Top 10 # Biện Pháp Tu Từ Trong Tuyên Ngôn Độc Lập Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Tuyên Ngôn Độc Lập

    Bản Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

    Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố với toàn thể quốc dân đồng bào và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

    Bản Tuyên ngôn đã thể hiện mạnh mẽ ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

    Trải qua 75 năm, Tuyên ngôn Độc lập vẫn mang tính thời sự sâu sắc cả trên bình diện trong nước và quốc tế.

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội

    Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc

    Tuyên ngôn Độc lập là một tác phẩm đỉnh cao, tiêu biểu, phản ánh đầy đủ nhất, sâu sắc nhất quan điểm triết học, quan điểm chính trị và cả quan điểm nhân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó chứa đựng cả những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc.

    Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791.

    Từ việc đề cập đến quyền của con người như một sự tất yếu của tạo hóa, không ai có thể xâm phạm được, là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã khéo léo phát triển sáng tạo, đưa ra một luận đề không thể bác bỏ về quyền của các dân tộc.

    ”Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (1).

    Người đã đi từ khái niệm con người sang khái niệm dân tộc một cách tổng quát và đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc.

    Nghiên cứu về Tuyên ngôn Độc lập, giáo sư Singô Sibata (Nhật Bản) cho rằng “cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình” (2).

    Bởi vậy, có thể nói Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ là tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn là tuyên ngôn về quyền con người, quyền của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Việc nâng tầm quyền con người lên thành quyền dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một cống hiến về nguyên lý lý luận của Người vào kho tàng tư tưởng nhân quyền của nhân loại.

    ”Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”

    Quyền độc lập dân tộc, quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc là những giá trị cơ bản nhất của nhân quyền. Nhưng dưới chế độ thực dân, phong kiến ở Việt Nam, những quyền đó bị tước bỏ và chà đạp.

    Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp “trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.”

    ”Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào… Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong những bể máu… Về kinh tế, chúng bóc lột công nhân, nông dân đến tận xương tủy… Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho nhân dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng…” (3).

    Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi thực dân, phong kiến và đế quốc, giành lại độc lập, tự do và quyền con người. Như vậy, nhân quyền ở Việt Nam không phải là giá trị do ai ban phát mà là kết quả của cuộc đấu tranh trường kỳ của nhân dân Việt Nam. Cuộc đấu tranh đó đã làm cho “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” (4).

    Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” (5); đồng thời nhấn mạnh, “các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam” (6).

    Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(7).

    Với hệ thống lập luận chặt chẽ, sắc bén, lời lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục gói gọn trong hơn 1.000 chữ, Tuyên ngôn Độc lập là một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, đặt cơ sở cho việc thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam với mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc; soi sáng con đường cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Mãi trường tồn với thời gian

    75 năm đã trôi qua, nhưng những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập về quyền con người, quyền dân tộc, về khát vọng và tinh thần đấu tranh kiên cường để giữ vững nền độc lập, tự do, vẫn vẹn nguyên tính thời sự, có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

    Đặc biệt, những giá trị về quyền con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng trong Tuyên ngôn Độc lập là những giá trị bất hủ. Từ đó đến nay, nhân dân Việt Nam đã không ngừng phấn đấu cho quyền con người và đạt được nhiều kết quả tích cực, rất quan trọng.

    Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và luật. Với những thành tựu về việc bảo đảm quyền con người (cả trên lĩnh vực đối nội và đối ngoại), Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016).

    Kể từ ngày bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đến nay, vị thế đất nước đã có nhiều đổi thay, lời thề lịch sử “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” luôn rọi sáng mọi trái tim, khối óc của người Việt Nam yêu nước trên mọi vùng, miền của Tổ quốc và định cư ở nước ngoài.

    Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của toàn dân tộc, giúp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành được những thành tựu to lớn trong đấu tranh thống nhất đất nước, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế.

    Đặc biệt, sau gần 35 năm tiến hành đổi mới, nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm, quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực; Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam dần được cải thiện, hiện đang thuộc nhóm trung bình cao và đứng thứ 118/189 quốc gia (năm 2019); mức sống chung của người dân từng bước được nâng lên…

    Cùng với đó, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia trên thế giới; gia nhập và tích cực xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN; tham gia có hiệu quả các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế trên nhiều cấp độ…

    Năm tháng sẽ qua đi, nhưng tinh thần bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn luôn sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt Nam, không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lý mà còn bởi giá trị nhân văn cao cả về quyền con người, quyền của dân tộc được sống trong độc lập, tự do như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấp ủ và cống hiến cả cuộc đời mình để thực hiện.

