Khái Niệm Truyền Thông Đại Chúng

--- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò
  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã
  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn
  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Khái niệm Truyền thông đại chúng * Khái niệm truyền thông đại chúng * Đặc trưng của truyền thông đại chúng * Chức năng của truyền thông đại chúng * Xu thế của truyền thông đại chúng và phương tiện truyền thông đại chúng; Truyền thông đại chúng là gì? – nhìn từ góc độ mô tả * TruyÒn th”ng ®¹i chóng lµ c¸ch thøc truyÒn ®¹t th”ng tin: – th”ng qua c¸c ph¬ng tiÖn kü thuËt (như ®µi ph¸t thanh, truyÒn hình, các Ên phÈm, phim ảnh, băng, ®Üa, m¹ng internet); – ®Õn ®¸m ®”ng c”ng chóng ph©n t¸n; – nh”m môc ®Ých cñng cè hoÆc thay ®æi nhËn thøc, quan ®iÓm hµnh vi cña hä ®èi víi c¸c vÊn ®Ò kh¸c nhau trong ®êi sèng x· héi. Truyền thông đại chúng là gì? Nhìn từ góc độ bản chất Truyền thông đó là một quá trình giao tiếp nhằm tạo lập một cách hiểu chung về vấn đề được đề cập. Thế nào là một hành động truyền thông? Thế nào là truyền thông đại chúng? DÊu hiÖuNguån M· ho¸ Vïng kinh nghiÖm Vïng kinh nghiÖm ĐiÓm nhËnGiải mã M” h×nh truyÒn th”ng cña Schramm (2) MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG CỦA BERLO Những th”ng ®iÖp đồng dạng Th”ng tin phản håi ĐÇu vµo tõ những nguån tin thêi sù, nghÖ thuËt, v.v.. Nhãm c”ng chóng Những ngêi thu nhËn, giải m·, diÔn giải, m· ho¸ Mçi ngêi kÕt nèi víi mét nhãm, n¬i th”ng tin ®îc t¸i diÔn giải M” h×nh truyÒn th”ng cña Schramm Các mặt của giao tiếp Mặt tương tác (Interactive) Mặt cảm nhận (perceptive) Mặt thông tin (Informative) So sánh: * “Quá trình thông tin” và “Quá trình truyền thông”; * “Truyền thông đại chúng” và “phương tiện truyền thông đại chúng”; * “Truyền thông đại chúng” và “báo chí” Các dấu hiệu đặc trưng của truyền thông đại chúng truyền thống Trong quá trình truyền thông đại chúng: * Các tài liệu, văn bản truyền thông được sản xuất để sử dụng trong một thời hạn ngắn; và * Được những tổ chức chính thức sản xuất ra với công nghệ phát triển; * Nhờ sự hỗ trợ của các loại kỹ thuật truyền thông khác nhau; * Có tiềm năng tác động đồng loạt tới một số lượng lớn công chúng mà đối với nhà truyền thông là vô danh; * Mang tính đại chúng, có nghĩa là không giới hạn sự tiếp cận; * Được truyền theo một hướng, có nghĩa là nhà truyền thông và người nhận tin không thể thay đổi vai trò. Đây là quan hệ bất đối xứng mà lợi thế nghiêng về phía nhà truyền thông; * Mang tính gián tiếp (không có phản hồi trực tiếp); cùng với * Tính chu kỳ của việc sản xuất thông tin; và * Các tư liệu truyền thông được cung cấp mang tính liên tục. Những ®Æc trng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng (Về kênh dẫn truyền) * TÝnh gi¸n tiÕp cña truyÒn th”ng ®¹i chóng Nhà truyền thông Công chúng Phương tiện kỹ thuật Những ®Æc trng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng (Về nhà truyền thông) 1. TÝnh cøng nh¾c cña viÖc chuyÓn ®æi vai trß giao tiÕp 2. TÝnh tËp thÓ của nhà truyền thông Những ®Æc trng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng (Về thông tin) 1. TÝnh chu kú cña th”ng tin 2. TÝnh ®Þnh híng cña th”ng tin trong truyÒn th”ng ®¹i chóng Những ®Æc trng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng (Về công chúng) 1. TÝnh ®¹i chóng cña c”ng chóng. 2. TÝnh ph©n t¸n cña c”ng chóng: vÒ kh”ng gian, thêi gian, nh©n khÈu x· héi. 3. TÝnh v” nh©n xng cña c”ng chóng: VÊn ®Ò “giao tiÕp mê”. Chøc năng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng 1. Cấp độ hệ thống: Chøc năng x· héi 2. Cấp độ nhóm: Chøc năng t©m lý x· héi 3. Cấp độ cá nhân: Chøc năng t©m lý Chøc năng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng Chức năng xã hội * Là công cụ của giai cấp lãnh đạo * Liên kết xã hội * Tổ chức, cổ động, tuyên truyền * Giáo dục, xã hội hóa * Hình thành và phản ánh DLXH Chøc năng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng Chức năng tâm lý xã hội * Định hướng xã hội – Quan hệ giữa cá nhân và xã hội – Vấn đề hiện thực bậc 1 và bậc 2 * Liên kết nhóm – Quan hệ cá nhân – nhóm – Nhu cầu liên kết * Tương tác xã hội – Quan hệ cá nhân với cá nhân – Các chủ thể của tương tác Chøc năng cña truyÒn th”ng ®¹i chóng Chức năng tâm lý * Giải trí – Giải toả tình cảm – Giải toả những căng thẳng thần kinh – Các hình thức giải trí * Tự khẳng định – Củng cố quan điểm đã có – Thay đổi quan điểm Những xu híng ph¸t triÓn cña c¸c ph¬ng tiÖn truyÒn th”ng ®¹i chóng 1. Xu híng phi ®¹i chóng ho¸ (demassification) 2. Xu híng th¬ng m¹i hãa (commercalization) 3. Xu híng tương tác hóa (interactive vs. traditional media) 4. Xu híng toàn cầu hóa (globalization)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội Tại Luận Văn Việt
  • Chức Năng Nhiệm Vụ, Bộ Máy Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Họ Nguyễn
  • Quy Chế Hội Khuyến Học Cơ Sở Quy Che Chi Hoi Kh Truong Thpt Muong Bu Doc
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chi Hội Khuyến Học
  • Công Tác Khuyến Học Khuyến Tài Ở Trường Thcs Quế Lộc
  • Truyền Thông Với Sự Phát Triển Của Văn Hóa Đại Chúng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Dân Tộc, Khoa Học, Đại Chúng Của Văn Hóa
  • Làn Sóng Hàn Quốc: Thành Công Của Văn Hóa Đại Chúng
  • Ẩm Thực Và Văn Hóa Hay Văn Hóa Ẩm Thực
  • Liên Hệ Bản Thân Về Việc Rèn Luyện Tu Dưỡng Đạo Đức, Lối Sống Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Đề Tài Về Cấu Trúc, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Hóa Pháp Luật
  • Thế giới đang vận động mạnh mẽ trong thời đại bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực truyền thông. Nó làm cho quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh và quyết liệt ở mọi không gian, thời gian. Toàn cầu hóa mang đến sự giao lưu, giao thoa, trao đổi trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa. Bên cạnh văn hóa truyền thống, văn hóa đại chúng (VHĐC) ngày càng phát triển mạnh mẽ và tác động sâu rộng đến đời sống xã hội. “VHĐC đề cập những hệ thống và những sản phẩm văn hóa mà phần đông nhân loại chia sẻ và biết đến” (1). VHĐC đảm nhận những chức năng xã hội quan trọng và ngày càng trở nên phổ biến. Bài viết này đề cập ảnh hưởng của truyền thông đến sự phát triển của VHĐC

    Thực tế, toàn bộ những thông tin, dữ liệu được lưu chuyển qua các phương tiện thông tin đại chúng đang dần trở thành nguồn tài sản chung của cả nhân loại. Điều đó không có nghĩa hiểu văn hóa là đại trà, mà chính nhờ công nghệ truyền thông, nhiều giá trị văn hóa tinh hoa trở nên gần gũi và đi vào đời sống dễ dàng hơn. Nhiều gia đình có thể tiếp nhận các chương trình truyền hình, phát thanh của các quốc g ia khác nhau nhờ thiết bị thu tín hiệu qua vệ tinh. Hệ thống thông tin đại chúng toàn cầu trở thành hàn thử biểu cho thời tiết chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Nó có vai trò như một phương tiện cung cấp dữ liệu thông tin phong phú, đa dạng, được xem như một cơ sở, một điều kiện cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển của từng quốc gia, trong đó nhiều nước coi văn hóa là sức mạnh mềm để lan tỏa sự ảnh hưởng của mình ra bên ngoài. Trong các phương tiện truyền thông, internet đạt được hiệu quả cao nhất và có bước phát triển nhanh nhất. Internet giúp con người và các tổ chức của con người thực hiện quyền tự do biểu đạt, thậm chí cả quyền tự do hội tụ hoặc tự do liên kết. Nó đã trở thành phương tiện phát triển nhanh nhất từng được ghi nhận trong lịch sử loài người. Nếu năm 2006, cả thế giới có 1,076 tỉ người sử dụng internet thì đến năm 2022 con số này đã lên đến hơn 3,4 tỉ người (4). Hiện nay, toàn thế giới có hơn 1 tỉ website, hơn 1,6 tỉ người dùng Facebook, 305 triệu tài khoản Twitter. Mỗi ngày, có hơn 172 tỉ email được gửi đi, gần 4 tỉ lượt tìm kiếm trên Google, hơn 8 tỉ lượt xem trên Youtube, 145 triệu cuộc gọi qua Skype, hơn 5,2 triệu smartphone được bán ra, hơn 2,4 tỉ gb lưu lượng truy cập internet… Tại Việt Nam, theo báo cáo của NetCitizens, các khu vực thành thị có khoảng 50% dân số truy cập internet. Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và chúng tôi Hơn một nửa trong số này sử dụng internet mỗi ngày, với gần 50 giờ trên internet mỗi tháng. Người sử dụng internet nằm trong độ tuổi khá trẻ, tỉ lệ nam giới cao hơn 40% người dùng là giới nhân viên văn phòng. Theo sách trắng về công nghệ thông tin và truyền thông 2014 do Bộ TTTT phát hành thì Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển công nghệ, mạng internet, mạng viễn thông đi đầu trong khu vực. Với sự phát triển đó, Việt Nam hiện có 138 triệu thuê bao di động. Trong đó hơn 17 triệu thuê bao di động có kết nối internet băng thông rộng 3G; có trên 33 triệu người sử dụng internet và công nghệ GPS/IP được tích hợp vào hầu hết các thiết bị di động thông minh. Các mạng xã hội phổ biến đều phát triển phiên bản dành riêng cho điện thoại di động. Điều này không chỉ giúp người dùng mạng có thể truy cập thông tin mọi lúc mọi nơi từ thiết bị di động cầm tay mà giúp công chúng có thể viết bài, chia sẻ hình ảnh, video ngay từ điện thoại di động của mình. Thế hệ điện thoại di động mới đang dần được biến thành những cơ sở đa truyền thông. Chúng trở thành những cái lưu trữ dữ liệu ở trung tâm của ngành công nghiệp giải trí. Các cuộc gọi điện thoại, tải video, ảnh, trò chơi, âm nhạc và kết nối internet đang được tích hợp vào điện thoại. Người ta cho rằng điện thoại di động sẽ trở thành điểm tựa mà không gian công cộng kỹ thuật số xoay tròn xung quanh nó. Người dùng internet ở Việt Nam ở độ tuổi dân số vàng cũng là một yếu tố tích cực cho việc ứng dụng và phổ biến mạng xã hội.

    Việc có trong tay những thiết bị điện tử thông minh sẽ khiến tất cả chúng ta trở thành những người sản xuất văn hóa hay ít nhất cũng không phụ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ. Ví dụ, Youtube cho phép bất cứ ai tạo ra một đoạn video và tải nó lên mạng. Nhiều tài năng nghệ thuật, nhiều tác phẩm giá trị nhờ công nghệ được cả thế giới biết đến chỉ sau một đêm. Truyền thông đại chúng đã giúp cho giấc mơ của con người được thỏa mãn hơn bất kỳ phương tiện vật chất nào.

    Thế giới hiện đại đang có một sự dịch chuyển lớn từ văn hóa đọc sang văn hóa nghe nhìn, từ văn hóa tinh hoa sang văn hóa tiêu dùng, từ văn hóa bút mực sang văn hóa mạng với xu hướng hàng hóa hóa nghệ thuật và nghệ thuật hóa hàng hóa. Các xu hướng và các dòng chảy văn hóa vẫn liên tục chuyển động và những chuyển động này ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng, đa chiều hơn cùng với sự phát triển mạnh mẽ, thậm chí mang tính cách mạng của các loại phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu như trước đây, khi phân tích về sự hình thành và phát triển của VHĐC, người ta không thể bỏ qua vai trò quan trọng của tivi và radio, đặc biệt là trong quá trình thương mại hóa các sản phẩm văn hóa đại chúng như phim ảnh hay các album nhạc, thì nay, bên cạnh tivi và radio, người ta không thể bỏ qua vai trò của mạng internet toàn cầu, nhất là trong bối cảnh hội tụ truyền thông hiện nay.

    Môi trường thể hiện rõ đặc trưng tương tác nhất của các phương tiện truyền thông chính là mạng xã hội. Hầu hết các mạng xã hội với những tiện ích mạng và miễn phí như chia sẻ bài viết, hình ảnh, video, thực hiện các cuộc thăm dò, chiến dịch xin chữ ký… đang trở thành công cụ đắc lực cho những cá nhân biết tận dụng sức mạnh của thế giới phẳng trong việc đưa VHĐC đến với cộng đồng. Thay vì xây dựng một website với chi phí đầu tư lớn, một cá nhân có thể dễ dàng xây dựng trang web miễn phí với wordpss, ứng dụng những tính năng chia sẻ âm thanh, hình ảnh, video, file dữ liệu dựa vào các ứng dụng điện toán đám mây và tìm cách lan tỏa thông tin từ trang web miễn phí trên các mạng xã hội. Công nghệ kỹ thuật số tổ chức thông tin theo điện tử thành các bytes, hay những chùm thông tin riêng rẽ. Điều này cho phép nhiều thông tin được lưu trữ, xử lý ở tốc độ lớn hơn so với bất cứ phương tiện nào khác trong lịch sử loài người. Thông tin này có thể được nén trong quá trình truyền đi và giải nén khi nhận được, cho phép dữ liệu di chuyển với tốc độ lớn hơn, qua những khoảng cách lớn hơn. Phương tiện truyền thông kỹ thuật số cũng cho phép những thể hiện văn hóa được tái tạo lại vô tận và rẻ mà không mất đi chất lượng. Truyền thông chắp cánh được cho VHĐC bởi:

    Thứ nhất, VHĐC phản ánh và tạo hình cách nghĩ, cách sống của đại chúng. Thông qua truyền thông đại chúng, VHĐC có thể kiến tạo hình tượng/biểu tượng. Hiện tượng siêu sao điện ảnh, thời trang, âm nhạc, thậm chí người nổi tiếng đơn giản chỉ vì họ được nhiều người biết đến qua phương tiện truyền thông chứ không phải vì tài năng… đang dần thay đổi những quan niệm về giá trị. Sau một đêm trở thành người nổi tiếng không còn là giấc mơ.

