Tài Liệu Phân Tích Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Việc Nghiên Cứu Xã Hội Học Gia Đình Đối Với Lĩnh Vực Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Download Bai Giang Quan Ly Nha Nuoc Ve Van Hoa
  • Văn Hóa Là Gì? Hiểu Về Văn Hóa Sao Cho Đơn Giản, Dễ Hiểu Nhất
  • Chuyên Đề Thực Trạng Thu, Chi Và Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thu, Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Bhxh Huyện Tứ Kỳ
  • #1 Địa Chỉ Trung Tâm Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Kim Thành
  • Hội Khuyến Học Tỉnh Yên Bái
  • BÀI TẬP LỚN 1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦẦU…………………………………………………………………………………………………2 NỘI DUNG……………………………………………………………………………………………………3 I. KHÁI QUÁT CHUNG……………………………………………………………………………….3 1. Xã hội học gia đình…………………………………………………………………………….3 2. Gia đình……………………………………………………………………………………………3 II. CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH……………………………………………………….5 1. Chức năng kinh tếế………………………………………………………………………………6 2. Chức năng tái sinh – duy trì nòi giốếng…………………………………………………..8 3. Chức năng giáo dục……………………………………………………………………………8 4. Sự hình thành và biếến đổi chức năng của gia đình……………………………….11 III. Ý NGHĨA THỰC TIỄỄN CỦA VIỆC NGHIỄN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐỐI VỚI PHÁP LUẬT………………………………………………………………………………………..12 1. Đối với việc xây dựng pháp luật………………………………………………………..12 2. Đối với ý thức pháp luật……………………………………………………………………12 3. Thực hiện pháp luật………………………………………………………………………….13 KỄỐT LUẬN…………………………………………………………………………………………………..13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………..14 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………………….15 NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 2 LỜI MỞ ĐẦU Có một câu nói nổi tiếng của nhà viết kịch Euripide mà đến ngày nay vẫn được nhiều người chia sẻ đó là: “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận” Sống trên đời ai cũng muốn có một Mái Ấm Gia Đình. Nơi đó mọi người yêu thương nhau, chia sẽ cho nhau niềm vui, nỗi buồn. Cho dù cuộc sống có đổi thay mỗi thành viên rời xa gia đình thì nơi họ nhớ nhất muốn về nhất vẫn là Mái Ấm Gia Đình. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, là nền tảng và là nơi vun đắp cho tương lai của cá nhân và xã hội. Mỗi thành viên trong gia đình cần đồng lòng gắn kết, chăm sóc yêu thương nhau cùng xây đắp một Mái Ấm Gia Đình hạnh phúc, ấm no”Gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó, người nam và người nữ được mời gọi tận hiến cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự sống. Quyền bính, sự ổn định và đời sống tương giao nơi gia đình là nền tảng cho tự do, an ninh và tình huynh đệ của xã hội. Gia đình là cộng đoàn, nơi đó từ thời thơ ấu, con người được học biết tôn trọng những giá trị luân lý, tôn thờ Thiên Chúa và biết sử dụng tự do. Đời sống gia đình chuẩn bị cho đời sống xã hội.”(1) (1) (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo số 2207. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 3 NỘI DUNG I. KHÁI QUÁT CHUNG 1. Xã hội học gia đình Xã hội học gia đình là nghành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu hệ thống các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài của sự hoạt động, sự phát triển và sự thay đổi của gia đình với tư cách là hình thức hoạt động của con người, cơ cấu và chức năng của gia đình trong những điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa cụ thể của xã hội. Xã hội học gia đình bản thân nó là khoa học xã hội học chuyên biệt nghiên cứu về gia đình. Nó có những quy luật đặc thù riêng song cũng là bộ phận của xã hội học cho nên nó cũng đòi hỏi phải nghiên cứu gia đình một cách tổng thể trong mối quan hệ, sự tác động qua lại của các yếu tố cấu thành cơ cấu gia đình, chức năng của gia đình đối với bản thân mối quan hệ nội tại của gia đình và mối quan hệ gia đình với mọi quan hệ của xã hội tổng thể. Xã hội học nghiên cứu gia đình như hiện tượng xã hội trên hai phương diện:  Một là các mối quan hệ bên trong gia đình (quan hệ giữa các thành viên và quan hệ giới tính)  Hai là các mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội (quan hệ gia đình và họ hàng, làng xã, các tổ chức sản xuất, các tổ chức chính trị và các tổ chức văn hóa…)(1) 2. Gia đình Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Gia đình có những ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến xã hội. (1) Tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên TS.Ngọ Văn Nhân, NXB Công an Nhân dân, trang 333. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 4 Từ thời nguyên thủy cho tới nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi đáp ứng cơ bản nhu cầu của các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người. Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,… khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình. Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Có nhiều định nghĩa gia đình khác nhau như:  Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại. Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội.  Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung.(1) (1) Tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên TS.Ngọ Văn Nhân, NXB Công an Nhân dân, trang 336. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 5 Chuẩn mực của gia đình Việt Nam hiện nay gồm 4 yếu tố sau (1): – No ấm: Biểu hiện sự phát triển kinh tế của gia đình nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viên. – Bình đẳng: Biểu hiện các thành viên trong gia đình tôn trọng lẫn nhau và được hưởng mọi quyền lợi về học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí, chăm sóc sức khoẻ. Đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ em gái, người cao tuổi. – Tiến bộ: Biểu hiện các thành viên trong gia đình luôn có ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt để có kiến thức, trình độ, năng lực; có đạo đức, lối sống lành mạnh phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc và xu thế phát triển của thời đại. – Hạnh phúc: Biểu hiện các thành viên trong gia đình gắn bó, thương yêu, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, tạo ra môi trường trong sạch, ngăn chặn tệ nạn xã hội. Chức năng của gia đình: gia đình có rất nhiều chức năng song có 3 chức năng chính chi phối toàn bộ các chức năng còn lại: Chức năng kinh tế; Chức năng tái sinh – duy trì nòi giống; Chức năng giáo dục II. CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH Từ lâu gia đình đã được coi là tế bào của xã hội. Tế bào gia đình khỏe mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc. Nếu tế bào gia đình lỏng nẻo, không đảm đương tốt các vai trò chức năng của mình thì xã hội có nguy cơ bị xáo động làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và vật chất của mọi thành viên trong xã hội. Vì thế để củng cố nền tảng gia đình thì cần phải thực hiện tốt các chức năng cơ bản và đó luôn là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới. Để thực hiện tốt thì chúng ta cần hiểu rõ trong xã hội, gia đình có chức năng cơ bản như thế nào? (1) Theo trang web Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh Hóa http://www.congdoanthanhhoa.org.vn/index.php/tin-hoat-dong-cong-doan/cong-tac-nu-cong/19tin-hoat-dong-cong-doan/24-cong-tac-nu-cong/558-van-hoa-gia-dinh-trong-thi-ki-cnh-hdh-vahi-nhp-kinh-t-quc-t NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 6 1. Chức năng kinh tế Đây là chức năng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình, góp phần vào sự phát triển của toàn xã hội. Lao động của mỗi thành viên trong gia đình hoặc hoạt động kinh tế của gia đình nhằm tạo ra nguồn lợi đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất (ăn, ở, đi lại) lẫn nhu cầu tinh thần (học hành tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí). Gia đình còn là đơn vị tiêu dùng, việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong xã hội đã tác động vào sản xuất, tiền tệ, thúc đẩy kinh tế phát triển. Sự ổn định về kinh tế cũng là một điều kiện đảm bảo hôn nhân gia đình bền vững và hạnh phúc. Trong khi nhiều bạn trẻ chỉ đặt mục tiêu là hai người yêu thương nhau thật sự và rồi tiến tới hôn nhân thì một số bạn nữa khác lại thực tế đưa ra điều kiện đòi hỏi chồng tương lai phải có thu nhập cao, nhà sang, xe xịn…Tuy nhiên tiền bạc dù có nhiều như nước hay nhà cao cửa rộng rồi cũng sẽ tiêu tan nếu bản thân các bạn chưa nhận thức được tầm quan trọng của kinh tế trong đời sống gia đình và thiếu kỹ năng tổ chức quản lý kinh tế. Để cuộc hôn nhân thật sự bền vững và hạnh phúc, không nên đặt tiền bạc lên các giá trị khác. Vợ chồng cũng cần rành mạch nhưng thống nhất và tin tưởng trong chi tiêu gia đình đồng thời ghi chép các khoản thu chi. Bên cạnh đó cha mẹ cũng cần dạy con cái cách quản lý về tiền bạc và thói quen chi tiêu sao cho tiết kiệm. Chức năng kinh tế biểu hiện trên cả hai phương diện: sản xuất và tiêu dùng. Tức là mỗi gia đình vừa là một đơn vị sản xuất của xã hội, vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm nền kinh tế của xã hội. Trong điều kiện hiện nay, nhiều gia đình có thành viên làm ở các công ty, nhà nước… chính vì vậy, chức năng kinh tế của gia đình được giảm nhẹ ở khâu tổ chức, sản xuất, nhưng với tư cách là đơn vị tiêu dùng thì tính toán thu chi hàng tháng, hàng năm vẫn là nỗi lo của các chủ gia đình. Như đã nói ở trên, mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất của xã hội. Chính vì vậy, sự phát triển của xã hội phụ thuộc trực tiếp vào sự phát triển kinh tế mỗi hộ gia đình. Vì vậy sự phân hóa giàu nghèo luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê thì trong tháng Hai năm 2012, cả NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 7 nước có 53,9 nghìn hộ thiếu đói, giảm 62,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 214,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 63,4%. Theo một số liệu thống kê khác thì trong 2 năm (2006 – 2007), hộ nghèo tiếp tục giảm bình quân trên 300.000 hộ/năm, năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo còn 15,5%, năm 2007 còn 14,8% (giảm được 7,2% so với cuối năm 2005). Một số địa phương cơ bản xóa hết số hộ nghèo theo chuẩn quốc gia và áp dụng chuẩn mới của địa phương cao hơn từ 1,5 – 2 lần so với chuẩn nghèo quốc gia như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và tỉnh Bình Dương. Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2,09 lần năm 2004 và 2 lần năm 2008, đến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 10%. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, của xã hội. Cùng với sự giảm hộ nghèo là sự tăng trưởng GDP hằng năm của nước ta. Năm 2011 GDP nước ta đạt 5.89%. Trung bình tăng trưởng GDP những năm gần đây của Việt Nam đạt 7%. Điều đó có được kể từ sau chính sách “Đổi mới” năm 1986 của nước ta. Trước năm 1986, xã hội Việt Nam chìm đắm trong chế độ quan lieu bao cấp, người dân luôn trong tâm lý ỷ nại, trông chờ tập thể, chức năng kinh tế của gia đình bị xã hội tước đoạt. Mỗi gia đình thụ động làm việc trong hợp tác xã một cách lười nhác, thụ động. Chính vì vậy thu nhập không cao, đất nước chìm trong đói nghèo. Sau khi mở cửa hội nhập với quốc tế, các gia đình hào hứng làm việc hơn, chăm chỉ hơn, sáng tạo hơn. Việt Nam bắt đầu hồi phục và đang trên đà phát triển. Nền kinh tế thị trường phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho chức năng kinh tế của gia đình: giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp, điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập tốt hơn(1)… Cho đến nay, Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng nghèo và đang phấn đấu trở thành một nước công nghiệp. (1) Theo trang web : Tiếng nói dân chủ https://tiengnoidanchu.wordpss.com/2011/09/13/phan-hoa-giau-ngheo-%E1%BB%9F-n %C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-hi%E1%BB%87n-nay/ NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 8 2. Chức năng tái sinh – duy trì nòi giống Gia đình là nơi tái sản sinh còn người, cung cấp thành viên, nguồn nhân lực cho gia đình và xã hội. theo dòng văn hóa, ở mỗi thời đại, việc sinh sản của gia đình có những hệ quả nhận thức khác nhau về giới tính, số lượng con người. Mặt khác sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của con người, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo các điều kiện cho nòi giống phát triển. Ngày nay, khoa học sinh sản phát triển cao nhưng sinh sản tự nhiên trong gia đình vẫn là ưu thế bởi đó là điều kiện cơ bản để bảo vệ nòi giống người, là cơ sở, nền tảng cho mỗi người tham gia vào đời sống xã hội vì sự phát triển. Nhà giáo dục nổi tiếng V.A. Xukhômlinxki có viết: “Có hàng chục, hàng trăm nghành nghề, công việc khác nhau…, nhưng công việc phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất giống nhau đối với mọi gia đình, đồng thời lại có tính đặc thù và không lặp lại, đó là sự sáng tạo ra con người. Sáng tạo ra con người là sự nỗ lực cao nhất của tất cả sức mạnh tinh thần của bạn. Đó là sự khôn ngoan, là tài nghệ, là nghệ thuật trong cuộc sống của bạn”. Tác phẩm vĩ đại nhất của tạo hóa đó là con người, song đây cũng là sản phẩm khó kiến tạo nhất trong một gia đình. Vậy mà một số bạn trẻ do chưa hiểu biết được và không nhận thấy được sự thiêng liêng của việc tạo ra một sinh linh, một con người. Hiện tượng nạo hút thai hiện nay đã rất phổ biến và đặc biệt là trong các bạn trẻ có lối sống không lành mạnh hiện nay dẫn đến suy giảm khả năng sinh con. Hãy nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc sinh con. Đứa trẻ sinh ra phải là đứa trẻ được đợi chờ, chào đón ra đời. Đừng tạo ra những đứa trẻ khi mà chưa chuẩn bị toàn tâm, toàn ý. 3. Chức năng giáo dục Có thể nói đây là chức năng rất quan trọng, quyết định nhân cách con người. Gia đình là cái nôi của mỗi con người, là nơi dưỡng dục về thể chất, tinh thần, hình thành nhân cách cho mỗi con người trong xã hội. Từ cái nôi này, mỗi cá nhân được trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng sống để có thể thích ứng, hòa nhập vào cộng NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 9 đồng. Như khoa học đã xác định rõ ràng, cơ sở trí tuệ và tình cảm cá nhân thường hình thành ngay từ thời ấu thơ. Gia đình trang bị cho đứa trẻ những ý niệm đầu tiên để lý giải thế giới sự vật, những ý niệm về cái thiện và cái ác, dạy cho con trẻ hiểu rõ đời sống và con người, đưa trẻ con vào thế giới của những giá trị mà gia đình thừa nhận và thực hiện trong đời sống của nó. Nêu gương là cách giáo dục tốt nhất trong mỗi gia đình (cha mẹ yêu thương chân thành,tôn trọng, giúp đỡ nhau; cha mẹ, ông vào vừa yêu thương nhưng cũng vừa yêu thương, bao dung với con cháu). Nêu gương cũng là cách tốt để dạy con người cách ứng xử với họ hàng, láng giềng và cộng đồng (trọng nhân nghĩa, làm điều thiện, sống chan hòa, ghét thói giant ham, điều giả dối) qua đó giúp con cháu tiếp thu một cách tự nhiên, nhẹ nhàng những bài học cuộc đời nhưng lại tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Mỗi gia đình đều hình thành tính cách của từng thành viên trong xã hội. Giáo dục gia đình chủ yếu được thực hiện bằng tình cảm và đó là nền giáo dục vừa toàn diện, vừa cụ thể và mang tính cá biệt cao. Toàn diện là bởi giáo dục gia đình hướng tới thúc đẩy sự phát triển đầy đủ mọi phẩm chất con người. Cụ thể là vì giáo dục gia đình không mang tính chung chung, trừu tượng mà nhằm vào mỗi cá nhân cụ thể và nhằm xây dựng, phát triển những phẩm chất, năng lực cụ thể của từng người. Giáo dục gia đình mang tính cá biệt là do đối tượng là những cá thể đặc thù, riêng biệt. Đối với mỗi cá nhân cụ thể đó thì phải có phương pháp, cách thức và nội dung giáo dục riêng, cụ thể, cá biệt mới phù hợp và chỉ có như thế mới mang lại hiệu quả của giáo dục gia đình. Như thế, có thể nói giáo dục gia đình là một dạng giáo dục đặc biệt của xã hội loài người.(1) Chức năng giáo dục của gia đình cũng chịu sự tác động trực tiếp từ các yếu tố chủ quan và khách quan. (1) Theo trang web báo Đồng Nai http://www.baodongnai.com.vn/vanhoa/201108/Gia-dinh-Viet-Nam-voi-chuc-nang-giao-ductrong-boi-canh-toan-cau-hoa-2092346/ NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 10 Yếu tố khách quan: + chính sách của nhà nước + văn hóa, xã hội + điều kiện vật chất + các hiện tượng xã hội + sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình … Yếu tố chủ quan: + phương pháp giáo dục của mỗi gia đình + tầm hiểu biết của cha mẹ + kinh nghiệm nuôi dậy con + lối sống của bố mẹ … Đứa con là hình thưởng hay hình phạt cho cha mẹ là tùy thuộc vào sự giáo dục của họ. Thông qua việc thực hiện chức năng giáo dục, gia đình thực sự trở thành cầu nối không thể thay thế được giữa gia đình và cá nhân. Song hiện nay có nhiều bậc cha mẹ chỉ quan tâm đến việc cho con ăn no, ăn ngon, mặc đẹp hợp thời trang hơn là việc giáo dục tính cách cho con cái mình. Họ phó mặc sự giáo dục đó cho nhà trường, cho ông bà hay người giúp việc. Có những ông bố bà mẹ cấm không cho con tham gia hoạt động gì, không được chơi với ai, không được làm việc gì khác ngoài việc học và học, bắt con cái họ học đến phát bệnh. Đến khi thấy con cái vô lễ, hư hỏng, không hiếu thảo với ông bà cha mẹ, sống ích kỷ thì lại than thân trách phận mình vô phước và mắng chửi con cái. Thật ra tất cả đều có nguyên nhân của nó, gia đình muốn hạnh phúc thì cha mẹ cần bỏ thời gian, công sức, tiền bạc để giáo dục con em mình, đừng phó mặc trách nhiệm giáo dục cho kẻ khác. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 11 4. Sự hình thành và biến đổi chức năng của gia đình Gia đình lúc đầu chức năng của nó chỉ đơn giản là kiếm sống và duy trì nòi giống. Về sau, khi dân số tăng lên, sinh ra những yêu cầu mới và khi nhu cầu của con người phát triển, nảy sinh những quan hệ xã hội mới làm cho gia đình từ chỗ “là quan hệ xã hội duy nhất” đã trở thành “quan hệ phụ thuộc”. Việc chuyển gia đình từ chỗ “là quan hệ duy nhất” trở thành bộ phận của xã hội rộng lớn hơn có lẽ đã trải qua những thời kỳ lịch sử lâu dài, không phải lúc nào, ở đâu cũng rõ nét. Trong các xã hội thị tộc, bộ lạc, sự đối lập giữa gia đình và xã hội hết sức mờ nhạt. Sự đối lập đó chỉ có thể trở thành “quan hệ phổ biến” với sự phát triển hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà việc tách ra gia đình ra khỏi sản xuất như là quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa. Gia đình đang biến đổi chức năng của nó cùng với quá trình xã hội hóa sức lao động. Sự biến đổi chức năng của gia đình biểu hiện ở hai khuynh hướng chủ yếu: một là thay đổi tính chất và nội dung của cùng một chức năng, hai là sự thay thế chức năng. Gia đình dần trở thành nơi nghỉ ngơi, vui thú, tổ chức các tiêu dùng vật chất sau giờ lao động xã hội. Trong những điều kiện như vậy chức năng của gia đình có biến đổi căn bản – chuyển trọng tâm từ sản xuất sang các chức năng tình cảm, tâm lý. Sự biến đổi chức năng của gia đình thể hiện ở sự giải thể của một số chức năng truyền thống, sự biến đổi về chất của chức năng truyền thống khác và sự tăng cường chức năng hiện đại. Có thể thấy, chức năng sinh đẻ là chức năng cố hữu của gia đình, không một thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Trước đây, giáo dục gia đình thường đồng nhất với giáo dục xã hội. Còn hiện nay thì nội dung của giáo dục gia đình trước được chuyển một phần sang cho tổ chức xã hội thực hiện. Giáo dục xã hội không phủ nhân hay thủ tiêu giáo dục gia đình mà kết hợp giữa hai nền giáo dục đó. Chức năng kinh tế của gia đình cũng đã thay đổi không còn là đơn vị sản xuất. Đó là nhu cầu về ăn, ở, tiện nghi là sự hợp tác kinh tế giữa các thành viên trong gia đình nhằm thỏa mãn nhu càu của đời sống.(1) (1) Tập bài giảng Xã hội học, trường Đại học Luật Hà Nội, chủ biên TS.Ngọ Văn Nhân, NXB Công an Nhân dân, trang 354 – 356. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 12 III. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT 1. Đối với việc xây dựng pháp luật Hiện thực xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển kéo theo sự biến đổi của các mỗi quan hệ xã hội. Pháp luật cũng phải vận động và phát triển tương ứng với từng giai đoạn lịch sử của xã hội. Nghiên cứu xã hội học gia đình nhằm có những căn cứ đúng đắn để đánh giá cơ cấu, thực trạng mức sống, nhu cầu, sự biến đổi trong cuộc sống của gia đình trong xã hội từ đó đưa ra các chính sách, điều luật phù hợp với xã hội thực tại. Ví dụ như về thời gian phụ nữ được nghỉ sau khi sinh là 4 tháng hay 6 tháng thì hợp lý? Các quy định ưu đãi cho hộ nghèo… Khía cạnh nghiên cứu này mang lại cho chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật sự hiểu biết đầy đủ, chân thực, khách quan về cơ cấu, tình hình thực tế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại… Thông qua việc nghiên cứu, các nhà làm luật sẽ tập hợp lại những nguyện vọng của nhân dân và thể hiện dưới những điều luật mang tính bắt buộc. Đây cũng là hình thức thu thập thông tin, tài liệu lý luận và thực nghiệm phục vụ cho các dự án luật như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lao động…và sau này có thể có thêm nhiều luật mới ra đời. 2. Đối với ý thức pháp luật Thứ nhất là về hệ tư tưởng pháp luật: Nghiên cứu xã hội học gia đình để tìm hiểu về sự giáo dục con cái về pháp luật từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiểu biết của nhgười dân về hệ thống luật pháp không chỉ trong nước mà con trên thế giới. Ví dụ như ban hành các chính sách, qui định về giáo dục phải phù hợp với từng địa phương (miền núi ít người khác với đồng bằng, thôn quê khác với thành thị…) để các học sinh được tích lũy và tiếp thu dần những hiểu biết về luật pháp. Thứ hai là về tâm lý pháp luật: Nhờ vào việc nghiên cứu xã hội học gia đình, chúng ta biết được thái độ, tình cảm của người dân đối với hệ thống pháp luật hiện hành đối với cuộc sống gia đình. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 13 Ý thức pháp luật thể hiện thế giới quan pháp lý, thái độ pháp lý của cá nhân. Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật cá nhân là quá tình con người nhận thức, tích lũy những kiến thức về pháp luật và những hiện tượng pháp lý khác.Ý thức pháp luật bị tri phối bởi lập trường giai cấp, hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện, hoàn cảnh sống. Như vậy, những thói quen, tư tưởng trong gia đình tác động ít nhiều tới ý thức pháp luật mỗi cá nhân. Gia đình truyền thống nặng về tư tưởng nho giáo sẽ khó chấp nhận những điều luật hội nhập với thế giới. Đôi khi những suy nghĩ ấy lại có phần cổ hủ không theo kịp thời đại. Gia đình có lối sống theo kiểu phương đông phóng khoáng lại cảm thấy những điều luật thể hiện mặt truyền thống là rất bất cập và lạc hậu. Gia đình cũng dậy cho chúng ta biết ý thức đúng – sai và phải biết chịu trách nhiệm trước việc làm sai trái. 3. Thực hiện pháp luật Gia đình là trường học đầu tiên của con người. Gia đình cũng cung cấp cho con mỗi thành viên dù ít dù nhiều những kiến thức cơ bản về pháp luật. Hiểu biết pháp luật thì sẽ thực hiện pháp luật và thiêu hiểu biết pháp luật thì sẽ không thực hiện pháp luật. Nghiên cứu xã hội học gia đình để thấy được thực trạng bạo lực gia đình như thế nào, trẻ em có được đến trường không, có bị bóc lột sức lao động không… Gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức pháp luật của những đứa con. Bố mẹ gương mẫu nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ thì những đứa con cũng noi theo. Bố mẹ coi thường pháp luật thì những đứa con rất dễ bị ảnh hưởng. KẾT LUẬN Gia đình là một thực thể xã hội. Sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận. Như vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội. Chính các chức năng của gia đình mới đem lại cho nó một giá trị đích thực. Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia đình vẫn còn giữ nguyên giá trị. Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Tập bài giảng xã hội học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010. 2. TS. Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2010. NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 15 PHỤ LỤC NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 16 Một số hình ảnh về gia đình NGUYỄN THU THÚY – 380315 BÀI TẬP LỚN 17 NGUYỄN THU THÚY – 380315

