đó là sự khủng hoảng tinh thần, bế tắc và tuyệt vọng trước cuộc đời. Nhưng dù được viết theo khuynh hướng nào, thơ Hàn Mặc Tử vẫn là những vần thơ trong sáng, lung linh, huyền ảo, có một ma lực với sức cuốn hút diệu kì đối với người yêu thơ Hàn Mặc Tử.

    Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiên phong trong việc cách tân thi pháp của phong trào Thơ mới. Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử là một thế giới đa dạng, nhiều sắc màu, Hàn Mặc Tử đã đưa vào Thơ mới những sáng tác độc đáo, những hình tượng ngôn từ đầy ấn tượng, gợi cảm giác liên tưởng và suy tưởng phong phú. Ngoài bút pháp lãng mạn, nhà thơ còn sử dụng bút pháp tượng trưng và yếu tố siêu thực.

    Tiếp cận với thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử là cảm nhận được tính hàm súc, mới lạ của ngôn từ, hình ảnh thơ, tính đa nghĩa tạo sinh của văn bản thơ, tính điêu luyện trong cách tổ chức, cấu trúc tác phẩm và tính mơ hồ khó hiểu. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có thể xem là một chủ âm trong cây đàn thơ muôn điệu của Hàn Mặc Tử.

    Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học. Văn bản ngôn từ xét về một mặt chỉ là biểu hiện của hình thức bề ngoài của tác phẩm. Tác phẩm trọn vẹn xuất hiện như, một thế giới nghệ thuật, một khách thể thẩm mĩ. Dùng từ “thế giới” để chỉ tác phẩm văn học là có cơ sở khoa học, bởi thuật ngữ “thế giới nghệ thuật” thỏa mãn các ý nghĩa của khái niệm “thế giới”: chỉ sự thống nhất vật chất của các biểu hiện đa dạng; có giới hạn về không – thời gian; phạm vi tác động cứ các qui luật chung, chứng tỏ có một trật tự thống nhất cho toàn bộ; có tính đầy đủ về các qui luật nội tại; là một kiểu tồn tại, thực tại.

    Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người. Tuy nhiên, việc xác định thế giới nghệ thuật như thế nào thì chưa có ý kiến thống nhất. Từ khái niệm “thế giới” nêu trên có thể hiểu “thế giới nghệ thuật” là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ chỉ có trong tác phẩm văn học nói riêng và trong tác phẩm nghệ thuật nói chung, trong cảm thụ của người tiếp nhận, ngoài ra không tìm thấy ở đâu cả. Thế giới nghệ thuật mang tính cảm tính, có thể cảm thấy được và là một kiểu tồn tại đặc thù trong chất liệu và trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của mọi yếu tố đa dạng trong tác phẩm. Tóm lại, thế giới nghệ thuật hiểu một cách khái quát là tập hợp tất cả các phương thức, hình thức nghệ thuật biểu hiện mà nhà văn sử dụng để phản ánh và sáng tạo hiện thực.

    Hồi còn làm ở Sở đạc điền Bình Định, Hàn Mặc Tử có một mối tình đơn phương với Hoàng Thị Kim Cúc – con gái của chủ sở, người Huế. Mối tình chưa được mặn nồng thì Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo nhưng lòng vẫn nuôi hi vọng ở mối tình đơn phương đó. Khi trở lại Qui Nhơn thì Hoàng Cúc đã theo cha về Huế nên thi sĩ rất đau khổ. Về sau khi Hàn mắc bệnh hiểm nghèo, phải xa lánh mọi người để chữa bệnh, Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn một tấm thiếp kèm vài lời động viên. Trên tấm thiếp là một bức tranh phong cảnh in hình dòng sông với cô gái chèo thuyền, bên dưới là những cành trúc lòa xòa, phía xa xa là ráng trời, có thể là rạng đông hay hoàng hôn. Nhận được tấm thiệp ở mộtxóm vắng Bình Định -nơicách li để chữa bệnh – nơi rất xa xứ Huế, Hàn Mặc Tử đã nghẹn ngào. Tấm thiếp như một chất xúc tác tác động mạnh mẽ đến hồn thơ Hàn Mặc Tử. Những ấn tượng về xứ Huế đã được đánh thức cùng với niềm yêu đời vô bờ bến. Thi sĩ liền cất bút viết bài thơ này trong một niềm cảm xúc dâng trào.

    Nội dung tự thân của bài thơ đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một kỉ niệm riêng tư. Được gợi hứng từ tấm thiếp nhưng bài thơ không đơn thuần là những lời vịnh cảnh, vịnh người từ tấm thiếp mà đó là tiếng lòng đầy uẩn khúc của một tình yêu cháy bỏng nhưng vô vọng; một niềm khát vọng sống, thiết tha gắn bó với cuộc đời, nhất là lúc nhà thơ đang mắc phải căn bệnh hiểm nghèo.

    Đến với thế giới nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là đến với một thế giới nghệ thuật đầy cá tính sáng tạo, mang những nét riêng, nét dị biệt của một hồn thơ đau thương, đa sầu, đa cảm trước thiên nhiên, cuộc sống và con người.

    Trước tiên, nhìn từ góc độ không – thời gian nghệ thuật, bài thơ liên kết với nhau không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian: cảnh vườn thôn Vĩ tươi sáng trong ánh mai với cảnh sắc bình dị mà tinh khôi, đơn sơ mà tinh tế, nghiêng về cảnh thực; cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo, thực hư xem lẫn vào nhau chập chờn chuyển hóa và hình bóng “khách đường xa” nơi chốn khói sương mông lung, cảnh chìm trong mộng ảo. Không – thời gian nghệ thuật của bài thơ được sáng tạo mang tính chủ quan gắn với tâm lí và cảm quan của nhà thơ.

