Kiến Thức Bài Rừng Xà Nu

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Thử Thpt Qg Bài Rừng Xà Nu Theo Hướng Mới 2022
  • Xác Định Và Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • ✅ Cảnh Khuya; Rằm Tháng Giêng
  • Phân Tích Bài Thơ Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng)
  • Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Của Thế Lữ
  • Tổng hợp kiến thức trọng tâm Rừng xà nu – Nguyễn Thành Trung

    I. Kiến thức cơ bản 1. Hoàn cảnh sáng tác

    – Tác phẩm được viết năm 1965 khi giặc Mĩ đổ quân ào ạt vào bãi biển Chu Lai – Quảng Nam . Đó là lúc nhà văn muốn viết một bài “Hịch tướng sĩ” thời đánh Mĩ để động viên, cổ động nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ.

    – Truyện được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.

    Mở đầu truyện là cảnh rừng xà nu bạt ngàn đứng trong “tầm đại bác “của giặc đang ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng Xôman. Sau 3 năm đi lực lượng, Tnú được cấp trên cho phép về thăm làng một đêm. Bé Heng nay đã trở thành một giao liên chững chạc, nhanh nhẹn. Dít nay đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội vững vàng. Đêm hôm đó, cụ Mết đã kể cho cả dân làng nghe về cuộc đời Tnú. Hồi đó Mĩ Diệm khủng bố gắt gao, được anh Quyết dìu dắt Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu cán bộ cách mạng từ nhỏ. Giặc bắt anh, sau 3 năm anh lại vượt ngục Kontum trở về. Lúc này anh Quyết đã hi sinh, Tnú lấy Mai. Anh tiếp tục cùng dân làng mài giáo mác chuẩn bị chiến đấu.

    Giặc nghe tin, chúng về làng càn quét, khủng bố. Kẻ thù bắt vợ con anh, tra tấn tàn bạo ngay trước mắt anh. Căm hờn cháy bỏng, anh đã nhảy xổ ra giữa bọn lính nhưng cũng không cứu được mẹ con Mai. Giặc bắt anh, quấn giẻ tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay anh. Cụ Mết cùng thanh niên trong làng đã nổi dậy giết sạch bọn lính cứu Tnú. Sau đó anh gia nhập lực lượng quân giải phóng. Câu chuyện kết thúc bằng cảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở lại đơn vị, trước mắt họ là những cánh rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời.

    – Nhan đề là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn. Hình ảnh rừng xà nu là linh hồn của tác phẩm. Cảm hứng chủ đạo và dụng ý nghệ thuật của nhà văn được khơi nguồn từ hình ảnh này.

    – Rừng xà nu là hình ảnh trung tâm có vẻ đẹp riêng, gắn bó mật thiết với cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân Tây Nguyên, biểu tượng cho những phẩm chất cao đẹp của con người Tây Nguyên: sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất, khao khát tự do.

    II. Kiến thức cơ bản

    * Vị trí xuất hiện : nhan đề, đầu và cuối tác phẩm, xuất hiện trong sự đối chiếu so sánh với các nhân vật ở trong truyện.

    * Nghĩa thực : Đây là một loài cây có thật ở vùng đất Tây Nguyên.

    * Nghĩa biểu tượng :

    – Cây xà nu gắn bó với cuộc sống con người Tây Nguyên:

    + Cây xà nu có mặt trong đời sống hằng ngày của người dân làng Xôman.

    + Cây xà nu tham dự vào những sự kiện trọng đại của dân làng Xôman.

    + Cây xà nu gắn với cuộc sống của người dân làng Xôman đến mức nó đã thấm sâu vào nếp suy nghĩ và cảm xúc của họ, cụ Mết nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào “không có gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”. Cây xà nu đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của mảnh đất này.

    – Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất của con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng.

    + Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu do đại bác của kẻ thù tượng trưng cho những mất mát, đau thương vô bờ mà dân làng Xôman nói riêng (anh Xút, bà Nhan, mẹ con Mai…) và đồng bào Tây Nguyên nói chung đã phải trải qua trong cuộc chiến đấu.

    + Đặc tính ham ánh sáng của cây xà nu tượng trưng cho niềm khát khao tự do, lòng tin vào lý tưởng cách mạng của người dân Tây Nguyên, của đồng bào miền Nam trong cuộc kháng chiến.

    + Khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu gợi nghĩ đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người dân Tây Nguyên (cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, Heng) đoàn kết bên nhau trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

    + Sự tồn tại kỳ diệu của rừng xà nu qua những hành động hủy diệt của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt, sự bất khuất, kiên cường và sự vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến mất còn với kẻ thù.

    – Nghệ thuật miêu tả:

    + Kết hợp miêu tả cụ thể lẫn khái quát, khi dựng lên hình ảnh cả rừng xà nu, khi đặc tả cận cảnh một số cây

    + Phối hợp cảm nhận nhiều giác quan trong việc miêu tả những cây xà nu với vóc dáng tràn đầy sức lực, tràn trề mùi nhựa thơm, ngời xanh giữa ánh nắng

    + Hình tượng cây xà nu vừa hiện thực lại vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng. Miêu tả cây xà nu trong sự so sánh đối chiếu thường xuyên với con người. Các hình thức ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động, hùng vĩ, khoáng đạt của thiên nhiên đồng thời gợi ra nhiều suy tưởng sâu xa về con người, về đời sống.

    + Hình ảnh cây xà nu xuất hiện ở đầu tác phẩm rồi kết thúc tác phẩm lại hiện ra cánh rừng xà nu bạt ngàn. Đây là một kết cấu vòng tròn. Kết cấu ấy cho phép ta nghĩ : cây xà nu không chỉ là tượng trưng cho một làng Xô Man nhỏ bé hay cho một vùng núi rừng Tây Nguyên. Có thể đó còn là biểu tượng của cả miền Nam, của cả dân tộc Việt Nam trong những tháng năm chống đế quốc Mĩ.

    2. Hình tượng nhân vật Tnú

    – Tnú là người có tính cách trung thực, gan góc, dũng cảm, mưu trí:

    + Giặc giết bà Nhan, anh Xút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không sợ. Tnú vẫn cùng Mai xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ.

    + Học chữ thua Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu.

    + Khi đi liên lạc không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh vượt băng băng như con cá kình”. Bởi theo Tnú những chỗ nguy hiểm giặc “không ngờ” đến.

    + Bị giặc phục kích bắt, bị tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không khai. Khi bọn giặc kéo về làng, bắt Tnú khai cộng sản ở đâu anh đặt tay lên bụng dõng dạc nói “cộng sản ở đây này”.

    – Tnú là người có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng

    + Tham gia lực lượng vũ trang, nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép của cấp trên mới về thăm.

    + Tính kỉ luật cao trong mối quan hệ với cách mạng biểu hiện thành lòng trung thành tuyệt đối: khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột nhưng Tnú không kêu nửa lời, anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết : “người cộng sản không thèm kêu van”.

    – Một trái tim yêu thương và sục sôi căm giận

    + Tnú là một người sống rất nghĩa tình : Tnú đã tay không xông ra cứu vợ con. Động lực ghê gớm ấy chỉ có thể được khơi nguồn từ trái tim cháy bỏng ngọn lửa yêu thương và ngọn lửa căm thù. Tnú là con người tình nghĩa với buôn làng: anh lớn lên trong sự đùm bọc yêu thương của người dân làng Xôman.

    + Lòng căm thù ở Tnú mang đậm chất Tây Nguyên: Tnú mang trong tim ba mối thù : Thù của bản thân; Thù của gia đình; Thù của buôn làng

    – Ở Tnú, hình tượng đôi bàn tay mang tính cách, dấu ấn cuộc đời

    + Khi lành lặn : đó là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình (bàn tay cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho ; bàn tay cầm đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt vì học hay quên chữ …

    + Khi bị thương : đó là chứng tích của một giai đoạn đau thương, của thời điểm lòng căm hận sôi trào “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy trong bụng”. Đó cũng là bàn tay trừng phạt, bàn tay quả báo khi chính đôi bàn tay tàn tật ấy đã bóp chết tên chỉ huy đồn giặc trong một trận chiến đấu của quân giải phóng.

    – Hình tượng Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên làm sáng tỏ chân lí của thời đại đánh Mĩ : “chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”.

    + Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khí là bi kịch của người dân STrá khi chưa giác ngộ chân lý (bà Nhan, anh Xút). Tnú là người có thừa sức mạnh cá nhân nhưng anh vẫn thất bại đau đớn khi không có vũ khí. Với bàn tay không có vũ khí trước kẻ thù hung bạo anh đã không bảo vệ được vợ con và bản thân.

    + Tnú chỉ được cứu khi dân làng Xôman đã cầm vũ khí đứng lên. Cuộc đời bi tráng của Tnú là sự chứng minh cho chân lí : phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng.

    + Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đấu tranh đến với cách mạng của làng Xôman nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung.

    Tóm lại, câu chuyện về cuộc đời và con đường đi lên của Tnú mang ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và con đường của các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Vẻ đẹp và sức mạnh của Tnú là sự kết tinh vẻ đẹp và sức mạnh của con người Tây Nguyên nói riêng và người Việt Nam nói chung trong thời đại đấu tranh cách mạng.

    – Cụ Mết : “Pho sử sống” của làng Xô man; Người giữ lửa truyền thống của cả bộ tộc, người kết nối quá khứ và hiện tại, hôm qua và hôm nay; “thủ lĩnh” tinh thần, người định hướng con đường đi theo cách mạng cho cả bộ tộc; nhân vật tiêu biểu cho tính cách quật cường, bất khuất của dân làng Xô Man nói riêng, người Tây Nguyên nói chung, thâm chí rộng ra là cả dân tộc.

    Nếu ví làng Xôman như một khu rừng Xà nu đại ngàn, thì cụ Mết chính là cây đại thụ.

    – Dít : một cô bé gan dạ, dũng cảm, sớm tiếp bước các thế hệ đi trước khi đến với cách mạng; tiêu biểu thế hệ trẻ của làng Xô man trưởng thành trong cuộc kháng chiến; Cùng với Tnú, Dít là lực lượng chủ chốt của cuộc đấu tranh ngày hôm nay, đó là sự tiếp nối tự giác và quyết liệt.Cũng như Tnú, Mai và nhiều thanh niên khác trong làng, Dít là một trong “những cây xà nu đã trưởng thành” của “đại ngàn Xô man” hùng vĩ.

    – Bé Heng: Một cậu bé hồn nhiên, ngộ nghĩnh đáng yêu; Sớm tham gia vào cuộc kháng chiến chung của cả làng; Là hình ảnh tiêu biểu về một thế hệ đánh Mĩ mới, sẽ tiếp bước một cách mạnh mẽ những Tnú, Mai, Dít; Trong “Rừng xà nu”, bé Heng chính là một trong những “cây xà nu con” “mới mọc lên”.

    4. Biểu hiện của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

    + Đề tài: Viết về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ; số phận và con đường giải phóng của dân làng Xôman) không chỉ là vấn đề sinh tử của một ngôi làng ở Tây Nguyên mà còn là của cả dân tộc Việt Nam.

    + Hệ thống nhân vật mà điển hình là Cụ Mết, Tnú, Dít: đều là những cá nhân anh hùng kết tinh cao độ vẻ đẹp và phẩm chất của cả cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, thậm chí của con người Việt Nam trong chiến đấu (yêu nước, căm thủ giặc sâu sắc, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, trung thành với cách mạng…

    + Không gian nghệ thuật: rộng lớn.

    + Cách kể chuyện: Chuyện được kể bên bếp lửa qua lời kể của một già làng, đông đảo dân làng từ già đến trẻ đều đang quây quần bên bếp lửa để lắng nghe, không khí rất trang nghiêm

    + Giọng điệu: ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng; ngôn ngữ trang trọng, hào hùng.

    III. Tổng kết

    + Tô đậm không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên (bức tranh thiên nhiên; ngôn ngữ, tâm lí, hành động của nhân vật)

    + Xây dựng thành công hai tuyến nhân vật đối lập gay gắt: giữa kẻ thù (thằng Dục) với lực lượng cách mạng, đại diện là các thế hệ nối tiếp nhau vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu (cụ Mết, Tnú, Dít,…)

    + Khắc họa thành công hình tượng cây xà nu vừa hiện thực vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng, đem lại chất sử thi và lãng mạn, bay bổng cho thiên truyện.

    + Nghệ thuật trần thuật sinh động (đan cài câu chuyện về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man; xen kẽ thời gian kể chuyện và thời gian của các sự kiện; phối hợp các điểm nhìn,…) tạo nên giọng điệu, âm hưởng phù hợp với không gian Tây Nguyên.

    Các dạng đề văn liên hệ tác phẩm thường gặp :

    Một số tài liệu hay nên tham khảo:

    **********

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành) Có Lời Giải
  • Phân Tích Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Tuần 22. Rừng Xà Nu

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Mẫu Lớp 8 Tập 2: Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ.
  • Bằng Đoạn Văn Diễn Dịch (Khoảng 12 Câu) Nêu Hiệu Quả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng
  • Bài Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu
  • Phân Tích Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, 7 Bài Văn,
  • Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 10: Bài
  • ….câu chuyện của một đời

    được kể trong một đêm…

    câu chuyện về

    người anh hùng

    ở rừng xà nu trên mảnh đất Tây Nguyên

    đau thương nhưng kiên cường, anh dũng

    Theo chân của nhà văn Nguyễn Trung Thành

    để hiểu đất và người Tây Nguyên

    …như một huyền thoại

    RỪNG XÀ NU

    NGUYỄN TRUNG THÀNH

    RỪNG XÀ NU

    I. TIỂU DẪN

    1. Tác giả

    2. Tác phẩm

    II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    2. Các thế hệ dân làng Xô Man

    3. Nghệ thuật

    III. TỔNG KẾT

    1. Nội dung

    2. Nghệ thuật

    I. Tiểu dẫn

    1. Tác giả

    NTT là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

    Ông am hiểu và gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên.

    – Những trang viết của ông mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Nguyễn Trung Thành và Núp

    2. Tác phẩm

    – Rừng xà nu được viết năm 1965 lúc cả nước sục sôi đánh Mĩ.

    Xuất xứ: in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969).

    Chủ đề

    I. Tiểu dẫn

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    a. Vị trí

    – Khơi gợi cảm hứng cho tác giả

    – Tên tác phẩm

    – Hình tượng xuyên suốt tác phẩm: mở đầu, giữa và kết thúc

    Hình tượng trung tâm, thể hiện tư tưởng của tác phẩm.

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    b. Rừng xà nu tiêu biểu cho vẻ đẹp của núi rừng Tây Nguyên

    -Vóc dáng: Thân cây cường tráng, hình nhọn mũi tên

    – Màu sắc: ngọn xanh rờn

    – Dòng nhựa: tràn trề, thơm ngào ngạt, mỡ màng

    – Sức sống mãnh liệt

    Với bút pháp lãng mạn, rừng xà nu hiện lên với vẻ đẹp hùng vĩ, man dại.

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    c. Rừng xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống con người Tây Nguyên

    -Trong sinh hoạt: ngọn lửa trong bếp, đuốc xà nu, xông bảng để học chữ…

    -Trong những sự kiện trọng đại:

    + Nơi nuôi giấu cán bộ, tấm lá chắn

    + Đuốc xà nu soi cho dân làng mài giáo, nhựa xà nu đốt cháy 10 đầu ngón tay Tnú, ánh đuốc trong đêm đồng khởi…

     Rừng xà nu trở thành một nét văn hoá, chứng nhân lịch sử.