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội
  • Vai Trò Của Nhân Viên Công Tác Xã Hội Trong Một Số Lĩnh Vực Hoạt Động
  • Công Tác Xã Hội Trường Học
  • Phân Tích Các Tính Chất Cơ Bản Của Dư Luận Xã Hội, Cho Ví Dụ Minh Họa Ở Từnng Tính Chất? Tác Động Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Ý Thức Pháp Luật?
  • Cùng Tìm Hiểu Các Chức Năng Của Bộ Định Tuyến Router Cisco Isr Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Stato Và Roto? Câu Hỏi 570574
  • Cách Tắt Chức Năng System Restore (Bằng Hình Ảnh)
  • 1 Trình Bày Chức Năng Rễ,thân,lá,hoa,quả,hạt 2 Vì Sao Gieo Hạt Phải Gieo Đúng Thời Vụ 3 Trình Bày Quá Trình Thụ Tinh ,kết Hạt Và Tạo Quả 4 Trình Bày
  • Rêu Là Thực Vật Bậc Cao Hay Thấp? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và Cấu Tạo Của Rêu
  • So Sánh Cấu Tạo Trong Của Thân Non Và Rễ
  • Các chức năng của bộ định tuyến Cisco ISR là gì?

    Các bộ định tuyến và chuyển mạch của Cisco đã biến nó trở thành công ty dẫn đầu thị trường về thiết bị mạng. Một trong những dịch vụ mạnh mẽ nhất của Cisco là dòng thiết bị định tuyến dịch vụ tích hợp Cisco Router ISR cung cấp cho các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô với mạng lưới an toàn, giá cả phải chăng.

    Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp

    Dòng thiết bị định tuyến dịch vụ tích hợp của Cisco cung cấp kết nối văn phòng chi nhánh đáng tin cậy, an toàn với mức giá phải chăng. ISR cung cấp một bộ tính năng mạnh mẽ cho phép điện toán đám mây, kết nối di động, hiệu năng đa phương tiện và mạng an toàn. Cisco ISRs đã qua sử dụng có sẵn trên Internet từ các nhà cung cấp và cá nhân, làm cho chúng trở thành một lựa chọn hấp dẫn để mua thiết bị mới và đắt tiền hơn.

    Tính năng chung

    ISR cung cấp kết nối mạng đa phương tiện mạnh mẽ, làm cho các teleconferences an toàn trên trung bình có thể. ISR cũng tạo điều kiện cho việc ảo hóa thiết bị và chuyển đổi dự phòng, khiến chúng trở thành nền tảng hấp dẫn cho việc khôi phục thảm họa và lập kế hoạch kinh doanh liên tục. Chúng cũng có các yếu tố hình thức nhỏ; lớn nhất của ISR chỉ chiếm ba đơn vị không gian rack, hoặc khoảng 4-5 inch.

    Tính năng bảo mật

    Dịch vụ không biên giới của Cisco ISRs tạo điều kiện cho điện toán đám mây an toàn thông qua mạng riêng ảo được mã hóa của nhóm (VPN), cho phép công ty của bạn tuân thủ các quy định bảo mật để truyền dữ liệu. ISR cũng cung cấp nền tảng di động an toàn cho phép bạn kết nối qua điện thoại thông minh và sử dụng cơ sở hạ tầng khóa bảo mật và khóa công khai của Cisco, cung cấp kết nối bảo mật cho thoại, email và hơn thế nữa. Cuối cùng, Cisco ISR cung cấp tính từ xa an toàn, giúp cho việc khôi phục tại nhà và thiên tai trở nên dễ quản lý hơn.

    Triển khai ISR ​​điển hình

    Cisco ISR là một lựa chọn tốt cho việc cung cấp kết nối văn phòng chi nhánh, nơi yêu cầu tính toán cộng tác an toàn. Nó cũng là một lựa chọn tốt cho việc cung cấp liên tục kinh doanh thông qua ảo hóa thiết bị, cho phép chuyển đổi dự phòng sang thiết bị dự phòng trong trường hợp lỗi phần cứng. Với khả năng kết nối di động của nó, Cisco ISR cũng là một lựa chọn tốt cho việc tạo điều kiện cho kết nối điện thoại thông minh, một yêu cầu ngày càng tăng đối với các doanh nghiệp.

    Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp của Cisco thế hệ ISR G2 là một bộ định tuyến dịch vụ tích hợp thế hệ thứ hai (ISR) của Cisco Systems, Inc.

    Theo Cisco, các bộ định tuyến ISR G2 được xây dựng để đáp ứng nhu cầu sử dụng các văn phòng chi nhánh để sử dụng các dịch vụ hội nghị truyền hình và ảo hóa và truyền tải các loại đa phương tiện khác trên một mạng diện rộng (WAN). Các tính năng mới trong Cisco ISR G2 bao gồm hỗ trợ dịch vụ video trực tuyến và theo yêu cầu. Các quá trình triển khai và bảo trì đã được đơn giản hóa, và hiệu suất mạng và quản lý năng lượng được cải thiện so với thế hệ các bộ định tuyến trước.

    Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp của Cisco thế hệ thứ 2 (ISR G2) cải tiến trên phạm vi “bộ định tuyến văn phòng chi nhánh” của Cisco bằng cách tích hợp nhiều dịch vụ mạng vào một nền tảng duy nhất và cung cấp các dịch vụ trước đó yêu cầu phần cứng bổ sung để chạy.

    Cisco ISR G2 được ra mắt vào năm 2009 và là một phần của hệ thống kiến trúc mạng không biên giới của Cisco.

    ISR router là gì? Sự khác biệt giữa ISR và bộ định tuyến thông thường là gì?

    Cisco cung cấp có thể trong hai loại router ISR và Non-ISR trước đây, nó có cung cấp các loại tương tự cho đến bây giờ không?Một ISR sẽ bao gồm các thông minh và kết nối để hỗ trợ điện thoại (Voice over IP) và một số thành phần chuyên biệt khác như phòng chống xâm nhập. Cisco đặt ra cụm từ để phân biệt sản phẩm của họ với các nhà cung cấp bộ định tuyến khác (hiện giờ cũng bao gồm nhiều tính năng).

    Có lẽ những ngày này, một router ISR không chỉ định tuyến các gói giữa các mạng khác nhau (đó là định nghĩa ban đầu của chúng)Dựa trên hiệu suất và tính năng và khả năng, Cisco cung cấp 3 loại bộ định tuyến chính:

    1. Cisco ISR – Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp: thường được sử dụng làm cạnh internet cho khách hàng có mạng nhỏ / vừa.
    2. Cisco ASR – Bộ định tuyến dịch vụ tổng hợp: thường được sử dụng làm cạnh internet cho các mạng doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ.
    3. Cisco CSR – Carrier Routing System: thường được sử dụng trong (IP/MPLS) mạng lõi và cho tốc độ cao ngang hàng tại các địa điểm có điểm nhỏ (POP) nhỏ hơn.

    CÔNG TY TNHH HỆ THỐNG MẠNG (NETSYSTEM)

    {Đ}: Số 23 Ngõ 477 Phố Kim Mã, P. Ngọc Khánh, Q. Ba Đình,TP. Hà Nội,Việt Nam

    {T}: 024.37714430 – 024.37714417

    {F}: 024.37711222

    {E}: [email protected]

    {H}: 0915495885

    {S}: kd_netsystem

    {W}: https://netsystem.com.vn/switch-cisco/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cisco Isr Là Gì? Các Chức Năng Của Bộ Định Tuyến Cisco Router Isr
  • Router Là Gì? Bộ Định Tuyến Router Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Router Là Gì? Chức Năng Chính Của Router
  • Wifi Repeater Là Gì? Hoạt Động Thế Nào, Có Nên Sử Dụng Không?
  • Khái Niệm Về Quả, Các Phần Của Quả
  • Cisco Isr Là Gì? Các Chức Năng Của Bộ Định Tuyến Cisco Router Isr

    --- Bài mới hơn ---

  • Cùng Tìm Hiểu Các Chức Năng Của Bộ Định Tuyến Router Cisco Isr Là Gì?
  • Nêu Cấu Tạo Và Chức Năng Của Stato Và Roto? Câu Hỏi 570574
  • Cách Tắt Chức Năng System Restore (Bằng Hình Ảnh)
  • 1 Trình Bày Chức Năng Rễ,thân,lá,hoa,quả,hạt 2 Vì Sao Gieo Hạt Phải Gieo Đúng Thời Vụ 3 Trình Bày Quá Trình Thụ Tinh ,kết Hạt Và Tạo Quả 4 Trình Bày
  • Rêu Là Thực Vật Bậc Cao Hay Thấp? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và Cấu Tạo Của Rêu
  • 05/12/2018

    Các chức năng của bộ định tuyến Cisco ISR là gì?

    Các bộ định tuyến và chuyển mạch của Cisco đã biến nó trở thành công ty dẫn đầu thị trường về thiết bị mạng. Một trong những dịch vụ mạnh mẽ nhất của Cisco là dòng thiết bị định tuyến dịch vụ tích hợp Cisco Router ISR cung cấp cho các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô với mạng lưới an toàn, giá cả phải chăng.