    Thời gian trong bài thơ tồn tại không có tính liên tục, bị đứt nối, ngắt quãng: cảnh thôn Vĩ vào buổi sớm tinh mơ, cảnh sông nước đêm trăng và cuối bài thơ chỉ còn là thời gian vô thức, không xác định. Thời gian trong Đây thôn Vĩ Dạ như một dòng chảy nhưng đứt nối của một nỗi niềm thiết tha gắn bó với đời, khát vọng sống đến khắc khoải.

    Thời gian nghệ thuật là một biểu tượng thể hiện một quan niệm thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người. Thời gian trong Đây thôn Vĩ Dạ đã thể hiện quan niệm của Hàn Mặc Tử về thế thái nhân sinh. Cuộc đời là một chuỗi thời gian đứt gãy, chắp nối và cuối cùng tan vào hư vô.

    Mở đầu bài thơ, thời gian bắt đầu một ngày mới “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”, cảnh vật tràn đầy sức sống. Thời gian thường vận động theo dòng vận động tuyến tính, một chiều. Thế nhưng, nét khác là thời gian trong bài thơ không liên tục mà ngắt quãng. Thời gian mở đầu là buổi sớm tinh khôi nhưng đột ngột chuyển sang đêm trăng đầy mong ngóng, lo âu, buồn đến nao lòng và kết thúc trong thời gian mộng ảo, không xác định. Sự đứt nối thời gian trong bài thơ như một nỗi niềm tâm sự của nhà thơ về cuộc đời và kiếp sống mong manh, đứt đoạn của con người, của Hàn Mặc Tử – một kiếp người dang dở tình duyên và sự nghiệp văn chương.

    Thời gian của bài thơ không mang tính liên tục còn không gian lại không tuân theo tính duy nhất. Không gian trong Đây thôn Vĩ Dạ là không gian của sự chia lìa. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học là mô hình thế giới độc lập, có tính chủ ý và mang ý nghĩa tượng trưng của tác giả, là không gian tinh thần của con người, là không gian sống mà con người cảm thấy trong tâm tưởng. Không gian nghệ thuật là loại không gian Topos, là không gian cảm giác được, là không gian nội cảm chứ không phải như không gian mặt phẳng kiểu Euclip. Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống. Do đó, không thể qui không gian trong Đây thôn Vĩ Dạ về không gian địa lí hay không gian vật lí, vật chất.

    Không gian trong bài thơ là không gian xứ Huế và không gian một vùng quê Bình Định xa vời, cách trở, huyền hồ “mờ nhân ảnh”. Hai không gian nhuốm màu cách biệt như mối tình đơn phương dang dở của Hàn – Hoàng khiến ta chạnh lòng nhớ lại hai không gian li biệt khi Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều -một cuộc chia li đầy xót xa, đau đớn:

    Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

    Nhưng dù sao Hàn Mặc Tử vẫn chờ đợi và nuôi mầm hi vọngcho mối tình tuyệt vọng ấy. Hai không gian xa xôi, ngăn cách ấy không phải vì không gian địa lí nào mà đó là sự cách trở của hai tâm hồn, là nỗi niềm thổn thức của Hàn thi sĩ. Không gian ở đây được soi chiếu qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà thơ.

    Tóm lại, cả bài thơ liên kết với nhau không theo một trật tự nào của không gian và thời gian. Nhưng về mạch cảm xúc thì vận động nhất quán trong cùng dòng tâm tư: đó là lòng yêu đời, lòng ham sống mãnh liệt những đầy uẩn khúc của một hồn thơ, lòng thiết tha với cảnh vật, với con người và cuộc sống. Vì thế, bố cục tuy có vẻ “đầu Ngô mình Sở” những lại liền mạch, liền khổ. Đây là một nét độc đáo của tác phẩm.

    Thế giới nghệ thuật trong bài thơ còn thể hiện ở sự lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nghệ thuật để miêu tả hiện thực và nội tâm một cách sinh động và sâu sắc. Mở đầu bài thơ, tác giả đã khai thác có hiệu quả biện pháp tu từ truyền thống – câu hỏi tu từ:

    Với thế giới nghệ thuật ấy, Hàn Mặc Tử đã có những đóng góp mới lạ, tạo một phong cách riêng, một thi pháp riêng, một quan niệm nghệ thuật riêng cho Trường thơ loạn nói riêng và cho Thơ mới nói chung. Đây thôn Vĩ Dạ đã trải qua hơn bảy mươi năm thăng trầm cùng kịch sử văn học nhưng nó vẫn giữ nguyên giá trị. Đây cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử đầy tài năng nhưng tiếc thay đoản mệnh!

    Như vậy với đề bài Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, HỌC247 đã giúp các em lập dàn ý chi tiết và bài văn mẫu để các em có thể dễ dàng nắm được cách triển khai một bài văn theo dạng đề nghị luận văn học. Qua đó, các em cũng thấy được những nét nghệ thuật đặc sắc như tính hàm súc, mới lạ của ngôn từ, hình ảnh thơ; tính đa nghĩa tạo sinh của văn bản; tính điêu luyện trong cách tổ chức, cấu trúc tác phẩm; tính mơ hồ khó hiểu của một bài thơ mang hơi hướng của sự phá cách trong sáng tác của Hàn Mặc Tử nói riêng và các nhà thơ trên thi đàn văn học nói chung.

    Mod Ngữ Văn biên tập và tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm Nhận Khổ Cuối Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Cảm Nhận Khổ 2 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Phân Tích Bài Thơ Từ Ấy Của Tố Hữu Lớp 11, 6 Bài Mẫu Chuẩn Hay Nhất, Đ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×