Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tôi Yêu Em ( Puskin )
  • Giáo Án Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Tác Phẩm Tôi Yêu Em
  • Chỉ Ra Và Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trong Câu Thơ Sau: “em Ơi Ba Lan Mùa Tuyết Tan/ Đường Bạch Dương Sương Trắng Nắng Tràn” (Tố Hữu)
  • Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • * Tác giả, tác phẩm.

    – Là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng Việt Nam giải phóng Miền nam thời kì chống Mĩ.

    – Bài thơ được sáng tác năm 1976 khi công trình lăng vừa hoàn thành…

    * Bố cục: Ba phần

    – Phần 1: Khổ thơ đầu- Cảnh bên ngoài lăng.

    – Phần 2: Khổ 2- Cảnh đoàn người xếp hàng viếng lăng Bác.

    – Phần 3: Khổ 3 – Cảnh bên trong lăng

    – Phần 4: Khổ thơ cuối- ứơc nguyện của nhà thơ.

    Có thể tham khảo nội dung: Soạn bài Viếng lăng Bác để ghi nhớ nội dung bài trước nha!

    Biện pháp tu từ trong bài thơ Viếng Lăng Bác

    1. Cảm xúc của nhà thơ trước cảnh bên ngoài lăng.

    Biện pháp tu từ trong khổ 1 bài Viếng Lăng Bác

    – Giới thiệu việc nhà thơ ra viếng lăng Bác.

    – Câu thơ mang tính tự sự, giản dị như câu nói bình thương.

    – Xưng hô con lời xưng hô thân mật, gần gũi, cảm động. Tác giả coi mình là con xa cách lâu ngày mới được gặp lại người cha già của dân tộc.

    – Câu thơ dùng từ thăm ngụ ý nói giảm đi. Bác như còn sống mãi với nhân dân Việt Nam .

    – Hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương sớm.

    – Đã từ lâu hình ảnh hàng tre là biểu tượng cho làng quê, cho con người dân tộc Việt Nam.

    2. Cảnh đoàn người xếp hàng vào lăng viếng Bác.

    Biện pháp tu từ trong khổ 2 bài Viếng Lăng Bác

    – Mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời thực, mặt trời của tự nhiên.

    – Ở câu thơ thứ hai mặt trời là hình ảnh ẩn dụ sự vĩ đại của Bác như mặt trời chiếu sáng cho con đường giải phóng dân tộc, đem lại sức sống mới cho dân tộc Việt Nam. Lòng tôn kính của nhân dân đối với Bác.

    – Tấm lòng thành kính của nhân dân đối với Bác.

    – Bốn câu thơ xen lẫn tả thực và ẩn dụ, nhịp điệu chậm rãi như mô phỏng nhịp điệu trang nghiêm tiến dần từng bước của đoàn người đi vào lăng viếng Bác. Nhịp điệu thơ đã thể hiện rõ những xúc động và suy tưởng sâu lắng của nhà thơ.

    3. Tâm trạng của nhà thơ khi vào trong lăng.

    Biện pháp tu từ trong khổ 3 bài Viếng Lăng Bác

    – Ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian được tác giả miêu tả chính xác, tinh tế, một khung cảnh trang nghiêm, yên tĩnh nơi Bác nằm nghỉ.

    – Liên tưởng đến vầng trăng.

    – Hình ảnh vầng trăng gợi cho ta nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong của bác. Hai câu thơ vừa miêu tả cảnh thực, vừa gửi gắm lòng kính yêu vô hạn của tác giả đối với bác.

    – Tuy lí trí đã nhận thức Bác vẫn còn sống mãi với non sông đất nước nhưng tình cảm thì không thể không đau xót vì sự ra đi của Người. Nhà thơ đau xót trước sự thực Bác đã đi xa.

    4. Tâm trạng của nhà thơ khi rời xa lăng.

    Biện pháp tu từ trong khổ 4 bài Viếng Lăng Bác

    Khổ cuối chính là ước muốn giản dị bé nhỏ, thể hiện tâm trạng lưu luyến của nhà thơ không muốn rời xa Bác…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tất Cả Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ “mùa Xuân Chín” Của Hàn Mặc Tử
  • Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đầy Trên Lưng Mùa Xuân Người Ra Đồng Lộc Trải Dài Nương Mạ Tất Cả Như Hối Hả Tất Cả Như Xôn Xao 1/tìm Và Nêu Tác Dụng Của C
  • Hãy Phân Tích Hai Khổ Thơ Sau: Mùa Xuân Người Cầm Súng Lộc Giắt Đ
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Thi Thpt Quốc Gia
  • Dựa Vào 4 Câu Thơ Đầu Của Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, Viết Đoạn Văn Ngắn Tả Cảnh Thiên Nhiên Trong Đó Có Sử Dụng 1 Vài Biện Pháp Tu Từ (Gạch Dưới Biện Pháp Tu Từ Đó)
  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Khổ 3 Bài Viếng Lăng Bác?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khổ Ba Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương.
  • Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân
  • Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân
  • Đề Đọc Hiểu Về Truyện Tấm Cám
  • Đọc Truyện Tấm Cám, Anh (Chị) Suy Nghĩ Gì Về Cuộc Đấu Tranh Giữa Cái Thiện Và Cái Ác, Giữa Người Tốt Và Kẻ Xấu Trong Xã Hội Xưa Và Nay
  • Hồ Chí Minh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, suốt cuộc đời bôn ba, gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại tự do, hạnh phúc và ấm no cho nhân dân. Người qua đời vào năm 1969 đất nước và nhân dân mất đi một con người vĩ đại để lại nỗi tiếc thương sâu sắc trong mỗi người dân. Có rất nhiều tác giả sáng tác thơ viết về Bác trong đó Viếng lăng bác là bài thơ xúc động của tác giả Viễn Phương kể về hành trình người con miền Nam lần đầu thăm lăng Bác.

    Tác giả có dịp viếng lăng Bác vào năm 1976, thời điểm vừa mới thống nhất nước nhà, nhân dân đang xây dựng đất nước. Lúc đó lăng Bác vừa khánh thành, Viễn Phương từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Bài thơ chứa đựng tình cảm yêu mến, tiếc thương và kính trọng của riêng tác giả và những con người miền Nam nói chung.

    Bài thơ có 4 khổ thơ, trong 2 khổ đầu là tâm trạng vui sướng, tự hào của tác giả khi được đến viếng lăng Bác. Trong khổ thứ 3 là sự ca ngợi, tiếc thương Bác. Khổ cuối đó là ước nguyện của tác giả muốn gắn bó chung thủy với chốn này.

    – Về nghệ thuật

    Bài thơ Viếng lăng Bác của tác giả Viễn Phương có những đặc sắc nghệ thuật, được thể hiện qua thể thơ, nhịp điệu, ngôn ngữ và hình ảnh giàu cảm xúc.

    – Đây là bài thơ được viết theo thể thơ tự do với 4 khổ thơ, mỗi khổ 4 dòng, mỗi dòng từ bảy đến chín từ. Với thể thơ này, tác giả có thể bày tỏ cảm xúc của mình một cách trọn vẹn và chân thành nhất.

    – Nhịp điệu thơ chậm mang cảm xúc tâm tình, ấm áp và trang nghiêm. Cảm xúc được sắp xếp nhẹ nhàng trong khổ đầu và tăng dần trong khổ cuối. Khi đó, cảm xúc được đẩy lên cao nhất, mạnh mẽ tuôn trào “Mai về miền Nam, thương trào nước mắt”. Đó là cảm xúc chân thật và tiếc thương sâu sắc nhất của nhà thơ khi phải rời xa Bác. Nó đúng với diễn biến cảm xúc, tâm trạng của một người con luôn hướng về Bác.

    – Giọng thơ chân thật, chân tình đậm chất Nam Bộ. Sinh ra, lớn lên và chiến đấu gắn liền với mảnh đất Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến ác liệt, đã hun nấu trong lòng nhà thơ những tình cảm yêu thương chân thật nhất. Đó không chỉ là tình cảm riêng mà còn gửi gắm trong đó cả tình thương của đồng bào Nam Bộ dành cho người cha vĩ đại của dân tộc mình.

    – Khổ thơ cuối điệp từ “muốn làm” thể hiện mong ước của tác giả. Đó là sự tiếc nuối, ân hận vô bờ của tác giả. Ước nguyện nhỏ nhoi dù là con chim, đóa hoa hay hàng tre để được gần Bác, bên Bác.

    – Bài thơ là cả một nghệ thuật sáng tạo, có sự kết hợp giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ. Biện pháp ẩn dụ đẹp được tác giả sử dụng trong bài thơ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng… Ngôn ngữ được chọn lọc một cách tinh tế được đặt với những hình ảnh kì vĩ, lớn lao, nối tiếp nhau. Điều này làm cho người đọc phải suy ngẫm về sự lớn lao, kì vĩ đó, không chỉ là của cảnh sắc thiên nhiên mà còn là của con người vĩ đại.

    + Mặt trời nói về hình ảnh Bác, người soi đường dẫn lối cho dân tộc.

    + Vầng trăng đó là tình cảm nhẹ nhàng, thuần khiết mà Bác dành cho nhân dân, đất nước.

    – Ngôn ngữ thơ sâu sắc, bình dị có chọn lọc, tình cảm chân thành khiến người đọc xúc động trước tình cảm nhà thơ với Bác.

