Ai Bít Các Câu Ca Dao Tục Ngữ Có Sử Dụng Nói Quá Hok Nè

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Nói Quá (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Nói Quá Ngắn Gọn Nhất
  • Soạn Bài Nói Quá Lớp 8, Ngữ Văn 8
  • Ngữ Văn 8: 4 Dạng Bài Thường Gặp Ở Chuyên Đề Nói Quá, Nói Giảm
  • 1 Bài Thơ Có Sử Dụng Biện Pháp Nói Quá
  • ai bít các câu ca dao tục ngữ có sử dụng nói quá hok nè

    1) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    2) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    3) Đêm nằm lưng chẳng tới giường

    4) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó ngáy cả nhà thất kinh

    5) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    ( Nguyễn Du )

    6) Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn

    7) Tấc đất , tấc vàng

    *********Ca dao có sử dụng biện pháp nói quá :

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

    *********Thành ngữ có sử dụng biên pháp tu từ nói quá:

    – Đen như cột nhà cháy

    – Gầy như que củi

    – Đi guốc trong bụng

    – Xoay trời chuyển đất

    – Khoẻ như voi

    – Chậm như rùa

    – Bầm gan tím ruột

    – Mặt xanh nanh vàng

    Thanks giùm tớ cái háh…..post nhìu mỏi tay wá ch0y luz

    1) Đêm thnág năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối.

    2) Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    (Nguyễn Du)

    3) Gánh cực mà đổ lên non

    Còng lưng mà chạy cực còn đuổi theo

    4) Bao giờ cây cải làm đình

    Gỗ lim làm ghém thì mình lấy ra

    5) Đêm năm lưng chẳng tới giường

    6) Con rận bằng con ba ba

    Đêm đêm nó gáy cả nhà thất thanh

    ***Ngoài ra bạn có thể vào trang web

    – http://baigiang.**********

    -http://giâon.**********

    Để biết dc thêm trí thức

    THanks giùm mình cái háh…..post mõi cả tay rùi nềh

    Bài này hoàn chỉnh là thế này cơ mà:

    Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

    Đêm ngủ thì ngáy o..o

    choongf yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

    Đi chợ thì hay ăn quà

    Chồng yêu chồn bảo về nhà đỡ cơm

    Tre^n đầu những rác cùng rơm

    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Tiếng Việt: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Bài 9. Nói Quá Thanh Vawn 8 Doc
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Hình Ảnh Người Lao Động Trên Biển Trong “đoàn Thuyền Đánh Cá”
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Lao Động Trong 3 Khổ Cuối Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Cảm Nhận Khổ Đầu Và Khổ Cuối Trong Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá
  • Nghị Luân Về Việc Ca Dao Thường Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Đợt Nghỉ Dịch Bd So Sanh 2 Pptx
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong Tình Ca Ban Mai Của Chế Lan Viên
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chế Lan Viên
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chếlanviên
  • Ngữ Văn 6 Bài 19 Hướng Dẫn Và Luyện Tập So Sánh
  • Đề: Ca dao thường dùng biện pháp so sánh, ẩn dụ. Hãy tìm hiểu từ 3 đến 5 bài ca dao dùng so sánh, ẩn dụ để thấy tác dụng của nó.

    Nếu như chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu; của hội họa là đường nét, màu sắc… thì văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. Ngôn ngữ văn học không giống với các bộ môn khoa học khác, cũng không phải là ngôn ngữ giao tiêp trong đời sống hàng ngày, mà đó là thứ ngôn ngữ đã được cảm XUC thăng hoa thông qua rất nhiều biện pháp nghệ thuật. Trong đó, so sánh và ẩn dụ là hai biện pháp rất hay đươc sử dụng trong các tác phẩm văn học. Đặc biệt, khi đến với ca dao, ta băt gặp mọt loạt các hình ảnh so sánh và ẩn dụ rất phong phú, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trở thành dấu ấn riêng của ca dao.

    “Ca cao là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình” (Hê-ghen). Qua ca dao xưa, quần chúng nhân dân rất hay dùng so sánh ví von để phô diễn ý tình. Chất liệu so sánh, ẩn dụ không lấy ở đâu xa, mà chính là cảnh vạt thiên nhiên làng quê quen thuộc, gần gũi với lao động, sinh hoạt. Từ sân đình, cây đa, giếng nước, con thuyền, bến đò cho đến những mieng cau khô, tấm lụa đào… đeu có thể trở thành vật chở bao nỗi niềm tâm tư tình cảm của người bình dân. Đôi khi “cái đẹp nằm ngay^ trong sự giản dị”. Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ rất giàu sức gợi cảm, gần gũi, ý tình trở nên bóng bẩy, ý nhị, kín đáo.

    Người bình dân thường dùng hình ảnh những con vật bé nhỏ như con cò, cái kiến… khi nói về thân phận mình. Có khá nhiều những câu, bài ca dao Việt Nam nói đến con cò và mượn con cò để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo, sắc nét, giàu sức gợi, giàu ý nghĩa nhân sinh như bài ca dao:

    Con cò mà đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo mãng

    Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

    Sự rủi ro, không may, tai nạn bất ngờ xảy ra trong đời sống của con người cũng như của loài vật là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sự rủi ro của con cò trong bài ca dao lại rất đặc biệt. Bởi “ăn đêm” trái với sinh hoạt bình thường, tự nhiên của loài cò. Phải chăng cuộc sống của loài cò khốn khó đến nôi ban ngày kiếm ăn không được mà phải mò cả ban đêm, điều này được ví như cuộc sống những người nông dân trong xã hội phong kiến? Và sự rủi ro ấy cũng chính là cái nền, cái cớ để tác giả thể hiện tinh tế những điều muốn nói bằng ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật:

    Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Tiếng kêu lạc lõng, đứt đoạn của con cò thật đáng thương. Con cò là ẩn dụ tượng trưng cho thân phận người nông dân xưa dù cuộc sống khó khăn, bế tắc nhưng họ chưa bao gíờ hết niềm tin vào cuộc sống, vẫn rất ham sống. Và đặc biệt, họ dám nhìn thẳng vào thực tế, dám đón nhận cái chết và bày tỏ thái độ dứt khoát của mình: “Có xảo thì xảo nước trong”. Đó là thái độ “chết trong còn hơn sống đục”, luôn giữ được phẩm chất thanh cao, trong sáng của mình trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hình ảnh ẩn dụ “con cò” có giá trị khái quát hiện thực cao, đồng thời thể hiện được giá trị nhân sinh sâu sắc, để lại bài học quý giá về lẽ sống ở đời.

    Người phụ nữ cũng vậy. Họ phải chịu những luật lệ hà khắc trói buộc quyền sống của họ. Đến với những bài ca dao về người phụ nữ, ta bắt gặp một loạt các. câu hát than thân mở đầu bằng “thân em” với rất nhiều hình ảnh so sánh khác nhau:

    – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

    – Thân em như miếng cau khô

    Kể thanh tham mỏng, người thô tham dày.

    Chỉ hai chữ “thân em” thôi nhưng cũng đủ khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm cho cuộc đời họ, đồng thời thây được hiện thực xã hội bấy giờ. Sau này, “bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương’ đã vận dụng trong một bài thơ rất nổi tiếng của mình – Bánh trôi nước:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

    Chỉ có điều, nếu như Hồ Xuân Hương tả theo lối vịnh vật, tả chiếc bánh trôi từ màu sắc, hình dáng đến cách làm bánh cốt để chuyển nghĩa nói về người phụ nữ thì ca dao lại dùng những hình ảnh so sánh rất riêng, phong phú, sinh động:

    – Thân em như tấm lụa đào

    – Thân em như giếng giữa đàng

    – Thân em như miếng cau khô

    “Tấm lụa đào” rất quý giá, đẹp đẽ. Nhưng đây không phải tấm lụa đào được nâng niu cất giữ mà đang treo “phất phơ giữa chợ” cũng như người con gái bị đem ra bán giữa chợ đời, không được làm chủ cuộc đời mình. Và “giếng” nưóc mới trong trẻo, mát lành làm sao, mà lại ở ngay giữa đàng – nơi bao người lại qua, bị sử dụng tùy tiện: rửa mặt, rửa chân. Còn cả “miếng cau khô” kết với trầu làm thom miệng, hồng má mọi người, không thể thiếu được trong các cuộc vui “miếng trầu là đầu câu chuyện”, cũng bị cắt xẻ tùy vào khẩu vị người ăn. Giá trị của tấm lụa, giếng nước, miếng cau kia không được đánh giá qua bản thân chúng mà bị phụ thuộc vào người dùng…

    Đó là sự tự ý thức về chân giá trị của mình: một vẻ đẹp xinh xắn trẻ trung như tấm lụa đào, một vẻ đẹp dân dã, giản dị nhưng rất cần thiết và không thể thay thế được của mình với cuộc đời như giếng giữa đàng, như miếng cau khô kia.. Nhưng cuối cùng không phải tất cả đều có được cuộc sống hạnh phúc mà rất nhiều trong số những người phụ nữ xưa bị bạc đãi, thậm chí bị chà đạp phũ phàng. Những câu ca dao với những hình ảnh so sánh có giá trị nghệ thuật cao như vậy là tiếng hát thấm nhuần tư tưởng nhân đạo và cũng là một hình thức đấu tranh đòi khôi phục vị trí xứng đáng của người phụ nữ.