    Thứ hai, VHĐC có thể tạo ra những không gian văn hóa, diễn đàn văn hóa. Các trang mạng xã hội có những góc dành cho văn hóa, điều VHĐC thu hút được mọi người tham gia là bởi ai cũng có thể tạo dấu ấn, tạo thương hiệu, giá trị riêng và nhận được sự phản biện tức thì. Nó làm cho không gian văn hóa trở nên sôi động, cập nhật. Việc thụ hưởng văn hóa không còn là đặc ân dành cho người có điều kiện và năng lực, mà dành cho tất cả mọi đối tượng.

    Bên cạnh đó, truyền hình bắt đầu phát triển mạnh ở Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ II và dần dần khẳng định vị trí bá quyền của mình trên lĩnh vực này. Hiệp hội các nhà phân phối truyền hình ước tính Hoa Kỳ kiểm soát trên 60% sản phẩm xuất khẩu truyền hình trên thế giới, chiếm khoảng 40 tỷ doan h t hu. Sự phát triển nhanh chóng của truyền hình trong nửa cuối TK XX đã tác động lớn đến quang cảnh nghe, nhìn của toàn thế giới. Các kênh truyền hình như CNN, BBC, HBO, Disney, Star Movies, Cenima… đang thống trị cách nghĩ, cách cảm của nhân loại.

    Có thể nói, nhờ truyền thông đại chúng mà nhân loại có khả năng hưởng thụ giá trị văn hóa do chính mình tạo ra trên khắp thế giới, con người gần gũi nhau hơn trong tư duy, trong hoạt động và những khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ. Truyền thông đại chúng góp phần đưa các sản phẩm văn hóa đơn chiếc thành sản phẩm hàng loạt. Thông qua phim ảnh, truyền hình, âm nhạc, internet, các sản phẩm văn hóa được xuất hiện với tần suất dày đặc và có mặt ở khắp nơi. Truyền thông đại chúng cũng góp phần đưa VHĐC trở nên phổ biến, truyền bá tới mọi đối tượng, lĩnh vực hoạt động xã hội, đồng thời góp phần xây dựng các chuẩn mực văn hóa, hoàn thiện nhân cách văn hóa toàn cầu.

    1. Barry Brummett, Rhetoric in popular culture, New York: St. Martin’s Press, 1994.

    4. chúng tôi

    Nguồn : Tạp chí VHNT số 401, tháng 11 – 2022

    Tác giả : ĐẶNG THỊ TUYẾT

    Ý kiến bạn đọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng
  • Thực Tập Quốc Hội: Đề Xuất Nâng Cao Chất Lượng Văn Hóa Đại Chúng Ở Việt Nam
  • Nâng Cao Văn Hóa Chính Trị Cho Đội Ngũ Cán Bộ Cơ Sở Thành Phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị Hiện Nay Klttviettuan Doc
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Xây Dựng Văn Hóa Chính Trị
  • Vai Trò Của Văn Hóa Chính Trị
  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Thông Tin Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn
  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Vai Trò Của Giáo Dục Vai Tro Cua Giao Duc 2 Doc
  • Vật Lý Trị Liệu Phục Hồi Chức Năng Gãy Xương Đòn Sau Khi Phẫu Thuật
  • 21.1. Đối tượng nghiên cứu của thông tin đại chúng

    – Khái niệm TTĐC: TTĐC là những thông tin truyền đi một cách hệ thống thông qua các phương tiện

    kỹ thuật đến một đám đông công chúng rộng lớn và phân tán nhằm mục đích duy trì, củng cố hay thay đổi hành vi của các cá nhân hay của các nhóm công chúng.

    – Đối tượng nghiên cứu của Xã hội học thông tin đại chúng: Xã hội học TTĐC là một chuyên ngành của Xã hội học nghiên cứu về quá trình TTĐC, cấu trúc của nó, vị trí, vai trò và chức năng của TTĐC đối với đời sống con người và các tổ chức xã hội.21.2.

    21.2. Đặc trưng và chức năng của TTĐC 21.2.1. Đặc trưng của TTĐC

    – Tính gián tiếp của TTĐC

    – Tính gián đoạn của TTĐC

    – Tính đại chúng

    – Tính cứng nhắc của vai trò giao tiếp trong TTĐC

    – Tính phân tán của công chúng

    – Tính định kỳ của TTĐC

    – Tính vô nhân xưng của công chúng

    – Tính tập thể của người truyền tin

    – Tính định hướng của TTĐC

    – Tính thương mại hoá của thông tin

    – Xu hướng phi đại chúng hoá của TTĐC

    21.2.2. Chức năng của TTĐC

    – Chức năng giải trí

    – Chức năng tâm lý xã hội

    – Chức năng định hướng dư luận xã hội

    – TTĐC như một tác nhân của xã hội hoá

    21.3. Các hướng nghiên cứu về Xã hội học thông tin đại chúng – Nghiên cứu kênh dẫn truyền: Hiệu quả của kênh dẫn truyền, tổ chức và bài trí trong không gian của các phương tiện TTĐC, hệ thống phủ song của phát thanh và truyền hình, cách thức tổ chức và bài trí thông tin.

    – Nghiên cứu về nguồn phát: Tìm ra chân dung xã hội của người phát tin, đặc điểm tâm lý và lòng tin của người làm tin.

    – Nghiên cứu về công chúng: Chân dung xã hội của công chúng, mối quan hệ giữa công chúng với người phát tin, sự gần gũi tâm lý của công chúng.

    – Nghiên cứu nội dung thông tin,

    – Nghiên cứu hiệu quả thông tin: Sự thay đổi hành vi, lối sống, lòng tin của công chúng đối với thông tin, cách truyền đạt thông tin có hiệu quả cao đối với công chúng.

    Đối tượng nghiên cứu, đặc trưng và chức năng của thông tin đại chúng?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò
  • Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Truyền Thông Đại Chúng
  • Khái Niệm Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội Tại Luận Văn Việt
  • Chức Năng Nhiệm Vụ, Bộ Máy Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Họ Nguyễn
  • Giảng Dạy Các Môn Khoa Học Xã Hội Trong Thời Đại Văn Hóa Đại Chúng

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyền Thông Với Sự Phát Triển Của Văn Hóa Đại Chúng
  • Tính Dân Tộc, Khoa Học, Đại Chúng Của Văn Hóa
  • Làn Sóng Hàn Quốc: Thành Công Của Văn Hóa Đại Chúng
  • Ẩm Thực Và Văn Hóa Hay Văn Hóa Ẩm Thực
  • Liên Hệ Bản Thân Về Việc Rèn Luyện Tu Dưỡng Đạo Đức, Lối Sống Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI

    Ở PHỔ THÔNG

    TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

    PGS.TS. PHAN THỊ THU HIỀN

    ĐHKHXH&NV Tp HCM

    Thời hội nhập toàn cầu

    Thời đại của văn hóa đại chúng

    1. Văn hóa đại chúng

    2. Thời đại văn hóa đại chúng và ảnh hưởng đối với giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông

    3. Phương hướng giảng dạy các môn khoa học xã hội ở trường phổ thông trong thời đại của văn hóa đại chúng

    1. Văn hóa đại chúng

    1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng

    1.2. Quá trình hình thành và phát triển văn hóa đại chúng

    1.3. Đặc điểm và vai trò của văn hóa đại chúng

    1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng

    (1) Văn hóa đại chúng được ưa thích rộng rãi bởi nhiều người.

    Định lượng: số đầu sách, số album / đĩa bán ra (best-seller), số người tham dự những sự kiện ca nhạc, thể thao, lễ hội…

    (2) Văn hóa đại chúng là văn hóa thấp hơn so với văn hóa tinh hoa (văn hóa cao)

    Văn hóa cao (High culture) : những hoạt động văn hóa thường là lĩnh vực của giới tinh hoa hay giới thượng lưu (ballet, opera, great literature, fine art…). Giá trị văn hóa của chúng được xem như siêu việt và vĩnh cửu. Các thành tựu văn hóa cao được bảo vệ, nghiên cứu trong các thư viện, bảo tàng, nhà hát, học viện…

    (4) Văn hóa đại chúng bao gồm tất cả những tiểu văn hóa mà những nhóm xã hội tạo nên cho chính họ (ngay cả những đối tượng không được cái chính thống / cái thống lĩnh chấp nhận)

    Văn hóa đại chúng

    và Văn hóa thống lĩnh

    Dominant culture / Mainstream culture (Văn hóa thống lĩnh, Văn hóa dòng chủ lưu)

    Marginal cultures (Những nền văn hóa bên rìa, ngoài lề)

    1.1. Khái niệm văn hóa đại chúng

    a, Văn hóa đại chúng và Văn hóa tinh hoa

    b, Văn hóa đại chúng và Công nghiệp văn hóa

    c, Văn hóa đại chúng và Văn hóa thống lĩnh

    Định nghĩa

    Barry Brummett 1994: “Văn hóa đại chúng đề cập những hệ thống và những sản phẩm văn hóa mà phần đông nhân loại chia sẻ và biết đến”

    A.A.Radugin 1997: “Văn hóa đại chúng laø nhöõng saûn phaåm văn hóa ñöôïc saûn xuaát haøng ngaøy vôùi khoái löôïng lôùn, ñöôïc giôùi thieäu cho coâng chuùng roäng raõi nhaát theo caùc keânh truyeàn thoâng ñaïi chuùng khaùc nhau, ñöôïc tieâu thuï bôûi taát caû moïi ngöôøi, khoâng phuï thuoäc vaøo ñòa ñieåm vaø ñaát nöôùc sinh soáng”.

    Brian Flagel: “Pop culture là tất cả những gì phổ biến, thông dụng xung quanh chúng ta hàng ngày, khi bạn đi dạo trên đường hoặc ở trong phòng: xe hơi, âm nhạc, phim ảnh, truyền hình, sách báo, trang phục. Những cái là chung, là phổ biến trong những nước khác nhau: những giải trí chung (phim, trò chơi truyền hình,.),những thức ăn chung ( fast food Mc Donald, Coca Cola.), những môn thể thao chung (bóng đá), âm nhạc chung (pop, rock.), thời trang chung (Jean, Nike.).”

    1.2. Quá trình hình thành, phát triển

    Văn hóa đại chúng

    (1) Từ thập niên 90 TK XIX đến thập niên 40 TK XX: Thời kỳ manh nha, hình thành văn hóa đại chúng

    (2) Từ thập niên 50 đến thập niên 80 TK XX: Thời kỳ phát triển văn hóa đại chúng (chủ yếu ở Hoa Kỳ)

    (3) Từ thập niên 80 TK XX đến nay: Thời kỳ mở rộng của văn hóa đại chúng (qua các khu vực khác, đặc biệt là châu Á)

    (1) Từ thập niên 90 TK XIX đến thập niên 40 TK XX: Thời kỳ manh nha, hình thành Văn hóa đại chúng

    Văn hóa ñaïi chuùng vôùi yù nghóa ñích thöïc ra ñôøi ñaàu tieân ôû Myõ vaøo cuoái tk XIX ñaàu tk XX

    Báo, tạp chí phổ thông (popular newspaper and magazines), tiểu thuyết rẻ tiền (dime novels) cho đông đảo quần chúng

    Những năm 1880 đến những năm 1940

    Từ đầu những năm 1920, nhạc jazz (sau đó là nhạc swing) trở thành âm nhạc đặc thù của giới trẻ khắp Hoa Kỳ. Một hình thức thể hiện công cộng, sôi động của khao khát tự do, khao khát tình dục.

    Máy hát (được Emile Bertiner phát minh 1887), đài phát thanh (Guglielmo Marconi với radio transmitter đầu tiên năm 1888), băng ghi âm,

    Điện ảnh (bắt đầu với Hannibal Goodwin 1889, phim màn ảnh rộng với Thomas Edison 1896, phim câm phổ biến những năm 1910, phim nói từ 1927.

    (2) Từ thập niên 50 đến thập niên 80 TK XX: Thời kỳ phát triển VHĐC

    (chủ yếu ở Hoa Kỳ)

    Những thập niên 1970-1990

    Pop art là 1 trường phái nghệ thuật thị giác xuất hiện giữa thập niên 50 ở Anh, cuối thập niên này ở Mỹ, thực sự phát triển trong thập niên 60, 70.

    Richard Hamilton (ngu?i Anh, sinh 1922)- đã khái quát những quan điểm triết-m? cơ bản của Pop Art :

    Tính đại chúng

    Tính nhất thời, hiệu quả sử dụng cao, giá rẻ

    Tính trẻ trung, phóng khoáng, táo bạo, tươi mát, sinh động, dí dỏm, gợi cảm, quyến rũ

    Tính kinh doanh, thương mại

    (1) Tính đại chúng

    Pop art lấy đề tài, chất liệu từ đại chúng, từ những vật dụng thông thường hàng ngày

    (1) Tính đại chúng

    Pop art mở cho sự tham gia của công chúng

    – Nghệ thuật ứng tác (happening) mang tính ngẫu nhiên, tuỳ hứng, dựa trên tác động qua lại giữa người sáng tạo và người thưởng thức (“đồng sáng tạo”)

    (2) Tính nhất thời, hiệu quả sử dụng cao, giá rẻ

    *Tính nhất thời: giải pháp cấp kỳ, mẫu mã sản phẩm, hình thức thể hiện thay đổi theo mốt và nhu cầu của số đông

    *Hiệu quả sử dụng: nghệ thuật nhưng hữu ích trong tiêu dùng

    *Giá rẻ: chi phí SX thấp, giá cả phải chăng, phục vụ số đông

    (3) Tính trẻ trung, phóng khoáng, táo bạo, gợi cảm, dí dỏm, hài hước

    Ý tưởng táo bạo; bố cục ngẫu hứng; màu sắc hấp dẫn, lôi cuốn, có thể sặc sỡ, tương phản mạnh mẽ; tạo ấn tượng ngộ nghĩnh hoặc gợi cảm; nhấn mạnh những biểu tượng tình yêu, sự thoả mãn, tiện nghi.

