Thủ Pháp Ước Lệ Trong Nghệ Thuật Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Ước Lệ Trong Nghệ Thuật
  • Thủ Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Trong Truyện Kiều
  • Biện Pháp Tương Phản, Đối Lập
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Ngăn Chặn ?
  • Thủ pháp ước lệ trong nghệ thuật là gì?

    1. Ước lệ trong văn học nói chung:

    – Trong đời sống xã hội, ước lệ là một qui ước có tính cộng đồng. Ước lệ là một tín hiệu riêng của một cộng đồng khi cảm nhận thực tại, làm cho sự vật và hiện tượng hiện lên đúng với chiều kích qui ước và đúng với cách hiểu của cả cộng đồng.

    – Văn học nghệ thuật mọi thời, mọi dân tộc bao giờ cũng có tính ước lệ. Bởi lẽ, văn học không là phiên bản thu nhỏ của hiện thực đời sống, nhưng bắt nguồn từ mảnh đất thực tại, thanh lọc thực tại qua cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, lăng kính thẩm mỹ của thời đại. Có điều, ước lệ trong văn học là ước lệ thẩm mỹ có tính qui ước của các nhà văn trong một thời đại, một dòng văn học nhất định.

    2. Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam:

    a. Thủ pháp ước lệ, một đặc trưng thi pháp:

    – Văn học trung đại, ước lệ được nhà văn sử dụng triệt để, nghiêm túc và phổ biến. Các nhà văn bao giờ cũng cảm thụ và diễn đạt thế giới bằng hệ thống nghệ thuật ước lệ. Thủ pháp ước lệ đã trở thành một đặc trưng thi pháp của văn học.

    – Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học.

    b. Ba tính chất của thủ pháp ước lệ:

    – Tính uyên bác và cách điệu hóa cao độ.

    – Tính sùng cổ.

    – Tính phi ngã.

    b.1: Tính uyên bác và cách điệu hóa cao đô:

    – Không phải ngẫu nhiên văn học chính thống thời phong kiến được mênh danh là văn chương bác học (Văn học dân gian gọi là văn học bình dân). Gọi như thế, văn chương mang trong mình nó tính bác học. Người sáng tác phải bác học và người tiếp nhận cũng rất bác học. Bởi đây là loại văn chương phòng khách, trà dư tửu hậu.

    – Văn chương chính thống thời phong kiến mang tính qui phạm từ góc độ sáng tác đến thưởng thức. Giới văn học hẹp, chỉ quanh quẩn trong tầng lớp trí thức Hán học tài hoa, tao nhân mặc khách. Trường hợp Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là một thí dụ tiêu biểu. Độc giả của Nguyễn Khuyến là Dương Khuê, nên khi bạn văn mất, nhà thơ như muốn gác bút:

    – Sáng tác trong môi trường ấy, tất nhiên uyên bác có ý nghĩa thẩm mĩ. Người sáng tác cũng như người tiếp nhận đều phải thông thuộc kính sử, điển cố, điển tích; phải có vốn thi liệu, văn liệu phong phú học tập được từ những áng văn bất hủ của người xưa. Văn chương càng uyên bác càng có sức hấp dẫn lớn, có tính nghệ thuật cao.

    (Nguyễn Du)

    Hay:

    (Nguyễn Trãi)

    – Văn chương của tao nhân mặc khách, nên có khuynh hướng lý tưởng hóa, “văn chương hóa”, Các nhà văn, nhà thơ thời ấy muốn tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với thế giới đời thường. Cho nên, thế giới nghệ thuật của các trang văn, trang thơ thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ. Hình tượng nghệ thuật càng cách điệu hóa càng đẹp.

    Vân xem trang trọng khác vời,

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

    Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,

    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Hoặc:

    Kiều càng sắc sảo mặn mà,

    So bề tài sắc vẫn là phần hơn.

    Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,

    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi, trong thơ ca. Trong cái nhìn của các nhà văn và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn ngữ giàu tính cách điệu. Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay tiên, gót sen, vóc hạc,… Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:

    Hài văn lần bước dặm xanh

    Một vùng như thể cây quỳnh cành dao

    Chàng Vương quen mặt ra chào

    Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa

    (Nguyễn Du)

    Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như mai, cúc, tùng, bách, liễu,…

    (Bà Huyện Thanh Quan)

    – Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực. Tả thực nếu có, chỉ dùng cho những nhân vật phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh, Tú bà; Bùi Kiệm, Trịnh Hâm:

    (Nguyễn Du) (Nguyễn Đình Chiểu)

    Người ta quan niệm con người không hoàn thiện, hoàn mĩ bằng tạo hóa, không tài hoa bằng hóa công. Vì thế, những gì cần lý tưởng hóa đều phải được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của con người. Con những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của chúng, mới tả thực.

    – Do quan niệm thời gian phi tuyến tính, nên trong văn chương cổ của dân tộc ta, các nhà văn luôn có xu hướng tìm về quá khứ. Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức. Chân lý quá khứ là chân lý có sức sáng tỏa muôn đời. Vì thế, văn chương thường lấy tiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của cổ nhân, của lịch sử xa xưa

    – Văn học vì vậy mà đầy rẫy những điển tích, điển cố. Mẫu mực của văn chương cũng như vậy. Thơ ca không ai có thể vượt qua những thi thánh, thi thần như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,…

    – Chính vì vậy, các nhà văn đời sau thường “tập cổ” vay mượn văn liệu, thi tứ, hình ảnh nghệ thuật của các nhà thơ, nhà văn đời trước mà không bị đanh giá là “Đạo văn”. Ngược lại, họ được đánh giá là một cây bút đạo đức, sang trọng; tác phẩm của họ rất giàu gía trị.

    – Thời phong kiến, ý thức cá nhân chưa có điều kiện phát triển. Con người chưa bao giờ “sống là mình”. Con người chỉ sống với không gian mà không sống cùng thời gian.

    – Con người được nhìn nhận, đánh giá trên cơ sở của tầng lớp, giai cấp, dòng tộc, địa vị xã hội. Con người chỉ phân thành hai loại: quân tử và tiểu nhân.

    – Chính điều kiện xã hội ấy đã sinh ra hệ thống ước lệ trong văn chương, một ước lệ nghệ thuật có tính phi ngã. Nhà văn cảm thụ và diễn tả thiên nhiên không bằng cái nhìn hữu ngã và bằng ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu do cá nhân mình sáng tạo.

    – Tuy nhiên, nói văn học trung đại có tính phi ngã không có nghĩa trong tác phẩm văn chương không có dấu ấn bản ngã của người nghệ sĩ. Bởi lao động nghệ thuật là một hoạt động sáng tạo; văn học chân chính không chấp nhận công thức, phi ngã. Trong văn học thời trung đại của dân tộc ta, các cây bút lớn đều khẳng định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ. Tiến trình văn học đã khẳng định điều đó. Chúng ta không thể phủ nhận cá tính sáng tạo của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà,… Chỉ có điều, do tính qui phạm nghệ thuật; nên sự khác biệt trong tư tưởng và phong cách nghệ thuật của các cây bút ấy chỉ là những biến thức khác nhau của sự vận dụng những chuẩn mực chung của cộng đồng văn học bấy giờ mà thôi.

    Trong nghệ thuật, ước lệ là sự hiện thực hoá trong sáng tạo thẩm mĩ khả năng biểu đạt cùng một nội dung của nhiều hệ thống kí hiệu bằng những phương tiện cấu trúc khác nhau. Chỉ nên nói về tính ước lệ trong tác phẩm nghệ thuật ở mức mà nhìn chung, chúng ta có thể nói về ngữ nghĩa của các hệ thông kí hiệu được sử dụng trong đó. Có lẽ sử dụng thuật ngữ “hình thức hoá” sẽ phù hợp hơn với nơi mà chủ yếu chỉ có thể bàn về chuyện cú pháp (ví như hội hoạ trừu tượng).

    Một hệ thống biểu đạt mang đặc tính ngữ nghĩa thường được sử dụng trong tác phẩm nghệ nếu có sự tự do rõ nét so với đối tượng được biểu đạt, thì điều đó sẽ cho phép ta nói về tính ước lệ của nó. Hệ thống ấy tất yếu sẽ áp đặt lên nội dung chuyển tải những quy định mà người tiếp nhận tác phẩm không nhận ra, những quy định ấy được anh ta xem là một cái gì vốn dĩ và chúng tựa như có hình thức của những mực thước “tự nhiên”, phi ước lệ. Chẳng hạn, chúng ta không nhận ra tính ước lệ của ranh giới không gian nghệ thuật (khung trong nhà hát, khung của bức tranh), hay tính ước lệ của những hình thức quen thuộc ở hệ thống phối cảnh nào đó trong hội hoạ. Hệt như thế, chúng ta sẽ không thấy có gì “kì lạ” trước những luật lệ, kiểu như: trong hàng loạt trường hợp, diễn viên bị cấm không được phép nghe thấy hay nhìn thấy những gì đang diễn ra trên sân khấu (“bàng thoại”), sự khác biệt giữa thời gian hiện thực và thời gian diễn trò, trình bày những hoạt động cùng diễn ra đồng thời ở những địa điểm khác nhau, hay trình tự thời gian của các cảnh, các chương, các ảnh chụp… Khán giả Trung Hoa không thấy “kì ” khi gắn văn bản thư pháp (viết và in) với văn bản hội hoạ, còn hoạ sĩ thời nguyên thuỷ, khi vẽ tranh lên trên tranh, anh ta chỉ nhìn thấy lớp bề mặt của hình vẽ, trong nhà hát rối Nhật Bản, khán giả nhìn thấy nghệ sĩ điều khiển con rối, nhưng anh ta không để ý tới nghệ sĩ, vì nghệ sĩ được đưa ra ngoài giới hạn của không gian nghệ thuật.

    Tuy nhiên, mọi sự ước lệ sẽ trở nên “kì lạ” với cử toạ đứng bên ngoài một hệ thống nào đó (cử toạ không biết và không hiểu nó). Chẳng hạn, ở thế kỉ XVII, khán giả Trung Hoa sẽ cảm thấy sự kết hợp các các màu sắc mờ ảo ở tranh chân dung nửa tối nửa sáng của châu Âu là kì lạ, trẻ con thường không hiểu vì sao nhìn trực diện thì căn phòng hình chữ nhật, mà nó lại được vẽ ở nửa này hẹp, còn đầu kia lại rộng.

    Bên cạnh những ví dụ về một hệ thống nào đó không chấp nhận do sự thiếu hiểu biết về hệ thống ấy, có thể kể thêm những trường hợp do quá nhấn mạnh tính ước lệ, mà một hệ thống biểu đạt nào đó bị cự tuyệt hoàn toàn (bị xem như là “không đúng”, “không giống”). Mĩ học quy phạm của các thời đại khác nhau đều xuất phát từ ý niệm về một thứ chuẩn mực duy nhất có thể có của loại nghệ thuật “đúng đắn” nào đó, chuẩn mực ấy được nhận thức một cách chủ quan như là mực thước của tư tưởng “lành mạnh”.

    Chủ nghĩa cổ điển nhìn thấy mực thước ấy ở lí trí, chủ nghĩa khai sáng thế kỉ XVIII lại nhìn thấy mực thước trong bản chất của con người. Với quan niệm như thế, “cái đúng” không thể có tính đặc thù: theo Kant, vẻ đẹp “không thể chứa đựng trong bản thân một cái gì đó độc đáo, đặc biệt; nếu khác đi, nó không còn là ý niệm của chuẩn mực”) mới được xem là cái đặc thù, tức là cái ước lệ. Chẳng những thế, tính ước lệ của loại nghệ thuật xa lạ buộc phải xem nó là văn bản viết bằng mật mã, chỉ có thể hiểu nó bằng cách phiên dịch sang một hệ thống quen thuộc.

    Cho nên, nắm vững mức độ ước lệ là phương diện cơ bản của sự hiểu biết nghệ thuật. Mọi sự vi phạm trong lĩnh vực này đều dẫn tới hệ quả của sự “bất tri” mang tính hai mặt theo các khả năng như sau: cái ước lệ được xem là cái hẳn nhiên (tác phẩm nghệ thuật bị đồng nhất với đời sống), hoặc, ngược lại, cái hẳn nhiên (bên trong một hệ thống nào đó) được xem là cái ước lệ (tác phẩm nghệ thuật có vẻ “kì lạ”, hoặc cố ý tỏ ra là “kì lạ” cho tới mức vô nghĩa). Có thể xem ý đồ “xông vào” văn bản tác phẩm, cố ý làm nó biến dạng là ví dụ cho loại thứ nhất về sự thiếu hiểu biết giới hạn ước lệ.

