Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí

--- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Bài Thơ: Đồng Chí (Chính Hữu
  • Xác Định Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Gần Mực Thì Đen, Gần Đèn Thì Sáng
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Gần Mực Thì Đen Gần Đèn Thì Sáng
  • Biện pháp tu từ trong 7 câu thơ đầu (khổ 1) bài Đồng Chí

    Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

    Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của anh và tôi – của những người lính Cách mạng:

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    + Phép tương đối: hoàn cảnh sống, xuất thân của hai người lính

    + Thành ngữ “nước mặn đồng chua”, hình ảnh “đất cày lên sỏi đá”

    + Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện

    Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp ngữ: kề vai sát cánh, gắn bó keo sơn

    – “Đồng chí” – câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao tình cảm. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan, nó là tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 2) bài Đồng Chí

    Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

    – Hình ảnh “gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câu thơ giúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn của một gia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại.

    – Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ là một sự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công.

    – Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa qua động từ “nhớ: để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi.

    – Sự lặp lại của cụm từ “anh với tôi” cùng từ “từng” đã gợi cho ta cảm xúc đẹp nhất của anh bộ đội cụ Hồ, mặc dù thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần nhưng mà họ luôn sẵn sàng là điểm tựa dành cho nhau.

    – Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính.

    Biện pháp tu từ trong 5 câu thơ tiếp theo (khổ 3) bài Đồng Chí

    Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

    – Phép liệt kê bằng những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi “áo anh rách vai” -“quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn, miêu tả chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến.

    – Cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm rất lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    Biện pháp tu từ trong 3 câu thơ cuối (khổ 4) bài Đồng Chí

    Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo.

    – Rừng hoang sương muối: sự khắc nghiệt của thời tiết, của gian khổ nhưng qua đó thể hiển rõ nét hơn sức mạnh của tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang; giúp họ phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, ý nghĩa cuộc chiến đấu.

    – Động từ “chờ” gợi tới tư thế sẵn sàng, tinh thần trách nhiệm cao cả của người lính.

    – “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh rất thực và cũng rất lãng mạn. “Súng” và “trăng” – hai hình ảnh tưởng như đối lập song lại thống nhất hòa quyện – là cứng rắn và dịu êm – là gần và xa – là thực tại và mơ mộng – là chất chiến đấu và chất trữ tình – là chiến sĩ và thi sĩ.

    – Từ “treo” tạo nên hình ảnh ánh trăng về đêm lơ lửng treo trên đầu súng là hình ảnh tạo nên nét thi vị, đặc sắc hơn cho bài thơ.

    – Nhịp thơ đều đều 2/2/2 – 2/2/3 cô đọng tất cả nét đẹp của những người lính. Ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Cảm nhận nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

    Đồng chí là một bài thơ tiêu biểu của Chính Hữu và của thơ ca Việt Nam hiện đại. Nói đến thơ Chính Hữu là người ta không thể không nhắc tới ba thơ nổi tiếng này.

    Bài thơ được sáng tác vào năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc, đánh dấu sự xuất hiện của một nhà thơ mới trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Bài thơ lúc đầu dán ở báo tường đơn vị, sau in báo Sự thật, rồi được chép vào sổ tay cán bộ, chiến sĩ, được phổ biến rộng rãi, trở thành tài sản chung của mọi người.

    Đồng chí là bài thơ ca ngợi một tình cảm mới, quan hệ mới giữa người với người trong cách mạng và kháng chiến. Đồng chí trong ngôn ngữ sinh hoạt chính trị và đời thường đã thành tiếng xưng hô quen thuộc. khi lí tưởng cách mạng đoàn kết, gắn bỏ mọi người đã bắt rễ sâu vào đời sống. Nhưng mấy ai đã cảm nhận được nội dung tình cảm phong phú mới mẻ chứa đựng trong hai tiếng: Đồng chí?

    Để làm hiện lên nội dung mới lạ trong những từ ngữ quen thuộc, nhà thơ phải dùng phép lạ hóa. (Tất nhiên khi sáng tác nhà thơ cũng chưa biết khái niệm lí luận mới mẻ này). Không phải ngấm nhiím mù bài thơ bắt đầu từ những chi tiết những cái khác biệt và xa lạ. Đây là lời của những người lính tự thấy cái mới lạ của mình… Mỗi người một quê, đất đai canh tác khác nhau, tập quân, phong tục hẳn là cũng khác. Miền biển nước mặn. dốt phèn. Vùng đồi trung du, đất ít hơn sỏi đá. Những con người tự nhận là xa lạ, cách nhau cả một phương trời và chẳng hò hẹn quen nhau. Ấy thế mà có một sức mạnh vô hình vô song đã biến họ thành đôi tri kỉ… Đó là cuộc sống chiến đấu chung đã làm thay đổi tất cả. Hai dòng thơ chỉ có một chữ chung: đêm rét chung chăn, nhưng cái chung đã bao trùm tất cả. Súng bên súng là chung chiến đấu; đầu sát bên đầu là chung rất nhiễu; không chỉ là gần nhau về không gian mà còn cùng nhau ý nghĩ, lí tưởng.

    Đêm rét chung chăn là hình ảnh thật cảm động và đầy ắp kỉ niệm. Những người lính từng đi kháng chiến ở Việt Bắc hẳn không thể quên cái rét của Việt Bắc và của vùng núi rừng nói chung:

    Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế,

    Gió qua rừng, Đèo Khế gió sang

    (Tố Hữu)

    Cũng không ai quên được cuộc sống chung:

    Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng,

    Những cái chung ấy đã biến những con người xa lạ thành tri kỉ.

    Hai tiếng đồng chí đứng riêng thành một dòng thơ là rất có ý nghĩa. Nhà thơ hoàn toàn có thể viết: Đêm rét chung chăn thành đôi đồng chí. Đồng chí và kỉ đều chung một vấn và có thể thay thế cho nhau mà không làm sai vần luật mà bài thơ có thể rút ngắn một dòng. Nhưng nếu viết thế thì hỏng. Đêm rét chung chăn có thể thành tri kỉ, nhưng không thể nói thành đồng chí. Bởi vì đồng chí có hàm nghĩa rộng lớn hơn nhiều. Tri kỉ là biết mình, suy rộng ra là biết về nhau. Đồng chí không chỉ biết mình, biết nhau mà biết cái chung rộng lớn gắn bó con người trên mọi mặt. Hai chữ đồng chí đứng thành một dòng thơ đầy sức nặng suy nghĩ. Nó nâng cao ý thơ đoạn trước và mở ra ý thơ cho đoạn sau. Đồng chí có thể cảm nhận mà khó có thể nói hết.

    Phần hai nói về những tình cảm chung của hai Đồng chí. Những câu thơ chia thành anh, tôi, nhưng giữa họ đều là chung cả. Đoạn hai mở đầu bằng những dòng tâm sự nhớ nhà. Bây giờ họ chia sẻ cho nhau những tình cảm quê hương và gia đình. Đối với những chàng trai áo nâu lần đầu ra trận, nỗi nhớ nhà là thường trực… Đối với người nông dân, làm ruộng là quan trọng nhất. Nhưng việc ấy đành nhờ bạn thân làm hộ. Gian nhà tổ ấm cũng đành chịu hi sinh: mặc kệ gió lung lay. Câu thơ ngang tàng, đượm chất lãng mạn như muốn nâng đỡ con người vượt lên cái bất đắc dĩ của hoàn cảnh. Thử hỏi ai có thể mặc hệ để cho gió thổi làm xiêu đổ nhà mình? Đó là một khoảng tếu nhộn làm se lòng người. Hai dòng thơ đầy ắp nỗi nhớ, mặc dù đến dòng thơ thứ ba thì nỗi nhớ mới xuất hiện:

    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

    Người lính trong thơ Chính Hữu đã rất nhớ nhà, nhớ quê nhưng họ thương nhất vẫn là những người ở nhà đang thương nhớ họ, dõi theo tin tức của họ.