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    d. Rừng xà nu biểu tượng cho số phận và phẩm chất của người dân Tây Nguyên

    * Số phận đau thương

    – RXN là đối tượng huỷ diệt cũng như làng Xô Man đang chống chọi với mưa bom bão đạn của quân thù:

    “Làng nằm trong tầm đại bác của đồn giặc”, “hầu hết đạn đại bác đều rơi vào đồi xà nu”

    – Nỗi đau hiện lên nhiều vẻ

    “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương”

     khốc liệt của chiến tranh.

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    d. Rừng xà nu biểu tượng cho số phận và phẩm chất của người dân Tây Nguyên

    * Phẩm chất tốt đẹp

    Con người TN yêu tự do, phóng khoáng: ham ánh sáng mặt trời…

    Sức sống mãnh liệt: trong rừng ít có loại cây sinh sôi, nảy nở khoẻ như vậy…

    – Hiên ngang, bất khuất: Ngọn cây lao thẳng lên, ưỡn tấm ngực lớn che chở…

    – Thuỷ chung với cách mạng: rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời

    II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

    1. Hình tượng rừng xà nu

    e. Nghệ thuật

    Kết cấu đầu cuối tương ứng.

    Điểm nhìn linh hoạt.

    Biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hoá, so sánh…

    Bút pháp sử thi, cảm hứng lãng mạn.

    – Câu hỏi ôn thi tốt nghiệp:

    Câu 1: Tóm tắt truyện rừng xà nu và giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm. (2đ)

    Câu 2: Hình tượng rừng xà nu được xây dựng như một biểu tượng của cuộc sống đau thương nhưng kiên cường và anh dũng. (5đ)

    Chuẩn bị bài mới: Rừng xà nu (tiết 2)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Thơ Việt Nam Quê Hương Ta
  • Bài Thơ: Việt Nam Quê Hương Ta (Nguyễn Đình Thi)
  • Cảm Nhận Về Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Quê Hương
  • Bài 2. Cho Câu Thơ: “khi Trời Trong, Gió Nhẹ, Sớm Mai Hồng”.. 1. Chép Chính Xác Những Câu Thơ Còn Lại Để Hoản Thành Khổ Thơ Thứ 2 Bài “quê Hương” Của Tế Ha
  • Soạn Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng
  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Phân Tích Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Soạn bài Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

    Bố cục

    – Phần 1 (phần chữ nhỏ): Tnú sau ba năm theo cách mạng giờ về thăm làng

    – Phần 2 (còn lại): cụ Mết kể câu chuyện về cuộc đời của Tnú và người dân làng Xô Man

    Câu 1 (trang 48 sgk ngữ văn 12 tập 2)

    a, Ý nghĩa truyện:

    + Nhan đề: rừng xà nu là biểu tượng về tinh thần và sức sống bất diệt của người dân Tây Nguyên. Đó cũng là sáng tạo nghệ thuật, thể hiện tình cảm của tác giả với thế hệ anh hùng chống giặc.

    b, Cảnh xà nu dưới tầm đại bác: nơi hứng chịu mọi sự tàn phá của đại bác Mĩ, đầy đau thương, chết chóc nhưng vẫn vươn lên với sức ống mãnh liệt, biểu trưng cho cuộc sống, con người, phẩm chất người làng Xô Man

    c, Hình ảnh ngọn đồi xà nu trải dài hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời

    Thể hiện sự tiếp nối, trường tồn, mạnh mẽ không gì hủy hoại được → tượng trưng cho sức sống của đất nước và con người

    Câu 2 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

    a, Người anh hùng được cụ Mết kể: Tnú. Với phẩm chất, tính cách:

    + Gan dạ, dũng cảm, trung thực (còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho Quyết)

    + Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (giặc bắt, tra tấn, lưng ngang dọc vết bị chém nhưng vẫn gan góc

    – Số phận đau thương: không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đốt mười ngón tay)

    – Kiên cường đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt kẻ thù

    – Tnú may mắn hơn thế hệ đàn anh mình như anh hùng Núp và A Phủ:

    + Không sống kiếp tù đày cam chịu

    + Được giác ngộ lí tưởng cách mạng từ khi từ nhỏ

    b, Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con”- cụ Mết nhắc tới bốn lần nhấn mạnh

    + Khi chưa cầm vũ khí chiến đấu, thì ngay cả những người thân Tnú không giữ được

    + Cụ Mết khẳng định, đấu tranh cần có vũ khí, đó là con đường duy nhất bảo vệ được những điều thân yêu, thiêng liêng

    – Chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế xương máu của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí phải ghi nhớ, truyền dạy cho thế hệ sau

    c, Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, phải chống lại mọi kể thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí, hi sinh tính mạng

    d, Vai trò của nhân vật

    – Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung

    – Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước, vẻ đẹp sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh

    – Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh, để đưa cuộc chiến thắng lợi cuối cùng

    – Cuộc chiến khốc liệt cần đòi hỏi mỗi người Việt có sức sống mạnh mẽ, trỗi dậy

    Câu 3 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

    Hình ảnh rừng xà nu, hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, kiên trung… của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man

    Câu 4 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

    Nghệ thuật của truyện:

    + Đề tài gắn với lịch sử: cuộc đấu tranh của dân làng Xô Man chống Mỹ Diệm

    + Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng, rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc

    + Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên với phẩm chất của anh hùng thời đại

    – Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách

    – Cách trần thuật: kể câu chuyện theo lời trang trọng của cụ Mết, bên bếp lửa, như truyền cho con cháu biết những trang sử bi thương và người anh hùng của cộng đồng

    – Ngôn ngữ, giọng điệu: đậm chất sử thi, hùng tráng

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

    Tìm đọc trọn vẹn tác phẩm

    Bài 2 (trang 49 sgk ngữ văn 12 tập 2)

    Đôi bàn tay của Tnú mang nhiều ý nghĩa

    – Đôi bàn tay kiên trung với cách mạng

    – Đôi bàn tay chịu nhiều đau thương, ghi lại chứng tích, tội ác mà kẻ thù gây ra

    – Đôi bàn tay của nghĩa tình, của trụ cột gia đình

    – Chính đôi bàn tay đầy thương tích đã đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống kẻ thù, đôi bàn tay ấy thể hiện dũng khí, tinh thần kiên cường của cách mạng

    → Đôi bàn tay của Tnú tượng trưng cho sức mạnh của cộng đồng, sức mạnh người anh hùng Tây Nguyên, đó là đôi bàn tay chứa ý chí, sức mạnh vượt qua kẻ thù

    Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Đề Đọc Hiểu Rừng Xà Nu
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Tác Phẩm Rừng Xà Nu
  • Cảm Nghĩ Về Đoạn Thơ Rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo
  • Đề 1: Câu 1: “rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo Tre Bao Nhiêu Rễ Bấy Nhiêu Cần Cù Vươn Mình Trong Gió Tre Đu
  • Đoạn Thơ: ‘rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo … Tre Xanh Không Đứng Khuất Mình Bóng Râm”, Tác Giả Đã Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật Nào?
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Rừng xà nu là một trong những văn bản trọng điểm của chương trình ngữ văn 12. Vì vậy, trong bài viết này, Kiến Guru không chỉ hướng dẫn các em học sinh soạn Rừng xà nu theo yêu cầu đọc hiểu trong SGK, mà Kiến sẽ tóm tắt những nội dung quan trọng mà các em cần nắm để phục vụ cho các kì thi sắp tới

    I. Hướng dẫn soạn Rừng xà nu 

    Câu 1: Ý nghĩa nhan đề và hình ảnh rừng xà nu

    a. Ý nghĩa nhan đề Rừng xà nu

    xà nu là một loại cây rất phổ biến và gắn liền với đời sống người dân vùng Tây Nguyên. Cây xà nu là một loài cây có sức sống vô cùng mãnh liệt, vượt qua thời tiết khắc nghiệt để vươn lên từng ngày.

    Tác giả lấy nhan đề Rừng xà nu là có ý nghĩa thông qua hình tượng của Rừng xà nu để nói lên ý chí kiên cường bất khuất của con người Tây Nguyên trong trận chiến với đế quốc Mỹ xâm lược. Dù mưa bom bão đạn, dù bọn tay sai có tìm cách tiêu diệt người con Tây Nguyên như thế nào thì họ vẫn sẽ như những cây xà nu, vẫn gồng mình chống lại, lớp này ngã xuống thì sẽ có lớp khác vươn lên, không bao giờ khuất phục.

    Nguồn: Internet

    b. Ý nghĩa đoạn văn miêu tả rừng xà nu dưới tầm đại bác

    Rừng xà nu hứng chịu mọi bom đạn do giặc Mỹ dội xuống làng Xô Man, chịu nhiều thương tích “hàng vạn cây không có cây nào là không bị thương” nhưng không vì thế mà bọn Mỹ có thể phá tan cánh rừng này. Bởi vì xà nu như đã nói ở trên, là một loài cây có sức sống vô cùng mãnh liệt “cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn”, “Đạn đại bác không giết nổi chúng”…

    c. Ý nghĩa hình ảnh cánh rừng xà nu trải ra hút tầm mắt, chạy tít tắp đến tận chân trời và được lặp đi lặp lại trong tác phẩm.

    Rừng xà nu sẽ cứ tiếp nối nhau mà lan rộng ra, sẽ luôn trường tồn và phát triển mạnh mẽ như lòng yêu nước, quyết tâm tiêu diệt giặc của những con người vùng Tây Nguyên nói riêng và của những người dân Nam Bộ, người dân cả nước nói chung.

    Nguồn: Internet

    Câu 2: Phân tích nhân vật cụ Mết

    a. Người anh hùng mà cụ Mết kể trong đêm hôm ấy chính là Tnu. Tnu là một người con của làng Xô man với những phẩm chất vô cùng đáng quý

    – Tnu đã được giác ngộ cách mạng từ khi còn nhỏ:

    Lúc nhỏ thì Tnu đã đi nuôi những chiến sĩ cách mạng. Khi đi liên lạc bị giặt bắt nhưng sống chết Tnu vẫn không khai nhận

    – Vì vậy mà lúc lớn lên, Tnu đã quyết tâm đi theo cách mạng tiêu diệt giặc dù rất nhiều điều bất hạnh xảy ra: 

    + Thay anh Quyết lãnh đạo dân làng chống giặc

    + Dám vùng lên cứu vợ con của mình 

    + Khi bị chúng bắt, Tnu vẫn đấu tranh đến cùng

    + Khi bị chúng thiêu trụi 10 ngón tay bằng nhựa xà nu vô cùng đau đớn, nhưng anh quyết không mở miệng kêu xin.

    – Anh còn là một người yêu gia đình, yêu buôn làng và yêu đất nước.

    – Đồng thời cũng là một con người có kỉ luật, nghiêm chỉnh chấp hành quy định quân ngũ, cho về 1 đêm là về 1 đêm dù đã 3 năm anh xa quê hương của mình.

    So với đàn anh của mình là A Phủ, Tnu có nhiều điểm khác biệt:

    – Tnu đã giác ngộ cách mạng từ khi còn nhỏ. Con đường đến với cách mạng là con đường tự nguyện và có ý thức rõ ràng, không bộc phát như A Phủ

    – Tnu cũng không phải sống cảnh cam chịu như tù đày

    b. Trong câu chuyện bi tráng về người anh hùng Tnu, cụ Mết đã nhắc đi nhắc lại việc Tnu không cứu được vợ con. 

    Nhiều người cho rằng việc nhắc đi nhắc lại sẽ khiến Tnu thêm đau khổ và giằng xé tâm can, nhưng thật ra ý nghĩa sâu xa hơn mà cụ Mết muốn nói chính là khi không có vũ khí trong tay để chiến đấu thì ngay cả người thân cũng không cứu được, vì vậy mà “chúng nó cầm súng, mình phải cầm giáo”. Cụ Mết muốn khẳng định rằng muốn đấu tranh thì cần phải có vũ khí, đó là con đường duy nhất để chiến thắng kẻ thù

    c. Câu chuyện của Tnu mà cụ Mết kể cho dân làng Xô Man nói lên một chân lí lớn lao: muốn bảo vệ người thân, muốn chống lại kẻ thù tàn độc chỉ có một còn đường duy nhất là chiến đấu vũ trang, dùng bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng. Chính vì vậy mà cụ Mết muốn chân lí đó phải được dân làng Xô Man ghi nhớ và truyền lại cho con cháu đời sau

    d. Hình tượng cụ Mết, Dí, bé Heng có vai trò quan trọng trong việc khắc họa hình tượng nhân vật chính và làm nổi bật tư tưởng cơ bản của tác phẩm Rừng xà nu

     Hình tượng cụ Mết: 

    + Là cầu nối giữa lịch sử và hiện tại, là chứng nhân lịch sự, là người kể lại câu chuyện bi tráng của người anh hùng Tnu.

    + Là người nói lên chân lí bất diệt trong trận chiến chống bọn giặc xâm lược để dành lại tự do.

    + Là người lãnh đạo dân làng Xô Man đồng khởi.

    – Hình tượng của Dít và Mai:

    Dít nối tiếp thế hệ của Mai, hai người đều là những cô gái yêu nước, vững vàng, kiên định, không khuất phục kẻ thù, lớn lên trong sự đau thương mất mát của chiến tranh

    – Hình tượng bé Heng:

    Bé Heng chính là thế hệ sau của Tnu, là những cây xà nu con đang lớn lên trong bom đạn và sẽ tiếp tục con đường của Tnu để đem lại thắng lợi trong tương lai không xa

    Hướng dẫn soạn văn Vợ nhặt – phân tích diễn biến tâm trạng từng nhân vật

    Hướng Dẫn Soạn Chiếc Thuyền Ngoài Xa – Câu Chuyện Về Người Đàn Bà Làng Chài

    Soạn Bài Tràng Giang – Huy Cận: Nỗi Buồn Trước Thiên Nhiên Rộng Lớn

    Câu 3: Rừng xà nu và Tnu luôn có mối quan hệ khắn khít với nhau

    – Rừng xà nu đã gắn bó với Tnu từ những ngày thơ ấu đến khi lớn lên, chứng kiến những đau thương mất mát của cuộc đời Tnu và cùng dân làng Xô Man đón Tnu trở về thăm làng

    – Không chỉ gắn bó với cuộc đời Tnu, rừng xà nu còn mang ý nghĩa biểu tượng cho tinh thần bất khuất kiên cường, không gục ngã trước khó khăn của Tnu

    Cây xà nu ham ánh sáng, ham khí trời như Tnu ham lí tưởng cách mạng.

