Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp
    • Lượt tải: 23

    Mô tả:

    Ngày nay, loài người tiến bộ vẫn luôn khát khao hướng tới một xã hội văn minh phát triển nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau. Đó cũng là mục tiêu mà nước Việt Nam đang hướng tới thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để đạt được mục tiêu tốt đẹp trên, bất kể quốc gia nào cũng cần phải tìm được cho mình động lực cơ bản của sự phát triển. Vào thời kỳ của những thế kỉ trước, khi lao động thủ công đóng vai trò chủ yếu, thì các yếu tố lao động và đất đai đóng vai trò động lực. Nếu biết kết hợp đúng đắn lao động và đất đai thì của cải sẽ sinh sôi, nảy nở. Chính vì vậy mà nhà kinh tế học Adam Smit đã nhận định: “Đất là mẹ, lao động là cha”. Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, lao động, vốn, kĩ thuật và phương pháp quản lí được xem là những yếu tố chủ chốt của tăng trưởng kinh tế. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với sự tiến đến nền văn minh trí tuệ, đến các “xã hội thông tin”, trong đó “thông tin” trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi quốc gia, việc “thông tin hoá” tạo nên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng như về chất của nền kinh tế thế giới, thì con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển. Ngày nay, trí tuệ con người được xem là yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các nước chậm tiến muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển. Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các nước thuộc thế giới thứ ba thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công nghệ. Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã từng nói nhân dịp khai giảng năm học 1995 – 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao cả nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước”. Do vậy, giáo dục giữ một vai trò chủ hết sức quan trọng đối với sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia. I. KHÁI QUÁT BẢN CHẤT, NGUỒN GỐC CỦA GIÁO DỤC Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhận thức thế giới khách quan để tích lũy kinh nghiệm, chinh phục tự nhiên. Khi đã tích lũy được những kinh nghiệm bao gồm những kĩ năng, kĩ xảo, tư tưởng, giá trị đạo đức,hành chúng tôi người có nhu cầu truyền đạt lại cho nhau và cho những thế hệ tiếp nối sau đó.Trong quá trình phát triển của xã hội, thế hệ trước không ngừng truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm để tiếp tục tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì sự phát triển xã hội loài người, chính sự truyền thụ và lĩnh hội này gọi là giáo dục.Do vậy, giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển chính con người và phát triển xã hội. Vì thế giáo dục là một hiện tượng xã hội và là một trong những nhu cầu tất yếu của xã hội, vì nó chỉ xuất hiện ở con người, giáo dục nảy sinh trên cơ sở kinh tế xã hội nhất định, nó tồn tại và phất triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.Nói cách khác giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiến trình phát triển xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có nền giáo dục tương ứng, khi xã hội chuyển từ hình thái xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác thì toàn bộ hệ thống giáo dục cũng thay đổi theo. Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội chịu sự quy định của xã hội, giáo dục có mối quan hệ biện chứng với các hình thái ý thức xã hội khác và với hạ tầng cơ sở. Ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội nói chung và ở mỗi quốc gia nói riêng sẽ có một nền giáo dục tương ứng. Nền giáo dục phong kiến đã phản ánh những đặc trưng của xã hội phong kiến với một nền nông nghiệp lạc hậu và trì trệ và đã có vai trò to lớn trong việc duy trì sự bền vững của xã hội phong kiến trong cả ngàn năm. Khi cuộc Cách mạng Công nghiệp thành công ở Châu Âu đưa nhân loại bước sang một nên văn minh mới – nền văn minh công nghiệp- cũng là lúc một nền giáo dục mới ra đời. Một nền giáo dục có khả năng giáo dục đồng loạt, được tổ chức một cách khoa học và có khả năng tạo ra những chất lượng giáo dục cao, cung cấp cho nền kinh tế công nghiệp đội ngũ những người lao động đồng bộ, có trình độ cao. Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng cải cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ và năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh và bền vững. Sự đổi mới giáo dục trở thành một yêu cầu cấp bách và sống còn của mỗi quốc gia. Sự phát triển giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội thể hiện trên tất cả các mặt, các yếu tố của nền giáo dục: mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, chính sách giáo dục… Sự khác nhau của các yếu tố nói trên cũng đều do sự quy định của các đặc điểm phát triển của xã hội. II. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó. Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội. Nghiên cứu giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội và một hệ thống được tổ chức đặc biệt, ta thấy giáo dục có ba chức năng quan trọng, đó là: Chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng chính trị – tư tưởng và chức năng văn hóa – xã hội. 1. Chức năng kinh tế – sản xuất. Sự phát triển xã hội được đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế. Mọi xã hội được xây dựng trên nền tảng của các nền kinh tế và được tạo ra bởi các yếu tố kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển về kinh tế cũng cần có rất nhiều nguồn lực như nguồn lực nhân lực, nguồn lực nguồn vốn, nguồn lực tài nguyên ….; trong đó nguồn lực nhân lực (người lao động) là quan trọng nhất. Bởi vì, nếu muốn đưa xã hội càng phát triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ cao, có kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội cần phải có giáo dục. Bởi vì giáo dục thông qua hệ thống giáo dục và dạy học, bằng bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục trực tiếp đào tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ cao, một mặt, để thay thế cho những lao động đã mất; mặt khác , để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất (mở rộng các khu vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, hiện đại hóa, công nghiệp hóa …). Chất lượng nguồn nhân lực được đặc trưng bởi trình độ được đào tạo (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật, năng lực công nghiệp,…). Tất cả đều do giáo dục quyết định. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế. Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực cần thiết cho xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Thông qua các quá trình giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau; giáo dục đã: + Đào tạo ra những con người mới, là những người có trình độ văn hóa, am hiểu về khoa học kỹ thuật – khoa học công nghệ; có khả năng vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật – công nghệ vào quá trình sản xuất lao động. Nhờ vậy làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo động lực cho xã hội phát triển. + Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra nguồn nhân lực mới để thay thế những sức lao động cũ bị mất đi do ốm đau, bệnh tật, tuổi già, tai nạn … + Hiện nay hầu như các nước trên thế giới đều ý thức được tầm quan trọng, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế. Vì thế các nước trên thế giới đều coi trọng giáo dục, ưu tiên cho giáo dục, đầu tư cho giáo dục , xây dựng hệ thống giáo dục hoàn thiện đáp ứng nhu cầu xã hội.Như: tăng ngân sách cho giáo dục, trang bị thiết bị giáo dục cho các trường …. Hầu như nước nào quan tâm đến giáo dục thì nước đó đều có sự phát triển mạnh về kinh tế, điển hình như Nhật Bản, Singapore. Đầu tư giáo dục là đầu tư cho tương lai, vì thế không những là các nước trên thế giới mà Việt Nam chúng ta cũng đang đầu tư rất lớn cho giáo dục. Đã chú trọng đến những chính sách phù hợp để nâng cao tay nghề, nghiệp vụ cho người lao động như: Đưa người sang các nước bạn để học hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của các nước khác; mở các lớp chuyên tu, tại chức, cao học, …. Giáo dục đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sự phát triển cho các nền kinh tế. Vì thế muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải tập trung mọi nổ lực để phát triển giáo dục, dựa vào giáo dục và lấy giáo dục làm động lực.

