Tuyên Ngôn Độc Lập

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chính Xác Và Đầy Đủ Nội Dung
  • Lối Nói Khoa Trương Của Người Việt, Cách Ghi, Chú Giải Và Giải Thích Trong Từ Điển Tiếng Việt Của Hoàng Phê
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Ngữ Văn Có Đáp Án
  •     Bản Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

     

        Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

     

        Bản Tuyên ngôn đã thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

     

        Trải qua 75 năm, Tuyên ngôn Độc lập vẫn mang tính thời sự sâu sắc cả trên bình diện trong nước và quốc tế.

     

     Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội

    Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội

        Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc

     

        Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm đỉnh cao, tiêu biểu, phản ánh đầy đủ nhất, sâu sắc nhất quan điểm triết học, quan điểm chính trị và cả quan điểm nhân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó chứa đựng cả những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc.

     

        Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791.

     

        Từ việc đề cập đến quyền của con người như một sự tất yếu của tạo hóa, không ai có thể xâm phạm được, là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển sáng tạo, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc.

     

        ”Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (1).

     

        Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc.

     

        Nghiên cứu về Tuyên ngôn Độc lập, giáo sư Singô Sibata (Nhật Bản) cho rằng “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình” (2).

     

        Bởi vậy, có thể nói Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn là tuyên ngôn về quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Việc nâng tầm quyền con người lên thành quyền dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một cống hiến về nguyên lý lý luận của Người vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

     

        ”Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”

     

        Quyền độc lập dân tộc, quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc là những giá trị cơ bản nhất của nhân quyền. Nhưng dưới chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam, những quyền đó bị tước bỏ và chà đạp.

     

        Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.”

     

        ”Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong những bể máu… Về kinh tế, chúng bóc lột công nhân, nông dân đến tận xương tủy… Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho nhân dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng…” (3).

     

        Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến và đế quốc, giành lại độc lập, tự do và quyền con người. Như vậy, nhân quyền ở Việt Nam không phải là giá trị do ai ban phát mà là kết quả của cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh đó đã làm cho “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” (4).

     

        Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” (5); đồng thời nhấn mạnh, “các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam” (6).

     

        Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(7).

     

        Với hệ thống lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục gói gọn trong hơn 1.000 chữ, Tuyên ngôn Độc lập là một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, đặt cơ sở cho việc thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam với mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc; soi sáng con đường cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

     

        Mãi trường tồn với thời gian

     

        75 năm đã trôi qua, nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc, về khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do, vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

     

        Đặc biệt, những giá trị về quyền con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng trong Tuyên ngôn Độc lập là những giá trị bất hủ. Từ đó đến nay, nhân dân Việt Nam đã không ngừng phấn đấu cho quyền con người và đạt được nhiều kết quả tích cực, rất quan trọng.

     

        Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và luật. Với những thành tựu về việc bảo đảm quyền con người (cả trên lĩnh vực đối nội và đối ngoại), Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016).

     

        Kể từ ngày bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đến nay, vị thế đất nước đã có nhiều đổi thay, lời thề lịch sử “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” luôn rọi sáng mọi trái tim, khối óc của người Việt Nam yêu nước trên mọi vùng, miền của Tổ quốc và định cư ở nước ngoài.

     

        Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của toàn dân tộc, giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành được những thành tựu to lớn trong đấu tranh thống nhất đất nước, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

     

        Đặc biệt, sau gần 35 năm tiến hành đổi mới, nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm, quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực; Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam dần được cải thiện, hiện đang thuộc nhóm trung bình cao và đứng thứ 118/189 quốc gia (năm 2021); mức sống chung của người dân từng bước được nâng lên…

     

        Cùng với đó, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia trên thế giới; gia nhập và tích cực xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN; tham gia có hiệu quả các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế trên nhiều cấp độ…

     

        Năm tháng sẽ qua đi, nhưng tinh thần bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn luôn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam, không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lý mà còn bởi giá trị nhân văn cao cả về quyền con người, quyền của dân tộc được sống trong độc lập, tự do như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấp ủ và cống hiến cả cuộc đời mình để thực hiện.

        (1), (3), (4), (5), (6), (7): trích Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011sđd, tập 4, tr. 1,2,3

     

        (2) : Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979, tr. 96.

                                                                                                 TTXVN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Tóm Tắt Kiến Thức Bài Tuyên Ngôn Độc Lập

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 12 Về Bản Tuyên Ngôn Của Hồ Chí Minh Có Đáp Án
  • Chứng Minh, Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn.
  • Suy Nghĩ Của Em Về Câu Tục Ngữ: “uống Nước Nhớ Nguồn”. Qua Đó Khẳng Đ
  • Tổng hợp kiến thức cơ bản bài Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

    1. Hoàn cảnh ra đời

    – Ngày 19/08/1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân. Ngày 26/08/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội và tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người đã soạn “Tuyên ngôn Độc lập”.

    – Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Người đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    – ” Tuyên ngôn Độc lập ” ra đời trong một tình thế vô cùng cấp bách: nền độc lập vừa mời giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp. Lúc này thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bị nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp.

    2. Giá trị lịch sử và văn học, mục đích, đối tượng của bản “Tuyên ngôn Độc lập”

    – Giá trị lịch sử: Là văn kiện lịch sử vô giá, là lời tuyên bố của một dân tộc đã đứng lên xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, thực dân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hòa nhập vào cộng đồng nhân loại với tư cách là một nước độc lập, dân chủ, tự do.

    – Giá trị văn học:

    + Giá trị tư tưởng: “Tuyên ngôn Độc lập” là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng tự do.

    + Giá trị nghệ thuật: Là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, những bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn.

    – Đối tượng: Nhân dân Việt Nam; Các nước trên thế giới; Bọn đế quốc, thực dân đang lăm le xâm lược nước ta : Mỹ, Pháp.

    – Mục đích: Tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam mới; Ngăn chặn âm mưu xâm lược của bọn đế quốc, thực dân.

    3. Nội dung 3.1. Phần 1 (từ đầu đến “Không ai chối cãi được”) : Nêu nguyên lí chung

    – Người đã trích dẫn bản hai bản “Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp. Hai bản Tuyên ngôn này khẳng định quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi con người ở mọi dân tộc.

    – Tác giả dùng chính lí lẽ của đối phương đáp trả lại đối phương, nhắc nhở đối phương đang đi ngược lại những gì mà tổ tiên họ để lại.

    – Đặt ba cuộc cách mạng của nhân loại ngang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam cùng một lúc thực hiện nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng Mĩ, Pháp. Sánh vai các nước bé nhỏ với các cường quốc năm châu.

    – Từ quyền con người Bác mở rộng thành quyền của dân tộc. Đây là một suy luận hết sức quan trọng vì đối với những nước thuộc địa như nước ta lúc bấy giờ thì trước khi nói đến quyền của con người phải đòi lấy quyền của dân tộc. Dân tộc có độc lập, nhân dân mới có tự do, hạnh phúc. Đó là đóng góp riêng của tác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX.

    – Lập luận vừa kiên quyết, vừa khôn khéo, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho bản TN.

    Tham khảo: Phân tích phần mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập

    3.2. Phần 2 (từ “Thế mà… phải được độc lập”) : Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khảng định thực tế lịch sử là nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền và lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

    a. Bản tuyên ngôn đã đưa ra những lí lẽ xác đáng, những bằng chứng không ai có thể chối cãi để bác bỏ những luận điệu của thực dân Pháp muốn “hợp pháp hóa” việc chiếm lại nước ta:

    + Pháp kể công “khai hóa”, bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng của chúng. Tội nặng nhất là gây ra nạn đói năm giết chết hơn hai triệu đồng bào ta từ Bắc Kì đến Quảng Trị (dẫn chứng)

    + Pháp kể công “bảo hộ”, bản tuyên ngôn kể tội hai lần chúng dâng Đông Dương cho Nhật (dẫn chứng)

    + Pháp nhân danh Đồng minh đã chiến thắng phát xít, giành lại Đông Dương, bản tuyên ngôn kể tội chúng phản bội đồng minh: đầu hàng Nhật, khủng bố Cách mạng Việt Nam đánh Nhật cứu nước. Bản tuyên ngôn nói rõ: Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

    Bằng giọng văn hùng hồn mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục, đoạn văn đã tố cáo hùng hồn và đanh thép tội ác của thùc dân Pháp. Bằng phương pháp liệt kê, tác giả đã nêu lên hàng loạt tội ác của thực dân Pháp trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và ngoại giao.

    b. Từ những cứ liệu lịch sử hiển nhiên đó, bản Tuyên ngôn nhấn mạnh đến những thông điệp quan trọng:

    + Tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước VN.

    + Kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp

    + Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc VN.

    3.3. Phần 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập của toàn dân tộc

    – Tuyên bố về quyền độc lập của dân tộc

    – Tuyên bố về sự thật là nước Việt Nam đã giành được độc lập.

    – Tuyên bố về ý chí, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc bằng mọi giá.

    Những lời tuyên ngôn này được trình bày lôgic, chặt chẽ, cái trước là tiền đề của cái sau.

    4. Nghệ thuật

    – Kết cấu chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, lập luận giàu sức thuyết phục

    – Ngôn ngữ chính xác, trong sáng, gợi cảm.

    – Giọng điệu linh hoạt.

    5. Chủ đề

    Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới quyền được tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, nền độc lập, tự do mà nhân dân ta vừa giành được và quyết tâm bảo vệ nền độc lập của toàn dân tộc.

