Biện Pháp Nghệ Thuật Và Tác Dụng Trong Đoạn Thơ Tả Bức Tranh Xuân Trong “cảnh Ngày Xuân “

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bút Pháp Nghệ Thuật Của Nguyễn Du Qua Đoạn Trích “cảnh Ngày Xuân”
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Trong Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân. Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du .
  • Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả, Tác Phẩm
  • ✅ Văn Mẫu: Tôi Yêu Em (Pu
  • Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một tác phẩm hay, độc đáo, rất tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn trích nằm ngay sau đoạn tả tài, tả sắc của chị em Thúy Kiều. Qua đoạn thơ, Nguyễn Du dựng lên bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân trong tiết Thanh minh thật tươi sáng, sống động. Nhà thơ đã khéo léo kết hợp bút pháp tả và gợi với những chi tiết mang tính ước lệ mà vẫn vô cùng chân thực, giàu tính chất tạo hình và biểu cảm, ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt để miêu tả khung cảnh ngày xuân.

    Trước hết là bốn câu thơ đầu , với nghệ thuật chấm phá độc đáo tả ít gợi nhiều, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, giàu sức xuân:

    Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

    Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

    Hai câu thơ đầu vừa có sức gợi về thời gian, lại vừa có sức gợi về không gian. Ngày xuân thấm thoát trôi qua thật nhanh như thoi đưa. Cả mùa xuân có chín mươi ngày thì nay đã qua tháng giêng, tháng hai và bước sang tháng thứ ba. Ánh sáng của ngày xuân nhẹ nhàng, trong veo, lan tỏa, trải dài khắp muôn nơi. Trên nền trời cao là những đàn chim én mùa xuân đang chao nghiêng bay lượn. Dưới mặt đất là một thềm cỏ xanh non bất tận chạy ra xa tít tắp. Động từ “tận” làm cho không gian mùa xuân như đang giãn nở, ngày càng mở rộng ra biên độ và bao trùm cả không gian xuân là một màu xanh biếc của cỏ lá. Trên nền cỏ xanh tươi ấy là những bông hoa lê điểm vài sắc trắng gợi lên sự tinh khôi, mới mẻ. Biện pháp đảo ngữ có tác dụng tô đậm thêm và làm nổi bật hơn sức trắng của hoa lê trên nền cỏ mùa xuân. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn nhưng dưới ngòi bút và cách miêu tả thần tình, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh xuân tinh khôi, trong trẻo, thanh khiết và giàu sức sống, mang đậm hơi thở của hồn xuân đất Việt.

    Đến sáu câu thơ cuối, bằng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, Nguyễn Du đã miêu tả thời điểm kết thúc của ngày hội xuân thấm đượm hồn người một chút buồn xao xuyến. Đây vừa là tả thực, lại vừa nhuốm màu tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ.

    Tà tà bóng ngả về tây

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về

    Bước dần theo ngọn tiểu khê

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

    Nao nao dòng nước uốn quanh

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

    Cảnh vẫn mang cái dịu nhẹ, êm đềm của ngày xuân nhưng bóng dương đã “tà tà ngả về tây”. Cảnh vật như trở nên nhạt dần đều, cái khung cảnh rộn rã, náo nức, tưng bừng lúc sáng sớm ngày xuân đã phải nhường chỗ cho sự tĩnh lặng, yên ả. Không gian xuân co gọn lại theo ánh sáng của bầu trời hoàng hôn chứ không mở ra rộng lớn, mênh mông, vô tận như ở bốn câu thơ đầu. Tất cả đều thu nhỏ trong bước chân của người ra về. Phong cảnh thì “thanh thanh” nhẹ nhàng, dòng nước tiểu khê thì uốn quanh “nao nao” và chiếc cầu “nho nhỏ” thì “bắc ngang” cuối ghềnh. Cảnh thực đẹp, rất giàu chất thơ, chất họa, phảng phất một nỗi buồn lưu luyến, bịn rịn, bâng khuâng của lòng người. Đồng thời gieo vào lòng người đọc những linh cảm về một điều sắp sửa xảy ra, như là sự dự báo trước cuộc gặp gỡ nấm mồ Đạm Tiên và sự gặp gỡ của hai con người trai tài gái sắc: Thúy Kiều – Kim Trọng. Tóm lại, với bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với việc sử dụng hệ thống những từ láy, hình ảnh giàu tính tạo hình và biểu cảm, tác giả đã khắc họa bức tranh chiều tà trong ngày hội xuân thấm đượm tâm trạng của con người nhân vật. Qua đó cho thấy được tài năng nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và tâm trạng con người của Nguyễn Du.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân
  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Đọc Đoạn Thơ Trong Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Sau
  • Phân Tích Bài Thơ Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Soạn Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nghệ Thuật Và Tác Dụng Trong Đoạn Thơ Tả Bức Tranh Xuân Trong “cảnh Ngày Xuân “
  • Phân Tích Bút Pháp Nghệ Thuật Của Nguyễn Du Qua Đoạn Trích “cảnh Ngày Xuân”
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Trong Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân. Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du .
  • Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả, Tác Phẩm
  • Phân tích nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong Cảnh ngày xuân để thấy được tài năng bậc thầy của đại thi hào Nguyễn Du trong việc khắc họa bức tranh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng.

    Đề bài: Phân tích nghệ thuật miêu tả thiên nhiên mùa xuân của Nguyễn Du trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân“.

    Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được xem là một kiệt tác của nền văn học dân tộc Việt Nam, không chỉ hấp dẫn độc giả trong nước mà còn thu hút sự chú ý và yêu thích của rất nhiều độc giả nước ngoài. Sở dĩ có sự thành công này, không chỉ bởi Truyện Kiều phản ánh được sinh động hiện thực xã hội đương thời, mang giá trị nhân đạo sâu sắc, mà còn bởi bút pháp nghệ thuật tài tình của Nguyễn Du. Điển hình nhất trong nghệ thuật miêu tả của Truyện Kiều, không thể không kể đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên. Ở đây, ta sẽ đi tìm hiểu nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” để thấy được sự tài tình của tài năng Nguyễn Du.

    “Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

    Trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân“, bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống được nhà thơ Nguyễn Du gợi ra đầy sinh động, tươi tắn, ngập tràn sắc xuân:

    Khung cảnh mùa xuân được nhà thơ gợi ra bằng hình ảnh “con én đưa thoi”. Chim én vốn là một loại chim tiêu biểu, nó luôn gợi nhắc người ta đến mùa xuân bởi chính đặc tính sinh học của nó. Khi xuất hiện những đàn chim én bay lượn trên bầu trời cao là người ta biết mùa xuân đã về. Ngày xuân những cánh én chao liệng như gọi thêm cái náo nức, nhộn nhịp về cho đất trời. Ở đây, Nguyễn Du đã ví những cánh én như những con “thoi”, như để chỉ sự chảy trôi nhanh chóng của ngày xuân tựa như chiếc thoi vẽ những đường tơ mềm mại trên khung vải.

    “Thiều quang” là làn ánh sáng đỏ hồng, tỏa rạng rực rỡ và ấp áp của ngày xuân. Trong không khí náo nức của những cánh chim én, bầu trời như cao hơn, rực rỡ hơn bởi những ánh nắng xuân nhẹ nhàng mà đầy tinh khiết, mang lại cái ấm áp cho vạn vật, khoác lên chúng bộ một sắc màu tươi tắn, mới lạ và đầy sức sống. Trên cái khung cảnh tuyệt sắc ấy của thiên nhiên, hình ảnh xanh mướt của cỏ non trải dài ra trước mắt người đọc “Cỏ non xanh tận chân trời”. Hình ảnh những đám cỏ xanh mơn mởn trải ra bát ngát, mênh mông, dường như không có điểm dừng. Trong cảm nhận của đại thi hào Nguyễn Du, dường như những đám cỏ này trải dài đến tận đường “chân trời”. Trong không khí rộn ràng, khoe sắc của mùa xuân ấy, thu hút thị giác của độc giả không chỉ bởi cái non tươi của cỏ non, mà còn bởi những đốm trắng được điểm xuyết bởi những bông hoa lê “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Ta có thể thấy, sự xuất hiện của sắc trắng hoa lê đã làm cho bức tranh ngày xuân thêm hoàn mĩ, bộc lộ được trọn vẹn vẻ đẹp của ngày xuân. Sự kết hợp tài tình giữa hai màu xanh- trắng đã làm cho câu thơ tràn trề sức sống của vạn vật, của hoa lá cỏ cây.

    “Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc qua”

    Không chỉ không khí của ngày xuân được Nguyễn Du tái hiện một cách sinh động, chân thực mà ngay cả khi bầu trời ngả bóng chiều tà, khi không khí ngày xuân dần dần lặng xuống, nhường chỗ cho bóng tối thì Nguyễn Du vẫn dùng sự tài hoa, tinh tế của mình mang đến cho người đọc một bức tranh chiều tà thật đẹp:

    Nếu không khí của ngày xuân nhộn nhịp, vui tươi bởi những cánh én chao liệng, bởi sự khoe sắc của cỏ cây hoa lá, bởi chính sự tấp nập, háo hức của con người, thì khi chiều tà, không khí của ngày xuân trở nên trầm lắng hơn, thanh tĩnh hơn nhưng không vì đó mà mất đi cái vẻ hấp dẫn, mất đi cái nét đẹp vốn có của nó. Ở đây, nhà thơ Nguyễn Du đã sử dụng hệ thống các từ láy như: “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” để vẽ ra bức tranh chiều tà, các từ ngữ này không chỉ có chức năng biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn giàu giá trị biểu cảm. Trong đó, từ láy “nao nao” rất đặc biệt, bởi nó không chỉ gợi ra được cái nhịp chảy chậm chãi, từ từ của “dòng nước uốn quanh”, mà nó còn gợi ra được bức tranh tâm trạng của con người, đó chính là cảm giác mơ hồ buồn, có chút trống trải trong sự cảm nhận của con người.

    Khung cảnh buổi chiều của mùa xuân được nhà thơ Nguyễn Du khắc họa với vẻ đẹp trầm lặng, chậm rãi nhưng mọi cảnh vật vẫn thơ mộng như vậy, hữu tình như vậy. Cảnh vật vẫn mang cái thanh, cái nhẹ của mùa xuân, ánh nắng nhạt nhòa, dòng suối nhỏ, nhịp cầu chênh vênh. Đặc biệt, trong bức tranh buổi chiều mùa xuân, Nguyễn Du đã rất khéo léo lồng tâm trạng, cảm xúc của con người vào bức tranh thiên nhiên, làm cho bức tranh thiên nhiên sinh động, chân thực hệt như cảm xúc của con người.

    Như vậy, bằng sự cảm nhận tinh tế của tâm hồn thi sĩ, nghệ thuật miêu tả cảnh vật bậc thầy, Nguyễn Du đã tái hiện vô cùng chân thực, tự nhiên bức tranh ngày xuân với đầy đủ sắc thái, từ náo nức rộn rã đến cái nhẹ nhàng, chậm rãi của cảnh vật, từ cái tấp nập, háo hức đến vẻ trầm tĩnh, nao nao của cảm xúc con người. Ta có thể khẳng định, bức tranh ngày xuân trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là bức tranh tươi đẹp, sống động nhất, nó thể hiện được tài năng miêu tả bậc thầy cũng như tâm hồn đầy tinh tế của nhà thơ Nguyễn Du.

    * Xem tổng kết những giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm qua tìm hiểu nội dung soạn bài Cảnh ngày xuân.

    Top 2 bài văn đạt điểm cao phân tích nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong Cảnh ngày xuân

    Trong Truyện Kiều, biết bao nhiêu lần Nguyễn Du đã dụng công nghệ thuật để miêu tả thiên nhiên có đủ bốn mùa đầy gợi cảm, trữ tình.

    Thế nhưng, có lần Nguyễn Du vẽ nên bức tranh thơ bất tử về mùa xuân bằng màu xanh tươi tắn của cỏ non với nét thanh nhã của sắc trắng hoa lê. Để rồi trên cái nền xuân mênh mồng, êm đềm ấy xuất hiện những trang giai nhân tuyệt sắc. Để rồi giai nhân – tài tử – mùa xuân và tình yêu đôi lứa chởm nở, đã mang cái đẹp đến cho đời và làm bùng vỡ cảm xúc thẩm mỹ của người yêu thơ Việt Nam qua đoạn trích “Cảnh ngày xuân“.

    Bốn dòng thơ đầu gợi tả cảnh mùa xuân. Xuân đã vào tháng ba – tiết thanh minh, rộn ràng những cánh én trong nắng ấm. Bức hoạ tuyệt đẹp về mùa xuân bằng sự kết hợp tuyệt vời giữa thảm cỏ xanh non trải dài tận đến chân trời. Điểm trên cái nền xanh mênh mông rợn ngợp ấy, là những cánh hoa lê màu trắng thanh nhã. Tác giả dùng từ “điểm” thật phù hợp, tạo nét thanh nhã, đúng với tình cảm trong sáng thanh lịch của “nam thanh nữ tú” đang du xuân. Đó là màu sắc tinh khôi, trong trẻo, giàu sức sống và gợi cảm, là nét đặc trưng của mùa xuân. Bức tranh xuân đã làm say lòng người.