    Tìm kiếm những vật liệu mới

    Khứơc từ những quy tắc (xã hội & nghệ thuật) truyền thống cứng nhắc, lạnh lùng

    (4) Tính kinh doanh, thương mại

    Andy Warhol: Đối với tôi, làm ra tiền là một nghệ thuật và kinh doanh giỏi là thứ nghệ thuật cao nhất”

    Những thập niên 1970-1990

    Punk rock dữ dội, mạnh mẽ. Giới thiệu những xu hướng thời trang (chains, dog collars, army boots…), những phong cách tóc (từ cạo trọc đến wild-looking)

    Từ 1978, Disco (sôi động và sexy)

    Những năm 80 với Michael Jackson và Madonna thách thức những quan điểm văn hóa giới truyền thống.

    (3) Từ thập niên 80 TK XX đến nay: Thời kỳ mở rộng của VHĐC (qua các khu vực khác, đặc biệt là châu Á)

    Computers ngày càng nhanh hơn, mạnh hơn.

    Cuối những năm 1980, Internet.

    1991, World Wide Web đơn giản hóa đáng kể sự sử dụng Internet. Trong lịch sử giao tiếp / truyền thông, Internet đã giúp cho con người tương tác với nhau hiệu quả, nhanh chóng, tiện lợi, bất kể khoảng cách giữa họ, hơn tất cả mọi công nghệ đã có.

    1990, kỹ thuật search trên Internet.

    1994, café Internet đầu tiên.

    1996, Google.

    2001, dịch vụ nhắn tin

    2002, công nghệ băng thông rộng được phát triển ở Hàn Quốc.

    Giữa những năm 1980, Đĩa compact thay thế băng nhựa vinyl.

    Công nghệ nén, MP3.

    Văn hóa đại chúng Trung Quốc

    VHĐC Ấn Độ

    – VHĐC Nhật Bản

    – VHĐC Đài Loan

    VHĐC Hồng Kông

    VHĐC Hàn Quốc

    Jennifer Philips & Veronica Washburn:

    (1) Media (Truyền thông)

    (2) Big companies (Những công ty lớn)

    (3) Influential people (Những nhân vật nhiều ảnh hưởng)

    (4) The teens (Tuổi teen)

    2.1. Đặc điểm và vai trò

    của văn hóa đại chúng

    Đặc điểm

    Judith N.Martin & Thomas K.Nakayama:

    a, Văn hóa đại chúng có tính đại chúng

    b, Văn hóa đại chúng gắn với công nghiệp văn hóa và có tính thương mại

    c, Văn hóa đại chúng hiện hữu hàng ngày và khắp mọi nơi

    Jack Nachbar & Kevin Lause 1992:

    “VHĐC vây quanh chúng ta như nước quanh con cá, như môi trường trong suốt hệ trọng cho chúng ta sống.

    Con cá nhìn qua (look through) nước hơn là nhìn vào (look at) nước và chúng ta cũng thường xem nhẹ sự hiện hữu toàn khắp của VHĐC vì nó là một phần quen thuộc của môi trường hàng ngày của chúng ta”.

    Vai trò của Văn hóa đại chúng

    Văn hóa đại chúng có thể kiến tạo hình tượng (image) / biểu tượng (symbol).

    Đến lượt mình, hình tượng, biểu tượng đó có thể tạo nên những khuôn mẫu (stereotypes).

    VHĐC có thể tạo ra

    những không gian văn hóa, diễn đàn văn hóa

    2. Thời đại của văn hóa đại chúng

    và ảnh hưởng đối với giảng dạy

    khoa học xã hội ở trường phổ thông

    2.1. Học trò phổ thông với văn hóa đại chúng

    “Teenager”, Internet, “Mature”

    IQ (Intelligence) và EQ (Emotion). Tương liên với Thành công và Hạnh phúc.

    Kiến thức, Phương pháp, Thái độ. (Kỹ năng “mềm”, kỹ năng xã hội).

    2.2. Giáo dục phổ thông với Văn hóa đại chúng

    Thời đại kinh tế tri thức, Thời đại của thông tin

    Học tập: chủ động, sáng tạo. Học tập suốt đời. Xã hội học tập

    Mục tiêu học tập

    Báo cáo năm 1996 của Uỷ ban quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI do Jaccque Delor làm Chủ tịch đã nêu bật tầm nhìn về 4 mục tiêu của giáo dục hiện đại bao gồm:

    (1) Học để biết

    (2) Học để làm

    (3) Học để tự khẳng định mình

    (4) Học để cùng chung sống.

    Hội nhập toàn cầu – Bản sắc dân tộc

    Con người Việt Nam – “công dân quốc tế”

    New Horizons for Learning (Những chân trời học tập mới): “Những chân trời mới cho học tập luôn có một nền tảng đa văn hóa và quốc tế và chúng ta tiếp tục học tập nhiều từ sự giao tiếp của chúng ta với những nước khác…”.

    Camille A. Allen và George P. Antone: “The Merge of Global Awareness and Classroom Culture: Helping Future Teachers Meet New Challenges” (Sự nảy sinh ý thức toàn cầu và văn hóa lớp học: giúp các giáo viên tương lai ứng phó được những thách thức mới): Các trường học phải “chuẩn bị cho học sinh, sinh viên đáp ứng những đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa và sự tương phụ thuộc ngày càng tăng giữa các dân tộc.”

    Thuận lợi và Khó khăn

    Cơ hội và Thách thức

    Những trang web độc hại

    Chủ nghĩa đế quốc văn hóa

    PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC

    TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG:

    KINH NGHIỆM HÀN QUỐC GỢI Ý CHO VIỆT NAM

    (trường hợp Bảo tàng văn học)

    Chú ý tới sáng tác (writing) – phê bình (criticism) – dịch thuật (translation), trong đó, lại chủ yếu tập trung khâu tác phẩm (work) hơn là tổng thể quá trình hoạt động (activity).

    Giới hạn văn học trong hình thức của văn bản (text), ngôn từ (verbal), ít chú ý những chiều kích thị giác (visual), thính giác (auditory), và những chiều kích tổng hợp khác.

    Chỉ xem xét văn học trong phạm trù của văn hóa tinh hoa (elite culture), văn hóa cao (high culture), với những giá trị siêu việt, vĩnh cửu, thuộc về giới chuyên nghiệp (professional) gắn với những tổ chức nghề như Hội nhà văn, những thể chế hàn lâm (academic) như trường đại học, viện nghiên cứu… Trong khi đó, thực ra, văn học ngày hôm nay còn ở giữa và không tách biệt với văn hóa đại chúng (popular culture).

    6 / 2013, academic tour

    Seoul, Namwon, Kyungju, Busan, Andong

    Ở Hàn Quốc

    đất nước có nền kinh tế đứng hàng thứ bảy trên thế giới,

    “đất nước internet hàng đầu thế giới”

    đất nước của “Hàn lưu” (Korean Wave, làn sóng văn hóa Hàn Quốc) đang lan rộng ở Châu Á

    văn học vẫn được đặc biệt coi trọng và quan tâm phát triển mạnh mẽ, hiệu quả.

    1. ĐỔI MỚI CÁCH THỨC TỔ CHỨC, PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

    2. ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

    1. ĐỔI MỚI CÁCH THỨC TỔ CHỨC, PHÁT TRIỂN NHỮNG THIẾT CHẾ VĂN HỌC TRONG THỜI ĐẠI CỦA VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG

    1.1. Quá trình hình thành, phát triển các bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

    1.2. Cách thức tổ chức, vận hành các Bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

    1.1. Quá trình hình thành, phát triển

    các bảo tàng văn học ở Hàn Quốc

    1992: Bảo tàng văn học Trinh thám, tại Busan

    Khi phân tích một hiện tượng văn hóa đại chúng, ta đi từ các tầng trên xuống.

    (1) The second floor: EVENT

    Lầu hai: SỰ KIỆN

    (1) The second floor: EVENT

    Lầu hai: SỰ KIỆN

    Những loại hình, thể loại

    Quy tắc, công thức tổ chức thể loại, tiến trình của sự kiện

    (2) First floor – Artifacts (Objects & People)

    Lầu 1 – Những sản phẩm văn hóa

    (Vật thể & Con người)

    (2) First floor – Artifacts (Objects & People)

    Lầu 1 – Những sản phẩm văn hóa

    (Vật thể & Con người)

    Những người và những đối tượng được đông đảo công chúng chấp nhận, tán thưởng

    Họ / Chúng chính là những thể hiện hữu hình / hiển thị (visible) của những niềm tin và giá trị nằm ở tầng nền móng

    (3) The basement – CULTURAL MINDSET

    Tầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA

    (3) The basement – CULTURAL MINDSET

    Tầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA

    (invisible)

    Những niềm tin và những giá trị nền tảng: trường tồn, vững bền, hệ trọng

    Những niềm tin và những giá trị bề mặt: nhất thời, nông cạn, biến đổi

    (3) The basement – CULTURAL MINDSET

    Tầng nền móng – TÂM THỨC VĂN HÓA

    Hoa Kỳ

    Những giá trị và niềm tin nền móng:

    – American Dream,

    – tự do cá nhân,

    – giá trị của gia đình hạt nhân

    Thiết kế, tổ chức sự kiện vănhóa đại chúng thì phân tích từ tầng nền móng lên các tầng trên.

    Cuộc thi Hoa hậu các miền đất võ

    Bricolage là một loại collage nhấn mạnh sự lệch lạc, sự giễu nhại, châm biếm

    b, Collage, Bricolage, Pastiche (Cắt dán, lắp ghép)

    Pastiche: hòa trộn những thành tố của tác phẩm khác hoặc nền văn hóa khác để giễu nhại.

    b, Collage, Bricolage, Pastiche

    (Cắt dán, lắp ghép)

    Những sản phẩm VHĐC sử dụng những thành tố khác nhau từ những cấp độ văn hóa khác nhau.

    c, Nostalgia (Hoài cổ)

    νόστος (nóstos) = “homecoming”

    [Homer ‘s Ulyssey] + ἄλγος (álgos) = “pain, ache”.

    “Homesickness”

    “Good old days”

    Nostalgia do một cái gì đó gợi nhớ một hình bóng, một sự kiện, một kỷ vật trong quá khứ của người ta. Xúc cảm có thể hạnh phúc hoặc sầu đau.

    c, Nostalgia (Hoài cổ)

    Sức mạnh của Popular culture là ở bản chất xúc cảm, xúc động của nó.

    Con người gìn giữ và nuôi dưỡng những trải nghiệm xúc động thời trẻ của mình khi đã qua thời tuổi trẻ

    Văn hóa đại chúng có thể thẩm nhập đông đảo công chúng bằng cách gắn với những ký ức của họ

    Hoạt hình Walt Disney, The Beatles, Disco, Barbie…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Tập Quốc Hội: Đề Xuất Nâng Cao Chất Lượng Văn Hóa Đại Chúng Ở Việt Nam
  • Nâng Cao Văn Hóa Chính Trị Cho Đội Ngũ Cán Bộ Cơ Sở Thành Phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị Hiện Nay Klttviettuan Doc
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Xây Dựng Văn Hóa Chính Trị
  • Vai Trò Của Văn Hóa Chính Trị
  • Bài Giảng: Văn Hóa Chính Trị
  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã
  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn
  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Vai Trò Của Giáo Dục Vai Tro Cua Giao Duc 2 Doc
  • Khái niệm

    Truyền thông đại chúng trong tiếng Anh là Mass Communications.

    Truyền thông đại chúng được hiểu là hoạt động truyền thông được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài, phát thanh, truyền hình… hướng tới những nhóm công chúng lớn.

    Đặc điểm của truyền thông đại chúng

    Đặc điểm của hoạt động truyền thông đại chúng là thông điệp được truyền tải đến công chúng một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, truyền thông đại chúng lại là hoạt động luôn chịu tác động từ nhiều phía: các nhóm công chúng xã hội rộng lớn, các thiết chế xã hội mà phương tiện là công cụ (báo, đài… của các tổ chức chính trị xã hội); và các cơ quan quản lí nhà nước.

    Ngày nay, hệ thống truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội, tuy nhiên, sự tác động các phương tiện truyền thông đại chúng rất khác nhau do khác biệt về địa vị xã hội, quyền lợi giai cấp, nhân tố tâm lí và cường độ giao tiếp đối với phương tiện truyền thông.

    Vai trò của truyền thông đại chúng

    Mặc dù các loại hình truyền thông cá nhân hay tùy chỉnh có giá trị nhất định trong ngành công nghiệp dịch vụ thông qua sự tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, tuy nhiên hoạt động của truyền thông đại chúng vẫn có tầm quan trọng nhất định trong các ngành công nghiệp dịch vụ.

    Việc tiếp xúc trực tiếp giữa nhân viên dịch vụ với khách hàng thông qua hoạt động truyền thông cá nhân hay tùy chỉnh chủ yếu hướng tới khách hàng hiện tại hay khách hàng tiềm năng của một nhà cung cấp dịch vụ hiện tại.

    Hầu hết khách hàng tiềm năng không có mối quan hệ tốt đẹp với nhà cung cấp dịch vụ. Chi phí để có được thêm một khách hàng thông qua hoạt động truyền thông cá nhân hay tuỳ chỉnh có thể sẽ cao hơn so với truyền thông đại chúng.

    Doanh nghiệp còn đối mặt với khó khăn trong việc thu thập thông tin của khách hàng khi số lượng khách hàng tiềm năng lớn. Truyền thông đại chúng có thể giải quyết được hạn chế trên thông qua hiện các hoạt động truyền thông hướng tới từng đoạn thị trường.

    Ở góc độ giá trị, hình ảnh thương hiệu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới nhận thức, cảm xúc và hành vi của khách hàng. Trong đó, truyền thông đại chúng là đòn bẩy quan trọng trong xây dựng giá trị thương hiệu, do đó, truyền thông đại chúng có giá trị trong ngành công nghiệp dịch vụ.