    MỞ ĐẦU Ngày nay, loài người tiến bộ vẫn luôn khát khao hướng tới một xã hội văn minh phát triển nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau. Đó cũng là mục tiêu mà nước Việt Nam đang hướng tới thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để đạt được mục tiêu tốt đẹp trên, bất kể quốc gia nào cũng cần phải tìm được cho mình động lực cơ bản của sự phát triển. Vào thời kỳ của những thế kỉ trước, khi lao động thủ công đóng vai trò chủ yếu, thì các yếu tố lao động và đất đai đóng vai trò động lực. Nếu biết kết hợp đúng đắn lao động và đất đai thì của cải sẽ sinh sôi, nảy nở. Chính vì vậy mà nhà kinh tế học Adam Smit đã nhận định: “Đất là mẹ, lao động là cha”. Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, lao động, vốn, kĩ thuật và phương pháp quản lí được xem là những yếu tố chủ chốt của tăng trưởng kinh tế. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với sự tiến đến nền văn minh trí tuệ, đến các “xã hội thông tin”, trong đó “thông tin” trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi quốc gia, việc “thông tin hoá” tạo nên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng như về chất của nền kinh tế thế giới, thì con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển. Ngày nay, trí tuệ con người được xem là yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các nước chậm tiến muốn phát triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển. Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các nước thuộc thế giới thứ ba thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công nghệ. Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã từng nói nhân dịp khai giảng năm học 1995 – 1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao cả nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước”. Do vậy, giáo dục giữ một vai trò chủ hết sức quan trọng đối với sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia. I. KHÁI QUÁT BẢN CHẤT, NGUỒN GỐC CỦA GIÁO DỤC Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhận thức thế giới khách quan để tích lũy kinh nghiệm, chinh phục tự nhiên. Khi đã tích lũy được những kinh nghiệm bao gồm những kĩ năng, kĩ xảo, tư tưởng, giá trị đạo đức,hành chúng tôi người có nhu cầu truyền đạt lại cho nhau và cho những thế hệ tiếp nối sau đó.Trong quá trình phát triển của xã hội, thế hệ trước không ngừng truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm để tiếp tục tham gia vào cuộc sống lao động và các hoạt động xã hội nhằm duy trì sự phát triển xã hội loài người, chính sự truyền thụ và lĩnh hội này gọi là giáo dục.Do vậy, giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển chính con người và phát triển xã hội. Vì thế giáo dục là một hiện tượng xã hội và là một trong những nhu cầu tất yếu của xã hội, vì nó chỉ xuất hiện ở con người, giáo dục nảy sinh trên cơ sở kinh tế xã hội nhất định, nó tồn tại và phất triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.Nói cách khác giáo dục là một hoạt động gắn liền với tiến trình phát triển xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có nền giáo dục tương ứng, khi xã hội chuyển từ hình thái xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác thì toàn bộ hệ thống giáo dục cũng thay đổi theo. Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội chịu sự quy định của xã hội, giáo dục có mối quan hệ biện chứng với các hình thái ý thức xã hội khác và với hạ tầng cơ sở. Ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội nói chung và ở mỗi quốc gia nói riêng sẽ có một nền giáo dục tương ứng. Nền giáo dục phong kiến đã phản ánh những đặc trưng của xã hội phong kiến với một nền nông nghiệp lạc hậu và trì trệ và đã có vai trò to lớn trong việc duy trì sự bền vững của xã hội phong kiến trong cả ngàn năm. Khi cuộc Cách mạng Công nghiệp thành công ở Châu Âu đưa nhân loại bước sang một nên văn minh mới – nền văn minh công nghiệp- cũng là lúc một nền giáo dục mới ra đời. Một nền giáo dục có khả năng giáo dục đồng loạt, được tổ chức một cách khoa học và có khả năng tạo ra những chất lượng giáo dục cao, cung cấp cho nền kinh tế công nghiệp đội ngũ những người lao động đồng bộ, có trình độ cao. Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng cải cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ và năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh và bền vững. Sự đổi mới giáo dục trở thành một yêu cầu cấp bách và sống còn của mỗi quốc gia. Sự phát triển giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội thể hiện trên tất cả các mặt, các yếu tố của nền giáo dục: mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, chính sách giáo dục… Sự khác nhau của các yếu tố nói trên cũng đều do sự quy định của các đặc điểm phát triển của xã hội. II. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó. Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội. Nghiên cứu giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội và một hệ thống được tổ chức đặc biệt, ta thấy giáo dục có ba chức năng quan trọng, đó là: Chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng chính trị – tư tưởng và chức năng văn hóa – xã hội. 1. Chức năng kinh tế – sản xuất. Sự phát triển xã hội được đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế. Mọi xã hội được xây dựng trên nền tảng của các nền kinh tế và được tạo ra bởi các yếu tố kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển về kinh tế cũng cần có rất nhiều nguồn lực như nguồn lực nhân lực, nguồn lực nguồn vốn, nguồn lực tài nguyên ….; trong đó nguồn lực nhân lực (người lao động) là quan trọng nhất. Bởi vì, nếu muốn đưa xã hội càng phát triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ cao, có kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội cần phải có giáo dục. Bởi vì giáo dục thông qua hệ thống giáo dục và dạy học, bằng bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục trực tiếp đào tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ cao, một mặt, để thay thế cho những lao động đã mất; mặt khác , để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất (mở rộng các khu vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, hiện đại hóa, công nghiệp hóa …). Chất lượng nguồn nhân lực được đặc trưng bởi trình độ được đào tạo (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật, năng lực công nghiệp,…). Tất cả đều do giáo dục quyết định. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế. Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực cần thiết cho xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Thông qua các quá trình giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau; giáo dục đã: + Đào tạo ra những con người mới, là những người có trình độ văn hóa, am hiểu về khoa học kỹ thuật – khoa học công nghệ; có khả năng vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật – công nghệ vào quá trình sản xuất lao động. Nhờ vậy làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo động lực cho xã hội phát triển. + Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra nguồn nhân lực mới để thay thế những sức lao động cũ bị mất đi do ốm đau, bệnh tật, tuổi già, tai nạn … + Hiện nay hầu như các nước trên thế giới đều ý thức được tầm quan trọng, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế. Vì thế các nước trên thế giới đều coi trọng giáo dục, ưu tiên cho giáo dục, đầu tư cho giáo dục , xây dựng hệ thống giáo dục hoàn thiện đáp ứng nhu cầu xã hội.Như: tăng ngân sách cho giáo dục, trang bị thiết bị giáo dục cho các trường …. Hầu như nước nào quan tâm đến giáo dục thì nước đó đều có sự phát triển mạnh về kinh tế, điển hình như Nhật Bản, Singapore. Đầu tư giáo dục là đầu tư cho tương lai, vì thế không những là các nước trên thế giới mà Việt Nam chúng ta cũng đang đầu tư rất lớn cho giáo dục. Đã chú trọng đến những chính sách phù hợp để nâng cao tay nghề, nghiệp vụ cho người lao động như: Đưa người sang các nước bạn để học hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của các nước khác; mở các lớp chuyên tu, tại chức, cao học, …. Giáo dục đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sự phát triển cho các nền kinh tế. Vì thế muốn phát triển kinh tế thì trước hết phải tập trung mọi nổ lực để phát triển giáo dục, dựa vào giáo dục và lấy giáo dục làm động lực. 2. Chức năng chính trị – xã hội. Sự phát triển xã hội cũng được thể hiện ở sự ổn định của hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. Giáo dục góp phần đắc lực và làm ổn định hệ thống chính trị thông qua việc thực hiện chức năng tuyên truyền; làm cho những đường lối, chính sách, chiến lược, hệ thống luật pháp của nhà nước… đến được với mọi tầng lớp của nhân dân; làm thay đổi ý thức, hình thành niềm tin lý tưởng… Đó là điều kiện cơ bản để tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng của giai cấp. Giáo dục đã đào tạo ra những con người trung thành với giai cấp, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng, có đủ khả năng để thực hiện thành công sự nghiệp chính trị của giai cấp; góp phần khẳng định củng cố địa vị chính trị của giai cấp. Giáo dục trong bất kỳ xã hội nào cũng phục vụ đắc lực cho chính trị, không thể có một nền giáo dục nào thoát ly chính trị, phi chính trị. Trong các xã hội có giai cấp, giáo dục nó sẽ trực tiếp tác động đến cấu trúc xã hội, tác động đến việc hình thành các tầng lớp, các nhóm xã hội. Bởi vì giáo dục ở đây chính là quyền lợi của tầng lớp thống trị, và trong xã hội này thường tồn tại hệ thống hai nhà trường. Ví dụ, trong xã hội có giai cấp đầu tiên xã hội Chiếm hữu nô lệ; giáo dục luôn nhằm mục đích đào tạo cho con em tầng lớp chủ nô trở thành những quan chức, chủ nô con, cho nên trường học là dành cho con em tầng lớp chủ nô. Còn con em của nô lệ thì không được đến trường, chỉ có thể được bố mẹ chúng dạy ở nhà …. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giáo dục luôn có những tác động đến chính trị xã hội theo chiều hướng tích cực. Giáo dục có thể nâng cao đến trình độ văn hóa, vị trí xã hội giữa các thành viên, giúp cho các thành viên trong xã hội thay đổi nghề nghiệp. Mặt khác, giáo dục còn đào tạo ra thế hệ trẻ những người trung thành với chế độ, có ý thức giác ngộ chính trị cao, có năng lực bảo vệ chế độ chính trị – xã hội. Giúp cho các thành viên trong xã hội nắm vững được các chính sách, đường lối của đảng và nhà nước; giúp cho công dân nắm vững, ý thức được vị trí của mình. Giáo dục đã mở rộng các cơ hội để cho mọi thành phần dân cư, không phân biệt đều được tiếp nhận giáo dục một cách bình đẳng và dân chủ để phát triển; làm thay đổi vị trí xã hội của mỗi cá nhân và cộng đồng. Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện hữu hiệu cho các cuộc cách mạng xã hội trên phạm vi toàn nhân loại cũng như ở mỗi quốc gia. Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước, đại diện cho quyền lực ” của dân, do dân, vì dân” trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang quyết tâm xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Giáo dục phải phục vụ cho mục đích chính trị tốt đẹp và tư tưởng cao quý đó bằng toàn bộ hoạt động của mình thể hiện từ quan điểm, mục đích, nội dung, phương pháp….sao cho các chủ trương, đường lối chính trị của đảng, pháp luật của nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc vào mọi tầng lớp nhân dân để biến thành hành động thực tiễn nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, vững chắc. Vai trò của giáo dục đối với tư tưởng – văn hóa. “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã dược nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử, xã hội,các gia trị ấy nói lên mức độ phát triển của loài người”. Các giá trị vật chất, tinh thần ấy tồn tại trong xã hội. Như vậy văn hóa vừa là nội dung vừa là mục tiêu của giáo dục. Thật vậy, bất kỳ xã hội nào muốn có sự ổn định thì một trong những vấn đề cơ bản là phải giúp cho người dân nhận thức được, nắm được những quy định của xã hội; những chuẩn mực, giá trị mà xã hội đề ra phải nghiêm túc thực hiện. Giáo dục với tư cách là một công cụ đấu tranh của giai cấp, trở thành một phương tiện cơ bản để truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp, cho mọi tầng lớp của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Giáo dục sẽ giúp cho người dân có nhận thức đúng đắn, định hướng cho hoạt động của con người, góp phần vào việc xây dựng và phát triển đất nước. Mặt khác giáo dục còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một hệ tư tưởng chính thống chi phối toàn bộ xã hội, giáo dục giúp cho họ có đủ vũ khí, bản lĩnh để chống lại mọi âm mưu, luận điệu nhằm chống phá cách mạng, Đảng cộng sản và cản trở con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; tuyên truyền phản động trái ngược với tư tưởng của giai cấp. Đặc biệt ở nước ta trong giai đoạn hiện nay thì công tác giáo dục tư tưởng càng trở nên quan trọng. Giáo dục nâng cao trình độ văn hóa cho tất cả mọi người, bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho toàn xã hội. Với một nền giáo dục phổ thông tốt được phổ cập rộng rãi, sẽ nâng cao dân trí, làm xuất hiện và bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, làm cho cá nhân phát triển để trở thành những nhân cách, những chủ thể văn hóa; có khả năng sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới, góp phần làm phát triển văn hóa cho mỗi dân tộc và cho nhân loại. Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ thành những người có ý thức bảo vệ, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo tồn những giá trị truyền thống dân tộc, giúp thế hệ trẻ có ý thức trong việc kết hợp những giá trị dân tộc với nhân loại, các giá trị truyền thống với hiện đại; đấu tranh để xóa bỏ những thói hư tật xấu, những hủ tục của xã hội. Giáo dục đã trở thành một phương tiện cơ bản để giữ gìn và phát triển văn hóa.Như nhà tương lai học người Mỹ A. Tofler khẳng định tại Hội đồng Liên hợp quốc khóa 15 (1990) ” Một dân tộc không được giáo dục – dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được giáo dục – con người đó sẽ bị xã hội loại bỏ” Tầm quan trọng của giáo dục đã được những con người thế hệ trước đề cao, và luôn coi nó là tiền đề để xây dựng một xã hội ngày càng phát triển hơn trong xã hội. Những câu nói nổi tiếng của những nhà kinh điển thế giới đã khẳng định điều đó như câu danh ngôn của Đông Phương Sóc (dưới thời nhà Hán) về tầm quan trọng của những người có học đối với đất nước: “Được kẻ sĩ, đất nước sẽ hùng mạnh. Mất kẻ sĩ, đất nước sẽ suy vong”. Câu danh ngôn về việc khuyến khích không ngừng học tập của V.I.Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Những câu nói nổi tiếng của chủ tịch Hồ Chí Minh như: “Non sông Việt Nam có vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu”, “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” … Khi nói về vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới của giáo dục; Hồ Chí Minh đã nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”. Trong “Lời kêu gọi chống nạn thất học” tháng 10-1945, Người kêu gọi: “Quốc dân Việt Nam! Muốn giữ vững nền độc lập, Muốn làm cho dân mạnh nước giàu, Mọi người Việt Nam… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”…… Những thành tựu trong công cuộc cải cách giáo dục của Nhật Bản sau thế chiến thứ hai, từ một đống đổ nát sau Thế chiến thứ hai (1945) chỉ sau vài chục năm Nhật bản đã trở thành một cường quốc phát triển vượt bậc. Đó chính là thành quả mà họ đã đạt được nhờ cải cách giáo dục vào những năm 1947 – 1950 của thế kỷ trước ở đất nước này … Để thực hiện chức năng văn hóa xã hội, giáo dục phải được quan tâm ngay từ bậc mầm non đến đại học và trên đại học, phát triển hợp lý các loại hình đào tạo, phương pháp đào tạo để mọi lứa tuổi đều được hưởng quyền học tập, thỏa mãn nhu cầu phát triển năng lực cá thể và đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Vì thế, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc từ trước tới nay thì đảng và nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục và coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”. Từ đó có thể cho ta thấy được vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế- xã hội. Bất kỳ một xã hội nào phát triển đều dựa chủ yếu vào giáo dục và bởi những sức mạnh do giáo dục tạo ra. Bởi vậy muốn phát triển kinh tế- xã hội thì phải đầu tư mọi nguồn lực để phát triển giáo dục, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Vì thế, giáo dục đã trở thành một quốc sách quan trọng hàng đầu trong chiến lược của tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng. III. THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục
  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Học Giáo Dục
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện….

