Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão
  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • DÀN Ý

    1. Tính dân tộc:

    _ Về nội dung:

    a. Thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc.

    – Những địa danh có thật: Ngòi Thia, sông Đáy, Phủ Thông…

    – Những cảnh sắc, âm thanh tiêu biểu: hắt hiulau xám, bản khói cùng sương, tiếng mõ rừng chiều, mơ nở trắng rừng…

    – Con người Việt Bắc cần cù, giàu tình nặng nghĩa cùng toàn dân kháng chiến.

    Suy ra: Tố Hữu đã đưa nhừng tình cảm cách mạng kháng chiến, tình cảm với đồng bào, với Bác Hồ trở về gần gũi, chân thành như đạo lý dân tộc vốn có từ trong truyền thống.

    _ Về nghệ thuật:

    a. Thể thơ lục bát truyền thống đã được Tố Hữu vận dụng tàu tình.Câu thơ lúc thì dung dị, dân dã gần gũi với ca dao, lúc thì cân xứng, nhịp nhàng , trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị.

    b. Lối kết cấu đối đáp quen thuộc trong ca dao dân ca được vận dụng một cách phù hợp voiứ nội dung tư tưởng tình cảm của bài thơ.

    c. Chất liệu văn học , văn hóa dân gian được vận dụng phong phú đa dạng nhất là ca dao.

    d. Những lối nói giàu hình ảnh, các biện pháp tu từ tạo nên phong vị dân gian và chất cổ diển cho bài thơ.

    2. Phong vị dân gian:

    _ Kết cấu đói đáp và cách xưng hô mình-ta trong ca dao dân ca.

    _Tố Hữu đã sử dụng nhiều hình ảnh quen thuộc trong ca dao, dân ca nhưng lại thích hợp với khung cảnh và tâm trạng của những người kháng chiến.

    _ Âm điệu thiết tha, ngọt ngào của thể thơ lục bát.

    _ Việt Bắc còn thấm sâu nội dung tư tưởng, cảm xúc mang phong vị dân gian: đó là tình cảm gắn bó, chia sẻ nhau trong cảnh khó khăn, đề cao ân tình, đạo lý thủy chung…vốn là những nét đẹp của dân tộc Việt Nam thường thể hiện qua kho tàng văn học dân gian

    _ Bài thơ hài hòa nội dung và nghệ thuật, truyền thống và hiện đại, đưa những vấn đề cách mạng, kháng chiến trở nên gần gũi với nhân dân.

    3. Khuynh hướng sử thi:

    b. Nội dung:

    _Tố Hữu đã nhìn lại và tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp với muôn vàn khó khăn, gian khổ vì thiên nhiên khắc nghiệt, vì cuộc sống thiếu thốn nhưng rất đỗi anh hùng và đậm đà tình nghĩa đã làm nên chiến thắng vinh quang.

    _Nhân vật trong bài thơ là đất nước tươi đạp và anh hùng, là đoàn quân mạnh mẽ, là đoàn dân công đông đúc, là người miền xuôi và Việt Bắc hay tất cả là nhân dân Việt Nam anh hùng đang cùng chung chiến đấu hào hùngdưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ.

    _Tình cảm của bài thơ là tình cảm lớn dành cho cách mạng, cho kháng chiến, cho Bác Hồ, cho quê hương Việt Bắc và đặc biệt là tình cảm trên cơ sở đạo lý dân tộc.

    c. Nghệ thuật:

    _Ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ đẹp đẽ, hào hùng với lời thơ, âm điệu thơ khi tha thiết, khi sôi nởi mạnh mẽ.

    _Tố Hữu đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ so sánh, nhân hóavà nhất là cường điệu để nâng cao, tôn vinh tầm vóc, tư thế anh hùng của đất nươc và nhân dân.

    4. Cảm hứng lãng mạn:

    a. Tố Hữu tìm thấy và trân trọng vẻ đẹp tươi thắm, rực rỡ, mơ màng của núi rừng Việt Bắc, vẻ đẹp cần cù, tự tin, anh hùng của nhân dân lao động và chiến đấu. Đặc biệt Tố Hữu ca ngợi vẻ đẹp gắn bó, chia sẻ, cưu mang nhau trong những ngày kháng chiến gian khổ của nhân dân hai miền trên cơ sở đạo lý dân tộc.

    b. Tuy cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ, thiếu thốn nhưng nhân dân rất lạc quan, tin tưởng vào chiến thắng và bài thơ với âm điệu rộn ràng , phấn khởi tỏa ra niềm vui từ những chiến dịch, những nẻo đường Việt Bắc góp phần làm nên chiến thắng vinh quang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Nghìn Đêm Thăm Thẳm Sương Dày…
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Phân Tích Đoạn Trích Bài Thơ Việt Bắc, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài, Ý Ng
  • Soạn Bài Câu Cá Mùa Thu Của Nguyễn Khuyến
  • Bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu được đánh giá là một bài thơ đỉnh cao của văn học thời kháng chiến. Cái hồn của bài thơ khiến người đọc luôn cảm thấy buâng khuâng, thương nhớ…

    Để đạt được điều đó, Tố Hữu – bậc thầy trong thi ngữ đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật trong bài thơ, nhưng vẫn đảm bảo tính chân thật, hồn nhiên của người lính.

    Bài 1. Bài văn của em Trần Thanh Tuyền đã phân tích nghệ thuật bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:

    Nhà thơ Tố Hữu được đánh giá là “lá cờ đầu” của thơ ca cách mạng, con đường thơ của ông bắt nhịp và xong hành với con đường cách mạng của nhà thơ nói riêng, của sự vận động và phát triển của cách mạng việt nam nói chung từ trước 1945 đến sau năm 1975 qua các tập thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, máu và hoa, một tiếng đờn, ta với mình, trong đó tập thơ Việt Bắc được xem là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu. mặt khác sự xuất hiện thơ Tố Hữu, ngay từ đầu đã đem đến cho thơ ca cách mạng một điểm nhìn nghệ thuật riêng, với một tiếng thơ mới mẻ, một phong cách thơ độc đáo trên cơ sở kế thừa thành tựu của thơ ca dân tộc và thơ ca đương thời.

    Như chúng ta đã biết, không phải mọi nhà văn đều có phong cách nghệ thuật riêng. người ta chỉ dùng khái niệm này để nói về những nhà văn tài năng mà các sáng tác của họ hợp thành một thể thống nhất và độc đáo, không trộn lẫn, mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo, thể hiện một cái nhìn và cách cảm thụ nghệ thuật riêng. Nhà văn Pháp Mác- xen Pruxt nói: “Đối với nhà văn cũng giống như đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề mà là vấn đề là cái nhìn. Đó là sự khám phá mà người ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp; bởi đó là một khám phá về chất, chỉ có được trong cách cảm nhận về thế giới, một cách cảm nhận, nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi sẽ không ai biết đến”.

    Căn cứ vào những êu cầu trên về phong cách nghệ thuật nhà văn, chúng ta đã đủ cơ sở để khẳng định: Tố Hữu là nhà thơ có một phong cách nghệ thuật độc đáo.

    Nhìn một cách khái quát, bài thơ Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: tháng 10- 1954, trung ương Đảng, Chính Phủ… rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hầ Nội. từ điểm xuất phát ấy, bài thơ ngược về quá khứ để tưởng nhớ một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, để nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, với Đảng và Bác Hồ, với đất nước và nhân dân- tất cả là nguồn sức mạnh to lớn dể dân tộc ta vững vàng bước tiếp trên con đường cách mạng. nội dung ấy được thể hiện bằng hình thức đậm đà tính dân tộc, vì thế bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.

    Phong cách nghệ thuật của thơ Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc được thể hiện chủ yếu trên ba bình diện sau đây: “một điểm nhìn nghệ thuật thiên về khuynh hướng sử thi trữ tình, chính trị; một tiếng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết; một tiếng thơ đậm đà tính dân tộc.