    (1), (3), (4), (5), (6), (7): trích Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011sđd, tập 4, tr. 1,2,3

    (2) : Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979, tr. 96.

                                                                                             TTXVN

Tóm Tắt Kiến Thức Bài Tuyên Ngôn Độc Lập

Tổng hợp kiến thức cơ bản bài Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

1. Hoàn cảnh ra đời

– Ngày 19/08/1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân. Ngày 26/08/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội và tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người đã soạn “Tuyên ngôn Độc lập”.

– Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Người đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

– ” Tuyên ngôn Độc lập ” ra đời trong một tình thế vô cùng cấp bách: nền độc lập vừa mời giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp. Lúc này thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bị nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp.

2. Giá trị lịch sử và văn học, mục đích, đối tượng của bản “Tuyên ngôn Độc lập”

– Giá trị lịch sử: Là văn kiện lịch sử vô giá, là lời tuyên bố của một dân tộc đã đứng lên xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, thực dân, thoát khỏi thân phận thuộc địa để hòa nhập vào cộng đồng nhân loại với tư cách là một nước độc lập, dân chủ, tự do.

– Giá trị văn học:

+ Giá trị tư tưởng: “Tuyên ngôn Độc lập” là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng tự do.

+ Giá trị nghệ thuật: Là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, những bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn.

– Đối tượng: Nhân dân Việt Nam; Các nước trên thế giới; Bọn đế quốc, thực dân đang lăm le xâm lược nước ta : Mỹ, Pháp.

– Mục đích: Tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam mới; Ngăn chặn âm mưu xâm lược của bọn đế quốc, thực dân.

3. Nội dung 3.1. Phần 1 (từ đầu đến “Không ai chối cãi được”) : Nêu nguyên lí chung

– Người đã trích dẫn bản hai bản “Tuyên ngôn độc lập” (1776) của Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” (1791) của Pháp. Hai bản Tuyên ngôn này khẳng định quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi con người ở mọi dân tộc.

– Tác giả dùng chính lí lẽ của đối phương đáp trả lại đối phương, nhắc nhở đối phương đang đi ngược lại những gì mà tổ tiên họ để lại.

– Đặt ba cuộc cách mạng của nhân loại ngang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam cùng một lúc thực hiện nhiệm vụ của hai cuộc cách mạng Mĩ, Pháp. Sánh vai các nước bé nhỏ với các cường quốc năm châu.

– Từ quyền con người Bác mở rộng thành quyền của dân tộc. Đây là một suy luận hết sức quan trọng vì đối với những nước thuộc địa như nước ta lúc bấy giờ thì trước khi nói đến quyền của con người phải đòi lấy quyền của dân tộc. Dân tộc có độc lập, nhân dân mới có tự do, hạnh phúc. Đó là đóng góp riêng của tác giả và cũng là của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tư tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX.

– Lập luận vừa kiên quyết, vừa khôn khéo, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho bản TN.

Tham khảo: Phân tích phần mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập

3.2. Phần 2 (từ “Thế mà… phải được độc lập”) : Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khảng định thực tế lịch sử là nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền và lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

a. Bản tuyên ngôn đã đưa ra những lí lẽ xác đáng, những bằng chứng không ai có thể chối cãi để bác bỏ những luận điệu của thực dân Pháp muốn “hợp pháp hóa” việc chiếm lại nước ta:

+ Pháp kể công “khai hóa”, bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng của chúng. Tội nặng nhất là gây ra nạn đói năm giết chết hơn hai triệu đồng bào ta từ Bắc Kì đến Quảng Trị (dẫn chứng)

+ Pháp kể công “bảo hộ”, bản tuyên ngôn kể tội hai lần chúng dâng Đông Dương cho Nhật (dẫn chứng)

+ Pháp nhân danh Đồng minh đã chiến thắng phát xít, giành lại Đông Dương, bản tuyên ngôn kể tội chúng phản bội đồng minh: đầu hàng Nhật, khủng bố Cách mạng Việt Nam đánh Nhật cứu nước. Bản tuyên ngôn nói rõ: Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

Bằng giọng văn hùng hồn mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục, đoạn văn đã tố cáo hùng hồn và đanh thép tội ác của thùc dân Pháp. Bằng phương pháp liệt kê, tác giả đã nêu lên hàng loạt tội ác của thực dân Pháp trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và ngoại giao.

b. Từ những cứ liệu lịch sử hiển nhiên đó, bản Tuyên ngôn nhấn mạnh đến những thông điệp quan trọng:

+ Tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước VN.

+ Kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp

+ Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc VN.

