Top #10 ❤️ Câu Ca Dao Có Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Theindochinaproject.com

Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè

Soạn Bài Nói Quá (Chi Tiết)

Soạn Bài Nói Quá Ngắn Gọn Nhất

Soạn Bài Nói Quá Lớp 8, Ngữ Văn 8

Ngữ Văn 8: 4 Dạng Bài Thường Gặp Ở Chuyên Đề Nói Quá, Nói Giảm

1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá

ai bít các câu ca dao tục ngữ có sử dụng nói quá hok nè

1) Gánh cực mà đổ lên non

Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

2) Bao giờ cây cải làm đình

Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

3) Đêm nằm lưng chẳng tới giường

4) Con rận bằng con ba ba

Đêm đêm nó ngáy cả nhà thất kinh

5) Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

( Nguyễn Du )

6) Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

7) Tấc đất , tấc vàng

*********Ca dao có sử dụng biện pháp nói quá :

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

*********Thành ngữ có sử dụng biên pháp tu từ nói quá:

– Đen như cột nhà cháy

– Gầy như que củi

– Đi guốc trong bụng

– Xoay trời chuyển đất

– Khoẻ như voi

– Chậm như rùa

– Bầm gan tím ruột

– Mặt xanh nanh vàng

Thanks giùm tớ cái háh…..post nhìu mỏi tay wá ch0y luz

1) Đêm thnág năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

2) Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

(Nguyễn Du)

3) Gánh cực mà đổ lên non

Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

4) Bao giờ cây cải làm đình

Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

5) Đêm năm lưng chẳng tới giường

6) Con rận bằng con ba ba

Đêm đêm nó gáy cả nhà thất thanh

***Ngoài ra bạn có thể vào trang web

– http://baigiang.**********

-http://giâon.**********

Để biết dc thêm trí thức

THanks giùm mình cái háh…..post mõi cả tay rùi nềh

Bài này hoàn chỉnh là thế này cơ mà:

Lỗ mũi mười tám gánh lông

Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

Đêm ngủ thì ngáy o..o

choongf yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

Đi chợ thì hay ăn quà

Chồng yêu chồn bảo về nhà đỡ cơm

Tre^n đầu những rác cùng rơm

Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

Chuyên Đề Tiếng Việt: Các Biện Pháp Tu Từ

Bài 9. Nói Quá Thanh Vawn 8 Doc

Cảm Nhận Vẻ Đẹp Hình Ảnh Người Lao Động Trên Biển Trong “đoàn Thuyền Đánh Cá”

Phân Tích Hình Ảnh Người Lao Động Trong 3 Khổ Cuối Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

Cảm Nhận Khổ Đầu Và Khổ Cuối Trong Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá

Nghị Luân Về Việc Ca Dao Thường Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Ẩn Dụ

Ôn Tập Đợt Nghỉ Dịch Bd So Sanh 2 Pptx

Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong Tình Ca Ban Mai Của Chế Lan Viên

Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chế Lan Viên

Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chếlanviên

Ngữ Văn 6 Bài 19 Hướng Dẫn Và Luyện Tập So Sánh

Đề: Ca dao thường dùng biện pháp so sánh, ẩn dụ. Hãy tìm hiểu từ 3 đến 5 bài ca dao dùng so sánh, ẩn dụ để thấy tác dụng của nó.

Nếu như chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu; của hội họa là đường nét, màu sắc… thì văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. Ngôn ngữ văn học không giống với các bộ môn khoa học khác, cũng không phải là ngôn ngữ giao tiêp trong đời sống hàng ngày, mà đó là thứ ngôn ngữ đã được cảm XUC thăng hoa thông qua rất nhiều biện pháp nghệ thuật. Trong đó, so sánh và ẩn dụ là hai biện pháp rất hay đươc sử dụng trong các tác phẩm văn học. Đặc biệt, khi đến với ca dao, ta băt gặp mọt loạt các hình ảnh so sánh và ẩn dụ rất phong phú, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trở thành dấu ấn riêng của ca dao.

