Xử Lý Vi Phạm Nồng Độ Cồn Khi Tham Gia Giao Thông:cần Biện Pháp Mạnh

--- Bài mới hơn ---

  • Đáp Án Câu Hỏi Cuộc Thi Viết ” Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng” Tỉnh Ninh Bình
  • Hoàn Thiện Pháp Luật Về An Ninh Mạng Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Bảo Đảm An Ninh Mạng: Chủ Động Các Biện Pháp Phòng Vệ
  • Tổng Hợp 25 Câu Hỏi Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng Năm 2021
  • Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Khi Sử Dụng Mạng Không Dây
  • Hiện nay, tình trạng tham gia giao thông khi đã uống rượu bia diễn ra khá phổ biến, tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông cao. Dù cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp mạnh tay nhưng việc xử lý tài xế vi phạm nồng độ cồn chưa bao giờ là dễ dàng. Liều lĩnh vượt chốt

    Trên tuyến quốc lộ 25 đoạn qua địa bàn huyện Phú Thiện ( Gia Lai), thời gian qua, lực lượng Cảnh sát Giao thông (CSGT) đã triển khai khá nhiều biện pháp được xem là “mạnh tay” nhưng tình trạng vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện chuyển biến không đáng kể. Một buổi tối giữa tháng 5, tại chốt kiểm tra nồng độ cồn của đội CSGT Công an huyện Phú Thiện, P.V đã chứng kiến nhiều trường hợp đâm xe trực diện vào tổ công tác để né tránh hoặc rồ ga bỏ chạy với tốc độ cao…

    Tại chốt kiểm tra này, tổ công tác đã phát hiện nhiều trường hợp có nồng độ cồn cao… ngất ngưởng. Điển hình là trường hợp của anh Ksor Thanh (SN 1975, trú tại xã Ia Ake, huyện Phú Thiện) điều khiển xe máy BKS 81T3-5670. Sau khi dừng xe và thực hiện kiểm tra đối với anh Thanh, tổ công tác xác định nồng độ cồn đạt mức 1,538 miligam/lít khí thở, gấp hơn 6 lần so với giới hạn cho phép. Khi bị CSGT tạm giữ xe và lập biên bản vi phạm, anh Thanh mới hối hận: “Do hôm nay về nhà cha đẻ, mọi người mời uống rượu ghè nên mình làm vài cang. Nhà mình trước giờ làm chỉ đủ ăn, giờ lấy đâu ra tiền để nộp phạt mấy triệu đồng?”.

    Tại chốt kiểm tra nồng độ cồn của Đội CSGT số 1 quốc lộ 14 (Phòng CSGT Công an tỉnh) trên đường Trường Chinh, đoạn qua địa phận xã Chư Hdrông (TP. Pleiku) cũng xảy ra tình trạng tương tự. Khi phát hiện CSGT lập chốt, hàng chục trường hợp đã thắng gấp rồi quay đầu bỏ chạy ngay trong làn đường 1 chiều tạo ra nhiều tình huống cực kỳ nguy hiểm cho chính chủ phương tiện cũng như những người tham gia giao thông. Thậm chí, có trường hợp còn điều khiển xe tông thẳng vào các chướng ngại vật mà CSGT dùng để lập chốt và tẩu thoát bằng mọi giá. Nhiều “ma men” khi bị lực lượng CSGT kiểm tra thì khóc lóc, van xin đủ kiểu. Không ít trường hợp có nhận thức cao về vấn đề này nhưng vẫn vi phạm vì không thể từ chối những chén rượu mời. Bị tổ công tác lập biên bản xử phạt với mức nồng độ cồn 0,275 miligam/lít khí thở, anh Hoàng Anh Quốc (SN 1988, trú tại TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đak Lak) bày tỏ: “Tôi làm nhân viên tiếp thị, khi đi gặp khách hàng người ta mời thì không thể không uống. Cũng biết uống rượu bia khi tham gia giao thông là rất nguy hiểm nhưng do cả nể và muốn giữ mối làm ăn nên tôi lỡ vi phạm”.

    Cần những biện pháp mạnh

    Trung tá Nguyễn Minh Tuấn-Phó Đội trưởng Đội CSGT số 1 quốc lộ 14-cho hay: Các trường hợp vi phạm nồng độ cồn đều có muôn vàn lý do để bao biện cho hành vi của mình. Đa số các trường hợp này đều không làm chủ được hành vi do bia rượu dẫn đến việc bất hợp tác, đôi khi chống đối lực lượng chức năng. Vì vậy, các cán bộ, chiến sĩ khi tham gia tổ công tác kiểm tra nồng độ cồn phải vừa kiên quyết vừa khéo léo, nếu không sẽ tạo ra điểm nóng. Theo Trung tá Tuấn, trước sự manh động của những “ma men”, để xử lý hiệu quả hơn tình trạng này cần có sự tăng cường của nhiều lực lượng để cùng phối hợp với CSGT, bởi lực lượng đông đảo sẽ hạn chế việc các tài xế bỏ chạy, né tránh chốt kiểm tra.

    Bên cạnh đó, Trung tá Tuấn cũng đề xuất các lực lượng chức năng cần xử lý quyết liệt, không cả nể, châm chước ngay cả với những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, bởi hậu quả gây ra do tham gia giao thông khi đã uống rượu bia sẽ lớn hơn rất nhiều so với mức tiền xử phạt. “Phải có chế tài đủ mạnh, nghiêm khắc thì việc răn đe mới hiệu quả, từ đó hạn chế tình trạng tài xế vi phạm nồng độ cồn. Ngoài ra, cũng cần cải cách khâu xử lý vi phạm hành chính để việc xử lý đơn giản, hiệu quả hơn”-Trung tá Tuấn nhấn mạnh.

    Tại địa bàn được xem là “điểm nóng” về tình trạng các “ma men” điều khiển phương tiện gây tai nạn giao thông, Đại úy Phùng Mạnh-Phó Đội trưởng Đội CSGT Công an huyện Phú Thiện-thừa nhận: Dù đã có nhiều nỗ lực nhưng công tác xử lý vi phạm nồng độ cồn trên địa bàn vẫn gặp khó. Để hạn chế tối đa tình trạng này cần có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của các lực lượng chức năng và chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, mỗi người dân khi tham gia giao thông cũng nên thay đổi dần nhận thức với phương châm đã uống rượu bia thì không lái xe.

    VĂN NGỌC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Liệt Triển Khai Các Biện Pháp Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông
  • Thực Hiện Quyết Liệt Các Biện Pháp Bảo Đảm Atgt
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Nhiều Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Bán Trú Thông Qua Các Hoạt Động Ngoại Khóa Tại Trường Ptdtbt Thcs Bản Hon

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Trường Thcs
  • Giải Pháp Cần Thiết Để Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Người Nước Ngoài Bày Cách ‘làm Khó’… Người Đi Xe Hơi
  • Trong quá trình giáo dục chúng ta đang hướng tới một nền giáo dục chú trọng phát triển toàn diện về Đức, trí, thể, mĩ cho học sinh. Vì vậy giáo dục học sinh toàn diện không chỉ là dạy kiến thức phổ thông trên lớp mà cần xác định sau khi ra trường học sinh còn được trang bị những kĩ năng cần thiết để đi vào cuộc sống và đối diện với những va vấp đầu đời . Đó là việc rèn các kĩ năng sống cho học sinh.

    Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong trường PTDTBT, về bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

    Kĩ năng sống giúp thúc đẩy sự phát triển của mỗi cá nhân học sinh bán trú. Sinh hoạt, ăn ở tại trường nên về đặc điểm tâm lí, học sinh bán trú có sự hụt hẫng về đời sống tinh thần. Ở nhà, các em còn đang ở lứa tuổi được ông bà, cha mẹ chăm sóc, giúp đỡ. Ở trường, các em phải tự chăm lo cuộc sống của mình, tự phục vụ bản thân chịu tác động của rất nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực và phải tự mình giải quyết vấn đề. Học sinh tiểu học thì non nớt, học sinh THCS ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song còn thiếu quá nhiều những hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dẽ bị lôi kéo, kích động.

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG PTDTBT THCS BẢN HON THUYẾT MINH SÁNG KIẾN Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bán trú thông qua các hoạt động ngoại khóa tại trường PTDTBT THCS Bản Hon Đồng tác giả: Đinh Thế Hướng Trình độ chuyên môn: Đại học Chức vụ: Giáo viên Nơi công tác: Trường PTDTBT THCS Bản Hon Bản hon, ngày 15 tháng 3 năm 2021 I. THÔNG TIN CHUNG Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho hoc sinh bán trú thông qua hoạt động ngoại khóa tại trường PTDTBT THCS Bản Hon Đồng tác giả Họ và tên: Đinh Thế Hướng Năm sinh: 16/09/1977 Nơi thường trú: Tổ10 - Phường Tân Phong - Thành phố Lai Châu Trình độ chuyên môn: ĐHSP Ngoại ngữ Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường PTDTBT THCS Bản Hon Điện thoại: 0979041347 Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 30% Họ và tên: Bùi Gia Chinh Năm sinh: 16/09/1982 Nơi thường trú: Bản Hon 1- xã Bản Hon huyện Tam Đường - tỉnh Lai Châu Trình độ chuyên môn: CĐSP Toán - Lí Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường PTDTBT THCS Bản Hon Điện thoại: 0988346928 Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 40% Họ và tên: Trịnh Xuân Hưng Năm sinh: 24/12/1981 Nơi thường trú: Tổ10 - Phường Tân Phong - thành phố Lai Châu Trình độ chuyên môn: CĐSP Mĩ Thuật Chức vụ công tác: Giáo viên Nơi làm việc: Trường PTDTBT THCS Bản Hon Điện thoại: 0984968446 Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 30% Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lí học sinh bán trú trong thời gian học sinh ở tại trường Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 15 tháng 8 năm 2014 đến ngày 15 tháng 4 năm 2021 Đơn vị áp dụng sáng kiến Tên đơn vị: Trường PTDTBT THCS Bản Hon Địa chỉ: Bản Hon 1 xã Bản Hon huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến: Trong quá trình giáo dục chúng ta đang hướng tới một nền giáo dục chú trọng phát triển toàn diện về Đức, trí, thể, mĩ cho học sinh. Vì vậy giáo dục học sinh toàn diện không chỉ là dạy kiến thức phổ thông trên lớp mà cần xác định sau khi ra trường học sinh còn được trang bị những kĩ năng cần thiết để đi vào cuộc sống và đối diện với những va vấp đầu đời . Đó là việc rèn các kĩ năng sống cho học sinh. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong trường PTDTBT, về bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Kĩ năng sống giúp thúc đẩy sự phát triển của mỗi cá nhân học sinh bán trú. Sinh hoạt, ăn ở tại trường nên về đặc điểm tâm lí, học sinh bán trú có sự hụt hẫng về đời sống tinh thần. Ở nhà, các em còn đang ở lứa tuổi được ông bà, cha mẹ chăm sóc, giúp đỡ. Ở trường, các em phải tự chăm lo cuộc sống của mình, tự phục vụ bản thân chịu tác động của rất nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực và phải tự mình giải quyết vấn đề. Học sinh tiểu học thì non nớt, học sinh THCS ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song còn thiếu quá nhiều những hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dẽ bị lôi kéo, kích động. Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ thúc đẩy những hành vi tích cực, giúp học sinh bán trú hòa nhập với môi trường nội trú, nâng cao chất lượng cuộc sống ở nội trú và làm giảm các vấn đề xã hội, giúp các em có khả năng vận dụng được những kiến thức đã học vào cuộc sống hằng ngày. Như vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nói chung và học sinh bán trú ở trường PTDTBT chính là giúp học sinh biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực. Trường PTDTBT Bản Hon có 90 số học sinh ở bán trú, các em hầu hết đều là con em dân tộc thiểu số, gia đình đều làm nghề nông. Mô hình bán trú dân nuôi tạo thuận lợi về thời gian cũng như cơ sở vật chất, cơ hội để các em được giao lưu nhiều hơn. Các em được tổ chức một nếp sống văn minh, được rèn luyện các kĩ năng sống như ăn uống, ngủ nghỉ, được hướng dẫn lao động sản xuất, đi vệ sinh đúng cách giúp các em tăng cường kĩ năng sống, kĩ năng sử dụng Tiếng Việt. Đây là điều kiện để các em tiếp thu chương trình giáo dục tốt hơn. Có rất nhiều lí do dẫn đến tình trạng trên nhưng nhìn ở góc độ giáo dục, một phần là do khi còn ngồi trên ghế nhà trường các em chưa hình thành và rèn luyện được kĩ năng sống cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Hầu hết các giáo viên chúng ta mới chỉ chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng học tập cho học sinh mà không để ý nhiều đến việc rèn cho các em kĩ năng sống để các em có khả năng đi vào cuộc sống. Trong nhiều năm qua việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả chưa cao, chưa thật sự như mong muốn và chưa có sáng kiến kinh nghiệm nào viết về vấn đề này hoặc có viết cũng chưa thật sự hiệu quả, phù hợp với đơn vị nhà trường. Với vai trò là giáo viên, đồng thời được giao trách nhiệm quản lí học sinh bán trú và với những trăn trở đã nêu trên ngay từ đầu năm học chúng tôi đã mạnh dạn tham mưu với ban giám hiệu và các đoàn thể để thực hiện sáng kiến hình thành và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bán trú thông qua hoạt động ngoại khóa tại trường PTDTBT THCS Bản Hon. Với những lí do nêu trên chúng tôi đã chọn đề tài:" Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bán trú thông qua hoạt động ngoại khóa tại trường PTDTBT THCS Bản Hon". Khi thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến việc giải quyết những yêu cầu sau: - Trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cơ bản nhất thông qua các hoạt động vui chơi trong thời gian ngoại khóa tại trường. - Xác định được thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa như : hoạt động thể dục thể thao, múa hát, chơi những trò chơi dân gian, những trò chơi của địa phương. - Rèn cho học sinh tinh thần đoàn kết, trung thực, mạnh dạn trước đám đông cũng như trong bất cứ các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày. - Rèn học sinh có thái độ thân thiện với môi trường, yêu thiên nhiên và có trách nhiệm bảo vệ môi trường góp phần xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực. - Trong thực tiễn: Trên cơ cở cho học sinh bán trú tham gia các hoạt động tập thể trong giờ ngoại khóa tại trường qua đó đưa ra một số biện pháp để giáo dục kĩ năng sống cho các em. Phạm vi triển khai thực hiện Phạm vi: Đề tài áp dụng cho học sinh bán trú trường PTDTBT THCS Bản Hon. Mô tả sáng kiến Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Trường PTDTBT THCS Bản Hon được chuyển đổi từ trường THCS Bản Hon ngày 13 tháng 6 năm 2011. kể từ khi chuyển đổi sang mô hình trường PTDT BT nhà trường đã chú trọng đến các phương pháp quản lí và giáo dục học sinh bán trú. Tuy nhiên các phương pháp mới chỉ dừng ở mức độ đưa ra các nội quy, quy chế và các hình thức xử lí học sinh khi có dấu hiệu vi phạm. Từ phương pháp giáo dục này cho thấy giáo dục kĩ năng sống ít được quan tâm, các phương pháp giáo dục chưa chú trọng đến việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào quản lí và giáo dục học sinh bán trú. Mặc dù đã có một số đề tài về giáo dục kĩ năng sống quản lí và giáo dục học sinh bán trú nhưng các đề tài đó đều giải quyết một cách biệt lập thiếu tính liên kết dẫn đến hiệu quả chỉ nằm ở các lĩnh vực có đề tài nghiên cứu. Nhìn từ các sự việc vi phạm của học sinh bán trú như: đánh nhau, phân biệt giữa các dân tộc như dân tộc Mông với dân tộc Lự, trộm cắp vặt như trộm tiền, đồ dùng của nhau, bì tị nhau trong công việc lao động vệ sinh, trốn khỏi khu bán trú đi chơi... Điều đó cho thấy các phương pháp quản lí, nuôi dưỡng và giáo dục học sinh bán trú chưa hợp lí, chưa hiệu quả. Học sinh các em là người dân tộc thiểu số, tập quán sinh hoạt tại địa phương và gia đình còn lạc hậu, Ý thức tự giác trong các hoạt động tập thể còn yếu, còn ỷ lại vào nhau và vào các thầy cô giáo. Chưa có ý thức bảo vệ môi trường và bảo vệ thiên nhiên. Chưa có tinh thần đoàn kết, trách nhiệm trong lao động sản xuất. Giáo viên chưa linh động, sáng tạo khi tổ chức hướng dẫn kỹ năng, chưa phối hợp thực tiễn từ lý thuyết đến thực hành. Nhiều giáo viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, chưa thực sự yêu học sinh như con. b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến *Tính mới Sau khi áp dụng các biện pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa các em học sinh đã thay đổi nhận thức trong các hành vi, hoạt động của cá nhân tự tin tham gia mọi hoạt động của lớp, của trường của cộng đồng. Năng động, nhiệt tình hơn trong các hoạt động tập thể. Biết thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó chia sẻ những khó khăn vướng mắc trong học tập, lao động và vui chơi. * Cách thực hiện + Hoạt động tự học, tự rèn luyện của học sinh: Trong hoạt động này chúng tôi tập trung rèn các kỹ năng: - Nhận thức bản thân. - Xác định điểm mạnh, điểm yếu cho bản thân. - Xây dựng kế hoạch cho bản thân. - Khắc phục khó khăn để đạt được mục tiêu. Ngoài thời gian học tập chính khóa trên lớp, học sinh bán trú có nhiều thời gian dành cho việc tự học. Vì thế, học sinh rất cần được bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện để bổ sung, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng. Hoạt động thống nhất giữa giáo dục và tự giáo dục. Do đó chúng tôi tham mưu với Ban lãnh đạo xây dựng nội quy, lên kế hoạch cụ thể cho việc chỉ đạo và thực hiện các hoạt động ngoại khóa, các giáo viên xây dựng kế hoạch quản lí và hướng dẫn học sinh bán trú tự học trên lớp trong giờ tự học, tự rèn luyện để học sinh vươn lên đạt kết quả cao trong học tập. Xây dựng nề nếp tự học cho học sinh bán trú: học đúng giờ, có kế hoạch, có phương pháp học tập, có kết quả cụ thể; phát huy và đề cao tinh thần giúp đỡ bạn bè, kiên trì vượt khó, thương yêu đùm bọc lẫn nhau; khắc phục tính tự ti, e ngại của học sinh dân tộc nhất là học sinh nữ. + Các hoạt động văn hóa, văn nghệ: Hoạt động văn hóa văn, văn nghệ là hoạt động có tính truyền thông mang lại hiệu quả rất cao trong việc chuyền tải các thông điệp giáo dục tới học sinh, nhằm xây dựng nếp sống văn minh trong nhà trường PTDTBT, tạo cuộc sống vui tươi, lành mạnh, lôi cuốn học sinh vào các hoạt động thẩm mĩ, hấp dẫn học mà chơi, chơi mà học. Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã giáo dục cho học sinh nếp sống có kỉ luật, trật tự, vệ sinh...... - Kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ. - Kĩ năng giao tiếp không lời. - Kĩ năng thuyết trình và nói trước đám đông. - Rèn kĩ năng tư duy tích cực và sáng tạo. - Kĩ năng quản lý thời gian, nghỉ ngơi tích cực, giải trí lành mạnh. + Hoạt động thể dục, thể thao: Trong hoạt động này chúng tôi tập trung rèn các kĩ năng: - Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi. - Kĩ năng làm chủ cảm xúc. - Kĩ năng vượt qua lo lắng, sợ hãi. - Kĩ năng khắc phục tức giận. - Kĩ năng quản lý thời gian, nghỉ ngơi tích cực, giải trí lành mạnh. Hoạt động thể dục, thể thao là hoạt động nhằm tăng cường sức khỏe, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, ý trí vượt lên chính mình, bền bỉ, dẻo dai kiên cường...chúng tôi chú trọng việc luyện tập thể dục thể thao cho học sinh bán trú vào các buổi sáng hàng ngày trong tuần đều đặn, bên cạnh đó tổ chức thành lập các đội bóng chuyền nam, nữ. đội bóng đá nam, đội cầu lông nam,nữ, đội đá cầu, đội cờ vua tùy theo sự yêu thích của mình mỗi em lựa chọn mình trong đội tuyển nào để tập luyện hàng ngày và trong các ngày lễ chào mừng chúng tôi tổ chức cho các đội thi đấu ở các nội dung luyện tập tạo không khí hào hứng thích thú. Tạo lên không khí vui tươi, những tiếng cười sảng khoái sau những buổi học căng thẳng và mệt mỏi. + Hoạt động lao động sản xuất, cải thiện đời sống: Trong hoạt động này chúng tôi tập trung rèn các kĩ năng: - Kĩ năng hợp tác. - Kĩ năng làm việc nhóm. - Kĩ năng vận động và gây ảnh hưởng. - Kĩ năng ra quyết định. Học sinh dân tộc nói chung các em đều phải tham gia giúp đỡ gia đình lao động sản xuất từ khi còn nhỏ tuổi, khi các em đến trường được các thầy cô tạo điều kiện định hướng trong việc lao động sản xuất các em đều có thể tham gia tốt hoạt động này. Ví dụ các hình thức lao động sản xuất, cải thiện đời sống như trồng rau, chăn nuôi gia súc nhỏ, chăn nuôi gia cầm..... Đối với đơn vị trường PTDTBT THCS Bản hon chúng tôi lựa chọn và định hướng cho các em lao động sản xuất, cải thiện đời sống hàng ngày bằng hình thức trồng rau xanh. Tận dụng những mảnh đất trống trong diện tích đất của trường chúng tôi lên kế hoạch mua dụng cụ lao động, mua hạt giống và hướng dẫn các em làm đất trồng rau xanh cải thiện thêm bữa ăn hàng ngày của các em nhằm khích lệ các em tham gia vào các hoạt động này một cách tích cực và hiệu quả. + Các hoạt động chính trị, xã hội nhân đạo: Đây là các hoạt động nhằm gắn nhà trường với thực tiễn cuộc sống, tạo điều kiện tìm hiểu chính địa phương mình và tham gia để phát huy những truyền thống tốt đẹp của địa phương, cũng như tham gia phòng chống các tệ nan xã hội, hủ tục lạc hậu của địa phương mình. Để nâng cao hiệu quả trong các hoạt động này chúng tôi tổ chức cho các em tham gia các buổi mit tinh, diễu hành trong các ngày lễ lớn, ngày kỉ niệm, tham gia bảo vệ môi trường tại trường mình học và thôn bản nơi các em học tập và sinh sống. Tổ chức cho các em tham gia giúp đỡ các gia đình chính sách , gia đình có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn. tổ chức cho các em tham gia tích cực vào các hoạt động do đoàn thể địa phương tổ chức trong các dịp lễ hội của địa phương. Thông qua các hoạt động đó chúng tôi đã tập trung rèn các kĩ năng: - Kĩ năng diễn đạt cảm xúc. - Kĩ năng hợp tác. - Kĩ năng làm việc nhóm. - Kĩ năng từ chối. - Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi. - Kĩ năng làm chủ cảm xúc. 4. Hiệu quả do sáng kiến đem lại: Khi hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa chúng tôi nhận thấy học sinh hào hứng trong việc áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, từng cá nhân đã tự tích lũy cho mình những kinh nghiệm từ thực tế trong các hoạt động ở trường và ở nhà. Các em thấy thích thú vui vẻ hơn, đoàn kết hơn và linh hoạt hơn trong cuộc sống và yêu lao động hơn dưới sự dẫn dắt của giáo viên. Cùng với việc tích lũy cho mình những kinh nghiệm, những kĩ năng và bài học quý báu thì điều mà các em cảm thấy thích thú nhất là vừa được vui chơi vừa rèn luyện sức khỏe để phục vụ tốt cho việc học tập của chính bản thân các em. Nề nếp khu bán trú được nâng lên, nội quy khu bán trú được thực hiện nghiêm túc, các hiện tượng mất đoàn kết giữa các học sinh bán trú với nhau, phân biệt giữa các dân tộc trong học sinh đã được hạn chế, không còn học sinh vi phạm nội quy khu bán trú, nội quy trường học. Thông qua các hoạt động ngoại khóa thầy trò hiểu và gần gũi nhau hơn, tập thể học sinh ở bán trú biết đoàn kết, giúp đỡ và bao bọc lẫn nhau nhiều hơn. Các hình ảnh các hoạt động biểu diễn văn nghệ, vui chơi thể dục thể thao của học sinh bán trú trường PTDTBT THCS Bản Hon. (hình ảnh mục 8). 5. Đánh giá về phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào các hoạt động ngoại khóa cho học sinh bán trú là rất khả quan. Thông qua các hoạt động ngoại khóa để giáo dục kĩ năng sống có thể áp dụng cho tất cả các trường phổ thông có học sinh ở bán trú tại tỉnh Lai Châu. 6. Các thông tin cần được bảo mật (nếu có yêu cầu bảo mật, VD: Quy trình, bản vẽ thiết kế):Không 7. Kiến nghị, đề xuất a) Về danh sách cá nhân được công nhận đồng tác giả sáng kiến Chúng tôi xin được đề nghị các cá nhân tham gia thực hiện và hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này được công nhận là đồng tác giả của sáng kiến gồm: 1) Đ/C : Bùi Gia Chinh 2) Đ/C : Đinh Thế Hướng 3) Đ/C : Trịnh Xuân Hưng b) Kiến nghị + Ban lãnh đạo lên kế hoạch phân công, chỉ đạo, kiểm tra giám sát việc thực hiện của các cán bộ, giáo viên phụ trách học sinh bán trú thực hiện. + Xã tăng cường thêm cho đơn vị trường về diện tích đất, để có không gian tổ chức các hoạt động vui chơi tập thể của học sinh được tốt hơn. + Phòng GD&ĐT có kế hoạch chỉ đạo thực hiện, phát động thi đua, tổ chức các hoạt động văn nghệ, các hoạt động thể dục, thể thao giữa các trường có học sinh bán trú và có các hình thức động viên, khuyến khích để cả giáo viên và học sinh đều hào hứng tham gia vào các hoạt động này. 8. Tài liệu kèm: Ảnh chụp các hoạt động vui chơi tập thể, các hoạt động lao động sản xuất của học sinh trường PTDTBT THCS Bản hon Chùm ảnh các hoạt động thể dục thể thao. Chùm ảnh hoạt động văn nghệ Chùm ảnh hoạt động trò chơi XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (Ký tên, đóng dấu) ................................................................................................................................................................................................................................................................................................................ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN (Ký tên)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs Bien Phap Quan Ly Giao Duc Ky Nang Song Cho Hoc Sinh Trung Hoc Co So Doc
  • Chuyên Đề Gd Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Skkn Rèn Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia
  • Một Số Giải Pháp Bảo Đảm An Ninh Chính Trị Vùng Biên Giới Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Đảm Bảo An Ninh Chính Trị, An Ninh Trật Tự, An Toàn Xã Hội Trên Địa Bàn
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Các Giải Pháp Cụ Thể Trong Bảo Vệ An Ninh Chính Trị Nội Bộ
  • Nắm Chắc Tình Hình, Đảm Bảo An Ninh Chính Trị, Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Quyết Liệt Các Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh, Trật Tự Địa Bàn Thủ Đô
  • Tập Trung Lực Lượng, Biện Pháp Đảm Bảo Tuyệt Đối An Ninh Chính Trị Nội Bộ
  • Thứ hai, 25 Tháng 9 2021 11:35