    ********

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Và Đáp Án Đọc Hiểu “tuyên Ngôn Độc Lập”
  • Chỉ Ra Và Nêu Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Lưng Núi…
  • Bình Giảng Khổ Thơ Kết Thúc Bài “đất Nước” Của Nguyễn Đình Thi Sau Đây: “súng Nổ Rung Trời Giận Dữ, Người Lên Như Nước Vỡ Bờ. Nước Việt Nam Từ Máu Lửa, Rũ Bùn Đứng Dậy Sáng Lòa”
  • Bình Giảng Khổ Cuối Bài Thơ Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)
  • Bộ Đề Thi Thử Môn Văn Có Đáp Án, Đề Số 94
  • Bài Tập Và Đáp Án Đọc Hiểu “tuyên Ngôn Độc Lập”

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Kiến Thức Bài Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 12 Về Bản Tuyên Ngôn Của Hồ Chí Minh Có Đáp Án
  • Chứng Minh, Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Chứng Minh Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn
  • Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn.
  • 1/ Nội dung chính phần mở đầu của bản “Tuyên ngôn Độc lập”: trích dẫn bản “Tuyên ngôn độc lập”của người Mỹ ( 1776), nói về quyền tự do, bình đẳng của “mọi người”. Suy rộng ra từ quyền tự do, bình đẳng của “mọi người” thành quyền tự do, bình đẳng của “tất cả các dân tộc trên thế giới”. Trích dẫn bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của cách mạng Pháp (1791) , nói về quyền tự do, bình đẳng của con người. Khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

    2/ Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận. Việc dùng từ “Suy rộng ra” có ý nghĩa: Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh suy rộng ra về quyền đẳng, tự do của các dân tộc. Đây là một đóng góp riêng của Người vào lịch sử tư tưởng nhân loại.

    3/ Ý nghĩa: Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp nhằm đề cao giá trị tư tưởng nhân đạo và văn minh nhân loại, tạo tiền đề cho những lập luận tiếp theo.

    BÀI TẬP & ĐÁP ÁN ĐỌC HIỂU "TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP" ( theo đánh giá năng lực học sinh) Bài 1: Người đứng trên đài, lặng phút giâyTrông đàn con đó, vẫy hai tayCao cao vầng trán... Ngời đôi mắtĐộc lập bây giờ mới thấy đây! ( Trích Theo chân Bác-Tố Hữu) Đọc đoạn thơ trên và trả lời các câu hỏi sau: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn thơ? Nội dung chính của đoạn thơ là gì? Khi đọc "Tuyên ngôn Độc lập", Hồ Chí Minh đã "lặng phút giây". Anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn lý giải vì sao Bác có cảm xúc đó. Trả lời: Phương thức biểu đạt của đoạn thơ là miêu tả và biểu cảm Nội dung chính của đoạn thơ : Nhà thơ Tố Hữu đã viết về giây phút xúc động thiêng liêng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập". Đoạn văn ngắn thể hiện những ý sau: "Tuyên ngôn Độc lập" ra đời là một trong những niềm xúc động, hạnh phúc lớn lao nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Phía sau những lập luận chặt chẽ, sắc sảo, đanh thép, đầy tính đối thoại, xác định giá trị pháp lí của chủ quyền dân tộc là dòng cảm xúc, tình cảm của người viết Tuyên ngôn. Những lời tuyên bố trong bản Tuyên ngôn là kết quả bao nhiêu máu đã đổ của các chiến sĩ, đồng bào trong cả nước. Mỗi dòng chữ là chan chứa niềm tự hào dân tộc. Mỗi dòng chữ là một niềm hạnh phúc vô biên khi đất nước đã được độc lập, tự do. Mỗi dòng chữ cũng là những đau đớn, nhức nhối khi nhìn lại bao rên xiết lầm than của nhân dân ta khi bị kẻ thù áp bức, bóc lột. Vì vậy, sức thuyết phục của "Tuyên ngôn Độc lập" không chỉ ở hệ thống lập luận sắc sảo mà còn ở tình cảm chan chứa, sâu sắc của tác giả. Bài 2: Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Đọc văn bản trên và trả lời các câu hỏi sau: 1. Nêu những ý chính của văn bản. 2. Xác định biện pháp tu từ và ý nghĩa biện pháp tu từ đó trong văn bản trên. 3. Các từ ngữ: nổi dậy giành chính quyền lập nên nước, lấy lại nước có hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Trả lời: 1. Ý chính của văn bản: Hồ Chí Minh đưa ra hai "sự thật" lịch sử để khẳng định nước ta là thuộc địa của Nhật từ năm 1940, đồng thời dân ta đã lấy lại nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. 2. Biện pháp tu từ trong văn bản là phép điệp cú pháp "Sự thật là..." hai lần. Ý nghĩa: Nhấn mạnh 2 sự thật lịch sử nhắm bác bỏ luận điệu xảo quyệt của bọn thực dân .Vào thời gian nước ta tuyên bố độc lập, nhà cầm quyền Pháp đã tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp, bị quân Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải thuộc quyền "bảo hộ"của người Pháp. 3. Các từ ngữ: nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước, lấy lại nước có hiệu quả nghệ thuật : Ca ngợi nhân dân ta anh hùng. Hàng loạt động từ mạnh, liên tiếp diễn tả sức mạnh như vũ bão của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu để giành lại độc lập, tự do. Bài 3. Hỡi đồng bào cả nước! "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Đọc văn bản trên và trả lời các câu hỏi sau: 1. Nêu những ý chính của văn bản. 2. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. Việc dùng từ "Suy rộng ra" có ý nghĩa như thế nào? 3. Nêu ý nghĩa của đoạn trích văn bản trên. Trả lời: 1/ Nội dung chính phần mở đầu của bản "Tuyên ngôn Độc lập": trích dẫn bản "Tuyên ngôn độc lập"của người Mỹ ( 1776), nói về quyền tự do, bình đẳng của "mọi người". Suy rộng ra từ quyền tự do, bình đẳng của "mọi người" thành quyền tự do, bình đẳng của "tất cả các dân tộc trên thế giới". Trích dẫn bản "Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền" của cách mạng Pháp (1791) , nói về quyền tự do, bình đẳng của con người. Khẳng định "đó là những lẽ phải không ai chối cãi được". 2/ Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận. Việc dùng từ "Suy rộng ra" có ý nghĩa: Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh suy rộng ra về quyền đẳng, tự do của các dân tộc. Đây là một đóng góp riêng của Người vào lịch sử tư tưởng nhân loại. 3/ Ý nghĩa: Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp nhằm đề cao giá trị tư tưởng nhân đạo và văn minh nhân loại, tạo tiền đề cho những lập luận tiếp theo. GIỚI THIỆU trong WEBSITE DẠY- HỌC VÀ ÔN TẬP TRONG KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2021 NGỮ VĂN 12 1. Tiện ích của phần mềm : -Với học sinh : có thể sử dụng trang web để đọc hiểu rộng hơn về chương trình Ngữ Văn lớp 12 . Các em sẽ tự ôn thi Quốc gia THPT theo sự hướng dẫn cụ thể. 2. Các phần chính của phần mềm: 2.1/ Phần Bài tập trắc nghiệm của trang web gồm có: - Trắc nghiệm Phần Văn Trắc nghiệm Tiếng Việt -Trắc nghiệm Làm văn: Mục đích phần trắc nghiệm khách quan là hỗ trợ học sinh tự học thông qua tự kiểm tra kiến thức đã học. Làm bài tập trắc nghiệm, học sinh chỉ cần đưa trỏ chuột vào các thanh tiêu đề, liên kết với các bài, đánh dấu chọn vào câu đúng. Mỗi đề đưa ra đều có 04 lựa chọn. Học sinh khi tự học, sẽ làm bài trực tiếp trên máy tính. Cuối bài tập đều có đáp án và tính câu đúng theo tỉ lệ %, bao nhiêu phần trăm đúng là sẽ tính ra điểm. Ví dụ: đúng 100% được tính 10 điểm. Thầy cô cũng dựa vào hệ thống bài tập trắc nghiệm để thiết kế câu hỏi Đọc hiểu văn bản trong PISA. Trang web cũng chuyển toàn bộ bài tập trắc nghiệm sang tập tin word ( có đáp án) để thầy cô chỉnh sửa và in ấn. 2.2/ Phần Cùng đọc hiểu văn bản của trang web gồm nhiều thư mục . Cụ thể : 2.2.1/ Đọc văn bản: gồm tất cả văn bản trong chương trình Ngữ văn 12, giúp học sinh tự học thông qua đọc lại Ngữ liệu văn bản để tìm hiểu nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Ngoài ra, những văn bản trích đoạn, trang web sẽ cung cấp toàn bộ các chương còn lại để học sinh có cái nhìn bao quát về tác phẩm. 2.2.2/Hỏi đáp Ngữ văn 12: Đây là phần giúp giáo viên dạy tiết ôn tập và học sinh có kiến thức để làm bài về tác gia, tác phẩm, ý nghĩa nhan đề, nội dung và nghệ thuật chính của tác phẩm. Chỉ cần liên kết vào trong từng câu hỏi, sẽ có phần gợi ý trả lời. 2.2.3/ Chân dung nhà văn : Đây là phần tư liệu giúp hiểu thêm về cuộc đời của các nhà văn, hoàn cảnh sáng tác tác phẩm trong chương trình thông qua những mẩu chuyện có thật, những giai thoại, những bài phỏng vấn hoặc chính nhà văn nói về tác phẩm của mình. 2.2.4/Ôn tập nghị luận văn học: Gồm nghị luận về thơ ( HKI- có phần bài tập và đáp án Đọc hiểu) và nghị luận về tác phẩm văn xuôi ( HKII) 2.2.5/Bồi dưỡng thi học sinh Giỏi (trong dia CD 2) : Gồm những đề thi và gợi ý làm bài giúp GV và học sinh có cơ sở luyện tập để dự thi học sinh giỏi cấp Tỉnh đạt kết quả cao. 3- Cấu hình để ứng dụng chương trình: - Công cụ sử dụng: Microsoft Office FrontPage 2003 dưới ngôn ngữ *.html - Cấu hình tối thiểu: Pentium III ; 256 Mb Ram, độ phân giải 800x600 với 256 màu; hệ điều hành MS Windows 98, Internet Explorer 6. - Cấu hình yêu cầu để sử dụng hiệu quả các chức năng trình duyệt, âm thanh và đồ hoạ: Card âm thanh, loa, Ram 256 Mb, DirectX 8, Internet Explorer 6, màn hình 32 bit. - Chương trình không yêu cầu phải cài đặt. - Tập tin thực thi (EXE): chúng tôi ( Biểu tượng hình tròn màu vàng) 4 - Hướng dẫn sử dụng: -Toàn bộ chương trình đều tự thực thi trên CD. Vì thế, chương trình sẽ tự động chạy khi được đưa vào ổ đĩa CD-Rom. Tuy nhiên, nếu chương trình không tự chạy do đã chép vào một Folder, ta mở Folder ra, chọn biểu tượng tập tin thực thi chúng tôi nhấp chuột, trang web sẽ hiện ra trang chủ. -Lưu ý: Nếu máy tính đang chạy chương trình quét vi rút Bkav, bạn hãy tắt chương trình này trước. Nếu không, hệ thống sẽ báo lỗi. -Trước khi chạy chương trình không phải cài thêm bất kì chương trình phụ nào. - Giao diện Tiếng Việt, sử dụng bảng mã Unicode, đẹp mắt, trực quan, rõ ràng, dễ hiểu. 5/ Cách mở ổ đĩa: b. Cách 2: không cần gỡ BKaV - Chép toàn ổ đĩa CD vào ổ cứng.- Theo đường dẫn :AutoPlayDocsTrang Chu_HomePage. Bấm vào Trang Chu_HomePage ( chạy bằng Internet Explorer) 6/ Liên hệ : Thầy ( cô ) nào có nhu cầu tìm hiểu phần mềm, xin liên hệ qua địa chỉ Email [email protected] để tác giả ( Số 01223745614 (DĐ) giải đáp ( Một bộ gồm 2 dia CD Tap I va Tap II). Thầy(cô) vui lòng khi gửi mail ghi rõ Họ và tên:..............Địa chỉ nơi công tác ( Trường, xã, huyện, tỉnh...) để được phản hồi những thông tin chi tiết hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Ra Và Nêu Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Lưng Núi…
  • Bình Giảng Khổ Thơ Kết Thúc Bài “đất Nước” Của Nguyễn Đình Thi Sau Đây: “súng Nổ Rung Trời Giận Dữ, Người Lên Như Nước Vỡ Bờ. Nước Việt Nam Từ Máu Lửa, Rũ Bùn Đứng Dậy Sáng Lòa”
  • Bình Giảng Khổ Cuối Bài Thơ Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)
  • Bộ Đề Thi Thử Môn Văn Có Đáp Án, Đề Số 94
  • Đáp Án Và Bộ Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Văn Đề Số 5
  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12
  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chính Xác Và Đầy Đủ Nội Dung
  • sơ-đồ-tư-duy-bài-tuyên-ngôn-độc-lập-1