“Ca cao là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình” (Hê-ghen). Qua ca dao xưa, quần chúng nhân dân rất hay dùng so sánh ví von để phô diễn ý tình. Chất liệu so sánh, ẩn dụ không lấy ở đâu xa, mà chính là cảnh vạt thiên nhiên làng quê quen thuộc, gần gũi với lao động, sinh hoạt. Từ sân đình, cây đa, giếng nước, con thuyền, bến đò cho đến những mieng cau khô, tấm lụa đào… đeu có thể trở thành vật chở bao nỗi niềm tâm tư tình cảm của người bình dân. Đôi khi “cái đẹp nằm ngay^ trong sự giản dị”. Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ rất giàu sức gợi cảm, gần gũi, ý tình trở nên bóng bẩy, ý nhị, kín đáo.

Người bình dân thường dùng hình ảnh những con vật bé nhỏ như con cò, cái kiến… khi nói về thân phận mình. Có khá nhiều những câu, bài ca dao Việt Nam nói đến con cò và mượn con cò để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo, sắc nét, giàu sức gợi, giàu ý nghĩa nhân sinh như bài ca dao:

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo mãng

Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

Sự rủi ro, không may, tai nạn bất ngờ xảy ra trong đời sống của con người cũng như của loài vật là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sự rủi ro của con cò trong bài ca dao lại rất đặc biệt. Bởi “ăn đêm” trái với sinh hoạt bình thường, tự nhiên của loài cò. Phải chăng cuộc sống của loài cò khốn khó đến nôi ban ngày kiếm ăn không được mà phải mò cả ban đêm, điều này được ví như cuộc sống những người nông dân trong xã hội phong kiến? Và sự rủi ro ấy cũng chính là cái nền, cái cớ để tác giả thể hiện tinh tế những điều muốn nói bằng ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật:

Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Tiếng kêu lạc lõng, đứt đoạn của con cò thật đáng thương. Con cò là ẩn dụ tượng trưng cho thân phận người nông dân xưa dù cuộc sống khó khăn, bế tắc nhưng họ chưa bao gíờ hết niềm tin vào cuộc sống, vẫn rất ham sống. Và đặc biệt, họ dám nhìn thẳng vào thực tế, dám đón nhận cái chết và bày tỏ thái độ dứt khoát của mình: “Có xảo thì xảo nước trong”. Đó là thái độ “chết trong còn hơn sống đục”, luôn giữ được phẩm chất thanh cao, trong sáng của mình trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hình ảnh ẩn dụ “con cò” có giá trị khái quát hiện thực cao, đồng thời thể hiện được giá trị nhân sinh sâu sắc, để lại bài học quý giá về lẽ sống ở đời.

Người phụ nữ cũng vậy. Họ phải chịu những luật lệ hà khắc trói buộc quyền sống của họ. Đến với những bài ca dao về người phụ nữ, ta bắt gặp một loạt các. câu hát than thân mở đầu bằng “thân em” với rất nhiều hình ảnh so sánh khác nhau:

– Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

– Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

– Thân em như miếng cau khô

Kể thanh tham mỏng, người thô tham dày.

Chỉ hai chữ “thân em” thôi nhưng cũng đủ khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm cho cuộc đời họ, đồng thời thây được hiện thực xã hội bấy giờ. Sau này, “bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương’ đã vận dụng trong một bài thơ rất nổi tiếng của mình – Bánh trôi nước:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

Chỉ có điều, nếu như Hồ Xuân Hương tả theo lối vịnh vật, tả chiếc bánh trôi từ màu sắc, hình dáng đến cách làm bánh cốt để chuyển nghĩa nói về người phụ nữ thì ca dao lại dùng những hình ảnh so sánh rất riêng, phong phú, sinh động:

– Thân em như tấm lụa đào

– Thân em như giếng giữa đàng

– Thân em như miếng cau khô

“Tấm lụa đào” rất quý giá, đẹp đẽ. Nhưng đây không phải tấm lụa đào được nâng niu cất giữ mà đang treo “phất phơ giữa chợ” cũng như người con gái bị đem ra bán giữa chợ đời, không được làm chủ cuộc đời mình. Và “giếng” nưóc mới trong trẻo, mát lành làm sao, mà lại ở ngay giữa đàng – nơi bao người lại qua, bị sử dụng tùy tiện: rửa mặt, rửa chân. Còn cả “miếng cau khô” kết với trầu làm thom miệng, hồng má mọi người, không thể thiếu được trong các cuộc vui “miếng trầu là đầu câu chuyện”, cũng bị cắt xẻ tùy vào khẩu vị người ăn. Giá trị của tấm lụa, giếng nước, miếng cau kia không được đánh giá qua bản thân chúng mà bị phụ thuộc vào người dùng…

Đó là sự tự ý thức về chân giá trị của mình: một vẻ đẹp xinh xắn trẻ trung như tấm lụa đào, một vẻ đẹp dân dã, giản dị nhưng rất cần thiết và không thể thay thế được của mình với cuộc đời như giếng giữa đàng, như miếng cau khô kia.. Nhưng cuối cùng không phải tất cả đều có được cuộc sống hạnh phúc mà rất nhiều trong số những người phụ nữ xưa bị bạc đãi, thậm chí bị chà đạp phũ phàng. Những câu ca dao với những hình ảnh so sánh có giá trị nghệ thuật cao như vậy là tiếng hát thấm nhuần tư tưởng nhân đạo và cũng là một hình thức đấu tranh đòi khôi phục vị trí xứng đáng của người phụ nữ.

Có thể nói đây là những hình ảnh so sánh hay nhất, giàu ý nghĩa xã hội nhất và cũng giàu chất ca dao nhất. Đọc qua hoặc nghe qua thì thấy chúng có bề ngoài giống nhau: đều mở đầu bằng “thân em”, nhưng nếu ta tập trung lắng nghe và cảm nhận sẽ thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi bài. Thiếu đi cái riêng dù là rất ít rất nhỏ này thì mỗi bài ca dao sẽ không có và không thể có “cái duyên” và cũng không còn lí do để tồn tại. “Cái duyên” ấy chính bởi khả năng dùng hình ảnh so sánh, phong phú, linh hoạt của tác giả dân gian.

Yêu thương và căm giận, đó là hai trạng thái tình cảm luôn đi cùng nhau trong mỗi con người, “thơ sinh ra từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt đắng cay” (Gam-da-tốp). Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới những câu ca dao tràn đầy tình yêu thương. Chiếm một số lượng lớn trong kho tàng ca dao là những câu hát về tình yêu nam nữ. Và có lẽ những hình ảnh so sánh, ẩn dụ đẹp nhất đều được dành để viết tặng cảm xúc thi vị này. Ta bắt gặp trong ca dao rất nhiều cặp hình ảnh ẩn dụ: khách bộ hành – cây đa, còn đò – bến cũ… rất gần gũi với cuộc sống làng quê, trong đó thuyền – bến là cặp hình ảnh phổ biến, rộng rãi nhất:

Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Thuyền – bến là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm đôi lứa. Thuyền là ẩn dụ chỉ người con trai nay đây mai đó để cho bến – ẩn dụ chỉ người con gái chờ đợi mỏi mòn. Câu ca dao cất lên đã thể hiện nỗi nhớ mong, hi vọng và cả sự chung thủy sâu sắc của người con gái. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân ta xưa, sống giàu tình mà cũng rất nặng nghĩa.