    Viếng lăng Bác là bài thơ nổi tiếng và thành công về nội dung và nghệ thuật. Tác giả nói lên tình cảm của cá nhân và đại diện cho nhân dân miền Nam thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.Bác đã sống cuộc đời của một con người vĩ đại và mãi trường tồn cùng dân tộc, đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Cuối Bài Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu
  • Phân Tích 9 Câu Thơ Cuối Bài Vội Vàng
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Phân Tích Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Những Sáng Tạo Nghệ Thuật Của Xuân Quỳnh Trong Bài Thơ Sóng.
  • Nội Dung, Đặc Sắc Nghệ Thuật Bài Thơ Viếng Lăng Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Khi Con Tu Hú Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Khi Con Tu Hú
  • Phân Tích Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Tho Khi Con Tu Hú
  • Bài 19. Khi Con Tu Hú
  • Bài Văn Bức Tranh Thiên Nhiên Trong Bài Thơ “khi Con Tu Hú” Của Nhà Th
  • Nhằm giúp học sinh tìm hiểu bài thơ Viếng lăng bác loigiaihay sẽ tóm tắt nội dung và những ý chính về đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ. Đây là bài thơ hay và xúc động của tác giả Viễn Phương trong một lần về viếng thăm lăng Bác.

    Nội dung nghệ thuật bài Viếng lăng bác

    Viễn Phương (1928 – 2005), sinh ra tại An Giang, tên thật của ông là Phan Thanh Viễn. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông được coi là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam. Từng tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, thơ Viễn Phương luôn mang đậm dấu ấn chiến đấu và tình cảm đồng đội. Khi nhắc đến thơ Viễn Phương, người ta nghĩ ngay đến các bài thơ giàu cảm xúc, chân thành nhưng không hề bi lụy. Thơ Viễn Phương rất nền nã, có chút thì thầm mà bâng khuâng, xao xuyến lòng người. Các tác phẩm tiêu biểu nhất của ông phải kể đến như “Anh hùng mìn gạt”, “Như mây mùa xuân”, “Lòng mẹ”.

    2. Bố cục bài thơ

    Bài thơ được chia thành 4 khổ với các nội dung như sau:

    Khổ 1: “Con ở miền Nam…đứng thẳng hàng”: Cảm xúc của nhà thơ trước cảnh vật ngoài lăng Bác.

    Khổ 2: “Ngày ngày mặt trời..bảy mươi chín mùa xuân”: Cảm xúc của nhà thơ trước đoàn người nối nhau vào thăm lăng Bác.

    Khổ 3:”Bác nằm trong giấc ngủ bình yên…trong tim”: Cảm xúc khi đặt chân vào lăng và được gặp Bác

    Khổ 4: khổ còn lại: Tình cảm, cảm xúc lưu luyến của nhà thơ trước lúc rời xa Bác.

    Hồ Chí Minh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, suốt cuộc đời bôn ba, gánh vác sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại tự do, hạnh phúc và ấm no cho nhân dân. Người qua đời vào năm 1969 đất nước và nhân dân mất đi một con người vĩ đại để lại nỗi tiếc thương sâu sắc trong mỗi người dân. Có rất nhiều tác giả sáng tác thơ viết về Bác trong đó Viếng lăng bác là bài thơ xúc động của tác giả Viễn Phương kể về hành trình người con miền Nam lần đầu thăm lăng Bác.

    Tác giả có dịp viếng lăng Bác vào năm 1976, thời điểm vừa mới thống nhất nước nhà, nhân dân đang xây dựng đất nước. Lúc đó lăng Bác vừa khánh thành, Viễn Phương từ miền Nam ra thăm lăng Bác. Bài thơ chứa đựng tình cảm yêu mến, tiếc thương và kính trọng của riêng tác giả và những con người miền Nam nói chung.

    Bài thơ có 4 khổ thơ, trong 2 khổ đầu là tâm trạng vui sướng, tự hào của tác giả khi được đến viếng lăng Bác. Trong khổ thứ 3 là sự ca ngợi, tiếc thương Bác. Khổ cuối đó là ước nguyện của tác giả muốn gắn bó chung thủy với chốn này.

    Bài thơ Viếng lăng Bác của tác giả Viễn Phương có những đặc sắc nghệ thuật, được thể hiện qua thể thơ, nhịp điệu, ngôn ngữ và hình ảnh giàu cảm xúc.

    – Đây là bài thơ được viết theo thể thơ tự do với 4 khổ thơ, mỗi khổ 4 dòng, mỗi dòng từ bảy đến chín từ. Với thể thơ này, tác giả có thể bày tỏ cảm xúc của mình một cách trọn vẹn và chân thành nhất.

    – Nhịp điệu thơ chậm mang cảm xúc tâm tình, ấm áp và trang nghiêm. Cảm xúc được sắp xếp nhẹ nhàng trong khổ đầu và tăng dần trong khổ cuối. Khi đó, cảm xúc được đẩy lên cao nhất, mạnh mẽ tuôn trào “Mai về miền Nam, thương trào nước mắt”. Đó là cảm xúc chân thật và tiếc thương sâu sắc nhất của nhà thơ khi phải rời xa Bác. Nó đúng với diễn biến cảm xúc, tâm trạng của một người con luôn hướng về Bác.

    – Giọng thơ chân thật, chân tình đậm chất Nam Bộ. Sinh ra, lớn lên và chiến đấu gắn liền với mảnh đất Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến ác liệt, đã hun nấu trong lòng nhà thơ những tình cảm yêu thương chân thật nhất. Đó không chỉ là tình cảm riêng mà còn gửi gắm trong đó cả tình thương của đồng bào Nam Bộ dành cho người cha vĩ đại của dân tộc mình.

    – Khổ thơ cuối điệp từ “muốn làm” thể hiện mong ước của tác giả. Đó là sự tiếc nuối, ân hận vô bờ của tác giả. Ước nguyện nhỏ nhoi dù là con chim, đóa hoa hay hàng tre để được gần Bác, bên Bác.

    – Bài thơ là cả một nghệ thuật sáng tạo, có sự kết hợp giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ. Biện pháp ẩn dụ đẹp được tác giả sử dụng trong bài thơ như hàng tre, mặt trời, vầng trăng… Ngôn ngữ được chọn lọc một cách tinh tế được đặt với những hình ảnh kì vĩ, lớn lao, nối tiếp nhau. Điều này làm cho người đọc phải suy ngẫm về sự lớn lao, kì vĩ đó, không chỉ là của cảnh sắc thiên nhiên mà còn là của con người vĩ đại.

    + Mặt trời nói về hình ảnh Bác, người soi đường dẫn lối cho dân tộc.

    + Vầng trăng đó là tình cảm nhẹ nhàng, thuần khiết mà Bác dành cho nhân dân, đất nước.

    – Ngôn ngữ thơ sâu sắc, bình dị có chọn lọc, tình cảm chân thành khiến người đọc xúc động trước tình cảm nhà thơ với Bác.

    Viếng lăng Bác là bài thơ nổi tiếng và thành công về nội dung và nghệ thuật. Tác giả nói lên tình cảm của cá nhân và đại diện cho nhân dân miền Nam thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh.Bác đã sống cuộc đời của một con người vĩ đại và mãi trường tồn cùng dân tộc, đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Khổ Đầu Bài Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Viễn Phương
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương, Văn
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Khổ Hai Bài Viếng Lăng Bác
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Viếng Lăng Bác, Bài Văn Mẫu Hay Nhấ
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác”

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Trao Duyên, Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Phân Tích Đoạn Trao Duyên Trong Truyện Kiều
  • Kê Hoach Đỏi Mới Cảm Thụ Văn Học Ke Hoach Mot Doi Moi Doc
  • Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Đề bài: Em hãy lập dàn ý phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ “Viếng lăng Bác”

    Bài làm

    + Mở bài:

    +Giới thiệu về tác giả:

    – Viễn Phương là một nhà thơ nổi tiếng trong nền thi ca hiện đại của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại nhiều tác phẩm hay, kiệt xuất cho công chúng yêu thơ thế hệ mai sau.

    -Giới thiệu về tác phẩm “Viếng lăng Bác”

    -Tác phẩm “Viếng lăng Bác” được nhà thơ sáng tác giả sáng tác trong dịp cả nước ta tổ chức sự kiện dâng hương viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi nước ta hoàn toàn thống nhất, đánh toàn quân xâm lược Pháp và Mỹ kết thúc 30 năm kháng chiến ròng rã nhiều gian khổ, hy sinh rất nhiều xương máu của các, chiến sĩ trên các chiến trường.

    + Thân bài:

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong bài thơ có ý nghĩa như thế nào? Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh mặt trời hồng, một hình ảnh nhiều ẩn dụ nhiều ý nghĩa sâu sắc:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong hai câu thơ này? Mặt trời trong câu thơ không chỉ là vầng thái thái dương sáng chói, chỉ mặt trời ấm áp cho muôn loài ngày ngày mang ánh sáng cho con người cũng như vạn vật tự nhiên trên trái đất.

    -Mặt trời trong câu thơ này là mặt trời của Bác. Bác Hồ chính là người đã soi đường chỉ lối cho toàn dân tộc ta trong cuộc cách mạng tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ lầm than, thoát khỏi cảnh làm thuộc địa, mất nước.

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    – Trong câu thơ này ý nghĩa ẩn dụ lại mang một thông điệp hoàn toàn khác. Câu thơ thể hiện sự tinh thế, nghiêm túc, trang nghiêm và vầng trăng dịu hiền thể hiện ánh sáng thuần khiết, trong veo như tình cảm của Bác dành cho non sông, cho muôn dân.

