Luận Văn: Giải Pháp Tăng Cường Sự Tham Gia Của Các Doanh Nghiệp Việt Nam Vào Hệ Thống Logistics Toàn Cầu

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giảm Chi Phí Logistics, Kết Nối Hiệu Quả Với Cơ Sở Hạ Tầng Khu Công Nghiệp, Đường Bộ, Cảng Biển
  • Luận Văn: Phát Triển Dịch Vụ Logistics Cho Các Doanh Nghiệp Vận Tải
  • Giải Pháp Công Nghệ Thu Giữ Và Lưu Trữ Carbon Dioxide
  • Công Nghệ Thu Hồi Và Lưu Giữ Co2 (Tiếp)
  • Công Nghệ Thu Hồi Và Lưu Giữ Co2 (Kỳ I)
  • 1.1 Lý do chọn đề tài

    Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ Logistics tại Việt Nam đang dần phát triển và là một trong những ngành có tiềm năng phát triển rất lớn. Gia nhập WTO, bước vào sân chơi toàn cầu, các doanh nghiệp kinh doanh Logistics sẽ có cơ hội phát triển lớn mạnh. Tuy nhiên, cũng sẽ có những khó khăn, thách thức, bởi hiện nay quy mô phần lớn các doanh nghiệp Logistics còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu, nguồn nhân lực cũng hạn chế nhiều mặt, thiếu kinh nghiệm thương trường,… đồng thời theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cho phép các công ty nước ngoài thành lập công ty có 49-51% vốn góp và sau 3 năm sẽ có thể góp 100% vốn được phép hoạt động tại Việt Nam. Vì vậy, hiện tại các doanh nghiệp Logistics của Việt Nam phải chịu sức ép rất lớn, vừa phải cạnh tranh giành lấy thị phần trong nước đồng thời cố gắng mở rộng hoạt động trên phạm vi thế giới.

    1.2 Mục đích nghiên cứu

    Mục đích của bài khóa luận tốt nghiệp này là nghiên cứu những vấn đề cơ bản về dịch vụ Logistics, tìm hiểu thực trạng kinh doanh Logistics của các doanh nghiệp kinh doanh Logistics Việt Nam trong hệ thống Logistics toàn cầu từ trong những năm qua và từ đó đề xuất một số giải pháp đưa các doanh nghiệp Logistics Việt Nam tham gia sâu rộng hơn vào hệ thống Logistics toàn cầu.

    1.3 Phương pháp nghiên cứu

    Khóa luận đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp so sánh cũng như phương pháp logic, gắn liền lý luận với thực tiễn để đi sâu nghiên cứu hoạt động của ngành Logistics, tổng hợp các tài liệu…

    2.1 Tổng quan về Logistics toàn cầu.

    Khái quát chung về Logistics

    Hệ thống Logistics toàn cầu

    2.2 Thực trạng sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào hệ thống Logistics toàn cầu.

    Tổng quan thị trường Logistics Việt Nam

    Sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào hệ thống logistics toàn cầu

    Thuận lợi, khó khăn, hạn chế của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam khi tham gia vào hệ thống Logistics toàn cầu

    2.3 Một số giải pháp tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào hệ thống Logistics toàn cầu.

    Giải pháp vĩ mô

    Giải pháp vi mô

    Với những khó khăn và thách thức như trên đề ra nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp là phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn làm được điều đó ngoài những nỗ lực từ phía doanh nghiệp như đầu tư và phát riển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng loại hình dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp thông qua đào tạo và đào tạo lại tại các trường, các trung tâm đào tạo dịch vụ logistics… cung ứng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp logistics khác ưu tiên các doanh nghiệp nước ngoài, tăng cường hoạt động marketing… mà cần phải có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước trong việc đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như hệ thống cảng biển, sân bay, đường xá… xây dưng và ban hành một khung pháp lý hoàn thiện hơn, có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ logistics chuyên nghiệp, tăng cường nhận thức cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh về dịch vụ logistics, vai trò và tác dụng của nó đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    4. Tài liệu tham khảo

    4.1 Tiếng Việt

    Nguyễn Như Tiến (2004), Logistics và khả năng áp dụng, phát triển Logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam, NXB Giao thông vận tải.

    Đoàn Thị Hồng Vân (2006), Quản trị Logistics, NXB Thống kê.

    Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương và Tổng công ty hàng hải Việt Nam (2008), Sổ tay kinh doanh Logistics, NXB Tài chính.

    Anh Thư (2008), Việt Nam trên bệ phóng, Tạp chí Vietnam Shipper, Số tháng 1.

    Nguyễn Văn Chương (2007), Phát triển dịch vụ Logistics khi Việt Nam tham nhập WTO.

    4.2 Tiếng Anh

    A. Nesathurai (2003), Key players in the Logistics chain.

    Coyle, Bardi, Langley (2003), The management of business Logistics – A supply chain perspective 7th edition.

    Doughlas M.Lambert, James R.Stock, Lisa M.Ellran (1998), Fundamentals of logistics management, Mc Graw Hill.

    Mashou (1999), Logistics and supply chain management, World Martime University.

    Michael Hugos (2003), Essentials of supply chain management, John Wiley & Sons, Inc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Lập Trình C#
  • Skkn Một Số Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Công Tác Tự Đánh Giá Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Của Trường Mầm Non
  • Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục: 5 Nhiệm Vụ Và Giải Pháp
  • Skkn Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Công Tác Tự Đánh Giá Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Tiểu Học Bồng Sơn
  • Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục Và Yêu Cầu Đối Với Các Cơ Sở Giáo Dục
  • Đẩy Mạnh Và Phát Triển Doanh Nghiệp Logistics Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Doanh Nghiệp Logistics Với Giải Pháp Công Nghệ Thông Tin
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Logistics Fujifilm (Việt Nam)
  • Thủ Tướng Gợi Ý 5 Vấn Đề Để Phát Triển Logistics
  • Một Số Bất Cập Về Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • Hội Nghị Toàn Quốc Về Logistics, Các Giải Pháp Giảm Chi Phí, Kết Nối Hiệu Quả Hệ Thống Hạ Tầng Giao Thông
  • Thực trạng thị trường logistics Việt Nam

    Thống kê mới đây của Hiệp hội doanh nghiệp (DN) logistics Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có khoảng trên 1.300 DN logistics đang hoạt động, bao gồm cả DN có vốn nước ngoài. Các DN cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hầu hết là những DN nhỏ và vừa (DNNVV).

    Một số DN lớn như: Công ty Transimex Saigon, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Gemadept, Vietrans, Vietfracht… Dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện có quy mô khoảng 20-22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dịch vụ logistics trong những năm qua là từ 16 – 20%/năm.

    Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt từ 16 – 20%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất của Việt Nam trong thời gian qua.

    Tuy nhiên, ở Việt Nam, các DN logistics mới chỉ cung cấp một số dịch vụ trong chuỗi logistics. Các dịch vụ logistics chủ yếu mà các DN kinh doanh logistics Việt Nam cung ứng cho khách hàng là dịch vụ kho bãi, vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho… còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistisc mặc dù cũng có một số DN cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa thực sự được quan tâm phát triển.

    Trong 30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới, hiện đã có tới 25 tập đoàn thâm nhập thị trường Việt Nam, chiếm lĩnh 75% thị phần, chủ yếu là các lĩnh vực mang lại giá trị gia tăng cao. Ngược lại, với khoảng 1/4 nhỏ hẹp và khó khăn còn lại, các DN nội tự “trồi sụt”, “giành giật” từng cơ hội.

    Thị phần nhỏ hẹp, giá trị gia tăng thấp, khiến chi phí cho dịch vụ logistics ở Việt Nam được đánh giá đang ở mức độ quá cao. Không chỉ vậy, năng lực của các DN Logistics Việt Nam còn hạn chế bởi chất lượng cán bộ không đáp ứng được nhu cầu. Trong số các DN nội địa, có tới 93 – 95% người lao động không được đào tạo bài bản, chủ yếu làm dịch vụ ở các chuỗi cung ứng nhỏ như giao nhận, kho bãi, xử lý vận đơn…

    Đánh giá logistics Việt Nam qua mô hình SWOT

    Những điểm mạnh của logistic Việt Nam có thể kể đến gồm:

    – Việt Nam có chỉ số LPI (Logistics performance index) theo báo cáo Ngân hàng Thế giới năm 2014 xếp hạng 48/155 nền kinh tế, tăng 5 bậc so với xếp hạng tại 3 báo cáo trước đây (vào các năm 2007, 2010, 2012) và dẫn đầu về hoạt động logistics trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp. Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng phát triển mạnh mẽ về hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics trong thời gian sắp tới.