    Hình ảnh giếng nước gốc đa thật đậm. đà, kín đáo mà ý nhị biết bao! Giếng nước gốc đa là những nơi tụ hội của người làng khi trưa nắng, lúc chiều hôm và họ sẽ hỏi thăm nhau về những người trai làng ra trận. Biết bao nhớ nhung. Những người lính không nói mình nhớ, lại chỉ nói người khác nhớ. Đó cũng là cách mình tự vượt lên mình, nên tình riêng vì sự nghiệp chung bằng những lời thật ý nhị, không một chút ồn ào. Bảy dòng cuối dành nói về nỗi gian khổ, cái gian khổ của bộ đội hồi đầu kháng chiến (Thơ Quang Dũng – Tây Tiến, Thôi Hữu – Lên Cẩm Sơn)…

    Chính Hữu không nói cái khổ mà nói về sự hiểu nhau trong cái khổ, cái chung phổ biển giữa họ với nhau… Trong kháng chiến, bệnh sốt rét cơn là phổ biến nhất. Hai câu thơ nêu đủ các triệu chứng của bệnh sốt rét cơn. Những ai nhiễm bệnh, thoạt đầu cảm thấy ớn lạnh, sau đó lạnh tới run cầm cập, đắp bao nhiêu chân cũng không hết rét, trong khi đó thì thân nhiệt lại lên tới 40-41 độ; người vã mồ hôi, vì nóng và vì yếu. Phải trải qua bệnh này mới hiểu được cái thật của câu thơ. Sau cơn sốt đó là da vàng, viêm gan, viêm lá lách…

    Ngoài khổ vì bệnh tật còn cái khổ vì trang bị. Những ngày đầu kháng chiến, chưa có đủ quần áo đồng phục cấp phát, những người lính mang theo áo quần ở nhà, khi rách thì tự và víu, có khi không còn chỉ, phải lấy dây buộc túm chỗ rách. Người ta đùa gọi là vệ túm. Ở đây, anh rách, anh và thông cảm lẫn nhau… Miệng cười buốt giá hẳn là cười trong buốt giá vì áo quần không chống được rét mà cũng là nụ cười vượt lên giá buốt, mặc dù trời lạnh nên nụ cười cũng khó mà tươi! Cũng có thể là nụ cười nhợt nhạt, xanh xao. Nhưng vẫn cười coi thường gian khổ.

    Nhà thơ không viết nụ cười mà viết miệng cười có lẽ vì từ nụ cười khá trừu tượng. Vả lại nhà thơ chỉ muốn nói một cách cụ thể cái miệng với đôi môi nhợt nhạt ấy. Chân không giày cũng là một thực tế phổ biến và cái nổi lên là tình thương yêu đồng đội. Thương nhau tay nắm lấy bàn tay là một hình ảnh rất ấm áp. Chỉ với 5 dòng thơ, tác giả đã vẽ lên chân dung anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến nghèo khổ, thiếu thốn nhưng tình Đồng chí sưởi ấm lòng họ.

    Nếu đoạn một nói về sự hình thành đồng chí, đoạn hai nói về tình cảm hiện đại thì đoạn ba nói về hành động chiến đấu của họ:

    Đêm nay rừng hoang sương muối

    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

    Đầu súng trăng treo.

    Từ nhận thức chung, tình cảm chung, bài thơ kết vào hành động. Thời gian, không gian trở nên cụ thể, công việc cụ thể. Nhưng không phải vì thế mà công việc thay thế chất thơ. Câu kết là một hình ảnh nổi tiếng cô đọng, ý vị…. Một hình ảnh bất ngờ. Súng và trăng là hai vật cách xa nhau và chẳng có liên hệ gì với nhau trong không gian. Hình ảnh này chỉ có thể là phát hiện của người lính.

    Súng lăm lăm trong tay chờ giặc và bất ngờ cảm thấy như mảnh trăng treo lửng lơ ngay trên đầu ngọn súng. Người không cầm súng không thể cảm thấy cảnh đó được. Rừng hoang sương muối buốt giá. Những người lính rách rưới đứng gác cạnh nhau và vầng trăng như cũng đứng chung với người. Trăng là biểu trưng cho trong sáng và mộng mơ. Đấu súng chiến đấu của người đồng chỉ có thêm vầng trăng đã mở ra biết bao liên tưởng phong phú. Đồng thời câu thơ bốn tiếng nén lại, dồn vào bên trong, tạo thành cái kết không lời. Đoạn một và hai toàn những lời tâm sự. Đoạn cuối là bức tranh cổ điển, hàm súc dư ba.

    Đồng chí là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách cô đọng, rất kiệm lời của Chính Hữu.

    Từ khóa tìm kiếm

      noi dung nghe thuat dong chi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Câu Thơ Thứ Hai Của Bài Qua Đèo Ngang Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Nội Dung & Nghệ Thuật Bài Thơ Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Tóm tắt những giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí

    I. Tìm hiểu chung

    – Chính Hữu,tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh.

    – 1946,ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và tham gia hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc: kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ.

    – 1947, ông bắt đầu sáng tác thơ và chủ yếu viết người lính và chiến tranh với cảm xúc dồn nén,ngôn ngữ cô đọng.

    – 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng HCM về văn học – nghệ thuật.

    – Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo (1966), Ngọn đèn đứng gác….

    – Bài thơ Đồng chí được sáng tác năm 1948 – giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời điểm ấy,bộ đội, nhân dân ta sống và chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, gian khổ, thiếu thốn.

    – Bài thơ xuất hiện lần đầu tiên trên tờ bích báo của đại đội in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966).

    – Bố cục: 3 phần

    + Bảy câu thơ đầu: Cơ sở hình thành của tình đồng chí, đồng đội gắn bó

    + Mười câu thơ tiếp: Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.

    + Ba câu thơ cuối: Bức tranh đẹp về tình đồng chí, biểu tượng cao cả của cuộc đời người chiến sĩ.

    II. Đọc – hiểu văn bản

    a. Bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân:

    – Tình đồng chí của “tôi” và “anh” bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân. Nếu như “anh” đến từ nơi ”nước mặn đồng chua” thì “tôi” xuất thân từ vùng quê “nghèo đất cày lên sỏi đá”.

    “Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

    Hai con người đến từ những vùng quê nghèo khó của tổ quốc “chẳng hẹn quen nhau”. Họ gặp nhau vì cùng chung lí tưởng Cách mạnh, vì tình yêu với tổ quốc lớn lao. Đây cũng là trọng tâm làm nên giá trị nội dung và nghệ thuật bài thờ Đồng chí.

    “Anh với tôi đôi người xa lạ

    Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”.

    b. Cùng chung mục đích, lí tưởng chiến đấu:

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

    – Điệp từ, hình ảnh sóng đôi mang ý nghĩa tượng trưng.

    c. Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn:

    – Mối tính tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị, gợi cảm:

    “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”.

    Tử quen nhau đến thành tri kỉ, từ “chẳng hẹn” đến “súng bên súng, đầu sát bên đầu” rồi đến “đêm rét chung chăn”, những người lính chia sẻ với nhau những gian khó của cuộc chiến để trở thành tri kỉ trong nhau. Đây là điểm sáng mang lại nhiều giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí.

      Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:

      a. Sự thấu hiểu những tâm tư, nỗi lòng của nhau:

    – Các anh là những người lính gác tình riêng, ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnh trời quê hương với bao băn khoăn, trăn trở.

    “Anh trai làng quyết đi giết giặc lập công”.

    – Hình ảnh “gian nhà không ” vừa gợi cái nghèo, cái xơ xác của những miền quê lam lũ, vừa gợi sự trống trải trong lòng người ở lại.

    “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” là cách nói tế nhị, giàu sức gợi. Quê hương nhớ người đi lính hay chính những người ra đi luôn nhớ về quê hương. Thủ pháp nhân hóa và hai hình ảnh hoán dụ đã biểu đạt sâu sắc tâm trạng, nỗi niềm của những người lính nơi chiến tuyến. Nhớ về quê hương cũng chính là cách tự vượt lên mình, vượt lên tình riêng vì sự nghiệp chung của đất nước. Tóm tắt những giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí không thể bỏ qua những hình ảnh đắt giá này.

    b. Chia sẻ cùng nhau những gian lao, thiếu thốn của cuộc chiến:

    – Tôi với anh cùng chịu đựng những cơn sốt rét rừng, cùng trải qua những ốm đau bệnh tật. Anh với tôi cùng chia nhau sự thiếu thốn trong cuộc đời quân ngũ:

    “Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày”.