    -Nó như tình cảm của một vị cha già dân tộc dành cho con cháu của mình. Tình cảm ấy vừa tinh khôi, thuần khiết vừa ấm áp, dịu dàng.

    -Mở rộng lấy thêm dẫn chứng các tác giả khác nói về Bác để làm nổi bật tình cảm của Bác dành cho mọi người, cho dân tộc như thế nào? Nhạc sĩ Thuận Yến đã từng viết rằng ” Bác Hồ người là tình yêu thiết tha nhất, trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc Bác đã hy sinh cho tự do, cho dân tộc Việt Nam. Bác thương các cụ già trung thu về cho quà. Bác thương đàn em nhỏ...” Tình yêu của Bác dành cho mọi người là vô bờ bến, không lời nào kể hết.

    -Tình cảm của tác giả trong hai câu thơ này thể hiện như thế nào? Nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    – Mong ước của tác giả trong hai câu thơ này như thế nào? Sinh – lão- bệnh- tử là quy luật của trời đất, của tạo hóa không ai có thể vượt qua quy luật này. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy. Bác ra đi để lại sự tiếc thương cho muôn dân, triệu triệu người con đất Việt không khỏi bàng hoàng đau xót. Nhà thơ cũng như hàng triệu người dân khác đều muốn Bác có thể sống mãi như câu hát của các em thiếu nhi thường hát ” Ngày ngày chúng cháu ước mong, mong sao Bác sống muôn đời“.

    -Hình ảnh bác trong lòng tác giả và nhân dân cả nước như thế nào? Bác Hồ tuy đã ra đi nhưng Bác như mặt trời một mặt trời không ngủ, Bác thức để canh giữ cho tổ quốc, cho muôn người con, người dân của Bác được ngủ ngon giống như lời thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ:

    “Đêm nay Bác ngồi đó

    Đêm nay Bác không ngủ

    Vì một lẽ thường tình

    Bác là Hồ Chí Minh”

    + Kết

    – Viếng lăng Bác là một bài thơ hay, xúc động lòng người, là một bài thơ tuyệt tác cả về nghệ thuật, hình tượng và nội dung.

    – Qua bài thơ tác giả muốn nhắn gửi điều gì? Qua bài thơ tác giả Viễn Phương muốn thể hiện tình yêu, lòng thành kính của mình với người cha già dân tộc Bác Hồ Chí Minh. Tình cảm mà tác giả dành cho Bác là một tình cảm thiêng liêng, thể hiện tình cảm xót thương, tiếc nuối xem lẫn biết ơn, của một người con khi vào thăm dân hương và đứng trước mặt người cha đã khuất của mình. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết rằng: ” Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử“.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoá Luận Tốt Nghiệp Biện Pháp Ẩn Dụ Trong Thơ Phan Thị Thanh Nhàn
  • Hãy Phân Tích, Giải Thích Nội Dung Và Nghệ Thuật Khổ Thơ Cuối Của Bài Thơ “đồng Chí”
  • Nêu Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ “bánh Trôi Nước”. Tìm Các Thành Ngữ Và Nêu Tác Dụng Của Thành Ngữ Đó
  • Cảm Nhận Đoạn Thơ Thứ 3 Trong Bài Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Nghệ Thuật Tổ Chức Chất Liệu Ngôn Từ Trong Bài Tây Tiến
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác.

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Đặc Sắc Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Phẩm
  • Tuần 6. Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân.
  • 3 Bài Văn Cảm Nhận Của Em Về Bức Tranh Thu Trong Bài Thơ Sang Thu, Bài
  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Viết Đoạn Văn ( Khoảng 10 Câu) Miêu Tả Hàng Phượng Vĩ Vào Những Ngày Hè . Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ ( Gạch Chân Dưới Biện Pháp Ẩn Dụ
  • Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học : Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Trao Duyên Trích Truyện Kiều Nguyễn Du
  • Vẻ Đẹp Của Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Qua Đoạn Trao Duyên
  • Phân Tích 18 Câu Đầu Bài Trao Duyên
  • Phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ Viếng lăng Bác

    Bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân cả nước trước sự kiện to lớn là lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Là một thành viên trong đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, nhà thơ được vào lăng viếng Bác. Tình cảm yêu thương, kính phục cùng nỗi tiếc thương vô hạn vị lãnh tụ anh minh – Người Cha già vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã trở thành nguồn thi hứng dạt dào, thôi thúc Viễn Phương viết nên bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nhất về Bác Hồ.

    Cảm hứng bao trùm bài thơ là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả vào lăng viếng Bác. Cảm hứng ấy chi phối giọng điệu và âm hưởng chung của toàn bài. Nhà thơ đã đem hết tâm huyết của mình để quan sát, chọn lọc và sáng tạo ra những hình ảnh có tính chất tượng trưng sâu sắc để thể hiện phẩm chất cao quý tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ hình ảnh quen thuộc là hàng tre xanh xanh san sát bên nhau dọc lối vào lăng – biểu tượng của sức sống bền bỉ, dẻo dai, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, đến những hình ảnh giàu ý nghĩa triết lí như “mặt trời, vầng trăng, trời xanh” trong và quanh lăng Bác.

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Mặt trời trong câu thơ trên là hình ảnh thực của vầng thái dương ngày ngày tỏa ánh sáng ấm áp xuống mặt đất – duy trì sự sống cho muôn loài. Mặt trời trong câu thơ dưới là một ẩn dụ nghệ thuật đẹp đẽ và đầy sáng tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác Hồ – Người đốt ngọn đuốc giữa đêm trường thực dân phong kiến, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc đứng lên thực hiện cuộc cách mạng giải phóng rung trời chuyển đất, làm nên chiến thắng vinh quang, khẳng định tên tuổi Việt Nam trước toàn thế giới. Bác Hồ mãi mãi là vầng mặt trời soi sáng và sưởi ấm, tiếp thêm sức mạnh cho dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.

    Trong khổ thơ thứ ba có một ẩn dụ nghệ thuật mang một vẻ đẹp khác một ý nghĩa khác:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ diễn tả tinh tế không khí yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sáng dịu nhẹ trong lăng Bác. Hình ảnh vầng trăng gợi người đọc liên tưởng đến tâm hồn thanh cao cùng đời sống giản dị, trong sáng, thuần khiết của Bác. Đồng thời, nó cũng gợi cho chúng ta nhớ đến những bài thơ tràn ngập ánh trăng mà thi sĩ Hồ Chí Minh sáng tác trong hoàn cảnh tù đày hoặc trong kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Suốt đời, Bác coi trăng là bạn tri âm, tri kỉ. Giờ đây, Bác đã an giấc ngàn thu, giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.

    Để thể hiện tâm trạng xúc động của mình, nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    Sinh tử là quy luật của Tạo hóa, không ai tránh khỏi. Bác Hồ của chúng ta cũng đã giã biệt cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân để đi vào cõi vĩnh hằng. Tuy vậy, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ đời đời sống mãi. Nhà thơ cũng như cả dân tộc nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn không tránh khỏi niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của Bác. Bác đã hóa thân thành trời xanh – bầu trời hòa bình, hạnh phúc – vẫn hằng ngày hiện diện trong cuộc sống của dân tộc và nhân loại.

    Viếng lăng Bác là một bài thơ thành công cả về nội dung và nghệ thuật, được nhiều người yêu thích, trân trọng bởi tác giả đã nói lên tấm lòng thành kính và biết ơn của nhân dân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Cũng với cảm xúc và suy ngẫm giống như Viễn Phương, nhà thơ Tố Hữu đã viết: Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5. Sông Núi Nước Nam (Nam Quốc Sơn Hà) Bai 5 Song Nui Nuoc Nam Nam Quoc Son Ha Ppt
  • Bài Thơ: Sông Núi Nước Nam
  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Bài Sông Núi Nước Nam Và Phò Giá Về Kinh
  • Nội Dung, Nghệ Thuật, Biện Pháp Tu Từ Của Bài “sông Núi Nước Nam”
  • Bài Thơ Sông Núi Nước Nam
  • Dàn Ý Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Đặc Sắc Của Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Phần Tác Phẩm
  • Tuần 6. Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Soạn Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • ✅ Văn Mẫu: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc
  • Đề bài: Em hãy lập dàn ý phân tích biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong bài thơ “Viếng lăng Bác”

    Bài làm

    + Mở bài:

    +Giới thiệu về tác giả:

    – Viễn Phương là một nhà thơ nổi tiếng trong nền thi ca hiện đại của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại nhiều tác phẩm hay, kiệt xuất cho công chúng yêu thơ thế hệ mai sau.

    -Giới thiệu về tác phẩm “Viếng lăng Bác”

    -Tác phẩm “Viếng lăng Bác” được nhà thơ sáng tác giả sáng tác trong dịp cả nước ta tổ chức sự kiện dâng hương viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi nước ta hoàn toàn thống nhất, đánh toàn quân xâm lược Pháp và Mỹ kết thúc 30 năm kháng chiến ròng rã nhiều gian khổ, hy sinh rất nhiều xương máu của các, chiến sĩ trên các chiến trường.