    (LLCT) – Vùng biên giới Việt – Lào thuộc địa phận tỉnh Điện Biên là địa bàn xung yếu về an ninh chính trị vì đây là khu vực giáp ranh và có đông đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống. Quán triệt quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trong những năm qua, Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, các cấp ủy đảng, chính quyền vùng biên giới Việt – Lào của tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai có hiệu quả nhiều giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương.

    (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Tây Trang, ảnh: internet)

    Công tác đảm bảo an ninh trật tự, nhất là an ninh chính trị trên địa bàn đã đạt nhiều kết quả quan trọng, hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền được củng cố, giữ vững; an ninh chính trị nội bộ cơ bản ổn định, cán bộ, đảng viên và nhân dân đoàn kết, nhất trí, tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền; đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện; các hoạt động xâm hại an ninh chính trị kịp thời được phát hiện, ngăn chặn và xử lý… góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định trên địa bàn.

    Tuy vậy, vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém như: trong nội bộ một số cơ quan, ban, ngành xuất hiện dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, thiếu dân chủ trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; tình trạng đơn thư nặc danh, mạo danh tố cáo sai sự thật vẫn còn xảy ra. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, sa sút ý chí chiến đấu. Một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, mắc tệ nạn xã hội, thậm chí vi phạm pháp luật; cá biệt phát hiện một số trường hợp vi phạm quy định trong quan hệ, tiếp xúc với các cá nhân, tổ chức nước ngoài làm lộ, lọt thông tin nội bộ. Công tác quản lý, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan bộc lộ nhiều yếu kém, chưa coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

    Bên cạnh đó, từ năm 2005 trở lại đây, lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập của Đảng, Nhà nước, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá, triệt để khai thác những mâu thuẫn về an ninh, chính trị để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu “tôn giáo hóa vấn đề dân tộc” đối với vùng biên giới Việt – Lào có đông đồng bào DTTS; chúnglợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tạo cớ can thiệp vào nội bộ ta; tác động gây mâu thuẫn, chia rẽ dân tộc, gieo rắc tư tưởng ly khai, tự trị; tập hợp lực lượng gây rối, bạo loạn, lôi kéo đồng bào xuất cảnh trái phép sang Lào, Trung Quốc, Thái Lan… với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất thâm độc, xảo quyệt.

    Hoạt động chứa nhiều bất ổn nhất là truyền đạo Tin lành trái pháp luật, tập trung ở những địa bàn đạo Tin lành mới xâm nhập và có xu hướng lan rộng ra những bản đồng bào Mông chưa theo đạo. Phương thức truyền giáo chủ yếu thông qua các chương trình truyền giáo bằng tiếng Mông của đài Nguồn sống và qua việc lôi kéo, đào tạo một số người vượt biên trái phép ra nước ngoài lao động, học tập, tham quan… rồi đưa trở về địa bàn hoạt động, đặc biệt là người dân tộc Mông, từ đó hình thành lực lượng cốt cán trực tiếp tuyên truyền, phát tán kinh sách, lôi kéo đồng bào theo đạo. Kết hợp với sự viện trợ về vật chất, khuyến khích về tinh thần của các trung tâm truyền giáo, những nơi có đông đồng bào theo đạo Tin lành tiến hành thành lập hội, nhóm, xây dựng cơ sở thờ tự, đào tạo chức sắc trái pháp luật, tranh giành ảnh hưởng, công khai đối trọng với cấp ủy, chính quyền địa phương.

    Hoạt động có ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh chính trị ở vùng biên giới Việt – Lào thời gian qua là âm mưu thành lập tổ chức phản động “Vương quốc Mông”. Các thế lực thù địch ra sức hậu thuẫn cho các tổ chức phản động là người Mông lưu vong như: “Đảng người Mông yêu người Mông”, “Đảng Cộng sản Mông”… thực hiện âm mưu thành lập, phát triển tổ chức “Vương quốc Mông tự trị” nhằm phát triển lực lượng, kích động gây rối, bạo loạn, khủng bố, chống phá chính quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam.

    Thực trạng an ninh chính trị vùng biên giới Việt – Lào tỉnh Điện Biên cho thấy, việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đang tồn tại nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết, đó là:

    Thứ nhất, sự yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở; đặc biệt là sự hạn chế về trình độ, năng lực, suy thoái phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên

    Hệ thống chính trị cơ sở mặc dù đã được quan tâm xây dựng, củng cố song chưa đủ mạnh, hiệu quả hoạt động chưa cao. Các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, đoàn thể ở vùng biên giới trong hoạt động thực tiễn còn quan liêu, xa rời quần chúng, ít chăm lo, cải thiện đời sống cho đồng bào, số lượng và chất lượng cán bộ DTTS ở các cấp, các ngành trên địa bàn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công tác. Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, nhất là của các tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội còn mờ nhạt, chưa phát huy được hiệu quả trong lãnh đạo, chỉ đạo, tập hợp quần chúng; chức năng, nhiệm vụ của nhiều tổ chức Đảng, chính trị – xã hội chưa được xác định rõ ràng; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn yếu, nhất là năng lực vận dụng các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước vào tình hình thực tiễn… Tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức xảy ra khá nghiêm trọng. Qua kiểm tra, đánh giá phát hiện có 2 đảng viên, 17 trưởng, phó bản, 17 thôn đội trưởng, 36 dân quân, 9 công an viên, 8 đại biểu Hội đồng nhân dân xã, 19 đại biểu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã bị ảnh hưởng hoạt động thành lập “Vương quốc Mông”; có 31 đảng viên, 68 cán bộ xã, 101 công an viên, 157 trưởng, phó bản, 85 người có uy tín theo tôn giáo(1).

    Thứ hai, việc chỉ đạo và quản lý vấn đề dân tộc, tôn giáo trên địa bàn chưa chặt chẽ, triệt để, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn ảnh hưởng đến an ninh chính trị. Việc thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo chưa kịp thời, chưa linh hoạt trong xử lý, giải quyết tình huống phát sinh trong thực tiễn.

    Công tác quản lý nhà nước về an ninh chính trị đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng đông đồng bào DTTS sinh sống còn một số bất cập, như chưa có quy định cụ thể về hoạt động tôn giáo của người nước ngoài tại địa bàn; vấn đề xây dựng thực lực chính trị, phong trào quần chúng trong vùng có đạo, trong các tổ chức tôn giáo chưa được quan tâm đúng mức, chưa thống nhất trong nhận thức và cách xử lý, giải quyết vấn đề truyền đạo. Ở một số nơi, công tác vận động, giáo dục quần chúng còn mang tính hình thức, nặng về xử lý hành chính; bị động, lúng túng trước những tình huống phức tạp phát sinh.

    Thứ ba, công tác phối hợp trong bảo đảm an ninh chính trị chưa phát huy hiệu quả, việc phối hợp giữa các lực lượng còn nhiều bất cập,chưa thống nhất, rõ ràng trong cơ chế thực hiện và phân công trách nhiệm, dẫn đến hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chưa cao, một số nơi do công tác phối hợp chưa được chú trọng dẫn đến hiệu quả đảm bảo an ninh còn thấp. Hoạt động hợp tác quốc tế, phối hợp với cấp ủy, chính quyền các huyện thuộc hai tỉnh Bắc Lào có chung đường biên giới với tỉnh Điện Biên chưa có cơ chế phối hợp thường xuyên, đồng bộ,chưa phát huy được hiệu quả hoạt động như mong muốn.

    Thứ tư, việc nắm bắt tình hình, bảo đảm an ninh chính trị vùng biên giới của các lực lượng chức năng còn bị động. Mặc dù các lực lượng đã chủ động xây dựng nhiều chủ trương, kế hoạch, đối sách nhưng trong một số trường hợp, việc xử lý còn bị động, lúng túng. Nhiều vụ việc chậm được phát hiện, xử lý đã làm phát sinh mâu thuẫn, xung đột phức tạp.

    Lực lượng chuyên trách làm công tác đảm bảo an ninh chính trị, nhất là lực lượng chuyên trách trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý các hành vi gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị vùng biên giới còn mỏng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ về tầm quan trọng của công tác đảm bảo an ninh chính trị vùng DTTS còn chưa đầy đủ, sâu sắc, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế nên chất lượng, hiệu quả hoạt động chưa cao. Tỷ lệ cán bộ là người DTTS trong tổ chức bộ máy chuyên trách bảo đảm an ninh còn mỏng, năng lực, trình độ chưa đáp ứng yêu cầu công tác.

    Thứ năm, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đồng bào các DTTS trên địa bàn còn hạn chế về nhận thức và khả năng xử lý thông tin nhận biết các vấn đề về an ninh, chính trị; cách nghĩ và lối sống. Đời sống vật chất – tinh thần của đồng bào còn gặp nhiều khó khăn, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn tồn tại… Lợi dụng đặc điểm này, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định an ninh trật tự trên địa bàn, gây nhiều khó khăn cho việc bảo đảm an ninh chính trị tại vùng biên giới Việt – Lào của tỉnh.

    Như vậy, để đảm bảo an ninh chính trị vùng đông đồng bào DTTS nói chung, vùng DTTS biên giới Việt – Lào nói riêng cần hai yếu tố cơ bản: (1) Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở có trình độ, có hiểu biết, cần thiết và quan trọng hơn là tận tâm với công việc và trong sáng về phẩm chất; (2) Làm cho đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống vật chất, tinh thần ngày một tốt hơn, xây dựng và củng cố niềm tin của đồng bào DTTS với chính quyền, Đảng và Nhà nước.