    Cây xà nu lớn lên nhanh, ngọn như mũi tên lao lên trời cũng giống như Tnu trưởng thành nhanh chóng để gia nhập cách mạng

    Cây xà nu bị bom dội, nhựa quánh lại như những cục máu lớn cũng giống như những mất mát mà Tnu phải chịu, mất vợ mất con, mất luôn 10 đầu ngón tay vì bị bọn phản cách mạng thiêu rụi

    Nhưng cuối cùng Tnu cũng vượt qua, tiếp gia tham gia cách mạng như những cây xà nu tiếp tục vươn lên, sum suê cành lá như những chú chim đủ lông đủ cánh

    Câu 4. Cảm nhận về nghệ thuật khi soạn Rừng xà nu

    – Ngôn ngữ đậm chất sử thi và tráng lệ

    – Các nhân vật mang đậm màu sắcTây Nguyên

    – Cách kể chuyện theo vòng tròn: mở đầu câu chuyện bằng rừng xà nu và kết thúc câu chuyện cũng bằng rừng xà nu đã làm nổi bật ý nghĩa hình tượng của cây xà nu

    – Cách khắc họa nhân vật ấn tượng, nhiều chi tiết được miêu tả sống động khiến người đọc cảm nhận được cái đau thương cùng cực mà Tnu phải chịu

    Nguồn: Internet

    II. Những nội dung quan trọng cần phải nhớ sau khi soạn Rừng xà nu 

    1. Hình tượng Rừng xà nu

    a. Ý nghĩa cụ thể

    – Gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân làng Xô Man

    – Tham dự vào những sự kiện trọng đại của buôn làng Xô Man

    b. Ý nghĩa biểu tượng của Rừng xà nu

    – Chịu nhiều đau thương

    – Ham ánh sáng và khí trời

    – Sức sống bất diệt, kiên cường

    2. Hình tượng các nhân vật

    a. Nhân vật trung tâm Tnu:

    – Gan góc, dũng cảm

    – Trung thực, nghĩa tình

    – Quật khởi, mạnh mẽ

    b. Nhân vật hỗ trợ:

    – Cụ Mết: lãnh tụ tinh thần, người lưu giữ truyền thống và phát ngôn chân lí đấu tranh

    – Dít và Heng: thế hệ trẻ trưởng thành nhanh chóng trong cuộc chiến đấu, tiếp nối thế hệ đàn anh đàn chị

    3. Đặc sắc nghệ thuật

    – Nghệ thuật trần thuật

    – Đậm chất sử thi

    – Màu sắc Tây Nguyên

    Các em học sinh có thể dựa vào những thông tin này để chuẩn bị bài soạn một cách tốt nhất. Ngoài ra nếu các em muốn hiểu sâu sắc hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm này thì có thể tải Ứng dụng học tập Kiến Guru về điện thoại để có thêm tư liệu học tập cho mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm) – Đặng Trần Côn
  • Văn Mẫu Phân Tích Hình Tượng Cây Xà Nu Trong Rừng Xà Nu Hay, Đặc Sắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu
  • Phân Tích 2 Chi Tiết Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Rừng Xà Nu
  • Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
  • Hãy Nêu Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Bài Nhớ Rừng ,ông Đồ , Quê Hương ,khi Con Tu Hú , Tức Cảnh Pác Bó . Nhanh Nha Mk Đang Cần Gấp
  • Qua Dòng Hồi Tưởng Của Người Mẹ Trong Văn Bản “cổng Trường Mở Ra”. Tác Giả Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì? Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó?
  • Dàn ý, văn mẫu phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn rừng xà nu hay, ấn tượng

    Bài văn mẫu số 1: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu (Chuẩn)

    Trải qua hơn 120 năm kháng chiến hào hùng và gian khổ, những trang sử vẻ vang của dân tộc ta đã ghi lại biết bao chiến công lẫy lừng làm rạng danh Tổ quốc, khiến quân thù phải khiếp sợ, khiến cả thế giới phải khâm phục một dân tộc máu đỏ da vàng tuy nhỏ bé nhưng có tầm vóc to lớn. Nhưng để có những chiến công oanh liệt, để đất nước được độc lập, để nhân dân ta được sống trong cảnh hòa bình ấm no, cha anh ta đã phải đánh đổi bằng rất nhiều xương máu, mồ hôi và nước mắt. Trong những năm tháng đế quốc mỹ nhắm đại bác vào vùng núi rừng Tây Nguyên hiền hòa, đã có một dân tộc anh hùng đứng lên ưỡn ngực, vươn mình chống lại quân thù. Tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành khắc họa sâu sắc hình ảnh những người con kiêu hùng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, mà trong đó nổi lên với hình ảnh cây xà nu đẹp đẽ có ý nghĩa biểu tượng to lớn, là đại diện cho từng người dân làng Xô Man chống giặc, là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt và nhiều phẩm chất cao đẹp của người dân Tây Nguyên.

    Hình tượng rừng cây xà nu xuất hiện nổi bật và xuyên suốt chiều dài tác phẩm, mở ra là rừng xà nu bạt ngàn và kết thúc tác phẩm cũng là hình ảnh rừng xà nu chạy dài đến tận chân trời. Không những thế, hình ảnh cây xà nu còn trải kín cả tác phẩm, có đến hơn 20 lần trong toàn tác phẩm, điều ấy đã tái hiện lại những vẻ đẹp kỳ thú đặc trưng của mảnh đất Tây Nguyên, đồng thời mang ý nghĩa biểu tượng về sức sống và vẻ đẹp của những con người Tây Nguyên.

    Bằng bút pháp tả thực, Nguyễn Trung Thành đã cho thấy hình ảnh cây xà nu trở đi trở lại và gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người Tây Nguyên, có mặt trong đời sống hằng ngày của người dân nơi đây, ngọn lửa xà nu “dần dật cháy” trong bếp của mỗi ngôi nhà, khói xà nu làm bảng học cho Tnú và Mai. Hình ảnh cả cánh rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra để che chở cho làng Xô Man bởi “Làng nằm trong tầm đại bác của giặc”, giống như người cha che chở cho đứa con nhỏ của mình, như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ Việt Bắc rằng: “Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”, gắn bó, ân tình.

    Không chỉ có mặt trong cuộc sống hằng ngày mà cây xà nu còn tham dự vào trong những sự kiện trọng đại của dân làng Xô Man. Trong đêm mà vợ con Tnú bị giặc bắt giữ, đống lửa xà nu đã để Tnú nhìn rõ ràng cảnh kẻ thù hành hạ vợ con, rồi thì chính nhựa xà nu lại thiêu đốt 10 ngón tay của Tnú như mười ngọn đuốc, điều ấy đã trở thành giọt nước tràn ly, cổ vũ dân làng Xô Man đứng lên đấu tranh giết mười tên giặc ác ôn để giải cứu Tnú và lập lên chiến công đầu tiên trong cuộc chiến chống lại kẻ thù của dân làng. Từ đây người làng Xô Man đã mạnh mẽ đứng lên, không còn do dự chần chừ, bởi chỉ có đấu tranh chỉ có cách dùng vũ lực thì mới có thể có một cuộc sống tốt hơn, mới có thể bảo vệ được dân làng và đất nước. Hình ảnh của cây xà nu cũng trở lại trong đêm Tnú về thăm làng, đuốc xà nu lại dẫn đường cho người dân khắp làng Xô Man cùng tụ tập về nghe cụ Mết kể về cuộc đời của Tnú, câu chuyện một đời người kể trong một đêm, ánh lửa xà nu càng trở nên thiêng liêng và đậm tính sử thi. Thêm vào đó hình ảnh xà nu còn thấm vào nếp cảm, nếp nghĩ thấm vào cả lối tư duy và cách nói của người dân Tây Nguyên, những tính chất vẻ đẹp của cây đã trở thành thước đo để khắc họa lần lượt hình ảnh của cụ Mết, của Tnú, Mai, và nhiều người dân làng Xô Man khác.

    Với bút pháp tượng trưng, hình ảnh cây xà nu lại là biểu tượng cho số phận và phẩm chất của người dân Tây Nguyên. Nói về số phận của người dân làng Xô Man, mở đầu tác phẩm Nguyễn Trung Thành viết “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương” ấy là một cảnh tượng ám ảnh về một rừng cây tan hoang bởi đại bác của quân thù, trầy trợt đầy những thương tích. Đến gần hơn, hình ảnh tang thương của cây xà nu càng thêm rõ ràng, “Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão”, từ miệng vết thương ấy ứa ra thứ nhựa “tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh”, “bầm lại quyện đen thành những cục máu lớn”, như vậy đối với tác giả xà nu cũng giống như một con người cũng có máu thịt, cây cũng bị thương, nhựa cây chảy ra được ví là máu huyết của sinh thể, những hòn máu đọng đem lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc về loài cây anh hùng, bất khuất. Nhưng đấy là những cây may mắn, kiên cường còn có thể lành miệng và tiếp tục sinh dưỡng, xấu số hơn có những cây con mới đến ngang tầm ngực người, đã bị đại bác nã phải gãy làm đôi “nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết”. Cách miêu tả chân thực sống động đến từng chi tiết đã tái hiện thật tang thương cảnh cây xà nu ngã xuống vì bom đạn. Suy rộng ra, cũng giống như cả cánh rừng mang đầy thương tích và mất mát ấy, người dân làng Xô Man cũng phải chịu biết bao hy sinh, bao nỗi đau thương cùng cực, bao người dân đã ngã xuống: Anh Xút, bà Nhan, Mai và con của cô với Tnú, tất cả đều hi sinh một cách đầy thương tâm dưới bàn tay độc ác của kẻ thù. Những người còn sống cũng lại mang đầy thương tích trên thể xác và cả tâm hồn, tấm lưng của Tnú với chằng chịt vết dao chém, mười ngón tay bị giặc đốt đều cụt một đốt, đau đớn hơn anh còn phải gánh chịu nỗi đau tận mắt nhìn vợ con bị giặc đánh chết mà không thể làm gì được.

    Không chỉ là biểu tượng cho số phận của con người Tây Nguyên, cây xà nu còn là biểu tượng cho những phẩm chất tốt đẹp của người dân nơi đây. Xà nu là một loài cây khao khát ánh sáng đến lạ kỳ “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng”, đó cũng chính là biểu tượng cho tình yêu tự do, sức sống tiềm tàng mãnh liệt của con người Tây Nguyên. Thêm nữa, xà nu còn có khả năng sinh sôi mãnh liệt “cạnh một cây mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên , ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên trời”. Đó là biểu tượng cho sự tiếp nối liên tục và mạnh mẽ của người dân làng Xô Man, anh Quyết hy sinh đã có Tnú về thay thế, anh Xút bị giết đã có bà Nhan thay công việc nuôi bộ đội, bà Nhan chết thì đã có lớp trẻ con thay thế, Mai chết thì đã có em gái của Mai tiếp bước chị, và còn cả chú bé Heng. Thế hệ trước luôn có sự chuẩn bị là bước đệm cho thế hệ sau được vươn lên mạnh mẽ và tiến xa hơn trong con đường cách mạng.

    Cây xà nu còn mang trong mình một sức sống bất diệt, mạnh mẽ vô cùng “có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá xum xuê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng”. Hình ảnh bất diệt của cây xà nu khiến ta lập tức nghĩa đến Tnú tiêu biểu cho lớp anh hùng của làng Xô Man, anh chịu biết bao đau đớn thương tật nhưng anh vẫn sống vẫn hoạt động cách mạng một cách sôi nổi, giặc không bắt được anh, không giết được anh, người anh hùng của vùng đất Tây nguyên. Trong sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh thì sự sống vẫn vươn lên và chiến thắng cái chết, sức sống mãnh liệt, bất tử của rừng xà nu đã đại diện cho tinh thần bất khuất, kiên cường của người dân Tây Nguyên trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

    Nguyễn Trung Thành với nghệ thuật xây dựng hình tượng xuất sắc, điểm nhìn đậm chất điện ảnh khiến cho hình tượng cây xà nu hiện lên một cách thật chân thực và sắc nét. Đôi lúc tác giả đã không kìm được mà bộc lộ những cảm xúc cá nhân thật mạnh mẽ, niềm bất ngờ, tự hào về loài cây đặc sắc. Bằng bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn nhà văn đã gây dựng thật xuất sắc vẻ đẹp của cây rừng xà nu biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Tây Nguyên, mở một cánh cửa dẫn người đọc vào thế giới của con người nơi đây, tiêu biểu là nhân vật Tnú.

    (Tác giả: Admin chúng tôi – Vui lòng ghi nguồn bài viết khi sử dụng lại bài văn này)

    Bên cạnh Phân tích hình tượng cây xà nu trong Rừng xà nu các em cần tìm hiểu thêm những nội dung khác như So sánh chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong hai tác phẩm Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình hay phần Vẻ đẹp của hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu nhằm củng cố kiến thức của mình.

    Bài văn mẫu số 2: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

    Tây Nguyên – mảnh đất hùng vĩ và thơ mộng, với những con người nồng hậu yêu thương mà kiên cường bất khuất, từ lâu đã là nguồn cảm hứng cho biết bao văn nhân nghệ sĩ. Mỗi người đều tìm thấy ở mảnh đất này một biểu tượng đẹp cho tâm hồn cất cánh, ngòi bút thăng hoa. Ngọc Anh có Bóng cây Kơnia như nỗi lòng thổn thức thiết tha của tình yêu thủy chung son sắt, Thu Bồn có Bài ca chim Chơ-rao, ngân vang khúc hát trong trẻo nồng đượm tình người chiến thắng… Còn Nguyễn Trung Thành lại đem đến cho ta hình tượng những Rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời như sức sống bền và bất diệt của nhân dân Tây Nguyên trong công cuộc chống Mĩ cứu nước

    Đọc Rừng xà nu, không chỉ những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai tạo nên ấn tượng sâu sắc trong chúng ta, mà còn là cây xà nu – một hình đặc sắc bao trùm toàn bộ thiên truyện ngắn này. Chính hình tượng cây xà nu tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi lãng mạng cho câu chuyện về làng Xô Man bất khuất, kiên cường. Đó là hình tượng hàm chứa nhiều ý nghĩa tượng trưng. Qua hình tượng này, người đọc có thể thấy rõ sức sống kiên cường, sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên nói riêng, của con người Việt nói chung trong nhừng ngày đánh Mĩ. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trung Thành lại miêu tả thật cụ thể, thật chi tiết rừng xà nu bằng một thứ ngôn ngữ giàu chất thơ, bằng những “lời có cánh” với một cảm xúc say mê mãnh liệt như đã thấy trong tác phẩm. Gần hai mươi lần nhà văn đã viết về xà nu, dường như cây xà nu tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những buồn vui của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến đấu anh dũng của họ.

    Cả một câu chuyện dài, đau thương, bất khuất như một bản anh hùng ca về cuộc đời Tnú, cuộc đời dân làng Xô Man được kể trên nền chính của hình tượng cây xà nu. Cây xà nu, rừng xà nu như những con người, những tâm hồn, vừa là nhân chứng, vừa tham gia vào bản anh hùng ca, cũng vừa chịu đựng mọi gian nan, vất vả, đau thương do tội ác của kẻ thù, nhưng bất chấp tất cả, rừng xà nu vẫn vươn mình cường tráng, vẫn tồn tại bất chấp mọi đau thương: nó tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giai phóng, cho phẩm chất anh hùng và sức sống mãnh liệt của dân làng Xô Man, của nhân dân Tây Nguvên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

    Hình tượng cây xà nu hiện lên trong tác phẩm đầy chất thơ hùng tráng. Mở đầu và kết thúc câu chuyện là hình ảnh “hàng vạn cây xà nu” “sinh sôi nẩy nở”,”rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”… “đến hết tầm mắt cùng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”. Rừng xà nu là biểu tượng cho con người. Cây được miêu tả như con người trong sự ứng chiếu với con người, gợi ra những biểu tượng về đời sống, số phận và phẩm cách của con người – các thế hệ dân làng Xô Man đánh Mĩ.

