Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử

--- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Tin Học
  • Một Số Biện Pháp Hiệu Quả Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Văn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nào Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Mầm Non?
  • Hội thảo khoa học “Giảng dạy Lịch sử, Văn hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay”, do Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng tổ chức ngày 17/5. Hội thảo nhằm rà soát, đánh giá, tổng kết lại quá trình dạy học, những kết quả đạt được và chưa đạt được, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp nâng cao hiệu quả, chất lượng giảng dạy Lịch sử, Văn hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

    Chất lượng dạy và học Lịch sử thấp

    Đây là vấn đề được các nhà giáo, giảng viên các trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học Sư phạm Huế và nhiều giáo viên tại các trường THPT tại Đà Nẵng quan tâm, chia sẻ tại Hội thảo.

    Đặc biệt, với tham luận “Nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT”, thầy giáo Nguyễn Ngọc Đoàn, giáo viên dạy môn Lịch sử tại Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (TP.Đà Nẵng) đã khẳng định: Chất lượng dạy và học Lịch sử hiện nay khá thấp, cần có giải pháp căn cơ để tháo gỡ. Theo thầy Đoàn, kết quả điểm thi môn Lịch sử tại các Kỳ thi THPT quốc gia 3 năm liên tiếp, từ 2022- 2022 cho thấy việc dạy và học Lịch sử ở các trường THPT “đang có vấn đề”. Trong đó, số lượng học sinh bị điểm liệt (dưới 1.0 điểm) hoặc đạt từ 1.0 điểm trở xuống của môn Lịch sử thuộc top đầu trong các môn thi.

    Cụ thể, năm 2022 có 1.083 học sinh bị điểm liệt (dưới 1.0 điểm) chỉ đứng sau môn Toán với 12.000 học sinh. Con số tương ứng các môn là Vật lý 260, Hóa học 300, Sinh học 300, Địa lý 550, Ngoại ngữ 175.

    Năm 2022, số học sinh môn Lịch sử bị điểm liệt vẫn đứng thứ 2 với 1.439 học sinh chỉ sau môn Toán (11.159 học sinh); các môn Ngoại ngữ 933, Vật lý 67, Hóa học 91, Địa lý 511, Ngoại ngữ 144.

    Năm 2022, lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Kỳ thi THPT bằng hình thức trắc nghiệm đối với môn Lịch sử. Số học sinh có điểm từ 1.0 trở xuống của Bộ môn này là 869, xếp sau môn Toán: 1.584, Ngoại ngữ 1.061, Hóa học 886. Cũng trong năm này, tỷ lệ học sinh dưới 5.0 điểm của môn Lịch sử cao thứ 2 với 61,9%, sau môn Tiếng Anh với 68,38%.

    Ở nhóm trên, điểm môn Lịch sử cũng không khá hơn. Ở phổ điểm 9-10, môn Lịch sử tỷ lệ cũng thấp: Năm 2022 là 1.450 (chiếm 1,74%), năm 2022 là 4.326 (chiếm 8,47%).

    Đối với học sinh tại Đà Nẵng, theo thầy Nguyễn Ngọc Đoàn, trong Kỳ thi THPT quốc gia năm 2022, tổng số học sinh dự thi môn Lịch sử là 5.341 học sinh. Trong đó, số học sinh có điểm từ 1.0 trở xuống là 10 học sinh; số học sinh đạt trên 5.0 điểm là 1234 em (chiếm 23,48%), thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước là 38,1%; số học sinh đạt điểm từ 7.0 đến dưới 10 điểm chỉ có 158 em; không có học sinh đạt điểm 10.

    Với những số liệu dẫn ra từ Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia 3 năm liên tiếp (từ 2022-2017) mà thầy Đoàn nêu ra ở trên, nhiều ý kiến tại Hội thảo đã đồng tình với nhận định của thầy giáo này. Trong đó, TS.Nguyễn Duy Phương, Trưởng Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Đà Nẵng cho rằng, đây là thông tin phản ánh chân thực thực trạng dạy và học môn Lịch sử tại các trường THPT hiện nay và cần có những giải pháp tháo gỡ để việc dạy và học môn Lịch sử trong các trường THPT hiện nay thực sự mang lại hiệu quả, trước mắt phải bắt đầu từ sự hứng thú với môn học của người học cũng như sự tìm tòi, sáng tạo trong phương pháp truyền đạt của người dạy.

    Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên

    Cùng với những trao đổi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử tại các trường THPT hiện nay, tại Hội thảo, các ý kiến cũng dành nhiều quan tâm đến việc rèn luyện, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sư phạm cho sinh viên (SV) học Lịch sử.

    Theo TS.Trương Anh Thuận (Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Đà Nẵng), Khoa Lịch sử Đại học Sư phạm Đà Nẵng là đơn vị có bề dày đào tạo ngành Sư phạm Lịch sử với hơn 40 năm. Tuy nhiên, không phải vậy mà vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành sư phạm Lịch sử được đơn vị chủ quan, sao nhãng; trái lại lãnh đạo Khoa và nhà trường luôn đặt ra yêu cầu phải không ngừng nâng cao chất lượng rèn luyện nghiệp vụ cho sinh viên các ngành sư phạm, trong đó có Sư phạm Lịch sử.

    TS.Trương Anh Thuận cho biết thêm: Trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Lịch sử hiện nay, ngoài các học phần kiến thức chuyên ngành, SV còn được trang bị một hệ thống các học phần về khoa học giáo dục, đặc biệt là phương pháp giảng dạy bộ môn Lịch sử. Tuy nhiên nếu như việc truyền thụ các kỹ năng sư phạm cho SV chỉ dừng lại ở đây thì tính thực tiễn và ứng dụng của nó sẽ thực sự chưa cao. “Tại Đại học Sư phạm Đà Nẵng, với phương châm đào tạo lý thuyết đi đôi với thực hành, cán bộ giảng dạy tập trung giúp SV biến những kiến thức lý luận phương pháp giảng dạy được trang bị qua các học phần đó thành kỹ năng nghề nghiệp, thậm chí “cầm tay chỉ việc” cho SV từ những kỹ năng thực hành trên lớp như cách trình bày vấn đề, viết, vẽ bảng, diễn giải, gợi mở vấn đề bằng hệ thống câu hỏi, xử lý tình huống sư phạm đến một số kỹ năng nâng cao như: Làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học, kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng gắn nghiên cứu khóa học với đào tạo…. Đây là các khâu quan trọng nhất để hiện thực hóa nhằm tăng cường kỹ năng nghề nghiệp cho SV sư phạm tại đơn vị.

    Đồng tình và chia sẻ với các vấn đề này, chúng tôi Nguyễn Thành Nhân, Phó Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Huế cho biết, tại Đại học Sư phạm Huế, SV trong quá trình thực tập được các giảng viên hỗ trợ, giúp đỡ sát sao. Thông qua đó sẽ giúp SV kịp thời cập nhật, bổ sung các kiến thức thực hành gắn với yêu cầu thực tiễn và lý luận chung về phương pháp giảng dạy bộ môn Lịch sử.

    Ngoài ra, chúng tôi Nguyễn Thành Nhân cũng chia sẻ thêm, không chỉ là lúc SV đang theo học mà ngay cả trong giai đoạn này đến khi ra trường, tại Đại học Sư phạm Huế, nhà trường vẫn giữ mối liên hệ, cử giảng viên thường xuyên về cơ sở dự giờ, bổ sung thêm những vấn đề mới về phương pháp để giáo viên dạy Lịch sử khi ra trường về giảng dạy ở các trường phổ thông vẫn có thể cập nhật thêm kiến thức mới.

    Các đại biểu trao đổi tại Hội thảo

    Cũng chia sẻ về những vấn đề này, lấy thực tiễn kinh nghiệm và tổng kết sau nhiều năm giảng dạy môn Lịch sử của mình tại Đại học Kinh tế Đà Nẵng, chúng tôi Ngô Văn Hà cho rằng, năng lực sư phạm và phương pháp giảng dạy nói chung của một giáo viên dạy Lịch sử luôn là vấn đề rất quan trọng. Tuy nhiên trên thực tế, không ít giáo viên dạy Lịch sử chưa biết làm “mới vấn đề”, thậm chí cứ lặp đi lặp lại bài giảng theo kiểu khô cứng với các sự kiện lần lượt theo tiến trình thời gian. Đây chính là lý do khiến người học than vãn “Khổ quá, biết rồi, nói mãi”… từ đó dẫn đến sự nhàm chán cho người học.

    Trước thực tế đó, nhiều ý kiến trao đổi tại Hội thảo đã thẳng thắn nêu ra những kinh nghiệm và các đề xuất, kiến nghị để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho SV. TS.Nguyễn Duy Phương, Trưởng Khoa Lịch sử (Đại học Sư phạm Đà Nẵng), nhận định: Giáo viên phải là lực lượng xung kích trên mặt trận đổi mới, là người đi đầu, quyết định tới chất lượng giáo dục. Trong khi đó, với dự thảo chương trình giáo dục phổ thông được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố vào cuối năm 2022, môn Lịch sử là một trong số những môn có sự thay đổi toàn diện cả về nội dung lẫn phương pháp giảng dạy. Do đó vấn đề đổi mới giáo dục được đặt lên hàng đầu đối với người giáo viên. Trong đó, bên cạnh đổi mới, điều chỉnh chương trình đào tạo ngành sư phạm theo mục tiêu phát triển năng lực nghề, hiện Khoa Lịch sử (Đại học Sư phạm Đà Nẵng) đang tập trung đổi mới thực tập sư phạm, đồng thời chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp SV ngành sư phạm có phương pháp dạy theo hướng tiếp cận năng lực, qua đó để SV sau khi ra trường có thể giảng dạy thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.

    Ngoài những vấn đề trên, tại Hội thảo nhiều ý kiến cũng cho rằng, vấn đề phát triển năng lực cho SV sư phạm nói chung và sư phạm Lịch sử nói riêng thông qua phương pháp giảng dạy tích cực phải được các trường đại học quan tâm gắn với đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay mà Bộ yêu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử?
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Tổ Chức Thi Online Môn Tin Học Cấp Thcs
  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Hóa Học
  • Chuyên Đề: Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Lịch Sử Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Cách Tránh Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay (Siêu Đơn Giản Và An Toàn)
  • Tuyển Tập 12 Cách Tránh Thai An Toàn, Hiệu Quả Không Tác Dụng Phụ
  • 12+ Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn, Đơn Giản, Phổ Biến Nhất
  • 9 Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Khoa Học Nhất Chị Em Nên Biết
  • Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Điện
  • Để dạy tốt môn lịch sử ở Trường Tiểu học đạt hiệu quả cao người giáo viên phải có kiến thức lịch sử, phải nắm chắc nội dung và phương pháp tổ chức quá trình dạy học. Đây là một hoạt động nhận thức khoa học, nếu giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho môn lịch sử nói chung và môn lịch sử lớp 5 nói riêng.

    Qua nghiên cứu khảo sát một số đối tượng học sinh, tôi nhận thấy: Hầu hết các em không thích học lịch sử, nắm kiến thức lịch sử còn mơ hồ. Điều này rất đáng lo ngại và là một câu hỏi lớn cho những người làm công tác giáo dục. Mở đầu bài diễn ca năm 1942 Bác Hồ đã nhắc nhở:

    “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” 1- Đổi mới phương pháp dạy lịch sử

    Đổi mới phương pháp dạy lịch sử ở trường tiểu học là quá trình áp dụng phương pháp dạy học hiện đại vào nhà trường, trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của học sinh: Chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thức vào thực tỉên. Để đổi mới phương pháp học tập của học sinh tất nhiên phải đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình:

    – Chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên

    – Đổi mới hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của học sinh trở nên lý thú, gắn với thực tiển, gắn với cuộc sống; kết hợp dạy học cá nhân với dạy học theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh trong quá trình học tập.

    Muốn làm tốt được những vấn đề trên việc đầu tiên người giáo viên phải đưa ra được một “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới.

      Chóng tôi xin đưa ra “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới như sau:

    Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:

    Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được cácc yêu cầu sau:

    + Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

    + Phải đề cập tới cốt lỏi của bài học

    + Tạo ấn tượng, gợi trí tò mò của học sinh

    Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu.

    Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (Kênh chữ, kênh hình) trong SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:

    + Giáo viên trình bày các sự kiện, sự việc, hiện tượng bằng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được hình ảnh quá khứ.

    + Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.

    Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

    Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học.

    d) Kết luận vấn đề

    Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì không ? Sau đó giáo viên kết luận:

    + Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.

    + Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học

    2a) Bài học có nội dung về tình hình kinh tế chính trị, văn hóa – xã hội – Phương pháp dạy học theo hướng tích cực

    (Trong chương trình lớp 5 có các bài: bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài 21; bài 27 và bài 28)

    Dạng bài này có nhiều ở phần lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ(giai đoạn nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:

    -Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào? (tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?)

    – Trong tình cảnh đó chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào?

    – Kết quả của việc alàm đó.

    – Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt để sử dụng phương tiện trực quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời ssống tinh thần.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” giáo viên phải giúp học sinh năm được:

    -Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám như thế nào? (Khó khăn chồng chất: Các đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng; lũ lụt, hạn hán, nông nghiệp đình đốn dẫn tới nạn đói, nạn dốt…)

    – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm? (Lập ” Hũ gạo cứu đói”, tổ chức ” Ngày đồng tâm”, Kêu gọi tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: ” Không một tấc đất bỏ hoang!”, ” Tấc đất tấc vàng”, Phát động ” Tuần lễ vàng”. Phát động phong trào xoá nạn mù chữ; Ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo…)

    – Kết quả của những biện pháp đó là gì? ( Từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm)

    b) Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử: (Trong chương trình SGK- Lịch sử lớp 5, Dạng bài này có ở các bài: bài 1; bài 2; bài 5; bài 6).

    Ở dạng bài này, trong chương trình Tiểu học lớp 5 không giới thiệu Tiểu sử của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiêp của các nhân vật để làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật.

    Khi dạy những bài này giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

    -Mỗi một bài đều có hình ảnh (Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết những diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. Giáo viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.

    – Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? làm gì? có đặc điểm, tính cách gì nổi bật…)

    – Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử

    – Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.

    Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai …. Giáo viên có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” giáo viên có thể dùng nhiều phương pháp như:

    – Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của Nguyễn tất Thành: ” Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19/05/1890 tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bố tên là Nguyễn Sinh Sắc và mẹ là Hoàng Thị Loan. Thuở nhỏ Nguyễn Tất Thành còn có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung. Lớn lên trong bối cảnh nước mất, phải sống trong cảnh tủi nhục. Nguyễn tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nổi thống khổ của nhân dân …”

    – Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyến Tất Thành và anh Lê:

    Anh Lê: – (Ngạc nhiên) Tất nhiên là có chứ. Anh Thành : – Anh có thể giữ bí mật được không? Anh Thành: – Tôi muốn ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác.Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, nhất là những lúc ốm đau. Anh muốn đi với tôi không? Anh Lê: – Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi ? Anh Thành: – Đây, tiền đây – Anh Thành vừa giơ hai bàn tay ra vừa nói – Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ những việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với chúng tôi chứ ? ….” c)Dạy học các bài có nội dung đề cập tới các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công …..

    ” Anh Thành: – Anh Lê, anh có yêu nước không ?

    Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó, giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự kiện: Nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh,bối cảnh lịch sử của sự kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.

    Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến, phát triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh …… bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi …..

    Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh nhận thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử.

    Với dạng bài này (trong sách giáo khoa là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài 17, và bài 20) thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan là những phương pháp chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu về tư liệu lịch sử rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện, giáo viên có vai trò hổ trợ, bổ sung giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một cách hoàn chỉnh hơn.

    ” Ngày 13/03/1954, quân ta nổ súng mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong suốt 5 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân ta lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự quan trọng của địch ở phía Bắc như: Đồi Him Lam, Đồi Độc Lập, Bản Kéo. Trong đợt tiến công này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng, trong đó hình ảnh anh Phan Đình Giót ở trận đánh đồi Him Lam đã lấy thân mình lấp lổ Châu Mai cho đồng đội xong lên tiêu dịch địch là một tấm gương như thế …”

    : Khi dạy bài ” Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” giáo viên cần kết hợp trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ (Sử dụng lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ – giáo viên vừa tường thuật vừa chỉ trên lược đồ) chẳng hạn:

    Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và cũng cố lại những kiếm thức đã học cho học sinh sau mỗi một thời kỳ ( giai đoạn lịch sử), iúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn. Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn phương pháp phù hợp để mạng lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào câu hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước, Trong tiến trình dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công việc như vẻ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng…. Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỷ năng rèn luyện bộ môn.

    Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáô viên vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp – tìm tòi, tổ chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất ngoài ra cỏ thể sử dụng trò chơi lịch sử.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập: Chín năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân tộc (1945-1954). Sau khi vào bài giáo viên có thể nêu hệ thống câu hỏi (dựa vào SGK) để học sinh suy nghỉ và tập trung giải quyết các vấn đề:

    -Tình hình đất nước sau Cách Mạng Tháng 8 Thành công

    – Chín năm kháng chiến chống pháp bắt đầu năm nào? Kết thúc vào năm nào?

    – Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch thể hiện điều gi ?

    3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. 3.1. Bồi dưỡng kiến thức hiểu biết về lịch sử – tự làm giàu vốn sử học trong mỗi GV.

    – Hệ thống một số sự kiện tiêu biểu nhất trong chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Về hệ thống sự kiện, giáo viên có thể cho học sinh làm theo nhóm để hoàn thành. Chẳng hạn

    3.2. Tổ chức cho học sinh tiếp cận tốt các nguồn sử liệu qua các phương tiện trức quan nhăm nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử.

    GV dạy môn Lịch sử cấp phổ thông không phải là người chỉ nắm chắc SGK để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với HS, GV tích cực tự bồi dưỡng, thường xuyên học tập nghiên cứu và ghi chép lại những sự kiện, câu chuyện, hình ảnh, nhân chứng lịch sử.

    3.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài học lịch sử.

    Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì phương tiện trực quan là yếu tố cần thiết giúp HS hiểu biết về quá khứ một cách sinh động nhất.

    Mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau trong một giờ dạy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh là một trong những yếu tố đưa đến hiệu quả cao của bài học.

    4. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. 4.1. Bồi dưỡng kiến thức hiểu biết về lịch sử – tự làm giàu vốn sử học trong mỗi GV.

    Từ cách dạy trên, bản thân tôi đã tìm ra hướng dạy để giúp học sinh tiếp thu

    4.2. Tổ chức cho học sinh tiếp cận tốt các nguồn sử liệu qua các phương tiện trức quan nhăm nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử.

    GV dạy môn Lịch sử cấp phổ thông không phải là người chỉ nắm chắc SGK để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với HS, GV tích cực tự bồi dưỡng, thường xuyên học tập nghiên cứu và ghi chép lại những sự kiện, câu chuyện, hình ảnh, nhân chứng lịch sử.

    4.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài học lịch sử.

    Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì phương tiện trực quan là yếu tố cần thiết giúp HS hiểu biết về quá khứ một cách sinh động nhất.

    Mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau trong một giờ dạy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh là một trong những yếu tố đưa đến hiệu quả cao của bài học.

    Phạm Thị Thu Hiền @ 19:51 13/05/2018

    Số lượt xem: 2350

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Tiểu Học
  • Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Khí Mà Bạn Nên Áp Dụng
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hiệu Quả
  • 6 Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường, Phát Triển Bền Vững
  • Môi Trường Là Gì? Biện Pháp Nào Giúp Bảo Vệ Môi Trường Tự Nhiên
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường
  • Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs
  • 2 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Vùng Khó
  • Hiện tượng “thầy chán dạy, trò chán học” trong môn Lịch sử đang được “mổ xẻ” dưới nhiều góc độ, mong muốn Lịch sử trở thành môn học yêu thích là nguyện vọng chính đáng của cả giáo viên và học sinh, bài viết này của tôi là một cô giáo dạy sử nói lên phần nào điều đó, nhưng làm thế nào để cả giáo viên và học sinh đều có hứng thú trong giờ học Lịch sử? Làm sao để mỗi giờ học Lịch sử không phải là một gánh nặng mà sẽ là một món quà với cả thầy và trò?

    – Đổi mới phương phương pháp dạy học lịch sử cần được tiến hành qua những biện pháp sư phạm chủ yếu sau:

    Thứ hai : ở trên lớp, giáo viên không trình bày đầy đủ, chi tiết nội dung các mục trong bài, mà chỉ nhấn mạnh, mở rộng nội dung sách giáo khoa để học sinh tự học. Bởi vì SGK là tài liệu cơ bản để học sinh học tập.

    trong giờ dạy ở trên lớp, giáo viên xác định rõ mục tiêu bài học- những điểm cần phải đạt được sau khi học tập về các mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ….Tiếp đó, giới thiệu từng mục để học sinh hoạt động tiếp thu kiến thức.

    – Thông báo thông tin cho học sinh làm việc với SGK, tư liệu lịch sử tranh ản, bản đồ xem băng. Tuy nhiên phải có định hướng của giáo viên.

    – Kết quả xử lí và kết luận: Học sinh thông báo kết quả xử lí thông tin do giáo viên tổ chức, hướng dẫn. Giáo viên đưa ra kết luận đúng, sai, sửa chữa, bổ sung.

    – Trong từng hoạt động tìm hiểu nội dung bài học, giáo viên chú ý đến việc phát triển các hoạt động nhận thức độc lập nhất là tư duy độc lập và sáng tạo của HS. Vì hoạt động nhận thức độc lập của HS là một trong những điều kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy giáo dục và phát triển nhân cách của học sinh, hoạt động độc lập nhận thức của học sinh sẽ đảm bảo sẽ đảm bảo cho các em học sinh lĩnh hội sâu sắc nhớ lâu được kiên thức lịch sử.

    Thứ tư : để phát triển các hoạt động nhận thức độc lập của học sinh, giáo viên sử dụng một cách đa dạng, có hiệu quả, biết kết hợp nhuần nhuyễn hợp lí các phương pháp, cách dạy học trong một bài lịch sử như :

    – Phương pháp trao đổi đàm thoại

    – Sử dụng đồ dùng trực quan.

    + Trong đổi mới phương pháp dạy học, đồ dùng dạy học trực quan tranh ảnh, bản đồ , lược đồ, sơ đồ, mô hình, hiện vật…… không phải chỉ là phương tiện minh họa mà nó chính là nguồn tri thức. Từ đồ dùng phương tiện dạy học trực quan học sinh giúp học sinh nhớ kĩ , hiểu sâu những hình ảnh, kiến thức lịch sử mà các em thu nhận được.

    + Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác tranh ảnh, lược đồ có hiệu quả phát huy tính tích cực của HS giúp tự tìm hiểu nội dung của tranh,ảnh….

    – Và nhiều phương pháp khác

    Thứ năm: Giáo viên nên vận dụng tốt dạy học nêu vấn đề: giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tổ chức, thúc đẩy hoạt động tìm tòi sáng tạo của Hs giải quyết vấn đề. Để thực hiện tốt khi chuẩn bị giáo án, giáo viên nêu rõ nhiệm vụ của HS trong giờ học dưới dạng các câu hỏi nêu vấn đề, các câu hỏi nêu vấn đề đưa vào đầu giờ học nhằm động viên sự chú ý, huy động các năng lực nhận thức của HS vào việc theo dõi bài giảng để tìm câu trả lời, những câu hỏi này là những vấn đề cơ bản của bài học mà học sinh cần nắm.

    Thứ sáu: không ngừng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử. Giảng dạy bằng giáo án điện tử sẽ tạo hứng thú giữa thầy và trò trong tiết học. khai thác kiến thức thông qua hình ảnh, phim tư liệu sinh động hấp dẫn, giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, hiệu quả bài học cao.

    Thứ bảy: sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử có hiệu quả: hướng dẫn HS Tự Vẽ bản đồ tư duy giúp hs dễ hiểu, khắc sâu, khái quát hóa kiến thức bài học, từ đó dễ nhớ, đễ học sự kiện lịch sử cơ bản.

    Thứ tám: giáo viên có thể tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học lịch sử, có thể áp dụng là một hình thức thay thế các tiết ngoại khóa tham quan, vì điều kiện kinh phí cũng như di tích lịch sử để tham quan, dã ngoại ít, không có kinh phí. Hình thức tổ chức trò chơi như “Theo dòng Lịch sử”, sân khấu hóa….

    – Việc kiểm tra đánh giá phải nhằm giải quyết nhưng yêu cầu của bài học. Các nội dung kiểm tra luôn bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng phù hợp tất cả các đối tượng học sinh.

    – Tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách phong phú, đa dạng trong phầ học tập trên lớp. Ngoài việc kiểm tra bài cũ còn kiểm tra khi trình bày bài mới như đặt câu hỏi cho hs phát hiện, so sánh, đánh giá, nhận xét hoặc yêu cầu các em dựa vào nội dung SGK để hoàn thành bài tập do giáo viên đề ra , có thể làm cá nhân hay cặp đôi, theo bàn theo tổ…tùy nội dung và mức độ của bài tập, sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá ghi điểm để khích lệ động viên học sinh.

    – Với đặc điểm tình hình học sinh ở địa bàn trường THCS huyện Lệ Thủy giáo viên ra đề theo 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, cao.

    – Hình thức ra đề kiểm tra Tự luận 100%, sử dụng những câu hỏi mở, vận dụng, giải thích, phân tích để tạo tính sáng tạo cho học sinh trong việc học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Ôn Thi Thptqg Môn Lịch Sử
  • Chống Nóng Tường Hướng Tây Cho Nhà Với 14 Cách Hiệu Quả 2022
  • Giải Pháp Chống Nóng Hiệu Quả Cho Nhà Xây Hướng Tây
  • Giải Pháp Thiết Kế Cho Nhà Phố Có Hướng Tây Nam
  • Giải Pháp Chống Nóng Cho Nhà Hướng Tây Hiệu Quả
  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử
  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Tin Học
  • Một Số Biện Pháp Hiệu Quả Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Văn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Tiểu Học
  • Tọa đàm tìm giải pháp nâng cao chất lượng môn Lịch sử trong trường phổ thông do Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ chủ trì đã được tổ chức tại Bộ GD&ĐT trong bối cảnh môn Lịch sử tại Kỳ thi THPT Quốc gia chỉ có điểm trung bình 4,3.

    Mở đầu cuộc tọa đàm, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ khẳng định, cuộc tọa đàm được tổ chức ngay sau khi công bố kết quả thi nhằm phân tích và tìm ra giải pháp cho một vấn đề không mới nhưng bức thiết, đó là chất lượng và vị trí của môn Lịch sử trong trường phổ thông. “Đổi mới dạy và học môn Lịch sử là tất yếu nhưng đổi mới thế nào để môn học trở nên gần gũi với cả người dạy lẫn người học, thầy tâm huyết, trò hứng thú” – Bộ trưởng nêu vấn đề.

    Nặng nề tâm lý “môn phụ”

    Mang đến tọa đàm tâm trạng buồn vì kết quả điểm trung bình Lịch sử lại thấp nhất trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2022, cô giáo Lê Thu Huyền, Trường THPT Sơn Tây (Hà Nội) cho biết, khi đọc đề thi Lịch sử năm nay cô và các đồng nghiệp đều thống nhất nhận định đề thi chất lượng tốt, không có vấn đề gây tranh cãi, rất tường minh, “nhưng cuối cùng phổ điểm trung bình của môn Lịch sử vẫn thấp nhất” – Cô Huyền chia sẻ tâm trạng khi đón nhận phổ điểm môn Lịch sử.

    Lí giải vì sao dù giáo viên đã nỗ lực, có tâm huyết nhưng kết quả dạy và học môn Lịch sử vẫn chưa cao, cô Huyền cho rằng, có sự chênh lệch, không đồng đều giữa chất lượng giáo viên các vùng miền; sự quan tâm dành cho môn Lịch sử trong mỗi nhà trường cũng chưa thỏa đáng đúng như sứ mệnh, trách nhiệm của môn học.

    “Tôi lấy ví dụ, các trường có thể bỏ kinh phí đầu tư phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm hay phần mềm hỗ trợ giảng dạy cho một số môn học rất dễ dàng, nhưng khi nói đến đầu tư cho môn Lịch sử là có sự cân nhắc”.

    Chung quan điểm về việc môn Lịch sử chưa được coi trọng đúng mức nhưng cô Hoàng Thị Lan Hương, Tổ trưởng môn Lịch sử, Trường THPT Chu Văn An lại lí giải từ khía cạnh sự hứng thú của học sinh với môn học này.

    Cô Hương cho biết, ở Trường THPT Chu Văn An môn Lịch sử vẫn được coi trọng nhưng học sinh không còn hứng thú với môn học này nữa, các em lựa chọn hướng khác. Sự lựa chọn này phần nhiều đến từ sự định hướng của gia đình, mong muốn các em theo đuổi 3 môn chính là Toán – Ngữ Văn – Ngoại ngữ.