3.3. Phần 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập của toàn dân tộc

– Tuyên bố về quyền độc lập của dân tộc

– Tuyên bố về sự thật là nước Việt Nam đã giành được độc lập.

– Tuyên bố về ý chí, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc bằng mọi giá.

Những lời tuyên ngôn này được trình bày lôgic, chặt chẽ, cái trước là tiền đề của cái sau.

4. Nghệ thuật

– Kết cấu chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, lập luận giàu sức thuyết phục

– Ngôn ngữ chính xác, trong sáng, gợi cảm.

– Giọng điệu linh hoạt.

5. Chủ đề

Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới quyền được tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, nền độc lập, tự do mà nhân dân ta vừa giành được và quyết tâm bảo vệ nền độc lập của toàn dân tộc.

********

Đề Đọc Hiểu Văn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Ngữ Văn 12

ĐỌC HIỂU (3 điểm)  Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.                            ( Trích Tuyên ngôn độc lập- Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, tập 1) Trả lời câu hỏi

Xác định biện pháp tu từ ,

phong cách ngôn ngữ

  

trong đoạn văn bản trên?

Việc nhà văn láy đi láy lại “sự thật” ấy có chủ ý gì?

Từ quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, anh, chị hãy viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 150-200 từ) bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay?

Đáp án Đọc hiểu 1. Biện pháp điệp từ : “sự thật” có tác dụng khẳng định, nhấn mạnh quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. 2. Phong cách ngôn ngữ trong đoạn văn bản trên là phong cách chính luận. 4. Học sinh viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ ngày nay? ( khoảng 150-200 từ) Câu này kiểm tra năng lực viết bài văn nghị luận xã hội của học sinh. Học sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. Các ý của bài như sau. – Trân trọng, biết ơn thế hệ cha anh đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ đất nước. – Ra sức học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Tuyên ngôn độc lập

Một Số Phương Tiện Và Biện Pháp Tu Từ Biểu Thị Khoa Trương Trong Tác Phẩm Của Mạc Ngôn