    Nhiệm vụ quan trọng của truyền thông đại chúng là cụ thể hóa các dịch vụ vô hình trong nhận thức khách hàng (thông qua các yếu tố vật chất , qui trình hay kết quả của dịch vụ).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Truyền Thông Đại Chúng
  • Khái Niệm Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội Tại Luận Văn Việt
  • Chức Năng Nhiệm Vụ, Bộ Máy Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Họ Nguyễn
  • Quy Chế Hội Khuyến Học Cơ Sở Quy Che Chi Hoi Kh Truong Thpt Muong Bu Doc
  • Mạng Xã Hội, Công Cụ Truyền Thông Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Góp Phần Ngăn Chặn Tin Giả Trên Mạng Xã Hội
  • Nhận Diện Tin Giả Trên Môi Trường Internet
  • “Ngăn Chặn Tin Giả Trên Mạng Xã Hội: Cần Giải Pháp Đủ Mạnh”
  • Chống Thất Thu Ngân Sách Nhà Nước: Nỗ Lực Ngay Từ Đầu Năm
  • Các Giải Pháp Khai Thác Nguồn Thu, Chống Thất Thu Ngân Sách
  • Công tác truyền thông công đoàn thời gian qua đã đạt những kết quả tích cực, song cũng còn bộc lộ một số hạn chế. Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam đã hướng dẫn các cấp công đoàn triển khai công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) thông qua mạng xã hội.

          Phát huy thế mạnh, hạn chế tiêu cực

          Theo bà Đinh Thị Thanh Thủy - Phó Chủ tịch Công đoàn KKT Dung Quất và các KCN tỉnh Quảng Ngãi, công tác tuyên truyền phải đi đầu để cán bộ, đoàn viên, NLĐ biết, hiểu, tin tưởng và đồng thuận. Tuy nhiên, nội dung tuyên truyền hiện nay chưa thu hút đoàn viên, NLĐ. “NLĐ cần thông tin gì phải đáp ứng nhu cầu thì mới hấp dẫn được. Nhưng công đoàn chưa mạnh dạn phản ánh những điều công nhân cần”, bà Thủy bày tỏ.

          Nói về mặt tích cực của mạng xã hội, bà Thủy cho hay, đơn vị đã lập 04 nhóm Zalo tại 04 khu để chuyển tải các nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn cũng như nhận các văn bản phản hồi của các công đoàn cơ sở (CĐCS) để xử lý tình huống pháp luật; hướng dẫn các CĐCS thành lập các nhóm Zalo tại cơ sở để định hướng thông tin tuyên truyền cho CNLĐ hoặc triển khai các hoạt động của đơn vị. Nhờ vậy, thay vì 3 ngày CĐCS mới nhận được công văn theo đường bưu điện thì nay chuyển qua Zalo CĐCS nhận được ngay.

          Vẫn theo bà Thủy, trong các nhóm Zalo còn có sự chia sẻ về những vướng mắc trong quá trình thương lượng những điều khoản cao hơn quy định của pháp luật; chủ doanh nghiệp yêu cầu so sánh với các đơn vị xung quanh cùng ngành nghề, NLĐ nước ngoài có đóng bảo hiểm hay không… hoặc các hình ảnh thể thao, thiện nguyện… qua đó các CĐCS đề đạt với chủ doanh nghiệp có các hoạt động chăm lo cho NLĐ… Tuy nhiên, khi sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, phổ biến thông tin cần tránh chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng hoặc lôi kéo, kích động tụ tập đông người dẫn đến những trường hợp đáng tiếc xảy ra.

          Bà Lê Thị Thanh Hiếu - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ngãi cho rằng, ngay từ khi mới ra đời, công tác tuyên truyền của Đảng luôn đi tiên phong và chủ yếu sử dụng các hình thức tuyên truyền miệng, rải tờ rơi, dán áp phíc, treo khẩu hiệu… Sau đó, phát triển thêm loại hình báo in, báo nói, báo hình. Ngày nay còn cần phát huy thế mạnh của các loại hình mạng xã hội, như: Zalo, Facebook, Mocha, Youtube, Viber, Instagram… để thực hiện nhiệm vụ.

          Đối với tổ chức Công đoàn, đề hình thành mạng lưới Fanpage, Facebook từ Tổng Liên đoàn xuống cơ sở theo một hệ thống, được quản lý, theo dõi khoa học và hiệu quả, góp phần làm tốt hơn công tác tuyên truyền, truyền thông thì cần nâng cao nhận thức và kỹ năng sử dụng mạng xã hội để mỗi cán bộ, đoàn viên công đoàn hằng ngày sử dụng mạng xã hội chủ động chia sẻ cho nhau một thông tin tích cực, một việc làm tốt đẹp.

           Kênh nắm bắt tâm tư, nguyện vọng

          Bà Nguyễn Khoa Hoài Hương - Chủ tịch Liên đoàn Lao động tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: Năm 2022, trang Facebook Công đoàn Huế được lập ra; năm 2022 để đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin của đoàn viên công đoàn, NLĐ và cán bộ công đoàn, Liên đoàn Lao động tỉnh thành lập thêm Fanpage Công đoàn Thừa Thiên Huế. Đến nay, 100% công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thiết lập trang Facebook và hơn 90% CĐCS trực thuộc có trang Facebook để thông tin tuyên truyền về chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước và hoạt động của các cấp công đoàn. 

          Đặc biệt, trong thời gian phòng chống dịch bệnh Covid-19, thực hiện giãn cách xã hội, Liên đoàn Lao động tỉnh đã sử dụng mạng xã hội như một phương tiện chỉ đạo hoạt động công đoàn và tuyên truyền hiệu quả. “Từ trang mạng xã hội Facebook, chúng tôi nắm tâm tư nguyện vọng của đoàn viên nghiệp đoàn xích lô, xe thồ, bốc vác; đoàn viên là cấp dưỡng mầm non, là CNLĐ bị tác động bởi dịch bệnh dẫn đến mất việc làm… qua đó, các cấp công đoàn đã vận động đoàn viên, NLĐ, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm triển khai chương trình “Chung tay phòng chống dịch Covid-19”, bà Nguyễn Khoa Hoài Hương cho biết.

          Giao lưu, kết nối, chia sẻ thông tin

          Bà Trần Thị Diệu Thúy - Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hồ Chí Minh cho biết, Liên đoàn Lao động thành phố đã vận dụng sáng tạo việc sử dụng mạng xã hội, trang Fanpage và kênh Youtube “Công đoàn thành phố Hồ Chí Minh”, tăng cường các hình thức truyền thông trực tuyến, tư vấn ứng dụng công nghệ thông tin… để thông tin, tuyên truyền tới các doanh nghiệp, NLĐ tại đơn vị. 

          Bà Thúy dẫn chứng, ngay trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 diễn ra, Liên đoàn Lao động thành phố thường xuyên chia sẻ thông tin về tình hình dịch bệnh và công tác phòng chống dịch qua các trang mạng xã hội của tổ chức Công đoàn nhằm lan tỏa thông điệp đến đoàn viên, NLĐ. Liên đoàn Lao động thành phố cũng đã tổ chức thành công các buổi tọa đàm, hội thảo, hội thi bằng hình thức Online, Video Clip thu hút hơn 200.000 lượt CNVCLĐ tham gia theo dõi và chia sẻ.

          Theo Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng Nai, so với các kênh tuyên truyền truyền thống như trực tiếp, qua tài liệu, qua loa phát thanh…, tuyên truyền qua mạng xã hội có ưu điểm nổi bật là thông tin chuyển tải rất nhanh và độ phủ sóng rộng hơn. Thực tế cho thấy, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có đông CNLĐ trên địa bàn tỉnh, NLĐ đều thành lập trang, nhóm của mình trên Facebook nhằm mục đích chính là chia sẻ thông tin, giao lưu, kết nối. Nhiều trang thu hút hàng ngàn, hàng chục ngàn NLĐ tham gia. Có thể kể đến như nhóm: Đoàn Thanh niên Pousung Việt Nam, Đoàn Thanh niên Changshin… với số lượng người tham gia, theo dõi rất đông, hiệu ứng tạo ra từ mỗi tin, bài đăng, chia sẻ trên các trang, nhóm này sẽ rất lớn.

          Nhiệm kỳ 2022 – 2023 là giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt của Công đoàn Việt Nam. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện, pháp luật đặt ra những yêu cầu mới đối với tổ chức Công đoàn. Cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ tư tất yếu có những tác động đến mô hình tập hợp NLĐ cũng như hoạt động của tổ chức Công đoàn. Hiện Việt Nam đã triển khai thực hiện các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và các công ước của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đòi hỏi tổ chức Công đoàn cần phải đổi mới sâu sắc và toàn diện hoạt động của mình để tạo dựng được niềm tin vững vàng trước đoàn viên, NLĐ. Trong đó, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động cho đoàn viên, NLĐ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Việc hình thành kênh thông tin tuyên truyền của tổ chức Công đoàn trên mạng xã hội là phù hợp với thực tiễn và xu hướng tiếp cận thông tin của công nhân trong điều kiện hiện nay./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “Văn Hoá Ứng Xử Của Giới Trẻ Trên Mạng Xã Hội”
  • Công Tác Quản Lý Mạng Xã Hội Trong Tình Hình Mới
  • Vấn Đề Nghiện Internet Ở Thanh – Thiếu Niên Việt Nam Và Một Số Yếu Tố Tác Động
  • Những Giải Pháp Cho Phát Triển Đô Thị Tại Việt Nam
  • Giải Pháp Quản Lý Các Công Việc Trong Công Ty Để Đạt Hiệu Quả Tốt Nhất
  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Vai Trò Của Giáo Dục Vai Tro Cua Giao Duc 2 Doc
  • Vật Lý Trị Liệu Phục Hồi Chức Năng Gãy Xương Đòn Sau Khi Phẫu Thuật
  • Gãy Xương Bánh Chè Bao Lâu Hồi Phục Có Thể Đi Lại Được?
  • Chúng tôi không còn phải mua thiệp sinh nhật cho bạn bè và gia đình của chúng tôi. Tất cả những gì chúng ta phải làm là đăng bài Chúc mừng sinh nhật! Lên dòng thời gian và họ sẽ biết rằng chúng ta đã nghĩ về họ. Mặc dù giữ vật thể sẽ đẹp hơn so với việc gửi tin nhắn cho nhau, nhưng thực tế cho thấy số lượng lớn cửa hàng thẻ quà tặng đã đóng cửa trên khắp thế giới khi phương tiện truyền thông xã hội trở nên phổ biến hơn.

    Những gì chúng ta gọi là mạng xã hội tiếp tục phát triển với mỗi ngày trôi qua và đã có sự phát triển công bằng riêng mình trong vòng 10-15 năm qua. Ngày nay, từ Facebook và YouTube đã tìm được đường đến mọi nơi trên thế giới. Đối với nhiều người trong chúng ta, hiện tượng mạng xã hội và những thuật ngữ mới này đã tìm đường vào cuộc sống của chúng ta cách bùng nổ. Nhiều người trong chúng ta thậm chí không có thời gian hoặc không nỗ lực để bắt kịp những gì đang xảy ra trên Internet.

    Ra khỏi than hồng, ngọn lửa tráng lệ bắt đầu bùng cháy với ngọn lửa khó hiểu.

    Chúng tôi sẽ đưa bạn qua các bước quan trọng nhất mà phương tiện truyền thông xã hội thực hiện cùng với sự phát triển của Internet trong những năm này. Bạn sẽ có thể thấy mọi giai đoạn phát triển mà mạng xã hội đã trải qua, cùng với những tiến bộ công nghệ nhất định dẫn đến nó.

    Chúng ta sẽ không quay trở lại thời kỳ đồ đá, thay vì bắt đầu từ những năm 90, nơi kết nối Internet ‘tốc độ cao’ mà chúng ta đã biết và tình yêu ngày nay vẫn chưa tồn tại.

    Giai đoạn đầu tiên (1997-2004)

    Ngay cả vào cuối những năm 90, Internet tốc độ cao vẫn không chạm tới ánh sáng mặt trời. Chúng tôi đã sử dụng modem quay số hoặc không có gì khác, vì vậy các website trong thời đại này được xây dựng với các tốc độ kết nối cực kỳ chậm này.

    Các website chủ yếu bao gồm các văn bản và các liên kết và không thực sự có bố cục thiết kế của YouTube. Chỉ các phiên bản sau của HTML mới cho phép thiết kế khó hơn nhưng ngay cả những phiên bản này cực kỳ cơ bản. Chúng chủ yếu bao gồm các thẻ cho tiêu đề, liên kết và đoạn văn. Các yếu tố trực quan như hình ảnh, kiểu chữ và điều hướng đến sau trong tương lai.

    Tại thời điểm này, có hơn 17 triệu máy tính được kết nối Internet, điều này mang lại rất nhiều cơ hội phát triển mạng xã hội.

    Chức năng và website mạng xã hội đầu tiên

    Trong số tiền thân của phương tiện truyền thông xã hội có Hệ thống Usernet. Nó được tạo ra vào năm 1979 bởi Jim Ellis và Tom Truscott, như hệ thống cho phép người dùng đăng bài viết lên các nhóm tin. Nó đã nhường chỗ cho sự phát triển của khách hàng đọc tin tức và đọc nguồn cấp dữ liệu RSS, đây là cách phổ biến để theo dõi website tin tức ngày nay. Website lớn như Google và Yahoo! sử dụng rất nhiều những gì đã được thiết lập trong hệ thống Usernet.

    Khi chúng tôi trở nên lão luyện hơn trong việc tạo ra các website và dịch vụ dựa trên web khác nhau cho các mục đích khác nhau, chúng tôi đã sớm khai sinh website truyền thông xã hội đầu tiên vào năm 1997. Tên của nó là Six Degrees, được đặt tên theo lý thuyết “.six degrees of separation”. Nó sống cuộc đời ngắn ngủi, từ 1997 đến 2001.

    Six Degrees đã cho khách khả năng tạo hồ sơ của họ và kết nối với những khách hàng khác. Ngay cả những người không đăng ký cũng có thể xác nhận tình bạn. Nhiều người đã kết nối theo cách này và nó đã nhường chỗ cho ý tưởng về mạng xã hội và nhiều ý tưởng hơn.

    Năm 2002, truyền thông xã hội có bước tiến lớn với Friendster, MySpace, LinkedIn Facebook tấn công Internet. Đã đến lúc phương tiện truyền thông xã hội phát triển, có rất nhiều website cung cấp khả năng có được vòng tròn bạn bè trên mạng của họ rồi tạo ra cộng đồng trực tuyến phong phú.

    Ví dụ rất hay là Friendster, công ty đã có hơn ba triệu người dùng trong năm đầu tiên ra mắt, cũng thu hút rất nhiều tiền lãi đầu tư. Con số tăng theo cấp số nhân và đạt hơn 100 triệu người dùng ở thời kỳ đỉnh cao. Đáng buồn thay, Friendster sớm thấy sự suy giảm của nó khi MySpace chiếm lĩnh lượt xem trang. Điều này khiến Friendster biến mất trong sương mù của Internet khá nhanh.