    Cây xà nu ham ánh sáng và khí trời, “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”, cũng như Tnú, như dân làng Xô Man yêu tự do. Rừng xà nu cũng như làng Xô Man, chịu nhiều đau thương bởi sự tàn ác của giặc: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đúng ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận băo. Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”. Nhưng xà nu có sức sống thật mãnh liệt, không gì tàn phá nổi: “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn cây xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng trên bầu trời”, cũng như các thế hệ làng Xô Man, lớp này tiếp lớp khác đứng lên. Anh Quyết hi sinh thì có Tnú, Mai: Mai ngã xuống giữa tuổi tràn đầy sức sống, thì Dít lớn lên rất nhanh đến không ngờ, trở thành bí thư chi bộ, chính trị viên xã đội: rồi những bé Heng, thế hệ tiếp theo của Dít cũng đang lớn lên, tiếp tục cuộc chiến đấu. Đồng thời, ngược lại, nhiều chỗ miêu tả con người, nhà văn đã so sánh với cây xà nu. Cụ Mết thì “ngực căng như một cây xà nu lớn”, vết thương trên lưng Tnú do giặc tra tấn thì “ứa ra một giọt máu đậm, từ sáng đến chiều thì đặc quyện lại, tím thâm như nhựa xà nu”. Thủ pháp ấy trong miêu tả tạo nên một sự hòa nhập, tương ứng giữa con người và thiên nhiên trong một chất thơ hào hùng, tráng lệ. Nhà văn đã ví cụ Mết “như một cây xà nu lớn” bởi cụ là người hơn ai hết hiểu sự gắn bó của cây xà nu và mảnh đất đang sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng cây cũng như dân làng Xô Man: “Không có cây gì mạnh bầng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này!…”.

    Cậy xà nu gắn bó với con người và cuộc sống dân làng. Xà nu không chỉ có mặt trong đoạn mở đầu và kết thúc, nó còn hiện diện trong suốt câu chuyện về Tnú và làng Xô Man của anh. Xà nu có mặt trong đời sống hằng ngày như đã tự ngàn đời nay của dân làng: Ngọn lửa xà nu trong mối bếp; đống lửa ở nhà rông tập hợp cả dân làng, ngọn đuốc xà nu cháy sáng soi những đoạn rừng đêm; khói xà nu hun tấm bảng đen cho anh Quyết đạt Tnú và Mai học chữ..; xà nu cũng tham dự vào những sự kiện quan trọng của cuộc sống chống Mĩ: ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết và tất cả dân làng vào rừng lấy dao, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, và đêm đêm làng Xô Man thức, dưới ánh đuốc xà nu, mài vù khí; giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu…; cũng ngọn lửa từ các đuốc xà nu soi sáng rực cái đêm cả làng nổi dậy, soi rõ xác mười tên lính giặc bị giết ngổn ngang quanh đống lửa lớn giữa sân làng…

    Cây xà nu còn là người chứng kiến sự giác ngộ, sự hi sinh thầm lặng, lòng dũng cảm, ý chí quật cường của dân làng Xô Man: “Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn. Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng.”. Ánh lửa xà nu soi sáng lời căn dặn của anh Quyết: “Người còn sống phải chuyển dáo, mác, dụ. rựa, tên, ná… Sẽ có ngày dùng tới”. Lửa xà nu thử thách ý chí cũng như lòng can đảm của Tnú: “không có gì đượm bằng nhựa xà nu.. Mười đầu ngón tay đã thành mười ngọn đuốc… Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi.. “. Căm thù trong anh cháy giần giật như nhựa xà nu bén nhạy để “bàn tay hận thù” thành “bàn tay trả thù” bóp chết tên ác ôn dưới ngách hầm.

    Câu chuyện cụ Mết kể phảng phất phong vị anh hùng ca. Đêm kể chuyện dưới ánh lửa xà nu chắc cũng giống như đêm già làng thường kể về các bài: anh hùng ca truyền thông của Tây Nguyên. Giọng điệu sử thi của Rừng xà nu bắt nguồn từ đó. Cây xà nu gắn với quá khứ, hiện tại anh hùng, gắn bó vơ mọi sinh hoạt, phong tục và đời sống văn hóa của dân tộc Tây Nguyên, khiến cho câu chuyện làng Xô Man đánh Mĩ lung linh sắc màu huyền thoại như Đam San, Xinh Nhã thuở nào…

    Có thể nói hình tượng xà nu là mô típ chủ đạo của tác phẩm. Xà nu trở thành biếu tượng cho cuộc sống và phẩm chất của dân làng Xô Man. Đó là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Trung Thành. Nhà văn đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới, những vẻ đẹp mới để dựng lên bức tranh sử thi chống Mĩ của những con người kiên cường bất khuất nơi núi rừng hùng vĩ Tây Nguyên.

    Bài văn mẫu số 3: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

    Nguyễn Trung Thành là nhà văn của Tây Nguyên, ông viết rất hay, sâu sắc và chân thực về con người và mảnh đất Tây Nguyên hung vĩ. Truyện ngắn “Rừng xà nu” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn TRung Thành khi ca ngợi về Tây Nguyên đậm chất sử thi. Đặc biệt tác giả đã xây dựng thành công hình tượng cây xà nu mang đậm bản chất, chí khí cho con người sống trên mảnh đất này.

    Xuyên suốt tác phẩm “Rừng xà nu” là hình ảnh cây xà nu, có thể xem đây là hình tượng trung tâm, làm nền và cũng là nguồn cảm hứng bất tận để tác giả có thể miêu tả thành công từng nhân vật. Xà nu là loài cây phổ biến ở núi rừng Tây Nguyên, dẻo dao, kiên cường và bất khuất. Nhắc đến rừng xà nu, người ta sẽ liên tưởng đến những con người Tây Nguyên bất khuất, không chịu đầu hàng, luôn hướng về phía trước để bảo vệ độc lập.

    Hình ảnh cây xà nu được tác giả lấy để đặt tên cho nhan đề, mở đầu câu chuyện và kết thúc cũng là hình ảnh xà nu bạt ngàn. KHông phải ngẫu nhiên mà tác giả lại lấy hình tượng này, đó hẳn là dụng ý của chính tác giả. Vừa thể hiện sự hung vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên, vừa khẳng định ý chí quật cường của con người mảnh đất Tây Nguyên.

    Trước hết, cây xà nu chính là một biểu tượng của núi rừng Tây Nguyên, gắn liền với cuộc sống của Tây Nguyên. Cây xà nu gắn liền với đời sống của dân làng Xô man, sự trưởng thành của từng thế hệ người Tây Nguyên đều gắn liền với hình ảnh cao quý này. Đó là Tnu, chị Mai, cụ Mết, bé Heng. Những con người đó, để bảo vệ lây dân làng, bảo vệ Tây Nguyên đã phải đánh đổi và hi sinh rất nhiều. Xà nu là loại cây mọc thẳng, vươn ra ánh sang, cũng giống như con người Tây Nguyên vẫn luôn hướng về phía trước, dù là khó khan, thử thách như thế nào. Dường như xà nu chính là linh hồn của Tây Nguyên, nó ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người.

    Không những thế cây xà nu còn tham gia đánh dấu nhiều sự kiện lịch sử của dân làng Xô man. Ngọn đuốc xà nu dẫn đường cho dân làng tây nguyên, mười ngón tay của Tnu bị đốt cũng được tẩm nhựa của xà nu. Cây xà nu ăn sâu vào trong tâm niệm của mỗi con người, biểu tượng cho tinh thần và ý chí quật cường của người Tây Nguyên. Cây xà nu vẫn được nhắc đi nhắc lại trong mỗi câu chuyện “không có gì mạnh bằng cây xà nu”, mặc dù bị thiêu rụi bao nhiêu thì cây xà nu vẫn kiên cường vượt qua bão giông.

    Xà nu là hình ảnh ẩn dụ cho con người Tây Nguyên. Hình ảnh cả rừng xà nu bị nã đạn, chat rụi cũng giống như hình ảnh dân làng Xô man bị áp bức, bóc lột đến tàn bạo. Sự mất mát, đau thương cứ chồng chất khiến cho lầm than cứ nối tiếp, không chịu nguôi. Mặc dù bị đạn phá hủy nhưng cây xà nu vẫn kiên cường, chịu đựng; giống như hình ảnh Mai, Tnu mặc dù bị tra tấn nhưng bằng sức sống bền bỉ vẫn có thê gắng gượng và chiến đấu đến cùng.

    Xà nu và những người dân Tây Nguyên dường như có mối giao hòa với nhau, gắn bó khăng khít không rời. Đây cũng chính là dụng ý của tác giả khi xây dựng hình tượng có sức nặng như thế này.

    Con người Tây Nguyên có khát vọng hòa bình, muốn cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tác giả đã gửi gắm khát khao ấy qua hình tượng xà nu bạt ngàn, trải dài đến vô tận.

    Xà nu là loại cây sinh trưởng tốt, sức bền bỉ, dẻo dai. Con người Tây Nguyên có bao nhiêu thế hệ đã ngã xuống, những thế hệ khác lại nối tiếp, phát huy tinh thần chiến đấu. Những thế hệ lão làng như cụ Mết, rồi đến Tnu và cuối cùng là bé Heng, ở họ đều có những khát khao cháy bỏng về tương lai tương lai.

    Chắc chắn người đọc sẽ chú ý đến hình ảnh nhân vật Tnu. Cây xà nu và Tnu là hai hình ảnh song song, đi liền nhau để hỗ trợ cho nhau, làm nổi bật nhau. Đặc điểm tiêu biểu của xà nu cũng chính là những đặc điểm của nhân vật Tnu mà không hề lẫn lộn với ai.

    Nguyễn Trung Thành bằng tình yêu Tây Nguyên, quan sát tinh tế đã khắc họa thành công hình ảnh cây xà nu có sức ám ảnh đối với người đọc từ đầu tác phẩm đến cuối tác phẩm. Xà nu khiến cho mọi người có cái nhìn ngưỡng mộ đố với mảnh đất và con người tây nguyên.

    Bài văn mẫu số 4: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

    Truyện ngắn Rừng xà nu được tác giả sáng tác vào khoảng giữa năm 1965, khi cuộc đối đầu giữa nhân dân miền Nam với bè lũ Mĩ – ngụy đã bước vào giai đoạn gay go, ác liệt. Tác giả đã khéo léo lồng ghép nỗi đau mất mát vợ con của T nú vào nỗi đau chung của dân làng. Họ đau đớn vì mất nước, mất đi sự tự do của chính mình và đó cũng chính là ngòi nổ châm lửa cho phong trào đấu tranh của người dân làng Xô man bùng cháy. Sự khắc nghiệt của chiến tranh như thứ lửa thử vàng để thử phẩm chất của con người Tây Nguyên. Càng khó khăn, càng gian khổ họ càng kiên cường, bất khuất.

    Câu chuyện về lòng yêu nước của từng thế hệ người dân làng Xô man được kể bằng chất giọng ồm ồm của cụ Mết. Cụ là người cao tuổi đã sống rất lâu ở mảnh đất ấy. Cụ đã cùng mảnh đất và con người nơi đây trải qua bao khó khăn, bao mất mát và cả những đau khổ. Tác giả đã khéo léo xây dựng một số hình tượng nhân vật đại diện cho các thế hệ dân làng Xô man nối tiếp nhau trong cuộc chiến đấu chống quân thù : từ cụ Mết đến T nú, đến Mai rồi đến Dít, Heng…

    Nhà văn đã chọn rừng xà nu làm bối cảnh chính cho câu chuyện bởi lẽ với ông cây xà nu và người dân Tây Nguyên kiên cường kia có nhiều điểm tương đồng. Xà nu là loại cây cao lớn, có sức sống trường tồn đến lạ kì. Loài cây ấy mang sức sống mãnh liệt y như người dân Tây Nguyên vậy.

    Lật dở những trang đầu tiên của truyện người đọc như bị cuốn hút vào khung cảnh hoang tàn, tan nát của rừng xà nu khi ngày nào cánh rừng ấy cũng bị mưa bom bão đạn của quân thù tàn phá , nhưng trái ngược với những đau thương đó là hình ảnh những cây xà nu kiên cương bất khuất, những thế hệ cây con vẫn nảy mẩm và vươn lên xanh tốt ” cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão.

    Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn” cũng có khi “có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã”.

    Tác giả đã làm xao xuyến trái tim người đọc bằng những câu văn dạt dào cảm xúc xen vào đó là cả lòng khâm phục của tác giả với chính loài cây hiên ngang ấy cũng như đối với người dân Xô man. Bằng những áng văn của mình tác giả đã đưa mọi thế hệ bạn đọc được về tận rừng xa nu để cảm nhận từng vết thương đang rỉ máu mà hàng ngày loài cây ấy đang phải hứng chịu.Bằng tình yêu của mình nhà văn đã thổi hồn cho rừng xà nu thành những chiến sĩ tự vệ đang ngày đêm bảo vệ cho người dân làng Xô man.

    Dù máu có đổ, dù tính mạng có bị đe dọa thì những chiến sĩ tự vệ ấy vẫn luôn một lòng trung thành không bao giờ đổi thay Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Trung Thành cánh rừng xà nu như được hồi sinh, nó bỗng trở nên có màu sắc, hương vị và tỏa ra những ánh sáng hào quang của riêng mình. Cánh rừng xà nu ấy là hiện thân cho người dân làng Xô man nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung bất khuất , kiên cường và trung thành tuyệt đối.

    Làng Xô man mà tác giả đưa bạn đọc đến nằm ở trong tầm đại bác của giặc vậy nên cuộc sống nơi đây luôn gặp nguy hiểm , cái chết luôn dình dập và chuyện chết chóc bỗng trở nên bình thường không có gì phải sợ sệt.Bởi vậy mà rừng xà nu vừa là hiện thân của cái đẹp vừa là hiện thân cho sức sống bền bỉ và kiên cường mà mẹ thiên nhiên đã ban tặng. Cả cánh rừng hàng vạn cây ấy không cây nào là không bị thương, không cây nào tránh khỏi tầm ngắm của đại bác vậy mà chúng vẫn hiên ngang, những vết thương đang rỉ máu kia dù có mất đến một hay vài tháng để lành thì cũng không thể làm những cây xà nu cao lớn kia lùi bước trước mưa bom bão đạn quân thù. Trong cánh rừng rộng lớn ấy có hàng ngàn hàng vạn cây xà nu ở nhiều thế hệ khác nhau đang cùng nhau vươn lên chống lại quân thù cũng giống như rất nhiều thé hệ yêu nước đang lớn dần lên trong làng Xô man như bé Dít , Heng

    Tác giả Nguyễn Trung Thành đã hai lần nhắc tới hình ảnh rừng xà nu. Câu chuyện mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu và kết thúc cũng bằng hình ảnh rừng xà nu: “Đứng ở đồi xà nu cạnh con nước lớn, nhìn đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời”. Lối kết mở của truyện khiến cho người đọc có những suy diễn riêng của mình về từng nhân vật cũng như về làng Xô man anh hùng. Sức mạnh của những cây xà nu kia cũng chính là sức mạnh của tinh thần đoàn kết , của sức sống kiên cường của người dân Tây Nguyên nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

    Rừng xà nu quen thuộc đã thành biểu tượng của cuộc sống đau thương nhưng kiên cường và bất khuất. Từ biểu tượng cho thiên nhiên, rừng xà nu mở rộng thành biểu tượng của đời sống con người. Cây xà nu hiện diện trong đời sống hằng ngày của người dân làng Xô man và dường như đã trở thành hơi thở trong mỗi trái tim con người nơi đây ” ngọn lửa xà nu bập bùng cháy trong bếp mỗi nhà, trong đống lửa lớn giữa nhà ưng, nơi tập trung của dân làng; nhựa xà nu rừng rực cháy trên ngọn đuốc giữa đêm trường, khói xà nu quét đen tấm bảng cho anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ…” Cây xà nu đã trở thành một người dân của buôn làng, được vinh dự tham dự vào những chuyện trọng đại của làng.