    Thực trạng trên đòi hỏi việc đảm bảo an ninh chính trị trên địa bàn cần tiếp tục có những đổi mới về mặt tổ chức, lực lượng, chỉ đạo, phối hợp trong hoạt động triển khai nhiệm vụ theo những hướng căn bản sau:

    Một là, quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc

    Giải pháp này vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, có ý nghĩa sâu sắc trong việc ổn định, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để thực hiện có hiệu quả, các ngành, các cấp cần rà soát, kịp thời bổ sung những chính sách đầu tư sát hợp với vùng dân tộc thiểu số; tổ chức thực hiện đồng bộ, chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở, đảm bảo các loại vốn đầu tư thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện để đồng bào phấn đấu vươn lên thoát nghèo một cách bền vững, hòa nhập với tiến trình đi lên của đất nước. Trong đó cần tập trung mọi nguồn lực để thực hiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2021, phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng cùng các tổ chức xã hội tích cực vận động đồng bào các tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo ở cơ sở

    Phải gắn chặt việc kiện toàn tổ chức với xây dựng đội ngũ cán bộ,nhất là đội ngũ cấp ủy viên các cấp; nhạy bén, vững vàng về chính trị, tư tưởng; trong sạch về đạo đức, lối sống; giỏi về năng lực; chững chạc về phong cách lãnh đạo, sâu sát, gần gũi quần chúng. Trong lãnh đạo, các cấp ủy cơ sở phải quán triệt, thực hiện tốt chủ trương, nghị quyết của cấp ủy cấp trên, nắm vững tình hình địa bàn, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc để đề ra chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương trong từng thời điểm nhất định và có tính khả thi cao, nhằm phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Các cấp ủy cần đề ra quy chế, chương trình và kế hoạch hoạt động cụ thể, không dập khuôn, máy móc, không ỷ lại vào cấp trên, nêu cao tính độc lập, sáng tạo trong việc vận dụng đường lối, nghị quyết của Đảng và cấp trên vào tình hình cụ thể của cơ sở. Các tổ chức đảng phải xây dựng được đội ngũ đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực, tuyệt đối trung thành với Đảng và chế độ XHCN; tận tụy phục vụ nhân dân, luôn gần gũi, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cùng với việc tăng cường về số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, cần chú ý chất lượng, cơ cấu của đội ngũ cũng như năng lực lãnh đạo, kinh nghiệm thực tiễn, đáp ứng tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

    Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

    Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là nhiệm vụ của địa phương. Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, củng cố, tăng cường “cầu nối” giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, làm cho quan hệ giữa Đảng, chính quyền với đồng bào thêm gắn bó. Muốn vậy, phải đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng; thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và quy chế Dân chủ ở cơ sở; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động và tập hợp nhân dân tham gia vào các tổ chức đoàn thể: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân,… Phát huy tinh thần tự quản của cộng đồng dân cư, chú trọng vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng thôn, những người có uy tín ở cộng đồng trong công tác vận động quần chúng.

    Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước

    Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong đồng bào các dân tộc, nhất là chính sách phát triển kinh tế – xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục để đồng bào có nhận thức đúng, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch để không bị lợi dụng; phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật,thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân và đúng chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo, khơi dậy lòng tự tôn, tự hào dân tộc, truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Năm là, chủ động làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vụ việc về an ninh chính trị trên địa bàn

    Các lực lượng chức năng, nòng cốt là công an cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, cơ quan chức năng khác trong vùng có đông đồng bào DTTS nhằm nắm chắc tình hình từ nhiều nguồn, nhiều kênh thông tin khác nhau. Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân tích, đánh giá, kết luận chính xác bản chất, nguyên nhân của sự việc, dự báo diễn biến, quy mô, tính chất và khả năng ảnh hưởng của sự việc đó đối với an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn. Khi xảy ra sự việc, kịp thời xác định rõ có bàn tay của địch và các đối tượng phản động không? Từ đó, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xử lý “đúng, trúng, hiệu quả”. Trong giải quyết các tình huống, vụ việc, phải khéo léo, linh hoạt, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng lực lượng, không để ảnh hưởng đến nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cũng như ảnh hưởng tới quan hệ giữa cán bộ với nhân dân.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

    (1) Tráng A Tủa:”Nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo an ninh trật tự vùng dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên”, Đề tài khoa học cấp Bộ Công an, 2021.

    ThS Đặng Thị Thanh Hoa

    Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xã Hạ Bì Tăng Cường Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Nông Thôn
  • Đảm Bảo An Ninh Trật Tự Trên Địa Bàn Nông Thôn
  • Giữ An Ninh Nông Thôn Từ Cơ Sở
  • Giải Pháp Đảm Bảo An Ninh, Trật Tự Xã Hội Nông Thôn: Người Dân Là Nhân Tố Quyết Định
  • Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trậttự Trong Chương Trình “thành Phố 4 An”
  • Những Giải Pháp Cơ Bản Nhằm Thực Hiện Hiệu Quả Tinh Giản Biên Chế Trong Các Cơ Quan Công Quyền Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Số 18, Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa Xii Nhằm Giải Quyết Tốt Việc Đổi Mới Chính Trị Đồng Bộ Với Đổi Mới Kinh Tế
  • Tiểu Luận Vấn Đề Dân Tộc Và Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Ở Nước Ta
  • Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc, Công Tác Dân Tộc Ở Quảng Ninh: Đột Phá Từ Cách Làm Sáng Tạo
  • Thực Trạng Chính Sách Dân Tộc, Định Hướng Xây Dựng Chính Sách Giai Đoạn 2021
  • Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở Ở Hà Nam
  • Ngày đăng: 18/05/2018 01:42

    Căn cứ thực trạng sau 16 năm triển khai tinh giản biên chế trong các cơ quan công quyền (từ Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ đến Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức), chúng tôi đề xuất một số giải pháp cơ bản để hiện thực hóa quyết tâm tinh giản biên chế, “sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

    Một là, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

    Để thực hiện tốt giải pháp này, tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức, cơ quan, đơn vị phải: Tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm minh, hiệu quả Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20-11-2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-BNV-BTC ngày 14-4-2015, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Ban Chấp hành Trung ương; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10-/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 18-NQ-TW; Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội đã ban hành để:

    (1) Tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động của lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    (3) Nắm được nguyên nhân căn bản dẫn đến bộ máy”phình to”, “cồng kềnh”, kém hiệu quả, nhiều tầng nấc, chức năng nhiệm vụ chồng chéo, hằng năm “tiêu ngốn” hàng triệu tỷ đồng do số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước quá lớn – nhất là ở các đơn vị sự nghiệp công lập, người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố (1).

    (4) Từ đó, chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện ở từng tổ chức, cơ quan, đơn vị – trong đó, yếu tố quan trọng nhất là phân công quyền lực, ủy thác quyền lực, trách nhiệm, thẩm quyền của người đứng đầu trong việc thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    (5) Tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, không để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ; tin tưởng vào quyết tâm, bản lĩnh chính trị của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong việc “đưa những cán bộ, công chức, viên chức không còn phù hợp ra khỏi nền công vụ”, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý về cơ cấu, có đủ năng lực, đạo đức và trách nghiệm công vụ đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Hai là, quán triệt và thực hiện nghiêm minh tinh gọn bộ máy tổ chức, tinh giản biên chế từ Trung ương đến địa phương

    Trong cải cách, tinh gọn bộ máy tổ chức, tinh giản biên chế phải quyết liệt đổi mới từ cấp trên, từ Trung ương, bộ, ngành trước thay vì bắt đầu từ cơ sở như cách làm lâu nay. Sự tinh gọn từ cấp trên sẽ là đích đến, là định hướng để cấp dưới thực hiện. Xác định, tinh gọn bộ máy tổ chức, tinh giản biên chế từ Trung ương đến địa phương là “cuộc cách mạng” trong bộ máy tổ chức; là sự đổi mới toàn diện, triệt để, xóa bỏ những cái cũ kỹ, lạc hậu… cho nên phải làm quyết liệt theo phương châm “có lên, có xuống; có vào, có ra” và theo nguyên tắc “ra 2 vào 1”.

    Đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ:Rà soát, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, của từng cấp chính quyền địa phương nhằm khắc phục tình trạng cắt khúc, chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ trong quản lý nhà nước, bảo đảm sự liên thông, đồng bộ, thống nhất, gắn kết chặt chẽ giữa các bộ phận; thực hiện có hiệu quả nguyên tắc: một cơ quan thực hiện nhiều việc nhưng một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính.

    Đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, chính quyền địa phương và giữa chính quyền cấp trên với chính quyền cấp dưới; giao quyền chủ động cho cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực hiệu quả.

    Rà soát, sắp xếp, tinh gọn đầu mối bên trong, giảm cơ bản số lượng tổng cục, cục, chi cục, vụ, phòng; không thành lập tổ chức mới, không thành lập phòng trong vụ. Giảm tối đa các ban quản lý dự án. Kiên quyết hợp nhất, sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập để thu gọn đầu mối, giảm biên chế.

    Thực hiện tinh giản biên chế theo lộ trình, giảm số lượng cấp phó của các đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế tại cơ quan, đơn vị và quy định của Đảng, Chính phủ.

    Đối với các địa phương: Sắp xếp tổ chức bộ máy hành chínhtheo hướng thu gọn đầu mối, giảm cấp trung gian, tăng cường quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Không nhất thiết cấp trên có cơ quan, tổ chức nào thì cấp dưới có cơ quan, tổ chức đó và ngược lại; các cơ quan, đơn vị cùng cấp ở các địa phương khác nhau không nhất thiết phải có mô hình tổ chức bộ máy giống nhau. Cụ thể:

    (1) Chủ động rà soát, sắp xếp giảm các tổ chức phối hợp liên ngành, ban quản lý dự án;

    (2) Hợp nhất Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân ở cấp tỉnh; Văn phòng cấp ủy với Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ở những nơi có điều kiện theo quy định;

    (3) Sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và sáp nhập các thôn, tổ dân phố theo quy định;

    (4) Thực hiện mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo; khoán kinh phí chi phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;

    (5) Tiếp tục thực hiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố;

    (6) Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực và nhu cầu của thị trường, xã hội; thực hiện tinh giản biên chế theo lộ trình, giảm số lượng cấp phó của các cơ quan, tổ chức, đơn vị phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương(2).

    Ba là, đẩy nhanh tiến độ xây dựng,hoàn thiện và ban hành đề án vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính nhà nước

    Xây dựng đề án vị trí việc làm là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Đề án vị trí việc làm sẽ giúp Thủ trưởng đơn vị rà soát, đánh giá lại tình hình sử dụng, sắp xếp nhân sự trong cơ quan, đơn vị; có cái nhìn toàn diện về số lượng vị trí việc làm dự kiến và số lượng vị trí việc làm hiện tại cũng như xây dựng kế hoạch sử dụng cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.

    Đề án vị trí việc làm chính là khâu mấu chốt để tiến hành xác định nhiệm vụ và yêu cầu về năng lực thực hiện nhiệm vụ tại mỗi vị trí công việc trong cơ quan, tổ chức; xác định mức độ phù hợp về năng lực cũng như để đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, tạo cơ sở cho việc xác định chính xác những đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức trên cơ sở luật định và điều kiện thực tế (dân số, trình độ phát triển của địa phương, các vấn đề đặt ra trong phát triển ở địa phương,…); xác định được chính xác số lượng nhân sự cần có (lãnh đạo, nhân viên) cho các vị trí công việc sao cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn(3). Do vậy, cần khẩn trương:

    (1) Cụ thể hóa các căn cứ và xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp cho các vị trí công việc trong cơ quan, tổ chức;

    (2) Xây dựng khung phân loại thống nhất, tầm quan trọng, độ phức tạp, khối lượng công việc quản lý hành chính của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; phân loại các cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính;

    (3) Xác định cơ cấu cán bộ công chức; hoàn thiện, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ công chức; xây dựng định mức lao động, định mức sử dụng thời gian làm việc của cán bộ,công chức.

    (4) Phân loại hệ thống công việc nhằm phân loại vị trí việc làm tạo căn cứ cho việc áp dụng phương pháp, công cụ tuyển dụng phù hợp với đặc thù của vị trí việc làm;

    (5) Xây dựng khung năng lực theo vị trí việc làm tạo cơ sở để hình thành chuẩn năng lực đầu vào cho tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm;

    (6) Đổi mới nội dung và cách thức thi tuyển công chức theo vị trí việc làm – nên xây dựng mô hình tuyển dụng theo hệ thống vị trí việc làm, bởi chế độ tuyển dụng lâu nay ở nước ta (theo hệ thống chức nghiệp) đã tạo ra sức ì lớn cho công chức trong nền công vụ. Hệ thống chức nghiệp với cơ chế làm việc suốt đời được hiểu theo nghĩa: nếu như công chức không vi phạm pháp luật, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ không bị áp dụng hình thức sa thải cho dù họ làm việc kém hiệu quả hay hạn chế về năng lực…

    Đây là giải pháp quan trọng, cần phải đầu tư, nghiên cứu một cách căn bản, khoa học, chính xác, thuyết phục. Chỉ khi nào xây dựng được những cơ sở nói trên mới có thể khắc phục được tình trạng cào bằng, bình quân chủ nghĩa, “chạy chọt”, “mua bán” trong phân bổ và tinh giản biên chế(4).

    Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tinh giản biên chế

    Đây là điểm khó nhất trong quá trình thực hiện tinh giản biên chế. Bởi vì, biện pháp dù có hay và phù hợp đến đâu, nếu người đứng đầu không kiên định, quyết tâm, không có bản lĩnh chính trị; không “đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân”; không công tâm, khách quan, “liêm chính, chí công vô tư” khi sử dụng quyền hạn của mình… thì không thể đưa được những người không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị vào diện thực hiện chính sách tinh giản biên chế; không thể nào tinh giản biên chế được.

    Cần có những quy định pháp lý để ràng buộc sự cam kết của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với trách nhiệm thực hiện tinh giản biên chế.

    Lấy kết quả thực hiện việc sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và tín nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị, người giữ chức vụ do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

    Cần có những hình thức kỷ luật nghiêm khắc nếu người đứng đầu không thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm đã được phân công, đảm nhiệm. Ví như, trong đơn vị để xảy ra hiện trạng: Biên chế tăng không giảm và ngày càng “phình to”; biên chế giảm nhưng “tinh giản không đúng đối tượng”, chủ yếu là người về hưu và sắp đến tuổi nghỉ hưu; trong đơn vị, lãnh đạo nhiều hơn nhân viên; tình trạng trù dập, lôi bè kéo cánh, tìm mọi cách “đưa người trong nhà, trong họ vào làm việc”(5); để mất đoàn kết kéo dài trong đơn vị…

    Người đứng đầu “phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”(6); thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình; lấy”cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”(7)là kim chỉ nam trong công tác tinh giản biên chế.

    Người đứng đầu phải xác định rõ, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(8), muôn sự “thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(9)để “làm cho tốt” công tác tổ chức cán bộ trong lộ trình tinh giản biên chế; chú trọng thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; bảo đảm đến năm 2021 giảm được 10% so với biên chế giao năm 2021.

    Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát lộ trình tinh giản biên chế từ Trung ương đến địa phương

    Đây cũng là giải pháp đặc biệt quan trọng, là cơ sở, động lực thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ trọng trách của Đảng và Chính phủ: Cải cách, tinh gọn bộ máy tổ chức, tinh giản biên chế đúng lộ trình (từ năm 2021-2021), đạt được mục tiêu đề ra “giảm tối thiểu 10% biên chế so với năm 2021″(10)và “hoàn thành việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn mới”(11)(lộ trình từ năm 2021 đến năm 2030). Chỉ có kiểm tra, thanh tra, giám sát mới “có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên, cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân”(12). Cho nên, ngay từ bây giờ, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát phải:

    (1) Khắc phục ngay những hạn chế, bất cập còn tồn tại mà Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 do Quốc hội ban hành đã chỉ ra: “Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm chưa được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc”(13);ngăn ngừa được “xu hướng bảo thủ, buông trôi”(14);những thành kiến cho rằng, “công tác kiểm tra là vạch lá tìm sâu, làm giảm thành tích của địa phương mình”(15).

    (2) Trong quá trình kiểm tra, thanh tra, giám sát phảibám sát Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị về Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII – trong đó đã chỉ rõ từng nhiệm vụ cụ thể (nhiệm vụ hằng năm, nhiệm vụ 1 năm, nhiệm vụ 2 năm, nhiệm vụ của từng tổ chức…) phải hoàn thành trong lộ trình tinh giản biên chế từ nay đến năm 2021.

    (3) “Từ trung ương đến các tỉnh, các huyện, các xã đều phải nắm chắc công tác kiểm tra. Mỗi năm phải kiểm tra mấy lần. Hễ thấy vấn đề thì phải giải quyết ngay. Phải phê bình kịp thời, chớ để việc qua rồi mới phê bình. Làm như vậy sẽ đỡ mắc sai lầm, và nếu phạm sai lầm thì kịp thời sửa chữa”(16). Để không thể tái diễn tình trạng: “Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ […] Cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả chưa cao; việc công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế”(17); Tinh giản biên chế một cách cơ học, chưa đúng đối tượng do chạy theo chỉ tiêu, số lượng(18);

    Biên chế trong các cơ quan nhà nước có xu hướng “phình to”(19).

    (4) Xử lý nghiêm minh “cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước” làm những việc trái với chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, kế hoạch của Đảng và Chính phủ về tinh gọn bộ máy tổ chức, tinh giản biên chế như, quản lý biên chế tại nhiều Bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm; cơ cấu công chức chưa hợp lý, số lượng cấp phó ở một số đơn vị vượt quy định, còn mất cân đối về tỷ lệ giữa người giữ chức danh lãnh đạo, quản lý, giữ hàm với công chức tham mưu, giúp việc; tinh giản biên chế chưa đạt mục tiêu đề ra(20).

    (5) Động viên, khen thưởng, tuyên dương kịp thời những cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương nào sáng tạo, làm tốt, hiệu quả đúng với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ và phù hợp với thực tế đơn vị, địa phương; đồng thời, nhân rộng mô hình tinh giản biên chế đạt được những kết quả điển hình.

    Thường xuyên rà soát, đề xuất hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của ủy ban kiểm tra các cấp, khắc phục sự trùng lặp trong công tác kiểm tra của Đảng, thanh tra, kiểm toán và giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội(21).

    ThS Chu Thị Hằng Nga – Viện Thông tin khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    (1), (10), (11), (17) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII,Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2021, tr.38, 47, 47, 38.

    (2) Chương trình hành động của Chính phủ thực hiệnNghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII… (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 3/2/2018 của Chính phủ).

    (3)Xem: TS Đào Thị Thanh Thủy:Các mô hình tuyển dụng trên thế giới và định hướng ứng dụng cho Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

    (4) Xem TS Nguyễn Thị Thanh Thủy:Tinh giản biên chế trong bộ máy hành chính nhà nước – vấn đề và giải pháp,http://caicachhanhchinh.gov.vn, ngày 17/5/2017.

    (5) Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.23.

    (6), (7) Sđd, t.1, tr.14, 15.

    (8), (9) Sđd, t.5, tr.14, 15.

    (12), (15) Sđd, t.14, tr.362, 363.

    (13), (19), (20) Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 do Quốc hội ban hành về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    (14), (16) Sđd, t.12, tr.43, 45.

    (18) http://baodautu.vn, ngày 1/11/2017.