    Nguồn Internet

    I. Khái quát chung sơ đồ tư duy bài Tuyên ngôn độc lập

    1. Hoàn cảnh

    – Thành công vang dội của Cách mạng tháng Tám – dấu son lịch sử đáng nhớ của dân tộc.

    – Bọn thực dân manh nha quay lại xâm lược nước ta một lần nữa.

    – Ngày 02/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử giữa Thủ đô Hà Nội, Bác đã đọc vang dõng dạc bản Tuyên ngôn độc lập tạo nên thời khắc lịch sử dân tộc.

    2. Đối tượng tiếp nhận         

    – Đồng bào nhân dân cả nước.

    – Mọi người dân trên thế giới.

    – Kẻ thù xâm lược.

    3. Nội dung

    – Khẳng định nền độc lập, tự chủ dân tộc.

    – Thể hiện tinh thần quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ.

    – Bác bỏ luận điệu sai trái, xảo quyệt của bọn xâm lăng.

    II. Cơ sở pháp lý qua sơ đồ tư duy bài Tuyên ngôn độc lập

    sơ-đồ-tư-duy-bài-tuyên-ngôn-độc-lập-2

    Nguồn Internet

    1. Lấy tiền đề

    – Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng”.

    – Tuyên ngôn Nhân quyền – Dân quyền của thực dân Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

    2. Suy rộng ra

    -  Từ quyền tự do của mỗi người đến quyền tự do, bình đẳng của cả dân tộc.

    III. Cơ sở thực tiễn qua sơ đồ tư duy bài Tuyên ngôn độc lập

    1. Về chính trị

    – Không cho một chút tự do.

    – Thực thi luật pháp man rợ với dân ta.

    – Lập ra ba chế độ khác nhau để ngăn đoàn kết.

    – Tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu.

    – Chỉ vỏn vẹn trong vòng 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

    – Thẳng tay giết tù chính trị khi Việt Minh kêu gọi đồng minh.

    2. Về kinh tế

    – Bóc lột tận xương khiến nhân dân nghèo xơ xác, gây nên thảm kịch hơn hai triệu người dân chết đói trong nạn đói kinh hoàng 1945.

    – Cướp đoạt ruộng đất, đè nén và bóc lột công nhân ta.

    – Chúng độc quyền in giấy bạc và xuất cảng.

    – Không công nhận sự phát triển, không cho tư sản nước ta.

    – Đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, sưu cao thuế nặng đổ lên đầu dân ta.

    – Bóc lột dân ta đến tận xương tủy.

    sơ-đồ-tư-duy-bài-tuyên-ngôn-độc-lập-3

    Nguồn Internet

    3. Văn hóa – xã hội

    – Các nhà tù được xây cất lên nhiều hơn trường học.

    – Chúng thực thi chính sách Ngu dân.

    – Chúng dùng thuốc phiện và rượu cồn để làm ta suy nhược.

    IV. Thông điệp lời tuyên ngôn qua sơ đồ tư duy bài Tuyên ngôn độc lập

    1. Thông điệp

    – Thoát ly hẳn ra khỏi quan hệ thực dân.

    – Như một lời kêu gọi nhân dân Việt Nam luôn trong chuẩn bị sẵn sàng chống âm mưu xấu xa, xảo quyệt của Pháp.

    – Việt Nam luôn giữ thái độ khoan hồng nhân đạo như truyền thống ngàn đời của dân tộc ta. 

    2. Lời tuyên ngôn

    – Đánh đổ xiềng xích thực dân 100 năm.

    – Đánh đổ chế độ thực dân.

    – Lập nên kỷ nguyên độc lập dân tộc.

    V. Tổng kết

    – Tuyên ngôn độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực với lý luận sắc bén, ngôn từ chặt chẽ và bằng chứng đầy tính thuyết phục. Sử dụng nhiều từ liên kết để thể hiện rõ hơn sự lập luận logic, khôn ngoan, sắc sảo trong từng câu Bác viết. Hệ thống từ ngữ được Bác chắt lọc sử dụng một cách chính xác cao độ, mạnh mẽ, rõ ràng và quyết liệt.  

    – Tác phẩm còn là một văn kiện lịch sử quan trọng khẳng định về nền độc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của bọn thực dân và chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Qua đó tố cáo tội ác của bọn thực dân man rợ, xảo quyệt và khơi dậy tinh thần chiến đấu, tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Phân Tích Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, 7 Bài Văn,

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 10: Bài
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Ngữ Văn 9 Thời Gian Làm Bài: 15 Phút
  • Hướng Dẫn Làm Chủ Đề Về Biện Pháp Tu Từ Trong Môn Văn
  • Phân Tích Đoạn Thơ ” Mình Về Mình Có Nhớ Ta …”
  • 4 Bài Mẫu Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Sau: “ta Về Mình Có Nhớ Ta… Tiếng Hát
  • Đề bài: Từ văn bản Tuyên ngôn độc lập đã học, anh/chị hãy Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy được lập luận chặt chẽ, tinh thần dân tộc được thể hiện qua văn kiện lịch sử này.

    Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    – Giới thiệu khái quát và ngắn gọn về tác giả Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.

    – Giới thiệu về tác phẩm “Tuyên ngôn Độc lập”: Được xem là một trong những áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc; đã mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc ta – kỉ nguyên Độc lập, tự do, nhân dân làm chủ đất nước và quyết định vận mệnh của mình.

    a. Nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn

    Cơ sở pháp lý cũng như tính chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập là đã khẳng định các quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Có thể nói đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

    – Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng và rất ý nghĩa trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp:

    + Trước hết là dùng để khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của thời đại

    + Sau nữa là chính là việc “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý tưởng về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới

    b. Cơ sở thực tiến của bản Tuyên ngôn

    * Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp:

    – Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”.

    – Năm tội ác về chính trị:

    1- tước đoạt tự do dân chủ,

    2- luật pháp dã man, với chính sách hà khắc chia để trị,

    3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của dân ta,

    4- chúng ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân,

    5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện.

    – Năm tội ác lớn về kinh tế:

    1- bóc lột tước đoạt,

    2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng,

    3- sưu cao thuế nặng, vô lý đã bần cùng nhân dân ta,

    4- đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta,

    5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945.

    * Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta:

    – Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh.

    – Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.

    – Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xoá bỏ :(thoát ly hẳn, xóa bỏ hết…) mọi đặc quyền, đặc lợi của chóng đối với đất nước ta.

    – Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”:

    “Một dân tộc đã gan góc …được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập”

    – Bản Tuyên ngôn Độc lập là sự kế thừa và phát triển những áng “thiên cổ hùng văn” trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

    – Làm nên những giá trị to lớn là cái tài, cái tâm của người cầm bút.

    – Bản Tuyên ngôn Độc lập là bản anh hùng ca của thời đại Hồ Chí Minh.

    II. Bài văn mẫu Phân tích bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    1. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 1:

    Vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam ta không ai khác ngoài Bác Hồ. Người là danh nhân văn hóa thế giới khiến ai ai cũng phải nghiêng mình. Người đã để lại cho nền văn học nước nhà một kho tàng tác phẩm giá trị. Và bản tuyên ngôn độc lập là một trong số đó.

    Tác phẩm được soạn thảo vào ngày 26 tháng 8 năm 1945 tại số nhà 48 Hàng Ngang. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, bác đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản tuyên ngôn có kết cấu ba phần: cơ sở pháp lý – cơ sở thực tế – khẳng định.

    Bản tuyên ngôn mở đầu bằng cách trích dẫn những lời bất hủ của “tuyên ngôn độc lập mĩ” và “tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của pháp. Cả hai bản tuyên ngôn này đều đề cập đến quyền tự do, quyền sống, quyền bình đẳng của con người. Người trân trọng, đề cao những lời lẽ trong hai văn bản này. Người khẳng định: “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Bởi đây là thành quả của những cuộc cách mạng tháng Tám tiến bộ và chân lí mang đầy tính nhân văn của nhân loại. Nhà văn đấu tranh cho quyền của con người. Từ hai bản tuyên ngôn Bác đã vận dụng sáng tạo. Từ quyền của con người, Bác nâng lên quyền của cả dân tộc. Tầm nhìn sâu rộng của Bác đã tạo nên một lời khẳng định đanh thép: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn. Nó như một cách “gậy ông đập lưng ông”, đập tan mọi luận điệu xảo trá của kẻ thù, tố cáo tội ác của chúng. Đồng thời bằng cách này, Bác đã đặt tuyên ngôn của Việt Nam sánh vai với tuyên ngôn Pháp và Mỹ và khơi dậy mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Kết thúc phần mở đầu là câu khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

    Bài văn Phân tích bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

    Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn không gì khác ngoài tội ác của bọn thực dân và lập trường chính nghĩa của ta. Để tố cáo bộ mặt thối nát của thực dân Pháp, Bác dùng một câu vừa khẳng định, phủ định. Bác đã lật ngược lại vấn đề: “thế mà hơn 80 năm nay”. Bác đã vạch trần luận điệu xảo trá của thực dân Pháp, giáng đòn phủ đầu về phía chúng. Tội ác của bọn thực dân được vạch trần trên các khía cạnh: chính trị-văn hóa, kinh tế. “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man, lập ra ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc, chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu; thi hành chính sách ngu dân; dùng rượu cồn thuốc phiện để làm cho nòi giống ta suy nhược. Thực dân Pháp nói đến An Nam để khai hóa, văn minh, tự do, bình đẳng, bác ái nhưng ngược lại. Tất cả những tội ác trên đã cho thấy sự bịp bợm, dối trá của bọn chúng. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

    Chúng đã đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Để thấy được tội ác chồng chất của bọn chúng, Người đã sử dụng phương pháo lặp cấu trúc cú pháp kết hợp liệt kê. Lời văn đanh thép của Người thể hiện rõ sự căm hờn khiến cho người đọc, người nghe dấy lên lòng căm thù ghê gớm. Đặc biệt là hình ảnh “tắm cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”. Hình ảnh này có sức gợi hình gợi cảm hết sức mạnh mẽ. Nhưng tội ác của chúng chưa phải là hết. Trong năm năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật. Mùa thu năm 1940, Nhật vào Đông Dương, Pháp đã “quì gối đầu hàng”. Từ đó nhân dân ta lại chịu hai tầng xiềng xích Pháp – Nhật khiến từ Quảng Trị tới Bắc Kỳ hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Chúng còn thẳng tay đàn áp, khủng bố Việt Minh ta. Tội ác của chúng đã khiến dân ta khốn khỏi cùng cực.

    Ta có lập trường chính nghĩa của ta. Đồng bào ta vẫn giữ một thái độ nhân đạo và khoan hồng. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân ta cả nước nổi dậy giành chính quyền. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị, dân ta đã đánh đổ mấy tầng xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Với giọng điệu nhanh dồn dập, sử dụng nhiều từ khẳng định: “sự thật là…”, Người đã thành công trong việc khẳng định ta chính nghĩa, Pháp phi nghĩa, ta có độc lập tự do là tất yếu.

    Phần cuối của bản tuyên ngôn là lời tuyên bố. Lời tuyên bố này là với Pháp, với Đồng minh, với nhân dân Việt Nam và Thế giới. Đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm giữ vững độc lập tự do của nhân dân ta: “toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy.”

    Cũng giống như Bình ngô đại cáo và Nam quốc sơn hà, bản Tuyên ngôn độc lập là áng thiên cổ hùng văn của dân tộc ta.

    Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài hay trong SGK Ngữ Văn 12. Sau Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta tiếp tục chuẩn bị trả lời câu hỏi, Soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cùng với phần Soạn bài Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội để học tốt Ngữ Văn 12 hơn.

    2. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 2:

    Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng trong niềm sung sướng hân hoan. Cách mạng tháng Tám thành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức, đưa họ qua ngưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do. Sáng ngày 2/9, một buổi sáng trời trong với nắng vàng ấm áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ.Bản tuyên ngôn được Người viết ra trong một tâm trạng vui sướng nhất. Bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằng những xúc cảm mãnh liệt, người đã truyền đến triệu trái tim nhân dân những rung động sâu xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với thế giới về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta.

    Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong khoảng chưa đầy một ngàn chữ nhưng vô cùng chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liền mạch với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc… Phần đầu bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lý về nhân quyền và dân quyền. Tác giả trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, bản “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp đã có dụng ý sâu sắc. Bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ ra đời sau khi nước Mỹ; đã đấu tranh giành độc lập thành công.

    Thay mặt Đảng cộng sản chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Tuyên ngôn độc lập tại số nhà 48 phố Hàng Ngang

    Bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân phản kháng lại áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lý, lại đại diện cho những cuộc cách mạng có tính tiên phong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thế giới, nên mang tính công pháp quốc tế, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Ta có thể thấy sự hiểu biết và cân nhắc kĩ càng của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lý đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát hơn và cũng đầy thuyết phục. Điều đáng nói hơn nữa là ngay ở đoạn đầu này, cũng chính là lời trích dẫn bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” đã tỏa ra sức chiến đấu mạnh mẽ và tiềm tàng của Tuyên ngôn độc lập. Bởi vì chính phủ Pháp chính phủ phụng sự cho tinh thần của “Tuyên ngôn nhân quyền” đầy lẽ phải kia lại đang thi hành những hành động trái ngược hẳn; “Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do… hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một sự thật được phơi bày một cách hiển nhiên: bản chất của thực dân Pháp ở Việt Nam là trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa, kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn và đầy sức thuyết phục.

    Mở rộng hơn, phần hai liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ. Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào…”, “chúng thẳng tay chém giết những người tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”, “chúng thi hành những luật pháp dã man “, “chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc, để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”… Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả xé toang chiêu bài “khai hóa, bảo hộ” giả dối bịp bợm bấy lâu chúng dùng để che đậy những việc làm xấu xa độc ác. Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết những người tù chính trị… tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo. Chúng ta chống phát xít, chúng ta đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, chúng ta có vai trò và vị trí xứng đáng trước thế giới chính do sức mạnh tự thân của dân tộc.

    Tự do vừa giành được ấy thật vô giá, để có được nó, nhân dân ta đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu xương máu và tâm huyết. Ấy thế mà vẫn còn bao nhiêu thế lực thù trong giặc ngoài đến, lúc bấy giờ đang lăm le bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam non trẻ, hiểu được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và quyết liệt.

    Đây là bản Tuyên ngôn độc tập lần đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới, đánh dấu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do cho một dân tộc bất khuất kiên cường. Nó đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa châu Á. Mặt khác, bản Tuyên ngôn coi là một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lý lẽ và lập luận chặt chẽ, ở từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ, ở câu văn gọn mà sắc, giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân, và tranh thủ sự đồng tình quốc tế.

    3. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 3:

    Trong số những tác phẩm của Bác có những kiệt tác sánh ngang với các thiên cổ hùng văn của dân tộc thì Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm tiêu biểu nhất. Tác phẩm có giọng văn hùng hồn thống thiết, có lí luận chặt chẽ sắc bén, có sức thuyết phục cao đối với người đọc và người nghe- Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những con người anh hùng Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. “Bản tuyên ngôn Độc lập” là kết quả của bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam (Trần Dân Tiên).