    Có thể nói đây là những hình ảnh so sánh hay nhất, giàu ý nghĩa xã hội nhất và cũng giàu chất ca dao nhất. Đọc qua hoặc nghe qua thì thấy chúng có bề ngoài giống nhau: đều mở đầu bằng “thân em”, nhưng nếu ta tập trung lắng nghe và cảm nhận sẽ thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi bài. Thiếu đi cái riêng dù là rất ít rất nhỏ này thì mỗi bài ca dao sẽ không có và không thể có “cái duyên” và cũng không còn lí do để tồn tại. “Cái duyên” ấy chính bởi khả năng dùng hình ảnh so sánh, phong phú, linh hoạt của tác giả dân gian.

    Yêu thương và căm giận, đó là hai trạng thái tình cảm luôn đi cùng nhau trong mỗi con người, “thơ sinh ra từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt đắng cay” (Gam-da-tốp). Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới những câu ca dao tràn đầy tình yêu thương. Chiếm một số lượng lớn trong kho tàng ca dao là những câu hát về tình yêu nam nữ. Và có lẽ những hình ảnh so sánh, ẩn dụ đẹp nhất đều được dành để viết tặng cảm xúc thi vị này. Ta bắt gặp trong ca dao rất nhiều cặp hình ảnh ẩn dụ: khách bộ hành – cây đa, còn đò – bến cũ… rất gần gũi với cuộc sống làng quê, trong đó thuyền – bến là cặp hình ảnh phổ biến, rộng rãi nhất:

    Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    Thuyền – bến là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm đôi lứa. Thuyền là ẩn dụ chỉ người con trai nay đây mai đó để cho bến – ẩn dụ chỉ người con gái chờ đợi mỏi mòn. Câu ca dao cất lên đã thể hiện nỗi nhớ mong, hi vọng và cả sự chung thủy sâu sắc của người con gái. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân ta xưa, sống giàu tình mà cũng rất nặng nghĩa.

    Thật khó có thể kể hết được vẻ đẹp của những hình ảnh so sánh và ẩn dụ trong ca dao. Song dẫu có phong phú đến đâu, tất cả những hình ảnh ấy đều xuất phát từ tâm hồn người bình dân – từ những gì rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống thôn quê và phản ánh tâm tư, tình cảm của họ. Nó không những góp phần lớn vào việc thể hiện nội dung tư tưởng mà còn chứng tỏ tài năng nghệ thuật của những người lao động chân lấm tay bùn. Không ít các nhà thơ sau này đã học được những so sánh, ẩn dụ ấy trong thơ mình. Ta bắt gặp “lặn lội thân cò khi quãng vắng” trong thơ Tú Xương, lối mở đầu bằng “thân em” trong hồ Hồ Xuân Hương… Đúng như Hoài Thanh từng nhận định: “Lời thơ dân gian không những bước đầu cho ta quen với tâm tư, tình cảm đồng bào ta xưa mà còn giúp ta học được những cách nói tài tình chính xác”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Các Kiểu So Sánh Và Lấy Ví Dụ
  • Biện Pháp So Sánh: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Của Phạm Ngũ Lão Để Làm Sáng Tỏ Hào Khí
  • Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuần 10. Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước, Trang 90 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1
  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Cảm Nhận Về Câu Ca Dao: “thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai”
  • Soạn bài Ca dao hài hước (ngắn gọn) Văn 10. Câu 1: Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sống con người….

    1. Đọc bài ca 1 và trả lời các câu hỏi 1

    Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sống con người. Trong cuộc sống trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có chuyện thách và dẫn cưới. Trong bài ca này cả dẫn và thách cưới có cái gì không bình thường.

    – Bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến “một con chuột béo” miễn là có thú bốn chân”; còn nhà gái lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.

    Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước, rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống của người lao động.

    – Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, đối chọi (tương phản) để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

    – Trước hết là nghệ thuật tương phản giữa ý định với thực tế: chàng trai có nhiều dự định cao sang trong việc dẫn cưới, nhưng chỉ vì nghèo nên đã đưa ra đủ lý do để thoái thác, cuối cùng chỉ dẫn tới một thực tế hết sức trái ngược: đó là dẫn cưới chỉ bằng “một con chuột béo”. Trong lời cô gái cũng có nghệ thuật tương phản: “Người ta thách lợn, thách gà – Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”.

    Biện pháp nói quá trong cả hai lời dẫn cưới và thách cưới. Trong thực tế chẳng có ai dẫn cười bằng “chuột” và cũng không có ai thách cưới bằng “khoai lang”. Cách nói quá ở đây cốt để nhấn mạnh cái nghèo và để tạo nên tiếng cười hóm hỉnh, đáng yêu.

    Câu 2. Đọc các bài ca số 2, 3, 4 và trả lời câu hỏi 2

    Tiếng cười trong các bài ca dao này khác với bài 1 về tính phê phán và tự trào.

    Bài 1. Là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

    Bài 2. Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai. Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ. Đối lập hay còn gọi là tương phản “làm trai”, “sức trai” xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan” hoặc “làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam”. Ở đây đối lập với “làm trai” và “sức trai” là “Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng”. Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm “khom lưng chống gối” ấy như thế nào mọi người đã rõ.

    Bài 3. Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích sự, lười nhác, không có chí lớn. Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết “ngồi bếp” để “sờ đuôi con mèo”. Tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ. Có thể tìm thấy một số bài ca dao có nội dung tương tự:

    Chồng người lội suối trèo đèo

    Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm

    Bài 4. Cũng dùng biện pháp nói quá nhưng là 2 lần nói quá (đồng nói quá): vừa nói quá về cái xấu của cô vợ, lại vừa nói quá về tình yêu mù quáng của ông chồng. Cái hấp dẫn của màn hài hước này là ở chỗ sự cường điệu diễn ra song hành, không có điểm dừng, cho thấy tình yêu của anh chồng cũng mù quáng không có điểm dừng.

    Câu 3. Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước

    Ca dao hài hước thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: đối chọi (tương phản), nói ngược (phản ngữ), nói quá (cường điệu)…

    LUYỆN TẬP Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào?

    – Thách cưới là yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai về tiền cưới và lễ vật. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” có thể gợi cho em một nụ cười cảm thương, vừa hài hước vừa chua chát buồn thương cho sự nghèo khó của gia đình cô gái, nhưng cũng rất trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh trong cách nói hài hước của cô.

    – Tiếng cười tự trào của người lao động rất đáng yêu và đáng trân trọng, bởi nó thể hiện sự lạc quan, đồng thời biểu hiện sự thông minh, sắc xảo, hóm hỉnh của những tiếng cười.

    – Tiếng cười cũng bật lên nhưng có gì như chia sẻ với cuộc sống còn khốn khó của người lao động. Đằng sau tiếng cười ấy là phê phán thách cưới nặng nề của người xưa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước
  • Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu
  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca
  • Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh Trong Ca Dao Ở Chương Trình Thpt
  • Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
    • Viết đoạn văn ngắn có sử dung câu đặc biệt, câu rút gọn,dấu chấm lửng,dấu chấm than, dấu gạch ngang và nêu công dụng cảu dấu câu, dấu câu sử dụng

    • Viết đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng cậu mở rộng, câu đặc biệt và trạng ngữ (đề tại tự chọn)

    • Câu 1. Tìm cụm chủ vị mở rộng và cho biết chúng làm thành phần gì trong câu

      a)Ở trên lớp, học sinh chăm chỉ làm bài là một việc làm tốt

      b) Mùa hè, hoa phượng nở làm cho sân trường thêm rực rỡ.

      Câu 2. Tìm phép liệt kê và phân loại, nêu tác dụng

      a) Ngoài hò, ở ca Huế còn bắt gặp các điệu lý như : lý con sáo, lý hoài xuân, lý hoài nam

      b) Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vã….

      HELPP MEEE

    • Mọi người giúp mình mấy bài này với hí hí

      +Đoạn văn về tình cảm gia đình có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm bạn bè có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm anh em có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm quê hương có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      Mong mọi người giup đỡ tí mình phải nộp bài rồi

    • câu 2: kể tên các chuyện đã học trong chương trình lớp 7? em thích truyện nào? vì sao?

      câu 3: có mấy tiêu chí để phân loại phép liệt kê

      giúp vs

    • Xác định kiểu câu và gạch chân dưới những từ ngữ nhận biết.

      a, An hỏi: Bạn là ai ?

      b, Bạn định làm gì vào ngày mai ?

      c, Tại sao bạn không làm bài tập về nhà ?

      d, Em đừng khóc nữa.

      e, Em đi về đi.

      f, Tớ chỉ đùa thôi.

      g, Ôi ! Khổ quá.

      h, Chao ôi ! Bọn chúng thật ác.

      i, Tôi thương mẹ tôi biết bao.

      k, Tôi nói với Phương: Bạn cứ vào trong nhà mình chơi.

      l, Mẹ nói: Bố về rồi con đi dọn cơm cho bố.