    – Những chi tiết tả thực, hình ảnh sóng đôi đã góp phần tái hiện chân thực những khó khăn, gian khổ của cuộc đời người lính trong buổi đầu kháng chiến. Các anh đã cùng nhau gánh vác, cùng nhau chịu đựng… Chính tình đồng đội đã giúp họ lên cái “buốt giá” của mùa đông chiến đầu để rồi tỏa sáng nụ cười và càng thương nhau hơn.

    – Hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” có sức gợi nhiều hơn tả với nhịp thơ chảy dài. Đây là cách thể hiện tình cảm chân thanh, mộc mạc của người lính. “Tay nắm lấy bàn tay” để truyền cho nhau hơi ấm của tình đồng đội, niềm tin chiến thắng, truyền cho nhau sức mạnh của tình đồng chí. Cái nắm tay ấy còn là lời hứa hẹn lập công.

    – Từ những tình cảm chân thành, mộc mạc, gắn bó và những gian khó, thiếu thốn nơi chiến trường hiểm ác, tác giả đã kết thúc bài thơ bằng một câu thơ mang đậm chất lãng mạn, nghệ thuật:

    “Đầu súng trăng treo”.

    “Trăng” là biểu tượng của cái đẹp, của cái tròn đầy, viên mãn, trăng khơi gợi nỗi nhớ, tình yêu và niềm hạnh phúc vẹn toàn. Trong khi đó ” súng” lại biểu tượng cho chiến tranh, cho hiểm nguy. Sự kết hợp giữa “đầu súng” và “trăng” mang đến cảm giác thiêng liêng nhưng không kém phần thi vị, lãng mạn. Chất hiện thực và chất trữ tình trong câu thơ đã góp phần nâng giá trị của thi phẩm bao gồm cả giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí.

    III. Tổng kết:

    Những giá trị nội dung và nghệ thuật bài thơ Đồng chí, cụ thể như sau:

    Bài thơ ngợi ca tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn giữa lửa đạn chiến tranh, đồng thời khắc họa những khó khăn thiếu thốn của cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ.

    – Thể thơ tự do với những câu dài ngắn đan xen đã giúp cho nhà thơ diễn tả hiện thực và bộc lộ cảm xúc một cách linh hoạt.

    – Hình ảnh thơ cụ thể, xác thực mà giàu sức khái quát. Ngôn ngữ thơ hàm súc,cô đọng, giàu sức biểu cảm.

    – Sử dụng nhiều từ ngữ đắt giá

    – Hình ảnh thơ song hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7
  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Phân Tích Hệ Thống Các Biện Pháp Nghệ Thuật Thể Hiện Nhân Vật Chí Phèo Trong Truyện Ngắn “chí Phèo”

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm “chí Phèo” Hay Nhất (4 Mẫu)
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Chí Phèo
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Chí Phèo
  • Giá Trị Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Chí Phèo Của Nam Cao
  • Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • Đề bài: Anh (chị) hãy vận dụng cách tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống để phân tích hệ thống các biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao.

    Bài làm

    “Chí Phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của Nam Cao góp phần khẳng định tài năng và vai trò của ông trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Tác phẩm được coi là một sự kiện đánh dấu bước ngoặt đổi mới về nghệ thuật trong nền văn xuôi nước nhà. Kể từ khi truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời cho đến nay đã thu hút rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nó trên nhiều lĩnh vực, từ chuyên ngành văn học hiện đại, văn học dân gian cho đến lí luận văn học. Đây còn là mảnh đất màu mỡ trong các lĩnh vực nghệ thuật khác như điện ảnh, hội họa,…Và, có lẽ nhân vật được bạn đọc biết đến nhiều nhất, ấn tượng nhất, yêu thích trong “Chí Phèo” nói riêng và các tác phẩm của Nam Cao nói riêng chính là Chí Phèo. Thậm chí, Chí Phèo còn vượt tầm thời đại , trở thành nhân vật đi cùng năm tháng trong nền văn học Việt Nam. Để có được sự thành công này không phải tự nhiên mà có. Vậy những yếu tố nào đã khiến cho Chí Phèo có sức hút và sức bền trong lòng độc giả như vậy? Đã có nhiều công trình, nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm hiểu về vấn đề này theo các phương pháp, các hướng tiếp cận khác nhau và việc tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống phân tích các biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật cũng là một hướng đi được vận dụng rộng rãi trong văn chương.

    Phương pháp hệ thống là phương pháp có đối tượng nghiên cứu là các hệ thống trong thiên nhiên hoặc xã hội, hoặc là một phương pháo dùng mô hình hệ thống để nghiên cứu các sự vật. Phương pháp sáng tác theo quan điểm hệ thống luôn xem các yếu tố trong quan hệ tương tác qua lại, chi phối lẫn nhau, yếu tố này dựa vào yếu tố kia để tạo nên chỉnh thể hệ thống. Các biện pháp nghệ thuật được Nam Cao sử dụng để thể hiện nhân vật Chí Phèo gồm có các yếu tố: tả , kể, đối thoại, độc thoại, tâm tình…Ta xét đến mối quan hệ tương tác qua lại giữa các yếu tố đó với nhau và rộng hơn với là kết cấu, ngôn từ của tác phẩm. Tất cả chúng cộng gộp, phối hợp một cách nhuần nhuyễn để tạo nên hình ảnh một Chí Phèo vô cùng sinh động.