    Bản thân cặp đối lập “tự nhiên – ước lệ” đã ra đời trong thời đại khủng hoảng văn hoá, thời đại của thay đổi quyết liệt, khi người ta nhìn vào một hệ thống từ phía bên ngoài, bằng đôi mắt của hệ thống khác. Cho nên, mới có sự chế định về mặt loại hình – văn hoá đối với sự xuất hiện mang tính chu kì của khát vọng hướng tới nghệ thuật phi chuẩn mực và “kì lạ” (ví như nghệ thuật trẻ thơ, cổ kính, phương xa xứ lạ) nhìn từ giác độ chuẩn mực ước lệ quen thuộc, loại nghệ thuật được xem là “tự nhiên”, còn các hệ thống quan hệ giao tiếp quen thuộc lại trở thành cái “phi chuẩn mực”, “phi tự nhiên”. Cuộc đấu tranh giữa nghệ thuật “hạ đẳng” (của đại chúng) và “thượng đẳng” (bác học) ở thời đại Phục hưng, những cuộc tranh luận về “văn minh” và “tự nhiên” ở thế kì XVIII, việc tìm đến với folklore ở thế kì XIX, vai trò của văn xuôi trong thơ Pushkin và Nhekrasov, những loại hình khác nhau của cái nguyên sơ trong nghệ thuật thế kỉ XX chính là trường hợp như thế. Hơn nữa, khi giữ vai trò cách mạng hoá trong quá trình hình thành chuẩn mực nghệ thuật mới, nghệ thuật “kì lạ”, hay xa lạ, nhìn từ quan điểm của chuẩn mực quy phạm, hoặc có thể bị xem là cái sơ lược, hoặc có thể bị xem là sự phức tạp hoá.

    Việc mở rộng địa bàn văn hoá thường xuyên giữ vai trò giống như những lợi khí: nghệ thuật châu Âu bị cuốn vào thế giới văn hoá của châu Á, hoặc văn hoá châu Á bị hút vào văn minh châu Âu. Bên cạnh sự thâm nhập về mặt không gian văn hoá, có thể diễn ra sự thâm nhập một chiều về mặt thời gian của những nền văn hoá ở các thời đại đã qua, cũng như sự thâm nhập “pha trộn” đủ mọi kiểu khác nhau. Sự thâm nhập của nghệ thuật dân gian vào mĩ học của thế kỉ “văn hoá” là trường hợp có ý nghĩa quan trọng.

    Khác với các hệ thống phi nghệ thuật, nơi cấu trúc ngôn ngữ đã được định sẵn một cách nghiêm nhặt và thông tin chỉ là tin báo, chứ không phải là ngôn ngữ, các hệ thống nghệ thuật có thể chứa đựng trong bản thân thông tin về chính ngôn ngữ. Những kí hiệu “kì lạ” (hiểu theo nghĩa, mang tính ước lệ cao nhất”) giữ vai trò phát đi tín hiệu về việc thông tin được truyền tải bằng một ngôn ngữ đặc biệt. Các kí hiệu được sử dụng trong nghệ thuật mang tính ước lệ với những mức độ khác nhau nhìn từ góc độ của mối liên hệ võ đoán giữa việc sử dụng chúng một cách thông thường bên ngoài nghệ thuật và ý nghĩa mà chúng có được bên trong hệ thống nghệ thuật. Nghệ thuật có thể sử dụng các kí hiệu dưới dạng hoàn bị đã được sáng tạo ra trong một xã hội nào đó (các biểu tượng huyền thoại, các hình tượng văn học có sẵn…), nhưng nó cũng có thể sáng tạo ra các kí hiệu theo cách đặc biệt. Có thể nhập các yếu tố nguyên khởi của kí hiệu vào kí hiệu (chẳng hạn, đưa tư liệu vào văn học và điện ảnh). Các nghệ thuật khác nhau được phân biệt với nhau qua đặc tính ước lệ của chúng. Nghệ thuật tạo hình (thị giác) thiên về sử dụng hình hiệu, trong khi đó các nghệ thuật âm thanh lại thường sử dụng các biểu hiệu.

    Cấp độ chế định của một hệ thống mã hoá nào đó đối với hình hiệu và biểu hiệu là rất khác nhau. Nếu mã với hình hiệu là những thói quen đời sống và sinh hoạt, những ấn tượng thị giác, thính giác mang tính trực tiếp và những ấn tượng tương tự như thế, không thể nhận ra tính ước lệ của chúng trong nội bộ một tập thể nào đó, thì các biểu hiệu, do ở đây bình diện nội dung với bình diện biểu cảm bị chia tách một cách rõ rệt, lại gây ấn tượng đậm nét về tính ước lệ ở các loại mã của chúng. Ngoài ra, hình hiệu có thể trở thành biểu hiệu và ngược lại, chẳng hạn, hình ảnh sinh hạ của nữ hoàng Hatshepsut được thể hiện qua hình hài một đứa bé, còn những gì nói về phụ nữ, lại được giải thích bằng một dòng chữ. Những thời đại nghệ thuật được gọi là ước lệ thường gắn với sự tô đậm tính biểu hiệu của mã.

    Xu hướng ngữ nghĩa hoá những yếu tố hình thức của các hệ thống kí hiệu cũng là một đặc điểm của nghệ thuật. Chẳng hạn, trong bài thơ Cây thông của Heine, đặc tính thuộc hai giống khác nhau thuần tuý về mặt cú pháp của các danh từ tiếng Đức cây “cọ” và cây “thông” đã được diễn giải mang tính nội dung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Bút Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Hãy Lấy Dẫn Chứng Minh Họa Làm Sáng Tỏ Nghệ Thuật Này Qua Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều Của Nguyê
  • Trách Nhiệm Pháp Lý Là Gì?
  • Tư Vấn Pháp Lý Là Gì? Thuê Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Lý Ở Đâu Uy Tín?
  • Khi Cần, Việt Nam Sẵn Sàng Các Biện Pháp Pháp Lý
  • Tiếng Việt Lớp 3 Luyện Từ Và Câu: Nhân Hóa
  • Ước Lệ Trong Nghệ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Trong Truyện Kiều
  • Biện Pháp Tương Phản, Đối Lập
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Ngăn Chặn ?
  • 6 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Trong nghệ thuật, ước lệ là sự hiện thực hoá trong sáng tạo thẩm mĩ khả năng biểu đạt cùng một nội dung của nhiều hệ thống kí hiệu bằng những phương tiện cấu trúc khác nhau. Chỉ nên nói về tính ước lệ trong tác phẩm nghệ thuật ở mức mà nhìn chung, chúng ta có thể nói về ngữ nghĩa của các hệ thông kí hiệu được sử dụng trong đó. Có lẽ sử dụng thuật ngữ “hình thức hoá” sẽ phù hợp hơn với nơi mà chủ yếu chỉ có thể bàn về chuyện cú pháp (ví như hội hoạ trừu tượng). Một hệ thống biểu đạt mang đặc tính ngữ nghĩa thường được sử dụng trong tác phẩm nghệ nếu có sự tự do rõ nét so với đối tượng được biểu đạt, thì điều đó sẽ cho phép ta nói về tính ước lệ của nó. Hệ thống ấy tất yếu sẽ áp đặt lên nội dung chuyển tải những quy định mà người tiếp nhận tác phẩm không nhận ra, những quy định ấy được anh ta xem là một cái gì vốn dĩ và chúng tựa như có hình thức của những mực thước “tự nhiên”, phi ước lệ. Chẳng hạn, chúng ta không nhận ra tính ước lệ của ranh giới không gian nghệ thuật (khung trong nhà hát, khung của bức tranh), hay tính ước lệ của những hình thức quen thuộc ở hệ thống phối cảnh nào đó trong hội hoạ. Hệt như thế, chúng ta sẽ không thấy có gì “kì lạ” trước những luật lệ, kiểu như: trong hàng loạt trường hợp, diễn viên bị cấm không được phép nghe thấy hay nhìn thấy những gì đang diễn ra trên sân khấu (“bàng thoại”), sự khác biệt giữa thời gian hiện thực và thời gian diễn trò, trình bày những hoạt động cùng diễn ra đồng thời ở những địa điểm khác nhau, hay trình tự thời gian của các cảnh, các chương, các ảnh chụp… Khán giả Trung Hoa không thấy “kì ” khi gắn văn bản thư pháp (viết và in) với văn bản hội hoạ, còn hoạ sĩ thời nguyên thuỷ, khi vẽ tranh lên trên tranh, anh ta chỉ nhìn thấy lớp bề mặt của hình vẽ, trong nhà hát rối Nhật Bản, khán giả nhìn thấy nghệ sĩ điều khiển con rối, nhưng anh ta không để ý tới nghệ sĩ, vì nghệ sĩ được đưa ra ngoài giới hạn của không gian nghệ thuật.

    Tuy nhiên, mọi sự ước lệ sẽ trở nên “kì lạ” với cử toạ đứng bên ngoài một hệ thống nào đó (cử toạ không biết và không hiểu nó). Chẳng hạn, ở thế kỉ XVII, khán giả Trung Hoa sẽ cảm thấy sự kết hợp các các màu sắc mờ ảo ở tranh chân dung nửa tối nửa sáng của châu Âu là kì lạ, trẻ con thường không hiểu vì sao nhìn trực diện thì căn phòng hình chữ nhật, mà nó lại được vẽ ở nửa này hẹp, còn đầu kia lại rộng.

    Bên cạnh những ví dụ về một hệ thống nào đó không chấp nhận do sự thiếu hiểu biết về hệ thống ấy, có thể kể thêm những trường hợp do quá nhấn mạnh tính ước lệ, mà một hệ thống biểu đạt nào đó bị cự tuyệt hoàn toàn (bị xem như là “không đúng”, “không giống”). Mĩ học quy phạm của các thời đại khác nhau đều xuất phát từ ý niệm về một thứ chuẩn mực duy nhất có thể có của loại nghệ thuật “đúng đắn” nào đó, chuẩn mực ấy được nhận thức một cách chủ quan như là mực thước của tư tưởng “lành mạnh”. Chủ nghĩa cổ điển nhìn thấy mực thước ấy ở lí trí, chủ nghĩa khai sáng thế kỉ XVIII lại nhìn thấy mực thước trong bản chất của con người. Với quan niệm như thế, “cái đúng” không thể có tính đặc thù: theo Kant, vẻ đẹp “không thể chứa đựng trong bản thân một cái gì đó độc đáo, đặc biệt; nếu khác đi, nó không còn là ý niệm của chuẩn mực”) mới được xem là cái đặc thù, tức là cái ước lệ. Chẳng những thế, tính ước lệ của loại nghệ thuật xa lạ buộc phải xem nó là văn bản viết bằng mật mã, chỉ có thể hiểu nó bằng cách phiên dịch sang một hệ thống quen thuộc.

