Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Nhà Nước, Hot

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Hoàn Thiện Quản Lý Nhà Nước Đối Với Các Cụm Công Nghiệp Vừa Và Nhỏ Trên Địa Bàn Hà Nội
  • Hệ Thống Quản Lý Kho Và Các Phần Mềm Quản Lý Kho Tốt Nhất
  • Mô Tả Các Chức Năng Và Các Luồng Của Hệ Thống Quản Lý Nhân Sự Giaotrinhpttkhttt Doc
  • Hệ Thống Quản Lý Nhân Sự
  • 9 Tính Năng Cốt Lõi Của Hệ Thống Nhân Sự Hris
  • Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành quản lí công: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An, cho các bạn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LƯU QUANG NINH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI – 2022
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LƯU QUANG NINH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.Nguyễn Hoàng Hiển HÀ NỘI – 2022
    3. 4. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Hoàng Hiển đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình. Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã đem lại cho tôi những kiến thức hữu ích trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia. Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám đốc Học viện, Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập. Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lưu Quang Ninh
    4. 5. MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ……………………………………. DANH MỤC CÁC BẢNG …………………………………………………………………….. MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………. 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC………………………………………………………….. 7 1.1. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC……………………………………………………. 7 1.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước ……………………………………………. 7 1.1.2. Các loại hình Doanh nghiệp nhà nước……………………………………….10 1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế………………….13 1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC16 1.2.1 Khái niệm……………………………………………………………………………….16 1.2.2. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước…………………………………………………………………………………………17 1.2.3. Các công cụ nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp nhà nước……19 1.2.4. Xu hướng can thiệp của nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước……………………………………………………………….19 1.2.5. Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước…………22 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……………………………………………………………………27 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN…………………28 2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN ……………………..28 2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An …………28 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội…………………………………………….30
    5. 7. Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2025…………………………..73 3.1. QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN………………………………..73 3.1.1. Định hướng phát triển doanh nghiệp nhà nước tỉnh Nghệ An……….73 3.1.2. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp, tạo môi trường bình đẳng cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo nguyên tắc thị trường. ……………………………………………………………….77 3.1.3. Cải cách thể chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước phải thích ứng với xu hướng hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế….79 3.1.4. Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước phải tiến hành đồng bộ với cải cách kinh tế nói chung, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ……………………………80 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ………………………………………………..84 3.2.1. Giải pháp về hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhà nước …………………………………………………………………….84 3.2.2. Giải pháp làm lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp nhà nước……86 3.2.3. Đào tạo, sắp xếp, bố trí cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước chủ chốt………………………………………………………………………………………………..89 3.2.4. Tiếp tục tiến hành sắp xếp lại, phát triển và nâng cao hiệu quản hoạt động của doanh nghiệp nhà nước……………………………………………………….92 3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp nhà nước…………………………………………………………………………………………94 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3……………………………………………………………………96
    6. 8. KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………….97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………..99
    7. 9. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DN – Doanh nghiệp DNNN – Doanh nghiệp nhà nước ĐKKD – Đăng ký kinh doanh HĐQT – Hội đồng quản trị KTTT – Kinh tế thị trường SXKD – Sản xuất kinh doanh UBND – Ủy ban nhân dân XHCN – Xã hội chủ nghĩa
    8. 10. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Trang Bảng 2.1 – Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 – 2022 38 Bảng 2.2 – Phân bổ lao động theo loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2014 40 Bảng 2.3 – Quy mô vốn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2014 41 Bảng 2.4 – Doanh thu thuần của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2014 43
    9. 11. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn Trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ ban ngành đã ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả, minh bạch hơn; nội dung các văn bản pháp luật đã thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Các cơ chế, chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước, phân loại, sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, về đầu tư vốn được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu quản lý; phân công, phân cấp rõ ràng các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, qua đó nâng cao tính công khai, minh bạch, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước. Trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, doanh nghiệp nhà nước vốn ít, quy mô nhỏ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài. Trước năm 2010 một số đơn vị lỗ nghiêm trọng dẫn đến giải thể, phá sản như: Công ty Gỗ Vinh, Xí nghiệp đánh cá Cửa Hội, Công ty Vật liệu xây dựng và Thi công cơ giới. Một số đơn vị phải có các cơ chế mạnh của Chính phủ mới đủ điều kiện chuyển đổi hình thức sở hữu, vốn nhà nước bị thâm hụt như: Công ty Mía đường Sông Lam, Công ty Mía đường Sông Con, Công ty Đầu tư hợp tác kinh tế Việt – Lào, Công ty Xây dựng số I, Công ty Xuất nhập khẩu và Dịch vụ tổng hợp vv… Thực hiện chủ trương sắp xếp, chuyển đổi, đến cuối năm 2010, trên địa bàn toàn tỉnh đã sắp xếp, chuyển đổi 160 doanh nghiệp, trong đó: Cổ phần hoá: 86; Giao, bán, khoán: 8; Giải thể: 6; Chuyển sang sự nghiệp có thu: 5; Phá sản: 2; Sáp nhập: 31 (Sáp nhập về
    10. 13. 3 – “Quản lý kinh tế của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước – Thực trạng và kiến nghị”, Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Cương, năm 2012. Luận văn phân tích đánh giá thực trạng quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước và những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường đối với doanh nghiệp nhà nước, đánh giá hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nhà nước thông qua phân tích, so sánh các chế định của pháp luật hiện hành với hệ thống các mục tiêu, mục đích đặt ra trong quản lý doanh nghiệp nhà nước. – “Sức cạnh tranh của doanh nghiệp được hình thình từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Anh Tuấn, năm 2006. Đề tài nghiên cứu những yếu tố bên trong kết hợp chặt chẽ với những yếu tố bên ngoài của năng lực cạnh tranh để thực hiện thành công chiến lược kinh doanh trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, nhấn mạnh đến sự cạnh tranh tạo ra thông qua nâng cao tiềm lực tài chính toàn xã hội, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao trình độ nguồn nhân lực và trình độ quản trị doanh nghiệp, sản phẩm có chất lượng cạnh tranh cao, giá sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp và đời sống người lao động, nhấn mạnh tới xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. “Một số khía cạnh pháp lý của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2012 của tác giả Đoàn Thị Lan Anh. Luận văn nghiên cứu những bất cập trong quá trình quản lý doanh nghiệp nhà nước được hình thành do thói quen trong công tác quản lý từ chế độ cũ để lại, những dấu hiệu do lợi ích nhóm mang đến và mô hình doanh nghiệp nhà nước dàn trải, không trọng tâm; Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua trên cơ sở lý luận để thấy rõ những bất cập đồng thời nghiên cứu những giải
    11. 14. 4 pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; Việc quản lý nguồn vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước; Việc quản lý cán bộ hoạt động tại doanh nghiệp nhà nước, tình trạng lãng phí nguồn nhân lực, cán bộ không phát huy được hết khả năng của mình hoặc tình trạng lạm quyền trong quản lý, điều hành. Ngoài ra còn một số sách đã xuất bản nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước như: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong công ty cổ phần, Phí Văn Chỉ- chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường ở Việt nam, chúng tôi Vũ Huy Từ, NXB Chính tri quốc gia, Hà Nội, 1994; Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước, chúng tôi Ngô Quang Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2001; Bán, khoán kinh doanh và cho thuê các doanh nghiệp nhà nước ở Việt chúng tôi Nguyễn Văn Phúc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đến năm 2010, chúng tôi Ngô Thắng Lợi, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở nhiều góc độ và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có hiệu lực thi hành . Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài này cho luận văn thạc sĩ của mình. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn – Mục đích:
    12. 15. 5 Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vận dụng vào điều kiện của tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An. – Nhiệm vụ: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay, chỉ rõ những thành công, hạn chế và các nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2025. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn – Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An. – Phạm vi nghiên cứu: Trong điều kiện và thời gian có hạn luận văn tập trung trọng tâm nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong không gian là trên pham vi địa bàn tỉnh Nghệ An và thời gian trong giai đoạn 2011 – 2022 và đề xuất các giải pháp đến năm 2025. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn – Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
    13. 17. 7 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1.1. Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước Trong những năm trước đổi mới (1954 – 1985), Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Tương thích với mô hình đó, có khái niệm về các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh được hiểu là những tổ chức do Nhà nước trực tiếp đầu tư vốn 100%, quyết định thành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng lao động theo chế độ biên chế ổn định. Doanh nghiệp quốc doanh thường được đồng nhất với thành phần kinh tế quốc doanh – bộ phận chủ yếu được coi là giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kiểu kế hoạch hóa tập trung. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức khác của Nhà nước đều là những cán bộ công nhân viên chức trong biên chế, ít có sự phân biệt về quyền lợi, chế độ phân phối và đãi ngộ. Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện. Điều này thể hiện rõ trong các văn bản pháp quy, tiêu biểu là Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995. Điều 1 của Luật này quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội
    14. 18. 8 do Nhà nước giao” . Theo đó, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã có điểm mới, đó là ngoài các doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp mà nhà nước có cổ phần hoặc vốn góp chi phối cũng là doanh nghiệp nhà nước. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 để thay thế luật Doanh nghiệp năm 1995 và Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003. Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”, tại Luật này
    15. 20. 10 làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài sẽ đề cập đến các doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối và doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. 1.1.2. Các loại hình Doanh nghiệp nhà nước Theo Luật DNNN sửa đổi 2003, DNNN được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo đó, Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật DNNN và công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước. Tổng công ty nhà nước:
    16. 21. 11 Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập trên cơ sở tập hợp và liên kết các công ty nhà nước thành viên có tư cách pháp nhân, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính, nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung vốn và chuyên môn hoá kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn tổng công ty. Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập là hình thức liên kết thông qua đầu tư, góp vốn của công ty nhà nước có qui mô lớn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong đó công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác. Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là tổng công ty được thành lập để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc lập và các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do mình thành lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước và quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu với cổ phần, vốn góp Nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ các công ty nhà nước độc lập. Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu của Tổng công ty nhà nước. Đến năm 2005 Luật Doanh nghiệp ra đời thay thế cho Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 nên các loại hình doanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi, theo đó Luật doanh nghiệp 2005 quy định các loại hình doanh nghiệp nhà nước gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Nhóm công ty. Khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời và có hiệu lực thi hành thì các Công ty nhà nước vẫn còn tiếp tục tổ chức hoạt động theo Luật DNNN 2003, phải đến ngày 1/7/2010 các Công ty nhà nước đã đồng loạt chuyển đổi sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc
    17. 22. 12 công ty cổ phần và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Sau đó nhóm công ty tức các Tổng công ty nhà nước, các Tập đoàn kinh tế nhà nước được sử dụng để liên kết các doanh nghiệp nhà nước tạo sức mạnh về kinh tế và các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước không có tư cách pháp nhân. Đến năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 thay thế Luật Doanh nghiệp 2005 quy định rõ hơn về các loại hình doanh nghiệp. Như vậy, trải qua nhiều giai đoạn và hiện nay Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới các hình thức sau: – Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông. Bộ máy tổ chức của các công ty cổ phần được cơ cấu theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả. Đồng thời để bảo đảm sự quản lý của nhà nước thì các nhân sự cao cấp trong bộ máy đó phải do nhà nước quyết định. – Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. – Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, – Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết. Tập đoàn kinh tế nhà nước phải có ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia về kinh tế; tạo nền tảng về hạ tầng kinh tế quốc gia; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Thủ tướng Chính phủ quy định các ngành, lĩnh vực kinh doanh được xem xét thành lập tập đoàn kinh tế trong từng thời kỳ.
    18. 23. 13 – Tổng công ty nhà nước là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết. Tổng công ty nhà nước có ngành, lĩnh vực kinh doanh chính thuộc một trong những ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quan trọng tạo nền tảng cho phát triển ngành hoặc vùng lãnh thổ; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và ngành hoặc vùng lãnh thổ. Thủ tướng Chính phủ quy định những ngành, lĩnh vực kinh doanh được xem xét thành lập tổng công ty trong từng thời kỳ. Quy định về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước tại Nghị định số 69/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2014. 1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX đã khẳng định: Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, DNNN phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh Chương 1 đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhà nước và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; nêu rõ khái niệm doanh nghiệp nhà nước, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Ngoài ra còn nêu rõ sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, các công cụ nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp nhà nước và xu hướng can thiệp của nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.
    19. 38. 28 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN 2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An Vị trí địa lý: Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 180 35′ đến 200 vĩ độ Bắc và từ 1030 50′ đến 1050 40′ kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 297 km về phía Bắc, cách cố đô Huế 360 km về phía Nam. Diện tích đất tự nhiên là 16.490,7 Km2 , chiếm 5,1% diện tích tự nhiên cả nước và dân số 2.929 nghìn người, chiếm 3,4% dân số cả nước (năm 2010). Về mặt hành chính, tỉnh có 17 huyện, 01 thành phố và 02 thị xã, với 479 xã, phường và thị trấn. Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở phía Tây với 419 km đường biên giới và biển Đông ở phía Đông với chiều dài 82 km. Vị trí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế – xã hội Bắc – Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, mở rộng hợp tác quốc tế và trao đổi hàng hóa với các nước ASEAN thông qua các cửa khẩu. Với vị trí như vậy, Nghệ An có diện tích lớn nhất cả nước với đầy đủ các dạng địa hình: núi, trung du, đồng bằng, ven biển, biển thuận lợi phát triển một kinh tế khu vực nông thôn đa dạng. Địa hình: Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối, hướng nghiêng từ Tây – Bắc xuống Đông – Nam. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn. Thấp nhất là vùng đồng bằng huyện
    20. 39. 29 Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh Lưu). Địa hình Nghệ An có 2 dạng chủ yếu: trung du miền núi và đồng bằng ven biển. Diện tích tự nhiên của vùng trung du miền núi là 13.749,2 km2 , chiếm 83,4% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Hệ thống núi cao ở phía Tây, và Tây Bắc thuộc hệ thống núi Trường Sơn, có độ cao trung bình 600 – 700m, độ dốc trên 250 . Vùng trung du có độ cao trung bình từ 100 – 200m, độ dốc từ 15 – 200 . Vùng trung du miền núi chia làm 2 tiểu vùng: (biểu đồ) Tiểu vùng Tây Nam nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, thuộc địa bàn 5 huyện: Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Thanh Chương và Anh Sơn. Đây là vùng có địa hình phức tạp, chủ yếu là núi trung bình và cao, tập trung dọc biên giới Việt – Lào, thuộc huyện Kỳ Sơn và Tương Dương, một số đỉnh cao trên 2000m. Tiểu vùng Tây Bắc nằm ở phía Tây Bắc của Tỉnh, thuộc địa bàn 6 huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa. So với tiểu vùng Tây Nam, địa hình ít phức tạp hơn, phần lớn là đồi và núi thấp, với độ cao trung bình từ 500 – 1000m. Vùng trung du miền núi thích hợp để phát triển ngành lâm nghiệp và hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu… cũng như các loại cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc, thuốc lá, … Với địa hình rộng lớn có khả năng hình thành các trang trại, vùng chuyên canh quy mô lơn. Vùng đồng bằng ven biển của Nghệ An có diện tích tự nhiên là 2.741,5 km2 , chiếm 16,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, gồm 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố: Nam Đàn, Yên Thành, Đô Lương, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh. Địa hình của vùng khá đồng nhất, chủ yếu là đồng bằng, độ cao trung bình từ 5 – 20 km, xen kẽ
    21. 40. 30 một số ngọn đồi thấp nằm rải rác ở các huyện Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên. Đất trong vùng chủ yếu là đất phù sa, đất pha cát, chạy dọc theo bờ biển có các vùng sình lầy, vùng đất cát, các bãi sú vẹt, bãi bồi. Địa hình vùng đồng bằng thuận lợi về phát triển các loại hình trang trại, vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày, vùng tập trung nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, địa hình cũng là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triên lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh. Các dòng sông hẹp và dốc gây khó khăn cho phát triển vận tải đường sông và hạn chế khả năng điều hòa nguồn nước mặn trong các mùa phục vụ canh tác nông nghiệp. 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội Nghệ An là tỉnh có tổng sản phẩm GDPr khá lớn, xu hướng GDPr tăng lên hàng năm cho thấy tốc độ phát triển của Nghệ An là tương đối tốt. Năm 2022 đã đạt đến con số 81.577.115 triệu đồng cho thấy những thay đổi khá lớn về kinh tế Nghệ An. Cơ cấu GDPr thay đổi theo hướng phù hợp với xu thế phát triển. Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên so với ngành nông nghiệp và công nghiệp, cho thấy kinh tế Nghệ An đang có những bước chuyển dịch phù hợp. Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Nghệ An là chưa cao, còn có những biến động trong các năm. Năm 2010 thu ngân sách là 21.920.539 triệu đồng, năm 2011 tăng lên 29.346.576 triệu đồng, năm 2012 lại giảm xuống còn 27.980.000 triệu đồng, năm 2022 hoạt động thu ngân sách tăng cao lên đến 36.726.821 triệu đồng. Cơ cấu thu ngân sách còn thể hiện nhiều điểm chưa hợp lý, thu ngân sách trên địa bàn chiếm lỷ lệ nhỏ chủ yếu dựa vào nguồn thu từ ngân sách trung ương. Năm 2010 thu ngân sách từ trung ương là 12.865.498 triệu đồng chiếm tỷ lệ 58,69%, năm 2012 thu ngân sách từ trung
    22. 41. 31 ương là 18.250.000 triệu đồng chiếm tỷ lệ 65%, năm 2022 thu ngân sách từ trung ương là 24.309.532 triệu đồng chiếm tỷ lệ 66,2%. Điều này cho thấy kinh tế Nghệ An còn phụ thuộc nhiều vào ngân sách Trung ương mà chưa thể thực hiện xu thế giảm sự phụ thuộc vào ngân sách trung ương. Chi ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng mạnh, năm 2013 là 27.152.391 triệu đồng năm 2022 là 35.529.732. Cơ cấu chi ngân sách cũng có nhiều điểm chưa hợp lý, trong đó chi nộp ngân sách trung ương là không có, chi khác chiếm một tỷ lệ rất cao trên ½ tổng chi, chi thường xuyên cũng chiếm tỷ lệ lớn. Chi cho đầu tư phát triển chiếm tỷ lệ nhỏ năm 2014 là 3.387.020 triệu đồng chiếm tỷ lệ 12,7%. Chi ngân sách 6 tháng đầu năm 2022 ước thực hiện 7.247,96 tỷ đồng, bằng 48,7 dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 1.464,3 tỷ đồng, bằng 48,7% dự toán; chi thường xuyên 5.701,36 tỷ đồng, bằng 47,9 dự toán; chi dự phòng 82,3 tỷ đồng, bằng 27,3% dự toán. Điều này chó thấy kinh tế Nghệ An còn có nhiều vấn đề quan tâm, khả năng tự thu chi là chưa thể thực hiện phần lớn còn dựa vào ngân sách Trung ương. Vấn đề này là điểm khó khăn đối với một tỉnh có dân số đông, diện tích lớn có cơ sở hạ tầng khá tốt. 2.1.3. Tình hình phát triển dân số Nghệ An là tỉnh có diện tích 16.490,85 km2 số lượng dân số (31/12/2014) là 3.037.440 người, mật độ dân số trung bình là 184 người/km2 . Trong đó dân số khu vực thành thị là 445.155 người, chiếm tỷ lệ 14,95%, dân số khu vực nông thôn là 2.533.550 người chiếm tỷ lệ 86,44%. Với dân số đông, Nghệ An có nguồn nhân lực dồi dào, là một thuận lợi lớn để Nghệ An phát triển kinh tế – xã hội. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, Nghệ An phấn đấu đến năm 2022 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, có thu nhập đạt mức trung bình khá so với cả nước.
    23. 42. 32 2.1.4. Tiềm năng tự nhiên có thể khai thác Nghệ An có điều kiện địa lý hết sức đa dạng, bao gồm cả vùng đồng bằng, vùng núi và vùng biển với diện tích 16.488,820 km2 tương đương 1.648.820 ha (năm 2005), sau khi trừ đi đất sông suối và núi đá, còn lại 1.572.666 ha thuộc hai hệ thống chính là hệ feralit ở vùng đồi vúi và hệ phù sa ở vùng đồng bằng. Cụ thể chia làm 8 nhóm đất chính: (1) Nhóm đất mặn tập trung ở ven biển, nhất là đầm lầy gần cửa sông và vùng bị triều cường xâm nhập; (2) Nhóm đất phèn phân bố dọc duyên hải, có độ pH thấp, nghèo lân nhưng lượng mùn, đạm và kaly tương đối khá; (3) Nhóm đất cát ven biển rất kém màu mỡ; (4) Nhóm đất phù sa phân bố ở dải đồng bằng duyên hải và rải rác ở các thung lũng sông, suối; (5) Nhóm đất nâu vàng phát triển trên phù sa cổ, phân bố ở các thềm sông hoặc bậc thang rìa đồng bằng (Đất thường có phản ứng chua, nghèo dinh dưỡng); (6) Đất feralit vàng đỏ phát triển trên đất biến chất là nhóm đất có diện tích lớn, phân bổ ở nhiều nơi; (7) Đất feralit nâu đỏ trên đá mắc ma trung tính và bazơ có tầng đất dày, các chất dinh dưỡng tương đối khá; (8) Đất bazan phân bố ở vùng Phủ Quỳ, tầng đất dày, độ phì cao, phân bố trên địa hình thoải, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày (9). Nhóm Đất thủy thành (chiếm 15,75%): đất cát; đất phù sa, dốc tụ; đất mặn; đất phèn; đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa, tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng ven biển (69%), vùng núi thấp (23,5%) … phục vụ sản xuất cây lương thực ngắn ngày và nhóm Đất địa thành (chiếm 84,25%), gồm đất Feralit đỏ vàng vùng đồi, đất mùn vàng núi cao, phân bổ chủ yếu ở vùng đồi núi và núi cao phù hợp với phát triển cây trồng lâu năm. Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của tỉnh với tổng diện tích 1.648.820 ha với mục đích sử dụng cho đất nông nghiệp 1.033.926 ha (chiếm 62,71%), đất phi nông nghiệp 113.489 ha (chiếm 6,88%), đất chưa sử dụng 501.404 ha (chiếm 30,41%). Diện tích đất chưa sử dụng này chiếm tỷ trọng lớn trong diện tích tự
    24. 43. 33 nhiên của tỉnh, nếu được khai thác tốt thì đây là một quỹ đất tốt cho nông, lâm nghiệp Về tài nguyên rừng: Nghệ An với diện tích lâm nghiệp lớn nhất trong cả nước, có nhiều tiềm năng tài nguyên rừng với tổng quỹ đất có thể dùng trong lâm nghiệp là 1.180.000 ha (độ che phủ 47%) với thảm thực vật điển hình là 153 họ, 522 chi và 986 loài cây than gỗ (chưa kể than thảo, than leo và hạ đẳng) trở thành khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An. Theo thống kê, Nghệ An có 01 vườn quốc gia và 02 khu bảo tồn quốc gia với nhiều loại động vật quý hiếm (490 loài của 86 họ và 28 bộ, trong đó 124 loài thú, 293 loài chim, 50 loài bò sát, 23 loài lưỡng hệ), gồm: Vườn quốc gia Pù Mát có diện tích 177.113 ha, trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt là 91.113 ha, vùng đệm 86.000 ha đa dạng về thực vật (có 2.494 loài thực vật bậc cao thuộc 202 họ của 6 ngành thực vật) và phong phú về động vật (có 480 loài có xương sống, trong đó có 70 loài thú lớn và 40 loài quý hiếm); Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống có diện tíc 56.075 ha đa dạng hệ thực vật (có 612 loài thực vật bậc cao thuộc 117 họ của 3 ngành thực vật) và phong phú về động vật (trong số 291 loài động vất có 218 loài có giá trị kinh tế cao); Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt có diện tích 67.934 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 56.837 ha và khu phục hồi sinh thái 11.097 ha … với tổng khối lượng gỗ hiện nay còn khoảng 52 triệu m3 , trong đó có tới 425.000 m3 gỗ Pơmu và trữ lượng tre, nứa, mét có trên khoảng 1 tỷ cây (25). Tổng diện tích lâm nghiệp toàn tỉnh: 907.325,45 ha, trong đó: – Rừng phòng hộ: 300.090,82 ha, trong đó: đất rừng tự nhiên 255.845,26 ha, đất có rừng trồng phòng hộ: 6.813,42 ha; – Rừng đặc dụng: 159.383,83 ha, trong đó: đất có rừng tự nhiên đặc dụng: 158.286,83 ha, đất có rừng trồng đặc dụng: 529,80 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng: 541,10 ha và đất trồng rừng đặc dụng: 26,10 ha; – Rừng sản xuất: 447.850,81 ha, trong đó: đất có