    (21) Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

    Theo: lyluanchinhtri.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 18
  • Hiệu Quả Từ Thực Hiện Nghị Quyết Số 18 Và 19 Về Tinh Gọn Bộ Máy Ở Đồng Nai
  • Sơ Kết 4 Năm Thực Hiện Chỉ Thị 05 Và Kỷ Niệm 130 Năm Ngày Sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Một Số Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Cán Bộ, Đảng Viên Thực Hiện Chỉ Thị 05, Chuyên Đề Năm 2021
  • Nêu Cao Tinh Thần Trách Nhiệm, Nỗ Lực Tổ Chức Thực Hiện Đồng Bộ, Hiệu Quả Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Thực Hiện Chỉ Thị Số 05
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Các Biện Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu
  • Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu Cho Vùng Miền Núi
  • 10 Giải Pháp Cấp Bách Chống Biến Đổi Khí Hậu
  • Checklist Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Ứng Biến Với Đại Dịch Covid
  • Giải Pháp Kinh Doanh Thực Chiến Giữa Mùa Dịch Bệnh Cùng Dsto
  • TIỂU LUẬN:

    CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

    TRONG XÂY DỰNG

    Hà Nội – 2010

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    Tr

    1. Biến đổi khí hậu toàn cầu – Nguyễn Văn Dũng

    03

    2. Lắng đọng axit – Chu Anh Đại

    09

    3. Hiệu ứng nhà kính – Trần Minh Đức

    18

    4. Mối quan hệ

    giữa các thành phần của môi trường – Nguyễn Trường Giang 050

    20

    5. Suy giảm tầng ozon – Nguyễn Trường Giang 053

    26

    6. Mối quan hệ dân số và tài nguyên môi trường – Phạm Thế Giang

    29

    2

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    BIẾN ĐỒI KHÍ HẬU TOÀN CẦU

    Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất với nhân loại

    trong thế kỉ 21. Nó đã và đang tác động nghiêm trọng tới sản xuất, đời sống và

    môi trường trong phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, nước biển dâng gây ngập

    lụt, nhiễm mặn nguồn nước, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống

    kinh tế- xã hội trong tương lai. Trái đất nóng lên, nước biển dâng cao, biến đổi

    khí hậu đến nay không còn là vấn đề riêng của một nước nào mà đó là vấn đề

    chung, là trách nhiệm của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đang rất nỗ lực

    xây dựng và thực hiện các hành động chiến lược nhằm thích ứng với sự nóng lên

    toàn cầu, ngăn ngừa và hạn chế tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan do

    biến đổi khí hậu.

    I- Biến đổi khí hậu và những biểu hiện của biến đổi khí hậu.

    1.1. Biến đổi khí hậu.

    Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng

    quyển và sinh quyển. Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục

    của những thành phần này. Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần

    khác nhau rất nhiều. Nhiều quá trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và

    sinh hóa có vài trò tăng tường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí

    hậu. Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: “Biến đổi khí

    hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong

    môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến

    thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và

    được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức

    khỏe và phúc lợi của con người”.

    1.2. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:

    *

    Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.

    * Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường

    sống của con người và các sinh vật trên Trái đất.

    * Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các

    vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.

    * Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng

    khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật,

    các hệ sinh thái và hoạt động của con người.

    * Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu

    trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.

    * Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và

    thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.

    II. Nguyên nhân và hậu quả của biến đổi khí hậu:

    2.1. Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu.

    Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các

    hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các

    3

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất

    liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn

    chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO 2 , CH 4 , N 2 O,

    HFCs, PFCs và SF6.

    * CO 2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là

    nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2

    cũng sinh ra tử các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán

    thép.

    * CH 4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại,

    hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.

    * N 2 O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.

    * HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là

    sản phẩm phụ của quá trình sản uất HCFC-22.

    * PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.

    * SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.

    2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu.

    Bằng chứng về sự nóng lên của hệ thống khí hậu được thể hiện ở sự gia

    tăng nhiệt độ trung bình của không khí và đại dương trên toàn cầu, tình trạng

    băng tan và tăng mực nước biển trung bình trở nên phổ biến. Sự gia tăng nhiệt

    độ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các khu vực vĩ độ

    cao ở phía bắc. Khu vực đất liền nóng lên nhanh hơn các khu vực đại dương.

    Những thay đổi về nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, các sol khí, độ che

    phủ đất và bức xạ mặt trời đã làm thay đổi cân bằng năng lượng của hệ thống

    khí hậu. Lượng khí thải nhà kính trên toàn cầu do con người đã tăng khoảng

    70% so với thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, trong khoảng thời gian từ

    1970 đến 2004.

    Khí CO 2 là loại khí nhà kính quan trọng nhất do các hoạt động của con

    người tạo ra. Từ năm 1970 đến năm 2004, phát thải hàng năm của loại khí này

    tăng khoảng 80%. Xu thế giảm dài hạn khí thải CO 2 trên một đơn vị năng

    lượng đã bị đảo ngược sau năm 2000.

    Năm 2005, nồng độ CO 2 trong khí quyển là 379 ppm và CH 4 là 1.774

    ppm, vượt xa mức tự nhiên trong hơn 650.000 năm qua. Nồng độ CO2 trên toàn

    cầu tăng chủ yếu do sử dụng nhiên liệu hoá thạch và thay đổi mục đích sử dụng

    đất (hoạt động này chỉ góp một phần nhỏ). Tăng nồng độ CH 4 chủ yếu do nông

    nghiệp và đốt nhiên liệu hóa thạch. Tốc độ tăng CH 4 cũng đã giảm kể từ những

    năm đầu thập kỷ 90.

    Kể từ 1750, nồng độ CO 2 , CH 4 , N 2 O trong khí quyển toàn cầu tăng rõ

    rệt do các hoạt động của con người và hiện nay vượt xa so với mức của thời kỳ

    trước cách mạng công nghiệp, làm tan chảy cả các khối băng đã tồn tại qua hàng

    nghìn năm.

    Hầu hết sự gia tăng nhiệt độ trung bình trên toàn cầu quan sát được từ

    giữa thế kỷ 20 có thể do tăng nồng độ khí nhà kính. Trong hơn 50 năm qua,

    nhiệt độ ở các lục địa (trừ Nam Cực) đã tăng lên đáng kể.

    4

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP,

    2007), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất

    trước sự biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển tăng 1m, Việt Nam sẽ mất 5%

    diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và

    10% thu nhập quốc nội (GDP). Nước biển dâng 3-5m đồng nghĩa với một thảm

    họa có thể xảy ra ở Việt Nam.

    Thực tế những biểu hiện gần đây của biến đổi khí hậu toàn cầu ở nước ta

    hiện nay là khá nghiêm trọng:

    * Trong những năm gần đây bão, lũ lụt ở nước ta có chiều hướng gia tăng

    và biến động rất thất thường.

    * Hiện tượng El Nino đã gây ra hạn hán nghiêm trọng tại các tỉnh Tây

    Nguyên, Nam Bộ với thiệt hại 312 triệu USD.

    * Trong 5 năm gần đây, các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng liên tục phải

    đối phó với hạn hán gay gắt do mực nước sông Hồng liên tục xuống thấp

    đến mức lịch sử.

    * Việt Nam có hai thành phố ven biển lớn nhất là Hải Phòng và TP Hồ Chí

    Minh nằm trong danh sách 10 thành phố trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng

    nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu trong vòng 20-50 năm tới.

    * Biến đổi khí hậu đã tác động đến hàng chục triệu người Việt Nam khiến

    cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo ở vùng núi, vùng

    biển, vùng đồng bằng bị đe dọa.

    * Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến

    đổi khí hậu và nước biển dâng. Trong vài chục năm tới nhiệt độ trung

    o

    bình ở VN có thể tăng lên 3 C và mực nước biển có thể dâng lên 1m vào

    năm 2100.

    6

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    3.2. Các phương án khắc phục biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

    Không phải cho đến bây giờ, Chính phủ Việt Nam mới quan tâm đến vấn

    đề khí hậu và nước biển dâng cao hiện nay. Có thể kể ra một số sự chuẩn bị cụ

    thể của Việt Nam trước tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Ở cấp quốc tế, Việt

    Nam đã ký và phê chuẩn Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí

    hậu và trở thành một bên của Công ước ngày 25/09/2005. Mặc dù Việt Nam

    không thuộc các nước phải tuân thủ lộ trình cắt giảm phát thải khí nhà kính,

    song Việt Nam vẫn có thể chủ động xây dựng kế hoạch hành động phù hợp ngay

    từ bây giờ để tránh những tổn thất trực tiếp cũng như những tác động tiêu cực

    đến đời sống kinh tế- xã hội và sự phát triển bền vững của quốc gia. Ở cấp quốc

    gia, Việt Nam đã lồng ghép chống biến đổi khí hậu vào Luật bảo vệ môi trường,

    các chương trình như Chương trình nghị sự Agenda 21 của Việt Nam, Chiến

    lược quốc gia về quản lý môi trường biển và ven biển, Kế hoạch hành động quốc

    gia về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu Chiến lược quốc gia phòng, chống

    và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2021…

    Trước nguy cơ ảnh hưởng và cảnh báo về biến đổi khí hậu và nước biển

    dâng, Việt Nam cần làm gì để ứng phó với hiểm họa này. Các hành động trước

    mắt và lâu dài cần được xem xét và cân nhắc kỹ nhằm thích ứng và giảm nhẹ

    những tác động bất lợi cho nền kinh tế và đời sống con người. Tại Hội thảo về

    Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam diễn ra tháng

    2/2008, các nhà khoa học và các nhà quản lý đã đề xuất 8 giải pháp thích ứng

    với biến đổi khí hậu của Việt Nam gồm:

    * Chấp nhận tổn thất: Phương pháp thích ứng này là phản ứng cơ bản

    “không làm gì cả”.

    * Chia sẻ tổn thất: Chia sẻ tổn thất giữa cộng đồng dân cư, bảo hiểm.

    * Làm thay đổi nguy cơ: giảm nhẹ biến đổi khí hậu.

    * Ngăn ngừa các tác động: Thích ứng từng bước và ngăn chặn các tác động

    của biến đổi khí hậu và bất ổn của khí hậu.

    * Thay đổi cách sử dụng: biến đổi khí hậu khiến các hoạt động kinh tế

    không thể thực hiện thì có thể thay đổi cách sử dụng.

    * Thay đổi/chuyển địa điểm: thay đổi/chuyển địa điểm của các hoạt động

    kinh tế.

    * Nghiên cứu: phát triển công nghệ mới và phương pháp mới về thích ứng.

    * Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: Phổ biến kiến thức

    thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc

    thay đổi hành vi.

    IV. KẾT LUẬN.

    * Các nguyên nhân gây biến đổi khí hậu rất đa dạng và phức tạp, do cả tự

    nhiên và do con người. Nhưng rõ ràng là con người là tác động đẩy nhanh

    quá trình này trong vài thập kỷ qua.

    * Nhằm hạn chế tốc độ biến đổi khí hậu, cần định hướng phát triển toàn cầu

    theo lộ trình hướng tới một nền kinh tế xanh-sạch, ít cácbon; cắt giảm khí

    7

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    thải nhà kính gây nóng lên toàn cầu chủ yếu ở các lĩnh vực năng lượng,

    công nghiệp và giao thông; cắt giảm trợ cấp cho các nguồn năng lượng

    hóa thạch; tăng cường sử dụng hiệu quả năng lượng, nghiên cứu tìm ra

    các nguồn năng lượng mới, thân thiện với môi trường.

    * Tác động của biến đổi khí hậu không trừ đất nước nào, dù cho nước đó

    không góp nhiều vào nguyên nhân gây biến đổi khí hậu. Theo đánh giá,

    Việt Nam là nước đang phát triển nằm trong nhóm nước dễ bị tổn thương

    trước mực nước biển dâng cao.

    * Để làm giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao,

    cần xác định rõ hai mục tiêu giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu và

    chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu với một trong những hậu quả

    quan trọng nhất đối với Việt Nam là nguy cơ nước biển dâng cao. Các

    giải pháp thực hiện hai mục tiêu này có thể rất đa dạng, như tăng cường

    các hoạt động nghiên cứu gồm đo đạc, đánh giá hiện tượng biến đổi khí

    hậu và mực nước biển dâng cao, từ đó đưa ra các chính sách và kế hoạch

    hành động, tổ chức và thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu sự biến

    đổi khí hậu và các tác động bất lợi đến con người và môi trường, xác định

    và tổ chức các hành động thích ứng để đối phó với biến đổi khí hậu và

    mực nước biển dâng cao. Trong các giải pháp chiến lược này, tăng cường

    khoa học công nghệ và nâng cao nhận thức cho cộng đồng cần được chú

    trọng.

    8

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    VẤN ĐỀ LẮNG ĐỌNG AXIT

    Lắng đọng axit (Acid deposition) hiện đang là một trong những vấn

    nhiễm bẩn môi trường quan trọng nhất không chỉ vì mức độ ảnh hưởng mạnh

    mẽ của chúng tới cuộc sống của con người và các hệ sinh thái mà còn vì quy mô

    tác động của chúng đã vượt ra khỏi phạm vi kiểm soat của mỗi quốc gia và nhân

    loại đang phải xem xét những ảnh hưởng của chúng ở khu vực và toàn cầu.

    Lắng đọng axit là một hiện tượng đã được phát hiện từ lâu song được chú

    ý nhiều nhất từ khoảng những năm 80 cho tới nay do tác hại của chúng gây ra ở

    nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới.Lắng đọng axit được tạo thành trong điều

    kiện khí quyển ô nhiễm do sự phát thải quá mức các khí SO2, NOx từ các nguồn

    thải công nghiệp và có khả năng lan xa tới hàng trăm, hàng ngàn kilomet. Bởi

    vậy, có thể nguồn phát thải sinh ra từ quốc gia này nhưng lại có ảnh hưởng tới

    nhiều quốc gia lân bang do sự chuyển động quy mô lớn trong khí quyển.Lắng

    đọng axit gây ra những hậu quả nghiêm trọng về người và của: làm hư hại mùa

    màng, giảm năng suất cây trồng, phá huỷ rừng cây, đe doạ cuộc sống của các

    loài sinh vật ở dưới nước và trên cạn, phá hoại các công trình kiến trúc,xây

    dựng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ con người…Thiệt hại hàng năm trên

    toàn cầu ước tính hàng tỷ đôla Mỹ. Những tác động tiêu cực này thường kéo dài

    và khó khắc phục.Bởi vậy, hiện nay vấn đề lắng đọng axit là vấn đề toàn nhân

    loại cần quan tâm.

    Thuật ngữ lắng đọng axit bao gồm cả hai hình thức: lắng đọng khô ( dry

    deposition) và lắng đọng ướt. Lắng đọng ướt có thể thể hiện dưới nhiều dạng

    ( trước đây thường quen gọi chung là Mưa axit): mưa, tuyết, sương mù, hơi

    nước có tính axit; còn lắng đọng khô bao gồm các dạng: khí (gases), hạt bụi

    (particulate) và sol khí (aerosol) có tính axit.

    Để hiểu rõ hơn về vấn đề này bài tiểu luận của em sẽ đi sâu tìm hiểu về

    lắng đọng axit trên một số phương diện cụ thể như sau:

    Phần một: Cơ chế hình thành

    Phần hai: Ảnh hưởng của lắng đọng axit

    Phần ba: Biện pháp khắc phục

    I. CƠ CHẾ HÌNH THÀNH

    Lắng đọng axít là hiện tượng được tạo thành trong điều kiện khí quyển bị

    ô nhiễm các khí SO2,NOx lắng đọng xuống bề mặt trái đất ở trạng thái khô như

    bụi,khí gas,sol khí có tính axit,ở dạng ướt (mưa axit);mưa tuyết ,sương mù có

    tính axit.

    Độ acid được đo bằng thang pH (thang logarith), trong đó pH = 7 để chỉ

    các dung dịch trung tính. Thông thường pH = 5,6 (pH 5,6 là mức pH của nước

    bão hoà khí CO2) được coi là cơ sở để xác định mưa acid. Điều này có nghĩa là

    bất kỳ một trận mưa nào có độ acid thấp hơn 5,6 được gọi là mưa acid. Cũng

    cần nói thêm rằng, trong giới chuyên môn đôi khi người ta dùng thuật ngữ “sự

    lắng đọng acid” (Acid deposition), thay vì mưa acid (acid rain). Hai thuật ngữ

    này khác nhau ở chỗ acid deposition là sự lắng đọng của acid trong khí quyển

    9

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    Ba loại phản ứng này phụ thuộc vào áp suất riêng phần của NOx hiện

    diện trong khí quyển và độ hòa tan rất thấp của NOx trong nước. Các phản

    ứng trên có thể tăng tốc độ với sự hiện diện của các chất xúc tác kim loại như

    Fe3+,Mn2+.

    11

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    II. ẢNH HƯỞNG CỦA LẮNG ĐỌNG AXIT

    A. Tác động tiêu cực

    1. Ảnh hưởng của mưa acid lên thực vật và đất .

    Một trong những tác hại nghiêm trọng của mưa acid là các tác hại đối

    với thực vật và đất. Khi có mưa acid, các dưỡng chất trong đất sẽ bị rửa trôi.

    Các hợp chất chứa nhôm trong đất sẽ phóng thích các ion nhôm và các ion này

    có thể hấp thụ bởi rễ cây và gây độc cho cây. Như chúng ta đã nói ở trên,

    không phải toàn bộ SO2 trong khí quyển được chuyển hóa thành acid sulfuric

    mà một phần của nó có thể lắng đọng trở lại mặt đất dưới dạng khí SO2. Khi

    khí này tiếp xúc với lá cây, nó sẽ làm tắt các thể soma của lá cây gây cản trở

    quá trình quang hợp.

    Một thí nghiệm trên cây Vân Sam (cây lá kim) cho thấy, khi phun một

    hỗn hợp acid sulfuric và acid nitric có pH từ 2,5 – 4,5 lên các cây Vân Sam

    con sẽ làm xuất hiện và phát triển các vết tổn thương có màu nâu trên lá của

    nó và sau đó các lá này rụng đi, các lá mới sẽ mọc ra sau đó nhưng với một tốc

    độ rất chậm và quá trình quang hợp bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

    2. Ảnh hưởng đến khí quyển

    Các hạt sulphate, nitrate tạo thành trong khí quyển sẽ làm hạn chế tầm

    nhìn. Các sương mù acid làm ảnh hưởng đến khả năng lan truyền ánh sáng

    Mặt trời. Ở Bắc cực, nó đã ảnh hưởng đến sự phát triển của Địa y, do đó ảnh

    hưởng đến quần thể Tuần lộc và Nai tuyết – loại động vật ăn Địa y.

    3. Ảnh hưởng đến các công trình kiến trúc

    Các hạt acid khi rơi xuống nhà cửa và các bức tượng điêu khắc sẽ ăn

    mòn chúng. Ví dụ như tòa nhà Capitol ở Ottawa đã bị tan rã bởi hàm lượng

    SO2 trong không khí quá cao. Vào năm 1967, cây cầu bắc ngang sông Ohio đã

    sập làm chết 46 người; nguyên nhân cũng là do mưa acid.

    12

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    4. Ảnh hưởng đến các vật liệu.

    Mưa acid cũng làm hư vải sợi, sách và các đồ cổ quý giá. Hệ thống

    thông khí của các thư viện, viện bảo tàng đã đưa các hạt acid vào trong nhà và

    chúng tiếp xúc và phá hủy các vật liệu nói trên.

    5. Ảnh hưởng của mưa acid lên ao hồ và hệ thủy sinh vật

    Mưa acid ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các ao hồ và hệ thủy

    sinh vật. Mưa acid rơi trên mặt đất sẽ rửa trôi các chất dinh dưỡng trên mặt đất

    và mang các kim loại độc xuống ao hồ. Ngoài ra vào mùa xuân khi băng tan,

    acid (trong tuyết) và kim loại nặng trong băng theo nước vào các ao hồ và làm

    thay đổi đột ngột pH trong ao hồ, hiện tượng này gọi là hiện tượng “sốc” acid

    vào mùa Xuân. Các thủy sinh vật không đủ thời gian để thích ứng với sự thay

    đổi này. Thêm vào đó mùa Xuân là mùa nhiều loài đẻ trứng và một số loài

    khác sống trên cạn cũng đẻ trứng và ấu trùng của nó sống trong nước trong

    một thời gian dài, do đó các loài này bị thiệt hại nặng. Acid sulfuric có thể ảnh

    hưởng đến cá theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp. Acid sulfuric ảnh hưởng

    trực tiếp đến khả năng hấp thụ oxy, muối và các dưỡng chất để sinh tồn. Đối

    với các loài cá nước ngọt acid sulfuric ảnh hưởng đến quá trình cân bằng muối

    và khoáng trong cơ thể chúng. Các phân tử acid trong nước tạo nên các nước

    nhầy trong mang của chúng làm ngăn cản khả năng hấp thu oxygen của các

    làm cho cá bị ngạt. Việc mất cân bằng muối Canxi làm giảm khả năng sinh

    sản của các, trứng của nó sẽ bị hỏng … và xương sống của chúng bị yếu đi.