    Bên cạnh điểm nhìn nghệ thuật mang tính sử thi- cách mạng, phong cách nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc còn được biểu hiện ở một giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, được thể hiện qua cách xưng hô:

    “mình về mình có nhớ ta

    mười lăm năm ấy thiết tha mặn lồng.

    mình về mình có nhớ không

    nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

    qua giọng điệu trữ tình gợi nhớ tới ca dao:

    tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”

    Phong cách ấy được thể hiện qua những kỉ niệm trong “mười mấy năm ấy” gian khổ mà nghĩa tình:

    Phong cách thơ Tố Hữu còn được thể hiện qua cả lòng biết ơn thành kính đối với Đảng, với Bác Hồ:

    Qua tác phẩm văn học của các nhà văn khác nhau, của các trào lưu văn học khác nhau, người đọc dễ nhận thấy các giọng điệu khác nhau. Chúng ta đã từng biết đến giọng điệu đau buồn, than thở của các trào lưu Thơ Mới; giọng điệu tin tưởng, hào hùng của thơ ca cách mạng… với các nhà văn, đó là giọng điệu điệu nhỏ nhẹ, man mác buồn của Thạch Lam; giọng mỉa mai, chua chát, cay độc của Vũ Trọng Phụng, giọng tha thiết, dằn vặt của Nam Cao; giọng thương cảm thống thiết của Nguyễn Hồng,… chính giọng điêu khác nhau góp phần làm nên phong cách nghệ thuật khác nhau của mỗi nhà văn.

    Người ta có lý giải, cắt nghĩa cội nguồn giọng điệu tâm tình, tha thiết của thơ Tố Hữu. giọng ấy có phần do được thừa hưởng từ điệu tâm hồn của con người xứ Huế với những câu ca, giọng hò tha thiết ngọt ngào của quê hương. Nhưng nó cũng được xuất phát từ quan niệm về thơ của Tố Hữu: “Thơ là chuyện đồng điệu(…). Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”. Vì thế, nhà thơ đặc biệt dễ rung động với nghĩa tình cách mạng, luôn hướng đến đồng bào, đồng chí mà giải bày tâm sự, trò chuyện, kêu gọi, nhắn nhủ,… có thể tìm thấy tất cả những biểu hiện này của điệu thơ Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc, chẳng hạn:

    Nói đến phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu trong bài thơ Việt Bắc, cùng còn phải nói đến một tiếng thơ đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện. đây là sự kế tục xuất sắc truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ ca cổ điển của thơ Tố Hữu.

    Xét trên phương diện nội dung, tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc đươc thể hiện tập trung qua bức tranh đời sống hiện thực cách mạng từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp còn “trứng nước” cho đến khi thành công:

    Là cảm hứng về nghĩa tình, đạo lí cách mạng gắn bó, hòa nhập với truyền thống tinh thần, đạo lí “uống nước nhớ nguồn” vững bền của dân tộc:

    “mình đi mình lại nhớ mình

    nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…”

    xét trên phương diện nghệ thuật, tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc trước hết được thể hiện qua việc nhà thơ sử dụng thành công lối kết cấu lặp lại, vòng tròn cặp đại từ “mìn- ta” phiếm chỉ, gợi nhớ âm hưởng của nghệ thuật ca dao, dân ca, nâng tình cảm của kẻ ở- người đi trong buổi chia li ấy lên cấp độ muôn đời:

    ” Ta đi ta nhớ những ngày

    Mình đây, ta đó đắng cay ngọt bùi…”

    ” Ta về, mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người,…”

    lối nói, lối so sánh ví von hợp với cảm thức đại chúng:

    “nhớ gì như nhớ người yêu

    Trăng lên đỉnh núi, nắng chiều lưng nương”

    Cách chuyển nghĩa và cách diễn đạt quen thuộc với tâm hồn người Việt:

    “áo chàm đưa buổi phân li

    cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

    Nhà thơ đã sáng tạo hình ảnh thơ thiên về biểu đạt tình cảm hơn là giá trị tạo hình:

    Tác giả còn sử dụng phép tiểu đối của ca dao vừa có tác dụng nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ uyển chuyển cân xứng, hài hòa:

    “Chiều Nga Sơn / gạch Bát Tràng

    Vải tơ Nam Định/ lụa hàng Hà Đông”

    Bên cạnh đó, ông còn sử dụng nhuần nhuyễn và có những sáng tạo cho thể thơ lục bát, vì thế có những câu thơ, đoạn thơ khó phân biệt được với ca dao:

    Chiều sâu của tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc còn là ở nhạc điệu, đặc biệt phong phú về vần và những phối âm trầm bổng, nhịp nhàng nên dễ ngâm, dễ thuộc:

    Tóm lại, bài thơ Việt Bắc kết tinh và hội tụ khá đầy đủ những nét phong cách lớn của thơ Tố Hữu trên hành trình của thơ ca cách mạng. Phong cách nghệ thuật của bài thơ được thể hiện trên cả phương diện nội dung thể hiện và nghệ thuật biểu hiện, in đậm dấu ấn riêng của một điểm nhìn nghẹ tuật trong cảm hứng sáng tạo của nhà thơ Tố Hữu so với các nhà thơ cùng thời, tạo ra một tiếng nói mới mẻ và làm phong phú thêm thơ ca cách mạng, thơ ca dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Các Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Ngữ Văn Lớp 12
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước
  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão
  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lớp 9: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (đoạn trích trong sách Ngữ văn 12, tập I) được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, trong khoảng thời gian sau ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi đến khi Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc là một khúc trữ tình chính trị đặc sắc, thể hiện rõ nét đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: “sự kết hợp hài hòa hai yếu tố cách mạng và dân tộc trong sáng tạo nghệ thuật, sáng tạothi ca”*. Ở bài thơ này, Tố Hữu đã có những sáng tạo nghệ thuật độc đáo để thể hiện hình ảnh Việt Bắc – quê hương cách mạng, thể hiện những tình cảm cách mạng lớn lao và những vấn đề lớn của dân tộc và thời đại như lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, những ân tình thủy chung của người cách mạng đối với Việt Bắc, đối với Đảng và lãnh tụ.

    1. Thể thơ lục bát.

    Lục bát là một thể thơ truyền thống lâu đời của dân tộc sinh ra từ ca dao dân ca nơi ruộng đồng, gò bãi với cánh cò và người nông dân hồn hậu. Lục bát đi vào văn học viết với Truyện Kiều của Nguyễn Du, lục bát của Tản Đà, Nguyễn Bính và Tố Hữu. Chính lục bát đã góp phần tạo ra diện mạo một hồn thơ đậm đà bản sắc dân tộc của Tố Hữu dù ông viết lục bát không nhiều lắm. Lục bát là thể thơ thường dùng để thể hiện những tình cảm, những hình ảnh bình dị, thân thương. Lục bát đương nhiên không phải là sáng tạo của Tố Hữu, sáng tạo ở đây là tác giả thể hiện thành côngnhững tình cảm cách mạng lớn lao, những vấn đề lớn của hiện thực thời đại bằng một “giọng” lục bát giản dị, mộc mạc chứ không phải bằng “giọng” sử thi thất ngôn hoặc thơ tự do như nhiều bài khác. Sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát truyền thống để thể hiện cảm hứng trữ tình chính trị là một đóng góp và thành công của tác giả.

    2. “Mình -Ta”- một kết cấu độc đáo.

    Chúng ta đều biết, trong ca dao, dân ca tâm tình có lối đối đáp xưng hô “mình – ta” rất phổ biến, đó là lối xưng hô giữa hai cá thể yêu đương, tâm tình với nhau: “Mình về có nhớ ta chăng/ Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Mượn lối xưng hô cá nhân nói chuyện lứa đôi ấy, tạo nên kết cấu đối đáp để thể hiện những tình cảm lớn lao của dân tộc và thời đại một cách cụ thể, sinh động, bình dị và sâu lắng là một sáng tạo độc đáo của Tố Hữu. Ở đây, nhà thơ đã cá thể hóa tất cả những người cách mạng từng sống và chiến đấu ở Việt Bắc thành một nhân vật và Việt Bắc – thiên nhiên núi rừng, con người được nghệ thuật hóa thành một nhân vật để tạo nên lối xưng hô “Mình – Ta”.”Ta” là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và “Mình” là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, hai nhân vật đối đáp tâm tình nhưng là tâm tình cách mạng.

    Mở đầu là một lời đối đáp (8 dòng lục bát tạo thành hai khổ thơ) gợi lên không khí, khung cảnh của một buổi chia ly, có “mình”, có “ta” với những lớp sóng cảm xúc thể hiện qua các từ láy: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” và hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li” rất cụ thể và sinh động.

    Tiếp đến là lời nhắn gửi của Việt Bắc – người ở lại, gồm 12 dòng lục bát tạo thành 6 câu hỏi xoáy sâu vào lòng người. Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi có nhớ không những kỉ niệm gắn bó với thiên nhiên, con người Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến với những đại danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

    Trung tâm của đoạn trích là lời đáp của người cán bộ về xuôi gồm 70 dòng lục bát. Người cán bộ khẳng định tình cảm gắn bó với Việt Bắc như lời thề thủy chung: “Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”, đồng thời gợi lên hình ảnh Việt Bắc, những hình ảnh trong đời sống, sinh hoạt trong cách mạng và kháng chiến.