    1. Khái niệm giáo dục là gì?

    Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.

    Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhưng ít hữu hình hơn như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết. Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác.

    Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách ứng xử trong xã hội.

    Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh.

    Quá trình dạy học nói riêng và quá trình giáo dục nói chung luôn gồm các thành tố có liên hệ mang tính hệ thống với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức tổ chức và đánh giá.

    Sự giáo dục của mỗi cá người bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời. (Một vài người tin rằng, sự giáo dục thậm chí còn bắt đầu trước khi sinh ra, theo đó một số cha mẹ mở nhạc, hoặc đọc cho những đứa trẻ trong bụng mẹ với hy vọng nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ sau này).

    Với một số người quá trình đấu tranh giành giật sự sống, giành giật sự thắng lợi trong cuộc sống cung cấp kiến thức nhiều hơn cả sự truyền thụ kiến thức ở các trường học. Các cá nhân trong gia đình có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả giáo dục, thường có ảnh hưởng nhiều hơn là họ nhận ra, mặc dù việc dạy dỗ trong gia đình có thể không có tính chính thức, chỉ có chức năng giáo dục rất thông thường.

    Vậy vai trò của giáo dục đối với xã hội việt nam trong bối cảnh hiện nay như thế nào?

    2. Vai trò của giáo dục đối với xã hội việt nam trong bối cảnh hiện nay

    Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, tỷ lệ lao động cơ bắp ngày một giảm, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng, lợi thế so sánh dựa trên số lượng lao động và giá nhân công rẻ cũng ngày một giảm và đang chuyển dần về phía những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao.

    Do đó, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định nhất đối với phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Đảng ta cũng nhất quán quan điểm khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”.

    Tuy nhiên, để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải cần đến một hệ thống giải pháp đồng bộ về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống, tạo việc làm, tổ chức khai thác lực lượng lao động, phát triển văn hóa tạo ra động lực kích thích tính tích cực ở con người.

    Không chỉ trong điều kiện hiện nay, mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin lúc đương thời đã rất coi trọng vai trò của giáo dục,luôn đặt giáo dục, đào tạo ở vị trí trung tâm trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác”, V.I. Lênin viết: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền… thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là xoáy vào hoạt động giáo dục”.

    Người cũng giải thích rõ tại sao giáo dục, đào tạo lại có tầm quan trọng đặc biệt như vậy. Đó là vì cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp và để có được cơ sở đó, không có cách nào khác là nước Nga phải tiến hành điện khí hóa toàn quốc.

    Nhưng công việc điện khí hóa toàn quốc lại “không thể do những người mù chữ mà thực hiện được, mà chỉ biết chữ thôi thì cũng không đủ. Công việc tiến hành điện khí hóa toàn quốc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, nền học vấn mà thiếu nó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”.

    Và để có được nền học vấn đó thì cũng chỉ có một cách duy nhất là tập trung vào phát triển giáo dục, đào tạo. Từ những chỉ dẫn của các nhà kinh điển và yêu cầu của thực tiễn, Đảng ta đã coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu. Bởi lẽ, “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”.

    Đồng thời, Đảng xác định ba mục tiêu mà sự nghiệp giáo dục, đào tạo phải đạt tới là nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, trong đó phát triển nhân lực là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng và được ưu tiên hơn.

    Nói đến nguồn nhân lực là nói đến tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, kinh nghiệm sống, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn, tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội.

    Phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng để nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước.

    Từ nội dung của phát triển nguồn nhân lực như vậy, chúng ta có thể thấy vai trò của giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực thực chất là làm gia tăng về chất lượng của nguồn nhân lực và đảm bảo cơ cấu về số lượng lao động một cách hợp lý trong từng ngành, lĩnh vực.

    Những vai trò trên, giáo dục cần phải được coi trọng và đầu tư hơn nữa, vì mục tiên phát triển bền vững, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

    Nguồn:Tri Thức Cộng Ðồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • “đánh Giá Trong Giáo Dục Mầm Non” Của Nhà Giáo Dục
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Giáo Dục Gia Đình Góp Phần Quan Trọng Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Con Người
  • Bài Giảng Giáo Dục Gia Đình
  • Chức Năng Giáo Dục, Xã Hội Hóa Đối Với Trẻ Em Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Cổng Điện Tử Bộ Lao Động
  • Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Gồm 21 Đơn Vị
  • Nâng Cao Vai Trò Giám Sát, Phản Biện, Tập Hợp Quần Chúng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tài Liệu – Học Tập – Du Lịch
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gia đình có 4 chức năng, trong đó có chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em”. Chức năng đó được thể hiện:

    Có thể hiểu xã hội hoá đối với trẻ em là một quá trình bao gồm việc đứa trẻ học tập (được chỉ dẫn) về những cách thức, qui định của gia đình và xã hội để nó có thể tham gia vào các hoạt động đời sống của gia đình và xã hội. Đứa trẻ không thể trưởng thành và phát triển nếu chúng bị tách khỏi gia đình và bị biệt lập với xã hội. Với cách tiếp cận như vậy, thì xã hội hóa đối với trẻ em chính là việc dạy dỗ và trao truyền kỹ năng sống của các thành viên gia đình, họ tộc để đứa trẻ trưởng thành, thích ứng được yêu cầu của đời sống.

    Mỗi gia đình là một nhóm xã hội khác nhau, do vậy quá trình xã hội hoá đối với trẻ em cũng bị chi phối bởi những đặc điểm khác nhau trong nếp sống. Nội dung và các hình thức của lối sống trong mỗi gia đình không phải là bất biến, ngược lại chúng cũng bị tác động và biến đổi theo từng thời đại. Sự biến đổi đó chủ yếu do tác động của các nhân tố kinh tế và văn hoá, trong đó văn hoá là một nhân tố cực kỳ quan trọng làm thay đổi kết quả quá trình xã hội hoá trẻ em trong những gia đình khác nhau.

    Do vậy chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em” là một trong những chức năng quan trọng của gia đình, giúp trẻ em có điều kiện và cơ hội phát triển toàn diên./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất
  • Tạo Watermark Cho Tài Liệu Word 2007, 2010
  • Bài 9. Định Dạng Tab
  • Tìm Hiểu Về Chức Năng So Sánh – Compare Trong Word
  • Cách Viết Chữ Vào Hình Vẽ Trong Word
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Hình Thành Phát Triển Nhân Cách

    --- Bài mới hơn ---

  • Hình Thành Và Phát Triển Năng Lực Cho Hs Qua Kỹ Năng Đặt Câu Hỏi Trong Dạy Và Học
  • Giáo Dục Đặc Biệt Cho Trẻ Chậm Phát Triển Trí Tuệ (Cpttt)
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Giờ Ngủ Trưa Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Minh Cho Trẻ 5
  • Phương Pháp Giáo Dục Dành Cho Trẻ Khiếm Thính
  • 76984

      VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

      1. Giáo dục định hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của cá nhân
      2. Giáo dục can thiệp, điều chỉnh các yếu tố khác nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển nhân cách

    I. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN

    Định nghĩa: Hiện nay có nhiều định nghĩa về nhân cách nhưng nhìn chung, nhân cách thường được xác định như là một hệ thống các quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình. Theo đó, ” Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của người ấy.”

    Qua những phân tích trên có thể thấy nhân cách có một số đặc điểm sau:

    Nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân. Tuy nhiên nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một cấu tạo tâm lý mới. Do đó không phải con người sinh ra đã có nhân cách. Ngoài ra, nhân cách còn quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biển của cộng đồng mà cá nhân đó là đại biểu. Ví dụ: mỗi sinh viên Việt Nam đều là nhân cách duy nhất với tất cả những đặc điểm riêng biệt của mình, song đều có cái chung của con người Việt Nam là tình yêu làng xóm, yêu quê hương Việt Nam.

    – Tính thống nhất: thống nhất giữa việc nói và việc làm, giữ ý thức và hành động, giữa đức và tài..

    – Tính ổn định: nhân cách con người là quá trình hình thành từ từ, nhân cách là tổ hợp các thuộc tính ổn định, tiềm tàng của cá nhân, nó khó hình thành mà cũng khó mất đi.

    – Tính tích cực: nhân cách con người là chủ thể của hoạt động và giao lưu các mối quan hệ giữa người này với người khác

    – Tính giao lưu: Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát triển, tồn tại và thể hiện trong hoạt động và trong mối quan hệ giao tiếp với những cá nhân khác. Thông qua quan hệ giao tiếp với người khác, con người gia nhập các quan hệ xã hội, lĩnh hội các chuẩn mực đạo đức và hệ thống giá trị xã hội; được đánh giá, được nhìn nhận theo quan hệ xã hội. Điều quan trọng là thông qua giao tiếp, con người còn đóng góp các giá trị nhân cách của mình cho người khác, và cho xã hội.

    Giáo dục là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của ngời dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.

    Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ sự tác động của gia đình, nhà trường, xã hội (bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác) đến con người.

    Theo nghĩa hẹp, giáo dục có thể xe, như quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi con người (giáo dục đạo đức, giáo dục lao động, giáo dục lối sống, hành vi)

    II. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

    Vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách thể hiện:

    1. Giáo dục định hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của cá nhân

    – Xác định mục đích giáo dục cho cả hệ thống, cho từng bậc học, cấp học, trường học và từng hoạt động giáo dục cụ thể

    – Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học và giáo dục, lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục đáp ứng mục đích giáo dục, phù hợp với nội dung và đối tượng, điều kiện giáo dục cụ thể.

    – Tổ chức các hoạt động, giao lưu

    – Đánh giá, điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức gíao dục…

    Sự định hướng của giáo dục không chỉ thích ứng với những yêu cầu của xã hội hiện tại mà còn phải thích hợp với yêu cầu phát triển của tương lai để thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Vì vậy, giáo dục phải đi trước, đón đầu sự phát triển. Muốn đi trước, đón đầu sự phát triển, giáo dục căn cứ trên những dự báo về gia tốc phát triển của xã hội, thiết kế nên mô hình nhân cách của con người thời đại với hệ thống định hướng giá trị tương ứng.

    2. Giáo dục can thiệp, điều chỉnh các yếu tố khác nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển nhân cách

    * Đối với di truyền

    Các yếu tố bẩm sinh – di truyền, môi trường và hoạt động các nhân đều có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên yếu tố giáo dục lại có thể tác động đến các yếu tố này để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển nhân cách.

    – Giáo dục tạo điều kiện thuận lợi để những mầm mống của con người có trong chương trình gène được phát triển. Chẳng hạn, trẻ được di truyền cấu tạo cột sống, bàn tay và thanh quản … nhưng nếu không được giáo dục thì trẻ khó có thể đi thẳng đứng bằng hai chân, biết sử dụng công cụ hay phát triển ngôn ngữ…

    – Giáo dục rèn luyện, thúc đẩy sự hoàn thiện của các giác quan và vận động cơ thể.