    Năm 2004, mạng xã hội mà mọi người biết đến ngày hôm nay, Facebook được ra mắt .

    Facebook được tạo ra tại Đại học Harvard và được sinh viên gọi là Friendster của riêng họ. Mặc dù nó chỉ dành cho sinh viên Harvard, nhưng người tạo ra nó, Mark Zuckerberg đã nhìn thấy tiềm năng của nó và mở Facebook ra toàn thế giới vào năm 2006. Ngay sau đó, Twitter đã được phát hành và mạng xã hội dần lan rộng và phát triển nhanh hơn.

    Bước nhảy vọt của mạng xã hội (2006-2010)

    API mở của nó giúp những nhà phát triển có thể tạo ứng dụng khác nhau có thể được khởi chạy trong chính Facebook. Ngay sau đó, hàng trăm và hàng ngàn ứng dụng đã được tích hợp vào Facebook, vì vậy đây là thời điểm chính để ra mắt Facebook App Store. Đó là nơi mà tất cả ứng dụng được tổ chức và hiển thị. Trong giai đoạn này, Twitter cũng đã tạo ra API riêng và cũng đạt được thành công trên quy mô lớn.

    Nút ‘Thích’ có mặt khắp nơi cũng là đóng góp chính đến thành công của website và nó nhanh chóng được biết đến trên Internet và thậm chí bên ngoài Internet. Hôm nay bạn có thể ‘thích’ hoặc ‘tweet’ bất cứ thứ gì bạn tìm thấy ở Internet.

    Khi mạng xã hội đạt sức ảnh hưởng lớn, Google đã ra mắt nền tảng mạng xã hội Google+ riêng mình vào năm 2007. Nó khác với Twitter và Facebook vì đây không phải là trang mạng xã hội độc lập. Nó đã thêm các chức năng xã hội vào các dịch vụ đã nổi tiếng của Google, tạo ra lớp xã hội trên chúng.

    Google có tính năng Hangouts độc đáo của riêng mình, điều này đã thu hút sự chú ý và nó đã dẫn đến việc Facebook cũng ra mắt tính năng trò chuyện video của riêng mình.

    Khi Google+ có hơn 25 triệu lượt xem trang và hơn 540 người dùng hoạt động mỗi tháng trong năm 2014, Facebook vẫn có được thành công lớn hơn nhiều.

    Nền tảng truyền thông xã hội khác như YouTube, Tumblr, Vine và Pheed cũng đáng được đề cập, nhưng có hàng ngàn website truyền thông xã hội cụ thể hiện nay.

    Sự trỗi dậy của thiết bị di động

    Những khả năng này sớm nhường chỗ cho các nền tảng chia sẻ Ảnh, Video như Instagram và Snapchat. Chỉ riêng Instagram đã thu thập được 20 tỷ hình ảnh kể từ khi ra mắt vào tháng 10 năm 2010.

    Các nền tảng dựa trên thiết bị di động như vậy có cách tiếp cận hoàn toàn khác trên mạng xã hội so với những gì chúng ta đã sử dụng trên ứng dụng dựa trên web. Mỗi ứng dụng này chuyên về loại dịch vụ và tương tác cụ thể, vì mục đích đơn giản. Ví dụ: Instagram và Snapchat chuyên chia sẻ hình ảnh, Tinder chuyên về mai mối, v.v.

    Truyền thông xã hội ngày nay

    Với rất nhiều nền tảng truyền thông xã hội có sẵn, các tài khoản được liên kết với nhau và đăng bài chéo, đưa ra nội dung trên nhiều website cùng lúc. Thiết kế của họ cũng hiện đại hơn và chúng ta có thể thấy sự phổ biến của chủ nghĩa tối giản trong số đó. Đồ họa phẳng và giao diện đơn giản thống trị các nền tảng phổ biến nhất thu hút nhiều đối tượng hơn.

    Cuối cùng, các trang truyền thông xã hội như Facebook và Twitter đã tích hợp tính năng phát video trực tuyến. Người dùng được phép có chương trình phát sóng trực tiếp của riêng họ bất cứ lúc nào. Bạn có thể có lợi ích duy nhất là chia sẻ mọi thứ, trong thời điểm này với người dùng khác.

    Phương tiện truyền thông xã hội vẫn nắm giữ khả năng chưa từng thấy cho mọi người trên khắp thế giới và tiếp tục phát triển ngay cả khi chúng ta nói.

    Tương lai của truyền thông xã hội

    Với sự phát triển của thực tế ảo và rạn nứt Oculus, phương tiện truyền thông xã hội sẽ ra mắt đến cấp độ hoàn toàn mới khá sớm. Facebook VR sẽ được phát hành khá sớm và người dùng được phép tương tác, chơi trò chơi và truy cập các website nổi tiếng trong môi trường ảo. Nó chắc chắn sẽ đưa phương tiện truyền thông xã hội đến gần hơn với trải nghiệm giống như khoa học viễn tưởng.

    Tóm lược

    Điều này kết thúc câu chuyện của chúng tôi về sự phát triển của phương tiện truyền thông xã hội. Chúng ta sẽ sớm thấy loại xoắn và ly kỳ mà nó sẽ mang lại trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã
  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò
  • Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Truyền Thông Đại Chúng
  • Khái Niệm Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội Tại Luận Văn Việt
  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Các Thông Tin Cần Thiết Về Tổ Chức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Zabbix Là Gì? Công Cụ Giám Sát Thông Minh Cho Mọi Doanh Nghiệp
  • Install Zabbix 3.0 (Monitoring Server) Trên Vps Sử Dụng Centos 7.x / Rhel 7.x
  • Bài 2: Các Tính Năng Của Zabbix
  • 1. Tổ chức xã hội là gì bạn biết không?

    1.1. Khái niệm “chuẩn” tổ chức xã hội là gì?

    Bạn có biết tổ chức xã hội là gì hay không? Là một phần của cơ cấu xã hội, với mỗi một tổ chức xã hội được hình thành sẽ có một dạng hoạt động riêng của tổ chức đó. Tổ chức xã hội là một hệ thống các quan hệ và tập hợp các liên kết của các thành viên trong tổ chức lại với nhau, thông qua hoạt động của tổ chức và liên kết với nhau để đạt chung một mục đích.

    Tổ chức xã hội có thể coi là một cấu trúc trong xã hội, là các mô hình tương quan tương quan tương đối ổn định giữa các cá nhân với nhau hoặc các đơn vị xã hội khác và các tổ chức xã hội là quy trình, cách thức mà các mô hình được tổ chức xã hội tạo ra và hoạt động theo một hình thức quy định chung.

    Tổ chức xã hội được đặc trưng bởi sự phụ thuộc lẫn nhau, điều xảy ra giữa các thành phần nhất định, ở mức độ khác nhau, hậu quả đối với một số hoặc tất cả các thành phần khác và mối quan hệ của chúng với nhau. Những hậu quả này có thể bao gồm từ mất mát, thậm chí hủy diệt, đến sự sống còn và các loại lợi ích khác. Tổ chức là một hoạt động có sự quy định và ổn định cũng như thay thế và chuyển đổi.

    1.2. Bản chất của tổ chức xã hội là gì?

    Một tổ chức xã hội là tập hợp của các cá nhân có chung mục đích và hoạt động theo một tổ chức để mang đến một lợi ích nhất định nào đó cho xã hội. Tổ chức xã hội cũng được coi là một nhóm xã hội, là một dạng nhóm thứ cấp phổ biến trong xã hội, tổ chức xã hội có bản chất cụ thể như sau:

    Thứ nhất, tổ chức xã hội được lập ra là có chủ định, tất cả các thành viên tham gia vào tổ chức đều ý thức được rằng họ chính là người làm nên tổ chức và để tổ chức hoạt động để đạt được một mục đích cụ thể nào đó.

    Thứ hai, nhóm xã hội cũng được xem là một tổ chức xã hội, tổ chức xã hội thể hiện các quan hệ quyền lực trong xã hội với nhau. Trong một tổ chức luôn có người đứng đầu và đưa ra quyết định quan trọng của tổ chức để các thành viên trong tổ chức cần làm theo định hướng được đạt ra để đạt được mục đích nhất định. Để hoạt động của tổ chức được hoạt động bình thường thì tổ chức thường hoạt động theo cấp bậc để điều chỉnh và quản lý tốt nhất các thành viên của mình trong nhóm.

    Thứ ba, tổ chức xã hội còn là tập hợp của các vị thế xã hội, trong tổ chức xã hội thì mỗi thành viên sẽ có một vị thế được xác định với quyền hạn và trách nhiệm của mình. Để hoạt động hiệu quả thì trong tổ chức thường giới hạn các hành vi được phép và giới hạn lại các hành vi không được làm.

    Thứ tư, trong tổ chức vai trò của các thành viên được thực hiện theo mong muốn của tổ chức. Mỗi người trong tổ chức sẽ được giao một nhiệm vụ và vai trò khác nhau, và thông qua vai trò của các thành viên trong xã hội để điều chỉnh mối quan hệ của các thành viên.

    2. Các hình thức tổ chức xã hội hiện nay như thế nào?

    Tổ chức xã hội hiện này rất nhiều, tuy nhiên thì không phải nhóm xã hội nào cũng được gọi là tổ chức xã hội. Vậy tổ chức xã hội được phân loại như thế nào?

    Thứ nhất, tổ chức nhóm uy quyền – các nhóm xã hội sơ cấp để tổ chức theo nhóm uy quyền là chủ yếu. Theo nhóm xã hội này thì những người có tố chất thủ lĩnh sẽ là người nắm uy quyền và dẫn dắt tổ chức. Với kiểm tổ chức theo nhóm uy quyền là một hình thức tổ chức đặc trưng của chính trị tại nhiều nước trên thế giới. Khi tổ chức nhóm theo uy quyền thì nhóm thường bị phụ thuộc vào người đứng đầu, thủ lĩnh là người tự ra quyết định, các thành viên trong nhóm, tổ chức sẽ là người phục tùng theo chỉ đạo của thủ lĩnh. Vị thể trong nhóm xã hội này dựa vào mối quan hệ của bạn với thủ lĩnh và thiếu sự khách quan. Sự phục thuộc của các thành viên trong tổ chức là sự ràng buộc kém bền vững.

    Thứ ba, hình thức tổ chức biệt lập – Total institution là một kiểu tổ chức xã hội hoàn toàn trái ngược với hình thức tổ chức tự nguyện. Các tổ chức biệt lập được hình thành và tổ chức hoạt động vì lợi ích của chính phủ, của một tổ chức tôn giáo nào đó, hoặc một tổ chức xã hội nào đó. Các thành viên trong tổ chức hoạt động tách biệt với xã hội, và bị cô lập với xã hội. Khi tổ chức hoạt động theo hình thức biệt lập thường ràng buộc các thành viên bằng các quy tắc, quy định, đồng thời các thành viên trong tổ chức đều phụ thuộc lẫn nhau, các cấp trong tổ chức được phân hóa và liên kết chặt chẽ. Với hình thức tổ chức này thường phổ biến ở các loại tổ chức như sau: Tổ chức của người không thể tự chăm sóc bản thân mình, tổ chức với những đối tượng nguy hiểm với xã hội, tổ chức lập ra để thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt trong xã hội.

    Thứ tư, tổ chức xã hội với hình thức quan liêu, đây là một hình thức tổ chức phổ biến hiện nay, các thành viên trong tổ chức được chia theo vai trò và mỗi vai trò sẽ có những nhiệm vụ cụ thể khác nhau. Các thành viên được thiết lập các mối quan hệ theo một thứ bậc quyền lực nhất định. Đây là kiểu tổ chức của rất nhiều các cơ quan xã hội hiện nay.

    3. Tìm hiểu về nhóm xã hội hiện nay

    3.1. Định nghĩa cho nhóm xã hội là gì?

    Nhóm xã hội là chỉ đến một nhóm người trong xã hội, và nhóm người này có chung một đặc điểm nào đó, có thể là về giới tính, về tình trạng hôn nhân, về thu nhập và về trình độ học vấn,… khi nhóm các thành viên xã hội lại với nhau thành một nhóm xã hội để giúp bạn có được nhìn nhận của nhóm xã hội đó, không chỉ vậy còn giúp trong quá trình nghiên cứu.

    Nhóm xã hội có sự tương tác qua lại với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau trong xã hội, một nhóm xã hội có thể là tổ chức xã hội khi nhóm xã hội đó là tập hợp của nhóm người có chung một mục đích và nhóm hoạt động theo một hình thức tổ chức xã hội cụ thể.

    Nhóm được cấu thành tù thành phần nhóm, cấu trúc nhóm, chuẩn mực nhóm xã hội, giá trị nhóm. Với mỗi thông số của nhóm mang đến một giá trị khác nhau, việc phân chia nhóm cũng được quy định tùy thuộc vào hướng tiếp cần của từng người.

    3.2. Phân loại nhóm xã hội hiện nay như thế nào?

    Cách phân loại nhóm trong xã hội có nhiều cách khác nhau. Để có thể phân chia nhóm xã hội thì dựa vào các căn cứ sau: Căn cứ và mức độ phát triển của văn hóa, căn cứ vào nhiệm vụ và chức năng, căn cứ vào dạng cấu trúc, căn cứ vào dạn tư tưởng chủ đạo, căn cứ vào thời gian tồn tại của nhóm, căn cứ vào hình thức hoạt động của nhóm, căn cứ vào hình thức hoạt động của nhóm. Dựa vào các căn cứ trên thì ta có các phân loại nhóm xã hội như sau:

    + Thứ nhất, nhóm quy ước và nhóm thực

    + Thứ hai, nhóm tự nhiên – nhóm thí nghiệm

    + Thứ ba, nhóm lớn – nhóm nhỏ

    + Thứ tư, nhóm đang hình thành – tập thể

    + Thứ năm, nhóm lớn không có tổ chức – nhóm lớn có tổ chức

    + Thứ sáu, nhóm sơ cấp – nhóm thứ cấp

    4. Trong doanh nghiệp nên hoạt động tổ chức theo hình thức nào?

    Khi hình thành một doanh nghiệp, để hoạt động doanh nghiệp hiệu quả thì cần phải tổ chức doanh nghiệp như một tổ chức xã hội thu nhỏ. Quản lý doanh nghiệp cần phải xác định một hình thức tổ chức doanh nghiệp cụ thể để có thể đưa doanh nghiệp phát triển bền vững được, không chỉ để phát triển bền vững mà còn cần phát huy được năng lực của các thành viên trong tổ chức, và quản lý được các thành viên trong tổ chức.

