Tiếng Việt Lớp 3 Luyện Từ Và Câu: Nhân Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Khi Cần, Việt Nam Sẵn Sàng Các Biện Pháp Pháp Lý
  • Tư Vấn Pháp Lý Là Gì? Thuê Dịch Vụ Tư Vấn Pháp Lý Ở Đâu Uy Tín?
  • Trách Nhiệm Pháp Lý Là Gì?
  • Thế Nào Là Bút Pháp Ước Lệ Tượng Trưng Hãy Lấy Dẫn Chứng Minh Họa Làm Sáng Tỏ Nghệ Thuật Này Qua Đoạn Trích Chị Em Thúy Kiều Của Nguyê
  • Thủ Pháp Ước Lệ Trong Nghệ Thuật Là Gì?
  • Câu 1 (trang 126 sgk Tiếng Việt 3): Đọc và trả lời câu hỏi

    Trả lời:

    a) Đồng làng vương chút heo may

    Mầm cây tỉnh giấc vườn đầy tiếng chim

    Hạt mưa mải miết trốn tìm

    Cây đào trước cửa lim dim mắt cười

    – Trả lời câu hỏi: Bốn câu thơ trên có các hình ảnh nhân hoá sau :

    Mầm cây tỉnh giấc

    Hạt mưa trốn tìm

    Cây đào lim dim mắt cười

    Các sự vật trên được nhân hoá bằng cách dùng những từ ngữ chỉ các bộ phận của người (mắt) hoặc chỉ các hoạt động của người để miêu tả chúng (tỉnh giấc, trốn tìm, cười).

    b) Cơn dông như được báo trước rào rào kéo đến. Ngàn vạn lá gạo múa lên, reo lên. Chúng chào anh em của chúng lên đường : từng loạt, từng loạt một, những bông gạo tung bay vào gió, trắng xoá như tuyết mịn, tới tấp toả đi khắp hướng. Cây gạo rất thảo, rất hiền, cứ đứng đó mà hát lên trong gió, góp với bốn phương kết quả dòng nhựa của mình.

    Đoạn văn trên có các hình ảnh nhân hoá sau :

    – Cơn dông kéo đến

    – Lá gạo múa reo

    – Chúng chào anh em chúng lên đường

    – Cây gạo rất thảo, rất hiền, cứ đứng đó mà hát lên.

    Tác giả đã nhân hoá cơn dông, lá gạo, hoa gạo, cây gạo bằng cách nói được sự tinh nghịch và nhanh nhẹn của các hạt mưa. Chúng giống như các em nhỏ đang vui vẻ chơi trò ú tim với nhau vậy.

    Câu 2 (trang 127 sgk Tiếng Việt 3): Hãy viết một đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng phép nhân hóa để tả bầu trời buổi sớm hoặc tả một vườn cây

    Trả lời:

    Ban công nhà ông tuy nhỏ nhưng ông em trồng nhiều loại hoa. Hoa ti gôn dịu dàng rủ từng chùm rất đáng yêu. Hoa hồng đỏ thắm kiêu sa như nàng công chúa vừa độ đôi mươi. Cây đa ấn độ có rễ tròn và cứng. Nó như che nắng cho các loại hoa bé nhỏ.

    Tham khảo các bài soạn Tiếng Việt 3 Tuần 33 khác:

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    bau-troi-va-mat-dat-tuan-33.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ký Quỹ Là Gì? Ký Cược Là Gì?
  • Ký Quỹ Là Gì? Đặc Điểm Và Những Lợi Ích Của Giao Dịch Ký Quỹ
  • Biện Pháp Đảm Bảo Nghĩa Vụ Hợp Đồng: Ký Quỹ
  • Tư Vấn Thế Nào Là Ký Quỹ Đúng Với Quy Định Của Pháp Luật Hiện Nay
  • Biện Pháp Bảo Đảm Ký Quỹ
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 3: Nhân Hóa. Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Khi Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Nước
  • Các Biện Pháp Kiểm Soát Ô Nhiễm Và Bảo Vệ Môi Trường Không Khí
  • Ô Nhiễm Môi Trường Đất Là Gì, Khái Niệm, Nguyên Nhân Và Hướng Giải Quyết
  • Giải Thích Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Biện Pháp Của Ô Nhiễm Môi Trường Ở Đới Ôn Hòa Câu Hỏi 143820
  • Thực Tế Về Tình Hình Ô Nhiễm Môi Trường Ở Đới Ôn Hòa.
  • Giải bài tập SGK Tiếng Việt 3 tập 2

    Luyện từ và câu lớp 3: Nhân hóa. Các đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? phần Luyện từ và câu SGK Tiếng Việt 3 trang 9 tập 2 được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 giúp các em học sinh ôn tập, củng cố các dạng bài xác định phép nhân hóa, đặt và trả lời câu hỏi Khi nào? Mời các em học sinh cùng tham khảo.

    Luyện từ và câu: Nhân hóa. Cách đặt và trả lời câu hỏi Khi nào?

    Hướng dẫn giải phần Luyện từ và câu SGK Tiếng Việt 3 trang 5 tập 2

    Câu 1 (trang 9 sgk Tiếng Việt 3):

    Đọc 2 khổ thơ sau và trả lời câu hỏi:

    Mặt trời gác núi

    Bóng tối lan dần

    Anh Đóm chuyên cần

    Lên đèn đi gác

    Theo làn gió mát

    Đóm đi rất êm

    Đi suốt một đêm

    Lo cho người ngủ

    a) Con Đom Đóm được gọi bằng gì?

    b) Tính nết và hoạt động của anh Đom Đóm được miêu tả bằng các từ ngữ nào?

    Trả lời:

    a) Con Đom Đóm được gọi bằng anh.

    b) Đó là các từ ngữ: chuyên cần, lên đèn, đi gác, đi rất êm, đi suốt đêm, lo cho người ngủ.

    Câu 2 (trang 9 sgk Tiếng Việt 3): Trong bài thơ Anh Đom Đóm, còn các con vật nào được gọi và tả như người (nhân hoá)?

    Trả lời:

    Trong bài thơ Anh Đom Đóm, còn các con vật được gọi và tả như người đó là Cò Bợ, Vạc. Các con vật này được gọi bằng chị, thím. Việc làm của:

    * Cò Bợ đều được tả như người qua hình ảnh ru con: Ru hỡi! Ru hời! Hỡi bé tôi ơi! Ngủ ngon ngon giấc.

    * Vạc được tả như người qua hình ảnh lặng lẽ mò tôm.

    Câu 3 (trang 9 sgk Tiếng Việt 3): Tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi “khi nào?’ và gạch dưới các bộ phận đó?

    a) Anh Đom Đóm lên đèn đi gác khi trời đã tối.

    b) Tối mai anh Đom Đóm lại đi gác.

    c) Chúng em học bài Anh Đom Đóm trong học kì I.

    Trả lời:

    a) Anh Đom Đóm lên đèn đi gác khi trời đã tối.

    b) Tối mai anh Đom Đóm lại đi gác.

    c) Chúng em học bài Anh Đom Đóm trong học kì I.

    Câu 4 (trang 9 sgk Tiếng Việt 3): Trả lời câu hỏi:

    a) Lớp em bắt đầu học kì II khi nào?

    b) Khi nào học kì II kết thúc?

    c) Tháng mấy các em nghĩ hè?

    Trả lời:

    a) Lớp em bắt đầu học kì II vào giữa tháng giêng.

    b) Vào khoảng cuối tháng 5, học kì hai kết thúc.

    c) Đầu tháng 6, chúng em được nghỉ hè.