Thật khó có thể kể hết được vẻ đẹp của những hình ảnh so sánh và ẩn dụ trong ca dao. Song dẫu có phong phú đến đâu, tất cả những hình ảnh ấy đều xuất phát từ tâm hồn người bình dân – từ những gì rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống thôn quê và phản ánh tâm tư, tình cảm của họ. Nó không những góp phần lớn vào việc thể hiện nội dung tư tưởng mà còn chứng tỏ tài năng nghệ thuật của những người lao động chân lấm tay bùn. Không ít các nhà thơ sau này đã học được những so sánh, ẩn dụ ấy trong thơ mình. Ta bắt gặp “lặn lội thân cò khi quãng vắng” trong thơ Tú Xương, lối mở đầu bằng “thân em” trong hồ Hồ Xuân Hương… Đúng như Hoài Thanh từng nhận định: “Lời thơ dân gian không những bước đầu cho ta quen với tâm tư, tình cảm đồng bào ta xưa mà còn giúp ta học được những cách nói tài tình chính xác”.

Nêu Các Kiểu So Sánh Và Lấy Ví Dụ

Biện Pháp So Sánh: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ

Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Của Phạm Ngũ Lão Để Làm Sáng Tỏ Hào Khí

Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2

Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn

Tìm Hiểu Về Biện Pháp Nhân Hóa Và Cách Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa

Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí Và Giải Pháp Khắc Phục

Đánh Giá Về Ô Nhiễm Môi Trường Tại Việt Nam: Các Biện Pháp Tài Chính Cần Được Đẩy Mạnh

Những Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Và Biện Pháp Khắc Phục

Viết Một Đoạn Văn Về Nguyên Nhân Và Biện Pháp Giảm Ô Nhiễm Môi Trường Nước Bằng Tiếng Anh

Thế Nào Là Không Khí Ô Nhiễm? Các Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Không Khí? Liên Hệ Bản Thân

1. Biện pháp nhân hóa là gì?

Biện pháp nhân hóa chính là việc gọi các sự vật, hiện tượng bằng những từ ngữ dùng để miêu tả cho con người, có những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm giống như con người.

Biện pháp nghệ thuật nhân hóa giúp việc miêu tả các hình ảnh của sự vật hiện tượng trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.

Ví dụ: “Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”.

2. Các hình thức nhân hóa trong tiếng Việt

2.1 Gọi các sự vật bằng những từ chỉ người

Đơn giản đó là việc dùng các đại từ nhân xưng vốn dùng cho người sẽ dùng cho vật. Cách gọi này giúp cho các đồ vật, con vật, cây cối … trở nên gần gũi và thân thiện. Nội dung này thường xuất hiện nhiều trong các đề thi Tiếng Việt của học sinh tiểu học.

Ví dụ: Nhà em có nuôi một chú chó trắng, chú có bộ lông rất mượt mà.

Mỗi buổi sáng, bác gà trống gáy ò ó o gọi mọi người thức giấc dậy đi làm.

2.2 Miêu tả hành động, tính chất của người để miêu tả sự vật

Miêu tả các sự vật có hành động và tính chất giống như con người, cách nhân hóa này giống lời văn gợi hình, gợi ảnh và sinh động hơn. Hình thức nhân hóa này mang lại hiệu quả nghệ thuật khá cao và gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Vươn mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

Những hành động như “vươn mình”, “đu”, “hát ru” vốn là những từ ngữ chỉ hành động của con người. Khi câu văn sử dụng biện pháp nhân hóa, giúp cho hình ảnh của “tre” trở nên gần gũi và giàu cảm xúc. Câu văn mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Thể hiện sức sống dẻo dai, bền bỉ, kiên cường đồng thời thể hiện tinh thần lạc quan, bất khuất của người dân vươn lên trong khó khăn, gian khổ.

Biện pháp nghệ thuật nhân hóa

2.3 Xưng hô với vật như với con người

Cách xưng hô thân mật, giúp cho sự vật tưởng như vô tri vô giác trở nên gần gũi như những người bạn tâm giao, tri kỷ của con người. Thường áp dụng khi nhân vật độc thoại nội tâm.