    Chí Phèo là nhân vật điển hình cho người nông dân bị lưu manh hóa , tiêu biểu cho số phận cực khổ của người nông dân bị đè nén bóc lột vừa tiêu biểu cho sự tha hoá phổ biến trong xã hội tàn phá tâm hồn con người – ngòi bút Nam Cao đã đạt tới một sức mạnh phê phán mãnh liệt, sâu sắc, ít có. Vẽ nên hình ảnh người nông dân lưu manh đầy thú tính, “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” hung hãn chuyên gây sự “giở toàn những giọng uống máu người không tanh”, Nam Cao đã miêu tả , ví con so sánh Chí Phèo với loài vật, đồ vật : “Hắn về lần này trông khác hẳn , mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế..“; ” Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay là ngoài bốn mươi ? Cái mặt hắn không trẻ cũng không già: nó không còn phải là mặt người: nó là mặt của một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi ? Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là vết sẹo…” Cái hình dạng xấu xí, dị dạng này không phải tự dưng từ lúc đẻ ra mà có, đây là lúc hắn mới đi tù về. Chí Phèo đã bị hoàn cảnh làm méo mó đến mất cả nhân hình. Không chỉ được miêu tả về cái hình dáng, nhà văn Nam Cao còn miêu tả hành động của hắn. Bắt đầu là từ tiếng chửi : ” Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. Có hề gì ? Trời có của riêng nhà nào ? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Ðại… Ðã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này ? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo”. Tiếng chửi của một kẻ say rượu mở đầu cho một tác phẩm đã gợi cho người đọc sự tò mò. Tiếng chửi thoạt nghe như vô ý, tiếng chửi càn của kẻ bất mãn, của kẻ say nhưng lại vô cùng logic. Tiếp đó Nam Cao miêu tả một loạt hành động của Chí Phèo: đốt quán, rạch mặt ăn vạ, đòi tiền Binh Chức…Chí Phèo ngày càng trượt dài trên con đường tha hóa, trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến, vô tình phá hoại hạnh phúc bao gia đình mà không hay. Chí Phèo làm mất nhân hình lẫn cả nhân tính. Người đọc dễ dàng nhận ra điều ấy qua sự miêu tả các hành động của hắn. Nhìn Chí Phèo lúc này thì mấy ai nghĩ rằng trước đây hắn từng là một anh nông dân hiền lành, chất phác. Nam Cao lại sử dụng bút pháp miêu tả, chỉ một câu miêu tả trạng thái của Chí khi bóp đùi cho bà ba: “vừa bóp đùi cho bà ba vừa run run” mà cái bản chất hiền lành như đất của anh Chí trước đây hiện lên đầy đủ. Một kẻ suốt ngày chìm trong men say như Chí Phèo lại có lúc sợ rượu: “Hắn thấy nôn nao, chân tay bủn rủn như đến ba ngày nhịn đói. Thế mà bụng lại phinh phính đầy, hình như bụng hơi đau…..Đau thật, đau mỗi lúc một dữ! Nó cứ cuồn cuộn lên. À mà trời lành lạnh. Hễ có gió thì kinh kinh. Mỗi lần gió, hắn thấy rươn rướn người. chúng tôi đầu nặng quá mà chân thì lẩy bẩy. Mắt hắn hoa lên. Bụng quặn lại, đau gò người…”; “Hắn đờ hai mắt ra khẽ rên”. Tác giả miêu tả rất kĩ tình trạng , cảm nhận của Chí Phèo khi say rượu. Ông còn tả rất kĩ, rất đẹp cảnh sắc thiên nhiên “trời lành lạnh”, “trăng rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng”. Đây là lần đầu tiên Chí Phèo được hưởng hạnh phúc, biết đến cuộc sống gia đình là như thế nào. Trước đây hắn chưa khi nào tỉnh, cũng chẳng muốn tỉnh: “Những cơn say cuả hắn tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài mênh mông.. Chưa bao giờ hắn tỉnh.. để nhớ rằng có hắn ở trên đời.. Hắn cũng không biết hắn là con quỷ dữ làng Vũ Đại, tác quái cho bao nhiêu dân làng…”. Tỉnh làm gì rồi để thấy mình cô độc, để thấy mình đã bị cộng đồng đào thải, xa lánh. Có lẽ vì thế Nam Cao đã miêu tả rất chậm cái quãng thời gian ngắn ngủi năm ngày Chí Phèo, Thị Nở bên nhau, dùng những hình ảnh đẹp nhất tạo nên một bức tranh tình yêu và hạnh phúc, ấm áp của gia đình. Năm ngày so với thời gian của một đời người chẳng đáng là bao nhưng lại là quãng thời gian có ý nghĩa nhất với Chí Phèo. Con quỷ gớm ghiếc đó ai mà tin rằng cũng có những lúc lại mềm yếu, có những giây phút suy tư về cuộc đời mình, về những ước mơ một thuở xa xăm. Lần đầu tiên hắn tỉnh rượu kể từ khi ra tù:”hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng hắn đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như người ốm thường sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!” Hiện tại lay thức lương tâm thành tiếng thở dài não nuột ” Chao ôi là buồn!”.. Một nỗi buồn đáng quý, bởi nó đã khơi lại những giấc mơ giản dị của một thời lương thiện: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm” . Nam Cao lại dùng những dòng miêu tả tâm lí nhân vật để làm nổi bật nên cái bản chất sâu xa từ bên trong của nhân vật, cho bạn đọc thấy được những biến đổi tinh tế trong tâm hồn “con quỷ” ấy.” Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình ươn ướt”. Chí Phèo đã có dấu hiệu của sự khao khát sống, sống như một con người đích thực. Hắn mong được trở về với nhân loại và dồn hết hi vọng nơi Thị Nở. Bát cháo hành giống như một liều thuốc kích thích khiến con quỷ trong hắn biến mất hoàn toàn. Chí Phèo từ ngạc nhiên chuyển sang cảm động. Đây là tâm lí của một người chưa bao giờ được yêu thương và nhất là bàn tay chăm sóc của một người phụ nữ. Rồi hắn thấy say thị, hắn thấy thị vậy mà lại có duyên, hắn thèm lương thiện, hắn cười nghe thật hiền… hắn khóc rồi làm nũng với Thị Nở như một đứa trẻ con… Qua việc miêu tả : miêu tả ngoại hình, hành động, tâm trạng của Chí Phèo, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh một Chí Phèo sống động tới mức có thể sờ thấy, cảm thấy.

    Những diễn biến tâm lí của Chí Phèo còn được làm sinh động và rõ ràng hơn qua hệ thống độc thoại. Ngay từ lúc đầu vào tác phẩm, tiếng chửi của Chí Phèo cũng có thể coi là một độc thoại, tuy chỉ có nội dung tiếng chửi, không cụ thể thành lời trong ngoặc kép. Tiếng chửi ấy đã cho thấy sự cô đơn, lạc loài của Chí Phèo sau 7, 8 năm ở tù ra. Rồi những suy nghĩ nội tâm khi hắn đến rạch mặt ăn vạ ở nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến dùng lời lẽ dụ hoặc: “hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại lừa hắn và nhà rồi lôi thôi ? Ồ mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng, đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi vu cho là ăn cướp thì sao ? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớp cái nước gì mà phải chịu lép như trấu thế ? Thôi dại gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào. Nhưng nghĩ ngợi một tí, hắn lại bảo: kêu lên cũng không nước gì! Lão bá vừa nói một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa, liệu có còn ai ra ? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm mấy nhát thì cũng đau. Thôi cứ vào! Vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập đầu thì vào ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó có giở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù. Ở tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào”…Đặc biệt, độc thoại tâm tưởng diễn ra khi mà “thị ngoay ngoáy cái mông đít bỏ đi” về với bà cô thị sau năm ngày sống chung với Chí Phèo. Hắn nghĩ sẽ ” tự phải đến cái nhà con đĩ Nở kia. Ðến để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó. Nếu không đâm được, lúc ấy hãy đập đầu kêu làng” rồi hắn tự nói “Tao phải đâm chết nó!“. Ở đây, sự nhập thân của tác giả vào tâm trạng nhân vật bộc lộ những suy nghĩ nội tâm, sự đau khổ nghiệt ngã của một con người bị đẩy vào bước tha hóa, lưu manh hóa nhưng không chịu tha hóa đến cùng, muốn trở lại làm người lương thiện nhưng phải trả bằng cái giá rất đắt: chính là mạng sống của mình. Hắn uống rượu nhưng càng uống càng tỉnh, hắn nhận ra bi kịch cuộc đời mình rõ hơn bao giờ hết. Tiếng khóc bật ra , hắn ôm mặt khóc rưng rức. Hắn ngửi thấy hơi cháo hành. Chí Phèo đã đặt niềm tin rất lớn vào Thị Nở có thể cứu vớt hắn thoát khỏi kiếp sống như một con quỷ bị mọi người xa lánh. Nhưng Thị Nở đã cự tuyệt hắn, từ chối hắn, niềm tin đổ vỡ, đó là nỗi đau không gì bù đắp nổi trong hắn. Miêu tả tâm lí nhân vật cùng với độc thoại , độc thoại nội tâm được tài hoa của nhà văn Nam Cao kết hợp ăn ý từ đó giúp khắc họa nên bản chất tính cách thực của nhân vật đồng thời giúp thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn.

    Nói đến độc thoại thì không thể không nhắc đến đối thoại trong truyện ngắn “Chí Phèo”. Có các đoạn đối thoại giữa Chí Phèo – Bá Kiến, Chí Phèo – người bán rượu, Chí Phèo – Tam Lãng, Chí Phèo – Thị Nở. Và, ngôn ngữ mà Nam Cao sử dụng trong các đoạn đối thoại cũng góp một phần không kém quan trọng làm nên thành công cho tác phẩm. Ngôn ngữ giữa các nhân vật được lựa chọn phù hợp với tính cách từng nhân vật. Ngôn ngữ của bọn Bá Kiến, Lí Cường là ngôn ngữ của bọn bề trên khi mềm mỏng khi đanh rắn rất biến hoá. Ngôn ngữ của các nhân vật như Chí Phèo, Thị Nở thì rất quê mùa có khi là tục tằng thô lỗ. Nhìn chung tác phẩm viết về đề tài người nông dân nên ngôn ngữ mà tác giả sử dụng trong tác phẩm là loại ngôn ngữ bình dân chân quê, rất phù hợp với cảnh và tình của tác phẩm.

    Bá Kiến cũng dõng dạc hỏi:

    — Anh Chí đi đâu đấy ?

    Hắn chào to:

    — Lạy cụ ạ. Bẩm cụ… Con đến cửa cụ để kêu cụ một việc ạ! Giọng hắn lè nhè và tiếng đã gần như méo mó. Nhưng bộ điệu thì lại như hiền lành; hắn vừa gãi đầu gãi tai, vừa lải nhải:

    — Bẩm cụ từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm có thế, con có nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá! Ði ở tù còn cơm để mà ăn, bây giờ về làng về nước, một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù…

    Những đoạn đối thoại giữa các nhân vật góp phần rất lớn trong việc thể hiện tính cách nhân vật. Bá Kiến hiện rõ là một con cáo già khôn ranh. Chí Phèo thì lộ rõ bản chất của một tên lưu manh chỉ biết rạch mặt ăn vạ. Khi đối thoại với Thị Nở, lúc này tâm lí, tính cách các nhân vật có sự chuyển biến, ngôn ngữ giữa các nhân vật cũng vô cùng thân mật, đáng yêu, rõ giọng điệu quan tâm, làm nũng của những kẻ đang yêu :

    — Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi tiền. Thế anh cần gì ?