    + Thân bài:

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong bài thơ có ý nghĩa như thế nào? Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh mặt trời hồng, một hình ảnh nhiều ẩn dụ nhiều ý nghĩa sâu sắc:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    -Phân tích hình ảnh mặt trời trong hai câu thơ này? Mặt trời trong câu thơ không chỉ là vầng thái thái dương sáng chói, chỉ mặt trời ấm áp cho muôn loài ngày ngày mang ánh sáng cho con người cũng như vạn vật tự nhiên trên trái đất.

    -Mặt trời trong câu thơ này là mặt trời của Bác. Bác Hồ chính là người đã soi đường chỉ lối cho toàn dân tộc ta trong cuộc cách mạng tìm đường cứu nước thoát khỏi ách nô lệ lầm than, thoát khỏi cảnh làm thuộc địa, mất nước.

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    – Trong câu thơ này ý nghĩa ẩn dụ lại mang một thông điệp hoàn toàn khác. Câu thơ thể hiện sự tinh thế, nghiêm túc, trang nghiêm và vầng trăng dịu hiền thể hiện ánh sáng thuần khiết, trong veo như tình cảm của Bác dành cho non sông, cho muôn dân.

    -Nó như tình cảm của một vị cha già dân tộc dành cho con cháu của mình. Tình cảm ấy vừa tinh khôi, thuần khiết vừa ấm áp, dịu dàng.

    -Mở rộng lấy thêm dẫn chứng các tác giả khác nói về Bác để làm nổi bật tình cảm của Bác dành cho mọi người, cho dân tộc như thế nào? Nhạc sĩ Thuận Yến đã từng viết rằng ” Bác Hồ người là tình yêu thiết tha nhất, trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Cả cuộc Bác đã hy sinh cho tự do, cho dân tộc Việt Nam. Bác thương các cụ già trung thu về cho quà. Bác thương đàn em nhỏ...” Tình yêu của Bác dành cho mọi người là vô bờ bến, không lời nào kể hết.

    -Tình cảm của tác giả trong hai câu thơ này thể hiện như thế nào? Nhà thơ Viễn Phương đã mượn hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa sâu xa:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    – Mong ước của tác giả trong hai câu thơ này như thế nào? Sinh – lão- bệnh- tử là quy luật của trời đất, của tạo hóa không ai có thể vượt qua quy luật này. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy. Bác ra đi để lại sự tiếc thương cho muôn dân, triệu triệu người con đất Việt không khỏi bàng hoàng đau xót. Nhà thơ cũng như hàng triệu người dân khác đều muốn Bác có thể sống mãi như câu hát của các em thiếu nhi thường hát ” Ngày ngày chúng cháu ước mong, mong sao Bác sống muôn đời “.

    -Hình ảnh bác trong lòng tác giả và nhân dân cả nước như thế nào? Bác Hồ tuy đã ra đi nhưng Bác như mặt trời một mặt trời không ngủ, Bác thức để canh giữ cho tổ quốc, cho muôn người con, người dân của Bác được ngủ ngon giống như lời thơ “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ:

    “Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh”

    + Kết

    – Viếng lăng Bác là một bài thơ hay, xúc động lòng người, là một bài thơ tuyệt tác cả về nghệ thuật, hình tượng và nội dung.

    – Qua bài thơ tác giả muốn nhắn gửi điều gì? Qua bài thơ tác giả Viễn Phương muốn thể hiện tình yêu, lòng thành kính của mình với người cha già dân tộc Bác Hồ Chí Minh. Tình cảm mà tác giả dành cho Bác là một tình cảm thiêng liêng, thể hiện tình cảm xót thương, tiếc nuối xem lẫn biết ơn, của một người con khi vào thăm dân hương và đứng trước mặt người cha đã khuất của mình. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết rằng: ” Bác sống như trời đất của ta. Sự nghiệp cách mạng cùng đời sống tinh thần cao cả của Người đã trở thành bất tử “.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Biện Pháp Nghệ Thuật Ẩn Dụ Trong Bài Thơ Viếng Lăng Bác.
  • Đặc Điểm Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ “vội Vàng”
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân.
  • Phân Tích Khổ Ba Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương.

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân
  • Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân
  • Đề Đọc Hiểu Về Truyện Tấm Cám
  • Đọc Truyện Tấm Cám, Anh (Chị) Suy Nghĩ Gì Về Cuộc Đấu Tranh Giữa Cái Thiện Và Cái Ác, Giữa Người Tốt Và Kẻ Xấu Trong Xã Hội Xưa Và Nay
  • Tuần 32. Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Khổ thơ thứ ba là những cảm xúc của tác giả khi vào trong lăng, đứng trước di hài Bác. Bao tình cảm ấp ủ bấy lâu, nên khi bắt gặp bóng dáng thân yêu của Bác là trào dâng thổn thức. Hình ảnh Bác nằm trong lăng được diễn tả rất xúc động qua hai câu thơ:

    Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Câu thơ gợi được sự yên tĩnh, trang nghiêm, ánh sáng dịu nhẹ trong lành và hình ảnh đẹp đẽ của Bác. Bằng tình cảm, nhà thơ thấy Bác như đang ngủ trong giấc ngủ bình yên giữa thiên nhiên đẹp và thơ mộng, Bác vẫn ở cùng ta, như nhà thơ Hải Như đã viết:

    Suốt cuộc đời Bác có ngủ ngon đâu Nay Bác ngủ chúng con canh giấc ngủ (Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi)

    “Vầng trăng sáng dịu hiền” là ánh sáng của tình thương mến, nâng niu, vầng trăng ấy như ru Bác ngủ. Giấc ngủ của Bác là giấc ngủ trong tình thương yêu. Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh cũng đã viết:

    Hình ảnh vầng trăng dịu hiền cũng gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Người.

    Đến đây, cảm xúc ngưỡng mộ như lắng xuống nhường chỗ cho nỗi xót đau không thể kìm nén:

    Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim!

    “Trời xanh” cũng như “mặt trời”, “vầng trăng” là những hình ảnh của vũ trụ kì vĩ, vĩnh hằng, là ẩn dụ sâu xa gợi suy ngẫm về cái cao cả, vĩ đại, bất diệt, trường tồn ở Bác. Bác vẫn còn mãi với non sông đất nước, như trời xanh còn mãi (Bác sống như trời đất của ta Tố Hữu). Người đã hóa thân vào thiên nhiên, đất nước, dân tộc. Sự nghiệp của Người là bất tử. Dù vẫn tin như vậy, nhưng tình cảm xót thương không chấp nhận sự mất mát thực tế, trái tim vẫn đau nhói khi nghĩ rằng Bác không còn nữa. Nỗi đau xót được biểu hiện cụ thể, trực tiếp: “Mà sao nghe nhói ở trong tim”. Đó là nỗi đau vô hạn, là lòng thương xót rất thật, không lí do nào khuây khỏa được. Đó là tình cảm của đứa con về muộn bên di hài người cha.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Khổ 3 Bài Viếng Lăng Bác?
  • Phân Tích Khổ Thơ Cuối Bài Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu
  • Phân Tích 9 Câu Thơ Cuối Bài Vội Vàng
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Phân Tích Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Hai Khổ Thơ Cuối Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Cuối Bài Thơ Viếng Lăng Bác, Bài Văn Mẫu Hay Nhấ
  • Phân Tích Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Khổ Hai Bài Viếng Lăng Bác
  • Bài Văn Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương, Văn
  • Phân Tích Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ “viếng Lăng Bác” Của Viễn Phương
  • Đề bài: Phân tích khổ cuối bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.

    ***

    Hai bài phân tích hay và xúc động về khổ thơ cuối bài Viếng lăng Bác

    Bài thơ “Viếng lăng Bác” ra đời vào năm 1976, đây là thời điểm đất nước hòa bình, hai miền thống nhất, nhà thơ có dịp ra thăm lăng Bác. Bài thơ thể hiện niềm kính trọng và tình yêu thương và tiếc nuối của tác giả cũng như đồng bào miền Nam khi ra thăm Bác. Bài thơ đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và thành công nhất là Hoàng Hiệp có cùng nhan đề.

    Khổ cuối của bài thơ thể hiện sự thương nhớ và tâm nguyện của nhà thơ sau khi viếng Bác và trở về miền Nam để tiếp tục dựng xây, bảo vệ đất nước, bảo vệ miền Nam kiên cường, máu lửa của tổ quốc.

    “Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”

    Khi phải rời miền Bắc, rời lăng Bác nhà thơ đã không thể nào kìm được lòng mình nữa, tuôn trào nước mắt. Những khổ thơ ở trên đã diễn tả cảm xúc mãnh liệt nhưng nhà thơ vẫn cố kìm giữ trong đến khổ thơ cuối thì cảm xúc của nhà thơ đã tuôn theo dòng nước mắt tuôn rơi. Từ ngữ biểu cảm đã bộc lộ được nỗi xúc động trào dâng lên tới đỉnh điểm.

    Từ cái nỗi xúc động đó tác giả thể hiện ước nguyện của mình:

    “Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”

    Điệp ngữ “muốn làm” khiến cho nhịp thơ nhanh, dồn dập, giúp tác giả thể hiện được khát vọng mãnh liệt của mình. Khát vọng đó được bộc lộ qua những hình ảnh thơ vừa đẹp vừa gợi cảm “con chim hót”, “đóa hoa tỏa hương”, “cây tre trung hiếu” tất cả để làm đẹp cho nơi Bác nằm, cũng như tác giả muốn dâng lên Bác những gì tinh hoa nhất của mình để Bác bình yên, thanh thản trong giấc ngủ ngàn thu.