    – Giáo dục phát hiện những tư chất của cá nhân và tạo điều kiện để phát huy năng khiếu thành năng lực cụ thể.

    * Đối với môi trường

    – Giáo dục tìm cách khắc phục những khiếm khuyết cơ thể để hạn chế những khó khăn của người khuyết tật trong sự phát triển nhân cách (phục hồi chức năng hoặc hướng dẫn sử dụng công cụ hỗ trợ). Ngoài ra giáo dục còn góp phần tăng cường nhận thức trong xã hội về trách nhiệm của cộng đồng đối với người khuyết tật và tổ chức cho toàn xã hội chia sẻ, hỗ trợ người khuyết tật vượt qua khó khăn và sự bất hạnh của mình.

    – Giáo dục tác động đến môi trường tự nhiên qua việc trang bị kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường của con người, khắc phục được sự mất cân bằng sinh thái, làm cho môi trường tự nhiên trở nên trong lành, đẹp đẽ hơn.

    – Giáo dục tác động đến môi trường xã hội lớn thông qua các chức năng kinh tế – xã hội, chức năng chính trị – xã hội, chức năng tư tưởng – văn hóa của giáo dục.

    – Giáo dục còn làm thay đổi tính chất của môi trường xã hội nhỏ như gia đình, nhà trường và các nhóm bạn bè, khu phố…, để các môi trường nhỏ tạo nên những tác động lành mạnh. tích cực đến sự phát triển nhân cách con người. Hiện nay công tác giáo dục xã hội đang chú tâm xây dựng gia đình là một mái ấm dân chủ, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc; nhà trường là một môi trường thân thiện đối với học sinh, cộng đồng dân cư là khu vực văn hóa của một xã hội văn minh tiến bộ.

    * Đối với hoạt động cá nhân

    – Giáo dục tổ chức nhiều loại hình hoạt động giao tiếp bổ ích, lành mạnh nhằm phát huy những phẩm chất và năng lực cá nhân (sân chơi ở các nhà văn hóa cho mọi lứa tuổi, các câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc tại địa phương, …); xây dựng những động cơ đúng đắn của cá nhân khi tham gia hoạt động, giao tiếp đồng thời hướng dẫn cá nhân lựa chọn các hoạt động và giao tiếp phù hợp với khả năng của bản thân. Đặc biệt công tác giáo dục luôn xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa thầy trò, giữa bạn bè với nhau đồng thời tổ chức và định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi để thúc đẩy sự phát triển nhân cách.

    – Giáo dục tạo tiền đề cho tự giáo dục của cá nhân. Tự giáo dục thể hiện tính chủ thể của cá nhân khi con người đáp ứng hoặc tự vận động nhằm chuyển hóa các yêu cầu của giáo dục thành phẩm chất và năng lực của bản thân. Nếu cá nhân thiếu khả năng tự giáo dục thì các phẩm chất và năng lực của họ sẽ hình thành ở mức độ thấp hoặc thậm chí không thể hình thành. Trình độ, khả năng tự giáo dục của cá nhân phần lớn bắt nguồn từ sự định hướng của giáo dục. Giáo dục đúng đắn và đầy đủ sẽ giúp con người hình thành khả năng tự giáo dục, đề kháng trước những tác động tiêu cực của xã hội để phát triển nhân cách mạnh mẽ. “Chỉ có những người biết tự giáo dục mới là những người thực sự có giáo dục.”

    III. LIÊN HỆ THỰC TẾ VỀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

    Giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc hành thành và phát triển nhân cách con người. Giáo dục có tính tiên tiến và có thể đi trước vạch đường cho nhân cách do vậy nếu được giáo dục một cách tốt nhất ngay từ trong nhà trường sẽ giúp cho thế hệ trẻ có những định hướng giá trị nhân cách đúng đắn, có nhận thức và thái độ hành vi hợp lý,..

    Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do khuyết tật bẩm sinh hoặc bệnh tật đem lại cho con người như trường hợp của thầy Nguyễn Ngọc Ký tuy không còn đôi tay nhưng vẫn trở thành giáo viên, hay như nghệ sỹ ghi ta tài năng Văn Vượng bị mù từ bé nhưng nhờ có phương pháp giáo dục đúng đắn mà trở thành tài năng ấm nhạc… Đây là cơ sở để tổ chức các trường dạy trẻ em khuyết tật, trẻ em thiệt thòi … Ngoài ra giáo dục còn giúp các e có tư chất tốt phát triển : như các trường năng khiếu, trường đào tạo chất lượng cao…

    Môi trường xã hội ngoài những ảnh hưởng tích cực, còn gây ra những tiêu cực. Giáo dục có khả năng giúp học sinh phòng ngừa, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực, động viên được tính tự giác rèn luyện học tập của học sinh.

    Giáo dục nhân cách không thể chỉ bằng lời nói mà phải bằng những công việc cụ thể, mọi hành vi thái đọ, lối sống của người lớn có tác động trực tiếp đến hình thành nhân cách trẻ nhỏ, từ đó ảnh hưởng tới tương lai. Do đó, ngoài giáo dục trong nhà trường, giáo dục trong gia đình là rất cần thiết.

    IV. KẾT THÚC VẤN ĐỀ

    Nhân cách là một vấn đề vô cùng phức tạp và rất khó lý giải nhưng nó lại hiện diện quanh chúng ta từng ngày từng giờ. Trong thời kỳ phát triển hiện nay, khi mà một bộ phận không nhỏ giới trẻ đang có những biểu hiện của việc suy thoái nhân cách thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người lại càng được quan tâm, chú trọng nhiều hơn.

    Với vai trò chủ đạo trong việc hình thành nhân cách, giáo dục là phương pháp tốt nhất giúp con người hướng đến những chuẩn mực đạo đức lối sống văn hó xã hội của quê hương đất nước. Từ đó vấn đề giáo dục không chỉ đặt ra cho nhà trường mà còn cả trong gia đình xã hội, để giáo dục nhân cách trẻ ngay từ lúc nhỏ, tương lai sẽ là những trụ cột của đất nước.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Tâm lý học đại cương, Nxb Công an nhân dân, 2008.
    2. Giáo trình tâm lý học đại cương, Nxb Đại học sư phạm, 2008.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Nghệ Thuật Trong Việc Hình Thành, Phát Triển Phẩm Chất Và Năng Lực Của Học Sinh
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Rèn Luyện Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Tinh Thần Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xi
  • Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Rèn Luyện Đảng Viên Hiện Nay
  • Giáo Dục, Rèn Luyện Cán Bộ, Đảng Viên Trong Xây Dựng Đảng Hiện Nay
  • Chăm Lo Giáo Dục, Bồi Dưỡng, Rèn Luyện Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Xương Khớp Phần 1: Chức Năng Của Xương
  • Thực Phẩm Chức Năng Xương Khớp Tốt Nhất Hiện Nay
  • Xương Cùng Có Chức Năng Gì?
  • KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

    Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

    GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

    Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

    Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

    Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

      Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

    Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “ Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

    Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

    Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Vai Trò Của Yếu Tố Giáo Dục Đối Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp
  • Từ / Ngữ Thể Hiện Chức Năng Giao Tiếp Đơn Giản
  • Luyện Thi Đại Học, Cao Đẳng Tiếng Anh Các Khối D, Khối A1 – Giảng Viên Hồng Lê
  • Mẫu Câu Giao Tiếp Tiếng Anh Cơ Bản, Thông Dụng, Hàng Ngày
  • Tầm Quan Trọng Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống
  • Khoảng 15% dân số thế giới ( một tỷ người ) bị khuyết tật. Việt Nam là quốc gia có số lượng người khuyết tật lớn với khoảng 6,7 triệu người, trong đó 3,6 triệu là nữ và khoảng 1,2 triệu là trẻ em ( số liệu năm 2014 ). Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động. Theo khảo sát năm 2014, có trên 60% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm, trong đó chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp. Những người khuyết tật sau quá trình dạy nghề có thể tự lao động, tạo ra sản phẩm nuôi sống bản thân và gia đình. Trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh như câm, mù, điếc,… có thể giao tiếp với mọi người, đọc sách sau khi được dạy các kỹ năng cơ bản như đọc chữ nổi, ký hiệu giao tiếp bằng tay,…

    Trẻ em Nhật được dạy cách làm việc nhóm từ khi còn nhỏ. Học sinh ở Nhật được khuyến khích cùng đồng thanh nói ra câu trả lời. Sẽ không có trẻ nào bị bỏ rơi khi học theo cách này và những trẻ giỏi sẽ hỗ trợ cho những trẻ kém hơn. Trẻ em được dạy phải biết vị trí của mình trong tập thể, làm việc cùng nhau, tôn trọng gia đình của mình và của đồng nghiệp, giúp đỡ lẫn nhau và suy nghĩ cho tất cả mọi người. Chủ nghĩa cá nhân đồng nghĩa với ích kỉ và sẽ bị loại bỏ. Đó là lí do vì sao trẻ mẫu giáo sẽ luôn có một món đồ đồng phục, đôi khi là những chiếc mũ, đồ thể thao và thậm chí là những đôi tất. Trước khi ăn lũ trẻ sẽ cùng nhau hô to cảm ơn cha mẹ, nhà trường và cách giáo viên đã cho chúng một bữa ăn ngon. Giáo dục Nhật Bản đề cao lòng hiếu thảo.

    Trẻ em Nhật được dạy cách làm việc nhóm từ khi còn nhỏ. Học sinh ở Nhật được khuyến khích cùng đồng thanh nói ra câu trả lời. Sẽ không có trẻ nào bị bỏ rơi khi học theo cách này và những trẻ giỏi sẽ hỗ trợ cho những trẻ kém hơn. Trẻ em được dạy phải biết vị trí của mình trong tập thể, làm việc cùng nhau, tôn trọng gia đình của mình và của đồng nghiệp, giúp đỡ lẫn nhau và suy nghĩ cho tất cả mọi người. Chủ nghĩa cá nhân đồng nghĩa với ích kỉ và sẽ bị loại bỏ. Đó là lí do vì sao trẻ mẫu giáo sẽ luôn có một món đồ đồng phục, đôi khi là những chiếc mũ, đồ thể thao và thậm chí là những đôi tất. Trước khi ăn lũ trẻ sẽ cùng nhau hô to cảm ơn cha mẹ, nhà trường và cách giáo viên đã cho chúng một bữa ăn ngon. Giáo dục Nhật Bản đề cao lòng hiếu thảo.

    You May Also Like

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí, Vai Trò Và Nhiệm Vụ Của Giáo Viên Tiểu Học. – Trung Tâm Đất Việt
  • Thành Lập Hội Đồng Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Trung Tâm
  • Chức Năng Nhiệm Vụ – Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên, Tin Học Ngoại Ngữ Ninh Bình
  • Chuyển Giao Quản Lý Giáo Dục Nghề Nghiệp Từ Bộ Gd
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Giáo Dục Vai Tro Cua Giao Duc 2 Doc
  • Vật Lý Trị Liệu Phục Hồi Chức Năng Gãy Xương Đòn Sau Khi Phẫu Thuật
  • Gãy Xương Bánh Chè Bao Lâu Hồi Phục Có Thể Đi Lại Được?
  • Xử Trí Và Phục Hồi Tổn Thương Bánh Chè
  • Đặc Điểm Cấu Tạo Và Thành Phần Hóa Học Của Xương Người
  • Tầm quan trọng của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng năng suất lao động:

    Để có tăng trưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu: nhân tố tự nhiên, nhân tố con người, các yếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn). Nhân tố con người còn được gọi bằng những khái niệm khác nhau như nguồn nhân lực, tài nguyên con người, nguồn vốn con người. Khi cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, khi mà nền kinh tế thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ càng được thừa nhận vai trò trung tâm trong quá trình phát triến.