    Video bài học Đặt và trả lời câu hỏi Khi nào

    Lưu ý: Video bài học được đăng lại từ kênh Tài liệu dành cho Tiểu học

    Ngoài các bài giải bài tập Tiếng Việt 3, các em học sinh có thể tham khảo đề thi học kì 1 lớp 3, đề thi học kì 2 lớp 3 đầy đủ các môn, chuẩn bị cho các bài thi đạt kết quả cao. Mời các em cùng tham khảo, luyện tập cập nhật thường xuyên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Từ Và Câu 3. Nhân Hóa. Ôn Tập Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Để Làm Gì? Dấu Chấm, Chấm Hỏi, Chấm Than Luyen Tu Va Cau3 Ppt
  • Hiệu Quả Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Thuộc Chương Trình Giáo Dục Mầm Non
  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Đoạn Cá Nhụ, Cá Chim Cùng Cá Đé…
  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Nhân Hóa Trong Văn Bản Ánh Trăng
  • Skkn Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Trong Làm Văn Miêu Tả Lớp 4
  • Ôn Tập So Sánh Và Nhân Hóa Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Đoạn Văn Ngắn Có Sử Dụng Phép So Sánh Và Nhân Hóa
  • Câu 1 : Đặt 3 Câu Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa: A. Đối Với Đồ Vật. B. Đối Với Con Vật C. Đối Với Cây Cối. Câu 2 : Viết Một Đoạn Văn Ngắn Khoảng 100
  • Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa Để Tả Vườn Cây
  • Cách Viết Tốt Bài Văn Tả Cây Bàng
  • Giúp Học Sinh Nhận Biết, Sử Dụng Hiệu Quả Phép Tu Từ Nhân Hóa
  • Nhiệt liệt chào mừng thầy, cô giáo về thăm lớp dự giờ

    Thí sinh : Nguyễn Thị Thu Hằng

    Thứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2022

    Ti?ng Vi?t

    Ôn tập biện pháp tu từ nhân hóa

    Bài 1: Đọc các đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    Chị tre chải tóc bên ao

    Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương

    Bác nồi đồng hát bùng boong

    Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà

    Trần Đăng Khoa

    a,

    b,

    Cái trống trường em

    Mùa hè cũng nghỉ

    Suốt ba tháng liền

    Trống nằm ngẫm nghĩ

    Buồn không hả trống

    Trong những ngày hè

    Bọn mình đi vắng

    Chỉ còn tiếng ve?…

    Thanh Hào

    – Đoạn thơ trên sự vật nào được nhân hóa ?

    – Những từ ngữ nào giúp em nhận ra điều đó ?

    Bài 1:

    – Tác giả nhân hóa các sự vật ấy bằng những cách nào ?

    Thứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2022

    Ti?ng Vi?t

    Ôn tập biện pháp tu từ nhân hóa

    Các cách dùng để nhân hóa:

    + Gọi sự vật bằng từ ngữ dùng để gọi con người

    + Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để tả con người

    + Nói với sự vật thân mật như nói với con người

    Bài 2: Từ những hình ảnh được nhân hóa trong bài tập 1, em thích nhất hình ảnh nào? Vì sao?

    Chị tre chải tóc bên ao

    Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương

    Bác nồi đồng hát bùng boong

    Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà.

    Trần Đăng Khoa

    a,

    b,

    Cái trống trường em

    Mùa hè cũng nghỉ

    Suốt ba tháng liền

    Trống nằm ngẫm nghĩ

    Bài 4: Em hãy viết đoạn văn miêu tả bầu trời trong ngày nắng đẹp hoặc tả bồn hoa mà em thích (từ 4 đến 6 câu) trong đó có sử dụng biện pháp nhân hóa. Sau khi viết xong, em hãy gạch chân những từ ngữ thể hiện biện pháp nhân hóa.

    Thứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2022

    Ti?ng Vi?t

    Ôn tập biện pháp tu từ nhân hóa

    Có mấy cách dùng để

    nhân hóa? Đó là những cách nào?

    + Gọi sự vật bằng từ ngữ dùng để gọi con người

    + Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để tả con người

    + Nói với sự vật thân mật như nói với con người

    Thứ sáu ngày 15 tháng 5 năm 2022

    Ti?ng Vi?t

    Ôn tập biện pháp tu từ nhân hóa

    Các cách dùng để nhân hóa:

    + Gọi sự vật bằng từ ngữ dùng để gọi con người

    + Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để tả con người

    + Nói với sự vật thân mật như nói với con người

    CHÚC CÁC THẦY CÔ GIÁO MẠNH KHỎE, CÁC EM CHĂM NGOAN HỌC GIỎI,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Và Nhân Hóa
  • Viết Một Đoạn Văn Khoảng 5 Đến 7 Dòng Miêu Tả Một Con Vật Mà Em Yêu Thích Có Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Và Gạch Chân Biện Pháp Nhân Hóa
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Nhận Biết Và Sử Dụng Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Ngữ Văn 6 Bài 22 Hướng Dẫn Tìm Hiểu Bài Nhân Hóa
  • Em Hãy Tả Lại Cái Trống Của Trường Em Và Cho Biết Cảm Xúc Của Em Khi Nghe Tiếng Trống Trường
  • Câu 1, Câu 2, Câu 3, Câu 4, Câu 5 Trang 34 Sinh Học Lớp 10: Tế Bào Nhân Sơ…

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Bộ Não
  • Vùng Dưới Đồi Có Chức Năng Gì?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trưởng Phòng Kinh Doanh
  • Công Việc, Nhiệm Vụ, Mục Tiêu Của Một Trưởng Phòng Kinh Doanh
  • Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Đổi Mới
  • Câu 1, câu 2, câu 3, câu 4, câu 5 trang 34 sinh học lớp 10: TẾ BÀO NHÂN SƠ. Câu 1. Thành tế bào vi khuẩn có chức năng gì?

    Câu 1. Thành tế bào vi khuẩn có chức năng gì?

    Câu 2. Tế bào chất là gì?

    Câu 3. Nêu chức năng của roi và lông ở tế bào vi khuẩn.

    Câu 4. Nêu vai trò của vùng nhân đối với tế bào vi khuẩn.

    Câu 5. Tế bào vi khuẩn có kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản đem lại cho chúng ta ưu thế gì?

    Trả lời:

    Câu 1. Thành tế bào vi khuẩn có độ dày từ 10 – 20nm, được cấu tạo bằng chất peptiđôglican (pôlisaccarit liên kết với peptit). Thành tế bào vi khuẩn có chức năng quy định hình dạng của tế bào và bảo vệ tế bào.

    Câu 2. Tế bào chất nằm giữa màng sinh chất và vùng nhân (hoặc nhân tế bào). Tế bào chất ở mỗi tế bào đều gồm 2 thành phần chính: bào tương (một dạng keo bán lỏng chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ khác nhau) và ribôxôm cùng một số cấu trúc khác.

    Tế bào chất của vi khuẩn không có hệ thống nội màng cùng các bào quan có màng bao bọc và khung tế bào. Trong tế bào chất của vi khuẩn có các hạt ribôxôm là bào quan được cấu tạo từ prôtêin, ARN và không có màng bao bọc. Đây là nơi tổng hợp nên các loại prôtêin của tế bào. Ribôxôm của vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn ribôxôm của tế bào nhân thực, ở một số vi khuẩn, trong tế bào chất còn có các hạt dự trữ.

    Câu 3. Chức năng của roi và lông ở tế bào vi khuẩn:

    Một số loài vi khuẩn còn có các cấu trúc được gọi là roi (tiên mao) và lông (nhung mao). Roi có chức năng giúp vi khuẩn di chuyển. Một số vi khuẩn gây bệnh ở người thì lông giúp chúng bám được vào bề mặt tế bào người.

    Câu 4. Vùng nhân của tế bào sinh vật nhân sơ chứa vật chất di truyền, có chức năng truyền đạt thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vùng nhân của tế bào nhân sơ chỉ chứa một phân tử ADN dạng vòng và không được bao bọc bởi các lớp màng, vì thế tế bào loại này được gọi là tế bào nhân sơ (chưa có nhân hoàn chỉnh với lớp màng bao bọc). Ngoài ADN ở vùng nhân, một số tế bào vi khuẩn còn có thêm nhiều phân tử ADN dạng vòng nhỏ khác được gọi là plasmit. Nhưng plasmit không phải là vật chất di truyền, rất cần thiết cho tế bào nhân sơ.

    Câu 5. Kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản đem lại nhiều ưu thế cho tế bào vi khuẩn.

    – Vì kích thước nhỏ và cấu tạo đơn giản nên các loài vi khuẩn có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, dẫn đến phân bào nhanh.

    – Kích thước tế bào nhỏ thì việc vận chuyển các chất từ nơi này đến nơi khác trong tế bào hoặc ra môi trường sẽ nhanh.