    Tám dòng tiếp theo gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh. Nét văn hoá tảo mộ giàu tính truyền thống, trở thành nét đẹp trong tâm hồn con người. Hội Đạp thanh gợi cái nét thanh tao mà gần gũi. Có gì thanh bình bằng dạo chơi trên cánh đồng quê lúc cỏ non vừa vươn dậy sau những cơn mưa xuân lất phất. Đâu đó thoang thoảng mùi hương trầm toả ra từ những ngôi mộ hoà quyện vào tâm hồn người du xuân thành niềm thiêng liêng khó tả.

    Đoạn thơ giàu giá trị biểu cảm thể hiện qua các danh từ yến anh, chị em, tài tử, giai nhân… tất cả mọi người xa gần đều trong tâm trạng “nô nức” sắm sửa, dập dìu đến phó hội. Ngoài các động từ, danh từ được đưa vào thật đắt, Nguyễn Du còn hào phóng thêm vào các tính từ nô nức, gần xa và hình ảnh ẩn dụ “nô nức yến anh” đã góp phần gợi tả, làm nổi bật không khí, khung cảnh nhộn nhịp ngày xuân và tâm trạng phơi phới của khách chơi xuân. Điểm trên khung cảnh ấy là những thoi vàng với tro tiền giấy bay càng làm cho khung cảnh có phần sâu lắng. Điều ấy làm nổi bật nét đẹp văn hoá truyền thống giàu tính nhân văn trong tiết Thanh minh.

    Sáu câu cuối tả cảnh chị em Kiều trở về nhà. Cảnh hiện lên lúc chiều tàn, không còn nhộn nhịp mà như lặng dần và nhuốm buồn. Những từ láy “tà tà, thanh thanh, nao nao” biểu đạt sắc thái cảnh vật và tâm trạng con người cũng “nao nao” như dòng nước. Phép nhân hoá độc đáo khiến cho cảnh vật như có tâm trạng. Cảm giác vui xuân còn lâng lâng thì tác giả đã điểm vào lòng người một thoáng buồn qua hình ảnh “Nao nao dòng nước” và ngọn “tiểu khê” có màu thanh thanh lành lạnh như tiên cảm cho một điều chẳng lành, dự báo một thiên đoạn trường…

    Đoạn thơ có kết cấu hợp lý và ngôn ngữ giàu tính tạo hình; nghệ thuật nhân hoá độc đáo và những từ láy giàu tính biểu cảm. Với mười tám dòng thơ, tác giả đã vẽ nên một bức tranh mùa xuân thanh nhã với nét chấm phá tuyệt vời và nhuốm đầy tâm trạng con người với dự cảm ẩn chứa niềm đau.

    Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyện Kiều” – kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam. “Truyện Kiều” là một bài ca lớn về giá trị nhân đạo, một bản cáo trạng nghiêm khắc về cái ác, cái phản nhân bản, một tập đạo thành của nghệ thuật văn chương. Chỉ xét về bút pháp tả và gợi Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi. Điều này được thể hiện qua đoạn trích “Cảnh ngày xuân” nằm ở phần I, ” Gặp gỡ và đính ước ” của Thúy Kiều. Có thể nói đây là một đoạn trích thành công nhất trong nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Du.

    “Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”

    Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân với vẻ đẹp riêng: hữu tình, hữu sắc, hữu hương, lên thơ.

    “Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa “

    Bằng bút pháp chấm phá kết hợp với gợi tả, hai câu thơ đầu vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian. Nhưng không gian ấy không tĩnh mà rất sống động bởi hình ảnh “con én đưa thoi”. Trước hết đây là một hình ảnh tả thực, trong tháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh én vẫn rộn ràng chao đi chao lại giữa bầu trời trong sóng. Nhưng đồng thời nó còn là hình ảnh ẩn dụ, ngụ ý. Chỉ thời gian đang trôi nhanh, mùa xuân đang trôi nhanh. Mùa xuân có chín mươi ngày, mới đó thôi mà giờ đã sang tháng ba, gợi sự nuối tiếc trong lòng người. Sau đó hình ảnh “con én đưa thoi” là thiều quang, thiều quang gợi lên cái mùa hồng của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của đất trời. Đặc biệt bức họa tuyệt đẹp của mùa xuân là ở hai câu thơ:

    Ở đây Nguyễn Du đã vận dụng một cách sáng tạo câu thơ cổ của Trung Quốc “cỏ thơm liền với trời xanh – trên cành lê có mấy bông hoa”, thay vì dùng từ cỏ thơm Nguyễn Du đã dùng từ “cỏ non” để tô đậm màu sắc – màu xanh của cỏ non trải rộng đến tận chân trời. Đó là gam màu nền của bức tranh xuân, trên thảm cỏ xanh ấy, điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Từ “trắng” được đảo lên trước gây ấn tượng mạnh, tuy chỉ là một vài chấm trắng nhỏ nhưng lại là điểm nhấn nổi bật tỏa sáng trên toàn cảnh. Như vậy, màu sắc có sức hài hòa đến tuyệt mĩ. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống, khoáng đạt trong trẻo nhẹ nhàng, thanh khiết. Chữ “điểm” làm cho bức tranh xuân thêm sống động, có hồn chứ không tĩnh tại.

    Cảnh ngày xuân là bức tranh hoa lệ mà Nguyễn Du để lại cho đời, to điểm cho cuộc sống mỗi chúng ta, đồng thời nó cũng tương hợp với tâm trạng náo nức chung của chị em Thúy Kiều khi đi du xuân.

    “Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”

    Tám câu thơ tiếp theo, tác giả gợi khung cảnh mùa xuân trong tiết thanh minh. Trong ngày thanh minh có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: lễ tảo mộ – đi viếng mộ sửa sang quét tước phần mộ của người thân, hội đạp thanh – dẫm lên cỏ non ở trốn đồng quê:

    “Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm”

    Cảnh trẩy hội mùa xuân diễn ta tưng bừng náo nhiệt, trên các nẻo đường gần xa, những dòng người cuồn cuộn trẩy hội. Có biết bao yến anh trẩy hội trong niềm vui nô nức, bao tài tử, giai nhân dập dìu vai sánh vai nhịp bước.

    Nguyễn Du tài tình khắc họa khung cảnh lễ hội mùa xuân bằng bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình, một loạt các từ láy, từ ghép và danh từ, động từ, tính từ xuất hiện. Các danh từ: “chị em, yến anh, tài tử, gia nhân” diễn tả sự đông vui, nhiều người đến dự hội. Các động từ “sắm sửa, dập dìu” gợi tả sự rộn ràng náo nhiệt của ngày hội. Các tính từ “gần, xa, nô nức” làm rõ hơn tâm trạng của người đi dự hội. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng cách nói ẩn dụ “yến anh”, hoán dụ “ngựa xe, áo quần”. Tất cả đều làm sống dậy không khí lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt diễn ra trên mọi miền đất nước, trẻ trung và xinh đẹp, trang trọng và phong lưu. Ai đã từng đi hội Chùa Hương, hội Lim, hội Yên Tử… mới thấy hết được cái hay, cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng tươi trẻ trong hội đạp thanh mà Nguyễn Du từng nói tới.

    “Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

    Đồng thời qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều tác giả khắc họa một nét đẹp truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa: Tết thanh minh người ta sắm sửa lễ vật để đi tảo mộ, sắm sửa quần áo mới vui hội đạp thanh mọi người rắc những con thoi vàng vó, đốt giấy tiền vàng để tưởng nhớ người đã khuất.

    “Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn đan tay ra về. Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh cỏ bề thanh thanh. Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    Cuộc vui nào rồi cũng đến hồi kết thúc, sáu câu thơ cuối bài là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về, cảnh đẹp nhưng thoáng buồn vì nhuốm màu tâm trạng của con người.

    Cảnh vẫn mang cái thanh dịu của mùa xuân. Ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ một dịp cầu nhỏ nhỏ bắc ngang, ta thấy mọi chuyển động đều nhẹ nhàng, mặt trời từ từ ngả bóng về Tây, bước chân người thơ thẩn, tuy nhiên cái không khí rộn ràng, náo nhiệt của lễ hội không còn nữa tất cả đang nhạt dần, lặng dần.

    Cảnh mùa xuân trong sáu câu thơ cuối và bốn câu thơ đầu bên cạnh những nét giống nhau còn có nét khác biệt bởi không gian và thời gian đã thay đổi nhưng điều quan trọng hơn cả là cảnh đã được nhìn qua tâm trạng của con người. Ngày tàn sao chẳng buồn, hội tàn sao chẳng buồn? Một loạt từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao trong câu thơ “Nao nao dòng nước uốn quanh” cho thấy cảnh đã được nhân hóa một cách tự nhiên, cảnh nhuốm màu tâm trạng con người. Có thể nói sáu câu thơ cuối bài thơ là bức họa chiều xuân đẹp được nhìn qua tâm trạng con người, Nguyễn Du đã viết “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”.

    Nói tóm lại bằng những từ ngữ, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình qua đoạn trích “Cảnh ngày xuân” Nguyễn Du đã gợi lên tư tưởng của người đọc một bức tranh thiên nhiên, cảnh lễ hội xuân tươi đẹp và tràn đầy sức sống cũng là một đoạn thơ miêu tả cảnh thiên nhiên thành công nhất của ông. Ông không những là một nhà thơ lỗi lạc của dân tộc mà còn là một nhà họa sĩ ngôn từ tài tình. Qua đây chúng ta hãy biết cách yêu quý thiên nhiên và giữ gìn phát huy những nét đẹp truyền thống của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Đọc Đoạn Thơ Trong Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Sau
  • Phân Tích Bài Thơ Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Soạn Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Hiện Tượng Chêm Xen Từ Ngữ Ngoại (Tiếp Cận Văn Hoá
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Trong Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân. Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du .

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả, Tác Phẩm
  • ✅ Văn Mẫu: Tôi Yêu Em (Pu
  • Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam
  • Cách Tránh Thai Ngoài Ý Muốn Ở Tuổi Teen
  • Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một tác phẩm hay, độc đáo, rất tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn trích nằm ngay sau đoạn tả tài, tả sắc của chị em Thúy Kiều. Qua đoạn thơ, Nguyễn Du dựng lên bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân trong tiết Thanh minh thật tươi sáng, sống động. Nhà thơ đã khéo léo kết hợp bút pháp tả và gợi với những chi tiết mang tính ước lệ mà vẫn vô cùng chân thực, giàu tính chất tạo hình và biểu cảm, ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt để miêu tả khung cảnh ngày xuân.

    Trước hết là bốn câu thơ đầu, với nghệ thuật chấm phá độc đáo tả ít gợi nhiều, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, giàu sức xuân:

    Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

    Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

    Hai câu thơ đầu vừa có sức gợi về thời gian, lại vừa có sức gợi về không gian. Ngày xuân thấm thoát trôi qua thật nhanh như thoi đưa. Cả mùa xuân có chín mươi ngày thì nay đã qua tháng giêng, tháng hai và bước sang tháng thứ ba. Ánh sáng của ngày xuân nhẹ nhàng, trong veo, lan tỏa, trải dài khắp muôn nơi. Trên nền trời cao là những đàn chim én mùa xuân đang chao nghiêng bay lượn. Dưới mặt đất là một thềm cỏ xanh non bất tận chạy ra xa tít tắp. Động từ “tận” làm cho không gian mùa xuân như đang giãn nở, ngày càng mở rộng ra biên độ và bao trùm cả không gian xuân là một màu xanh biếc của cỏ lá. Trên nền cỏ xanh tươi ấy là những bông hoa lê điểm vài sắc trắng gợi lên sự tinh khôi, mới mẻ. Biện pháp đảo ngữ có tác dụng tô đậm thêm và làm nổi bật hơn sức trắng của hoa lê trên nền cỏ mùa xuân. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn nhưng dưới ngòi bút và cách miêu tả thần tình, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh xuân tinh khôi, trong trẻo, thanh khiết và giàu sức sống, mang đậm hơi thở của hồn xuân đất Việt.

    Đến sáu câu thơ cuối, bằng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, Nguyễn Du đã miêu tả thời điểm kết thúc của ngày hội xuân thấm đượm hồn người một chút buồn xao xuyến. Đây vừa là tả thực, lại vừa nhuốm màu tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ.