    Cho nên, nắm vững mức độ ước lệ là phương diện cơ bản của sự hiểu biết nghệ thuật. Mọi sự vi phạm trong lĩnh vực này đều dẫn tới hệ quả của sự “bất tri” mang tính hai mặt theo các khả năng như sau: cái ước lệ được xem là cái hẳn nhiên (tác phẩm nghệ thuật bị đồng nhất với đời sống), hoặc, ngược lại, cái hẳn nhiên (bên trong một hệ thống nào đó) được xem là cái ước lệ (tác phẩm nghệ thuật có vẻ “kì lạ”, hoặc cố ý tỏ ra là “kì lạ” cho tới mức vô nghĩa). Có thể xem ý đồ “xông vào” văn bản tác phẩm, cố ý làm nó biến dạng là ví dụ cho loại thứ nhất về sự thiếu hiểu biết giới hạn ước lệ. Chẳng hạn, ai cũng biết vụ “ám sát” bức tranh Ivan Groznyi và con trai Ivan ngày 16 tháng 11 năm 1581 của Repin (có lẽ, về mặt chủ quan, giống với hành động giết vua), vụ sát hại bức chân dung trong Bức chân dung của Dorian Gray của Oscar Wilde, hoặc các nhà nhân chủng học đều chẳng lạ gì chuyện dùng hình ảnh để điều khiển sự “huỷ hoại” (từ đây, xuất hiện các huý kị tương ứng), cũng như giai thoại lịch sử về việc khán giả ở New Orleans ám sát diễn viên đóng vai nhân vật Othello là điều hoàn toàn có thể giải thích được. Ví dụ về việc không chấp nhận các hệ thống nào đó như những hệ thống ước lệ cũng nhiều vô kể, chẳng hạn: những phát biểu của Santykov-Sedrin về thơ, thái độ phê phán của L. Tostoi với Shakespeare và nhà hát, thái độ giễu nhại của các nhà tư tưởng ở những năm 1860 với ballet, sự phê phán của các nhà lí luận thời Phục hưng với các phương thức mô hình hoá không gian trong hội hoạ trung đại…

    Bản thân cặp đối lập “tự nhiên – ước lệ” đã ra đời trong thời đại khủng hoảng văn hoá, thời đại của thay đổi quyết liệt, khi người ta nhìn vào một hệ thống từ phía bên ngoài, bằng đôi mắt của hệ thống khác. Cho nên, mới có sự chế định về mặt loại hình – văn hoá đối với sự xuất hiện mang tính chu kì của khát vọng hướng tới nghệ thuật phi chuẩn mực và “kì lạ” (ví như nghệ thuật trẻ thơ, cổ kính, phương xa xứ lạ) nhìn từ giác độ chuẩn mực ước lệ quen thuộc, loại nghệ thuật được xem là “tự nhiên”, còn các hệ thống quan hệ giao tiếp quen thuộc lại trở thành cái “phi chuẩn mực”, “phi tự nhiên”. Cuộc đấu tranh giữa nghệ thuật “hạ đẳng” (của đại chúng) và “thượng đẳng” (bác học) ở thời đại Phục hưng, những cuộc tranh luận về “văn minh” và “tự nhiên” ở thế kì XVIII, việc tìm đến với folklore ở thế kì XIX, vai trò của văn xuôi trong thơ Pushkin và Nhekrasov, những loại hình khác nhau của cái nguyên sơ trong nghệ thuật thế kỉ XX chính là trường hợp như thế. Hơn nữa, khi giữ vai trò cách mạng hoá trong quá trình hình thành chuẩn mực nghệ thuật mới, nghệ thuật “kì lạ”, hay xa lạ, nhìn từ quan điểm của chuẩn mực quy phạm, hoặc có thể bị xem là cái sơ lược, hoặc có thể bị xem là sự phức tạp hoá. Việc mở rộng địa bàn văn hoá thường xuyên giữ vai trò giống như những lợi khí: nghệ thuật châu Âu bị cuốn vào thế giới văn hoá của châu Á, hoặc văn hoá châu Á bị hút vào văn minh châu Âu. Bên cạnh sự thâm nhập về mặt không gian văn hoá, có thể diễn ra sự thâm nhập một chiều về mặt thời gian của những nền văn hoá ở các thời đại đã qua, cũng như sự thâm nhập “pha trộn” đủ mọi kiểu khác nhau. Sự thâm nhập của nghệ thuật dân gian vào mĩ học của thế kỉ “văn hoá” là trường hợp có ý nghĩa quan trọng.

    Khác với các hệ thống phi nghệ thuật, nơi cấu trúc ngôn ngữ đã được định sẵn một cách nghiêm nhặt và thông tin chỉ là tin báo, chứ không phải là ngôn ngữ, các hệ thống nghệ thuật có thể chứa đựng trong bản thân thông tin về chính ngôn ngữ. Những kí hiệu “kì lạ” (hiểu theo nghĩa, mang tính ước lệ cao nhất”) giữ vai trò phát đi tín hiệu về việc thông tin được truyền tải bằng một ngôn ngữ đặc biệt. Các kí hiệu được sử dụng trong nghệ thuật mang tính ước lệ với những mức độ khác nhau nhìn từ góc độ của mối liên hệ võ đoán giữa việc sử dụng chúng một cách thông thường bên ngoài nghệ thuật và ý nghĩa mà chúng có được bên trong hệ thống nghệ thuật. Nghệ thuật có thể sử dụng các kí hiệu dưới dạng hoàn bị đã được sáng tạo ra trong một xã hội nào đó (các biểu tượng huyền thoại, các hình tượng văn học có sẵn…), nhưng nó cũng có thể sáng tạo ra các kí hiệu theo cách đặc biệt. Có thể nhập các yếu tố nguyên khởi của kí hiệu vào kí hiệu (chẳng hạn, đưa tư liệu vào văn học và điện ảnh). Các nghệ thuật khác nhau được phân biệt với nhau qua đặc tính ước lệ của chúng. Nghệ thuật tạo hình (thị giác) thiên về sử dụng hình hiệu, trong khi đó các nghệ thuật âm thanh lại thường sử dụng các biểu hiệu.

    Cấp độ chế định của một hệ thống mã hoá nào đó đối với hình hiệu và biểu hiệu là rất khác nhau. Nếu mã với hình hiệu là những thói quen đời sống và sinh hoạt, những ấn tượng thị giác, thính giác mang tính trực tiếp và những ấn tượng tương tự như thế, không thể nhận ra tính ước lệ của chúng trong nội bộ một tập thể nào đó, thì các biểu hiệu, do ở đây bình diện nội dung với bình diện biểu cảm bị chia tách một cách rõ rệt, lại gây ấn tượng đậm nét về tính ước lệ ở các loại mã của chúng. Ngoài ra, hình hiệu có thể trở thành biểu hiệu và ngược lại, chẳng hạn, hình ảnh sinh hạ của nữ hoàng Hatshepsut được thể hiện qua hình hài một đứa bé, còn những gì nói về phụ nữ, lại được giải thích bằng một dòng chữ. Những thời đại nghệ thuật được gọi là ước lệ thường gắn với sự tô đậm tính biểu hiệu của mã.

    Xu hướng ngữ nghĩa hoá những yếu tố hình thức của các hệ thống kí hiệu cũng là một đặc điểm của nghệ thuật. Chẳng hạn, trong bài thơ Cây thông của Heine, đặc tính thuộc hai giống khác nhau thuần tuý về mặt cú pháp của các danh từ tiếng Đức cây “cọ” và cây “thông”[3] đã được diễn giải mang tính nội dung (liên hệ với những cách giải quyết khác nhau đối với vấn đề này của các dịch giả người Nga chúng tôi Lermontov, F.I. Chiuchev, A.N. Maikov).

    [L.V. Serba ( Kinh nghiệm giải thích thơ theo cách ngôn ngữ học. II. Cây thông của Lermontov trong sự đối sánh với nguyên bản tiếng Đức//”Ngôn ngữ học xô viết”, chúng tôi Viện ngôn ngữ học Leningrad,1936) viết: Duchesne gọi bản dịch của Lermontov là chính xác, và quả là nó rất chính xác, xét từ quan điểm hình thức. Sau này, theo cách phân tích ngôn ngữ học hết sức chi tiết, tôi cố gắng chỉ ra, rằng bài thơ của Lermonov, tuy rất tuyệt vời, nhưng là một vở diễn độc lập, khác xa với quasi – nguyên bản của nó:

    Ein Fichtenbaum steht einsam

    Im Norden auf kahler Höh!

    Ihn schläfert, mit weisser Decke

    Umhüllen ihn Eis und Schnee.

    Er träumt von einer Palme,

    Die fern im Morgenland

    Einsam und schweigend trauert

    Auf brennender Felsenwand.

    Ở miền Bắc hoang vu đơn độc

    Trên đỉnh cao trơ trọi một cây thông

    Đung đưa, mơ màng, nàng khoác lên mình

    Bộ lễ phục bằng tuyết mịn.

    Nàng mơ thấy một hoang mạc xa xôi

    Nơi hàng ngày, mặt trời thức dậy

    Một cây cọ tuyệt trần vươn thẳng

    Trên mỏm đá cheo leo buồn bã một mình.

    Người dịch: Lã Nguyên

    Nguồn: Лотман Ю. М. Об искусстве. СПб: “Искусство – СПб”, 2000.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Pháp Ước Lệ Trong Nghệ Thuật Là Gì?
  • Thế Nào Là Bút Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Hãy Lấy Dẫn Chứng Minh Họa Làm Sáng Tỏ Nghệ Thuật Này Qua Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều Của Nguyê
  • Trách Nhiệm Pháp Lý Là Gì?
  • Tư Vấn Pháp Lý Là Gì? Thuê Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Lý Ở Đâu Uy Tín?
  • Khi Cần, Việt Nam Sẵn Sàng Các Biện Pháp Pháp Lý
  • Thủ Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Trong Truyện Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tương Phản, Đối Lập
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Biện Pháp Ngăn Chặn Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Ngăn Chặn ?
  • 6 Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hủy Bỏ Hoặc Thay Thế Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Ước lệ: Là biện pháp diễn đạt bằng hình ảnh có tính chất qui ước thường được dùng trong văn chương cổ.

    Tượng trưng: Là biện pháp diễn đạt cái trừu tượng bằng một hình ảnh cụ thể thường lấy từ cây cỏ, chim muông.

    Ví dụ: Hình ảnh cây trúc tượng trưng cho người quân tử, cây tùng tượng trưng cho nhân cách cứng cỏi, vững vàng, tuyết tượng trưng cho tâm hồn trong sáng,…

    Ước lệ và tượng trưng giống nhau ở chỗ cả hai đều là hình ảnh ẩn dụ và khác nhau ở chỗ tượng trưng là một hình ảnh hoàn chỉnh, ước lệ phần nhiều chỉ là một chi tiết của hình tượng.

    Hình ảnh ước lệ tượng trưng là sáng tạo nghệ thuật của mĩ học phong kiến, nó có giá trị thẩm mĩ nhất định. Người xưa dùng hình ảnh cây thông (tùng) bốn mùa có tán lá xanh tươi, quanh năm đứng vững chãi trên dốc núi cheo leo bất chấp bão bùng sương tuyết để tượng trưng cho nhân cách cứng cỏi, có bản lĩnh vững vàng, có khí phách hiên ngang không nghiêng ngả trước uy quyền danh lợi.

    Hay hình ảnh hoa dưới nhiều dạng: hoa cười, hoa rơi, hoa tàn, hoa xưa,…để miêu tả người đẹp, sắc đẹp, tình yêu nam nữ,…đó là những sáng tạo nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ.

    Phương pháp nghệ thuật cổ không miêu tả hiện thực theo dạng tả chân thực, theo thẩm mĩ văn học cổ dùng hình ảnh ước lệ tượng trưng đem lại cho lời văn lời thơ trang nhã, bóng bẩy, súc tích.

    Ví dụ: Trong “Chinh phụ ngâm”, tác giả miêu tả cảnh đêm người chinh phụ nhớ chồng, khi là cảnh đêm có sương, có mưa (Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun) khi là cảnh đêm có tuyết rơi (Tuyết tiêu gió thốc ngoài hiên) khi là đêm có trăng, hoa (Trăng dãi nguyệt, nguyệt in một tấm. Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông),…

    Tác giả không tả một đêm cụ thể nào của thời gian và không gian xác định mà tả cái đêm “tổng hợp” của bao nhiêu đêm người chinh phụ đã trải qua. Tuy tác giả không vẽ ra trước mắt chúng ta một đêm cụ thể nào nhưng cái cảm giác duy trì các hình ảnh gợi ra cho người đọc là nỗi lòng nhớ chồng đau đáu, thiết tha, thấm thía của người chinh phụ.

    Song bên cạnh đó ước lệ tượng trưng được sử dụng một cách sáo mòn, công thức làm cho câu văn, câu thơ rơi vào tình trạng nặng về hình thức, nghèo nàn về nội dung.

    Nghệ thuật dùng hình ảnh ước lệ tượng trưng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

    Với những hình ảnh ước lệ tượng trưng quen thuộc nhưng Nguyễn Du đã chọn lọc một cách tài tình miêu tả được những bức chân dung với nhiều vẻ đẹp khác nhau để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

    Khi tả chị em Thuý Kiều:

    “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”.