    Sản phẩm nổi bật bán chạy trên thị trường Việt nam bây giờ: Cisco ISR 4221,

    Cisco ISR 4321, Cisco ISR 4331

    Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp

    Dòng thiết bị định tuyến dịch vụ tích hợp của Cisco cung cấp kết nối văn phòng chi nhánh đáng tin cậy, an toàn với mức giá phải chăng. ISR cung cấp một bộ tính năng mạnh mẽ cho phép điện toán đám mây, kết nối di động, hiệu năng đa phương tiện và mạng an toàn. Cisco ISRs đã qua sử dụng có sẵn trên Internet từ các nhà cung cấp và cá nhân, làm cho chúng trở thành một lựa chọn hấp dẫn để mua thiết bị mới và đắt tiền hơn.

    Tính năng chung

    ISR cung cấp kết nối mạng đa phương tiện mạnh mẽ, làm cho các teleconferences an toàn trên trung bình có thể. ISR cũng tạo điều kiện cho việc ảo hóa thiết bị và chuyển đổi dự phòng, khiến chúng trở thành nền tảng hấp dẫn cho việc khôi phục thảm họa và lập kế hoạch kinh doanh liên tục. Chúng cũng có các yếu tố hình thức nhỏ; lớn nhất của ISR chỉ chiếm ba đơn vị không gian rack, hoặc khoảng 4-5 inch.

    Tính năng bảo mật

    Dịch vụ không biên giới của Cisco ISRs tạo điều kiện cho điện toán đám mây an toàn thông qua mạng riêng ảo được mã hóa của nhóm (VPN), cho phép công ty của bạn tuân thủ các quy định bảo mật để truyền dữ liệu. ISR cũng cung cấp nền tảng di động an toàn cho phép bạn kết nối qua điện thoại thông minh và sử dụng cơ sở hạ tầng khóa bảo mật và khóa công khai của Cisco, cung cấp kết nối bảo mật cho thoại, email và hơn thế nữa. Cuối cùng, Cisco ISR cung cấp tính từ xa an toàn, giúp cho việc khôi phục tại nhà và thiên tai trở nên dễ quản lý hơn.

    Triển khai ISR ​​điển hình

    Cisco ISR là một lựa chọn tốt cho việc cung cấp kết nối văn phòng chi nhánh, nơi yêu cầu tính toán cộng tác an toàn. Nó cũng là một lựa chọn tốt cho việc cung cấp liên tục kinh doanh thông qua ảo hóa thiết bị, cho phép chuyển đổi dự phòng sang thiết bị dự phòng trong trường hợp lỗi phần cứng. Với khả năng kết nối di động của nó, Cisco ISR cũng là một lựa chọn tốt cho việc tạo điều kiện cho kết nối điện thoại thông minh, một yêu cầu ngày càng tăng đối với các doanh nghiệp.

    Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp của Cisco thế hệ ISR G2 là một bộ định tuyến dịch vụ tích hợp thế hệ thứ hai (ISR) của Cisco Systems, Inc.

    Theo Cisco, các bộ định tuyến ISR G2 được xây dựng để đáp ứng nhu cầu sử dụng các văn phòng chi nhánh để sử dụng các dịch vụ hội nghị truyền hình và ảo hóa và truyền tải các loại đa phương tiện khác trên một mạng diện rộng (WAN). Các tính năng mới trong Cisco ISR G2 bao gồm hỗ trợ dịch vụ video trực tuyến và theo yêu cầu. Các quá trình triển khai và bảo trì đã được đơn giản hóa, và hiệu suất mạng và quản lý năng lượng được cải thiện so với thế hệ các bộ định tuyến trước.

    Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp của Cisco thế hệ thứ 2 (ISR G2) cải tiến trên phạm vi “bộ định tuyến văn phòng chi nhánh” của Cisco bằng cách tích hợp nhiều dịch vụ mạng vào một nền tảng duy nhất và cung cấp các dịch vụ trước đó yêu cầu phần cứng bổ sung để chạy.

    Cisco ISR G2 được ra mắt vào năm 2009 và là một phần của hệ thống kiến trúc mạng không biên giới của Cisco.

    ISR router là gì? Sự khác biệt giữa ISR và bộ định tuyến thông thường là gì?

    Cisco cung cấp có thể trong hai loại router ISR và Non-ISR trước đây, nó có cung cấp các loại tương tự cho đến bây giờ không?Một ISR sẽ bao gồm các thông minh và kết nối để hỗ trợ điện thoại (Voice over IP) và một số thành phần chuyên biệt khác như phòng chống xâm nhập. Cisco đặt ra cụm từ để phân biệt sản phẩm của họ với các nhà cung cấp bộ định tuyến khác (hiện giờ cũng bao gồm nhiều tính năng).

    Có lẽ những ngày này, một router ISR không chỉ định tuyến các gói giữa các mạng khác nhau (đó là định nghĩa ban đầu của chúng)

    Dựa trên hiệu suất và tính năng và khả năng, Cisco cung cấp 3 loại bộ định tuyến chính:

    1. Cisco ISR – Bộ định tuyến dịch vụ tích hợp: thường được sử dụng làm cạnh internet cho khách hàng có mạng nhỏ / vừa.
    2. Cisco ASR – Bộ định tuyến dịch vụ tổng hợp: thường được sử dụng làm cạnh internet cho các mạng doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ.
    3. Cisco CSR – Carrier Routing System: thường được sử dụng trong (IP/MPLS) mạng lõi và cho tốc độ cao ngang hàng tại các địa điểm có điểm nhỏ (POP) nhỏ hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Router Là Gì? Bộ Định Tuyến Router Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Router Là Gì? Chức Năng Chính Của Router
  • Wifi Repeater Là Gì? Hoạt Động Thế Nào, Có Nên Sử Dụng Không?
  • Khái Niệm Về Quả, Các Phần Của Quả
  • Kế Toán Quản Trị Là Gì? Công Việc Của Kế Toán Quản Trị Chi Phí?
  • Kế Hoạch Sửa Đổi, Bổ Sung Các Nghị Định Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ, Cơ Quan Ngang Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Định Mới Quy Định Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Y Tế
  • Ban Hành Nghị Định Quy Định Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Y Tế
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Thủ Tướng Chính Phủ?
  • Chính Phủ Có Những Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Gì?
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Thủ Tướng Chính Phủ
  • Theo đó, sẽ soạn thảo, trình Chính phủ 13 dự thảo gồm: dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và 12 dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ là: Quốc phòng, Nội vụ, Y tế, Tư pháp, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Lao động – Thương binh và Xã hội, Công Thương, Giao thông vận tải, Xây dựng, Ủy ban Dân tộc và Thanh tra Chính phủ.

    Theo yêu cầu của Thủ tướng, các dự thảo này phải được hoàn thiện, trình Chính phủ vào tháng 12/1011 và trong quý I/2012.

    Cụ thể, Bộ Nội vụ sẽ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trình Chính phủ trong tháng 12/2011.

    Ngoài ra, Bộ Nội vụ cũng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 48/2008/NĐ-CP ngày 17/4/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, trình Chính phủ trong Quý I/2012.

    Bộ Y tế có nhiệm vụ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế. Trong đó dự kiến vấn đề cần sửa đổi, bổ sung là điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước về y tế.

    Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 93/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp dự kiến sẽ bổ sung chức năng, nhiệm vụ về bồi thường nhà nước, lý lịch tư pháp, thi hành án hành chính. Dự thảo này do Bộ Tư pháp trình trong quý I/2012.

    Bộ Công Thương dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương. Dự kiến sẽ bổ sung chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về thương hiệu quốc gia; kiện toàn tổ chức quản lý một số lĩnh vực.

    Kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về nhà ở và kinh doanh bất động sản là nội dung dự kiến được sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 4/2/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng.

    Thủ tướng cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với việc xây dựng, ban hành các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triển Khai Nghị Định Của Chính Phủ Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Bộ Công An
  • Trang Điện Tử Huyện Ủy A Lưới
  • 6 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Văn Phòng Chính Phủ Năm 2021
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Chính Phủ
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Tỉnh Ủy
  • Bài Tập Luật: Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Loại Arn Có Chức Năng Truyền Đạt Di Truyền Là:
  • Chức Năng Của Ẩn Dụ Đối Với Ngôn Ngữ Và Nhận Thức
  • Xét Nghiệm Máu Có Được Ăn Sáng Không?
  • Viết Một Bài Văn Nghị Luận Xã Hội Về Lợi Ích Của “bữa Ăn Sáng”
  • Có Nên ‘ăn Sáng Như Hoàng Đế’?
  • Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, là nơi con người ta sinh ra và lớn lên, là nơi nuôi dưỡng các thế hệ về cả thể chất, trí tuệ lẫn đạo đức, nhân cách để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng – xã hội và hơn nữa là trở thành những con người lương thiện, sống có ích, có nghĩa, có tình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”.Vậy gia đình có những chức năng gì? Tầm quan trọng của việc nghiên cứu xã hội học gia đình đồi với lĩnh vực pháp luật?

    Để hiểu được những vấn đề trên trước hết trước hết ta phải hiểu được khái niệm gia đình là gì?

    1. Khái niệm gia đình.

    Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống). Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử và phản ánh văn hóa của dân tọc và thời đại. Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội.( )

    Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung.( )

    “Gia đình là tế bào của xã hội, Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con(3)

    Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8. Giải thích từ ngữ ): “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này”(4)

    Tóm lại Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt của con người, là một thiết chế văn hóa xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển dựa trên các mối quan hệ như: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên trong gia đình.

    2. Các chức năng cơ bản của gia đình

    “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”(5) Gia đình có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội.

    Gia đình đóng vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của loài người. Gia đình được sinh ra, tồn tại và phát triển có sứ mệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên đã giao cho, không thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Chức năng của gia đình là một khái niệm then chốt của xã hội học gia đình, các nhà nghiên cứu xã hội học gia đình trên cấp độ vi mô và cấp độ vĩ mô đều khẳng định những chức năng cơ bản của gia đình. Quan hệ giữa gia đình và xã hội cũng như quan hệ giữa các thành viên và các thế hệ trong gia đình thông qua việc thực hiện các chức năng của gia đình, do đó trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu của xã hội học gia đình. Các nhà xã hội học đã nghiên cứu về gia đình trên các cấp độ cả vi mô và vĩ mô đã cho thấy gia đình có các chức năng cơ bản sau: chức năng kinh tế, chức năng tái sinh sản, duy trì nói giống và chức năng giáo dục.

    Đây là chức năng cơ bản quan trọng của gia đình nhằm tạo ra của cải, vật chất, là chức năng đảm bảo sự sống còn của gia đình, đảm bảo cho gia đình được ấm no, giàu có làm cho dân giàu, nước mạnh như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “dân có giàu thì nước mới mạnh “. Chức năng này bao quát về nhu cầu ăn, ở, tiện nghi, là sự hợp tác kinh tế giữa các thành viên trong gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống.

    2.2 Chức năng tái sinh sản, duy trì nòi giống

    Chức năng này góp phần cung cấp sức lao động – nguồn nhân cho xã hội. Chức năng này sẽ góp phần thay thế những lớp người lao động cũ đã đến tuổi nghỉ hưu, đã hết khả năng lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo. Việc thực hiện chức năng này vừa đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội vừa đáp ứng được nhu cầu về tâm sinh lí, tình cảm của chính bản thân con người. Ở mỗi quốc gia khác nhau thì việc thực hiện chức năng này là khác nhau. Ví dụ:

    Ở Việt Nam, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con vừa đảm bảo được sức khỏe cho mẹ lại đảm bảo được chất lượng về cuộc sống cho gia đình và có điều kiện chăm sóc, dạy bảo các con.