    – Số DN thành lập và hoạt động trong ngành khá lớn gồm nhiều thành phần, cả nước có khoảng 1.300 DN cung ứng dịch vụ logistics (vượt qua Thái lan, Singapore) tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh – nơi thu hút trên 70% hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam. Các công ty logistics đa quốc gia hàng đầu trên thế giới cũng đã có mặt tại Việt Nam như Fedex, Maersk, DB Schenker, APL, DHL, NYK Logistics… và hoạt động dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong việc cung ứng dịch vụ 3PL với trình độ công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp như tại các nước phát triển.

    Các DN Việt Nam sở hữu phần lớn kho bãi, khiến DN nước ngoài phải thuê lại hoặc liên kết, liên doanh để phục vụ dịch vụ logistics.

    Tốc độ tăng trưởng doanh thu thị trường logistics ở mức cao, khoảng 25%/năm. Quy mô thị trường đạt hơn 20 tỷ USD và vẫn chưa được khai thác hết.

    Tuy số lượng đông nhưng hầu như các DN logistisc Việt Nam là các DN nhỏ và vừa, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics còn manh mún, thiếu kinh nghiệm và chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ cơ bản, hoặc cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ, cạnh tranh về giá là chủ yếu, ít giá trị gia tăng, thường chỉ đóng vai trò là nhà thầu phụ hay đại lý cho các công ty nước ngoài.

    Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải còn yếu kém, ứng dụng công nghệ thông tin chưa hiệu quả nên chi phí logictics tại Việt Nam khá cao, chiếm 25% GDP (so với các nước phát triển chỉ từ 9 đến 15%) trong đó, chi phí vận tải chiếm 30 đến 40% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này là 15% ở các quốc gia khác). Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của dịch vụ, hàng hóa của các DN Việt Nam.

    Tiềm lực tài chính của các DN logistics Việt Nam yếu (80% DN thành lập có vốn pháp định từ 1,5 – 2 tỷ đồng), chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, khả năng kết nối tổ chức mạng lưới toàn cầu, hệ thống thông tin chưa rõ ràng, quy mô hoạt động chưa vượt ra khỏi quy mô trong nước và khu vực.

    Việt Nam còn thiếu các khu kho vận tập trung có vị trí chiến lược, đồng bộ với hệ thống cảng, sân bay, đường quốc lộ, cơ sở sản xuất; Mất cân đối cung cầu tại các cảng biển miền Nam. Khả năng cạnh tranh của các DN nội địa cũng còn thấp so với DN FDI.

    Cùng với quá trình phát triển, ngành logistic Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn như sau:

    Quy mô thị trường dịch vụ logistics Việt Nam nhỏ (khoảng 2-4% GDP) nhưng tốc độ tăng trưởng cao (20-25% năm). Kim ngạch xuất nhập khẩu và ngành bán lẻ có mức tăng trưởng khá cao. Khối lượng hàng hóa qua cảng biển dự kiến tăng lên đến 900 – 1.000 triệu tấn vào năm 2030 dự kiến 1.600 – 2.100 triệu tấn (năm 2022 đạt khoảng 600 triệu tấn)

    – Giá nhiên liệu đang ở mức thấp, giúp giảm chi phí đầu vào của lĩnh vực vận tải.

    – 2/3 số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) của thế giới dự báo sẽ phải đi qua vùng biển Đông trong 5-10 năm tới, giúp cải thiện nhu cầu vận tải.

    – Chu kỳ suy thoái của vận tải biển bắt đầu từ năm 2008, tính đến hết năm 2022 là khoảng 7 năm. Vì vậy, một chu kỳ tăng trưởng mới của ngành vận tải biển đã bắt đầu trong những năm sắp tới.

    – Sự quan tâm từ phía Chính phủ thông qua các quy hoạch chiến lược như Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2022, định hướng đến năm 2030.

    – Nhà nước đã có quy hoạch và trên thực tế bằng nhiều nguồn vốn đang và sẽ đầu tư phát triển khu cảng nước sâu Cái Mép, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, Sân bay quốc tế Long Thành, hành lang đường bộ Đông Tây (EWEC), hành lang Hà Nội – Hải Phòng – Hà Khẩu – Côn Minh, hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt xuyên Á… Các thể chế tiếp tục củng cố, tạo thuận lợi như thủ tục hải quan, cải cách hành chính, đẩy nhanh tiến trình hội nhập sâu khu vực và thế giới.

    Ngành logistic nói chung, các DN logistic nói riêng của Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức. Trước mắt, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, không đồng bộ, chưa tạo ra hành lang vận tải đa phương thức trong khi nhu cầu trung chuyển chất lượng cao cho hàng hóa giữa các phương thức đang ngày càng lớn. Hệ thống thông tin lại thiếu và chưa hiệu quả. Nguồn nhân lực làm dịch vụ logistics chưa qua đào tạo bài bản và còn thiếu, yếu, chưa đáp ứng, đặc biệt thiếu các chuyên viên logistics giỏi có năng lực ứng dụng và triển khai tại các DN nghiệp.

    Hoạt động của chính các DN logistics còn nhiều hạn chế cả về quy mô hoạt động, vốn, nguồn nhân lực… Bên cạnh đó, còn thiếu sự kết nối giữa DN xuất khẩu và DN Logistics do thói quen nhập khẩu CIF và xuất khẩu theo FOB. Mặt khác, thể chế, chính sách nhà nước với ngành logistics chưa rõ ràng, không đồng bộ, bất cập, chưa tạo điều kiện hỗ trợ logistics non trẻ phát triển; Chi phí kinh doanh không chính thức cao…

    Giải pháp phát triển doanh nghiệp logistic Việt Nam

    Với những thách thức trên, các DN logistic cần có giải pháp nhằm đẩy mạnh và phát triển hơn ngành dịch vụ tiềm năng này.

    Thứ nhất, nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của các DN cung cấp dịch vụ logistics.

    Chất lượng và giá dịch vụ quyết định khả năng cạnh tranh của DN cung cấp dịch vụ logistics. Nếu chất lượng dịch vụ tốt, giá cả hợp lý, chắc chắn DN nội địa sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các DN nước ngoài. Hai tiêu chí này là tiêu chí hàng đầu để khách hàng lựa chọn nhà cung ứng logistics cho mình. DN phải nâng cao khả năng của mình trong việc đáp ứng yêu cầu của các chủ hàng về thời gian, chất lượng và giá dịch vụ.

    Nhằm hướng tới mục tiêu tham gia vào hệ thống logistics toàn cầu, đối với các DN cung cấp logistics nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực hàng hải nói riêng, để có thể cung cấp logistics theo đúng nghĩa, các DN Việt Nam cần phải: Hiểu rõ và nhận thức đúng về quy trình cung cấp các dịch vụ logistics, đặc biệt là trong quá trình vận tải; Đào tạo có hệ thống nguồn nhân lực có kinh nghiệm và được trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế.

    Ngoài ra, nguồn nhân lực cần được nâng cao trình độ ngoại ngữ để đáp ứng với việc hội nhập các DN cần đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp và mở rộng hệ thống kho bãi, các trang thiết bị bốc xếp, vận chuyển chuyên dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác; Liên doanh, liên kết với các DN trong và ngoài nước để kết nối, mở rộng mạng lưới dịch vụ trong cả nước và trên thế giới để tạo đầu ra thị trường ngoài nước và nâng cao khả năng chuyên môn của cán bộ để từ đó nâng cao tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.

    Đến hết năm 2022, kim ngạch XNK của Việt Nam được dự báo sẽ đạt mức khoảng 300 tỷ USD, hàng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt 67,7 triệu TEU, do vậy tiềm năng phát triển dịch vụ logistics Việt Nam là rất lớn. Dự đoán, trong tương lai không xa, dịch vụ cung cấp logistics sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng, có thể đóng góp tới 15% GDP của cả nước.

    Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động kinh doanh của DN.

    DN cung ứng logistics cần nhanh chóng thúc đẩy và áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động kinh doanh của mình, trao đổi thông tin và các dữ liệu điện tử trong thương mại, khai hải quan điện tử để tận dụng ưu thế của công nghệ thông tin nhằm mang lại năng suất lao động cao, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu tình trạng tiêu cực, gian lận trong thương mại, XNK và hải quan; Áp dụng thành tựu của công nghệ thông tin, trao đổi dữ liệu bằng hệ thống máy tính với sự hỗ trợ của mạng lưới thông tin liên lạc và công nghệ xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng sống còn đối với việc quản lý cả quá trình hoạt động logistics, đặc biệt là quản lý sự di chuyển của hàng hóa và các chứng từ.