    – Tỉ lệ s/v (diện tích/thể tích) lớn sẽ có khả năng trao đổi chất và năng lượng với môi trường nhanh hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Đột Quỵ Việt Nam
  • Nhồi Máu Não Nhân Bèo Là Gì?
  • Nhồi Máu Não Nhân Bèo Là Gì? Phương Pháp Điều Trị Nhồi Máu Não Nhân Bèo Tốt Nhất Hiện Nay
  • Các Chức Năng Cần Thiết Của Website Khách Sạn
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Người Quản Lý Khách Sạn Nhỏ
  • Câu 1, Câu 2, Câu 3, Câu 4, Câu 5, Câu 6 Trang 39 Sinh Học Lớp 10: Tế Bào Nhân Thực…

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Cấu Trúc Và Vai Trò Của Màng Tế Bào Chu Kỳ Tế Bào, Các Hình Thức Phân Chia Tế Bào Nhân Thực, Ý Nghĩa Sinh Học Và Khả Năng Ứng Dụng Sự Phân Chia Tế Bào
  • Đề Tài Cấu Trúc Và Vai Trò Của Màng Tế Bào. Chu Kỳ Tế Bào, Các Hình Thức Phân Chia Tế Bào Nhân Thực, Ý Nghĩa Sinh Học Và Khả Năng Ứng Dụng Sự Phân Chia Tế Bào Trong Công Nghệ Sinh Học
  • Luận Văn Tiểu Luận Cấu Trúc Và Vai Trò Của Màng Tế Bào Chu Kỳ Tế Bào, Các Hình Thức Phân Chia Tế Bào Nhân Thực, Ý Nghĩa Sinh Học Và Khả Năng Ứng Dụng Sự Phân Chia Tế Bào
  • Bài 15. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo)
  • Plasmid Là Gì? Plasmid Của Vi Khuẩn Là Gì? Ứng Dụng Plasmid
  • Câu 1. Mô tả cấu trúc của nhân tế bào.

    Câu 2. Nêu các chức năng của lưới nội chất trơn và lưới nội chất hạt.

    Câu 3. Trình bày cấu trúc và chức năng của bộ máy Gôngi.

    a) Tế bào hồng cầu. b) Tế bào bạch cầu

    c) Tế bào biểu bì. d) Tế bào cơ.

    Câu 5. Nêu cấu tạo và chức năng của ribôxôm.

    Câu 6. Nêu các điểm khác biệt về cấu trúc giữa tế bào nhân sơ và nhân thực.

    Trả lời:

    Câu 1. Nhân tế bào phần lớn có hình cầu với đường kính khoảng 5nm, được bao bọc bởi hai lớp màng, bên trong là dịch nhân chứa chất nhiễm sắc (gồm ADN liên kết với prôtêin) và nhân con.

    Nhân tế bào chứa vật chất di truyền và có chức năng điều khiển mọi hoạt động của tế bào.

    Câu 2. Lưới nội chất là một hệ thống màng bên trong tế bào tạo nên hệ thống các ống và xoang dẹp thông với nhau. Lưới nội chất có hai loại là lưới nội chất trơn và lưới nội chất hạt, chúng có chức năng như sau:

    * Lưới nội chất trơn.

    – Tổng hợp lipit.

    – Chuyển hóa đường.

    – Phân hủy chất độc hại đối với cơ thể.

    * Lưới nội chất hạt

    – Tổng hợp prôtêin tiết ra khỏi tế bào.

    – Tổng hợp prôtêin cấu tạo nên màng tế bào.

    Câu 3. – Cấu trúc của bộ máy Gôngi: Bộ máy Gôngi là một chồng túi màng dẹp xếp cạnh nhau nhưng cái nọ tách biệt với cái kia.

    – Chức năng của bộ máy Gôngi: Nơi lắp ráp, đóng gói và phân phối sản phẩm của tế bào. Prôtêin được tổng hợp từ ribôxôm trên lưới nội chất được gửi đến Gôngi bằng các túi tiết. Tại đây, chúng được gắn thêm các chất khác tạo nên các sản phẩm hoàn chỉnh rồi bao gói vào trong các túi tiết để chuyển đi các nơi trong tế bào hoặc tiết ra khối tế bào.

    Câu 4. Đáp án: b.

    Câu 5. Cấu tạo ribôxôm là bào quan có kích thước rất bé (khoảng 20 – 30nm)không có màng bao bọc. Ribôxôm chứa khoảng 50% prôtêin và 50% rARN. Trong tế bào nhân thực có tới hàng triệu ribôxôm, chúng nằm rải rác tự do trong tế bào chất hoặc đính trên mạng lưới nội chất hạt. Ribôxôm có nguồn gốc từ nhân con và có cả trong ti thể, lục lạp.

    – Chức năng: Ribôxôm là nơi tổng hợp prôtêin. Khi tổng hợp prôtêin các ribôxôm có thể liên kết với nhau tạo thành phức hệ pôlixôm.

    Câu 6. Điểm khác biệt về cấu trúc giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực là:

    – Nhân:

    – Tế bào nhân sơ nhân chưa phân hóa, chưa có màng nhân.

    – Tế bào nhân thực đã có màng nhân và nhân đã phân hóa.

    – Bào quan:

    – Tế bào nhân sơ chưa có bào quan.

    – Tế bào nhân thực đã có nhiều bào quan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sinh Lớp 10 Bài 10: Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo)
  • Giáo Án Sinh Học 10 Bài 10: Tế Bào Nhân Thực
  • Giải Sinh Lớp 10 Bài 9: Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo)
  • Câu 6 Trang 110 Sinh Lớp 10 Nâng Cao: Trình Bày Cấu Trúc, Chức Năng Của Nhân Tế Bào
  • Bài 8. Tế Bào Nhân Thực
  • 180 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Có Đáp Án Hóa Học Lớp 12: Amin

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Định Kỳ Hóa 12 Thpt Nguyễn Khuyến (10
  • 5 Mẹo Khử Mùi Tanh Của Cá Hiệu Quả
  • Nghề Account Và Những Thắc Mắc Chẳng Biết Hỏi Ai
  • Thiết Kế Đồ Họa Tiếng Anh Là Gì? Nhu Cầu Nhân Lực Ngành Thiết Kế Đồ Họa Hiện Nay
  • Thiết Kế Nội Thất Là Gì
  • Câu hỏi trắc nghiệm có đáp án Hóa học lớp 12

    VnDoc.com xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: 180 câu hỏi trắc nghiệm có đáp án Hóa học lớp 12: Amin – Amino axit – Protein bộ câu hỏi với 180 câu kèm theo đáp án sẽ giúp các bạn học sinh rèn luyện kỹ năng giải bài tập Hóa học một cách nhanh và chính xác nhất. Mời các bạn và thầy cô tham khảo.

    180 câu hỏi trắc nghiệm Hóa học lớp 12: Amin – Amino axit – Protein

    Câu 1: Chọn câu đúng:

    a. Công thức tổng quát của amin mạch hở có dạng là?

    b. Công thức tổng quát của amin no, mạch hở có dạng là?

    c. Công thức tổng quát của amin no, đơn chức, mạch hở có dạng là?

    Câu 2: Sắp xếp các amin theo thứ tự bậc amin tăng dần: etylmetylamin (1); etylđimetylamin (2); isopropylamin (3).

    A. (1), (2), (3).

    B. (2), (3),(1).

    D. (3), (2), (1).

    A. Chỉ có A: propylamin.

    B. A và B; A: isopropylamin; B: 1,2-etanđiamin.

    C. Chỉ có D: metyl-n-propylamin.

    D. Chỉ có B: 1,2- điaminopropan

    Câu 5: Ancol và amin nào sau đây cùng bậc?

    Câu 6: Ancol và amin nào sau đây cùng bậc?

    Câu 7: Metylamin có thể được coi là dẫn xuất của?

    B. Amoniac.

    C. Benzen.

    D. Nitơ.

    Câu 8: Số đồng phân amin bậc một ứng với công thức phân tử C 4H 11 N là?

    A. 2.

    B. 5.

    C. 3.

    Câu 9: Có bao nhiêu chất đồng phân có cùng công thức phân tử C 4H 11 N?

    A. 4.

    B. 6.

    C. 7.

    Câu 10: Có bao nhiêu amin chứa vòng benzen có cùng CTPT C 7H 9 N?

    A. 3.

    B. 4.

    D. 6.

    Câu 11: Có bao nhiêu amin bậc hai có cùng CTPT C 5H 13N?