    Tà tà bóng ngả về tây

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về

    Bước dần theo ngọn tiểu khê

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

    Nao nao dòng nước uốn quanh

    Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

    Cảnh vẫn mang cái dịu nhẹ, êm đềm của ngày xuân nhưng bóng dương đã “tà tà ngả về tây”. Cảnh vật như trở nên nhạt dần đều, cái khung cảnh rộn rã, náo nức, tưng bừng lúc sáng sớm ngày xuân đã phải nhường chỗ cho sự tĩnh lặng, yên ả. Không gian xuân co gọn lại theo ánh sáng của bầu trời hoàng hôn chứ không mở ra rộng lớn, mênh mông, vô tận như ở bốn câu thơ đầu. Tất cả đều thu nhỏ trong bước chân của người ra về. Phong cảnh thì “thanh thanh” nhẹ nhàng, dòng nước tiểu khê thì uốn quanh “nao nao” và chiếc cầu “nho nhỏ” thì “bắc ngang” cuối ghềnh. Cảnh thực đẹp, rất giàu chất thơ, chất họa, phảng phất một nỗi buồn lưu luyến, bịn rịn, bâng khuâng của lòng người. Đồng thời gieo vào lòng người đọc những linh cảm về một điều sắp sửa xảy ra, như là sự dự báo trước cuộc gặp gỡ nấm mồ Đạm Tiên và sự gặp gỡ của hai con người trai tài gái sắc: Thúy Kiều – Kim Trọng.

    Tóm lại, với bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với việc sử dụng hệ thống những từ láy, hình ảnh giàu tính tạo hình và biểu cảm, tác giả đã khắc họa bức tranh chiều tà trong ngày hội xuân thấm đượm tâm trạng của con người nhân vật. Qua đó cho thấy được tài năng nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và tâm trạng con người của Nguyễn Du.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bút Pháp Nghệ Thuật Của Nguyễn Du Qua Đoạn Trích “cảnh Ngày Xuân”
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Và Tác Dụng Trong Đoạn Thơ Tả Bức Tranh Xuân Trong “cảnh Ngày Xuân “
  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân
  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Đọc Đoạn Thơ Trong Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Sau
  • Phân Tích Bút Pháp Nghệ Thuật Của Nguyễn Du Qua Đoạn Trích “cảnh Ngày Xuân”

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Miêu Tả Trong Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân. Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du .
  • Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả, Tác Phẩm
  • ✅ Văn Mẫu: Tôi Yêu Em (Pu
  • Hội Nữ Hộ Sinh Việt Nam
  • Bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Du qua đoạn trích “Cảnh ngày xuân”

    Tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu đứt ruột mới) tên thường gọi là” Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du là một đỉnh cao sáng chói trong nền văn học cổ điển Việt Nam. Tác phẩm đã được xếp vào một trong những kiệt tác bất hủ của văn học thế giới. Chính vì vậy từ xưa đến nay đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu phê bình về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

    Về nội dung, Truyện Kiều có nguồn gốc cốt truyện từ một tác phẩm văn học Trung Quốc, nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến thành công của tác phẩm. Về nghệ thuật, Truyện Kiều là một bức tranh đa diện, nhiều màu sắc lung linh. Nghệ thuật tả cảnh, tả người hay miêu tả tâm lí nhân vật đều đạt tới đỉnh cao mà đến nay chưa có tác phẩm nào vượt qua được. Trong đó bút pháp tả cảnh của Nguyễn Du có thể nói là tuyệt diệu. Đoạn trích” Cảnh ngày xuân” là một minh chứng.

    Miêu tả là bút pháp quen thuộc đối với tất cả các nhà văn, nhà thơ trên thế giới. Nhờ bút pháp này mà cảnh vật, nhân vật, sự việc được tái hiện một cách cụ thể, làm cho cảnh vật, nhân vật, hiện lên rõ nét, sinh động, hấp dẫn và gợi cảm. Bốn câu thơ đầu đoạn trích là khung cảnh thiên nhiên mùa xuân:

    “Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

    Cỏ non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

    Hai câu thơ đầu vừa nói tới thời gian vừa gợi không gian. Ngày xuân thấm thoắt trôi mau, tiết trời đã sang tháng ba. Trong tháng cuối cùng của mùa xuân, những cánh én vẫn rộn ràng bay lượn như thoi giữa bầu trời trong sáng

    Nếu hai câu thơ trên là thời gian, là không gian xuân thoáng đạt, thì hai câu dưới là bức hoạ tuyệt đẹp về mùa xuân.

    “Cỏ non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

    Hai câu thơ này cụ Tố Như đã mượn ý hai câu cổ thi Trung Hoa: “Phương thảo liên thiên bích – lê chi sổ điểm hoa”, có nghĩa là: “Cỏ thơm liền với trời xanh- Trên cành lê có mấy bông hoa”. Nhưng Nguyễn Du đã thật tài hoa khi sáng tạo thêm hai chữ “trắng điểm”. Có thể nói hai chữ này là nhãn tự ” bởi chữ ‘ điểm ” làm cho cảnh vật sinh động có hồn chứ không tĩnh tại,” trắng điểm” càng làm nổi bật vẻ thanh xuân trinh trắng của thiên nhiên cỏ hoa. Đó chính là cách miêu tả chấm phá điểm xuyết của thi pháp cổ.

    Bút pháp này đã tạo nên sự phối sắc tài tình: Thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời là gam màu nền cho bức tranh xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sự hài hoà đến tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, nhẹ nhàng, thanh khiết và đầy sức sống. Như vậy, bằng vài nét chấm phá, miêu tả bậc thầy “Cảnh ngày xuân” trở thành bức tranh xuân hoa lệ, là vần thơ tuyệt bút mà Nguyễn Du trao tặng cho đời, điểm tô cho cuộc sống.

    Bút pháp tả cảnh còn được thể hiện trong 8 câu thơ tiếp theo của đoạn trích miêu tả cảnh lễ hội trong tiết thanh minh. Bút pháp chủ yếu ở đây là miêu tả cụ thể, chi tiết qua việc sử dụng nhiều từ ghép, từ láy như gần xa, nô nức, yến anh, dập dìu…để vẽ lên một lễ hội rộn ràng, tưng bừng, náo nức

    Sáu câu cuối đoạn trích tả cảnh chị em Kiều du xuân trở về nhưng ta cũng thấy thấp thoán 2000 g tâm trạng con người:

    “Tà tà bóng ngả về tây,

    Chị em thơ thẩn dan tay về.

    Bước dần theo ngọn tiểu khê,

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

    Nao nao dòng nước uốn quanh,

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

    Nguyễn Du thật khéo khi miêu tả thiên nhiên, vẫn là cây cầu nhỏ, khe nước nhỏ, vẫn là cái thanh, cái dịu của mùa xuân, nhưng được tả dưới cái nhìn của nhân vật, trong thời điểm chiều tà, ngày vui đã hết, nên cảnh và tình thật giao hoà đồng điệu.

    Nguyễn Du dùng hàng loạt từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ để biểu đạt sắc thái cảnh vật và tâm trạng của con người. Ta như thấy được cảm giác bâng khuâng, xao xuyến pha chút buồn man mác, có chút gì nuối tiếc ngày vui của chị em Thúy Kiều khi du xuân trở về . Trong cái “nao nao” của dòng nước như có cả cái nao nao của lòng Kiều vì sự linh cảm một điều gì đó sắp xảy ra.

    Cảnh ở đây không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên nữa mà là bức tranh tâm trạng. Đó chính là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình quen thuộc trong văn học cổ. Tuy tính chất ngụ tình trong ở phần cuối đoạn nhẹ nhàng, man mác nhưng cũng đủ để ta cảm nhận được trái tim đa sầu, đa cảm của nàng Kiều và sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du.

    Như vậy, chỉ với một đoạn trích ta đã hiểu vì sao thế hệ hậu sinh tôn Nguyễn Du là bậc thầy tả cảnh. Bút pháp nghệ thuật của thi hào đã trở thành mẫu mực, để bây giờ nhắc đến mùa xuân là bất cứ ai yêu mến văn chương cũng có thể ngâm nga:

    “Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

    Cỏ non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Nghệ Thuật Và Tác Dụng Trong Đoạn Thơ Tả Bức Tranh Xuân Trong “cảnh Ngày Xuân “
  • Phân Tích Nghệ Thuật Miêu Tả Thiên Nhiên Trong Cảnh Ngày Xuân
  • Giá Trị Nội Dung Và Giá Trị Nghệ Thuật Trong Bài Thơ Chiều Tối
  • Đọc Đoạn Thơ Trong Bài Chiều Xuân Của Anh Thơ Và Thực Hiện Các Yêu Cầu Sau
  • Phân Tích Bài Thơ Chiều Xuân Của Anh Thơ
  • Tìm Ra Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Thơ: Mùa Xuân Nho Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Bài Thơ “mùa Xuân Nho Nhỏ” Của Thanh Hải
  • Câu Thơ Một Mùa Xuân Nho Nhỏ Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Nào
  • Giải Thích Một Cây Làm Chẳng Nên Non Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao
  • Một Cây Làm Chẳng Nên Non, Ba Cây Chụm Lại Nên Hòn Núi Cao. Hãy Chứng Minh Nội Dung Câu Tục Ngữ Bằng Những Dẫn Chứng Rút Ra Từ Lịch Sử Bảo Vệ Và Xây Dựng Tổ Quốc Của Nhân Dân Ta.
  • Bài Văn Hay Chứng Minh Về Ý Nghĩa Câu Tục Nghĩ Một Cây Làm Chẳng Lên Non
  • Với nét bút khoáng đạt, bức tranh mùa xuân thiên nhiên được nhà thơ phác họa bằng những hình ảnh tự nhiên, giản dị mà gợi cảm:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc”.

    + Xứ Huế vào xuân với “dòng sông xanh”, với “bông hoa tím biếc”. Sắc xanh hiền hòa của sông điểm xuyết nét chấm phá của bông hoa tím biếc gợi một sắc xuân tươi tắn, rực rỡ mà vẫn rất mực bình dị, dân dã mang đậm chất Huế.

    + Động từ “mọc” được đảo lên đầu câu thơ gợi ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp duyên dáng, và sức sống mạnh mẽ của bông hoa mùa xuân. Có thể là bông hoa lục bình, cũng có thể là bông trang, bông súng. Với sắc màu tím biếc mang nét đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như đang vươn lên, đang trỗi dậy. Hoa tím biếc mọc trên dòng sông xanh – cái hài hòa, tự nhiên của màu sắc đem đến vẻ đẹp dịu nhẹ, thanh mát, say người của thiên nhiên ban tặng.

    – Bức tranh mùa xuân xứ Huế không chỉ tươi tắn sắc màu mà còn rộn rã âm thanh:

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời”.

    Tiếng hót của chim chiền chiện mở ra một không gian mùa xuân cao vời và trong lành. Với từ cảm thán “Ơi” và lời hỏi “Hót chi”, Thanh Hải đã đưa vào lời thơ giọng điệu ngọt ngào, dịu nhẹ, thân thương của người dân xứ Huế, diễn tả cảm xúc vui say đến ngỡ ngàng trước một mùa xuân tươi đẹp – một mùa xuân giàu chất thơ.

    – Trước mùa xuân thiên tươi đẹp, cảm xúc của thi nhân được gợi tả bằng những câu thơ giàu chất tạo hình:

    ” Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”.

    + Đây là một hình ảnh đẹp – đẹp trong cách diễn đạt cảm xúc một cách tự nhiên, giản dị mà giàu sức biểu cảm. “Giọt long lanh rơi” có phải giọt sương, giọt nắng, giọt mưa , hay chính là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện đã ngưng đọng thành hình, thành khối, thành sức sống mùa xuân có sắc màu lóng lánh? Rõ ràng, âm thanh tiếng chim vô hình, vô ảnh vốn được cảm nhận bằng thính giác đã được hữu hình, hữu ảnh thành vật thể được cảm nhận bằng thị giác và xúc giác. Phép tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được thi nhân vận dụng tài hoa, tinh tế qua trí tưởng tượng phong phú.

    + Trong cảm xúc của nhà thơ, âm thanh tiếng chim đồng nội trở thành giọt vui, giọt hạnh phúc ở đời đáng được nâng niu, trân trọng, để rồi: “Tôi đưa ta tôi hứng”. Lập lại hai lần đại từ “tôi” trong câu thơ năm chữ trở thành nhịp 3/2 cùng cử chỉ “hứng” đã diễn tả chân thực tâm trạng say sưa, ngây ngất của con người trước cảnh đất trời vào xuân.

    “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ

    + Các điệp ngữ “mùa xuân”, “lộc”, “người” như trải rộng khung cảnh hiện thực gắn với cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân.

    + Nhà thơ đã sáng tạo cặp hình ảnh sóng đôi để nói về hai lực lượng chủ yếu của Cách mạng, hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước: người chiến sĩ và người lao động – bảo vệ và xây dựng đất nước.

    + Ẩn dụ “Lộc” tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc mang theo sức sống của mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân đem sức lao động cần cù , nhỏ giọt mồ hôi làm nên màu xanh của ruộng đồng.