    Muối đạm cũng ảnh hưởng đến cá, khi nó bị mưa acid rửa trôi xuống ao hồ nó

    sẽ thúc đẩy sự phát triển của tảo, tảo quang hợp sẽ sinh ra nhiều oxygen. Tuy

    nhiên do cá chết nhiều, việc phân hủy chúng sẽ tiêu thụ một lượng lớn oxy

    làm suy giảm oxy của thủy vực và làm cho cá bị ngạt.

    Mặc dầu nhiều loại cá có thể sống trong môi trường pH thấp đến 5,9 nhưng

    13

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    đến pH này Al2+ trong đất bị phóng thích vào ao hồ gây độc cho cá. Al2+ làm

    hỏng mang cá và tích tụ trong gan cá.

    6. Ảnh hưởng lên người

    Các tác hại trực tiếp của việc ô nhiễm do các chất khí acid lên người

    bao gồm các bệnh về đường hô hấp như: suyển, ho gà và các triệu chứng khác

    như nhức đầu, đau mắt, đau họng … Các tác hại gián tiếp sinh ra do hiện tượng

    tích tụ sinh học các kim loại trong cơ thể con người từ các nguồn thực phẩm bị

    nhiễm các kim loại này do mưa acid.

    B. Tác động tích cực :

    1. Mưa axit làm mát trái đất:

    Những cơn mưa chứa axit sulphuric làm giảm phát thải methane từ

    những đầm lầy, nhờ đó hạn chế hiện tượng trái đất nóng lên.

    Một cuộc điều tra toàn các thành phần sunfua có trong mưa axit có khả năng

    ngăn cản trái đất ấm lên, bằng việc tác động vào quá trình sản xuất khí mêtan

    tự nhiên của vi khuẩn trong đầm lầy. Methane chiếm 27% trong các yếu tố

    gây nên hiệu ứng nhà kính, và các vi khuẩn ở đầm lầy là thủ phạm chính.

    Chúng tiêu thụ chất nền (gồm có hidro va axetat )trong than bùn rồi giải phóng

    khí metan, còn vi khuẩn ăn sunfua thì cạnh tranh thức ăn với chúng. Khi mưa

    axit đổ xuống, nhóm vi khuẩn này sẽ dùng sunfua, đồng thời tiêu thụ luôn

    phần đất nền đáng lý dành cho vi khuẩn sinh metan. Do vậy các cặp vi khuẩn

    của mêtan bị ” đói ” và sản xuất ra ít khí nhà kính.Nhiều thí nghiệm cho thấy

    phần sunfua lắng đọng có thể làm giảm quá trình sinh khí mêtan tới 30%.

    2. Cân bằng hệ sinh thái rừng:

    Sự thiếu vắng các trận mưa axit cũng có thể gây ra nhiều vấn đề về môi

    trường.Vì lượng cácbon dioxit ngày càng tăng trong sông suối là loại khí gây

    ra quá trình axit hóa các nguốn nước tinh khiểt.

    III. BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

    Như ta đãnói ở trên, những tác động của mua aicd đến môi trường cũng

    như con người hết sức nghiêm trọng.Mưa acid đã trở thành vấn nạn đối với con

    người. Vấn nạn đó không chỉ bó gọn trong từng quốc gia, từng lãnh thổ, từng

    khu vực, mà nó mang tính toàn cầu. Do đó, để giai quyết vấn đề trên không thể

    chỉ bó gọn trong từng quốc gia mà cần có sự hợp tác toàn thê các nước trên toàn

    thế giới. Giải quyết vấn đề mưa axit, chúngta không chỉ chú ý đến cộng nghệ xử

    lí cũng như khăc phục hậu quả mưa axit gây ra mà còn chú ý đến nguồn gốc gây

    ra mưa axit và quản lí nó.

    1. Biện pháp quản lí nguồn ô nhiễm

    Biện pháp quản lí tức là chúng ta quản lí nguồn gây ô nhiễm, không cho

    các nguôn khí này phát sinh và xả tự do vào môi trường . Để làm được điếu đó,

    chúng ta có thể xây dựng công ước, điều luật về môi trường trong việc xả và thải

    các khí trên. Công ước điều luật đó phải được áp dụng trên toàn cầu các quôc

    14

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    gia phải thực hiện. Hơn thế trong từng quốc gia cần có biện pháp ngăn ngừa thải

    các nguồn khí ô nhiễm nói trên.

    Đối phạm vi toàn cầu, vấn đề đâu tiền cần xây dựng lứn sự hợp tác và tôn

    trọng. Hợp tác là sự quan tâm tất cả các quốc gia, không phân biệt phát triển hay

    không pháttriển. Hợp tác chinh là sự giúp đỡ các nước phát triển đối các nước

    nghèo trong việckhắc phục và xử lí hậu quả của mưa acid.Tôn trọng chính là

    việc thực hiện các công ướchay điều luột quốc tế về môi trường. Đó chính là

    công ước Kyoto, công ước Bornhaycông ước về nhiễm bẩn bầu không khí trong

    phạm vi rộng (LRTAP).

    Ngoài ra, chúng ta có thể xây dựng điều luật về môi trường CAA như

    nước Mỹ đã áp dụng hay xây dựng luật thuế về việc xả thải các chất khí gây ra

    mưa acid ở các nước phát triển, thuế này được đánh trên giá bán nhiên liệu .

    Trong từng quốc gia, ngoài việc tham gia các công ước quốc tế về môi

    trường thê giới mà từng quôc gia cần xây dựng điều luật riêng phù hợp với hoàn

    cảnh từng nước. Các nước có thể ghi sổ đen những thành phố hay địa điểm gây

    ô nhiễm để theo dõi và sử phạt.

    Bên cạnh đó nhà nước luôn cần có chương trình giáo dục tuyên truyền

    người dân có ý thức trong việc bảo vệ môi trường

    2. Các biện pháp công nghệ

    Các khí gây ô nhiễm hay gây mưa acid khi đã phát thải vào môi trường thì

    chúng ta không thể làm sạch khí quyển được. Do vậy chúng ta chỉ có thể dùng

    biện pháp công nghệ giảm thiểu hay hấp thu các khí trên trước khi chúng xả vào

    bầu khí quyển.

    2.1. Làm sạch anhydryt sunfurơ SO2

    * Phương pháp làm sạch SO2 bằng sữu vôi

    Khí SO2 được thu hồi trong tháp rửa bằng sữu vôi, sữu vôi tác dụng với

    SO2 theo phản ứng:

    SO2+Ca(OH)2 =CaSO3 + H2O

    Khí chứa SO2 được dẫn vào trong tháp rửa, lượng khí này được rửa bằng

    dung dịch vôi sữa dưới dạng phun. Lượng vôi sữa này cần được dùng với lượng

    lớn tránh bị tắc trong lớp ô đệm do phản ứng CaSO3 và thạch cao CaSO4.H2O.

    Đối phương pháp này, có thể thay dịch vôi sữa bằng vôi bột .

    CaCO3 + SO2 =CaSO3 + CO2

    * Phương pháp làm sạch SO2 bằng ammoniac

    Sau khi làm làm sạch bụi,asen, selen trong khí, nếu còn chứa SO2 với

    hàm lượng nhất định thì khí được làm nguội đến nhiệt độ 35-400C sau đó

    rửa khí bằng dung dịch chứa (NH4)2SO3. Khi đó phản ứng trong thiết bị xảy ra:

    (NH4)2SO3 + SO2 + H2O = 2NH4HSO3

    Kết quả phản ứng này cho thu hồi SO2. Khi đun dung dịch nhận được là

    amon bisunfit đến nhiệt độ sôi, phản ứng theo chiều nghịch cho ra SO2. Khí

    SO2 thu được với nồng độ cao dùng để sản xuất lưu huỳnh nguyên tố, acid

    sunfuric và các sản phẩm khác.Chất hấp thụ trong phương pháp này được tái sử

    dụng thực hiện theo chu trình vòng.

    15

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    * Phương pháp kẽm

    Khí chứa SO2 cần làm sạch khi được rửa bằng dung dịch chứa ZnO, phản

    ứng xảy ra như sau:

    ZnO + SO2 +H2O = ZnSO3. H2O

    Sản phẩm của phản ứng trên tồn tại dưới dạng rắn có thể tách ra khỏi dịch

    thể bằng phương pháp lọc hoặc ly tâm, sau đó đem lung đến nhiệt độ 3500C

    được sản phẩm H2O, SO3,ZnO. ZnO được tái sử dụng lại trong chu trình trên.

    Theo phương pháp trên,chúng ta có thể dung MgO thay cho ZnO vẫn đạt

    hiệu quả.

    2.2. Làm sạch nito oxit trong khí:

    Các khí NO, NO2, trong hỗn hợp khí thải có thể làm sạch theo phương

    pháp hấp phụ,dịch hấp phụ dùng thường là dịch kiềm hay chỉ nước không.

    3NO2 + H2O=2HNO3 + NO

    Nito oxit NO sẽ bị oxy hoá trong không khí, vận tốc oxy hoá tuỳ thuộc

    nhiệt độ, nồngđộ NO, O2. Vì vậy phương pháp này đã hoàn lại 1/3 NO, nên sự

    làm sạch nito oxyt khônghoàn toàn. Phương pháp này áp dụng khi hàm lượng

    nito oxyt lớn hơn 1%.

    Khi ta dùng dịch hấp thụ kiềm, chẳng hạn dịch chứa NaOH phản ứng hấp

    thụ là

    2NaOH + 2NO2 = NaNO3 + NaNO2 +H2O

    Để làm sạch nito oxyt, khí chứa nito oxyt được rửa bằng dịch các chất oxy

    hoá như KBrO3, KMnO4, H2O2. để tạo hiệu suất cao hơn.

    2.3.Phương pháp sinh học khắc phục hậu quả mưa acid

    Tuy nhiên,một phươn pháp để khắc phục hậu quả mưa acid bằng phương

    pháp sinh học.Theo phưong pháp này chunngs ta dùngmột loại vi khuẩn để bảo

    vệ các công trình kiếntrúc,vật liệu hay các tác phẩm điêu khắc khỏi sự ăn mòn

    của mưa acid. Loại vi khuẩndùng đó là Myxococcus xanthus . Với loại vi khuẩn

    này, khi được quét hay phun cácdung dịch chứa loại vi khuẩn trên lên các bề

    mặt vật liệu bằng đá nó sẽ xâm nhậpvào đávôi với độ sâu 0,5mm. Chúng tạo nên

    một lớp carbonate hay ”vữa sinh học” bền hơnchính đá vôi và chịu được

    mưa acid ( theo nghiên cứu của Rodriguez-Navarro và đồng nghiệp thuộc ĐH

    Granada, Tây Ban Nha ). Đây là một phwong pháp khá đơn giản mà lạihiệu quả

    mà chúng ta có thể nhân rộng và sử dụng .

    IV. KẾT LUẬN

    Mưa acid hiện nay đang là vấn đề nổi cộm trên thế giới.

    Mưa acid không phải là mộtvấn đề riêng của một quốc gia nào đó mà nó là

    vấn đề chung của nhân loại – vấn đề ô nhiễm môi trường ô nhiễm bầu không khí.

    Do đó để giải quyết, khắc phục vấn đề mưa acid cần có sự hợp tác nhiều quốc

    gia trên thế giới nhất là những nước phát triển. Màviệc đầu tiên chính là các

    nước này cần tôn trọng và thực hiện những yêu cầu trong các công ước về bảo

    vệ môi trường, phát thải các khí gây ô nhiễm . Các nước nghèo, song song việc

    phát triển kinh tế là công tác bảo vệ môi trường. Trong từng nước cần áp

    16

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    dụngcác thiết chế và cả kinh tế trong các vấn đề về gây ô nhiễm. Công tác tuyên

    truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường đến từng người dân cần được coi trọng

    và làm thường xuyên . Đối các cơ sở sản xuất công nghiệp luôn luôn được kiểm

    tra giám sát về việc xả thải các khí gây ô nhiễm . Hơn thế nữa, mỗi công dân

    chúng ta luôn phải có ý thức trong việc bảo vệ môi trường .

    17

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH

    I. Hiệu ứng nhà kính

    Hiệu ứng nhà kính diễn ra khi khí quyển chứa khí đã hấp thụ tia cực

    quang. Khi hơi nóng từ mặt trời vô Trái Đất đã bị giữ lại ở tầng đối lưu, tạo ra

    hiệu ứng nhà kính ở bề mặt các hành tinh hoặc các Vệ tinh. Cơ cấu hoạt động

    này không khác nhiều so với một nhà kính (dùng để cho cây trồng) thiệt, điều

    khác biệt là nhà kính (cây trồng) có các cơ cấu cách biệt hơi nóng bên trong để

    giữ ấm không phải qua quá trình đối lưu.

    Hiệu ứng nhà kính được khám phá bởi nhà khoa học Joseph Fourier vào

    năm 1824, thí nghiệm đầu tiên có thể tin cậy được là bởi nhà khoa học John

    Tyndall vào năm 1858, và bản báo cáo định lượng kĩ càng được thực hiện bởi

    nhà khoa học Svante Arrhenius vào năm 1896.Một ví dụ về Hiệu ứng nhà kính

    làm cho nhiệt độ của không gian bên trong của một nhà trồng cây làm bằng kính

    tăng lên khi Mặt Trời chiếu vào. Nhờ vào sức ấm này mà cây có thể đâm chồi,

    ra hoa và kết trái sớm hơn. Ngày nay người ta hiểu khái niệm này rộng hơn, dẫn

    xuất từ khái niệm này để miêu tả hiện tượng nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển

    của Trái Đất được Mặt Trời chiếu sáng là hiệu ứng nhà kính khí quyển. Trong

    hiệu ứng nhà kính khí quyển, phần được đoán là do tác động của loài người gây

    ra được gọi là hiệu ứng nhà kính nhân loại (gia tăng). Hiện này thế kỷ thứ 21

    loài người đang phải đối mặt với tình trạng ấm lên do con người gây ra, tuy

    nhiên vấn đề vẫn đang được tranh cãi, gây ra nhiều tác hại nguy hiểm.

    Các vật đen có nhiệt độ từ trái đất khoảng 5.5 °C. Từ khi bề mật trái đất

    phản lại khoảng 28% ánh sáng mặt trời và hơi [nước], có thể

    hấp thụ những bức xạ nhiệt này và thông qua đó giữ hơi ấm lại trong bầu khí

    quyển. Hàm lượng ngày nay của khí đioxit cacbon vào khoảng 0,036% đã đủ để

    tăng nhiệt độ thêm khoảng 30 °C. Nếu không có hiệu ứng nhà kính tự nhiên này

    nhiệt độ trái đất của chúng ta chỉ vào khoảng -15 °C.

    Có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau : ta biết nhiệt độ trung bình của bề

    mặt trái đất được quyết định bởi cân bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống

    trái đất và lượng bức xạ nhiệt của mặt đất vào vũ trụ. Bức xạ nhiệt của mặt trời

    là bức xạ có sóng ngắn nên dễ dàng xuyên qua tầng ozon và lớp khí CO2 để đi

    tới mặt đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ trái đất vào vũ trụ là bức sóng dài, không

    có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và bị CO2 + hơi nước trong khí quyên

    hấp thụ. Như vậy lượng nhiệt này làm cho nhiệt độ bầu khí quyển bao quanh trái

    đất tăng lên. Lớp khí CO2 có tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa

    18

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    Tiểu luận môi trường trong xây dựng

    * Những khối băng ở Bắc cực và nam cực đang tan nhanh trong những năm

    gần đây và do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồng thủy.

    V. Các nỗ lực hiện tại để giảm trừ Hiệu ứng nhà kính nhân loại

    Một trong những cố gắng đầu tiên của nhân loại để giảm mức độ ấm dần

    do khí thải kỹ nghệ là việc các quốc gia đã tham gia bàn thảo và tìm cách kí kết

    một hiệp ước có tên là Nghị định thư Kyoto. Tuy nhiên, hiệp ước này không

    được một số nước công nhận, trong đó quan trọng nhất là Mỹ với lí do là hiệp

    định này có khả năng gây tổn hại cho sự phát triển kinh tế của Hoa Kỳ.

    Tiến sĩ Roderic Jones thuộc Trung tâm Khoa học Khí quyển, phân khoa

    hóa của Đại học Cambridge đã phát biểu: Tôi không muốn làm mọi người lo sợ

    nhưng cùng lúc tôi nghĩ rằng thật là quan trọng nếu họ hiểu được tình hình và,

    một cách tối yếu, sự cần thiết phải làm gì đó cho nó. Nghị định thư Kyoto rất

    quan trọng, mặc dù vậy, theo (nội dung) đề cập, nó không đủ để cân bằng hóa

    CO2.

    Tuy nhiên, về phía nội bộ nước Mỹ và các nước tiên tiến khác, nhiều nỗ

    lực để giảm khí độc mà chủ yếu thải ra từ xe máy nổ và các nhà máy kỹ nghệ đã

    được áp dụng khá mạnh mẽ. Ở Hoa Kỳ, hầu hết các tiểu bang đều có luật bắt

    buộc các phương tiện giao thông dùng động cơ nổ phải có giấy chứng nhận qua

    được các thử nghiệm định kì về việc đạt tiêu chuẩn nhả khói của hệ thống xe.

    Trồng nhiều cây xanh (nhất là những loại cây hấp thụ nhiều CO2 trong

    quá trình quang hợp) nhằm làm giảm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển, từ đó

    làm giảm hiệu ứng nhà kính khí quyển.

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Kiện Để Giải Pháp Kỹ Thuật Được Bảo Hộ Dưới Danh Nghĩa Sáng Chế
  • Năm Cách Để Cải Thiện Kỹ Năng Nghe Tiếng Anh
  • Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Kỹ Năng Nói Tiếng Anh Cho Sinh Viên Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Dịch Tài Liệu Kỹ Thuật Tiếng Anh
  • Cần Giải Pháp Căn Bản Ngăn Chặn Nạn Phá Rừng
  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Nước Ta: Thực Trạng, Những Vấn Đề Mới Đặt Ra Và Giải Pháp.

    --- Bài mới hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Và Những Giải Pháp Ứng Phó
  • Đồng Bằng Sông Cửu Long Trước Thách Thức Của Biến Đổi Khí Hậu
  • Các Biện Pháp Chống Xói Mòn Trên Đất Dốc
  • +5 Biện Pháp Chống Xói Mòn Đất, Đất Dốc Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Giải Pháp Chống Xói Mòn Đất Hiệu Quả Trong Canh Tác Nông Nghiệp
  • Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nước ta: Thực trạng, những vấn đề mới đặt ra và giải pháp.