    A. 4.

    B. 5.

    D. 7.

    Câu 12: Ứng với công thức C 5H 13 N có số đồng phân amin bậc 3 là?

    A. 6.

    B. 5.

    D. 4.

    Câu 13: Amin có %N về khối lượng là 15,05% là?

    A. metyletylamin.

    B. etylmetylamin.

    C. isopropanamin.

    D. isopropylamin.

    A. phenylamin.

    B. benzylamin.

    C. anilin.

    D. phenylmetylamin.

    Câu 16: Đều khẳng định nào sau đây luôn luôn đúng?

    A. Phân tử khối của một amin đơn chức luôn là số lẻ.

    B. Phân tử khối của một amin đơn chức luôn là số chẵn.

    C. Đốt cháy hết a mol amin bất kì luôn thu được tối thiểu a/2 mol N 2 (phản ứng cháy chỉ cho N 2)

    Câu 17: Nguyên nhân Amin có tính bazơ là?

    A. Có khả năng nhường proton.

    B. Trên N còn một đôi electron tự do có khả năng nhận H+.

    C. Xuất phát từ amoniac.

    D. Phản ứng được với dung dịch axit.

    Câu 18: Nhận xét nào sau đây không đúng?

    A. Các amin đều có thể kết hợp với proton.

    B. Metylamin có tính bazơ mạnh hơn anilin.

    C. Tính bazơ của các amin đều mạnh hơn NH 3.

    A. Anilin được điều chế trực tiếp từ nitrobenzen.

    B. Anilin là một bazơ có khả năng làm quỳ tím hoá xanh.

    C. Anilin cho được kết tủa trắng với nước brom.

    D. Anilin có tính bazơ yếu hơn amoniac.

    Tính bazơ của metylamin mạnh hơn anilin vì:

    A. Nhóm metyl làm tăng mật độ electron của nguyên tử nitơ, nhóm phenyl làm giảm mật độ

    electron của nguyên tử nitơ.

    B. Nhóm metyl làm tăng mật độ electron của nguyên tử nitơ.

    C. Nhóm metyl làm giảm mật độ electron của nguyên tử nitơ, nhóm phenyl làm tăng mật độ

    electron của nguyên tử Nitơ.

    D. Phân tử khối của metylamin nhỏ hơn.

    Câu 24: Hãy sắp xếp các chất sau đây theo trật tự tăng dần tính bazơ: (1) amoniac; (2) anilin; (3) etylamin; (4) đietylamin; (5) Kalihiđroxit.

    Câu 25: Có 4 hóa chất: metylamin (1), phenylamin (2), điphenylamin (3), đimetylamin (4). Thứ tự tăng dần lực bazơ là

    Dãy các chất được sắp xếp theo chiều tăng dần tính bazơ là

    Có thể nhận biết lọ đựng dung dịch CH 3NH 2 bằng cách nào trong các cách sau?

    A. Nhận biết bằng mùi.

    D. dd phenolphtalein.

    Để làm sạch lọ thuỷ tinh đựng anilin người ta dùng hoá chất nào sau đây?

    D. dd phenolphtalein

    Số đồng phân amin có công thức phân tử C 4H 11N tác dụng với dung dịch HNO 2 (t o thường) tạo ra ancol là

    Chất nào sau đây khi phản ứng với dung dịch hỗn hợp HCl và HNO 2 ở 0-5 o C tạo ra muối điazoni?

    Câu 33: Phản ứng nào sau đây không đúng?

    Câu 34: Cho các phản ứng:

    Trong đó phản ứng tự xảy ra là

    Câu 35: Giải pháp thực tế nào sau đây không hợp lí?

    A. Tổng hợp chất màu công nghiệp bằng phản ứng của amin thơm với dung dịch hỗn hợp

    NaNO 2 và HCl ở nhiệt độ thấp.

    B. Tạo chất màu bằng phản ứng giữa amin no và HNO 2 ở nhiệt độ cao.

    C. Khử mùi tanh của cá bằng giấm ăn.

    D. Rửa lọ đựng anilin bằng axit mạnh.

    Câu 36: Khi đốt cháy các đồng đẳng của metyl amin, tỉ lệ mol a = n : n biến đổi trong khoảng nào?

    Câu 37: Chất hữu cơ X có công thức phân tử là C 3H 9O 2 N. X tác dụng với NaOH đun nóng thu được muối có có phân tử khối nhỏ hơn phân tử khối của X. X không thể là chất nào?

    Câu 38: Chất hữu cơ X có CTPT là C 3H 7O 2N. X tác dụng với NaOH thu được muối X1 có CTPT là C 2H 4O 2 NNa. Vậy công thức của X là

    Câu 39: Hợp chất A có công thức phân tử C 4H 11O 2N. Khi cho A vào dung dịch NaOH loãng, đun nhẹ thấy khí B bay ra làm xanh giấy quỳ ẩm. Axit hoá dung dịch còn lại sau phản ứng bằng dung dịch H 2SO 4 loãng rồi chưng cất được axit hữu cơ C có M =74. Tên của A, B, C lần lượt là

    A. Metylamoni axetat, metylamin, axit axetic.

    B. Metylamoni propionat, metylamin, axit propionic.

    C. Amoni propionat, amoniac, axit propionic.

    D. Etylamoni axetat, etylamin, axit propionic.

    Câu 40: a. Cho chất hữu cơ X có công thức phân tử C 2H 8O 3N 2 tác dụng với dung dịch NaOH, thu được chất hữu cơ đơn chức Y và các chất vô cơ. Khối lượng phân tử (theo đvC) của Y là

    b. Chất hữu cơ A (mạch không phân nhánh) có công thức phân tử là C 3H 10O 2N 2. A tác dụng với NaOH giải phóng khí NH 3; mặt khác A tác dụng với axit tạo thành muối của amin bậc một. Công thức cấu tạo của A là

    A. NH 2-CH 2-CH 2-COONH 4.

    ………………………………….

    Ngoài ra, chúng tôi đã thành lập group chia sẻ tài liệu ôn tập THPT Quốc gia miễn phí trên Facebook: Quyết tâm đỗ Đại Học Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu, đề thi mới nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Số Hóa Dữ Liệu
  • Đi Tìm Giải Pháp Số Hóa Dữ Liệu Hoạt Động Kinh Doanh Cho Doanh Nghiệp Bất Động Sản
  • Sách Giải Pháp Cho Đổi Mới Và Sáng Tạo Pdf/ebook/epub/mobi
  • Giải Pháp Cho Đổi Mới Và Sáng Tạo Ebook Pdf/prc/epub/mobi
  • Giải Pháp Cho Đổi Mới Và Sáng Tạo (Tái Bản 2022)
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 3: So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3 Trong Môn Luyện Từ Và Câu
  • Skkn Dạy Biện Pháp So Sánh Lớp 3
  • Các Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại
  • Ưu, Nhược Điểm Của 5 Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại
  • Biện Pháp Phòng Trừ Sâu, Bệnh Hại Rau
  • Giải bài tập SGK Tiếng Việt 3 trang 43

    Soạn bài Luyện từ và câu lớp 3: So sánh là lời giải phần Tập đọc SGK Tiếng Việt 3 trang 43 được VnDoc biên soạn bám sát theo nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 giúp các em học sinh ôn tập, củng cố các dạng bài tập tìm hình ảnh so sánh, từ so sánh. Mời các em học sinh tham khảo.

    Soạn bài Luyện từ và câu lớp 3: So sánh

    Soạn bài Luyện từ và câu lớp 3 câu 1

    Câu 1 Tìm những hình ảnh so sánh trong các khổ thơ sau:

    a) Bế cháu ông thủ thỉ:

    Cháu khỏe hơn ông nhiều.

    Ông là buổi trời chiều

    Cháu là ngày rạng sáng.

    b) Ông trăng tròn sáng tỏ

    Soi rõ sân nhà em

    Trăng khuya sáng hơn đèn

    TRẦN ĐĂNG KHOA

    Ơi ông trăng sáng tỏ.

    c) Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Đêm nay con ngủ giấc tròn

    TRẦN QUỐC MINH Phương pháp giải:

    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    Lời giải chi tiết:

    Em hãy tìm các sự vật có nét giống nhau được so sánh trong câu.

    a) Các hình ảnh so sánh:

    – Sức cháu được so sánh với sức ông: Cháu khỏe hơn ông nhiều.