    Dáng vẻ của họ thanh tú như cây mai, tâm hồn trong trắng như tuyết

    – Tả Thuý Vân: “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhương màu da”

    Qua nhiều hình ảnh ước lệ “khuôn trăng”, nét ngài” hay “ngọc”, “mây”, “tuyết” ta không kể hết được tỉ mỉ nhan sắc Thuý Vân nhưng ta biết được nhan sắc ấy rất tuyệt trần. Vẻ đẹp “trang trọng, dầy đặn” “nở nang, đoan trang”, “mây thua, tuyết nhường” luôn tạo cho mọi người xung quanh một tình cảm yêu mến, độ lượng . Vân hiện lên với chân dung một cô gái đoan trang, phúc hậu.

    – Tả Thuý Kiều: “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn

    Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.

    Nguyễn Du cũng dùng những hình ảnh ước lệ quen thuộc “làn thu thuỷ”, “nét xuân sơn” để chỉ ánh mắt, lông mày. Tuy vậy với những hình ảnh “hoa ghen, liễu hờn” nhà thơ đã cho thấy nhan sắc Thuý Kiều thuộc loại nhan sắc độc đáo kì lạ, vượt lên sự bình thường. Vẻ đẹp “sắc sảo, mặn mà”.

    – Tả Từ Hải: “Râu hùm hàm én mày ngài

    Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”.

    Cách nói ước lệ “râu hùm”, “hàm én”, “mày ngài” để miêu tả vẻ đẹp đường bệ, uy nghi, phi thường của một nhân vật anh hùng, hiệp sĩ

    Nguyễn Du đã sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ với nhiều biện pháp linh hoạt sáng tạo nên không sáo mòn, người đọc không thấy nhàm.

    – Dùng nhiều từ khác nhau; tả giọt nước mắt người đẹp Thuý Kiều:

    + Giọt châu (Giọt châu lã chã khôn cầu)

    + Giọt hồng (Nhìn càng lã chã giọt hồng)

    + Giọt lệ (Rưới xin giọt lệ cho người thác oan)

    + Giọt ngọc (Nàng càng giọt ngọc như chan)…

    – Ghép từ ứơc lệ với ngôn ngữ dân gian, tách ra thành những tiểu đối tạo nên cách diễn đạt sinh động:

    + Hoa thải, hương thừa.

    + Hoa trôi bèo dạt.

    + Nước chảy hoa trôi.

    – Kết hợp hình ảnh ước lệ với ngôn ngữ dân gian tạo nên cách diễn đạt giàu sức biểu cảm: Hoa ghen liễu hờn

    Mây thua, tuyết nhường.

    – Kết hợp hình ảnh ước lệ với nhân hoá, thậm xưng:

    Hoa cười, ngọc thốt

    Hoa ghen, liễu hớn

    Mây thua, tuyết nhường.

    Ước lệ tượng trưng là một đặc điểm của nghệ thuật thơ văn cổ. Đó là cách diễn đạt theo qui ước, khuôn mẫu có sẵn làm cho lời thơ, lời văn thêm tao nhã, thâm thuý. Các nhà thơ cổ đặc biệt là Nguyễn Du là người đã có nhiều sáng tạo trong thủ pháp này.

    Nguyễn Thị Bích Vân @ 21:32 29/09/2015

    Số lượt xem: 32582

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ước Lệ Trong Nghệ Thuật
  • Thủ Pháp Ước Lệ Trong Nghệ Thuật Là Gì?
  • Thế Nào Là Bút Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Hãy Lấy Dẫn Chứng Minh Họa Làm Sáng Tỏ Nghệ Thuật Này Qua Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều Của Nguyê
  • Trách Nhiệm Pháp Lý Là Gì?
  • Tư Vấn Pháp Lý Là Gì? Thuê Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Lý Ở Đâu Uy Tín?
  • Tính Ước Lệ, Tượng Trưng Trong Văn Học Nghệ Thuật

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Tnhh Môi Trường Thăng Long
  • Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tỷ Giá
  • Từ Đồng Nghĩa, Trái Nghĩa
  • Điểm Mới Về Các Biện Pháp Ngăn Chặn Trong Bltths 2022
  • Luận Văn: Thời Hạn Của Các Biện Pháp Ngăn Chặn Theo Luật, Hay
  • Ước lệ là gì?

    Ước lệ là cách quy ước biểu trưng trong biểu hiện nghệ thuật. Hiểu đơn giản, ước lệ là quy ước về chuẩn mực so sánh giữa các sự vật hiện tượng nhằm tạo ra một cách hiểu chung nào đó trong văn học nghệ thuật và trong đời sống.

    Tượng trưng là gì?

    Tượng trưng là dùng một hình tượng cụ thể đặc định để biểu hiện một khái niệm, tư tưởng hoặc tình cảm tương tự. Tượng trưng thường mang tính trừu tượng.

    Tính ước lệ tượng trưng trong văn học nghệ thuật.

    Bút pháp ước lệ tượng trưng là cách sử dụng những quy ước trong biểu hiện nghệ thuật như dùng hình tượng thiên nhiên đẹp: “trăng”,”hoa”,”ngọc”,”tuyết”… để nói về vẻ đẹp của con người. Thủ pháp ước lệ tượng trưng nghiêng về nghệ thuật gợi, tác động tới người đọc thông qua sự phán đoán,trí tưởng tượng chứ không miêu tả cụ thể, tỉ mỉ.

    Trong văn học nghệ thuật, ước lệ là sự hiện thực hoá trong sáng tạo thẩm mĩ khả năng biểu đạt cùng một nội dung của nhiều hệ thống kí hiệu bằng những phương tiện cấu trúc khác nhau. Chỉ nên nói về tính ước lệ trong tác phẩm nghệ thuật ở mức mà nhìn chung, chúng ta có thể nói về ngữ nghĩa của các hệ thông kí hiệu được sử dụng trong đó.

    Có lẽ sử dụng thuật ngữ “hình thức hoá” sẽ phù hợp hơn với nơi mà chủ yếu chỉ có thể bàn về chuyện cú pháp (ví như hội hoạ trừu tượng). Một hệ thống biểu đạt mang đặc tính ngữ nghĩa thường được sử dụng trong tác phẩm nghệ nếu có sự tự do rõ nét so với đối tượng được biểu đạt, thì điều đó sẽ cho phép ta nói về tính ước lệ tượng trưng của nó. Hệ thống ấy tất yếu sẽ áp đặt lên nội dung chuyển tải những quy định mà người tiếp nhận tác phẩm không nhận ra, những quy định ấy được anh ta xem là một cái gì vốn dĩ và chúng tựa như có hình thức của những mực thước “tự nhiên”, phi ước lệ. Chẳng hạn, chúng ta không nhận ra tính ước lệ của ranh giới không gian nghệ thuật (khung trong nhà hát, khung của bức tranh), hay tính ước lệ của những hình thức quen thuộc ở hệ thống phối cảnh nào đó trong hội hoạ.

    Tương tự như thế, chúng ta sẽ không thấy có gì “kì lạ” trước những luật lệ, kiểu như: trong hàng loạt trường hợp, diễn viên bị cấm không được phép nghe thấy hay nhìn thấy những gì đang diễn ra trên sân khấu (“bàng thoại”), sự khác biệt giữa thời gian hiện thực và thời gian diễn trò, trình bày những hoạt động cùng diễn ra đồng thời ở những địa điểm khác nhau, hay trình tự thời gian của các cảnh, các chương, các ảnh chụp…

    Đọc giả không thấy “kì ” khi gắn văn bản thư pháp (viết và in) với văn bản hội hoạ, còn hoạ sĩ thời nguyên thuỷ, khi vẽ tranh lên trên tranh, anh ta chỉ nhìn thấy lớp bề mặt của hình vẽ, trong nhà hát rối Nhật Bản, khán giả nhìn thấy nghệ sĩ điều khiển con rối, nhưng anh ta không để ý tới nghệ sĩ, vì nghệ sĩ được đưa ra ngoài giới hạn của không gian nghệ thuật.

    Tuy nhiên, mọi sự ước lệ tượng trưng sẽ trở nên “kì lạ” với cử toạ đứng bên ngoài một hệ thống nào đó (cử toạ không biết và không hiểu nó). Chẳng hạn, ở thế kỉ XVII, khán giả Trung Hoa sẽ cảm thấy sự kết hợp các các màu sắc mờ ảo ở tranh chân dung nửa tối nửa sáng của châu Âu là kì lạ, trẻ con thường không hiểu vì sao nhìn trực diện thì căn phòng hình chữ nhật, mà nó lại được vẽ ở nửa này hẹp, còn đầu kia lại rộng.

    Bên cạnh những ví dụ về một hệ thống nào đó không chấp nhận do sự thiếu hiểu biết về hệ thống các hình ảnh ước lệ tượng trưng, có thể kể thêm những trường hợp do quá nhấn mạnh tính ước lệ, mà một hệ thống biểu đạt nào đó bị cự tuyệt hoàn toàn (bị xem như là “không đúng”, “không giống”). Mĩ học quy phạm của các thời đại khác nhau đều xuất phát từ ý niệm về một thứ chuẩn mực duy nhất có thể có của loại nghệ thuật “đúng đắn” nào đó, chuẩn mực ấy được nhận thức một cách chủ quan như là mực thước của tư tưởng “lành mạnh”.

    Chủ nghĩa cổ điển nhìn thấy mực thước ấy ở lí trí, chủ nghĩa khai sáng thế kỉ XVIII lại nhìn thấy mực thước trong bản chất của con người. Với quan niệm như thế, “cái đúng” không thể có tính đặc thù: theo Kant, vẻ đẹp “không thể chứa đựng trong bản thân một cái gì đó độc đáo, đặc biệt; nếu khác đi, nó không còn là ý niệm của chuẩn mực” đã được diễn giải mang tính nội dung (liên hệ với những cách giải quyết khác nhau đối với vấn đề này của các dịch giả người Nga chúng tôi Lermontov, F.I. Chiuchev, A.N. Maikov).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Bàn Về Các Biện Pháp Phòng Ngừa Hành Chính
  • Nêu Các Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Nêu Định Nghĩa Về Ẩn Dụ Cách Thức, Hình Thức, Phẩm Chất, Chuyển Đổi Cảm Giác
  • Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả Trong Lĩnh Vực Tài Nguyên, Khoáng Sản
  • Khai Thác Và Sử Dụng Bền Vững Tài Nguyên Khoáng Sản
  • Phân Tích Bút Pháp Ước Lệ Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều

    --- Bài mới hơn ---

  • Căn Cứ Áp Dụng Biện Pháp Ngăn Chặn Thay Thế Tạm Giam Theo Qui Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Trong Pháp Luật, “bảo Lãnh” Khác “bảo Lĩnh” Ra Sao?
  • Bảo Lĩnh Là Gì? Quy Định Của Pháp Luật Về Bảo Lĩnh
  • Hình Thức Quản Lý Nhà Nước Theo Pháp Luật Hành Chính
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Quản Lý Ngoại Thương Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Phân tích bút pháp ước lệ trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”

    • Mở bài:

    Quan niệm về cái đẹp của người xưa chính là cơ sở thẩm mỹ của tính ước lệ trong văn chương trung đại. Thời trung đại, con người có tinh thần sùng cổ và quan niệm rằng ở  người xưa có những lý tưởng thẩm mỹ không thể nào đạt tới. Những gì cao đẹp của người xưa đều đạt đến chuẩn mực, đáng tôn thờ, học hỏi. Vì vậy, nắm bắt cái xưa, phục cổ đã trở thành một thói quen, một khuôn sáo cho nếp nghĩ, cách sống của con người thời trung đại. Tính ước lệ trong văn thơ bắt đầu từ đó.

    • Thân bài:

    Bút pháp ước lệ là thủ pháp nghệ thuật miêu tả có tính quy ước biểu trưng, có tính chất khuôn mẫu trong biểu hiện nghệ thuật. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng không thể vượt khỏi ảnh hưởng của đặc trưng thi pháp ấy. Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” thể hiện rất rõ đặc điểm ấy.

    Đoạn trích là những vần thơ tuyệt bút, là bức tranh con người được vẽ bằng ngôn ngữ Tiếng Việt đạt đến mức hoàn chỉnh. Chỉ 24 câu thơ lục bát Tố Như đã miêu tả trọn vẹn và hoàn hảo tài năng, sắc đẹp, đức hạnh của chị em Thuý Kiều, Thuý Vân, hai tuyệt thế giai nhân, bằng tất cả tấm lòng cảm mến và sự nâng niu, trân trọng.