    Hắn dõng dạc:

    — Tao muốn làm người lương thiện !

    Bá Kiến cười ha hả:

    — Ồ tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ.

    Hắn lắc đầu:

    — Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này ? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không! Chỉ có một cách… biết không ! Chỉ có một cách là… cái này biết không !

    Nam Cao đã để cho Chí trong giờ phút ấy cất lên những lời đau đớn : ” Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất những vết mảnh chai trên mặt này?”. Đó là nỗi đau đớn của một người đã bị chặn mất nẻo về với thế giới thân thuộc của Con Người, bởi những định kiến khắt khe của xã hội.

    Với một truyện ngắn thì nhắc đến nghệ thuật của nó ta không thể bỏ qua nghệ thuật kể chuyện, xây dựng tình huống truyện. Nam Cao sử dụng kết cấu vòng tròn để kể lại trọn vẹn câu chuyện cuộc đời Chí Phèo. Mở đầu là hình ảnh Chí bị bỏ rơi trong chiếc váy đụp, mặt xám ngắt bên cái lò gạch cũ. Hai mươi tuổi đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, hứng chịu cơn ghen tuông của Bá Kiến và nỗi nhục bị bắt bóp chân, bóp lên mãi cho bà ba. Hắn vào tù, khi trở về làng thì hắn biến thành một con quỷ. Chí Phèo gặp Thị Nở và cuộc tình năm ngày chóng vánh đã cho hắn trở lại làm người, trở lại thành anh Chí hiền lành của năm nào. Thế nhưng, Thị Nở đã từ chối hắn, những định kiến đã ngăn không cho hắn trở về thành Con Người. Hắn vác dao đâm chết Bá Kiến rồi tự sát. Và kết thúc lại là hình ảnh cái lò gạch cũ hiện ra một lần nữa. Hình ảnh đấy sức liên tưởng về một thế hệ Chí Phèo con sẽ ra đời, lại cũng sẽ có một Bá Kiến nào khác nếu như xã hội không thay đổi.

    Ở khúc ngoặt thứ nhất, nhà văn đã đưa ra hai hình tượng Năm Thọ và Binh Chức – những nhân vật phụ không trực tiếp tham gia vào diễn biến câu chuyện – để làm sáng tỏ nhiều điều. Trong lời kể nhẩn nha, những nhân vật này như tiện thể được nhắc đến, nhưng thực chất, vai trò giải thích, cắt nghĩa của chúng đã được phát huy tối đa. Nếu như nhân vật Năm Thọ ngầm lý giải đầy đủ cho cái nguyên cớ Chí Phèo bị đẩy vào tù (cái nguyên cớ vốn rất mù mờ trong con mắt người dân làng Vũ Đại), thì nhân vật Binh Chức lại rọi sáng cái quá trình biến chất của Chí Phèo. Nhờ sự xuất hiện của những nhân vật ngoài cốt truyện ấy mà tính tất yếu trong mọi biến cố của số phận nhân vật chính được bộc lộ sắc nét, rõ ràng hơn. Từ hai nhân vật bên lề của truyện Chí Phèo, ta càng hiểu rõ hơn điều mà Roland Bathes khẳng định khi nghiên cứu cấu trúc truyện kể: “Chỉ có một con đường duy nhất: hoặc trong văn bản, mọi thứ đều có ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa nào hết… Trong tác phẩm nghệ thuật không có yếu tố thừa, cho dù sợi chỉ xâu chuỗi đơn vị cốt truyện với các đơn vị khác có thể rất dài, mong manh hay mảnh mai”.

    Ở bước ngoặt thứ hai, tất cả bắt đầu từ tình huống gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở – một tình huống có tính quyết định cho sự đột biến. Tình huống gặp gỡ này thoạt nhìn có vẻ là hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng quan sát kỹ, ta sẽ thấy Nam Cao đã ngầm chuẩn bị khá chu đáo mọi phương diện.

    Qua việc tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống, đi vào lần lượt các biện pháp nghệ thuật mà nhà văn Nam Cao đã sử dụng để thể hiện nhân vật Chí Phèo, các nét tính cách, sự chuyển biến trong tâm hồn, cuộc đời, số phận nhân vật đã hiện lên một cách rõ ràng và sinh động. Cái chân thật đến ngỗ ngược rồi cả đáng yêu của Chí Phèo được bạn đọc cảm nhận và ghi lại ấn tượng về một nhân vật văn học đặc sắc, một nông dân tha hóa điển hình. Chí Phèo xứng đáng trở thành nhân vật được bạn đọc mọi thời đại yêu thích.

    Phong Cầm

    Diendankienthuc.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Về Phép Tương Phản Và Tăng Tiến? Nêu Ra Những Câu Có Sử Dụng 2 Biện Pháp Nghệ Thuật Trên Trong Văn Bản ”sống Chết Mặc Bay” Và Tác Dụng Của Chúng
  • Thế Nào Là Nghệ Thuật Tương Phản? Nêu Cách Thể Hiện Thủ Pháp Nghệ Thuật Ấy Trong Truyện Sống Chết
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tương Phản Có Tác Dụng Như Thế Náo Trong Sống Chết Mặc Bay
  • Phân Tích Bài Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú)
  • Phân Tích Nhân Vật Khách Trong Bài Phú Sông Bạch Đằng
  • Nghệ Thuật Và Biện Pháp Tu Từ Trong Chiều Tối (Hồ Chí Minh)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Rằm Tháng Giêng
  • Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng
  • Bài Thơ Rằm Tháng Giêng
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng Lớp 7 Cực Hay
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Rừng Xà Nu Của Nguyễn Trung Thành
  • Nghệ thuật và biện pháp tu từ trong bài Chiều tối – Gợi ý phân tích và xác định nghệ thuật cùng các biện pháp tu từ sử dụng trong bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.

    Đôi nét về bài thơ Chiều tối

    – Khi nhà thơ bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam (8/1942 – 9/1943, trên đường đi công tác)

    – Nhà thơ phải trải qua đoạn đời cơ cực, lao khổ, thử thách.

    – Từ tập Nhật kí trong tù (tập thơ chữ Hán, 134 bài, được gọi là kiệt tác…)

    – Là bài số 31, ghi lại chuyến chuyển lao từ Tĩnh Tây

    Biện pháp nghệ thuật và tu từ được sử dụng trong Chiều tối và ý nghĩa của chúng

    Hai câu đầu: Bức tranh thiên nhiên và nỗi lòng thi nhân

    – Mở ra khung cảnh thiên nhiên rừng núi lúc chiều tối. Có cánh chim mỏi mệt mải miết bay về tổ phía rừng xa; Có chòm mây lẻ loi sót lại, lững lờ trôi giữa tầng không. Cảnh rộng lớn, quạnh vắng trong thời khắc cuối cùng của một ngày.

    – Vẻ đẹp của bức tranh:

    + Giống trong thơ ca cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên trong hai câu đầu đã được phác họa bằng những nét chấm phá (chỉ gợi ra một vài nét, cốt ghi lấy cái linh hồn của tạo vật ).

    + Hình ảnh cánh chim bay về tổ là nét vẽ phác họa không gian rừng núi và gợi ý niệm thời gian, tượng trưng cho buổi chiều:

    + Điểm khác biệt với thơ ca cổ là: hình tượng cánh chim trong thơ Bác được cảm nhận ở trạng thái bên trong (mỏi mệt. Ngoại cảnh cũng là tâm cảnh. Trong ý thơ có sự hòa hợp, đồng điệu giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên.

    + Hình ảnh “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không- thi liệu quen thuộc nhưng không mang ý nghĩa ước lệ triết học (cái khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không) mà có hồn người : lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước của người tù nơi đất khách.

    – Vẻ đẹp của con người:

    + Dù trong hoàn cảnh nào, tâm hồn của Bác vẫn luôn yêu quí, hướng về thiên nhiên.