1. Khái niệm về khoa trương Khoa trương (hyperbole) là một từ có xuất xứ từ tiếng Hi Lạp, được giải thích trong từ điển Oxford: “Lời nói cường điệu nhằm một tác động đặc biệt và không để được hiểu theo đúng nghĩa đen. Ví dụ: I’ve invited millions of people to my party: Tôi đã mời hàng triệu người đến dự bữa tiệc tôi thết”.[7, 828] 2. Các quan điểm về khoa trương 2.1. Quan điểm của một số học giả về khoa trương Theo các tác giả Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông thì: “Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, khi cần nhấn mạnh một ý nào đó, người ta cố ý nói quá sự thật; cái việc nói quá ở đây có thể là phóng to hoặc thu nhỏ đối người, sự vật hoặc hiện tượng, tức đối tượng cần miêu tả. Lối nói này được gọi là khoa trương; nghĩa là, trên cơ sở hiện thực khách quan đối với đặc trưng của sự vật, hiện tượng, người ta tô vẽ một cách hợp tình hợp lí làm cho người đọc cảm thấy cái điều nói ra có một ấn tượng sâu sắc nhưng vẫn chân thực có thể tin cậy được”.[8,154] Tác giả Vương Hy Kiệt thì cho rằng: “Khoa trương là cố ý nói quá sự thật, hoặc phóng to hoặc thu nhỏ sự thật. Mục đích của khoa trương là làm cho người nghe/ đọc có một ấn tượng càng thêm sâu sắc đối với nội dung biểu đạt của người nói/ viết. Chẳng hạn,”天无三日晴/地无三尺平” (Trời không có ba ngày nắng / Đất không có ba thước bằng phẳng) nói về đặc điểm thời tiết và địa hình của Qúy Châu, là lối nói khoa trương. ” [215, tr. 296] Tác giả Trương Huy Chi thì cho rằng: “Khoa trương là nói quá sự thật, là phương thức biểu đạt mà vì một yêu cầu nào đó người ta cố ý phóng to hoặc thu nhỏ hình tượng, đặc trưng, tác dụng, mức độ, số lượng của các sự vật. Khoa trương có vẻ như không phù hợp với thực tế, nhưng nếu vận dụng hợp lý có thể miêu tả sâu sắc bản chất sự vật, làm tăng thêm sức hấp dẫn của ngôn ngữ.” [9, tr.320] Như vậy có thể thấy, quan điểm của các nhà Hán ngữ về khoa trương là tương đối thống nhất: nói quá sự thật trong đó có thể phóng to hoặc thu nhỏ sự vật, hiện tượng, tức là đối tượng cần miêu tả nhằm gây ấn tượng đối với người nghe, người đọc. Tác giả Đào Thản cho rằng, phóng đại (còn gọi: khoa trương, thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần những thuộc tính của khách thể hoặc hiện tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng đặc biệt mạnh mẽ. Khác hẳn với nói điêu, nói khoác về tính chất, động cơ và mục đích, phóng đại không phải là xuyên tạc sự thật để lừa dối. Nó không làm cho người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được điều nói lên. [2, tr. 2] 2.2. Quan điểm của người viết về khoa trương Theo chúng tôi thì, khoa trương hay còn gọi là nói quá, là cường điệu quy mô, tính chất, mức độ của những sự vật, hiện tượng miêu tả. Khoa trương có tác dụng làm nổi bật những ý cần diễn đạt. Tuy nói quá nhưng vẫn phản ánh được và đúng bản chất của sự vật hiện tượng. Khoa trương luôn mang đậm phong cách và dấu ấn của cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Chẳng hạn, Mạc Ngôn viết: (1)女人们抱怨着, 弓着腰, 拉着大石磨, 轰隆轰隆, 急一阵慢一阵, 汗水滴落, 湿了磨道, 肚里噜噜响, 满腹的气体, 肚皮膨胀, 当着麻邦连屁都不敢放。麻邦的鼻子灵光如警犬, 嗅着屁味便能断定谁偷吃粮食。 《牛》 (Mồ hôi ròng ròng, bụng sôi ùng ục đầy những hơi là hơi, bụng trương lên, không dám đánh trung tiện nếu Mặt Rỗ có ở đấy. Mũi Mặt Rỗ thính như chó nghiệp vụ, ngửi mùi rắm là biết người nào ăn vụng thứ gì.) Trong số trước chúng tôi đã phân tích khoa trương trong một số tác phẩm của Mạc Ngôn ở cấp độ từ, ngữ (số 2/ 2018). Trong số này chúng tôi tiếp tục giới thiệu khoa trương của Mạc Ngôn ở cấp độ câu gồm câu phức giả thiết, câu phức điều kiện, và các biện pháp, phương tiện tu từ biểu thị khoa trương. 3. Một số cách biểu thị khoa trương ở cấp độ câu 3.1. Sử dụng câu phức điều kiện (条件复句) biểu thị khoa trương Câu phức điều kiện không phải là loại câu chuyên biệt để biểu thị khoa trương. Nhưng trong lối nói khoa trương có thể sử dụng câu phức điều kiện như một phương thức biểu đạt hữu hiệu. Trong loại câu này, phân câu phụ biểu thị điều kiện, phân câu chính biểu thị kết quả. Biểu thức: 只要 … ,就… Tiếng Việt: Chỉ cần…. thì…. Trong loại câu này, 只要 (chỉ cần) chỉ ra điều kiện cần và đủ, chỉ có điều kiện như vậy thì mới có kết quả hoặc hậu quả nêu trong câu chính; trong phân câu chính thường có sự tham gia của phó từ 就 (thì). Ý nghĩa khoa trương của câu nằm ở cả hai vế. Ví dụ: (2) 母亲道:正是正是,只要她的手在病人身上一摸,十分病就去了七分。姑姑差不多被乡里的女人们神化 了。《蛙》 (Mẹ nói: “Đúng là như thế, chỉ cần cô con đưa tay sờ vào người bệnh là bệnh mười phần đã giảm đi bảy phần! Gần như cô tôi đã được thần thánh hóa trong mắt người dân quê tôi.) (3) 我的心被人用刀子戳伤过,只要一干活,心上的疤痕就会崩 裂,那样我就会七窍流血而死。《蛙》 (Tim tôi đã bị người ta dùng dao đâm xuyên qua, chỉ cần làm một việc nhẹ, vết thương trong tim sẽ vỡ ra, thế là tôi sẽ hộc máu mà chết) (Ếch) (4) 我立刻想起奶奶说过的话,她说,人只要感到骨头缝里发冷就 隔着阴曹地府不远了。《牛》 (Tôi thường nghĩ đến những lời bà tôi thường nói rằng, ai mà cảm thấy những khớp xương của mình lạnh cóng là người ấy chỉ còn cách cổng vào âm tào địa phủ một vài bước chân nữa mà thôi.) (Trâu thiến) (5) 他十条狗命也不值小珍子一条命,只要小珍子平安无事,要我身上的肉我也割。《枯河》 (Mười cái mạng chó của nó cũng không đáng giá bằng một mạng của cô nhà, chỉ cần cô nhà bình an vô sự thì nếu có cần thịt trên người tôi cũng cắt.) (Sông cạn) Lưu ý: Một số trường hợp只要 trong phân câu phụ có thể lược bỏ. Ví dụ: (6) 你一笑,我就感到头晕目眩,恨 不得跪在地上,抱住你的双腿,仰望你的笑脸。。。《蛙》 (Chỉ cần em cười là tôi đã cảm thấy đầu óc mình choáng váng, tiếc là không được quì xuống đất để ôm lấy chân em, ngước lên và nhìn khuôn mặt đang cười của em.) (Ếch) 3.2. Câu phức giả thiết biểu thị khoa trương Trong câu phức giả thiết nói chung, phân câu phụ nêu ra một giả thiết, phân câu chính nói rõ trong tình huống như thế này thì kết quả mới xuất hiện. Trong khẩu ngữ thường có các từ nối. Biểu thức: 要(是)…,(就)… 如 果… ,(就)… Tiếng Việt: Nếu ….thì…. Cấu trúc này dùng nhiều để thề nguyền, cam kết. Ví dụ: (7) 从那一刻起,直到现在,直至永远,我这颗心,就全部属于你了。你如果想吃我的心,我就会毫不犹豫 地扒给你。《蛙》 (Từ đó cho đến bây giờ và có lẽ là vĩnh viễn, trái tim tôi đã hoàn toàn thuộc về em. Nếu như em muốn nhai muốn nuốt nó, tôi sẵn sàng móc nó ra mà không có chút do dự nào.) (Ếch) (8) 好,我发誓:如果我泄露了王肝的秘密,就让我掉到河里淹死。《蛙》 (Được! Tôi thề – Nếu tôi mà làm lộ bí mật của Vương Can thì tôi sẽ rơi xuống sông chết đuối.) (Ếch)