    25. 44. 34 rừng tự nhiên sản xuất: 272.566,74 ha đất có rừng trồng sản xuất: 76.657,22 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất: 64.505,80 ha và đất trồng rừng sản xuất 34.212,05 ha. Về tài nguyên biển: Nghệ An có bờ biển kéo dài 82 km và diện tích vùng biển 4.230 hải lý vuông, có trên 3.000 ha diện tích nước mặn, dọc bờ biển có 6 cửa lạch (Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Thơi, Lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội) với độ sâu từ 1 đến 3,5m thuận lợi cho tàu thuyền có trọng tải từ 50 – 1.000 tấn, trữ lượng hải sản khoảng 80.000 tấn với 267 loài, 91 họ cho phép khả năng khai thác khoảng 35.000 – 37.000 tấn/năm, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao và trữ lượng cá lớn như cá thu, cá nục, cá cơm, tôm biển … Biển Nghệ An không chỉ nổi tiếng về các loài hải sản quý hiếm mà còn được biết đến với những bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi biển Cửa Lò, bãi biển Nghi Thiết, bãi biển Diễn Thành, bãi biển Cửa Hiền,… trong đó nổi bật nhất là bãi tắm Cửa Lò có nước sạch và sóng vừa phải, độ sâu vừa thoải, là một trong những bãi tắm hấp dẫn của cả nước. Đặc biệt, đảo Ngư cách bờ biển 4 km có diện tích trên 100 ha, mức nước quanh đảo có độ sâu 8 – 12m rất thuận lợi cho việc xây dựng một cảng nước sâu trong tương lai, góp phần đẩy mạnh việc giao thương trong nước và khu vực. Về tài nguyên nước và sông ngòi: Mạng lưới sông ngoài trên địa bàn tỉnh Nghệ An phần lớn chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, phù hợp với độ nghiên của địa hình. Phần lớn sông ngòi của tỉnh nằm trong hệ thống sông Cả. Sông ngòi có giá trị đối với việc phát triển kinh tế – xã hội. Đó là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, là tuyến giao thông tiện lợi và ở mức độ nhất định là nguồn thủy điện phục vụ nội tỉnh. Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân. Bên cạnh nguồn nước trên mặt, nguồn nước ngầm ở Nghệ An tương đối phong phú, ước tính khoảng 42 tỷ m3 . Ngoài ra, Nghệ An cũng
    26. 45. 35 có nhiều nguồn nước khoảng nhưng chưa được khảo sát nhiều, trong đó suối nước nóng – nước khoáng Bản Khang (Quỳ Hợp) có chất lượng tốt, thuộc nhóm CO2 với lưu lượng 0,5l/s. Các nguồn khác ở Bản Hạt, Bản Đò, Bản Lạng (Quỳ Hợp), Cồn Soi (Nghĩa Đàn), Vinh Giang (Đô Lương) có thể khai thác để phục vụ du lịch. Về tài nguyên khoáng sản: Nghệ An có trữ lượng khoáng sản khá lớn, chủ yếu là vật liệu xây dựng, bao gồm: đá trắng với trữ lượng 310 triệu tấn tập trung ở các Huyện (Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quỳ Châu), đá vôi để sản xuất xi măng gần 4 tỷ tấn; đá vôi trắng trên 900 triệu tấn dọc theo (Hoàng Mai, Đô Lương, Anh Sơn, Tân Kỳ); đất sét làm nguyên liệu xi măng trên 1,2 tỷ tấn; sét làm gốm sứ cao cấp trên 5 triêu m3 ; đá Rionít xây dựng 500 triệu m3 ; đá bazan 260 triệu m3 ; đá ốp lát – đá Granit 150 triệu m3 , đá Mable 300 triệu m3 , vàng sa khoáng ở thượng nguồn sông Hiếu, sông Lam, cụ thể: Vàng có đến 15 điểm mỏ gồm có quặng gốc, sa khoáng phân bố trên các địa bàn Tương Dương, Con Cuông … trong đó riêng mỏ Tà Soi tại Quỳ Châu có trữ lượng dự báo 8.000kg; Đá quý ở huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu được đánh giá với tỷ lệ 1/50.000 trên diện tích 400km2 với trữ lượng dự báo 50 tấn; Thiếc phân bổ phần lớn ở các huyện miền Tây Nghệ An (Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong…) với trữ lượng đánh giá trên 82.000 tấn thiếc tinh luyện. Đặc điểm, các loại khoáng sản trên lại được phân bổ tương đối tập trung, có chất lượng cao, gần đường giao thông thuận lợi cho sản xuất xi măng, gốm sứ, gạch lát, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Về tiềm năng du lịch: Nghệ An có nhiều danh lam thắng cảnh, điển hình Vườn quốc gia Pù Mát, Rừng nguyên sinh Pù Huống, Pù Hoạt. là những kho tàng bảo tồn đa dạng sinh học hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước, có các thác đẹp nổi tiếng như thác Khe Kèm, thác Sao Va, … Nghệ An tiềm năng du lịch nhân văn với trên 1.000 di tích lịch sử văn hóa trong đó 130 di
    27. 47. 37 Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An, số doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động đã giảm được 24 doanh nghiệp (từ năm 2010 đến 2022) trong đó doanh nghiệp ở trung ương giảm 13 doanh nghiệp và doanh nghiệp nhà nước ở địa phương giảm được 11 doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh Nghệ An quản lý là doanh nghiệp nhà nước ở địa phương do vậy trong 5 năm từ 2011 đến năm 2022 tỉnh Nghệ An chỉ tỉnh giảm được 09 doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Nghệ An đã cổ phần hóa được 6 công ty TNHH MTV thành Công ty cổ phần nhà nước nắm giữ trên 51% vốn điều lệ. Thực hiện Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 28/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, tỉnh Nghệ An đã thoái vốn được 6 Doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần.
    28. 48. 38 Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2022 Đơn vị: doanh nghiệp Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Nghệ An 2022 Nhìn vào Bảng thống kế số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015 ta thấy rằng doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh đang có xu hướng giảm dần, năm 2010 trên địa bàn tỉnh có 111 Doanh nghiệp nhà nước (chiếm 2,35%), đến năm 2022 trên địa bàn tỉnh chỉ còn 87 doanh nghiệp nhà nước (chiếm 1,24%). Điều này cho thấy Nghệ An đang quyết tâm sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh, các doanh Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2022 DNNN 111 94 91 88 86 87 Trung ương 57 48 52 46 44 44 Địa phương 54 46 39 42 42 43 Doanh nghiệp ngoài nhà nước 4593 5798 6127 6245 6449 6894 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 18 28 33 32 32 47 Tỷ trọng % 100 100 100 100 100 100 DNNN 2,35 1,59 1,46 1,38 1,31 1,24 Trung ương 1,21 0,81 0,83 0,72 0,67 0,63 Địa phương 1,14 0,78 0,63 0,66 0,64 0,61 Doanh nghiệp ngoài nhà nước 97,27 97,94 98,02 98,11 98,2 98,09 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 0,38 0,47 0,52 0,51 0,49 0,67
    29. 49. 39 nghiệp nhà nước thuộc trung ương quản lý rút ra khỏi địa bàn tỉnh Nghệ An đến 13 doanh nghiệp. Ngoài ra số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2010 đến 2022 tăng 2301 doanh nghiệp, từ năm 2012 đến năm 2022 chỉ tăng 767 doanh nghiệp. Qua đó ta thấy được ở tỉnh Nghệ An từ năm 2012 đến năm 2022 tình hình tăng trưởng doanh nghiệp ngoài nhà nước rất ít so với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác trong nước. 2.2.2. Quy mô lao động Đến cuối năm 2014, các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh đã sử dụng 21.823 lao động, giảm gần 20% so với năm 2010, trung bình mỗi năm giảm gần 1.039 lao động (Bảng 2.2). Trong đó, các doanh nghiệp ngoài Nhà nước tạo nhiều công ăn việc làm và giải quyết lao động của tỉnh nhiều nhất (trung bình mỗi năm tăng thêm 6.555 người lao động) và có xu thế ngày càng tăng, góp phần đảm bảo thu nhập và việc làm cho lao động của tỉnh và lao động nhập cư. Ngoài ra, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở địa bàn tỉnh ngày càng phát triển, tuy số lượng không nhiều (năm 2014 có 32 doanh nghiệp) nhưng góp phần tạo việc làm cho lao động ở tỉnh tương đối nhiều, trung bình mỗi năm tăng thêm 1.874 người lao động.
    30. 50. 40 Bảng 2.2: Phân bổ lao động theo loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2014 Lao động đến 31/12 hàng năm (người) Năm 2010 2011 2012 2013 2014 DNNN 27 018 23 516 22 683 22 996 21 823 Trung ương 15 305 14 296 16 202 13 894 11 886 Địa phương 11 713 9 220 6 481 9 012 9 937 Doanh nghiệp ngoài nhà nước 105 051 124 506 128 465 136 972 137 825 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 3 865 8 298 10 300 15 104 19 237 Tỷ trọng % 100 100 100 100 100 DNNN 19,8 15,05 13,93 13,14 12,2 Trung ương 11,26 19,15 9,95 7,94 6,64 Địa phương 8,62 5,9 3,98 5,2 5,56 Doanh nghiệp ngoài nhà nước 77,27 79,65 79,99 78,24 77,05 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2,85 5,30 6,08 8,62 10,75 Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Nghệ An 2022 Nếu chia theo ngành kinh tế thì lao động tại các doanh nghiệp nông lâm thủy sản chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 1.5%). Sử dụng nhiều lao động nhất vẫn là các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 12.8% nhưng chiếm tỷ trọng 19.4% về lao động; Ngành xây dựng có số lượng doanh nghiệp chiếm 14.8% nhưng lao động chiếm 26.88%; Thương mại, khách sạn, nhà hàng có số doanh nghiệp chiếm tới 43.8% nhưng số lao động chỉ chiếm 23.28%.
    31. 51. 41 2.2.3. Quy mô vốn Bảng 2.3: Quy mô vốn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2014 Đơn vị: triệu đồng Năm 2010 2011 2012 2013 2014 DNNN 16 699 585 25 098 623 24 532 219 26 137 909 25 704 887 Trung ương 12 617 764 22 027 602 21 876 407 22 690 119 21 629 034 Địa phương 4 081 821 3 071 021 2 655 812 3 447 790 4 111 853 Doanh nghiệp ngoài nhà nước 53 152 897 75 312 368 93 210 505 113 596 000 135 538 000 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1 860 828 3 891 191 4 430 179 4 745 330 4 986 439 Tỷ trọng % 100 100 100 100 100 DNNN 23,28 24,06 20,08 18,09 15,48 Trung ương 17,59 21,12 19,91 15,7 13,01 Địa Phương 5,69 2,94 2,17 2,39 2,47 Doanh nghiệp ngoài nhà nước 74,12 72,2 76,92 78,63 81,52 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2,6 3,74 3,63 3,28 3,00 Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Nghệ An 2022 Số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm dần, tuy nhiên quy mô vốn doanh nghiệp nhà nước lại tăng lên cho thấy sự tăng trưởng đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương hoạt động trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2010 đến năm 2014, quy mô vốn doanh
    32. 52. 42 nghiệp nhà nước tăng 153,94%, trong đó, quy mô vốn tại các doanh nghiệp nhà nước thuộc Trung ương tăng 171,42%, doanh nghiệp nhà nước thuộc địa phương quản lý chỉ tăng 100,73%. Qua đó thấy rằng, các doanh nghiệp nhà nước thuộc trung ương đã tăng quy mô vốn đầu tư vào tỉnh Nghệ An, các doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh giảm mạnh (11 doanh nghiệp) nhưng vốn doanh nghiệp nhà nước vẫn có sự tăng trưởng nhẹ chứng tỏ tỉnh Nghệ An vẫn tăng cường đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nhà nước. 2.2.4. Doanh thu và hiệu quả sản xuất kinh doanh Số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh song doanh thu thuần của các doanh nghiệp nhà nước giảm không đáng kể. So với năm 2010, năm 2014 doanh thu thuần của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh giảm không đáng kể chỉ giảm 6,38%. Trong đó, doanh thu thuần doanh nghiệp nhà nước thuộc trung ương giảm 3,96%; doanh thu thuần doanh nghiệp nhà nước thuộc địa phương giảm 19,96%. Ngoài ra, khi so sánh với doanh thu thuần của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác, năm 2010 doanh thu thuần của các doanh nghiệp nhà nước chiếm 33,12% nhưng đến năm 2014 chỉ còn 16,77%. Qua đó cho thấy được các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác ngày càng phát triển và hoạt động có hiệu quả. Các doanh nghiệp nhà nước tuy giảm nhiều về số lượng nhưng doanh thu thuần giảm không nhiều cho thấy sự hoạt động có hiệu quản hơn của các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước thuộc trung ương, các doanh nghiệp nhà nước thuộc địa phương tuy có sự tăng trưởng về quy mô vốn nhưng doanh thu thuần tại các doanh nghiệp giảm tương đối nhiều.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Quản Trị Tài Chính Trong Doanh Nghiệp
  • Vấn Đề Quản Lý Chất Lượng Sản Phẩm
  • Vai Trò Của Quản Trị Chất Lượng Sản Phẩm Trong Doanh Nghiệp
  • Khuyến Cáo Tăng Cường Hiệu Quả Hoạt Động Của Phòng Quản Lý Chất Lượng Của Các Bệnh Viện
  • Bộ Nnptnt Lần Thứ 3 Yêu Cầu Tỉnh Cà Mau Dừng Thực Hiện Một Quyết Định
  • Quản Lý Nhà Nước Các Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Doanh Nghiệp Nhà Nước Có Vai Trò Quan Trọng Trong Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Xem Xét Lại Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Tìm Hiểu Nhiệm Vụ Và Chức Năng Của Công Ty
  • Để Doanh Nghiệp Nhà Nước Tiếp Tục Giữ Vững Vị Trí “đầu Tàu” Của Nền Kinh Tế
  • Nội Dung Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Và Đào Tạo Ở Nước Ta
  • Luật này đã đánh dấu tầm cao mới của tư duy về quản lý nhà nước. Một mặt nó cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh đã được quy định trong hiến pháp, mặt khác xác định những nguyên tắc của cơ chế quản lý mới theo hướng thúc đẩy khu vực kinh tế dân doanh phát triển.