    “Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao.”

    – Nghệ thuật điệp ngữ “tất cả”, các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí náo nức, khẩn trương của đất nước khi bước vào mùa xuân mới.

    “Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”

    + Với nghệ thuật hoán dụ “Đất nước bốn ngàn năm” : biểu hiện bề dày truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, một dân tộc cần cù, chịu khó, không chấp nhận dưới sự bóc lột của đế quốc xâm lăng, sẵn sàng anh dũng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ tổ quốc.

    + Phép tu từ so sánh được nhà thơ sử dụng vô cùng đặc sắc, làm ý thơ hàm súc – “Đất nước như vì sao”. Sao là nguồn sáng kì diệu của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm, là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế là tác giả đã ca ngợi đất nước đẹp lung linh tỏa sáng như vì sao với tư thế đi lên.

    “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hót Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến”.

    – Để bày tỏ lẽ sống của mình, ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn, Thanh Hải đã đem đến cho người đọc cái giai điệu ngọt ngào, êm ái của những thanh bằng liên tiếp “ta”-“hoa”-“ca”.

    – Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha. Động từ “làm”-“nhập” ở vai trò vị ngữ biểu lộ sự hoá thân đến diệu kỳ – hoá thân để sống đẹp, sống có ích.

    – Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm.

    – Với cách sử dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung.

    “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”.

    – Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác, tinh tế và gợi cảm: làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho cuộc đời. “Mùa xuân nho nhỏ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một khát vọng sống cao đẹp.Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì tốt đẹp, tinh tuý của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.

    – Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường, lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

    – Điệp từ: “Dù là” như nhấn mạnh ước nguyện cống hiến cho đời của tác giả là không kể thời gian, tạo âm điệu thơ sâu lắng, ý nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Tả Tâm Trạng Trong Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ
  • Chuyên Đề Luyện Tập Làm Văn Thuyết Minh Có Sử Dụng Các Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả
  • Thuyết Minh Về Con Trâu Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Và Yếu Tố Miêu Tả.
  • Thuyết Minh Về Con Mèo Có Sử Dụng Miêu Tả & Biện Pháp Nghệ Thuật
  • Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Về Truyện Tấm Cám
  • Đọc Truyện Tấm Cám, Anh (Chị) Suy Nghĩ Gì Về Cuộc Đấu Tranh Giữa Cái Thiện Và Cái Ác, Giữa Người Tốt Và Kẻ Xấu Trong Xã Hội Xưa Và Nay
  • Tuần 32. Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Tả Cảnh Bình Minh Trên Quê Hương Em Lớp 6
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Dành Cho Nam Giới
  • Phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân – Nội dung soạn bài Cảnh ngày xuân đã hệ thống lại cho các em những ý chính phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ. Trong bài văn mẫu này, chúng ta sẽ cùng nhau đi vào phân tích sâu hơn nội dung của đoạn trích từ đó đánh giá, nhận xét về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du.

    Hướng dẫn phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân

    Đề bài: Phân tích đoạn trích “Cảnh ngày xuân” trích trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu: phân tích nội dung, nghệ thuật bài thơ Cảnh ngày xuân.

    – Đối tượng, phạm vi đề bài: các câu thơ, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong bài thơ Cảnh ngày xuân của Nguyễn Du.

    – Phương pháp lập luận chính : phân tích.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Khung cảnh thiên nhiên mùa xuân sinh động, giàu sức sống

    Luận điểm 2: Cảnh lễ hội trong tiết thanh minh rộn ràng, náo nức.

    Luận điểm 3: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về trong tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến.

    3. Lập dàn ý chi tiết

    a) Mở bài

    – Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều

    + Nguyễn Du (1766 – 1820), là tác gia lớn của nền văn học Việt Nam.

    + Truyện Kiều viết về cuộc đời của nhân vật Thúy Kiều, là sáng tác viết bằng chữ Nôm xuất sắc nhất của Nguyễn Du.

    – Giới thiệu đoạn trích Cảnh ngày xuân

    + Đoạn trích là phần sau của đoạn tả tài sắc của chị em Thúy Kiều, nội dung chính là tả cảnh ngày xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em Thúy Kiều.

    b) Thân bài

    * Luận điểm 1: Khung cảnh thiên nhiên mùa xuân sinh động, giàu sức sống

    – Hai câu thơ đầu vừa nói đến thời gian, vừa gợi được không gian:

    + Chim én đưa thoi

    * Luận điểm 2: Cảnh lễ hội trong tiết thanh minh rộn ràng, náo nức

    – Lễ tảo mộ: ngày tựu trung đến viếng, dọn dẹp, sửa sang và thắp hương phần mộ của người thân.

    – Hội đạp thanh: hội chơi mùa xuân ở làng quê.

    – Sử dụng những từ ngữ gợi tả:

    + Gần xa, nô nức (tính từ): tâm trạng náo nức.

    + Yến anh, tài tử, giai nhân, chị em (danh từ): gợi sự đông vui náo nhiệt.

    + Sắm sửa, dập dìu (động từ): không khí rộn ràng, nhộn nhịp.

    * Luận điểm 3: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về trong tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến.

    – ” Bóng ngả về tây” : thời gian, không gian chuyển sang chiều tối vắng lặng.

    – ” Chị em thơ thẩn dan tay ra về “: hội vui đã kết thúc, con người “thơ thẩn” quay trở về

    * Đặc sắc nghệ thuật

    – Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

    – Kết cấu hợp lí, vừa gợi, vừa tả

    – Bút pháp chấm phá, từ ngữ đa dạng, linh hoạt

    – Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu

    – Diễn tả tâm trạng nhân vật tinh tế.

    c) Kết bài

    – Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn trích.

    – Cảm nhận về tài năng miêu tả tài tình của Nguyễn Du.

    4. Sơ đồ tư duy phân tích Cảnh ngày xuân

    5. Kiến thức mở rộng

    – Một số nhận định về tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du:

    “… Một tâm hồn cảm nhận được sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên, một mối đồng cảm với số phận và tâm tư con người, đó là những yếu tố nhân văn kết hợp với bút lực tài hoa đã sáng tạo nên một trong những đoạn thơ nổi tiếng nhất trong Truyện Kiều”.

    (Đặng Thanh Lê)

    “Cái đẹp ở Đoạn trường tân thanh, cái chất thơ bàng bạc trong Truyện Kiều cũng cần phải được cảm thấy một cách hồn nhiên. Cứ phân tích, cứ giảng giải, nó sẽ tan đi. Đến đây phải im hơi, phải nhẹ bước mới hòng nhận thấy cái đẹp khi dịu dàng, thùy mị, khi tráng lệ, huy hoàng.”

    (Hoài Thanh)

    Top 3 bài văn hay phân tích đoạn trích Cảnh ngày xuân

    Phân tích Cảnh ngày xuân bài số 1:

    Nếu như trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều“, người đọc thấy được tài năng nghệ thuật tả người của Nguyễn Du trong việc khắc họa bức chân dung duyên dáng, sắc tài toàn vẹn của hai chị em Vân – Kiều thì đến với đoạn trích “Cảnh ngày xuân“, người đọc một lần nữa lại thấy được nghệ thuật tả cảnh, tả tình độc đáo của Nguyễn Du trong bức tranh mùa xuân thấm đượm tâm hồn con người.

    Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” nằm ngay sau đoạn tả tài, tả sắc của chị em Thúy Kiều. Qua đoạn thơ, Nguyễn Du dựng lên bức tranh thiên nhiên và lễ hội mùa xuân trong tiết Thanh minh thật tươi sáng, sống động. Đây là đoạn thơ tiền đề, dẵn dắt hoàn cảnh để rồi trong cuộc du xuân của Kiều, Kim – Kiều đã gặp nhau rồi tự do đính ước…

    Trước hết, bốn câu thơ mở đầu, với nghệ thuật chấm phá độc đáo tả ít gợi nhiều, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, giàu sức xuân:

    Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

    Hai câu thơ đầu vừa có sức gợi về thời gian, lại vừa có sức gợi về không gian. Ngày xuân thấm thoát trôi qua thật nhanh như thoi đưa. Cả mùa xuân có chín mươi ngày thì nay đã qua tháng giêng, tháng hai và bước sang tháng thứ ba. Ánh sáng của ngày xuân nhẹ nhàng, trong veo, lan tỏa, trải dài khắp muôn nơi. Trên nền trời cao là những đàn chim én mùa xuân đang chao nghiêng bay lượn. Dưới mặt đất là một thềm cỏ xanh non bất tận chạy ra xa tít tắp. Động từ “tận” làm cho không gian mùa xuân như đang giãn nở, ngày càng mở rộng ra biên độ và bao trùm cả không gian xuân là một màu xanh biếc của cỏ lá. Trên nền cỏ xanh tươi ấy là những bông hoa lê điểm vài sắc trắng gợi lên sự tinh khôi, mới mẻ. Biện pháp đảo ngữ có tác dụng tô đậm thêm và làm nổi bật hơn sức trắng của hoa lê trên nền cỏ mùa xuân. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn nhưng dưới ngòi bút và cách miêu tả thần tình, Nguyễn Du đã tạo nên một bức tranh xuân tinh khôi, trong trẻo, thanh khiết và giàu sức sống, mang đậm hơi thở của hồn xuân đất Việt.

    Tám câu thơ tiếp theo, là khung cảnh lễ – hội trong tiết thanh minh mùa xuân. Ở hai câu thơ đầu, tác giả đã giới thiệu khái quát về hai hoạt động chính của mùa xuân: Lễ tảo mộ và hội đạp thanh trong tiết tháng ba mùa xuân.

    Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

    Lễ tảo mộ là một nét đẹp văn hóa, biểu trưng cho đạo lí biết ơn, tri ân tiên tổ bằng việc sửa sang phần mộ của gia đình người thân đã khuất. Sau khi lễ hội tảo mộ diễn ra xong thì đây cũng là cơ hội cho những trai tài gái sắc được gặp gỡ, hẹn hò, giao duyên trong lễ hội đạp thanh. Không khí tưng bừng, nhộn nhịp và tấp nập trong những ngày lễ hội mùa xuân đã được Nguyễn Du miêu tả qua hệ thống những từ ngữ giàu tính tạo hình và biểu cảm:

    Gần xa nô nức yến anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

    Từ ghép (gần xa, yến anh, chị em, ngựa xe, áo quần) kết hợp với các từ láy (nô nức, dập dìu, sắm sửa) có tác dụng gợi nên không khí hội xuân hết sức đông vui, rộn ràng. Hình ảnh ẩn dụ: “nô nức yến anh” gợi lên hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi du xuân như chim én, chim oanh xôn xao, náo nức, tình tứ. Hình ảnh so sánh: “Ngựa xe như nước; áo quần như nêm” miêu tả những đoàn người trong hội xuân rất nhộn nhịp; từng đoàn, từng đoàn người chen vai ních cánh đi trẩy hội, đông vui, rộn ràng.

    Tóm lại: Bằng việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, kết hợp với hệ thống những từ ngữ giàu tính chất tạo hình và biểu cảm, nhà thơ đã gợi lên một không khí mùa xuân vừa đông vui, tấp nập; lại vừa tình tự và duyên dáng khi có sự góp mặt của các nam thanh nữ tú, trai tài, gái sắc.

    Trong ngày hội xuân ấy không chỉ có niềm vui mà còn có những khoảng lặng của lễ tảo mộ trong hai câu thơ:

    Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay

    Nếu Hội đạp thanh hiện lên với không khí hết sức tươi vui, rộn rã, náo nức thì Lễ tảo mộ lại gợi một chút đượm buồn và hướng tới đạo lí tốt đẹp ở đời qua hành động rắc thoi vàng và đốt vàng mã cho người đã khuất. Đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và lối sông ân nghĩa, thủy chung tốt đẹp của văn hóa dân tộc.

    Qua tám câu thơ, tác giả đã khắc họa thành công truyền thống văn hóa lễ hội mùa xuân của dân tộc. Đồng thời, đây cũng là một dụng ý nghệ thuật sâu sắc của tác giả: mượn ngày hội lớn làm bối cảnh, tiền đề để miêu tả cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Thúy Kiều và Kim Trọng.