    Cơ quan quản lý cần khuyến khích các DN áp dụng và phát triển các hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng liên kết trong ASEAN nhằm tạo nên sự gắn kết các giải pháp đặt kế hoạch, hệ thống lưu giữ, lấy hàng hóa bằng phương tiện không dây. Ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động logistics sẽ tiết kiệm được các chi phí, thông tin thông suốt đảm bảo cho quá trình hoạt động thuận lợi, nhanh chóng, đạt hiệu quả cao.

    Thứ ba, đẩy mạnh liên kết và cổ phần hóa.

    Để đảm bảo cung ứng một chuỗi logistics trọn vẹn như các DN nước ngoài, đã đến lúc các DN cung cấp dịch vụ logisitcs cần hợp tác và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói. Điều này giúp họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin – hai thế mạnh nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài.

    Xu hướng cổ phần hóa mạnh mẽ các DN nhà nước đã tạo đà cho khả năng hợp tác liên kết chiến lược trở nên rất khả thi. Hoạt động liên kết hợp tác là một quá trình tích hợp điểm mạnh và loại bỏ điểm yếu. Quá trình ấy đòi hỏi DN thực hiện việc tái lập đến tận gốc rễ quy trình kinh doanh cố hữu của mình và hơn hết, họ cần một đội ngũ tư vấn chuyên nghiệp đảm bảo việc tích hợp thành công.

    Thứ tư, xây dựng thương hiệu và chiến lược marketing.

    Mỗi DN cũng cần khẳng định vị trí của mình một cách rõ ràng trong tâm tưởng người mua, người sử dụng để nhằm thu hút khách hàng trong thời buổi cạnh tranh. Một thương hiệu tốt, marketing tốt sẽ tạo thuận lợi cho việc mở rộng hoạt động cho DN không chỉ trong nước mà còn với thị trường nước ngoài. Để xây dựng thương hiệu và chiến lược marketing, các DN logistics cần tập trung chú trọng một số vấn đề sau:

    – Xác định phân khúc thị trường: Mỗi chủng loại mặt hàng khác nhau thì lại cần phải thiết kế một chuỗi cung ứng dịch vụ logistics khác nhau, có như vậy mới tối ưu hóa được quy trình, tiết kiệm chi phí và thời gian;

    – Đa dạng hóa dịch vụ cung cấp;

    – Mở rộng mối quan hệ với các văn phòng đại diện và tổ chức kinh tế nước ngoài tại Việt Nam để dễ dàng hơn trong việc quảng bá hình ảnh với các đối tác nước ngoài;

    – Mở rộng địa bàn hoạt động từng bước một từ quốc gia cho đến quốc tế bằng việc nghiên cứu thị trường, khảo sát tìm tòi và học hỏi kinh nghiệm nhằm xây dựng mạng lưới đại lý của DN;

    – Bất cứ chính sách marketing nào của DN cũng phải được để củng cố và xây dựng thương hiệu của DN lớn mạnh hơn. Để gắn bó được với khách hàng, sản phẩm của DN phải thỏa mãn hoặc vượt hơn sự mong đợi (chứ không chỉ là nhu cầu) của khách hàng trong lĩnh vực logistics.

    Đồng thời, cần tăng cường hợp tác trong việc bảo đảm an ninh hàng hóa và cảng biển; Hợp tác trong vấn đề đào tạo về dịch vụ logistics. Sự hợp tác có hiệu quả giữa hai Hiệp hội và đặc biệt là từng hội viên đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển logistics trong thời gian tới, góp phần vào việc giúp các DN Việt Nam tham gia vào hệ thống logistics toàn cầu.

    1. GS., TS. Đặng Đình Đào, Dịch vụ logistics Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế (2011); Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam (2011), NXB Đại học Kinh tế Quốc dân; 2. GS., TS. Đoàn Thị Hồng Vân, Quản trị logistics (2006), NXB Thống kê; Logistics – Những vấn đề cơ bản (2010), NXB Lao Động Xã Hội, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh; 3. “Báo cáo Logistics”, FPT, 07/2015 của 2 tác giả Lâm Trần Tấn Sĩ và Phan Nguyễn Trung Hưng; 4. PGS., TS. Nguyễn Như Tiến, 2006, Logistics khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải và giao nhận Việt Nam, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội; 5. Các trang điện tử: chúng tôi Theindochinaproject.com chúng tôi caphesach.wordpss.com.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Elsc: Hội Nghị Giải Pháp Doanh Nghiệp Logistics
  • Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Kinh Doanh Logistics Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Phát Triển Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • Ứng Dụng Thương Mại Điện Tử Vào Logistics
  • Khó Khăn ‘chồng Chất’ Khó Khăn, Đâu Là Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Nam?
  • Doanh Nghiệp Logistics Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện 7 Giải Pháp Này Sẽ Giảm Tội Phạm, Ăn Xin?
  • Tập Trung Các Giải Pháp Kéo Giảm Tội Phạm
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Hình Sự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình
  • Giải Pháp Hạn Chế Mức Độ Ẩn Của Tội Phạm Lừa Đảo Chiếm Đoạt Tài Sản
  • Đẩy Mạnh Công Tác Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm
  • Dịch vụ logistics nước ta bắt đầu phát triển từ những năm 1990 trên cơ sở của dịch vụ giao nhận vận tải, kho vận. Hiện nay, cả nước có khoảng 1.200 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (so với con số 700 trước năm 2005) như dịch vụ giao nhận vận tải, kho bãi, bốc dỡ , đại lý vận tải, đại lý giao nhận, dịch vụ logistics… chủ yếu tập trung tại khu vực TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.

    Có thể phân loại ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay như sau:

    Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics của Việt Nam chủ yếu làm đại lý, hoặc đảm nhận từng công đoạn như là nhà thầu phụ trong dây chuyển logistics cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế.Có trên 25 doanh nghiệp logistics đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhưng chiếm trên 70-80% thị phần cung cấp dịch vụ logistics của nước ta.

    Trong thời gian qua, nhờ sự quan tâm giúp đỡ của các Bộ, ngành, trong đó có Bộ Công thương, Bộ Giao thông Vận tải.. hoạt động giao nhận vận tải, logistics của nước ta đã có những bước phát triển cả về chất lẫn về lượng, bước đầu đạt được một số kết quả khích lệ, được Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá qua chỉ số hoạt động(LPI) đứng thứ 53/155 nước nghiên cứu và đứng thứ 5 khu vực ASEAN (2012). Tốc độ phát triển của dịch vụ logistics đạt từ 16-20%/năm. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics còn thấp, chi phí logistics còn rất cao- tỉ lệ 20-25% so vớ i GDP của Việt Nam, trong khi của Trung Quốc là 17,8% và Singapore là 9% (2011). Sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp dịch vụ logistics còn nhiều hạn chế, chưa chặt chẽ và tin tưởng. Đây là một trong những lý do làm cho dịch vụ logistics của chúng ta kém phát triển so với yêu cầu. Tỷ lệ thuê ngòai logistics còn rất thấp, từ 25-30%, trong khi của Trung Quốc là 63,3% (2010), Nhật bản và các nước Châu Âu , Mỹ trên 40%.

    Theo một khảo sát trong nội bộ hội viên mới đây (2012) của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) có thể thấy rằng đa số các doanh nghiệp hội viên hiện nay đã có vốn điều lệ bình quân cao hơn từ 5 đến 6 lần so với các thời kỳ trước, số nhân viên bình quân cũng có tăng lên, hoạt động tập trung vào vận tải quốc tế (mua bán cước), dịch vụ giao nhận vận tải, kho bãi cảng, trong khi các doanh nghiệp thực hiện dịch vụ logistics trọn gói, tích hợp (3PL) hoặc vận tải đa phương thức chỉ chiếm khoảng 10%. Cũng theo khảo sát này, tỉ lệ nhân viên qua đào tạo (chủ yếu là tự đào tạo và tự học hỏi kinh nghiệm ) là 72%(!), trang thiết bị, phương tiện vận tải, kho bãi chỉ ở mức 30-40 % còn lại phải thuê ngoài để phục vụ khách hàng. Về đầu tư công nghệ thông tin thì hầu hết đã sử dụng máy tính, e-mail, fax và có trang web riêng; một số(27%) có sử dụng phần mềm chuyên dụng trong quản lý và một số ít (9%) đã sử dụng trao đổi dữ liệu EDI, sử dụng công nghệ mã vạch và RFID.

    Tái cơ cấu chuỗi cung ứng nhằm nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của thương mại Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu và chủ động tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc tái cơ cấu chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu sẽ gắn kết, tạo điều kiện và thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay có đủ năng lực và chuyên nghiệp để tư vấn cho khách hàng các giải pháp logistics tốt nhất phù hợp đặc thù chuỗi cung ứng của từng khách hàng.