    + Mệt mỏi và đau đớn nhưng chan chứa hồn thơ .

    + Là hình ảnh của bậc tao nhân mặc khách đang ung dung thưởng ngoạn cảnh chiều hôm.

    * Tóm lại

    – Bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển nhưng sinh động, gần gũi, có hồn.

    – Cảnh ngộ và tâm trạng của người tù xa xứ.

    – Một tấm lòng yêu thương tạo vật; một ý chí, nghị lực thép

    – Hai câu thơ không nói “thép” nhưng lại rất “thép”.

    : Cảm nhận về 2 câu thơ đầu bài Chiều tối

    Hai câu cuối: Bức tranh cuộc sống và ánh lửa trong tâm trí người tù

    – Hình ảnh cô gái xay ngô trong Chiều tối toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống (chữ “cô em”, điệp ngữ, âm hưởng…). Giữa núi rừng mênh mông, thiếu nữ sơn cước không bị hòa lẫn vào cảnh vật mà trái lại cô chính là điểm sáng của bức tranh (hình ảnh con người trong thơ Bà Huyện Thanh Quan thấp thoáng, mờ nhạt, nhỏ bé, chỉ tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của đất trời thiên nhiên)

    – Thái độ của thi nhân: Trìu mến hướng về con người và sự sống; quan tâm, yêu thương những người lao động nghèo, không phân biệt quốc gia, dân tộc.

    – Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu 3 được điệp lại ở đầu câu 4 “bao túc ma” đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như vừa diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian từ chiều đến tối. Mặt khác, chính chữ “hồng” ở cuối bài thơ cũng giúp người đọc hình dung ra bóng tối đang buông xuống xóm núi.

    – Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mỏi mệt, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối. Chữ “hồng” trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “con mắt thơ” (thi nhãn), hoặc là “nhãn tự” (chữ mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa…” (Hoàng Trung Thông, ” Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác“, Nghiên cứu học tập thơ văn Hồ Chí Minh, NXB KHXH,1979).

    Tóm lại:

    – Tâm hồn yêu thương con người.

    – Hình tượng vận động khỏe khoắn: từ ánh chiều âm u đến ánh lửa rực hồng, ấm áp; từ mệt mỏi đến khỏe khoắn; từ buồn đến vui.

    – Sự vận động này cho thấy tinh thần lạc quan yêu đời của một tâm hồn luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Hai Bài Thơ Qua Đèo Ngang Và Chiều Hôm Nhớ Nhà Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Phân Tích Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Hay Nhất
  • Bài Thơ Quê Hương (Tế Hanh)
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Quê Hương Lớp 8
  • Chép Thuộc Lòng Khổ Thơ Cuối Của Bài “quê Hương” Và Chỉ Rõ Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Chí Phèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Chí Phèo Của Nam Cao
  • Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • Soạn Bài Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn Của Chu Mạnh Trinh
  • Soạn Bài Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn (Chi Tiết)
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Phong Cảnh Hương Sơn
  • – Gthiệu vài nét về tgiả NAm cao và sự nghiệp văn học của ông

    – Gthiệu tác phẩm Chí Phèo và đặc sắc nghệ thuật cảu tác phẩm

    TB:

    Đặc sắc nghệ thuật:

    – NT điển hình hoá của Nam Cao thể hiên qua cách miêu tả, phân tích tâm kí của n/v Chí Phèo, Chí Phèo đại diện cho những ng` nông dân bị bần cùng hoá tới mức đọ tột cùng vừa bị đẩy và con đường lưu manh hoá, tha hoá tớy mức đánh mất cả nhân hình lẫn nhân tính. Tuy nhiên Nam Cao cũng tẩo hình ảnh nhân vật Chí Phèo đọc đáo, tiêu biểu và có thể nói là duy nhất trong nần văn học Việt Nam, điều đó đc thể hiện trong nthuật khắc họa khuôn mặt của Chí

    – Nam Cao miêu tả nhân vật trong quá trình vận đọng và phát triển của tính cách, của sự phát triển về tâm lí, khiến nhân vật trở nên có sức sống, sinh đônngj và do đó nhân vật trở thành điển hình của văn học.

    – Qua Chí Phèo, Nam Cao rất thành công trong việc tổ chức tác phẩm:

    + NC tạo nên một cốt truyện có tính kịch tính cai: Cốt truyện đc dẫn dắt bằngcác nút thắ kịhc tính để dẫn tớy một kết thúc hợp lí mà về hình thức tưởng chừng đó là 1 kết thúc ngẫu nhiên

    + Cốt truyện của NC đc đặt trong khung time hiện tại trong đó có sự đảo chiều, có quay ngược time kể, PHần mở đầu và kết thúc thụoc time hiện tại, tức là gắn vs những gì đang diễn ra trc’ mắt ng` kể chuyện, twong ứng vs những gì ng` kể chuyện đnag quan sát đc. Phần giữa có sự dảo chiều time, nhân vật ng` kể chuyện đu ngwojc về quá khứ đẻ chỉ ra gốc gác của Chí Phèo ròu quay lại kể theo trình tự qkhứ- hiện tại để nối liền amchj kể. Sự thay đổi thời gian kể gắn liền vs thay đôi điểm nhìn trần thuật, tạo nên tiếng nói đa âm trong câu chuyện, cụ thể là câu chuyện về cđời chí Phèo ko chỉ đc tái hiện đơn giản qua cách kể, lời kể của n/v ng` kể chuyện mà còn qua điểm nhìn của chính Chí Phèo, Thị Nở, bá Kiến,…. các điểm nhìn này tạo sự đa dạng trong nghệ thuật trần thuật, tạo ra sự phối âm, hoà điệu trong tác phẩm

    – NC rất thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ kể chuyện, bao gồm ngôn ngữ kể và tả của nhân vật ng` kể chuyện, ngôn ngữ mang tính cá thể và đc cá thể hoá của các nhân vật trong truyện

    + kết hợp đối thoại và đọc thoại, lời kể gián tiếp + lời kể nửa trực tiếp

    + Độc thoại mang dấu ấn độc thoịa nội tâm như đoạn Chí Phèo tỉnh rwouj ngồi ôn lại qkhứ, cảnh Bá Kiến ngồi đợi bà Ba

    + Kiểu đối thoại một chiều mà bên phát tín hiệu thì cứ phát, bên nhận tính hiệu thì ko có phản ứng rep như cảnh Chí Phèo – Thị Nở gặp nhau sau trận ốm

    – Khi tạo ra các nhân vật, NC trung thành vs nguyên tắc phản ánh hiện thực song nhà văn ko phóng đại cựuc đoan phần bản năng, thú tính trong con ng`. ko hạ thấp, ko xóa bỏ nét đẹp mang tính ng` của các nhân vật, đây chính là nét đặc sắc trong nghệ thuật vị nhân sinh của NC

    KB:

    Kđ ngòi bút tài hoa của NC trong tác phẩm Chí Phèo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Chí Phèo
  • Phân Tích Giá Trị Nghệ Thuật Trong Tác Phẩm “chí Phèo” Hay Nhất (4 Mẫu)
  • Phân Tích Hệ Thống Các Biện Pháp Nghệ Thuật Thể Hiện Nhân Vật Chí Phèo Trong Truyện Ngắn “chí Phèo”
  • Định Nghĩa Về Phép Tương Phản Và Tăng Tiến? Nêu Ra Những Câu Có Sử Dụng 2 Biện Pháp Nghệ Thuật Trên Trong Văn Bản ”sống Chết Mặc Bay” Và Tác Dụng Của Chúng
  • Thế Nào Là Nghệ Thuật Tương Phản? Nêu Cách Thể Hiện Thủ Pháp Nghệ Thuật Ấy Trong Truyện Sống Chết
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • Để viết một bài văn cho người đọc vào có cảm giác lôi cuốn và hấp dẫn bởi phần nội dung và hình thức trình bày, thì các bạn cần sử dụng kết hợp một cách khéo léo các biện pháp nghệ thuật trong bài viết của mình, một số biện pháp đó là: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…..