    Ở Trung Quốc hiện nay tỉ lệ nam giới đang có sự chênh lệch lớn so với nữ giới, vì thế nên nhà nước đang thực hiện chính sách khuyến khích sinh con một bề là con gái. Đến năm 2010, tại Trung Quốc, SRB đạt 118 bé trai/100 bé gái, giảm so với 121 (năm 2008), 119 (năm 2005), 121 (năm 2004). Tỷ số giới tính sẽ vẫn tiếp tục chênh lệch ở mức báo động 119 bé trai trên 100 bé gái vào những năm 2030.

    Đây là chức năng hết sức quan trọng của gia đình, quyết định đến nhân cách của con người, dạy dỗ nên những người con hiếu thảo, trở thành người công dân có ích cho xã hội bởi gia đình là trường học đầu tiên và ở đó cha mẹ là những người thầy đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người:” Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.. “(6) Mỗi gia đình đều hình thành tính cách của từng thành viên trong xã hội Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người và là chủ thể của sự giáo dục. Như khoa học đã xác định rõ ràng, cơ sở trí tuệ và tình cảm cá nhân thường hình thành ngay từ thời thơ ấu. Gia đình trang bị cho đứa trẻ những ý niệm đầu tiên để lí giải thế giới sự vật, hiện tượng, những khái niệm về cái thiện và cái ác, dạy cho trẻ con hiểu rõ đời sống và con người, đưa trẻ con vào thế giới của những giá trị mà gia đình thừa nhận và thực hiện trong đời sống của nó.

    Việt Nam là một quốc gia mang đậm nét đẹp truyền thống về đạo đức và lối sống thuần phong mĩ tục, vì thế nội dung giáo dục của gia đình cũng phải chú ý đến việc giáo dục toàn diện cả về phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm, lối sống, ý thức, cung cách cư xử trong cuộc sống và giáo dục cả về tri thức…

    Chức năng giáo dục của gia đình chịu tác động trực tiếp của các yếu tố khách quan và chủ quan. Sự thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế xã hội, những biến đổi trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, lối sống, sự thiếu hụt kinh nghiệm, ý thức dạy con trong những gia đình trẻ… đó là những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của gia đình.

    Để chức năng này được thực hiện một cách có hiệu quả thì gia đình phải có phương pháp giáo dục, răn đe một cách đúng đắn. Ai sai thì nhận sai và sửa chữa chứ đừng vì cái tôi, cái sĩ diện và tính bảo thủ của mình mà cố chấp không thay đổi. Có nhiều gia đình dạy dỗ con cái bằng những trận đòn roi, những cái bạt tai đến tối mặt mũi.. Liệu đó có phải là biện pháp hiệu quả? Những biện pháp ấy chẳng những không đem lại tác dụng gì mà càng khiến con cái trở nên chai lì, tâm lí tiêu cực và mất đi tình cảm thân thiết, niềm tin vào những người trong cùng một mái nhà. Thay bằng những trận đòn roi đến nhừ người thì những bậc cha mẹ nên dạy dỗ, chỉ bảo con cái mình nhẹ nhàng, phân tích rõ đúng sai để con trẻ hiểu. Hơn nữa những bậc cha mẹ, ông bà nên là một tâm gương để thế hệ trẻ noi theo. Các thành viên trong gia đình sống thuận hòa, vui vẻ, cùng nhau chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống.

    Lại có nhiều những gia đình cha mẹ mải kiếm tiền mà không biết hài hòa giữa vật chất và tinh thần nên không có thời gian quan tâm sát sao đến con cái khiến chúng trở nên sống buông thả, bị cám dỗ vào những tệ nạn xã hội, có những hành vi đi ngược lại với thuần phong mĩ tục và truyền thống đạo đức của dân tộc…

    Tuy việc giáo dục ở gia đình chỉ là một khía cạnh nhưng đó vẫn là cái gốc, con người sẽ trở nên hoàn thiện hơn khi có sự kết hợp giáo dục cả ở gia đình, nhà trường, xã hội và hơn nữa là ý thức tự giác tu dưỡng rèn luyện từ phía mỗi người…

    Thông qua việc thực hiện chức năng giáo dục, gia đình thực sự trở thành cầu nối không thể thay thế được giũa xã hội và cá nhân.

    Gia đình là phạm trù lịch sử, biến đổi theo thời gian. Mỗi thời đại lịch sử cũng như mỗi chế độ xã hội đều sản sinh ra một loại gia đình, xây dựng một kiểu gia đình lí tưởng với chức năng xã hội của nó.

    Ngoài ba chức năng cơ bản trên thì gia đình còn có chức năng thoả mãn nhu cầu tinh thần, tình cảm và chăm sóc sức khỏe. Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng trong việc chia sẻ tình yêu thương gắn bó giữa các thành viên của gia đình, đặc biệt là tình yêu hạnh phúc lứa đôi. Tổ ấm gia đình vừa là điểm xuất phát cho con người trưởng thành, vững tin bước vào cuộc sống xã hội, đồng thời cũng là nơi bao dung, an ủi cho mỗi cá nhân trước những rủi ro, sóng gió cuộc đời. Càng về cuối đời, con người càng trở nên thấm thía và khao khát tìm về sự bình ổn, thoả mãn nhu cầu cân bằng trạng thái tâm lý, tình cảm trong sự chăm sóc, đùm bọc của gia đình; chăm sóc sức khỏe, đảm bảo cho việc chăm sóc sức khỏe của các thành viên tron gia đình.

    Có một số ý kiến cho rằng các chưc năng của gia đình đang có sự biến đổi để phù hợp với cuộc sồng hiện tại.

    3. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu xã hội học gia đình đối với lĩnh vực pháp luật

    3.1 Khái quát chung về xã hội học gia đình

    Xã hội học gia đình là ngành xã hội học chuyên biệt nghiên cứu hệ thống các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài của của sự hoạt động, sự phát triển và sự thay đổi của gia đình với tư cách là hình thức hoạt động của con người, cơ cấu và các chức năng của gia đình trong những điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa cụ thể của xã hội.(7)

    Xã hội học gia đình, với tư cách là lĩnh vực chuyên ngành của xã hội học, nghiên cứu các nhân tó bên trong của gia đình. Đó là những nhân tố như quan hệ hôn nhân nhân – huyết thống giữa các thành viên trong gia đình; tình cảm giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái; sự phân chia trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình… Xã hội học gia đình cũng nghiên cứu các nhân tố bên ngài của gia đình. Chẳng hạn, mối quan hệ của gia đình với các lĩnh vực khác của xã hội như văn hóa, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, với tổng thể các mối quan hệ xã hội.

    Xã hội học gia đình bản thân nó là khoa học xã hội học chuyên biệt nghiên cứu về gia đình. Nó có những quy luật đặc thù riêng song cũng là bộ phận của xã hội học cho nên nó cũng đòi hỏi phải nghiên cứu gia đình một cách tổng thể trong mối quan hệ, sự tác động qua lại của các yếu tố cấu thành cơ cấu của gia đình, chức năng của gia đình đối với bản thân mối quan hệ nội tại của gia đình và mối quan hệ gia đình với mọi quan hệ của xã hội tổng thể.

    3.2 Đối với các hoạt động pháp luật.

    3.2.1 . Ý nghĩa của xã hôi học gia đình đối với hoạt động xây dựng pháp luật.

    Hiện thực xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển kéo theo sự biến đổi của các mỗi quan hệ xã hội. Pháp luật cũng phải vận động và phát triển tương ứng với từng giai đoạn lịch sử của xã hội. Nghiên cứu xã hội học gia đình nhằm có những căn cứ đúng đắn để đánh giá cơ cấu, thực trạng mức sống, nhu cầu, sự biến đổi trong cuộc sống của gia đình trong xã hội từ đó đưa ra các chính sách, điều luật phù hợp với xã hội thực tại. Ví dụ như về thời gian phụ nữ được nghỉ sau khi sinh là 4 tháng hay 6 tháng thì hợp lý? Các quy định ưu đãi cho hộ nghèo… Khía cạnh nghiên cứu này mang lại cho chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật sự hiểu biết đầy đủ, chân thực, khách quan về cơ cấu, tình hình thực tế, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại… Thông qua việc nghiên cứu, các nhà làm luật sẽ tập hợp lại những nguyện vọng của nhân dân và thể hiện dưới những điều luật mang tính bắt buộc.

    Đây cũng là hình thức thu thập thông tin, tài liệu lý luận và thực nghiệm phục vụ cho các dự án luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lao Động, Luật Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình,Luật Bình Đẳng Giới …và sau này có thể có thêm nhiều luật mới ra đời.

    3.2.2 Ý nghĩa của xã hôi học gia đình đối với hoạt động thực hiện pháp luật

    “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quyết định của pháp luật đi vào thức tiễn của cuộc sống, trở thành hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật”(8) . Trong môi trường gia đình được giáo duc về việc thực hiện pháp luật các chủ thể sẽ có xử sự tích cực hơn trong việc thực hiện pháp luật

    Gia đình là trường học đầu tiên của con người. Gia đình cũng cung cấp cho con mỗi thành viên dù ít dù nhiều những kiến thức cơ bản về pháp luật. Hiểu biết pháp luật thì sẽ thực hiện pháp luật và thiêú hiểu biết pháp luật thì sẽ thực hiện pháp luật. Nghiên cứu xã hội học gia đình để thấy được thực trạng bạo lực gia đình như thế nào, trẻ em có được đến trường không, có bị bóc lột sức lao động không…

    3.2.3 Ý nghĩa của xã hôi học gia đình đối với hoạt động áp dụng pháp luật.

    Áp dụng pháp luật là hoạt động của các cá nhân có thẩm quyền nhằm cá biệt các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể.

    Gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức pháp luật của những đứa con. Bố mẹ gương mẫu nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ thì những đứa con cũng noi theo. Bố mẹ coi thường pháp luật thì những đứa con rất dễ bị ảnh hưởng.

    3.3 Đối với ý thức pháp luật.

    “Ý thức pháp luật là thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật(9) ( pháp luật trong quá khứ hoặc hiện tai hay trong tương lai). Nó giữ vai trò chi phối tất cả các quá trình điều chỉnh hành vi của con người, bao gồm:

    Thứ nhất là về hệ tư tưởng pháp luật: Nghiên cứu xã hội học gia đình để tìm hiểu về sự giáo dục con cái về pháp luật từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiểu biết của nhgười dân về hệ thống luật pháp không chỉ trong nước mà con trên thế giới. Ví dụ như ban hành các chính sách, qui định về giáo dục phải phù hợp với từng địa phương (miền núi ít người khác với đồng bằng, nông thôn).

    Thứ hai là về tâm lý pháp luật: Nhờ vào việc nghiên cứu xã hội học gia đình, chúng ta biết được thái độ, tình cảm của người dân đối với hệ thống pháp luật hiện hành đối với cuộc sống gia đình.

