Top 12 # Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Chế Biến Khoáng Sản / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản / 2023

Hoạt động khai thác khoáng sản luôn tiềm ẩn nguy cơ gây tác động xấu tới môi trường, là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, do vậy, trong thời gian qua Quảng Ninh luôn chú trọng tới vấn đề này.

Vận hành trạm quan trắc nước thải tự động – Trạm xử lý nước thải +25 Núi Nhện (Thống Nhất). Ảnh: Ngọc Linh

Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh có 243 mỏ và điểm quặng của 33 loại khoáng sản. Trong đó, than đá có trữ lượng lớn (tập trung tại khu vực Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Đông Triều) được thăm dò, khai thác, tiêu thụ và sử dụng phù hợp với quy hoạch. Ngoài ra còn có các mỏ đá vôi, đất sét, cát san lấp, cao lanh… phân bố rộng khắp tại các địa phương là Hạ Long, Cẩm Phả, Hoành Bồ, Đông Triều và một số huyện miền Đông. Thời gian qua, các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư chiều sâu, thay đổi công nghệ, cải tiến thiết bị và hạn chế những tác động xấu đến môi trường.

Hiện nay, hầu hết các đơn vị khai thác khoáng sản (đặc biệt là các đơn vị khai thác than) đã thực hiện lập dự án cải tạo phục hồi môi trường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó đã đưa ra các giải pháp cải tạo phục hồi môi trường khi kết thúc quá trình khai thác mỏ. Riêng giai đoạn 2016-2018, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã phục hồi được 415ha bãi thải, trong đó các khu vực nhìn từ QL18A, tỉnh lộ đã được ưu tiên xanh hóa hoàn toàn. Điều đặc biệt, để đẩy nhanh thời gian phủ xanh, TKV đã triển khai giải pháp trồng cây với mật độ cao. Theo yêu cầu, mật độ trồng cây chỉ là 2.500 cây/ha, song để đảm bảo phủ xanh nhanh, giảm thời gian từ 5-6 năm xuống còn 3-4 năm, có những nơi, ngành Than đã trồng trên 5.000 cây/ha.

Với nỗ lực ấy, tính đến hết năm 2018, TKV đã cải tạo, phục hồi được trên 1.000ha bãi thải mỏ. Điển hình là các bãi thải: Chính Bắc Núi Béo, Nam Khe Tam, Đông Khe Sim, Mông Gioăng, Khe Dè và đỉnh Đông Cao Sơn. TKV dự tính Tết trồng cây xuân Kỷ Hợi 2019 và kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2018-2020, phủ xanh trên 200ha bãi thải cũ. Ngoài ra, Tổng Công ty Đông Bắc cũng đã chỉ đạo 4 mỏ lộ thiên kết thúc khai thác, triển khai cải tạo, phục hồi môi trường theo đúng các nội dung dự án được duyệt.

Không chỉ vậy, TKV còn yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện việc đổ thải đất đá theo đúng các quy hoạch, thiết kế và tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ. Các bãi thải được đổ cốt cao +300 trở xuống; đổ thải theo tầng thấp có chiều cao tầng 30-50m, chiều rộng mặt tầng 20-30m. Khu vực chân các bãi thải cơ bản đã được xây dựng đê và đập chống trôi lấp đất đá đảm bảo an toàn cho dân cư và môi trường, có hệ thống thoát nước.

Tưới nước dập bụi tại khai trường Công ty CP Cọc Sáu.

Ngành Than cũng đang tích cực triển khai đề án đảm bảo môi trường cấp bách. Bên cạnh đó, các đơn vị ngành Than đều đã triển khai thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường (BVMT) không khí, chống bụi, chống ồn. Đặc biệt, TKV đã chỉ đạo các đơn vị không vận chuyển than trên QL18, QL10 và các tuyến tỉnh lộ; hoàn thành băng tải Lép Mỹ – cảng Km6; triển khai tuyến băng tải Khe Ngát – Điền Công, thay thế việc vận chuyển than bằng ô tô chủ yếu trên tuyến đường kho G9 – cảng Khe Dây và một phần than cục, than bùn trên tuyến đường Vàng Danh – Điền Công.