    Các từ “đâu đây”, “trong lăng”, “chốn này” càng nhấn mạnh thêm cái ước mơ của tác giả được ở mãi bên Bác, lưu luyến không muốn rời. Sự khát khao này của nhà thơ cũng là khát khao chung của rất nhiều người, bởi vì:

    “Ta bên người, người tỏa sáng bên ta, Ta bỗng lớn ở bên người một chút”

    Viễn Phương cũng cảm nhận được điều đó khi được ở bên Bác Hồ. Ấn tượng nhất trong khổ cuối là hình ảnh “cây tre trung hiếu”, cây tre này khiến cho chúng ta nhớ lại hình ảnh “hàng tre” ở đầu bài thơ. Hai hình ảnh “hàng tre” và “cây tre trung hiếu” đã làm nên kết cấu đầu cuối tương ứng rất chặt chẽ. Nếu như mỗi người là một cây tre trung hiếu thì cả dân tộc sẽ là hàng tre trung hiếu với Bác. Tác giả nhắc lại một lần nữa hình ảnh “cây tre” để nhấn mạnh tình cảm gắn bó, trung thành với Bác, nguyện suốt đời thực hiện lý tưởng của người và đây cũng chính là ước nguyện của cả dân tộc.

    Theo bước chân của nhà thơ Viễn Phương từ khi đến lăng cho tới khi ra về chúng ta nhận ra được dòng cảm xúc của nhà thơ thể hiện một cách liền mạch và càng lúc càng phát triển. Nỗi đau cứ được dâng cao và đến khổ cuối thì dâng lên tới đỉnh điểm, nỗi đau ấy cũng chính là tiếng lòng của tất cả người dân Việt Nam.

    Tác giả chưa bao giờ có ước muốn sẽ làm điều gì đó cao cả, kỳ vĩ mà chỉ là “con chim hót”, “đóa hoa tỏa hương” mà thôi, đó là những hình ảnh vô cùng nhỏ bé, bình dị nhưng đó là tất cả những gì tác giả muốn, miễn sao được ở bên Bác.

    Với hình ảnh “cây tre” ở khổ 1 là hình ảnh bất khuất, kiên cường thì đến khổ thơ cuối này hình ảnh “cây tre trung hiếu chốn này” là hình ảnh nghệ thuật nhân hóa, đó là tấm lòng thành kính, trung thành của tác giả dâng lên Bác, hay nói rộng ra đó là tình cảm của toàn dân tộc kính dâng lên người.

    Nếu như ở mấy khổ trên đại từ nhân xưng chủ thể nói tới là tác giả, là “con” thì ở khổ cuối chủ thể đó bị ẩn đi, không phải tác giả không nhắc tới nữa mà lúc này chủ thể là tất cả người con Việt Nam chứ không riêng gì tác giả nữa. Khổ cuối khép lại đó là cảm giác chia tay, xa cách về không gian địa lý, thời gian nhưng nó lại gần gũi trong ý chí và tình cảm, lòng trung hiếu.

    Bài thơ “Viếng lăng Bác” thể hiện lòng thành kính và xúc động của nhà thơ khi được vào viếng lăng Bác. Bài thơ có giọng điệu trang trọng, nhiều hình ảnh ẩn dụ và gợi cảm, ngôn ngữ giản dị mà cô đúc. Bài thơ chính là tâm tình, là lời tri ân, sự biết ơn của con dân gửi tới vị cha già kính yêu của dân tộc, cả đời gắn bó, sát cánh, hy sinh cho sự nghiệp của cả dân tộc.

    Sau bao nhiêu cảm xúc của một người con lần đầu ra thăm người cha của mình thì giờ đây đã đến lúc phải rời xa. Cảm xúc ấy của nhà thơ Viễn Phương đã thể hiện qua khổ thơ cuối bài thơ “Viếng lăng Bác” với bao ước muốn thành kính.

    Bài thơ được sáng tác năm 1976 sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, đất nước được thống nhất, lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành. Tác giả ra thăm miền Bắc vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ chính là niềm xúc động thiêng liêng thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau của tác giả từ niềm Nam ra viếng lăng Bác. Cuộc hành trình ấy đã đến lúc phải ra về với câu thơ đầy xúc động:

    “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

    Là một câu thơ mà cũng là một lời giã biệt của người con khi phải xa cha lần nữa. Lời giã biệt ấy thật nghẹn ngào sâu lắng. Lời nói giản dị diễn tả tình cảm của nhà thơ dành cho Bác cũng như của tất cả mọi người khi phải rời lăng. Từ “trào” diễn tả cảm xúc mãnh liệt, luyến tiếc, bịn rịn không muốn rời xa nơi Bác nghỉ. Đó là tâm trạng của muôn triệu con tim bé nhỏ cùng chung nỗi đau không khác gì tác giả. Được gần Bác dù chỉ trong giây phút nhưng không bao giờ ta muốn xa Bác bởi người ấm áp quá, rộng lớn quá. Nhưng dù muốn hay không thì giây phút ngắn ngủi được gặp Bác cũng vô cùng thiêng liêng. Đã đến lúc dòng người vào lăng viếng Bác phải ra về.

    Trong niềm xúc động nghẹn ngào đó là những ước nguyện thành kính của Viễn Phương cũng là mong ước chung của những người đã hoặc chưa được một lần gặp Bác:

    “Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu trốn này”

    Những ước nguyện của nhà thơ thật đáng quý biết bao! Nhà thơ muốn làm con chim hót để mang âm thanh của thiên nhiên, đẹp đẽ, trong lành đến với nơi Bác nghỉ. Tác giả muốn làm một đóa hoa tỏa hương thơm thanh cao. Muốn làm một cây tre trung hiếu giữa mãi giấc ngủ bình yên cho Người. Hình ảnh cây tre quả thật là một hình ảnh đẹp và được khép lại rất khéo ở cuối bài thơ. Ở đầu bài thơ, nhà thơ cũng mở đầu bằng hình ảnh hàng tre, đó là hình ảnh khi tác giả nhìn thấy khi vào lăng. Đó cũng là hình ảnh biểu tượng cho con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Nhưng kết thúc bài thơ là hình ảnh cây tre trung hiếu canh giữ cho giấc ngủ bình yên của Bác. Cây tre như người lính trung thành, hàng ngày, ngày đêm vẫn đứng ở đó. Hình ảnh cây tre đã tạo nên kết cấu đầu cuối tương ứng. Điệp từ “Muốn làm” được nhắc lại ba lần biểu cảm trực tiếp và gián tiếp tâm trạng lưu luyến, ước muốn và sự tự nguyện chân thành của tác giả. Ước nguyện đó được bộc lộ ra từ tận sâu đáy lòng của nhà thơ Viễn Phương.

    Khổ thơ cuối bài Viếng lăng Bác là tâm trạng lưu luyến của nhà thơ muốn ở mãi ở bên lăng Bác không muốn rời xa nơi Bác yên nghỉ. Đồng thời là niềm nguyện ước của Viễn Phương muốn sống một cuộc đời đẹp đẽ để trở thành những bông hoa dâng lên Bác.

    Một số đoạn văn ngắn phân tích khổ cuối Viếng lăng Bác

    Khổ cuối (khổ thơ thứ tư) là cảm xúc của nhà thơ khi ra về. Nhà thơ lưu luyến muốn được ở mãi bên lăng Bác. Lòng nhớ thương, đau xót kìm nén đến giờ phút chia tay đã vỡ òa thành nước mắt: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. Tình cảm chắp cánh cho ước mơ, nhà thơ muốn được hóa thân, hòa nhập vào cảnh vật ở bên lăng Bác:

    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

    Hình ảnh cây tre lặp lại tạo ấn tượng đậm nét và làm cho dòng cảm xúc được trọn vẹn. Cậy tre khách thể đã hòa nhập cùng cây tre chủ thể. Hình ảnh ẩn dụ này thể hiện lòng kính yêu và trung thành vô hạn đối với Bác, mãi mãi đi theo con đường của Bác. Các điệp ngữ “muốn làm” cùng các hình ảnh thơ đứng sau nó tạo một nhạc thơ dồn dập, tha thiết diễn tả tình cảm, khát vọng dâng trào mãnh liệt. Bài thơ tưởng khép lại trong sự xa cách của không gian nhưng lại tạo được sự gần gũi trong tình cảm, ý chí. Đây cũng là những tình cảm chân thành của mỗi người khi vào viếng Bác, nhất là những người con miền Nam vốn xa cách về không gian, của cả những ai chưa được đến lăng Bác nhưng lòng vẫn thành tâm hướng về Người.

    Bài thơ Viếng lăng Bác đã thể hiện nỗi niềm xúc động, lòng biết ơn sâu sắc của Viễn Phương – một nhà thơ miền Nam lần đầu ra Hà Nội và hòa vào dòng người vào lăng viếng Bác. Cấu trúc của bài thơ như một hành trình miêu tả khoảnh khắc khi tác giả đứng trước lăng, khi xếp hàng và khi đứng trước di hài của Bác. Khổ thơ kết thúc bài thơ là một dấu lặng kết thúc hành trình ấy, bộc lộ niềm lưu luyến của Viễn Phương khi tạm biệt Bác trở về miền Nam:

    Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

    Dòng thơ đầu tiên cất lên bỗng trào dâng mãnh liệt cảm xúc nghẹn ngào, như rưng rưng hàng lệ nơi khóe mắt: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. Chỉ một chữ “thương” quen thuộc gắn với câu nói của người miền Nam mà như gói trọn biết bao thương yêu, xót xa và kính trọng. Câu thơ cất lên mà như nghẹn lại, xót xa đến vô cùng.