    – Ông được so sánh với buổi trời chiều vì ông đã già.

    – Cháu được so sánh với ngày rạng sáng vì cháu ngày càng lớn và khỏe mạnh.

    b) Hình ảnh so sánh:

    – Trăng được so sánh với đèn: Trăng khuya sáng hơn đèn.

    c) Hình ảnh so sánh:

    – Những ngôi sao được so sánh với mẹ: Những ngôi sao thức ngoài kia / Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    – Mẹ được so sánh với ngọn gió của con : Mẹ ngọn gió của con suốt đời

    Câu 2 Ghi lại các từ so sánh trong các khổ thơ trênPhương pháp giải: : Lời giải chi tiết:

    Soạn bài Luyện từ và câu lớp 3 câu 2

    Các từ so sánh thường dùng để chỉ sự ngang bằng hoặc hơn kém.

    Câu 3 Tìm các sự vật được so sánh trong đoạn thơ sau:

    – Các từ so sánh đó là: hơn, là, là, hơn, chẳng bằng, là.

    Soạn bài Luyện từ và câu lớp 3 câu 3

    Thân dừa bạc phếch tháng năm

    TRẦN ĐĂNG KHOA Phương pháp giải:

    Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao.

    Lời giải chi tiết:

    Đêm hè, hoa nở cùng sao

    Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh.

    Em làm theo yêu cầu của bài tập.

    Câu 4 Hãy tìm từ so sánh có thể thêm vào những câu chưa có từ so sánh ở bài tập 3. Phương pháp giải:

    Các sự vật được so sánh:

    Lời giải chi tiết:

    – Quả dừa được so sánh với đàn lợn

    – Tàu dừa được so sánh với chiếc lược

    Ở những câu thơ trên bài 3 chưa có từ so sánh (chỉ dùng dấu gạch ngang). Em hãy thêm từ chỉ sự so sánh ngang bằng để hoàn thành câu. Ví dụ: như, là, tựa như, tựa là, giống như, giống,…

    Ngoài bài Luyện từ và câu lớp 3: So sánh, các em học sinh có thể tham khảo đề thi học kì 1 lớp 3, đề thi học kì 2 lớp 3 đầy đủ các môn, chuẩn bị cho các bài thi đạt kết quả cao cùng các giải bài tập môn Toán 3, Tiếng Việt lớp 3, Tiếng Anh lớp 3. Mời các em cùng tham khảo, luyện tập cập nhật thường xuyên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sbt Công Nghệ 7 Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất Bien Pham Su Dung Cai Ao Va Bao Ve Dat Ppt
  • Biện Pháp Cải Tạo Và Sử Dụng Đất Phèn Bai 10Bien Phap Cai Tao Va Su Dung Dat Phen Ppt
  • Quản Lý Đất Đai Của Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã, Luật Quy Định Thế Nào?
  • Đất Chưa Sử Dụng & Tất Tần Tật Điều Cần Biết (Luật)
  • Skkn Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Trong Làm Văn Miêu Tả Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Nhân Hóa Trong Văn Bản Ánh Trăng
  • Phân Tích Giá Trị Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Đoạn Cá Nhụ, Cá Chim Cùng Cá Đé…
  • Hiệu Quả Của Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Thuộc Chương Trình Giáo Dục Mầm Non
  • Luyện Từ Và Câu 3. Nhân Hóa. Ôn Tập Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Để Làm Gì? Dấu Chấm, Chấm Hỏi, Chấm Than Luyen Tu Va Cau3 Ppt
  • Luyện Từ Và Câu Lớp 3: Nhân Hóa. Cách Đặt Và Trả Lời Câu Hỏi Khi Nào?
  • I .PHẦN MỞ ĐẦU

    A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Tiếng việt là môn học chiếm vị trí quan trọng , ngoài cung cấp các

    kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kĩ

    năng hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt, đồng thời môn học này còn bồi

    dưỡng năng lực tư duy cũng như lòng yêu tiếng Việt. Nhiều năm qua, việc

    bồi dưỡng kỹ năng làm bài Tập làm văn cho học sinh Tiểu học trong các

    nhà trường đang là mối quan tâm của nhiều giáo viên. Bởi phân môn Tập

    làm văn là phân môn thực hành tổng hợp, được vận dụng các tri thức, kỹ

    năng của nhiều phân môn khác. Phân môn Tập làm văn có vị trí hết sức

    quan trọng trong chương trình Tiểu học. Thông qua phân Tập làm văn

    nhằm rèn luyện cho học sinh các kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết để phục vụ

    cho việc học tập và giao tiếp. Cũng từ đó có thể trau dồi thái độ ứng xử có

    văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm lành

    mạnh, tình yêu tiếngViệt, tình yêu quê huơng đất nước, góp phần đặc biệt

    quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao các kỹ năng sử dụng tiếng

    Việt cho học sinh Tiểu học.

    Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm thường xuyên của nhà

    trường, của mỗi giáo viên. Được phân công giảng dạy khối 4 + 5 nhiều

    năm, tôi nhận thấy môn Tiếng Việt mà nhất là phân môn Tập làm văn được

    nhiều giáo viên cho rằng rất khó dạy. Đại đa số các em viết văn còn khô

    khan, nhất là văn miêu tả việc sử dụng các từ ngữ còn vụng về, chưa biết sử

    dụng các biện pháp tu từ để gợi tả nên câu văn chưa có “hồn” tức là chất

    lượng học sinh giỏi về môn Tiếng Việt còn rất hạn chế, đặc biệt là phân

    môn Tập làm văn , các em chưa được hướng dẫn quan sát cụ thể, tỉ mỉ nên

    các em chỉ tưởng tượng để viết bài. Hầu hết các em chưa tự quan sát, tìm tòi

    khám phá ra được “cái mới” cái nổi bật của đối tượng, các em đang tả để

    nói và và viết những điều các em tự quan sát và tự cảm nhận được.

    Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Tiếng việt mà đặc biệt là phân

    môn Tập làm văn lớp 4, bản thân tôi đã nghiên cứu, thử nghiệm việc hướng

    dẫn học sinh lớp 4 sử dụng biện pháp nhân hoá khi làm các bài văn miêu

    tả , nhằm mục đích nâng cao kĩ năng viết văn, giúp các em tự cảm nhận

    những điều mình quan sát để gửi gắm tình cảm của mình với đối tượng

    đang tả, giúp cho các em làm văn miêu tả phong phú hơn, sinh động hơn.

    Chính vì phân môn Tập làm văn có vai trò quan trọng như vậy mà

    tôi muốn đi sâu tìm hiểu một khía cạnh nhỏ nhằm bồi dưỡng kỹ năng cho

    học sinh lớp 4 về phân môn Tập làm văn đó là việc giúp học sinh sử dụng

    biện pháp nhân hoá trong viết văn miêu tả. Nhân hoá là một biện pháp tu từ

    rất quan trọng trong việc hình thành cho học sinh Tiểu học tình cảm gần

    gũi, yêu thích thế giới xung quanh ; bởi nhờ nhân hoá, các con vật , đồ vật

    trở nên sống động , có hồn , có tính cách như con người, trở thành người

    bạn thân thiết của các em . Nhân hoá góp phần nâng cánh ước mơ , phát

    triển năng lực cảm thụ và khả năng tư duy hình tượng cho học sinh.

    * Giới hạn , phạm vi nghiên cứu:

    – Sáng kiến kinh nghiệm này viết trong phạm vi môn tiếng Việt .

    – Công tác giảng dạy và quá trình thực hiện phạm vi nghiên cứu là

    học sinh lớp 4A, Trường TH Hoàng Hoa Thám, năm học 2012- 2013

    B . PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH :

    1. CƠ SỞ LÍ LUẬN

    Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học

    tiếng mẹ đẻ vì tập làm văn nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng , quan trọng

    là dạy học sinh sử dụng ngôn ngữ tiếng việt để giao tiếp , tư duy, học tập.

    Thông qua môn tập làm văn, học sinh vận dụng và hoàn thiện một cách

    tổng hợp nhứng kiến thức, kĩ năng Tiếng việt đã được học vào việc tạo nên

    những bài văn ha , giàu tính nghệ thuật .