    Tuyên ngôn Độc lập mở đầu là nêu thẳng vấn đề. Người nêu những căn cứ pháp lí, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Đó là những câu tuyên bố nổi tiếng được Bác rút ra từ hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ: “Tất cả mọi người đều sinh ra… mưu cầu hạnh phúc”. Để làm nổi bật tính phổ biến của những lẽ phải, Người còn nêu những lời trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra… về quyền lợi). Cách nêu dẫn chứng như thế vừa khéo léo vừa kiên quyết. Khéo léo vì tỏ ra tôn trọng chân lí chung dù chân lí ấy của các nước đang là kẻ thù gây ra. Cách nêu dẫn chứng ấy cũng hàm chứa một sự phê phán. Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ- những kẻ xâm lược đã chà đạp lên chân lí, chà đạp lên lương tâm và lý tưởng của cha ông chúng. Đó là cách dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù, dùng gậy ông đập lưng ông. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đều nhấn mạnh quyền con người, Bác nói thêm về quyền dân tộc. Câu nói của Người mở đầu cho trào lưu giải phóng dân tộc trên khắp thế giới. Đồng thời, đặt Bản tuyên ngôn của nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn đã nêu.

    Bác lập luận như vậy là để kết tội thực dân Pháp. Những lời bất hủ trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ đã trở thành cơ sở pháp lý để Bác kết tội thực dân Pháp. “Thế mà đã hơn 80 năm nay… nhân đạo và chính nghĩa” Sau khi kết thúc một cách khai quát tôị ác của thực dân Pháp, bản tuyên ngôn nêu lên những dẫn chứng cụ thể để lật mật nạ “bảo hộ” của thực dân Pháp trước toàn thể nhân loại: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho… dân chủ nào”. Lời kể tội của tác giả hùng hồn và đanh thép. Cách lập luận trùng điệp như: “Chúng thi hành…”, “Chúng lập ra…”. “Chúng thẳng tay chém giết…” thể hiện được tội ác chồng chất của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Cách dùng hình ảnh của tác giả làm nổi bật sự tàn bạo của thực dân Pháp: “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước… chúng tắm các cuộc… bể máu”.

    Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm 1945: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh thì thực dân Pháp quì gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói”.

    Hướng dẫn phân tích bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

    Tác giả cũng không bỏ xót những tội ác khác của bọn thực dân Pháp như “trong năm năm chúng bán… cho Nhật”, tội thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa, tội “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.”

    Người kết tội thực dân Pháp một cách hùng hồn và đanh thép như vậy nhằm phơi bày bản chất tan bạo, dã man của thực dân Pháp, lột mặt nạ “khai hoá”, “bảo hộ” của chúng trước nhân dân thế giới, khơi lòng căm thù của nhân dân ta với thực dân Pháp.

    Tác giả biếu dương sức mạnh dân tộc trong công cuộc chống thực dân phong kiến và giành lấy nền Độc lập “Pháp chạy, Nhật hàng… chế độ dân chủ cộng hoà”. Đoạn văn này diễn tả đầy hào khí. Chỉ có 9 chữ “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, Bác dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và cực kì oanh liệt của dân tộc ta. Biểu dương truyền thống bất khuất của dân tộc, tác giả nhằm kích thích tinh thần tự hào dân tộc, kích thích ý chí chiến đấu để nhân dân ta quyết tâm chống lại âm mưu của thực dân Pháp.

    Tiếp theo, Người nêu cơ sở chính nghĩa của việc thành lập nước Việt Nam mới. Việt Minh là tổ chức cách mạng của toàn bộ dân tộc Việt Nam. Việt minh đã đứng về phe đồng minh, đã chống lại thực dân Pháp và phát xít Nhật và đã giành chính quyền từ tay Nhật. Hai lần Người nhấn mạnh nền Độc lập của đất nước bằng những câu văn điệp ngữ mạnh mẽ: “Sự thật là…”.

    Trên cơ sở ấy, Người tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xoá bỏ trên đất nước Việt Nam…”

    Cuối cùng thay mặt cho cả một dân tộc vừa giành được tự do độp lập. Người nêu lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”- Tuyên ngôn Độc lập là kiệt tác của Hồ Chí Minh. Bằng tâm huyết và tài hoa, Người đã thể hiện được khí phách của một dân tộc đang vùng dậy chống đế quốc, thực dân phong kiến, giành Độc lập tự do cho nước nhà. Với Tuyên ngôn Độc lập, lần đầu tiên Việt Nam hiện diện trên trường quốc tế với tư cách là một nước tự do và Độc lập và nhân dân thế giới cũng thấy được tinh thần quyết tâm bảo vệ nền Độc lập của dân tộc Việt Nam.

    Tuyên ngôn Độc lập trước hết là một văn kiện lịch sử. Nó là bản văn quan trọng bậc nhất của nước ta. Để có được Tuyên ngôn Độc lập, biết bao đồng bào, đồng chí đã hy sinh trong suốt 80 năm chống Pháp. Tuyên ngôn Độc lập là một cột mốc lịch sử, nó chấm dứt giai đoạn mất nước, giai đoạn nhân dân ta sống kiếp ngựa trâu, nô lệ của dân tộc, nó mở đầu một kỉ nguyên mới: kỉ nguyên Độc lập tự do.

    Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, thống thiết, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng sánh ngang với các bản tuyên ngôn trên thế giới và các thiên cổ hùng văn của các dân tộc khác như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

    Việt Bắc là bài học nổi bật trong Tuần 8 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 12, học sinh cần Soạn bài Việt Bắc, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK.

    4. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 4:

    “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử có giá trị to lớn do chủ tịch Hồ Chí Minh viết. Tác phẩm là văn kiện tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến nước ta đồng thời mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của độc lập tự do.

    “Tuyên ngôn độc lập ra đời trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt. Tuyên ngôn được ra đời khi chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới thành lập đã phải đối mặt với nhiều thử thách., thế lực phản động cấu kết nhằm tước đoạt thành quả mà chúng ta đã đạt được. Mặc dù vậy, tuyên ngôn vẫn được ra đời và có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc ta.

    Trong bản Tuyên ngôn đọc lập, ở phần cơ sở pháp lý Bác Hồ trích nguyên văn một đoạn tuyên ngôn của nước Mỹ. Bác dùng nó như một nền tảng pháp lý, một nguyên lý cơ bản quan trọng nhất làm tiền đề cho toàn bộ tư tưởng tác phẩm đê nâng cao phát triển thành luận điểm: từ quyền bình đẳng của con người Người phát triển thành quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới. Đó là sự sáng tạo đầy bản lĩnh, trí tuệ và khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sản phẩm của tư duy lí luận sắc bén, sáng tạo và là một đóng góp một cống hiến lớn của Người. Nó không chỉ có ý nghĩa thiết thực với cách mạng Việt Nam mà còn có ý nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Bên cạnh đó, Người còn trích dẫn tuyên ngôn của Pháp, hội tụ đầy đủ tinh thần sơ lược đầy ý nghĩa của tuyên ngôn Pháp, đề cao quyền tự do bình đẳng của con người – quyền cơ bản chính đáng, lẽ phải không ai chối cãi được và được thừa nhận như một chân lý.

    Bản viết tay Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

    Sử dụng hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của nhân loại và của hai cường quốc lớn trên thế giới đang có âm mưu thôn tính nước ta một mặt Bác muốn tăng sức thuyết phục của bản tuyên ngôn độc lập nước nhà. Mặt khác, thể hiện sự khéo léo, trí tuệ của người viết. Bác vừa đề cao truyền thống bình đẳng, tự do, nhân đạo, tinh thần tự do tiến bộ của nhân dân hai nước Mỹ và Pháp lại vừa có tác dụng ngăn chặn âm mưu xâm lược của chúng. Đó là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông”. Người cũng sử dụng những lý luận sắc bén nhất, lời văn ngắn gọn, súc tích giọng văn sang sảng mà hùng hồn. Đó là tiếng nói khẳng định đầu tiên cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc.

    Ở phần bản cáo trạng Bác đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể trên mọi phương diện. Từ chính trị, kinh tế cho đến quân sự, văn hóa đề được Bác liệt kê đầy đủ những thủ đoạn áp bức bóc lột mà nhân dân ta phải hứng chịu. Đây được coi như một bản tố cáo tội ác chi tiết của thực dân Pháp. Sự tàn nhẫn, độc ác và nhẫn tâm của thực dân Pháp được Bác nhắc lại đầy đủ và rõ ràng đã tái hiện lại hình ảnh đất nước Việt Nam của chúng ta trong quá khứ. Tiếp đến bác kể đến quá trình giành độc lập tự do của nhân dân ta. Bác kể lại những việc làm vừa anh hùng vừa nhân đạo của nhân dân ta. Đó là những cuộc chiến tranh chính nghĩa anh dũng kiên cường của cả dân tộc. Bác nhân danh dân tộc khẳng định quyết tâm đạp tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Sự quyết tâm được thể hiện như một lời thế khắc cốt ghi tâm, lời thề của non sông cất lên dõng dạc, dứt khoát.

    Phần cuối cùng của bản tuyên ngôn cũng là phần được coi là đúc kết lại toàn bộ: tuyên bố độc lập khẳng định quyết tâm giữ vững độc lập. Một lần nữa Bác khẳng định độc lập tự do là quyền tất yếu của dân tộc Việt Nam, đó như là một sự thật lịch sử mà không ai có thể chối cãi được. Những câu văn ngắn gọn, súc tích nhưng thể hiện được niềm tự hào tự tôn dân tộc của người viết. Và bản Tuyên ngôn độc lập cũng mang một ý nghĩa vô cùng trọng đại. Hồ Chí Minh đồng thời giải quyết được hai việc đó là độc lập cho dân tộc và dân chủ cho nhân dân.

    Có thể nói rằng, “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa ngắn gọn, lập luận sắc bén, dẫn chứng xác thực kết tinh tài năng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để rồi, Tuyên ngôn độc lập được coi là “áng thiên cổ hùng văn”.