    Kết cấu đối đáp với lối xưng hô “mình – ta” đã giúp tác giả thể hiện hình ảnh và ý nghĩa lịch sử của Việt Bắc – cái nôi của cách mạng Việt Nam. Qua lời đối đáp ân tình, ta thấy hiện lên hình ảnh Việt Bắc với những chi tiết rất cụ thể, những hình ảnh vô cùng sinh động, kỉ niệm gợi nhớ kỉ niệm cứ tràn mãi ra không dứt với âm điệu dồn dập của những đoạn thơ lục bát. Đồng thời, tác giả cũng thể hiện những tình cảm cách mạng của nhân dân ta. Đó là lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, kiên gan bền chí trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đó là tình cảm ân nghĩa thủy chung của những người cách mạng đối với Việt Bắc – quê hương cách mạng, là niềm tin chiến thắng, tình cảm biết ơn Đảng và lãnh tụ. Người đọc hình dung như có hai người đang cùng song ca một khúc trữ tình cách mạng nồng nàn và sôi nổi. Đọc kỹ bài thơ, ta thấy hai đại từ “mình”, “ta” có sự chuyển hóa đa dạng và đa nghĩa, chẳng hạn như khi tác giả viết: “Mình đi mình có nhớ mình” hoặc “Mình đi giả còn dùng từ “ai” phiếm chỉ: “Ai về ai có nhớ không?”, thì “ai” ở đây cũng chính là ” mình” với “ta”. Như vậy, “mình” với “ta” tuy hai nhưng chỉ là một, cấu trúc hỏi đáp, đối thoại mà thực chất là độc thoại, đó là sự phân thân của cái “tôi” trữ tình nhà thơ để nói cho hết, cho kỹ, cho sâu những kỉ niệm với Việt Bắc, những ân tình cách mạng. Phần sau của bài thơ (không trích ở sách giáo khoa Ngữ văn 12), tác giả đã phá vỡ cấu trúc hỏi đáp để tạo thành một khúc đồng ca, ca ngợi cách mạng, ca ngợi Đảng và Bác Hồ. mình lại nhớ mình”. Chữ “mình” thứ ba trong hai câu này cũng chính là “ta” rồi. Tác

    3. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhạc điệu.

    Cùng với thể thơ lục bát, ngôn ngữ trong bài thơ mang đậm màu sắc ca dao, vừa giản dị, trong sáng, gần gũi, rất giàu chất liệu đời sống. Tác giả chủ yếu sử dụng từ thuần Việt (trong đoạn trích ở Sách giáo khoa với 90 dòng lục bát chỉ có trên 10 từ Hán Việt) mà đặc điểm của từ thuần Việt là bình dị, nôm na, dễ hiểu. Tác giả cũng không dùng nhiều các biện pháp tu từ nghệ thuật phức tạp mà chỉ gợi tả và liệt kê đơn giản theo mạch liên tưởng, hoài niệm. Hàng loạt những hình ảnh thiên nhiên, núi rừng, con người Việt Bắc, những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, những địa danh lịch sử được gợi ra, nối tiếp nhau qua những lời hỏi đáp cũng như những khúc đồng ca: “mưa nguồn”, “suối lũ”, “lau xám”, “măng mai”, “trám bùi”, “miếng cơm chấm muối”, “mối thù nặng vai” “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”, “người mẹ nắng cháy lưng”, “lớp học i tờ”, “những giờ liên hoan”, “ngày tháng cơ quan”, “tiếng mõ rừng chiều”, “trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy”. Nhờ gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và con người Việt Bắc nên tác giả đã miêu tả bức tranh thiên nhiên và con người theo mùa hoa trái rất cụ thể:

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung….”

    Tác giả còn vận dụng phép song hành: bên cạnh một câu lục nhớ “hoa” là một câu bát nhớ “người”. Sự kết hợp đan xen ấy đã làm cho hình ảnh thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau, hiện lên vô cùng sinh động. Sáng tạo hình ảnh hết sức phong phú là một thành công của Tố Hữu ở bài thơ này.

    Người ta nói thơ Tố Hữu kết tinh linh hồn dân tộc ở nhịp điệu thì bài thơ Việt Bắc là một sự thể hiện đậm nét nhất. Nhịp điệu của câu thơ lục bát hài hòa, trầm bổng làm cho kỷ niệm trở nên ngân nga, réo rắt, thấm vào tâm tư. Nhịp điệu đó được tạo ra nhờ điệp khúc “mình đi”, “mình về” đặt ở đầu các câu lục và các vế tiểu đối ở các câu bát: “Miếng cơm chấm muối / mối thù nặng vai”, “Hắt hiu lau xám / “thăm thẳm”, “đêm đêm”, “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng”… Hiện tượng điệp đậm đà lòng son”, “Nhớ khi kháng Nhật / thuở còn Việt Minh”… Những vế đối đã tạo nên nhịp điệu cân đối, hài hòa, làm cho câu thơ lục bát mang thêm vẻ đẹp cổ điển. Tác giả còn sử dụng rất nhiều từ láy vừa gợi hình ảnh vừa tạo sự trùng điệp về âm thanh: “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”, “hắt hiu”, “đậm đà”, từ, điệp ngữ, điệp cú pháp cũng được sử dụng rộng rãi cũng góp phần tạo nhịp điệu phong phú, như việc lặp lại các từ “nhớ” ở đầu các câu bát, lặp lại các cấu trúc câu hỏi – đáp, phép lặp và liệt kê các địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa, sông Lô, phố Ràng, Cao – Lạng, Nhị Hà, Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, đèo De, núi Hồng…

    Tóm lại, Việt Bắc là một bài thơ có nghệ thuật đặc sắc, đậm đà tính dân tộc: thể thơ lục bát với âm điệu phong phú, kết cấu đầy sáng tạo, ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Bài thơ đã thể hiện được hình ảnh và ý nghĩa lịch sử của Việt Bắc – quê hương cách mạng, làm nổi bật những tình cảm cách mạng cao đẹp của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy gian khổ hy sinh mà oanh liệt, hào hùng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người
  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • Để viết một bài văn cho người đọc vào có cảm giác lôi cuốn và hấp dẫn bởi phần nội dung và hình thức trình bày, thì các bạn cần sử dụng kết hợp một cách khéo léo các biện pháp nghệ thuật trong bài viết của mình, một số biện pháp đó là: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…..

    Các biện pháp nghệ thuật trong văn bản:

    Trước tiên ta cần tìm hiểu lí thuyết về cụm từ “biện pháp nghệ thuật “, là những nguyên tắc thi pháp trong việc tổ chức một phát ngôn nghệ thuật ( nguyên tắc xây dựng cốt truyện, quy tắc phân chia thể loại, nguyên tắc phong cách, thể thức câu thơ…) việc đưa các biện pháp nghệ thuật là đã có sự dự tính sẵn của tác giả, khi đã xác định được những mục đích, do đó nếu lựa chọn được một biện pháp nghệ thuật thích hợp sẽ là tác phẩm trở nên đắc giá.

    Các loại chúng ta thường gặp:

    1. So sánh

    – Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, đặc biệt là có nét tương đồng

    Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hóa

    – Là dùng những từ ngữ vốn miêu tả hành động bản chất của con người để gán vào sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    3. Ẩn dụ

    – Là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác, chúng có nét tương đồng với nhau

    Ví dụ: Mặt trời của Mẹ thì nằm trên lưng

    Cách nhận biết giữa so sánh và ẩn dụ:

    • So sánh: có dấu hiệu nhận biết qua các từ như sau: là, như, bao nhiêu…. bấy nhiêu.
    • Ẩn dụ: có dấu hiệu nhận biết qua các nét tương đồng của 2 sự vật hiện tượng.