    Đến sáu câu thơ cuối, bằng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, Nguyễn Du đã miêu tả thời điểm kết thúc của ngày hội xuân thấm đượm hồn người một chút buồn xao xuyến. Đó là khung cảnh chị em Kiều du xuân trở về:

    Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

    Cảnh vẫn mang cái dịu nhẹ, êm đềm của ngày xuân nhưng bóng dương đã “tà tà ngả về tây”. Khung cảnh náo nức, tưng bừng của ngày hội xuân cũng đã kết thúc. Trong lòng người xen lẫn những xúc cảm bâng khuâng xao xuyến. Cảnh vật không gian đã được co gọn lại trong bước chân của người ra về, của dòng nước tiểu khê và chiếc cầu nho nhỏ. Những từ láy: “nao nao, tà tà, thơ thẩn, thanh thanh” không chỉ có tác dụng miêu tả trạng thái của cảnh vật mà còn biểu lộ tâm trạng của con người: lưu luyến, bịn rịn, bâng khuâng hoàn toàn đối lập với không khí với ngày lễ hội mùa xuân vào buổi sáng sớm. Đồng thời gieo vào lòng người đọc những linh cảm về một điều sắp sửa xảy ra, như là sự dự báo trước cuộc gặp gỡ nấm mồ Đạm Tiên và sự gặp gỡ của hai con người trai tài gái sắc: Thúy Kiều – Kim Trọng. Tóm lại, với bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với việc sử dụng hệ thống những từ láy, hình ảnh giàu tính tạo hình và biểu cảm, tác giả đã khắc họa bức tranh chiều tà trong ngày hội xuân thấm đượm tâm trạng của con người nhân vật. Qua đó cho thấy được tài năng miêu tả tâm trạng con người của Nguyễn Du.

    Nếu như trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả chỉ có đúng một câu dẫn dắt “một hôm nhằm vào tiết Thanh minh…” để rồi sau đó kể về cuộc gặp gỡ nấm mồ Đạm Tiên và Kim Trọng nhưng Nguyễn Du đã dựa vào đó vẽ lên một bức tranh xuân thắm bằng thơ, với vẻ đẹp riêng, mang đậm cảnh xuân đất trời nước Việt. Như vậy, qua đoạn trích “Cảnh ngày xuân“, chúng ta thấy được tài năng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” hết sức độc đáo của Đại thi hào Nguyễn Du. Dưới ngòi bút sáng tạo thần tình,cùng những dung cảm nghệ thuật độc đáo về mùa xuân, Nguyễn Du đã phác họa thành công một bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng và sống động, thấm đượm lòng người.

    Cảm nhận của em về trích đoạn Cảnh ngày xuân (Nguyễn Du)

    Nghe bài văn phân tích đoạn trích cảnh ngày xuân hay nhất

    Phân tích Cảnh ngày xuân bài số 2:

    Trong thơ xưa, thiên nhiên không chỉ là trung tâm của cái đẹp mà còn là nơi gửi gắm tâm tình của con người. Và trong “Truyện Kiều” bất hủ đại thi hào Nguyễn Du đã dành tới 222 câu thơ miêu tả cảnh thiên nhiên. Trong đó đoạn trích “Cảnh ngày xuân” có thể coi là một bức tranh đẹp vào loại bậc nhất. Chỉ với 18 câu thơ hàm súc, Nguyễn Du đã gieo vào lòng người đọc sức sống tràn trề của mùa xuân. Đồng thời, giúp ta nhận được sự tinh tế trong bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của Nguyễn Du.

    Đoạn thơ đã mở ra trước mắt ta một khung cảnh mùa xuân trong tiết thanh minh, qua bốn câu thơ đầu:

    “Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

    Nguyễn Du vẽ lên bức tranh xuân thật đẹp, đặc biệt nhà thơ đã lựa chọn chi tiết tiêu biểu mang nét đặc trưng của ngày xuân để khắc họa bức tranh ấy. Đọc hai câu thơ đầu, ta cảm nhận được cách tính thời gian khá độc đáo, nghệ thuật miêu tả ước lệ bộc lộ rõ đã tái hiện hình ảnh báo hiệu mùa xuân “chim én”, “thiều quang” gợi sự ấm áp, dịu dàng, khẳng định mùa xuân đang ở độ đẹp nhất, chín nhất, sung mãn nhất. Qua đó câu thơ thứ hai đã chỉ rõ ngày xuân trôi qua nhanh như con thoi dệt cửa, đã qua tháng giêng, tháng hai, bây giờ là tháng ba, tiết trời trong xanh, những con én rộn ràng chao liệng như nhịp thoi đưa trên bầu trời, gợi ra một không gian, thoáng đãng cao rộng gợi lên nhịp trôi chảy của thời gian và nhịp điệu sôi động của mùa xuân, đồng thời còn tỏ ý tiếc nuối thời gian trôi quá nhanh của Nguyễn Du, để rồi, thiên nhiên đẹp hơn bởi sắc “xanh” của cỏ non, sắc “trắng” của “một vài bông hoa” lác đác.

    “Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

    Đây mới thực sự là bức tranh tuyệt mĩ. Tác giả sử dụng biện pháp chấm phá tái hiện bức tranh xuân tươi tắn, sống động gợi liên tưởng về sự sinh sôi nảy mở. Màu xanh của cỏ non gợi sức sống mạnh mẽ, bất diệt, không gian mênh mông, thoáng đạt, trong trẻo. Trên nền xanh ấy có điểm xuyến một vài bông hoa lê trắng. Văn cổ thi Trung Quốc được Nguyễn Du học tập một cách sáng tạo “Phương thảo niên bích/ Lê chi sổ điểm hoa”. Nếu hai câu thơ Trung Quốc dùng hình ảnh “phương thảo” (cỏ thơm) thiên về mùi vị thì Nguyễn Du thay bằng “cỏ non” thiên về màu sắc: màu xanh nhạt pha với màu vàng chanh tươi thắm hợp với màu xanh lam của nền trời làm thành gam nền cho bức tranh. Trên đó điểm xuyến sắc trắng thanh khiết, tinh khôi của hoa lê tạo thành bức tranh đẹp hài hòa, tươi mát, mới mẻ. Chữ “trắng” được Nguyễn Du thêm vào và đảo lên trước càng gây ấn tượng mạnh, Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên có hồn, sinh động chứ không tĩnh lại hay gợi lên bàn tay họa sĩ – thi sĩ vẽ lên thơ lên họa như bàn tay tạo hóa điểm tô cảnh xuân tươi khiến cho bức tranh càng trở nên sinh động. Ngòi bút của Nguyễn Du tài hoa, nghệ thuật phối sắc tài tình, giàu chất tạo hình ngôn ngữ biểu cảm, gợi tả thể hiện tâm hồn người tươi vui, phấn chấn qua cái nhìn thiên nhiên trong trẻo hồn nhiên, nhạy cảm tha thiết với vẻ đẹp thiên nhiên. Bốn câu thơ lục bát nhẹ nhàng – một không gian thoáng đãng mà ấm áp của mùa xuân, một màu sắc tinh khôi mãi để lại dấu ấn trong lòng độc giả.

    Mùa xuân là mùa khởi đầu trong một năm là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, tâm hồn con người phơi phới, mùa xuân cũng là mùa có nhiều lễ hội diễn ra nhiều nhất, trong thơ của Nguyễn Du, đó là khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh, tám câu thơ tiếp theo tả cảnh trẩy hội tưng bừng, náo nhiệt:

    “Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”

    Tác giả đã đưa ta về với lễ nghi phong tục tập quán của người phương Đông, lễ tảo mộ là hướng về cội nguồn, tổ tiên, truyền thống văn hóa tâm linh tri ân với quá khứ. Đi tảo mộ là đi sửa sang, thắp hương để tưởng nhớ người đã khuất, còn “hội đạp thanh” là cuộc du xuân là cuộc vui chơi trên đồng cỏ xanh của những trai tài, gái sắc, nam thanh nữ tú, hội đạp thanh còn là cuộc sống hiện tại và có thể tìm đến những sợi tơ hồng cho mai sau. Ở bốn câu thơ tiếp theo, tác giả đã gợi tả không khí lễ hội bằng một loạt các từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm như từ láy “nô nức”, “dập dìu” “sắm sửa” và từ ghép, từ Hán Việt: “tài tử”, “giai nhân”, “bộ hành”, “ngựa xe”, “gần xa”, “yến anh” kết hợp với các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh đã khắc họa thật sinh động cảnh đông vui, tưng bừng, náo nhiệt đang diễn ra ở khắp nơi nơi mọi miền đất nước.

    “Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm”

    Lễ thanh minh – lễ hội điển hình vào tháng ba, từng đôi lứa “tài tử giai nhân” “dập dìu” du xuân, gặp gỡ hò hẹn. Trong dòng người “nô nức” đó có ba chị em Thúy Kiều cũng sắm sửa hòa nhập vào cái đẹp, cái tưng bừng của tuổi trẻ. Hình ảnh so sánh thật giản dị “ngựa xe như nước, áo quần như nêm”, gợi tả không khí náo nức của lễ hội, từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân trong bộ áo quần đẹp đẽ, tươi thắm màu sắc, họ như từng đàn chim én, chim hoàng anh ríu rít bay về hội tụ trong lễ hội. Tác giả còn miêu tả một nét đẹp của nền văn hóa lâu đời của Việt Nam chúng ta trong ngày Tết thanh minh. Đó là sắc thoi vàng, đốt giấy tiền để tưởng nhớ người thân đã khuất:

    “Ngổn ngang gò đống kéo lên Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

    Nhịp điệu thơ 2/4 và 4/4 thoáng ra một nét buồn. Phải chăng đó là trái tim đầy tình thương sẻ chia của đại thi hào Nguyễn Du đối với những người đã khuất. Cái tâm thánh thiện, niềm tin phác thực dân gian, đầy ắp nghĩa tình. Dưới ngòi bút miêu tả tinh tế của nhà thơ, lễ và hội trong tiết thanh minh là một sư giao hòa độc đáo, chứng tỏ nhà thơ rất trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc.

    Nếu như những dòng thơ trên phác họa khung cảnh nhộn nhịp, đông vui của lễ hội thì sáu câu thơ cuối tạo nên một nhịp điệu trữ tình man mác buồn theo từng bước chân của chị em Thúy Kiều:

    “Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về Bước dần theo ngọn tiểu khê Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    Hội tan sao chẳng buồn? Có thể nói sáu câu trên đã diễn tả sâu sắc cảnh chị em Thúy Kiều trên đường trở về với một khung cảnh yên ả, dường như đối lập với cảnh lễ hội lúc trước. Cảnh mang nét thanh thanh, dìu dịu của buổi chiều xuân với nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu bắc ngang như nhuộm màu tâm trạng. Bóng dương đã chênh chếch xế tà, “tà tà bóng ngả về tây” nhưng đây không phải là hoàng hôn của cảnh vật mà dường như con người cũng chìm vào cảm giác bâng khuâng, khó tả. Buổi chiều tà thường gợi lên một cảm giác buồn khó tả. Ở đây, cuộc vui đã tàn, lễ hội tưng bừng náo nhiệt đã hết, tâm hồn con người cũng “chuyển điệu” cùng cảnh vật. Dưới cái tài miêu tả của Nguyễn Du, không khí lễ hội lúc tan không ảm đạm, buồn bã mà có phần thanh dịu, lặng lẽ mơ mộng, không gian thu hẹp lại, thời gian trôi chậm hơn, cảnh vật như nhạt dần, nhạt dần, lặng lẽ theo bước chân thơ thẩn trên dặm đường về, phảng phất nỗi tiếc nuối, lưu luyến của lòng người. Mọi chuyển động nhẹ nhàng đều đều thể hiện qua tâm trạng giai nhân đa sầu, đa cảm bằng hàng loạt các từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” vừa gợi tả cảnh, vừa gợi tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến từ dư âm ngày vui xuân vừa như đã dự báo, linh cảm về điều sắp xảy ra trong tâm hồn nhạy cảm của Thúy Kiều. Và đúng như vậy, Thúy Kiều đã gặp nấm mồ bất hạnh “Đạm Tiên” – một ca nhi tài sắc mà mệnh yểu và cả sự ngẫu nhiên gặp chàng nho sinh “phong tư tài mạo tót vời” – Kim Trọng, để rồi “tình trong như đã mặt ngoài còn e” như một định mệnh tiền duyên, rõ ràng cảnh đã nhuốm màu tâm trạng của nhân vật. Như vậy sáu câu thơ cuối của đoạn trích với việc sử dụng từ láy đặc biệt là bút pháp tả cảnh ngụ tình – cảnh gắn với tình – cảnh tình tương hợp đã làm cho lòng người hòa vào cảnh vật như đang lắng lại cùng cảnh vật. Từ đó, ta thấy được tâm trạng nhạy cảm cùng niềm vui cuộc sống của tác giả.

    Tóm lại, bằng cách sử dụng hệ thống từ ghép, từ láy giàu chất tạo hình, giàu sức gợi tả, đoạn trích “Cảnh ngày xuân” xứng đáng là bức tranh đẹp vào loại bậc nhất, tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm “Truyện Kiều“. Đồng thời, với cây bút miêu tả thiên nhiên tài tình của Nguyễn Du, cảnh vật hiện lên tươi đẹp, trong sáng và còn nhuộm màu tâm trạng, đây là yếu tố tạo nên thành công của đoạn trích và đưa tên tuổi của đại thi hào Nguyễn Du đến gần với bạn đọc khắp năm châu ở mọi thế kỷ.