    Ý thức pháp luật cá nhân: thể hiện thế giới quan pháp lý, thái độ pháp lý của cá nhân. Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật cá nhân là quá tình con người nhận thức, tích lũy những kiến thức về pháp luật và những hiện tượng pháp lý khác.Ý thức pháp luật bị chi phối bởi lập trường giai cấp, hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội, truyền thống dân tộc, điều kiện, hoàn cảnh sống. Như vậy, những thói quen, tư tưởng trong gia đình tác động ít nhiều tới ý thức pháp luật mỗi cá nhân. Gia đình truyền thống nặng về tư tưởng nho giáo sẽ khó chấp nhận những điều luật hội nhập với thế giới. Đôi khi những suy nghĩ ấy lại có phần cổ hủ không theo kịp thời đại. Gia đình có lối sống theo kiểu phương đông phóng khoáng lại cảm thấy những điều luật thể hiện mặt truyền thống là rất bất cập và lạc hậu. Gia đình cũng dậy cho chúng ta biết ý thức đúng – sai và phải biết chịu trách nhiệm trước việc làm sai trái. Có thể thấy:”ý thức pháp luật của mỗi ca nhân được hình thành và phát triển trong môi trường sống của họ, qua sự giáo dục trong gia đình, nhà trường…”(10)

    Ý thức pháp luật nhóm: được hình thành dựa trên quan điểm, tình cảm của một số các ca nhân có cùng thái độ, tình cảm với pháp luật, tuy nhiên ở đây gia đình cũng giữ một vai trò không nhỏ trong việc định hướng, hình thành ý thức pháp luật của cá nhân mỗi người.

    Ý thức pháp luật xã hội: được hiểu là tổng thể những quan niện tư tưởng của xã hội đõ về pháp luật, trong một xã hội văn minh mà cơ sở là cac gia đình tiến bộ sẽ dẫn đến việc ý thức pháp luật tốt, việc thực hiện pháp luật được chấp hành cách nghiêm chỉnh. Điều này, phụ thuộc vào hiểu biết của mỗi cá nhân ở cả chiều rộng và chiều sâu,” hiểu được pháp luật càng đầy đủ, chính xác sẽ có điều kiện thực hiên chúng một cách nghiêm chỉnh…Ngược lại, không hiểu biết pháp luật, hiểu biết một cách không đầy đủ,không đúng đắn là một trong những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật”(11)

    Bất kì một xã hội nào muốn phát triển, ổn định và bền lâu thì rất cần có các gia đình – những tế bào nhỏ của xã hội ấm êm, hạnh phúc và phát triển cả về Đức – Trí – Thể – Mĩ. Nếu các chức năng của gia đình được các gia đình ý thức thực hiện một cách có hiệu quả thì chắc rằng đất nước sẽ ngày càng phát triển toàn diện hơn, nâng cao về đạo đức lối sống, trí tuệ của người Việt.

    Xã hội học gia đình với các nghiên cứu thực tiễn từ các nhà khoa học đã khẳng định về vai trò, vị trí và chức năng của gia đình trong đời sống mỗi con người. Và việc nghiên cứu ấy có ý nghĩa thực tiễn đối với pháp luật và thể hiện rõ nhất ở ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như vậy, xã hội học gia đình đóng góp một phần quan trọng vào nhận thức, ý thức và hành động của mỗi người từ đó hình thành nên hệ thống các tư duy một cách đúng đắn, mạch lạc mang lại một cuộc sống vui vẻ, hòa hợp và ý nghĩa

    1.Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Lí Luận Chung Về Nhà Nước và Pháp Luật, nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2010.

    2.Đại Học Luật Hà Nội, Tập Bài Giảng Xã Hội Học, nxb. CAND, Hà Nội, 2007.

    3.Hiến Pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001.

    4.Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000.

    5.Ts. Ngọ Văn Nhân, Xã Hội Học Pháp Luật, nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2010.

    6.Ths. Nguyễn Văn Năm, Vai Trò Của Ý Thức Pháp Luật Đối Với Việc Thực Hiện Pháp Luật, Tạp Chí Luật Học số 3/2011.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Web Server Là Gì? Kháii Niệm Web Server. Cách Hoạt Động & Phân Loại
  • Hoạt Động Của Web Server (Máy Chủ Web)
  • Máy Chủ Web Là Gì? Ứng Dụng Web Server Trong Thời Đại Công Nghệ Cao
  • Mục Tiêu, Chức Năng Và Nguyên Tắc Hoạt Động Của Wto
  • Mục Tiêu Hoạt Động Và Chức Năng Của Wto
  • Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy, Biên Chế Của Các Cơ Quan Công Đoàn Trực Thuộc Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Hoạt Động Của Tổ Trưởng Công Đoàn
  • Công Tác Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tổ Công Đoàn
  • Văn Bản Các Ban Chuyên Đề
  • Tổ Trưởng Công Đoàn Là Gì? Một Số Nhiệm Vụ Của Tổ Trưởng Công Đoàn
  • 7/ Nội Dung Và Phương Pháp Hoạt Động Của Chủ Tịch Công Đoàn Cơ Sở.
  • Cập nhật lúc 10:27 ngày 15/09/2020

    Ngày 9 tháng 9 năm 2021, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ban hành Quyết định 1299/QĐ-TLĐ về việc Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của cơ quan công đoàn ngành trung ương và tương đương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn và bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách ở công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trực thuộc Công đoàn nhành Trung ương và tương đương (thay thế Quyết định 883/QĐ-TLĐ ngày 16/7/2009).

    ​Theo đó, Quyết định gồm một số quy định sau:

    – Tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách công đoàn ngành trung ương và tương đương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn gồm thường trực ban thường vụ và các ban chuyên trách tham mưu giúp việc.

    – Số lượng thường trực ban thường vụ công đoàn ngành trung ương và tương đương tối đa không quá 04 người (gồm Chủ tịch và 03 Phó Chủ tịch); số lượng thường trực ban thường vụ công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn tối đa không quá 03 người (gồm Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch).

    – Số lượng ban tham mưu, giúp việc chuyên trách công đoàn ngành trung ương và tương đương là 04 ban. Số lượng ban tham mưu giúp việc công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn là 03 ban. Trường hợp đặc biệt có thể tăng thêm không quá 01 ban do Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn xem xét, quyết định.

    Tên gọi, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các ban theo từng mô hình (Điều 6)

    – Văn phòng: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác văn phòng và công tác tài chính theo quy định tại điểm a, điểm d, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tổ chức – Kiểm tra: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tổ chức và công tác kiểm tra giám sát quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban nghiệp vụ: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tuyên giáo, công tác nữ công, công tác chính sách pháp luật và quan hệ lao động quy định tại điểm đ, điểm e, điểm g khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Văn phòng: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác văn phòng và công tác tài chính theo quy định tại điểm a, điểm d, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tổ chức – Kiểm tra: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tổ chức và công tác kiểm tra giám sát quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tuyên giáo – Nữ công: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tuyên giáo, công tác nữ công theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Ban Chính sách pháp luật và Quan hệ lao động (chính sách pháp luật và QHLĐ): Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác chính sách pháp luật và quan hệ lao động quy định tại điểm g khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Văn phòng: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác văn phòng theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tổ chức – Kiểm tra: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tổ chức và công tác kiểm tra giám sát quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tài chính: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tài chính theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tuyên giáo – Nữ công: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tuyên giáo, công tác nữ công theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Ban Chính sách pháp luật và QHLĐ: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác chính sách pháp luật và quan hệ lao động quy định tại điểm g khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    Về chức năng quản lý lãnh đạo đối với văn phòng và ban tổ chức – kiểm tra sau khi hợp nhất:

    – Trong trường hợp hợp nhất văn phòng và ban tài chính, chức danh lãnh đạo của văn phòng gồm chánh văn phòng và phó chánh văn phòng. Ngoài ra văn phòng có chức danh chuyên môn kế toán trưởng theo quy định của pháp luật về tài chính. Trường hợp chánh văn phòng hoặc phó chánh văn phòng đồng thời là kế toán trưởng thì phải đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn kế toán trưởng theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

    – Trong trường hợp hợp nhất ban tổ chức và văn phòng UBKT thì bố trí trưởng ban tổ chức – kiểm tra đồng thời là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Nếu chưa bố trí được trưởng ban tổ chức – kiểm tra đồng thời là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì bố trí phó chủ tịch kiêm chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, không bố trí phó ban tổ chức – kiểm tra là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

    – Biên chế của cơ quan công đoàn ngành trung ương, công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn do Đoàn Chủ tịch Tổng liên đoàn giao hàng năm hoặc theo từng giai đoạn, trên cơ sở nguồn biên chế được cơ quan có thẩm quyền phân bổ; đề án vị trí việc làm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và căn cứ vào số lượng đoàn viên, số lượng công đoàn cơ sở của từng đơn vị.

    – Căn cứ xác định số biên chế dựa trên số lượng đoàn viên, số lượng công đoàn cơ sở như sau:

    + Công đoàn ngành trung ương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn có từ 100.000 đoàn viên hoặc từ 500 công đoàn cơ sở trở lên được sử dụng từ 28 đến 35 biên chế cán bộ công đoàn chuyên trách.

    + Công đoàn ngành trung ương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn có từ 50.000 đoàn viên đến dưới 100.000 đoàn viên hoặc từ 50 công đoàn cơ sở đến dưới 500 công đoàn cơ sở được sử dụng từ 23 đến 28 biên chế cán bộ công đoàn chuyên trách.

    + Công đoàn ngành trung ương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn có dưới 50.000 đoàn viên và dưới 50 công đoàn cơ sở được sử dụng dưới 23 biên chế cán bộ công đoàn chuyên trách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam Năm 2013
  • Hoạt Động Của Chủ Tịch Công Đoàn Cơ Sở Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Nhiệm Vụ Của Kế Toán Trong Trường Học Theo Quy Định
  • Công Việc Của Kế Toán Công Đoàn Trong Công Tác Kế Toán
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Công Đoàn Cơ Sở Trong Các Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập
  • Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy, Biên Chế Của Các Cơ Quan Công Đoàn Trực Thuộc Tổng Lđlđvn

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Công Đoàn Năm 2021 Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2021 Của Công Đoàn Tổng Công Ty Điện Lực Tp. Hà Nội
  • Sơ Đồ Tổ Chức Của Công Đoàn Viên Chức Việt Nam
  • Công Đoàn Viên Chức Tỉnh Khánh Hòa: Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Công Đoàn Năm 2021 Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2021
  • Công Đoàn Viên Chức Tỉnh Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2021 Và Ký Thỏa Thuận Hợp Tác Với Công Ty Tnhh Du Lịch Trong Nước Và Quốc Tế Sao Phương Nam
  • Công Đoàn Viên Chức Tỉnh Quảng Nam Tổ Chức Kỷ Niệm 20 Năm Ngày Thành Lập Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2021
  • Ngày 9/9/2020, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ban hành Quyết định 1299/QĐ-TLĐ về việc Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của cơ quan công đoàn ngành trung ương và tương đương, công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn và bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách ở công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trực thuộc Công đoàn ngành Trung ương và tương đương (thay thế Quyết định 883/QĐ-TLĐ ngày 16/7/2009).

    ​Theo đó, Quyết định gồm một số quy định sau:

    – Tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách Công đoàn ngành trung ương và tương đương, Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn gồm thường trực Ban thường vụ và các ban chuyên trách tham mưu giúp việc.

    – Số lượng thường trực ban thường vụ Công đoàn ngành trung ương và tương đương tối đa không quá 04 người (gồm Chủ tịch và 03 Phó Chủ tịch); số lượng thường trực Ban thường vụ công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn tối đa không quá 03 người (gồm Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch).

    – Số lượng ban tham mưu, giúp việc chuyên trách Công đoàn ngành trung ương và tương đương là 04 ban. Số lượng ban tham mưu giúp việc Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn là 03 ban. Trường hợp đặc biệt có thể tăng thêm không quá 01 ban do Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn xem xét, quyết định.