    Mỗi tổ chức kinh tế, mỗi đoanh nghiệp từ khi bắt đầu thành lập cho đến suốt quá trình kinh doanh đều phải tuân thủ những quy định của pháp luật, mà cụ thể là Hiến pháp, các pháp lệnh, nghị định, thông tư…(thường được gọi chung là thế chế quản lý bao gồm cả thủ tục hành chính) và phải giao dịch với bộ máy quản lý hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức. Điều đó cũng có nghĩa là mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ máy hành chính; do đó, sự trong sáng, lành mạnh và hiệu quả quản lý của bộ máy này quyết định rất lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp.

    Thế nhưng, cho đến nay, thể chế quản lý nước ta còn nhiều nhược điểm mà các doanh nghiệp thường khái quát lại là “4 không”: không rõ ràng, minh bạch; không nhất quán (hay thay đổi); không thông suốt (trên thông thoáng, dưới bó lại); và không được thi hành nghiêm túc. Bộ máy vẫn còn cồng kềnh, trách nhiệm không rõ ràng, kém hiệu lực và hiệu quả (có tình trạng “trên nói, dưới không nghe”), giải quyết công việc thường trì trệ, kéo đài. Đội ngũ cán bộ, công chức còn những người thoái hóa, biến chất, gây không ít phiền hà, nhũng nhiễu đối với người dân và doanh nghiệp.

    Từ các nguyên tắc và nội dung về Nhà nước và doanh nghiệp, trong mối quan hệ quản lý, tiếp cận nghiên cứu là từ phía Nhà nước trong việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp, phải được thể hiện đồng thời 2 tính chất:

    – Vừa thực hiện quyền lực nhà nước trong giám sát kiểm tra doanh nghiệp và

    – Vừa phải phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp

    – Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, được thực hiện bằng bộ máy công cụ đồng bộ trong gắn kết phối hợp của Nhà nước.

    – Các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước, nói gọn là các cơ quan quản lý Nhà nước, phải thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước bằng quyền lực công cụ và bộ máy của Nhà nước, mà cụ thể là:

    + Phải chấp hành theo các cơ quan quyền lực Nhà nước cấp trên đã lập ra chính cơ quan quản lý Nhà nước đang thực hiện công vụ.

    + Điều hành, trên cơ sở chấp hành, để tổ chức thực hiện nội dung công việc quản lý Nhà nước.

    * Quản lý của Nhà nước phải phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp:

    – Tôn trọng quy luật hoạt động của thị trường: chức năng quản lý của Nhà nước chỉ là tạo môi trường pháp lý, hướng dẫn, điều tiết và xử lý vi phạm, chứ không làm thay chức năng kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng và tạo điều kiện cho khả năng tự điều chỉnh của thị trường.

    – Phát huy cơ chế tự kiểm tra giữa các chủ thể trong khi giao dịch và cơ chế tự kiểm soát của chính bản thân doanh nghiệp.

    – Trong quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp, tìm cách tháo gỡ khó khăn là nhiệm vụ chính, chế tài chỉ là bất đắc dĩ.

    – Công chức Nhà nước phải sâu sát cơ sở sản xuất và thị trường kinh doanh, chịu khó tiếp thu ý kiến, kịp thời nghiên cứu, nhanh chóng đề xuất với Nhà nước để ban hành kịp thời các cơ chế chính sách phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.

    Đặc biệt, sau khi đăng ký kinh doanh, Nhà nước quản lý các doanh nghiệp thông qua việc theo dõi các báo cáo tài chính hàng tháng, hàng quý của doanh nghiệp. Việc đổi mới tổ chức quản lý sẽ chỉ mang lại hiệu quả nếu như công tác quản lý có được năng lực vận hành các doanh nghiệp hoạt động theo nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán thực sự.

    Các doanh nghiệp ít nhất phải tuân thủ nghiêm túc theo các tiêu chuẩn tài chính kế toán và thống kê, mặt khác Nhà nước cũng cần có những thông tin bổ sung để tiến hành kiểm tra. Nếu như một doanh nghiệp không thể cung cấp được các số liệu này, thì đó là dấu hiệu chứng tỏ doanh nghiệp không đủ khả năng quản lý hoạt động kinh tế có hiệu quả.

    Nhà nước không quản lý hoạt động kinh doanh, vì vốn dĩ đó là chức năng của chủ doanh nghiệp. Nhưng quen với cách làm cũ, một số người cảm thấy luật “quá thông thoáng”, lo rằng doanh nghiệp sẽ lợi dụng làm bậy. Lẽ ra mọi người, nhất là cán bộ quản lý nhà nước, cần thấy rằng tuy doanh nghiệp có được nhiều quyền rộng thật, nhưng trách nhiệm của họ cũng rất nặng. Nếu vi phạm pháp luật sẽ bị xử phạt, nếu sai lầm trong kinh doanh sẽ phải trả giá đắt, có thể tới mức phá sản.

    Chính phủ phải đẩy mạnh cải cách nền hành chánh trong quản lý kinh tế một cách đồng bộ trên cả 3 mặt thể chế – bộ máy – công chức (con người):

    Một yêu cầu cấp bách đang được đặt ra là đổi mới kinh tế và cải cách hành chính phải gắn bó chặt chẽ với nhau, phải được tiến hành đồng thời, cùng một nhịp, lồng vào nhau, thậm chí hai việc như là một việc, nếu không, đổi mới không thể thành công. Cuộc cải cách hành chính phải chăng cần hướng vào doanh nghiệp mà xóa bỏ những gì gây phiền hà, trở ngại, gây thêm tốn kém về thời gian và gây tốn kém cho doanh nghiệp. Phải xây dựng cho được những thủ tục hành chính tạo thuận lợi nhiều nhất cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời vẫn đảm bảo được sự quản lý cần thiết của Nhà nước. Bộ máy hành chính của Nhà nước và công chức cũng phải được cải cách mạnh mẽ theo hướng đó.

    Không thể cứ để xẩy ra hoài những chuyện nghịch lý: đổi mới kinh tế đang được đẩy mạnh, có những chuyển động rất quan trọng trong thể chế quản lý, nhưng bộ máy quản lý Nhà nước và công chức chuyển đổi không kịp, đang trở thành vật cản đối với công cuộc đổi mới kinh tế. Bộ máy chưa sắp xếp lại theo yêu cầu của thể chế mới; không những thế, vẫn còn một số công chức lưu luyến cung cách quản lý cũ, gây phiền hà cho doanh nghiệp.

    Thực tế cho thấy đây là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, quyết liệt giữa đổi mới và ngược lại với đổi mới, là thời cơ và thách thức hết sức gay gắt đặt ra cho nền kinh tế. Trong khi Đảng và Nhà nước kêu gọi phát huy nội lực, giải phóng sức sản xuất, tạo môi trường kinh doanh, thì không thể cứ để tồn tại những cơ quan, những công chức vì lợi ích cục bộ hoặc cá nhân mà hành động trái ngược với quy định của luật pháp.

    Công chức trong bộ máy Nhà nước phải biết coi doanh nghiệp là những cơ sở làm ra của cải nuôi sống toàn xã hội, đóng thuế nuôi bộ máy Nhà nước, phải coi những doanh nhân là những người cần tôn vinh vì dũng cảm bỏ vốn liếng, tài năng, trí tuệ ra kinh doanh. Cần phải khắc phục tình trạng gây phiền hà, khó dễ, phân biệt đối xử giữa các loại doanh nghiệp.

    Cần loại trừ ngay những cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất đã làm biến dạng, làm sai lệch những chủ trương, chính sách hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước, như Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng nhiều lần phê phán, và càng không thể cứ chỉ để dừng lại ở việc phê phán: Bộ máy hành chính của ta trở thành “hành dân là chính”.

    Trong lúc này, cần phải đảm bảo kỷ cương, phép nước, khắc phục tình trạng cấp dưới không thực hiện quyết định của cấp trên, công chức không thi hành luật pháp.

    Xây dựng chính sách cải cách hành chính nhà nước cùng với đổi mới quản lý kinh tế

    Chính những yếu kém của nền hành chính Nhà nước đang là lực cản chủ yếu đối với công cuộc đổi mới kinh tế, cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương phát huy nội lực, làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy, quản lý Nhà nước cần chuyển dịch theo hướng:

    – Trao lại quyền quản lý sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp thực sự trở thành đơn vị sản xuất hàng hóa kinh doanh tự chủ, tự hạch toán lãi lỗ; bảo đảm cho doanh nghiệp của các thành phần kinh tế đều bình đẳng trong thị trường; đồng thời tăng cường sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của kinh tế vĩ mô;

    – Chuyển từ quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp, khắc phục tình trạng cơ quan nhà nước can thiệp cụ thể vào hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như kế hoạch kinh doanh, hoạt động đầu tư, phân phối lợi nhuận, tiền lương, tiền thưởng..; chuyển sang làm tốt các nhiệm vụ chủ yếu là định hướng, đề ra các thể chế, chính sách quản lý vĩ mô, làm tốt các công việc như quy hoạch, kế hoạch phát triển, kiểm tra, giám sát…

    – Chuyển từ quản lý theo bộ sang quản lý theo ngành nghề (mà lâu nay thường nói là xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản), xóa bỏ sự phân biệt doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương, cũng có nghĩa là mỗi bộ, ngành chuyển từ chỗ chỉ quản lý những doanh nghiệp thuộc bộ, ngành mình sang quản lý toàn ngành, phục vụ toàn ngành.

    Số lượng cán bộ thích hợp phải tùy thuộc vào quyết định về chức năng của tổ chức đó, nhưng điều chủ yếu là phải tạo ra một tổ chức quản lý có năng lực và không quan liêu.

    Cần tránh việc thuyên chuyển viên chức, cán bộ lãnh đạo các cơ quan nhà nước vào các DNNN, vì kỹ năng làm công tác cơ quan dân chính không giống với kỹ năng của người kinh doanh, phải hết sức cố gắng để phân biệt thật rõ hai loại nghề nghiệp này.

    Một hệ thống đánh giá công tác quản lý doanh nghiệp đầy đủ phải bao gồm một nguồn thông tin phù hợp đáng tin cậy và kịp thời theo các mẫu tiêu chuẩn hóa; mục tiêu, chỉ tiêu và các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá; một cơ chế kiểm tra khách quan để điều hành và đánh giá các kết quả; một tổ chức soạn thảo các quyết định tác động vào các vấn đề mới phát sinh; một chương trình đẩy mạnh quản lý.

    Cần phát triển luồng thông tin vận hành với hệ thống các số liệu kịp thời và chính xác theo một mẫu thuận lợi sử dụng cho các cơ quan kiểm tra của Nhà nước, đồng thời phải áp dụng các cách tính toán, phải đào tạo đội ngũ kế toán và cán bộ thanh tra.

    Muốn những chỉ tiêu này là tín hiệu thông tin rõ ràng, thì chỉ tiêu phải ít, không trùng lắp, và có thể tính toán được. Trong đó lợi nhuận là chỉ tiêu hùng hồn để xác định hiệu quả hoạt động, để phán đoán chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên lợi nhuận cũng chỉ là một chỉ tiêu vô nghĩa nếu doanh nghiệp không cạnh tranh hoặc cạnh tranh không đầy đủ (nếu doanh nghiệp phải chịu đựng các thứ giá hành chính áp đặt ở đầu vào và đầu ra, nếu có những mục tiêu khác biệt hoặc mâu thuẫn với việc tối đa hóa lợi nhuận – như các tiện ích công cộng và ngành vận tải hành khách chẳng hạn). Đánh giá kết quả hoạt động của các doanh nghiệp như vậy đòi hỏi phải có những kỹ thuật đặc biệt và cực kỳ quan trọng, bởi vì đối với một số doanh nghiệp thuộc loại lớn, có ảnh hưỏng kinh tế cao nhất hoặc thuộc loại DNNN công ích sẽ được Nhà nước hỗ trợ nhiều.

    * Một chế độ quy định dù chưa hoàn hảo hoặc chỉ quy định được phần nào về việc xác lập các chỉ tiêu đánh giá kết quả của doanh nghiệp thì vẫn tốt hơn là không có quy định nào. Nền kinh tế sẽ xảy ra sự trì trệ hoặc rối loạn, nếu Nhà nước không quan tâm tốt đến các doanh nghiệp của mình.

    * Một cách rất tốt đối với các DNNN là làm cho các giám đốc DNNN có trách nhiệm, là không tham gia hoặc can thiệp sâu vào các yếu tố thuộc thẩm quyền của giám đốc, tốt nhất là để cho giám đốc doanh nghiệp tự giải quyết các vấn đề phát sinh, còn Nhà nước giữ vai trò giám hộ.

    * Việc đánh giá kết quả vận hành quản lý không thể thay thế cho một thẩm định về khả năng tồn tại của doanh nghiệp nói chung, cũng không thể thay thế cho các thẩm định về chi phí, lợi nhuâïn của các khoản đầu tư mới vào doanh nghiệp.

    Tóm lại, Nhà nước nên quản lý thông qua việc tạo môi trường hoạt động cho doanh nghiệp trong một trật tự ổn định. Nếu Nhà nước quá chú trọng đến mục tiêu quản lý bằng sự kiểm soát và can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, thì sẽ là hành vi cản trở.