    Thông thường các doanh nghiệp thường hoạt động tổ chức của doanh nghiệp theo hướng kết hợp 4 hình thức tổ chức xã hội là tổ chức quan liêu, tổ chức nhóm uy quyền, tổ chức tự nguyện, tổ chức biệt lập.

    Trong doanh nghiệp cần có tổ chức theo hình thức tổ chức quan liêu để phân chia các bộ phận cụ thể, mỗi vị trí cụ thể trong doanh nghiệp sẽ đảm nhiệm một nhiệm vụ cụ thể thì doanh nghiệp mới hoạt động theo một thể thống nhất được.

    Doanh nghiệp cũng cần hoạt động theo hình thức tổ chức dân chủ, tự nguyện, các thành viên có quyền tự nguyện tham gia vào công ty và không bị ràng buộc, hay bắt buộc phải tham gia vào tổ chức doanh nghiệp. Việc bạn trở thành thành viên của doanh nghiệp là hoàn toàn tự nguyện, và là lựa chọn về nghề nghiệp cũng như môi trường làm việc của bạn.

    Doanh nghiệp cũng có những hoạt động uy quyền, các quản lý và các việc chính của doanh nghiệp đều được các quản lý cấp cao ra quyết định và nhân viên trong doanh nghiệp cần thực hiện theo những hoạch định và kế hoạch của được các nhà quản lý định ra.

    Không chỉ vậy, để tạo ra hiệu quả và thương hiệu riêng của mình các doanh nghiệp cũng cần có tổ chức theo một sự biệt lập rein và độc quyền ở một lĩnh vực cụ thể nào đó.

    Để hoạt động doanh nghiệp được hiệu quả thì cần phối hợp cả bốn hình thức tổ chức trên vào tổ chức doanh nghiệp.

    Qua chia sẻ về tổ chức xã hội là gì giúp bạn có thêm những kiến thức cần thiết để bổ xung vào kho tàng tri thức của bản thân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước
  • Khái Niệm Chính Sách Xã Hội, Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội
  • Chính Sách Xã Hội Là Gì? Tại Sao Xã Hội Cần Chính Sách Xã Hội?
  • Cách Xem Chung Video Facebook Với Bạn Bè
  • Tính Năng Hữu Ích Của Wifi Direct Trên Tivi Bạn Đã Biết Chưa ?
  • Hành Vi Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội. Các Hình Thức Và Chức Năng Của Kiểm Soát Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Học Đại Cương 2
  • Nhiệm Vụ Và Công Việc Của Nhân Viên Qc Trong Nhà Máy
  • #quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng (Qc) Chuẩn Cho Cấp Quản Lý
  • Chức Năng Thực Hiện Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Khái Quát Về Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam
  • Hành vi xã hội và kiểm soát xã hội (SC) là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học tương đối trẻ – tâm lý học xã hội. Sự hiểu biết của họ là cần thiết cho mỗi người. Rốt cuộc, thành công của nó ở một mức độ lớn phụ thuộc vào khả năng xây dựng các mối quan hệ xã hội mang tính xây dựng.

    Về mức độ xã hội hóa trẻ em

    Xã hội hóa của trẻ nhỏ được gọi là chính. Một đứa trẻ đi vào thế giới. giống như một tờ giấy trắng (tabula rasa), hoàn toàn không biết gì về xã hội. Chẳng mấy chốc, anh phát hiện ra rằng không gian xung quanh mình bị người khác chiếm chỗ. Chính họ là người xây dựng các mô hình cho em bé (mô hình, ma trận) để tìm hiểu về thế giới.

    Lĩnh vực xã hội sự kiểm soát xung quanh mỗi cá nhân rất phức tạp bởi hành vi xã hội phát triển của anh ta.

    Xã hội hóa thứ cấp của đứa trẻ trùng với việc mua lại một nền giáo dục chính thức. Nhiệm vụ chính của nó là trí thức hóa, tiếp thu các kỹ năng tư duy logic. Đứa trẻ mất đi địa vị độc nhất, đặc trưng của vị trí trong gia đình, trở nên bình đẳng trong trường với các đồng tu. Đồng thời, chính ở giai đoạn giáo dục, ông nhận được những ý tưởng chính về nhà nước, về bất bình đẳng xã hội, về hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội. Trong suốt quá trình xã hội hóa, đứa trẻ được cha mẹ chăm sóc.

    Xã hội hóa ở tuổi trưởng thành

    Ở giai đoạn thứ ba, đặc trưng bởi sự trưởng thành xã hội, một người trưởng thành (18-60 tuổi) giành được độc lập như một tác nhân kinh tế. Anh ấy (cô ấy) cá nhân kiếm tiền để cung cấp cho cuộc sống của mình, có được gia đình riêng của mình.

    Ở giai đoạn trưởng thành, vai trò xã hội của một người có được các địa vị pháp lý khác nhau (chồng, vợ, cha, mẹ). Ông cũng thích vị thế chuyên nghiệp, chính thức. Thông qua sau này, quyền lực có thể được giao phó cho anh ta. Sự trưởng thành xã hội của một người được thể hiện ở sự tham gia tích cực của anh ta vào đời sống xã hội của các cộng đồng khác nhau xung quanh anh ta – công nghiệp, quốc gia, chung chung.

    Xã hội hóa người về hưu

    Xã hội hóa tuổi già bao gồm sự ra đi dần dần của một người từ hoạt động lao động tích cực. Ý nghĩa của nó là đi chệch khỏi đặc tính trì trệ bản ngã của tuổi nghỉ hưu, thể hiện ở:

    • giảm các biểu hiện của tinh thần;
    • cô lập về quá khứ;
    • trong sự gián đoạn của giao tiếp với hiện tại;
    • tổ chức một vòng tròn mới của truyền thông.

    Các lĩnh vực có thể có của chuyên môn này là một vị trí công cộng tích cực trong sự giáo dục của thế hệ trẻ, trong các nhóm xã hội tại nơi cư trú (ủy ban sân, hợp tác xã nhà mùa hè, v.v.)

    Sự thích nghi của con người trong xã hội là kết quả của hành vi xã hội

    Hành vi xã hội tích cực của đa số các thành viên trong xã hội cho phép họ giải quyết thành công các nhiệm vụ thích ứng quan trọng nhất ban đầu đối với một người, góp phần vào tiến bộ khoa học và kỹ thuật, tăng trưởng hạnh phúc và theo đó là mức sống.

    Về các loại hành vi xã hội

    Hành vi xã hội là có mục đích, với sự giúp đỡ của một người đạt được một mức độ định vị nhất định trong xã hội và trong một nhóm xã hội.

    Các loại hành vi xã hội khác nhau về chức năng và lợi ích:

    • đại chúng (phong trào chính trị, tôn giáo và kinh tế, tin đồn, thời trang);
    • nhóm (tập thể lao động, câu lạc bộ, sân, đồng tu, v.v.);
    • Porolevoy (mẹ, cha, macho, aksakal, con, v.v.).

    Ngoài ra, hành vi xã hội của một người được đặc trưng bởi định hướng mối quan hệ của anh ta với người khác, đó có thể là:

    • prosocial (thân thiện, gắn liền với mong muốn giúp đỡ, hợp tác);
    • cạnh tranh (mong muốn nổi bật, trở thành người giỏi nhất);
    • loại A (cáu kỉnh, yếm thế, thiếu kiên nhẫn, thù địch với mọi người);
    • loại B (thiện chí).

    Cuối cùng, việc phân loại hành vi xã hội xảy ra với một số mẫu hành vi nhất định:

    • thành tích thành công (vị trí sống tích cực);
    • tránh các thất bại (cô lập, giả định không tin tưởng);
    • tìm kiếm liên lạc hoặc tránh chúng;
    • mong muốn quyền lực, thờ ơ hoặc vâng lời nó;
    • mô hình hành vi chủ động hoặc bất lực.

    Các loại hành vi xã hội trên được phân loại là tuân thủ pháp luật. Ngoài họ, hành vi có vấn đề, lệch lạc và bất hợp pháp cũng xảy ra.

    Chúng tôi sẽ đề cập đến chúng trong bài viết này, coi các biện pháp trừng phạt là một yếu tố của thể loại kiểm soát xã hội.

    Kiểm soát xã hội là gì?

    Khái niệm này đã được chứng minh bởi nhà khoa học người Pháp T. Tarde, và cuối cùng được các nhà xã hội học người Mỹ R. Park và E. Ross đưa ra.

    Họ đã hiểu được bản chất của nó, xem xét tác động xã hội toàn diện đối với một cá nhân có hành vi lệch lạc (xã hội). Thông qua ảnh hưởng này, hành vi của anh ta đã được chuyển thành phù hợp với các chuẩn mực xã hội hiện có.

    Theo nghĩa rộng, các nhà khoa học coi kiểm soát xã hội là sự tương tác và tương quan liên tục của một cá nhân với xã hội và các nhóm xã hội. Rõ ràng, bản chất của sự kiểm soát như vậy rất quan trọng phụ thuộc vào loại hình xã hội. Một xã hội cổ xưa, toàn trị và dân chủ có những đặc điểm riêng, được thể hiện trong các tính năng của các quy tắc và chế tài xã hội.

    Hai hình thức kiểm soát xã hội

    Tùy thuộc vào sự hiện diện của địa vị xã hội, hai hình thức kiểm soát xã hội được phân biệt: không chính thức (tức là không chính thức) và chính thức.

    Nếu xã hội là cổ xưa, thì Vương quốc Anh hoàn toàn dựa trên sự lên án hoặc chấp thuận của một nhóm xã hội (thành viên gia đình, bạn bè, người quen và đồng nghiệp). Trong trường hợp này, họ đang nói về một Vương quốc Anh không chính thức.

    Trong một xã hội văn minh hơn, hành vi của các cá nhân được điều chỉnh bởi các thể chế nhà nước chuyên ngành: lập pháp và hành pháp, truyền thông. Sau này hoạt động ở cấp quốc gia và thành phố. Kiểm soát xã hội như vậy được gọi là chính thức.

    Sự kiểm soát bên ngoài quá mức đối với các hoạt động xã hội của công dân bởi quân đội, cảnh sát, tòa án và các cơ quan kiểm soát là đặc trưng của chế độ quyền lực – độc tài. Trong điều kiện như vậy, các quá trình xã hội bị biến dạng. Chúng giống như một con đường điều chỉnh một chiều. Kiểm soát xã hội nhà nước đối với các quốc gia có hệ thống toàn trị tìm cách trở nên toàn diện, nghĩa là kiểm soát toàn bộ xã hội. Một đặc điểm là trong hầu hết các trường hợp, những người xin lỗi của chế độ độc tài biện minh cho sự sáng tạo của mình bằng nhu cầu khôi phục trật tự, được cho là vì lợi ích của mọi công dân.Tuy nhiên, với cô, họ luôn xuống cấp về mặt xã hội, sự tự nhận thức và những nỗ lực ý chí cần thiết cho sự tự chủ hoàn toàn bị giảm đi.

    Trong một xã hội dân chủ, 70% quy định xã hội là tự kiểm soát. Sự phát triển của kiểm soát xã hội thường gắn liền với chế độ dân chủ quyền lực nhà nước.

    Mục đích của cả hai hình thức SC (bên ngoài và bên trong) là:

    • duy trì sự ổn định và trật tự trong xã hội;
    • tuân thủ tính liên tục trong lối sống và đặc thù của sự phát triển.

    Trong các xã hội phát triển cao, cả hai hình thức kiểm soát xã hội đồng thời cùng tồn tại, bổ sung hữu cơ cho nhau.

    Các loại kiểm soát xã hội

    Chính những nỗ lực chung của những người bị kiểm soát bởi lương tâm của chính họ là động lực chính của tiến bộ xã hội.

    Chức năng kiểm soát xã hội

    Có hai chức năng chính của kiểm soát xã hội:

    Một mặt, điều quan trọng là phải nhanh chóng và đầy đủ chống lại các nỗ lực phá hủy các giá trị xã hội. Các chức năng bảo vệ là bảo thủ trong tự nhiên. Nó đóng vai trò là nền tảng cho sự ổn định trong xã hội, kêu gọi sử dụng cẩn thận các sáng kiến ​​xã hội khác nhau. Trước hết, nó bảo vệ các giá trị nhà nước và tôn giáo, đời sống con người, quyền và nghĩa vụ và tính toàn vẹn về thể chất của công dân. Chức năng bảo vệ trực tiếp góp phần chuyển giao kinh nghiệm từ thế hệ cũ sang thế hệ trẻ.

    Với sự giúp đỡ của chức năng ổn định của kiểm soát xã hội, dự đoán và kỳ vọng về hành vi xã hội được đảm bảo. Điều này bảo tồn trật tự xã hội hiện có.

    Kiểm soát xã hội là công cụ quan trọng nhất của xã hội giúp cho sự đồng hóa và chấp nhận của mỗi người trong nền văn hóa thịnh hành. Nó là phổ quát. Rốt cuộc, hoàn toàn bất kỳ cấu trúc xã hội nào, thậm chí tồn tại trong một thời gian ngắn, là không thể nếu không có SK.

    Hệ thống kiểm soát xã hội

    Hệ thống kiểm soát xã hội bao gồm tám yếu tố:

    • hành động xã hội gây ra phản ứng môi trường đầy đủ;
    • một dẫn xuất của các giá trị xã hội hiện có, một hệ thống để đánh giá các hành động xã hội;
    • phân loại các hành động xã hội thành đáng trách và khuyến khích;
    • đánh giá nhóm đặc trưng của các tình huống xã hội phát sinh trong nhóm này (nhận thức xã hội);
    • các biện pháp trừng phạt xã hội như một phản ứng của xã hội đối với các hành động xã hội;
    • tự phân loại, tức là tự nhận dạng một người bằng cách thuộc về một nhóm nhất định trong môi trường xã hội;
    • lòng tự trọng cá nhân;
    • một đánh giá cá nhân về môi trường và hoàn cảnh mà người đó tiếp xúc với người khác.

    Về cơ chế kiểm soát xã hội

    Cơ chế kiểm soát xã hội bao gồm các chuẩn mực xã hội và các biện pháp trừng phạt.

    Các chuẩn mực xã hội (chính thức và không chính thức) quy định mọi người cách cư xử trong xã hội. Với sự giúp đỡ của họ:

    • quá trình xã hội hóa đang được điều chỉnh;
    • các cá nhân đoàn kết trong các nhóm xã hội, và các nhóm hòa nhập với xã hội;
    • kiểm soát hành vi lệch lạc.