    5. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 5:

    Ngày 19-8-1945, lực lượng cách mạng và nhân dân Hà Nội đã nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Tổng khởi nghĩa đã lan rộng hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước. Ngày 26-8 -1945, từ chiến khu Việt Bắc, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng các vị lãnh đạo của Đảng đã về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Bác đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

    Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên lễ đài của quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Chính phủ lâm thời đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một văn kiện lịch sử vô giá, đồng thời là bài văn chính luận xuất sắc, mẫu mực trong nền văn học nước nhà. Tuyên ngôn Độc lập là bản tổng kết khá đầy đủ về một thời kì lịch sử đau thương nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta chống lại ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành chủ quyền tự do, độc lập.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: chủ quyền độc lập, tự do của Việt Nam là một chân lí sáng ngời không ai bác bỏ được và tuyên bố thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời tố cáo âm mưu đen tối của thực dân Pháp muốn tái chiếm nước ta và bày tỏ quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

    Bố cục bài văn được chia làm ba đoạn:

    + Đoạn 1: Từ đầu đến… không ai chối cãi được: Nêu nguyên lý chung của Tuyên ngôn Độc lập.

    + Đoạn 2: Từ Thế mà… đến từ tay Pháp: Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định thực tế là nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

    + Đoạn 3: Còn lại: Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí và quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

    Mở đầu bản Tuyên ngôn, tác giả nêu lên nguyên lí chung mang tính khái quát: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây cũng là luận điểm xuất phát, coi chủ quyền độc lập, tự do, bình đẳng là những thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại, đồng thời là lí tưởng theo đuổi hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc.

    Phần thứ hai của bản Tuyên ngôn, tác giả chứng minh rằng trong hơn 80 năm đô hộ nước ta, thực dân Pháp đã hoàn toàn làm trái với nguyên lí trên. Qua đó, tác giả đanh thép tố cáo tội ác trên nhiều lĩnh vực mà thực dân Pháp đã gây ra đối với nhân dân Việt Nam ; đồng thời khẳng định nhân dân Việt Nam đã đối xử nhân đạo với thực dân Pháp, đã đứng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật để lập nên nước Việt Nam Dàn chủ Cộng hòa.

    Bài phân tích Tuyên ngôn độc lập ngắn gọn

    Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng phe Đồng minh vô điều kiện. Lúc đó, ở miền Nam, quân đội Pháp nấp sau lưng quân đội Anh vào giải giáp phát xít Nhật. Phía Bắc, quân đội Tưởng chờ ở biên giới sẵn sàng tràn vào nước ta. Trước khi viết bản Tuyên ngôn, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhận định: Mâu thuẫn giữa Anh – Mĩ – Pháp và Liên Xô có thể làm Anh – Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở tại Đông Dương. Để việc tái chiếm Đông Dương không bị dư luận quốc tế phản đối, Pháp đưa ra một luận điệu xảo trá: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp đã có công “khai hóa” Đông Dương. Phát xít Nhật chiếm Đông Dương nhưng nay đã đầu hàng phe Đồng minh, do đó việc trở lại Đông Dương của Pháp là đương nhiên và hợp lí.

    Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ tuyên bố trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới mà còn nhằm vào bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp để ngăn chặn và đập tan âm mưu xâm lược của chúng, nhất là luận điệu xảo trá của thực dân Pháp. Nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập còn là một cuộc tranh luận quyết liệt giữa dân tộc Việt Nam với những đối tượng ấy.

    Mở đầu bản Tuyên ngôn, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn những câu văn chứa đựng nội dung thiết yếu trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Thêm vào đó là lời trích dẫn từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những câu nói của các bản Tuyên ngôn bất hủ không chỉ của riêng nước Pháp, nước Mĩ mà còn là của cả nhân loại. Lời văn trích từ hai bản Tuyên ngôn này là những danh ngôn, nghĩa là những chân lí lớn, không ai có thể bác bỏ được.

    Việc viện dẫn những danh ngôn nói trên để mở đầu cho bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là một lập luận vừa kiên quyết vừa khôn khéo; có thể gọi đó là thủ pháp lấy gậy ông đập lưng ông rất đích đáng của tác giả.

    Cái tài tình của Hồ Chủ tịch là dùng ngay lí lẽ của đối phương để ràng buộc đối phương, dồn Pháp và Mĩ vào cái thế không thể không công nhận chủ quyền độc lập, tự do của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Trích dẫn những lời văn trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng, về phương diện nào đó là cách trực tiếp tranh luận với Mĩ và Pháp về chủ quyền độc lập tự do của mỗi quốc gia, dân tộc, về quyền sống của mỗi con người. Bên cạnh đó, Hồ Chủ tịch muốn chặn đứng sự bác bỏ của đối phương. Nếu cố tình bác bỏ thì có nghĩa là họ đã phủ nhận lí lẽ của chính tổ tiên họ. Suy ngẫm về tình thế lúc bấy giờ, chúng ta mới hiểu sâu thêm về chủ ý thâm thúy của Hồ Chủ tịch.

    Trong cuộc tranh luận giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, thực dân xâm lược thì vấn đề chính là chủ quyền tự do độc lập. Vì thế, từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đặt ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ, nước Pháp, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập đã suy rộng ra về quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc khác trên thế giới. Nhưng không dừng ở đó, Bác đã dùng lí lẽ sắc bén, khoa học để nâng cao, mở rộng vấn đề lên thành chủ quyền độc lập, tự do của các dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đây là đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỉ XX.

    Mặt khác, việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn kia còn có nghĩa là Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ba cuộc cách mạng của nhân loại ngang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam đã cùng một lúc thực hiện nhiệm vụ của cả hai cuộc cách mạng Pháp và Mĩ. Qua đó, Bác muốn khẳng định: “Mục đích cao cả của cách mạng Việt Nam, của cách mạng Mĩ và Pháp là vì hạnh phúc của con người. Chúng ta chiến đấu vì hạnh phúc của con người”.

    Bản Tuyên ngôn Độc lập nêu rõ: Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Bản Tuyên ngôn cũng viết: Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

    Hồ Chủ tịch đã đặt bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam ngang hàng với tầm cỡ hai bản Tuyên ngôn của hai cường quốc trên thế giới, có nghĩa là khẳng định vị trí chính trị của đất nước ta đối với các nước trên thế giới và khẳng định chủ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh rằng: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

    Khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp luôn lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái và chiêu bài “khai hóa”, “bảo hộ” Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã lật tẩy bản chất của chúng bằng những lí lẽ chặt chẽ và đanh thép. Hồ Chủ tịch nghiêm khắc kết án chúng trên từng lĩnh vực. Chúng kể công “khai hóa”, bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng:

    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

    Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cổn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

    Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

    Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

    Đặc biệt, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh sự phản bội của thực dân Pháp. Một mặt, chúng luôn kể công “khai hóa”, “bảo vệ” nước ta, nhưng mặt khác, chúng hèn nhát quỳ gối đầu hàng dâng nước ta hai lần cho phát xít Nhật (từ 1940 đến 1945), khiến dân ta điêu đứng vì một cổ hai tròng và dẫn tới hậu quả thảm khốc là năm Ất Dậu 1945, chỉ tính từ miền Bắc vào tới Quảng Trị đã có hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

    Lời văn trong đoạn này sục sôi căm giận trước tội ác trời không dung, đất không tha của thực dân Pháp và bộc lộ thái độ căm phẫn, mỉa mai, châm biếm sắc sảo của Hồ Chủ tịch trước bản chất đê hèn của chúng:

    Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thi bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dàn ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

    Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

    Thực dân Pháp nhân danh phe Đồng minh đã chiến thắng phát xít Nhật để giành lại Đông Dương; bản Tuyên ngôn tố cáo Pháp phản bội Đồng minh, đầu hầng Nhật, đàn áp cách mạng Việt Nam.

    Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

    Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

    Như vậy rõ ràng là vì hèn nhát, Pháp đã tự tước bỏ vai trò “bảo hộ” của chúng ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Từ đó, Hồ Chủ tịch có đủ cơ sở thực tiễn để đưa ra nhận định sắc bén về một sự thật lịch sử:

    Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa…

    Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

    Sự thật không thể chối cãi ấy được khẳng định mạnh mẽ trong Tuyên ngôn độc lập và nó có ý nghĩa rất quan trọng: Việt Nam không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên tắc pháp lí quốc tế nào với thực dân Pháp; từ đó bác bỏ quyền trở lại Việt Nam của Pháp.

    Chì trong một câu văn ngắn gọn, từ ngữ tuyệt đối chính xác, Bác đã khái quát một cách chính xác tình thế lịch sử nước ta lúc bấy giờ: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Đó là bước sụp đổ tất yếu của chế độ thực dân, phát xít, phong kiến trước khí thế cách mạng giải phóng của nhân dân ta, trước xu thế chung của cách mạng thế giới.

    Tiếp theo, bản Tuyên ngôn buộc các nước Đồng minh phải công nhận nền độc lập của đất nước Việt Nam. Lí lẽ ở đoạn văn này vừa đanh thép hùng hồn, vừa thấu lí đạt tình:

    Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập!

    Đó là chân lí, có nghĩa là những lẽ phải không ai chối cãi được.

    Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam mới và khẳng định một lần nữa quyết tâm bảo vệ bằng được nền độc lập tự do: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

    Tuyên ngôn Độc lấp có tầm cỡ lớn lao, tiếp nối tinh thần của áng thiên cổ hùng văn là Đại cáo bình Ngô của nhà chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc Nguyễn Trãi thế kỉ XV. Đất nước ta, dân tộc ta mãi mãi tự hào về những người anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh cùng những bản Tuyên ngôn nổi tiếng muôn đời như Đại cáo bình Ngô và Tuyên ngôn Độc lập. Có ý kiến cho rằng bản Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn, giống như bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi ngày xưa. Hai tác phẩm thống nhất ở chỗ đều là những bản tổng kết chiến thắng, là lời tuyên bố khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta và đều tràn đầy khí thế hào hùng từ nội dung tư tưởng cho đến cách hành văn. Tuy cùng có yếu tố chính luận nhưng Đại cáo bình Ngô chủ yếu dùng hình tượng nghệ thuật để thuyết phục, còn Tuyên ngôn Độc lập dùng lập luận chặt chẽ, đanh thép và các luận cứ hùng hồn. Tính logic khoa học kết hợp với sự hiểu biết uyên bác, khả năng lập luận sắc sảo hòa quyện với cảm hứng sôi nổi, nhiệt thành của lòng yêu nước, tự hào dân tộc của Hồ Chủ tịch đã tạo nên một tác phẩm chính luận mẫu mực, bất hủ.

    Cách đây hơn năm trăm năm, sau khỉ quét sạch quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, Lê Lợi đã sang sảng đọc bài Đại cáo bình Ngô trước muôn dân, tự hào tuyên bố: Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt từ đây, Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn. Giọng văn lúc thâm trầm, lúc đanh thép, lúc phấn khích bừng bừng như triều dâng bão nổi, thật xứng với lời khen là một áng thiên cổ hùng văn có giá trị muôn đời. Năm trăm năm sau, bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một mốc son đánh dấu sự chấm dứt của chế độ quân chủ phong kiến thống trị đất nước ta hàng ngàn năm; chấm dứt chế độ thuộc địa của thực dân Pháp kéo dài gần một trăm năm; mở ra một kỉ nguyên mới của chế độ Dân chủ Cộng hòa ở Việt Nam.

    6. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 6:

    Hồ Chí Minh là một nhà chính trị cách mạng đồng thời cũng là một nhà văn nhà thơ của dân tộc Việt Nam. Mỗi tác phẩm của người đều thể hiện một thái độ sống quan điểm chính trị rõ ràng, thể hiện tinh thần yêu nước thương dân sâu sắc.

    Tuyên ngôn độc lập được chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1945 sau khi cách mạng tháng 8 của chúng ta thành công giành quyền làm chủ về tay nhân dân lao động, đánh đuổi phát xít Nhật ra khỏi bờ cõi nước nhà.

    Tuyên ngôn độc lập là kết quả của nhiều thành tựu to lớn, khi ông cha ta đã hy sinh rất nhiều tính mạng, xương máu để giành quyền làm chủ đất nước.

    Trong Bản Tuyên ngôn độc lập mở đầu bài viết tác giả đã đi thẳng vào vấn đề nêu ra những căn cứ luận điểm pháp lý những lập luận chặt chẽ không ai có thể chối cãi được.

    Trong bản Tuyên ngôn độc lập chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy dẫn chứng từ hai câu nói tuyên ngôn của Pháp và Mỹ. Tác giả muốn nhắc khéo hai đế quốc này rằng tại sao những gì họ ghi trong hiến pháp, tuyên ngôn của nước mình lại không thực hiện ở nước khác. Họ lại làm ngược lại với những gì họ viết đem sự áp bức bóc lột sang nước khác đàn áp.

    Hồ Chí Minh đã dùng lý lẽ của kẻ thù. Hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đều nhấn mạnh quyền con người. Bác đã nói thêm về quyền dân tộc, mở đầu cho một phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Người đã khôn khéo vạch trần tội ác của giặc, khi chúng sang nước ta đàn áp dân ta, bóc lột của cải vật chất của nước ta.

    Bản tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận xuất sắc của nền văn học Việt Nam

    Những hành động mà chúng đã làm với nước ta không có cái gì gọi là văn minh, dân chủ ở đây. Nên tác giả đã kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh. Chúng thi hành chế độ sưu cao, thuế nặng, bóc lột dân ta tới tận xương tủy. Chúng thẳng tay chém giết dân ta, giết hại đồng bào yêu nước của ta. Tác giả đã làm nổi bật lên tội ác của thực dân Pháp, làm tăng thêm tính dân tộc trong mỗi người dân, khích động lòng yêu nước.

    Chính thực dân Pháp là nguyên nhân dẫn tới nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm chết hai triệu đồng bào ta. Chúng con dâng nước ta cho Nhật, khiến cho dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng đã nghèo nàn lạc hậu nay lại còn nghèo nàn lạc hậu hơn.

    Thực dân Pháp còn thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước của dân ta, giết hại đồng bào ta, đặc biệt là các tù chính trị tại Yên Bái, Cao Bằng…

    Với những lời lẽ hùng hồn đanh thép tác giả đã tố cáo, phơi bày những tội ác dã man của thực dân Pháp đã làm với nhân dân ta. Lột trần bộ mặt khai hóa văn minh của chúng thực chất chỉ là bóc lột mà thôi. Hồ Chí Minh đã khơi dậy lòng căm thù giặc, yêu nước sâu sắc của những người dân Việt Nam.

    Thông qua Tuyên ngôn độc lập tác giả cũng biểu dương phong trào chống thực dân và phong kiến giành độc lập của nhân dân trong cách mạng tháng 8/1945 đã làm cho phát xít Nhật phải đầu hàng.

    Qua bản Tuyên ngôn độc lập chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu ra nhiệm vụ, phương hướng của nhân dân ta trong giai đoạn tiếp theo, khi mà thực dân Pháp sẽ chưa từ bỏ âm mưu đô hộ, xâm lược nước ta. Nhân dân ta phải đoàn kết để tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi kiếp nô lệ này.

    Trên cơ sở những gì đã có, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đọc bản khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên bố Việt Nam là nước độc lập thoát ly hoàn toàn với thực dân Pháp. Thực dân Pháp không có quyền hạn gì với đất nước ta.

    Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập người nêu lời thề quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do Độc lập ấy”

    Với bản Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam đã bước lên vũ đài chính trị quốc tế là nước độc lập tự do. Bản Tuyên ngôn độc lập này được nhân dân tiến bộ trên thế giới công nhận và coi trọng.

    Với những từ ngữ chặt chẽ, lý luận đanh thép chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn độc lập với những ngôn ngữ sâu sắc nhất, thể hiện rõ ràng thái độ, lập trường quan điểm của dân tộc Việt Nam trong chặng đường sắp tới, thể hiện tầm nhìn chiến lược vĩ đại của Hồ Chí Minh.

    7. Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mẫu số 7:

    Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng trong niềm sung sướng hân hoan. Cách mạng tháng Tám thành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Nam những xiềng xích nô lệ và áp bức, đưa họ qua ngưỡng cửa tối tăm bước tới vùng sáng độc lập tự do. Sáng ngày 2/9, một buổi sáng trời trong với nắng vàng ấm áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ. Bản tuyên ngôn được Hồ ChủTịch viết ra trong một tâm trạng vui sướng nhất. Bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằng những xúc cảm mãnh liệt, người đã truyền đến triệu trái tim nhân dận những rung động sâu xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hào hùng với thế giới về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta.

    Toàn văn bản tuyên ngôn không dài, chỉ gói trọn trong khoảng chưa đầy một ngàn chữ nhưng vô cùng chặt chẽ và súc tích. Bản Tuyên ngôn chia làm ba phần rõ rệt, mỗi phần một ý, liền mạch với nhau theo một bố cục chặt chẽ mạch lạc… Phần đầu bản Tuyên ngôn nêu lên những chân lý về nhân quyền và dân quyền. Tác giả trích dẫn lời hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp là có dụng ý sâu sắc. Bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ ra đời sau khi nước Mỹ đã đấu tranh giành độc lập thành công. Bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” cũng ra đời trong chiến thắng của cách mạng Pháp, cuộc cách mạng của những thị dân và nông dân phản kháng lại áp bức, bất công. Lời lẽ của hai bản tuyên ngôn trên tự thân đã nêu lên những chân lý, lại đại diện cho những cuộc cách mạng có tính tiên phong của những nước có ảnh hưởng lớn trên thế giới, nên mang tính công pháp quốc tế, khiến cho không ai có thể phủ nhận tính đúng đắn của chúng. Ta có thể thấy sự hiểu biết và cân nhắc kĩ càng của vị Chủ tịch khi trích dẫn những chân lý đó. Hơn thế Người còn vận dụng sáng tạo: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả dân lộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

    Bản Tuyên ngôn đã khẳng định nền độc lập, tự chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

    Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát hơn và cũng đầy thuyết phục. Điều đáng nói hơn nữa là ngay ở đoạn đầu này, cũng chính là lời trích dẫn bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” đã tỏa ra sức chiến đấu mạnh mẽ và tiềm tàng của Tuyên ngôn độc lập. Bởi vì chính phủ Pháp, chính phủ phụng sự cho tinh thần của “Tuyên ngôn nhân quyền” đầy lẽ phải kia lại đang thi hành những hành động trái ngược hẳn; “Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do… hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Rõ ràng qua cách lập luận như thế, một sự thật được phơi bày một cách hiển nhiên: bản chất của thực dân Pháp ở Việt Nam là trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa, kết thúc phần này là một câu khẳng định ngắn gọn và đầy sức thuyết phục. Mở rộng hơn, phần hai liệt kê ngắn gọn và đầy đủ những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra trên đất nước ta trong suốt gần một trăm năm đô hộ.