    1. Đặt vấn đề.

    Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH), tác động của biến đổi khí hậu thậm chí còn diễn biến nhanh hơn so với dự kiến, chính vì vậy cần phải có những đánh giá hiện trạng, dự báo chính xác để từ đó có những giải pháp phù hợp cho ứng phó với biến đổi khí hậu thích hợp, tránh được những tác động tiêu cực giảm những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra. BĐKH là vấn đề có tính toàn cấu, Việt Nam đã cam kết với thế giới cùng nỗ lực giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính, tận dụng cơ hội này để chúng ta cùng phối hợp giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH, biến thách thức thành cơ hội do BĐKH gây ra.

    Hình 1. Dự báo tác động của dâng mực nước biển 1 m đến GDP (tỷ lệ thiệt hại GDP)

    Bảng 1. Dự báo tác động của việc dâng mực nước biển 1 m ở Việt Nam Nguồn: Đỗ Nam Thắng trích từ nghiên cứu của Dasgupta et al. 2007.

    Trong những năm gần đây, nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng đã chỉ ra nhiều vấn đề cần phải lưu tâm, chẳng hạn năm 2021 là năm có số lượng các cơn bão ảnh hưởng tới nước ta nhiều bất thường (16 cơn bão), theo tính toán của Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai và tổng cục thống kê thiệt hại khoảng 38,7 nghìn tỷ đồng tương đương 2,7 tỷ USD.

    Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sản xuất thấy rõ nhất là đối với ngành nông nghiệp. Ở Việt Nam với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, trong sản xuất nông nghiệp, lúa là loại cây trồng chủ lực, ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa hàng năm chiếm tỷ trọng lớn nhất, theo tính toán của tổng cục thống kê năm 2021 trung bình cho giai đoạn 2011-2016 khoảng 66,1% . Riêng năm 2021 hạn hán và xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 527,7 nghàn ha lúa bị thiệt hại, trong đó khoảng 44% diện tích bị thiệt hại hoàn toàn. Đối với các loại cây trồng khác như hoa màu, các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày cũng bị ảnh hưởng, năng suất cây trồng giảm khoảng 50% do tác động của BĐKH. Ảnh hưởng của BĐKH còn tác động đến chăn nuôi, lâm nghiệp, đa dạng sinh học, cháy rừng, các hệ sinh thái đất ngập nước, nuôi trồng thủy sản…, như vậy đối với sản xuất nông nghiệp cần phải có một cách nhìn nhận mới và toàn diện hơn đặt trong bối cảnh hoàn động sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của BĐKH

    Biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng tới hoạt động giao thông vận tải, theo nghiên cứu của kịch bản BĐKH nếu mực nước biển dâng cao 1m có khoảng 9% hệ thống đường quốc lộ, 12% hệ thống đường tỉnh lộ, 4% hệ thống đường sắt sẽ bị ảnh hưởng, trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu long chiếm 28% đường quốc lộ và 27% đường tỉnh lộ của cả nước, tiếp đến là các tỉnh ven biển miền Trung và đống bằng sông Hồng.

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến phát triển đô thị, các khu công nghiệp và nhà ở, mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào từng vùng, từng địa phương và từng vị trí theo địa hình phân bố. Nghiên cứu tổng thể cho thấy khu vực ven biển chịu tác động chính của bão, vùng miền núi chịu tác động của lũ quét, lốc xoáy, sạt lở, vùng trung du và đồng bằng chủ yếu là ngập lụt, lốc xoáy, mưa đá.

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến du lịch, thương mại, năng lượng…và nhiều hoạt động kinh tế khác trực tiếp hay gián tiếp. Những ảnh hưởng này trong những năm vừa qua đã biểu hiện khá rõ nét, mỗi ngành, lĩnh vực đều có thể cảm nhận và đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH.

    Đối với công nghiệp, ảnh hưởng của BĐKH khí hậu sẽ tác động đến ngành công nghiệp chế biến, nhất là chế biến những sản phẩm nông nghiệp. Trong trường hợp nhiệt độ tăng sẽ làm tăng tiêu thụ năng lượng kéo theo nhiều hoạt động khác tăng theo như tăng công suất nhà máy phát điện, tăng sử dụng các thiết bị làm mát, ảnh hướng tới an ninh năng lượng quốc gia. Những nghiên cứu theo kịch bản nước biển dâng cho thấy, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ làm cho hầu hết các khu công nghiệp ven biển bị ngập,mức thấp nhất trên 10% diện tích, mức cao nhất khoảng 67% diện tích.

    Đối với bình đẳng giới, những nghiên cứu gần đây cho thấy BĐKH ảnh hưởng tới công việc của phụ nữ, nữ giới là nhóm dễ bị tổn thương do BĐKH, ảnh hưởng tới sức khỏe, kinh tế hộ gia đình và vấn đề di cư. Thực trạng này đã và đang thể hiện ngày càng rõ ở những vùng chịu nhiều tác động của BĐKH như vùng ĐBSCL và khu vực ven biển, khu vực nông thôn.

    Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH, chúng ta cũng phải nhìn nhận toàn diện hơn đối với những ảnh hưởng có tính tích cực, chẳng hạn trong sản xuất nông nghiệp đối với lượng mưa, bên cạnh những tác động tiêu cực, cũng sẽ có những vùng có tác động tích cực. Trong sản xuất nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ do BĐKH cần phải được phân tích kỹ lưỡng để thầy được những mặt tích cực và tiêu cực lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí cơ bản để đánh giá.

    b) Biến đổi khí hậu ảnh hưởng theo lãnh thổ.

    Do đặc điểm địa lý, mỗi khu vực có vị trí Địa lý và địa hình khác nhau, mức độ chịu ảnh hưởng của BĐKH đối với mỗi vùng cũng khác nhau, dựa trên tiêu chí cơ bản về nước biển dâng, đặc trưng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thể chia thành ba địa bàn lãnh thổ gồm đồng bằng, ven biển và miền núi.

    • Đối với vùng đồng bằng, nước ta có hai vùng đồng bằng lớn đó là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đối với ĐBSCL là vùng chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH, theo tính toán kịch bản BĐKH, đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ tăng khoảng 3,4 độ C, mực nước biển tăng thêm 1m sẽ có khoảng 40% diện tích đất bị ngập vĩnh viến, khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp do mất đất, thêm vào đó BĐKH diễn ra ở ĐBSCL kéo theo hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và nhiều hệ lụy đi kèm như đã từng diễn ra những năm gần đây.

      Đối với ĐBSH, với kịch bản nước biển dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21, ĐBSH sẽ có 240.000 ha đất sản xuất nông nghiệp của vùng bị ảnh hưởng, dự báo năng suất lúa giảm 8%-15% vào năm 2030 và lên tới 30% vào năm 2050. Nếu tính tỷ lệ diện tích đất bị ngập nước khi nước biển dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21 có khoảng 3% diện tích bị ngập, trong đó 1,4% diện tích trồng lúa, 0,6% khu dân cư bị ảnh hưởng. Những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là Thái Bình, diện tích đất bị mất khoảng 31,2%, Nam Định 24% và thành phố Hải phòng 17,4%. So với ĐBSCL, ĐBSH ngập lụt ít hơn và ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn thấp hơn, tuy nhiên tính chất cực đoan và tính dị thường của BĐKH và rủi ro cao hơn, nhất là gió bão sẽ tác động mạnh hơn so với ĐBSCL.

    • Đối với vùng ven biển, nhất là khu vực ven biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, ảnh hưởng của BĐKH lớn nhất là bão, áp thấp nhiệt đới. Đối với khu vực ven biển miền Trung hank hán, lũ lụt, sạt lở đất, thoái hóa đất diễn ra mạnh mẽ hơn. Những vùng ven biểu còn chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Theo tính toán nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m, một số khu vực trũng đồng bằng ven biển miền trung sẽ bị ngập như ở Thanh Hóa.
    • Đối với khu vực miền núi, đặc điểm khu vực miền núi của nước ta phân bố nhiều dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, do vậy ảnh hưởng của BĐKH diễn ra khả năng chống đỡ hạn chế. Ảnh hưởng chính của BĐKH khu vực này là tính dị thường của BĐKH, trong nền chung nhiệt độ tăng sẽ càng trầm trọng hơn thiếu nước về mùa khô, nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc, suy giảm đa dạng sinh học, sự thay đổi hệ sinh thái. Nhiệt độ giảm sâu tác động tới chăn nuôi gia súc, gia cầm nhất là đối với trâu bò, thực tiễn những năm vừa qua cho thấy, khi nhiệt độ giảm sâu một lượng lớn trâu bò ở miền núi phía Bắc chết nhiều. Ảnh hưởng của BĐKH gây ra lũ quét, sạt lở đất, lốc xoáy, mưa đá là những hiện tượng khá phổ biến. Khu vực miền núi Bắc Trung Bộ với nền nhiệt tăng, cùng với khô hạn dễ dẫn đến cháy rừng, suy giảm đa dạng sinh học tác động tới đời sống nhân dân.

    Ảnh hưởng BĐKH tùy thuộc vào mỗi địa bàn lãnh thổ như đã nêu không giống nhau, do vậy phải có những giải pháp phù hợp theo vùng, nhất là trong bối cảnh mới tình hình diễn biến phức tạp, tính rủi ro của BĐKH ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó cũng có những vùng, do ảnh hưởng của BĐKH bên cạnh những tác động tiêu cực cũng có những tác động tích cực, chẳng hạn nhiệt độ tăng, giờ nắng nhiều là cơ hội cho phát triển năng lượng mặt trời, có những vùng bị tác động tiêu cực, nhưng cũng có nơi tác động tích cực. Như vậy đòi hỏi phải có một nhìn nhận có tính toàn diện ảnh hưởng của BĐKH theo vùng, phân bố theo không gian lãnh thổ.

    3. Những giải pháp cần có đối với ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu.

    Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và tận dụng những mặt tích cực của BĐKH dựa trên cơ sở đánh giá khách quan và những dự báo có tính dài hạn để từ đó có những giải pháp phù hợp.

    Thứ nhất, tăng cường phổ biến, truyền thông, nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của BĐKH cho mọi tầng lớp nhân dân, các cấp, các ngành nhất là những diễn biến trong bối cảnh mới. Sau đại dịch Covid-19, cần có cách thức mới để người dân thấy được BĐKH cũng là nguyên nhân tác động tới sức khỏe và ảnh hưởng tới hệ sinh thái, con người gắn bó với hệ sinh thái và phải chống chịu, thích ứng.

    Thứ hai, BĐKH đã được khẳng định là một nhân tố ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống, kinh tế-xã hội, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, do vậy về quan điểm chúng ta chấp nhận những ảnh hưởng này để có những giải pháp phù hợp, trong đó có những ảnh hưởng tiêu cực nhưng đồng thời cũng có những ảnh hưởng có tính tích cực, biến những thách thức của BĐKH thành những cơ hội để chủ động giảm thiểu và thích ứng dựa trên nguyên tắc giải quyết hài hòa, tính hiệu quả, phù hợp với diễn thế của thiên nhiên được đặt lên hàng đầu.

    Thứ tư, cần phải căn cứ vào kịch bản đưa ra do BĐKH, nhất là kịch bản nước biển dâng thêm 1m từ nay đến cuối thế kỷ 21 để có những tính toán đầy đủ và phương án qui hoạch phù hợp đối với hoạt động sản xuất các ngành, lĩnh vực, phân bố dân cư và chuyển đổi phát triển kinh tế theo cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ phù hợp.

    Thứ năm, trong qui hoạch và xây dựng chính sách cần phải lồng ghép yếu tố BĐKH để có biện pháp chủ động ứng phó phù hợp với những ảnh hưởng của BĐKH đối với từng ngành, lĩnh vực và từng vùng phù hợp với thực tiễn đang và sẽ diễn ra.

    Thứ sáu, cần có những giải pháp cho từng ngành, lĩnh vực và từng vùng đối với ảnh hưởng của BĐKH xét trong bối cảnh mới. Trước hết chú trọng tới ngành nông nghiệp trong việc cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi do những ảnh hưởng của BĐKH không chỉ chống chịu mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Đối với từng vùng, ưu tiên hàng đầu là vùng ĐBSCL, triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết 120 của Chính phủ để phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH. Những vùng khác phụ thuộc vào đặc trưng của mỗi vùng để có những giải pháp phù hợp, đối với vùng ven biển, ưu tiên hàng đầu là ứng phó với bão, áp thấp nhiệt đới, đối với vùng miền núi là lũ lụt, lũ quét, hạn hán, lốc xoáy và thoái hóa đất.

    Thứ bảy, tăng cường khả năng chống chịu trước ảnh hưởng của BĐKH, phát triển các mô hình kinh tế dựa vào hệ sinh thái (EbA), dựa vào cộng đồng (CbA) và dựa vào tự nhiên (NbS), cho mỗi địa phương, lấy kiến thức bản địa kết hợp với khoa học công nghệ mới đầu tư phát triển, đặt sinh kế và sự an toàn của người dân lên hàng đầu. Từ những kết quả đạt được, nhân rộng mô hình cho từng địa phương, cho từng vùng.

    Thứ tám, biến đổi khí hậu là vấn đề có tính toàn cầu, chỉ một mình Việt Nam sẽ không giải quyết được, chính vì vậy cần có sự phối hợp với các tổ chức, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, hơn nữa chúng ta đã cam kết cùng nỗ lực toàn cầu để giảm thiểu phát thải khí nhà kính, chính vì vậy cần tăng cường hơn nữa hợp tác quốc tế, nắm bắt cơ hội để có những chuyển giao về khoa học công nghệ thế hệ mới, đầu tư tài chính và kinh nghiệm quốc tế trong ứng phó với BĐKH.

    4. Kết luận.

    Ảnh hưởng của BĐKH đối với Việt Nam những năm vừa qua nhanh hơn so với dự kiến. So với kịch bản biến đổi khí hậu, nhất là dự kiến mực nước biển dâng cao 1m vào cuối thế kỷ 21 khi mà đến 40% diện tích ĐBSCL bị ngập, cùng với đó là một số khu vực đồng bằng ven biển và ĐBSH. Những ảnh hưởng của BĐKH đối với các ngành, lĩnh vực, nhất là sản xuất nông nghiệp đang báo hiệu một thách thức lớn cho Việt Nam. Trước thực trạng của ảnh hưởng BĐKH xét trong bối cảnh mới cần có những giải pháp phù hợp từ thể chế đến các ngành, lĩnh vực, từng địa phương và từng vùng. Dự báo những ảnh hưởng của BĐKH, nhất là xây dựng kịch bản cho những năm tới đến cuối thế kỷ 21 có ý nghĩa hết sức quan trọng, để đảm bảo tính hiệu quả, chính xác cần mở rộng quan hệ quốc tế và tận dụng nguồn lực bên ngoài, nhất là KHCN thế hệ mới, con người và tài chính./.

    PGS.TS.Nguyễn Thế Chinh.

    Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và môi trường.

    Ủy viên Hội đồng lý luận trung ương.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Anthony E.Boardman, David H.Greenberg, Aidan R.Vining, David L.Weimer. Cost-Benefit Analysis, concepts and Practice. Third Edition.2006.
    2. Ban Chấp Hành Trung ương Đảng. Nghị quyết số 24NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 “về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
    3. Ban chấp hành trung ương. Kết luận của Bộ Chính trị: Số 56-KL/TW ngày 23 tháng 8 năm 2021 ” về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI, về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
    4. Dasgupta, S., Laplante, B., Meisner, C., Wheeler, D. and Yan, J., 2007: The impact of Sea Level Rise on Developing Countries: a comparative analysis, World Bank Policy Research Working Papar 4136, February 2007.
    5. Đỗ Nam Thắng: Phân tích kinh tế về tác động của biến đổi khí hậu: các trường phái học thuật và định hướng nghiên cứu ở Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Giải Pháp Nào Cho Nông Nghiệp Việt Nam?
  • Giải Pháp “gây Tranh Cãi” Cho Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Ipcc Cảnh Báo 7 Vấn Đề Về Đất Đai Và Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Ai Và Giải Pháp Cho Các Vấn Đề Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Bao Quang Tri : Đẩy Mạnh Công Tác Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Các Di Tích Lịch Sử Cách Mạng Cấp Tỉnh
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả Trong Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Cá Nhân Khắc Phục Hạn Chế, Khuyết Điểm Sau Kiểm Điểm Tự Phê Bình Và Phê Bình Năm 2021
  • Tạp Chí Xây Dựng Đảng
  • Báo Cáo Kết Quả Khắc Phục Hạn Chế Khuyết Điểm
  • Các Biện Pháp Kiểm Soát Rủi Ro
  • Các Biện Pháp Kiểm Soát Và Hạn Chế Rủi Ro
  • Nhằm đảm bảo hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống các vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, xử phạt vi phạm hành chính được xem là một giải pháp hữu hiệu. Do đó, bên cạnh việc áp dụng các hình thức xử phạt để răn đe cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính, pháp luật còn áp dụng các biện pháp nhất định nhằm khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Tuy nhiên hiện nay, các quy định của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế vẫn còn có một số hạn chế, bất cập cần phải được tiếp tục hoàn thiện.

    To ensure the effective performance of and the pvention of the fights against administrative violations in the field of health, the administrative sanction is seen as a viable solution. Therefore, in addition to the application of sanctioning forms to deter inpiduals and organizations from committing administrative violations, the law also applies certain measures to overcome the consequences of administrative violations. However, the provisions of the applicable law on remedial measures in sanctioning the administrative violations in the health sector still appear a number of shortcomings and inadequacies, which need to be reviewed for further improvements.

    1. Khái quát về biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế

    Vi phạm hành chính (VPHC) ngoài việc xâm phạm trật tự quản lý nhà nước còn gây ra những hậu quả nhất định đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Do đó, bên cạnh việc áp dụng các hình thức xử phạt để răn đe cá nhân, tổ chức thực hiện VPHC, pháp luật còn áp dụng các biện pháp nhất định nhằm khắc phục hậu quả do VPHC gây ra. Điều này phù hợp với nguyên tắc của việc xử phạt VPHC được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý VPHC năm 2012 (Luật XLVPHC) là “mọi VPHC phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”.

    Đối với xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế, Điều 3 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định, VPHC trong lĩnh vực y tế ngoài việc bị áp dụng các hình thức xử phạt còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau:

    – Buộc tổ chức thực hiện các biện pháp tẩy uế, khử khuẩn chất thải, quần áo, đồ dùng, môi trường xung quanh, phương tiện vận chuyển người bệnh;

    – Buộc tiếp nhận người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

    – Buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế, xử lý y tế đối với người, phương tiện vận tải, hàng hóa mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A;

    – Buộc tiếp nhận người nhiễm HIV, tiếp nhận và thực hiện việc mai táng, hỏa táng đối với thi hài, hài cốt người nhiễm HIV;

    – Buộc xin lỗi trực tiếp hoặc công khai trên phương tiện thông tin đại chúng;

    – Buộc hoàn trả số tiền đã vi phạm vào tài khoản thu của quỹ bảo hiểm y tế hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    – Buộc hoàn trả số tiền lãi của số tiền bảo hiểm y tế chưa đóng, chậm đóng vào tài khoản thu của quỹ bảo hiểm y tế;

    – Buộc hoàn trả số tiền lãi cho khoản tiền chênh lệch do kê khai sai hoặc khoản tiền nộp chậm;

    – Buộc hoàn trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng bảo hiểm y tế mà đối tượng đã phải tự chi trả. Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước;

    – Buộc xóa bỏ, gỡ bỏ nội dung về phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn;

    – Buộc tháo dụng cụ tử cung, thuốc cấy tránh thai;

    – Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng, thẻ bảo hiểm y tế, số tiếp nhận phiếu công bố, rút số đăng ký lưu hành thuốc.