    Theo mức độ nghiêm trọng, các tiêu chuẩn có thể được sắp xếp theo thứ tự sau: cấm kỵ (xúc phạm đền thờ, vi phạm điều răn, loạn luân), luật pháp (hành vi quy phạm của lực lượng pháp lý cao nhất), quyền và tự do, thói quen của một nhóm xã hội, truyền thống, nghi thức, phong tục.

    Họ hành động như một tiêu chuẩn, một bộ điều chỉnh cho các hành động, cảm xúc, suy nghĩ và bảo vệ các giá trị xã hội. Sau này đề cập đến các khái niệm của con người được xã hội chấp nhận về lòng yêu nước, công bằng, lòng tốt, tình yêu, tình bạn.

    Xử phạt tuân thủ kiểm soát xã hội

    Kiểm soát xã hội trong xã hội được thực hiện bởi mọi người trên cơ sở các chuẩn mực hiện có. Quy định diễn ra trên cơ sở nguyên tắc của mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội và các chế tài tương ứng với nó. Bị tước bỏ các biện pháp trừng phạt kèm theo, chuẩn mực xã hội rơi ra khỏi hệ thống kiểm soát xã hội, biến thành một lời kêu gọi, một khẩu hiệu, v.v.

    Các chế tài là:

    • tích cực (danh dự, danh tiếng, công nhận, khuyến khích, phê duyệt) và tiêu cực (kết luận, tịch thu tài sản phạt tiền, khiển trách, nhận xét, kết án);
    • chính thức (đến từ các tổ chức nhà nước), không chính thức (nhận từ người thân và đồng nghiệp trong các nhóm xã hội);
    • vật chất (quà tặng, tiền thưởng, tiền phạt, tịch thu) và đạo đức (bằng tốt nghiệp, giải thưởng, khiển trách).
    • lệch lạc (vi phạm là nhỏ và không bị trừng phạt);
    • phạm pháp (xử phạt của Bộ luật hành chính);
    • hình sự (chế tài của Bộ luật hình sự).

    Kết luận

    Kiểm soát xã hội là một công cụ mạnh mẽ để quản lý xã hội. Hầu hết dân số tự nguyện và không ngừng tuân thủ các chuẩn mực được thiết lập bởi xã hội.

    Hiện tại, điều này góp phần vào sự phát triển của các tổ chức siêu quốc gia, làm tăng tỷ lệ quan hệ doanh nghiệp.

    Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra thông qua sự ủy thác của các cường quốc nhà nước cho các cơ quan siêu quốc gia. Tuy nhiên, bản chất của kiểm soát xã hội trong xã hội thông tin hầu như không thay đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trật Tự Xã Hội, Lệch Lạc Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội
  • Kiểm Soát Xã Hội Đối Với Các Chuẩn Mực Trong Hoạt Động Khoa Học
  • Động Kinh Và Rối Loạn Cảm Xúc: Mối Liên Hệ & Cách Khắc Phục Hiệu Quả!
  • Các Rối Loạn Nhân Cách Và Hành Vi Do Bệnh Lý Não, Tổn Thương Não Và Rối Loạn Chức Năng Não
  • Bệnh Rối Loạn Thần Kinh Chức Năng Là Gì? Đối Tượng Nào Dễ Mắc Bệnh Nhất?
  • Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyền Thông Đại Chúng (Mass Communications) Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò
  • Đối Tượng Nghiên Cứu, Đặc Trưng Và Chức Năng Của Đại Chúng? Các Hướng Nghiên Cứu Trong Xã
  • Sự Phát Triển Của Truyền Thông Xã Hội Tổng Quan Ngắn Gọn
  • Vai Trò Của Nhà Trường Đối Với Tiến Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • TÔ THỊ OANH

    VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG

    KIẾM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

    Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    Chuyên ngành : Chính trị học

    Mã số

    : 60 31 20

    Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi Lưu Văn An

    HÀ NỘI – 2012

    2

    MỤC LỤC

    Trang

    MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………. 5

    Chương 1. VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

    TRONG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC – MỘT SỐ

    VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ………………………………………………………………………… 14

    1.1. Một số vấn đề về truyền thông đại chúng trong chính trị ………………….. 14

    1.2. Một số vấn đề về kiểm soát quyền lực nhà nước……………………………… 25

    1.3. Vị trí, vai trò của truyền thông đại chúng trong kiểm soát quyền

    lực nhà nước ……………………………………………………………………………………. 33

    Chương 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI

    TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG KIỂM

    SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM …………………………….. 41

    2.1. Đặc điểm truyền thông đại chúng và các cơ quan quyền lực nhà

    nước Việt Nam hiện nay ……………………………………………………………………. 41

    2.2. Thực trạng vai trò của truyền thông đại chúng trong kiểm soát

    quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay …………………………………………….. 50

    2.3. Một số giải pháp phát huy vai trò của truyền thông đại chúng

    trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam …………………………………… 76

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………. 96

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………. 100

    3

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

    TTĐC

    : Truyền thông đại chúng

    QLNN

    : Quyền lực nhà nước

    XHCN

    : Xã hội chủ nghĩa

    VH – TT

    : Văn hóa – Thông tin

    Nxb

    : Nhà xuất bản

    CTQG

    : Chính trị quốc gia

    4

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài

    Từ xưa tới nay, quyền lực nhà nước (QLNN) và kiểm soát QLNN đã và

    đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà chính trị ở tất cả các quốc gia.

    Kiểm soát QLNN là việc thiết kế, tổ chức và thực thi QLNN sao cho đạt được

    mục đích chung và đạt được hiệu quả cao nhất. Để có thể kiểm soát được

    QLNN cần có cơ chế xác định và các điều kiện cần thiết cho sự vận hành của

    nó trên thực tế. Cơ chế đó bao gồm kiểm soát bên ngoài và kiểm soát bên

    trong các cơ quan nhà nước.

    Ở nước ta hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bộ máy nhà nước ngày

    càng được đổi mới, hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền XHCN, tuy

    nhiên vấn đề kiểm soát QLNN vẫn còn nhiều bất cập. Ở một số nơi đã xuất

    hiện nguy cơ cán bộ, công chức nhà nước không thực hiện đúng chức trách

    của mình, quan liêu, tham nhũng, hạch sách nhân dân, đánh mất bản chất cách

    mạng chân chính của mình. Một số lượng lớn tài sản của quốc gia và của

    nhân dân bị những người có quyền lực chiếm đoạt. Có những đơn vị nhà nước

    làm thất thoát tài sản công lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Một số quan chức nhà

    nước đã và đang tiếp tục làm giàu bất chính, gây hậu quả xấu cho xã hội, làm

    suy yếu mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Niềm tin của một bộ

    phận không nhỏ quần chúng nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa

    (XHCN) có chiều hướng suy giảm. Đánh giá về vấn đề này, Đảng ta thẳng

    thắn chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

    trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng,

    lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy

    lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…” . Đến Đại hội XI,

    Đảng ta chỉ rõ: “Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức

    năng thông tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện

    thông tin đại chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước…”

    Vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Vai trò của TTĐC trong

    kiểm soát QLNN ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên

    ngành Chính trị học.

    2. Tình hình nghiên cứu đề tài

    Cho đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học đề cập đến TTĐC,

    vai trò của TTĐC trong chính trị; về kiểm soát quyền lực chính trị nói chung,

    kiểm soát QLNN nói riêng. Có thể chia thành các nhóm công trình như sau:

    6

    7

    trong số sách nghiệp vụ báo chí được xuất bản nhằm đào tạo, bồi dưỡng

    những kiến thức cơ bản về báo chí. Nội dung công trình này đề cập đến các

    vấn đề: báo chí và xã hội, những xu hướng phát triển của báo chí trên thế giới,

    luật pháp và sự tự điều chỉnh của báo chí, những đặc điểm dân tộc trong sự

    phát triển của báo chí.

    + Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội,

    Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách tập trung làm rõ các vấn đề: Truyền thông đại

    chúng tham gia quản lý xã hội: các vấn đề chung và những lĩnh vực đặc thù

    trong thời đại khoa học- công nghệ phát triển, hội nhập quốc tế; vai trò ngành

    quan hệ công chúng; từ quan điểm truyền thông đại chúng phân tích các nhân

    vật, tác phẩm, sự kiện điển hình. Đồng thời cuốn sách cũng phân tích vai trò

    của truyền thông đại chúng trong chống tham nhũng trên thế giới…

    + Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động,

    Hà Nội. Công trình nghiên cứu khá sâu về mối quan hệ giữa báo chí và dư

    luận xã hội, phân tích bản chất dư luận xã hội, bản chất hoạt động báo chí, đặc

    điểm báo chí hiện đại; mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội; cơ

    chế tác động của báo chí vào dư luận xã hội; vai trò của nhà báo trong quan

    hệ với dư luận xã hội.

    – Vũ Đình Hòe (chủ biên) (2000), Truyền thông đại chúng trong công

    tác lãnh đạo, quản lý, Nxb CTQG, Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu những vấn

    đề lý luận cơ bản về truyền thông và truyền thông đại chúng, các phương

    tiện truyền thông đại chúng, những vấn đề về truyền thông đại chúng hiện

    đại. Điểm đáng lưu ý nhất là các tác giả đã phân tích vấn đề lãnh đạo, quản

    lý và ứng xử với các phương tiện truyền thông đại chúng: mục đích và

    nguyên tắc, mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà

    nước đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, luật pháp với các

    phương tiện truyền thông đại chúng, hoạch định chính sách và chiến lược

    8

    9

    làm rõ các vấn đề: cơ sở lý luận về kiểm soát QLNN; thực tiễn kiểm soát

    QLNN ở một số quốc gia tiêu biểu; thực tiễn kiểm soát QLNN ở Việt Nam,

    những mâu thuẫn, bất cập trong kiểm soát QLNN mà Việt Nam đang và sẽ

    phải giải quyết trong tiến trình phát triển; Phương hướng và những giải pháp

    chủ yếu cho kiểm soát QLNN ở Việt Nam.

    + Lưu Văn An (2010), Quyền lực chính trị và hệ thống tổ chức quyền

    lực chính trị – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Báo cáo tổng hợp kết quả

    nghiên cứu đề tài cấp cơ sở, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh). Đây là

    những công trình làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền lực, quyền lực

    chính trị, kiểm soát quyền lực chính trị; phân tích vị trí, vai trò và mối quan

    hệ của Đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống tổ

    chức quyền lực chính trị nói chung, của Việt Nam nói riêng.

    + Đào Trí Úc (chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực

    hiện QLNN ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Cơ chế giám

    sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước – Một số

    vấn đề lý luận và thực tiễn (2010), Nxb CTQG, Hà Nội; Nguyễn Văn Thanh

    (2003), Thực hiện chức năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với

    hoạt động của các cơ quan nhà nước ở nước ta hiện nay (Luận văn thạc sỹ)…

    Phạm Ngọc Kỳ (2001), Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Nxb Chính

    trị quốc gia, Hà Nội,… là những công trình chú trọng nghiên cứu cơ chế và

    các hình thức kiểm tra, giám sát xã hội, kinh nghiệm phối hợp các cơ chế và

    hình thức này với các cơ chế và hình thức kiểm tra, giám sát của Nhà nước

    trong quá trình tổ chức thực hiện quyền lực chính trị, QLNN; nghiên cứu vấn

    đề kiểm tra, giám sát của của các cơ quan Nhà nước (như Quốc hội, Chính

    phủ, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) và các tổ chức ngoài Nhà

    nước như Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

    – Thứ ba, nhóm công trình về vai trò của TTĐC trong kiểm soát QLNN,

    tiêu biểu là:

    10

    + Trần Quang Nhiếp (chủ biên) (năm 2005), Nâng cao hiệu quả của

    báo chí trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện

    nay, Nxb CTQG, Hà Nội. Công trình đã cung cấp cho chúng ta những nghiên

    cứu về báo chí với chống quan liêu, tham nhũng; thực trạng của việc nâng cao

    hiệu quả của báo chí trong đấu tranh cống quan liêu, tham nhũng ở nước ta

    hiện nay và những biện pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí trong

    cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện nay.

    + Trần Danh Lân (năm 2007), Báo chí trong công cuộc đấu tranh

    chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay (Luận văn thạc sỹ). Công trình nghiên

    cứu về lý luận và thực tiễn bảo chất, chức năng, vai trò và nhiệm vụ của báo

    chí Việt Nam hiện đại trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng; những thành

    tựu và hạn chế của báo chí và đội ngũ các nhà báo nước ta trong cuộc đấu

    tranh chống tham nhũng qua hơn 20 năm Đổi mới, nhất là trong những năm

    gần đây; phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan cùng những

    bài học kinh nghiệm đã tạo nên những thành tựu của báo chí và các nhà báo

    nước ta trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng; đưa ra các giải pháp nhằm

    tiếp tục nâng cao và phát huy tác dụng, hiệu quả của báo chí nước ta trong

    cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

    Như vậy, có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa có công trình

    chuyên sâu nào nghiên cứu về TTĐC trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam một

    cách có hệ thống. Đây chính là “mảnh đất trống” để tác giả có thể tiếp tục

    nghiên cứu và bước đầu đưa ra những nhận định của cá nhân mình về vai trò

    của TTĐC trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam hiện nay.

    3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

    3.1. Mục đích

    Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng vai trò

    của TTĐC trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam hiện nay, tác giả luận văn đề

    11

    xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của TTĐC trong kiểm soát

    QLNN ở nước ta trong thời gian tới.

    3.2. Nhiệm vụ

    Để thực hiện mục đích trên, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ

    cơ bản sau đây:

    – Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về TTĐC, kiểm soát

    QLNN, vai trò của TTĐC trong kiểm soát QLNN.

    – Khảo sát thực trạng TTĐC tham gia kiểm soát QLNN ở Việt Nam

    thời gian qua.

    – Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của TTĐC

    trong kiểm soát QLNN ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

    4.1. Đối tượng nghiên cứu

    Để thực hiện đề tài này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là vai trò

    của TTĐC trong kiểm soát QLNN với tư cách là một cơ chế kiểm soát quyền

    lực từ bên ngoài nhà nước.

    4.2. Phạm vi nghiên cứu

    – Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của TTĐC trong kiểm soát QLNN

    ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, thông qua khảo sát ấn phẩm của một số cơ

    quan TTĐC: các đài: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh – Truyền

    hình Hà Nội; các báo: Nhân dân, Lao động, Thanh niên, Tiền phong, Công an

    Thành phố Hồ Chí Minh, Pháp luật và Đời sống; báo mạng điện tử: Đảng

    Cộng sản Việt Nam, chúng tôi Dantri; các tạp chí: Lý luận chính trị, Nhà

    nước và Pháp luật, Cộng sản, Quản lý Nhà nước.