Ví dụ: “Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai”

Qua câu thơ trên người đọc có thể hiểu được tâm sự của người đang trong hoàn cảnh cô đơn, lựa chọn một người bạn ở đây là “nhện” để giãi bày tâm tư, tình cảm về nỗi nhớ quê hương.

Cách sử dụng biện pháp nhân hóa

3. Giúp bé sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa hiệu quả

Bước 1: Cần xác định sự việc cần được nhân hóa (Có thể là đồ vật, cây cối, con vật).

Về đồ vật: cái bàn, cái ghế, cái tủ …

Cây cối: cây bàng, cây hoa, cây chuối …

Con vật: con chim, con gà, con ếch, con gấu …

Bước 2: Sử dụng các hình thức nhân hóa cho sự vật (bao gồm: gọi, miêu tả, xưng hô).

Bước 3: Hoàn thiện nội dung của câu văn.

Ví dụ: Cái tủ sách của lớp em “đứng” gọn gàng ở góc lớp.

Từng tán cây bàng rung rinh như “đón chào” chúng em đến lớp.

“Chú” gà trống “gọi” em thức dậy mỗi buổi sáng.

“Bác” gấu đang chăm sóc đàn con nhỏ.

Như vậy việc áp dụng biện pháp nhân hóa vào câu văn giúp sự vật, hiện tượng trở nên sinh động và có hồn hơn. Câu thơ, lời văn trở nên mềm mại và mang giá trị nghệ thuật cao hơn.

Đoạn Văn Tả Bầu Trời Buổi Sáng Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa

Viết Một Đoạn Văn Ngắn Trong Đó Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa

Mưa Axit Là Gì Và Tác Hại Thế Nào?

Xây Dựng Môi Trường Lấy Trẻ Làm Trung Tâm

Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm, Suy Thoái Môi Trường Trong Quá Trình Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Ở Việt Nam

Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.

Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du

Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản

Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi

Soạn bài Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

Câu 1 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Hai lời ca dao than thân có hình thức mở đầu “thân em như…”

+ Âm điệu ngậm ngùi, xót xa.

+ Người than thân ở đây được hiểu là cô gái đang độ xuân thì, ngậm ngùi xót xa khi vẻ đẹp của họ không được trân trọng.

+ Họ không có quyền tự quyết cuộc đời của mình.

– Bài ca 1: người phụ nữ – tấm lụa đào.

+ Thân phận trôi nổi, không tự quyết định được tương lai (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai)

– Bài ca 2: người phụ nữ – củ ấu gai (xấu ngoài, đẹp trong)

+ Lời bộc bạch tha thiết của cô gái ý thức được giá trị bản thân

+ Khát khao muốn khẳng định giá trị chân thực vẻ đẹp.

+ Nỗi ngậm ngùi, chua xót cho thân phận người phụ nữ xưa.

Câu 2 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

a) – Sử dụng từ “ai” – đại từ phiếm chỉ để mở đầu bài ca dao, chỉ chung tất cả mọi người – để mở đầu bài ca để chỉ các thế lực ngăn cản tình cảm nam nữ xuất hiện nhiều lần

+ Gợi ra sự than trách nghe xót xa, ngậm ngùi

b, Cặp ẩn dụ Sao Hôm- sao Mai và mặt Trăng- mặt Trời (để chỉ hai người xứng đôi vừa lứa)

– Biện pháp so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”: tình duyên bị ngăn cách nhưng lòng người đơn phương vẫn chờ đợi, mong mỏi ngày gặp

– Sử dụng hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ (tính bền vững) gắn với đời sống của con người, để dễ liên tưởng, cũng là để khẳng định tính thủy chung, son sắt của lòng người.