(9) 最亲爱的,如果我为你吐血而死,你如果能开恩,到我坟头前看一眼,我 就心满意足了。 《蛙》 (Em yêu, nếu tôi vì em hộc máu chết thì em có thể khai ân đến phần mộ tôi nhìn thoáng qua thôi. Như thế là tôi đã toại nguyện lắm rồi.) (Ếch) (10) 五十岁女人的脖子如果不像一截臃肿的大肠便像一段腐朽的枯木。《丰乳肥臀》 (Nói đàn bà năm mươi tuổi cái cổ nếu không bùng nhùng như một khúc dồi thì cũng khô như một củi mục.) (Báu vật của đời) Cần lưu ý là, nếu sau “要是” là động từ “是” thì một chữ “是” phải được lược bỏ theo qui luật tiết kiệm của ngôn ngữ. Ví dụ, một người đàn bà trong “Trâu thiến” khi chồng hỏi “nhà còn trứng không” đã dùng cấu trúc này để nhấn mạnh phủ định: (11) 麻婶道:”鸡蛋?我要是母鸡,就给你们现下几个。” 《牛》 (Trứng à? Nếu tôi là gà mái , tôi sẽ cố rặn ra cho ông mấy quả ngay bây giờ – Thím Quản cong cớn.) (Trâu thiến) Trong vế phụ, từ nối “要是”/ “如 果” (nếu/ nếu như) có thể lược bỏ. Ví dụ: (12) 无论如何, 你娘不能再生了, 再生她的*就拖到地上了。《蛙》 (Cho dù thế nào thì mẹ cháu cũng không thể sinh nở được nữa, sinh nữa thì e là tử cung của bà ấy sẽ tòi ra ngoài luôn đấy.) (Ếch) Trong nhiều trường hợp, vế chính cũng có thể lược bỏ từ nối 就 (thì) và thay bằng động từ năng nguyện. Ví dụ: (13) 我要娶她做老婆, 弄不好会被她打死。《牛》 (Tôi mà cưới cô ta làm vợ, nếu làm không tốt vai trò của người chồng chắc là tôi bị cô ta đánh chết.) (Trâu thiến) Nói chung, trong loại câu phức giả thiết biểu thị khoa trương, hai vế được nói tới là hai việc tương quan, nếu thừa nhận sự việc nói tới ở vế trước là xảy ra thì cũng thừa nhận sự việc nói ở vế sau sẽ xảy ra. Như vậy, ý nghĩa khoa trương nằm ở vế chính hoặc cả hai vế. Ví dụ: (14) 计划 生育不搞不行,如果放开了生,一年就是三千万,十年就是三个亿,再过五十年,地球都要被中国人给压偏啦。 《蛙》 (Sinh đẻ có kế hoạch không thể không thực hiện, cứ đẻ thoái mái mỗi năm tăng ba mươi triệu nhân khẩu, mười năm là ba trăm triệu, cứ thế năm mươi năm nữa trái đất này bị người Trung Quốc đè cho biến dạng méo mó mất thôi.) (Ếch) (15) 胎儿的性别, 怎么 能转换呢?我如果有这神通, 早就得了诺贝尔医学奖了是不是?《蛙》 (Giới tính của thai nhi làm sao có thể thay đổi được? Nếu ta có phép thần thông như vậy e rằng ta đã nhận giải Nobel y học từ lâu rồi!) (Ếch) Trong trường hợp mệnh đề phụ đã được đề cập tới, có thể dùng “否则” (bằng không / nếu không thì) để thay thế cho mệnh đề phụ biểu thị ý nghĩa nếu không như vậy thì. Ví dụ: (16) 中队长说,也幸亏了他这本日记,才让你姑姑得到了解脱, 否则,她就是跳进黄河也洗不清楚了。《蛙》) (Trung đội trưởng nói: – May mà có cuốn nhật kí này nên cô của cháu mới được giải cứu. Nếu không cô ấy có nhảy xuống Hoàng Hà cũng không tẩy hết được vết nhơ!) (Ếch) 4. Sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ biểu thị khoa trương 4.1. Sử dụng nhân cách hóa biểu thị khoa trương Nhân cách hóa là một biện pháp tu từ lấy vật bao gồm vật thể, động vật, tư tưởng hoặc khái niệm trừu tượng làm cho chúng có diện mạo, cá tính, tính cách, hoặc tình cảm. Nhân cách hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư thái độ của mình. Nhân cách hoá biểu thị khoa trương của Mạc Ngôn có mấy loại chính sau: 4.1.1. Nhân cách hóa động vật, thực vật Là biến động thực vật cũng có tâm tư tình cảm như con người. Ví dụ: (17) 鱼儿欢快又感动地啄着你的乳头,你的双乳照亮了幽暗的水面。《丰乳肥臀》 (Đàn cá nhỏ vui vẻ và cảm động đụng vào vú chị. Hai gò vú làm sáng bừng mặt nước.) (Báu vật của đời) 4.1.2. Nhân cách hóa sự vật. Là biến sự vật, những vật vô tri vô giác cũng có tâm tư tình cảm như con người. Ví dụ: (18) 老金终于筋疲力尽地被他摆平了, 他不顾一切地把头扎到她的怀里, 深深地把 她的乳头吸进口腔, 那股贪婪的劲头儿, 似乎要把她的整个乳房生吞掉一样。《丰乳肥臀》 (Lão Kim cuối cùng cũng kiệt sức …, cái vẻ tham lam ấy dường như muốn nuốt chửng cả bộ ngực của cô.) (Báu vật của đời) (19) 他看到张牙舞爪的大栏市正像个恶性肿瘤一样迅速扩张着,一栋栋霸道蛮横的建筑物疯狂地吞噬着村庄和耕地。《丰乳肥臀》 (Anh thấy thành phố Đại Lan giơ nanh múa vuốt, phát triển với tốc độ ung thư ác tính. Những ngôi nhà cao tầng ngỗ ngược, điên cuồng nuốt chửng thôn xóm và đất trồng trọt.) (Báu vật của đời) (20) 杜大爷背靠着铁门,浑身哆嗦,哆嗦得很厉害,哆嗦得铁门都哆嗦。《牛》 (Ông Đỗ vẫn ngồi im, dựa lưng vào cổng sắt, toàn thân đang run, không phải run nhẹ mà run lên bần bật, run đến nỗi cái cổng bằng sắt cũng run theo.) Trong những câu trên, tác giả nhân cách hóa sự vật “cái vẻ tham lam muốn nuốt chửng”, rồi “cái cổng sắt cũng run lên”. 4.2. Sử dụng phép hoán dụ biểu thị khoa trương Tác giả Trần Vọng Đạo trong “修辞学发凡” (Tu từ học phát phàm) lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về phép hoán dụ: “Sự vật được nói tới tuy rằng không có điểm tương tự với sự vật khác, giả sử khi giữa chúng còn có quan hệ không thể tách rời, tác giả có thể mượn tên của sự vật có quan hệ đó thay cho sự vật được nói tới. Cách mượn như vậy gọi là phép hoán dụ tu từ” [93]. Nghĩa là, không nói thẳng ra tên người hoặc sự vật mà mượn tên của sự vật có quan hệ mật thiết với nó thực hiện phép thay thế. Phép hoán dụ tu từ được chia thành nhiều loại khác nhau. Theo quan sát của chúng tôi, trong tác phẩm của mình Mạc Ngôn thường dùng hoán dụ kiểu “cái bộ phận thay cho cái toàn thể”. Ví dụ: (21) 我知道陈鼻这样说是出于对我 ái的嫉妒,他生在我们 村长在我们村,连条苏联狗都没见着,如何知道苏联飞行员比中国飞行员技术好呢?(莫言《牛》) (Tôi biết nó nói như vậy là vì nó đang đố kị với tôi. Nó sinh trong thôn, lớn lên trong thôn, ngay cả một con chó Liên Xô cũng chưa gặp thì làm thế nào mà biết được kĩ thuật của phi công Liên Xô hơn phi công Trung Quốc?) (22) 你休想, 王仁美把一面镜子摔在地上,大声喊叫着,孩子是我的,在我的肚子里, 谁敢动他一根毫毛,我就吊死在谁家门槛上。《蛙》 (Con là của tôi, nó nằm trong bụng tôi. Ai dám động đến một sợi lông của nó tôi sẽ treo dây lên xà nhà của người đó thắt cổ chết.) Ở ví dụ (23), “con chó Liên Xô” thay cho “cả nước Liên Xô”; ở (24) “một sợi lông của nó” thay cho “cơ thể nó”. Cũng như vậy ta có thể kể ra một số ví dụ khác:

(24) 那时候我正处在爱热闹的青春前期,连村子里的狗都讨厌我。《牛》 (Thời ấy tôi còn là một đứa trẻ, chỉ thích xem những trò vui, thích tham gia vào những chuyện ồn ào, ngay cả chó trong thôn cũng chẳng ưa gì tôi.) Ở đây, “chó trong thôn” cũng là bộ phận thay cho “cả thôn” là toàn thể; ý nghĩa của câu là “cả thôn đều ghét tôi”. Lại nữa: (25) 信中说如果他敢伤万六府三位亲人一根毫毛,胶东军区将集合全部兵力攻打平度城。《蛙》 (Trong thư nói, nếu Sugutani dám động đến một sợi lông ba người thân của Vạn Lục Phủ thì quân khu Giảo Đông sẽ tập hợp lực lượng toàn quân khu để san thành Bình Độ thành bình địa) (26) 王脚说:肖下唇你个小杂种,你要敢动王肝一指头我就挖出你的眼珠儿!《蛙》 (Vương Cước nói: “Mày là đồ tạp chủng. Mày dám động đến một sợi tóc của Vương Can là tao móc đôi mắt mày ra!”) Ở đây (25) và (26), Mạc Ngôn đã hoán dụ “một sợi lông”, “một sợi tóc” thay cho cả “cơ thể”. Ngoài ra chúng tôi còn nhận thấy, Mạc Ngôn còn sử dụng hoán dụ những việc bình thường nhất thay cho những công to việc lớn hay những việc lớn lao. Ví dụ, ông miêu tả dân quân đi chăm sóc cả những việc như “tiểu, đại tiện”: (27) 于是大喇叭里不停地广播,让各村的 贫下中农提高警惕,防止阶级敌人的破坏活动。各个村就把所有的”四类分子”关到一起看守起来,连大小便都有武装民兵跟随。(莫言《牛》) (Loa phóng thanh trong trong toàn bộ công xã mở hết công suất suốt ngày đêm chỉ phát đi một nội dung duy nhất là yêu cầu bần hạ trung nông khắp các thôn trong toàn công xã phải đề cao âm mưu chống phá cách mạng của kẻ địch, yêu cầu các thôn phải quản thúc thật chặt bốn thành phần phản động trong thôn mình, ngay cả chuyện đi đái đi ỉa cũng phải có dân dân quân đi kèm.) 4.3. Sử dụng so sánh tu từ “X 是 Y” (X như Y) biểu thị khoa trương Trong văn Mạc Ngôn, hệ từ “是” (là) có thể được thay thế cho những từ so sánh, và đó là câu biểu thị so sánh thuần túy. Biểu thức : X 是 Y. Ví dụ: (28) 无论从哪个部位看她都不像一个五十多岁的女人, 她是一朵冷藏了半个世纪的花朵。(莫言《丰乳肥臀》) (Dù nhìn ở góc độ nào thì chị ta cũng không giống một phụ nữ ngoài 50. Chị là một bông hoa ướp lạnh suốt một phần hai thế kỉ.) (29) 她是南极最高峰上未被污染的一块雪。雪肌玉肤,冰清玉洁,真正的,不搀假的。《丰乳肥臀》 (Chị là khối tuyết trên đỉnh núi ở châu Nam cực, không hề vẩn bụi. Trong ngọc trắng ngà, hoa nhường nguyệt thẹn, một cái đẹp đích thực.) Ở đây, ta phải hiểu là: 她如一朵冷藏了半个世纪的花朵 (Chị như một bông hoa ướp lạnh suốt một phần hai thế kỉ.) và她如南极最高峰上未被污染的一块雪 ((Chị như khối tuyết trên đỉnh núi ở châu Nam cực,). Trong câu, (就)是vốn là một động từ phán đoán, cho nên khi được sử dụng trong cấu trúc này, cả cấu trúc còn mang sắc thái khẳng định vốn có của động từ. Tuy nhiên, hình thức so sánh tu từ dùng “(就)是” cũng khác với phán đoán logic có công thức “S是 P” (S là P). Chính vì vậy, có người không cho rằng “是” là thành tố trong phép so sánh. Tuy nhiên căn cứ vào ngữ nghĩa chúng tôi cho rằng “是” không những có khả năng biểu đạt so sánh mà còn có khả năng biểu đạt khoa trương. Ví dụ: (30) 姑姑感慨地说,那时所有的人都疯了,想想真如一场噩梦,姑姑说,黄秋雅是个伟大的妇科医生,即便是上午被打得头破血 流,下午上了手术台,她还是聚精会神.《蛙》 (Nhưng Hoàng Thu Nhã vẫn là một bác sĩ sản phụ vĩ đại, thậm chí buổi sáng bị đánh cho sứt đầu mẻ trán thì buổi chiều bà ấy vẫn đứng trên bàn mổ, bà ta vẫn tập trung tinh thần.) (Ếch) Ông có lần dùng cấu trúc này để gọi bà cô trong “Ếch” là “bác sản phụ thiên tài”; ví dụ: (31) 姑姑是天才的妇产科医生,她干这行儿脑子里有灵感,手上有感觉。《蛙》 (Phải thừa nhận cô tôi là một bác sĩ sản phụ thiên tài, khi làm việc này hình như trong đầu cô luôn luôn có linh cảm, tay cô có cảm giác.) (Ếch)