    Về mặt kinh tế, nguồn lực con người xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, cả trong hiện tại và tương lai. Nó chủ yếu cần được quan tâm về mặt chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất tức là toàn bộ năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Vai trò của người lao động được V.I.Lênin nhấn mạnh là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại. Con người là một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất. Nếu người lao động có kỹ năng lao động, trình độ khoa học – kĩ thuật thì hiển nhiên là năng suất lao động sẽ cao hơn. Người lao động cần được trang bị kỹ năng lao động, sự hiểu biết, trình độ về khoa học công nghệ,… đó là điều kiện thiết yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển công nghệ tiên tiến. Con người là chủ thể khai thác, sử dụng các nguồn lực khác, chỉ khi kết hợp với con người, các nguồn lực khác mới phát huy tác dụng. Mặt khác, con người lại là khách thể, là đối tượng khai thác các năng lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển. Vậy con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của các quá trình kinh tế – xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Sự kết hợp thống nhất biện chứng giữa con người với công nghệ tiên tiến sẽ là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế.

    Con người được xem xét là phương tiện, là động lực cơ bản và bền vững của sự tăng trưởng kinh tế. Kinh tế tăng trưởng mang lại sự giàu có về vật chất, suy cho cùng, không ngoài mục đích đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sống của bản thân con người. Vậy con người không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế.

    Đầu tư cho phát triển nguồn lực hay chính là đầu tư cho giáo dục con người mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được việc khai thác sử dụng các nguồn lực khác. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy đầu tư vào giáo dục cho phát triển nguồn lực con người mang lại tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn. Mặt khác hiệu quả đầu tư cho phát triển con người có độ lan toả đồng đều, nó mang lại sự công bằng hơn về cơ hội phát triển cũng như việc hưởng thụ các lợi ích của sự phát triển.

    Ví dụ: Từ lâu lịch sử đã chứng minh một quy luật thép là: không có một sự tiến bộ và thành đạt quốc gia nào mà lại tách rời ra khỏi sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục. Những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không có đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn là sự phá sản.

    Một kinh nghiệm lớn của thế giới đã được rút ra và cũng được đúc kết thành quy luật là: hễ quốc gia nào đầu tư đúng và đủ cho giáo dục thì quốc gia ấy sẽ tiến nhanh trên con đường phát triển của mình, còn nếu làm ngược lại, sự chậm phát triển hoặc thụt lùi là điều không thể tránh khỏi.

    Alvin Toffler, nhà tương lai học của Mỹ đã nói: “Những người mù chữ của thế kỷ 21 không phải là những người không biết đọc, biết viết, mà là những kẻ không biết học tập để gạt bỏ các kiến thức cũ kỹ mà học lại”. Cũng chính ông đã nói rằng: “Thế chiến thứ ba sẽ diễn ra trên mặt trận giáo dục. Nó sẽ làm thay đổi cơ bản phương hướng phát triển của nền văn minh nhân loại, sẽ phát triển mạnh mẽ tính ham học của con người. Ai chậm chân trên hướng này sẽ không đuổi kịp bước tiến bộ chung của nhân loại”.

    Nhật Bản là đất nước có nhiều nét tương đồng về văn hóa và giáo dục với Việt Nam, được thế giới nhận xét là một hiện tượng thần kỳ. Từ một đất nước nghèo nàn lạc hậu, tài nguyên thiên nhiên hầu như không có gì đáng kể, mật độ dân số thì đông, thua trận, bị Chiến tranh thế giới lần thứ hai tàn phá nặng nề, nhưng họ đã trở thành một cường quốc kinh tế và công nghệ làm cho thế giới phải thán phục và kinh ngạc. Nguyên nhân nào làm cho nước Nhật đi lên nhanh chóng như vậy? Giáo dục chính là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của xã hội Nhật Bản. Người Nhật đã sớm nhận ra bí quyết này khi họ hiểu rằng đằng sau sức mạnh của Âu, Mỹ là nền giáo dục được vận hành tốt, đào tạo được những con người có trình độ và năng lực sáng tạo trong xã hội công nghiệp. Nhật cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo nhưng họ đã thoát ra khỏi ảnh hưởng sâu sắc của Đạo Không thể tiếp thu nền giáo dục Âu, Mỹ và họ đã vượt lên thành một trong những nước phát triển vượt bậc.

    Minh Trị Thiên hoàng của Nhật Bản đã có một khẩu quyết để đời là hồn Nhật, kỹ thuật Tây. Bí quyết của ông vua này thật đơn giản, nhưng thật thông thuệ, sâu sắc, với tầm nhìn cương quyết đuổi kịp phương Tây để không bị mất nước. Cùng lúc bấy giờ cuốn sách Khuyến học của ngài FUKUZAWA YUKICHI được xuất bản năm 1872 – 1874 đã có ảnh hưởng lớn lao nhất đến công chúng Nhật Bản. Khi được in lần đầu trong thời kỳ Duy tân, cuốn sách có số lượng in kỷ lục là 3,4 triệu bản với dân số nước Nhật lúc đó 35 triệu người. Ông được coi là một trong những khai quốc công thần, được tôn vinh là Voltaire của Nhật Bản. Hình ảnh của ông được in trên tờ bạc mệnh giá lớn nhất 10.000 yên. Ông là người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật Bản, đem lại linh hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc Duy tân của Chính phủ Minh Trị.

    Giáo dục với xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội:

    Thu nhập của người nghèo chủ yếu là dựa vào sức lao động. Thu nhập của người nghèo thấp một phần do lao động của họ kém hiệu quả, một phần do sự phân biệt đối xử trên thị trường lao động. Giáo dục mang lại kiến thức, quan điểm và kỹ năng giúp nâng cao năng suất lao động của người nghèo, và kiếm được thu nhập cao hơn.

    Giáo dục có tác động tích cực đến đời sống cá nhân, góp phần giảm đói nghèo, tạo điều kiện cho mỗi người có thể tham gia vào quá trình xã hội một cách bình đẳng nhờ nâng cao nguồn lực của người lao động. Song chính sự đói nghèo và bất công trong xã hội cũng làm cho giáo dục kém phát triển. Vì vậy biện pháp đặt ra là vừa phải tăng cường giáo dục để giảm đói nghèo và bất công xã hội, vừa phải tìm ra các biện pháo để cải thiện đời sống và lao động của những người nghèo để giúp họ tham gia vào quá trình học tập có hiệu quả.

    Giáo dục và việc giảm mức sinh và tăng cường sức khỏe:

    Giáo dục có tác động tích cực đến sức khỏe của con người, giáo dục đem lại những hiểu biết về khoa học giúp cho việc ăn ở vệ sinh và sử dụng các biện pháp phòng ngừa bệnh tốt hơn. Nhất là đối với phụ nữ, những kiến thức mà giáo dục đem lại không chỉ giúp họ bình đẳng hơn mà còn giúp họ nâng cao được sức khỏe sinh sản của bà mẹ và thai nhi. Nghiên cứu của ngân hàng thế giới cho thấy giữa trình độ học vấn của phụ nữ và số con trong gia đình tỉ lệ thuận với nhau, phụ nữ càng được giáo dục thì càng sinh ít con.

  • sự ảnh hưởng của giáo dục lên kinh tế
  • tại sao nói đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển
  • quá trình phát triển và vai trò của nho giáo với xã hội phong kiến
  • nganh giao duc lam gi de phat trien kinh te bien
  • lợi ích của giáo dục voi kinh te
  • kinh tế thị trường ảnh hưởng đến giáo dục
  • Kinh tế ảnh hưởng đến giáo dục
  • giáo dục và tăng trưởng kinh tế
  • viet bai van noi ve vai tro cua giao duc doi voi doi song xa hoi
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn
  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã
  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò
  • Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Phân Tích Các Chứng Năng Xã Hội Của Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu 2: Phân Tích Các Chức Năng Và Tính Chất Của Giáo Dục?
  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Giao Tiếp
  • Chuyên Đề 10: Chức Năng Giao Tiếp
  • Sản Phẩm Chức Năng Gan Bảo Nguyên Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu?
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên
  • Với tư cách là hiện tượng xã hội nên giáo dục có khả năng tác động đến những hiện tượng và quá trình xã hội khác. Sự tác động này dưới góc độ xã hội học là chức năng xã hội của giáo dục. Như vậy giáo dục tác động đến xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của mình, đó là:

    1. Chức năng kinh tế- sản xuất

    Nói giáo dục có chức năng này có nghĩa là giáo dục có khả năng tác động tới quá trình sản xuất xã hội và góp phần làm tăng trưởng kinh tế quốc gia. Điều này thể hiện ở chỗ giáo dục thông qua đào tạo đã giúp cho mỗi cá nhân tái tạo ra năng lực người, phát huy sức mạnh thể chất và tinh thần bản thân. Qua đó, giáo dục cung cấp cho xã hội một đội ngũ những người lao động có chất lượng.

    Xu hướng phát triển của xã hội hiện đại là áp dụng những thành tựu KHKT vào thực tiễn sản xuất. Ngày nay, KHKT đã trở thành một lựa lượng sản xuất trực tiếp, và giáo dục chính là con đường thuận lợi để phổ biến KH.

    Để thực hiện tốt chức năng này, giáo dục phải tập trung thực hiện những yêu cầu cơ bản sau:

    + giáo dục phải gắn với thực tiễn xã hội, đáp ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển KT- SX trong từng giai đoạn cụ thể.

    + XD nền giáo dụcQD cân đối, đa dạng nhằm thực hiện 3 mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

    + Hệ thống giáo dụcQD không ngừng đổi mới ND, PP, phương tiện…

    + Tăng cường hợp tác quốc tế trong Giáo dục

    Nói giáo dục có chức năng này có nghĩa là giáo dục có khả năng tác động tới các giai cấp, các nhóm, các giai tầng trong xã hội, góp phần làm thay đổi tính chất, cơ cấu của chúng, làm cho quan hệ sản xuất ngày càng trở nên cần thiết, thể hiện như sau:

    – Thông qua việc nâng cao trình độ học vấn cho cá nhân, giáo dục đã tạo điều kiện cho mỗi người có thể chuyển đổi giai cấp. Chính điều đó đã tác động đến cơ cấu giai cấp và nhóm xã hội sẽ thay đổi.

    – Bằng việc nâng cao dân trí, giáo dục tác động đến từng thành viên của giai cấp, của các nhóm xã hội và thông qua những thành viên này làm cho giai cấp tiếp cận được với văn minh chung của nhân loại.