    Tiếc nuối có, thương nhớ có, bởi vậy mà nhân vật trữ tình giã biệt mà vẫn khắc khoải bịn rịn, bày tỏ ước nguyện cá nhân:

    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

    Điệp ngữ “muốn làm” được nhắc đi nhắc lại đến ba lần cùng nhịp thơ dồn dập thể hiện khao khát chân thành, tha thiết của tác giả. Muốn làm con chim, đóa hoa tỏa hương, cây tre trung hiếu, tất cả đều là những sự vật đời thường giản dị, gắn liền với thiên nhiên gần gũi. Muốn làm con chim để để mang tiếng hót vui vẻ đến với Bác, làm đóa hoa để tỏa hương tô điểm cuộc đời, đặc biệt là cây tre gần gũi ẩn dụ cho vẻ đẹp thủy chung, son sắt của người Việt. Hình ảnh cây tre xuất hiện ở đầu bài thơ được nhấn mạnh với kết cấu đầu cuối tương ứng như một lời thề sắt son của nhà thơ nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung nguyện đi theo con đường của Bác. Mai trở về miền Nam nhưng tấm lòng chân thành đã được gửi lại trọn vẹn nơi lăng Bác. Ba câu thơ khuyết chủ ngữ ấy như là lời thay mặt cho triệu triệu đồng bào Việt Nam bày tỏ cảm xúc thành kính, tha thiết tới lãnh tụ.

    Cả bài thơ là tiếng lòng của người con ra thăm lăng Bác, đặc biệt cảm xúc ấy được kết tinh trong khổ thơ cuối. Dù Bác đã ra đi nhưng Bác sẽ còn sống mãi trong trái tim của Viễn Phương nói riêng, nhân dân Việt Nam ta nói chung. Ước nguyện cao đẹp được hóa thân để được bên Bác cũng là ước nguyện đẹp nhất, chất chứa trọn vẹn tấm lòng trân quý của nhân dân ta.

    Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

    Những câu thơ của nhà thơ Bảo Định Giang là những nét vẽ tài hoa về nhân cách phẩm chất đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Dân tộc Việt Nam mãi mãi tự hào vì có một vị cha già kính yêu cả cuộc đời đã hiến dâng cho non sông đất nước. Tri ân người rất nhiều văn nghệ sĩ đã có những vần thơ đẹp ca ngợi Bác. Trong đó bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương chính là tấm lòng thầm kính ngưỡng vọng là nén tâm hương mà nhà thơ ngưỡng vọng dâng lên Bác kính yêu. Bài thơ kết thúc với dòng cảm xúc:

    “Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

    Bài thơ Viếng lăng Bác được Viễn Phương sáng tác trong dịp tác giả đến thăm nơi yên nghỉ cuối cùng của Bác Hồ. Bài thơ thể hiện niềm xúc động chân thành, lòng yêu kính, biết ơn sâu sắc và nỗi niềm thương nhớ Bác Hồ của nhà thơ khi được đến viếng lăng Bác. Đến khổ cuối của bài thơ Viễn Phương đã bộc lộc niềm lưu luyến tiếc thương khi tạm biệt Bác trở về miền Nam.

    Thương là xót xa vì nỗi đau mất mát đi người cha già kính yêu, nỗi đau ấy trào dâng thành nước mắt, mà cả dân tộc Việt Nam không kiềm lại được. Nỗi đau niềm thương tiếc của nhân dân Việt Nam đối với Bác làm cảm động cả tấm lòng trời đất khi:

    Suốt mấy đêm dài đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa

    Trong phút giây xúc động thiêng liêng, đứng trước sự vĩ đại sự hi sinh, lòng tận tụy của Người khiến nhà thơ xúc động tự nguyện muốn dâng hiến cuộc đời mình:

    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này

    Chân bước đi mà lòng còn ngoảnh lại, lưu luyến không muốn rời, sức mạnh giá trị đạo đức Hồ Chí Minh níu kéo lòng người ở lại. Điệp ngữ “muốn làm” lặp đi lặp lại đã diễn tả tâm trạng vừa lưu luyến nhưng cũng đầy ước nguyện. Nhà thơ nguyện ước làm con chim hót góp tiếng hát mang niềm vui đến cho Bác mỗi ngày, làm đóa hoa tỏa hương sâu sắc tô điểm cho cuộc sống đặc biệt làm “cây tre trung hiếu” chốn này, đứng cạnh mãi bên người, canh từng giấc ngủ cho người. Cũng là lời hứa nguyện sống xứng đáng với lời dạy của Người. Viễn Phương đã nói lên niềm mong ước của mình cũng như ước nguyện của tất cả mọi người dân Việt Nam muốn được gần bên Bác và lớn lên một chút:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Nghệ Thuật Chơi Chữ Trong Ca Dao Dân Ca Việt Nam
  • Từ Đồng Âm Và Nghệ Thuật Chơi Chữ
  • Tổng Hợp 35 Đề Thi Vào Lớp 10 Phát Triển Năng Lực Chuẩn
  • Bài Tập Đọc Hiểu Ngữ Văn 12
  • Phân Tích Hai Khổ Thơ Đầu Bài Viếng Lăng Bác (Viễn Phương)

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Hình Ảnh Ẩn Dụ Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ Ba Trong Bài Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận
  • 3 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn 1, 2 Bình Ngô Đại Cáo, Bài Văn Mẫu Hay Nh
  • Phân Tích Đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo Của Nguyễn Trãi
  • Tài liệu hướng dẫn phân tích hai khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác, gợi ý cách làm, lập dàn ý chi tiết và tham khảo một số mẫu bài văn hay phân tích nội dung khổ 1 và 2 bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương.

    Hướng dẫn làm bài phân tích 2 khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác

    Đề bài: Phân tích hai khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của nhà thơ Viễn Phương.

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu của đề bài: phân tích nội dung khổ 1 và 2 của bài thơ Viếng lăng Bác.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong 2 khổ thơ 1 và 2 bài Viếng lăng Bác của Viễn Phương.

    – Phương pháp lập luận chính : phân tích.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác (khổ 1)

    Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ trước dòng người vào lăng (khổ 2)

    3. Lập dàn ý chi tiết

    a) Mở bài

    – Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

    + Viễn Phương (1928 – 2005) là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước.

    + Bài thơ Viếng lăng Bác (1976) không chỉ là nén hương thơm thành kính dâng lên Bác Hồ kính yêu mà còn là khúc tâm tình sâu nặng của Viễn Phương thay mặt đồng bào miền Nam gửi đến Bác trong những ngày đầu thống nhất.

    – Dẫn dắt, giới thiệu 2 khổ thơ đầu: Hai khổ thơ đã bộc lộ tâm trạng nhà thơ khi nhìn thấy hàng tre bên lăng Bác, cảnh vật quanh lăng và đoàn người vào viếng lăng.

    b) Thân bài * Khái quát về bài thơ

    – Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 1976 khi Viễn Phương được vinh dự cùng đoàn đại biểu miền Nam ra thủ đô Hà Nội viếng lăng Bác sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất và lăng Bác vừa được hoàn thành.

    – Giá trị nội dung: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sắc của nhà thơ nói riêng và mọi người nói chung khi đến thăm lăng Bác.

    * Phân tích hai khổ thơ đầu

    Khổ 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác

    + Cách xưng hô “con – Bác” thân thương, gần gũi, diễn tả tâm trạng xúc động của người con ra thăm cha sau bao nhiêu năm xa cách.

    + “Con” ở đây cũng là cả miền Nam, là tất cả tấm lòng của đồng bào Nam Bộ đang hướng về Bác, hướng về vị cha già kính yêu của dân tộc với một niềm xúc động lớn lao.

    – Cảnh quang quanh lăng Bác:

    “…Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.”

    + Hình ảnh hàng tre

    • Trong màn sương trắng, hình ảnh gây ấn tượng nhất đối với tác giả là hàng tre.
    • Từ “hàng tre” được điệp lại hai lần trong khổ thơ gợi lên vẻ đẹp đẽ vô cùng của nó.
    • Phép nhân hóa trong dòng thơ: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” giúp hình ảnh hàng tre hiện lên càng thêm đẹp đẽ vô cùng.

    + Thành ngữ “bão táp mưa sa” nhằm chỉ những khó khăn thử thách của lịch sử dân tộc tộc.

    + Dáng “đứng thẳng hàng” là tinh thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng vô cùng mạnh mẽ.

    Khổ 2: Cảm xúc của nhà thơ trước dòng người vào lăng

    – Hình ảnh vĩ đại khi bước đến gần lăng Bác:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân.

    + Cụm từ chỉ thời gian “ngày ngày” được lặp lại như muốn diễn tả hiện thực đang vận chuyển của thiên nhiên, vạn vật mà sự vận chuyển của mặt trời là một điển hình.

    + Hình ảnh “mặt trời”

    • mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực : mặt trời thiên tạo, là nguồn sáng của vũ trụ, gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống và ánh sáng.
    • mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ sáng tạo và độc đáo : hình ảnh của Bác Hồ vĩ đại. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh của dân tộc ta.

    – Hình ảnh dòng người đang tuần tự tiến vào thăm lăng Bác:

    + Tác giả đã liên tưởng đó là “tràng hoa” được kết từ dòng người đang tuần tự, trang nghiêm bước vào viếng lăng, như đang dâng hương hoa lòng thơm ngát lên Bác kính yêu.