    • Xác định chủ ngữ , vị ngữ , trạng ngữ ( nếu có ) .

      1. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn.

      2. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi

    • Phân tích tác dụng của phép nhân hóa:

      Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

    • Tìm câu đặc biệt, trạng ngữ và câu rút gọn:

      Nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. từ già đến trẻ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh vì đất nước Việt Nam. Những cô gái trẻ độ tuôi đôi mươi, cũng chấp nhận từ bỏ lứa tuổi đẹp nhất của đời người để ra trận. Những người mẹ tần tảo đã đau khổ biết mấy khi để những người con mà họ hết lòng yêu thương ra trận. Những người phụ nữ, bất chấp tất cả, cũng cùng các thanh niên trang bị cho cuộc chiến tranh sắp đến… Tất cả những công dân Việt Nam,họ biết họ đang đối mặt với sự sống và cái chết… nhưng họ gạt bỏ tất cả nỗi sợ hãi bị tật nguyền, bị mất đi đôi chân hoặc cánh tay, tệ hơn nữa, họ sẽ chết chìm trong biển lửa tàn khốc của chiến tranh. Nhưng lý do gì đã không ngừng thôi thúc họ không được từ bỏ, rằng dù có bị tật nguyền cũng phải dũng cảm chiến đấu vì tương lai sau này? Đó là vì tinh thần yêu nước của nhân dân ta quá sâu đậm. Dường như trong dòng máu của mỗi công dân Việt Nam đều đã có sẵn tinh thần bất khuất ầy. Nó sẽ không bao giờ chịu khuất phục bởi chiến tranh, luôn sống mãi trong tim mỗi con người, mỗi công dân Việt Nam

    • Xác định từ láy và từ ghép trong các từ sau đây:

      +đầu đuôi +heo hút +tươi tốt

      +ngọn ngành +đông đủ +nảy nở

      +chậm chạp +ngọt ngào +xinh xẻo

      +mệt mỏi + chua chát + tươi tắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Năm 2022 Môn Ngữ Văn Trường Ngô Sĩ Liên
  • Tìm Hiểu Về Biện Pháp Nhân Hóa Và Cách Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Không Khí Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Đánh Giá Về Ô Nhiễm Môi Trường Tại Việt Nam: Các Biện Pháp Tài Chính Cần Được Đẩy Mạnh
  • Những Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Môi Trường Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Viết Một Đoạn Văn Về Nguyên Nhân Và Biện Pháp Giảm Ô Nhiễm Môi Trường Nước Bằng Tiếng Anh
  • Thế Nào Là Không Khí Ô Nhiễm? Các Biện Pháp Chống Ô Nhiễm Không Khí? Liên Hệ Bản Thân
  • 1. Biện pháp nhân hóa là gì?

    Biện pháp nhân hóa chính là việc gọi các sự vật, hiện tượng bằng những từ ngữ dùng để miêu tả cho con người, có những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm giống như con người.

    Biện pháp nghệ thuật nhân hóa giúp việc miêu tả các hình ảnh của sự vật hiện tượng trở nên sinh động và hấp dẫn hơn.

    Ví dụ: “Dưới trăng quyên đã gọi hè

    Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”.

    2. Các hình thức nhân hóa trong tiếng Việt

    2.1 Gọi các sự vật bằng những từ chỉ người

    Đơn giản đó là việc dùng các đại từ nhân xưng vốn dùng cho người sẽ dùng cho vật. Cách gọi này giúp cho các đồ vật, con vật, cây cối … trở nên gần gũi và thân thiện. Nội dung này thường xuất hiện nhiều trong các đề thi Tiếng Việt của học sinh tiểu học.

    Ví dụ: Nhà em có nuôi một chú chó trắng, chú có bộ lông rất mượt mà.

    Mỗi buổi sáng, bác gà trống gáy ò ó o gọi mọi người thức giấc dậy đi làm.

    2.2 Miêu tả hành động, tính chất của người để miêu tả sự vật

    Miêu tả các sự vật có hành động và tính chất giống như con người, cách nhân hóa này giống lời văn gợi hình, gợi ảnh và sinh động hơn. Hình thức nhân hóa này mang lại hiệu quả nghệ thuật khá cao và gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

    Vươn mình trong gió tre đu

    Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

    Những hành động như “vươn mình”, “đu”, “hát ru” vốn là những từ ngữ chỉ hành động của con người. Khi câu văn sử dụng biện pháp nhân hóa, giúp cho hình ảnh của “tre” trở nên gần gũi và giàu cảm xúc. Câu văn mang nhiều ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Thể hiện sức sống dẻo dai, bền bỉ, kiên cường đồng thời thể hiện tinh thần lạc quan, bất khuất của người dân vươn lên trong khó khăn, gian khổ.

    Biện pháp nghệ thuật nhân hóa

    2.3 Xưng hô với vật như với con người

    Cách xưng hô thân mật, giúp cho sự vật tưởng như vô tri vô giác trở nên gần gũi như những người bạn tâm giao, tri kỷ của con người. Thường áp dụng khi nhân vật độc thoại nội tâm.

    Ví dụ: “Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai”

    Qua câu thơ trên người đọc có thể hiểu được tâm sự của người đang trong hoàn cảnh cô đơn, lựa chọn một người bạn ở đây là “nhện” để giãi bày tâm tư, tình cảm về nỗi nhớ quê hương.

    Cách sử dụng biện pháp nhân hóa

    3. Giúp bé sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa hiệu quả

    Bước 1: Cần xác định sự việc cần được nhân hóa (Có thể là đồ vật, cây cối, con vật).

    Về đồ vật: cái bàn, cái ghế, cái tủ …

    Cây cối: cây bàng, cây hoa, cây chuối …

    Con vật: con chim, con gà, con ếch, con gấu …

    Bước 2: Sử dụng các hình thức nhân hóa cho sự vật (bao gồm: gọi, miêu tả, xưng hô).

    Bước 3: Hoàn thiện nội dung của câu văn.

    Ví dụ: Cái tủ sách của lớp em “đứng” gọn gàng ở góc lớp.

    Từng tán cây bàng rung rinh như “đón chào” chúng em đến lớp.

    “Chú” gà trống “gọi” em thức dậy mỗi buổi sáng.

    “Bác” gấu đang chăm sóc đàn con nhỏ.

    Như vậy việc áp dụng biện pháp nhân hóa vào câu văn giúp sự vật, hiện tượng trở nên sinh động và có hồn hơn. Câu thơ, lời văn trở nên mềm mại và mang giá trị nghệ thuật cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đoạn Văn Tả Bầu Trời Buổi Sáng Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa
  • Viết Một Đoạn Văn Ngắn Trong Đó Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa
  • Mưa Axit Là Gì Và Tác Hại Thế Nào?
  • Xây Dựng Môi Trường Lấy Trẻ Làm Trung Tâm
  • Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm, Suy Thoái Môi Trường Trong Quá Trình Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Ở Việt Nam
  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Hạt Mưa Rào

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Câu Ca Dao Thân Em Như Tấm Lụa Đào Phất Phơ Giữa Chợ Biết Vào Tay Ai
  • :chỉ Rõ Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Các Biện Pháp Tu Từ Có Trong Đoạn Thơ
  • Tìm Và Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Thơ Sau: Hồi Nhỏ Sống Với Đồng Với Sóng Rồi Với Bể Hồi Chiến Tranh Ở Rừng Vầng Trăng Thành Tri Kỷ T
  • Phân Tích Các Biên Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Hai Khổ Thơ Đầu Bài Thơ Ánh Trăng
  • Mỗi Truyện Của Thạch Lam Là Một Bài Thơ Trữ Tình” Phân Tích Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Để Làm Sáng Tỏ Nhận Định Trên
  • Nhắc đến kho tàng ca dao dân ca Việt Nam thì người đọc luôn phải tự hào về khối lượng của những bài ca dao ấy. Nó không chỉ đa dạng về phong cách mà còn về hình ảnh và nội dung được truyền tải. Một trong số đó chính là về hình ảnh và số phận của người phụ nữ xưa, sống theo chế độ phong kiến cũ hà khắc hay cả những quy tắc trọng nam khinh nữ mà cho tới bây giờ người phụ nữ vẫn phải gồng gánh với quan niệm đó. Thật sâu sắc và uyển chuyển khi 4 câu ca dao sau đã truyền tải hết thông điệp của người xưa đối với người phụ nữ:

    Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

    Điểm chung của câu ca dao nói về người phụ nữ hầu hết đều sử dụng hình ảnh ẩn dụ là thân em. Người phụ nữ xưa số phận hèn mọn không có tên có tuổi có khi theo chồng về nhà chồng lại bị gọi theo tên của chồng. Giống như cuộc đời và số phận của người phụ nữ luôn không được tự mình làm chủ và khó có thể nắm vững số phận của mình trong tay mà phụ thuộc và chồng vào người đàn ông hoặc những người khác. Thân em gợi lên hình ảnh mong manh yếu đuối và đơn chiếc. Thân em như vừa để nói để giãi bày mà cũng có thể là lời trách hờn của những người phụ nữ yếu đuối một cách bâng quơ chả dám kêu to hét lớn gì cả

    Thân em được ví như hạt mưa, mưa thì cũng nhiều và mong manh lắm nhưng mưa rơi xuống đất thấm vào đâu trôi dạt vào đâu nào đâu có được lựa chọn. Thân em là hạt mưa nhưng đâu phải hạt nào cũng được làm mát cho cây cối hoa thơm quả ngọt, có phải hạt nào cũng được trở thành thứ mà con người ta trân trọng nâng niu. May mắn thay thì được vào nhà có danh giá một chút sống cuộc đời êm ấm giàu sang nhưng không may mắn hơn thì lại rơi vào nhà dân bần hàn có khi cả cuộc đời nghèo khổ lang bạt vất vưởng

    Chưa dừng lại đó để nhấn mạnh thêm nữa tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh ở câu thứ hai để ví thân em như hạt mưa nhưng lần này mưa rơi vào chốn đài các hoặc ra ruộng cày. Đài các là nơi sang trọng phú quý không phải ai cũng có cơ hội bước chân vào đó nhưng ruộng cày cuộc sống bần nông vất vả thì hầu hết đều phải chịu và sống tiếp số kiếp của mình đến sau này. Số phận của người phụ nữ là vay may mắn thì được sung túc ấm êm , không may mắn thì phải chịu cảnh nghèo hàn rẻ mạt.

    Tuy nhiên điểm chung ở đây là thân em được ví như hạt mưa cũng chính như tính cách và con người phụ nữ. Dù rơi vào đâu thì cũng trong sáng thanh mát tắm mát cho cây cối ruộng đồng cho hoa thơm đơm trái cho vụ mùa bội thu nhà nhà thắng lợi. Dù có mềm yếu có dễ vỡ đến đâu thì vẫn là thứ quý giá và rất cần thiết cho cuộc sống mỗi con người, điều đó hoàn toàn không thể phủ nhận được.

    Nhờ vào câu ca dao mà chúng ta lại càng hiểu thêm về con người phụ nữ trong chế độ cũ, vừa là cảm thông và vừa trân trọng những số phận mềm yếu cần được chia sẻ và nâng đỡ. Dù họ có yếu đuối đến đâu thì thiếu họ là thiếu cả nửa thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Ngữ Văn 12
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Trang 129 Sgk Văn 12
  • Soạn Bài Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
  • Khái Quát Những Biện Pháp Nghệ Thuật Được Sử Dụng Trong Chùm Ca Dao Về Tình Cảm Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Tu Từ Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Cùng Những Ví Dụ Chi Tiết Dễ Hiểu
  • Tài Liệu Ôn Thi Môn Văn Quốc Gia
  • Một Số Kiến Thức Cơ Bản Về Tác Phẩm ” Tây Tiến” Của Quang Dũng.
  • Phân Tích Bài Thương Vợ Ngắn Gọn Và Trọng Tâm
  • Nghe thuat trong chum ca dao ve tinh cam gia dinh. Đề bài: Khái quát những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong chùm ca dao về tình cảm gia đình

    Trong tuổi thơ của mỗi chúng ta, ca dao dân ca tựa như một người bạn thân thiết đồng hành, lớn lên cùng ta, vỗ về tâm hồn chúng ta nơi những lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ. Chúng ta say giấc nồng khi bên tai còn văng vẳng tiếng ru ngân nga, ngủ say trong cả những buổi trưa hè đến những đêm đông lạnh giá. Bởi vậy mà tình cảm gia đình luôn luôn là một phần rất quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam. Đằng sau những câu hát về tình cảm gia đình, đời sống tinh thần,cụ thể đó là tâm hồn, tình cảm của nhân dân Việt Nam được hiện lên rõ nét.

    Tình cảm gia đình trước nhất được thể hiện qua ơn nghĩa của người con đối với công lao của cha mẹ, đó là thứ tình cảm thiêng liêng nhất bởi nó được gắn kết với nhau bởi huyết thống. Cha mẹ là những người ban cho ta sinh mạng, sự sống và cuộc đời, ban cho ta cả những cảm xúc quý giá của một con người.

    Công cha như núi ngất trời

    Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

    Những câu ca dao trên đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật thân thuộc gần gũi hay xuất hiện trong ca dao dân ca, tạo nên hiệu quả làm tăng thêm tình cảm, tăng giá trị và cảm xúc cho người đọc, người nghe. Biện pháp đối xứng công cha- nghĩa mẹ, núi- biển tưởng chừng như đối lập nhau nhưng thực ra đã làm khắc sâu thêm sự vĩ đại, vĩnh cửu của công ơn cha mẹ và sự hy sinh của họ. Thể thơ lục bát với nhịp lên xuống mềm mỏng, lắng đọng và sự ngọt ngào của những điệu hát ru đã làm cho những câu ca dao trở nên nhẹ nhàng, sâu lắng như một lời thủ thỉ hiền hòa, tâm tình. Nghệ thuật so sánh “như núi”, “như nước” thật dân dã, thân quen, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ ăn sâu vào lòng người. Núi và biển đều là những nơi mênh mông, vĩnh hằng, người cha thì vững chãi như núi còn người mẹ thì hiền lành, yên bình tựa biển sâu. Ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ được khéo léo đưa vào câu ca dao, chạm nhẹ tới trái tim của những người con đang chịu ơn. Biện pháp so sánh đã giúp chúng ta nhận thấy được lòng biết ơn sâu nặng của những người con đối với cha mẹ của mình.

    Chiều chiều đứng trước ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    Câu ca dao thứ hai trong chùm ca dao đã sử dụng từ láy “chiều chiều”, gợi sự buồn bã ảm đạm, thê lương khi thời điểm tắt dần của ánh nắng, thời khắc hoàng hôn, giao hòa ngày đêm. Ta có thể hình dung ra hình ảnh người con gái lấy chồng xa quê đang âm thầm đứng nơi khuất lấp “ ngõ sau” để nhớ về mẹ, nhớ về quê hương mỗi buổi chiều tà. Tại đây xuất hiện từ láy “chiều chiều” và lặp từ chiều một lần nữa ở “chín chiều”. Thông qua đó phác họa phần nào một nỗi lòng xót xa, sâu lắng, nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Tất cả đó chính là tình yêu gia đình và tình yêu quê hương sâu sắc của những người con xa xứ, dù sống xa nhà nhưng vẫn một lòng hướng về quê mẹ, vẫn “ruột đau chín chiều”.

    Ngó lên- nuộc lạt

    Bao nhiêu nuộc lạt- nhớ ông bà bấy nhiêu.

    Hình ảnh so sánh “nuộc lạt” và lối so sánh bao nhiêu- bấy nhiêu đã ít nhiều khắc họa lên nỗi nhớ trùng trùng điệp điệp không thể nào kể xiết của người cháu xa cách. “Ngó lên” là hành động chỉ sự tôn kính, từ “ngó” chỉ sự gần gũi. Hình ảnh “nuộc lạt” so sánh với tình thân đã thể hiện tình cảm huyết thống khăng khít và nỗi nhớ da diết sâu đậm của người cháu đối với ông bà của mình.

    Có lẽ ta đã từng nghe câu ca dao: “Anh em như thể tay chân” ở bất cứ gia đình nào. Tình cảm giữa anh chị em là tình cảm hòa hợp, là sự hiểu rõ nhau, gắn bó khăng khít với nhau của những người anh em ruột thịt cùng thế hệ, đồng thời là những người bạn đồng trang lứa “Như thể tay chân”, “Anh em nào phải người xa”. Phương thức so sánh anh em với chân tay như thể nhắc đến lẽ sống còn: tay chân không thể nào thiếu nhau giống như anh em trong một nhà vậy, không chỉ lúc gian nan hoạn nạn luôn cần có nhau mà còn chia sẻ với nhau những niềm vui trong cuộc sống. Nhờ vào biện pháp so sánh, tác giả dân gian đã gửi lời khuyên nhủ tới những người anh em phải đoàn kết, hòa thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau làm cho cha mẹ vui lòng bởi tay chân trên cùng một con người không thể nào thiếu nhau được.