    Quy định trên cho thấy, Nghị định số 176/2013/NĐ-CP quy định khá rõ ràng các biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng trong xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình xử phạt VPHC. Việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sẽ góp phần khắc phục hậu quả do VPHC trong lĩnh vực y tế gây ra, đồng thời duy trì trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, quy định của Nghị định số 176/2013/NĐ-CP về các biện pháp khắc phục hậu quả vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định, gây ảnh hưởng đến hiệu quả xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế.

    2. Một số bất cập trong quy định về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính Thứ nhất, có sự mâu thuẫn giữa nghị định với luật về hình thức xử phạt Thứ hai, chưa có hướng dẫn cụ thể để thi hành biện pháp khắc phục hậu quảThứ ba, bất cập về biện pháp khắc phục hậu quả “buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn” đối với các VPHC trong lĩnh vực y tế “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện VPHC” Thứ tư, hạn chế trong kỹ thuật lập quy về các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế trong lĩnh vực y tế

    Xét về hiệu lực áp dụng, khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”. Trong trường hợp này, Luật XLVPHC năm 2012 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định số 176/2013/NĐ-CP nên văn bản được áp dụng để điều chỉnh sẽ là Luật XLVPHC năm 2012.

    Để hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện VPHC, Điều 37 Luật XLVPHC năm 2012 quy định cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ VPHC mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt; nếu cá nhân, tổ chức VPHC không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện. Như vậy,Luật XLVPHC năm 2012 đã khoanh vùng số lợi bất hợp pháp có được từ VPHC gồm tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá; đồng thời quy định rõsố lợi bất hợp pháp do cá nhân, tổ chức VPHC nộp lại sẽ được xử lý bằng 2 cách: (i) sung vào ngân sách nhà nước hoặc (ii) hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt. Tuy nhiên, Luật XLVPHC 2012 cũng chỉ mới dừng lại ở việc quy định về các khoản lợi được coi là “số lợi bất hợp pháp” cũng như cách thức nộp lại số lợi bất hợp pháp chứ chưa quy định cụ thể về cách tính giá trị của “số lợi bất hợp pháp”. Trường hợp chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái pháp luật hàng hóa là hàng cấm, hàng lậu, hàng giả hoặc cung cấp dịch vụ kinh doanh có điều kiện: số tiền tổ chức, cá nhân vi phạm thu được bằng (=) số lượng hàng hóa, khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái pháp luật nhân (x) đơn giá. Trường hợp chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái pháp luật hàng hóa hoặc dịch vụ khác: số tiền tổ chức, cá nhân vi phạm thu được bằng (=) số lượng hàng hóa, khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái pháp luật nhân (x) đơn giá trừ (-) chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa hoặc dịch vụ (nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có đầy đủ hồ sơ, chứng từ để chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó). Trường hợp không có căn cứ để xác định được số lợi bất hợp pháp là tiền thì số lợi bất hợp pháp được xác định là giấy tờ có giá hoặc tài sản khác. Số lợi bất hợp pháp là giấy tờ có giá hoặc tài sản khác được xác định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính quy định về số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi VPHC để sung vào ngân sách nhà nước…

    Như vậy, có thể thấy rằng, để có thể áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện VPHC trong lĩnh vực y tế trên thực tế, trong thông tư hướng dẫn thi hành và quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 176/2013/NĐ-CP do Bộ Y tế ban hành cần có quy định cụ thể về vấn đề này.

    Theo quy định của Nghị định số 176/2013/NĐ-CP, các VPHC bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn”gồm: vi phạm quy định về thông tin, giáo dục truyền thông trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm (điểm a khoản 5 Điều 5); vi phạm quy định về thông tin, giáo dục, truyền thông trong phòng, chống HIV/AIDS (điểm a, c, d khoản 5 Điều 17); vi phạm quy định về tuyên truyền, phổ biến thông tin về dân số (điểm b khoản 4 Điều 80). Trong đó, Điều 5 và Điều 17 quy định rõ ràng cách thức và thời hạn thực hiện việc cải chính đó là ” Buộc cải chínhthông tin sai sự thật trên phương tiện thông tin đại chúng liên tục trong 03 ngày”. Riêng Điều 80 thì không nêu rõ cách thức và thời hạn thực hiện cải chính đối với hành vi tuyên truyền, phổ biến thông tin không đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân số. Sự thiếu sót này gây ra những khó khăn nhất định cho cả người có thẩm quyền xử phạt lẫn người vi phạm, bởi lẽ không rõ trường hợp này phải áp dụng pháp luật để thực hiện biện pháp “buộc cải chính thông tin sai sự thật” như thế nào, thời hạn thực hiện là bao lâu. Do đó, chúng tôi cho rằng, cần sửa đổi, bổ sung Điều 80 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP theo hướng quy định rõ cách thức và thời hạn thực hiện biện pháp “buộc cải chính thông tin không đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân số”.

    Một là, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Luật XLVPHC năm 2012, có thể chiabiện pháp khắc phục hậu quả thành hai nhóm: i. các biện pháp khắc phục hậu quả do Quốc hội quy định; ii. các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định.

    Các biện pháp khắc phục hậu quả do Quốc hội quy định được định danh chính thức trong Luật XLVPHC năm 2012. Ngoài ra, Luật XLVPHC năm 2012 cũng quy định cụ thể các chủ thể có quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và các biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể mà chủ thể đó có quyền áp dụng. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ ban hành nghị định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực, quy định cụ thể hành vi vi phạm bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả tương xứng; biện pháp “buộc hoàn trả toàn bộ số tiền chênh lệch” được áp dụng đối với hành vi bán thuốc cao hơn giá thuốc kê khai do đối tượng có trách nhiệm phải kê khai giá thuốc theo quy định của pháp luật. Trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước[11]. Điều này cho thấy chưa có sự thống nhất trong quy định về việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong cùng một văn bản do Chính phủ ban hành.

    Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt VPHC về y tế là một hoạt động áp dụng pháp luật cụ thể, tức là một hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Với đặc thù là một biện pháp cưỡng chế hành chính, việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả có khả năng gây ra thiệt hại nhất định cho các đối tượng bị áp dụng. Vì lẽ đó, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả để tạo ra khung pháp lý vững chắc cho hoạt động xử phạt trên thực tế. Để khắc phục các bất cập vừa nêu, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

    Thứ nhất, cần bãi bỏ quy định về hình thức xử phạt bổ sung”thu hồi thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng” tại điểm a khoản 6 Điều 20 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP để bảo đảm sự thống nhất với các quy định về hình thức xử phạt trong Luật XLVPHC năm 2012.

    Thứ hai, cần bổ sung những quy định hướng dẫn cụ thể để áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng trường hợp nhất định, đặc biệt là cách xác định “số lợi bất hợp pháp” có được do thực hiện VPHC trong lĩnh vực y tế để tránh tình trạng pháp luật có quy định nhưng không thực hiện được hoặc áp dụng một cách tùy tiện, không thống nhất.

    Thứ ba, bổ sung quy định về cách thức và thời hạn thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả “buộc cải chính thông tin sai sự thật” đối với VPHC tại điểm b khoản 4 Điều 80 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP như sau: ” Buộc cải chính thông tin không đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng liên tục trong 03 ngày đối với hành vi quy định tại Khoản 2 Điều này”. Đồng thời, tiến hành rà soát tổng thể các VPHC trong lĩnh vực y tế tại Nghị định số 176/2013/NĐ-CP có làm phát sinh “thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn” mà chưa có quy định về biện pháp khắc phục hậu quả “buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn” để kịp thời bổ sung biện pháp này làm cơ sở cho việc áp dụng trong thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xử phạt và khắc phục hậu quả do VPHC gây ra.

    Thứ tư, cần xem xét bãi bỏ các biện pháp khắc phục hậu quả “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu” và “biện pháp buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm” quy định tại Điều 3 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP. Bên cạnh đó, cần bổ sung 02 biện pháp là “buộc điều chuyển lại vị trí công tác” và “buộc hoàn trả toàn bộ số tiền chênh lệch” để bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định trong cùng một văn bản, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả này đối với các VPHC về y tế./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Áp Dụng Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả Khi Hết Thời Hiệu Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Các Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả Khi Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Xác Định Thẩm Quyền Áp Dụng Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả
  • Thuốc Kích Thích Rụng Trứng Clomid Tác Dụng Như Thế Nào?
  • Các Phác Đồ Kích Thích Buồng Trứng Trong Điều Trị Vô Sinh Hiếm Muộn
  • 8 Biện Pháp Hành Chính Trong Hoạt Động Quản Lý Ngoại Thương

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Chống Trợ Cấp Trong Quản Lý Hoạt Động Ngoại Thương Là Gì?
  • Luật Quản Lý Ngoại Thương 2021
  • Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Hoạt Động Ngoại Thương, Hot
  • Chính Sách Ngoại Thương Của Việt Nam
  • Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp
  • Nhóm: Registered, MOD_Ebook

    Gia nhập: 16-05-2016(UTC)

    Bài viết: 724

    Đến từ: việt nam

    Thanks: 156 times

    Được cảm ơn: 589 lần trong 306 bài viết

    Đây là các biện pháp hành chính được nêu tại Luật Quản lý ngoại thương 2021 quy định về biện pháp quản lý ngoại thương, phát triển hoạt động ngoại thương; giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương.

    Luật Quản lý ngoại thương 2021 sử dụng một số biện pháp để quản lý hoạt động ngoại thương như:

    • Các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch;
    • Biện pháp phòng về thương mại;
    • Biện pháp kiểm soát khẩn cấp trong hoạt động ngoại thương.

    Trong đó, các biện pháp hành chính được điều chỉnh và áp dụng theo Luật Quản lý ngoại thương bao gồm:

    • C ấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, t ạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu
    • Ch àng hóa
    • Các bi ện ph áp qu ản l ý ho ạt động ngoại thương kh ác

    Bên cạnh đó, Luật Quản lý ngoại thương 2021 còn bãi bỏ một số điều, khoản của Luật Thương mại 2005 Ði Ði Ði à 247.

    1 người cảm ơn thanhnha1706 cho bài viết.

    Nhóm: Registered

    Gia nhập: 01-04-2016(UTC)

    Bài viết: 513

    Đến từ: HCM

    Thanks: 1747 times

    Được cảm ơn: 1358 lần trong 368 bài viết

    Một trong những nội dung nổi bật của Luật Quản lý ngoại thương 2021 là quy định về các trường hợp hàng hóa bị cấm xuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, hàng hóa bị áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

    • Gây nguy hại đến sức khỏe, an toàn của người tiêu dùng.
    • Gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục.
    • Gây nguy hại đến môi trường, đa dạng sinh học, có nguy cơ cao mang theo sinh vật gây hại, đe dọa an ninh lương thực, nền sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
    • Theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giảng Dạy Của Giáo Viên Trong Các Trường Trung Học Cơ Sở Quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Áp Dụng Biện Pháp Tư Pháp
  • Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Của Việt Nam
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Ở Tiểu Học
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Phân Môn Vẽ Trang Trí
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Phân Môn Vẽ Trang Trí Ở Trường Thcs
  • Phát handouts về qui tắc đánh dấu trọng âm

    1. Đa số các danh từ và tính từ 2 âm tiết thì trọng âm chính nhấn vào âm tiết thứ nhất.

    Example : ‘mountain ‘evening ‘butcher ‘carpet ‘busy ‘village ‘summer ‘birthday ‘porter ‘ptty ‘morning ‘winter ‘beggar ‘table ‘handsome .

    Ngoại trừ : ma’chine mis’take , ho’tel, re’spone .

    MỤC LỤC Trang PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................3 I. Lý do chọn đề tài.......................................................................................3 Cơ sở lý luận.........................................................................................3 Cơ sở thực tiễn.......................................................................................3 II. Mục đích chuyên đề................................................................................3 III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................... .4 IV. Kế hoạch thực hiện.................................................................. ........... 4 PHẦN 2. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ.............................................................. 5 I. Nội dung lý luận.................................................................................... ..5 1. Trọng âm là gì?...................................................................................... 5 2. Vì sao cần nắm vững trọng âm?.............................................................5 3. Học trọng âm như thế nào?.................................................................. ..5 II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu................................................................6 Khảo sát thứ nhất................................................................................ ..6 Khảo sát thứ hai.................................................................................. ..6 III. Những biện pháp đã thực hiện........................................................... ..7 Trong các giờ học Tiếng Anh ......................................................................7 Phát handouts về qui tắc đánh dấu trọng âm ...........................................7,8,9 10 Bài tập thực hành.10,11 IV. Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng...............................................12 PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................13 I. Những đánh giá cơ bản về chuyên đề....................................................13 II. Các đề xuất và kiến nghị...........................................................................13 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Cơ sở lý luận: Trọng âm là chìa khoá kỳ diệu để hiểu được tiếng Anh .Những người bản xứ sử dụng trọng âm rất tự nhiên, đến mức thậm chí bản thân họ cũng không biết là mình đang dùng chúng. Người học tiếng Anh, trong đó có người Việt Nam, nếu không phát âm đúng trọng âm, khi giao tiếp bằng tiếng Anh với người bản xứ, thường gặp phải 2 vấn đề sau: Rất khó để hiểu người ta đang nói gì, đặc biệt là người nước ngoài nói rất nhanh,và ngược lại, người nước ngoài đó cũng cảm thấy rất khó để hiểu mình. Tiếng Anh hiện nay đang được dạy theo đường hướng giao tiếp và đường hướng lấy người học làm trung tâm. Để có thể giao tiếp được bằng Tiếng Anh, học sinh phải sử dụng được hai kỹ năng nghe và nói tốt. Vậy giáo viên và học sinh phải làm gì để đạt được mục tiêu này? Điều này đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó giúp học sinh nắm vững được trọng âm các từ trong Tiếng Anh là rất quan trọng. 2. Cơ sở thực tiễn: Từ thực tế giảng dạy Tiếng Anh nhiều năm, tôi nhận thấy rằng các kiến thức về trọng âm Tiếng Anh chưa được trú trọng, đi sâu trong chương trình THPT. Học sinh chỉ nghe qua đài hoặc giáo viên và nhắc lại cho đúng một số từ cho sẵn. Nội dung về trọng âm Tiếng Anh 12 chỉ được giới thiệu ở phần Language focus của các bài là Unit 3, Unit 4 và Unit 5 lớp 12. Học sinh chỉ được nghe băng về cách đọc trọng âm một số từ và sau đó nhắc lại. Tuy nhiên, trong các bài kiểm tra và các đề thi tốt nghiệp THPT hoặc thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng lại thường có phần câu hỏi về trọng âm. Qua kết quả các bài kiểm tra của học sinh, tôi nhận thấy học sinh thường làm đúng rất ít các câu hỏi thuộc phần kiến thức về trọng âm, hơn nữa học sinh có vẻ ngại làm về dạng bài tập này, đặc biệt hầu hết học sinh khi nói Tiếng Anh đều không chú ý đến trọng âm của các từ mà chỉ nói một cách đều đều, điều này làm giảm đi hiệu quả của việc sử dụng Tiếng Anh. II. MỤC ĐÍCH CỦA CHUYÊN ĐỀ: Từ các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nói trên, tôi đã quyết định thực hiện đề tài có tên gọi " Một số biện pháp giúp học sinh lớp 12 nắm vững trọng âm từ trong Tiếng Anh". Mục đích của đề tài này là: Thứ nhất: làm cho học sinh nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng đúng trọng âm Tiếng Anh để cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình. Thứ hai: giúp học sinh giải quyết được phần câu hỏi về kiến thức trọng âm trong các bài kiểm tra hoặc các bài thi tốt ngiệp và đại học. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Đề tài này được nghiên cứu và thực hiện với học sinh lớp 12A2 trường THPT DTNT Vĩnh Phúc trong năm học 2021-2016. IV. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN: thời gian 5 tiết Dạy quy tắc về cách đánh trọng âm cho học sinh và có bài tập thực h ành PHẦN II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ I. NỘI DUNG LÝ LUẬN: 1. Trọng âm là gì? Theo Peter Roach trong " English phonetics and phonology", trọng âm của một từ là âm được phát âm nổi bật hơn so với các âm còn lại. Âm có trọng âm có ít nhất bốn đặc điểm khác biệt sau: Độ lớn (loudness): các âm tiết mang trọng âm được phát âm lớn hơn các âm tiết không mang trọng âm. Độ dài (length): các âm tiết mang trọng âm được kéo dài hơn khi phát âm hơn các âm tiết không mang trọng âm. Độ cao (pitch): các âm tiết mang trọng âm được phát âm ở độ cao hơn. Độ khác biệt (quality): các âm tiết mang trọng âm chứa đựng một nguyên âm khác biệt về chất với các nguyên âm trong các âm tiết không mang trọng âm còn lại. Ví dụ : canal indication ( thiên chúa giáo), 'lunatic (ả rập) , 'politics (số học), 'television socialize , attitude + Nếu âm tiết thứ 3 và âm tiết thứ 2 là âm tiết yếu Eg: emperor / `empərə/ cinema / `sinəmə/ `contrary `factory Trọng âm sẽ rơi vào âm tiết thứ hai Nếu âm tiết thứ 3 là âm tiết yếu (er, el, ow ) hoặc kết thúc bằng 1 phụ âm Eg: encounter [in'kauntə], determine /di't3:min/, potato /pə`teitəu/, disaster / di`za:stə/ Lưu ý: Đây chỉ là một số những quy tắc nhỏ được rút ra trong quá trình làm bài tập về trọng âm và những qui tắc này không phải là luôn luôn đúng mà còn có rất nhiều các trường hợp ngoại lệ, do vậy người học cần phải vận dụng một cách rất linh hoạt trong quá trình làm bài tập. Practical Exercise Choose the word that has a different stress pattern from the others. 1.a. hospital b. mischievous c. supportive d. special 2.a. family b. whenever c. obedient d. solution 4.a. biologist b. generally c. responsible d. security 5.a. confident b. important c. together d. exciting 6.a. possible b. university c. secondary d. suitable 7.a. partnership b. romantic c. actually d. attitude 8.a. believe b. marriage c. response d. maintain 9.a. summary b. different c. physical d. decision 10.a. attractiveness b. traditional c. generation d. American 11.a. certain b. couple c. decide d. equal 12.a. attract b. person c. signal d. instance 13.a. verbal b. suppose c. even d. either 14.a. example b. consider c. several d. attention 15.a. situation b. appropriate c. informality d. entertainment 16.a. across b. simply c. common d. brother 17.a. social b. meter c. notice d. begin 18.a. whistle b. table c. someone d. receive 19.a. discuss b. waving c. airport d. often 20.a. sentence b. pointing c. verbal d. attract 21.a. problem b. minute c. suppose d. dinner 22.a. noisy b. party c. social d. polite 23.a. restaurant b. assistance c. usually d. compliment 24.a. impolite b. exciting c. attention d. attracting 25.a. obvious b. probably c. finally d. approaching 26.a. waiter b. teacher c. slightly d. toward 27.a. general b. applicant c. usually d. October 28.a. parallel b. dependent c. educate d. primary 29.a. physical b. achievement c. government d. national 30.a. eleven b. history c. nursery d. different 31.a. expssion b. easily c. depssion d. disruptive 32.a. algebra b. musical c. politics d. apartment 33.a. mechanic b. chemistry c. cinema d. finally 34.a. typical b. favorite c. pision d. organize 35.a. computer b. establish c. business d. remember 36.a. conference b. lecturer c. reference d. researcher 37.a. powerful b. interesting c. exciting d. difficult 38.a. memory b. exactly c. radio d. management 39.a. requirement b. condition c. example d. pvious 40.a. library b. entertain c. understand d. referee 41.a. university b. application c. technology d. entertainment 42.a. mathematics b. engineering c. scientific d. laboratory 43.a. certificate b. necessary c. economy d. geography 44.a. interviewer b. pparation c. economics d. education 45.a. considerable b. information c. librarian d. technician 46.a. maximum b. decision c. requirement d. admission 47.a. institution b. university c. pferential d. indicative 48.a. available b. majority c. tutorial d. differently 49.a. graduation b. understanding c. international d. accommodation 50.a. interview b. impssion c. company d. formally 51,a. stressful b. pssure c. ppare d. future 52.a. employment b. remember c. concentrate d. position 56.a. experience b. certificate c. interviewer d. enthusiasm 57.a. addition b. suitable c. shortcoming d. honestly 58.a. qualification b. disappointedly c. responsibility d. recommendation 59.a. answer b. question c. polite d. keenness 60.a. economic b. experience c. entertainment d. introduction IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÓ SO SÁNH ĐỐI CHỨNG: Để đánh giá kết quả của quá trình thực hiện đề tài và có sự so sánh, tôi đã tiến hành kiểm tra khả năng đánh dấu trọng âm và phát âm đúng ở lớp 12A2 (lớp được thực hiện đề tài ) Phiếu câu hỏi có nội dung như sau: Choose the word whose stress pattern is different from that of the rest. 1. attractiveness b. traditional c. generation d. American 2. a. certain b. couple c. decide d. equal 3. a. attract b. person c. signal d. instance 4. a. verbal b. suppose c. even d. either 5. a. example b. consider c. several d. attention Kết quả được thống kê ở bảng sau: _______THE END_______