    Bài viết được trích dẫn từ đề tài “Củng cổ và hoàn thiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM”

    SOURCE: NỘI SAN KINH TẾ SỐ THÁNG 3 NĂM 2002 – VIỆN KINH TẾ TPHCM – Th.S. NGUYỄN THIỀNG ĐỨC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Định Rõ Quản Lý Nhà Nước Và Quản Trị Doanh Nghiệp
  • Đề Án Quản Lý Nhà Nước Về Du Lịch
  • Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Và Hiệu Quả Hoạt Động Của Ubnd Xã Quỳnh Bảng, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Khái Niệm, Phân Loại Và Chức Năng Của Văn Bản Quản Lý
  • Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Nhóm Giải Pháp Đẩy Mạnh Quản Lý Vốn Nhà Nước Tại Doanh Nghiệp Và Cổ Phần Hóa Dnnn
  • Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường
  • Chính Phủ Đưa Ba Nhóm Giải Pháp Thúc Đẩy Quản Lí Vốn Nhà Nước Tại Doanh Nghiệp, Cổ Phần Hóa Dnnn
  • Vai Trò Của Quản Trị Nguồn Nhân Lực Trong Doanh Nghiệp
  • Doanh Nghiệp Bàn Giải Pháp Quản Trị Nhân Sự Trong Và Sau Dịch
  • (QLNN) – Phát triển doanh nghiệp xã hội là xu hướng phát triển chung của thế giới, khi các doanh nghiệp xã hội dần thay thế các tổ chức, đơn vị làm từ thiện đơn thuần trong việc bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Để các doanh nghiệp xã hội phát triển, Nhà nước cần tăng cường quản lý thông qua việc xây dựng hành lang pháp lý, có chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xã hội và sản phẩm theo hướng phát triển bền vững. Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

    Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp xã hội (DNXH) lần đầu tiên được quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp (DN) năm 2014. Theo đó, DNXH là DN được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của DN để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.

    Năm 2022, số lượng doanh nghiệp (DN) hoạt động thực tế đạt tiêu chí là DNXH rất lớn, chiếm 10,2% tổng số DN cả nước 1. Tuy nhiên, tính đến tháng 5/2018, các DNXH đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại có số lượng rất nhỏ so với cộng đồng DN truyền thống (32/561.064 DN) và so với số lượng DNXH đang hoạt động trên thực tế 2. Đa số các DNXH có quy mô vừa và nhỏ và siêu nhỏ. Các DN này đã và đang có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm cho những người yếu thế cũng như góp phần bảo vệ môi trường, đặc biệt tại các khu bảo tồn thiên nhiên.

    Thứ nhất, về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) đối với DNXH ở Việt Nam.

    Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trực tiếp là Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh là đơn vị đầu mối thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện QLNN đối với các DNXH trên địa bàn cả nước. Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh quản lý trực tiếp Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN, trong đó tất cả các DNXH phải đăng ký, công bố công khai hồ sơ DN và Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường trên Cổng thông tin này. Các bộ, ngành trung ương khác căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện QLNN đối với các DNXH theo thẩm quyền. Ví dụ, Bộ Tài chính thực hiện chức năng QLNN về thuế, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chức năng QLNN về chất lượng sản phẩm, dịch vụ,…

    Thực tế cho thấy, tổ chức bộ máy QLNN đối với DNXH hiện chưa bảo đảm yêu cầu tập trung các nguồn lực để hỗ trợ khuyến khích DNXH phát triển. Hơn nữa, có quá nhiều cơ quan cùng quản lý DNXH và đều có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách. Bên cạnh đó, các tỉnh chưa có quy chế phối hợp công tác giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và giữa các cơ quan này với UBND cấp huyện trong việc theo dõi, giám sát, hỗ trợ các DNXH triển khai cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của mình.

    Thứ hai, về khung pháp lý và cơ chế, chính sách phát triển DNXH Việt Nam.

    Do mới được công nhận vài năm gần đây nên đến nay, Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách riêng phù hợp với sự phát triển, với mô hình của DNXH, chưa có quỹ tài chính hỗ trợ tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, chưa có cơ chế ưu đãi cho các DNXH được tiếp cận chính sách mua sắm công và phát triển nguồn nhân lực. Chính vì vậy, mặc dù nhiều tổ chức, đơn vị có đủ điều kiện nhưng vẫn chưa đăng ký hoạt động theo mô hình DNXH (đến tháng 5/2018, mới có 32 DNXH đăng ký theo Luật trên tổng số khoảng 6.000 tổ chức, đơn vị đang hoạt động như các DNXH trên thực tế) 3.

    Các DNXH hiện chỉ được hưởng chính sách ưu đãi như các DN bình thường khác theo quy định của Luật DN năm 2014. Ngoài ra, các DNXH quy mô vừa và nhỏ có thể được hưởng thêm các ưu đãi theo Luật Hỗ trợ DN vừa và nhỏ năm 2022, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DN vừa và nhỏ với các chính sách đặc thù, như đầu tư trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, bảo vệ môi trường, đầu tư tại địa bàn miền núi hay cho nhóm đối tượng yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa,…). Còn các DNXH hoạt động trong lĩnh vực xã hội và môi trường có thể được hưởng các chính sách ưu đãi theo Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường.

    Thứ ba, về thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công cho các DNXH.

    Hiện nay, thủ tục đăng ký kinh doanh đối với các DNXH được thực hiện theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ, Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/5/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư một cách tương đối thuận lợi, minh bạch. Các thủ tục hành chính gắn kết chặt chẽ với việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong công tác đăng ký kinh doanh.

    Tuy nhiên, để bảo đảm cho các hoạt động đi vào nền nếp và thông suốt, cần xây dựng và vận hành Cổng thông tin quản lý hoạt động DNXH quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất về DNXH giữa trung ương và địa phương, đáp ứng cơ bản yêu cầu của công tác QLNN về DNXH, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNXH và khả năng cạnh tranh quốc gia.

    Thứ tư, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về vị trí, vai trò của DNXH trong phát triển bền vững kinh tế – xã hội quốc gia.

    Nhìn chung, nhận thức của xã hội và hầu hết các cơ quan QLNN về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của DNXH trong phát triển bền vững kinh tế – xã hội còn rất hạn chế, thậm chí nhiều đơn vị, cá nhân không nắm được có loại hình DN này trong Luật DN năm 2014, không hiểu rõ về bản chất và mục đích của các DNXH. Công tác tuyên truyền, phổ biến về vị trí, vai trò của DNXH trong đời sống kinh tế – xã hội nước ta hiện nay chủ yếu mới chỉ dưới hình thức là tổ chức các hội thảo quốc tế với sự tham dự của các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường ở một số khu bảo tồn thiên nhiên, như: UNESCO, IUCN, MAB… hoặc ở một số khu vực vùng sâu, vùng xa, biển đảo với sự hỗ trợ của Hội đồng Anh (vương quốc Anh) nhằm mục tiêu chính là nâng cao nhận thức trong các cơ quan QLNN…

    Thứ năm, về hợp tác quốc tế trong việc phát triển DNXH.

    Nhiều hoạt động hợp tác quốc tế với các hình thức khác nhau đã được triển khai, như: Dự án hợp tác nghiên cứu DNXH tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh và chính sách năm 2012 giữa Hội đồng Anh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng (CSIP). Năm 2022, Hội đồng Anh tiếp tục phối hợp với Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân thực hiện dự án Điển hình DNXH tại Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng phát triển của DNXH Việt Nam sau khi mô hình này được pháp luật công nhận năm 2014. Ngoài ra, còn nhiều tổ chức quốc tế khác, như: UNESSCO, IUCN, MAB đang tích cực hợp tác với các đơn vị, địa phương để phát triển DNXH tại các khu vực bảo tồn thiên nhiên…

    Hiện nay, hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam chủ yếu thực hiện trên phương diện hợp tác giữa các tổ chức quốc tế với các tổ chức, đơn vị ở Việt Nam nhằm góp phần thúc đẩy, hình thành các DNXH và hỗ trợ DNXH trong quá trình hoạt động. Để hỗ trợ phát triển DNXH Việt Nam nhanh, bền vững, cần đẩy mạnh sự hợp tác ở cấp Chính phủ với các nước phát triển, các tổ chức tài chính lớn như IMF, Worlbank trong lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường và cải cách chính sách mua sắm công.

    Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xã hội

    Từ những phân tích về thực trạng công tác QLNN đối với DNXH ở trên, để DNXH tiếp tục phát triển bền vững và đúng hướng, cần tăng cường công tác này đối với DNXH theo hướng sau:

    Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của DNXH Việt Nam trong phát triển bền vững kinh tế – xã hội quốc gia. Nhà nước cần sớm xây dựng, ban hành kế hoạch truyền thông cấp quốc gia và cấp tỉnh với nhiều hình thức khác nhau, hiệu quả và phù hợp, đặc biệt khuyến khích tổ chức các hội thảo, tham quan học tập kinh nghiệm, xây dựng DNXH điển hình, giới thiệu, quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại chúng để thông tin, phổ biến và giải thích về mô hình DNXH, về vai trò, vị trí của DNXH trong phát triển bền vững, đặc biệt tại các khu bảo tồn thiên nhiên, khu vực vùng sâu, vùng xa và biên giới, hải đảo.

    Hai là, hoàn thiện chính sách, pháp luật về QLNN theo hướng xây dựng hệ thống sinh thái cho DNXH phát triển trong cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0. Nhà nước cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành theo nguyên tắc tiếp cận hệ thống để xây dựng được môi trường đồng bộ, thuận lợi cho DNXH phát triển, bảo đảm yêu cầu cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh quốc tế của các DN nói chung, DNXH nói riêng trong xu thế phát triển của thế giới về thương mại điện tử (TMĐT) và bối cảnh CMCN 4.0.

    Theo đó, sớm sửa đổi Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 để bảo đảm sự quản lý, giám sát có hiệu quả của Nhà nước đối với hệ thống dữ liệu, thanh toán điện tử, bảo đảm an ninh, an toàn và bảo mật thông tin. Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2013 để đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nâng cao trách nhiệm của DNXH trong hoạt động TMĐT và kinh doanh khác. Sửa đổi Luật Đấu thầu năm 2014 theo hướng có quy định các tiêu chí cho phép các DNXH được ưu tiên tiếp cận chính sách mua sắm công và đầu tư công của Chính phủ. Hoàn thiện các thiết chế bảo đảm yêu cầu chống độc quyền trong hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ sớm triển khai thực hiện hiệu quả Luật Cạnh tranh năm 2022.

    Ba là, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển DNXH. Theo đó, hỗ trợ có hiệu quả DNXH nâng cao năng lực ứng dụng TMĐT, mở rộng thị trường bằng việc đẩy nhanh tiến trình đàm phán, ký kết và thực thi các Hiệp định thương mại tự do; hỗ trợ phát triển và ứng dụng các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới trong TMĐT nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNXH. Hỗ trợ phát triển thị trường, thông tin thị trường. Hỗ trợ về cơ chế tài chính, thủ tục hành chính về thuế, hải quan, kho bạc… cho các DNXH. Thành lập Quỹ phát triển DNXH; xây dựng cơ chế phối hợp trao đổi, hướng dẫn trực tuyến giữa cơ quan QLNN với các DNXH một cách hiệu quả.

    Bốn là, nâng cao năng lực QLNN đối với DNXH. Sớm thành lập Ủy ban quốc gia phát triển DNXH để thống nhất quản lý, hỗ trợ các DNXH. Ủy ban này là đầu mối quản lý giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển DNXH, xây dựng cơ chế hỗ trợ, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp vì xã hội, đổi mới sáng tạo vì xã hội để phát triển các DNXH.

    Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các DNXH trong hội nhập quốc tế và bối cảnh CMCN 4.0. Nâng cao năng lực quản lý hoạt động TMĐT của các cơ quan QLNN nhằm bảo đảm cho hoạt động giao dịch của các DNXH trong TMĐT bình đẳng, minh bạch. Tăng cường tính phản biện cơ chế, chính sách từ các DNXH để kịp thời có những điều chỉnh phù hợp, hiệu quả về sự hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước đối với sự phát triển của DNXH.

    Sớm thành lập Hiệp hội phát triển DNXH Việt Nam nhằm mục đích: (1) hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các DNXH; (2) giữ vai trò cầu nối giữa DNXH với các cơ quan chức năng; (3) thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế với các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực DNXH trên thế giới; (4) tăng cường hội nhập với các hoạt động của các Hiệp hội trong nước, trong khu vực và quốc tế theo quy định của pháp luật; (5) thúc đẩy hoạt động đào tạo, nghiên cứu thông tin báo chí, xúc tiến thương mại, kinh doanh dịch vụ và ứng dụng đổi mới công nghệ.

    Năm là, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nâng cao năng lực quản lý điều hành cho các DNXH và phát triển nguồn nhân lực cho DNXH.

    Xây dựng một đội ngũ nhân lực có kỹ năng quản lý, nắm vững hoạt động nghiệp vụ trong TMĐT, sử dụng máy tính, trao đổi thông tin một cách thành thục trên mạng internet, có những hiểu biết cần thiết về thương mại quốc tế, luật pháp, ngoại ngữ với các biện pháp như: thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực cho DNXH, đặc biệt là đào tạo kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho các DNXH. Xây dựng, thực hiện kế hoạch hằng năm (kinh phí từ ngân sách nhà nước là chủ yếu) hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các DNXH.

    Có cơ chế, chính sách hữu hiệu thu hút, sử dụng nhân tài vào làm công tác quản lý ở các DNXH, đặc biệt đối với các DNXH công nghệ cao để phát triển công nghệ mới. Có cơ chế, chính sách phù hợp, nhanh chóng phát triển thị trường lao động có chất lượng cao, đặc biệt nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo đại học, cơ sở nghề hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực của các DNXH.

    Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế phát triển DNXH. Theo đó, tập trung vào một số nội dung sau:

    – Hợp tác quốc tế ở cấp Chính phủ, trong đó Chính phủ đàm phán ký thỏa thuận với các nước có DNXH phát triển như Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Thái Lan để hỗ trợ tăng cường năng lực hoạch định chính sách, năng lực QLNN về DNXH ở Việt Nam hoặc triển khai các dự án cấp quốc gia phát triển DNXH.

    – Hợp tác quốc tế giữa các bộ, ngành và địa phương với các tổ chức quốc tế như UNESCO, Hội đồng Anh nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của DNXH trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, thực hiện các dự án thí điểm và đặc biệt hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các DNXH.

    – Hợp tác quốc tế giữa các đơn vị, tổ chức và DNXH của Việt Nam với các tổ chức quốc tế, DNXH, Quỹ phát triển DNXH các nước khác qua hình thức tổ chức các hội thảo, tham quan học tập các mô hình DNXH điển hình trên thế giới, trao đổi kinh nghiệm quản lý giữa các DNXH, chuyển giao các mô hình kinh doanh hiệu quả, giới thiệu sản phẩm và phát triển thị trường cho DNXH Việt Nam.

    Bảy là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phát triển dịch vụ công đối với DNXH. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin đối với quá trình giải quyết thủ tục hành chính, đặc biệt xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin đối với thủ tục hành chính. Phát triển các dịch vụ công trực tuyến trong giao dịch TMĐT của DNXH. Đồng thời, đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công như hải quan điện tử, kê khai thuế và nộp thuế; đăng ký kinh doanh, giải quyết tranh chấp… trên mạng internet.

    Tám là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong việc giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm trong hoạt động của DNXH. Quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan QLNN chuyên ngành trong quản lý hoạt động của DNXH cấp tỉnh để bảo đảm các DNXH thực hiện đúng Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường của mình.

    1. British Council. Điển hình doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam, ngày 03/6/2018.

    2, 3. Tính toán của tác giả dựa trên số liệu tại Công văn số 154/ĐKKD-TTHT ngày 14/6/2018 về cung cấp thông tin doanh nghiệp xã hội của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

    ThS. Khoa Anh Thắng

    Ngân hàng TMCP Quân đội – chi nhánh Thanh Xuân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Xuất Một Giải Pháp Cải Cách Quản Lý
  • Các Địa Phương Tìm Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Kt
  • Hướng Về Đại Hội Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng:cần Có Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Kinh Tế
  • Cần Những Giải Pháp Đột Phá Để Quảng Trị Có Thêm Lợi Thế Cạnh Tranh Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Cà Mau Cần Có Giải Pháp Đột Phá Để Đảm Bảo Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Giải Pháp Quản Lý Tài Sản Công Đối Với Các Tổ Chức Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Quản Lý Hiệu Quả Tài Sản Công
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cp Đào Tạo Và Chuyển Giao Công Nghệ Cao Bách Khoa
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cổ Phần Đào Tạo Và Chuyển Giao Công Nghệ Cao Bách Khoa
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tài Chính Tại Việt Nam
  • Tiểu Luận Các Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Tài Chính Tại Việt Nam
  • Đối với các tổ chức Nhà nước thì tài sản công chính là nguồn lực quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận hành và công tác quản lý đất nước. Vì vậy, một phần mềm quản lý tài sản công chính là giải pháp hiệu quả nhất ngay lúc này để tránh lãng phí và ngăn chặn vấn nạn tham nhũng gây ảnh hưởng đến nguồn lực quốc gia.

    Tài sản công là gì?

    Luật Quản lý và Sử dụng tài sản công định nghĩa: Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

    Theo đó, tài sản công bao gồm:

      • Tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
      • Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
      • Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp.
      • Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối Nhà nước.
      • Đất đai và các loại tài nguyên khác.

    Quản lý tài sản công là việc quản lý tất cả tài sản theo quy định của pháp luật bằng các công cụ hỗ trợ và điều phối tài sản sao cho đạt được mục tiêu đã đề ra như kế hoạch. Theo đó, công tác quản lý tài sản này sẽ gồm các công việc sau:

      • Đảm bảo thực hiện theo nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý và sử dụng tài sản công.
      • Quản lý các hoạt động của tài sản gồm: mua sắm, bàn giao, thu hồi, chuyển đổi công năng, thanh lý,…
      • Kiểm tra và giám sát: thanh tra, kiểm kê, báo cáo tình trạng tài sản, theo dõi quá trình sử dụng, xử lý các vi phạm, kiến nghị,…

    Có thể thấy, công tác quản lý tài sản chung sẽ yêu cầu cao về tính minh bạch cũng như đòi hỏi tính chính xác cao trong công tác kê khai và khấu hao tài sản. Vì vậy, sử dụng phần mềm quản lý tài sản chính là xu hướng phát triển tất yếu hiện nay không chỉ dành cho doanh nghiệp mà còn được cơ quan Nhà nước lựa chọn.

    Vì sao các tổ chức Nhà nước cần phải trang bị phần mềm quản lý tài sản công?

      • Do phạm vi rộng nên công tác quản lý tài sản công thường được phân công cho nhiều người phụ trách. Mỗi nhà quản lý lại có một cách quản lý riêng, dẫn đến sự bất đồng bộ khi tổng hợp thông tin và kiểm kê tài sản.
      • Tính chủ động và tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng kinh phí mua sắm tài sản của nhiều cá nhân còn chưa cao.
      • Đa số các cơ quan Nhà nước đều sử dụng phương pháp quản lý thủ công (quản lý bằng hồ sơ giấy hoặc cập nhật thủ công bằng file excel) nên ảnh hưởng phần nào đến tính chính xác, tốc độ kiểm kê cũng như khả năng lưu trữ tài sản.
      • Không có hệ thống chuẩn hóa đồng bộ nên quá trình bàn giao công tác quản lý cho người mới cũng mất nhiều thời gian hơn.
      • Bộ máy tổ chức và quản lý tài sản công chưa mạnh và cần có một giải pháp hỗ trợ quản lý để đảm bảo tính minh bạch và phục vụ công tác kiểm kê, thanh tra.

    Phần mềm quản lý tài sản công mang lại những lợi ích gì?

    Loại bỏ những sai sót của công tác quản lý truyền thống

    Phần mềm theo dõi tài sản công sẽ hỗ trợ cập nhật tình trạng tài sản một cách chính xác và minh bạch nhất. Điều này giúp loại bỏ những sai sót và tiêu cực của hình thức quản lý theo phương pháp truyền thống.

    Ví dụ: Một cá nhân phụ trách việc quản lý và kiểm kê tài sản của trường học đã tự ý thay đổi thông tin và khai báo thanh lý một máy tính của nhà trường để phục vụ mục đích cá nhân, trong khi máy hoàn toàn mới. Điều này được diễn ra trót lọt mà không hề có bất kỳ sự nghi ngờ nào từ ban quản lý nhà trường bởi từ trước tới giờ họ hoàn toàn không nắm được tình trạng tài sản. Bên cạnh đó, tất cả thông tin đều do người quản lý tài sản nắm giữ và kiểm soát nên việc kiểm tra cũng sẽ khó mà phát hiện được.

    Kiểm soát tài sản tồn kho tốt hơn

    Quản lý hàng tồn kho có thể không phải là một nhiệm vụ khó khăn nhưng trên thực tế, nó rất phức tạp bởi phải luôn duy trì sự cân bằng của hàng tồn kho. Nhưng với phần mềm theo dõi tài sản, nhà quản trị có thể nhận được tất cả các báo cáo và thông tin chi tiết giúp giải quyết bài toán khó này một cách dễ dàng.

    Hơn nữa, một số phần mềm cho phép thiết lập mức tồn kho. Có nghĩa là, khi lượng hàng tồn kho giảm hoặc tăng tới hạn mức nhất định thì hệ thống sẽ thông báo cho người phụ trách để đưa ra biện pháp xử lý kịp thời (thanh lý hoặc mua mới).

    Tránh thất lạc tài sản

    Tài sản bị đánh cắp, mất mát và thất lạc là một trong số những lý do quan trọng khiến các tổ chức cần đến sự hỗ trợ của phần mềm quản lý tài sản công. Khi thiết bị không được tìm thấy thì thời gian của nhân viên sẽ bị lãng phí và ảnh hưởng đến năng suất làm việc.

    Phần mềm theo dõi tài sản sẽ theo dõi tình trạng tài sản ở từng thời điểm, giúp người quản lý kiểm soát tài sản được tốt hơn và hạn chế thất lạc đến mức tối thiểu. Hơn nữa, phần mềm còn giúp làm tăng khả năng hiển thị tài sản và giảm nguy cơ trộm cắp tài sản công.

    Phân bổ tài sản hợp lý

    Phần mềm quản lý tài sản giúp đảm bảo không có sự trùng lặp dữ liệu nào xảy ra, phục vụ cho công tác điều chuyển tài sản diễn ra thuận lợi và chính xác nhất. Một lý do nữa chính là tổ chức có thể kiểm soát được những đơn vị nào đang thừa hoặc thiếu tài sản để có thể đưa ra phương án điều phối nhanh và hiệu quả nhất.

    Lên lịch bảo trì tài sản

    Ví dụ như khi nhân viên phụ trách quên lần bảo trì cuối cùng được thực hiện là khi nào, dẫn đến việc bảo trì tài sản bị trì trệ, gây ảnh hưởng đến tuổi thọ và công năng của tài sản.

    Khi có phần mềm theo dõi tài sản, hệ thống sẽ tự động thông báo về lịch bảo trì theo tháng, quý hoặc năm để người quản lý dễ dàng đưa ra kế hoạch bảo trì hợp chuẩn xác nhất.

    Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại các trường học và cơ sở giáo dục

    Các trường học lớn với lượng tài sản công khủng sẽ rất cần đến một phần mềm quản lý tài sản chất lượng!

    Đối với những cơ sở giáo dục và trường học (gọi chung là đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập) thì sẽ tự chịu trách nhiệm về công tác quản lý và sử dụng tài sản công theo đúng quy định của pháp luật, dưới sự giám sát và theo dõi chặt chẽ từ cơ quan chuyên trách. Theo đó, các đơn vị này sẽ được toàn quyền trong việc đề xuất mua mới, sử dụng và điều chuyển tài sản sao cho đảm bảo tính minh bạch và tiết kiệm ngân sách nhất. Điều này đòi hỏi nhà quản trị cần phải thật chuẩn xác trong việc quản lý và theo dõi tài sản bởi chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy không đáng có.

    Phần mềm quản lý tài sản rất hữu ích trong việc đảm bảo tính minh bạch trong công tác quản lý và đảm bảo tuân thủ đúng các quy tắc và quy định pháp luật. Đây chính là giải pháp tối ưu nhất giúp các đơn vị sự nghiệp giáo dụng đào tạo công gỡ rối trong công tác quản lý và kiểm kê tài sản.

    Quản lý tài sản chuẩn xác và minh bạch hơn với sự trợ giúp của gAMSPro

    Trên thị trường hiện nay có nhiều phần mềm hỗ trợ công tác quản lý tài sản công. Tuy nhiên, đối với những tổ chức trực thuộc Nhà nước thì sẽ yêu cầu cao hơn về tính chính xác cũng như tính minh bạch trong khấu hao và kiểm kê tài sản.

    Với kinh nghiệm hợp tác và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn, cũng như là đối tác của nhiều trường đại học hàng đầu tại Việt Nam, gAMSPro tự hào là công ty cung cấp phần mềm quản lý tài sản uy tín và chất lượng nhất trên thị trường hiện nay.

    Không chỉ đảm bảo hiệu quả quản lý tài sản, gAMSPro còn hỗ trợ các tổ chức, cơ quan Nhà nước tối ưu hóa công tác đánh giá, kiểm kê, quản lý mua sắm, mua sắm tập trung,… Từ đó giảm tải được khối lượng công việc cũng như giúp tiết kiệm thời gian và chi phí thuê nhân sự phụ trách.

    Liên hệ ngay Hotline 0913 509 979 để được tư vấn và đặt lịch demo phần mềm HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ!