    Tóm lại, chùm bốn bài ca dao nói trên đều chứa nội dung nói về tình cảm gia đình: đó là tình phụ tử, mẫu tử, con cháu đối với ông bà, tình anh em một nhà. Tất thảy đó là những tình cảm thiêng liêng sâu nặng, là tình yêu ăn sâu tận xương tủy, luôn tồn tại trong tim và nhận thức mà bất cứ con người nào cũng có, nó cần được nâng niu trân trọng và được bảo vệ.

    TU KHOA TIM KIEM:

    KHAI QUAT NHUNG BIEN BIEN PHAP NGHE THUAT

    CHUM CAU HAT VE TINH CAM GIA DINH

    CHUM CA DAO VE TINH CAM GIA DINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩn Dụ Là Gì? Có Những Kiểu Ẩn Dụ Nào, Lấy Ví Dụ Chi Tiết Về Từng Kiểu Ẩn Dụ
  • 4 Phương Pháp Xử Lý Chất Thải – Rác Thải Hiệu Quả Nhất Hiện Nay
  • Những Tác Hại Và Cách Xử Lý Rác Thải Nhựa Hiệu Quả Nhất
  • Chung Tay Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Văn Hóa Nhà Trường Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Soạn bài Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

    Câu 1 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Hai lời ca dao than thân có hình thức mở đầu “thân em như…”

    + Âm điệu ngậm ngùi, xót xa.

    + Người than thân ở đây được hiểu là cô gái đang độ xuân thì, ngậm ngùi xót xa khi vẻ đẹp của họ không được trân trọng.

    + Họ không có quyền tự quyết cuộc đời của mình.

    – Bài ca 1: người phụ nữ – tấm lụa đào.

    + Thân phận trôi nổi, không tự quyết định được tương lai (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai)

    – Bài ca 2: người phụ nữ – củ ấu gai (xấu ngoài, đẹp trong)

    + Lời bộc bạch tha thiết của cô gái ý thức được giá trị bản thân

    + Khát khao muốn khẳng định giá trị chân thực vẻ đẹp.

    + Nỗi ngậm ngùi, chua xót cho thân phận người phụ nữ xưa.

    Câu 2 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    a) – Sử dụng từ “ai” – đại từ phiếm chỉ để mở đầu bài ca dao, chỉ chung tất cả mọi người – để mở đầu bài ca để chỉ các thế lực ngăn cản tình cảm nam nữ xuất hiện nhiều lần

    + Gợi ra sự than trách nghe xót xa, ngậm ngùi

    b, Cặp ẩn dụ Sao Hôm- sao Mai và mặt Trăng- mặt Trời (để chỉ hai người xứng đôi vừa lứa)

    – Biện pháp so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”: tình duyên bị ngăn cách nhưng lòng người đơn phương vẫn chờ đợi, mong mỏi ngày gặp

    – Sử dụng hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ (tính bền vững) gắn với đời sống của con người, để dễ liên tưởng, cũng là để khẳng định tính thủy chung, son sắt của lòng người.

    – Hình ảnh thiên nhiên gần gũi đời sống, có vẻ đẹp riêng, ngụ ý, diễn tả tâm hồn

    c, Câu cuối sử dụng biện pháp so sánh nhằm thể hiện dù mình không nhớ ta thì ta

    + Sao Vượt tên gọi cổ của sao Hôm, đặc tính, mọc sớm vào buổi chiều, sao lên tới đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc

    + Câu thơ khẳng định tấm lòng chung thủy, nghĩa tình son sắt và ý chí vượt qua những rào cản của tình yêu.

    Câu 3 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng:

    – Ẩn dụ và hoán dụ

    + Chiếc khăn ẩn dụ cho việc gửi gắm nỗi lòng, tình cảm của cô gái tới chàng trai, chiếc khăn còn là hiện thân của cô gái

    + Đôi mắt: hoán dụ nỗi lòng thao thức vì thương nhớ.

    – Phép điệp (lặp từ ngữ)

    + “Khăn thương nhớ ai”: được lặp nhiều lần, nhằm nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ.

    + Nỗi nhớ có nhiều trạng thái, cung bậc khác nhau.

    c, Câu hỏi tu từ “khăn thương nhớ ai- khăn rơi xuống đất? / Đèn thương nhớ ai- Mà đèn chẳng tắt?/ Mắt thương nhớ ai- Mà mắt không yên?

    – Tình cảm, sự nhớ nhung, bồn chồn vì người yêu thể hiện trong mọi hoạt động, mọi khung cảnh.

    d, Những câu thơ ngắn gồm 4 tiếng: thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn.

    Kết hợp với câu lục bát nhằm làm nổi bật sự mong ngóng, trông chờ tới khắc khoải của người con gái.

    Câu 4 (trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Chiếc cầu: hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sự nối kết khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

    + Chiếc cầu- dải yếm là hình tượng độc đáo, kì lạ trong ca dao, thể hiện khát vọng tình cảm mặn nồng của nam nữ

    + Chiếc cầu phản ánh ước mơ chính đáng của các cặp đôi yêu nhau, đó cũng là ý tưởng táo bạo của cô gái.

    Những bài ca dao xuất hiện hình ảnh chiếc cầu cũng với ý nghĩa tương tự:

    Ước gì sông rộng một gang

    Để em ngắt ngọn mồng tới bắc cầu Câu 5 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    – Cặp hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong ca dao truyền thống gừng cay- muối mặn

    + Được xây dựng từ hình ảnh thực chỉ gia vị trong bữa ăn hằng ngày.

    + Hình ảnh nghệ thuật có tính sóng đôi, biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống- tình nghĩa thủy chung gắn bó son sắt

    + Bài ca dao nói về tình nghĩa thủy chung, hướng nhiều tới tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung

    – Ba năm, chín tháng: sự bền lâu, vĩnh cửu

    Ba vạn, sáu ngàn ngày là 100 năm: trọn kiếp, suốt đời, vĩnh hằng

    → Bài ca dao là câu hát thủy chung, nghĩa tình hướng tới tình cảm vợ chồng mặn nồng, son sắt

    Một số câu ca dao có biểu tượng muối gừng:

    Tay nâng chén muối đĩa gừng

    Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau Câu 6 (Trang 84 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao:

    + Nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp, nói quá

    – Đặc điểm khác biệt: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với người lao động để gọi tên, trò chuyện, so sánh: khăn, con sông, chiếc cầu, vườn hồng…

    – Trong khi đó thơ bác học trong văn học sử dụng trang trọng hơn, có nhiều nét phức tạp hơn

    Luyện tập

    Bài 1 (Trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

    Thân em như hạt mưa rào

    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

    Thân em như trái bần trôi

    Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

    Thân em như miếng cau khô

    Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày

    Thân em như giếng giữa đàng

    Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

    Các bài ca dao nói về thân em có sắc thái biểu cảm:

    + Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái

    + Sự ý thức cao về giá trị của bản thân của người con gái.

    Bài 2 (trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

    Nhớ ai như nhớ thuốc lào

    Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

    Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

    Đêm qua ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Buồn trông chênh chếch sao mai

    Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

    Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

    Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

    Nhớ khi khăn mở trầu trao

    Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

    Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

    Câu thơ: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng sáng tạo vượt bậc khi tình cảm nam nữ hòa quyện vào tình yêu đất nước.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Kiểm Tra Công Nghệ Lớp 10
  • Phân Tích Những Câu Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Hay Nhất.
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Chị Em Thúy Kiều Trong Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều) Của Nguyễn Du
  • Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản
  • Bài Văn Mẫu Những Nét Chính Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Bài Thơ Tràng Gi
  • Thuật Ngữ Về Nghệ Thuật Nhân Hóa
  • Tài liệu hướng dẫn phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa do Đọc tài liệu tổng hợp và biên soạn giúp em hiểu được cách làm cũng như nâng cao vốn từ ngữ qua việc tham khảo một số bài văn mẫu hay.

    Hướng dẫn phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    Đề bài: Phân tích nội dung Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.

    1. Phân tích đề

    – Yêu cầu: phân tích nội dung Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.

    – Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong bài Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa lớp 10.

    – Phương pháp lập luận chính: Phân tích.

    2. Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Ca dao than thân – tiếng hát than thân của người phụ nữ.

    Luận điểm 2: Ca dao yêu thương tình nghĩa – tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, tình yêu quê hương, đất nước

    3. Lập dàn ý chi tiết

    a) Mở bài

    – Giới thiệu về đặc trưng thể loại ca dao: Là thể loại trữ tình diễn tả tâm trạng, cảm xúc của con người, gắn với các hình thức sinh hoạt.

    – Giới thiệu về chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa: là bộ phận phong phú nhất trong kho tàng ca dao trữ tình Việt Nam. Nó phản ánh những cung bậc khác nhau trong đời sống tình cảm của người Việt xưa với những đặc trưng nghệ thuật đặc thù.

    b) Thân bài

    * Luận điểm 1: Ca dao than thân -tiếng hát than thân của người phụ nữ.