    Hiện đại hóa hệ thống hải quan , thực hiện hải quan một cửa, hải quan điện tử, trong đó có việc phát triển mạnh mẽ hình thức đại lý hải quan bằng việc gia tăng số lượng đại lý hải quan và xây dựng chế độ ưu tiên về thủ tục hải quan cho các lô hàng xuất nhập khẩu do đại lý hải quan đứng tên khai, như miễn kiểm hồ sơ và miễn kiểm hàng hóa đối với các tờ khai do đại lý hải quan đứng tên, đóng dấu.

    Ngoài ra, bên cạnh sự nỗ lực, chủ động của doanh nghiệp thì cần thiết phải có một tổ chức cấp nhà nước quản lý, chỉ đạo thống nhất các hoạt động của ngành logistics phục vụ thương mại trong cả nước bao gồm cả doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đó là hình thành Ủy ban quốc gia logistics. Tổ chức này thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và nhà nước trong việc hoạch định chiến lược, chính sách và các chương trình hành động phát triển ngành logistics của nước ta gắn liền với phát triểnsản xuất, thương mại và xuất nhập khẩu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Giải Pháp Tổng Thể Để Phát Triển Logistics
  • Giải Pháp Phát Triển Logistics Việt Nam
  • Tìm Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục Lũ Lụt Ở Miền Trung
  • Tập 1# Một Số Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu Phổ Biến Hiện Nay
  • Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu Tập Trung Nào Tốt Cho Doanh Nghiệp Hiện Nay?
  • Phát Triển Hệ Thống Logistics Xanh Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Logistics Xanh Tại Các Doanh Nghiệp
  • Tìm Giải Pháp Phát Tiển Logistics Việt Nam
  • Khó Khăn ‘chồng Chất’ Khó Khăn, Đâu Là Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Nam?
  • Ứng Dụng Thương Mại Điện Tử Vào Logistics
  • Phát Triển Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • (VLR) Một hệ thống logistics xanh là sự tích hợp lớn các hệ thống con khác nhau với nhiều kết nối và ràng buộc tương hỗ. Tất cả các hệ thống con trong mô hình đều có các vị trí và vai trò khác nhau. Hệ thống logistics xanh cũng không biệt lập mà cần có sự tương tác về thông tin và năng lượng với môi trường bên ngoài.

    Các chuỗi cung ứng xanh

    Đây là nền tảng cơ sở vật chất để thực hiện hệ thống logistics xanh. Chuỗi cung ứng xanh tạo môi trường xanh cho phát triển bền vững, mở đường, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển dịch vụ logistics xanh. Các chuỗi cung ứng xanh hình thành các trung tâm thu gom chuyên biệt để xử lý các sản phẩm cần thu hồi từ mọi thành viên hạ nguồn như người tiêu dùng, nhà bán lẻ, nhà phân phối để tái chế và phục hồi các giá trị cần thiết. Nhờ đó, tạo ra một hệ logistics tuần hoàn. Hệ thống logistics cho chuỗi cung ứng xanh phải có ba cấp độ: Thứ nhất, doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với các biện pháp logistics đạt tiêu chuẩn xanh; Thứ hai, tạo một nền tảng xanh liên công ty và mạng lưới chuỗi cung ứng xanh; Thứ ba, kết nối chuỗi cung ứng tuần hoàn với các hoạt động logistics ngược và tăng cường cơ chế phản hồi (Hình 2).

    Hệ thông tin logistics xanh

    Hệ thông tin logistics xanh cung cấp thông tin cho các thành viên trong hệ thống logistics xanh theo thời gian thực. Giám sát và đánh giá chính xác về quá trình hoạt động logistics của các thành viên, giám sát bao bì sản phẩm, lưu trữ, vận chuyển, xử lý phân phối, giao nhận và xếp dỡ… để tuân thủ các yêu cầu về môi trường và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyết định logistics môi trường. Các vai trò chính bao gồm:

    ” Kiểm soát bao bì xanh: Thúc đẩy các bộ phận sản xuất sử dụng nguyên liệu bao bì đơn giản nhất và có thể phân hủy sinh học. Hợp lý hóa việc đóng gói và đánh giá các chỉ số xanh với quá trình sản xuất và sử dụng bao bì sản phẩm của doanh nghiệp. ” Kiểm soát giao thông xanh: đánh giá các hoạt động gây hư hại hàng hóa và tác động ô nhiễm tới môi trường trong quá trình vận chuyển… ” Kiểm soát kho xanh: giám sát mọi yếu tố không xanh trong nhà kho. ” Kiểm soát quy trình xanh: giám sát sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo các quy trình thực hiện đóng gói, phân khúc, đo lường, lắp ráp, dán nhãn giá, gắn nhãn hiệu, kiểm tra hàng hóa… ” Kiểm soát tải và dỡ tải xanh: Theo dõi các hoạt động diễn ra trong vận chuyển, lưu trữ, đóng gói hoặc di chuyển, giao nhận hàng hóa,… ” Đánh giá logistics xanh: Trên bốn khía cạnh là hiệu quả về môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên, hiệu quả kinh tế, hiệu suất kỹ thuật của hệ thống logistics xanh. ” Hỗ trợ quyết định quản lý logistics xanh: Nhằm thiết lập các mô hình logistics xanh đầy đủ để cung cấp cho các thành viên tham gia các quyết định và lựa chọn tối ưu hóa. Hệ giao thông xanh hợp nhất

    Hệ giao thông xanh hợp nhất nhằm giảm tắc nghẽn giao thông, giảm ô nhiễm, thúc đẩy sự hài hòa xã hội và tiết kiệm chi phí vận chuyển. Trong kinh tế thị trường, các phương thức vận tải thông qua cạnh tranh cung cấp dịch vụ vận tải chất lượng cho nền kinh tế quốc gia và đời sống hàng ngày của người dân. Tuy nhiên, khi sự cạnh tranh quá mức giữa các phương thức vận tải sẽ gây lãng phí rất lớn như trùng lặp và lãng phí tài nguyên,… do đó, việc thiết lập một hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông xanh tích hợp là nền tảng cho toàn bộ hệ thống logistics xanh và cần tập trung vào ba khía cạnh.

    ” Quản lý các nguồn gây ô nhiễm theo luật định để điều chỉnh lượng khí thải và lượng phát thải NO2 từ xe cơ giới qua hạn chế các loại phương tiện trên đường. Khuyến khích sử dụng các phương tiện đủ điều kiện và kiểm soát giới hạn tiếng ồn. ” Hướng dẫn hợp lý hóa việc sử dụng các phương tiện vận tải khác nhau và khuyến khích các doanh nghiệp lựa chọn phương thức vận tải phù hợp. ” Áp các mức thuế và biện pháp hành chính để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp trong ngành logistics với vấn đề ô nhiễm. ” Thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp chuỗi cung ứng, hỗ trợ xây dựng trung tâm logistics để giảm chi phí và ô nhiễm. ” Chịu trách nhiệm lập kế hoạch, xây dựng mạng lưới đường giao thông, hiện đại hóa hệ thống kiểm soát giao thông. ” Xây dựng quy tắc kiểm soát các hoạt động lưu thông, dừng đỗ xe trên đường, kiểm soát lưu lượng giao thông…

    Hệ thống giám sát logistics xanh thuộc về vai trò của người tiêu dùng. Người tiêu dùng có yêu cầu riêng cho sản phẩm và dịch vụ xanh. Yêu cầu xanh này xuất phát từ cơ chế sinh lý của con người đối với môi trường tự nhiên và sinh thái. Khi yêu cầu xanh của con người có khả năng thanh toán sẽ chuyển đổi thành nhu cầu xanh. Nhu cầu xanh của người tiêu dùng là động lực chính để các công ty thực hiện các biện pháp logistics xanh. Với sức mạnh thị trường, người tiêu dùng đóng một vai trò quan trọng trong quản lý logistics xanh. Hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng thúc đẩy công ty thực hiện quản lý logistics xanh, buộc doanh nghiệp phải cung cấp dịch vụ logistics xanh. Hành vi tiêu dùng xanh cũng gây áp lực lên Chính phủ để hình thành các quy tắc quản lý logistics xanh thông qua tiếng nói chung của nhu cầu tiêu dùng xanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xu Hướng Logistics Xanh Của Fedex, Ups Và Dhl
  • Giải Pháp “xanh” Cho Trung Tâm Logistics
  • Giải Pháp Chống Ngập Lụt Của Một Số Nước Trên Thế Giới
  • Biện Pháp Đối Phó Lũ Lụt Của Các Nước Trên Thế Giới
  • Tư Vấn Các Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu Lâu Dài Hiện Nay
  • Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Logistics Tại Việt Nam Trong Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Nguồn Nhân Lực, Thúc Đẩy Chuyển Đổi Số Ngành Logistics
  • Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Ngành Logistics. Bài 2: Bước Chuyển Đột Phá Trong Đào Tạo
  • Tối Ưu Hoá Chi Phí Logistics Trong Bình Thường Mới (Phần 1)
  • Tối Ưu Hóa Chi Phí Logistics Cho Nông Sản
  • Làm Thế Nào Để Cắt Giảm Chi Phí Logistics?
  • Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, logistics là ngành công nghiệp có sự phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hoạt động giao lưu thương mại. Việt Nam được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng và hấp dẫn cho sự phát triển của ngành dịch vụ logistics, tuy nhiên trên thực tế hoạt động này tại Việt Nam còn nhiều bất cập.

    Dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện có quy mô khoảng 20-25 tỷ USD/ năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dịch vụ logistics trong những năm qua là từ 16- 20%.

    Ngành logistics tại Việt Nam

    Những khó khăn vẫn đang còn ở trước mắt song vẫn còn rất nhiều cơ hội giúp cho các doanh nghiệp logistics có thể phát triển như:

    • Giá nhiên liệu đang ở mức thấp, giúp giảm chi phí vào lĩnh vực vận tải.

    • 2/3 số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của thế giới dự báo sẽ phải đi qua biển Đông trong 5-10 năm tới, giúp cải thiện nhu cầu vận tải.

    • Sự quan tâm từ phía Chính phủ thông qua các quy hoạch chiến lược như quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2022, định hướng đến năm 2030.

    • Nhiều khu cảng nước sâu đang được nhà nước tiến hành quy hoạch, xây dựng và phát triển.

    Bên cạnh đó các doanh nghệp này cũng gặp phải một số thách thức nhất định như:

    • Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, không đồng bộ, chưa tạo ra hành lang vận tải đa phương thức đang ngày càng lớn.

    • Hệ thống thông tin còn hạn chế và chưa hiệu quả.

    • Nguồn nhân lực làm dịch vụ logistics chưa qua đào tạo bài bản và còn thiếu, còn yếu, chưa đáp ứng được công việc.

    • Bên cạnh đó còn thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp logistics do thói quen nhập khẩu CIF và xuất khẩu theo FOB.

    Với những thách thức đi kèm những cơ hội như trên thì câu hỏi đặt ra là là thế nào để có được giải pháp phát triển doanh nghiệp logistics ở Việt Nam.

    Thứ nhất, chúng ta cần phải nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics.

    Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt là thương mại điện tử vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Thứ ba, đẩy mạnh liên kết và cổ phần hoá.

    Thứ tư, cần phải xây dựng thương hiệu và chiến lược marketing.

    CÔNG TY TNHH XE NÂNG TEU VIỆT NAM tự hào là một trong những đơn vị hàng đầu về cung cấp các sản phẩm về thiết bị nâng hạ, với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, hoạt động lâu năm trong ngành sản xuất và cung cấp các thiết bị nâng hạ. Những sản phẩm xe nâng được sản xuất với model mới nhất, giá cạnh tranh nhất thị trường và chất lượng sản phẩm luôn được tiên phong hàng đầu. Chúng tôi rất mong sẽ được hợp tác cùng với các doanh nghiệp logistics. “ Cùng hợp tác, cùng phát triển, cùng nhau lên “.  Together Everyone Up (TEU) “.

    Xe nâng hàng TEU

    Hãy liên hệ với chúng tôi để biến sự hợp tác thành sự thành công.

    • Công ty TNHH Xe nâng TEU Việt Nam

    • VPHN: Lô BT 3-5, Khu nhà ở Tổng cục V. Yên Xá, Tân Triều, Hà Nội.

    • VPHCM: 372, Quốc lộ 1A, phường Tam Bình, Quận Thủ Đức, TP HCM.

    • SHOWROOM 4S: Km 108, quốc lộ 1, Phố Tráng, Phi Mô, Lạng Giang, Bắc Giang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Logistics Đón Bắt Cơ Hội Nhờ Áp Dụng Giải Pháp Công Nghệ
  • Make In Vietnam: “Nền Tảng Giải Pháp Logistics Toàn Diện”
  • Phân Tích Xu Hướng Logistics Xanh
  • Hệ Thống Lưu Trữ Das, Nas, San, Iscsi San Là Gì?
  • Giải Pháp Lưu Trữ San
  • Logistics Xanh Tại Các Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Tiển Logistics Việt Nam
  • Khó Khăn ‘chồng Chất’ Khó Khăn, Đâu Là Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Nam?
  • Ứng Dụng Thương Mại Điện Tử Vào Logistics
  • Phát Triển Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Kinh Doanh Logistics Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • (NhatViet Logistics) Không thể không thừa nhận lợi ích của logistics xanh với xã hội và doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ các doanh nghiệp có hoạt động này hiện nay còn rất hạn chế. Những cản trở chủ yếu ngoài vốn đầu tư ban đầu lớn thì còn phải kể đến năng lực ứng dụng công nghệ, trình độ quản lý và những hướng dẫn chi tiết cho hoạt động logistics xanh. Hiểu được những lợi ích mà Logistics Xanh đem lại cho xã hội NhatViet Logistics đã và đang dần hoàn thiện hướng đến 1 Logistics Xanh thân thiện trong lòng khách hàng.

    Mua xanh = (Chất lượng + Chi phí + Giao hàng) + Môi trường.

    Để thực hiện mua xanh hiệu quả và thành công, Mạng lưới mua sắm xanh quốc tế (IGPN) đã xác định 4 nguyên tắc cơ bản:

    • Cân nhắc kỹ các sản phẩm/dịch vụ có thực sự cần thiết phải mua, sửa chữa hay đổi mới hay không, các giải pháp thuê hoặc cho thuê cũng nên được xem xét.
    • Xem xét vòng đời của sản phẩm. Cần xem tác động tới môi trường trong suốt các giai đoạn thu mua nguyên liệu thô cho tới khi thải bỏ sản phẩm.
    • Chọn nhà cung cấp bảo vệ môi trường.
    • Thu thập thông tin về môi trường

    Sản xuất xanh

    Sản xuất xanh là việc thực hiện tích hợp quá trình sản xuất với chiến lược quản lý môi trường nhằm nâng cao hiệu quả môi trường.

    Một sản phẩm được xem là xanh nếu đáp ứng được 1 trong 3 tiêu chí sau:

    1. Được tạo ra từ các loại nguyên vật liệu thân thiện với môi trường;
    2. Ít tác động đến môi trường;
    3. An toàn với sức khỏe con người.

    Công nghệ xanh bao gồm nhiều hướng như tái chế; làm sạch nước, lọc không khí, năng lượng sạch, phục hồi hệ sinh thái… Việc sử dụng công nghệ xanh sẽ tạo ra khoảng “thời gian nghỉ” cho môi trường sống. Trong khi chất thải được quản lý chặt chẽ và có thể được tái chế thì hệ sinh thái bị ảnh hưởng có thời gian để hồi phục lại và được bảo tồn.

    Các giải pháp đóng gói xanh bao gồm sử dụng các vật liệu phân hủy sinh học hoặc có thể tái chế như nhựa và xốp. Chú trọng đến kích thước, hình dạng của các gói và loại vật liệu đệm lót để giảm tối đa tiêu tốn nguyên liệu. Đóng gói hợp lý cũng cho phép sử dụng hiệu quả không gian nhà kho và giảm số lượng phương tiện vận chuyển cần thiết, hỗ trợ cho vận tải xanh.

    Logistics ngược

    Logistics ngược là hoạt động tối ưu hóa dòng nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm từ điểm tiêu thụ đến các giai đoạn ban đầu nhằm gia tăng giá trị hoặc xử lý phù hợp. Hoạt động logistics ngược tại doanh nghiệp nhằm tận dụng tối đa những giá trị còn lại hoặc thải hồi các phế phẩm một cách hợp lý.

    Các hoạt động cơ bản của logistics ngược bao gồm: Tái sử dụng trực tiếp hoặc bán lại; Phục hồi sản phẩm bao gồm việc sửa chữa, làm mới, sản xuất lại, tháo để lấy phụ tùng..;

    Các giải pháp logistics xanh của các doanh nghiệp chỉ có thể thành công khi được sự hỗ trợ từ những nỗ lực xanh hóa của toàn ngành. Đây cũng là cơ sở để giảm chi phí trong các ứng dụng xanh vì chỉ khi dựa vào sự đồng bộ của các giải pháp vĩ mô và vi mô, mới có thể tạo ra những nỗ lực quy mô lớn, nhờ đó giảm chi phí trên bình diện tổng thể cũng như ở doanh nghiệp.