    4. Hoán dụ

    – Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vât, hiện tượng khác có nét tương đồng gần gũi

    Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    Cách so sánh nhân hóa và hoán dụ:

    • Nhân hóa có sự nhận biết đó là có chứa các từ tên gọi, hoạt động của con người.
    • Hoán dụ có sự nhận biết là 2 sự vật có nét giống nhau

    5. Nói quá

    – Là biện pháp dùng để phóng đại qui mô,tính chất của sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Chân to giống cái cột đình

    6. Nói giảm nói tránh

    – Là biện pháp nhằm diễn đạt các ý văn thơ một cách tế nhị, uyển chuyển

    Ví dụ: Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    7. Điệp từ, điệp ngữ

    – Là biện pháp được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ hay một cụm từ

    Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

    8. Chơi chữ

    – Là biện pháp được sử dụng đặc sắc về âm sắc, về nghĩa của từ

    Ví dụ: Trời cho = Trò chơi

    – Đó là những biện pháp nghệ thuật thông dụng trong chương trình văn học các học sinh thường gặp mà chúng tôi tổng hợp. Chúng tôi hi vọng rằng bài viết này đã tóm tắt một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp các em trong quá trình học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa (Bằng Việt)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Đoạn Thơ Và Trả Lời Câu Hỏi. Chỉ Ra Biện Pháp Tu Từ Chủ Yếu Trong Đoạn Trích Và Nêu Tác Dụng
  • Nêu Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Một Ngọn Lửa,lòng Bà Luôn Ủ Sẵn…
  • Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con Của Y Phương ( Lớp 9 )
  • Bài 24. Nói Với Con
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương, Văn Mẫu 9,
  • Phân tích các biện pháp tu từ và nghệ thuật trong bài thơ Bếp lửa

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt) là tài liệu văn mẫu lớp 9 hay. chúng tôi đã tổng hợp và biên soạn đầy đủ cả những biện pháp tu từ trong bài Bếp lửa và những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ này chi tiết nhất cho các em học sinh tham khảo. Mời các em tải tài liệu miễn phí.

    Biện pháp tu từ và nghệ thuật bài thơ Bếp lửa

    I. Vài nét về tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả:

    – Bằng Việt, tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941.

    – Quê ở Thạch Thất, Hà Tây (Hà Nội).

    – Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

    – Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ hay những kí ức tuổi ấu thơ không thể nào quên.

    – Tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ, 1968), Những gương mặt, những khoảng trời (1973), Cát sáng (1983)…

    2. Tác phẩm:

    – 1963, khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành luật tại nước Nga xa xôi.

    – In trong tập “Hương cây – Bếp lửa” – tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với Lưu Quang Vũ.

    NHỮNG NỘI DUNG ÔN LUYỆN VĂN 9 THI VÀO 10 ĐỐI VỚI BÀI THƠ BẾP LỬA

    – Phương thức biểu đạt trong Bếp Lửa: Biểu cảm + Tự sự + Miêu tả + Nghị luận.

    – Thể thơ: kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ, 8 chữ.

    – Nội dung bao trùm: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” đã gợi lại những kỷ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu. Đồng thời, thể hiện lòng kính yêu trân trọng của người cháu đối với bà cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Mạch cảm xúc của bài thơ Bếp Lửa: Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa, từ đó gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. Người cháu nay đã trưởng thành, suy ngẫm, thấu hiểu về bà với bao cảm phục, biết ơn. Từ nước Nga xa xôi, người cháu đã gửi niềm nhớ mong về với bà. Mạch cảm xúc của bài đã đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.

    II. Biện pháp tu từ và nghệ thuật trong Bếp lửa của Bằng Việt

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà: BIỆN PHÁP TU TỪ VÀ NGHỆ THUẬT KHỔ 1 BÀI THƠ BẾP LỬA Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Hình ảnh bếp lửa hiện lên giản dị mà nồng ấm biết bao!

    – Điệp ngữ “Một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điệu sâu lắng, khẳng định “bếp lửa” như một dấu ấn không bao giờ phai mờ trong tâm tưởng của nhà thơ.

    – “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây mỗi buổi sớm mai. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”, thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.

    – Từ láy “chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến hình ảnh bập bùng ẩn hiện trong buổi sớm mai hoà cùng làn sương sớm.

    – “Ấp iu” gợi bàn tay khéo léo, tấm lòng chi chút của người nhóm lửa lại rất chính xác với công việc nhóm bếp cụ thể.

    – Từ “nắng mưa” gợi tả sự đằng đẵng của thời gian, vừa thể hiện sự tảo tần, vất vả triền miên của cuộc đời bà.

    2. Hồi tưởng về bà và những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà: 2.1 Tuổi thơ của tác giả có nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn: BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 2 BẾP LỬA Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    – Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ ấy đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cơ cực gắn liền với một giai đoạn đau thương, khủng khiếp nhất của đất nước bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945.

    – Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất của cái “đói mòn đói mỏi”, của dáng hình người cha “khô rạc ngựa gầy” trong lao động vất vả. Tất cả gợi những tháng ngày đói quay đói quắt ở làng quê Việt Nam. Khi nhớ về những tháng ngày gian khổ ấy, người cháu không khỏi xúc động. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hoà lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

    2.2. Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu nhóm lên ngọn lửa ấm áp để nuôi dưỡng bao bọc, chở che cho đứa cháu BIỆN PHÁP TU TỪ VÀ NGHỆ THUẬT TRONG KHỔ 3 BÀI THƠ BẾP LỬA Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    – Điệp từ: bà – cháu tạo nên hình ảnh quấn quýt, gần gũi và đầy yêu thương của bà cháu.

    Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, dạy bảo, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học… Cảm cái công ơn ấy, người cháu lại càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa của bà là chỗ dựa tinh thần, là sự chăm chút, đùm bọc bà dành cho cháu.

    – Điệp từ “tu hú” thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của âm thanh, vừa có sự gần gũi nhưng vẫn thể hiện khoảng không mênh mông. Gợi nhớ về kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết khiến lòng trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong.

    – Câu hỏi tu từ “Tu hú ơi! Chẳng….” thể hiện tâm trạng của người cháu, nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi.

    2.3. Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ THỨ 4 BÀI THƠ BẾP LỬA “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh.”

    Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh. Trên cái nền của sự tàn phá, huỷ diệt ấy là sự cưu mang, đùm bọc của xóm làng đối với hai bà cháu. Vẻ đẹp của tình người toả sáng trong những năm chiến tranh khói lửa. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh khói lửa chiến tranh. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

    “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”.

    Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm kháng chiến. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến. Bà thật là giàu lòng yêu thương. Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận được lòng biết ơn, niềm tự hào của người cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

    2.4. Hình ảnh người bà và những kỉ niệm năm tháng tuổi thơ luôn gắn với hình ảnh bếp lửa BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 5 BẾP LỬA Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    – “Bếp lửa” được bà nhen lên thành “ngọn lửa” mang nhiều ý nghĩa tượng trưng. Đó là ngọn lửa được nhóm lên từ lòng bà – ngọn lửa của sức sống, tình yêu thương, niềm tin. Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Hình ảnh người bà, hình ảnh bếp lửa toả sáng lung linh trong kí ức tuổi thơ và có ý nghĩa nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Điệp ngữ “một ngọn lửa” với kết cấu song hành đã làm giọng thơ ngân vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    3. Suy nghĩ về bà và tự cảm của người cháu BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 6 BÀI THƠ BẾP LỬA Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    – Tác giả thương bà thật thấm thía, chân thành. Hình ảnh mưa nắng trở đi trở lại, bao xót xa. Nhưng bà vất vả vì bà luôn “giữ thói quen dạy sớm” để nhóm lửa, vì bà luôn ấp iu yêu thương bằng tất cả sự nồng đượm của tấm lòng. Thì ra, giặc giữa, đói kém, nắng mưa… làm bà lận đận đã đành, nhưng thương con, thương cháu mà bà tự nguyện lận đận trọn kiếp người.

    – Điệp từ: “nhóm” diễn tả những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời bà:

    + Bà là người nhóm lửa cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong mỗi gia đình.

    + Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhóm niềm yêu thương, niềm vui, niềm tin trong lòng người cháu.

    – Hình ảnh “bếp lửa”: từ nghĩa tả thực đã được tác giả cất giữ trong tâm hồn như một biểu tượng: hơi ấm tình thương, sự che chở, nơi quần tụ, nơi dẫn dắt, niềm tin… bà dành cho cháu, giản dị mà thiêng liêng.

    – Phép ẩn dụ “nhóm niềm…” nó không chỉ khơi gợi niềm yêu thương gia đình, tình làng nghĩa xóm mà nó còn khơi gợi cả những kí ức tuổi thơ, kỉ niệm khó quên nhất.