    Công ty TNHH Phần Mềm Hoàn Cầu GSOFT

    Địa chỉ:

      • Tầng 6 – 7 – 8, 235 Lý Thường Kiệt, Phường 6, Quận Tân Bình, Tp. HCM.
      • Tòa nhà GSOFT, 177B Trần Văn Đang, Phường 11, Quận 3, Tp.HCM.
      • Tầng 7 tòa nhà Việt Á, Số 9 phố Duy Tân, P. Dịch Vọng Hậu, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Sản Công Là Gì? Vấn Đề Quản Lý Tài Sản Công Theo Quy Định
  • Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Tài Sản Cố Định Trong Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Theo Dõi Và Quản Lý Tài Sản
  • Giải Pháp Quản Lý Tài Sản Nợ
  • Luận Văn Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Công Tác Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cơ Khí Thương Mại Hoàng Nam
  • Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Phủ Đưa Ba Nhóm Giải Pháp Thúc Đẩy Quản Lí Vốn Nhà Nước Tại Doanh Nghiệp, Cổ Phần Hóa Dnnn
  • Vai Trò Của Quản Trị Nguồn Nhân Lực Trong Doanh Nghiệp
  • Doanh Nghiệp Bàn Giải Pháp Quản Trị Nhân Sự Trong Và Sau Dịch
  • Định Hướng Và Giải Pháp Cơ Bản Tiếp Tục Đổi Mới Tổ Chức Quản Lý Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Cơ Cấu Lại Doanh Nghiệp Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Theo Điều 3 của Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp Nhà nuớc, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty hợp danh. Sự hình thành và phát triển DNNVV ngày càng tăng về số lượng bởi lẽ DNNVV có nhiều lợi thế trong hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Nhưng lợi thế của DNNVV có thể kể đến như DNNVV cần vốn ít, lao động không nhiều, dễ quản lý nên dễ dàng khởi sự; có thể tận dụng dễ dàng mọi nguồn lực trong xã hội cho yêu cầu phát triển; dễ linh hoạt về thời gian giao hàng và giá cả nên dễ giao dịch; có tính linh động, có tính phản ứng nhanh trước sự chuyển biến mạnh về sản phẩm, dịch vụ, quy trình sản xuất và thị trường. Chính vì vậy, DNNVV đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của một quốc gia, tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội. Ở các nước phát triển, số lượng DNNVV thường chiếm từ 90 – 95% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế và giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động. Chẳng hạn các DNNVV của Thụy Điển đã tạo việc làm cho hơn 60% người lao động, tỷ lệ này ở Nhật là 66,9%, Đài loan là 78%, Chi Lê là 70,3%. Tác dụng tạo việc làm của các DNNVV trong thời kỳ kinh tế suy thoái tựa như một “chiếc van an toàn” để điều chỉnh kinh tế vĩ mô nền kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực của các cuộc khủng hoảng kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 140.000 DNNVV, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26-27% GDP, 31% sản lượng công nghiệp, 67% nguồn thu ngân sách từ thuế và việc làm cho 26% tổng số lao động cả nước. Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao đạt 13,05% giai đoạn 2001- 2006, bằng 1,8 lần so tốc độ tăng trưởng của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa. Năm 2006, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 57,4%, dịch vụ chiếm 28,9% và nông-lâm-thủy sản chiếm 13,7%. Sự tăng trưởng kinh tế cao cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực ở tænh Đồng Nai có sự đóng góp đáng kể của các DNNVV. Chính vì vai trò quan trọng đối với nền kinh tế cho nên trong thời gian vừa qua, khối doanh nghiệp này cũng đã được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển mạnh mẽ bằng nhiều chủ trương, chính sách, cùng với sự hỗ trợ tích cực của chính quyền địa phương các cấp, các ngành. Tuy nhiên, trên thực tế các DNNVV còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình hoạt động, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới. DNNVV tuy nhiều về số lượng nhưng chỉ đóng góp khoảng 25% GDP, từ 6 – 7% kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho trên 117.000 lao động, đóng góp 25% thu ngân sách Nhà nước, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của mình. Các DNNVV hiện đang phát triển thiếu định hướng, mất cân đối và phân bổ không đồng đều, trái ngược với những ưu thế vốn có. Sự khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường của DNNVV, một phần xuất phát từ năng lực nội tại yếu kém, như quy mô vốn còn nhỏ bé, thiết bị công nghệ còn lạc hậu, năng lực quản lý còn hạn chế . Mặt khác, do sự quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa tạo môi trường thông thoáng cũng như sự hỗ trợ cần thiết cho DNNVV phát huy đầy đủ vai trò và lợi thế của mình đóng góp ngày càng nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Nhóm Giải Pháp Đẩy Mạnh Quản Lý Vốn Nhà Nước Tại Doanh Nghiệp Và Cổ Phần Hóa Dnnn
  • Một Số Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Xã Hội
  • Đề Xuất Một Giải Pháp Cải Cách Quản Lý
  • Các Địa Phương Tìm Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Kt
  • Hướng Về Đại Hội Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng:cần Có Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Kinh Tế
  • Bàn Giao Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Nghề Nghiệp Đối Với Các Trường Cao Đẳng, Trường Trung Cấp Chuyên Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Để Hoạt Động Trung Tâm Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Giám Đốc Trung Tâm Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Giáo Dục Quốc Phòng Đối Với Câu Lạc Bộ Hàng Không Việt Nam
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Phòng Giáo Dục Phổ Thông
  • Ngày 09/11/2016, tại trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo đã diễn ra Lễ bàn giao chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đối với các trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (trừ các trường sư phạm) từ Bộ Giáo dục và Đào tạo sang Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

    Về phía Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có: ông Đào Ngọc Dung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng; ông Huỳnh Văn Tí, Thứ trưởng; ông Nguyễn Hồng Minh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Dạy nghề cùng Lãnh đạo các Vụ, đơn vị cơ quan của Bộ, Tổng cục Dạy nghề.

    Bộ trưởng Đào Ngọc Dung phát biểu tại Lễ bàn giao

    Thay mặt Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thứ trưởng Bùi Văn Ga báo cáo tóm tắt 06 nội dung nội dung sẽ bàn giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và đề xuất thống nhất xử lý các công việc trong giai đoạn chuyển tiếp, gồm:

    – Về đào tạo: những sinh viên cao đẳng tuyển sinh từ khóa năm 2022 trở về trước được tiếp tục học chương trình cao đẳng hiện hành cho đến khi kết thúc khóa học, được cấp bằng cao đẳng theo quy định. Những sinh viên tuyển sinh từ khóa năm 2022 trở đi được cấp bằng cao đẳng theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp;

    – Về liên thông trung cấp chuyên nghiệp – cao đẳng – đại học: những học sinh, sinh viên trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng tuyển sinh từ năm 2022 trở về trước nếu có đủ điều kiện theo qui định hiện hành thì được tạo điều kiện để học liên thông lên đại học nếu có nguyện vọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ điều chỉnh chỉ tiêu liên thông của các trường đại học để có thể tuyển sinh đào tạo liên thông trung cấp chuyên nghiệp – cao đẳng – đại học cho các đối tương này. Việc đào tạo liên thông đối với học sinh, sinh viên thuộc giáo dục nghề nghiệp tuyển từ năm 2022 trở đi sẽ thực hiện theo quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ.

    Tại Lễ bàn giao, Tổng Cục trưởng Nguyễn Hồng Minh đã phát biểu và đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chủ trì xây dựng quy định về khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông mà người học phải tích lũy để học trình độ cao đẳng (theo khoản 4 Điều 33 Luật giáo dục nghề nghiệp.

    Tại lễ bàn giao, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ và Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung khẳng định hai Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ để xử lý các công việc kỹ thuật, hành chính cũng như hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn chuyển giao trên cơ sở nguyên tắc tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh, sinh viên và cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

    Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng nhấn mạnh: thời điểm giải quyết các công việc phải trên cơ sở quy định của pháp luật, việc thống nhất xử lý các công việc trong giai đoạn chuyển tiếp như tuyển sinh, tổ chức đào tạo, liên thông… phải đặt quyền lợi của người học lên trên hết; cần phải tiếp tục hướng dẫn công tác bàn giao chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại các địa phương. Bộ trưởng cũng khẳng định: đối với công chức hiện đang trực tiếp thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp nếu có nguyện vọng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ tiếp nhận và căn cứ khả năng sẽ được bố trí công tác phù hợp tại Tổng cục Dạy nghề./.

    TCDN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Giao Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Về Giáo Dục Nghề Nghiệp Giữa Bộ Gd&đt Và Bộ Lđtb&xh
  • Giáo Dục Nghề Nghiệp, Bộ Nào Quản Lý Là Phù Hợp?
  • Nhìn Nhận Về Sự Tiến Triển Của Âm Nhạc Thiếu Nhi Hà Nội Mười Năm Đầu Thế Kỉ 21
  • Báo Giá Anie Tianstore Trẻ Em Đa Chức Năng Giáo Dục Sớm Điện Thoại Âm Nhạc Máy Kể Chuyện Chỉ 155.600₫
  • Báo Giá Trẻ Em Gấp Gọn Đa Chức Năng Giáo Dục Sớm Chữ Cái Tiếng Anh Toán Học Âm Nhạc Máy Tính Laptop Máy Đồ Chơi Dành Cho Tuổi 3 + Tuổi Trẻ Em
  • Chức Năng Của Văn Phòng Đối Với Các Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Chất Lượng Sản Phẩm Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Tìm Hiểu 5 Cách Đơn Giản Tự Kiểm Tra Chức Năng Tim, Phổi Ngay Tại Nhà
  • Cách Tự Kiểm Tra Sức Khỏe Của Phổi
  • Phòng Đảm Bảo Chất Lượng
  • Khám Sức Khỏe Sinh Sản Tiền Hôn Nhân Cho Nữ Bao Nhiêu Tiền?
  • Chức năng của văn phòng

    Chức năng của văn phòng sở có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở về công tác thông tin, tổng hợp, điều phối hoạt động của Sở theo chương trình, kế hoạch công tác; các công tác trong nội bộ cơ quan Sở, gồm: tổ chức cán bộ; cải cách hành chính; văn thư, lưu trữ; thi đua – khen thưởng; Iso, công nghệ thông tin; tài chính, tài sản, kế toán và hành chính quản trị; giáo dục pháp luật, pháp chế; an ninh – quốc phòng, phòng chống lụt, bão, PCCC.

    Nhiệm vụ và quyền hạn

    – Tham mưu tổng hợp, xây dựng trình Giám đốc Sở ban hành chương trình, đề án, kế hoạch công tác, nội quy, quy chế của Sở; đôn đốc, theo dõi thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch, nội quy, quy chế đó.

    Chức năng của văn phòng tham mưu theo dõi

    Chức năng của văn phòng tổng hợp, báo cáo định kỳ 6 tháng, 1 năm và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với UBND tỉnh, Bộ Xây dựng và các cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo thống kê tổng hợp ngành xây dựng theo quy định của Bộ Xây dựng và sự phân công của UBND tỉnh.

    – Tham mưu quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng, Thanh tra, các phòng chuyên môn nghiệp vụ và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở theo hướng dẫn chung của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của UBND tỉnh.

    Truyền thông

    a) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch truyền thông của Bộ. Thiết lập và duy trì quan hệ công tác với các cơ quan báo chí và các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin truyền thông;

    b) Quản lý, điều hành Cổng thông tin điện tử của Bộ, hệ thống hội nghị truyền hình giữa Bộ với các điểm cầu;

    c) Xây dựng và quản lý Phòng Truyền thống giáo dục Việt Nam.

    Thống kê ngành giáo dục và đào tạo

    a) Xây dựng các chỉ tiêu thống kê ngành giáo dục và đào tạo thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia;

    b) Thu thập, tổng hợp chỉ tiêu thống kê ngành giáo dục và đào tạo; phân tích và dự báo thống kê;

    c) Xuất bản niên giám thống kê giáo dục và đào tạo và các ấn phẩm thống kê theo quy định của pháp luật.

    Kiểm soát thủ tục hành chính

    a. Thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính;

    b. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001: 2008 trong các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ;

    Theo dõi việc thực hiện cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

    Cơ cấu tổ chức

    Chức năng của văn phòng Học viện bao gồm các tổ:

    1. Tổ Hành chính – Văn thư, lưu trữ.

    2. Tổ Lái xe.

    3. Tổ Truyền thông.

    Nhiệm vụ cụ thể của các Tổ do Chánh Văn phòng Học viện qui định.

    Lãnh đạo điều hành

    1. Lãnh đạo Văn phòng là Chánh Văn phòng. Giúp việc Chánh Văn phòng có các Phó Chánh Văn phòng. Chánh Văn phòng và Phó Chánh Văn phòng do Giám đốc Học viện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng có nhiệm kỳ 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh Văn phòng

    a) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng được quy định tại Điều 2 và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Học viện về toàn bộ hoạt động của Văn phòng.

    b) Phân công nhiệm vụ, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác của các Phó Chánh Văn phòng, Tổ trưởng nghiệp vụ và viên chức, nhân viên thuộc Văn phòng.

    c) Phối hợp với các đơn vị khác trong và ngoài Học viện để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

    d) Ký thừa lệnh Giám đốc Học viện các văn bản hành chính của Học viện được Giám đốc Học viện ủy quyền.

    đ) Đề xuất, kiến nghị về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ chính sách khác đối với viên chức, nhân viên từ Phó Chánh Văn phòng trở xuống; phân công và sử dụng đội ngũ viên chức, nhân viên của Văn phòng vào các vị trí việc làm phù hợp.