    “Nhiều phụ huynh cách kỳ thi tốt nghiệp THPT 2-3 tháng đến gặp chúng tôi để nhờ phụ đạo cho con môn Lịch sử, để mong cháu đủ điểm qua tốt nghiệp. Thời gian trước đó các em dành cho các môn xét tuyển đại học, chủ yếu là khối thi 3 môn Toán – Ngữ Văn – Ngoại ngữ” – Cô Hương chia sẻ.

    Đồng cảm với những khó khăn của giáo viên dạy bộ môn Lịch sử, song Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ yêu cầu, không thể để tâm lý “môn phụ” – “môn chính” tiếp tục tồn tại trong các nhà trường phổ thông. Bộ trưởng khẳng định, Lịch sử là môn học có vị trí quan trọng ở bậc phổ thông, tỷ lệ học sinh lựa chọn Lịch sử để dự thi THPT quốc gia ngày càng tăng trong những năm qua đã cho thấy sự quan tâm của học sinh với môn học này.

    “Vấn đề là làm sao để đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, phương thức kiểm tra đánh giá cho phù hợp, thiết thực và hiệu quả. Đội ngũ giáo viên các cấp cũng cần được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu. Khi thầy cô chuyển động môn Sử sẽ chuyển động. Phải làm sao để học sử phải trở thành nhu cầu tự thân của mỗi học sinh” – Bộ trưởng nói.

    Phải làm cho học sinh thích Sử

    Là nhà nghiên cứu Lịch sử nổi tiếng, chúng tôi Vũ Minh Giang nhận định, bản thân môn Sử rất có sức hấp dẫn nhưng trong một thời gian dài nền giáo dục của chúng ta tiếp cận nội dung nên dạy cụ thể, diễn biến, ngày tháng…nên học sinh rất sợ, khó nhớ. “Chúng ta dạy Sử theo lối không đối xử với nó như một môn khoa học nên cứng nhắc, giáo điều, mất tính khách quan, học thuộc lòng quá nhiều. Cách dạy của chúng ta tương đối nghèo nàn, khô cứng, trong khi môn học này rất cần bổ trợ bằng nhiều hình thức sinh động” – GS Giang nhìn nhận.

    Cho rằng, đổi mới là cần thiết nhưng GS Vũ Minh Giang cũng thừa nhận, đổi mới dạy và học không thể nhanh được, nhất là đối với môn Sử, “nó có độ trễ, sự “đông cứng” trong chính các thầy cô giáo, chúng ta phải kiên quyết bỏ lối tư duy “không sự kiện làm sao thành Sử”, chương trình giáo dục phổ thông mới tới đây phải làm được điều này, phải làm cho học sinh thích Sử”.

    Theo GS Vũ Minh Giang, cách học và cách thi môn Lịch sử hiện nay có độ chênh đáng kể. Ông lí giải, kết quả cao hay thấp từ một kỳ thi chưa chắc đã do trình độ học sinh mà còn do đề thi. Việc ra đề thi Lịch sử mấy năm qua đã tiếp thu rất nhanh, chạy rất nhanh đổi mới nhưng người học có độ trễ vì vẫn học theo cách cũ nên chưa thích ứng ngay được với đề thi này. Cần phải có lộ trình từng bước một.

    Để nâng cao vị trí của môn Lịch sử, GS Vũ Minh Giang cho rằng, đã đến lúc phải tính lại để làm sao kiến thức Lịch sử cần cho tất cả mọi người, nhất là với cán bộ lãnh đạo, trở thành một tiêu chí lựa chọn cán bộ lãnh đạo. Ngoài ra, tính hấp dẫn phải có, đổi mới sách giáo khoa phải làm điều này, chữ nghĩa ít thôi, không trói buộc học sinh phải nhớ mà là để học sinh tự tìm tòi.

    GS.TS Phạm Hồng Tung, Tổng chủ biên môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông mới gợi mở, nên có sự thay đổi các môn trong tổ hợp tuyển sinh, môn Lịch sử cần được đưa vào trong nhiều tổ hợp xét tuyển hơn so với hiện nay. Ví dụ những ngành như du lịch, khách sạn, lữ hành… cần được xét tuyển bằng môn Lịch sử. Khi Lịch sử là một quan trọng trong lựa chọn nghề nghiệp, ví trí của môn học sẽ nâng cao hơn.

    Đưa ra ví dụ ở Canada khi muốn nhập quốc tịch cần phải biết lịch sử của nước họ, chúng tôi Vũ Quang Hiển, Giảng viên khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội đặt câu hỏi, bên cạnh đổi mới chương trình, phương thức đánh giá, có cách nào đổi mới vị thế đặc thù môn Lịch sử được không?

    Xóa bỏ tâm lý “môn chính – môn phụ”!

    Có nhiều năm phụ trách bộ môn Lịch sử cấp THCS và THPT, ông Xuân Trường, chuyên viên Vụ Giáo dục Trung học, Bộ GD&ĐT cho rằng, cần có một cuộc “cách mạng” trong nhận thức từ cán bộ quản lý, sở, phòng, hiệu trưởng, tổ bộ môn để chỉ đạo sát sao hơn với môn Lịch sử trong nhà trường, tạo động lực cho giáo viên. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào thiết kế bài giảng, tăng tính hấp dẫn cho bài giảng; đổi mới mới phương pháp dạy học với định hướng nghề nghiệp của học sinh.

    Trung tâm Truyền thông Giáo dục (Bộ GD&ĐT)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Tổ Chức Thi Online Môn Tin Học Cấp Thcs
  • Báo Cáo Đổi Mới Ppdh Môn Hóa Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Hóa Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phụ Đạo Học Sinh Yếu, Kém Về Môn Toán Lớp 4
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Ôn Thi Thptqg Môn Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường
  • Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs
  • GD&TĐ – Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng việc tổ chức hoạt động dạy và học, chất lượng dạy học môn Lịch sử THPT hiện nay, Sở GD&ĐT Bến Tre đã đưa ra những định hướng để cán bộ quản lý, giáo viên bộ môn Lịch sử nghiên cứu triển khai phù hợp với theo điều kiện của nhà trương trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng dạy học, ôn thi THPTQG môn Lịch sử.

    Xây dựng chương trình môn học

    Tổ/nhóm chuyên môn tiếp tục nghiên cứu chương trình để thực hiện tốt việc rà soát, tinh giản nội dung dạy học phù hợp chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của chương trình môn học, nhưng phải có sự linh hoạt và sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động dạy học bộ môn.

    Khai thác hiệu quả trang “Trường học kết nối” để tiến hành các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn trong năm học theo hướng dẫn và định hướng bồi dưỡng giáo viên trong đổi mới chương trình, sách giáo khoa sắp tới.

    Tổ trưởng chuyên môn cần tăng cường tổ chức, gợi ý các nội dung cần trao đổi trong sinh hoạt tổ/nhóm; đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn liên trường nhằm tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy.

    Đổi mới phương pháp, hình thức dạy học

    Đẩy mạnh việc vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học tích cực; tổ chức các hoạt động trải nghiệm môn học; tăng cường hướng dẫn học sinh tự học.

    Quan tâm phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi. Tích hợp, lồng ghép những nội dung về lịch sử, địa lý, chính trị, xã hội của đất nước, địa phương bằng nhiều hình thức, phù hợp với điều kiện của nhà trường. Thực hiện dạy học tốt chương trình Lịch sử địa phương.

    Đổi mới kiểm tra, đánh giá

    Thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá đúng quy chế, đảm bảo thực chất, công bằng, đúng năng lực học sinh. Kết hợp đánh giá thường xuyên – đánh giá quá trình học tập; đánh giá bằng cho điểm và nhận xét. Chú ý hướng dẫn học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.

    Khi đánh giá bài kiểm tra viết, giáo viên phải thực hiện tốt phần nhận xét trên bài làm của học sinh.

    Tổ chuyên môn cần tiếp tục xây dựng “Nguồn học liệu mở” gồm: ngân hàng đề kiểm tra, đề thi, kế hoạch bài dạy, … đăng tải trên website của đơn vị để làm tư liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong qúa trình giảng dạy và học tập.

    Tổ chức ôn tập thi THPT quốc gia

    Trong việc tổ chức ôn tập cần lưu ý: Thực hiện nội dung ôn tập theo chương trình THPT, chủ yếu là chương trình lớp 12.

    Tổ chức nghiên cứu bộ đề thi tham khảo do Bộ GD&ĐT công bố để hướng dẫn học sinh làm quen với định dạng của các đề thi trong quá trình dạy học và ôn tập phục vụ cho kỳ thi THPT quốc gia năm 2022.

    Kết hợp hướng dẫn học sinh tự học, tự ôn tập với ôn tập theo nhóm, theo lớp nhằm đảm bảo kiến thức cho học sinh; đối với học sinh yếu kém, cần giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức nhằm giúp các em nắm được nội dung cốt lõi nhất của bài học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chống Nóng Tường Hướng Tây Cho Nhà Với 14 Cách Hiệu Quả 2022
  • Giải Pháp Chống Nóng Hiệu Quả Cho Nhà Xây Hướng Tây
  • Giải Pháp Thiết Kế Cho Nhà Phố Có Hướng Tây Nam
  • Giải Pháp Chống Nóng Cho Nhà Hướng Tây Hiệu Quả
  • Hệ Thống Mạng Không Dây Tốt Nhất Tại Hà Nội Hiện Nay
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • Huấn Luyện An Toàn Khi Làm Việc Trên Cao
  • Chứng Chỉ An Toàn Lao Động: Các Biện Pháp An Toàn Lao Động Khi Làm Việc Trên Cao Chính Xác Nhất !!!
  • Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử I. Đặc điểm, tình hình

    Thuận lợi : – Hầu hết GV đã nắm được kiến thức về môn Lịch sử phục vụ cho việc dạy học của mình.

    – Đa số HS yêu thích môn Lịch sử, tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức.

    – Đồ dùng dạy học, trang thiết bị để dạy học môn Lịch sử khá đầy đủ.

    Khó khăn : Chất lượng dạy học môn Lịch sử còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với đặc trưng của môn Lịch sử. Dạy học còn nặng về giảng giải lí thuyết, GV nêu câu hỏi HS trả lời. HS tiếp thu bài một cách thụ động, dẫn đến chán học.

    – Khi dạy học, GV chưa phân ra từng dạng bài để có phương pháp dạy học phù hợp với từng dạng.

    II. Mục tiêu :

    – Đổi mới phương pháp dạy môn Lịch sử

    – Phương pháp dạy học môn Lịch sử theo các dạng bài.

    III. Nội dung, biện pháp

    a. Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:

    Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được cácc yêu cầu sau:

    + Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

    + Phải đề cập tới cốt lỏi của bài học

    + Tạo ấn tượng, gợi trí tò mò của học sinh

    b.Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu.

    Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (Kênh chữ, kênh hình) trong SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:

    + Giáo viên trình bày các sự kiện, sự việc, hiện tượng bằng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được hình ảnh quá khứ.

    + Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.

    c.Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

    Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học.

    d. Kết luận vấn đề

    Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì không ? Sau đó giáo viên kết luận:

    + Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.

    + Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học

    Phương pháp dạy học môn Lịch sử theo các dạng bài.

    a., Dạng bài có nội dung về tình hình kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội…

    ( Trong chương trình lớp 5 gồm các bài: Bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài 21; bài 27 và bài 2 . Chương trình lớp 4 gồm các bài: Bài 1; bài 2; bài 3; bài 10; bài 13; bài 17; bài 18; bài 19; bài 21; bài 22; bài 23; bài 26; bài 27; bài 28. )

    Dạng bài này có nhiều ở phần lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ(giai đoạn nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:

    – Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào? ( tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?)

    – Trong tình cảnh đó chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào?

    – Kết quả của việc làm đó.

    – Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt để sử dụng phương tiện trực quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời ssống tinh thần.

    b) Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử: ( Trong chương trình SGK- Lịch sử lớp 5, Dạng bài này có ở các bài: bài 1; bài 2; bài 5; bài 6. Chương trình lớp 4 gồm các bài: Bài 7; bài 9; bài 12; bài 15; ).

    Ở dạng bài này, trong chương trình Tiểu học lớp 5 không giới thiệu Tiểu sử của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiêp của các nhân vật để làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật.

    Khi dạy những bài này giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

    – Mỗi một bài đều có hình ảnh ( Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết những diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. Giáo viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.

    – Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? làm gì? có đặc điểm, tính cách gì nổi bật…)

    – Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử

    – Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.

    Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai …. Giáo viên có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai.

    c.Dạng bài có nội dung đề cập tới các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công …..

    Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó, giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự kiện: Nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh,bối cảnh lịch sử của sự kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.

    Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến, phát triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh …… bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi …..

    Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh nhận thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử.

    Với dạng bài này (trong sách giáo khoa lớp 5 là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài 17, và bài 20. Trong chương trình lớp 4 gồm các bài: Bài 4; bài 5; bài 8; bài 11; bài 14; bài 16;bài 24; bài 25;) thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan là những phương pháp chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu về tư liệu lịch sử rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện, giáo viên có vai trò hổ trợ, bổ sung giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một cách hoàn chỉnh hơn.

    Tóm lại, ở dạng bài này, GV cần tìm hiểu theo 4 phần: Nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa.

    d.Dạng bài ôn tập, tổng kết

    Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và cũng cố lại những kiếm thức đã học cho học sinh sau mỗi một thời kỳ ( giai đoạn lịch sử), giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn. Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn phương pháp phù hợp để mạng lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào câu hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước, Trong tiến trình dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công việc như vẻ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng…. Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỷ năng rèn luyện bộ môn.

    Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáô viên vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp – tìm tòi, tổ chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất ngoài ra cỏ thể sử dụng trò chơi lịch sử.

    Người thực hiện: Trần Thị Thanh Huyên

    Trần Thị Thanh Huyền @ 23:03 23/10/2018

    Số lượt xem: 2346

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Vật Lí 7 Ở Vùng Đặc Biệt Khó Khăn.
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Thiết Bị Dạy Học Và Sửa Chữa Đồ Dùng Dạy Học Bộ Môn Vật Lí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Việc Sử Dụng Đồ Dùng, Thiết Bị Môn Vật Lý Ở Trường Thcs
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 10: Hoạt Động Của Cơ
  • Giải Vbt Sinh Học 8 Bài 63: Cơ Sở Khoa Học Của Các Biện Pháp Tránh Thai
  • MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ TRONG NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY

    I. Đặt vấn đề

    “… Lịch sử không bao giờ biến mất, Tổ quốc không bao giờ biến mất. Không thể đánh đồng môn Lịch sử trong nhà trường với Lịch sử dân tộc.