    Văn miêu tả là loại văn có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời

    sống , nó giúp học sinh hình thành và phát triển trí tưởng tượng , óc quan

    sát và khả năng đánh giá, nhận xét. Những văn bản miêu tả có tác dụng to

    lớn như vậy bởi sự có mặt của biện pháp tu từ. Biện pháp tu từ là những

    cách phối hợp khéo léo các đơn vị từ vựng có khả năng đem lại hiệu quả tu

    từ do những mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh

    rộng . Việc dạy học các biện pháp tu từ có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi

    nó giúp người học biết cách sử dụng ngôn từ có hiệu quả cao. Thông qua

    việc dạy học các biện pháp tu từ này không chỉ giúp người học cảm thụ cái

    hay, cái đẹp trong văn bản nghệ thuật mà còn ham muốn tạo ra cái hay cái

    đẹp bằng ngôn từ .

    2 . THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG BIỆN PHÁP

    NHÂN HÓA KHI VIẾT VĂN MIÊU TẢ.

    Qua thực tế giảng dạy và dự giờ của đồng nghiệp ở trường tiểu học

    Hoàng Hoa Thám tôi nhận thấy thực trạng của việc hướng dẫn học sinh sử

    dụng biện pháp nhân hoá vào việc làm bài văn miêu tả như sau:

    2.1 Đối với giáo viên:

    Một số giáo viên còn chưa nắm vững về các biện pháp hướng dẫn học

    sinh viết văn miêu tả nói chung và sử dụng biện pháp nhân hoá trong viết

    văn miêu tả nói riêng. Phương pháp, cách thức dạy Tập làm văn ở lớp 4 đối

    với một số giáo viên còn lúng túng, đôi khi còn đơn điệu chưa phát huy

    được tính chủ động sáng tạo của học sinh.

    Giáo viên chưa đào sâu suy nghĩ về các biện pháp để hướng dẫn cho

    học sinh viết văn một cách cố hiệu quả nhất. Các cách dạy của giáo viên

    thường quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn, ngại thay đổi các phương pháp,

    hình thức tổ chức dạy học, đi theo đường mòn, chưa mang tính sáng tạo,

    chưa mạnh dạn đưa những sáng kiến, ý tưởng của mình vào quá trình giảng

    dạy.

    2.2 Đối với học sinh:

    Học sinh không hứng thú với phân môn Tập làm văn, các em ngại học

    hoặc học một cách đối phó vì các em ít được quan sát thực tế khi miêu tả.

    Phần lớn các đối tượng miêu tả được đưa vào chương trình rất quen thuộc

    đối với các em. Tuy nhiên vì các em thường hay không để tâm quan sát nên

    việc tìm ý để miêu tả là rất khó. Bởi vậy, thực tế bài làm của học sinh nhiều

    câu văn còn mang tính chất sao chép, cứng nhắc, chưa thực tế, không mang

    tính phát hiện của bản thân. Chẳng hạn có học sinh tả: “Cây nhãn này do

    ông em trồng từ mười năm trước. Cây cao khoảng 40 cm , cành lá xum xuê

    che bóng mát cho cả một khu đất rộng”. Mặt khác hầu như các bài văn của

    học sinh làm chỉ mang tính chất liệt kê sự vật chứ chưa mang tính chất miêu

    tả, thậm chí các em còn dựa nhiều vào những bài văn mẫu có trong các sách

    tham khảo.

    Đứng trước thực trạng trên, là giáo viên chủ nhiệm lớp 4A, tôi thật sự

    băn khoăn và đặt ra nhiệm vụ là làm thế nào để học sinh ứng dụng những

    điều đã học về biện pháp nhân hóa trong bài văn ? Làm thế nào để học sinh

    viết được một văn miêu tả hay? Chính vì thế mà tôi chọn đề tài: Một số

    kinh nghiệm hướng dẫn học sinh viết văn miêu tả sử dụng biện pháp

    nhân hóa.

    3. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với

    học sinh lớp 4A.

    – Phương pháp quan sát .

    – Phương pháp khảo sát thực tế .

    – Phương pháp thống kê .

    – Phương pháp thực nghiệm .

    II. PHẦN NỘI DUNG

    1. Mục tiêu:

    Sĩ số

    Giỏi

    Trung bình

    Yếu

    Trước thực tế dạy học đó, để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng

    tích cực nhằm đem lại hiệu quả cao trong tiết dạy Tập làm văn bản thân tôi

    đã nghiên cứu kỹ chương trình Tập làm văn lớp 4, tìm tòi và thử nghiệm đổi

    mới phương pháp dạy dạy học, mạnh dạn đưa các biện pháp tu từ đặc biệt là

    biện pháp nhân hoá để hướng dẫn học sinh làm bài văn với mục đích để học

    sinh có kĩ năng làm bài văn được tốt hơn.

    Để hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp nhân hoá khi viết văn miêu

    tả tôi đã tiến hành giúp học sinh làm rõ các vấn đề sau:

    * Thế nào là văn miêu tả?

    Để hiểu về văn miêu tả trước hết tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu rõ thế

    nào là văn miêu tả ? Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con

    người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể giúp người đọc cảm tưởng

    như đang xem tận mắt, bắt tận tay. Tuy nhiên, hình ảnh, đối tượng do văn

    miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp lại, sao chép lại một cách vụng

    về mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc

    mà người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống. Văn miêu tả mang

    tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết; văn miêu tả có

    tính rung động, tính hình tượng. Vì vậy, nó phải tuân theo những quy định

    để làm ra một tác phẩm nghệ thuật.

    * Biện pháp nhân hoá là gì?

    Nhân hoá trong viết văn là cách dùng các từ ngữ chỉ về người hoặc biểu

    thị về các hoạt động tính chất của con người để biểu thị các sự vật hoặc các

    hoạt động, tính chất của sự vật không phải là người , qua đó bày tỏ thái độ

    tình cảm của người nói đối với đối tượng được miêu tả. Có tài liệu gọi nhân

    hoá là những ẩn dụ, khi chuyển đổi từ những vật vô sinh sang những vật

    hữu sinh, hoặc là từ thế giới vật chất sang thế giới ý thức của con người.

    Nhân hoá chỉ có thể được hiện thực hoá trong ngữ cảnh nhất định . Nếu

    tách nó ra khỏi ngữ cảnh thì hiệu quả biểu đạt của nó sẽ không còn giá trị .

    Khi nghiên cứu về biện pháp nhân hoá, các tác giả nghiên cứu về phong

    cách học cho rằng : Nhân hoá là một loại , hoặc biến thể của ẩn dụ.Về hình

    thức cấu tạo , nhân hoá cũng giống như ẩn dụ vì chỉ có một vế B được phô

    bày , nó không gọi thẳng tên đối tượng mà để người ta tự tìm đến đối tượng

    đó trong ngữ cảnh theo quy luật của lôgic. Quá trình liên tưởng đến đối

    tượng đó là phân tích lôgic để xác lập đối tượng được miêu tả.

    * Cơ sở của việc xác định biện pháp nhân hoá:

    Cơ sở để tạo nên nhân hoá đó là sự liên tưởng. Liên tưởng để nhằm đi

    đến phát hiện ra những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải

    là người. ở đây đòi hỏi một sự quan sát tinh tế, một sự hiểu biết chính xác

    về những thuộc tính của con người cũng như những thuộc tính không phải

    của con người.

    Ví dụ : Gắn đặc tính của con người : siêng năng, cần cù, chịu khó, dùm

    bọc lẫn nhau … cho cây tre. Từ đó tạo ra sự đối lập, làm nên tính hấp dẫn,

    mới mẻ, lý thú. Khi đó có sự chuyển trường nghĩa : Từ trường nghĩa sự vật ,

    hiện tượng vô tri vô giác sang trường nghĩa con người.

    Các hình thức nhân hoá thường dùng trong văn miêu tả đó là.

    – Dùng từ chỉ tính chất , hoạt động của con người để biểu thị tính chất,

    hoạt động của đối tượng không phải con người : chạy , nhảy, khóc, cười….

    – Coi đối tượng không phải là con người như con người , tâm tư , trò

    chuyện với nhau…

    – Có thể dùng các từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc của con người trong gia

    đình để gọi tên các đối tượng không phải của người: ông, bà, chú, bác…

    Vì vậy tôi sẽ dựa vào các cấp độ sử dụng biện pháp này để phân loại ,

    hướng dẫn học sinh cách sử dụng biện pháp nhân hoá khi viết văn nhằm để

    đạt mục đích đó là.