    – Cũng thông qua việc nâng cao dân trí, giáo dục nâng cao nhận thức của công dân, tạo điều kiện để họ có hành vi đúng trong quan hệ ứng xử, nhờ đó mà quan hệ giữa con người với con người ngày càng trở nên thuần khiết hơn.

    3. Chức năng văn hóa- xã hội

    Giáo dục có tác dụng to lớn trong việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn dân, xây dựng một lối sống phổ biến trong toàn xã hội. Trình độ văn hóa của xã hội thông qua phổ cập giáo dục ngày càng được nâng cao dần, qua đó mà tạo ra nguồn nhân lực đông đảo với chất lượng cao, đồng thời có điều kiện phát hiện và bồi

    dưỡng nhân tài.

    “Một dân tộc không được giáo dục- dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được giáo dục- cá nhân đó sẽ bị xã hội loại bỏ”- A.Toffer

    Kết luận chung về chức năng xã hội của giáo dục

    – Cả 3 chức năng trên đều có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng, đan xen, hỗ trợ cho nhau. Cả 3 chức năng đều quan trọng nhưng trong bối cảnh hiện nay thì chức năng KT-xã hội là quan trọng nhất.

    – Giáo dục thông qua các chức năng của mình đã tác động sâu sắc và toàn diện tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Điều này khẳng định giáo dục là nhân tố, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội.

    – Nhận thức rõ vai trò của giáo dục với sự phát triển xã hội nên Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm PT giáo dục rất đúng đắn là: “Coi giáo dục-ĐT là quốc sách hàng đầu”; “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho PT”; “giáo dục vừa là mục đích, vừa là động lực cho sự PT xã hội”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Nguyên Nhân Và Biểu Hiện Của Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Kiểm Tra Chức Năng Gan Như Thế Nào?
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Gồm Những Gì? Hướng Dẫn Xem Các Chỉ Số Xét Nghiệm Gan
  • Sao Chép Định Dạng Trong Microsoft Word Bằng Format Painter
  • Cách Tìm Iphone Bị Mất Bằng Icloud Với Chức Năng Find My Iphone
  • Bài Giảng: Giáo Dục Học Đại Cương Nbsp;· Các Thế Hệ Loài Người, Chức Năng Trọng Yếu Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Là Hình Thành Và Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hiện Nay Có Thật Sự Tốt?
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tiếng Anh Là Gì?
  • Những Cố Gắng Trong Công Tác Gd
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Huyện 1 Năm Tuyển Được 3 Học Sinh
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Embed Size (px)

    • Bi ging: GIO DC HC I CNG Chng 1

      GIO DC HC L MT KHOA HC

      I. GIO DC L MT HIN TNG X HI C BIT

      1. Gio dc l nhu cu tn ti v pht trin ca x hi loi ngi

      Ngay t khi xut hin trn tri t, tn ti con ngi phi tin hnh hot ng lao ng.

      Trong lao ng v trong cuc sng hng ngy con ngi tin hnh nhn thc th gii xung quanh, dn dn tch lu c mt kho tng kinh nghim phong ph bao gm cc tri thc, k nng, k xo cng nhng gi tr vn ha x hi nh cc chun mc v o c, nim tin, cc

      dng hot ng giao lu ca con ngi trong x hi duy tr s tn ti v pht trin ca x hi lai ngi, con ngi c nhu cu trao i v truyn th li nhng kinh nghim tch ly y

      cho nhau. S truyn th v tip thu h thng kinh nghim chnh l hin tng gio dc. Gio dc l mt hin tng x hi c bit v ch c trong x hi loi ngi gio dc mi

      ny sinh, pht trin v tn ti vnh hng. Lc u gio dc xut hin nh mt hin tng t pht,

      din ra theo li quan st, bt chc ngay trong qa trnh lao ng (sn bt, hi lm, chn nui, trng trt). V sau gio dc tr thnh mt hot ng t gic c t chc, c mc ch, ni dung

      v phng php ca con ngi. X hi loi ngi ngy cng bin i, pht trin, gio dc cng pht trin v tr thnh mt hot ng c t chc chuyn bit : c chng trnh, k hoch, c ni dung, phng php khoa hc Nh vy, gio dc l hat ng truyn th v lnh hi

      kinh nghim lch s x hi t th h trc cho th h sau nhm chun b cho th h sau tham gia lao ng sn xut v i sng x hi.

      Mt quy lut ca s tin b x hi l th h trc phi truyn li cho th h sau nhng hiu bit, nng lc, phm cht cn thit cho cuc sng ca mi c nhn, gia nh, cng ng. Th h sau khng ch lnh hi, k tha cc tri thc, k nng, k xo, gi tr m cn phi tm ti, sng

      to v lm phong ph hn nhng gi tr . Nh lnh hi, tip thu, pht trin nh ng kinh nghim m mi c nhn hnh thnh v pht trin nhn cch ca mnh. Nhn cch mi ngi c pht

      trin ngy cng y , phong ph, a dng, sc mnh v tinh thn v th cht ca mi con ngi c pht huy s to nn ngun lc c bn p ng cc yu cu pht trin x hi trong nhng giai an lch s c th. Nh vy, s truyn th v lnh hi nhng kinh nghim c tch

      ly trong qu trnh pht trin x hi lai ngi chnh l nt c trng c bn ca gio dc vi t cch l mt hin tng x hi c bit. Gio dc l hat ng c thc, c mc ch ca con

      ngi, l h thng cc tc ng nhm lm cho ngi hc nm c h thng cc gi tr vn ho ca loi ngi v t chc cho ngi hc sng to thm nhng gi tr vn ho . Gio dc lm nhim v chuyn giao nhng tinh hoa vn ho, o c, thm m ca nhn loi cho th h

      sau, l c s gip cc th h sau ni tip nhau sng to, nng cao nhng g m nhn loi hc c. Cho nn c th coi gio dc nh mt kiu di truyn x hi gio dc thc hin c ch di

      sn x hi: l c ch truyn t v lnh hi kinh nghim c tch ly trong qu trnh pht trin ca x hi loi ngi. Chng ta c th thy nu khng c c ch di sn x hi – khng c gio dc th loi ngi khng tn ti vi t cch loi ngi, khng c tin b x hi, khng c

      hc vn, khng c vn ho, vn minh. V vy, bt k x hi no mun tn ti v pht trin c u phi t chc v thc hin hat ng gio dc lin tc i vi cc th h con ngi. Gio dc

      l nhu cu tt yu ca x hi lai ngi v s xut hin hin tng gio dc trong x hi l mt tt yu lch s.

      Tm li, gio dc l mt hin tng x hi c bit ch c trong x hi loi ngi, gio dc

      ny sinh, bin i v pht trin cng vi s ny sinh, bin i v pht trin ca x hi lai ngi. Bn cht ca hin tng gio dc l s truyn th v lnh hi kinh nghim lch s x hi ca

    • cc th h loi ngi, chc nng trng yu ca gio dc i vi x hi l hnh thnh v pht trin nhn cch con ngi. Vi ngha gio dc l nhu cu khng th thiu c cho s tn

      ti v pht trin ca x hi loi ngi. 2. Cc tnh cht c bn ca gio dc

      2.1. Tnh ph bin v vnh hng

      Gio dc hin din trong tt c cc ch , cc giai on lch s ca nhn loi, khng hon ton l thuc vo tnh cht, c cu x hi nh th no. Trong bt k mt ch x hi hay mt

      giai on lch s no th mc ch ca gio dc vn l chm sc, dy d, o to con ngi, l truyn th mt cch c thc cho th h tr nhng kinh nghim x hi, nhng gi tr vn ho,

      tinh thn ca loi ngi v dn tc, lm cho th h tr c kh nng tham gia mi mt vo cuc sng x hi. V vy gio dc tn ti v pht trin mi cng vi s tn ti v pht trin ca x h i loi ngi.

      2.2. Tnh nhn vn

      Gi tr nhn vn l nhng gi tr chung m bo cho s sng, tn ti v pht trin chung

      ca mi ngi, mi dn tc, quc gia trn tri t, l nhng gi tr v con ngi, cho con ngi, nhng gi tr v s sng hm nay v ngy mai. Gio dc lun phn nh nhng gi tr nhn vn gi tr vn ha, o c, thm m chung nht ca nhn loi v nhng nt bn sc vn ha truyn

      thng ca tng dn tc, tng quc gia. Gio dc lun hng con ngi n nhng ci hay, ci p, ci tt, pht huy nhng yu t tch cc trong mi con ngi nhm pht trin v hon thin

      nhn cch mi ngi. 2.3. Tnh x hi – lch s

      Trong sut qu trnh tn ti v pht trin, gio dc c mi lin h c tnh quy lut vi trnh

      pht trin ca x hi, th hin tnh qui nh ca x hi i vi gio dc. Gio dc ny sinh trn c s kinh t x hi nht nh, do tnh cht, mc ch, nhim v, ni dung ca mt nn

      gio dc bao gi cng chu s quy nh ca cc qu trnh x hi trong x hi . Lch s pht trin ca x hi loi ngi tri qua cc hnh thi kinh t – x hi khc nhau, do cc nn gio dc tng ng cng khc nhau. Khi nhng qu trnh x hi bin i, bt ngun t nhng

      bin i v trnh sc sn xut, tnh cht ca quan h sn xut x hi ko theo nhng bin i v chnh tr – x hi, cu trc x hi, h t tng x hi th ton b h thng gio dc tng ng

      vi hnh thi kinh t – x hi cng phi bin i theo. Chng hn, lch s lai ngi pht trin qua 5 giai on v c 5 nn gio dc tng ng vi 5 giai on pht trin ca x hi, l nn gio dc cng x nguyn thu, nn gio dc chim hu n l, nn gio dc phong kin, nn

      gio dc t bn ch ngha v nn gio dc x hi ch ngha. Ngay trong mt x hi nht nh, mi thi k lch s c th, gio dc mang nhng tnh

      cht v hnh thi c th khc nhau. Mc ch, ni dung, phng php gio dc, hnh thc t chc gio dc, chnh sch gio dcti mt giai on pht trin ca x hi lun chu s qui nh bi cc iu kin x hi giai on x hi y. V vy trong qu trnh pht trin ca gio dc lun

      din ra vic ci cch, i mi gio dc nhm lm cho nn gio dc p ng ngy cng cao nhng yu cu pht trin ca thc tin x hi trong tng giai an nht nh.