    Học sinh chán học môn Lịch sử chứ không có HS nào chán lịch sử dân tộc. Vậy những người làm Sử, dạy Sử phải có trách nhiệm sao cho môn Lịch sử theo kịp với Lịch sử dân tộc, để cho học sinh say mê, lựa chọn.

    – Đó là trách nhiệm của người thầy, không phải của người trò, và lại càng không phải là trách nhiệm của Lịch sử Việt Nam”.

    – Môn Sử là một môn học mang tính đặc thù và đặc biệt. Đây cũng là môn học nắm giữ lợi thế tốt nhất, hiệu quả nhất trong việc giáo dục lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với Tổ quốc.

    – Chúng ta đã và đang thực hiện đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục nhưng đổi mới có mang lại hiệu quả hay không là nằm ở chính giáo viên.

    1. Thực trạng dạy và học bộ môn Lịch sử hiện nay

    II. Giải quyết vấn đề

    2. Một số kinh nghiệm dạy học bộ môn Lịch sử có hiệu quả

    – Trong giảng dạy Lịch sử, người giáo viên phải đóng vai trò quan trọng trong việc làm sống lại các sự kiện lịch sử.

    2.1 Tích hợp kiến thức liên môn giữa lịch sử với văn học

    Vì thế, để tạo nên những cảm xúc thực sự trước những sự kiện thì việc các thầy cô giáo dạy Sử vận dụng kiến thức Văn học vào giảng dạy Lịch sử nâng cao hứng thú học tập cho HS.

    Đồ dùng và phương tiện dạy học là những công cụ bổ trợ hết sức quan trọng và cần thiết trong việc đổi mới phương pháp dạy học cũng như trong đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực của học sinh hiện nay.

    2.2. Sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học.

    Để sử dụng đồ dùng có hiệu quả người giáo viên dạy lịch sử cần lưu ý

    Đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền với đổi mới về kiểm tra đánh giá. Việc kiểm tra đánh giá, cách ra đề thi cần phong phú, đa dạng, phát huy năng lực người học, khả năng sáng tạo, vận dụng kiến thức, phát huy tính tự học của HS

    Việc sử dụng hình ảnh trực quan trong kiểm tra đánh giá có tác dụng rất lớn trong việc phát huy năng lực học sinh và tạo được sự hứng thú cho học sinh khi học môn Lịch sử.

    Ví dụ: Quan sát hình sau (Hình 69-SGK) nêu nhận xét của em về Chính sách mới của Tổng thống Ru-dơ-ven.

    Giáo viên phải biết linh hoạt sáng tạo, phối hợp các biện pháp sao cho phù hợp nhất đối với từng bài, từng đối tượng HS để đạt hiệu quả nhất.

    2.3. Trong tổ chức dạy học giáo viên cần tránh lạm dụng

    + Lạm dụng CNTT: làm cho bài giảng đi chệch hướng, loãng nội dung bài học, thậm chí mắc sai lầm là hiện đại hóa lịch sử.

    + Lạm dụng sử dụng sơ đồ tư duy: GV sử dụng sơ đồ tư duy để trình bày bài giảng bất kỳ kiểu bài nào, đối tượng HS nào (Sơ đồ tư duy chỉ phù hợp với các bài ôn tập các giai đoạn lịch sử hoặc các bài ôn tập chương).

    Đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của lịch sử và môn học Lịch sử, cùng với những sự đổi mới, đầu tư tâm huyết của đội ngũ GV, chúng ta sẽ nâng tầm vị thế của Khoa học lịch sử nói chung và môn học Lịch sử nói riêng.

    III. Kết luận chung

    Để đạt được những kết quả khả quan hơn trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử trong thời gian tới, đưa lịch sử trở về với đúng vị trí quan trọng của nó trong đời sống xã hội cần:

    – Người thầy xác định mình là người làm cầu nối để học sinh gắn bó với lịch sử;

    – Thiết bị và phương tiện hỗ trợ cần được đầu tư theo đúng yêu cầu thực tế của công tác giảng dạy.

    – Tăng cường công tác tập huấn cho giáo viên dạy bộ môn Lịch sử tại các trường THCS.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán
  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • MỤC LỤC

                                                           Trang

    A. PHẦN MỞ ĐẦU.

    I. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………………….

    2

    II. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………..

    3

    III. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………………..

    3

    IV. Đối tượng khảo sát…………………………………………………………………….

    3

    V. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu………………………………………………….

    3

    VI. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………

    4

    B. PHẦN NỘI DUNG.

     

    I. Cơ sở lí luận……………………………………………………………………………….

    4

    II. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………………………………….

    5

    III. Thực trạng vấn đề nghiên cứu…………………………………………………….

    5

    IV. Nội dung nghiên cứu………………………………………………………………..

    7

    V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm……………………………………………

    26

    VI. Những bài học kinh nghiệm……………………………………………………….

    27

    C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

     

    I. Kết luận……………………………………………………………………………………..

    28

    II. Những khuyến nghị……………………………………………………………………

    29

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………

    30

     

     

     

     

     

    ĐỀ TÀI:

                     MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG

         CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN LỊCH SỬ 7

    I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.                                                                                       

        Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông nói chung ở lớp 7 nói riêng có chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ. Không chỉ ở nước ta mà ở các nước tiên tiến trên thế giới cũng chú trọng việc dạy môn lịch sử vì nó đào tạo con người có bản sắc dân tộc.

    Bộ giáo dục coi trọng việc dạy và học bộ môn lịch sử. Đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định trong hai câu thơ mở đầu trong cuốn lịch sử nước ta:

    “Dân ta phải biết sử ta                                                                                                       Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

    Nhưng trong thực tế cũng không ít người cho rằng, môn lịch sử là bộ môn học thuộc nặng về ghi nhớ những sự kiện năm tháng dài lê thê và xếp vào môn phụ, vì vậy ảnh hưởng không tốt vào mục tiêu đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ.

    Trong quá trình giảng dạy và kết quả học tập của học sinh, tôi đã xác định lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cho học sinh, rèn tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử mà rút ra kinh nghiệm quý giá để xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

     Để đạt được kết quả trên thì việc áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy vào tiết học lịch sử là rất quan trọng. Trong quá trình giảng dạy, ngoài các phương pháp thường dùng tôi chú trọng vào việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, kể chuyện lịch sử, sử dụng kênh hình, phương pháp hoạt động nhóm, liên hệ với thực tế để giáo dục tư tưởng cho học sinh.

               Các câu chuyện lịch sử, tranh ảnh, hoạt động nhóm… không chỉ có tác dụng làm nổi bật nội dung, mà còn là nguồn tri thức không thể thiếu được trong bài học. Nếu những câu chuyện lịch sử, tranh ảnh và hoạt động nhóm được sử dụng tốt, sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau:  tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát huy đựơc năng lực chú ý quan sát, hứng thú của học sinh. Với tính ưu việt đó, vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” để nghiên cứu và cùng chia sẻ.

    Với việc nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn sẽ góp phần nhỏ giúp giáo viên tiến hành một giờ dạy học lịch sử đạt hiệu quả hơn, học sinh tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức của bài học, từ đó nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong nhà trường. Đó là lý do tôi chọn đề tài này. 

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    1. Đối với giáo viên.

    Sáng tạo về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, phát triển tư duy, tính tích cực, tự giác, tự học tập của học sinh.   

    Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống.

    Thiết kế tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động của bài học lịch sử lớp 7 với hình thức đa dạng, phong phú, có sự hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường.

    2. Đối với học sinh.

              Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.

    Thông qua nội dung bài học, lên hệ thực tế tạo cho học sinh biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày và có cuộc sống bình thường trong một xã hội hiện đại.

    III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

              Áp dụng “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” vào tổ chức dạy và học làm tăng hứng thú học môn lịch sử của học sinh, từ đó tạo cho học sinh ý thức muốn lĩnh hội cả về kiến thức, kĩ năng lẫn thái độ.

    IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT.

    Học sinh lớp 7A, 7B trung học cơ sở.

    V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.

    1. Phạm vi nghiên cứu.

              Để nâng cao quá trình tiếp thu và tạo hứng thú của các em trong quá trình học lịch sử, tôi tiến hành nghiên cứu “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7”. Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực như kể chuyện lịch sử, sử dụng tranh ảnh và tiến hành hoạt động nhóm trong việc tổ chức dạy và học.

    Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu toàn bộ bộ môn lịch sử 7 và có thể áp dụng cho tất cả các khối 6,8,9 học lịch sử và có một số điểm áp dụng cho môn Văn, Giáo dục công dân…

    2. Kế hoạch nghiên cứu.

    VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    – Tìm hiểu thực tế.

    – Nghiên cứu thực nghiệm.

    – Tổng hợp tư liệu, tài liệu.

    B. PHẦN NỘI DUNG.

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công lớn trong học tập của các em ”, trước khi người ra đi trong di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn:

    “ Phải giáo dục thế hệ trẻ để cho họ trở thành người vừa hồng vừa chuyên”

    Trong điều kiện khoa học kỉ thuật phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn, một nhiệm vụ mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình.

    Vì thế đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam trong nghị quyết ghi rõ “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó. Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống vừa mang tính giáo dục,vừa mang tính giáo dưỡng cao hơn là giáo dưỡng hướng đến nguồn gốc cội nguồn của tổ tiên và trân trọng nó.

    Trong những năm gần đây, chương trình SGK mới của bộ GD-ĐT đã có rất nhiều những thay đổi về nội dung của bài học, về số lượng câu hỏi, bài tập, bài thực hành, sơ đồ, lược đồ…Những sự thay đổi đó nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục ở đối tượng học sinh, mà chất lượng của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp dạy học của giáo viên.

    Nếu như trước đây việc truyền thụ kiến thức là nhiệm vụ quan trọng và đòi hỏi người dạy phải đóng vai trò chủ đạo tận dụng hết mọi năng lực của mình để giúp học sinh vấn đề bằng phương pháp thuyết giảng cho học sinh tiếp thu là chính. Thì nay phương pháp này không hợp lý trong chương trình sách giáo khoa mới từng bộ phận. Chương trình học ở các bậc học để áp dụng phương pháp dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm, học sinh đóng vai trò chủ đạo trong tiết học thì người thầy, người giáo viên soạn giảng phải có những phương pháp dạy học mới.

    II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.

    Dạy học là một quá trình d­ưới sự hoạt động tổ chức, điều khiển của ng­ười giáo viên, còn ngư­ời học tự giác, tích cực, chủ động biết tự tổ chức điều khiển hoạt động  học tập của mình.

    Đặc thù học tập môn lịch sử của bậc trung học cơ sở là các em phải tiếp cận với nhiều sự kiện lịch sử, với những vị anh hùng, những danh nhân lịch sử vĩ đại không chỉ của dân tộc mà cả của thế giới từ cổ đến trung, từ cận đại đến hiện đại . Khi học lịch sử thì yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học một cách chính xác, đầy đủ. Vì thế bộ môn Lịch sử khó gây đ­ược hứng thú học tập ở các em.

    III. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.

    Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, rất nhiều câu chuyện lịch sử đã được khám phá, tranh ảnh được đăng tải vì vậy giáo viên có thể dễ dàng tìm được những câu chuyện, tranh ảnh lịch sử hay, phù hợp và hỗ trợ nhiều cho nội dung mà bài học không đề cập hết.

    Giáo viên đã được đào tạo và tập huấn thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học.

    2. Khó khăn.   

    * Học sinh:  

    Chất lượng dạy học môn Lịch sử hiện nay đặt ra vấn đề cần suy nghĩ. Số lượng học sinh say mê yêu thích môn Lịch sử là rất ít.        

    Quan niệm của học sinh đối với môn lịch sử còn lệch lạc nên các em không đầu tư, không chú ý, xem thường hoặc học cho xong.

              Vì bộ môn Lịch sử lớp 7 với nhiệm vụ cung cấp một khối lượng kiến thức tương đối phong phú về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc cần đặt ra yêu cầu cao mới thực hiện được nhiệm vụ đó, mặt khác do đặc trưng của bộ môn Lịch sử nó gây ra nhiều khó khăn cho quá trình nhận thức của các em. Vì đối tượng của lịch sử là quá khứ đã diễn ra, không thể tái hiện, không thể “ trực quan sinh động”, cũng không thể trực tiếp quan sát được.

    * Phụ huynh:

    Gia đình là môi trường đầu tiên giúp học sinh có ý thức học tập đối với môn Lịch sử, nhưng hiện nay không có nhiều gia đình, các bậc cha mẹ khuyến khích con em yêu thích lịch sử và tạo điều kiện cho con em học tốt, học giỏi môn này, vì một tâm lý “thực dụng”.

    * Giáo viên:

    Giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường một phần nào đó chưa gây được sự hứng thú, tìm tòi và khám phá cho học sinh trong việc học bộ môn, cho nên nhiều học sinh chán ghét bộ môn và học chỉ để đối phó dẫn đến chất lượng kiểm tra một số em ở một số lớp còn thấp.

    Tôi đã tiến hành khảo sát trước khi vận dụng dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 và thu được kết quả như sau:

    Năm học 2022 – 2022

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS (Trung bình)

    HS ( Yếu )

    62

    16

    9

    30

    7

    Tỷ lệ

    26 %

    15 %

    48 %

    11 %

     

    IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.

              Qua thực tế, chúng ta (những người trực tiếp đứng lớp, những nhà quản lý giáo dục) đều hiểu rằng: Hiện đang có tình trạng học sinh không yêu môn lịch sử, một trong những lí do là bởi phương pháp dạy còn nhàm chán. Để học sinh yêu và có hứng thú hơn với môn lịch sử, tôi xin đưa ra một số phương pháp nhằm nâmg cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 nói riêng và lịch sử trung học cơ sở nói chung.

    1. Phương pháp kể chuyện lịch sử.

    1.1. Khái niệm về phương pháp kể chuyện lịch sử.

    1.2. Nguyên tắc kể chuyện lịch sử.

    Có thể nói rằng, bất cứ nơi nào, ở đâu những câu chuyện kể luôn luôn mang lại hiệu quả. Đặc biệt là tính giáo dục của các câu chuyện, môn lịch sử cũng không là ngoại lệ. Điếu quan trọng là ta phải biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ để nó phát huy giá trị và không làm mất thời gian của tiết học.