    NHATVIET LOGISTICS – HOME FOR GOOD

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Hệ Thống Logistics Xanh Ở Việt Nam
  • Xu Hướng Logistics Xanh Của Fedex, Ups Và Dhl
  • Giải Pháp “xanh” Cho Trung Tâm Logistics
  • Giải Pháp Chống Ngập Lụt Của Một Số Nước Trên Thế Giới
  • Biện Pháp Đối Phó Lũ Lụt Của Các Nước Trên Thế Giới
  • Thúc Đẩy Quan Hệ Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Việt Nam, Trung Quốc Nhấn Mạnh Việc Đưa Quan Hệ Đối Tác Chiến Lược Đi Vào Chiều Sâu
  • 70 Năm Quan Hệ Việt Nam
  • Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Hội Thảo Khoa Học “thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới”
  • Xây Dựng Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt hoan nghênh Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước Trung Quốc thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam; chúc mừng Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc thành công tốt đẹp và đồng chí Tập Cận Bình tiếp tục được Đại hội bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đánh giá cao bước phát triển sáng tạo lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới.

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trước cuộc hội đàm chiều ngày 12/11. (Ảnh: Trung Hiếu)

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc do đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân, nhân dân Trung Quốc sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội XIX đề ra, xây dựng Trung Quốc trở thành quốc gia hiện đại xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hoà và tươi đẹp.

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao sự tham dự và đóng góp tích cực của Trung Quốc vào thành công chung của Hội nghị cấp cao APEC 2022.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình bày tỏ vui mừng thăm lại Việt Nam ngay sau Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tận mắt chứng kiến sự phát triển của đất nước Việt Nam; chân thành cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình của lãnh đạo và nhân dân Việt Nam dành cho Đoàn; chân thành cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã gửi Điện mừng Đại hội XIX, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gửi điện chúc mừng Tổng Bí thư Tập Cận Bình; đánh giá cao việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cử đặc phái viên sang Trung Quốc chúc mừng ngay sau khi Đại hội XIX kết thúc tốt đẹp.

    Đồng chí Tập Cận Bình bày tỏ tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra, sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình chúc mừng Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 2022 và đánh giá cao kết quả Hội nghị đạt được đối với thúc đẩy phát triển của khu vực và thế giới.

    Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình gửi lời thăm hỏi đến Đảng, Chính phủ và nhân dân những khu vực bị thiệt hại do thiên tai vừa qua.

    Trong không khí chân thành, hữu nghị, hai Tổng Bí thư đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi và đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về những định hướng và biện pháp lớn thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời gian tới.

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình chiều ngày 12/11. (Ảnh: Trung Hiếu)

    Hai bên bày tỏ vui mừng trước những tiến triển tích cực của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung thời gian qua. Tiếp xúc cấp cao diễn ra thường xuyên; giao lưu, hợp tác giữa các Bộ, ngành, địa phương và nhân dân hai nước được đẩy mạnh; hai bên tiếp tục là đối tác kinh tế quan trọng của nhau, hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch đều có tiến triển; tình hình biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ cơ bản ổn định. Hai bên nhất trí phát huy những kết quả đạt được trong thời gian qua, tích cực giải quyết những khó khăn, vướng mắc, đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung không ngừng phát triển ổn định, bền vững.

    Thứ nhất, tăng cường trao đổi cấp cao, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác giữa các ngành, các cấp. Đề nghị hai bên duy trì thường xuyên truyền thống tốt đẹp giao lưu, tiếp xúc cấp cao; đẩy mạnh giao lưu, nâng cao hiệu quả hợp tác và phát huy vai trò kênh Đảng để góp phần tăng cường tin cậy chính trị, định hướng tổng thể và thúc đẩy quan hệ song phương; tổ chức tốt cuộc gặp đại diện hai Bộ Chính trị, Hội thảo lý luận, triển khai hiệu quả kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ, đi sâu trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng và quản lý đất nước; tăng cường giao lưu, trao đổi giữa Quốc hội Việt Nam và Nhân đại Trung Quốc, giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính hiệp Trung Quốc và giữa các ngành, các cấp, giữa các đoàn thể nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước để tiếp tục bồi đắp, xây dựng nền tảng xã hội hữu nghị cho quan hệ hai Đảng, hai nước. Phát huy hơn nữa vai trò điều phối của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương trong việc giám sát, đôn đốc triển khai các thỏa thuận đã đạt được, nhất là thỏa thuận cấp cao; kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc trong quan hệ hợp tác giữa các ngành, các cấp. Đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật; thực hiện tốt Tuyên bố tầm nhìn hợp tác quốc phòng đến năm 2025, tổ chức tốt Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, đối thoại chiến lược quốc phòng, các cơ chế giao lưu hợp tác giữa bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển, tăng cường giao lưu sỹ quan trẻ, chia sẻ kinh nghiệm công tác Đảng, công tác chính trị, y học, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; tăng cường trao đổi kinh nghiệm về an ninh, phối hợp phòng, chống các loại tội phạm; duy trì tốt các cơ chế tham vấn, trao đổi giữa hai Bộ Ngoại giao trong việc thúc đẩy quan hệ hai nước cũng như tại các diễn đàn đa phương. Chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường giao lưu, hợp tác, đẩy mạnh tuyên truyền về đất nước, con người, những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước và quan hệ Việt – Trung, góp phần tăng cường hơn nữa hiểu biết và hữu nghị trong nhân dân, củng cố nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ hai nước.

    Thứ hai, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế và trên các lĩnh vực khác, đề nghị hai bên tiếp tục phát huy kết quả đạt được, triển khai hiệu quả các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao, tập trung vào một số trọng tâm: tăng cường hợp tác đầu tư, mở rộng quy mô thương mại song phương, áp dụng các biện pháp hữu hiệu cải thiện hơn nữa tình trạng nhập siêu của Việt Nam; tăng cường hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực Trung Quốc có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu như nông nghiệp, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, khoa học công nghệ, giao thông vận tải; phấn đấu tạo tiến triển hơn nữa trong hợp tác lai tạo giống lúa, cây trồng thích nghi hạn mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long; xử lý ổn thỏa vấn đề tàu cá, ngư dân; quản lý, bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn nước sông suối biên giới, hợp tác phòng ngừa, ứng phó lũ lụt, an toàn hạt nhân; tạo thuận lợi cho hợp tác kết nối giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không. Tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương triển khai hiệu quả nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước về tăng cường các lĩnh vực hợp tác thực chất, cùng có lợi; phát huy hiệu quả vai trò của các cơ chế hợp tác hiện có, góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung phát triển ổn định, lành mạnh và bền vững.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trong buổi hội đàm với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chiều ngày 12/11. (Ảnh: Trung Hiếu)

    Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thông báo những kết quả quan trọng của Đại hội XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc; khẳng định Đảng, Chính phủ Trung Quốc coi trọng việc không ngừng củng cố và phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

    Sau cuộc hội đàm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã chứng kiến lễ ký các văn kiện hợp tác giữa hai bên.

    DANH SÁCH CÁC VĂN KIỆN KÝ KẾT

    1. Bản ghi nhớ giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” với sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

    2. Bản ghi nhớ về việc đẩy nhanh tiến độ đàm phán thỏa thuận khung về xây dựng các khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công thương nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

    3. Bản ghi nhớ về việc thành lập nhóm công tác, hợp tác thương mại điện tử giữa Bộ Công thương nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

    4. Công thư trao đổi giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc nghiên cứu tính khả thi trước khi lập dự án về Dự án Viện trợ xây mới cơ sở 2 Y dược học cổ truyền VIệt Nam.

    5. Bản ghi nhớ về hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

    7. Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương nước CHXHCN Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách nhà nước nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện lực và năng lượng tái tạo.

    9. Bản ghi nhớ về hợp tác công nghiệp văn hóa giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Văn hóa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

    10. Kế hoạch hành động về Hợp tác y tế giữa Bộ Y tế nước CHXHCN Việt Nam và Ủy ban Quốc gia về Y tế và Kế hoạch hóa gia đình nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2022 – 2022

    11. Bản ghi nhớ về hợp tác và trao đổi thông tin thanh tra, giám sát ngân hàng giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban quản lý giám sát ngân hàng Trung Quốc

    12. Thỏa thuận hợp tác biên phòng giữa Bộ Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

    DANH SÁCH CÁC VĂN BẢN TRAO

    13. Thỏa thuận về hợp tác đào tạo cán bộ giữa tỉnh ủy Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Đảng Cộng sản Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Đảng Cộng sản Trung Quốc.