    * Đặc sắc nghệ thuật trong khổ 1, 2

    – Cảm xúc dâng trào, cách diễn đạt thật chân thật, tha thiết

    – Hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ

    – Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp hình ảnh thực với hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng.

    – Hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng vừa quen thuộc, vừa gần gũi với hình ảnh thực, vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm, tạo nên niềm đồng cảm sâu sắc trong lòng người đọc.

    c) Kết bài

    – Đánh giá khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của 2 khổ thơ

    4. Sơ đồ tư duy phân tích 2 khổ đầu Viếng lăng Bác

    Phân tích 2 khổ đầu Viếng lăng Bác để thấy tình cảm thành kính, sâu lắng của Viễn Phương

    Viễn Phương là nhà thơ miền Nam trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam. Thơ của ông bình dị mà trữ tình, mộc mạc chân chất nhưng nhẹ nhàng sâu lắng.

    Tháng 4 năm 1976, lăng Bác được khánh thành, Viễn Phương được ra miền Bắc viếng thăm lăng Bác. Bao cảm xúc yêu thương dồn nén trào dâng thành những vần thơ thành kính trang nghiêm. Bài thơ “Viếng lăng Bác” ra đời ngay sau đó và nhanh chóng đi vào lòng người đọc bởi cảm xúc chân thành, tha thiết của nhà thơ. Trong đó, hai khổ thơ đầu đã bộc lộ tâm trạng nhà thơ khi nhìn thấy hàng tre bên lăng Bác và cảnh vật quanh lăng.

    Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    Ôi, hàng tre xanh xanh Việt Nam

    Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

    Cảm hứng bao trùm trong thơ chính là niềm xúc động thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả từ miền Nam ra viếng thăm lăng Bác. Nguồn cảm hứng ấy chi phối cả giọng điệu của bài thơ: thành kính, suy tư, trầm lắng xen lẫn niềm đau xót, tự hào. Mạch vận động của cảm xúc đi theo trình tự không gian từ xa tới gần. Bài thơ được mở đầu bằng lời tâm sự:

    Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Từ xưng hô “con” trong câu thơ mang đậm chất Nam Bộ, thể hiện tình cảm yêu thương kính trọng của của nhà thơ đối với Bác. Cách xưng hô nghe vừa chân chất mộc mạc lại vừa gần gũi thân tình. Đó là tiếng xưng hô yêu thương không chỉ của nhà thơ mà còn là của nhân dân miền Nam đối với Bác. Trong tâm khảm của mọi người, Bác là một người cha vĩ đại:

    Người là Cha, là Bác, là Anh Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ

    (Tố Hữu)

    Cụm từ “ở miền Nam” gợi lên tình cảm thân thương ruột thịt giữa Bác với đồng bào miền Nam, mảnh đất thành đồng chống Mĩ, nơi Bác bắt đầu bước hành trình đi tìm đường cứu nước:

    Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha

    (Tố Hữu)

    Tự đáy lòng của người con đến thăm cha, Viễn Phương như muốn nói với Bác: Con ở miền Nam… Câu thơ giản dị nhưng bao hàm một ý nghĩa lớn. Trong tim Bác và trong tim miền Bắc, miền Nam luôn luôn là nỗi đau chia cắt, nỗi nhớ thương, là niềm tự hào, là biểu tượng anh hùng, bất khuất, dũng cảm, kiên cường, là thành đồng Tổ Quốc… Giờ đây, nhà thơ mang theo cả niềm tự hào đó của đồng bào miền Nam để đến với Bác. Và hình ảnh đầu tiên tác giả bắt gặp qua màn sương mờ buổi sớm chính là bóng dáng quen thuộc của làng quê:

    “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi, hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

    Hàng tre bát ngát xanh tươi trải rộng bên lăng như những hàng quân canh giữ cho giấc ngủ yên bình của Bác. Hàng tre xanh mộc mạc và bình dị của quê hương được nhà thơ nhấn mạnh:

    Ôi, hàng tre xanh xanh Việt Nam

    Từ cảm thán “Ôi” bộc lộ cảm xúc trào dâng khi bắt gặp hình ảnh thân thiết của quê nhà. Từ gợi tả “xanh xanh” đảo ra phía trước như muốn nhấn mạnh sức sống bền bỉ của quê hương, dân tộc. Màu xanh ấy đã được nhà thơ Nguyễn Duy ca ngợi:

    Tre xanh, xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

    (Tre Việt Nam)

    Quả thật, đi suốt chiều dài của đất nước Việt Nam, từ miền ngược đến miền xuôi, nơi nào ta cũng thấy bóng dáng của làng quê qua hình ảnh hàng tre quen thuộc: ” Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, lũy tre thân mật làng tôi… Đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn ” – (, Thép Mới). Cho nên, giữa muôn ngàn cây và hoa bên lăng Bác, Viễn Phương chọn hình ảnh hàng tre để miêu tả không phải ngẫu nhiên mà là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ.

    Từ màu xanh đầy sức sống của hàng tre, nhà thơ liên hệ đến phẩm chất cao đẹp của con người:

    Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

    Cây tre mộc mạc giản dị là thế, nhưng lại kiên cường bất khuất không hề khuất phục trước bão dông:

    Bão bùng thân bọc lấy thân Tay vươn, tay níu tre gần nhau hơn

    (Tre Việt Nam)

    Phẩm chất của tre gần gũi với phẩm chất của người dân Việt, chân chất bình dị trong cuộc sống lao động, nhưng lại anh hùng bất khuất trong cuộc đấu tranh giải phóng nước nhà. Hòa vào dòng người đang tiến dần đến trước lăng, mạch suy tưởng của nhà thơ tiếp tục dâng trào khi đứng giữa quảng trường Ba Đình rộng lớn:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Ai đã từng viếng lăng Bác mới cảm nhận hết hàm ý ẩn chứa trong hai câu thơ trên của Viễn Phương. Nếu hình ảnh “mặt trời trên lăng” là bút pháp tả thực để chỉ một thực thể trong vũ trụ thì “mặt trời trong lăng” là hình ảnh ẩn dụ để chỉ Bác. Một hình ảnh đối chiếu đầy sáng tạo để ca ngợi sự vĩ đại của Bác Hồ. Mặt trời là nguồn sống của muôn loài vạn vật khi nó mang lại ánh sáng và hơi ấm khắp hành tinh. Bác Hồ kính yêu cũng là người mang lại ánh sáng Cách mạng từ Luận cương của Lênin soi sáng trên bầu trời đêm của những cuộc đời tối tăm, nô lệ.

    Thật ra, việc so sánh Bác với hình ảnh mặt trời không phải là phát hiện mới của Viễn Phương. Trước đây, trong ca dao kháng chiến chúng ta cũng từng bắt gặp cách so sánh tương tự:

    Bác Hồ là vị cha chung Là sao Bắc Đẩu, là vầng Thái Dương

    Nhưng sáng tạo của Viễn Phương chính là hình ảnh “mặt trời trong lăng rất đỏ”, để từ đó khái quát được hình ảnh Bác Hồ vĩ đại biết chừng nào! Cùng với mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ.

    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

    Nhịp thơ chầm chậm như bước chân của dòng người lặng lẽ đi trong suy tưởng, bao trùm một không khí thương nhớ Bác không nguôi, thành kính kết tràng hoa tình yêu dâng bảy mươi chín mùa xuân của Người. “Người ta là hoa của đất”, nhà thơ thật sâu sắc và tinh tế khi tôn quí nhân dân. Mỗi người dân là một bông hoa và dòng người đi trong thương nhớ chính là tràng hoa dâng lên Bác.

    Ngày ngày… ngày ngày…, sự lặp lại của thời gian, cũng là sự lặp lại của lòng thương nhớ. Cứ mỗi ngày mặt trời đi qua trên lăng Bác, thì mỗi ngày dòng người như bất tận lại nối tiếp nhau vào lăng dâng lên Người những đóa hoa đời tươi thắm nhất. Tình cảm của người dân Việt Nam đối với Bác đã trở thành chân lí như vòng tuần hoàn của thời gian.​

    Tóm lại, chỉ qua hai khổ thơ, Viễn Phương đã bộc lộ được cảm xúc trào dâng của mình khi lần đầu tiên được viếng thăm lăng Bác. Những hình ảnh trong thơ được xây dựng bằng rung cảm thiết tha của nhà thơ. Từ đó, tác giả bộc lộ tình cảm chân thành, bình dị mà tha thiết của mình đối với Bác. Đó cũng là tình cảm chung của nhân dân miền Nam dành cho vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

    Một số bài văn tham khảo hay phân tích nội dung khổ 1, 2 bài Viếng lăng Bác

    : Tình cảm của một người con miền Nam lần đầu được gặp Bác

    Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, vị cha già đáng kính của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, sự ra đi của Bác là một sự mất mát to lớn của toàn thể dân tộc. Đã có rất nhiều vần thơ thể hiện lòng nhớ thương của những người con Việt Nam đối với Bác. Tuy là một bài thơ ra đời khá muộn, nhưng “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương vẫn để lại trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng, bởi đó là tình cảm của một người con miền Nam lần đầu được gặp Bác. Toàn bài thơ là một lời tâm sự thiết tha, là nỗi lòng thành kính và tha thiết của một người con miền Nam đối với Bác Hồ.