    Trong buổi họp chuẩn bị cho đêm đồng khởi cụ Mết và dân làng đã cùng nhau vào rừng lấy giáo mác dưới ánh đuốc xà nu, ánh đuốc ấy như soi đường chỉ lối cho dân làng đến gần với cách mạng, với chiến thắng. Đêm đêm, ánh đuốc xà nu ấy thắp sáng màn đêm để dân làng mài vũ khí phục vụ kháng chiến. Bọn giặc tàn độc kia đã dùng giẻ tẩm dầu xà nu để đốt cháy mười đầu ngón tay t nú , và chính ngọn lửa ấy đã chia vui cùng dân làng khi đã soi rõ được những xác chết của bọn phản loạn, bán nước hại dân.

    Nhựa sống của rừng xà nu dường như đã truyền sang tới khắp cơ thể của người dân Xô man. Họ luôn vững vàng, luôn sẵn sàng chiến đấu trước mưa bom bão đạn quân thù. Họ mãi mãi sát cánh bên nhau như những lứa xà nu ông , bà, bố, mẹ, con, cháu…Nhựa sống ấy tiếp thêm cho dân làng sinh lực để chiến đấu, để mơ ước về một ngày mai tươi sáng trong tương lai.

    Nguyễn Trung Thành đã miêu tả một cách xuất sắc và thành công về hình tượng cây xà nu. Cây xà nu đã trở thành linh hồn của tác phẩm, là hiện thân cho tinh thần chiến đấu bất khuất của người dân Tây Nguyên. Nhà văn đã thổi hồn cho loài cây ấy trường tồn mãi mãi , không bao giờ khuất phục trước mưa bom bão đạn, khiến kẻ thù phải nghiêng mình kính nể. Chắc chắn dù mười năm hay ngàn năm sau đi nữa loài cây mang tên xà nu ấy còn tồn tại mãi mãi trong trái tim độc giả.

    Bài văn mẫu số 5: Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

    Nguyễn Trung Thành là bút danh của nhà văn Nguyên Ngọc trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Truyện Rừng xà nu của ông viết vào năm 1965, là một truyện ngắn xuất sắc. Truyện kể về cuộc “đồng khởi” của dân làng Xô Man ở Tây Nguyên. Cụ Mết, một già làng, một thủ lĩnh quân sự đã lãnh đạo dân làng Xô Man mài giáo, mác, dụ, rựa… quật khởi đứng lén đánh lũ ác ôn, tay sai của đế quốc Mĩ để giải phóng buôn làng và núi rừng thiêng liêng. Họ đã chiến đấu vì sự sống còn, vì chân lí cách mạng ngời chói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”.

    Ngoài những nhân vật cho ta nhiều ấn tượng như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, bé Heng, anh Quyết,… thì hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn được tác giả khắc họa và ngợi ca như một dũng sĩ oai hùng.

    Ngày ấy… cách mạng miền Nam đang trải qua những năm dài đen tối, đầy thử thách khó khăn. Lũ giặc kéo tới, lùng sục, phục kích, không đêm nào chó và súng của chúng không sủa vang cả rừng. Buôn làng bị bao vây, dân làng bị kìm kẹp và khủng bố dã man. Đầu rơi máu chảy, tang tóc và đau thương: giặc treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng; chúng giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng! Cùng chung số phận, chung chịu đau thương với dân làng Xô Man là rừng xà nu nằm trong tầm đại bác của giặc. Chúng bắn ngày, bắn đêm, bắn vào lúc sáng sớm và xế chiều, hoặc lúc đứng bóng và sẩm tối, hoặc lúc nửa đêm và trở gà gáy. Tang tóc bao trùm rừng xà nu. Hàng vạn cây “không cây nào không bị thương”. Đạn giặc chặt đứt ngang thân mình, “cây xà nu đổ ào ào như một trận bão”: nhựa cây đọng lại, tụ lại “bầm lại đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”. Rừng xà nu chịu bao tổn thất nặng nề như con người. Biết bao cây non trúng đạn giặc, vết thương “cứ loét mãi ra” sau năm, mười hôm thì cây chết!

    Gần 20 lần, nhà văn nói đến rừng xà nu, đồi xà nu, cây xà nu, cành xà nu, ngọn và lá xà nu, nhựa xà nu, khói và lửa đuốc xà nu,… mỗi lẩn xuất hiện, cây xà nu mang một dáng vẻ kì lạ, tất cả đều mang ý nghĩa tượng trưng cho khí phách anh hùng và sức sổng mãnh liệt của dân làng Xô Man, của núi rừng Tây Nguyên kiên cường bất khuất!

    Người Strá đã hiên ngang trong lửa đạn, người trước ngã, người sau tiến lên. Rừng xà nu cũng vậy, cạnh một cây bị bắn ngã gục đã có bốn, năm cây mọc lên, sinh sôi này nở “ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Nếu như cây Kơnia có bóng cây tỏa rợp nương rẫy và lòng người biểu tượng cho sự thủy chung tình nghĩa, thì cây xà nu là một loại cây “ham ánh sáng mặt trời”, hương cây nhựa cây “bay ra thơm mỡ màng”. Ba lần Nguyễn Trung Thành tạo nên những hình ảnh so sánh độc đáo, kì vĩ ca ngợi tầm vóc cây xà nu: lúc thi ngọn cây như một mũi tên lao thẳng lên bầu trời, lúc thì những cây con xà nu mới nhú khỏi mặt đất “nhọn hoắt như những mũi lê”, lúc thì rừng xà nu “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng”. Rõ ràng hình tượng cây xà nu mang tầm vóc và khí phách của một dũng sĩ đích thực trong máu lửa.

    Có lúc rừng xà nu được miêu tả dưới cặp mắt của Tnú trong hai thời điểm chiều và sáng, lúc anh về thăm làng và lúc anh lại ra đi. Sau ba năm trời anh đi “lực lượng”, đi tim những thằng Dục ác ôn để trả thù, anh về thăm quê, thăm lũ làng, gặp lại rừng xà nu như gặp lại người bạn chiến đấu, anh bồi hồi tự hào và say mê ngắm nhìn: “Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”. Và buổi sáng anh lên đường, cùng cụ Mết và Dít còn có rừng xà nu trùng điệp tiễn anh với bao trìu mến và lưu luyến. Anh đã mang theo hình bóng quê hương để ra đi với một sức mạnh mới: “Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mất cũng không thấy gi khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến tận chân trời”.

    Hình tượng rừng xà nu đem đến cho ta nhiều liên tưởng sâu sắc về thế trận chiến tranh nhân dân, về người người lớp lớp, về biểu tượng “một rừng cây, một rừng người”, về sự hi sinh và đóng góp xương máu cùa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến. Chính vì thế mà trong lúc gặp lại Tnú, cụ Mết đã hào hùng khẳng định với tất cả niềm kiêu hãnh và thách thức: “Mày có đi qua chỗ rưng xà nu gần con nước lớn không?” Nó vẫn sống đấy, không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này!”.

    Nét đặc sắc của truyện ngắn Rừng xà nu là nghệ thuật tả cảnh, tả người rất độc đáo. Rừng xà nu không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, không chỉ là cảnh tượng chiến trường bi tráng, mà còn là biểu tượng cho chí khí anh hùng của đồng bào Tây Nguyên, của nhân dân miền Nam anh hùng. Cụ Mết chẳng khác nào dũng sĩ trong sử thi “Bài ca chàng Đam San!” Là một già làng 60 tuổi, quắc thước, râu dài tới ngực mắt sáng, vết sẹo của chiến tích sáng bóng, cụ Mết ở trần “ngực căng như một cây xà nu lớn”.

    Nói đến hình tượng cây xà nu không thể không nói tới ngọn lửa xà nu. Tác giả đã tạo nên ba nét vẽ về ngọn lửa xà nu, gợi ra một không khí huyền thoại thiêng liêng. Dưới ngọn lửa xà nu, Tnú đã đọc thư “tuyệt mệnh” của anh Quyết gửi dân làng Xô Man trước lúc anh hi sinh. Lần thứ hai, hình ảnh ngọn lửa xà nu rực cháy trên mười ngón tay Tnú, đó là ngọn lứa uất hận, căm thù “máu kêu trả máu, đầu van trả đầu” (Tố Hữu). Lần thứ ba, ánh lửa đuốc xà nu bừng sáng đỏ rực, lấp loáng ánh giáo mác, với tiếng hô: “Chém! Chém hết” của cụ Mết, đã soi tỏi xác mười tên giặc, trong đó có thằng Dục ác ôn, nằm sõng soài giữa vũng máu trên nhà ưng. Cây xà nu đã chia ngọt sẻ bùi với đồng bào Xô Man trong những năm dài đánh Mĩ và lũ tay sai bán nước!

    Nếu như nhà thơ Thu Bồn lấy cánh chim chơ-rao. một nhà thơ khuyết danh đã lấy cây Kơnia làm biểu tượng cho lòng dân và sức mạnh quật khởi của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ thì nhà văn Nguyễn Trung Thành đã thành công khắc họa vẻ đẹp tráng lệ của rừng xà nu để nói lên khí phách anh hùng của dân làng Xô Man, của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam. Hơi hướng Tây Nguyên, màu sắc thần kì, không khí thiêng liêng, phong vị những sinh hoạt truyền thống của núi rừng và con người Tây Nguyên được thể hiện một cách hào hùng qua hình tượng rừng xà nu vậy.

    Truyện Rừng xà nu là một thành công lớn tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học Việt Nam viết về đề tài chiến tranh. Cảnh vật và con người được chiếu sáng dưới ngọn lửa thiêng liêng thần kì. Nó đã giúp người đọc sống lại một thời kì lịch sử vô cùng đau thương và oanh liệt của dân tộc.

    Cùng với việc tìm hiểu các bài mẫu phân tích hình tượng cây xà nu trong Rừng xà nu, để ôn tập, củng cố kiến thức, chuẩn bị tốt nhất cho bài kiểm tra, bài thi THPT quốc gia, các em cần tham khảo các bài văn hay lớp 12 thuộc thể loại văn học cách mạng như Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình, Cảm nghĩ về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, Phân tích bài thơ Tây Tiến, Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh,…

    https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-hinh-tuong-cay-xa-nu-trong-rung-xa-nu-42490n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đề 1: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nu- và trả lời câu hỏi :

    “Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc.Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương. Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn.

                                                              (Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

     

    1. Đoạn văn trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? ………………………….
    2. Phương thức biểu đạt gì?…………………………………………………………………..
    3. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
    4. Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về tội ác của bọn giặc Mỹ.

    5.Tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào trong đoạn văn.Nêu tác dụng.

    Đề 2: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nuvà trả lời câu hỏi :

    Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà  nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi  tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó  phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây  bay ra. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt  làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không  lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những  cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ  lông mao lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của  chúng chóng lành như những vết thương trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế, hai ba năm nay rừng xà  nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…

    (Trích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)

    1.Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào là chính? ………………………………………………………

     

    1. Nội dung chủ yếu của đoạn văn là gì ?………………………………………………………………………………………………..
    1. Trong đoạn văn trên, Nguyễn Trung Thành sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, đối lập. Xác định biểu hiện các phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì ?
    1. Xác định từ loại của các từ được gạch chân : mọc, lao, phóng, ham, tiếp, vượt, ưỡn trong văn bản ? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các từ đó là gì ?
    1. Từ văn bản trên, viết một đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ bản thân về những cánh rừng bị tàn phá hiện nay..

    Đề 3: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nu-  và trả lời câu hỏi:

    “Trong rừng, anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ. Anh chẻ nứa, đập giập, ghép lại thành mấy tấm bảng to bằng ba bàn tay. Ba anh em đốt khói xà nu xông bảng nứa đen kịt rồi lấy nhựa cây luông-tờ-ngheo phết lên một lớp dày, rửa nước cũng không phai được. Tnú đi ba ngày đường tới núi Ngọc Linh mang về một xà-lét đầy đá trắng làm phấn. Mai học giỏi hơn Tnú, ba tháng đọc được chữ, viết được cái ý trong bụng mình muốn, sáu tháng làm được toán hai con số. Tnú học chậm hơn, mà lại hay nổi nóng. Học tới chữ i dài, nó quên mất chữ o thêm cái móc thì đọc được là chữ a. Có lần thua Mai, nó đập bể cả cái bảng nứa trước mặt Mai và anh Quyết, bỏ ra suối ngồi một mình suốt ngày. Anh Quyết ra dỗ, nó không nói. Mai ra dỗ, nó đòi đánh Mai. Mai cũng ngồi lì đó với nó.

    – Tnú không về, tui cũng không về. Về đi, anh Tnú. Mai làm cái bảng khác cho anh rồi.

    Nó cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng. Anh Quyết phải băng lại cho nó. Đêm đó, anh ôm nó trong hốc đá. Anh rủ rỉ:

    – Sau này, nếu Mỹ – Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh. Không học chữ sao làm được cán bộ giỏi?Tnú giả ngủ không nghe. Nó lén chùi nước mắt giàn giụa. Sáng hôm sau, nó gọi Mai ra sau hốc đá”:

    (Trích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)

     

    1. Đoạn văn trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?…………………………………………………….
    2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
    1. Em có suy nghĩ gì về tính cách của Tnú khi còn nhỏ?

     

    1. Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình cảm quân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ?

    Đề 4: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nuvà trả lời câu hỏi :

    “Tnú hay quên chữ, nhưng đi đường núi, thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó liên lạc cho anh Quyết từ xã lên huyện. Không bao giờ nó đi đường mòn, nó leo lên một cây cao nhìn quanh, nhìn một lượt rồi xé rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây. Qua sông nó không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác băng băng như một con cá kình. Nó nói:

    – Qua chỗ nước êm thằng Mỹ – Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ.

    Nhưng lần đó, Tnú tới một thác sông Đắc – năng, vừa cuốn cái thư của anh Quyết gửi về huyện trong một ngọn lá dong ngậm vào miệng, định vượt thác thì họng súng của giặc phục kích chĩa vào tai lạnh ngắt. Tnú chỉ kịp nuốt luôn cái thư.

     

    1. Đoạn văn trên được sử dụng những phương thức biểu đạt nào? ……………………………………………………………….
    2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
    1. Xác định phong cách ngôn ngữ?
    2. Vì sao “Tnú chỉ kịp nuốt luôn cái thư ”?Qua đó em hiểu thêm điều gì về tính cách của Tnú.
    1. Từ văn bản, viết đoạn văn thể hiện suy nghĩ của em về tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ Việt Nam từ kháng chiến chống Mỹ đến nay

    Đề 5: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nu và trả lời câu hỏi :

    Thằng Dục hỏi:

    – Chồng mày ở đâu, con mọi cộng sản kia?

    Mai xốc lại đứa con trên lưng, ngửng đôi mắt rất lớn nhìn thằng Dục.

    – Mày câm à? Con chó cái! – Nó quát bọn lính – Đứng ỳ ra đó à?