    +) Bài 1:

    – Chủ thể trữ tình: Là người phụ nữ, được xác định qua đại từ nhân xưng “em”

    – Các hình ảnh được sử dụng trong bài ca dao:

    + Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “tấm lụa đào”:

    • Nghĩa đen: Tấm lụa đào là một mảnh vải đẹp, mềm mại, có giá trị
    • Nghĩa bóng: Gợi liên tưởng đến vẻ đẹp của người phụ nữ, mềm mại nuột nà.

    + Hình ảnh ẩn dụ “chợ”:

    • Nghĩa đen: Chợ là một nơi để trao đổi, giao lưu buôn bán, rất phức tạp
    • Nghĩa bóng: Chợ là sự hiển hiện của một xã hội phức tạp.

    – Từ ngữ:

    + Từ láy “phất phơ”: gợi ra sự bấp bênh, vô định trong cuộc đời người phụ nữ

    + Câu hỏi tu từ: “biết vào tay ai”: Thể hiện những dự cảm đầy lo âu về cuộc đời của người phụ nữ

    + Qua bài ca dao than thân của người phụ nữ, tác giả dân gian muốn thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ đồng thời nói lên niềm cảm thông, chia sẻ với số phận bấp bênh của người phụ nữ.

    + Tố cáo xã hội phong kiến chà đạp quyền sống tự do, được làm chủ của người phụ nữ.

    +) Bài 2:

    – Mô-típ mở đầu “thân em”

    – Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “củ ấu gai”:

    + Nghĩa đen củ ấu gai được miêu tả chân thực: ruột trong trắng, vỏ ngoài đen

    + Nghĩa bóng: Hình ảnh gợi liên tưởng đến người phụ nữ có bề ngoài nhem nhuốc, lam lũ nhưng bên trong thì trong trắng.

    – 2 câu cuối là lời mời mọc đầy thiết tha, táo bạo:

    + Nghĩa đen: Lời mời nếm thử củ ấu gai có bề ngoài đen đúa nhưng bên trong ngọt bùi

    + Nghĩa bóng: Thể hiện khát vọng tự do, khát khao yêu đương, giao cảm của người phụ nữ.

    + Ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ, cổ vũ cho khát vọng yêu đương, giao cảm của họ.

    + Lên án, tố cáo thế lực phong kiến chà đạp quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền làm chủ của người phụ nữ.

    Tham khảo: Phân tích các bài ca dao than thân Thân em

    * Luận điểm 2: Ca dao yêu thương tình nghĩa

    +) Bài 3:Tâm trạng của chàng trai trước chuyện tình duyên lỡ làng

    – Mô típ mở đầu “trèo lên” phổ biến trong ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa, trèo lên cây gạo cao cao và trong bài ca dao này là trèo lên cây khế nửa ngày

    + Trèo lên cây khế: Hành động bình thường

    + Trèo lên cây khế nửa ngày: hành động bất bình thường.

    – Câu hỏi tu từ ” Ai làm chua xót lòng này, khế ơi “: Là lời bộc bạch trực tiếp của chàng trai

    + Ai là đại từ phiếm chỉ để chỉ người hoặc một thiết chế phong kiến nào đó như môn đăng hộ đối, sự phân biệt sang hèn,… đã chia cắt tình duyên của chàng trai.

    + Cách gọi “khế ơi” thân mật, gần gũi như những người bạn tri kỉ.

    – Các cặp hình ảnh đối lập: Sao hôm – sao mai, mặt trăng – mặt trời

    – Lời giãi bày trực tiếp của chàng trai: ” Mình ơi! Có nhớ ta chăng/ Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

    + Mô típ câu hỏi quen thuộc thường gặp trong ca dao: Mình ơi, mình về, mình đi

    + Cách xưng hô “ta – mình”: gần gũi, ngọt ngào, thân thương.

    + Hình ảnh ẩn dụ so sánh “sao Vượt chờ trăng”: thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt không bao giờ thay đổi của chàng trai.

    +) Bài 4: Nỗi niềm thương nhớ người yêu của người phụ nữ.

    * 10 câu thơ đầu: Những cung bậc cảm xúc thể hiện gián tiếp

    – Phép điệp cấu trúc các câu nghi vấn: khăn thương nhớ ai, đèn thương nhớ ai, mắt thương nhớ ai

    – Nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ thương của nhân vật trữ tình. Sự lặp lại cấu trúc cho thấy điệp khúc nỗi nhớ triền miên không dứt. Đó là lời bộc bạch cũng là lời tự vấn của cô gái.

    – Hình tượng “khăn”

    + Khăn vốn là vật gắn bó mật thiết với người con gái, khăn được sử dụng làm kỉ vật đính ước.

    + Là hình ảnh ẩn dụ để chỉ nhân vật trữ tình và nỗi nhớ thương của nhân vật.

    + Các cặp động từ, tính từ đối lập: rơi – vắt, lên – xuống miêu tả trạng thái của chiếc khăn, qua đó hé lộ tâm trạng ngổn ngang, rối bời, lúng túng của nhân vật trữ tình vì thương nhớ.

    + Hành động “chùi nước mắt” cho thấy sự đau khổ của cô gái.

    – Hình tượng “đèn”, “mắt”

    + “Đèn” là hình ảnh ẩn dụ nhân hóa. Hình ảnh “đèn không tắt” gợi liên tưởng đến thời gian đêm khuya, tĩnh lặng và dài vô tận.

    + “Mắt” là hình ảnh hoán dụ. Hình ảnh “mắt ngủ không yên” khắc họa hình ảnh con người thao thức trong đêm.

    * Hai câu thơ sau: Những cung bậc cảm xúc thể hiện trực tiếp

    – Phép điệp liên hoàn: Đêm qua em những lo phiền…lo vì một nỗi…

    – Đại từ nhân xưng “em” cho thấy nhân vật trữ tình trực tiếp xuất hiện bày tỏ nỗi lo lắng, sầu muộn về tình yêu

    – “Không yên một bề” thể hiện nỗi bất an, thổn thức trong lòng cô gái.

    – Dấu chấm lửng ở cuối bài ca dao tạo nên một kết thúc mở, đem lại sức gợi to lớn cho cả bài.

    +) Bài 5:Tình yêu tha thiết, mãnh liệt của người con gái với người yêu

    – Hình ảnh “sông”: Không gian cách trở ngăn cách tình yêu đôi lứa

    – Mong ước của cô gái “sông rộng một gang”: Cách nói cường điệu, phóng đại đầy lí thú

    – “Cầu dải yếm” là một hình tượng đặc sắc và cũng là mô-típ quen thuộc trong ca dao.

    + Cầu là không gian trữ tình, nơi gặp gỡ hẹn hò của biết bao đôi lứa ở làng quê Việt Nam. Hình ảnh cây cầu đi vào ca dao thường mang tính ước lệ “cành hồng, ngọn mồng tơi,…” và trong bài ca dao này là yếm đào.

    + Chiếc cầu này là do chính người con gái bắc cho người mình yêu.

    – Chiếc cầu làm bằng dải yếm: vật mềm mại, gắn liền với thân thể người phụ nữ, là biểu tượng của nữ giới.

    +) Bài 6:Tình nghĩa vợ chồng thủy chung, gắn bó

    – Hai câu đầu:

    + Muối, gừng vốn là những gia vị quen thuộc của bữa ăn, cũng là vị thuốc của người lao động nghèo. Hình ảnh gợi sự liên tưởng đến những khó khăn, chuân chuyên của cuộc đời.

    + Từ ngữ chỉ thời gian: 3 năm 9 tháng. Đây là khoảng thời gian ước lệ chỉ khoảng thời gian dài.

    + Những từ ngữ chỉ hiện tại “muối đang còn mặn”, “gừng hãy còn cay” khẳng định những phẩm chất không thay đổi đổi.

    + Khẳng định tình yêu thủy chung, bền chặt, gắn bó không bao giờ thay đổi của vợ chồng.

    + Ca ngợi tình nghĩa vợ chồng, đồng cam cộng khổ vượt qua mọi khó khăn, gian nan của cuộc đời.

    – Hai câu sau:

    + Đại từ xưng hô “đôi ta”: Chỉ đôi lứa yêu nhau hoặc cặp vợ chồng gắn bó

    + Thành ngữ “nghĩa nặng tình dày”: Khẳng định tình nghĩa sâu nặng, gắn bó của vợ chồng, cùng nhau trải qua những cay đắng của cuộc đời.

    + Hình ảnh hoán dụ: con số “Ba vạn sáu nghìn ngày” tức 100 năm – một đời người: Con số đó đã khẳng định, nếu như vợ chồng có phải xa cách nhau thì đó cũng là lúc đã đi đến tận cùng của cuộc đời. Tức là không gì có thể chia rẽ được vợ chồng cho đến khi chết.