    -Nhân hoá giúp học sinh biết thể hiện tình cảm một cách tế nhị , tinh

    tế.

    -Nhân hoá làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên ,

    từ đó dùng trở thành người bạn tâm tình của trẻ thơ , giúp trẻ dễ hiểu và

    nhận biết thế giới xung quanh.

    * Cơ sở để xác định cách hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp

    pháp nhân hoá khi viết văn miêu tả:

    Văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm

    cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật,

    cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay

    không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả

    mà còn thể hiện được trí tưởng tượng khi miêu tả. Bởi vì trong thực tế,

    không ai tả để mà tả, mà thường tả để gửi gắm những suy nghĩ, cảm xúc, sự

    đánh giá của mình, những tình cảm yêu ghét cụ thể của người viết. Các bài

    văn miêu tả ở Tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà các em yêu mến,

    yêu thích (cái cặp sách, con búp bê, cây bàng…). Vì vậy qua bài làm của

    mình, các em được gửi gắm tình cảm của mình với những gì mà mình miêu

    tả. khi khuyến khích học sinh sử dụng biện pháp nhân hoá bản thân tôi đã

    giúp học sinh những điểm sau:

    -Phát triển tư duy độc lập sáng tạo, khả năng suy ngẫm, óc phê phán và

    tính độc đáo của học sinh.

    -Học sinh có khả năng vận dụng những hiểu biết, kinh nghiệm của bản

    thân vào quá trình học tập một cách tích cực.

    -Phát triển những kĩ năng, kĩ xảo của hoạt động học tập và nhận thức

    cho học sinh.

    3 . Các biện pháp thực hiện hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp

    pháp nhân hoá khi viết văn miêu tả:

    Dạy học sinh lớp 4 sử dụng biện pháp nhân hoá để trong viết văn nhằm

    mục đích nâng cao chất lượng học tập cho học sinh bậc tiểu học nói chung

    và học sinh lớp 4 nói riêng xuất phát từ thực tiễn của quá trình dạy học

    nhằm mặt hạn chế mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực của các cách dạy

    học trước đây và hiện nay. Để thực hiện được điều này, giáo viên cần thực

    hiện những biện pháp sau:

    Biện pháp 1 :Nắm vững mục tiêu của môn Tập làm văn ở tiểu học

    Giáo viên cần phải nắm vững mục tiêu của môn Tập làm văn ở Tiểu học

    để từ đó xác định đúng mục tiêu của từng kiểu bài, từng bài dạy. Cụ thể

    mục tiêu của phân môn tập làm văn ở Tiểu học được thể hiện ở 2 nội dung

    đó là:

    -Rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh các văn bản nói và viết( kĩ

    năng phân tích đề, kĩ năng tìm ý, lập dàn ý; kĩ năng viết đoạn văn; kĩ năng

    liên kết đoạn văn thành bài văn). Bên cạnh đó củng cố và hoàn thiện các kĩ

    năng mà học sinh đã học ở các phân môn khác như kĩ năng dùng từ đặt câu,

    sử dụng dấu câu, viết đúng chính tả…

    -Thông qua việc dạy Tập làm văn để rèn luyện các thao tác tư duy, phát

    triển ngôn ngữ, bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lẽ phải và sự công

    bằng trong xã hội; tình yêu và thói quen giữ gìn sự giàu đẹp của tiếng Việt,

    góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, có tri thức,

    thấm nhuần tryền thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành mạnh,

    ham thích việc làm và biết rèn luyện khả năng thích ứng với cuộc sống xã

    hội sau này.

    Biện pháp 2: Nắm vững các kiểu bài văn miêu tả ở tiểu học

    Khi dạy học, tôi đặt ra mục tiêu hàng đầu là giúp học sinh nắm chắc

    từng kiểu bài văn miêu tả và tuỳ thuộc vào từng kiểu bài để hướng dẫn học

    sinh sử dụng biện pháp nhân hoá cho hợp lí, đặc biệt là lấy ví dụ minh hoạ

    bằng cách sử dụng những đoạn thơ, đoạn văn mang tính chất điển hình để

    cho học sinh tham khảo.

    a) Kiểu bài “tả đồ vật”

    Đồ vật là vật vô tri, vô giác . Để tả cho sinh động người ta thường hay

    sử dụng biện pháp nhân hoá. Dựa vào điểm này, tôi đã hướng dẫn học sinh

    dùng đại từ hay từ xưng hô : Anh , Chị, chú, cô nàng, anh chàng ,… khi

    đứng trước ngôi thứ ba, hoặc dùng các địa từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất (”

    Tớ là chiếc xe lu”) để tả. Có thể dùng theo các đại từ nhân xưng là hàng loạt

    các động từ, tính từ miêu tả hoạt động hoặc tâm trạng, ý nghĩ của con người

    được dùng để tả đồ vật . Nhờ vậy đồ vật trở nên sinh động , hấp dẫn dù là

    vật vốn quen thuộc hàng ngày.

    Ví dụ :

    Chiếc xe lu

    Tớ là chiếc xe lu

    Người tớ to lù lù

    Con đường nào mới đắp

    Tớ san bằng tăm tắp

    Con đường nào rải nhựa

    Tớ là phẳng như lụa.

    (Trần Nguyên Đào)

    Tuy nhiên, cần hướng dẫn học sinh sử dụng biện pháp nhân hoá đúng

    chỗ, nếu không có thể làm cho việc tả đồ vật mất tính chân thực .

    b) Kiểu bài ” tả cây cối”

    Khi miêu tả cây cối , người ta hay dùng biện pháp so sánh, nhân

    hoá…. Khi dạy kiểu bài này, ngoài việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu kĩ nội

    dung của các đoạn văn mẫu trong sách giáo khoa tôi còn lấy thêm nhiều ví

    dụ về việc sử dụng biện pháp nhân hoá khi miêu tả cây cối trong các đoạn

    văn đoạn thơ ở ngoài để làm ví dụ. Chăng hạn, Trần Đăng Khoa từng nhân

    hoá :

    Cây dừa xanh toả nhiều tàu lá

    Dang tay đón gió , gật đầu gọi trăng…

    c) Kiểu bài ” Tả loài vật”

    Phép nhân hoá tỏ ra đặc dụng khi miêu tả loài vật . ở nhiều tác phẩm,

    nhân hoá không chỉ là biện pháp hoặc thủ pháp có tính chất tu từ học mà trở

    thành phương pháp xây dựng hình tượng , xây dựng tác phẩm như trong Dế

    mèn phiêu liêu ký , Võ sĩ Bọ Ngựa…Phổ biến trong các bài văn miêu tả

    nhân hoá được dùng như một biện pháp nghệ thuật . Người viết dùng cách

    gọi người để gọi vật (Cu Tũn, Chị Vàng…), tả các hoạt động , tính nết của

    con vật như con người . Nhờ biện pháp nhân hoá , con vật được miêu tả trở

    nên thân thuộc với người đọc .

    Ví dụ :

    Bài : Anh Đom Đóm

    Mặt trời gác núi

    Bóng tối tan dần

    Anh Đóm chuyên cần

    Lên đèn đi gác.

    Bởi sự đặc dụng của biện pháp nhân hoá trong miêu tả con vật, nên khi

    dạy kiểu bài này tôi đã hướng cho học sinh dùng cách gọi người để gọi vật.

    Với cách hướng dẫn này tôi nhận thấy học sinh rất thích thú khi làm bài văn

    tả con vật, qua đó các em tìm ra được những chi tiết riêng, đặc sắc của con

    vật vì với cách giọ này các em cảm thấy con vật trở nên gần gũi, quen thộc

    đối với chính bản thân mình.

    d)Kiểu bài ” Tả cảnh”:

    Trong kiểu bài này các tính từ chỉ màu sắc, hình khối , tính chất …,

    các từ tượng thanh và tượng hình , các phép nhân hoá , so sánh … đều

    được huy động. Cũng như đối với các kiểu bài văn trên, khi dạy kiểu bài

    văn này, tôi cũng giúp học sinh thấy được cái hay của biện pháp nhân hoá

    khi dùng để tả cảnh.