    Nói đoạn thơ là bức tranh, bởi lẽ ngôn từ trong văn bản không chỉ tác động đến cảm xúc, mà nó còn gợi nên hình ảnh sống động về con người một cách rõ nét. Gấp trang sách lại, người đọc hình dung được Thuý Kiều, Thuý Vân từ dáng vẻ bên ngoài đến tâm hồn bên trong.

    Trong họa pháp cổ điển, chuẩn mực của nghệ thuật cốt ở cái tinh. Cho nên nhà họa sĩ thường chú trọng đến cái thần của tác phẩm. Khi vẽ rồng nhất định chú ý đến đôi mắt, vẽ mùa thu nhất thiết phải có lá vàng… Người xưa lấy thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp. Cái đẹp của thiên nhiên vượt lên mọi giới hạn, bất biến với thời gia, là cơ sở để con người nghĩ về cái đẹp, nói về cái đẹp.

    Nguyễn Du tả Thuý Kiều, Thuý Vân trên cơ sở bút pháp ước lệ cổ điển nhưng được soi chiếu và trình diễn đạt đến độ vi diệu. Chất liệu của nó không phải là màu sắc và âm thanh mà bằng ngôn từ. Qua bàn tay tài hoa của Nguyễn Du ta có cảm giác các con chữ vừa được đánh bóng lại và thổi vào đó sức sống mới.

    Bốn câu thơ đầu là lời giới thiệu, khái quát chung về hai cô gái đầu lòng của nhà Viên ngoại họ Vương:

    “Đầu lòng hai ả tố nga

    Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.

    Mai cốt cách, tuyết tinh thần,

    Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười”.

    Hình ảnh mang ý nghĩa ước lệ, tượng trưng, kết hợp với phép ẩn dụ: hai nàng có “cốt cách” thanh cao như mai, “tinh thần” trong trắng như tuyết. Miêu tả như thế cho thấy sự nâng niu, quý trọng của nhà thơ với các nhân vật. Họ đẹp một cách lộng lẫy, đẹp “mười phân vẹn mười”. Thật khó để nói được vẻ đẹp riêng của hai ả tố nga nhà họ Vương. Chỉ có thể nói là vẻ đẹp của họ đã đạt đến bực hoàn hảo.

    Nếu quan niệm đoạn trích là một bức tranh, thì đây là phần nền của hai bức chân dung chị em Thuý Kiều. Chưa tả nhưng hai nàng hiện lên thật nổi bật. Đó là cái tài đặc biệt của Nguyễn Du: giới thiệu nhưng mang yếu tố tả, kể nhưng như vẽ.

    Trên cái phong nền ấy đại thi hào lần lượt cho các nhân vật của mình xuất hiện hết sức tự nhiên, đầy thần thái. Sau lời giới thiệu chung, là bức chân dung của Thuý Vân :

    “Vân xem trang trọng khác vời,

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.

    Hoa cười, ngọc thốt đoan trang,

    Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.

    Vẫn bút pháp ước lệ, kết hợp với hệ thống từ ngữ chọn lọc, Thuý Vân hiện lên với những gì đẹp đẽ nhất, đặc sắc nhất, thiêng liêng nhất của tinh hoa đất trời: Hoa, trăng, ngọc, mây, tuyết. Đó là sự quy tụ của vẻ đẹp trời đất, của thiên nhiên. Đó cũng là chuẩn của vẻ đẹp con người cần hướng đến trong thi pháp văn học trung đại. Mỗi câu thơ, là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân. Cử chỉ, dáng đi đứng rất trang trọng, quý phái. Cách xử sự rất đúng mực, đoan trang. Đây là vẻ đẹp toàn bích của một thiếu nữ trong sáng, dịu hiền, không vướng một chút bụi trần.

    Tác giả miêu tả khuôn mặt của Thuý Vân đầy đặn, sáng trong như khuôn trăng tròn vành vạnh. Tiếng nói trong như ngọc. Miệng cười tươi như hoa. Tóc mềm bóng mượt đến nỗi “mây thua”. Da trắng làm cho tuyết phải “nhường”. Rõ ràng, ở nàng Vân là cái đẹp phúc hậu, đoan trang, cái đẹp chinh phục được xung quanh.

    Nhưng nhà họa sĩ hình như không dụng công nhiều trong miêu tả Thuý Vân . Bút lực của ông chủ yếu khắc họa cho nhân vật Thuý Kiều . Tưởng Vân là một trang quốc sắc thiên hương không ai sánh kịp nữa, nào ngờ đâu, sau đó Thuý Kiều xuất hiện thì Thuý Vân chỉ làm nền tôn thêm vẻ đẹp của Kiều. Bằng cách tạo dựng tình huống theo kiểu đòn bẫy, Nguyễn Du chứng tỏ mình là bậc thầy trong việc miêu tả nhân vật. Thuý Vân đã đẹp đến mức thiên nhiên cũng nhường bước nhưng Kiều còn đẹp hơn thế:

    “Kiều càng sắc sảo mặn mà,

    So bề tài sắc lại là phần hơn.

    Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,

    Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.

    Nếu vẻ đẹp của Vân là thuần phác, dịu hiền, đằm thắm, thì Kiều hiện lên với sự sắc sảo, mặn mà hiếm có. Vẻ đẹp này rất đài các, kiêu sa. Nó không thuộc về đời thường, chỉ để dành chiêm ngưỡng, ngước nhìn mà thôi. Khi miêu tả Thuý Kiều, theo tôi tác giả đặc tả đôi mắt. Người ta thường nói : đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn là vì nói đến đôi mắt là nói đến thế giới quan, nhân sinh quan của con người. Mắt đẹp là tự thân mang vẻ đẹp của tâm hồn. Cái thần của bức chân dung Thuý Kiều nằm ở chỗ này. Người đọc truyện Kiều tinh ý sẽ thấy được, Nguyễn Du không chú ý tả vẻ đẹp hình thức của Thuý Kiều. Ông chỉ dùng hai hình ảnh có giá trị biểu trưng : làn thu thuỷ, nét xuân sơn. Mắt nàng Kiều xanh trong như nước mùa thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa xuân. Thế là đủ cho một tuyệt sắc. Trong nhân tướng học Trung Hoa, phàm ai có đôi mắt vậy thì rất đa đoan và nặng tình. Chính “làn thu thủy” ấy đã dự cảm cho số phận nghiệt ngã của nàng Kiều trong suốt 15 năm trời lưu lạc sau này.

    Nói vậy, bởi quan sát kĩ chân dung hai chị em Thuý Kiều, tôi thấy hình như khi tả Thuý Vân, Nguyễn Du không hề miêu tả đôi mắt. Đây là điểm nhấn quan trọng để thấy dụng ý xây dựng nhân vật, tài năng của nhà thơ. Sách giáo khoa và nhiều tài liệu cho rằng “ nét ngài” trong câu tả Thuý Vân “ Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” là nói đến đôi lông mày đậm, thanh tú như con bướm tằm. Rõ ràng, “ngài” ở đây là người . “Nét ngài nở nang” là muốn nói bề ngoài của Vân đẫy đà, căng tràn sức sống. Điều này phù hợp với quan niệm của cụ Nguyễn Du với thuyết tướng pháp. Sự đầy đặn về ngoại hình của Thuý Vân cũng như định báo trước một cuộc đời mĩ mãn , bằng phẳng “ Phong lưu phú quý ai bì”.

    Chính vì điều đó, nên vẻ đẹp của Thuý Kiều không bình thường chút nào, đẹp đến mức “hoa ghen”, “liễu hờn”. Thế thì không cần nói nhiều, người đọc cũng có thể thấy được sự khác biệt trong nét vẽ của cụ Nguyễn Tiên Điền với hai nhân vật chính của thiên truyện bất hủ này.

    Miêu tả Thuý Vân với chỉ 4 câu thơ, song nói về Thuý Kiều tác giả dành 12 câu để nói về tài sắc của nàng. Nhà thơ dùng nhiều câu kiến trúc theo lối tiểu đối nhằm khắc họa nhân vật đạt mức độ tới hạn của vẻ đẹp :

    “Thông minh vốn sẵn tính trời,

    Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

    Cung thương lầu bậc ngũ âm,

    Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.

    Khúc nhà tay lựa nên chương,

    Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.

    Các từ ngữ tả Kiều đã được tuyệt đối hoá: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, đòi một, họa hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân. Hình ảnh thơ đối chọi với nhau đã tạo nên nhịp thơ trang trọng, càng tôn thêm vẻ đẹp của nàng Kiều .

    Nàng không chỉ đẹp về hình thức mà nàng còn hội tụ vẻ đẹp của sự thông minh “vốn sẵn tính trời”, cho nên các môn nghệ thuật : cầm, kì, thi, họa nàng rất sành điệu, điêu luyện “lầu bậc”, “ăn đứt” thiên hạ. Theo tôi, không những thiên nhiên “ghen”, “hờn” mà trước tài năng của nàng loài người cũng khó chấp nhận, Kiều phải lâm vào kiếp đoạn trường như là một điều dễ hiểu. Các cụ xưa đã dạy chẳng sai chút nào:

    “Một vừa hai phải ai ơi,

    Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”.

    Chính Nguyễn Du cũng phải thừa nhận sắc, tài sẽ là ngọn roi quất xuống đời Kiều, làm cho nàng bầm dập, đớn đau không tránh khỏi những lụy hệ cuộc đời :

    “Thuý Kiều sắc sảo khôn ngoan ,

    Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.

    Lại mang lấy một chữ tình,

    Khư khư mình buộc với mình vào trong”.

    Thiên lý “ bỉ sắc tư phong” như định sẵn ,chờ chực để đọa đày , vùi dập Kiều dù rằng nàng là một trang quốc sắc thiên hương , vừa có sắc – tài – tình – mệnh theo quan niệm của Tố Như :

    “Có đâu thiên vị người nào.

    Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai”.

    Như vậy, khi tả Thuý Kiều Nguyễn Du không chỉ nói đến nhan sắc khuynh nước khuynh thành, tài hoa trí tuệ, mà còn nói đến trái tim đa sầu đa cảm, tâm hồn vô cùng phong phú của nàng. Chính cung đàn bạc mệnh do Kiều soạn là tiếng lòng của nàng, trong đó có sự thương cảm sâu sắc của nhà thơ làm rung động đến tất cả mọi nhân vật trong truyện, kể cả tên mặt sắt Hồ Tôn Hiến. Dưới ngòi bút thiên tài Tố Như, Kiều càng đẹp bao nhiêu, có tài, có tình bao nhiêu thì số phận nàng càng oan nghiệt bấy nhiêu . Đứng trước chân dung của Thuý Kiều, nhà thơ Chế Lan Viên đã thổn thức xót xa :

    “Chạnh thương cô Kiều như cuộc đời dân tộc

    Sắc tài sao mà lắm truân chuyên

    Bỗng quý Kiều như cuộc đời dân tộc

    Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường”.

    • Kết bài:

    Miêu tả nhân vật là một trong những biệt tài của Nguyễn Du. Có lẽ ngàn năm sau cũng chưa nói hết cái hay, cái đẹp ngòi bút của đại thi hào. Chúng ta chỉ biết rằng, tài năng của nhà thơ trong việc khắc họa chân dung nhân vật như một giếng nước trong càng khơi càng trào ra những dòng nước mát ngọt ngào. Hy vọng rằng, với những suy nghĩ còn nông cạn trên, bạn đọc sẽ tìm được những điều bổ ích, dẫu rằng nó có thể “mua vui cũng được một vài trống canh”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Kỹ Thuật Lâm Sinh Và Công Tác Cải Thiện Giống Cho Rừng Trồng Keo Cung Cấp Gỗ Xẻ
  • Cưỡng Chế Hành Chính: Khái Niệm Và Đặc Điểm
  • Làm Gì Để Bảo Vệ Sức Khỏe Khỏi Ô Nhiễm Không Khí?
  • Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Là Gì?
  • Các Phương Thức Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ
  • Độ Lọc Cầu Thận Ước Tính (Egfr) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thăm Dò Chức Năng Thận
  • Xét Nghiệm Thăm Dò Chức Năng Thận
  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Dòng Máu Thận
  • Phương Pháp Đánh Giá Chức Năng Thận Ở Phụ Nữ Có Thai
  • Chỉ Số Xét Nghiệm Creatinine Đánh Giá Chức Năng Thận
  • Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Ngọc Hùng – Trưởng khoa Xét nghiệm – Bác sĩ vi sinh – Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

    Bệnh thận còn diễn biến rất âm thầm, đến khi phát hiện thì tình trạng bệnh đã nguy kịch. Cách tốt nhất để đánh giá chức năng thận và phát hiện sớm các bệnh về thận là thực hiện đánh giá độ lọc cầu thận ước tính (eGFR).