Các tuyến băng tải này đi vào hoạt động đã góp phần giảm được bụi phát sinh, đảm bảo an toàn giao thông và cải thiện cảnh quan cho các khu vực vận chuyển than đi qua, nhất là các khu vực đô thị. Song song với đó, TKV cũng đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án Trung tâm Chế biến và kho than tập trung vùng Hòn Gai, chấm dứt hoạt động của Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng…

Các đơn vị khai thác khoáng sản ngoài than trên địa bàn đã có hệ thống rãnh, hố lắng thu gom nước mưa chảy tràn để lắng cặn trước khi thải ra môi trường. Một số đơn vị tận dụng nước mưa chảy tràn sau khi lắng cặn để tuần hoàn tưới nước dập bụi, phục vụ sản xuất, tạo cảnh quan môi trường.

Nhằm từng bước khắc phục, hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản, đồng thời nâng cao hơn nữa công tác quản lý nhà nước, từ năm 2009, toàn bộ các dự án đầu tư khai thác khoáng sản mới trên địa bàn tỉnh đều phải lập và được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc cam kết BVMT thì mới được tỉnh xem xét làm thủ tục giao đất, cho thuê đất. Các hồ sơ ĐTM, đề án BVMT, đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường được xem xét thẩm định nghiêm túc, đảm bảo chất lượng, đúng thời hạn quy định.

Đặc biệt, thời gian qua tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác bảo vệ trong hoạt động khai thác khoáng sản, như: Đề án quản lý tài nguyên và BVMT trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số 21/2008/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lý BVMT đối với hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; thành lập Quỹ BVMT tỉnh Quảng Ninh; Đề án đảm bảo môi trường cấp bách ngành Than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020…

Chính Sách Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản / 2023

Bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến khoáng sản là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản dù ở bất cứ quy mô công suất và địa điểm nào.

Luật khoáng sản năm 2010, Luật bảo vệ môi trường năm 2014, Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010, Bộ luật hình sự năm 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác đã đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khoáng sản nói riêng. Nhờ đó công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản đã được quan tâm không chỉ ở góc độ quản lý nhà nước mà còn được các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản thực hiện tương đối nghiêm túc trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Nghị định số 67/2019/NĐ-CP quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

Tuy vậy, vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản vẫn còn tồn tại một số bất cập trong các quy định của chính sách, pháp luật cần phải được hoàn thiện nhằm mục đích tăng cường công tác quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững ngành công nghiệp khoáng sản quốc gia.

1. Luật khoáng sản năm 2010

Điều 30 Luật khoáng sản quy định về “bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản” diễn đạt dài nhưng vẫn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể, đặc biệt là sử dụng cụm từ “theo quy định của pháp luật” (không rõ pháp luật nào).

Những vấn đề về bảo vệ môi trường quy định trong Điều 30:

– Phải sử dụng công nghệ, thiết bị, vật liệu thân thiện với môi trường; thực hiện các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật.

– Phải thực hiện các giải pháp và chịu mọi chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường. Giải pháp, chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường phải được xác định trong dự án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

– Phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của Chính phủ.

Đặc biệt là trong Luật khoáng sản chỉ quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản. Trong khi đó tại khoản 5 Điều 2 luật này nêu rõ “hoạt động khoáng sản bao gồm hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản”. Như vậy, trong toàn bộ quy trình còn thiếu phần làm giàu khoáng sản nói riêng và chế biến khoáng sản nói chung chưa được đề cập đến. Điều đó đã gây lúng túng cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản. Chưa kể cho đến nay chưa có luật hay văn bản pháp luật nào điều chỉnh cụ thể về hoạt động chế biến khoáng sản.

Quy định “chi phí bảo vệ, cải tạo, phục hồi môi trường phải được xác định trong dự án đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, bản cam kết bảo vệ môi trường” là một bài toán khó và thường không có đáp án chính xác. Vì vậy các doanh nghiệp thường tính toán, xác định chi phí này chưa đúng nhằm giảm ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cũng khó mà phê duyệt cho chính xác hoặc gần đúng khoản chi phí này.