    14. Thỏa thuận hợp tác về trao đổi khoa học giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Khoa học xã hội Trung Quốc

    15. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực quản lý pháp quy an toàn hạt nhân giữa Cục An toàn Bức xạ hạt nhân nước CHXHCN Việt Nam và Cục An toàn hạt nhân Quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

    16. Thỏa thuận khung hợp tác giữa Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Việt Nam và Cục Sự nghiệp Xuất bản Phát hành Ngoại văn Trung Quốc giai đoạn 2022 – 2022.

    17. Thỏa thuận giao lưu và hợp tác báo chí giữa Hội nhà báo Việt Nam và Hội nhà báo toàn quốc Trung Quốc.

    18. Văn bản chấp thuận nguyên tắc việc thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc chi nhánh Hà Nội.

    19. Thỏa thuận đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất lốp xe.

    Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam

    Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn …

    Phó Thủ tướng Thường trực tiếp Thứ trưởng Bộ An ninh Trung Quốc

    Ngày 4/11, tại Trụ sở Chính phủ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã tiếp Thứ …

    Trung Quốc coi trọng hợp tác khu vực châu Á – Thái Bình Dương

    Chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam, Lào và tham dự Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Tục Thúc Đẩy Quan Hệ Việt Nam
  • Giới Thiệu Về Công Ty Tnhh Giải Pháp Và Công Nghệ Việt Hàn
  • Giải Pháp Cho Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Hiện Nay
  • 6 Giải Pháp Cho Vấn Đề Giao Thông Đô Thị Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Tình Hình Giao Thông Ở Vn :
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Logistics Fujifilm (Việt Nam)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng Gợi Ý 5 Vấn Đề Để Phát Triển Logistics
  • Một Số Bất Cập Về Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • Hội Nghị Toàn Quốc Về Logistics, Các Giải Pháp Giảm Chi Phí, Kết Nối Hiệu Quả Hệ Thống Hạ Tầng Giao Thông
  • Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Ngành Logistics Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Ngành Logistics
  • (1) Điểm b, Khoản 4, điều 63 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định: Doanh nghiệp báo cáo và thực hiện việc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp chưa thống nhất. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện theo yêu cầu tại điểm này thì sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp.

    (2) Điểm a, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung những thông tin về số điện thoại, số fax, email, website, địa chỉ của doanh nghiệp do thay đổi về địa giới hành chính, thông tin về chứng minh nhân dân, địa chỉ của cá nhân trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (3) Điểm b, Khoản 2, Điều 47, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp chỉ cập nhật, bổ sung các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không làm thay đổi nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì doanh nghiệp gửi Thông báo theo mẫu quy định tại Phụ lục II-5 ban hành kèm theo Thông tư này đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Phòng Đăng ký kinh doanh bổ sung thông tin vào hồ sơ của doanh nghiệp và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phải trả phí.

    (4) Điều 23, Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định: Trường hợp doanh nghiệp thay đổi nội dung đăng ký thuế mà không thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế theo mẫu quy định tại Phụ lục II-6 ban hành kèm theo Thông tư này.

    (5) Đề nghị Quý Doanh nghiệp khi thực hiện đính hoặc bổ sung thông tin về đăng ký doanh nghiệp mang theo thông báo “V/v rà soát, cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp” trên website https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế.

    (6) Quý Doanh nghiệp có thể truy cập theo địa chỉ https://hieudinh.dangkykinhdoanh.gov.vn/ hoặc https://dangkykinhdoanh.gov.vn/ để biết thêm thông tin chi tiết và tải các mẫu thông báo:

    1. Thông báo cập nhật thông tin về đăng ký doanh nghiệp;
    2. Phụ lục II-5;
    3. Phụ lục II-6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Doanh Nghiệp Logistics Với Giải Pháp Công Nghệ Thông Tin
  • Đẩy Mạnh Và Phát Triển Doanh Nghiệp Logistics Ở Việt Nam
  • Elsc: Hội Nghị Giải Pháp Doanh Nghiệp Logistics
  • Giải Pháp Phát Triển Doanh Nghiệp Kinh Doanh Logistics Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
  • Phát Triển Ngành Dịch Vụ Logistics Tại Việt Nam
  • Giải Pháp Phát Triển Logistics Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Giải Pháp Tổng Thể Để Phát Triển Logistics
  • Doanh Nghiệp Logistics Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Thực Hiện 7 Giải Pháp Này Sẽ Giảm Tội Phạm, Ăn Xin?
  • Tập Trung Các Giải Pháp Kéo Giảm Tội Phạm
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Hình Sự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Bình
  • (VLR) Để phát triển nhu cầu logistics thì cần phát triển hướng vào các nhóm công ty chính là công ty trong nước, công ty xuất nhập khẩu và công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá của WB, VN có chỉ số LPI ở mức trung bình khá cho thấy ngành logistics tại VN vẫn còn hứa hẹn nhiều tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất nhập khẩu và tổng mức bán lẻ hàng hóa ở mức cao cho thấy đây là những yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lĩnh vực logistics. Do các DN có vốn đầu tư nước ngoài đã bị chiếm lĩnh bởi các DN logistics nước ngoài nên thị trường chứa đựng nhu cầu mà các công ty logistics VN có thể chiếm lĩnh là các DN trong nước và các công ty xuất nhập khẩu. Để có thể phát triển được thị trường, thì điều rất quan trọng là các công ty trong nước cần phải nâng cao nhận thức của các DN này về lợi ích của dịch vụ logistics. Hiện nay, nhiều DN trong nước vẫn còn chưa nhận ra được lợi ích của logistics trong việc giảm chi phí kinh doanh.

    PHÁT TRIỂN NHU CẦU LOGISTICS

    Để phát triển nhu cầu logistics thì cần phát triển hướng vào các nhóm công ty chính là công ty trong nước, công ty xuất nhập khẩu và công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá của WB, VN có chỉ số LPI ở mức trung bình khá cho thấy ngành logistics tại VN vẫn còn hứa hẹn nhiều tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao. Kim ngạch xuất nhập khẩu và tổng mức bán lẻ hàng hóa ở mức cao cho thấy đây là những yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lĩnh vực logistics. Do các DN có vốn đầu tư nước ngoài đã bị chiếm lĩnh bởi các DN logistics nước ngoài nên thị trường chứa đựng nhu cầu mà các công ty logistics VN có thể chiếm lĩnh là các DN trong nước và các công ty xuất nhập khẩu. Để có thể phát triển được thị trường, thì điều rất quan trọng là các công ty trong nước cần phải nâng cao nhận thức của các DN này về lợi ích của dịch vụ logistics. Hiện nay, nhiều DN trong nước vẫn còn chưa nhận ra được lợi ích của logistics trong việc giảm chi phí kinh doanh.

    Tại VN, hàng hóa phải đi qua rất nhiều khâu trung gian và do đó, làm tăng chi phí giao dịch và tăng giá bán. Mặt khác, các DN cũng chưa có thói quen sử dụng dịch vụ thuê ngoài mà chủ yếu là tự làm. Khi DN tự mình thực hiện các hoạt động logistics thì sẽ tốn rất nhiều vốn đầu tư và không đạt được chất lượng cao.

    PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS

    Phát triển các loại hình dịch vụ logistics là yêu cầu rất quan trọng khi phần lớn DN logistics VN chỉ tập trung khai thác các mảng nhỏ trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics, mà hình thức phổ biến nhất là hình thức giao nhận vận tải. Đây chỉ là một phần rất nhỏ trong toàn bộ chuỗi giá trị gia tăng logistics. Các DN cần phát triển thêm các dịch vụ đa dạng như giao nhận hàng không, giao nhận hàng hải, gom hàng nhanh, quản lí đơn hàng… Để có thể tiếp cận việc cung ứng các dịch vụ mới, các DN logistics cần đảm bảo chất lượng dịch vụ và giảm giá thành các dịch vụ đang cung ứng bằng cách như đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cũ, mua sắm các trang thiết bị chuyên dụng mới, áp dụng các phương pháp quản trị logistics tiên tiến, áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng hiện đại… Trong quá trình hoạt động và phát triển, các DN cần nhất quán chiến lược đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, hướng tới dịch vụ trọn gói và tham gia vào toàn bộ chuỗi cung ứng của khách hàng.