    Khi sử dụng giáo viên phải biết chắt lọc, kể ngắn gọn và sau mỗi câu chuyện phải biết đặt những câu hỏi hoặc gợi ý cho học sinh nêu lên suy nghĩ của mình, từ đó học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.

    1.3. Ứng dụng cụ thể phương pháp kể chuyện lịch sử trong giờ dạy.

    Ví dụ 1: Khi dạy bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê, ở mục I­2­   giáo viên có thể kể về thái hậu Dương Vân Nga:

               ( Theo: Các triều đại Việt Nam)

    Kể chuyện này giáo viên chú ý bỏ qua những đoạn đánh giá nhận xét mà tập trung vào đoạn Dương Vân Nga lấy áo bào khoác lên người Lê Hoàn, cách đối xử của mọi người đối với bà. Từ đó đặt câu hỏi để học sinh thể hiện ý kiến của mình đối với thái hậu Dương Vân Nga, qua đó giáo dục tư tưởng cho học sinh.

    Ví dụ 2. Khi dạy bài 14 – Ba lần kháng chiến chống quan xâm lược Mông – Nguyên, ở mục IV – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử,  có thể kể về Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, …

    HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

    Hơn bảy trăm năm trước, cả Á – Âu đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm về cái hoạ Tác – ta (giặc Mông ), khi chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác. Từ Thái Bình Dương sang tận bên bờ  Địa Trung Hải, khắp Á – Âu chưa có một danh tướng nào ngăn cản được. Giáo hoàng La Mã sợ hãi đến nỗi “… tuỷ khô, thân gầy, sức kiệt”. Người Đức hàng ngày cầu nguyện: “ Xin chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tác – ta !”, vó ngựa của chúng đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó. Vậy mà ở miền Đông Nam châu Á, lũ giặc Tác – ta phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài nghệ quân sự tuyệt vời của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Quốc Công Tiết chế, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

            Công lao to lớn của Người, ba lần tổng chỉ huy quân dân Đại Việt cả phá quân Nguyên – Mông hung bạo, đánh cho chúng thất điên bát đảo, Trấn Nam Vương Thoát Hoan chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết.

    Với tài thao lược, trí dũng song toàn, luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, Trần Hưng Đạo không chỉ sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà còn vang danh khắp năm châu bốn biển. Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) là một anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế giới.

    Người sinh ngày 10-12-1228 (Mậu tý), là con của An sinh vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông – Trần Cảnh).

    Người dung mạo hùng vĩ, thông minh hơn người, đủ tài văn võ, chuyên tâm nghiên cứu lục tam thao lược của người xưa và dành cả tâm huyết, hiểu biết của mình để viết: Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ  để dạy các tướng cầm quân đánh giặc, khích lệ lòng yêu nước của quân dân Đại Việt.

    Trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần hai, thấy rõ nếu để ngành trưởng và ngành thứ xích mích, nghi kị lẫn nhau thì chỉ có lợi cho kẻ thù. Người đã chủ động giao lưu hoà hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự đoàn kết nhất trí trong Vương triều, bảo đám đánh thắng quân thù .

              Chuyện kể rằng: Một hôm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở bến Bình Than sai người mời Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ rồi sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa với Trần Quang Khải, từ đó vĩnh viễn xoá bỏ hiềm khích giữa hai chi họ (Quốc Tuấn là con của Trần Liễu ngành trưởng , Quang Khải con  của Trần Cảnh ngành thứ ). Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích hỏi các con, Trần Quốc Tảng  có ý khích ông nến cướp ngôi của chi thứ.

    Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông mới bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng:

    Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn thằng nghịch tử, phản thầy này nữa.

    Trong kháng chiến ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt .dư luận xì xào sợ ông giết vua. Ong liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yêu lòng dân quân.

    Ba lần chống giặc Nguyên – Mông, các vua Trần đều giao cho ông chức Tiết chế(tổng tư lệnh quân đội ), vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính vì vậy tướng sĩ hết lòng thương yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đạo quân bách chiến bách thắng.

    Trần Quốc Tuấn là vị tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược Vạn Khiếp tổng bí truỵền thư để răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc.khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, ông viết “ Hịch tướng sĩ”, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng bại, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc đại bút.

    Trần Quốc Tuấn là một bậc đại tướng gồm đủ đức và tài. Là tướng nhân oâng thương dân như quân, chỉ cho họ con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều nghĩa. Là tướng trí, ông xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo nên những trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời. Là tướng tín, ông bày tỏ trước quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông sẽ gặp hoạ. Cho nên cả ba lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọg trách điều sát binh mã và đều la[65 được công lớn.

    Hai tháng trước khi mất, vua Anh tông đến thăm và hỏi:

    – Nếu chẳng may khanh mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao ?

    Ông đã trăng trối những lới tâm huyết ,sâu sắc, đúng cho mọi thời đại:

    – Thời bình phải khoan thứ sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước.

    Mùa thu tháng tám, ngày 20 năm Canh tý (1300) “Bình Bắc đại nguyên soái” Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Theo lới ông dặn, thi hài ông được hoả tảng thu vào bình đồngvà chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng , trồng cây như cũ. Vua gia phong cho ông chức Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông lúc sinh thời.

    ( Theo: Các triều đại Việt Nam )         

              Lúc kể những câu chuyện lịch sử chính là lúc HS tập trung chú ý lắng nghe, đó là cơ hội tốt để giáo dục tư tưởng cho HS, làm cho HS càng thêm yêu dân tộc mình, biết thêm những điều mà trong SGK chưa cung cấp nhưng lại rất cần thiết trong cuộc sống, trong quá trình học tập của mỗi con người.

    Có một điều chắc chắn rằng HS sẽ nhớ nội dung của mỗi bài nhiều hơn nhờ những câu chuyện này. Đặc biệt HS sẽ biết nhiều hơn về mỗi triều đại, biết nhiều nhân vật lịch sử hơn. Từ đó môn lịch sử có giá trị cao hơn trong lòng các em. Điều này có thể được chứng thực ở lớp 7A­,7B.

    Nguyên tắc khi kể chuyện trong giờ học lịch sử là không kể tràn lan và phải thông qua câu chuyện để làm nổi bật nội dung bài, giáo dục tư tưởng cho học sinh.

    2. Phương pháp khai thác kênh hình.

    2.1. Phân loại kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử.

    Tranh, ảnh lịch sử: Là kênh hình có khả năng khôi phục lại hình ảnh của những con người, đồ vật, sự kiện lịch sử, biến cố một cách cụ thể sinh động và khá xác thực.

    Lược đồ lịch sử: Là kênh hình nhằm xác định địa điểm của những sự kiện trong thời gian và không gian nhất định. Đồng thời giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các hiện tượng Lịch sử về mối quan hệ liên hệ nhân quả, có tính quy luật và trình độ phát triển của quá trình Lịch sử, giúp các em học sinh ghi nhớ những kiến thức đã học.

     Biểu đồ: Là kênh hình dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện Lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học. Biểu đồ thường được biểu diễn trên trục hoành ( Ghi thời gian) và trục tung ( Ghi sự kiện).

    2.2. Kỹ năng khai thác kênh hình.

    Để khai thác tốt kênh hình phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn lịch sử, cần đảm bảo một số kĩ năng cơ bản sau:

    Phải biết và hiểu được kiến thức cơ bản của kênh hình. Xác định mục đích cần hướng đến khi khai thác kênh hình. Thiết kế câu hỏi hợp lý, trọng tâm.

    2.3. Nguyên tắc khai thác kênh hình.

    Giáo viên đứng lớp cần phải có sự chuẩn bị chu đáo cẩn thận, nghiên cứu kỹ trước nội dung các kênh hình trước khi lên lớp. Chuẩn bị lời nói ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và gây hứng thú cho học sinh. Chính yêu cầu đó sẽ giúp người giáo viên nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong các giờ lên lớp.

    Bên cạnh đó học sinh học sinh phải tự giác tìm hiểu kênh hình dưới sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên, tiếp nhận kiến thức một cách chủ động.

    Để nâng cao hiệu qủa sử dụng kênh hình cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    Một là: Sử dụng đúng mục đích.

    Hai là: Sử dụng đúng lúc.

    Ba là: Sử dụng đúng mức độ, cường độ.

    Bốn là: Kết hợp sử dụng kênh hình sách giáo khoa với các đồ dùng được trang bị.

    Năm là: Nội dung thuyết minh kênh hình phải sinh động, hấp dẫn.

    Sáu là: Hướng dẫn học sinh quan sát (từ tổng thể đến chi tiết), kết hợp

    miêu tả, phân tích, đàm thoại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh tự rút ra được ý nghĩa của kênh hình đó. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, cá nhân hoặc toàn lớp.

    2.4. Ứng dụng cụ thể phương pháp sử dụng kênh hình trong giờ dạy.

    Ví dụ 1: Khi dạy bài 10 – Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, ở mục 1 – Sự thành lập nhà Lý, có thể sử dụng hình ảnh:

    Hình 1: Tượng Lý Thái Tổ ở Hà Nội

    Khi HS đọc xong mục 1 giáo viên có thể cho HS xem hình và đặt câu hỏi để HS xác định tượng trong hình là ai. Khi xác định được giáo viên lại hỏi về thân thế của họ. Từ đó giáo viên dựa vào hình để tổng kết, nêu lên công lao của Lý Công Uẩn.

              Ví dụ 2. khi dạy bài 12 – Đời sống kinh tế, văn hóa, ở mục II2  giáo viên có thể sử dụng hình chùa Một Cột trong SGK trang 48 hoặc hình sau (mặt sau của chùa):

    Hình 2: Chùa Một Cột ở thủ đô Hà Nội

    Ngoài chùa Một Cột, thời Lý còn có nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác có thể dùng để làm nổi bật kiến trúc thời Lý như: chùa Keo, chùa Phật Tích( Bắc Ninh), chúa Thầy(Hà Tây)

    Ví dụ 3. Ngoài ra giáo viên có thể sử dụng một số hình ảnh sau đề làm cho mục II 2 được rõ hơn (Những ngôi chùa được xây dựng hoặc đại tu dưới thời Lý):

     

    Hình 3: Bố cục của Văn miếu Quốc tử giám

    Hình 4: Tượng A –di – đà (chùa Phật Tích – Bắc Ninh

    Hình 5: Chùa Trấn Quốc (được trùng tu dưới thời Lý)

    2.5. Cung cấp tư liệu cho học sinh.

              Sách giáo khoa thường cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản. Đó là một việc làm hết sức cần thiết, không cần phải bàn cải. Nhưng bây giờ thử hỏi, học xong lịch sử lớp 7 mà HS không biết nhà Lý có những vị vua nào, nhà Trần có những vị vua nào? Lý Thường Kiệt là ai? Chu Văn An là ai? Thì đã thực sự hợp lý hay chưa. Vì vậy để HS của mình có cái nhìn khái quát hơn, cụ thể hơn thì giáo viên nên cung cấp cho HS những tư liêu cần thiết.

              Tư liệu cung cấp cho HS phải phục vụ cho việc học của HS, tư liệu đó HS có thể sử dụng lâu dài trong cuộc sống.

              Khi cung cấp tư liệu giáo viên không được bắt ép HS phải có nó mà phải để cho HS hoàn toàn tự nguyện sử dụng. Giáo viên chỉ cố gắng động viên cho HS có được nó và sử dụng.

              Ví dụ: Khi dạy bài 8 – Nước ta buổi đầu độc lập, giáo viên có thể hỏi: từ trước đến nay nước ta có những tên gọi nào?

              HS sẽ trả lời nhưng chắc chắn không đầy đủ. Từ đó giáo viên cho HS thấy sự cần thiết phải biết các quốc hiệu của nước mình (như đặt ra trường hợp một người nước ngoài hỏi chẳng hạn, nếu không trả lời được thì sẽ như thế nào). Bây giờ giáo viên có thể cung cấp cho HS tư liệu về Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì:

    Quốc hiệu Việt Nam

    1. Văn Lang.

    Văn Lang là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ.

    2. Âu Lạc.

    Năm 257 TCN, nước Âu Lạc được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán – An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần đông nam Quảng Tây.

    Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu Đà (quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị diệt vong.

    3. Vạn Xuân.

    Vạn Xuân là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt.

    4. Đại Cồ Việt.

    Đại Cồ Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968. Quốc hiệu này tồn tại 86 năm đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác.

    5. Đại Việt

    Đại Việt là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 743 năm.

    6. Đại Ngu.

    Đại Ngu (nghĩa là Niềm vui lớn) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.

    7. Việt Nam.

    Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long sử dụng từ năm 1804.

     

    8. Đại Nam.

    Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.

    9. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến  đến 1976. Nhà nước được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày quốc khánh của Việt Nam ta ngày nay).

    10. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này được sử dụng từ đó đến nay.

              Các tư liệu, trong quá trình dạy học giáo viên cần cho HS vận dụng để các em thấy kiến thức đó là bổ ích. Có như vậy thì HS mới chịu đọc, còn không dù có các em cũng bỏ đó mà không dùng tới.

              Ví dụ: Khi gọi HS lên bảng ngoài các câu hỏi trong chương trình giáo viên có thể sử dụng câu hỏi phụ để hỏi HS về những kiến thức bổ sung như: Hãy kể tên các vua thời Lý. Làm như vậy HS sẽ tích cực đọc để biết thêm, từ đó rèn văn hóa đọc cho học sinh.

    Mang tính tích cực, tự lực, tự giác rất cao và có tính chất chủ thể.

    Đòi hỏi người học phải có kiến thức, kinh nghiệm, có đủ tài liệu tham khảo.

    Người học tìm ra kiến thức mới, nhìn vấn đề nhiều góc cạnh khác nhau.

    Về mặt giáo dục: Phát triển tính dân chủ, hợp tác ở học sinh.

    3.3. Mục đích sư phạm của phương pháp.

    Tạo cho học sinh có cơ hội lập luận bảo vệ ý kiến của mình.

    Tạo cho học sinh có cơ hội lắng nghe ý kiến của bạn và điều chỉnh quan điểm của mình.

    Đưa ra một ý kiến quyết định chung của một nhóm hoặc một tập thể từ nhiều ý kiến kinh nghiệm khác nhau.

    3.5. Ưu điểm và hạn chế.

    a. Ưu điểm:

    Tăng khả năng giao tiếp học sinh và giáo viên hoặc học sinh và học sinh.

    Nhiều người trình bày được nhiều ý kiến dưới góc nhìn khác nhau.Với thái độ hiểu biết và chấp nhận.