Như vậy Điều 30 Luật khoáng sản cần phải được chỉnh sửa, hoàn thiện để đảm bảo tính thuận lợi, dễ hiểu cho các nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu và áp dụng pháp luật vào lĩnh vực hoạt động khoáng sản.

2. Luật bảo vệ môi trường 2014

Điều 38 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về “Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản” đã chi tiết và cụ thể hơn so với quy định về bảo vệ môi trường trong Luật khoáng sản năm 2010. Nội dung của Điều 38 gồm:

– Phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường như : Thu gom và xử lý nước thải. Thu gom, xử lý chất thải rắn. Có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh. Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.

– Phải lưu giữ, vận chuyển khoáng sản có tính chất độc hại bằng thiết bị chuyên dụng, được che chắn tránh phát tán ra môi trường.

– Việc sử dụng máy móc, thiết bị có tác động xấu đến môi trường, hóa chất độc hại trong thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải chịu sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

– Việc thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến dầu khí, khoáng sản khác có chứa nguyên tố phóng xạ, chất độc hại, chất nổ phải thực hiện quy định của Luật bảo vệ môi trường và pháp luật về an toàn hóa chất, an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân.

– Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được Luật bảo vệ môi trường quy định phải chỉ đạo thống kê nguồn thải, đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường của cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở này.

Vì vậy có nên tồn tại quy định Điều 30 trong Luật khoáng sản năm 2010?

Nếu vẫn để Điều 30 trong Luật khoáng sản năm 2010 thì sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lặp, thừa/thiếu trong quy định khi so sánh với Điều 38 Luật bảo vệ môi trường năm 2014. Điều này dẫn tới khó khăn cho tổ chức, cá nhân khi áp dụng luật vào việc lập hồ sơ, cấp phép, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản, chế biến khoáng sản, kể cả việc thanh tra, kiểm tra, giám sát. v.v. của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

3. Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010

Theo khoản 1 Điều 2 của luật này thì thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.

Đối với tài nguyên khoáng sản thì thuế bảo vệ môi trường chỉ thu đối với than đá, bao gồm: than nâu, than antraxit, than mỡ và than đá khác. Mức tính thuế là đồng/tấn hàng hóa. Giá tính thuế: đối với than nâu là 10.000 đến 30.000 đ/tấn; đối với than antraxit là 20.000 đến 50.000 VNĐ/tấn; đối với than mỡ là 10.000 đến 30.000 VNĐ/tấn; đối với than đá khác là 10.000 đến 30.000 VNĐ/tấn.

Chúng ta biết rằng, hiện nay trên đất nước Việt Nam có hàng ngàn mỏ khoáng sản đang được khai thác trong tổng số hơn 50 loại khoáng sản khác nhau. Quy mô sản lượng mỏ rất đa dạng (từ lớn đến trung bình và nhỏ). Diện phân bổ các mỏ cũng trải khắp lãnh thổ.

Nếu chúng ta xem xét, so sánh giữa sản phẩm, hàng hóa than đá (than nâu, than antraxit, than mỡ và than đá khác) với các loại khoáng sản được khai thác và cũng trở thành sản phẩm, hàng hóa thì thấy rằng nhiều loại cũng “gây tác động xấu đến môi trường” khi sử dụng chúng.

Ví dụ: Khi tổ chức, cá nhân khai thác mỏ sắt, đồng, chì – kẽm, thiếc, bôxit, v.v thì sản phẩm hàng hóa của họ sẽ là tinh quặng sắt, tinh quặng đồng, tinh quặng chì – kẽm, tinh quặng thiếc, alumin, v.v đủ tiêu chuẩn về hàm lượng, chất lượng để bán cho các nhà máy luyện kim trên thị trường.

Các nhà máy luyện kim sử dụng các sản phẩm hàng hóa này cho vào lò luyện, nấu chảy chúng (tinh quặng). Trong quá trình nóng chảy, từ các tinh quặng này xuất hiện các loại khí độc hại như sunphuric, asenic, nitric, bụi có chứa nguyên tố kim loại, thậm chí bụi, khí có chứa chất phóng xạ, …, xỉ luyện kim, đều có thể phát tán và gây ô nhiễm môi trường xung quanh.