    Các biện pháp nghệ thuật trong văn bản:

    Trước tiên ta cần tìm hiểu lí thuyết về cụm từ “biện pháp nghệ thuật “, là những nguyên tắc thi pháp trong việc tổ chức một phát ngôn nghệ thuật ( nguyên tắc xây dựng cốt truyện, quy tắc phân chia thể loại, nguyên tắc phong cách, thể thức câu thơ…) việc đưa các biện pháp nghệ thuật là đã có sự dự tính sẵn của tác giả, khi đã xác định được những mục đích, do đó nếu lựa chọn được một biện pháp nghệ thuật thích hợp sẽ là tác phẩm trở nên đắc giá.

    Các loại chúng ta thường gặp:

    1. So sánh

    – Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, đặc biệt là có nét tương đồng

    Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hóa

    – Là dùng những từ ngữ vốn miêu tả hành động bản chất của con người để gán vào sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    3. Ẩn dụ

    – Là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác, chúng có nét tương đồng với nhau

    Ví dụ: Mặt trời của Mẹ thì nằm trên lưng

    Cách nhận biết giữa so sánh và ẩn dụ:

    • So sánh: có dấu hiệu nhận biết qua các từ như sau: là, như, bao nhiêu…. bấy nhiêu.
    • Ẩn dụ: có dấu hiệu nhận biết qua các nét tương đồng của 2 sự vật hiện tượng.

    4. Hoán dụ

    – Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vât, hiện tượng khác có nét tương đồng gần gũi

    Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    Cách so sánh nhân hóa và hoán dụ:

    • Nhân hóa có sự nhận biết đó là có chứa các từ tên gọi, hoạt động của con người.
    • Hoán dụ có sự nhận biết là 2 sự vật có nét giống nhau

    5. Nói quá

    – Là biện pháp dùng để phóng đại qui mô,tính chất của sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Chân to giống cái cột đình

    6. Nói giảm nói tránh

    – Là biện pháp nhằm diễn đạt các ý văn thơ một cách tế nhị, uyển chuyển

    Ví dụ: Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    7. Điệp từ, điệp ngữ

    – Là biện pháp được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ hay một cụm từ

    Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

    8. Chơi chữ

    – Là biện pháp được sử dụng đặc sắc về âm sắc, về nghĩa của từ

    Ví dụ: Trời cho = Trò chơi

    – Đó là những biện pháp nghệ thuật thông dụng trong chương trình văn học các học sinh thường gặp mà chúng tôi tổng hợp. Chúng tôi hi vọng rằng bài viết này đã tóm tắt một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp các em trong quá trình học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ rất hay trong chương trình lớp 7, trong bài này sử dụng những biện pháp nghệ thuật, tu từ, xem bên dưới để biết tác giả đã sử dụng chúng hiệu quả như thế nào.

    Tác giả – Tác phẩm

    Hồ Xuân Hương, sống ở khoảng cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Bà được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” với những bài thơ Nôm viết về người phụ nữ nổi tiếng. Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam với những giá trị cho đến tận ngày nay. Cuộc đời Hồ Xuân Hương trải qua nhiều thăng trầm, sống ở thời kì Lê mạt – Nguyễn Sơ, đây được coi là giai đoạn với nhiều biến động trong xã hội. Tuy nhiên, dù ở thời kì cuối phong kiến bà vẫn có cuộc sống êm đềm ở chốn phồn hoa – cổ Nguyệt đường ven Tây hồ. Bà là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi, có thiên phú về thơ ca đồng thời cũng hiểu biết rộng và giao du với nhiều nhà thơ, nhà văn lúc bấy giờ. Tuy nhiên trong con đường tình duyên, bà lại không mấy suôn sẻ, đều làm lẽ qua hai đời chồng và hạnh phúc cũng ngắn ngủi.

    Các sáng tác của Hồ Xuân Hương luôn để lại những giá trị ý nghĩa sâu sắc. Các đề tài luôn xoay quanh tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Tuy nhiên khi nhắc đến thơ Nôm không thể không nhắc tới những bài thơ viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói thơ Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ cũng chính là tiếng lòng của bà, tiếc thay cho thân phận chính mình. Trong đó vừa có sự hóm hỉnh, sâu cay vừa có gì đó xót xa, từng trải nhưng không kém phần ngạo nghễ. Các tập thơ nổi tiếng như “Xuân Hương thi tập”, “Lưu hương ký”…

    -Hoàn cảnh sáng tác bài “Bánh trôi nước”: là một người phụ nữ sống trong thời kì phong kiến, bà tiếp xúc với nhiều người dân lao động nghèo, đặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức bất công. Trong xã hội đó luôn đề cao tinh thần trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê đa thiếp khiến cho người phụ nữ bị rè rúng, sống cuộc đời bị hắt hủi, đau thương. Chính vì thương thay cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ đó bà đã chiêm nghiệm và viết nên bài “Bánh trôi nước”.

    Giá trị nội dung

    Bài thơ “Bánh trôi nước” có giá trị nội dung, ý nghĩa sâu sắc. Thông qua hình ảnh chiếc bánh trôi với nhiều tầng nghĩa, được miêu tả thực, Hồ Xuân Hương đã làm hiện rõ hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    Bài thơ là tiếng lòng cảm thông, xót xa không chỉ cho thân phận người phụ nữ mà còn là cho chính bản thân mình. Sống ở thời kì mà xã hội không có chỗ cho người phụ nữ lên tiếng nên bà chỉ còn cách gửi gắm nỗi lòng vào những vần thơ. Thân phận người phụ nữ hiện lên với những bất hạnh, khổ đau, lênh đênh, lận đận không thể làm chủ cho chính mình. Song người con gái ấy vẫn một lòng son sắt, thủy chung. Vẻ đẹp đó thật đáng ngợi ca.

    Biện pháp nghệ thuật sử dụng trong bài Bánh trôi nước

    Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước gồm có:

    -Ẩn dụ: tác giả mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói về thân phận của những người con gái xưa dù tài hoa, xinh đẹp trong xã hội xưa mà số phận lênh đênh trôi nổi, số phận của họ lại bị phụ thuộc vào những kẻ khác.

    -Thành ngữ: “bảy nổi ba chìm” mục đích để nói về cuộc đời đầy lận đận, bấp bênh của những người phụ nữ của những kiếp hồng nhan bạc phận của phụ nữ xưa.

    – Điệp từ sử dụng từ “vừa” trong câu “thân em vừa trắng lại vừa tròn” nói lên những người phụ nữ xưa đều rất tài giỏi và xinh đẹp.

    Dàn ý phân tích tác phẩm

    -Hình ảnh bánh trôi nước:

    + Bánh trôi nước là loại bánh nổi tiếng của miền bắc. Hình dáng bên ngoài: trắng, tròn.

    +Cách làm bánh: Lớp bên ngoài là lớp vỏ bánh được nặn tròn, nhân bên trong màu đỏ. Luộc bánh để qua mấy lần chìm nổi thì mới chín và ngon. Khi nặn bánh độ tròn méo như nào phụ thuộc vào tay người nặn. Khi chín vỏ bánh mềm và nhân bên trong vẫn không hề bị méo.

    -Hình ảnh người phụ nữ:

    + Cách dùng: thông qua hình ảnh bánh trôi nước để liên hệ đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

    + Hình ảnh bên ngoài của bánh trắng tròn đại diện cho vẻ đẹp hình thức của người con gái. Hình ảnh “bảy nổi ba chìm” chỉ số phận của họ lênh đênh lận đận. “Rắn nát” hay hạnh phúc đều phụ thuộc vào tay người đàn ông trong xã hội.

    Các em theo dõi bên dưới để tìm kiếm thêm nhiều bài soạn văn cũng như một số bài văn mẫu hay trong chương trình Ngữ Văn Lớp 7. Chúc các em học tốt Ngữ Văn 7.

    ” Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ Trong Bài Thề Nguyền (Nguyễn Du)

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyện: Vương Gia Lạnh Lùng Chỉ Sủng Vương Phi Bị Bỏ
  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh Gắn Với Thế Trận Lòng Dân Vững Chắc
  • Ôn Thi Qp Hki Hay Mot So Hieu Biet Ve Nen Quoc Phong Toan Dan Doc
  • Đề Cương Ôn Thi Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chương I,ii Phần Ii
  • Đáp Án Và Lời Giải Chi Tiết Đề Số 40
  • Vị trí đoạn trích: trích từ câu 431 đến câu 452, nói về đêm thề nguyền giữa Kiều và Kim Trọng, hai người nguyện gắn bó thủy chung suốt đời.