    Có khả năng xử lý thông tin,nhạy bén với các quyết định.

    Phát huy tính tự giác tích cực,tự lực của học sinh.

    Tăng tinh thần hợp tác,tổ chức của học sinh.

    b. Hạn chế:

    Tốn nhiều thời gian chuẩn bị,tiến hành, đúc kết.

    Người tham gia phải có kinh nghiệm và đủ tài liệu tham khảo.

    Người học khó chịu vì phải suy nghĩ,chú ý nhiều,góp ý kiến nhiều.

    Một số người còn chủ quan,thành kiến dẫn đến bảo thủ,ngụy biện lạc đề.

    a. Chuẩn bị:

    Tùy theo số lượng học sinh trong lớp, nội dung học tập mà giáo viên chia thành bao nhiêu nhóm ,số lương thành viên trong nhóm. Tùy theo mục tiêu và yêu cầu vấn đề học tập mà mà các nhóm được phân ngẫu nhiên hoặc mặc định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổi theo từng hoạt động của tiết học. Các nhóm được giao cùng một nhiệm vụ hoặc khác nhiệm vụ.

     Để chia theo chủ định, giáo viên nên chú ý đặc điểm của học sinh (trình độ, thái độ, tính cách, giới tính…) để cơ cấu nhóm cho phù hợp.

    * Các hình thức nhóm cụ thể:

              Nhóm ghép đội: dùng để nghiên cứu , phân tích , trao đổi vê một số vấn đề phức tạp đòi hỏi có sự cộng tác cao.

    * Các bước tiến hành:  

    Bước 3: Học sinh cử đại diện báo cáo kết quả của nhóm, góp ý và bổ sung cho nhau.

    Bước 4: Giáo viên đánh giá, nhận xét, bổ sung, kết luận.

    Từ đó HS ý thức được yêu cầu nội dung của đề tài, các nguồn tài liệu chính, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ của tập thể cũng như của từng cá nhân…

    GV tổng kết những ý kiến phát biểu, nêu lên một cách súc tích và có hệ thống những ý kiến thống nhất và chưa thống nhất.

    GV cần đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần thái độ làm việc chung của tập thể, của nhóm và cá nhân HS.

    Giao nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, đảm bảo mỗi học sinh đều hiểu nhiệm vụ.

    Trong quá trình học sinh làm việc, giáo viên phải theo dõi từng nhóm, có sự giúp đỡ, hướng dẫn kịp thời, đảm bảo tất cả học sinh đều làm việc.

    Trong mỗi nhóm cần có sự phân công ràng nhiệm vụ cụ thể trong đó đề cao vai trò hợp tác.

    Cần tao không khí thi đua giưa các nhóm để khuyến khích học tập.

     

    3.7. Các phương pháp, biện pháp tiến hành thực nghiệm.

    a. Về chuẩn bị dụng cụ để hoạt động nhóm:

    Theo tôi đặc thù các lớp 7 ở trường Trung học cơ sở thì mỗi lớp có 16 bàn nên chia thành 4 nhóm (để tránh di chuyển nhiều tốn thời gian và ồn ào mất trật tự, chỉ 2 bàn quay mặt lại là được).

    Mỗi nhóm phải có 2 bảng phụ, kích thước không nhỏ và cũng không quá to, quy định cỡ 50cm x 70cm là vừa + bút lông xóa được, 1 cây màu đỏ và 1 cây màu xanh hoặc đen. Nếu vùng khó khăn giáo viên có thể làm bảng phụ bằng giấy A4 và bút chì màu.

    Giáo viên phân nhóm và có nhóm trưởng, nhóm phó,thư kí (phòng khi nhóm trưởng vắng) để điều hành chung và chuẩn bị dụng cụ cho tốt.

    b. Về phương pháp cách thức hoạt động.

    * Về phía giáo viên:

    Chọn nội dung hoạt động nhóm thường là nội dung có nhiều ý, nội dung trọng tâm, có tính tư duy học sinh trung bình và yếu khó giải quyết.

    Xây dựng trong giáo án hệ thống câu hỏi, tình huống vấn đề phải cụ thể rõ ràng có dàn ý hệ thống chi tiết, giúp HS dễ biết cách thức nhanh chóng và có hệ thống (vì thời gian có hạn).

    * Về phía học sinh:

    Phải chuẩn bị nội dung trước ở nhà.

    Nhóm trưởng phải tôn trọng tất cả các ý kiến của các thành viên trong nhóm, phải làm sao ( giảng giải, phân tích…) cho các học sinh trung bình, yếu trong  nhóm hiểu được vấn đề và có thể thay mặt nhóm lên trình bày trước lớp.

     

    * Ví dụ 1:

    Bài 4: Trung Quốc thời phong kiến

    1. Sự hình thành xã hội phong kiến ở Trung Quốc.

    – Câu 1 ( Nhóm 1, 2): Những điều kiện nào đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Trung Quốc thời cổ đại?

    – Câu 2( Nhóm 3, 4): Xã hội Trung Quốc đã bị phân hoá như thế nào?

    * Đáp án:

    – Những điều kiện đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Trung Quốc thời cổ đại:

    + Những tiến bộ trong sản xuất đã tác động đến xã hội, làm cho xã hội có sự biến đổi.

     - Xã hội Trung Quốc đã bị phân hoá như thế nào?

      + Giai cấp địa chủ xuất hiện    

    (Hoặc giáo viên có thể khái quát trên sơ đồ)

    2. Xã hội Trung Quốc thời Tần- Hán.

    Câu 1( Nhóm 1, 2): Em trình bày tổ chức bộ máy nhà nước thời Tần?

    Câu 2 ( Nhóm 3, 4): Các chính sách của ông đã gây ra hậu quả gì?

     

     

     

    3. Sự thịnh vượng của Trung Quốc dưới thời Đường.

     

     *  Ví dụ 2:

    Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân Tống ( 1075- 1077)

      I. Giai đoạn thứ nhất.

       1. Nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta.

       2. Nhà Lý chủ động tiến công để phòng vệ.

     - Câu 1(nhóm 1, 2): Cuộc tấn công vào đất Tống của nhà Lý có phải là hành động xâm lược không? Vì sao?

     - Câu 2(nhóm 3, 4): Việc nhà Lý chủ động tấn công vào đất Tống có ý nghĩa như thế nào?

     * Đáp án:

     Câu 1: Cuộc tấn công vào đất Tống của nhà Lý không phải là hành động xâm lược, vì nhà Lý chỉ tấn công các căn cứ quân sự, kho lương thảo, đó là những nơi quân Tống tập trung lực lượng, vũ khí để chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Hơn nữa, khi hoàn thành được mục đích thì nhà Lý đã cho rút quân ngay.

    Câu 2: Việc chủ động tấn công quân Tống có ý nghĩa:

             – Tiêu diệt lực lượng mà quân Tống chuẩn bị để xâm lược nước ta.

             – Làm quân Tống hoang mang, bị động, thêm khó khăn cho việc xâm lược nước ta.

             – Buộc quân Tống phải có thời gian để củng cố lực lượng và quân ta cũng có thời gian để chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến chống Tống mà biết trước không thể tránh khỏi.

      * Ví dụ 3:

    Bài 13: Nước Đại Việt thế kỉ XVIII

     I. Nhà Trần thành lập.

      1. Nhà Lý sụp đổ.

      2. Nhà Trần củng cố chế độ phong kiến tập quyền.

    Sau khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần có thể cho các em hoạt động nhóm bằng sơ đồ tư duy  theo hai yêu cầu sau:

    Câu 1( nhóm 1, 2): Hãy vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước cấp trung ương thời nhà Trần?

    Câu 2( nhóm 3, 4): Hãy vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước cấp trung gian và cấp cơ sở thời nhà Trần?

              Sau khi học sinh trình bày, nhận xét, giáo viên đưa ra sơ đồ đã chuẩn bị:

     - Học sinh quan sát, rút kinh nghiệm.

    *  Ví dụ 4:

    Bài 20: Nước Đại Việt thời Lê sơ ( 1428- 1527)

    II. Tình hình kinh tế- xã hội.

    1. Kinh tế.

    ? Để nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế, nhà nước Lê sơ đã thực hiện những biện pháp gì? Nhận xét về những biện pháp đó?

              Sau phần báo cáo và nhận xét của học sinh, giáo viên đưa ra nội dung đáp án của câu hỏi đã chuẩn bị:

    – Về nông nghiệp:

      + Xóm làng điêu tàn, ruộng đồng bỏ hoang đời sống nhân dân khổ                             cực.

             + Cho lính về quê làm rộng.

             + Kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng..

             + Đặt các chức quan chuyên lo sản xuất nông nghiệp.

             + Thực hiện chính sách quân điền.

             + Cấm giết trâu bò.

    – Về thủ công nghiệp:  

               + Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời.

               + Thăng Long là nơi tập trung nhiều nghành nghề thủ công nhất.

               + Quản lý, đẩy mạnh các xưởng thủ công nhà nước.

    – Về thương nghiệp:  

    + Khuyến khích lập chợ mới và họp chợ.

              + Đúc tiền đồng.

              + Buôn bán với nước ngoài phát triển.

    ( trò chơi ô chữ, ai nhanh hơn ai cho nhóm 2 học sinh, trò chơi ngôi sao may mắn, theo dòng lịch sử cho nhóm 4- 6 học sinh . . .), nhất là ở các bài dạy có áp dụng công nghệ thông tin. Trong phạm vi hạn hẹp của một đề tài nên tôi không thể đưa hết tất cả các ví dụ minh hoạ được.

    – Phân nhóm và quy định nội dung cho từng nhóm hoạt động.

    – Lắng nghe và gợi ý cho học sinh.

    – Động viên, khích lệ các nhóm còn yếu, chưa mạnh dạn.

    – Tất cả các đối tượng học sinh đều tham gia bàn bạc và đóng góp ý kiến.

             + Thư kí  nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào bảng phụ.

              + Các đối tượng còn lại trong nhóm ghi nội dung đã thống nhất vào phiếu học tập( hoặc vở ghi).

    – Giáo viên cho các nhóm khác góp ý bổ sung nội dung của nhóm vừa trình bày cho đầy đủ.

    – Giáo viên nhận xét và cho học sinh chỉnh sửa những nội dung còn thiếu sót.

    V. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

              Qua khảo sát, tôi nhận thấy học sinh rất yêu thích, say mê môn sử. Mặc dù những tiết học đầu còn bỡ ngỡ, chưa quen, nhưng với nỗ lực, sự say mê học hỏi, phần lớn học sinh đều bày tỏ thái độ đồng tình, hợp tác với giáo viên.

                Phân tích từ góc độ quan sát thực tế thì các phương pháp mà tác giả thực nghiệm là phù hợp với năng lực của học sinh, cần thiết trong quá trình giảng dạy môn lịch sử, tạo sự hứng thú, tìm tòi, kích thích khả năng sáng tạo, khơi dậy nguồn cảm hứng học môn lịch sử ở mỗi học sinh, giúp học sinh có cơ hội được trải nghiệm, được thực hành trong quá trình tiếp thu những kiến thức và kỹ năng mới.

               Thực tế sau khi áp dụng “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” đã thúc đẩy phát triển một số năng lực cần phải có cho HS như năng lực xã hội gồm: năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất; Năng lực quan hệ xã hội gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác; Năng lực công cụ: năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.

    VI. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

    1. Đối với giáo viên:

    Trong quá trình vận dụng những biện pháp trên vào bài giảng tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

    Đối với phương pháp kể chuyện, sử dụng kênh hình:

              Người giáo viên phải biết kết hợp hài hòa mục tiêu cần đạt với nội dung cách làm mới. Có như vậy tiết dạy mới bảo đảm nội dung.

              Khi vận dụng người giáo viên phải sếp xếp thời gian hợp lí, nếu không sẽ không đủ thời gian cho mỗi tiết dạy.

              Giáo viên phải tìm mọi cách cho HS tự nêu lên thắc mắc của mình khi nghe câu chuyện hay nhìn vào một kênh hình, có như vậy mới để lại ấn tượng sâu sắc trong trí nhớ của các em.

              Một số học sinh chưa có ý thức cao vẫn còn lơ là làm ảnh hưởng đến các học sinh khác và một số em khác còn nhút nhát, chưa mạnh dạn nên mặc dù có ý kiến và nắm được vấn đề nhưng không tự tin phát biểu... Nên việc quản lí, lôi cuốn các em vào hoạt động tập thể là vấn đề quan trọng mà giáo viên cần phải làm được để hoạt động nhóm thành công.

    2. Đối với phụ huynh:

    Điều cần làm trước hết là người lớn phải là tấm gương sáng, nhìn nhận đối xử công bằng môn sử so với các bộ môn khác.Việc học môn sử của học sinh phải luôn được người lớn khuyến khích, chia sẻ.

     

    C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.

    I. KẾT LUẬN.

    Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc giúp giáo viên và học sinh trường chúng tôi nói riêng, các đồng nghiệp và học sinh trường bạn nói chung thực hiện việc dạy và học môn lịch sử tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong chương trình đổi mới của Bộ giáo dục. Về phía bản thân, tôi xin hứa sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của việc thực hiện đề tài. Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục tìm tòi, học hỏi để đưa ra những phương pháp mới nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục.

    Sau khi áp dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 tôi đã thu được kết quả khả quan, cụ thể như sau:

    Bản tổng hợp số liệu kết quả khảo sát trước khi vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7.

                                            Năm học 2022 - 2022

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS (Trung bình)

    HS ( Yếu )

    62

    16

    9

    30

    7

    Tỷ lệ

    26 %

    15 %

    48 %

    11 %

     

     

     

    Bản tổng hợp số liệu kết quả khảo sát sau khi vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7.

    Học kì I năm học 2022 - 2022

    Sĩ số

    HS ( Giỏi )

    HS ( Khá )

    HS ( Trung bình )

    HS ( Yếu )

    62

    50

    9

    3

    0

    Tỷ lệ

    80.5 %

    14.5 %

    5 %

    0%

     

    Kết quả xếp loại trung bình môn lịch sử 7

    năm học 2022- 2022 và học kì I năm học 2022- 2022

     

    III. NHỮNG KHUYẾN NGHỊ.

              Với kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy, tôi xin được đưa ra sáng kiến “Một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử 7 ” để các đồng chí tham khảo, đóng góp ý kiến bổ sung để cùng nhau đưa chất lượng giáo dục môn lịch sử 7 nói riêng và các môn lịch sử lớp 6,8,9 nói chung đạt kết quả cao hơn.