    4. Lòng kính yêu, tự hào về bà, về quê hương đất nước BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KHỔ 7 BÀI BẾP LỬA Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    – Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa đến những chân trời cao rộng có “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”… nhưng với cháu, bếp lửa của bà luôn hiện diện. Cháu không nguôi nhớ về bà, về bếp lửa và nỗi nhớ ấy luôn thường trực, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    3. Bài thơ Bếp Lửa

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về,

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khổ Thơ Thứ 4 Trong Bài Tràng Giang (Huy Cận)
  • Tuần 23. Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Cảm Nhận Về Khổ Thơ Cuối Trong Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Các Đề Văn Về Bài Đây Thôn Vĩ Dạ
  • Học Câu ‘ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây’ Đã Lâu, Vậy Đến Nay Bạn Đã Thực Hiện Những Gì Về Lòng Biết Ơn Rồi?
  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củalên Việt Bắc Đèo De, Núi Hồng” Trong Bài Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • “Những đường Việt Bắc của ta Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng” Dàn ý I. Mở bài:

    – Giới thiệu tác giả Tố Hữu

    – Giới thiệu bài thơ Việt Bắc

    – Giới thiệu đoạn trích

    II. Thân bài

    – Phân tích 12 câu thơ trên thành 2 luận điểm:

    + Luận điểm 1: 8 câu đầu chính là khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam

    + Luận điểm 2: 4 câu còn lại chính là khí thế, niềm vui chiến thắng tại các chiến trường khác nhau.

    – Chi tiết như sau:

    1. Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam

    + 2 câu đầu: M.6ở ra một cảnh tượng sôi động của Việt Bắc trong những đêm hành quân vào chiến dịch:

    – “Những đường Việt Bắc”: không gian vô cùng rộng lớn.

    – Điệp từ “đêm đêm” “thời gian liên tục tiếp nối.

    – So sánh “như là đất nung” + từ láy “rầm rập” ” Khí thế hào hùng làm rung đất chuyển trời.

    – Sự lớn mạnh của quân đội ta về lực lượng, khí thế.

    + 6 câu tiếp: Sự phối hợp các lực lượng chiến đấu:

    * Đoàn quân:

    – Từ láy: ” điệp điệp trùng trùng” ” những đoàn quân tiếp nhau bước đi như những đợt sóng trào kéo dài vô tận.

    – Hình ảnh “ánh sao đầu súng” là một tứ thơ đẹp gợi nhiều liên tưởng:

    – Nghệ thuật nhân hóa: ánh sao theo chân đoàn quân, treo lơ lửng trên đầu súng, soi sáng khắp các ngả đường hành quân _thiên nhiên đã thành người bạn đồng hành cùng chiến sĩ.

    – Ần dụ: ánh sao _lí tưởng cách mạng luôn soi sáng dẫn đường, đến tương lai tươi sáng _niềm tin tưởng lạc quan đầy khí thế.

    * Đoàn dân công:

    – Những bó đuốc đỏ rực soi đường, làm sáng bừng lên hình ảnh những đoàn quân dân công tiếp lương, tải đạn với đủ cả: già, trẻ, gái, trai… họ đến từ những miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở: xe đạp thồ, gùi, cáng…quyết tâm kiên cường vượt qua khó khăn nguy hiểm để bảo đàm vũ khí, thuốc men, lương thực…cho tiến tuyến.

    – Cách nói cường điệu “bước…bay”: vừa diễn tả lực lượng đông đảo vừa diễn tả một sức mạnh hùng hậu phục vụ chiến trường. Cuộc chiến đấu cảu ta là đấu tranh nhân dân, đã phát huy sức mạnh toàn dân.

    – Hình ảnh thơ thật đẹp ” muôn tàn lửa bay”, “đỏ đuốc” _ xua tan những lạnh lẽo, tăm tối nơi rừng núi.

    – Từ láy” điệp điệp” “trùng trùng” + từ “nát đá” ” góp phần tạo nên âm điệu hùng tráng mạnh mẽ.

    * Đoàn ô tô quân sự:

    – Hình ảnh ” đèn pha bật sáng” ” ánh sáng rực rỡ xuyên thủng đêm dày tăm tối.

    – Hình ảnh ẩn dụ:

    “nghìn đêm” Quá khứ nô lệ.

    “sương dày”: những khó khăn vất vả, thiếu thốn trong hiện tại.

    – So sánh: “Như ngày mai lên” “niềm tin tưởng, lạc quan _hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu trưng cho tương lai tươi sáng của đất nước.

    – Nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, gấp gáp. Âm hưởng hào hùng, sôi nổi nào nức; hình ảnh thơ hoành tráng, mỹ lệ.

    2. Niềm vui khi tin chiến thắng cũa mọi miền đất nước tiếp nối báo về:

    – Đoạn thơ tràn ngập ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha…, ánh sáng của niềm tin tưởng, niềm vui tràn ngập. Tất cả tạo thành khúc hùng ca chiến thắng. Việt Bắc không còn là của mình hay là cảu riêng ta mà là của ta – của chúng ta, của tất cả mọi người Việt Nam kháng chiến.

    – Điệp từ “vui” như tiếng reo mừng chiến thắng, cảm xúc náo nức, vui sướng, tự hào khi tin vui chiến thắng dồn dập đổ về từ khắp mọi miền đất nước.

    – Liệt kê những địa danh kết hợp từ “trăm miền” mở ra không gian rộng lớn của chiến thắng từ miền núi đến đồng bằng, từ bắc tới nam.

    – Nhịp điệu thơ dồn dập, tươi vui, náo nức cho thấy tốc độ thần kỳ, nhanh chóng của những chiến thắng.

    – Những từ: “vui về”, “vui lên”, ‘vui từ” đã đặt Việt Bắc làm tâm điểm của mọi niềm vui.

    – Giọng thơ say mê, náo nức tràn ngập niềm vui sướng trong lòng hàng triệu con người từ bắc chí nam.

    III. Kết bài:

    Bài mẫu BÀI LÀM

    – Khái quát vấn đề

    Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như lá đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng.

    Bài thơ Việt Bắc được nhà thơ Tố Hữu viết vào tháng 10 – 1954, tức sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5 – 1954), miền Bắc được giải phóng. Các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ Việt Bắc (thủ đô của cuộc kháng chiến) về Hà Nội. Sự lưu luyến kẻ ở người về là nguồn cảm xúc lớn cho Tố Hữu viết nên bài thơ này. Bài thơ Việt Bắc được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954) của Tố Hữu. Bài thơ đã bộc lộ nỗi nhớ của người cán bộ cách mạng (cũng chính là nhà thơ) đối với chiến khu Việt Bắc khi rời chiến khu về thủ đô Hà Nội. Bài thơ là lời ca ngợi phong cảnh và con người Việt Bắc: cảnh vật Việt Bắc đẹp, hùng vĩ… con người Việt Bắc đáng yêu, cảnh vật và con người nơi đây đã ghi dấu nhiều chiến công là làm nên những kỉ niệm thật vô cùng sâu sắc mà nhà thơ không thể nào quên được. Đặc biệt, trong bài thơ, Tố Hữu đã viết nên một khúc ca hùng tráng về con người kháng chiến và cuộc kháng chiến. Điều đó thể hiện rõ trong đoạn thơ sau:

    Bài thơ có tiêu đề là Việt Bắc. Việt Bắc được xem là quê hương của cách mạng, ở đây có Pắc Pó, nơi Bác Hồ đặt chân đầu tiên khi Người trở về nước (tháng 2/1941), ở đây, diễn ra hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, thành lập mặt trận Việt Minh. Việt Bắc lại có mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào – nơi họp Quốc dân đại hội ngày (16/8/1945) bầu ra ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc và cũng là nơi xuất phát của đội quân cách mạng tiến về giải phóng Thái Nguyên.

    Trong kháng chiến chống Pháp, Việt Bắc là một chiến khu vững chãi, nơi đóng các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Việt Bắc cũng là nơi chứng kiến biết bao nhiêu chiến công oanh liệt, thể hiện khí thế hào hùng của quân và dân ta trong chín năm kháng chiến.

    Thứ nhất, đoạn thơ đã tái hiện nên những hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta là một cuộc kháng chiến toàn dân. Các tầng lớp nhân dân bất phân già trẻ, gái trai, lớn bé đều tham gia kháng chiến. Trong đó, nổi bật nhất là hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ. Người lính thời chống Pháp đã trải qua biết bao nhiêu hi sinh gian khổ nhưng rất hùng tráng và đầy lạc quan.

    Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

    Hình ảnh hào hùng của đoàn quân ấy được thể hiện trong hai câu đầu của đoạn thơ:

    Hai từ láy “điệp điệp” và “trùng trùng” đi liền nhau ở câu thơ có sức gợi tả đó, nó vừa gợi lên hình ảnh của một đoàn quân đông đúc, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của một đoàn quân. Đoàn quân ra mặt trận hùng tráng, mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quân thù.

    Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

    Câu thơ thứ hai đưực ngắt theo nhịp 4/4: “Ánh sao đầu súng / bạn cùng mũ nan” càng làm tăng thêm vẻ đẹp của người lính – một vẻ đẹp vừa mang tính lãng mạn vừa mang tính hiện thực sâu sắc. Hình ảnh “Ánh sao đầu súng” có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân như “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; “ánh sao đầu súng” ấy cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi, như nhà thơ Vũ Cao trong bài Núi đôi đã viết:

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn Dấu chân nát đá, muôn tàn lửa bay

    Góp phần vào sự hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta có cả một tập thể quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến. Họ là những “dân công đỏ đuốc từng đoàn” tải lương thực, súng đạn để phục vụ cho chiến trường. Hình ảnh của họ cũng thật đẹp, thật hào hùng và đầy lạc quan không kém những người lính:

    Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng.

    Bằng một cách nói cường điệu “dấu chân nát đá “, nhà thơ đã làm nổi bật sức mạnh yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng, ý chí quyết tâm đánh thắng quân thù của người nông dân lao động. Người nông dân lao động (lực lượng nòng cốt của cách mạng) là lực lượng góp phần rất lớn để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn sau này – Họ là những người nông dân đôn hậu, chất phác, lớn lên từ bờ tre, gốc lúa nhưng họ đi vào cuộc kháng chiến với tất cả những tình cảm và hành động cao đẹp, họ bất chấp những hi sinh, gian khổ, chấp mưa bom bão đạn của quân thù, đạp bằng mọi trở lực để đi theo tiếng gọi của lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã nói trong bài Đất Nước:

    Hai hình ảnh “dấu chân nát đá” và “muôn tàn lửa bay” đã thể hiện cái khí thế hào hùng đó của nhân dân.

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.

    Dù có trải qua bao nhiêu gian khổ, có nghìn đêm đi trong “thăm thẳm sương dày” nhưng niềm lạc quan tin tưởng vào ngày mai thắng lợi vẫn sáng ngời. Như “ngọn đèn pha bật sáng” giữa cái “nghìn đêm thăm thẳm sương dày” ấy, mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, đó chính là ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi đường cho dân tộc ta bước qua đêm trường nô lệ để đến một ngày mai tươi sáng, một thời đại thắng lợi huy hoàng của cách mạng – một thời đại độc lập, tự do:

    Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng

    Chính những sức mạnh ấy, niềm tin ấy đã đem lại những niềm vui chiến thắng. Những tin vui chiến thắng dồn dập, liên tục trên nhiều mặt trận được gửi về làm nức lòng quân và dân ta:

    Điệp từ “vui” được lặp đi lặp lại nhiều lần gợi lên những đợt sóng tình cảm trào dâng, đợt sóng này kế tiếp đợt sóng kia cứ dâng lên, dâng lên mãi, tràn ngập tâm hồn nhà thơ, trong lòng quân dân cả nước.

    chúng tôi

    Với lối thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với chất thơ trữ tình cách mạng, thật sôi nổi, hào hùng, thiết tha, nhà thơ Tố Hữu trong đoạn thơ này đã thể hiện nổi bật khí thế hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc; đồng thời đoạn thơ còn thể hiện niềm lạc quan cách mạng, ý chí chiến đấu và chiến thắng kẻ thù, làm nên những chiến thắng vẻ vang, mang niềm vui về cho dân tộc. Đoạn thơ như một đoạn sử thi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Bước Chân Nát Đá Muôn Tàn Lửa Bay
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Cú Pháp Ngắn Nhất
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu) Nguyễn Khuyến
  • Suy Nghĩ Về Câu Ca Dao Sau: Công Cha Như Núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra. Một Lòng Thờ Mẹ Kính Cha. Cho Tròn Chữ Hiếu Mới Là Đạo Con.
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài Văn Kể Về Người Bạn Em Mới Quen Tlv 3, Lớp 6
  • Tóm Tắt Những Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Bài Thơ Đồng Chí (Chính Hữu)
  • Cảm Nhận Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Đồng Chí Của Chính Hữu
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ rất hay trong chương trình lớp 7, trong bài này sử dụng những biện pháp nghệ thuật, tu từ, xem bên dưới để biết tác giả đã sử dụng chúng hiệu quả như thế nào.

    Tác giả – Tác phẩm

    Hồ Xuân Hương, sống ở khoảng cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19. Bà được mệnh danh là “bà chúa thơ Nôm” với những bài thơ Nôm viết về người phụ nữ nổi tiếng. Hồ Xuân Hương là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam với những giá trị cho đến tận ngày nay. Cuộc đời Hồ Xuân Hương trải qua nhiều thăng trầm, sống ở thời kì Lê mạt – Nguyễn Sơ, đây được coi là giai đoạn với nhiều biến động trong xã hội. Tuy nhiên, dù ở thời kì cuối phong kiến bà vẫn có cuộc sống êm đềm ở chốn phồn hoa – cổ Nguyệt đường ven Tây hồ. Bà là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi, có thiên phú về thơ ca đồng thời cũng hiểu biết rộng và giao du với nhiều nhà thơ, nhà văn lúc bấy giờ. Tuy nhiên trong con đường tình duyên, bà lại không mấy suôn sẻ, đều làm lẽ qua hai đời chồng và hạnh phúc cũng ngắn ngủi.

    Các sáng tác của Hồ Xuân Hương luôn để lại những giá trị ý nghĩa sâu sắc. Các đề tài luôn xoay quanh tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Tuy nhiên khi nhắc đến thơ Nôm không thể không nhắc tới những bài thơ viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Có thể nói thơ Hồ Xuân Hương khi viết về người phụ nữ cũng chính là tiếng lòng của bà, tiếc thay cho thân phận chính mình. Trong đó vừa có sự hóm hỉnh, sâu cay vừa có gì đó xót xa, từng trải nhưng không kém phần ngạo nghễ. Các tập thơ nổi tiếng như “Xuân Hương thi tập”, “Lưu hương ký”…

    -Hoàn cảnh sáng tác bài “Bánh trôi nước”: là một người phụ nữ sống trong thời kì phong kiến, bà tiếp xúc với nhiều người dân lao động nghèo, đặc biệt là những người phụ nữ bị áp bức bất công. Trong xã hội đó luôn đề cao tinh thần trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê đa thiếp khiến cho người phụ nữ bị rè rúng, sống cuộc đời bị hắt hủi, đau thương. Chính vì thương thay cho số phận bất hạnh của những người phụ nữ đó bà đã chiêm nghiệm và viết nên bài “Bánh trôi nước”.

    Giá trị nội dung

    Bài thơ “Bánh trôi nước” có giá trị nội dung, ý nghĩa sâu sắc. Thông qua hình ảnh chiếc bánh trôi với nhiều tầng nghĩa, được miêu tả thực, Hồ Xuân Hương đã làm hiện rõ hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.

    Bài thơ là tiếng lòng cảm thông, xót xa không chỉ cho thân phận người phụ nữ mà còn là cho chính bản thân mình. Sống ở thời kì mà xã hội không có chỗ cho người phụ nữ lên tiếng nên bà chỉ còn cách gửi gắm nỗi lòng vào những vần thơ. Thân phận người phụ nữ hiện lên với những bất hạnh, khổ đau, lênh đênh, lận đận không thể làm chủ cho chính mình. Song người con gái ấy vẫn một lòng son sắt, thủy chung. Vẻ đẹp đó thật đáng ngợi ca.

    Biện pháp nghệ thuật sử dụng trong bài Bánh trôi nước

    Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Bánh trôi nước gồm có:

    -Ẩn dụ: tác giả mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói về thân phận của những người con gái xưa dù tài hoa, xinh đẹp trong xã hội xưa mà số phận lênh đênh trôi nổi, số phận của họ lại bị phụ thuộc vào những kẻ khác.

    -Thành ngữ: “bảy nổi ba chìm” mục đích để nói về cuộc đời đầy lận đận, bấp bênh của những người phụ nữ của những kiếp hồng nhan bạc phận của phụ nữ xưa.

    – Điệp từ sử dụng từ “vừa” trong câu “thân em vừa trắng lại vừa tròn” nói lên những người phụ nữ xưa đều rất tài giỏi và xinh đẹp.

    Dàn ý phân tích tác phẩm

    -Hình ảnh bánh trôi nước:

    + Bánh trôi nước là loại bánh nổi tiếng của miền bắc. Hình dáng bên ngoài: trắng, tròn.

    +Cách làm bánh: Lớp bên ngoài là lớp vỏ bánh được nặn tròn, nhân bên trong màu đỏ. Luộc bánh để qua mấy lần chìm nổi thì mới chín và ngon. Khi nặn bánh độ tròn méo như nào phụ thuộc vào tay người nặn. Khi chín vỏ bánh mềm và nhân bên trong vẫn không hề bị méo.