    * Khái quát đặc sắc nghệ thuật

    – Thể thơ: lục bát hoặc lục bát biến thể, song thất lục bát…

    – Ngôn ngữ gần gũi với đời sống hằng ngày, đậm màu sắc địa phương và dân tộc

    – Hình ảnh so sánh, ẩn dụ sinh động, chính xác, có giá trị biểu cảm.

    – Lối diễn đạt bằng một số công thức đậm sắc thái dân gian.

    – Sử dụng các công thức truyền thống “Thân em như”, “Trèo lên”, “Ước gì”, các điệp từ, điệp ngữ.

    – Biện pháp nhân cách hoá, sử dụng các hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng nghệ thuật được chọn lọc

    c) Kết bài

    – Khái quát đặc điểm chung của ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    + Ca dao than thân thường là lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến khóc thương cho thân phận bị phụ thuộc, bị ép duyên, lấy phải chồng không ra gì, bị phụ bạc… Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến.

    + Ca dao yêu thương tình nghĩa thường đề cập đến tình cảm, phẩm chất của người lao động. Đó là tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, tình yêu quê hương, đất nước.

    – Thể hiện thái độ của bản thân:

    + Thêm hiểu về con người Việt Nam xưa, yêu và trân trọng những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc qua các bài ca dao ấy.

    4. Sơ đồ tư duy phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    Phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa bài 1:

    Ca dao là thể loại văn học dân gian diễn tả chi tiết đầy đủ nhất đời sống tư tưởng, tình cảm của nhân dân ta. Ca dao đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống, nhưng nổi bật hơn cả là ca dao than thân yêu thương tình nghĩa. Đó là những câu hát thể hiện đời sống tình cảm, tiếng hát cất lên từ cuộc đời còn nhiều đắng cay, khổ cực,…

    Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

    Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.

    Đây là tiếng than thân của những người phụ nữ, cho thấy số phận chịu nhiều bất hạnh, bất công. Câu thơ mang đến cảm xúc ngậm ngùi, thương cảm cho số phận bất hạnh của những người con gái. Cùng là tiếng than nhưng ở mỗi bài thơ có những nét riêng, không hòa lẫn. Bài thơ thứ nhất, người con gái tự ví mình với tấm lụa đào – miếng vải cao quý, hiếm và rất đẹp. Cô gái ý thức sâu sắc về vẻ đẹp, giá trị của bản thân. Ấy thế nhưng số phận của cô lại hết sức lênh đênh, bị phụ thuộc phất phơ giữa chợ – thân phận lệ thuộc, bị động, không được tự quyết định cuộc đời mình. Ở bài ca dao thứ hai, câu thơ thứ nhất dường như khiến người đọc chưa thể định hướng gì về vẻ đẹp hay phẩm chất của đối tượng. Câu thơ nói lên đặc điểm của củ ấu gai: bên ngoài xấu xí nhưng bên trong trắng trong, đẹp đẽ, đó cũng chính là vẻ đẹp phẩm chất của người con gái. Dù hình thức bên ngoài không hấp dẫn nhưng sức hấp dẫn nằm ở bên trong, ẩn sâu. Để tìm được vẻ đẹp ấy cần có con mắt tinh tế, tấm lòng thấu hiểu. Câu thơ cuối như một lời mời gọi, lời nói tha thiết, thể hiện mong mỏi của cô gái:

    Ai ơi, nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

    Đằng sau lời đề nghị còn ẩn chứa cả một bi kịch: chính vì vẻ đẹp khuất lấp nên giá trị thực không có nhiều người nhận ra, trở thành vô giá trị trong mắt người khác. Qua đó tác giả dân gian đã khắc họa nỗi đau của người phụ nữ: xã hội không cho người phụ nữ thể hiện giá trị thực của mình. Từ bi kịch của hai cô gái trong bài ca dao, họ đã cất lên tiếng nói tố cáo xã hội: không cho họ quyết định cuộc đời, không cho họ thể hiện giá trị của mình, xã hội đã kiềm tỏa, khống chế người phụ nữ khiến họ không được hưởng hạnh phúc. Đồng thời còn cất lên lời ca ngợi và thể hiện thái độ trân trọng với vẻ đẹp của người phụ nữ.

    Những bài ca dao còn lại thuộc chùm ca dao yêu thương tình nghĩa. Nhưng mỗi bài ca dao lại có cách thể hiện rất riêng, rất đặc sắc, biểu hiện những cung bậc tình cảm khác nhau của nhân vật trữ tình. Bài ca dao thứ ba thể hiện tình nghĩa bền vững sắt son dù duyên kiếp không thành. Bài ca dao cũng bắt đầu bằng một motip quen thuộc Trèo lên đây là motip dùng để diễn tả những hành động trái với tự nhiên. Ở đây để diễn tả những cảm xúc xáo trộn, bất an trong tâm hồn của các chàng trai khi lỡ duyên, thất tình. Bài thơ sử dụng hàng loạt câu hỏi tu từ kết hợp với đại từ phiếm chỉ ai, đã xoáy sâu tố cáo các thế lực, đối tượng gây nên nỗi đau khổ của chàng trai, cũng tức là gây nên sự chia cắt tình yêu của đôi lứa, và đó không gì khác chính là những hủ tục, bất công, ngang trái của xã hội phong kiến. Hình ảnh ẩn dụ: mặt trăng – mặt trời; sao hôm – sao mai như một lời khẳng định, nhấn mạnh dù chúng ta không thể nào trùng phùng, không thể đến được với nhau như mặt trăng và mặt trời, như sao hôm và sao mai thế nhưng chúng ta vẫn tương xứng trong vẻ đẹp vĩnh hằng. Và câu thơ cuối, nhân vật trữ tình đã khẳng định lòng thủy chung son sắt của mình: Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. Bài thơ là lời khẳng định tình cảm thủy chung, son sắt, gắn bó đồng thời lên án, tố cáo những hủ tục đã chia rẽ tình yêu đôi lứa.

    Bài ca dao thứ tư lại diễn tả một cung bậc cảm xúc khác nữa của tình yêu chính là nỗi nhớ. Bài có cấu trúc khác so với những bài thơ trên, đó là sự kết hợp giữa thể vãn bốn và thể lục bát, giúp thể hiện rõ hơn tư tưởng, cảm xúc, tình cảm của nhân vật. Tác giả đã kết hợp linh hoạt các biện pháp nghệ thuật: nhân hóa, hoán dụ, câu hỏi tu từ và các biểu tượng khăn, đèn, mắt cho thấy nỗi nhờ thường trực, da diết khắc khoải của cô gái với người mình yêu thương. Nỗi nhớ của nhân vật trữ tình được thể hiện kín đáo qua các vật dụng quen thuộc: khăn, đèn nhưng trạng thái của sự vật không tĩnh tại mà liên tục biến đổi: rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt,… cho thấy nỗi nhớ bồn chồn, khắc khoải của những kẻ đang yêu. Nỗi nhớ mong ấy còn được biểu hiện qua hàng loạt các câu hỏi: Đèn thương nhớ ai; Mắt thương nhớ ai. Dường như nỗi nhớ lúc này đã không thể kìm nén mà bật thành tiếng lòng thổn thức, khắc khoải nhớ thương: đèn không tắt vì nhớ thương, mắt ngủ không yên vì đèn, khăn cũng đang thao thức, đây chính là hình ảnh, biểu hiện cụ thể nhất của tình yêu đôi lứa. Hai câu thơ kết là những âu lo, dự cảm của cô gái:

    Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề.

    Cô lo lắng, bất an, dự cảm về những bất trắc vì người con gái không được tự quyết định tương lai, hạnh phúc của mình. Những vẫn thơ đã chứng tỏ tình yêu chân thành, tha thiết, khắc khoải của cô gái với người mình yêu.

    Bài ca dao thứ năm thể hiện những mong muốn mãnh liệt trong tình yêu:

    “Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”.

    Câu thơ sử dụng hình ảnh biểu tượng quen thuộc: dòng sông – cây cầu. Dòng sông biểu tượng cho sự cách trở. Cây cầu là biểu tượng cho sự vượt lên cách trở để đến được với nhau trong tình yêu. Điều ước của cô gái thật chân thực mà vô cùng đáng yêu: Sông rộng một gang, dòng sông chỉ xuất hiện trong tưởng tượng, trong mong ước của cô gái. Ước muốn rằng khoảng cách của hai ta, những cách trở của đôi mình được rút ngắn một cách tối đa. Cầu dải yếm – để tương xứng với dòng sông rộng một gang. Cây cầu này là biểu tượng vượt lên những cách trở. Đây cũng là sản phẩm của trí tưởng tượng của cô gái, nói lên ước muốn của cô gái – muốn rút ngắn khoảng cách: khoảng cách về mặt địa lí, khoảng cách của trái tim, vượt qua những ngáng trở để đón nhận tình yêu.