Vì vậy, khi đưa ra sắc thuế bảo vệ môi trường (trong lĩnh vực khoáng sản) cần phải có sự nghiên cứu khoa học để đảm bảo tính công bằng, hợp lý, theo đúng nguyên tắc gây ảnh hưởng môi trường thì phải đóng góp để khôi phục môi trường. Giá tính thuế bảo vệ môi trường trên đơn vị sản phẩm, hàng hóa cũng phải được xác định đúng, không áp đặt tùy tiện gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm tổn hại đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

4. Bộ luật hình sự năm 2015

Khi vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề lớn, gây nhiều bức xúc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân, có thể gây thảm họa cho cộng đồng nên công tác quản lý môi trường của Nhà nước cũng được đề cao hơn so với trước đây.

Bộ luật hình sự năm 2015 đã giành một chương (chương XIX) với 12 điều quy định “các tội phạm về môi trường”. Trong chương này có 4 điều gồm:

Điều 235 Tội gây ô nhiễm môi trường,

Điều 236 Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại,

Điều 237 Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường,

Điều 238 Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông,

Một điểm đặc biệt là tại Điều 236 đã quy định người có thẩm quyền thuộc cơ quan quản lý nhà nước có các hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại, chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thì đều bị phạt tiền, hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.

Như vậy có thể nói rằng pháp luật đã có các quy định rất nghiêm khắc đối với người, tổ chức trong xã hội có hành vi vi phạm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Các quy định này vừa có tính chất răn đe, phòng ngừa, vừa xử phạt nghiêm minh nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường toàn cầu vì cuộc sống tốt đẹp của loài người đang sinh sống trên trái đất.

Tỉnh Ninh Bình quyết định đóng cửa mỏ khoáng sản tại mỏ đá núi Nước Mọc, xã Quảng Lạc, huyện Nho Quan để quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác.

5. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường

Nghị định này giành Chương 2 gồm 7 điều (từ Điều 4 đến Điều 10) hướng dẫn việc cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường.

Trong đó tại Điều 2 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2015/NĐ-CP. Đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản đó là sửa đổi, bổ sung các điều 7, 8 và 9.

Việc cải tạo, phục hồi môi trường là việc làm cần thiết để trả lại toàn bộ hoặc một phần cảnh quan tự nhiên ban đầu của khu vực được khai thác khoáng sản. Công việc này cũng có thể mang ý nghĩa thay đổi cảnh quan, làm mới khu vực đã khai thác xong khoáng sản để sử dụng vào mục đích khác như: khu du lịch sinh thái, công viên, khu vui chơi công cộng, v.v.

Để có kinh phí đóng cửa mỏ, cải tạo phục hồi môi trường khu vực đã khai thác xong khoáng sản thì yêu cầu ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường là cần thiết. Đây là nguồn kinh phí chủ động để thực hiện công việc cải tạo, phuc hồi môi trường thuộc dự án khai thác mỏ.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những bất cập cần được xem xét, nghiên cứu để hoàn thiện khung chính sách như: Quy định tổ chức, cá nhân có dự án đầu tư khai thác khoáng sản phải lập, trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt phương án cải tạo phục hồi môi trường trước khi xin cấp giấy phép khai thác khoáng sản là chưa phù hợp. Việc này nên để cho tổ chức, cá nhân thực hiện trong năm đầu tiên của thời kỳ xây dựng cơ bản mỏ. Có như vậy, việc xác định chi phí để cải tạo, phục hồi môi trường mới tiệm cận đến độ chính xác cao hơn. Quy định về việc nộp tiền ký quỹ được thực hiện hàng năm hoặc theo giai đoạn còn mang tính tùy tiện (dẫn tới hiện tượng chây ì, nộp chậm, thậm chí không nộp). Theo thống kê ở các địa phương thì số tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc việc nộp tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản chỉ 40÷45%. Mặt khác, quy định tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải thực hiện ký quỹ tại quỹ bảo vệ môi trường địa phương hoặc quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam cũng cần được xem xét, điều chỉnh lại nhằm mục đích đảm bảo cơ quan quản lý nguồn kinh phí này thật sự có uy tín, chọn mặt gửi tiền, cho nhà đầu tư khai thác khoáng sản và cho Nhà nước.

6. Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Nghị định này đã tổng hợp tương đối đầy đủ các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nói chung và trong lĩnh vực khoáng sản nói riêng gây tác động xấu đến môi trường. Tương ứng với hành vi vi phạm là mức xử phạt bằng tiền kết hợp các mức xử phạt bổ sung khác nhau. Nếu Nghị định này được thi hành đúng, nghiêm túc thì giá trị răn đe là rất lớn. Đây là công cụ hữu hiệu yêu cầu tất cả tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện đúng pháp luật về bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu kỹ nội dung Nghị định, thấy rằng còn có một số điểm, khoản quy định chưa sát thực tế, dẫn đến khó thực hiện. Ví dụ:

– Điểm b khoản 3 Điều 9 “Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi không có cơ sở vật chất – kỹ thuật, thiết bị chuyên dụng để đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích các mẫu về môi trường đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật theo quy định”.

– Khoản 3 Điều 32 “Phạt tiền từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng đối với hành vi không có phương án cải tạo, phục hồi môi trường được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”, và một số điểm, khoản khác thuộc Nghị định này.

Có thể nói Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã đưa ra chế tài về kinh tế để bắt buộc tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động của mình. Để các quy định này có hiệu lực và hiệu quả cao, cần thiết phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện quy định có cơ sở khoa học để thuận tiện khi áp dụng, tránh tình trạng lúng túng trước câu hỏi : “phạt ai” hoặc “ai phạt”.

Một số kiến nghị:

1. Hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản là hoạt động mang tính đặc thù cao. Công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản vì thế cũng mang tính đặc thù tương ứng. Vì vậy, cần phải có chính sách phù hợp để vừa phát triển được ngành công nghiệp khai khoáng, vừa bảo đảm bảo vệ môi trường tương ứng và tương thích.

2. Hiện nay các văn bản quy phạm phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành khá đầy đủ. Tuy nhiên việc áp dụng để thực hiện các quy định còn nhiều khó khăn, phức tạp cho cả người thực thi công vụ thanh tra, kiểm tra và cho cả các tổ chức, cá nhân do có một số văn bản hoặc điều, khoản quy định trong một số văn bản có sự chồng chéo, thiếu rõ ràng, chưa cụ thể, v.v, như đã đề cập ở trên. Do vậy, cần thiết phải tập trung đầu mối, nghiên cứu khoa học nhằm đưa ra các quy định rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong thực tiễn quản lý và sản xuất, kinh doanh.

3. Trong hầu hết văn bản quy phạm pháp luật về môi trường đều có tiêu đề về bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản. Nhưng khi nghiên cứu kỹ nội dung, thấy rằng phần bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò khoáng sản chưa được quy định; phần bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến khoáng sản chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, cần phải được nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện.

4. Các ngành kinh tế đều có đặc thù hoạt động khác nhau, do vậy yêu cầu về bảo vệ môi trường trong hoạt động của chúng cũng khác nhau. Ví dụ bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản sẽ khác với yêu cầu bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp hay trong hoạt động của ngành công nghiệp khác, v.v. Để việc áp dụng, thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường một cách thuận lợi, có hiệu quả cao cần phải xây dựng các quy định theo nhóm chuyên ngành kinh tế, không gộp chung Điều, khoản quy định như hiện nay, nhất là các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường. Theo đó, Luật bảo vệ môi trường, các Nghị định của Chính phủ nên thiết kế chương/phần riêng: Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò khoáng sản; bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; bảo vệ môi trường trong hoạt động chế biến (làm giàu) khoáng sản, cụ thể, chi tiết, rõ ràng, minh bạch các quy định để dễ thực hiện. Xây dựng và ban hành riêng các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường trong hoạt động khoáng sản nói chung và cho từng loại khoáng sản nói riêng một cách phù hợp.

TS. Lê Văn Thành

Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam

Tài liệu Hội thảo “Bảo vệ môi trường trong khai thác, chế biến, sử dụng than, khoáng sản và dầu khí”

Điện Biên: Tăng Cường Bảo Vệ Môi Trường Trong Khai Thác Khoáng Sản / 2023

(TN&MT) – Ngày 29/3/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Đây được coi là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng trong việc khai thác khoáng sản nhằm giảm thiểu tác nhân gây hệ lụy đến môi trường.