    • Từ câu 1 đến câu 4: Thúy Kiều lại sang nhà Kim Trọng.
    • Từ câu 5 đến câu 10: Tư thế, cảm giác của Kim Trọng khi thấy Thúy Kiều bước vào.
    • Từ câu 11 đến câu 14: Thúy Kiều giải thích lí do sang nhà Kim Trọng.
    • Còn lại: Cảnh thề nguyền.

    Biện pháp nghệ thuật tu từ trong Thề nguyền

    a. Cảnh Kiều sang nhà Kim Trọng “Cửa ngoài vội rủ rèm the, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?” * Tâm trạng và tình cảm của Thúy Kiều

    – Theo như lễ giáo phong kiến thì con gái phải là để người con trai tỏ tình trước hay là cha mẹ đặt đâu con

    ngồi đó nhưng Kiều lại khác. Nàng một mình “xăm xăm băng lối” sang nhà Kim trọng.

    + Từ ngữ:

      “Xăm xăm”, “băng”: Hành động dứt khoát, táo bạo, mạnh mẽ, bất chấp quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến → Thể hiện sự vội vàng và tình cảm lớn lao mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.

    + “Nhặt thưa gương giọi đầu cành,… Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng”: Hình ảnh Thúy Kiều quay trở

    lại gặp Kim Trọng trong không gian đầy trăng thơ mộng.

    + “Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,… Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?”: Lời Thúy Kiều.

    • “Khoảng vắng đêm trường”: Là khoảng thời gian tất cả mọi vật đều chìm trong giấc ngủ. Nhưng Kiều không để thời gian chi phối tình cảm của mình mà đã xăm xăm đến nhà Kim Trọng.
    • “Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa”: Tình yêu hồn nhiên, trong sáng, tự do và tha thiết.
    • Hoa tượng trưng cho cái đẹp nhưng dễ phai tàn → Nó dự báo một cuộc đời bão táp của Kiều.
    • “Chẳng là chiêm bao”: Băn khoăn về một sự tan vỡ.

    * Tâm trạng và thái độ trân trọng của Kim Trọng

    • Nhà thơ dùng những mỹ từ rất đẹp để nói về cảnh tượng ấy : “nhặt thưa”, “lọt”, “hắt hiu”. Mọi thứ đều trở nên nhỏ nhẹ, hiền từ trước tình yêu
    • Và đến khi biết là mình không phải là mơ nữa thì Kim Trọng nhanh chóng rước Kiều vào nhà.

    b. Cảnh Kiều và Kim Trọng thề nguyền “Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương Tiên thề cùng thảo một chương Tóc mây một món dao vàng chia đôi

    – Không gian: Trong nhà giữa một đêm trăng sáng

    – Thời gian: đêm tối

    – Các hình ảnh:

    • Đài sen, lò đào thêm hương
    • Tiên thề: Tờ giấy viết lời thề
    • Dùng dao vàng cắt tóc thề nguyền

    Vừng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song. Tóc tơ cân vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

    – Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ: vừng trăng là nhân chứng cho tình yêu

    – Sử dụng từ láy:

      Vằng vặc: chỉ ánh trăng rất sáng, không một chút gợn, khiến có thể nhìn rõ các vật.
    • Đinh ninh : nói đi nói lại, dặn đi dặn lại cặn kẽ để cho nhớ kĩ, cho chắc chắn.
    • Song song: đi bên nhau

    * Đánh giá chung:

    • Giá trị nội dung: ngợi ca, cổ vũ cho tình yêu trong sáng của Thúy Kiều và Kim Trọng; thể hiện ước mơ được tự do yêu đương vượt lên trên lễ giáo phong kiến.
    • Giá trị nghệ thuật: sử dụng các hình ảnh ước lệ, điển cố điển tích; vận dụng các hình ảnh ẩn dụ giàu sức chứa; bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo; nghệ thuật tả cảnh đặc sắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Truyện Bách Hợp Hay Nhất, Hấp Dẫn Nhất Hiện Nay
  • Bạn Chán Ngôn Tình Hãy Thử Những Bộ Truyện Bách Hợp Hay
  • Top Truyện Bách Hợp Hay Đốn Tim Những Người Đang Yêu
  • Top 10 Truyện Bách Hợp Hay Được Đọc Nhiều Nhất, Tính Đến Đầu 2022
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • 15 Biện Pháp Tránh Thai Phổ Biến Hiện Nay
  • 12 Biện Pháp Tránh Thai Ưu Việt Nhất
  • So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

    Nhân hoá là gọi hoặc tả nhân vật cây cối đồ vật. bằng những từ ngữ vốn đc dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới đồ vật cây cối loài vật. trở nên gần gũi với con người biểu thị đc suy nghĩ tình cảm của con ng

    ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

    Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

    5,6. Điệp từ điệp ngữ

    điệp từ điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật

    7. thậm xưng ( nói quá )

    Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiên tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng sức biểu cảm

    Các biện pháp nghệ thuật tu từ 1. So sánh So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 2. nhân hoá Nhân hoá là gọi hoặc tả nhân vật cây cối đồ vật… bằng những từ ngữ vốn đc dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới đồ vật cây cối loài vật… trở nên gần gũi với con người biểu thị đc suy nghĩ tình cảm của con ng 3. ẩn dụ ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 4. hoán dụ Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 5,6. Điệp từ điệp ngữ điệp từ điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật 7. thậm xưng ( nói quá ) Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiên tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng sức biểu cảm 8. Chơi chữ Chơi chữ là biện pháp khai thác hiện tượng đồng âm khác nghĩa để tạo sắc thái dí dỏm hài hước cho lời ăn tiếng nói hoặc câu văn câu thơ 9. câu hỏi tu từ – tạo ấn tượng nhấn mạnh tô đậm – khẳng định chính kiến của người viết Các bút pháp nghệ thuật bút pháp ước lệ tượng trưng Ước lệ : sử dụng hình ảnh mang tính chất quy ước đã trở thành thông lệ thói quen tượng trưng là những chi tiết hình ảnh mang ý nghĩa đặc trưng tiêu biểu người ta thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực thước đo cho mọi giá trị trong truyện kiều: bút pháp ước lệ tượng trưng để miêu tả nhân vật chính diện thiên nhiên biết thuý vân đẹp nhưng hok đố kị, và Ng Du đã dùng nghệ thuật đòn bẩy để miêu tả kiều hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh, dự báo 1 tương lai sóng gió khi đã vượt qua giới hạn của tự nhiên, kiều hok còn của riêng ng du nữa mà kiều là số phận của cả dân tộc mình thuý vân và kim trọng là những con ng đạt đến vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng đạt đến mức hài hoà cân xứng với vẻ đẹp tự nhiên vốn có, nhưng thuý kiều và từ hải vẻ đẹp của họ đã vượt qua chuẩn mực tự nhiên đời thường để thành vẻ đẹp phi thường và khác lạ và sau này cuộc đời dự báo tất cả qua các thủ pháp đó của ng du, và khi dùng bút pháp ước lệ như vậy thể hiện từ 1 cảm hứng ngợi ca bộc lộ thái độ tư tưởng đề cao tran trọng và ngưỡng vọng với những nhân vật mà mình thể hiện bút pháp tả thực phản ánh một cách chân thực những đặc điểm của sự vật hiện tượng trong truyện kiều bút pháp tả thực đc dùng để tố cáo nhân vật phản diện. Kì kèo bớt 1 thêm 2 đã cho ta thấy mã giám sinh hok chỉ là kẻ vô học mà còn là 1 kon buôn, chỉ 1 chữ “tót” cho ta thấy đc sự vô học của hắn bút pháp ước lệ tượng trưng là sự tôn trọng kính trọng còn bút pháp tả thực chỉ sự khinh bỉ bút pháp tả cảnh ngụ tình trong miêu tả cảnh vật thiên nhiên đã ẩn chứa cảm xúc tình cảm của con ng trong đó: tình cảm của nhà thơ, tình cảm của nhân vật trong tác phẩm tác dụng: tình ý trong văn bản hàm súc sâu sắc kín đáo mà vẫn chứa sức gợi và tạo liên tưởng cho ng đọc truyện kiều của ng du đã sử dụng bút pháp này 1 cách nhuần nhuyễn mà có nhiều cấu nhiều đoạn đã đạt đến đỉnh điểm của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100