    Tên gọi, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các ban theo từng mô hình (Điều 6)

    – Văn phòng: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác văn phòng và công tác tài chính theo quy định tại điểm a, điểm d, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tổ chức – Kiểm tra: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tổ chức và công tác kiểm tra giám sát quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban nghiệp vụ: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tuyên giáo, công tác nữ công, công tác chính sách pháp luật và quan hệ lao động quy định tại điểm đ, điểm e, điểm g khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Văn phòng: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác văn phòng và công tác tài chính theo quy định tại điểm a, điểm d, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tổ chức – Kiểm tra: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tổ chức và công tác kiểm tra giám sát quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tuyên giáo – Nữ công: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tuyên giáo, công tác nữ công theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Ban Chính sách pháp luật và Quan hệ lao động (chính sách pháp luật và QHLĐ): Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác chính sách pháp luật và quan hệ lao động quy định tại điểm g khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Văn phòng: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác văn phòng theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tổ chức – Kiểm tra: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tổ chức và công tác kiểm tra giám sát quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tài chính: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tài chính theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 4 Quy định này.

    – Ban Tuyên giáo – Nữ công: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác tuyên giáo, công tác nữ công theo quy định tại điểm đ, điểm e khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    – Ban Chính sách pháp luật và QHLĐ: Có chức năng theo quy định tại khoản 1, Điều 4 và thực hiện các nhiệm vụ công tác chính sách pháp luật và quan hệ lao động quy định tại điểm g khoản 2, Điều 4 Quy định này.

    Về chức năng quản lý lãnh đạo đối với văn phòng và ban tổ chức – kiểm tra sau khi hợp nhất:

    – Trong trường hợp hợp nhất văn phòng và ban tài chính, chức danh lãnh đạo của văn phòng gồm chánh văn phòng và phó chánh văn phòng. Ngoài ra văn phòng có chức danh chuyên môn kế toán trưởng theo quy định của pháp luật về tài chính. Trường hợp chánh văn phòng hoặc phó chánh văn phòng đồng thời là kế toán trưởng thì phải đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn kế toán trưởng theo quy định của pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

    – Trong trường hợp hợp nhất ban tổ chức và văn phòng UBKT thì bố trí trưởng ban tổ chức – kiểm tra đồng thời là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra. Nếu chưa bố trí được trưởng ban tổ chức – kiểm tra đồng thời là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì bố trí phó chủ tịch kiêm chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, không bố trí phó ban tổ chức – kiểm tra là chủ nhiệm ủy ban kiểm tra.

    – Biên chế của cơ quan Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn do Đoàn Chủ tịch Tổng liên đoàn giao hàng năm hoặc theo từng giai đoạn, trên cơ sở nguồn biên chế được cơ quan có thẩm quyền phân bổ; đề án vị trí việc làm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và căn cứ vào số lượng đoàn viên, số lượng công đoàn cơ sở của từng đơn vị.

    – Căn cứ xác định số biên chế dựa trên số lượng đoàn viên, số lượng công đoàn cơ sở như sau:

    + Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn có từ 100.000 đoàn viên hoặc từ 500 công đoàn cơ sở trở lên được sử dụng từ 28 đến 35 biên chế cán bộ công đoàn chuyên trách.

    + Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn có từ 50.000 đoàn viên đến dưới 100.000 đoàn viên hoặc từ 50 công đoàn cơ sở đến dưới 500 công đoàn cơ sở được sử dụng từ 23 đến 28 biên chế cán bộ công đoàn chuyên trách.

    + Công đoàn ngành trung ương, Công đoàn tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn có dưới 50.000 đoàn viên và dưới 50 công đoàn cơ sở được sử dụng dưới 23 biên chế cán bộ công đoàn chuyên trách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Công Đoàn Tổng Công Ty Hàng Hải Việt Nam
  • 2/ Mẫu Qui Chế Làm Việc Của Ubkt Cđcs.
  • Quy Chế Làm Việc Của Ủy Ban Kiểm Tra Công Đoàn Trường Đại Học Cntt&tt Khóa V, Nhiệm Kỳ 2012
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ubkt Cđcs
  • Nhiệm Vụ Của Ủy Ban Kiểm Tra Công Đoàn Các Cấp Là Gì?
  • Một Số Kinh Nghiệm Trong Thực Hiện Các Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Đảng Bộ, Chi Bộ Cơ Sở Trong Doanh Nghiệp Nhà Nước Còn Sở Hữu Vốn

    --- Bài mới hơn ---

  • Chi Bộ Cơ Quan, Xã, Phường, Thị Trấn: Nên Có Quy Định Cụ Thể Về Chức Năng, Nhiệm Vụ
  • Cấp Ủy Là Gì? Tổng Hợp Những Liên Quan Đến Cấp Ủy
  • Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh: Hoàn Thành Tốt Nhiệm Vụ Quân Sự
  • Chức Trách, Nhiệm Vụ Của Chính Trị Viên Ban Chỉ Huy Quân Sự Cấp Xã
  • Quy Chế Hoạt Động Của Chi Bộ Trường Tiểu Học Điện Biên Nhiệm Kỳ 2021
  • Quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX, Nghị quyết Đại hội XI và các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Thành ủy về Đề án “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” (theo Kết luận số 50-KL/TW ngày 29-10-2012 của Ban Chấp hành Trung ương), thời gian qua, Đảng ủy Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn TNHH MTV đã lãnh đạo Tổng Công ty xây dựng và thực hiện Đề án tái cơ cấu với các giải pháp gồm: tập trung tái cơ cấu lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh chính; điều chỉnh, bổ sung, phát triển về chiến lược của Tổng Công ty phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập, bảo đảm an sinh xã hội và yêu cầu của quốc phòng, an ninh. Về tái cơ cấu vốn, trọng tâm là thoái vốn một số doanh nghiệp thành viên, cổ phần hóa công ty mẹ và công ty con theo đề án đã được phê duyệt.

    Hiện nay, Đảng bộ Tổng Công ty có 36 tổ chức cơ sở đảng (9 đảng bộ cơ sở, 27 chi bộ cơ sở), với 1.106 đảng viên, 13.046 lao động. Trong đó có 16 đảng bộ, chi bộ cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Quy định 287-QĐ/TW của Ban Bí thư (Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ) với tổng số đảng viên là 622 đồng chí (trong đó có 50 đồng chí tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, đạt 8%); 20 đảng bộ, chi bộ cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Quy định 288- QĐ/TW của Ban Bí thư (Nhà nước sở hữu từ 50% vốn điều lệ trở xuống), với tổng số đảng viên là 484 đồng chí (trong đó có 25 đồng chí tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, đạt 5,58%). Từ thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp nhà nước theo 2 quy định trên tại các đảng bộ, chi bộ công ty cổ phần thuộc Đảng bộ Tổng công ty, có thể rút ra một số kinh nghiệm:

    Hai là, thông qua vai trò cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên là thành viên trong hội đồng thành viên/hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên/hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc, các phó tổng giám đốc/phó giám đốc, cán bộ quản lý, cùng đảng viên, người lao động của công ty để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của loại hình tổ chức cơ sở đảng. Ở các đảng bộ, chi bộ này, nếu bí thư, phó bí thư cấp ủy là người đứng đầu công ty thì vai trò lãnh đạo của Đảng được phát huy, hoạt động các đoàn thể chính trị – xã hội thuận lợi và đạt nhiều kết quả thiết thực bổ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh và các phong trào thi đua của công ty.

    Ba là, đề cao phát huy vai trò trách nhiệm người đứng đầu (bí thư cấp ủy), sự gương mẫu của cán bộ đảng viên nhằm tạo niềm tin, sự tín nhiệm của cổ đông, ban điều hành và người lao động đối với sự lãnh đạo của cấp ủy tại công ty; phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị – xã hội trong phối hợp với hội đồng quản trị, ban giám đốc tổ chức tốt hội nghị người lao động và thực hiện đối thoại định kỳ nhằm kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực hiện nghị quyết đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và công tác điều hành công ty.

    Bốn là, tổ chức cơ sở đảng, cấp ủy ở từng công ty phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục để chủ doanh nghiệp nhận thức rõ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và khi tổ chức đảng, đoàn thể chính trị – xã hội ở doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng đồng thời cũng chính là thực hiện nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp để đạt mục tiêu doanh thu, lợi nhuận, nghĩa vụ thuế, chia cổ tức, lương, thu nhập người lao động cao… đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động với người sử dụng lao động.

    Năm là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cấp ủy viên các cấp, nhất là đội ngũ bí thư, phó bí thư ở các đảng bộ, chi bộ mới trúng cử tham gia lần đầu. Nội dung bồi dưỡng gồm các kỹ năng điều hành hội nghị, chuẩn bị nội dung sinh hoạt, xây dựng nghị quyết, nghiệp vụ công tác đảng viên…; xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt từ cấp ủy cơ sở, đảm bảo tiêu chuẩn, thật sự có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, đây là yếu tố quyết định cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của từng đảng bộ, chi bộ cơ sở ở từng doanh nghiệp; quan tâm chế độ chính sách (lương, thưởng, phụ cấp…) cho cán bộ làm công tác đảng, đoàn thể ở các công ty.

    Sáu là, thực hiện tốt công tác nhân sự của cấp ủy khi giới thiệu cán bộ, đảng viên tham gia công tác quản lý công ty (ở doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 50%) không chỉ thực thiện đúng theo Luật Doanh nghiệp, điều lệ công ty mà còn phải có bước tham khảo, hiệp thương trước khi họp đại hội đồng cổ đông và cuộc họp hội đồng quản trị, cấp ủy chuẩn bị kỹ các bước về giới thiệu nhân sự thì sẽ được sự tín nhiệm cao của đại hội đồng cổ đông và cuộc họp hội đồng quản trị trong việc bầu, bổ nhiệm… đối với người tham gia quản lý công ty.