– Hình ảnh thiên nhiên gần gũi đời sống, có vẻ đẹp riêng, ngụ ý, diễn tả tâm hồn

c, Câu cuối sử dụng biện pháp so sánh nhằm thể hiện dù mình không nhớ ta thì ta

+ Sao Vượt tên gọi cổ của sao Hôm, đặc tính, mọc sớm vào buổi chiều, sao lên tới đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc

+ Câu thơ khẳng định tấm lòng chung thủy, nghĩa tình son sắt và ý chí vượt qua những rào cản của tình yêu.

Câu 3 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng:

– Ẩn dụ và hoán dụ

+ Chiếc khăn ẩn dụ cho việc gửi gắm nỗi lòng, tình cảm của cô gái tới chàng trai, chiếc khăn còn là hiện thân của cô gái

+ Đôi mắt: hoán dụ nỗi lòng thao thức vì thương nhớ.

– Phép điệp (lặp từ ngữ)

+ “Khăn thương nhớ ai”: được lặp nhiều lần, nhằm nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ.

+ Nỗi nhớ có nhiều trạng thái, cung bậc khác nhau.

c, Câu hỏi tu từ “khăn thương nhớ ai- khăn rơi xuống đất? / Đèn thương nhớ ai- Mà đèn chẳng tắt?/ Mắt thương nhớ ai- Mà mắt không yên?

– Tình cảm, sự nhớ nhung, bồn chồn vì người yêu thể hiện trong mọi hoạt động, mọi khung cảnh.

d, Những câu thơ ngắn gồm 4 tiếng: thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn.

Kết hợp với câu lục bát nhằm làm nổi bật sự mong ngóng, trông chờ tới khắc khoải của người con gái.

Câu 4 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Chiếc cầu: hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sự nối kết khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

+ Chiếc cầu- dải yếm là hình tượng độc đáo, kì lạ trong ca dao, thể hiện khát vọng tình cảm mặn nồng của nam nữ

+ Chiếc cầu phản ánh ước mơ chính đáng của các cặp đôi yêu nhau, đó cũng là ý tưởng táo bạo của cô gái.

Những bài ca dao xuất hiện hình ảnh chiếc cầu cũng với ý nghĩa tương tự:

Ước gì sông rộng một gang

Để em ngắt ngọn mồng tới bắc cầu Câu 5 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

– Cặp hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong ca dao truyền thống gừng cay- muối mặn

+ Được xây dựng từ hình ảnh thực chỉ gia vị trong bữa ăn hằng ngày.

+ Hình ảnh nghệ thuật có tính sóng đôi, biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống- tình nghĩa thủy chung gắn bó son sắt

+ Bài ca dao nói về tình nghĩa thủy chung, hướng nhiều tới tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung

– Ba năm, chín tháng: sự bền lâu, vĩnh cửu

Ba vạn, sáu ngàn ngày là 100 năm: trọn kiếp, suốt đời, vĩnh hằng

→ Bài ca dao là câu hát thủy chung, nghĩa tình hướng tới tình cảm vợ chồng mặn nồng, son sắt

Một số câu ca dao có biểu tượng muối gừng:

Tay nâng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau Câu 6 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao:

+ Nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp, nói quá

– Đặc điểm khác biệt: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với người lao động để gọi tên, trò chuyện, so sánh: khăn, con sông, chiếc cầu, vườn hồng…

– Trong khi đó thơ bác học trong văn học sử dụng trang trọng hơn, có nhiều nét phức tạp hơn

Luyện tập

Bài 1 (Trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

– Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

– Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

– Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

– Thân em như miếng cau khô

Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày

– Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

Các bài ca dao nói về thân em có sắc thái biểu cảm:

+ Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái

+ Sự ý thức cao về giá trị của bản thân của người con gái.

Bài 2 (trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

– Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

– Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

– Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

Buồn trông chênh chếch sao mai

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

– Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

– Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

Câu thơ: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng sáng tạo vượt bậc khi tình cảm nam nữ hòa quyện vào tình yêu đất nước.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10

Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn

Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam

Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10

🌟 Home
🌟 Top