    Một thằng lính to béo nhất liếc mắt nhìn thằng Dục, cầm một cây sắt dài bước tới cạnh Mai. Nó lè lưỡi liếm quanh môi một lượt, rồi chậm rãi giơ cây sắt lên. Mai thét lên một tiếng. Chị vội tháo tấn địu, vừa kịp lật đứa con ra phía bụng lúc cây sắt giáng xuống trên lưng.

    – Thằng Tnú ở đâu, hả?

    Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai, chị lật đứa bé ra sau lưng. Nó lại đánh sau lưng, chị lật đứa bé ra trước ngực. Trận mưa cây sắt mỗi lúc một dồn dập, không nghe thấy tiếng thét của Mai nữa. Chỉ nghe đứa bé khóc ré lên một tiếng rồi im bặt. Chỉ còn tiếng cây sắt nện xuống hừ hự.

    Tnú bỏ gốc cây của anh. Đó là một cây vả. Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy. Một bàn tay níu anh lại. Tiếng cụ Mết nặng trịch:

    – Không được. Tnú! Để tau!

    Tnú gạt tay ông cụ ra. Ông cụ nhắc lại:

    – Tnú!

    Tnú quay lại. Ông cụ không nhìn ra Tnú nữa. Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn. Ông cụ buông vai Tnú ra.

    Một tiếng thét dữ dội. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục tháo chạy vào nhà ưng. Tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Rồi Mai ôm đứa con chúi vào ngực anh. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai.

    – Đồ ăn thịt người, tau đây. Tnú đây…

    Tnú không cứu sống được Mai

    1.  Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính? ……………………….
    2. Xác định phong cách ngôn ngữ? ……………………….
    3. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
    4. Tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào trong đoạn văn.Nêu tác dụng.
    5. Tại sao “Ở chỗ hai con mắt anh bây giờ là hai cục lửa lớn ” ?
    6. Suy nghĩ của em về tiếng thét dữ dội của Tnú.
    7. Từ văn bản, viết bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ của em về tội ác của bọn ngoại xâm và nỗi đau của người dân khi đất nước có chiến tranh và thấy được giá trị của hòa bình.

    Đề 6: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nu và trả lời câu hỏi:

    “Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”.

                                                              (Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

    1/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?

    2/ Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn?

    3/ Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý nghĩa gì?

    1. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn
    2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn .

    6.Từ đoạn văn trên, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về khát vọng tự do của con người (trả lời 7 – 9 dòng)?

    Đề 7: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nu-và trả lời câu hỏi :

    “Nó hất hàm ra hiệu cho thằng lính to béo nhất. Chúng nó đã chuẩn bị sẵn cả. Thằng lính mở tút-se, lấy ra một chùm giẻ. Giẻ đã tẩm dầu xà-nu. Nó quấn lên mười đầu ngón tay Tnú. Rồi nó cầm lấy một cây nứa. Nhưng thằng Dục bảo:

    – Để nó cho tau!

    Nó giật lấy cây nứa.

    Tnú không kêu lên một tiếng nào. Anh trợn mắt nhìn thằng Dục. Nó cười sằng sặc. Nó dí cây lửa lại sát mặt anh:

    – Coi kỹ cái mặt thằng cộng sản muốn cầm vũ khí này xem sao nào. Số kiếp chúng mày không phải số kiếp giáo mác. Bỏ cái mộng cầm giáo mác đi, nghe không?

    Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng.

    Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy ở trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”                                                        

                                                                          (Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

    1. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn trên?…………………………………………………….
    2. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn trên?……………………………………………………
    3. Nêu nội dung chính của đoạn văn?
    4. Tại sao Tnú “Anh nghe lửa cháy ở trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!”

     

    1. Từ đoạn văn trên, viết bài văn ngắn trình bày hiểu biết của em về tội ác của bọn giặc gây ra cho nhân dân ta ( liên hệ ở một số tác phẩm khác):

    Đề 8: Đọc đoạn văn sau trong bài Rừng xà nu và trả lời câu hỏi :

    “Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn. Tiếng “giết”! Tiếng chân người đạp lên trên sàn nhà ưng ào ào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Mết ồ ồ: “Chém! Chém hết!” Cụ Mết, đúng rồi, cụ Mết, đã đứng đấy, lưỡi mác dài trong tay. Thằng Dục nằm dưới lưỡi mác của cụ Mết. Và thanh niên, tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng loáng, những cây rựa mài bằng đá Tnú mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về…

    Tiếng anh Prôi nói, trầm tĩnh:

    – Tnú! Tnú! Tỉnh dậy chưa? Đây này, chúng tôi giết hết rồi. Cả mười đứa, đây này! Bằng giáo, bằng mác. Đây này!”

                                                                          (Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

     

    1. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn trên?…………………………………………………….
    2. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn trên?……………………………………………………
    3. Nêu nội dung chính của đoạn văn?
    4. Em có suy nghĩ gì về tiếng thét của Tnú .

    .5.Qua đoạn văn trên em có suy nghĩ gì về tinh thần yêu nước và quyết tâm đánh giặc của các thế hệ cha ông.

    1. Từ đoạn văn trên, viết bài văn ngắn trình bày hiểu biết của em về tinh thần đoàn kết của nhân dân ta trong mọi thời đại

     

    Đề 9 :   Lập dàn ý cho đề sau : Em hãy làm sáng tỏ chân lí của thời đại:”chúng nó đã cầm súng , mình phải càm giáo”

    ”- Đồ ăn thịt người, tau đây. Tnú đây…

    Tnú không cứu sống được Mai…

    – Ừ. Tnú không cứu sống được mẹ con Mai…

    Tiếng ông cụ Mết vẫn trầm và nặng. Ông cụ vụng về trở tay lau một giọt nước mắt. Bỗng nhiên ông cụ nói to lên:

    – Tnú không cứu được vợ được con. Tối đó Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó đứng đằng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con rõ chưa. Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói cho con cháu. Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo!…

    Chúng nó trói chặt Tnú bằng dây rừng, khiêng ném vào góc nhà rồi kéo đi ăn thịt con heo của anh Prôi.

    Tnú nằm trong góc nhà. Bóng tối dày đặc. Anh suy nghĩ, ngạc nhiên tự thấy mình rất bình thản:

    “Đứa con chết rồi, Mai chắc cũng chết rồi. Tnú cũng sắp chết. Ai sẽ làm cán bộ? Đến khi có lệnh Đảng cho đánh, ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xô-man đánh giặc. Cụ Mết đã già. Được, còn có bọn thanh niên. Rồi con Dít sẽ lớn lên. Con bé ấy vững hơn cả chị nó. Không sao… Chỉ tiếc cho Tnú không sống được tới ngày cầm vũ khí đứng dậy với dân làng…”

    Thằng Dục không giết Tnú ngay. Nó đốt một đống lửa lớn ở nhà ưng, lùa tất cả dân làng tới, cởi trói cho Tnú, rồi nói với mọi người:

    – Nghe nói chúng mày đã mài rựa, mài giáo cả rồi phải không? Được, đứa nào muốn cầm rựa, cầm giáo thì coi bàn tay thằng Tnú đây.

    Nó hất hàm ra hiệu cho thằng lính to béo nhất. Chúng nó đã chuẩn bị sẵn cả. Thằng lính mở tút-se, lấy ra một chùm giẻ. Giẻ đã tẩm dầu xà-nu. Nó quấn lên mười đầu ngón tay Tnú. Rồi nó cầm lấy một cây nứa. Nhưng thằng Dục bảo:

    – Để nó cho tau!

    Nó giật lấy cây nứa.

    Tnú không kêu lên một tiếng nào. Anh trợn mắt nhìn thằng Dục. Nó cười sằng sặc. Nó dí cây lửa lại sát mặt anh:

    – Coi kỹ cái mặt thằng cộng sản muốn cầm vũ khí này xem sao nào. Số kiếp chúng mày không phải số kiếp giáo mác. Bỏ cái mộng cầm giáo mác đi, nghe không?

    Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.

    Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, trừng trừng.

    Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy ở trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy, cháy cả ruột đây rồi! Anh Quyết ơi! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!

    Tiếng cười giần giật của thằng Dục. Các cụ già chồm dậy, bọn lính gạt ra. Tiếng kêu ré của đồng bào. Tiếng chân ai rầm rập quanh nhà ưng. Ai thế?

    Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng tiếng thét của anh bỗng vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn. Tiếng “giết”! Tiếng chân người đạp lên trên sàn nhà ưng ào ào. Tiếng bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Mết ồ ồ: “Chém! Chém hết!” Cụ Mết, đúng rồi, cụ Mết, đã đứng đấy, lưỡi mác dài trong tay. Thằng Dục nằm dưới lưỡi mác của cụ Mết. Và thanh niên, tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa sáng loáng, những cây rựa mài bằng đá Tnú mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về…

    Tiếng anh Prôi nói, trầm tĩnh:

    – Tnú! Tnú! Tỉnh dậy chưa? Đây này, chúng tôi giết hết rồi. Cả mười đứa, đây này! Bằng giáo, bằng mác. Đây này!

    Lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú. Nhưng đống lửa xà nu lớn giữa nhà vẫn đỏ, xác mười tên lính giặc ngổn ngang.”

                                                                          (Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

    tuyển tập bộ đề đọc hiểu ôn thi thpt quốc gia môn ngữ văn

    Tuyển tập đề thi và những bài văn hay về Rừng Xà Nu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm) – Đặng Trần Côn
  • Câu Hỏi Hướng Dẫn Ôn Thi Cuối Năm Ngữ Văn 10
  • Các Đề Đọc Hiểu Rừng Xà Nu

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành)
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng
  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Đề đọc hiểu Rừng xà nu

    Đọc đoạn văn và trả lời cho câu hỏi ở dưới:

    “Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”.

    Câu 1. Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?

    Câu 2. Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn?

    Câu 3. Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý nghĩa gì?

    Câu 4. xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích

    Đáp án đề đọc hiểu Rừng xà nu số 1

    Câu 1: Đoạn văn trích trong tác phẩm “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành.

    Câu 2: Phong cách ngôn ngữ của đoạn văn là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (khẩu ngữ)

    Câu 3: Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” là câu nói của cụ Mết – già làng – là câu nói được đúc rút từ cuộc đời bi tráng của Tnú và từ thực tế đấu tranh của đồng bào Xô Man nói riêng và dân tộc Tây Nguyên nói chung: giặc đã dùng vũ khí để đàn áp nhân dân ta thì ta phải dùng vũ khí để đáp trả lại chúng.

    Câu 4: Phương thức biểu đạt của đoạn trích là: tự sự, biểu cảm

    Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc. Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, nhìn trừng trừng. Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa cháy ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói: “Người Cộng sản không thèm kêu van…” Tnú không thèm, không thèm kêu van. Nhưng trời ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không! ( Trích Rừng xà nu– Nguyễn Trung Thành)

    Đọc đoạn văn trên và trả lời các câu hỏi sau:

    Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn trên?

    Câu 2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?

    Câu 3. Xác định biện pháp tu từ cú pháp trong câu văn : Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.

    Câu 4. Câu nói: chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!… có ý nghĩa gì?

    Câu 5. Viết một đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ bản thân về trách nhiệm bảo vệ tổ quốc của tuổi trong cuộc sống hôm nay.

    Đáp án đề đọc hiểu Rừng xà nu số 2

    Câu 1: Phương thức biểu đạt của đoạn văn trên là: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt vì đây là lời kể chuyện của nhân vật cụ Mết trong đêm Tnú về thăm làng Xô Man sau ba năm đi lực lượng.

    Câu 2: Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là:

    – Cụ Mết kể lại và giải thích vì sao Tnú không cứu được vợ, con.

    – Bản thân Tnú cũng bị giặc bắt và tra tấn

    – Cụ Mết dẫn trai làng vào núi Ngọc Linh để lấy vũ khí về giết giặc

    – Lời dặn dò của cụ Mết : phải cầm vũ khí để đứng lên chiến đấu.

    Câu 3: Biện pháp tu từ cú pháp trong câu văn : Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc là: liệt kê, tăng tiến.

    – Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó là: tố cáo tội ác man rợ của kẻ thù. Ca ngợi tinh thần trung thành cách mạng,bản lĩnh kiên cường, dũng cảm của nhân vật Tnú. Đó còn là biểu tượng bi hùng, giàu chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    Câu 4: Câu nói: chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!… có ý nghĩa: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Nhân dân miền Nam không có con đường nào là cầm vũ khí để đánh giặc cứu nước, đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc.

    – Nhận thức của bản thân về tình hình đất nước hiện nay: thời cơ và thách thức

    – Bảo vệ Tổ quốc là gì ?

    – Tuổi trẻ phải làm gì để góp phần bảo vệ Tổ quốc?

    – Liên hệ bản thân.

    Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như những vết thương trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã… Cứ thế, hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng… (Trích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)

    Câu 1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?

    Câu 2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?

    Câu 3. Trong đoạn văn trên, Nguyễn Trung Thành sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, đối lập. Xác định biểu hiện các phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật này là gì ?

    Câu 4. Xác định từ loại của các từ được gạch chân : mọc, lao, phóng, ham, tiếp, vượt, ưỡn trong văn bản ? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các từ đó là gì ?

    Câu 5. Từ văn bản trên, viết một đoạn văn ngắn bày tỏ suy nghĩ bản thân về những cánh rừng bị tàn phá hiện nay.

    Đáp án đề đọc hiểu Rừng xà nu số 3

    Câu 1: Đoạn văn trên được viết theo phương thức tự sự là chính

    Câu 2: Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là nói về đặc tính của cây xà nu. Đó là cây ham ánh sáng mặt trời, sinh sôi nảy nở nhanh và khoẻ. Khi bị đạn đại bác bắn, cây xà nu bị chặt đứt ngang thân, cây chết. Nhưng một số cây còn sống, vết thương chóng lành, vượt lên trên cao để đón ánh nắng mặt trời. Cây xà nu bảo vệ dân làng Xô Man.

    Câu 3: Trong đoạn văn trên, Nguyễn Trung Thành sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, đối lập.

    a/ Biểu hiện các phép tu từ đó là :

    – So sánh : Trong rừng ít loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy ; Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như những vết thương trên một thân thể cường tráng.

    – Nhân hoá: những vết thương của chúng chóng lành ; Chúng vượt lên rất nhanh; rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng…

    – Đối lập: Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên; Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê

    b/Tác dụng của hình thức nghệ thuật này là :

    – Biện pháp so sánh nhằm ca ngợi sức cống hiếm có của cây xà nu.

    – Biện pháp nhân hoá khiến xà nu không chỉ hiện lên ở phương diện sinh vật học với đặc tính dẻo dai, sức chịu đựng tốt mà còn trở thành sinh thể sống, đang chịu những đau đớn về thể xác nhưng bất khuất, kiên cường, gan dạ, bản lĩnh, ẩn tàng một sức sống bất diệt, một tâm hồn giàu chất thơ.

    – Biện pháp đối lập giữa cây xà nu ngà gục với mọc lên, giữa cái chết với sự sống nhằm khẳng định sự sống sinh ra từ trong cái chết, mạnh hơn cái chết của cây xà nu cũng chính là tượng trưng cho con người Tây Nguyên đau thương mà anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

    Câu 4: Từ loại của các từ được gạch chân : mọc, lao, phóng, ham, tiếp, vượt, ưỡn trong văn bản là động từ, hàng loạt động từ mạnh. Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các động từ đó là : thể hiện tư thế chủ động của cây xà nu, ca ngợi sự khao khát sống, khả năng sống tiềm tàng, mãnh liệt.