      T tnh cht ny ca gio dc c th thy gio dc khng nht thnh bt bin; vic sao chp nguyn bn m hnh gio dc ca mt nc ny cho mt nc khc, giai on ny cho giai on khc l mt vic lm phn khoa hc. Nhng ci tin, thay i, iu chnh, ci cch gio dc

      qua tng thi k pht trin x hi l mt tt yu khch quan. 2.4. Tnh giai cp

      Trong x hi c giai cp, gio dc bao gi cng mang tnh giai cp l mt tnh qui lut quan trng trong vic xy dng v pht trin gio dc. Tnh giai cp ca gio dc l s phn nh

    • li ch ca giai cp trong cc hot ng gio dc, th hin gio cho ai? Gio dc nhm mc ch g? Gio dc ci g? v gio dc u?… Trong x hi c giai cp, gio dc l mt phng

      thc u tranh giai cp, nh trng l cng c ca chuyn chnh giai cp, hot ng gio dc cng nh mi trng nh trng l mt trn a u tranh giai cp. Tnh giai cp ca gio dc

      th hin trong ton b h thng gio dc v trong ton b hot ng ca nh trng, t mc ch gio dc, ni dung gio dc n phng php v hnh thc t chc gio dc

      Trong x hi c giai cp i khng th giai cp thng tr bao gi cng dnh c quyn v

      gio dc v dng gio dc lm cng c, phng thc truyn b t tng, duy tr v tr x hi, cng c nn thng tr v s bc lt ca n i vi nhn dn lao ng. Do ton b nn gio

      dc t mc ch, ni dung, phng php gio dc n vic t chc cc kiu hc, cc loi trng v vic tuyn chn ngi hc, ngi dyu nhm phc v cho mc ch v quyn li ca giai cp thng tr x hi. Nn gio dc trong x hi c giai cp i khng mang tnh cht bt bnh

      ng, phn dn ch r rt v tnh cht pht trin phin din trong vic o to con ngi. Nn gio dc X hi ch ngha Vit Nam l nn gio dc mang tnh dn ch, tnh nhn o

      su sc, hng vo vic pht trin ton din v hi ho nhn cch ca mi thnh vin trong x hi. Nh trng ca chng ta l cng c ca chuyn chnh v sn theo nh hng x hi ch ngha, nn mc tiu chung ca gio dc l nng cao dn tr, o to nhn lc, bi dng nhn ti

      cho t nc; to c hi v iu kin cho mi ngi u c hc tp, c pht trin ton din v nhn cch v tr thnh ngi cng dn, ngi lao ng sng to, gp phn tch cc vo s

      nghip pht trin t nc giu mnh. 3. Cc chc nng x hi c bn ca gio dc

      Trong qu trnh tn ti v pht trin, gio dc v x hi c mt mi quan h rng buc, tt

      yu, hu c mang tnh quy lut. Chnh s pht trin ca mi quan h lm cho x hi v gio dc u pht trin. c bit trong thi i ngy nay gio dc c xem khng ch l sn phm

      ca x hi m tr thnh nhn t tch cc – ng lc thc y s pht trin ca x hi loi ngi.

      3.1. Chc nng kinh t sn xut

      X hi loi ngi mun tn ti v pht trin th phi c vic th h i trc truyn li nhng kinh nghim lch s – x hi cho th h i sau h tham gia vo i sng x hi, pht

      trin sn xut, tho mn ngy cng cao nhu cu ca con ngi. Cng vic do gio dc m nhn. Bt k mt nc no mun pht trin kinh t, sn xt th phi c nhn lc v nhn lc phi c cht lng cao. Nhn lc l lc lng lao ng ca x hi, l i ng nhng ngi lao

      ng ang lm vic trong tt c cc ngnh ngh, cc lnh vc kinh t, vn ha, x hi m bo cho x hi vn ng v pht trin ng quy lut.

      Chc nng kinh t – sn xt ca gio dc th hin tp trung nht thng qua vic o to nhn lc. C th l gio dc o to nhng ngi lao ng c trnh chuyn mn, nghip v v phm cht nhn cch cao, gio dc to ra sc lao ng mi mt cch kho lo, tinh xo, hiu

      qu va thay th sc lao ng c b mt i, va to ra sc lao ng mi cao hn, gp phn tng nng sut lao ng, y mnh sn xut pht trin kinh t x hi. Chnh gio dc ti sn

      xut sc lao ng x hi, to ra lc lng trc tip sn xut v qun l x hi vi trnh , nng lc cao. Gao dc gip cho mi thnh vin trong x hi cc c hi c m mang tr tu, trau di nhn cch, pht trin cc sc mnh tinh thn v th cht vn ln lm ch trong lao ng,

      trong cuc sng cng ng…. Khi mi thnh vin ca x hi u c tip nhn mt nn gio dc ng n th x hi thc s c ti sn xut sc lao ng vi cht lng cao hn. Ng i

      lao ng , do kt qu o to ca nh trng s c pht trin hi ha cc nng lc chung v

    • ring v do x hi s c tng thm sc lao ng mi thay th sc lao ng c b mt i. Sc lao ng mi c cht lng hn s em li nng sut lao ng nhiu hn.

      c bit trong x hi hin i, khi trnh pht trin ca nn kinh t l do trnh ca con ngi c gio dc v o to ra quyt nh th vai tr ca gio dc cng c khng nh.

      Trong nn kinh t th trng, ngun nhn lc cn c gi l ngun vn nhn lc (cng vi ngun vn ti nguyn, ngun vn sn xt v ngun vn khoa hc cng ngh) vi t cch l mt nhn t tng trng kinh t. Trong cc ngun vn th vn nhn lc c coi quan trng nht

      bi l n khng n thun l mt ngun

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Là Gì? Gồm Những Gì? Dạy Cái Gì?
  • Nhân Cách Và Giáo Dục Văn Hóa Nhân Cách
  • Bài 4: Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách
  • Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách
  • Giáo Dục Và Phát Triển Nhân Cách
  • Vai Trò Của Tôn Giáo Trong Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “vấn Đề Tôn Giáo Và Chính Sách Tôn Giáo”
  • Vấn Đề Tôn Giáo, Tín Ngưỡng Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Theo Tinh Thần Của Đại Hội Xipgs, Ts. Nguyễn Trọng Tuấn
  • Tính Xã Hội Và Tính Văn Hóa Của Tôn Giáo
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Bhxh Huyện
  • Vai Trò Của Bảo Hiểm Xã Hội
  • Tôn giáo là một phổ quát văn hóa nên nó đóng vai trò quan trọng trong xã hội loài người. Các nhà xã hội học, dù là duy chức năng hay duy xung đột đều nhất trí rằng tôn giáo là một định chế xã hội và có các chức năng chính sau:

    • Chức năng tích hợp xã hội hay còn gọi là kết hợp xã hội: tôn giáo có các giá trị, tiêu chuẩn của nó, vì thế những người có cùng một tôn giáo gắn bó với nhau hơn nhờ những giá trị và tiêu chuẩn chung ấy. Từ xã hội nguyên thủy, những thành viên của xã hội đã có chung một vật tổ – biểu hiện hữu hình của sự gắn kết. Ngày nay, tất cả những đồng tiền giấy của nước Mỹ đều in dòng chữ: Chúng con tin tưởng tuyệt đối vào Chúa hàm ý sự đoàn kết tập thể dự trên niềm tin. Tôn giáo, dẫu đó là Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Do Thái giáo, cũng đều cung cấp cho người ta ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ. Nó mang đến cho họ những giá trị tối hậu và những cùng đích nào đó để giữ họ chung lại với nhau. Trong những thời điểm khủng hoảng hay hỗn loạn, tôn giáo cũng giúp cho con người gắn bó với nhau hơn. Tuy vậy, tôn giáo không phải là định chế xã hội duy nhất có chức năng tích hợp, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc…cũng là chất keo gắn kết những thành viên của một xã hội. Mặt khác, cũng có khi sự “rối loạn chức năng” xảy ra, đó là lúc tôn giáo góp phần vào sự căng thẳng, thậm chí xung đột giữa các nhóm hoặc giữa các quốc gia với nhau. Thời Trung Cổ, niềm tin tôn giáo thúc đẩy tín đồ Cơ Đốc châu Âu tổ chức thành những đạo quân Thập tự chống lại tín đồ Hồi giáo phương Đông. Ngày nay, mâu thuẫn giữa các tín đồ Hồi giáo, Do Thái giáo và Kitô giáo cũng góp phần vào sự bất ổn định chính trị của khu vực Trung Đông hay căng thẳng giữa các tín đồ Tin Lành với Thiên Chúa giáo ở Bắc Ireland; giữa các tín đồ Ấn Độ giáo với đạo Sikh ở Ấn Độ… Việc xung đột giữa các tôn giáo khác nhau cho thấy cái gọi là tôn giáo bản chất là không tồn tại, do cái gọi là tôn giáo một khi đã xuất hiện thì phải dựa trên một quan điểm nào đó, mà khi dựa trên một quan điểm nào đó thì đã có quan điểm đối lập với nó rồi, nếu có một tôn giáo khác dựa trên (ít hoặc nhiều, một phần hoặc toàn bộ) một quan điểm đối lập thì hai tôn giáo trở thành (ít hoặc nhiều, một phần hoặc toàn bộ) mâu thuẫn với nhau. Chính vì thế, cái gọi là tôn giáo không phải là “TÔN GIÁO” theo đúng ý nghĩa thánh thiện và tối hậu của nó, thật sự có nơi mỗi tôn giáo.
    • Chức năng kiểm soát xã hội: tôn giáo không có chức năng kiểm soát xã hội, vì xã hội đối với tôn giáo chưa đủ “tiêu chuẩn” đáng để tôn giáo có thể xét đến, vì hiện tại nó quá nhiều khiếm khuyết về tính thánh thiện và đạo đức. Tuy nhiên, trong quá khứ, cũng từng có quan điểm sai lầm, trong đó có quan điểm duy xung đột, đặc biệt là của Karl Marx, tôn giáo ngăn cản sự biến đổi xã hội bằng cách khuyến khích những người bị áp bức vào các quan tâm ở thế giới khác, thay vì vào sự đói nghèo, hay sự bóc lột đang hiện diện. Quan điểm này cho rằng tôn giáo góp phần kiện toàn các định chế và trật tự xã hội như một tổng thể, duy trì hiện trạng của xã hội, giữ nguyên cấu trúc bất bình đẳng của nó cũng như củng cố lợi ích của tầng lớp thống trị. Thiên Chúa giáo dạy con người sự vâng lời và như vậy rất có thể nó làm cho những người bị áp bức không chống lại; hay hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ định hình cấu trúc xã hội của đại đa số người theo Ấn Độ giáo; những người cầm quyền thường viện dẫn tôn giáo để thực hiện quyền kiểm soát xã hội… Về điều này, có thể tóm tắt trong câu nói nổi tiếng của Karl Marx: tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại. Tuy nhiên, câu này không chính xác ở chỗ nó chưa thấy được thực thể con người không hoàn toàn là vật chất mà còn là một cấu trúc mang thuộc tính tâm linh. Mặt khác, những nghiên cứu của Max Weber về giáo phái Calvin của đạo Tin Lành đã dẫn đến kết luận tôn giáo có tác dụng thúc đẩy xã hội. Các cải cách của Tin Lành đã dẫn đến việc duy lý hóa xã hội, con người thay vì chấp nhận số mệnh và hướng về đời sống sau khi chết theo truyền thống, phải đạt tới cuộc sống thịnh vượng, phải phấn đấu để thành công bằng mọi nỗ lực để thực hiện hoạch định của Chúa. Weber cho rằng chính vì thế chủ nghĩa tư bản hình thành vững chắc ở những nơi mà giáo phái Calvin phát triển mạnh, thậm chí còn gọi tinh thần của tôn giáo này là cốt tủy của chủ nghĩa tư bản.
      Chức năng hỗ trợ xã hội: dù ít hay nhiều, con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất bại, thiên tai, bệnh tật,… cái chết của những người thân thuộc, yêu quý và cái chết của chính bản thân mình. Trong những lúc như thế, cuộc sống rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo giúp cho con người khó bị rơi vào tuyệt vọng hơn. Một số tôn giáo còn cung cấp cho con người những biện pháp như cầu nguyện, cúng bái thần linh trong niềm tin rằng những việc làm như vậy sẽ giúp cải thiện tình hình. Trên góc độ khác, tôn giáo còn cho con người một cứu cánh trong bất hạnh đó là coi bất hạnh ấy là ý của đấng thiêng liêng và có một ý nghĩa nào đấy mà con người không nhận thức được. Trong nghĩa cơ bản, tôn giáo tạo ra phương tiện để giải quyết những vấn đề sau cùng: sống, chết mà không có lẽ phải thông thường nào có thể đưa ra lời giải đáp. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Peter Berger nêu rằng khi đối mặt với những đe dọa như tai họa hay cái chết, sức mạnh hỗ trợ của niềm tin thần thánh hay sự thiêng liêng giảm đi rất nhiều nếu con người xem thần thánh đơn thuần chủ yếu là công cụ để giải quyết bi kịch.