    Bảy là, lãnh đạo xây dựng các tổ chức chính trị – xã hội ở từng công ty cổ phần vững mạnh trên cơ sở đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc điều lệ của tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội; quan tâm thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong các doanh nghiệp; tạo mối quan hệ thân thiết, gần gũi, phối hợp gắn bó giữa cấp ủy và các đoàn thể với hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc/giám đốc, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cán bộ, đảng viên và người lao động. Đây là yếu tố quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Bồi Dưỡng Bí Thư Chi Bộ Và Cấp Ủy Viên Ở Cơ Sở
  • Chi Ủy Là Gì? Nghị Quyết Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Của Chi Ủy
  • Mẫu Phân Công Nhiệm Vụ Trong Ban Chấp Hành Chi Bộ
  • Nhiệm Vụ Của Phó Bí Thư Chi Bộ
  • Trang Điện Tử Đảng Bộ Tỉnh Quảng Nam
  • Phân Tích Những Chức Năng Của Gia Đình Dưới Chủ Nghiã Xã Hội? Các Quan Hệ Cơ Bản Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • #1 Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Giám Sát, Phản Biện Xã Hội: Chức Năng Quan Trọng Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
  • Câu hỏi: Phân tích những chức năng của gia đình dưới chủ nghiã xã hội? Các quan hệ cơ bản của gia đình

    Đáp án: Gia đình có những mối quan hệ cơ bản sau đây:

    • Quan hệ hôn nhân: hôn nhân là một nhu cầu sinh lý nhằm sản xuất ra con người để duy trì nòi giống. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hôn nhân cũng có lịch sử của nó. Nếu như trong chế độ cộng sản nguyên thủy, hình thức hôn nhân chủ yếu là quần hôn (hôn nhân tập thể) thì trong các chế độ tư hữu, hôn nhân được xây dựng trên cơ sở lợi ích của những người chủ sở hữu và chịu sự chi phối của các quan hệ kinh tế – chính trị của chế độ xã hội đó. Vì vậy, hôn nhân trong bất cứ thời đại nào cũng cần được xã hội thừa nhận cả về mặt chuẩn mực văn hóa và truyền thống trong cộng đồng và pháp luật của chế độ đương thời.
    • Quan hệ huyết thống: do nhu cầu duy trì và phát triển nòi giống, con người đã sáng tạo ra một thiết chế gia đình, trong đó quan hệ huyết thống được coi là một quan hệ cơ bản nhất. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng có những thay đổi theo sự chi phối của các điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị của xã hội. Nếu như trong chế độ cộng xã nguyên thủy, huyết thống về bên mẹ được coi là chuẩn mực để tính quan hệ thân tộc xa gần thì đến chế độ tư hữu huyết thống được coi về đằng cha. Sự phân biệt này chỉ khi nào không còn chế độ tư hữu.
    • Quan hệ quần tụ trong một mái ấm gia đình: xuất phát từ nhu cầu tự nhiên, quan hệ lứa đôi cần phải có một nơi cư trú, thời nguyên thủy người ta chỉ cần một không gian là một hang đá, hốc cây, về sau là một túp lều tranh đơn sơ, một mái nhà. Mái ấm gia đình là nơi thiêng liêng sẽ không thay đổi, dù cho mai sau khoa học hiện đại có khám phá sáng tạo ra không gian sinh tồn mới, nhưng quan niệm về mái ấm gia đình cũng sẽ không mất đi. Trái lại nó càng được củng cố tăng cường nhờ được trang bị đầy đủ những tiện nghi hiện đại nhằm tạo thuận lợi hơn.
    • Quan hệ nuôi dưỡng: nuôi dưỡng là một trách nhiệm, đồng thời còn là một quyền lợi thiêng liêng của các thành viên trong gia đình đối với nhau. Nuôi dưỡng bao gồm cả việc các bậc cha mẹ, ông bà nuôi dưỡng con cháu, con cháu chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà lúc già, cũng như việc quan tâm của những người khỏe mạnh đối với các thành viên gặp khó khăn. Tình cảm thiêng liêng này không thể thay thế được bằng bất kỳ hình thức nào.

    Gia đình có những chức năng cơ bản sau đây:

    • Chức năng tái sản xuất ra con người: sinh sản là một nhu cầu tự nhiên. Nếu không có hoạt động này thì xã hội loài người sẽ bị diệt vong. Nhưng sinh bao nhiêu là vừa, là đủ. Vấn đề này nó còn tùy thuộc vào trình độ phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử, tùy theo mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà có chiến lược phát triển dân số phù hợp. Nếu như vào đầu thời kì đồ đá mới (khoảng mười ngàn năm trước đây) các bộ lạc nguyên thủy chỉ xấp xỉ khoảng 1 triệu người được phân bố rải rác trên các lục địa. Đầu công nguyên dân số trên trái đất có chừng 150 – 200 triệu người. Năm 1000 sau công nguyên đã có gần 300 triệu người. Đến nay dân số trên thế giới đã lên đến con số báo động trên 6 tỷ người. Ở nhiều nước, tốc độ tăng dân số đến chóng mặt, nhất là ở các nước chậm phát triển, số sinh ra vượt quá mức so với sức sản xuát lương thực, về điều kiện nhà ở, về điều kiện y tế, giáo dục, về phúc lợi v..v… Theo báo cáo của Liên hợp quốc thì hiện nay có khoảng 40 triệu người đang sống trên miệng hố của sự chết đói, nhiều nước Á, Phi, Mĩ La tinh tuổi thọ thấp (trung bình 35 tuổi) sự thay thế của các thế hệ xảy ra nhanh. Tình hình đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của xã hội. Vì vậy, vấn đề bùng nổ dân số đang là vấn đề gay gắt đang được đặt ra không chỉ ở mỗi nước, mà còn là vấn đề chung của toàn nhân loại. Ở nước ta, để khắc phục tình trạng dân số tăng nhanh, trong khi nền kinh tế đang còn thấp, do đó chúng ta phải coi nhiệm vụ kế hoạch hóa dân số và giải quyết việc làm cho người lao động là nhiệm vụ hàng đầu trong chính sách xã hội. Theo thống kê 2004 người ta tính cứ 1 phút có 3 em bé chào đời, thì một năm tăng 1,2 triệu người, nếu so sánh giữa tăng trưởng kinh tế và mức độ tăng dân số như hiện nay đang là một vấn đề bức xúc. Vì vậy việc phấn đấu hạ thấp tỷ lệ tăng dân số kết hợp với việc tổ chức lại lao động, đất đai, ngành nghề làm cho mọi người lao động đều có việc làm đó là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối về kinh tế – xã hội đem lại cuộc sống văn minh, hạnh phúc cho nhân dân.
    • Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống của gia đình: trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mỗi gia đình đều có thể trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, mọi gia đình, mọi cá nhân đều có thể làm giàu chính đáng bằng sản xuát kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với các gia đình công nhân viên chức cũng được khuyến khích tuy các loại gia đình này không trực tiếp kinh doanh, nhưng cũng có vai trò tác động đến sản xuất qua lĩnh vực tiêu dùng.
    • Chức năng giáo dục: nội dung giáo dục trong gia đình bao gồm cả về vật chất lẫn tinh thần, nó là trách nhiệm của các bậc cha mẹ và được thực hiện ở mọi chu trình sống của con người. Từ lúc còn ẵm ngữa, giai đoạn tuổi thơ, khi đã trưởng thành, lúc già cả…Ở từng chu trình ấy phải có những nội dung và hình thức giáo dục phù hợp. Nếu ở giai đoạn tuổi thơ là lời ru của mẹ, tấm gương sống và làm việc của người thân, những lời nhắn nhủ của cha mẹ, giảng giải của ông bà và ngay cả trong sinh hoạt tình dục, sinh hoạt tiêu dùng cũng phải được giáo dục…” học ăn, học nói, học gói, học mở” ” ăn trông nồi ngồi trông hướng…” Trong chủ nghĩa xã hội, giáo dục của gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ, xây dựng con người mới có đạo đức, văn hóa có trí thức. Do đó, giáo dục con người phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội.
    • Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý tình cảm: có nhiều vấn đề tâm, sinh lý chỉ có thể bộc lộ và giải quyết trong phạm vi gia đình với những người thân. Do đó sự hiểu biết tâm sinh lý, sở thích của nhau để phù hợp với mỗi thành viên là rất cần thiết.

    Tóm lại, gia đình là thiết chế đa chức năng. Thông qua việc thực hiện những chức năng trên mà có sự tác động đến sự tiến bộ chung của xã hội. Các chức năng được thực hiện trong sự thúc đẩy hỗ trợ lẫn nhau, nhưng việc phân chia các chức năng cũng chỉ là tương đối. Nhiều khi, các chức năng được thực hiện tổng hợp trong một công việc hoặc nhiều hoạt động của gia đình. Ở từng nơi và các giai đoạn khác nhau, nội dung và vị trí của mỗi chức năng có sự biến đổi, nhưng dù ở đâu thời đại nào thì vai trò của người phụ nữ, mà trước hết là người vợ, người mẹ phải là trung tâm của tình cảm gia đình. Phụ nữ góp công sức nhiều nhất cho công việc của gia đình, giàu tình yêu và có ý thức hơn vì hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn hiện tượng đối xử không bình đẳng đã làm cho người phụ nữ phải gánh vác những công việc nặng nhọc trong gia đình và công việc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Viện Phải Có Phòng Hoặc Tổ Công Tác Xã Hội Để Hỗ Trợ Người Bệnh
  • Giới Thiệu Phòng Công Tác Xã Hội
  • Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương
  • Phòng Công Tác Xã Hội
  • Khoa Học Và Nghệ Thuật
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Quản Lý Các Khu Công Nghiệp Tỉnh Nam Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Quản Trị Nguồn Nhân Lực, Điều Nhà Quản Trị Cần Biết
  • Chức Năng Của Quản Trị Nguồn Nhân Lực
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Quản Trị Nguồn Nhân Lực
  • Chức Năng Của Quản Trị Nhân Sự Là Gì?
  • Quản Lý Nhân Sự Là Gì? Tại Sao Quản Lý Nhân Sự Lại Quan Trọng?
  • Ngày 8 tháng 12 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định đã ban hành Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND qu y định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Nam Định .

    Ngoài những chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan quản lý nhà nước, đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, Ban Quản lý có một số chức năng, nhiệm vụ sau:

    – H ướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư theo thẩm quyền trong quá trình chuẩn bị và triển khai dự án đầu tư; báo cáo định kỳ hoạt động xúc tiến đầu tư tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UBND tỉnh .

    – Giải quyết khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư .

    – Tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án trong khu công nghiệp theo ủy quyền của UBND tỉnh ; thẩm định, phê duyệt đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ môi trường đơn giản của các dự án trong khu công nghiệp theo ủy quyền .

    – Tiếp nhận báo cáo giải trình của doanh nghiệp trong khu công nghiệp về nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được ; xác nhận người lao động nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo ủy quyền của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội .

    – Tiếp nhận đăng ký khung giá cho thuê đất, cho thuê lại đất và phí hạ tầng khu công nghiệp của nhà đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và các chức năng, nhiệm vụ khác về quản lý kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật.

    – Tổ chức phong trào thi đua và khen thưởng cho doanh nghiệp trong khu công nghiệp…

    – Cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy phép xây dựng công trình đối với công trình xây dựng trong khu công nghiệp phải có Giấy phép xây dựng theo phân cấp hoặc ủy quyền của UBND tỉnh .

    – C ấp, cấp lại, thu hồi Giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc trong khu công nghiệp;

    – Cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung các loại Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, Giấy phép kinh doanh một số mặt hàng thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành cho thương nhân đặt trụ sở và có cơ sở kinh doanh tại khu công nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Công Thương;

    – Cấp các loại giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa sản xuất trong các khu công nghiệp theo hướng dẫn, ủy quyền của Bộ Công Thương.

    – Cấp một số loại giấy phép, chứng chỉ trong khu công nghiệp theo thẩm quyền, hướng dẫn và ủy quyền của các Bộ, UBND tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền ;…

    Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Ban Quản lý có cơ cấu tổ chức như sau: Văn phòng Ban, Phòng Quản lý Đầu tư , Phòng Quản lý Doanh nghiệp , Phòng Quản lý Tài nguyên và Môi trường , Phòng Quản lý Quy hoạch và Xây dựng , Công ty phát triển và khai thác hạ tầng khu công nghiệp , Trung tâm tư vấn, hỗ trợ đầu tư khu công nghiệp.

    Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 19/2008/QĐ-UBND ngày 22/9/2008 của UBND tỉnh Nam Định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Nam Định (Phong Lâm).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Kinh Doanh (P1: Là Gì)
  • Quản Trị Kinh Doanh Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Quản Trị Kinh Doanh
  • Quản Lý Vĩ Mô Của Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Luận Văn Đề Tài Mục Tiêu Và Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Vĩ Mô Của Nhà Nước Và Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nhằm Đổi Mới Và Tăng Cường Vai Trò Kinh Tế Của Nhà Nước
  • Khó Khăn Của Công Việc Quản Lý Kho
  • Tin tức online tv