    1. Độ lọc cầu thận ước tính – eGFR là gì?

    Độ lọc cầu thận GFR (Glomerular filtration rate) là đại lượng phản ảnh số lượng máu được lọc lọc bởi các quản cầu thận trong mỗi phút. Thông qua việc đo mức độ creatinin trong máu rồi tính toán một con số phản ánh về hoạt động hiện tại của thận, ta cũng được độ lọc cầu thận ước tính eGFR (estimated GFR). Khi chức năng thận của một người bị suy giảm do tổn thương hoặc bệnh thận, độ lọc cầu thận giảm thì các chất thải bị tích tụ trong cơ thể và tăng lên trong máu. Ngược lại độ lọc cầu thận càng cao thì thận làm việc càng tốt. Độ lọc thông thường của cầu thận là khoảng 90-100 ml/phút.

    Chức năng quan trọng nhất của thận là lọc máu và các chất thải, chỉ giữ lại protein và các tế bào máu. Các chất thải được tiết ra, vào dịch lọc để hình thành nên nước tiểu. Ước tính mỗi ngày 2 thận khỏe mạnh sẽ lọc khoảng 200 lít máu và tạo ra 2 lít nước tiểu.

    Đo độ lọc cầu thận trực tiếp được xem là chính xác nhất để phát hiện sự thay đổi của thận, nhưng đo lường GFR trực tiếp rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhân viên có kinh nghiệm, thường chỉ áp dụng tại các nơi nghiên cứu và trung tâm ghép tạng. Do vậy độ loc cầu thận ước tính (EGFR) được sử dụng thay thế.

    Độ lọc cầu thận ước tính (EGFR) được tính toán dựa vào creatinine trong huyết thanh. Creatinine là chất thải của mô cơ được lọ ra khỏi máu do thận và được phóng thích vào nước tiểu ở tốc độ thường ổn định. Khi chức năng thận giảm, ít creatinin được bài tiết và nồng độ sẽ tăng trong máu. Cùng với đo creatinine máu, EGFR cũng được xây dựng.

    2. Vì sao cần xác định độ lọc cầu thận ước tính eGFR?

    Về cơ bản, độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) được dùng để:

    • Sàng lọc và phát hiện tổn thương thận sớm, giúp chẩn đoán bệnh thận mãn tính.
    • Theo dõi tình trạng hiện tại của thận, đánh giá chức năng thận.

    eGFR là giá trị cho biết mức độ thận lọc chất thải ra khỏi máu cũng như giúp xác định tình trạng tổn thương thận hiện có. eGFR cũng là phép đo chức năng thận tốt nhất, được sử dụng để đánh giá chức năng thận ở người lớn và trẻ em.

    Xét nghiệm Creatinin máu, Cystatin C, cùng với độ lọc cầu thận ước tính eGFR cũng thường được sử dụng để chẩn đoán, theo dõi những người bị đái tháo đường, suy thận hoặc tăng huyết áp: những bệnh mạn tính có thể dẫn đến tổn thương thận.

    3. Cách thức đọc kết quả eGFR

    3.1. Chỉ số bình thường

    Ở người trưởng thành có sức khỏe bình thường, độ lọc cầu thận ước tính là trên 90 mL/ phút/1,73m2.

    Độ tuổi càng cao thì mức độ lọc cầu thận sẽ càng giảm dần, ngay cả đối với người không bị bệnh thận. Độ lọc cầu thận ước tính trung bình ở người bình thường dựa theo tuổi là:

    • Từ 20-29 tuổi: chỉ số eGFR trung bình là 116 mL/phút/1,73m2
    • Từ 30-39 tuổi: chỉ số eGFR trung bình là 107 mL/phút/1,73m2
    • Từ 40-49 tuổi: chỉ số eGFR trung bình là 99 mL/phút/1,73m2
    • Từ 50-59 tuổi: chỉ số eGFR trung bình là 93 mL/phút/1,73m2
    • Từ 60-69 tuổi: chỉ số eGFR trung bình là 85 mL/phút/1,73m2
    • Từ 70 tuổi trở lên: chỉ số eGFR trung bình là 75 mL/phút/1,73m2

    3.2. Nếu eGFR trên 60

    Nếu kết quả tổng kết trên 60 mL/phút/1,73m2 thì chức năng thận bình thường hoặc gần mức bình thường, có thể coi là ổn định. Tuy nhiên vẫn có thể có một số tổn thương thận hoặc nguy cơ mắc bệnh thận, lời khuyên tốt nhất là không nên chủ quan và cần tiếp tục theo dõi, nhất là nếu quý vị có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ cao.

    Khi eGFR trên 60 mL/phút/1,73m2, bệnh nhân vẫn có thể được chẩn đoán mắc bệnh thận mãn tính (CKD) nếu có các dấu hiệu hư tổn thận và những dấu hiệu này đã kéo dài hơn 3 tháng. Ngược lại nếu không có dấu hiệu hư tổn thận, có thể tiếp tục theo dõi chức năng thận đồng thời lựa chọn và duy trì lối sống lành mạnh.

    3.3. Nếu eGFR dưới 60

    Nếu giá trị thu được dưới 60 mL/phút/1,73m2, đây là dấu hiệu cho thấy có đôi chút vấn đề ở chức năng thận. Để xác nhận lại điều này, bác sĩ có thể sẽ yêu cầu thực hiện lại xét nghiệm máu. Việc theo dõi các thay đổi đối với eGFR giúp bác sĩ biết tình trạng bệnh đang tiến triển nhanh hay chậm đến mức nào.

    Để có thể chẩn đoán mắc bệnh thận mạn tính sẽ cần dựa trên kết quả GFR, nếu liên tục dưới 60 mL/phút/1,73m2 trong khoảng thời gian hơn ba tháng hoặc đi kèm một số dấu hiệu khác về tổn thương thận (như albumin niệu, huyết niệu hoặc kết quả siêu âm hoặc sinh thiết thận bất thường) thì khả năng rất cao bệnh nhân đã tiến triển đến bệnh thận mãn tính.

    4. Bệnh thận mãn tính

    Tùy thuộc vào độ lọc cầu thận ước tính eGFR, người ta còn phân loại chức năng thận thành 5 giai đoạn:

    Nếu chức năng thận của người bệnh mới dừng ở giai đoạn 1 hoặc 2, bệnh nhân sẽ chỉ mắc CKD nếu mắc albumin niệu, chứng huyết niệu, thấy bệnh lý bất thường hoặc cấu trúc bất thường.

    • Giai đoạn 3a: eGFR nằm trong khoảng 45-59 mL/phút/1,73m2

    Độ lọc cầu thận ước tính eGFR và kết quả albumin niệu được kết hợp để đánh giá hoạt động của thận. Bác sĩ sẽ sử dụng những thông tin này để chỉ định phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

    Phương pháp điều trị cũng được quyết định dựa trên nguyên nhân gây tổn thương thận. Điều trị bệnh tiểu đường và kiểm soát chứng huyết áp cao có thể giúp làm chậm tiến trình hoặc tránh làm tổn thương thận nặng hơn, đồng thời làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề khác như đau tim và đột quỵ.

    5. Các vấn đề cần lưu ý

    Độ lọc cầu thận ước tính eGFR của một người sẽ giảm dần theo tuổi tác, theo một số bệnh và có xu hướng tăng trong thai kỳ.

    Độ lọc cầu thận ước tính cũng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều loại thuốc, ví dụ như kháng sinh Gentamicin, Cefoxitin và thuốc điều trị ung thư Cisplatin có thể làm tăng nồng độ Creatinin huyết thanh từ đó làm sai lệch kết quả eGFR.

    Trong thực tế lâm sàng, bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính có thể sử dụng một số thuốc gây ảnh hưởng đến chức năng thận. Những loại thuốc này cần được điều chỉnh liều dùng, tránh sử dụng hoặc thay thế. Có thể kể đến một số thuốc hạ cholesterol máu ( statin – thuốc ức chế men khử HMG-CoA), thuốc giảm đau không steroid ( NSAIDs), thuốc chống nấm, thuốc chống đái tháo đường, kháng sinh, kháng virus, thuốc gây rối loạn dạ dày hoặc chống bài tiết acid ở dạ dày.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Số Creatinine 1.35 Có Phải Suy Thận Độ 3A? Điều Trị Thế Nào?
  • Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Biến Đổi Mức Lọc Cầu Thận Trước Và Sau Ghép Đo Bằng Xạ Hình Chức Năng Thận Với Một Số Yếu Tố, Chỉ Số Trước Ghép
  • Ý Nghĩa Chỉ Số Creatinin Bình Thường
  • Nguy Cơ Tái Phát Sỏi Thận Do Dùng Thuốc Bổ Sung Canxi
  • Thuốc Bổ Thận Kanka Japan (Nhật Bản) Có Tốt Không?
  • Pg Là Gì?vg Là Gì? Cách Điều Chỉnh Tỉ Lệ Vg Pg Trong Tinh Dầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sound Card Là Gì Và Bạn Có Cần Tới Chúng?
  • Thiết Bị Voice Gateway Là Gì Và Có Chức Năng Gì? Sử Dụng Như Thế Nào?
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Và Chức Năng Của Sound Card Xox Ks108 Chuyên Nghiệp
  • Chức Năng Và Cách Lựa Chọn Sound Card Tốt Nhất
  • Voicemail Là Gì ? Tính Năng Voicemail Trên Tổng Đài
  • Ngày đăng: 09:56:09 01-06-2020 – Lượt xem: 695

    VG là gì ? PG là gì ? Tinh dầu VG và PG có ý nghĩa gì đối với thuốc lá điện tử? Đây là điều mà không phải người hút thuốc lá điện tử nào cũng biết và tìm thấy trả lời. Trên thực tế, VG và PG là số lượng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển hương vị và sự hài lòng của nước ép vape. Để giải quyết các mối quan tâm xung quanh hai thành phần này, các chuyên gia về tinh dầu Vapor shop sẽ dành bài viết sau đây để chia sẻ cụ thể.

    1. Tinh dầu PG và VG là gì?

    Tinh dầu VG và PG là gì? Một chai tinh dầu thông thường sẽ bao gồm 4 yếu tố chính: nicotine, glycerin thực vật, Propylene glycol và Flavours. Trong đó, Flavours là hương thơm tạo ra mùi thơm ngon. Glyxerin thực vật được viết tắt là VG và Propylene glycol là PG. Đây là hai đại lượng cực kỳ quan trọng. Tỷ lệ của VG và PG sẽ có ảnh hưởng lớn đến khả năng tạo ra khói của tinh dầu, và cũng ảnh hưởng đến mật độ, độ nhẹ và độ ngọt của tinh dầu.

    Tinh dầu VG là gì?

    VG là gì? VG có nghĩa là glycerin thực vật. Tinh dầu VG là gì? Tinh dầu VG là 100% glycerin thực vật, không tạp chất, không nicotine và có vị ngọt nhẹ. VG không phải là một loại tinh dầu, nó chỉ là một thành phần hoạt động sẽ có trong tinh dầu. VG có nguồn gốc từ dầu thực vật, an toàn cho sức khỏe.

    Các nhà sản xuất tinh dầu thuốc lá điện tử sử dụng VG để tạo ra khói dày hơn và dày hơn. Bởi vì nó là một hóa chất, nhiều người lo lắng rằng nó thực sự an toàn. Trên thực tế, nhiều chuyên gia đã xác nhận rằng glycerin thực vật rất an toàn, rất ít nguy cơ dị ứng với chất này. VG thường có mật độ cao hơn PG. Vậy những ưu điểm của tinh dầu VG là gì? Ưu điểm của hoạt chất này là mùi thơm nhẹ, khi hút bạn sẽ cảm nhận được độ mịn.

    Tinh dầu PG và VG là gì?