    Bài thơ được mở đầu như một lời thông báo nhưng dạt dào tình cảm:

    “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

    Từ miền Nam xa xôi, Viễn Phương cùng các chiến sĩ ra thủ đô Hà Nội để thăm lăng Bác. Đây là một cuộc hành hương xa xôi cách trở. Khi đến lăng Bác, nhà thơ bồi hồi xúc động. Câu thơ thể hiện tình cảm thiết tha của một người con miền Nam qua cách xưng hô gần gũi, mang đậm chất Nam Bộ: “Con – Bác”.

    Đứng từ xa ngắm nhìn lăng Bác, hình ảnh hàng tre bát ngát hiện lên trong màn sương huyền ảo của bầu trời Hà Nội. Từ lâu, lũy tre xanh đã trở thành một nét đẹp của làng quê Việt Nam. Tre là người bạn thân thiết, luôn giúp đỡ con người trong mọi công việc: “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”. Nhưng ở đây, hình ảnh hàng tre không chỉ dừng lại ở tầng nghĩa đó, hàng tre ở đây được so sánh ngầm với con người và đất nước Việt Nam. Tre luôn đoàn kết, gắn bó tạo nên một lũy thành kiên cường thách thức gió mưa, giông bão.

    Tre là hình ảnh tượng trưng cho tình đoàn kết, cho khí thái hiên ngang, bất khuất và dũng cảm chiến đấu với kẻ thù của người Việt Nam. Tre luôn đứng thẳng như con người Việt Nam thà chết đứng chứ không chịu sống quỳ. Biểu tượng đẹp đẽ ấy được nhà thơ chọn lọc miêu tả quanh lăng Bác, như cả dân tộc Việt Nam vẫn đang sát cánh bên Bác. Hàng tre Việt Nam ấy, phải chăng là hình ảnh của những người con Việt Nam đang quây quần bên vị cha già đáng kính đang đi vào giấc ngủ an lành? Hình ảnh tượng trưng có ý nghĩa biết bao!

    Tiến gần hơn đến lăng Bác, nhà thơ bắt gặp hình ảnh mặt trời đỏ rực trên lăng:

    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

    Mặt trời rực sáng đem đến sự sống, đem đến ánh sáng tươi đẹp cho trái đất. Nếu mặt trời trong câu thơ thứ nhất là một hình ảnh thực, là một vật thể không thể thiếu của vũ trụ, thì mặt trời trong câu thơ thứ hai lại là một hình ảnh ẩn dụ được nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo. Bác như một vầng thái dương sáng ngời, chiếu rọi ánh sáng cách mạng vào tâm hồn để vực dậy sự sống tươi đẹp cho những con người đắm chìm trong bóng đêm nô lệ. Bác là người đã dẫn dắt con đường cách mạng cho toàn thể dân tộc, đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Vì thế, Bác là một mặt trời vẫn luôn ngời sáng, sưởi ấm cho linh hồn của những người con Việt Nam:

    “Bác sống như trời đất của ta Yêu từng ngọn lúa, mỗi nhành hoa Tự do cho mỗi đời nô lệ Sữa để em thơ, lụa tặng già”

    (Tố Hữu)

    Hình ảnh dòng người vào thăm lăng Bác đã được nhà thơ miêu tả một cách độc đáo và để lại nhiều ấn tượng:

    “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

    Ta nhận thấy cụm từ “ngày ngày” được điệp lại một lần nữa. “Ngày ngày” là sự lặp đi lặp lại, không thay đổi. Điệp lại cụm từ này, có lẽ nhà thơ muốn nhấn mạnh một chân lý. Nếu mỗi ngày mặt trời đi qua trên lăng, tỏa ánh sáng sưởi ấm vạn vật là một điệp khúc không thay đổi của thời gian, thì công ơn của Bác ngự trị trong lòng người dân Việt Nam cũng không phai nhòa theo năm tháng, và hình ảnh dòng người ngày ngày vào viếng lăng Bác cũng đã trở thành một điệp khúc của lòng kính yêu Bác. “Tràng hoa” cũng là một hình ảnh ẩn dụ sáng tạo của nhà thơ. Mỗi người con Việt Nam là một đóa hoa tươi thắm, hàng triệu con người Việt Nam sẽ trở thành một tràng hoa rực rỡ sắc màu dâng lên Bác. Hình ảnh hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” tượng trưng cho bảy mươi chín năm Bác đã cống hiến cuộc đời cho đất nước, cho cách mạng.

    Mỗi tuổi đời của Bác là một mùa xuân tươi đẹp dâng hiến cho Tổ quốc. Và giờ đây, Bác chính là mùa xuân còn dòng người là những đóa hoa tươi thắm. Hoa nở giữa mùa xuân, một hình ảnh đẹp đẽ, ý nghĩa biết bao!

    Sinh thời Hồ Chí Minh vừa là một nhà văn, một nhà thơ vừa là một nhà hoạt động Cách mạng. Sự cống hiến của Người dành cho dân tộc Việt Nam là khôn kể. Chính sự hi sinh độ lượng ấy đã làm nên một Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí hàng triệu người dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế để rồi bức tượng đài hùng vĩ về Người đã dần đi vào thơ ca một cách rất đỗi tự nhiên. Có thi nhân viết về Bác với những công lao vĩ đại, cũng có những thi nhân đi sâu vào ca ngợi tài năng thơ ca, con người Bác còn Viễn Phương lại khác. Ông đã chọn cho mình một cách viết rất riêng. Đó là dòng cảm xúc của một lần tới lăng viếng Bác qua bài thơ “Viếng lăng Bác” mà trong đó hai khổ thơ đầu đã bộc lộ cảm xúc của tác giả lần đầu vào lăng viếng Bác.

    Mở đầu bài thơ như một lời kể rất đỗi tự nhiên:

    “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”

    “Con” – “Bác” cách xưng hô sao mà gần gũi, thân thiết đến thế? Không phải đến đây để viếng mà là để “thăm”. Chữ “thăm” là cách nói giảm, nói tránh vô cùng tinh tế, nó giúp giảm bớt đi sự mất mát, đau thương. Câu thơ mở đầu hướng ta đến với hình ảnh một người con lâu ngày mới có dịp về thăm người cha già kính yêu của mình. Về nơi đây, người con ấy còn thấy:

    “Đã thấy trong sương hàng tre xanh bát ngát Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”

    Ba câu thơ là ba biện pháp nghệ thuật hoàn toàn khác nhau. Từ láy “xanh xanh, bát ngát”, thành ngữ “bão táp mưa sa”, biện pháp nhân hóa “đứng thẳng hàng” đã cùng nhau làm nên cái hồn cho một hàng tre vốn vô hồn. Mỗi câu thơ hiện ra dần hay hơn, có hồn hơn khi đặc tả sức sống gan góc, kiên cường của hàng tre xanh bát ngát một màu. Và ở đây, tre xanh không chỉ còn là loài cây thân thẳng nữa mà nó đã được biến thành biểu tượng tượng trưng cho con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam bất khuất, kiên cường. Ẩn sâu trong ý thơ là niềm tự hào còn xen lẫn cả sự bồi hồi, xúc động.

    Bước sang khổ thơ thứ hai là những hình ảnh hoàn toàn quen thuộc nhưng được diễn tả với một giọng thơ đầy mới lạ:

    “Ngày ngày mặt trời đi qua lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

    Nếu mặt trời trong câu thơ thứ nhất là mặt trời của thiên nhiên, vũ trụ tỏa ánh nắng rực rỡ, chói chang xuống nơi trần gian, ban tặng sự sống đến muôn loài, vạn vật thì mặt trời trong câu thơ tiếp theo lại là hình ảnh ẩn dụ cho Bác. Người là vị cha già vĩ đại của dân tộc, là người dẫn dắt cách mạng Việt Nam cập bến vinh quang. Bác là mặt trời đang ngự trị trong lăng để hàng ngày mặt trời của thiên nhiên, vũ trụ đi qua phải ngắm nhìn mặt trời của dân tộc Việt Nam. Ví Bác như mặt trời nhằm ca ngợi công lao của Bác với dân tộc Việt Nam và Bác vĩnh viễn hóa, bất tử hóa trong lòng người Việt Nam. Bên cạnh hình ảnh mặt trời tráng lệ còn là dòng người nối tiếp:

    “Ngày ngày mặt trời đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

    Với điệp từ “Ngày ngày” kết hợp cùng hai từ “dòng người” đã diễn tả hình ảnh lặp đi lặp lại thường xuyên, liên tục, là sự nối tiếp không dừng lại của đoàn người vào lăng. Và cũng thông qua hai nghệ thuật ẩn dụ và hoán dụ tác giả đã vẽ nên bức tranh dòng người đang lần lượt xếp hàng thành vòng tròn để dâng lên cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân là dâng lên Người những thành quả đã gặt hái được.

    Như vậy xuyên suốt hai khổ thơ là những cảm nhận rất thực và vô cùng tinh tế của Viễn Phương trong một lần vào lăng. Cảm xúc ấy khi thì bồi hồi, xúc động, tự hào, khi lại vô cùng biết ơn, thành kính. Hai khổ thơ cũng đã đưa ta về với hình ảnh rực rỡ của vị cha già vĩ đại, kính yêu ngàn đời còn sống mãi theo năm tháng, theo thời gian.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ 2 Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương Chỉ Ra Giá Trị Thẩm Mĩ Của Nó Trong Mạch Cảm Xúc Bài Thơ Bằng Đoạn Văn 10 Câu Có Sử
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×