    Bài ca dao cuối cùng không thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, nỗi nhớ nhung trong tình yêu nữa mà thể hiện tình nghĩa gắn bó thủy chung của vợ chồng. Câu thơ sử dụng hình ảnh biểu tượng quen thuộc: muối – gừng, để nói về nghĩa tình sâu nặng, bền chặt, sự thủy chung, gắn bó của vợ chồng. Ngoài ra tác giả còn sử dụng biện pháp lặp cấu trúc: Muối ba năm muối đang còn mặn, gừng chín tháng gừng hãy còn cay, cho thấy sự bền chặt của nghĩa tình vợ chồng. Bài ca dao là lời khẳng định, ngợi ca nghĩa tình vợ chồng gắn bó thủy chung, sâu nặng.

    Các bài ca dao sử dụng các motip quen thuộc: thân em, trèo lên, ước gì kết hợp linh hoạt các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,… giúp diễn tả tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình. Ngôn ngữ chọn lọc, giàu giá trị biểu cảm. Hình ảnh giàu giá trị biểu tượng. Nhịp thơ chủ yếu là 2/2/2 êm ái, dịu dàng diễn tả được đa dạng các cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật.

    Những bài ca dao trên đã bộc lộ một cách chân tình và sâu sắc nỗi niềm chua xót, đắng cay trong cuộc sống và tình yêu; tình cảm yêu thương, chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ. Qua đó giúp người đọc biết thấu hiểu và cảm thông hơn với những đau khổ mà người lao động bình dân trong xã hội xưa phải gánh chịu, đặc biệt là người phụ nữ và hơn nữa biết trân trọng những vẻ đẹp tâm hồn của họ.

    Hướng dẫn phân tích các bài ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa:

    ​​​​​​​Phân tích Những câu ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa bài 2:

    Bài ca dao đầu tiên là niềm băn khoăn của một người con gái mới lớn khi bước vào tuổi lấy chồng:

    “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

    Hình ảnh tấm lụa đào chính là hiện thân cho vẻ đẹp nhan sắc, tuổi xuân phơi phới của người con gái đến tuổi dậy thì, người con gái đã ý thức rất rõ về giá trị của mình. Tuy nhiên tấm lụa đào ấy lại không phải được cất trong rương báu hay vắt trong nhà mà đang được đem bán giữa chợ. Trong thời buổi hôn nhân không được tự do, phụ thuộc cha mẹ gả bán và mai mối đưa đường nên người con gái cảm giác mình đang ở giữa chợ, băn khoăn và sợ rằng không biết chủ của mình sẽ là người như thế nào chứ không phải sợ ế, sợ rẻ.

    “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Không tin bóc vỏ mà xem Ăn rồi mới biết rằng em ngọt bùi”

    Trong bài ca dao này, người con gái lại có tâm trạng lo lắng cho thân phận mình. Dù cô biết rằng phẩm chất của mình thơm ngọt, thảo bùi nhưng vì vẻ ngoài của cô không được hấp dẫn cho lắm nên cô đành phải tự giới thiệu, chào mời và hứa hẹn về phẩm chất của mình. Người con gái muốn được công nhận giá trị của mình nhưng vẫn đầy tự ti, lời mời mọc ấy còn đầy ngượng ngùng.

    “Trèo lên cây khế nửa ngày… Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

    Bài thơ trên nói về người con gái đã có người yêu, hai người đã tương xứng hợp nhau như mặt trăng mặt trời, sao Mai với sao Hôm. Nhưng người con trai dường như có sự thay lòng đổi dạ, trong khi đó người con gái kiên định một lòng chờ mong. Tiếp theo đó là bài ” Khăn thương nhớ ai “, đã nói lên nỗi lòng tương tư thương nhớ bạn tình qua hình ảnh chiếc khăn, ngọn đèn và đôi mắt. Chữ thương chữ nhớ trong ca dao nói chung và trong bài ca dao này nó riêng luôn có những nét mới, dù có lặp đi lặp lại những vẫn không thấy giống nhau. Bài ca dao này cũng có nội dung và nghệ thuật không giống với bất kì bài ca dao nào khác, “thương” và “nhớ” kết hợp với nhau, điệp đi điệp lại mà nghe hoài không chán. Khi người ta đang yêu, mọi vật xung quanh dường như cũng trở nên thân thương và thổn thức cả.

    “Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”

    Chiếc cầu này chỉ có trong tưởng tượng mà thôi, trong những ước vọng thầm kín giữa hai người yêu nhau, đó là chiếc cầu tình yêu, tình yêu luôn mới mẻ và đầy sáng tạo, nó tạo ra một cây cầu kì diệu. Rồi hình ảnh gừng cay – muối mặn biểu tượng cho tình nghĩa sắt son trước những đắng cay của cuộc đời, “ba vạn sáu nghìn ngày” cũng ý nói sống với nhau cho tới đầu bạc răng long, yêu nhau từng ngày.

    Mảng ca dao thân thân yêu thương tình nghĩa đã nuôi dưỡng cho ta những tình cảm sâu sắc đẹp đẽ, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời kho tàng nghệ thuật ngôn từ độc đáo đã kích thích lòng yêu mến và sự sáng tạo của chúng ta.

    -/-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Trang 82 Sgk Ngữ Văn 10
  • Bài 15. Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Chuyên Đề Tìm Hiểu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Tự Sự Hiện Đại Việt Nam
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • Đồng Chí (Đầy Đủ) Dong Chi Ppt
  • Đề bài: Câu ca dao nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến:

    Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

    Hình ảnh so sánh ở đây có gì đặc biệt? Qua đây, em thấy cuộc đời người phụ nữ ngày xưa như thế nào?

    Bài giảng: Những câu hát than thân – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

    Bài văn mẫu

    Câu ca dao trên nằm trong mảng đề tài than thân trách phận mà nhiều câu có cấu trúc khá giống nhau ở cách mở đầu bằng hai chữ đầy xót xa, ngậm ngùi: Thân em…

    Trong xã hội phong kiến xưa kia, quan niệm trọng nam kinh nữ đã biến cuộc đời người phụ nữ thành chuỗi bi kịch kéo dài. Biết than cùng ai, biết ngỏ cùng ai? Trời thì cao mà đất thì dày. Thôi thì đành giãi bày qua tiếng hát, lời ru chan chứa nước mắt:

    Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

    Xuất xứ câu ca dao này là ở miền Nam, xứ sở của sông ngòi, kênh rạch. Cây bần thường mọc ở ven bờ. Trái bần non có vị chua chua, chát chát, xát mỏng chấm mắm ăn thay rau. Trái già rụng xuống nước, bập bềnh trôi nổi theo sóng. Ngay cái tên gọi cũng chỉ rõ nó là loại cây tầm thường (bần: nghèo), chẳng có mấy giá trị.

    Người phụ nữ chân lấm tay bùn nhìn trái bần trôi mà cám cảnh, thấy mình nào có khác chi?! Trái bần trôi hoàn toàn phụ thuộc vào gió, vào sóng. Gió nhẹ, sóng êm thì từ từm thanh thản, chẳng may gió dập, sóng dồi thì cũng đành cam chịu cảnh ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, biết tấp vào đâu? Vào bờ bến nào để đổi thay số phận?

    Không được làm chủ bản thân, người phụ nữ buộc phải lâm vào cảnh: Cũng đành nhắm mắt đưa chân, Mà xem con tạo đưa vần đến đâu. Luật tam tòng khắc nghiệt trói buộc họ, biến họ thành những con người cam chịu định mệnh bất công: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử và thực tế thì người phụ nữ đã bị xã hội khinh rẻ, coi thường. Đây là một trong những nguyên nhân gây ra mặc cảm tự ti từ bao đời nay ở người phụ nữ.

    Có điều gì đó thật xót xa, buồn thảm trong hình ảnh so sánh: Thân em như trái bần trôi . Trái bần trôi dập dềnh theo dòng sông vô định, còn người phụ nữ nghèo thì cũng nổi trôi trong vòng đời vô định. Hiện thực nghiệt ngã, tương lai mở mịt, không một chút vui, không một niềm hi vọng. Câu ca dao với hình tượng gợi cảm và âm điệu ngậm ngùi đã gợi lên số phận hẩm hiu đáng thương của người phụ nữ nghèo khổ trong xã hội phong kiến cũ.

    Ta hãy thử hình dung trong tâm tưởng một trưa hè ở đồng bằng Nam Bộ, gió thổi lao xao trong rừng đước, rừng tràm; chợt nghe tiếng ru con vọng ra từ ngôi nhà nhỏ ven sông lẫn với tiếng võng đưa kẽo kẹt: Ầu ơ… Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu? Câu hỏi vừa là nỗi băn khoăn muôn thuở không lời giải đáp, vừa là lời than thân trách phận buồn đến não nề. Nhìn những trái bần nổi chìm theo sóng, ta sẽ thấm thía và rúng động đến tận sâu thẳm tâm hồn trước lời ru rưng rưng nước mắt của những người phụ nữ lao động nghèo khó trong một quá khứ chưa xa.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    nhung-cau-hat-than-than.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6
  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100