    Phân tích Cảnh ngày xuân bài số 3:

    Mùa xuân là mùa của hoa thơm cỏ lạ, mùa của lễ hội văn hóa dân gian, mùa xuân đã hơn một lần đi vào thơ ca của Nguyễn Trãi, Trần Nhân Tông, Hàn Mặc Tử… Đến với bức tranh mùa xuân xinh đẹp của Nguyễn Du trong “Cảnh ngày xuân“, mùa xuân của lễ hội góp thêm một hương sắc mới.

    Từ trên đồi cao, mùa xuân mở ra trước mắt chúng ta là một không gian bất tận trong ánh nắng ban mai ấm áp của đất trời. Lúc này đã vào tháng ba bầu trời chưa hẳn trong xanh như trời thu những cũng đủ in hình những cánh én rộn ràng bay lượn:

    “Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”.

    Cái “thoi đưa” của cánh én hay chính thời gian mùa xuân trôi đi đến mau lẹ. Trên nền không gian bao la ấy một bức tranh chấm phá về mùa xuân đẹp như một bức họa dệt gấm thêu hoa:

    “Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

    Màu xanh của cỏ làm nền cho bức tranh màu trắng của hoa lê tô điểm cho bức tranh thêm trong sáng tinh khôi, nhẹ nhàng mà quyến rũ. Nguyễn Du đã trọn đúng hai gam chủ đạo để đặc tả mùa xuân, một mùa xuân trang nhã đến thế là cùng. Ta đã từng bắt gặp cái hồn của mùa xuân trong thơ Nguyễn Trãi:

    “Cỏ xanh như khói bến xuân tươi Lại có mưa xuân nước vỗ trời”

    Hay đây là hình ảnh mùa xuân ở một sườn đồi trong thơ Hàn Mặc Tử:

    “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”

    Và đây là cảnh trẩy hội đông vui tưng bừng náo nhiệt:

    “Gần xa nô nức yến anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm”

    Biết bao “tài tử giai nhân”, “dập dìu” vai sánh vai, chân nối chân theo nhịp bước dòng người cứ tập nập, ngựa xe cứ cuồn cuộn, áo quần đẹp đẽ tươi thắm sắc màu. Cách nói ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi hình ảnh đoàn người du xuân nhộn nhịp ríu rít vui tươi như chim oanh chim én. Nhưng đẹp nhất và lộng lẫy nhất vẫn là những nam thanh nữ tú, họ là hồn của bức tranh xuân. Không khí lễ hội được đại thi hào của chúng ta miêu tả rất tỉ mỉ cụ thể. Đó là một nét đẹp văn hóa lâu đời của người phương Đông. Đồng thời cũng thể hiện cái “phong lưu” của chị em Thúy Kiều.

    Trời đã về chiều, mặt trời đã gác núi:

    “Tà tà, bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về”

    Nhịp thơ chậm rãi như bước chân nhè nhẹ như nỗi lòng man mác lưu luyến của con người khi hội đã tan. Cảnh vẫn thanh vẫn nhẹ nhưng tất cả đều chuyển động từ từ. Mặt trời ngả bóng dần về tây bước chân của con người thì “thơ thẩn”, dòng nước uốn lượn nhẹ nhàng. Nhưng không còn cái không khí rộn ràng của lễ hội nữa. Cái “nao nao” của dòng nước hay chính cái bâng khuâng xao xuyến của dòng người. Rõ ràng cảnh mùa xuân vào lúc xế chiều đã nhuốm màu tâm trạng. Đại thi hào hình như đang dự báo linh cảm một điều sắp xảy ra rồi sẽ xảy ra. Chỉ ít phút nữa thôi Kiều sẽ gặp mộ Đạm Tiên, sẽ gặp chàng thư sinh hào hoa Kim Trọng.

    Bằng tài năng quan sát tinh tế, bằng sự nhạy cảm của một tâm hồn thơ, cách sử dụng từ ngữ hình ảnh sinh động, Nguyễn Du đã hết lòng tâm huyết vẽ nên bức tranh về mùa xuân thật đẹp, có hồn và độc đáo. Chính tình yêu thiên nhiên đất nước con người đã tạo nên nguồn cảm hứng để ông say sưa với đời, lưu giữ trong kho tàng thi ca Việt Nam một bức tranh mùa xuân thật đặc biệt.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận 4 Câu Thơ Đầu Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân
  • Phân Tích Khổ Ba Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương.
  • Nghệ Thuật Và Nội Dung Khổ 3 Bài Viếng Lăng Bác?
  • Phân Tích Khổ Thơ Cuối Bài Vội Vàng Của Nhà Thơ Xuân Diệu
  • Phân Tích 9 Câu Thơ Cuối Bài Vội Vàng
  • Đoạn Thơ Sau Đã Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì Và Phân Tích Cái Hay Của Biện Pháp Nghệ Thuật Đó: “ngày Xuân Mơ Nở Trắng Rừng Nhớ Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Của Bài Thơ Việt Bắc Của Nguyễn Phương Hà
  • Phong Cách Nghệ Thuật Trong Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ ”tỏ Lòng” Của Phạm Ngũ Lão
  • Phân Tích Bài Thơ Tỏ Lòng (Thuật Hoài)
  • Soạn Văn 9 Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • “Ôi! Nỗi nhớ, có bao giờ thế!”. Nỗi nhớ đi qua thời gian, vượt qua không gian. Nỗi nhớ thấm sâu lòng người… Và nỗi nhớ ấy cứ ray rứt, da diết trong tầm hồn người chiến sĩ cách mạng miền xuôi khi xa rồi Việt Bắc thân yêu – nơi đã từng nuôi nấng mình trong những ngày kháng chiến gian lao…

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai – tiếng hát ân tình thủy chung.

    Trong cùng một đoạn thơ ngắn nhưng từ “nhớ” đã được lặp lại năm lần. Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối đoạn. Hai dòng đầu là lời khơi gợi, “nhắc khéo”: mình có nhớ ta không? Riêng ta, ta vẫn nhớ! Cách xưng hô gợi vẻ thân mật, tình cảm đậm đà tha thiết. Ta với mình tuy hai mà một, tuy một mà hai.

    Người ra đi nhớ những gì? Việc Bắc có gì để mà nhớ, đế mà thương? Câu thơ đã trình bày rất rõ?

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

    Núi rừng, phong cảnh Việt Bắc được ví như “hoa”. Nó tươi thắm, rực rỡ và “thơm mát”. Trong bức tranh thiện nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên giản dị, chân chất, mộc mạc mà cao đẹp vô cùng! Con người và thiên nhiên lồng vào nhau, gắn kết với nhau tạo nên cái phong thái riêng của Việt Bắc.

    Bốn mùa đất nước đi qua trong những câu thơ ngắn gọn bằng các hình ảnh, chi tiết chắt lọc, đặc trưng. Mỗi mùa mang một hương vị độc đáo riêng.

    Mùa đông, rừng biếc xanh, điểm lên những bông hoa chuối “đỏ tươi” và ánh nắng vàng rực rỡ. Xuân đến, cả khu rừng bừng sáng bởi màu trắng của hoa mơ. Hè sang, có ve kêu và có “rừng phách đổ vàng”. Và khi thu về, thiên nhiên được thắp sáng bởi màu vàng dìu dịu của ánh trăng. Đoạn thơ tràn ngập những màu sắc chói lọi, rực rỡ: xanh, đỏ, vàng, trắng… Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan của người đọc. Tiếp xúc với những câu thơ của Tố Hữu, ta như được chiêm ngưỡng một bức tranh sinh động. Trong đó, những gam màu được sử dụng một cách hài hòa tự nhiên càng tôn thêm vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc.

    Thời gian vận hành nhịp nhàng trong những dòng thơ. Nó bước những bước rắn rỏi, vững chắc khiến ta chẳng thể thấy phút giao mùa. Thiên nhiên Việt Bắc còn được mô tả theo chiều dọc thời gian. Buổi sáng hoa “mơ nở trắng rừng”, trưa nắng vàng rực rỡ và khi đêm về, trăng rọi bàng bạc khắp nơi… Núi rừng Việt Bắc như một sinh thế đang biến đổi trong từng khoảnh khắc…

    Và cái phong cảnh tuyệt vời, đáng yêu ấy càng trơ nên hài hòa nắng ấm, sinh động hẳn lên khi xuất hiện hình ảnh của con người. Con người đang lồng vào thiên nhiên, như một đóa hoa đẹp nhất, có hương thơm ngào ngạt nhất. Mỗi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người. Cảnh và người đan xen vào nhau một cách hài hòa. Đây là những con người lao động, gắn bó, hăng say với công việc. Kẻ “dao gài thắt lưng”, người “đan nón”, “cô em gái hái măng một mình” và tiếng hát ân tình của ai đó vang lên giữa đêm rừng núi xôn xao… Hình ảnh con người làm nét đẹp của thiên nhiên thêm rực rỡ. Chính họ đã gợi nên nỗi nhớ da diết cho người ra đi. Đọc đoạn thơ, ta có cảm nhận những vẻ dẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn người Việt Bắc. Ở đó họ đối xừ với nhau bằng tình nghĩa mặn mà, chân thật, bằng sự thủy chung “trước sau như một”. Họ đã nuôi chiến sĩ, nuôi cách mạng, nuôi cuộc kháng chiến của dân tộc… Những con người Việt Bắc tuy bình dị nhưng thật anh hùng.

    Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, Tố Hữu đã thể hiện một tình cảm tha thiết, ân tình sâu nặng và nỗi nhớ thương sâu sắc. Ta với mình, mình với ta đã từng:

    Thương nhau chia củ sắn lùi

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

    Đã từng san sẻ những ngọt bùi, gian nan vất vả như thế! Ta, mình làm sao có thể quên nhau được. Tình cảm mến thương ấy đã ăn sâu vào tâm hồn kẻ ở, người đi. Vì thế, khi ra đi, nhớ là nỗi niềm khắc đậm sâu trong tâm khảm, tình cảm của tác giả.

    Giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng. Cả khổ thơ ôm chứa niềm lạc quan, vui sống và tin tưởng vào cuộc sống. Nó mang âm điệu trữ tình, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước thiết tha của Tố Hữu. Cuối đoạn thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi bao kỉ niệm. Ki niệm ấy theo mãi dấu chân người đi và quấn quýt bên lòng kẻ ở lại…

    Những câu thơ cùa Tô Hữu có tính khái quát cao so với toàn bài. Lời thơ giản dị mà trong sáng thể hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. Nỗi nhớ trong thơ của Tố Hữu đã đi vào tâm hồn người đọc, như khúc dân ca ngọt ngào để lại trong lòng ta những tình cảm sâu lắng, dịu dàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Để Làm Nổi Bật Tình Cảm Quân Và Dân Ta Trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp, Đồng Thời Đánh Giá Những Biện Pháp Nghệ Thuật Mà Tác Giả Đã Sử Dụng Trong Bài Thơ
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Ngắn Gọn Nhất (Có Dàn Ý)
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Phổ Biến
  • Phương Pháp Tránh Thai Nào Tốt Nhất Cho Bạn?
  • Các Biện Pháp Tránh Thai Tự Nhiên Hiệu Quả
  • Để viết một bài văn cho người đọc vào có cảm giác lôi cuốn và hấp dẫn bởi phần nội dung và hình thức trình bày, thì các bạn cần sử dụng kết hợp một cách khéo léo các biện pháp nghệ thuật trong bài viết của mình, một số biện pháp đó là: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…..

    Các biện pháp nghệ thuật trong văn bản:

    Trước tiên ta cần tìm hiểu lí thuyết về cụm từ “biện pháp nghệ thuật “, là những nguyên tắc thi pháp trong việc tổ chức một phát ngôn nghệ thuật ( nguyên tắc xây dựng cốt truyện, quy tắc phân chia thể loại, nguyên tắc phong cách, thể thức câu thơ…) việc đưa các biện pháp nghệ thuật là đã có sự dự tính sẵn của tác giả, khi đã xác định được những mục đích, do đó nếu lựa chọn được một biện pháp nghệ thuật thích hợp sẽ là tác phẩm trở nên đắc giá.

    Các loại chúng ta thường gặp:

    1. So sánh

    – Là đối chiếu sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, đặc biệt là có nét tương đồng

    Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hóa

    – Là dùng những từ ngữ vốn miêu tả hành động bản chất của con người để gán vào sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    3. Ẩn dụ

    – Là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác, chúng có nét tương đồng với nhau

    Ví dụ: Mặt trời của Mẹ thì nằm trên lưng

    Cách nhận biết giữa so sánh và ẩn dụ:

    • So sánh: có dấu hiệu nhận biết qua các từ như sau: là, như, bao nhiêu…. bấy nhiêu.
    • Ẩn dụ: có dấu hiệu nhận biết qua các nét tương đồng của 2 sự vật hiện tượng.