    • Tóm tắt vẻ đẹp của rừng xà nu trong chiến tranh khốc liệt
    • Nhưng hiện nay, bên cạnh những cánh rừng bạt ngàn, xanh rờn thì không ít những cánh rừng bị tàn phá, biến thành những đồi trọc.
    • Hậu quả những cánh rừng bị tàn phá ?
    • Nguyên nhân ( chủ quan và khách quan)
    • Đề xuất biện pháp khắc phục
    • Bài học cho bản thân ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Tác Phẩm Rừng Xà Nu
  • Cảm Nghĩ Về Đoạn Thơ Rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo
  • Đề 1: Câu 1: “rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo Tre Bao Nhiêu Rễ Bấy Nhiêu Cần Cù Vươn Mình Trong Gió Tre Đu
  • Đoạn Thơ: ‘rễ Siêng Không Ngại Đất Nghèo … Tre Xanh Không Đứng Khuất Mình Bóng Râm”, Tác Giả Đã Sử Dụng Những Biện Pháp Nghệ Thuật Nào?
  • Bài Thơ Của Đỗ Trung Quân Có Đoạn: Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một …. Sẽ Không Lớn Nổi Thành Người. Hãy Giải Thích Ý Nghĩa Của Những Câu Thơ Trên Và Nêu Vai Trò Tác Dụng Của Tình Quê Hương Đất Nước Với Cuộc Sống Tâm Hồn Của Mỗi Con Người. (Dàn Bài&
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Mẫu Phân Tích Hình Tượng Cây Xà Nu Trong Rừng Xà Nu Hay, Đặc Sắc
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu
  • Phân Tích 2 Chi Tiết Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Rừng Xà Nu
  • Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
  • Hãy Nêu Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Bài Nhớ Rừng ,ông Đồ , Quê Hương ,khi Con Tu Hú , Tức Cảnh Pác Bó . Nhanh Nha Mk Đang Cần Gấp
  • Khánh Chi – 12 Anh 1 – THPT Chuyên Hạ Long

    Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.

    Đặt vấn đề.

    Nguyễn Trung Thành được mệnh danh là nhà văn của vùng đất Tây Nguyên, nhà văn

    của những tính cách anh hùng. Ông thường viết về hai cuộc kháng chiến của dân tộc là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Trung Thành là “Rừng xà nu”. Tác phẩm được in lần đầu trên tạp trí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung bộ số 2 năm 1965 sau đó được in lại trong tập “Trên quê hương những anh hùng điện ngọc” năm 1969. Qua tác phẩm, ta có thể cảm nhận được những đặc sắc nghệ thuật trong ngòi bút viết truyện của Nguyễn Trung Thành.

    Giải quyết vấn đề:

    Giải thích:

    Những đặc sắc nghệ thuật hay giá trị nghệ thuật là tất cả những yếu tố về hình thức của tác phẩm, được dử dụng đạt hiệu quả thẩm mĩ cao, làm nổi bật giá trị nội dung của tác phẩm và tạo ra được những rung động thẩm mĩ trong lòng người đọc.

    Với một tác phẩm tự sự, đặc sắc nghệ thuật bao gồm những yếu tố sau:

    + Thể loại.

    + Tình huống hoặc kết cấu.

    + Không gian và thời gian nghệ thuật.

    + Nghệ thuật xây dựng nhân vật.

    + Ngôn ngữ.

    Phân tích, chứng minh:

    Nguyễn Trung Thành đã xây dựng được kết cấu cốt truyện độc đáo:

    Kết cấu đầu cuối tương ứng:

    + Mở đầu tác phẩm là những tai họa mà cả những cây xà nu cổ thụ và những cây con phải gánh chịu dưới làn mưa đại bác của kẻ thù: ” cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào bị thương”, ” nhựa ứa ra tràn trề… rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành những cục máu lớn”. Thế nhưng” đại bác lại không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng” để rồi” cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “có những cây mới nhủ khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê”.

    Hình ảnh những cây rừng xà nu bị tàn phá ở đoạn đầu tác phẩm là biểu tượng cho sự đau thương mất mát của con người, tuy nhiên, đoạn cuối tác phẩm lại khiến ta thấy thấp thoáng ẩn hiện sau mỗi cây xà nu là sự gan góc, sức sống mạnh mẽ, mãnh liệt, sức mạnh không ngừng lớn lên của những người dân Tây Nguyên .

    + Cái hay là câu truyện có kết cấu đầu cuối đồng tâm nhưng mở rộng. Mở đầu tác phẩm nhà văn có viết” Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời” và khép lại tác phẩm bằng câu văn ” Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.”

    Đây là kết cấu vòng tròn vừa khép lại câu chuyện này nhưng lại mở ra một câu chuyện khác. Một mặt, nó khiến người đọc cảm tưởng như kì tích của anh hùng Tnú, của dân làng mà tác giả vừa kể chỉ là sự nối tiếp lịch sử ngàn xưa và câu chuyện sẽ còn được tiếp nối bởi những thế hệ mới ở làng Xô-man. Mặt khác, dường như câu chuyện không chỉ bó hẹp trong không gian của làng Xô-man mà được mở rộng ra khắp mọi miền đất nước.

    Chỉ đổi một chữ “đồi” ở đoạn đầu thành chữ “rừng” ở phần cuối cùng, cách viết này rõ ràng nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ ở người đọc. Câu văn là một sự khẳng định chắc chắn: không gì có thể ngăn được sức sống mãnh liệt của cây xà nù và cũng chính là sức sống mãnh liệt, sự bất diệt, kiêu dũng và hùng tráng, sức mạnh không ngừng lớn lên của con người Tây Nguyên nói riêng và con người Việt Nam nói chung vươn đến ánh sáng của lí tưởng cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại.

    Đây là một sản phẩm tất yếu của một cảm quan nghệ thuật luôn bám sát xu hướng vận động của Cách mạng – cảm quan nghệ thuật của một nhà văn Cách mạng có tinh thần ái quốc, luôn ca ngợi sức mạnh chính nghĩa, phê phán tội ác của chiến tranh hủy diệt, luôn hướng đến ánh sáng, tương lai, hòa bình, tự do.

    Kết cấu truyện lồng trong truyện:

    Truyện ngắn này có hai mạch truyện lồng ghép vào nhau. Chuyện bắt đầu từ một lần về thăm làng Xô-man của Tnú sau ba năm xa làng đi bộ đội giải phóng. Trong đêm ấy, quây quần quanh bếp lửa, cả dân làng được nghe cụ Mết kể lại câu chuyện bị tráng về cuộc đời Tnú và chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô-man. Quá khứ của Tnú là quá khứ của một đời người, một thế hệ dân làng đau thương, khổ nhục dưới bàn tay của kẻ thù. Chuyện về Tnú là tình tiết chính và cũng là cốt lõi của câu chuyện về cuộc nổi dậy của dân làng Xô-man.

    Số phận Tnú là số phận cá nhân của một con người nhưng gắn liền với số phận của cộng đồng. Bi kịch của Tnú là bi kịch của cộng đồng, là nỗi đau chung của những người dân mất nước. Cách xây dựng kết cấu này làm cho câu truyện mang đậm tính sử thi hùng tráng.

    Kết cấu đan xen giữa hiện tại và quá khứ:

    + Ở phần đầu và phần cuối của truyện là thời gian hiện tại gần với sự việc Tnú về thăm làng chỉ một đêm và sáng hôm sau lại ra đi.

    + Phần giữa – cũng là phần chính của truyện, chủ yếu tái hiện những sự việc thuộc thời gian quá khứ. Nhưng đôi lúc mạch kể quay lại với thời gian hiện tại bằng việc miêu tả cảnh dân làng nghe cụ Mết kể chuyện về Tnú.

    Cách phối hợp các lớp thời gian như vậy làm cho truyện vừa mở ra được nhiều sự kiện, biến cố, tái hiện được cả một giai đoạn lịch sử một cách ngắn gọn. Kết cấu cốt truyện độc đáo này giúp nhà văn có thể thay đổi được không gian, thời gian nghệ thuật một cách linh hoạt, làm tăng thêm tính trữ tình cho câu truyện, đồng thời cũng làm cho câu truyện trở nên linh hoạt, sinh động và hấp dẫn.

    Xây dựng được không gian và thời gian nghệ thuật độc đáo:

    Trong tác phẩm nhà văn đã xây dựng được 2 không gian nghệ thuật độc đáo, đó là không gian núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, tráng lệ với những cánh rừng xà nu bát ngát và không gian sinh hoạt mang đậm vẻ đẹp của vùng đất Tây Nguyên.

    Những cánh rừng xà nu:

    + Tượng trưng cho những đau thương, mất mát, uất hận của dân làng Xô-man: Cả rừng xà nu đều bị thương, có những cây bị “chặt đứt ngang thân”, “chỗ vết thương nhựa ứa ra”, “bần đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn”,…

    + Cây xà nu tượng trung cho sức sống mãnh liệt của dân làng Xô Man: Cây xà nu sinh sôi rất khỏe, “rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn che chở cho làng” – cũng như cả dân làng Xô Man dù bị tra khảo, nhưng không ai khai nửa lời. Họ đoàn kết lại, dùng giáo mác tiêu diệt cả tiểu đội giặc.

    + Cây xà nu còn tượng trưng cho các thế hệ người dân Tây Nguyên kế tiếp nhanh chóng trưởng thành trong chiến tranh: Cạnh một cây mới ngả gục, có bốn năm cây con mọc lên “chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây ngã xuống” – cũng như anh Quyết hi sinh thì có Tnú nối tiếp, Mai ngã xuống thì có Dít thay, và tiếp đến là bé Heng,…

    + Cây xà nu tượng trưng cho khát vọng, tự do của người dân Tây Nguyên: Cây xà nu là một loại cây họ thông, gỗ và nhựa rất quý, sinh sôi nảy nở “rất khỏe, rất ham ánh sáng mặt trời”, “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng”. Cây xà nu có một sức sống mãnh liệt và chịu đựng dẻo dai “đạn đại bác không giết nổi chúng”. Nhà văn đã mượn những tính chất này của cây xà nu để nói lên sức sống mãnh liệt của người dân Tây Nguyên trong khát vọng vươn đến tự do trước sự đàn áp dã man của quân thù.

    Không gian sinh hoạt mang đậm chất Tây Nguyên: là không gian gần gũi, thân thuộc, mang tính điển hình, tiêu biểu cho con người Tây Nguyên. Không gian ấy gợi cảm giác ấm áp, thân thương, là cái nôi nuôi dưỡng những người con kiên cường, anh dũng.

    + Cuộc sống sinh hoạt hàng ngày thân thuộc với dân làng gắn bó với xà nu: ngọn lửa xà nu cháy bập bùng trong đống lửa ở nhà ưng( nhà hội họp, sinh hoạt chung của dân làng, như “nhà rông” của người Ba-na) tập hợp cả dân làng, khói xà nu đen nhẻm trên thân mình lũ trẻ, khói xà nu làm cho tấm bảng nứa đen kịt để anh Quyết dạy Mai và Tnú học chữ,…

    + Những sự kiện quan trọng của làng Xô-man cũng gắn liền với xà nu:

    . Ngọn đuốc xà nu cháy sáng trong tay cụ Mết và cả dân làng đi vào rừng sâu lấy giáo, mác, dụ, rựa đã giấu kĩ về chuẩn bị cho cuộc nổi dậy.

    . Đêm đêm cả làng thức mài vũ khí dưới ánh đuốc xà nu

    . Giặc đốt hai bàn tay Tnú bằng giẻ tẩm nhựa xà nu.

    . Rồi ngọn lửa từ các đuốc xà nu soi sáng rực cả làng đêm nổi dậy, lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú, nhưng đống lửa xà nu lớn giữa nhà vấn đỏ, xác mười tên lính giặc ngổn ngang quanh đống lửa đó.

    + Những chi tiết mang đậm chất Tây Nguyên:

    . “Vẫn là con đường cũ, qua cái nà bắp đã trồng sắn và cây pom chuvatws lên hai cái dốc đứng sững đã được cắt ra từng bực, chui qua một rừng lách rậm ngày mưa thì vô số vắt lá, rồi đến cái làng nhỏ của anh.”…

    . “Bữa cơm tối ở nhà cụ Mết” với “món canh tàu môn bạc hà nấu lạt trong ống nứa… Ông cụ không nêm muối vào canh. Ông chia cho mỗi người mấy hạt, họ ãn sống từng hạt, ngậm rất lâu trong miệng để nghe chất mặn đậm đà tan dần. Cơm gạo trắng ghế rất nhiều củ pom chu”.

    . Còn ở trong nhà, cụ Mết “gõ ống điếu lẽn đầu ông táo, bẻ một que nứa nhỏ ờ sạp, cẩn thận xoi cho hết tàn thuốc trong ống điếu…”. Cô thiếu nữ ngồi thụp xuống, “hai chân xếp về một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân”…

    . Tiếng chiêng nổi lên…

    + Ngôn ngữ đậm chất Tây Nguyên:

    . Cách xưng hô của cụ mết với Tnú : Tau – mày.

    . Cách nói: “Nó đấy! Nó là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô-man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta. Đêm nay tau kể chuyện nó cho cả làng nghe, để mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…”.

    Sự đan xen 2 không gian này khiến người đọc liên tưởng tới mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, với đất nước ; sự gắn bó khăng khít giữa số phận của cá nhân với vận mệnh của dân tộc.

    Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

    Cách xây dựng nhân vật:

    Nhân vật được chia làm 2 loại chính diện(người dân làng Xô Man và cán bộ cách mạng bao gồm: Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Quyết, bé Heng,…) và phản diện(bọn giặc mà tiêu biểu nhất là thằng Dục ).

    + Tạo nên thế tương phản đối chọi giữa hai tuyến nhân vật như hai lực lượng tiêu biểu cho chính nghĩa và phi nghĩa, sự tàn bạo và lòng nhân ái, sự hủy diệt và sự sống bất diệt.

    + Lớp nhân vật chính diện rất nhiều thế hệ, sát cánh bên nhau, nối tiếp nhau hết lớp này đến lớp

    khác tương ứng với hình ảnh rừng xà nu trùng trùng điệp điệp tràn đầy sức sống.

    Xây dựng một hệ thống các nhân vật điển hình với những điểm chung mang tầm khái quát và những nét riêng thể hiện thính cách khác biệt.

    Tác giả đã xây dựng được hình ảnh những người anh hùng ở cùng đất Tây Nguyên, họ đều là những người con ưu tú của làng Xô-man, được miêu tả tương ứng với rừng cây xà nu qua nhiều thế hệ.

    Tất cả những nhân cật đều hiện lên chân thực, sinh động qua những chi tiết miêu tả về ngoại hình, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động. Ngôn ngữ của nhân vật có tính cá thể hóa, thể hiện được khẩu khí của những người anh hùng.

    Hệ thống nhân vật:

    Cụ Mết: là già làng, là người lớn tuổi nhất, là thế hệ đi trước, là cây đại thụ của buôn làng, là linh hồn trong cuộc đấu tranh của dân làng Xô-man.

    + Cụ Mết hiện lên với một vẻ đẹp quắc thước, lực lưỡng và rắn rỏi, cụ là cây xà nu lực lưỡng và rắn rỏi nhất giữ rừng xà nu căng tràn sức sống.