    Tuy nhiên, vì nó quá đặc nên khi bạn thêm tinh dầu, khả năng hút của cuộn bông yếu hơn, phải mất nhiều thời gian để hấp thụ tinh dầu. Lời khuyên là nếu bạn sử dụng Vape hoặc Pod với nồng độ VG cao, bạn nên đợi cho đến khi tinh dầu được hấp thụ để bắt đầu hút thuốc.

    Tinh dầu PG là gì?

    Propylene Glycol hoặc PG là một chất lỏng không màu, không mùi, không nhớt. Hoạt chất này được sử dụng để sản xuất thuốc chống hen suyễn, sản xuất các sản phẩm làm đẹp, …

    PG lỏng lẻo hơn VG, nhưng nhờ tính năng này, PG có thể mang lại tất cả các hương vị khác nhau chỉ trong lần hút đầu tiên. PG cũng làm cho hương vị của các loại tinh dầu bạn chọn theo tiêu chuẩn nhất. PG dễ hấp thu, giúp nicotine bay hơi nhanh hơn và ngăn ngừa cảm giác thèm ăn tốt hơn. Tuy nhiên, loại tinh dầu này rất kỵ nước. Bạn có thể cảm thấy hơi khô họng sau khi hút. Có một vài ý kiến ​​cho rằng PG có thể chống viêm, khắc phục các bệnh về răng miệng. Mặc dù không có nghiên cứu khoa học nào xác nhận điều này, nhưng nhiều người chơi thuốc lá điện tử đồng tình với phát hiện này.

    2. Bạn nên chọn tinh dầu VG hay PG?

    Đối với người hút thuốc lá điện tử, kinh nghiệm là rất quan trọng. Hầu hết những người hút thuốc Pod và Vape muốn chọn loại tinh dầu thỏa mãn nhất trong khi vẫn giữ được hương vị ban đầu.

    PG tạo ra một cú hit mạnh mẽ hơn

    Nếu bạn đam mê cảm giác mới, muốn hương thơm từ tinh dầu và khói bay vào cổ họng để tạo cảm giác si mê nhưng vẫn cực kỳ dễ chịu, PG có thể đáp ứng nhu cầu này. PG thường mang đến hương vị chính xác và hấp dẫn nhất. Tuy nhiên, đối với những người đã hút Vape, Pod trong một thời gian dài, nồng độ PG cao không nhất thiết là một lựa chọn thú vị. Nhiều người thích mức cao thích VG.

    Tinh dầu VG tạo ra nhiều khói hơn, tạo ra khói đều hơn

    PG sẽ mang lại những cú đánh rất dễ chịu. Tuy nhiên, về khả năng hút thuốc thường xuyên, VG đã thắng thế. Nhiều người thích hút thuốc nhiều, đặc biệt là khói lớn, VG là lựa chọn hợp lý hơn.

    Khả năng hấp thụ

    Như Vapor shop đã giải thích, VG đặc nên tập thời gian để hấp thụ tất cả các loại tinh dầu là khá lâu. PG lỏng hơn nên hấp thụ tốt hơn, người hút thuốc không lãng phí thời gian chờ đợi.

    PG không phù hợp với người nhạy cảm.

    Tỷ lệ những người dễ bị dị ứng và mẫn cảm với PG cao hơn VG. Nói cách khác, VG dễ hút thuốc hơn. Một số người không thích PG, thậm chí dị ứng với nó.

    3. Tỷ lệ VG / PG hoàn hảo nhất là gì?

    Thông thường, mỗi chai tinh dầu sẽ có ghi chú đầy đủ về tỷ lệ VG, PG. Bạn cần lưu ý tỷ lệ sau:

    – Tỷ lệ 100% VG: Đây là 100% tinh dầu là VG, loại tinh dầu này có đặc tính ngọt, khói cực dày và đậm đặc. Tuy nhiên, vì tỷ lệ VG rất cao, những người hút thuốc có thể không cảm nhận được mùi vị của tinh dầu

    – Tỷ lệ VG / PG là 7/3: Đây là tỷ lệ chung trong nhiều chai tinh dầu. Hầu hết những người hút thuốc lá điện tử chọn mức này. Loại tinh dầu này thường tạo ra khói vừa, hương vị dễ chịu, khi hút cảm giác mịn, hương vị không quá ngọt, không quá nhạt hay gắt.

    – Tỷ lệ VG / PG là 50% / 50%: Với tốc độ này, lượng khói sẽ ít hơn, hương vị sẽ mạnh hơn. Tuy nhiên, bạn cần cân nhắc vì loại dầu này sẽ hút khá khắc nghiệt.

    Tỷ lệ VG / PG hoàn hảo nhất là gì?

    Ngoài ra, tỷ lệ VG / PG cũng có loại PG 20% / 80% và loại PG 100%. Tuy nhiên, hai loại tinh dầu này ít phổ biến hơn vì tinh dầu muối nic đã ra đời, khắc phục nhiều nhược điểm về mức độ nghiêm trọng của tinh dầu.

    4. Mua tinh dầu ở đâu?

    Vapor shop cam kết bán tinh dầu chất lượng cao, chất lượng cao. Hãy chắc chắn rằng bạn sẽ thưởng thức những hương vị thơm ngon và hấp dẫn nhất. Nếu bạn đang tìm mua tinh dầu cho Pod System và Vape, thì VapePro sẽ là nơi làm bạn hài lòng.

    Vapor shop

    Nếu bạn cần hộ trợ về sản phẩm cũng như tư vấn vape chính hãng hãy liên hệ với chúng tôi :

    Phone : 0912799091 – Mr . Luân

    Email : [email protected]

    Fanpage : https://www.facebook.com/vaprshop.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Vg 5 Là Thuốc Gì? Giá Bao Nhiêu Tiền? Công Dụng Gì?
  • Vpn Server Là Gì? Vpn Server Có Chức Năng Gì?
  • Vpn Là Gì? Tại Sao Cần Dùng Và Dùng Trong Trường Hợp Nào?
  • Vpn Là Gì? Hướng Dẫn Cấu Hình Và Cách Sử Dụng Vpn Chuẩn A
  • Vpn Là Gì? Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Vpn
  • Nêu Tác Dụng Của Biện Pháp Ước Lệ Trong Câu Thơ Sau Trong Bài Chí Khí Anh Hùng : “nửa Năm Hương Lửa Đương Nồng” Câu Hỏi 853994

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Ý Thức Đội Mũ Bảo Hiểm Cho Trẻ Nhỏ: Phụ Huynh Phải Gương Mẫu
  • Tuyên Truyền, Vận Động Nâng Cao Hiệu Quả Đội Mũ Bảo Hiểm Ở Trẻ Em
  • Cần Nâng Cao Ý Thức Đội Mũ Bảo Hiểm Cho Trẻ Em Khi Tham Gia Giao Thông
  • Nêu Gương Để Nâng Cao Ý Thức Đội Mũ Bảo Hiểm
  • Nâng Cao Ý Thức Đội Mũ Bảo Hiểm Đối Với Người Tham Gia Giao Thông
  • Đoạn trích Chí khí anh hùng từ câu 2213 đến câu 2230 trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, nói về Từ Hải, một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường.

    Rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thúy Kiều luôn sống trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng:

    Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

    Thế rồi Từ Hải đột nhiên xuất hiện. Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm, tri kĩ. Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh, Từ Hải đã tinh tường nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều và với con mắt tinh đời, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan cho mình. Nàng khiêm nhường bày tỏ:

    Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

    Hai người, một là gái giang hồ, một đang làm “giặc”, đều thuộc hạng người bị xã hội phong kiến khinh rẻ nhất, đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một mối tình tri kỉ. Từ Hải đánh giá Kiều rất cao, còn Kiều nhận ra Từ là đấng anh hùng. Nhưng tình yêu không thể giữ chân Từ Hải được lâu. Đã đến lúc Từ Hải ra đi để tiếp tục tạo lập sự nghiệp. Đoạn trích này cho thấy một Từ Hải đầy chí khí anh hùng, mà cũng đượm chút cô đơn, trống trải giữa đời.

    Trước sau đối với Từ Hải, Nguyễn Du vẫn dành cho chàng thái độ trân trọng và kính phục, ở chàng, nhất cử nhất động đều thể hiện rõ chí khí, cốt cách anh hùng. Trên con đường tạo dựng nghiệp lớn, cuộc hôn nhân bất ngờ giữa chàng với Thúy Kiều chỉ là phút chốc nghỉ ngơi, chứ không phải là điểm âm, tri kỉ và cuộc hôn nhân của họ đang hạnh phúc hơn bao giờ hết. Ấy vậy mà, chỉ mới sáu tháng vui hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, Từ Hải đã lại động lòng bốn phương, dứt khoát lên đường, tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang còn dang dở:

    Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

    Từ Hải được tác giả miêu tả là con người đa tình, nhưng trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Chí là mục đích cao cả hướng tới, khí là nghị lực để đạt tới mục đích, ở con người này, khát khao được vẫy vùng giữa trời cao đất rộng như đã trở thành một khát vọng bản năng tự nhiên, không có gì có thể kiềm chế nổi.

    Trước lúc gặp gỡ và kết duyên với Thúy Kiều, Từ Hải đã là một anh hùng hảo hán: Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, đã từng: Nghênh ngang một cõi biên thùy. Cái chí nguyện lập nên công danh, sự nghiệp ở chàng là rất lớn. Vì thế không có gì cản được bước chân chàng.

    Dù Nguyễn Du không nói cụ thể là Từ Hải ra đi làm gì nhưng nếu theo dõi mạch truyện và những câu chàng giải thích để Thúy Kiều an lòng thì người đọc sẽ hiểu cả một sự nghiệp vinh quang đang chờ chàng ở phía trước. Từ Hải không phải là con người của những đam mê thông thường mà là con người của sự nghiệp anh hùng. Đang sống trong cảnh nồng nàn hương lửa. Từ chợt động lòng bốn phương, thế là toàn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh mang, và lập tức một minh với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong. Chữ trượng phu trong Truyện Kiểu chỉ xuất hiện một lần dành riêng đã nói về Từ Hải. Điều đó cho thấy Nguyễn Du đã dùng từ Trượng phu với nghĩa Từ Hải là người đàn ông có chí khí lớn. Chữ thoắt thể hiện quyết định nhanh chóng, dứt khoát cùa chàng. Bôn chữ động lòng bốn phương nói lên được cái ý Từ Hải “không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương”. (Hoài Thanh).

    Trong cảnh tiễn biệt, tác giả tả hình ảnh Từ Hải: thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong trước rồi mới đế cho Từ Hải và Kiều nói những lời tiễn biệt. Có người cho rằng nếu như vậy thì Thúy Kiều còn nói sao được nữa? Có lẽ tác giả muốn dựng cảnh tiễn biệt này khác hẳn cảnh tiễn biệt giữa Thúy Kiều – Kim Trọng, Thúy Kiều – Thúc Sinh. Từ Hải đã ở tư thế sẵn sàng lên đường. Chàng ngồi trên yên ngựa mà nói những lời tiễn biệt với Thúy Kiều. Sự thật có phải vậy không? Không chắc, nhưng cần phải miêu tả như thế mới biểu hiện được sự quyết đoán và cốt cách phi thường của Từ Hải.

    Thúy Kiều biết rõ Từ Hải ra đi sẽ lâm vào tình cảnh bốn bể không nhà, nhưng vẫn khẩn thiết xin được cùng đi, nàng rằng: Phận gái chữ tòng, chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. Ngắn gọn thế thôi, nhưng quyết tâm thì rất cao. Chữ tòng ở đây không chỉ có nghĩa như trong sách vở thánh hiền của dạo Nho: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu…, mà còn ngụ ý tiếp sức, chia sẻ nhiệm vụ, muốn cùng được gánh vác với chồng.

    Lời Từ Hải nói trong lúc tiễn biệt càng thể hiện rõ chí khí anh hùng của nhân vật này:

    Từ rằng: “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp dường. Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì!”

    Đã là tâm phúc tương tri có nghĩa là hai ta đã hiểu biết lòng dạ nhau sâu sắc, vậy mà sao, dường như nàng chưa thấu tâm can ta, nên chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình. Lẽ ra, nàng phải tỏ ra cứng cỏi để xứng là phu nhân của một bậc trượng phu.