    4. Hoán dụ

    – Là biện pháp tu từ gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vât, hiện tượng khác có nét tương đồng gần gũi

    Ví dụ: Áo chàm đưa buổi phân li / Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    Cách so sánh nhân hóa và hoán dụ:

    • Nhân hóa có sự nhận biết đó là có chứa các từ tên gọi, hoạt động của con người.
    • Hoán dụ có sự nhận biết là 2 sự vật có nét giống nhau

    5. Nói quá

    – Là biện pháp dùng để phóng đại qui mô,tính chất của sự vật hiện tượng

    Ví dụ: Chân to giống cái cột đình

    6. Nói giảm nói tránh

    – Là biện pháp nhằm diễn đạt các ý văn thơ một cách tế nhị, uyển chuyển

    Ví dụ: Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    7. Điệp từ, điệp ngữ

    – Là biện pháp được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ hay một cụm từ

    Ví dụ: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

    8. Chơi chữ

    – Là biện pháp được sử dụng đặc sắc về âm sắc, về nghĩa của từ

    Ví dụ: Trời cho = Trò chơi

    – Đó là những biện pháp nghệ thuật thông dụng trong chương trình văn học các học sinh thường gặp mà chúng tôi tổng hợp. Chúng tôi hi vọng rằng bài viết này đã tóm tắt một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất để giúp các em trong quá trình học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Trong Ngữ Văn Lớp 12
  • Các Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Tìm Hiểu Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích Nghệ Thuật Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Nghìn Đêm Thăm Thẳm Sương Dày…
  • Vài nét về tác giả, tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ

    – Thanh Hải (1930-1980), tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê tỉnh Thừa Thiên – Huế.

    – Hoạt động văn nghệ từ kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông bám trụ ở lại quê hương, cầm súng, cầm bút và có công xây dựng văn học Cách mạng miền Nam từ những ngày đầu.

    – Tác phẩm tiêu biểu: Huế mùa xuân (tập I – 1970, tập II – 1975); Dấu võng Trường Sơn;…

    Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ra đời tháng 11/1980, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh và một tháng sau ông qua đời. Lúc này, đất nước đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới với muôn ngàn khó khăn, thử thách.

    Biện pháp nghệ thuật và tu từ trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc”.

    + Xứ Huế vào xuân với “dòng sông xanh”, với “bông hoa tím biếc”. Sắc xanh hiền hòa của sông điểm xuyết nét chấm phá của bông hoa tím biếc gợi một sắc xuân tươi tắn, rực rỡ mà vẫn rất mực bình dị, dân dã mang đậm chất Huế.

    + Động từ “mọc” được đảo lên đầu câu thơ gợi ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp duyên dáng, và sức sống mạnh mẽ của bông hoa mùa xuân. Có thể là bông hoa lục bình, cũng có thể là bông trang, bông súng. Với sắc màu tím biếc mang nét đặc trưng của xứ Huế mộng mơ như đang vươn lên, đang trỗi dậy. Hoa tím biếc mọc trên dòng sông xanh – cái hài hòa, tự nhiên của màu sắc đem đến vẻ đẹp dịu nhẹ, thanh mát, say người của thiên nhiên ban tặng.

    – Bức tranh mùa xuân xứ Huế không chỉ tươi tắn sắc màu mà còn rộn rã âm thanh:

    “Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời”.

    Tiếng hót của chim chiền chiện mở ra một không gian mùa xuân cao vời và trong lành. Với từ cảm thán “Ơi” và lời hỏi “Hót chi”, Thanh Hải đã đưa vào lời thơ giọng điệu ngọt ngào, dịu nhẹ, thân thương của người dân xứ Huế, diễn tả cảm xúc vui say đến ngỡ ngàng trước một mùa xuân tươi đẹp – một mùa xuân giàu chất thơ.

    – Trước mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, cảm xúc của thi nhân được gợi tả bằng những câu thơ giàu chất tạo hình:

    “Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”.

    + Đây là một hình ảnh đẹp – đẹp trong cách diễn đạt cảm xúc một cách tự nhiên, giản dị mà giàu sức biểu cảm. “Giọt long lanh rơi” có phải giọt sương, giọt nắng, giọt mưa, hay chính là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện đã ngưng đọng thành hình, thành khối, thành sức sống mùa xuân có sắc màu lóng lánh? Rõ ràng, âm thanh tiếng chim vô hình, vô ảnh vốn được cảm nhận bằng thính giác đã được hữu hình, hữu ảnh thành vật thể được cảm nhận bằng thị giác và xúc giác. Phép tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được thi nhân vận dụng tài hoa, tinh tế qua trí tưởng tượng phong phú.

    + Trong cảm xúc của nhà thơ, âm thanh tiếng chim đồng nội trở thành giọt vui, giọt hạnh phúc ở đời đáng được nâng niu, trân trọng, để rồi: “Tôi đưa ta tôi hứng”. Lập lại hai lần đại từ “tôi” trong câu thơ năm chữ trở thành nhịp 3/2 cùng cử chỉ “hứng” đã diễn tả chân thực tâm trạng say sưa, ngây ngất của con người trước cảnh đất trời vào xuân.

    “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ

    + Các điệp ngữ “mùa xuân”, “lộc”, “người” như trải rộng khung cảnh hiện thực gắn với cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân.

    + Nhà thơ đã sáng tạo cặp hình ảnh sóng đôi để nói về hai lực lượng chủ yếu của Cách mạng, hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước: người chiến sĩ và người lao động – bảo vệ và xây dựng đất nước.

    + Ẩn dụ “Lộc” tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc mang theo sức sống của mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân đem sức lao động cần cù, nhỏ giọt mồ hôi làm nên màu xanh của ruộng đồng.

    “Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao.”

    – Nghệ thuật điệp ngữ “tất cả”, các từ láy “hối hả”, “xôn xao” làm nổi bật không khí náo nức, khẩn trương của đất nước khi bước vào mùa xuân mới.

    “Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”

    + Với nghệ thuật hoán dụ “Đất nước bốn ngàn năm”: biểu hiện bề dày truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, một dân tộc cần cù, chịu khó, không chấp nhận dưới sự bóc lột của đế quốc xâm lăng, sẵn sàng anh dũng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ tổ quốc.

    + Phép tu từ so sánh được nhà thơ sử dụng vô cùng đặc sắc, làm ý thơ hàm súc – “Đất nước như vì sao”. Sao là nguồn sáng kì diệu của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm, là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế là tác giả đã ca ngợi đất nước đẹp lung linh tỏa sáng như vì sao với tư thế đi lên.

    “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hót Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến”.

    – Để bày tỏ lẽ sống của mình, ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn, Thanh Hải đã đem đến cho người đọc cái giai điệu ngọt ngào, êm ái của những thanh bằng liên tiếp “ta” – “hoa” – “ca”.

    – Điệp từ “ta” được lặp đi lặp lại thể hiện một ước nguyện chân thành, thiết tha. Động từ “làm” – “nhập” ở vai trò vị ngữ biểu lộ sự hoá thân đến diệu kỳ – hóa thân để sống đẹp, sống có ích.

    – Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống để bày tỏ ước nguyện: con chim, một cành hoa, một nốt trầm.

    – Với cách sử dụng đại từ này, nhà thơ đã khẳng định giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung.

    – Hình ảnh “nốt trầm” và lặp lại số từ “một” tác giả cho thấy ước muốn tha thiết, chân thành của mình. Không ồn ào, cao giọng, nhà thơ chỉ muốn làm “một nốt trầm” nhưng phải là “một nốt trầm xao xuyến” để góp vào bản hoà ca chung.

    “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”.

    – Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ Thanh Hải rất chính xác, tinh tế và gợi cảm: làm một mùa xuân nho nhỏ để lặng lẽ dâng hiến cho cuộc đời. ” Mùa xuân nho nhỏ ” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, biểu lộ một cuộc đời đáng yêu, một khát vọng sống cao đẹp. Mỗi người hãy làm một mùa xuân, hãy đem tất cả những gì tốt đẹp, tinh túy của mình, dẫu có nhỏ bé để góp vào làm đẹp cho mùa xuân đất nước.

    – Cặp từ láy “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy một thái độ chân thành, khiêm nhường, lấy tình thương làm chuẩn mực cho lẽ sống đẹp, sống để cống hiến đem tài năng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

    – Điệp từ: “Dù là” như nhấn mạnh ước nguyện cống hiến cho đời của tác giả là không kể thời gian, tạo âm điệu thơ sâu lắng, ý nghĩa.

    Tham khảo bài văn mẫu: Phân tích đoạn thơ 4, 5 trong bài Mùa xuân nho nhỏ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong 9 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Đất Nước
  • Giáo Án Bài Ca Ngất Ngưởng Soạn Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng, 4 Bài Văn Mẫu Lớp 11, Mở Bài, Thân Bài,
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 13, 14: Bài Ca Ngất Ngưởng
  • Phân Tích Bài Thơ “bài Ca Ngất Ngưởng” Của Nguyễn Công Trứ
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Cảnh Ngày Hè

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Người Ngắm Trăng Soi Ngoài Cửa Sổ…
  • Phân Tích Bài Thơ Vọng Nguyệt (Ngắm Trăng) Của Hồ Chí Minh
  • Đề Khảo Sát Đầu Năm Học 2022
  • Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ
  • 5 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương
  • Một số vấn đề về nội dung và nghệ thuật của Cảnh ngày hè:

    I. TÁC GIẢ

    – Nguyễn Trãi (1380-1442) hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại( Chí Linh, Hải Dương). Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn học và giàu lòng yêu nước, nhờ đó hun đúc, kết tinh những phẩm chất, tài năng cho một nhân tài vĩ đại của đất nước: đại thi hào, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa. Năm 1980, ông được UNESCO trao tặng danh hiệu danh nhân văn hóa thế giới, là “sứ giả của dân tộc Việt Nam”, là “thành viên kiệt xuất của cộng đồng loài người”.

    – Cuộc đời ông tuy trải qua nhiều biến động nhưng tâm hồn ông vẫn hướng về nhân dân với một tấm lòng thương yêu cảm thông sâu sắc. Ông dành tình yêu cao cả và mênh mông của mình cho thiên nhiên và “dân đen”, “con đỏ”. Điều đó được thể hiện đầy cảm xúc và thanh nhã và bài thơ “Cảnh ngày hè”- một bức tranh ngày hè đậm đà hương sắc.

    II. TÁC PHẨM

    – “Cảnh ngày hè” là bài số 43 nằm trong mục “Bảo kính cảnh giới” (Gương báu tự răn mình) của tập thơ chữ Nôm “Quốc âm thi tập” gồm 254 bài của Nguyễn Trãi.

    – Bài thơ là sự phá cách của tác giả trên phương diện nghệ thuật của thể thơ thất ngôn Đường luật và bức tranh mùa hè sinh động gõ vào mọi giác quan của con người mang đến cho con người những cảm xúc thi vị đầy chất thơ nhưng cũng ấm áp tình người đồng trái tim với tác giả “Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

    III. Những vấn đề về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm 1. Nội dung

    – Đặt vấn đề hoàn cảnh ra đời của tác phẩm:

    + Năm 1427: cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau 20 năm gian khổ đã toàn thắng, mở ra trời nam thái bình cho nhân dân. Nhà Hậu Lê bắt tay vào công cuộc xây dựng nước nhà trên nhiều lĩnh vực. Nguyễn Trãi đã tham gia vào công cuộc xây dựng ấy. Nhưng thế sự an bình chỉ kéo dài được một khoảng thời gian, không lâu sau, mâu thuẫn nội bộ lại diễn ra, sự ganh ghét, âm mưu hại lẫn nhau là điều khó tránh khỏi. Vì phẩm chất cương trực, trung thực, thẳng thắn vạch tội bọn quyền thần mà nhiều lần ông bị họ lập mưu nghi oan, suýt mang họa vào thân. Đau buồn trước cuộc sống nơi quan trường, năm 1439, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn, thoát cuộc sống tầm thường, mưu mô về với cuộc sống an nhàn, tĩnh tại. Có lẽ, bài thơ đã ra đời sau khi ông xin về ở ẩn.