5. Kết luận Khoa trương trong các tác phẩm của Mạc Ngôn hết sức đa dạng và phong phú. Chính vì vậy nó làm tác phẩm của Mạc Ngôn thêm hấp dẫn lôi cuốn người đọc. Hầu hết các lớp từ loaị cơ bản tạo nên từ vựng tiếng Hán như động từ, danh từ, số từ, đại từ và thành ngữ…. đều có thể sử dụng để khoa trương. Không chỉ ở cấp độ từ mà Mạc Ngôn còn khoa trương ở cấp độ câu. Ngoài bổ ngữ trình độ ông còn dung câu có cấu trúc cường điệu và thủ thuật nhân cách hóa để khoa trương và tạo nên nét độc đáo trong văn chương. Bài viết này giới thiệu tổng quan về khoa trương ở cấp độ câu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Cù Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục. 2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ. 3. Đinh Trọng Lạc (2005), Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục. 4. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giaó dục. 5. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 6. Nguyễn như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 7. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Anh Việt, NXB Khoa học Xã hội 8. 黄伯荣,廖序东 (2002)”现代汉语”,高等教育出版社。 9. 王希杰 (2007)”汉语修辞学”,商务印书馆。 10.张挥之(2002)”现代汉语” 高等教育出版社。 11. 莫言作品集- 小说在线阅读- 努努书坊