    Lí tưởng anh hùng của Từ Hải bộc lộ qua ngôn ngữ mang đậm khẩu khi anh hùng. Khi nói lời chia tay với Thúy Kiều chàng không quyến luyến, bịn rịn vì tình chồng vợ mặn nồng mà quên đi mục đích cao cả. Nếu thực sự quyến luyến, Từ Hải sẽ chấp nhận cho Thúy Kiều đi theo.

    Từ Hải là con người có chí khí, khát khao sự nghiệp phi thường nên không thể đắm mình trong chốn buồng the. Đang ở trong cảnh hạnh phúc ngọt ngào, tiếng gọi của sự nghiệp thôi thúc từ bên trong. Từ Hải quyết dứt áo ra đi. Giờ đây, sự nghiệp đối với chàng là trên hết. Đối với Từ Hải, nó chẳng những là ý nghĩa của cuộc sống mà còn là điều kiện để thực hiện những ước ao mà người tri kỉ đã gửi gắm, trông cậy ởchàng. Do vậv mà không có những lời than vãn buồn bã lúc chia tay. Thêm nữa, trong lời trách Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình còn bao hàm ý khuyên Thúy Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng là vợ của một anh hùng. Cho nên sau này trong nỗi nhớ của Kiều: cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm, không chỉ có sự mong chờ, mà còn có cả hi vọng vào thành công và vinh quang trong sự nghiệp của Từ Hải.

    Từ Hải là con người rất mực tự tin. Trước đây, chàng đã ngang nhiên xem mình là anh hùng giữa chốn trần ai. Giờ thì chàng tin rằng tất cả sự nghiệp như đã nắm chắc trong tay. Dù xuất phát chỉ với thanh gươm yên ngựa, nhưng Từ Hải đã tin rằng mình sẽ có trong tay mười vạn tinh binh, sẽ trở về trong hào quang chiến thắng Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường, để rõ mặt phi thường với Thúy Kiều, để đem lại vẻ vang cho người phụ nữ mà chàng hết lòng yêu mến và trân trọng. Từ Hải đã khẳng định muộn thì cũng không quá một năm, nhất định sẽ trở về với cả một cơ đồ to lớn.

    Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời chia tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong một tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy:

    Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

    Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia tay, niềm tin vào thắng lợi… tất cả đều bộc lộ chí khí anh hùng của Từ Hải. Đã đến lúc chim bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao.

    Hình ảnh: gió mây bằng đã đến kì dặm khai là mượn ý của Trang Tử tả chim bằng khi cất cánh lên thì như đám mây ngang trời và mỗi bay thì chín vạn dậm mới nghỉ, đối lập với những con chim nhỏ chỉ nhảy nhót trên cành cây đã diễn tả những giây phút ngáy ngất say men chiến thắng cùa con người phi thường lúc rời khỏi nơi tiễn biệt.

    Hình tượng người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện cảm hứng và nghệ thuật miêu tả. Qua đó thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ trong việc diễn tả chí khí anh hùng cùng khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải.

    Từ Hải là hình ảnh thể hiện mạnh mẽ cái ước mơ công lí vẫn âm ỉ trong cảnh đời tù túng của xã hội cũ. Từ Hải ra đi để vẫy vùng cho phỉ sức, phỉ chí, nhưng nếu hiểu kỹ càng còn thêm một lí do nữa là vì bất bình trước những oan khổ của con người bị chà đạp như Thúy Kiều thì không hẳn là không có căn cứ. Điều chắc chắn là cái khao khát của Từ Hải muốn được tung hoành ! rong bốn bể để thực hiện ước mơ công lí chứ không bao giờ nhằm mục đích thiết lập một ngai vàng quyền lực tầm thường.

    Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét tính cách đẹp đẽ, sinh động. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải – nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Đoạn Nỗi Thương Mình Trích Truyện Kiều Nguyễn Du
  • Bài 11. Tiến Hóa Của Hệ Vận Động. Vệ Sinh Hệ Vận Động
  • Quan Hệ Tình Dục Bằng Miệng An Toàn: Bắt Buộc Phải Nhớ Đến Những Điều Này!
  • Quan Hệ Tình Dục Bằng Miệng Có Tốt Không?
  • Bỡ Ngỡ Với Biện Pháp Triệt Sản Ở Nam Giới, Nhiều Chị Em Cho Rằng Tránh Thai Nên Do Phụ Nữ Chủ Động
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Thuật Ngữ Về Phép Liệt Kê
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Nguyên Nhân & Biện Pháp Khắc Phục
  • Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường
  • Trong ngữ pháp Việt Nam có nhiều biện pháp tu từ khác nhau như so sánh, ẩn dụ, rút gọn câu … Một trong những biện pháp từ thường được sử dụng trong văn thơ là liệt kê. Trong seri hướng dẫn ngữ văn 7 này mình sẽ giới thiệu cách sử dụng và các khái niệm cơ bản về liệt kê từ, cụm từ.

    Liệt kê là gì?

    Liệt kê là cách sắp xếp nhiều từ, cụm từ khác nhau, có thể là từ đồng âm hoặc không nhưng phải có chung một nghĩa. Hay nói cách khác thì liệt kê là cách dùng nhiều từ khác nhau để diễn tả một hành động, sự vật, sự việc.. Mục đích nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, chi tiết hơn đến với người đọc, người nghe.

    Các phương pháp liệt kê phổ biến

    Dựa theo cấu tạo và ý nghĩa trong câu, có 4 kiểu liệt kê chính gồm:

    1 Liệt kê theo từng cặp

    Mỗi cặp từ được liệt kê thường liên kết bằng những từ như và, với, cùng..Những cặp từ này thường có một vài điểm chung để phân biệt với các từ khác.

    Ví dụ: Kệ sách của Trâm Anh có nhiều loại sách hay như sách toán với hình học, sách văn và thơ, sách tiếng anh với tiếng Nhật, truyện tranh với truyện chữ….

    2 Liệt kê không theo từng cặp

    Chỉ cần thỏa điều kiện các từ cùng mô tả một điểm chung nào đó như sự vật, con người, mối quan hệ, thiên nhiên… đều được. Giữa các từ cách nhau bởi dấu phẩy, chấm phẩy.

    Ví dụ: Trên kệ sách của Hồng Ảnh có nhiều loại sách gồm sách văn học, sách ngoại ngữ, sách toán, sách hóa, sách lịch sử.

    3 Liệt kê tăng tiến

    Tăng tiến có nghĩa là phải theo đúng một thứ tự, trình tự theo tự nhiên hoặc hợp quy luật nhất định. Thường thì ta liệt kê từ thấp đến cao, từ địa vị nhỏ đến lớn….

    Ví dụ: Trong công ty Minh gồm có những người là nhân viên Minh, Tiến Lan, phó phòng là anh Hải và trưởng phòng là anh Phúc.

    Ta thấy chức vụ các nhân viên được liệt kê từ thấp đến cao, theo đúng cấp bậc trong một phòng.

    4 Liệt kê không tăng tiến

    Không quan trọng vị trí các từ cần liệt kê, câu vẫn có nghĩa và người đọc vẫn hiểu ý nghĩa toàn bộ câu.

    Ví dụ: Gia đình An đang sống có các thành viên gồm: cha mẹ An, anh trai An, ông bà nội An, em gái An và An.

    Những lưu ý khi sử dụng biện pháp liệt kê

    Đây là một trong các phép tu từ đơn giản, dễ nhận biết và sử dụng nhất. Tuy nhiên để sử dụng hợp lý, đúng cách cần lưu ý những điều sau:

    • Với phương pháp liệt kê tăng tiến, cần xác định đúng thứ tự theo vị trí thấp đến cao.
    • Giữa các từ cần liệt kê cách nhau bởi dấu phẩy, chấm phẩy hoặc các từ kết hợp như ” với, và”.
    • Phép liệt kê xuất hiện nhiều trong văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn… hầu như hiếm khi xuất hiện trong thơ ca.

    Kết luận: Phép liệt kê giúp mô tả, nhấn mạnh một sự vật, sự việc cần diễn tả, đây là biện pháp tu từ bạn nên biết để phân tích và viết tập làm văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Thi Công Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Chống Cháy Cho Nhà Khung Thép
  • Các Biện Pháp Nghiệp Vụ Cơ Bản Trong Thanh Tra
  • Nghiệp Vụ An Ninh Là Gì
  • Vận Dụng Linh Hoạt Các Biện Pháp Nghiệp Vụ, Kiên Quyết Tấn Công Tội Phạm
  • Kiến Thức Về Nghiệp Vụ Bảo Vệ
  • Biện pháp thi công là gì.?.

    Biện pháp thi công (Manner of Execution hoặc construction method statement) là trình tự và cách thi công 1 công trình cụ thể từ lúc bắt đầu thi công đến lúc kết thúc và bàn giao công trình, trong đó biện pháp thi công (BPTC) phải đề ra được: hiệu quả về thời gian, hiệu quả về phòng chống (như: tai nạn, phòng cháy…) làm sao để hoàn thành công sớm nhất, hiệu quả và an toàn nhất. Vì lý do vậy mà có thể nói, không có gì phải là “bí mật” trong vấn đề BPTC được.

    Vậy biện pháp thi công hiểu nôm na là cách làm , cách thi công một công trình, hạng mục, công việc cụ thể của công trình xây dựng. Vậy mỗi công trình, dự án sẽ có mỗi biện pháp thi công khác nhau và phù hợp với yêu cầu của công trình cụ thể đó.

    Nội dung trong biện pháp thi công

    Nội dung trong biện pháp thi công phải thể hiện được:

    • Thiết bị, công nghệ dự định chọn để thi công.
    • Trình tự thi công
    • Phương pháp kiểm tra
    • Biện pháp an toàn và đảm bảo vệ sinh môi trường
    • Dự kiến sự cố và cách xử lý
    • Tiến độ thi công.

    Nếu biện pháp của bạn lập là tiên tiến, mang lại hiệu quả cao về kỹ thuật cũng như kinh tế thì CĐT nào cũng chấp nhận và chính bạn được hưởng lợi từ hiệu quả kinh tế đó.

    Ngược lại , bạn cứ lập BPTC theo phương án đã được chủ đầu tư dự kiến và khi ra thi công nếu bạn sử dụng BPTC khác thì bạn lại phải bảo vệ và cần được CĐT và TVGS thông qua, đằng nào thì cũng vậy.

    Các bước lập biện pháp thi công thế nào ?

    Thông thường đối với từng hạng mục công trình sẽ có các bước cụ thể khác nhau tuy nhiên trong mức độ bài viết chúng tôi xin trình bày các bước lập một công trình xây dựng hoàn chỉnh sẽ phân theo loại hình công trình cũng như các hạng mục công trình

    • Biện pháp thi công công trình dân dụng
    • Biện pháp thi công công trình nhà xưởng khung thép
    • Biện pháp thi công lắp đặt nội thất
    • Biện pháp thi công san nền
    • Biện pháp thi công lắp đặt thang máy
    • Biện pháp thi công công trình giao thông
    • Biện pháp thi công công trình thủy lợi.

    VietmySteel là một công ty xây dựng hoạt động lâu năm trong các lĩnh vực xây dựng kết cấu thép. Đi cùng với thi công xây dựng, Chúng tôi tự hào là công ty một trong những công ty sản xuất kết cấu thép với chất lượng hàng đầu Việt Nam. Với đội ngũ kỹ sư lâu năm có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây lắp và gia công kết cấu thép, kinh nghiệp hơn 10 năm trong nghành, đội ngũ tư vấn hỗ trợ và đội thợ lành nghề sẽ là địa chỉ tin cậy. Cùng hệ thống 3 nhà máy gia công khung kèo thép tại chúng tôi Bình Dương và Long An Giúp Vietmysteel là địa chỉ tin cậy cho quý khách hàng. Vietmysteel chuyên sản xuất, gia công, thi công lắp dựng kết cấu thép, nhà tiền chế theo mọi yêu cầu thiết kế chất lượng đảm bảo, giá cả cạnh tranh nhất thị trường. Quý khách hàng có như cầu vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi để được tư vấn, Thẩm định và báo giá nhanh và chính xác nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nhà Khung Thép
  • Biện Pháp Thi Công Khoan Cấy Thép
  • Biện Pháp Thi Công Kết Cấu Thép Là Gì?
  • Phương Pháp Triệt Sản Nam Và Triệt Sản Nữ
  • Những Trường Hợp Nào Không Nên Thực Hiện Biện Pháp Triệt Sản Nữ?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100