    -Hình ảnh người phụ nữ:

    + Cách dùng: thông qua hình ảnh bánh trôi nước để liên hệ đến thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

    + Hình ảnh bên ngoài của bánh trắng tròn đại diện cho vẻ đẹp hình thức của người con gái. Hình ảnh “bảy nổi ba chìm” chỉ số phận của họ lênh đênh lận đận. “Rắn nát” hay hạnh phúc đều phụ thuộc vào tay người đàn ông trong xã hội.

    Các em theo dõi bên dưới để tìm kiếm thêm nhiều bài soạn văn cũng như một số bài văn mẫu hay trong chương trình Ngữ Văn Lớp 7. Chúc các em học tốt Ngữ Văn 7.

    ” Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Khổ 3 Của Bài Thơ Tây Tiến Và Nhận Xét Về Phong Cách Nghệ Thuật Của Quang Dũng Câu Hỏi 60249
  • Bút Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Là Bút Pháp Tả Thực Hay Lãng Mạn?
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Tây Tiến
  • Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương
  • Phân Tích Bài Thơ Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ Trong Bài Thề Nguyền (Nguyễn Du)

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyện: Vương Gia Lạnh Lùng Chỉ Sủng Vương Phi Bị Bỏ
  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân Vững Mạnh Gắn Với Thế Trận Lòng Dân Vững Chắc
  • Ôn Thi Qp Hki Hay Mot So Hieu Biet Ve Nen Quoc Phong Toan Dan Doc
  • Đề Cương Ôn Thi Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chương I,ii Phần Ii
  • Đáp Án Và Lời Giải Chi Tiết Đề Số 40
  • Vị trí đoạn trích: trích từ câu 431 đến câu 452, nói về đêm thề nguyền giữa Kiều và Kim Trọng, hai người nguyện gắn bó thủy chung suốt đời.

    • Từ câu 1 đến câu 4: Thúy Kiều lại sang nhà Kim Trọng.
    • Từ câu 5 đến câu 10: Tư thế, cảm giác của Kim Trọng khi thấy Thúy Kiều bước vào.
    • Từ câu 11 đến câu 14: Thúy Kiều giải thích lí do sang nhà Kim Trọng.
    • Còn lại: Cảnh thề nguyền.

    Biện pháp nghệ thuật tu từ trong Thề nguyền

    a. Cảnh Kiều sang nhà Kim Trọng “Cửa ngoài vội rủ rèm the, Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?” * Tâm trạng và tình cảm của Thúy Kiều

    – Theo như lễ giáo phong kiến thì con gái phải là để người con trai tỏ tình trước hay là cha mẹ đặt đâu con

    ngồi đó nhưng Kiều lại khác. Nàng một mình “xăm xăm băng lối” sang nhà Kim trọng.

    + Từ ngữ:

      “Xăm xăm”, “băng”: Hành động dứt khoát, táo bạo, mạnh mẽ, bất chấp quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến → Thể hiện sự vội vàng và tình cảm lớn lao mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.

    + “Nhặt thưa gương giọi đầu cành,… Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng”: Hình ảnh Thúy Kiều quay trở

    lại gặp Kim Trọng trong không gian đầy trăng thơ mộng.

    + “Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,… Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?”: Lời Thúy Kiều.

    • “Khoảng vắng đêm trường”: Là khoảng thời gian tất cả mọi vật đều chìm trong giấc ngủ. Nhưng Kiều không để thời gian chi phối tình cảm của mình mà đã xăm xăm đến nhà Kim Trọng.
    • “Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa”: Tình yêu hồn nhiên, trong sáng, tự do và tha thiết.
    • Hoa tượng trưng cho cái đẹp nhưng dễ phai tàn → Nó dự báo một cuộc đời bão táp của Kiều.
    • “Chẳng là chiêm bao”: Băn khoăn về một sự tan vỡ.

    * Tâm trạng và thái độ trân trọng của Kim Trọng

    • Nhà thơ dùng những mỹ từ rất đẹp để nói về cảnh tượng ấy : “nhặt thưa”, “lọt”, “hắt hiu”. Mọi thứ đều trở nên nhỏ nhẹ, hiền từ trước tình yêu
    • Và đến khi biết là mình không phải là mơ nữa thì Kim Trọng nhanh chóng rước Kiều vào nhà.

    b. Cảnh Kiều và Kim Trọng thề nguyền “Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương Tiên thề cùng thảo một chương Tóc mây một món dao vàng chia đôi

    – Không gian: Trong nhà giữa một đêm trăng sáng

    – Thời gian: đêm tối

    – Các hình ảnh:

    • Đài sen, lò đào thêm hương
    • Tiên thề: Tờ giấy viết lời thề
    • Dùng dao vàng cắt tóc thề nguyền

    Vừng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song. Tóc tơ cân vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

    – Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ: vừng trăng là nhân chứng cho tình yêu

    – Sử dụng từ láy:

      Vằng vặc: chỉ ánh trăng rất sáng, không một chút gợn, khiến có thể nhìn rõ các vật.
    • Đinh ninh : nói đi nói lại, dặn đi dặn lại cặn kẽ để cho nhớ kĩ, cho chắc chắn.
    • Song song: đi bên nhau

    * Đánh giá chung:

    • Giá trị nội dung: ngợi ca, cổ vũ cho tình yêu trong sáng của Thúy Kiều và Kim Trọng; thể hiện ước mơ được tự do yêu đương vượt lên trên lễ giáo phong kiến.
    • Giá trị nghệ thuật: sử dụng các hình ảnh ước lệ, điển cố điển tích; vận dụng các hình ảnh ẩn dụ giàu sức chứa; bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo; nghệ thuật tả cảnh đặc sắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Truyện Bách Hợp Hay Nhất, Hấp Dẫn Nhất Hiện Nay
  • Bạn Chán Ngôn Tình Hãy Thử Những Bộ Truyện Bách Hợp Hay
  • Top Truyện Bách Hợp Hay Đốn Tim Những Người Đang Yêu
  • Top 10 Truyện Bách Hợp Hay Được Đọc Nhiều Nhất, Tính Đến Đầu 2022
  • Một Số Biện Pháp Xây Dựng Nề Nếp Lớp Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • 15 Biện Pháp Tránh Thai Phổ Biến Hiện Nay
  • 12 Biện Pháp Tránh Thai Ưu Việt Nhất
  • So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

    Nhân hoá là gọi hoặc tả nhân vật cây cối đồ vật. bằng những từ ngữ vốn đc dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới đồ vật cây cối loài vật. trở nên gần gũi với con người biểu thị đc suy nghĩ tình cảm của con ng

    ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

    Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

    5,6. Điệp từ điệp ngữ

    điệp từ điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật

    7. thậm xưng ( nói quá )

    Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiên tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng sức biểu cảm