    + Giọng nó có sức vang vọng, lay động lòng người, có uy lực như một mệnh lệnh chiến đấu, một lời liệu triệu đấu tranh, có tác động mạnh mẽ đến dân làng Xô-man.

    + Cụ rất yêu thương, quan tâm đến những người dân trong buôn làng của mình, cụ còn yêu và tự hào về buôn làng của mình.

    + Cụ có nhận thức đúng đắn về cách mạng, là một người chiến sĩ anh hùng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm.

    + Cụ là người có trách nhiệm gìn giữ, giáo dục và truyền lại cho con cháu truyền thống tốt đẹp của buôn làng.

    Tnú: là thế hệ nối tiếp của cụ Mết, anh Quyết, là người con ưu tú của buôn làng Xô-man, là thế hệ đã trưởng thành dưới ánh sáng của lí tưởng cách mạng. Anh chính là kết tinh cho vẻ đẹp lí tưởng của con người Tây Nguyên trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    + Số phận và bi kịch của Tnú là của cá nhân một con người nhưng lại gắn liền với cộng động, là nỗi đau chung của những người dân mất nước.

    + Tnú có lòng yêu nước, căm thù giặc, sớm giác ngộ lí tưởng và tuyệt đối trung thành với lí tưởng.

    + Tnú có tình cảm gắn bó sâu sắc với buôn làng của mình.

    + Tnú rất mực yêu thương vợ con.

    + Tnú là một người anh hùng kiên cường, bất khuất, mưu trí, dũng cảm.

    Dít: là hiện thân cho vẻ đẹp của những người thiếu nữ ở núi rừng Tây Nguyên – 1 vẻ đẹp vừa duyên dáng, tình từ, vừa mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Nhân vật này còn là hiện thân cho những con người mang phẩm chất yêu nước anh hùng cách mạng, sống có lí tưởng, nhiệt huyết và sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp cách mạng.

    + Dít hiện lên với vẻ đẹp duyên dáng, quyến rũ nhưng cũng rất mạnh mẽ, khỏe khoắn, một vẻ đẹp trong sáng, phóng khoáng, vẻ đẹp ấy khiến Tnú thấy có một luồng lạnh rân tân ở mặt và ngực.

    + Dít có lòng yêu nước, căm thù giặc và sớm giác ngộ lí tưởng.

    + Dít còn là một cô gái giàu tình cảm, yêu thương gắn bó với buôn làng và gia đình.

    + Dít còn là một cô gái duyên dáng, tinh tế và kín đáo.

    + Dít còn là một người có cá tính mạnh mẽ, gan góc, cứng cỏi, có bản lĩnh kiên cường.

    Bé Heng: là thế hệ nối tiếp của Tnú, Mai và Dít, cậu sẽ nối tiếp con đường mà Tnú đã chọn, cậu sẽ viết tiếp vào những trang sử vàng đánh giặc giữ nước của đồng bào Xô-man.

    + Heng là nhân vật nhỏ tuổi nhất ở trong truyện, chỉ xuất hiện ở phần đầu tác phẩm nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc: Cậu mặc một chiếc áo bà ba dài phết đít mà vẫn đóng khố; cậu đội một cái mũ sụp xịn được của 1 anh giải phóng quân nào đó cậu mang một cái mũ sụp xin được của một anh giải phóng quân nào đó; cậu mang một khẩu súng trường đeo chéo ở ngang lưng.

    + Heng hiện lên là một cậu bé hồn nhiên, hiếu động nhưng đã sớm có tinh thần cách mạng, sớm ấp ủ ước mơ trở thành một người chiến sĩ. Dù còn nhỏ tuổi nhưng cậu đã làm liên lạc, có đóng góp tích cực cho cách mạng và kháng chiến.

    Ngôn ngữ:

    Tác phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều bút pháp: tả thực, lãng mạn, sử thi.

    Góp phần tái hiện một cách chân thực cuộc đồng khởi của dân làng Xô Man ở Tây

    Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, câu chuyện bi tráng về cuộc đời của Tnú, đồng thời làm cho tác phẩm mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hững lãng mạn.

    Nhà văn đã lựa chọn và sử dụng nhiều chi tiết có giá trị biểu tượng:

    + Đôi bàn tay của cụ Mết: biểu tượng cho truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh của người dân Nam Bộ,…

    + Đôi bàn tay của Tnú: là đôi bàn tay lao động, đôi bàn tay chiến đấu của người chiến sĩ; là bàn tay của tình yêu thương, bàn tay đau đớn, căm thù; bàn tay biểu tượng cho sức mạnh khối đoàn kết cộng đồng, bàn tay vô địch trước sức mạnh của kẻ thù; bàn tay biểu tượng cho những đau thương mất mát và tố cáo tội ác của bọn Mỹ Ngụy.

    + Rừng xà nu.

    Nghệ thuật trần thuật:

    + Truyện được kể ở ngôi thứ ba nhưng nhà văn đã chuyển điểm nhìn trần thuật vào điểm nhìn của nhân vật( cụ Mết). Cách kể này là hoàn toàn phù hợp với kết cấu cốt truyện, làm cho câu truyện mang màu sắc chủ quan, giúp người đọc hình dưng một cách cụ thể, sinh động về sự việc, con người được kể.

    + Ngôn ngữ trần thuật đậm chất Tây Nguyên, phù hợp với tính cách nhân vật, giàu tính tạo hình.

    + Giọng điệu chủ đạo là tự hào, ngợi ca; giọng điệu của cụ Mết khi kể về cuộc đời Tnú trang nghiêm, âm vang, phảng phất lối kể khan Tây Nguyên.

    Kết thúc vấn đề.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Phân Tích Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ 3 Bài Nhớ Rừng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành) Có Lời Giải
  • Kiến Thức Bài Rừng Xà Nu
  • Đề Thi Thử Thpt Qg Bài Rừng Xà Nu Theo Hướng Mới 2022
  • Xác Định Và Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • ✅ Cảnh Khuya; Rằm Tháng Giêng
  • Trong những năm tháng rực rỡ nhất của phong trào Thơ mới, Thế Lữ hiện lên như một vì sao mai sáng lòa, lấp lánh. Còn lại với thời gian hôm nay, Thế Lữ gắn bó với bạn đọc bởi bài thơ nổi tiếng nhất của ông: bài thơ Nhớ rừng. Bài thơ ấy dưới tiêu đề của nó, tác giả đã đề một dòng chữ nhỏ: “Lời con hổ trong vườn bách thú”. Xuyên suốt tác phẩm, người đọc hiểu rằng bài thơ là những tâm sự đầy uất hận của con hổ trước cảnh đời hiện tại bức bách, tù túng; nó mơ về những ngày xưa tung hoành, lẫm liệt. Bài thơ đã kín đáo bộc lộ tấm lòng yêu nước của người dân ta thuở đó. Nhưng không dừng lại ở đó, thành công của bài thơ còn nằm ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt mĩ – cảnh rừng sơn lâm trong hồi ức đau thương của con hổ “nhớ rừng”. Tiêu biểu phải kể đến bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:

    “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới

    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

    (Nhớ rừng – Thế Lữ)

    Đoạn thơ nằm trong chuỗi hồi ức về những ngày tháng lẫm liệt chốn rừng xanh uy nghi của con hổ. Giữa cảnh núi rừng dữ dội, lộng lẫy nó là vị chúa tể độc tôn. Đoạn thơ dựng lên bốn cảnh rừng tuyệt mĩ: cảnh đêm trăng, cảnh mưa rừng, cảnh bình minh và cảnh hoàng hôn. Mỗi cảnh được thể hiện bằng hai câu thơ, câu thứ nhất tả cảnh rừng, câu thứ hai miêu tả hình ảnh con hổ trên nền thiên nhiên kì vĩ ấy.

    “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”.

    “Đêm vàng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ đêm trăng sáng mọi vật như được nhuộm vàng, ánh trăng như vàng tan chảy trong không gian. Trong đêm trăng, đứng bên bờ suối càng khiến ta cảm nhận hết được sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Mặt nước trong trẻo đón nhận trọn vẹn sắc vàng của trăng càng trở nên lóng lánh kì lạ. Đứng trước khung cảnh ấy, con hổ “say mồi” không chỉ bởi bữa ăn no nê mà còn bởi “uống ánh trăng tan”. Đó là một hình ảnh lãng mạn, nó tưởng như mình được chiếm lĩnh trọn vẹn cái đẹp của vũ trụ. ‘

    Nếu như hình, ảnh đêm trăng thanh bình bao nhiêu thì cảnh mưa rừng dữ dội bấy nhiêu:

    “Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”

    Cơn mưa ngàn dữ đội, mịt mờ làm rung chuyển núi rừng, làm kinh hoàng những con thú hèn yếu. Nhưng với hổ thì khác, nó không những không sợ hãi trước uy lực của trời đất mà còn coi đó là một thú vui: “Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”. Cái im lặng say mê trong từ “lặng ngắm” của hổ chứa đựng những sức mạnh chế ngự của một bản lĩnh vững vàng. Nó đang lấy cái tĩnh của một vị chúa tể để chế ngự cái dữ dội của rừng già đại ngàn. Hình ảnh của hổ hiện lên thật phi thường, dũng mãnh.

    Câu thơ vừa căng lên đã nhanh chóng tan ra trong tiếng reo ca của cảnh bình minh:

    “Đâu những bình minh cây xanh nắng gội

    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”.

    Sau ngày mưa bầu trời bình minh tươi sáng hơn. Con hổ càng khẳng định được vị trí của mình. Ban đêm thì nó thức cùng vũ trụ. Ngày mưa nó “lặng ngắm” giang san. Lúc vạn vật thức dậy thì nó say sưa trong giấc ngủ. Hình ảnh của chúa sơn lâm tự do tự tại muốn gì được nấy, hổ có thể chi phối, chế ngự kẻ khác chứ không ai có thể chế ngự được mình.

    Dữ dội nhất, say mê nhất là cảnh rừng thời khắc hoàng hôn:

    “Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.

    Bức tranh rừng rực rỡ trong gam màu đỏ, đó là màu của máu, màu của ánh sáng mặt trời. Khi chiều tà, ánh mặt trời chuyển sang màu đỏ rực, đó cũng là lúc mặt trời lặn xuống. Nhưng trong con mắt của hổ, thứ ánh sáng bỏng rẫy kia là máu của mặt trời và mặt trời thì đang lịm dần trong cái chết dữ dội. Hổ đang giành lấy quyền lực từ tay vũ trụ để ngự trị.

    Đoạn thơ là bộ tranh tứ bình đẹp lộng lẫy. Bốn cảnh thiên nhiên, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ tráng lệ với hình ảnh con hổ uy nghi. Nhưng đau xót thay, đây chỉ là cảnh trong dĩ vãng huy hoàng, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ. Trước mỗi cảnh thơ đều xuất hiện cụm từ “nào đâu”, “đâu những”, chúng thể hiện niềm nuối tiếc khôn nguôi, nỗi xót xa đau đớn trong lòng hổ. Giấc mơ huy hoàng khép lại trong tiếng than: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Những Đặc Điểm Đặc Sắc Trong Nghệ Thuật Của Bài Thơ Nhớ Rừng (Các Biện Pháp Tu Từ, Thể Thơ, Cách Tả Cảnh, Tả Tình,…)
  • Xác Định Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Của Bài Nhớ Rừng
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Nhớ Rừng
  • Tóm Tắt Tác Phẩm Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Soạn Bài Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành)
  • Phân Tích 2 Chi Tiết Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Rừng Xà Nu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Nhớ Rừng (Thế Lữ)
  • Hãy Nêu Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Của Các Bài Nhớ Rừng ,ông Đồ , Quê Hương ,khi Con Tu Hú , Tức Cảnh Pác Bó . Nhanh Nha Mk Đang Cần Gấp
  • Qua Dòng Hồi Tưởng Của Người Mẹ Trong Văn Bản “cổng Trường Mở Ra”. Tác Giả Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì? Tác Dụng Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó?
  • Cảm Nhận Về Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Thứ 3 Bài Nhớ Rừng
  • 2 chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm Rừng Xà Nu cùng những phân tích chi tiết giúp bạn bổ sung thêm kiến thức quan trọng và hiểu thêm về tác phẩm.

    Đôi bàn tay Tnú và hình ảnh Tnú tự ghì đá vào đầu chảy máu2 chi tiết nghệ thuật đặc sắc nhất trong Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành.

    Cùng Đọc Tài Liệu tìm hiểu và phân tích chi tiết về 2 chi tiết này…

    1. Đôi bàn tay Tnú

    – Minh chứng cho tội ác dã man của kẻ thù. Chúng đốt bàn tay Tnú trước hết là để trả thù, hành hạ kẻ đã dám cầm súng chống lại chúng, sau nữa là để đe dọa dân làng khiến họ run sợ mà không dám nổi dậy “đứa nào muốn cầm rựa, cầm giáo thì coi bàn tay thằng Tnú đây!”)

    – Cho thấy phẩm chất phi thường của người anh hùng Tnú. Nỗi đau lớn đến mức Tnú có cảm giác cả thân thể anh bị thiêu đốt nhưng anh quyết không kêu van. Khi cả nỗi đau và lòng căm thù lên đến đỉnh điểm, Tnú thét lên một tiếng, tiếng thét của anh lập tức vang dội thành nhiều tiếng thét dữ dội hơn. Dân làng Xô Man dưới sự lãnh đạo của cụ Mết đã đồng loạt nổi dậy. Mười đầu ngón tay Tnú trở thành bó đuốc sống không những không làm nao núng tinh thần của người dân như kẻ thù mong muốn, ngược lại, nó cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh cho người dân.

    – Hình ảnh được miêu tả bằng những câu văn ngắn, nhịp văn chậm, nhà văn xoáy sâu miêu tả kĩ từng chi tiết, qua đó làm bật lên sự man rợ của kẻ thù. Đó là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, đẩy mâu thuẫn lên cao trào, đồng thời góp phần khắc họa hình tượng nhân vật, tạo màu sắc sử thi cho tác phẩm…

    những bài phân tích hình ảnh đôi bàn tay Tnú trong truyện Rừng xà nu hay khác tại Đọc Tài Liệu

    2. Tnú tự ghì đá vào đầu chảy máu

    Tnú nghe theo anh Quyết, cố học chữ để sau này thay anh lãnh đạo cách mạng. Quyết tâm học chữ của Tnú thể hiện dứt khoát trong hành động tự đạp hòn đá vào đầu, máu chảy ròng ròng khi cậu thua Mai trong việc nhớ những con chữ. Tnú từ nhỏ đã tâm niệm trong đầu câu nói của cụ Mết: Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn.

    Dù chỉ là một tiểu tiết, nhưng hành động vì học chữ thua Mai mà tự trừng phạt bản thân để ta thấu hiểu con người Tnú, anh ngay thẳng trung thực với chính lòng mình, cái nét ấy của Tây Nguyên thấm đẫm trong anh từ ngôn ngữ tới hành động, Tnú hiểu rằng chỉ có cái chữ của Đảng dạy cho, của anh Quyết dạy cho nó mới có thể viết hết những gì trong bụng mình suy nghĩ, có thể được giác ngộ lý tưởng cách mạng và lãnh đạo buôn làng chống lại kẻ thù.

    một số bài phân tích hình tượng Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu để hiểu hơn về nhân vật này.

    (St: FB Phạm Minh Nhật)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm Rừng Xà Nu
  • Văn Mẫu Phân Tích Hình Tượng Cây Xà Nu Trong Rừng Xà Nu Hay, Đặc Sắc
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100