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm ?
  • Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì?
  • Làm Sao Để Tránh Các Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại Từ Eu?
  • Chống Lẩn Tránh Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại Và Gian Lận Xuất Xứ
  • Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại: Công Cụ Hiệu Quả Giảm Áp Lực Hàng Nhập Khẩu
  • Chứng Chỉ An Toàn Lao Động: Các Biện Pháp An Toàn Lao Động Khi Làm Việc Trên Cao Chính Xác Nhất !!!

    --- Bài mới hơn ---

  • 1.tại Sao Phải Sử Dụng Điện An Toàn Và Tiết Kiệm? Nêu Các Biện Pháp Sử Dụng Tiết Kiệm Điện Năng Mà Em Biết( Ít Nhất 10 Biện Pháp) 2. Nêu Điểm Giống Và Khác Nha
  • Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Cẩu Tháp Trong Thi Công Xây Dựng
  • Biện Pháp Thi Công Phần Móng Nhà Cao Tầng Mà Ai Cũng Phải Biết
  • Thiết Kế Bản Vẽ Biện Pháp Thi Công Nhà Máy An Toàn Tại Longlecons
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 9395:2012 Về Cọc Khoan Nhồi
  • Facebook Twitter Google+ Share

    1. Yêu cầu đối với người làm việc trên cao

    Người làm việc trên cao phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

    – Từ 18 tuổi trở lên.

    – Có giấy chứng nhận đảm bảo sức khỏe làm việc trên cao do cơ quan y tế cấp. Định kỳ 6 tháng phải được kiểm tra sức khỏe một lần. Phụ nữ có thai, người có bệnh tim, huyết áp, tai điếc, mắt kém không được làm việc trên cao.

    – Có giấy chứng nhận đã học tập và kiểm tra đạt yêu cầu về an toàn lao động do giám đốc đơn vị xác nhận.

    – Đã được trang bị và hướng dẫn sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc trên cao: dây an toàn,quần áo, giày, mũ bảo hộ lao động.

    – Công nhân phải tuyệt đối chấp hành kỷ luật lao động và nội qui an toàn làm việc trên cao.

    2. Nội qui kỷ luật và an toàn lao động khi làm việc trên cao

    – Nhất thiết phải đeo dây an toàn tại những nơi đã qui định.

    – Việc đi lại, di chuyển chỗ làm việc phải thực hiện theo đúng nơi, đúng tuyến qui định, cấm leo trèo để lên xuống vị trí ở trên cao, cấm đi lại trên đỉnh tường, đỉnh dầm, xà, dàn mái và các kết cấu đang thi công khác.

    – Lên xuống ở vị trí trên cao phải có thang bắc vững chắc. Không được mang vác vật nặng, cồng kềnh khi lên xuống thang.

    – Cấm đùa nghịch, leo trèo qua lan can an toàn, qua cửa sổ.

    – Không được đi dép lê, đi giày có đế dễ trượt.

    – Trước và trong thời gian làm việc trên cao không được uống rượu, bia, hút thuốc lào.

    – Công nhân cần có túi đựng dụng cụ, đồ nghề, cấm vứt ném dụng cụ, đồ nghề hoặc bất kỳ vật gì từ trên cao xuống.

    – Lúc tối trời , mưa to, giông bão, hoặc có gío mạnh từ cấp 5 trở lên không đươc làm việc trên dàn giáo cao, ống khói, đài nước, cột tháp, trụ hoặc dầm cầu, mái nhà 2 tầng trở lên, vv.

    3. Yêu cầu đối với các phương tiện làm việc trên cao

    – Để phòng ngừa tai nạn ngã cao, một biện pháp cơ bản nhất là phải trang bị dàn giáo ( thang, giáo cao, giáo ghế, giáo treo, chòi nâng, sàn treo,…) để tạo ra chỗ làm việc và các phương tiện khác bảo đảm cho công nhân thao tác và đi lại ở trên cao thuận tiện và an toàn.

    – Để bảo đảm an toàn và tiết kiệm vật liệu, trong xây dựng chỉ nên sử dụng các loại dàn giáo đã chế tạo sẵn theo thiết kế điển hình

    – Chỉ được chế tạo dàn giáo theo thiết kế riêng, có đầy đủ các bản vẽ thiết kế và thuyết minh tính toán đã được xét duyệt.

    Dàn giáo phải đáp ứng với yêu cầu an toàn chung sau:

    a) Về kết cấu:

    – Các bộ phận riêng lẻ (khung, cột, dây treo, đà ngang, đà dọc, giằng liên kết, sàn thao tác, lan can an toàn), và các chỗ liên kết phải bền chắc. Kết cấu tổng thể phải đủ độ cứng và ổn định không gian trong quá trình dựng lắp và sử dụng.

    – Sàn thao tác phải vững chắc, không trơn trượt, khe hở giữa các ván sàn không được vượt quá 10mm.

    Sàn thao tác ở độ cao 1,5m trở lên so với nền, sàn phải có lan can an toàn. Lan can an toàn phải có chiều cao tối thiều 1m so với mắt sàn, có ít nhất hai thanh ngang để phòng ngừa người ngã

    – Có thang lên xuống giữa các tầng (đối với dàn giáo cao, và dàn giáo treo). Nếu tổng chiều cao của dàn giáo dưới 12m có thề dùng thang tựa hoặc thang treo.Nếu tổng chiều cao trên 12m, phài có lồng cầu thang riêng.

    – Có hệ thống chống sét đối với giáo cao. Giáo cao làm bằng kim loại nhất thiết phải có hệ thống chống sét riêng.

    b)Yêu cầu an toàn khi dựng lắp và tháo dỡ:

    – Khi dựng lắp và thao dỡ dàn giáo phải có cán bộ kỹ thuật hoặc đội trưởng hướng dẫn, giám sát.

    – Chỉ được bố trí công nhân có đủ tiêu chuẩn làm việc trên cao, có kinh nghiệm mới được lắp dựng, tháo dỡ dàn giáo ở trên cao.

    – Công nhân lắp đặt và tháo dỡ dàn giáo ở trên cao phải được trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc trên cao như giày vải, dây an toàn.

    – Trước khi tháo dỡ dàn giáo, công nhân phải được hướng dẫn trình tự và phương pháp tháo dỡ cũng nhu các biện pháp an toàn

    – Mặt đất để dựng lắp dàn giáo cần san phẳng, đầm chặt để chống lún và bảo đảm thoát nước tốt.

    – Dựng đặt các cột hoặc khung đàn khung dàn giáo phải bảo đảm thẳng đứng và bố trí đủ các giằng neo theo yêu cầu của thiết kế.

    – Dưới chân các cột phải kê ván lót chống lún, chống trượt. Cấnm kê chân cột hoặc khung dàn giáo bằng gạch đá hoặc các mẩu gỗ vụn.

    – Giáo cao, giáo treo phải được neo bắt chặt vào tường của ngôi nhà hoặc công trình đã có hoặc đang thi công.Vị trí và số lượng móc neo hoặc dây chằng phải thực hiện theo đúng chỉ dẫn của thiết kế. Cấm neo vào các bộ phận kế cấu kém ổn định như lan can, ban công, mái đua, ống thoát nước,vv.

    – Đối với dàn giáo đứng độc lập hoặc dùng để chống đỡ các kết cấu công trình, phải có hệ giằng hoặc dây neo bảo đảm ổn định theo yêu cầu của thiết kế.

    – Dàn giáo bố trí ở gần đường đi, gần các hố đào, gần phạm vi hoạt động của các máy trục, phải có biện pháp đề phòng các vách hố đào bị sụt lở, các phương tiện giao thông và cẩu chuyển va chạm làm đổ gãy dàn giáo.

    – Ván lát sàn thao tác phải có chiều dày ít nhất là 3cm, không bị mục mọt hoặc mức gãy. Các tấm phải ghép khít và bằng phẳng, khe hở giữa các tấm ván không được lớn hơn 1cm. Khi dùng ván rời đặt theo phương dọc thì các tấm ván phải đủ dài để gác trực tiếp hai đầu lên thanh đà đỡ, Mỗi đầu ván phải chìa ra khỏi thanh đà đỡ một đoạn ít nhất là 20cm và được buộc hoặc đóng đinh chắc vào thanh đà. Khi dùng các tấm ván ghép phải nẹp bên dưới để giữ cho ván khỏi bị trượt.

    – Lỗ hổng ở sàn thao tác chỗ lên xuống thang phải có lan can bảo vệ ở ba phía. Giữa sàn thao tác và công trình phải để chừa khe hở không quá 5cm đối với công tác xây và 20cm đối với công tác hoàn thiện.

    – Giáo treo và nôi treo phải dựng lắp cách các phần nhô ra cửa công trình một khoảng tối thiểu là 10cm.

    – Dầm côngxôn, giáo treo và nôi treo phải lắp đặt và ổn định vào các bộ phận kết cấu vững chắc của ngôi nhà hay công trình. Để tránh bị lật hai bên côngxôn phải có các vấu định vị chống giữ. Đuôi côngxôn phải có cơ cấu neo bắt chặt vào kết cấu mái hoặc đặt đối trọng để tránh chuyển dịch.

    – Không được đặt dầm côngxôn lên mái đua hoặc bờ mái.

    – Đối với mái côngxôn, khi lắp đặt, dầm côngxôn phải được neo buộc chắc chắn vào các bộ phận kết cấu của công trình, để phòng khả năng trượt hoặc lật giáo. Khi chiều dài côngxôn lớn, hoặc tải trọng nặng, dưới côngxôn phải có các thanh chống xiên đỡ, các thanh này không chỉ cố định vào côngxôn bằng mộng ghép mà còn bằng bulông, hoặc đinh đĩa. Không cho phép cố định côngxôn vào bậu cửa.

    – Khi chuyển vật liệu lên sàn thao tác, phải dùng thăng tải hoặc các thiết bị nâng trục khác. Không được neo các thiết bị nâng trục này vào côngxôn.

    – Sàn thao tác trên giáo côngxôn cũng phải có thành chắn cao 1m chắc chắn.

    – Thang phải đặt trên mặt nền (sàn) bằng phẳng ổn định và chèn giữ chắc chắn.

    – Cấm tựa thang nghiêng với mặt phằng nằm ngang lơn hơn bảy 70 độ và nhỏ hơn 45 độ.

    – Trường hợp đặt thang trái với qui định này phải có người giữ thang và chân thang phải chèn giữ vững chắc chắn.

    – Chân thang tựa phải có bộ phận chặn giữ, dạng mấu nhọn bằng kim loại , đế cao su và những bộ phận hãm giữ khác, tùy theo trạng thái và vật liệu của mặt nền, còn đầu trên của thang cần bắt chặt vào các kết cấu chắc chắn (dàn giáo, dầm, các bộ phận của khung nhà)

    – Tổng chiều dài của thang tựa không quá 5m.

    – Khi nối dài thang, phải dùng dây buộc chắc chắn.

    – Thang xếp phải được trang bị thang giằng cứng hay mềm để tránh hiện tượng thang bất ngờ tự doãng ra.

    – Thang kim loại trên 5m, dựng thẳng đứng hay nghiêng với góc trên 70 độ so với đường nằm ngang, phải có vây chắn theo kiểu vòng cung, bắt đầu từ độ cao 3m trở lên.

    – Vòng cung phải bố trí cách nhau không xa quá 80cm, và liên kết với nhau tối thiểu bằng ba thanh dọc. Khoảng cách từ thang đến vòng cung không được nhỏ hơn 70cm và không lớn hơn 80cm khi bán kính vòng cung là 35 – 40cm.

    – Nếu góc nghiêng của thang dưới 70 độ, thang cần có tay vịn và bậc thang làm bằng thép tấm có gân chống trơn trượt.

    – Với thang cao trên 10m, cứ cách 6 – 10m phải bố trí chiếu nghỉ.

    – Trước khi dỡ các bộ phận của sàn, cần dọn hết vật liệu, rác, thùng đựng vật liệu, dụng cụ,…

    – Khi tháo dỡ dàn giáo phải dùng cần trục hay các thiết bị cơ khí đơn giản như ròng rọc để chuyển các bộ phận xuống đất.

    – Cấm ném hay vứt các bộ phận của dàn giáo từ trên cao xuống.

    c) Yêu cầu an toàn khi sử dụng:

    – Dàn giáo khi lắp dựng xong phải tiến hành và lập biên bản nghiệm thu. Trong quá trình sử dụng, cần quy định việc theo dõi kiểm tra tình trạng an toàn của dàn giáo.

    – Khi nghiệm thu và kiểm tra dàn giáo phải xem xét những vấn đề sau: sơ đồ dàn giáo có đúng thiết kế không; cột có thẳng đứng và chân cột có đặt lên tấm gỗ kê để phòng lún không; có lắp đủ hệ giằng và những điểm neo dàn giáo với công trình để bảo đảm độ cứng vững và ổn định không; các mối liên kết có vững chắc không; mép sàn thao tác, lỗ chừa và chiếu nghỉ cầu thang có lắp đủ lan can an toàn không.

    – Tải trọng đặt trên sàn thao tác không được vượt quá tải trọng tính toán. Trong quá trình làm việc không được để người, vật liệu, thiết bị tập trung vào một chỗ vượt quá quy định. Khi phải đặt các thiết bị cẩu chuyển trên sàn thao tác ở các vị trí khác với quy định trong thiết kế, thì phải tính toán kiểm tra lại khả năng chịu tải của các bộ phận kết cấu chịu lực trong phạm vi ảnh hưởng do thiết bị đó gây ra. Nếu khi tính toán kiểm tra lại thấy không có đủ khả năng chịu tải thì phải có biện pháp gia cố.

    – Khi dàn giáo cao hơn 6m, phải có ít nhất hai tầng sàn. Sàn thao tác bên trên, sàn bảo vệ dưới. Khi làm việc đồng thời trên hai sàn, thì giữa hai sàn này phải có sàn hoặc lưới bảo vệ.

    – Cấm làm việc đồng thời trên hai tầng sàn cùng một khoang mà không có biện pháp bảo đảm an toàn.

    – Khi vận chuyển vật liệu lên dàn giáo bằng cần trục không được để cho vật nâng va chạm vào dàn giáo, không được vừa nâng vừa quay cần. Khi vật nâng còn cách mặt sàn thao tác khoáng 1m phải hạ từ từ và đặt nhẹ nhàng lên mặt sàn.

    – Chỉ được vận chuyển vật liệu bằng xe cút kít hoặc xe cải tiến trên dàn giáo nếu trong thiết kế đã tính với những tải trọng này.

    – Trên sàn thao tác phải lát ván cho xe vận chuyển.

    – Hết ca làm việc phải thu dọn sạch các vật liệu thừa, đồ nghề dụng cụ trên mặt sàn thao tác.

    – Ban đêm, lúc tối trời, chỗ làm việc và đi lại trên dàn giáo phải đảm bảo chiếu sáng đầy đủ.

    – Khi trời mưa to, lúc dông bão hoặc gió mạnh cấp 5 trở lên không được làm việc trên dàn giáo.

    – Đối với giáo ghế di động, lúc đứng tại chỗ, các bánh xe phải được cố định chắc chắn. Đường để di chuyển giáo ghế phải bằng phẳng. Việc di chuyển giáo ghế phải làm từ từ. Cấm di chuyển giáo ghế nếu trên đó có người, vật liệu, thùng đựng rác, v.v.

    Ngã cao không những chỉ xảy ra ở những công trường lớn, thi công tập trung, công trình cao, mà cả ở các công trường nhỏ, công trình thấp, thi công phân tán…

    HỌC AN TOÀN LAO ĐỘNG TRÊN CAO Ở ĐÂU TỐT NHẤT ???

    🔺 HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẤT VIỆT (GIAODUCDATVIET )

    Hotline: 0944228844 – Tel: (08) 22.23.88.44 – (04) 21.23.88.44

    Email: [email protected]

    Facebook: https://www.facebook.com/antoanlaodong.top

    Tư Vấn Trực Tiếp: 0946.22.88.44 (Mrs. Nhi )

    Axact

    Vestibulum bibendum felis sit amet dolor auctor molestie. In dignissim eget nibh id dapibus. Fusce et suscipit orci. Aliquam sit amet urna lorem. Duis eu imperdiet nunc, non imperdiet libero.

    Chương Trình Đào Tạo Ngắn Hạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Huấn Luyện An Toàn Khi Làm Việc Trên Cao
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Tin tức online tv