    Các biện pháp nghệ thuật tu từ 1. So sánh So sánh là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 2. nhân hoá Nhân hoá là gọi hoặc tả nhân vật cây cối đồ vật… bằng những từ ngữ vốn đc dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới đồ vật cây cối loài vật… trở nên gần gũi với con người biểu thị đc suy nghĩ tình cảm của con ng 3. ẩn dụ ẩn dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng sự vật hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 4. hoán dụ Hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng bằng tên của một sự vật hiện tượng khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt 5,6. Điệp từ điệp ngữ điệp từ điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp đi lặp lại có dụng ý nghệ thuật 7. thậm xưng ( nói quá ) Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ quy mô tính chất của sự vật hiên tượng được miêu tả để nhấn mạnh gây ấn tượng tăng sức biểu cảm 8. Chơi chữ Chơi chữ là biện pháp khai thác hiện tượng đồng âm khác nghĩa để tạo sắc thái dí dỏm hài hước cho lời ăn tiếng nói hoặc câu văn câu thơ 9. câu hỏi tu từ – tạo ấn tượng nhấn mạnh tô đậm – khẳng định chính kiến của người viết Các bút pháp nghệ thuật bút pháp ước lệ tượng trưng Ước lệ : sử dụng hình ảnh mang tính chất quy ước đã trở thành thông lệ thói quen tượng trưng là những chi tiết hình ảnh mang ý nghĩa đặc trưng tiêu biểu người ta thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực thước đo cho mọi giá trị trong truyện kiều: bút pháp ước lệ tượng trưng để miêu tả nhân vật chính diện thiên nhiên biết thuý vân đẹp nhưng hok đố kị, và Ng Du đã dùng nghệ thuật đòn bẩy để miêu tả kiều hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh, dự báo 1 tương lai sóng gió khi đã vượt qua giới hạn của tự nhiên, kiều hok còn của riêng ng du nữa mà kiều là số phận của cả dân tộc mình thuý vân và kim trọng là những con ng đạt đến vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng đạt đến mức hài hoà cân xứng với vẻ đẹp tự nhiên vốn có, nhưng thuý kiều và từ hải vẻ đẹp của họ đã vượt qua chuẩn mực tự nhiên đời thường để thành vẻ đẹp phi thường và khác lạ và sau này cuộc đời dự báo tất cả qua các thủ pháp đó của ng du, và khi dùng bút pháp ước lệ như vậy thể hiện từ 1 cảm hứng ngợi ca bộc lộ thái độ tư tưởng đề cao tran trọng và ngưỡng vọng với những nhân vật mà mình thể hiện bút pháp tả thực phản ánh một cách chân thực những đặc điểm của sự vật hiện tượng trong truyện kiều bút pháp tả thực đc dùng để tố cáo nhân vật phản diện. Kì kèo bớt 1 thêm 2 đã cho ta thấy mã giám sinh hok chỉ là kẻ vô học mà còn là 1 kon buôn, chỉ 1 chữ “tót” cho ta thấy đc sự vô học của hắn bút pháp ước lệ tượng trưng là sự tôn trọng kính trọng còn bút pháp tả thực chỉ sự khinh bỉ bút pháp tả cảnh ngụ tình trong miêu tả cảnh vật thiên nhiên đã ẩn chứa cảm xúc tình cảm của con ng trong đó: tình cảm của nhà thơ, tình cảm của nhân vật trong tác phẩm tác dụng: tình ý trong văn bản hàm súc sâu sắc kín đáo mà vẫn chứa sức gợi và tạo liên tưởng cho ng đọc truyện kiều của ng du đã sử dụng bút pháp này 1 cách nhuần nhuyễn mà có nhiều cấu nhiều đoạn đã đạt đến đỉnh điểm của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen…
  • Cảm Nhận Về Bài Ca Dao: Trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen
  • Cảm Nhận Về Vẻ Đẹp Của Bài Ca Dao:”trong Đầm Gì Đẹp Bằng Sen….”
  • Nêu Những Nét Đặc Sắc Về Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Tiếng Gà Trưa Của Nhà Thơ Xuân Quỳnh
  • Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hồi tanh mùi bùn.

    Tuổi thơ của em đã trôi qua êm đềm trong tiếng mẹ ru, tiếng bà ngọt ngào thủ thỉ. Bao lời ru, bao bài hát đã trở thành một phần tâm hồn của em, nâng đỡ em trong cuộc sống. Bài ca dao Hoa sen cũng vậy, nó thâm nhập vào tim em với chất giọng dịu dàng, thanh thoát, nó giúp em suy nghĩ chính chắn về con người Việt Nam, khơi dậy trong em niềm xúc động chân thành nhất:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Ngày từ lúc còn ấu thơ, tuổi nhỏ chúng ta đã thấm đượm hương vị ngọt ngào, thơm ngát của hoa sen, lưu luyến một chút vị dịu dàng trên đầu lưỡi của tách trà ướp sen trong mát. Hoa sen đã in vào tâm trí chúng ta bởi những hình ảnh êm đẹp, nhẹ nhàng nhất. Và bài ca dao cũng đã mở đầu nhẹ nhàng êm đẹp như thế!

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Câu ca dao là lời khẳng định vẻ đẹp của hoa sen. Trong đầm đầy bùn đen đó, không có gì đẹp bằng hoa sen. Lời khẳng định thật tự nhiên nói lên một chân lí đều được mọi người biết đên. Thế hoa sen có gì mà đẹp? Bài ca dao trả lời:

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng 

    Chỉ có ba sắc màu xanh, trắng, vàng nhưng bức tranh được tạo nên thật hài hòa trang nhã. Nổi bật trên nền xanh mướt của lá, bông sen vươn cao, xòe cánh hoa trắng muốt như toát lên sự trinh nguyên trong trắng đến tuyệt vời. Và e dè, ẩn hiện dưới những cánh hoa là những cái nhị vàng xinh xinh đang nép vào nhau. Không rực rỡ kiêu sa, hoa sen dịu dàng giản dị, đơn sơ mà thanh khiết làm sao!

    Ta tiếp tục say mê, thích thú với sắc đẹp của hoa

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Nếu không có một khoảnh khắc tỉnh lại, có lẽ ta không nhận ra câu ca dao đã đổi ngược một cách đột ngột. Việc chuyển vần đổi nhịp ấy, ta có thể hình dung nó như dòng nước đang chảy xuôi, bỗng gặp cái đập chắn ngang buộc dòng nước phải đổi chiều. Chính vì vậy, ta thấy dường như câu thơ kéo ta lại để nhìn cho rõ, để kiểm nghiệm lại. Nét thú vị của bài ca dao chính là chỗ đó. Ta thử đọc lại câu thơ một lần nữa.

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Dưới lời thơ dồn dập ấy, tưởng có gì lạ, nào ngờ đó chỉ là sự đảo ngược trật tự các hình tượng của câu thơ trước và sau. Cũng vẫn là ba sắc màu thanh nhã ấy – ta có thể hình dung dường như có ai đó đang đếm từng lá sen xanh, lật từng cánh sen trắng, chỉ từng nhị sen vàng như để giảng giải, để chứng minh với mọi người hoa sen là thế đấy! Nó tinh khiết trắng trong không vướng chút bợn nhơ nào. Và phẩm chất của hoa sen bừng lên sáng đẹp một chân lí.Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

    Ta chợt vỡ lẽ, điều tác giả muốn nói đến là đây, ý tác giả cần nêu lên là đây. Bông hoa rạng rỡ, tỏa hương thơm ngát giữa đầm lầy u tối làm bừng sáng cả bài ca dao. Từng lời thơ, nhịp điệu đến câu chữ được kết hợp, hòa lẫn một cách nhuần nhuyễn như máu với thịt làm sáng rõ chân lí sáng ngời. Phẩm chất tốt đẹp của loài hoa đồng nội Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Ca dao là tiếng hát tâm tình của người dân lao động, làm dịu nỗi nhọc nhằn của họ trên ruộng đồng, nương rẫy. Giọng điệu bài ca dao nhẹ nhàng ấm áp, êm đềm, đơn giản chân chất như lời tâm sự của người dân lao động Việt Nam. Họ mượn bài ca để bộc bạch nỗi lòng trong trắng thanh cao của mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống. Ta không thể quên được nỗi vất vả, gian truân mà họ phải trải qua. Ta thông cảm, hiểu rõ họ hơn bởi đã có bao nhiêu lão Hạc thà chết để giữ gìn danh dự, bao nhiêu chị Dậu lao đi trong đêm đen để bảo toàn chữ tiết trinh, trong trắng thủy chung, bao nhiêu con cò đã cất lời cầu xin chút ân huệ được chết trong để nâng niu tấm lòng trong trắng cho đến phút cuối cuộc đời.

    Nhưng xét cho cùng, qua hình ảnh độc đáo được chọn lọc khéo léo trong bài ca dao, hình như đây là lời phân trần của những nhà trí thức phong kiến xưa kia. Chính từ chỗ đảo ngược vị trí của câu ca dao, ta nghe lời thơ như nghẹn ngào uất ức, dâng lên nỗi xót xa của những người đang tự bộc bạch, minh oan về một điều mà trong xã hội ấy khó ai tin được. Sống giữa chế độ xấu xa thối nát, họ là những đóa sen ngát hương lặng lẽ, âm thầm vươn lên trong sáng. Ở đây câu ca dao có vẻ gì nặng nề, có gì đó chua xót, thật khác hẳn với câu thơ của Bảo Định Giang.

    Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

    Tháp Mười đẹp vì có hoa sen, Việt Nam đẹp vì có Bác Hồ. Hình ảnh lời thơ kết hợp hài hòa mà thống nhất, nó mới nhẹ nhàng thanh thoát làm sao!

    Bài ca dao Hoa sen đã đi vào tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam. Nó trở thành một phần máu thịt của mỗi chúng ta. Nó hòa quyện vào tâm hồn chúng ta làm bừng sáng truyền thống cao đẹp vốn cổ từ xưa. Cho đến hôm nay và mãi mãi về sau, bài ca dao không bao giờ bị lãng quên mà luôn được bổ sung thêm để hình thành nhân cách, đạo đức của mỗi con người. Tất cả chỉ từ một lời ru: Trong đầm gì đẹp bằng sen…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tràng Giang Của Huy Cận
  • Bài Thơ Tràng Giang (Huy Cận)
  • Dựa Vào Văn Bản Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hoà Bình Của G.mác
  • Phân Tích Hình Tượng Người Lính Qua Đoạn Thơ Thứ 3 Tây Tiến Quang Dũng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100