    Trước tiên, chúng tước đoạt tự do chính trị “tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào…”, chúng thẳng tay chém giết những người tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”, “chúng thi hành những luật pháp dã man”, “chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc, để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”… Chỉ trong một đoạn ngắn hai mươi mốt câu, tác giả xé toang chiêu bài “‘khai hóa, bảo hộ” giả dối bịp bợm bấy lâu chúng dùng để che đậy những việc làm xấu xa độc ác. Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp như khủng bố Việt Minh, giết những người tù chính trị… tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nhân đạo. Chúng ta chống phát xít, chúng ta đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, chúng ta có vai trò và vị trí xứng đáng trước thế giới chính do sức mạnh tự thân của dân tộc. Tự do vừa giành được ấy thật vô giá, để có được nó, nhân dân ta đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu xương máu và tâm huyết. Ấy thế mà vẫn còn bao nhiêu thế lực thù trong giặc ngoài, lúc bấy giờ đến lăm le bóp chết sự sống mới hình thành của nước Việt Nam non trẻ, hiểu được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân nêu lên lời tuyên bố trịnh trọng và quyết liệt.

    Đây là bản Tuyên ngôn độc lập lần đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới, đánh dấu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự do cho một dân tộc bất khuất kiên cường. Nó đánh dấu thắng lợi đầu tiên của một nước thuộc địa châu Á. Mặt khác, bản Tuyên ngôn còn là một áng văn chính luận mẫu mực, đanh thép và lôi cuốn ở lý lẽ và lập luận chặt chẽ, ở từ ngữ, hình ảnh dễ cảm, chính xác, mạnh mẽ, ở câu văn gọn mà sắc, giản dị mà hùng hồn, đã vừa cảnh cáo, vạch mặt kẻ thù, vừa khích lệ, động viên tinh thần nhân dân, và tranh thủ sự đồng tình quốc tế.

    Trong chương trình học Ngữ Văn 12 phần Soạn bài Đàn ghi ta của Lor-ca là một nội dung quan trọng các em cần chú ý chuẩn bị trước. Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Nghị luận xã hội về lòng trung thực nhằm chuẩn bị cho bài học này.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-ban-tuyen-ngon-doc-lap-cua-chu-tich-ho-chi-minh-37998n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ: Việt Bắc (Tố Hữu
  • Bằng Đoạn Văn Diễn Dịch (Khoảng 12 Câu) Nêu Hiệu Quả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Thơ Nhớ Rừng
  • Văn Mẫu Lớp 8 Tập 2: Phân Tích Bài Thơ “nhớ Rừng” Của Thế Lữ.
  • Tuần 22. Rừng Xà Nu
  • Việt Nam Quê Hương Ta
  • Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyên Ngôn Độc Lập
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Ngắn Gọn
  • Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chính Xác Và Đầy Đủ Nội Dung
  • Lối Nói Khoa Trương Của Người Việt, Cách Ghi, Chú Giải Và Giải Thích Trong Từ Điển Tiếng Việt Của Hoàng Phê
  • ĐỌC HIỂU (3 điểm)

     Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

                               ( Trích Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, tập 1)

    Trả lời câu hỏi

    1. Xác định biện pháp tu từ ,

      phong cách ngôn ngữ

        

      trong đoạn văn bản trên?

    2. Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý gì?
    3. Từ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, anh, chị hãy viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 150-200 từ) bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay?

    Đáp án Đọc hiểu

    1. Biện pháp điệp từ : “sự thật” có tác dụng khẳng định, nhấn mạnh quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

    2. Phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên là phong cách chính luận.

    4. Học sinh viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay? ( khoảng 150-200 từ)

    Câu này kiểm tra năng lực viết bài văn nghị luận xã hội của học sinh. Học sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. Các ý của bài như sau.

    – Trân trọng, biết ơn thế hệ cha anh đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ đất nước.

    – Ra sức học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

    Tuyên ngôn độc lập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Và Phân Tích
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 2 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ thứ 2 của Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ thứ 2 trong bài Từ ấy – Tố Hữu.

    Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người.

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 bài Từ ấy

    “Tôi buộc lòng tôi với mọi người

    Để tình trang trải khặp muôn nơi

    Để hồn tôi với bao hồn khổ

    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

    – Động từ “buộc”, “trang trải”: những hành động có tính tự nguyện .

    “Buộc” ở đây không hề có nghĩa là bắt buộc, miễn cưỡng mà là tự rằng buộc, gắn bó tự giác, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam

    “Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu.

    “Để tình trang trải với trăm nơi”

    – Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, “trang trải”-“trăm nơi” biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.

    – “Bao hồn khổ”: tầng lớp đáng thương nhất trong xã hội đương thời, “để” gợi lên ý thơ chủ động sự gắn kết lòng mình với mọi người hòa làm một, chứa đựng nỗi thương xót tột cùng và sự đồng cảm sâu sắc đối với “đại gia đình” đang trong cảnh lầm than.

    -“Khối đời”: hình ảnh ẩn dụ trừu tượng, thể hiện một khái niệm cuộc sống bao quát, gộp chung, không thể nhìn, cân đong đo đếm, nhưng lại gói ghém thành một sức mạnh phi thường, cụ thể hóa phi vật thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 3 Bài Từ Ấy

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Và Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Của Câu Thơ Sau: Em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan…nắng Tràn(Tố Hữu)
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài Thơ: Hạt Gạo Làng Ta (Trần Đăng Khoa)
  • Một Số Biện Pháp Tu Từ Hay
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Nêu biện pháp tu từ trong khổ 3 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu, chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ cuối bài Từ ấy

    Câu hỏi: Chỉ ra và nêu tác dụng của nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ cuối trong bài thơ Từ ấy – Tố Hữu.

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Từ ấy

    “Tôi đã là con của vạn nhà

    Là em của vạn kiếp phôi pha

    Là anh của vạn đầu em nhỏ

    Không áo cơm ,cù bất cù bơ.”

    – “đã là”, “là con”,”là em”, “là anh”: tình cảm đầm ấm ,thân thiết, gắn bó và gần gũi

    – Đối tượng :”vạn nhà “, “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”

    Số từ ước lệ “vạn” nhằm nhấn mạnh, khẳng định tình cảm gia đình nồng ấm, thân thiết, nhà tơ thể hiện và cảm nhận sâu sắc mối quan hệ giữa bản thân và quần chúng lao khổ, những kiếp sống mòn mỏi đáng thương, những mái đầu trẻ thơ tội nghiệp không nơi nương tựa.

    – Điệp từ “là” gắn với những đại từ quan hệ thân thuộc, trìu mến, một mặt thể hiện mối quan hệ tự nhiên mà gắn bó sâu sắc, mặt khác ngầm khẳng định nhiệm vụ, vai trò lớn lao của người thanh niên đối với cộng đồng, xã hội .

    – “Cù bất cù bơ”: tính từ khá mới lạ nhưng người đọc vẫn cảm nhận được hòan cảnh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả, mà còn dựng lên được cuộc sống mỏng manh của hầu hết đồng bào đang trong đói khổ.

    Sự chuyển biến trong tâm trạng của Tố Hữu: tấm lòng đồng cảm, xót thương đối với mọi người lao khổ. Qua đó còn thể hiện lòng căm giận của nhà thơ trước bao bất công ngang trái của cuộc đời cũ. Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh, nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn” là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng. Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.

    Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Từ Ấy
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Tác Phẩm Hai Đứa Trẻ
  • Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Liệt Kê Các Phép Tu Từ Đã Học Ở Lớp 7
  • Hệ Thống Kiến Thức Biện Pháp Tu Từ Môn Ngữ Văn Lớp 7 Cùng Cô Nguyễn Thị Thu Trang
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu
  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Sáng
  • Biện pháp tu từ trong 7 câu thơ đầu (khổ 1) bài Đồng Chí

    Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

    Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính Cách mạng:

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    + Phép tương đối: hoàn cảnh sống, xuất thân của hai người lính

    + Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”

    + Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện

    Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp ngữ: kề vai sát cánh, gắn bó keo sơn

    – “Đồng chí” – câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao tình cảm. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan, nó là tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 2) bài Đồng Chí

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

    – Hình ảnh “gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câu thơ giúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn của một gia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại.

    – Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ là một sự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công.

    – Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa qua động từ “nhớ: để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi.

    – Sự lặp lại của cụm từ “anh với tôi” cùng từ “từng” đã gợi cho ta cảm xúc đẹp nhất của anh bộ đội cụ Hồ, mặc dù thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần nhưng mà họ luôn sẵn sàng là điểm tựa dành cho nhau.

    – Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 3) bài Đồng Chí

    Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

    – Phép liệt kê bằng những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi “áo anh rách vai” -“quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn, miêu tả chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến.

    – Cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    Biện pháp tu từ trong 3 câu thơ cuối (khổ 4) bài Đồng Chí

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

    – Rừng hoang sương muối: sự khắc nghiệt của thời tiết, của gian khổ nhưng qua đó thể hiển rõ nét hơn sức mạnh của tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang; giúp họ phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, ý nghĩa cuộc chiến đấu.

    – Động từ “chờ” gợi tới tư thế sẵn sàng, tinh thần trách nhiệm cao cả của người lính.

    – “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn. “Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.

    – Từ “treo” tạo nên hình ảnh ánh trăng về đêm lơ lửng treo trên đầu súng là hình ảnh tạo nên nét thi vị, đặc sắc hơn cho bài thơ.

    – Nhịp thơ đều đều 2/2/2 – 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2021

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100