    Hiện nay, do các DN logistics VN còn quy mô nhỏ, năng lực hạn chế nên các DNVN chủ yếu cung cấp dịch vụ một cách đơn lẻ. Do đó, trong thời gian tới, các DN cần tăng cường liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài khi cung ứng dịch vụ để quá trình cung ứng dịch vụ logistics là đầy đủ theo một quy trình chuẩn. Việc các DNVN tham gia liên doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho các DN, giúp các DN học hỏi được kinh nghiệm quản lí, phương pháp quản lí hệ thống logistics, có được sự hỗ trợ về mặt tài chính, tiếp cận thị trường rộng lớn hơn…

    Phát triển đa dạng các loại hình DN cung ứng dịch vụ logistics cả về hình thức, quy mô, phương thức hoạt động… Cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính cũng như các điều kiện tham gia và rút lui khỏi thị trường để có thể huy động nhiều hơn các nhà đầu tư và các DN tham gia vào thị trường này.

    PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG LOGISTICS

    Nâng cao kết cấu hạ tầng hiện có bằng cách xây dựng cảng nước sâu và cảng khu vực trên các vùng. Hình thành các trung tâm logistics đặt ở những đầu mối giao thông thuận tiện cho việc chuyên chở. Từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ trọng yếu, hình thành mạng lưới đường bộ đồng bộ và hiện đại ở ba vùng kinh tế trọng điểm. Mở rộng và hiện đại hóa các đầu mối giao lưu quốc tế, phát triển các trục nối với các nước láng giềng.

    Đầu tư phát triển có sự nhấn mạnh đến việc phát triển cảng biển. Hiện nay, 98% vận tải container đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tập trung ở cảng chúng tôi và Hải Phòng. Tuy vậy, các cảng này vẫn còn nhiều hạn chế về luồng lạch và độ sâu nên trong thời gian tới cần xây dựng các cảng biển nước sâu. Mặt khác, cũng cần tiến hành nạo vét và cải tạo luồng lạch của các cảng hiện có để tăng công suất khai thác của các cảng biển. Trước mắt, cần tận dụng và khai thác ở mức cao công suất của các cảng biển hiện có bằng cách thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các cảng. Thực hiện sự đổi mới trang thiết bị xếp dỡ hàng hóa, phối hợp với các phương thức vận tải khác. Thúc đẩy sự cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng tại các cảng và kết hợp với các chức năng kho hàng hiện đại tại các cảng.

    Giải quyết các “nút cổ chai” về kĩ thuật của hệ thống nhằm hướng đến mục tiêu tăng hiệu quả và giảm chi phí logistics. Đối với kết cấu hạ tầng đường biển thì cần tập trung nâng cấp hệ thống cảng và đội tàu. Đối với kết cấu hạ tầng đường sông thì cần xây dựng các cảng trên cơ sở xác định các tuyến chính cùng với việc đầu tư trang thiết bị phù hợp. Đối với kết cấu hạ tầng đường sắt thì tập trung cải tạo và nâng cấp các tuyến hiện có, nghiên cứu và xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam. Đối với kết cấu hạ tầng đường bộ thì tập trung nâng cấp chất lượng các tuyến đường hiện có, mở rộng mặt đường và tăng tỉ lệ đường được trải nhựa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục Lũ Lụt Ở Miền Trung
  • Tập 1# Một Số Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu Phổ Biến Hiện Nay
  • Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu Tập Trung Nào Tốt Cho Doanh Nghiệp Hiện Nay?
  • 3 Mô Hình Điển Hình Cho Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu
  • Giải Pháp Lưu Trữ Dữ Liệu Cho Doanh Nghiệp
  • Itl Liên Doanh Đẩy Mạnh Giải Pháp Logistics Tích Hợp

    --- Bài mới hơn ---

  • Itl Mở Rộng Hợp Tác Để Gia Tăng Chuỗi Giá Trị Cung Ứng
  • Indo Trans Tuyển Dụng Nhiều Vị Trí Thực Tập Logistics
  • Chi Nghìn Tỷ Thâu Tóm Mảng Logistics Của Gelex, Itl Corp Vừa Nhận Khoản Vay 70 Triệu Usd Từ Ifc
  • 3 Chiến Lược Phát Triển Vững Bền Của Itl
  • Itl Corporation Và Hành Trình Trở Thành Đơn Vị Hàng Đầu Trong Ngành Logistics
  • Với những tiềm năng về vận hành, máy móc, vị trí, cùng với quy mô 50.000m2, khu phức hợp Logistics ITL-ICD Tân Cảng Sóng Thần có khả năng kết nối với các khu công nghiệp năng động của miền Nam như VSIP 1, VSIP 2…

    Bên cạnh đó, khu phức hợp được kết nối với hệ thống các cảng biển Cát Lái, Bình Dương, Đồng Nai, tạo lợi thế để giúp tối đa hóa hai chiều vận tải container từ cảng biển khu vực TP. HCM, Bình Dương và Đồng Nai, đảm bảo chất lượng dịch vụ vận tải hàng hóa.

    Ngoài ra, khu phức hợp sở hữu các loại hình Warehousing (kho) phức hợp đa dạng như: Kho thường (Distribution Center Warehouse), Kho Ngoại quan (Bonded Warehouse – BWH), Kho đóng hàng lẻ (CFS Warehouse) với quy mô lớn và các trang thiết bị hiện đại như kệ 7 tầng, cửa tự động cùng với đội ngũ nhân sự quản lý có kinh nghiệm. Các kho này được áp dụng hệ thống công nghệ thông tin Warehouse Management System (WMS) trong hệ thống quản lý kho.

    Theo các chuyên gia, các doanh nghiệp Logistics Việt Nam như ITL và ICD Tân Cảng Sóng Thần có lợi thế sở hữu phần lớn kho bãi và nắm bắt được thị trường, văn hóa bản địa hơn doanh nghiệp nước ngoài. Hầu hết các kho bãi được khai thác tại cảng biển vì giao thông thuận tiện. Tuy nhiên, một số cảng biển ở đây có không gian giới hạn nên diện tích kho bãi ít có khả năng mở rộng.

    Khu phức hợp Logistics ITL-ICD Tân Cảng Sóng Thần nằm trong cảng ICD Tân Cảng Sóng Thần. Không chỉ là bộ phận hậu cần kéo dài của cảng biển, khu vực này còn gánh vác một phần không nhỏ khối lượng nhu cầu dịch vụ Logistics trong chuỗi cung ứng hàng hóa trong và ngoài nước.

    Nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của ITL trong lĩnh vực Logistics Việt Nam nói chung và đóng góp, khai thác và phát triển chuỗi cung ứng và giải phải pháp Logistics tích hợp tại Bình Dương nói riêng, ITL đang cung ứng các dịch vụ đa dạng về kho phức hợp. Ngoài các dịch vụ cơ bản như lưu trữ và quản lý tồn kho hàng hóa, đơn vị còn cung cấp Logistics tích hợp như: Quản lý PO (Purchasing Order management), tối ưu hóa diện tích lưu trữ hàng hóa với các trang thiết bị hiện đại, quản lý đơn đặt hàng SO (Sales Order) và phân phối hàng hóa. Các dịch vụ đi kèm khác như Pick and Pack, dán nhãn (Labelling) và Dịch vụ VAS (Value added service).

    Đại diện ITL nhận định: “Trong xu thế phát triển của Logistics hiện nay, miếng bánh thị trường Logistics Việt Nam đang dần vào hết tay doanh nghiệp nước ngoài. Sự ra đời của Khu phức hợp Logistics ITL-ICD Tân Cảng Sóng Thần với các dịch vụ Logistics tích hợp sẽ tạo ra các ưu thế về chuỗi giá trị cung ứng mới, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước đối với các doanh nghiệp nước ngoài”.

    Trong 20 năm qua, ITL là doanh nghiệp Logistics tư nhân tại Việt Nam đã xây dựng nền tảng vững chắc về hạ tầng vận tải và giải pháp Logistics tích hợp trong chuỗi giá trị. Đơn vị cũng liên tục thay đổi công nghệ và đẩy mạnh hợp tác, kết nối với các đơn vị hàng đầu trong ngành Logistics.

    ITL cung cấp các dịch vụ Logistics tích hợp như vận chuyển đường bộ (Road Transportation), hàng không (Air Freight) đường biển (Sea Freight), đường sắt (Railway), vận chuyển đa phương thức cho đến các dịch vụ hậu cần kho bãi (Warehousing)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Để Doanh Nghiệp Duy Trì Hoạt Động Trong Mùa Dịch Covid
  • Kinh Doanh Trực Tuyến, Giải Pháp Hiệu Quả Của Doanh Nghiệp Trong Mùa Dịch Bệnh
  • Giải Pháp Giúp Kinh Doanh Và Marketing Hiệu Quả Trong Mùa Covid
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Kinh Doanh Multi Intelligence (Mibs)
  • Kinh Doanh Khách Sạn Tại Nha Trang Ngày Càng Khó Khăn Và Giải Pháp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100