              Đề nghị phòng Giáo dục, hằng năm các sáng kiến kinh nghiệm được xếp loại cần được biên soạn lại và phổ biến về các cơ sở trường học để giáo viên tham khảo và vận dụng nhằm tăng tính khả thi của các đề tài nghiên cứu.

    Hàng năm phòng Giáo dục cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, chuyên đề để giáo viên được học hỏi kinh nghiệm.

     Một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin. Vì vậy nhà trường cần thu hút các nguồn đầu tư xây dựng, cung cấp phương tiện, công nghệ và có biện pháp sử dụng hợp lí để góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

     

     

    Xin chân thành cm ơn!

     

     

    D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.

     

    1. Các triều đại Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục)
    2. Giáo trình Đại cương lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản giáo dục)

    3.Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử - Phan Ngọc Liên, Trịnh

    Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường ( Nhà xuất bản đại học Quốc Gia Hà Nội)

    4.  Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 2003

    5.  Tư duy học sinh tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội

    6.  Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội 1999

    7.  Sách giáo viên, sách hướng dẫn lịch sử 7 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3
  • Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8
  • Sáng Kiến Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • Huấn Luyện An Toàn Khi Làm Việc Trên Cao
  • Trong bài “Nên học sử ta” ghi trên báo “Việt Nam Độc lập” Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết:

    “Dân ta phải biết sử ta

    Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam”

    Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể.

    Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Về nội dung chương trình môn lịch sử lớp 4. Với dòng thời gian kéo dài từ buổi đầu dựng nước (700 năm trước Công Nguyên đến đầu thời Nguyễn giữa thế kỉ XIX) được chia làm 8 giai đoạn, 26 sự kiện lớn, 22 mốc thời gian cụ thể, rất nhiều đời vua, nhiều tên nước và nhiều kinh đô khác nhau.

    1. MỞ ĐẦU: 1.1. Lí do chọn đề tài Trong bài "Nên học sử ta" ghi trên báo "Việt Nam Độc lập" Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: "Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà việt Nam" Đất nước ta, nhân dân Việt Nam ta đã trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước với nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng. Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền thống của dân tộc. Lịch sử là chiếc nôi để các em hiểu biết và hướng về cội nguồn lịch sử dân tộc. Dạy học lịch sử không chỉ khơi dậy các nhân vật, sự kiện lịch sử mà làm tái hiện lại một cách sống động lịch sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử không thể tái hiện lại trước mắt học sinh ở trong phòng thí nghiệm hoặc trong thực tiễn mà thông qua việc tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tạo ra những biểu tượng về con người và hoạt động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Dạy Lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết, nắm vững kiến thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Do vậy, việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi, tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con người mới xã hội chủ nghĩa. Môn Lịch sử nói chung, phân môn Lịch sử lớp 4 bậc Tiểu học nói riêng đều nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Về nội dung chương trình môn lịch sử lớp 4. Với dòng thời gian kéo dài từ buổi đầu dựng nước (700 năm trước Công Nguyên đến đầu thời Nguyễn giữa thế kỉ XIX) được chia làm 8 giai đoạn, 26 sự kiện lớn, 22 mốc thời gian cụ thể, rất nhiều đời vua, nhiều tên nước và nhiều kinh đô khác nhau. Với thời lượng 1tiết/tuần của phân môn lịch sử. Nếu giáo viên chỉ đơn thuần dựa vào sách hướng dẫn học mà không nghiên cứu sâu về phương pháp giảng dạy thì học sinh khó có thể ghi nhớ được lượng kiến thức lớn như đã nêu. Mặt khác, thực tế hiện nay, học sinh ở các bậc học nói chung đều không yêu thích học môn Lịch sử mà thường dành nhiều thời gian cho việc học Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Nhiều năm gần đây, tình hình HS học và tiếp thu, ghi nhận những kiến thức Lịch sử của dân tộc, của đất nước khá hạn chế. Đặc biệt là kết quả thi của bậc học THPT còn quá thấp làm cho dư luận không khỏi băn khoăn suy nghĩ và đặt ra câu hỏi tại sao các em lại ngại, lại không thích học hay thờ ơ với Lịch sử dân tộc, thờ ơ với Lịch sử đất nước như vậy? Đây là nỗi đau, sự trăn trở của người thầy, cô trước vấn đề này. Trước thực trạng đó tôi đã rất trăn trở trong việc đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào để các em hứng thú trong học tập và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử. Đó cũng chính là lí do thúc đẩy tôi chọn đề tài "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4 theo mô hình dạy học mới VNEN" làm đề tài nghiên cứu. 1.2. Mục đích nghiên cứu: - Với đề tài này, tôi mong muốn được nâng cao nhận thức của bản thân về việc dạy học Lịch sử cho học sinh, tìm ra các biện pháp khắc phục tồn tại, khó khăn, giúp giáo viên soạn giảng linh hoạt, trên cơ sở đó giúp học sinh hình thành kỹ năng học Lịch sử hiệu quả. - Cung cấp những tri thức thực tiễn về tổ chức dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4. - Đề xuất một số biện pháp thực hiện dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4 theo hướng tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy môn Lịch sử lớp 4. 1.3. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 4. Phương pháp dạy, học môn Lịch sử ở lớp 4. 1.4 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp phân tích tổng hợp Phương pháp điều tra, quan sát Phương pháp trải nghiệm Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu Phương pháp nghiên cứu sản phẩm + Phương pháp đàm thoại - gợi mở. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm 2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận. 2.1.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy học Lịch sử. Để có giờ dạy Lịch sử thành công, chúng ta cần hiểu rõ về đặc điểm nhận thức và quá trình tư duy của học sinh. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh là cơ sở nền móng của việc xây dựng các phương pháp dạy học lịch sử ở Tiểu học. Lịch sử vốn là một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ. Chính vì thế, nhiệm vụ dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại và tương lai. Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học còn non yếu, chưa đầy đủ, sâu sắc và chưa đạt đến trình độ tư duy khái quát cao nên việc trình bày và giảng dạy kiến thức phải hết sức đơn giản, nhẹ nhàng, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ. Đặc biệt, tư duy của các em luôn dựa trên các hình ảnh lịch sử cụ thể nên khi trình bày phải hết sức coi trọng việc tạo biểu tượng cụ thể. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành năng lực học lịch sử cho học sinh Tiểu học. 2.1.2. Cơ sở sử học của việc dạy học Lịch sử trong trường Tiểu học. Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được thực hiện ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp HS tiếp cận với tri thức mới, nhằm thay đổi cách dạy học truyền thống "thầy giảng - trò nghe, thầy đọc - trò chép". Theo quan điểm dạy học mới, dạy học là quá trình HS tự khám phá, tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn Lịch sử cũng không nằm ngoài định hướng đó. Đặc trưng nổi bật của nhận thức Lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ. Vì vậy nhiệm vụ tất yếu của dạy Lịch sử là phải tái hiện lại bức tranh Lịch sử, cho HS tiếp cận những thông tin từ sử liệu, các sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiêu biểu - người thật, việc thật trong lịch sử, những chứng cứ, những dấu vết của quá khứ. Tạo ra ở HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các nhân vật, sự kiện Lịch sử mà vẫn phải đảm bảo tính chính xác, khoa học; tính tư tưởng chính trị; tính vừa sức; tính thực tiễn - học đi đôi với hành. Lịch sử không chỉ là môn học có tác dụng quan trọng trong việc phát triển trí tuệ mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho thế hệ trẻ. Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 (khóa VIII) chỉ rõ: "Để nền giáo dục phát triển bền vững, xây dựng lớp thế hệ trẻ có đủ đức, tài thì bên cạnh các môn khoa học tự nhiên, cần coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý và Văn hóa Việt Nam". Nhưng trong thực tế, một bộ phận GV và cả HS vẫn còn những nhận thức chưa đúng về môn Lịch sử, xem nhẹ vai trò của Lịch sử, thờ ơ với môn học này dẫn đến chất lượng dạy và học không cao. Như vậy, muốn đào tạo con người phát triển toàn diện thì vấn đề cấp thiết là thay đổi cách dạy, cách học môn Lịch sử. 2.2. Thực trạng dạy - học Lịch sử ở trường Tiểu học. * Thuận lợi: Chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới Việt Nam gọi tắt là VNEN được phân chia theo từng giai đoạn hay gắn với từng triều đại lịch sử. Các đề mục trong sách giáo khoa đã được biên soạn sắp xếp thành một hệ thống khoa học, kênh hình, kênh chữ rõ ràng, màu sắc đẹp. Hình thức học thể hiện rất rõ nét, HS có thể tự điều hành lẫn nhau để tìm hiểu nội dung kiến thức. Sau mỗi bài đều có các bài tập vận dụng và có cả Hoạt động ứng dụng (Tìm kiếm sự hỗ trợ của người thân ) để củng cố, mở rộng kiến thức đã học Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen dần với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh. Học sinh đã có ý thức hơn trong học tập, việc tổ chức các hoạt động học,chủ động tìm hiểu kiến thức thông qua logo hướng dẫn học, bước đầu có ý thức học hỏi, tìm tòi, khám phá về Lịch sử. * Khó khăn Về nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN cũng giống như chương trình trước đây nhưng cách chia nội dung bài theo sách VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Sự liên kết về mặt thời gian của các triều đại trong từng giai đoạn còn chưa rõ ràng . Nội dung bài khá dài và dàn trải. Thiết bị dạy học phục vụ cho việc dạy học môn Lịch sử trong nhà trường còn nhiều hạn chế, thiếu tranh ảnh, mô hình, sa bàn, tư liệu Nhận thức, quan niệm của một bộ phận GV đặc biệt là phụ huynh còn xem nhẹ môn Lịch sử mà chỉ chú trọng vào các môn Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh. Vì vậy nên chưa đầu tư, quan tâm đúng mức vào chất lương dạy và học cho môn Lịch sử. Tình trạng GV khi dạy thường cắt xén thời gian, nội dung, chương trình còn HS học Lịch sử chỉ để đối phó vẫn còn xảy ra. Với HS lớp 4, môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ đối với chính các em,Trong khi muốn cho HS yêu thích, hứng thú với môn học lại phụ thuộc rất lớn vào GV, việc dạy môn Lịch sử không hấp dẫn, khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, tưởng tượng, khái quát hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc (nhanh nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em chưa lưu loát, do đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của môn học. Tinh thần hợp tác chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một số em còn thụ động, các em chưa biết cách theo dõi kênh chữ kết hợp kênh hình để tìm hiểu nội dung bài. Vì vậy, sau thời gian tiếp cận với môn học, tôi đã khảo sát HS và thu được kết quả như sau : Thời gian Kết quả đạt được Hoàn thành Tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Đầu năm học: 2022- 2022 Tổng số HS 4A(30 em) 3 10 19 63,6 8 26.4 Có thể thấy rằng, số HS thích học, tìm hiểu về Lịch sử đạt ở mức hoàn thành tốt kết quả chưa cao. Vẫn còn nhiều HS ở mức chưa hoàn thành. Vì vậy, việc hình thành kiến thức lịch sử để tiến tới bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng tự tôn, tự cường dân tộc cho mỗi học sinh chính là cái đích của dạy lịch sử mà mỗi giáo viên mong muốn. Giáo viên cần phải có những biện pháp phù hợp để dạy Lịch sử cho học sinh. Đó cũng là lí do để tôi đưa ra các biện pháp áp dụng vào dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử 4. 2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4. 2.3.1. Biện pháp 1: Góp phần nâng cao nhận thức và quan điểm về môn học Lịch sử. Trên thực tế giảng dạy, tôi thấy môn Lịch sử chưa tìm được chỗ đứng xứng đáng trong nhà trường, số tiết vào loại ít nhất (1tiết/ tuần). Nội dung kiến thức dài và có phần cứng nhắc, HS ngại học.Vì vậy, phải có sự thay đổi mang tính cách mạng về quan niệm đối với môn Lịch sử. Phải xây dựng và hình thành quan niệm đúng đắn về vị trí và tầm quan trọng của môn Lịch sử từ các cấp quản lí giáo dục đến cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: "Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử và văn hóa dân tộc và nhân loại, không có một niềm tự tin dân tộc, thì làm sao có thể hoàn chỉnh được phẩm chất của người công dân Việt Nam. Từ đặc điểm đó, vấn đề được đặt ra là: * Đối với giáo viên: Phải luôn xác định rằng muốn các em học tốt môn Lịch sử thì giáo viên phải là người yêu thích Lịch sử, phải tự trang bị cho mình kho tàng kiến thức về lịch sử. Việc bồi đắp kho tàng này không bao giờ là đủ mà phải được thực hiện liên tục, thường xuyên suốt cuộc đời. Bởi vậy, tôi luôn tìm đọc những cuốn sách về lịch sử, những câu chuyện, bộ phim lịch sử, các tài liệu trên mạng internet để hiểu hơn về lịch sử dân tộc cũng như thế giới. Giáo viên có yêu lịch sử thì mới có thể truyền được tình yêu đó đến học sinh của mình bởi vì ở cấp tiểu học các em xem giáo viên như thần tượng, như một chuẩn mực để các em hướng đến, các em bắt chước, làm theo. Với mô hình trường học mới VNEN phương pháp dạy và học đã có sự thay đổi, học sinh được chủ động học tập, chủ động tìm hiểu kiến thức song các em chỉ máy móc làm theo câu lệnh của sách chứ thực ra cũng không hiểu hoặc không nắm được cách học, cách ghi nhớ. Do đó, giáo viên vẫn là người đóng vai trò rất quan trọng. Lời giảng,lời kể của giáo viên rõ ràng, truyền cảm sẽ gây được sự chú ý của học sinh. Giáo viên phải nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tài liệu, nắm vững các kiến thức cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo hệ thống kiến thức chính xác, từ đó có phương pháp giảng dạy thích hợp. Ví dụ: Nếu giải quyết chung một đề tài khó thì cần có sự đan xen về trình độ học sinh trong cùng một nhóm để các em hỗ trợ cho nhau. Nhưng cũng có lúc, tôi tạo điều kiện cho các em học sinh còn chậm, còn nhiều hạn chế cùng làm việc với nhau theo nhóm và dành riêng cho các em một đề tài dễ hơn . Đây cũng là lúc tôi phát huy vai trò của mình " Dạy học phân hóa đối tượng học sinh." Trong quá trình giảng dạy, tôi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bài học qua từng hoạt động học tập. Phân chia thời gian hợp lý. Có hình thức khen thưởng, khuyến khích học sinh tích cực phát biểu ý kiến, tham gia xây dựng bài, tránh tối đa hình thức xử phạt, la mắng làm học sinh tự ti mà thu mình lại . * Đối với học sinh: Phải thay đổi suy nghĩ về môn Lịch sử bởi đây chính là môn học giúp HS tìm về cội nguồn dân tộc. Đây cũng là môn học bổ trợ kiến thức cho các môn học khác. * Đối với phụ huynh: Thay đổi quan điểm, nhận thức Lịch sử chỉ là môn phụ nên không cần dành nhiều thời gian mà chỉ tập trung vào những môn cần thiết. Phụ huyngh phải thấy được trách nhiệm, vai trò của mình trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc từ đó giúp HS hiểu và có trách nhiệm với môn học, với chính bản thân mình. Ở tiểu học, phụ huynh có thể đọc sách cùng con, cùng tìm hiểu về các sự kiện, các trận đánh hay nhân vật, triều đại Lịch sử trên cơ sở định hướng, khắc sâu kiến thức và khơi gợi cho con ham thích tìm hiểu về Lịch sử nước nhà, từ đó sẽ yêu thích môn học hơn. 2.3.2.Biện pháp 2: Trên sơ sở nắm vững chương trình, nội dung dạy học Lịch sử lớp 4. Phân loại dạng bài và xác định những phương pháp dạy học phù hợp Các bài học Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Vì vậy, ở mỗi bài sẽ có sự vận dụng phương pháp dạy học cho từng tiết khác nhau. Do đó, GV cần xác định linh hoạt phương pháp dạy học cho từng nội dung kiến thức phù hợp. . a) Dạng bài có nội dung về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa- xã hội. Gồm các bài dạy: Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm 700 TCN đến năm 179 TCN) - Tiết1: Nhà nước Văn Lang; Nhà nước Âu Lạc; Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập - Tiết1: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc; Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226) - (Tiết 1&2); Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần. Bài 6: Nhà Hồ. Bài 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê. Bài 9: Trịnh - Nguyễn phân tranh; Công cuộc khẩn hoang và sự phát triển của thành thị. Sau mỗi bài học HS nắm được: - Hoàn cảnh, địa phận, thời gian ra đời và tồn tại của nhà nước; tên vua, tên nước, nơi đóng đô, - Hiểu một cách đơn giản về tổ chức bộ máy nhà nước. - Biết được những nét chính về đời sống kinh tế, vật chất; văn hóa tinh thần của con người trong xã hội. - Vẽ hoặc mô tả đơn giản bộ máy chính quyền nhà nước. - So sánh ở mức độ thấp tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của các triều đại hoặc các giai đoạn lịch sử khác nhau. Học sinh có thái độ: Có ý thức tìm hiểu lịch sử dân tộc qua các triều đại thông qua phim ảnh, các câu chuyện lịch sử, Vấn đề cần lưu ý: Phải mô tả được tình hình nước ta như thế nào, tình cảnh đất nước, quan lại, chính quyền, cuộc sống nhân dân. Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào và kết quả của những việc làm đó. b) Dạng bài thứ 2: Dạng bài về các nhân vật Lịch sử gắn liền cuộc khởi nghĩa, các trận đánh. Gồm các tiết dạy: Bài 1: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập(Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 (Tiết 2); Chiến thăng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo năm 938 (Tiết 3). Bài 3: Buổi đầu độc lập (Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất do Lê Hoàn chỉ huy). Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (cuộc kháng chiến chống quân Tống lần 2 (Lý Thường Kiệt). Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần (cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. Bài 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời kì Hậu Lê (trận Chi Lăng). Bài 10: Phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn (Quang Trung đại phá quân Thanh). Vấn đề