    5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

    5.1. Cơ sở lý luận

    Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn dựa vào chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản

    12

    13

    Chương 1

    VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG KIỂM SOÁT

    QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    1.1. Một số vấn đề về truyền thông đại chúng trong chính trị

    1.1.1. Khái niệm và chức năng của truyền thông đại chúng

    1.1.1.1. Khái niệm truyền thông đại chúng

    Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của toàn cầu hóa, của cuộc cách

    mạng khoa học – công nghệ, TTĐC trở thành một hiện tượng đặc biệt phổ

    biến, tác động từng ngày, từng giờ vào các mối quan hệ xã hội, có ảnh hưởng

    tới từng địa phương, từng tổ chức, từng thành viên trong xã hội. Sự hội nhập,

    tương tác, liên thông giữa các lĩnh vực, các ngành, các mặt trong đời sống

    diễn ra rất đa dạng, phức tạp, nhanh chóng kéo theo nhu cầu mở rộng quy mô,

    phạm vi, hình thức hoạt động của các phương tiện truyền thông. Với những

    tiềm năng to lớn, các phương tiện TTĐC được sử dụng ngày càng nhiều vào

    các mục đích kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau. Có thể nói trong xã hội hiện

    đại không một tổ chức, lực lượng chính trị – xã hội nào lại không sử dụng

    TTĐC như một phương tiện để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình.

    TTĐC là một khái niệm có nội hàm rộng, hiện nay trong giới khoa học

    chưa có định nghĩa thống nhất. Từ nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau (cơ

    chế tác động, chức năng, mục đích sử dụng…) mà TTĐC được hiểu khác nhau.

    Thông tin (danh từ) là những điều hiểu biết, tri thức thu được qua

    nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau. Thông tin

    (động từ) còn được hiểu là truyền tin cho nhau để biết

    Báo chí theo nghĩa rộng là TTĐC, nghĩa hẹp là một loại hình của

    TTĐC. Đó là cơ quan ngôn luận của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, tổ

    chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân. Nó có tính định kỳ, đáp ứng nhu cầu

    thông tin nhanh chóng, đa dạng, chính xác của quảng đại quần chúng.

    14

    Truyền thông theo tiếng Anh (communication) là sự truyền đạt, thông

    tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông… Đó là quá trình trao

    đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt

    được sự hiểu biết lẫn nhau, để từ đó chia sẻ ý tưởng hay hành động vì một

    mục đích nhất định. Theo nguyên nghĩa gốc Latinh, truyền thông (commune)

    có nghĩa là chung hay cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con

    đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá

    nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội.

    Đại chúng (mass) là đông đảo quần chúng nhân dân trong phạm vi

    quốc gia, quốc tế.

    Các phương tiện thông tin đại chúng là các phương tiện truyền tải thông

    tin đến công chúng, bao gồm: báo, tạp chí, đài truyền hình, đài phát thanh,

    internet… Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là các thiết

    chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật đặc biệt nhằm

    chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông tin đại

    chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây là máy vi tính tạo ra

    những mắt xích quan trọng nối người này với người khác. Những phương tiện

    này có một đặc tính quan trọng là có khả năng truyền đạt nhiều thông điệp từ

    một nguồn đơn lẻ đến rất nhiều người khác nhau trong cùng một lúc.

    TTĐC là hoạt động chuyển giao các thông tin có tính phổ biến trong xã

    hội một cách rộng rãi và công khai thông qua các phương tiện thông tin đại

    chúng. Lĩnh vực hoạt động giao tiếp của TTĐC rất rộng, bao trùm các lĩnh

    vực của đời sống xã hội. Bản thân thuật ngữ TTĐC gợi mở cho thấy quá trình

    và hoạt động, quy mô và phạm vi truyền thông: đại chúng về nguồn phát (nhà

    báo, chính khách, doanh nghiệp, chuyên gia, công chúng…); đại chúng về

    phương tiện truyền tải, kênh truyền tin và công nghệ thông tin (sách, báo, tạp

    chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, internet, truyền thông đa phương tiện,

    15

    kỹ thuật truyền sóng, kỹ thuật số…); đại chúng về đối tượng tiếp nhận thông

    tin (là các nhóm, cộng đồng xã hội đủ mọi giới, nam, nữ, nghề nghiệp, dân

    tộc, tôn giáo…); đại chúng về hiệu quả, phạm vi ảnh hưởng (không chỉ bó hẹp

    trong vùng, khuôn khổ một quốc gia dân tộc mà còn vượt ra cả khu vực, thậm

    chí toàn cầu).

    TTĐC gồm hai yếu tố cấu thành là chủ thể và đối tượng. Chủ thể

    TTĐC lại bao gồm chủ thể quản lý và chủ thể thực hiện. Chủ thể quản lý là cơ

    quan nhà nước, tổ chức đảng, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế… Các chủ thể

    này thiết lập cơ quan quản lý, định hướng hoạt động, định hướng tư tưởng,

    quản lý hành chính. Chủ thể trực tiếp thực hiện việc phát tin là cơ quan báo

    chí, hãng thông tấn, các đài truyền hình, các đài phát thanh… với đội ngũ cán

    bộ quản lý và đội ngũ nhà báo, kỹ thuật. Bên cạnh tính độc lập tương đối, các

    cơ quan báo chí luôn chịu áp lực và sự chi phối của chủ thể sáng lập ra nó.

    Đối tượng tác động của TTĐC là công chúng, là số đông- một bộ phận dân cư

    hay cả cộng đồng xã hội, trong quốc gia và trên toàn thế giới. Đây là đối

    tượng chủ yếu mà các chủ thể quyền lực luôn có tham vọng chiếm lĩnh và áp

    đặt ý chí của mình. Đối tượng thứ hai chính là các cơ quan nhà nước, các

    đảng phái, tổ chức chính trị – xã hội, kinh tế. Đây là tác động ngược của

    TTĐC và qua đó nó khẳng định tính độc lập tương đối của mình.

    TTĐC có hai loại hình chủ yếu: ấn phẩm truyền thông và truyền thông

    điện tử. Ấn phẩm truyền thông bao gồm sách, báo, tạp chí, áp phích, tờ rơi;

    truyền thông điện tử bao gồm truyền hình, phát thanh, phim, băng đĩa…

    Tính chất của TTĐC thể hiện ở: tính khuynh hướng – phản ánh tư tưởng

    giai cấp, mà giai cấp thống trị thường nắm quyền chủ đạo; tính đảng – TTĐC

    là cơ quan ngôn luận của đảng chính trị, thể hiện lập trường chính trị, chiến

    lược, sách lược, mục tiêu khẩu hiệu của đảng; tính nhân dân – từ đặc trưng

    phổ cập, báo chí hướng đến đại chúng, đông đảo các tầng lớp nhân dân.

    16

    Nét đặc trưng của TTĐC là: tính thời sự – thông tin nhanh, thường

    xuyên cập nhật, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng; tính định kỳ ổn định cao, theo ngày, tuần, tháng…; chuyên đề, chuyên mục của phát thanh,

    truyền hình cũng theo định kỳ; tính phổ cập (đại chúng) – in nhiều, phát hành

    rộng rãi, càng đưa đến nhiều người càng tốt, thông tin không hạn chế, không

    bị kiểm duyệt đối với người tiếp nhận; tính thống nhất – in hàng vạn bản

    giống nhau.

    Trong những năm gần đây, TTĐC đã thay đổi nhanh chóng với sự xuất

    hiện các kỹ thuật thông tin từ vệ tinh, internet, truyền hình cáp, các hệ thống

    máy móc điện tử (video, máy chiếu), thậm chí cả các dụng cụ thu – phát thông

    tin của cá nhân như catset, đĩa, băng tiếng, băng hình… Khả năng và sức mạnh

    của TTĐC phụ thuộc trước hết vào năng lực tiếp nhận thông tin của đối

    tượng, trong đó phương tiện có tác động mạnh mẽ, rộng khắp hơn cả là các

    phương tiện nghe nhìn, trước hết là truyền hình và đài phát thanh.

    Ngày nay, khi đề cập đến TTĐC trước hết đề cập đến báo chí, nghĩa là

    báo và tạp chí. Hiện nay có các loại báo: báo in, báo truyền hình, báo phát

    thanh, báo ảnh, báo điện tử. Tạp chí cũng rất đa dạng về thể loại: tạp chí đưa

    tin tức, tạp chí nghiên cứu. Vì vậy trong nhiều trường hợp nói đến báo chí tức

    là nói đến TTĐC theo nghĩa hẹp. Đó là các yếu tố cơ bản nhất, tiêu biểu cho

    sức mạnh, bản chất, xu hướng vận động của TTĐC.

    1.1.1.2. Chức năng của TTĐC

    Trong xã hội hiện đại, TTĐC có các chức năng cơ bản sau đây:

    – Chức năng thông tin: Đây là chức năng đầu tiên của TTĐC. Đó là

    việc thu nhận và phổ biến những tin tức, sự kiện, quá trình… của đời sống xã

    hội đến các cơ quan công quyền và đông đảo người dân. TTĐC phản ánh,

    cung cấp những thông tin về các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và

    thế giới, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

    17

    18

    quan trọng tham gia trực tiếp vào quá trình chính trị. Nó mang đến cho các

    nhà lãnh đạo, quản lý những thông tin thời sự, những ý kiến phản ánh của dân

    chúng để từ đó đưa ra các chính sách, đồng thời TTĐC cũng là kênh thông tin

    lý tưởng để tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích và tổ chức thực hiện các chính

    sách đó; vừa mang chính sách đến người dân vừa giúp họ thực hiện.

    – Chức năng giám sát và phản biện xã hội: TTĐC tiến hành giám sát và

    phản biện chủ yếu đối với hoạt động của các cơ quan QLNN. TTĐC tiến hành

    theo dõi, phát hiện và cảnh báo đối với những quyết sách của các cơ quan công

    quyền, từ đó góp phần điều chỉnh và hoàn thiện dần hoạt động của hệ thống

    chính trị. Bên cạnh đó, TTĐC còn thực hiện chức năng của “tòa án công luận”

    nhằm tố giác những hoạt động sai trái của các quan chức, những tác động tiêu

    cực của các chính sách do các cơ quan quyền lực đưa ra, thông qua đó TTĐC

    trở thành phương tiện thực hiện quyền lực của nhân dân. Cơ sở chủ yếu của

    hoạt động giám sát và phản biện xã hội của TTĐC là dựa vào sức mạnh của dư

    luận xã hội – tức là các chuẩn mực giá trị của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong một

    xã hội dân chủ thì hoạt động giám sát và phản biện của TTĐC còn phải dựa

    vào pháp luật – cơ sở pháp lý của xã hội – chính điều này làm cho hiệu quả của

    việc giám sát và phản biện xã hội ngày càng được nâng cao.

    – Chức năng tổng hợp, liên kết và huy động lực lượng: TTĐC không

    chỉ phê phán những nhược điểm trong chính trị – xã hội, mà thực hiện chức

    năng tổng hợp các lợi ích xã hội khác nhau, tập hợp và liên kết các chủ thể

    chính trị. Nó là diễn đàn để các đại diện của các nhóm lợi ích khác nhau trong

    xã hội bày tỏ quan điểm, thông qua đó tìm được mối liên kết những người

    cùng chính kiến, tư tưởng; từ đó hình thành và thể hiện quan điểm, lợi ích của

    mình. Trong thế giới hiện đại, tiếp cận và sử dụng TTĐC là điều kiện cần

    thiết để hình thành các phe đối lập có uy tín trong xã hội. Ngược lại, nếu phe

    đối lập không tiếp cận TTĐC, đặc biệt là truyền hình, đài phát thanh, họ sẽ bị

    19

    20

    1.1.2. Chức năng của truyền thông đại chúng trong chính trị

    1.1.2.1. Chức năng định hướng tư tưởng chính trị

    Đây là một trong những chức năng quan trọng và đặc thù của TTĐC

    trong hoạt động chính trị. Trong xã hội, bất kỳ giai cấp nào khi nắm quyền

    thống trị đều cần phải tiến hành công tác tư tưởng. Đó là hoạt động tác động

    vào ý thức con người nhằm hình thành và củng cố hệ tư tưởng chính trị đang

    lãnh đạo xã hội. Mỗi giai cấp cầm quyền đại diện cho một hệ tư tưởng và tìm

    mọi biện pháp để hệ tư tưởng đó “hướng dẫn” ý thức của toàn xã hội thông

    qua nhiều kênh, nhưng quan trọng nhất là qua TTĐC. Các nhà nghiên cứu cho

    rằng, “báo chí có khả năng tác động thường xuyên có hệ thống và tính đến

    những thay đổi trong cuộc sống…, chính báo chí có khả năng bắt kịp được

    tình hình đang thay đổi từng ngày và chính vì vậy trong trường hợp cần thiết

    có khả năng thay đổi định hướng công chúng…” [30, tr.69].

    Vai trò định hướng tư tưởng chính trị của TTĐC được thể hiện thành

    hai hướng:

    – Thứ nhất, thông qua tạo dựng dư luận xã hội. Bằng sức mạnh của

    thông tin, TTĐC tác động trực tiếp vào nhận thức của người dân, từ đó tạo ra

    dư luận xã hội và thông điệp được chuyển tải. Cũng thông qua các luồng

    thông tin từ TTĐC, người dân không những làm quen với các sự kiện, hiện

    tượng trong xã hội mà còn thu nhận định hướng của những thông tin đó.

    Những định hướng mà công chúng thu nhận được là những tư tưởng chính trị

    của chủ thể sở hữu, những quan điểm, đường lối của đảng cầm quyền và nhà

    nước. Dư luận xã hội trở thành công cụ để giải quyết các vấn đề chính trị – xã

    hội và TTĐC đã góp phần định hướng sự vận động của các tiến trình chính trị

    – xã hội.

    – Thứ hai, thông qua giáo dục tư tưởng chính trị và xã hội hóa chính trị.

    Trong quá trình định hướng tư tưởng chính trị cho công chúng, TTĐC không

    21

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Truyền Thông Đại Chúng
  • Khái Niệm Chức Năng Của Chính Sách Xã Hội Tại Luận Văn Việt
  • Chức Năng Nhiệm Vụ, Bộ Máy Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Họ Nguyễn
  • Quy Chế Hội Khuyến Học Cơ Sở Quy Che Chi Hoi Kh Truong Thpt Muong Bu Doc
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Chi Hội Khuyến Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100