Ông Nguyễn Thành Trung, Trưởng phòng Khoáng sản, Sở TN&MT tỉnh Điên Biên cho biết: Hiện nay toàn tỉnh có 83 mỏ, điểm mỏ và cấp 32 giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, công tác bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản luôn được tỉnh Điện Biên chú trọng quan tâm. UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo về công tác vệ sinh môi trường tại các điểm khai thác khoáng sản trên địa bàn và kịp thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo. Cùng với đó, UBND tỉnh đã tổ chức các đợt kiểm tra liên ngành, kiên quyết ngăn chặn, xử lý các đơn vị vi phạm.

Theo Luật Khoáng sản năm 2010, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác đã đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác khoáng sản. Trong quá trình khai thác các tổ chức, cá nhân thực hiện các biện pháp, kế hoạch cải tạo phục hồi môi trường theo phương án cải tạo, phục hồi môi trường được phê duyệt kết thúc khai thác. Hầu hết, các dư án khai thác mỏ, điểm mỏ đều phải lập đề án đóng cửa mỏ, nội dung cải tạo phục hồi môi trường được thực hiện và hoàn thành trong giai đoạn đóng cửa mỏ.

Tuy nhiên, nhiều mỏ khai thác vẫn chưa có các biện pháp hạn chế khói, bụi thải ra môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Nhiều mỏ khai thác làm tràn đất, đá, bùn thải xuống diện tích đất sản xuất, ảnh hưởng đến công việc canh tác của người dân.

Bên cạnh đó, công tác triển khai, hướng dẫn thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản của đơn vị chuyên môn và các cơ quan chức năng, từ khi các tổ chức doanh nghiệp đến đăng ký làm thủ tục cấp quyền thăm dò và khai thác khoáng sản. Để hạn chế những tồn tại về việc ký quỹ bảo vệ môi trường nêu cao vai trò quản lý và ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường. Việc hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp khai thác khoáng sản lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, ký quỹ bảo vệ môi trường, thực hiện các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường trước khi đóng cửa mỏ, vẫn còn nhiều bất cập. Ý thức báo cáo giám sát môi trường định kỳ của một số đơn vị, doanh nghiệp khai thác khoáng sản chưa cao. Biểu hiện rõ nhất là nhiều doanh nghiệp không thực hiện các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường trước khi đóng cửa mỏ.

Nhận biết rõ những tác động đến môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản, UBND tỉnh Điện Biên đã chỉ đạo các cấp, ngành thực hiện nghiêm những quy định của Chính phủ về cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Qua đó, công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về khoáng sản, môi trường được quan tâm thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức, góp phần nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp về việc chấp hành các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường.

Công tác lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác mỏ được UBND tỉnh Điện Biên cùng các cơ quan chức năng chú trọng quan tâm. Các cơ quan chức năng phê duyệt, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án cải tạo, phục hồi môi trường, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn đã ký Quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản với số tiền trên 700 triệu đồng. Công tác thanh tra, kiểm tra việc bảo vệ môi trường, sinh thái trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn được thực hiện nghiêm. Ông Trung cho biết thêm.

(TN&MT) – Từ sự hỗ trợ của các dự án phi chính phủ, cũng như nỗ lực của chính quyền địa phương, những năm qua, Quảng Nam thiết lập nhiều khu bảo tồn giải cứu các loài động vật hoang dã quý hiếm trên đà tuyệt chủng. Tuy nhiên, việc bảo tồn, gìn giữ đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng vẫn đang đứng trước nhiều thách thức.

Ô Nhiễm Môi Trường Từ Khai Thác Khoáng Sản (Bài 3): Giải Pháp Nào Hiệu Quả? / 2023

Moitruong.net.vn

– Mặc dù ngành khoáng sản có những đóng góp rất quan trọng vào phát triển kinh tế của đất nước, nhưng hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh.

Theo các nhà khoa học và chuyên gia về ngành khai khoáng, để quyết định đưa một mỏ vào khai thác cần phải xem xét thận trọng giữa lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài, bảo đảm các yêu cầu phát triển bền vững.

Ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác than

Trước hết, nên khai thác mỏ ít chất thải. Bởi một thách thức lớn phải giải quyết trong quá trình khai thác mỏ là quản lý chất thải rắn trong mỏ. Ngành công nghiệp khai thác mỏ hàng năm tạo ra một khối lượng đất đá thải rất lớn do phải bóc lớp đất phủ và quặng nghèo không đáp ứng yêu cầu chế biến trong khai thác lộ thiên. Trong đất đá thải chứa nhiều tạp chất khác nhau nên phải được quản lý theo một quy trình nghiêm ngặt để ngăn ngừa ô nhiễm nước mặt và nước ngầm.

Việc chuyển đổi từ khai thác lộ thiên sang hầm lò sẽ hạn chế và giảm thiểu tác động đến môi trường, khắc phục tình trạng ô nhiễm nước mặt cũng như nước ngầm do đất đá thải gây ra. Tài nguyên khoáng sản ở độ sâu vừa phải được khai thác bằng phương pháp lộ thiên ở giai đoạn trước, nay đã cạn kiệt nên phải khai thác tài nguyên khoáng sản ở độ sâu lớn nằm trong lòng đất bằng phương pháp hầm lò.

Hiện nay, các mỏ than Quảng Ninh đang phải lựa chọn phương pháp khai thác hầm lò hoặc phương pháp kết hợp lộ thiên và hầm lò để khai thác than trong điều kiện than ở độ sâu không lớn đang cạn kiệt và đáp ứng nhu cầu tăng sản lượng hàng năm.

Khai thác mỏ cần được tối ưu hóa, vì nước phải được tiêu thụ, sử dụng có hiệu quả, đồng thời áp dụng công nghệ tái sử dụng nước một cách tối đa. Các thiết bị sử dụng trong mỏ phải bảo đảm yêu cầu tiêu hao năng lượng thấp, mạnh dạn thay thế thiết bị cũ, lạc hậu không bảo đảm yêu cầu tiết kiệm năng lượng và thải ít chất thải ra môi trường xung quanh.

Các doanh nghiệp sau khi khai thác có nghĩa vụ đóng cửa mỏ, bảo đảm mục đích loại bỏ những tác động lâu dài đến môi trường, phục hồi lại đất đai để có thể đáp ứng yêu cầu trồng trọt, canh tác hoặc các mục đích phù hợp khác, bảo đảm việc sử dụng đất được phê duyệt, bảo đảm cảnh quan được trở lại trạng thái ban đầu trước khi khai thác.

Hiện nay, công nghiệp khai khoáng đang đối mặt với nhiều thách thức, phải giải quyết. Trong đó, các doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ, hướng tới công nghệ sạch, đó là giải pháp quan trọng nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản phải hướng tới công nghệ sử dụng tiết kiệm tài nguyên, làm giảm áp lực gia tăng lượng khoáng sản.

Do công tác lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu tư dự án thiếu cơ sở, chưa tính toán đến các chi phí, lợi ích về mặt xã hội và môi trường; nhiều địa phương quá chú trọng vào việc phát triển kinh tế, nên tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi gây suy thoái môi trường và làm mất cân bằng hệ sinh thái, nhất là các hoạt động của các mỏ khai thác than, quặng kim loại và vật liệu xây dựng của các doanh nghiệp nhỏ, tư nhân. Công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, nhất là đối với các kim loại, nên mức độ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, phá hủy rừng, hủy hoại về mặt đất, ô nhiễm nguồn nước, đất canh tác, không khí…

Tiếp tục rà soát các quy định về ký quỹ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản theo hướng quy định cụ thể về định mức trong công tác cải tạo, phục hồi môi trường và cần làm rõ phương án, trách nhiệm cải tạo phục hồi môi trường của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như tuyên truyền, vận động người dân tham gia tích cực trong việc phát hiện, tố cáo các hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này.

Đồng thời, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật và đưa ra các sáng kiến, giải pháp phù hợp trong quá trình khai thác mỏ, bảo đảm phát triển bền vững ngành khai khoáng trong quá trình CNH-HĐH đất nước.

Trọng Nhân