    Niềm tin và thực tiễn tôn giáo vô cùng đa dạng và có rất nhiều tôn giáo trên thế giới ngày nay, có tôn giáo chỉ hạn chế trong một vùng địa lý không lớn nhưng có những tôn giáo có thể gọi là tôn giáo thế giới với nhiều triệu tín đồ ở khắp nơi trên thế giới. Nói chung có khoảng 87 phần trăm dân số thế giới đang gắn bó với một tôn giáo nào đó; chỉ có khoảng 13 phần trăm là không tôn giáo.

    Việc thống kê số liệu tín đồ của từng tôn giáo rất phức tạp và nhiều phương pháp khác nhau do đó các nguồn số liệu có thể cho kết quả khác nhau đáng kể, tuy vậy nó cung cấp cái nhìn tương đối về quy mô của các tôn giáo đặc biệt là trong tương quan với nhau.

    • Kitô giáo: với ba chi phái lớn của nó là Công giáo La Mã, Chính thống giáo Đông phương và Tin Lành là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất trên thế giới, khoảng 2,1 tỷ tín đồ chủ yếu ở Bắc Mỹ, Mỹ Latin, châu Âu và rải rác ở nhiều nơi khác trên thế giới. Kitô giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo ở Trung Đông và do Jesus Christ sáng lập. Kitô giáo theo thuyết độc thần thể hiện ở quan điểm về Chúa ba ngôi: Đức Chúa Cha – Đấng Tạo hóa; Đức Chúa Con (Jesus Christ) – Đấng Chuộc tội và Đức Chúa Thánh thần – sự hiện diện của Chúa vào một tín đồ. Jesus Christ bị hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập tự, từ đó cây thập tự trở thành biểu tượng thiêng liêng của tín đồ Kitô giáo và. Theo niềm tin của tín đồ Kitô giáo, Chúa phục sinh là bằng chứng về việc Người là con Thiên Chúa, Người được phái đến để giải phóng xã hội loài người. Con người không chỉ là bề tôi của Chúa, kẻ được cứu rỗi mà là con của Chúa, do vậy con người có bổn phận noi gương Chúa trong tình yêu cuộc sống, tình yêu đồng loại, con người phải sống thánh thiện và đạt đến cuộc sống vĩnh hằng. Từ khi ra đời và trong giai đoạn đầu, Kitô giáo bị ngược đãi, đàn áp nhưng dần dần đã được truyền bá rộng rãi trên thế giới. Đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới và là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nền văn minh phương Tây.
    • Hồi giáo: là tôn giáo có số lượng tín đồ đông thứ hai trên thế giới với khoảng 1,5 tỷ tín đồ chủ yếu tập trung ở Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á và rải rác ở khắp nơi trên trái đất. Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ 7, do Muhammad sáng lập. Muhammad là Đấng Tiên tri chứ không phải là thần thánh như Jesus Christ đối với người Kitô giáo, Ngài là Đấng tiên tri cuối cùng sau các Đấng tiên tri trước đó là Adam, Abraham, Moses và Jesus Christ. Vai trò của Muhammad là ghi lại lời của Thượng Đế và kinh Koran được các tín đồ coi là lời răn của Đấng Chí Tôn. Cũng giống Kitô giáo, Hồi giáo tin rằng có địa ngục, thiên đàng và ngày phán xét, mọi người có trách nhiệm giải thích trước Thượng Đế về những việc làm của mình trên trần thế. Tín đồ Hồi giáo cũng thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ đức tin, chống lại mọi đe dọa và trong một số trường hợp, giáo lý này của Hồi giáo được sử dụng để biện minh cho các cuộc Thánh chiến
    • Ấn Độ giáo: được coi là tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Ấn Độ khoảng 2500 năm trước Công nguyên. Khác với Kitô giáo và Hồi giáo, Ấn Độ giáo không liên kết với đời sống của một cá nhân nào, hay nói cách khác, không có người sáng lập. Qua hàng ngàn năm, Ấn Độ giáo và xã hội Ấn Độ với hệ thống đẳng cấp đan quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức người ta không thể dễ dàng mô tả riêng biệt, cũng chính vì thế mà Ấn Độ giáo khó truyền bá đến các xã hội khác. Thế nhưng đến nay, Ấn Độ giáo vẫn có khoảng 900 triệu tín đồ chủ yếu ở Ấn Độ, Pakistan và ở nhiều nơi khác trên thế giới với số lượng ít. Trong Ấn Độ giáo, công lý sau cùng không phải thuộc về vị thần tối cao mà thông qua chu kỳ tái sinh theo luật nhân quả. Mọi hành động của con người đều dẫn đến kết quả tinh thần trực tiếp, đó chính là nghiệp chướng (karma), đời sống chính đáng khiến cho tinh thần được hoàn thiện, ngược lại sẽ làm cho tinh thần suy đồi. Trạng thái cực lạc (nirvana) là sự hoàn thiện tinh thần trong đó linh hồn được sẵn sàng cho việc tái sinh một cách hoàn hảo.
    • Phật giáo: cũng có nguồn gốc từ Ấn Độ và khởi nguồn khoảng 500 năm trước Công nguyên. Tôn giáo này có nhiều phương diện giống với Ấn Độ giáo nhưng gắn với cuộc đời của người sáng lập – Thích Ca Mâu Ni (Siddartha Gautama). Tín đồ của Phật giáo hiện có khoảng 376 triệu, chủ yếu tập trung ở Tiểu lục địa Ấn Độ, Bắc Á và Đông Nam Á. Sau nhiều năm chu du và thiền định, Thích Ca Mâu Ni đạt đến trạng thái giác ngộ (bodhi), hiểu được bản chất của đời sống và trở thành Phật. Giống như Ấn Độ giáo, Phật giáo cho rằng có kiếp luân hồi, mọi hành động của con người đều có kết quả tinh thần và hoặc là thiện (dẫn đến sự hoàn thiện tinh thần), hoặc là ác (dẫn đến sự suy đồi tinh thần), vũ trụ mang tính đạo đức, có trật tự mà không có vị thần tối cao thực hiện công lý cuối cùng (hay nói cách khác toàn thể Vũ trụ đều là Chân như của Phật tính – Pháp thân của Phật khắp mọi nơi – điều này trùng với cái gọi là Đấng Tối Cao – Thiên Chúa trong niềm tin của tín hữu Thiên Chúa giáo). Mọi sự tồn tại của con người đều là khổ đau và muốn đạt đến sự bình an về tinh thần, Phật giáo phủ nhận mọi hình thức vui thú vật chất, thủ tiêu các ham muốn vật chất hay thể xác. Phật giáo cũng là tôn giáo đầu tiên đưa ra hệ thống phẩm cấp tu hành,
    • Khổng giáo: hình thành ở Trung Quốc và do Khổng Tử (551 – 479 trước Công nguyên) sáng lập. Có ít nguồn số liệu thống kê về các tín đồ Khổng giáo nhưng ước tính có hơn 150 triệu người là tín đồ của tôn giáo này và số người chịu ảnh hưởng còn nhiều hơn nữa chủ yếu tập trung ở Trung Quốc, Đông Bắc Á, Việt Nam, Singapore. Cũng như Phật giáo, Khổng giáo quan tâm sâu sắc đến những đau khổ trên thế giới nhưng phương cách cứu rỗi, thay vì thủ tiêu ham muốn, là sống theo những nguyên tắc cụ thể về hạnh kiểm, đạo đức. Khổng giáo đề cao nhân tính (jen), đạo đức luôn có vị trí cao hơn tư lợi, đạo đức của cá nhân tạo ra gia đình vững chắc và gia đình vững chắc trở thành nền tảng của xã hội vững mạnh. Không giống nhiều tôn giáo khác, Khổng giáo không hướng con người vào tương lai mà hướng vào đời sống thực tại một cách có đạo đức trong xã hội có kỷ cương, trật tự. Trong Khổng giáo, không có khái niệm rõ ràng về sự thiêng liêng, người ta có thể cho rằng Khổng giáo xét cho cùng không phải là tôn giáo mà đúng ra ra là nghiên cứu lịch sử Trung Hoa có kỷ cương…Nhưng cũng có điểm giống với tôn giáo là tập hợp niềm tin và hành lễ phấn đấu đạt cái thiện và tạo ra sự đoàn kết xã hội
    • Do Thái giáo: cũng hình thành ở vùng Trung Đông như Hồi giáo và Kitô giáo vào thời kỳ Đồ Sắt (khoảng 2000 năm trước Công nguyên). Mặc dù chỉ có khoảng 14 triệu tín đồ, chủ yếu ở Israel, Mỹ và châu Âu nhưng Do Thái giáo là một tôn giáo quan trọng vì đã tạo nền tảng lịch sử cho sự hình thành của Kitô giáo và Hồi giáo. Do Thái giáo do Abraham, tổ tiên và là nhà tiên tri của người Do Thái sáng lập. Do Thái giáo cũng theo thuyết độc thần, chỉ công nhận một mình Đức Chúa toàn năng. Điểm khác biệt của Do Thái giáo là mối quan hệ đặc biệt với Chúa, qua đó người Do Thái là “dân tộc được chọn” thông qua Giao ước (covenant). Giao ước được thể hiện dưới dạng như pháp luật và tập trung vào Mười điều răn Chúa tiết lộ cho Moses, nhà tiên tri đã dẫn dắt dân tộc Do Thái ra khỏi Ai Cập. Do Thái giáo coi năm quyển đầu tiên của bộ kinh mà đối với người Kitô giáo chính là kinh Cựu ước là Thánh thư – lịch sử cũng như pháp luật của mình. Do Thái giáo cũng không hướng đến thế giới bên kia mà xem quá khứ là nguồn hướng dẫn hiện tại và tương lai. Người Do Thái phục tùng ý Chúa bằng cách thực hiện đầy đủ tinh thần cũng như lời văn của Thánh thư thì một ngày kia, Chúa sẽ phái sứ giả mang thiên đàng xuống trái đất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Vai Trò Của Đạo Đức Tôn Giáo Trong Đời Sống Xã Hội
  • Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Của Xã Hội Học Đô Thị
  • Xã Hội Học Đại Cương Xa Hoi Hoc Dai Cuong Ppt
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học Bai 1 Doi Tuong Chuc Nang Phuong Phap Nghien Cuu Xhh Ppt
  • Khái Niệm Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100