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Biện Pháp Khả Thi Nâng Cao Chất Lượng Môn Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ
  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học
  • Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8
  • Bằng tâm huyết và kinh nghiệm nhiều năm làm quản lý và giảng dạy, chúng tôi tin rằng không cần chờ đợi cuộc cải cách giáo dục toàn diện, mà ngay từ bây giờ chúng ta vẫn có thể áp dụng những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy môn sử.

    Với vai trò là một Hiệu trưởng trên cương vị lãnh đạo, quản lý và một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng môn Lịch sử mà Trường THPT Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng đã áp dụng thành công.

    1. Ban giám hiệu (BGH) nhà trường cần nhận thức đúng về tầm quan trọng của môn Lịch sử trong việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm công dân với Tổ quốc. Tuy nhiên trên thực tế, không ít BGH chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của môn Sử, mà xem môn Sử là môn phụ nên xem nhẹ và có phần buông lỏng trong quản lý. Về vấn đề này, chúng tôi rất tâm đắc với ý kiến của GS Đinh Xuân Lâm : “Một điều cần khẳng định là có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng đáng lo ngại trong dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông. Nhưng chỉ có một khâu cần phải được ưu tiên giải quyết ngay, nếu giải quyết được khâu này thì các khâu sau mới thông suốt được. Đó là phải có quan niệm đúng về môn Lịch sử từ các cấp quản lý đến cha mẹ học sinh và toàn xã hội”.

    Do vậy, nếu BGH có quan niệm đúng về môn Sử và có sự quản lý tốt thì tâm thế dạy và học môn Sử sẽ khác, kết quả chắc chắn sẽ khả quan hơn. Cơ sở của nhận định này là từ kết quả thực tế ở đơn vị. Nhiều năm nay, trong kỳ thi học sinh giỏi thành phố, môn Lịch sử mang về cho trường Ngũ Hành Sơn rất nhiều giải. Tính từ năm 2006 đến nay, môn Sử đã giành được 30 giải, từ giải khuyến khích cho đến giải nhất.

    2. Mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, đổi mới phương pháp theo hướng hiện đại. Trong đó môn Sử được trang bị 2 phòng, một phòng để bản đồ, tranh ảnh, một phòng trang bị ti vi, máy chiếu để giảng dạy giáo án điện tử. Phòng bộ môn được nối mạng internet để giáo viên khai thác, sử dụng. Chính nhờ được trang bị phương tiện đầy đủ như thế, giáo viên rất tích cực dùng phòng bộ môn sử dụng công nghệ thông tin giảng dạy giáo án điện tử. Qua thăm dò ý kiến, nhiều học sinh cho biết: “Rất hứng thú với giờ học có sử dụng công nghệ thông tin. Những hình ảnh, những thước phim được trình chiếu giúp chúng em nhớ lâu hơn nhân vật, sự kiện lịch sử”. Như vậy, việc đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, khai thác sử dụng công nghệ thông tin giảng dạy giáo án điện tử, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại là 1 trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng. Vấn đề là giáo viên khai thác, sử dụng như thế nào cho hiệu quả mà thôi!

    3. Làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp, tư vấn, định hướng cho học sinh chọn khối thi, trường thi phù hợp với năng lực bản thân. Thực tế, nhiều em có năng lực về ban C nhưng vẫn đăng ký vào ban KHTN theo “tâm lý đám đông” vì thấy nhiều bạn bè theo học ban này. Vậy nên giáo viên khi phát hiện năng khiếu, sở trường của học sinh thì tư vấn, định hướng cho các em lựa chọn khối thi, trường thi phù hợp. Đồng thời có lời khuyên cho các em khi đã xác định thi khối C thì cần có sự đầu tư đúng hướng. Bởi lẽ, cần rút kinh nghiệm từ việc nhiều học sinh có năng lực nhưng thi đại học khối C năm đầu thường “trượt vỏ chuối” và phải thi hai ba năm mới đỗ.

    Với các em dự thi khối C thầy cô nên định hướng cho các em tập trung đầu tư học nhiều, học chắc, học hiểu các môn Văn, Sử, Địa, tránh suy nghĩ sai lầm chỉ cần “học thuộc lòng” là làm bài được. Nên nhớ rằng trong vài năm trở lại đây, đề thi đại học khối C đã có nhiều thay đổi, yêu cầu học sinh phải biết phân tích, tổng hợp, khái quát mới làm được. Tất cả thí sinh thi đỗ đại học khối C những năm gần đây đều là những người có “tố chất”, biết tư duy và có sự đầu tư đúng hướng.

    Trong những năm qua, chúng tôi rất chú trọng điều này, kết quả là rất đáng mừng. Cụ thể, những em được tư vấn, định hướng và có sự đầu tư như tham gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, tập trung đầu tư cho việc học thi khối C…đều đỗ đại học.

    Tất cả những em này đều là thành viên đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sử và thi thành phố đều có giải. Điều đó cho thấy, làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp, tư vấn, định hướng cho học sinh chọn khối thi, trường thi phù hợp với năng lực bản thân… cũng là một giải pháp nâng cao chất lượng.

    Tương tự, khi dạy về nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Lịch sử Việt Nam lớp 12), giáo viên nên cung cấp tư liệu về con đường huyền thoại, con đường thần thánh của dân tộc – đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh vào chúng tôi gõ từ khóa “khám phá huyền thoại tàu không số” hay “Truông Bồn – 40 năm quên và nhớ” để tìm hiểu thêm. Như thế học sinh sẽ hiểu sâu hơn, thấm thía hơn giá trị của hòa bình hôm nay.

    5.Giáo viên cần chú trọng đầu tư cho giáo án. Mà muốn có giáo án tốt cần phải có sự chuẩn bị, sự đầu tư một cách nghiêm túc. Sự chuẩn bị, đầu tư về giáo án không chỉ là việc mua những cuốn sách, giáo án tham khảo trên thị trường hay lên mạng “đao” về rồi dùng lại nguyên xi…mà phải biến những kiến thức có trong những tài liệu tham khảo đó thành kiến thức của mình. Như vậy mới làm chủ được kiến thức, làm chủ giáo án và linh hoạt trong giảng dạy. Nếu không có sự chuẩn bị, đầu tư về giáo án chắc chắn giờ dạy sẽ không hiệu quả. Điều này chúng tôi rút ra từ thực tế của bản thân.

    Tập thể giáo viên trường THPT Ngũ Hành Sơn

    Ngoài ra, trong dạy học, ngôn ngữ, cảm xúc của người thầy hết sức quan trọng. Cho nên cần phải đặc biệt chú ý trau dồi và sử dụng lợi thế này. Nếu GV dạy mà nói bằng giọng đều đều thì sẽ rất là đơn điệu, buồn chán, không lôi cuốn được học sinh. Đó là quy luật lây lan tâm lý, GV nói đều đều, nhỏ, buồn, thiếu khí thế và sự truyền cảm thì làm sao học sinh hào hứng học và tiếp thu bài tốt? Nhưng nếu GV dạy với bầu nhiệt huyết, truyền đạt những nội dung mới mẻ, đem lại nhiều thông tin và cảm xúc thì học sinh cũng cảm nhận và lây lan cái không khí hào hứng mà thầy giáo đem lại, nhờ vậy tiếp thu bài có hiệu quả. Vậy nên để tổ chức giờ dạy hiệu quả, GV cần phải dạy có khí thế bằng cả tâm huyết của mình mới “truyền lửa” cho học sinh.

    6.Vềphía học sinh, GV cần hướng dẫn cho học sinh chuẩn bịbài trước, xem bài trước thì khi lên lớp, họcsinh dễ dàng tiếp thu kiến thức.

    GV phải thường xuyên kiểm tra việc này để đưa học sinh vào nề nếp, coi việc chuẩn bị bài là việc tất yếu phải làm. Có nghĩa là phải tăng cường cho học sinh làm việc với sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Được như vậy đảm bảo giờ dạy sẽ hiệu quả.

    Bên cạnh đó, giáo viên tăng cường cho học sinh làm việc theo nhóm, giao cho nhóm học sinh sưu tầm và làm bài tập theo dạng đề tài khoa học với yêu cầu ở mức độ vừa phải, hướng dẫn học sinh lên mạng tìm kiếm thông tin, sau đó cho thuyết trình, quy định trước là sẽ lựa chọn ngẫu nhiên để tránh sự ỷ lại. Điều này sẽ giúp học sinh có kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin. Với yêu cầu này chúng tôi đã bắt gặp những tài liệu hữu ích do học sinh sưu tầm, những bài tập công phu do học sinh thực hiện. Theo chúng tôi,những học sinh có được kỹ năng như thế, sẽ học tốt môn Lịch sử.

    7. Tổ chức các hoạt động phụ trợ cho việc dạy và học môn Lịch sử, nhất là tổ chức tham quan bảo tàng, các di tích lịch sử…nhằm củng cố, khắc sâu hơn kiến thức lịch sử đã học.

    Gần chục năm nay, hoạt động ngoại khóa tham quan bảo tàng Quân khu V và bảo tàng Hồ Chí Minh là hoạt động thường niên được tổ chức vào dịp 22.12 của tổ Sử Trường THPT Ngũ Hành Sơn, nên chúng tôi có nhiều kinh nghiệm về tổ chức và quản lý cho hoạt động phụ trợ dạy và học môn Lịch sử này.

    Ngoài ra, chúng tôi còn sưu tầm và trình chiếu các phim tài liệu lịch sử như “Cuộc chiến 10.000 ngày”, “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”…Tổ chức tìm hiểu lịch sử địa phương qua phong trào “Tìm hiểu, thi viết về địa chỉ đỏ”. Đây là một hoạt động phụ trợ cho dạy và học Lịch sửrất hiệu quả mà chúng tôi đã thực hiện thành công trong năm học 2009 -2010. Theo đó, giao cho Đoàn trường triển khai bằng văn bản về cuộc thi “Tìm hiểu, viết về địa chỉ đỏ” trên địa bàn Quận cho các lớp với các hình thức như: Ghi chép, phóng sự, phỏng vấn…

    Khi chấm chọn bài trao giải, chúng tôi rất bất ngờ và quá đỗi vui mừng trước nhiều bài dự thi chất lượng từ nội dung đến hình thức, thể hiện sự đầu tư, sáng tạo, và hơn hết là tình cảm rất chân thực, xúc động của học sinh về các “địa chỉ đỏ”- những anh hùng lực lượng vũ trang, những gia đình có công với cách mạng…

    Trong điều kiện hiện nay, thực hiện một cách đồng bộ những giải pháp nói trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng môn Lịch sử, mà hiệu quả của nó đã được thể hiện tại đơn vị Trường THPT Ngũ Hành Sơn trong những năm qua. Thiết nghĩ, các trường THPT, trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý, giáo viên bộ môn Lịch sử nên áp dụng những giải pháp này.

    Phan Văn Tánh – Phạm Đình Được

    ( Trường THPT Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Sang Kien Lanh Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A
  • Một Vài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy
  • Bài Tham Luận Môn Thể Dục Cấp Thcs
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100