1. Tóm tắt: Khoa trương là nói quá, cường điệu qui mô, tính chất, mức độ, hiện tượng của những sự vật, hiện tượng cần miêu tả. Tuy nói quá nhưng vẫn nói được và đúng bản chất của sự vật cần miêu tả. Khoa trương luôn mang đậm dấu ấn cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Trong các tác phẩm của mình Mạc Ngôn đã sử dụng nhiều cách để biểu thị khoa trương. Ở cấp độ câu, ông sử dụng câu phức điều kiện và câu phức giả thiết để biểu thị khoa trương. Ngoài ra ông còn dùng các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ như thủ thuật nhân cách hóa để khoa trương. Bài viết này giới thiệu tổng quan về một số cách biểu thị khoa trương. Từ khóa: khoa trương, câu phức điều kiện, giả thiết, nhân cách hóa 2. Abstract: Hyperbole is the use of exaggeration as a rhetorical device of speech. It is used to create on a situation. In the Mo Yan’ works, there appear various ways to express hyperbole. At the level of sentences he used conditional sentences to do that. Bisides, he uses personisation and structrure “X 是 Y” to do exaggerate. Keywords: Hyperbole, exaggeration, conditional sentences, personisation, structrure “X 是 Y”

TS. Nguyễn Ngọc Kiên