    + Tại sao không rõ hoàn cảnh sáng tác bài thơ?: (Nói đến vụ án Lệ Chi Viên). Năm 1464, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, sau đó sưu tầm lại thơ văn của ông. Đến TK XIX, những tác phẩm của ông mới được sưu tầm tương đối đầy đủ. Cho nên, theo ý kiến cá nhân, xét về hoàn cảnh ra đời, những tác phẩm của ông nói chung và bài “Cảnh ngày hè” nói riêng thì không xác định rõ được thời gian chính xác mà chỉ có thể định tính dựa trên lịch sử dân tộc, nội dung và cảm xúc của tác giả thể hiện qua các tác phẩm.

    a. Bức tranh mùa hè sinh động hiện lên cụ thể với sự đa dạng sắc màu, âm thanh tác động mạnh đến nhiều giác quan của người đọc tạo ra một cảm giác như người đọc đang chìm tâm hồn của mình để sống, tận hưởng và quan sát được bức tranh ấy. (6 câu thơ đầu)

    “Rồi hóng mát thuở ngày trường

    Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

    – Năm 1418, Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng ở Thanh Hóa. 10 năm kháng chiến là 10 năm chứa đựng biết bao nỗi niễm, khó khăn, nguy hiểm đối với thi nhân. Nhưng dường như những khó khăn ấy đối với ông là nơi tu dưỡng nhân cách, phẩm chất, hun đúc một tinh thần vĩ đại trong bậc đại nhân, đại trí:

    “Khó khăn thì mặc có màng bao

    Càng khó bao nhiêu chí mới hào”

    (Thuật hứng, XXI)

    Sau những năm kháng chiến đối mặt với muôn vàn khó khăn:

    “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần

    Khi Khôi Huyện quân không một đội”

    Thì giờ đây, cái “nhàn” thân, giây phút hòa mình cùng vẻ tươi tắn của cuộc sống, đất trời đã về với ông: “Rồi hóng mát thuở ngày trường”. “Rồi” là rỗi rãi, ngày trường là “ngày dài”. Toàn câu thơ quả thật đều nói đến việc nhàn rỗi, thể hiện qua các từ “rồi”, “hóng mát”; “thuở ngày trường”. Thân có nhàn nhưng thực sự tâm có nhàn không? Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy “Một mai, một cuốc, một cần câu”, nhưng tâm hồn của cụ thật điềm nhiên, thanh tịnh “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” (Nhàn). Còn cụ Nguyễn Trãi, sống trong hoàn cảnh bị nghi oan, bọn quyền thần gièm pha, nịnh bợ, liệu rằng cuộc sống của nhân dân có được an bình, yên vui? Có lẽ đó là nỗi niềm mà cụ canh cánh mãi trong lòng, khó mà dứt được. Trong nỗi canh cánh đó, bức tranh thiên nhiên tươi tắn hiện về hòa vào bức tranh lao động khỏe khoắn, tươi vui có thể là một niềm an ủi lớn đối với cụ:

    “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

    Ba câu thơ 2,3,4 hiện ra thật tươi tắn, sinh động.

    Có bức tranh, cuộc sống nào tràn ngập sắc hương, âm thanh như bức tranh “làng ngư phủ” này không? Có bức tranh nào tác động mạnh đến mọi giác quan và cảm xúc của người đọc như bức tranh này không? Dường như cảnh hiện lên mà ẩn tình nồng thắm, chứa chan thi vị trong đó. Xuân, hạ, thu, đông: một bức tranh tứ bình của đất trời tràn ngập hương sắc, mang những nét độc đáo riêng biệt. Nhưng mùa hạ vẫn là nóng bỏng, rạo rực nhất:

    “Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu, lập lòe đâm bông”

    (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

    Tuy bức tranh mùa hè “làng ngư phủ” không có ánh trăng lãng mạn như bức tranh mùa hè của cụ Nguyễn Du nhưng cũng có sắc vẻ rừng rực của hoa lựu đỏ cháy một khoảnh không gian của đất trời “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”. Trên cái nền cháy rực của mùa hè ấy, lá hòe xanh rì như đang chen chúc nhau vươn vai trỗi dậy góp phần tô điểm thêm bức tranh sống động ấy “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”. Trong sắc xanh của hoa hòe, sắc đỏ của hoa lựu, hương sen thoang thoảng trong ao mang đến một không khí thật trang nhã và thanh thoát: “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Dường như, hoa lựu đỏ rực, hương sen thoang thoảng là những hình ảnh tượng trưng cho mùa hè đầy sức sống và thi vị. Thi nhân không chỉ vẽ nên bức tranh sự sống cây cỏ mà còn vẽ nên bức tranh cuộc sống của con người:

    “Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

    Tới đây, quả thực âm thanh thiên nhiên đã hòa vào âm thanh cuộc sống của con người. Tiếng lao xao của làng chài, tiếng dắng dỏi (inh ỏi) của ve râm ran được tác giả ngợi ca như tiếng đàn đã khắc vào bức tranh mùa hè ấy thêm nhộn nhịp nhưng cũng có sự day dứt không nguôi. Tiếng ve kêu đã não nề mà được so sánh như tiếng đàn lại càng não nề hơn. Thi nhân không chỉ miêu tả bức tranh thiên nhiên mà còn miêu tả bức tranh cuộc sống làng chài với một tấm lòng trìu mến, thân thương. Cả hai bức tranh ấy nếu được thi nhân khắc họa vào lúc “xuất dương” (mặt trời mọc) thì nó sẽ sáng sủa, tươi vui hơn nhưng thật tiếc thi nhân đã khắc hoạ nó vào lúc “tịch dương” (mặt trời sắp lặn) tuy có tươi, có rực rỡ nhưng cũng ẩn chứa một nỗi buồn da diết tự tận đáy lòng thi nhân mà còn len lỏi vào tâm thức của bao thế hệ tương lai như nỗi buồn trong hai câu thơ:

    “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”

    (Thăng Long thành hoài cổ, Bà Huyện Thanh Quan)

    Vậy là khung cảnh mùa hè ấy đã gõ mạnh vào thị giác, khứu giác, thính giác của thi nhân để cho những cảm xúc của thi nhân lan tỏa theo nhịp sống mùa hè với một tâm hồn yêu thiên nhiên phong phú, dào dạt.

    b. Tấm lòng của thi nhân: khát vọng về cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho nhân dân (2 câu cuối)

    “Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương”

    Thần thoại Trung Quốc kể rằng hai triều vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai triều đại lý tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc. Riêng vua Ngu Thuấn có khúc hát Nam Phong, trong đó có câu: “Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề” (Gió Nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của). Phải chăng từ thần thoại đó mà đại thi hào Nguyễn Trãi luôn ao ước cho nhân dân mình sẽ được một cuộc sống thái bình, ấm no như thế khi mong ước có được cây đàn của vua Ngu Thuấn để đàn một khúc Nam phong. Có phải chăng, 2 câu thơ cuối không chỉ là khát vọng, nguyện ước cao cả của thi nhân mà còn ẩn chứa sự ca ngợi về 2 triều đại vua Lê:

    “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

    Thóc gạo đầy nhà, trâu chẳng buồn ăn”

    Sau 20 năm dai dẳng kháng chiến, trận Chi Lăng – Xương Giang kết thúc với khí thế hào hùng oanh liệt của dân tộc ta:

    “Đánh một trận, sạch không kình ngạc

    Đánh hai trận, tan tác chim muông

    Nổi gió to trút sạch lá khô

    Thông tổ kiến phá toang đê vỡ”

    (Bình Ngô Đại Cáo)

    Tháng 4/ 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Hậu Lê, bắt tay vào công cuộc xây dựng và khôi phục đất nước trên mọi phương diện, đặc biệt là trong nông nghiệp tạo mọi điều kiện cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vì thế, câu thơ cuối cùng “Dân giàu đủ khắp đòi phương” lại một lần nữa chứng minh cho tư tưởng nhân nghĩa, yêu dân trong những sáng tác của Nguyễn Trãi, đồng thời ông không chỉ ước mơ cho dân “giàu đủ” nhiều phương trong thời đại của ông mà còn ước ao cho bao thế hệ mai sau của một đất nước mà:

    “Núi sông bờ cõi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác”

    2. Nghệ thuật

    “Rồi hóng mát thuở ngày trường

    Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

    Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương”

    Các vấn đề nghệ thuật của bài thơ:

    – Thanh và luật bằng trắc: Theo quy luật thanh và luật bằng trắc của thơ Đường, câu thứ nhất chữ thứ hai được viết theo thanh nào thì thuộc bài thơ luật đó. Do đó “Cảnh ngày hè” là bài thơ luật trắc (chữ thứ hai câu thứ nhất là thanh trắc ” hóng“)

    – Niêm: “là cách sắp xếp các câu thơ dính lại với nhau về nhịp thanh gây sự liên lạc mật thiết về âm điệu”. Theo quy tắc thơ Đường luật câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm câu 3, câu 4 niêm câu 5, câu 6 niêm câu 7, “hai câu niêm với nhau là khi chúng cùng một nhịp thanh bằng trắc. Hai câu thơ niêm với nhau khi chữ thứ hai của 2 câu thơ cùng thanh với nhau.

    Bài thơ là sự kết hợp giữa những quy tắc thơ Đường luật và sự phá cách của thi nhân:

    – Quy tắc:

    + Bố cục: đề (giới thiệu), thực (giải thích), luận (bàn rộng), kết (cảm tưởng, thái độ của tác giả – tình). Nói cách khác, bài thơ đã đi đúng bố cục của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (6 câu đầu tả cảnh, 2 câu cuối diễn tình)

    + Đối: “Trong một bài thơ Đường luật bát cú, đối được thực hiện ở hai câu thực(3, 4) và luận(5, 6). Bài thơ đã thể hiện được điều này:

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ – Hồng liên trì đã tiễn mùi

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ – Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

    “Rồi hóng mát thuở ngày trường

    Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

    Lao xao chợ cá làng ngư phủ

    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

    Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương

    + Nhịp: 2/2/3 theo quy tắc thơ Đường luật

    “Hòe lục/ đùn đùn/ tán rợp giương”

    “Lao xao/ chợ cá/ làng ngư phủ”

    “Dắng dỏi/ cầm ve/ lầu tịch dương”

    – Sự phá cách, sáng tạo

    + Hai câu lục ngôn mở đầu và kết thúc bài thơ là điểm nhấn nghệ thuật quan trọng và đặc sắc. Đó là câu thất ngôn bị “tỉnh lược” đi một chữ.

    + Nhịp thơ: một số câu được ngắt nhịp là 3/ 4, trong khi đó thơ Đường luật ngắt nhịp 4/3:

    “Rồi hóng mát thuở ngày trường”

    “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”

    “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

    “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng”

    “Dân giàu đủ khắp đòi phương”

    – Sử dụng các từ láy giàu giá trị biểu cảm và diễn đạt: “đùn đùn” (Động từ, kéo đến rất nhiều); “lao xao” (Tính từ, chỉ những âm thanh không đều), “dắng dỏi” (Tính từ, tiếng cao lanh lảnh).

    – Sử dụng các động từ “giương”, “phun”, “tiễn” diễn tả khéo léo không chỉ sức sống của cỏ cây mà tiềm tàng sức sống mãnh liệt của người lao động và tấm lòng khao khát cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước của thi nhân.

    – Ba câu thơ 2, 3, 4 đưa sự vật lên trước, sau đó miêu tả sắc thái của sự vật nhằm làm nổi bật sự vật. Đó là một điểm nghệ thuật đặc sắc. Đồng thời, thi nhân đưa vào bức tranh ấy ba màu sắc tươi sáng “lục”, “đỏ”, “hồng” có sự hài hòa, cân đối.

    Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

    – Toàn bài thơ cô đọng qua từ “dân” trong câu thơ cuối: “Dân giàu đủ khắp đòi phương” thể hiễn tư tưởng nhân nghĩa, thương dân của đại thi hào. Và đó là “nhãn tự” của bài thơ.

    TỔNG KẾT:

    Trong tập “Việt thi”, Lệ thần Trần Trọng Kim có viết: “Thơ luật lấy tình và cảnh làm tư liệu, lấy ý và từ làm sự vận dụng. Tình nhiều, cảnh rõ, ý cao, từ đẹp là thơ hay”. Và bài thơ “Cảnh ngày hè” của đại thi hào Nguyễn Trãi đã đạt đến nội dung và nghệ thuật đặc sắc đó.

    Sau khi đã tìm hiểu xong nội dung trên, các em có thể đi vào vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi qua bài Cảnh ngày hè nhằm củng cố kiến thức của mình về nội dung tác phẩm cũng như tìm hiểu nội tâm tác giả.

    Bên cạnh Một số vấn đề về nội dung và nghệ thuật của Cảnh ngày hè các em cần tìm hiểu thêm những nội dung khác như Dàn ý Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè hay phần Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Cảnh ngày hè nhằm củng cố kiến thức của mình.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/mot-so-van-de-ve-noi-dung-va-nghe-thuat-cua-canh-ngay-he-41261n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Phân Tích Tác Phẩm Cảnh Ngày Hè
  • Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nghệ Thuật Của Bài Thơ Cảnh Ngày Hè Của Nguyễn Trãi
  • Phân Tích Bài Ca Dao Sau: “khăn Thương Nhớvì Một Nỗi Không Yên Một Bề…”
  • Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai
  • Phân Tích Bài Ca Dao Khăn Thương Nhớ Ai… Không Yên Một Bề
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100