    Lộc Đạt-tổng hợp

    Tham khảo ( chúng tôi chúng tôi … )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tắt Chương Trình Kiểm Tra Ổ Cứng Trên Windows
  • Tắt Kiểm Tra Đĩa Cứng Chkdsk Khi Khởi Động
  • Phân Tích 10 Chức Năng Của Não Bộ
  • Suy Giảm Chức Năng Não Bộ
  • Kiểm Tra Gan, Tụy, Túi Mật Và Ống Mật
  • Luận Văn Quản Lý Nhà Nước Đối Với Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề “sống Thử” Của Giới Trẻ Ngày Nay
  • Vấn Đề Sống Thử Trong Sinh Viên, Nên Hay Không?
  • Sống Ảo Và Giới Trẻ Hiện Nay
  • Bớt Sống Ảo Để Bước Ra Đời Thực
  • Giải Pháp Số Hóa Văn Bản V
  • Theo Điều 3 của Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp Nhà nuớc, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty hợp danh. Sự hình thành và phát triển DNNVV ngày càng tăng về số lượng bởi lẽ DNNVV có nhiều lợi thế trong hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Nhưng lợi thế của DNNVV có thể kể đến như DNNVV cần vốn ít, lao động không nhiều, dễ quản lý nên dễ dàng khởi sự; có thể tận dụng dễ dàng mọi nguồn lực trong xã hội cho yêu cầu phát triển; dễ linh hoạt về thời gian giao hàng và giá cả nên dễ giao dịch; có tính linh động, có tính phản ứng nhanh trước sự chuyển biến mạnh về sản phẩm, dịch vụ, quy trình sản xuất và thị trường. Chính vì vậy, DNNVV đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của một quốc gia, tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội. Ở các nước phát triển, số lượng DNNVV thường chiếm từ 90 – 95% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế và giải quyết việc làm cho khoảng 2/3 lực lượng lao động. Chẳng hạn các DNNVV của Thụy Điển đã tạo việc làm cho hơn 60% người lao động, tỷ lệ này ở Nhật là 66,9%, Đài loan là 78%, Chi Lê là 70,3%. Tác dụng tạo việc làm của các DNNVV trong thời kỳ kinh tế suy thoái tựa như một “chiếc van an toàn” để điều chỉnh kinh tế vĩ mô nền kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực của các cuộc khủng hoảng kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 140.000 DNNVV, chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 26-27% GDP, 31% sản lượng công nghiệp, 67% nguồn thu ngân sách từ thuế và việc làm cho 26% tổng số lao động cả nước. Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao đạt 13,05% giai đoạn 2001- 2006, bằng 1,8 lần so tốc độ tăng trưởng của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa. Năm 2006, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 57,4%, dịch vụ chiếm 28,9% và nông-lâm-thủy sản chiếm 13,7%. Sự tăng trưởng kinh tế cao cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực ở tænh Đồng Nai có sự đóng góp đáng kể của các DNNVV. Chính vì vai trò quan trọng đối với nền kinh tế cho nên trong thời gian vừa qua, khối doanh nghiệp này cũng đã được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển mạnh mẽ bằng nhiều chủ trương, chính sách, cùng với sự hỗ trợ tích cực của chính quyền địa phương các cấp, các ngành. Tuy nhiên, trên thực tế các DNNVV còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình hoạt động, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới. DNNVV tuy nhiều về số lượng nhưng chỉ đóng góp khoảng 25% GDP, từ 6 – 7% kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho trên 117.000 lao động, đóng góp 25% thu ngân sách Nhà nước, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của mình. Các DNNVV hiện đang phát triển thiếu định hướng, mất cân đối và phân bổ không đồng đều, trái ngược với những ưu thế vốn có. Sự khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường của DNNVV, một phần xuất phát từ năng lực nội tại yếu kém, như quy mô vốn còn nhỏ bé, thiết bị công nghệ còn lạc hậu, năng lực quản lý còn hạn chế . Mặt khác, do sự quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, chưa tạo môi trường thông thoáng cũng như sự hỗ trợ cần thiết cho DNNVV phát huy đầy đủ vai trò và lợi thế của mình đóng góp ngày càng nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nhà Nước Về Hỗ Trợ Pháp Lý Cho Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn
  • Bàn Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Vốn Tại Doanh Nghiệp Nông, Lâm Nghiệp
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Quản Lý Văn Bản Bằng Phần Mềm: Giải Pháp Tối Ưu Tiết Kiệm Chi Phí Cho Doanh Nghiệp
  • Tổng Quan Các Biện Pháp Quản Lý Nhà Nước Đối Với Hoạt Động Ngoại Thương

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Quản Lý Hàng Tồn Kho Cho Doanh Nghiệp
  • Giải Pháp Quản Lý Lễ Hội Hiện Nay
  • Khám Phá Những Bí Ẩn Về Ruồi Và Các Biện Pháp Diệt Ruồi
  • Công Ty Phun Thuốc Diệt Ruồi Hiệu Quả
  • Dịch Vụ Phun Thuốc Diệt Ruồi Tại Đà Nẵng
  • Đối với các doanh nghiệp thương mại tham gia hoạt động ngoại thương, việc hiểu các biện pháp quản lý của nhà nước là điều cần thiết để hiểu các hàng hóa do công ty xuất, nhập khẩu nói riêng và hoạt động ngoại thương nói chung của công ty mình đang được nhà nước quản lý bằng các biện pháp gì.

    Tại bài viết này, HP Toàn Cầu tóm tắt các biện pháp quản lý ngoại thương theo quy định của Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 12/06/2017, theo đó, có 5 nhóm biện pháp quản lý ngoại thương chính như sau:

    + Các biện pháp hành chính

    + Các biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch

    + Biện pháp phòng vệ thương mại

    + Biện pháp kiểm soát khẩn cấp

    + Các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương

    1.1. Cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu

    1.2. Hạn chế xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu

    1.2.1. Hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu 1.2.2. Hạn ngạch thuế quan 1.2.3. Chỉ định cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu 1.2.4. Chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu

    1.3. Quản lý theo giấy phép, theo điều kiện xuất khẩu nhập khẩu

    1.4. Chứng nhận xuất xứ hàng hóa

    1.5. Chứng nhận lưu hành tự to

    1.6. Các biện pháp quản lý hoạt động ngoại thương khác

    1.6.1. Tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu 1.6.2. Quá cảnh hàng hóa 1.6.3. Đại lý mua bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài 1.6.4. Ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu 1.6.5. Gia công hàng hóa cho thwong nhân nước ngoài và đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài

    1.7. Hoạt động ngoại thương với các nước có chung đường biên giới

    1.8. Quản lý hàng hóa đối với khu vực hải quan riêng

    Mục tiêu của việc áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng hàng hóa; bảo vệ an toàn sức khỏe con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường sinh thái, đa dạng sinh học; phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm và bảo đảm an ninh, lợi ích quốc gia

    2.1. Áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch

    2.1.1. Áp dụng biện pháp kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (điều 61) 2.1.2. Áp dụng biện pháp kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật (điều 62) 2.1.3. Áp dụng biện pháp kiểm dịch thực vật (điều 63) 2.1.4. Áp dụng biện pháp kiểm dịch y tế biên giới (điều 64)

    1. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải được công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn theo quy định của pháp luật.
    2. Hàng hóa nhập khẩu là thực phẩm đã qua chế biến, bao gói sẵn; phụ gia thực phẩm; chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm đã có quy chuẩn kỹ thuật thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
    3. Hàng hóa nhập khẩu là thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói thực phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật phải được công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm và đăng ký bản công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    4. Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, thực phẩm biến đổi gen, thực phẩm đã qua chiếu xạ phải có giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc giấy chứng nhận y tế theo quy định của pháp luật.
    5. Hàng hóa nhập khẩu là phương tiện đo được sử dụng để định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, trong thanh tra, kiểm tra, giám định tư pháp và trong các hoạt động công vụ khác khi nhập khẩu phải được kiểm soát theo quy định của pháp luậtvề đo lường.
    6. Trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện theo quy định của pháp luậtvề chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm, đo lường.
    1. Hàng hóa là động vật, sản phẩm động vật thuộc diện kiểm dịch trước khi xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển cửa khẩu, gửi vào kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luậtvề thú y.
    2. Nội dung, trình tự, thủ tục kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trước khi xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển cửa khẩu, gửi vào kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luậtvề thú y.
    1. Hàng hóa là vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật trước khi xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển cửa khẩu, gửi vào kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luậtvề bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
    2. Nội dung, trình tự, thủ tục kiểm dịch thực vật xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển cửa khẩu, gửi vào kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luậtvề bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
    1. Hàng hóa thuộc diện kiểm dịch y tế biên giới trước khi xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luậtvề phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
    2. Nội dung, trình tự, thủ tục kiểm dịch y tế biên giới thực hiện theo quy định của pháp luậtvề phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

    2.2. Áp dụng biện pháp kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

    Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là đối tượng phải kiểm tra bao gồm:

    1. a) Hàng hóa phải áp dụng biện pháp kỹ thuật, kiểm dịch quy định tại các điều61, 62, 63 và 64 của Luật Quản lý ngoại thương
    2. b) Hàng hóa có tiềm ẩn khả năng gây mất an toàn hoặc hàng hóa có khả năng gây mất an toàn theo thông tin cảnh báo từ các tổ chức quốc tế, khu vực, nước ngoài;
    3. c) Hàng hóa mà cơ quan có thẩm quyền phát hiện không phù hợp và phải tăng cường kiểm tra theo quy định của pháp luật.

    3. Các biện pháp phòng vệ thương mại quản lý ngoại thương

    Các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm

    Các trường hợp áp dụng biện pháp kiểm soát khẩn cấp đối với hàng hóa bao gồm:

    biện pháp chống bán phá giá,

    biện pháp chống trợ cấp và

    biện pháp tự vệ

    do Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam trong những trường hợp cụ thể.

    1. Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý xảy ra chiến tranh, tham gia chiến tranh, xung đột hoặc có nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến an ninh, lợi ích quốc gia của Việt Nam.
    2. Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý xảy ra thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thông tin một cách công khai hoặc chứng minh được là có đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của người tiêu dùng hàng hóa đó.
    3. Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý xảy ra sự cố, thiếu sót, sai sót kỹ thuật mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thông tin một cách công khai hoặc chứng minh được là có ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến an toàn, sức khỏe của người tiêu dùng hàng hóa đó.
    4. Hàng hóa đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực địa lý gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học của Việt Nam mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thông tin một cách công khai hoặc có cơ sở khoa học chứng minh được sự ảnh hưởng đó.
    5. Mất cân đối nghiêm trọng của cán cân thanh toán.
    6. Các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác theo quy định của pháp luật.

    Các biện pháp phát triển hoạt động ngoại thương

    Nhà nước có chính sách phát triển hoạt động ngoại thương thông qua các biện pháp sau đây:

    1. a) Hoạt động tín dụng do Chính phủ quy định phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
    2. b) Xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy hoạt động ngoại thương bao gồm hỗ trợ xây dựng, bảo vệ, phát triển, quảng bá thương hiệu sản phẩm trong nước ra thị trường nước ngoài; thiết lập và cung cấp hệ thống thông tin xúc tiến thương mại; kết nối giao thương giữa các thương nhân nhằm thúc đẩy xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu quả để phục vụ sản xuất trong nước hoặc gia công xuất khẩu;
    3. c) Các biện pháp khác nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu.

    Mọi chi tiết xin liên hệ

    Nhà cung cấp Dịch vụ Vận chuyển quốc tế và thủ tục hải quan

    Địa chỉ: Phòng 2308, CT2 Văn Khê, La Khê, Hà Đông, Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Quản Lý Tài Nguyên Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Quản Lý Bán Hàng Là Gì
  • Quản Lý Là Gì? Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo, Quản Lý
  • Đối Tượng Quản Chế Hành Chính
  • Hình Phạt Quản Chế Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự
  • Các Đơn Vị Sự Nghiệp Phục Vụ Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Của Ngân Hàng Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
  • Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Tăng Cường Công Tác Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Hiện Nay
  • Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Chức Năng Quản Lý Nhà Nước Trong Lĩnh Vực Liên Lạc
  • Các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước được quy định tại Khoản 21 đến 26 Điều 3 Nghị định 16/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo đó bao gồm:

    21. Viện Chiến lược ngân hàng.

    22. Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam.

    23. Thời báo Ngân hàng.

    24. Tạp chí Ngân hàng.

    25. Trường Bồi dưỡng cán bộ ngân hàng.

    26. Học viện Ngân hàng.

    Về cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc, Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Hợp tác quốc tế có 7 phòng; Vụ Quản lý ngoại hối, Vụ Tài chính – Kế toán, Vụ Dự báo, thống kê, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế có 6 phòng; Vụ Kiểm toán nội bộ, Vụ Tổ chức cán bộ có 5 phòng; Vụ Thanh toán, Vụ Pháp chế có 4 phòng; Vụ Ổn định tiền tệ – tài chính có 3 phòng.

    Văn phòng có 5 phòng; Cục Phát hành và kho quỹ có 09 phòng và Chi cục tại Thành phố Hồ Chí Minh; Cục Quản trị có 7 phòng và Chi cục tại Thành phố Hồ Chí Minh; Cục Công nghệ thông tin có 7 phòng và Chi cục tại Thành phố Hồ Chí Minh; Sở Giao dịch có 9 phòng.

    Các chi nhánh tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Chi nhánh thành phố Hà Nội có 7 phòng; Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh có 8 phòng; Chi nhánh tỉnh, thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nghệ An, Đắk Lắk có 5 phòng; 56 Chi nhánh tỉnh còn lại có 4 phòng.

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập khác thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật, trừ Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.

    Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Chức Năng, Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Sẽ Ban Hành Nghị Quyết Về Chức Năng Của Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước Trong Quý 2
  • Tách Chức Năng Quản Lý Vốn Nhà Nước, Đưa Về “siêu Ủy Ban”
  • Hoàn Thiện Quy Định Chức Năng Của Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước Tại Dn
  • Ủy Ban Quản Lý Vốn Nhà Nước Thực Hiện Chức Năng Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100