    Ví dụ : Phép nhân hoá được sử dụng khi tả cảnh trời giông sắp đổ mưa

    trong bài Mưa của Trần Đăng Khoa:

    Ông trời

    Múa gươm

    Mặc áo giáp đen

    Kiến

    Ra trận

    Hành quân

    Muôn nghìn cây mía

    Đầy đường

    Từ nhưng câu thơ này, giáo viên gợi ý cho học sinh về cách sử dụng

    biện pháp nhân hoá khi tả vật , đồ vật , tả cảnh để bài văn được sinh động ,

    hấp dẫn người đọc..

    Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh quan sát

    Đây là biện pháp quan trọng, vì nếu giáo viên biết cách hướng dẫn tốt thì

    sẽ gây được nhiều hứng thú và sự tưởng tượng cho học sinh . Từ việc quan

    sát đồ vật, con vật, cây cối, cảnh vật, các em sẽ liên tưởng tới những hoạt

    động của con người và từ đó các em sẽ sử dụng được biện pháp nhân hoá

    trong viết văn miêu tả làm cho bài văn trở nên sinh động, gây bất ngờ cho

    người đọc.

    + Hướng dẫn học sinh trình tự quan sát: Nên để cho học sinh tự tìm cho

    mình một trình tự quan sát, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, dẫn dắt các

    em để các em tìm ra được những điểm mới lạ, riêng biệt và phát hiện ra

    những điểm giống nhau giữa người và đối tượng mình đang miêu tả.

    Các trình tự quan sát có thể tiến hành là:

    – Quan sát theo trình tự không gian: Quan sát toàn bộ đối tượng (bao

    quát) đến quan sát từng bộ phận của đối tượng (chi tiết) hoặc ngược lại xem

    đối tượng miêu tả có những điểm nào có thể sử dụng biện pháp nhân hoá.

    Ví dụ: Nhìn từ xa, cây đa cổ thụ trông như một cái ô khổng lồ. Nó dang

    những cánh tay lớn che bóng mát cho cả một khoảng đất rộng ở đầu làng.

    – Quan sát theo trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến của thời gian

    từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, từ mùa này sang mùa khác …

    Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh tả cây bàng theo trình tự thời gian từ mùa

    đông sang mùa xuân, tôi hướng dẫn học sinh liên tưởng đến giấc ngủ của

    con người.

    “Mùa xuân đã đến. Cây bàng như dần tỉnh sau giấc ngủ đông. Từ trên

    cành khẳng khiu, những chồi non như những con mắt màu nâu đang còn

    ngái ngủ được những hạt mưa xuân đánh thức bắt đầu vươn dậy đón nhận

    ánh sáng mặt trời”

    – Quan sát theo trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây

    cảm xúc mạnh cho bản thân thì quan sát trước, các bộ phận khác thì quan sát

    sau.

    Dù quan sát theo trình tự nào thì tôi cũng dừng lại ở bộ phận chủ yếu,

    trọng tâm để hướng dẫn học sinh quan sát một cách kĩ lưỡng . Biện pháp

    quan trọng trong khi hướng dẫn học sinh quan sát là giáo viên cần phải

    chuẩn bị hệ thông câu hỏi gợi ý để dẫn dắt các em vào việc sử dụng biện

    pháp nhân hoá khi miêu tả. Đối với học sinh yếu chưa biết cách quan sát

    giáo viên cần có sự hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ một vài lần.

    Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát

    Đây là thao tác quan trọng nhất có tính quyết định về nhiều mặt. Thông

    thường các nhận xét và cảm xúc gắn liền với thị giác (hình dáng, màu sắc,

    đường nét, độ xa gần …). Đó là mặt mạnh cũng là mặt yếu của học sinh

    chúng ta phải lưu ý các em dùng thêm giác quan khác để quan sát như khứu

    giác, xúc giác, thính giác, vị giác. Thực tế khi làm bài văn học sinh thường

    chỉ sử dụng 1 giác quan (thị giác) để miêu tả. Với cách sử dụng ít giác quan

    như vậy bài văn của các em trở nên khô cứng và ít cảm xúc, ít gây ấn tượng

    cho người đọc. Bởi vậy, một trong những biện pháp quan trọng để giúp các

    em làm văn hay hơn , đặc biệt là đưa được biện pháp nhân hoá vào trong

    quá trình miêu tả khi sử dụng nhiều giác quan là một việc làm không thể

    thiếu trong dạy học tập làm văn cho học sinh tiểu học.

    Ví dụ: khi tả cây hoa cần nhắc học sinh tả cả bông hoa và mùi thơm của

    bông hoa đó.

    “Hoa thiên lí không khoe sắc như những loài hoa khác, màu xanh mát

    của hoa

    là màu mà cả gia đình em đều thích. Hương thơm của hoa thiên lí mới tuyệt

    làm sao! Vào mỗi đêm, hương thơm nhẹ nhàng bắt đầu rón rén bước ra, và

    tung tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên mái nhà, luồn qua khe cửa, chui vào

    khắp các ngóc ngách trong nhà làm cho căn nhà em ở luôn tràn ngập hương

    hoa”

    Biện pháp 5: Tổ chức dạy tiết quan sát

    – Để làm bài văn viết trung thực, kích thích trí tưởng tượng của học sinh

    phải cho học sinh quan sát trực tiếp cảnh, vật. Có nhiều hình thức và biện

    pháp để thực hiện yêu cầu này.

    – Tổ chức cho học sinh quan sát ngay tại địa điểm có cảnh, vật, đồ vật

    cần quan sát.

    – Tổ chức cho học sinh quan sát trực tiếp đồ vật, cảnh vật ngay tại lớp.

    – Quan sát trực tiếp cảnh vật, đồ vật trước khi đến lớp. Tới lớp, trong tiết

    học các em hồi tưởng lại và ghi chép lại. Học sinh phải tự làm việc, tự ghi

    chép lại là chính, cần dành thời gian tối đa cho việc này.

    Về mặt tổ chức lớp học, học sinh có thể không ngồi yên một chỗ mà cần

    được động đậy, nghiêng ngó, thậm chí rồi khỏi chỗ để có một vị trí quan sát

    thích hợp, học sinh có thể thì thầm trao đổi với nhau, miễn không làm ồn và

    ảnh hưởng tới bạn khác.

    Biện pháp 6: Hướng dẫn học sinh tích luỹ các từ ngữ miêu tả và lựa

    chọn những từ ngữ miêu tả

    Tạo điều kiện cho học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả. Biện pháp đầu

    tiên giúp các em tích luỹ vốn miêu tả qua các bài tập đọc. Nhiều bài tập đọc

    là các bài miêu tả hay của nhà văn, số lượng từ ngữ miêu tả ở các bài văn đó

    rất phong phú, cách sử dụng sáng tạo. Dạy các bài đó giáo viên cần chỉ ra

    các từ ngữ miêu tả, chọn các trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, cái

    đẹp sự sáng tạo của người viết khi dùng chúng.

    Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Con chuồn chuồn nước” Tieng Việt 4 -Tập 2

    có đoạn: “Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên

    lưng chú lấp lánh . Bốn cánh mỏng như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con

    mắt long lanh như thủy tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của

    nắng mùa thu. Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả dài trên mặt hồ. Bốn

    cánh khẽ rung rung như đang còn phân vân. ” giáo viên có thể đặt câu thêm

    câu hỏi để hỏi học sinh.

    +Trong đoạn văn trên tác giả đã sử dụng những biện pháp miêu tả nào?

    +Những từ ngữ nào thể hiện biện pháp miêu tả đó?

    Từ việc thường xuyên nhắc nhở các em tích luỹ những từ ngữ và các

    biện pháp miêu tả như vây, các em sẽ là được những bài văn miêu tả một

    cách tốt hơn.

    Kết quả đạt được:

    Qua một năm thực hiện các biện pháp nêu trên về phương pháp giảng

    dạy tập làm văn cho học sinh lớp 4 tôi đã thu được những kết quả sau:

    a) Về phía giáo viên:

    Các đồng chí trong tổ khối tán thành kiến của tôi đưa ra và áp dụng vào

    tiết dạy cụ thể, giáo viên trong tổ tránh được những thắc măc, những lung

    túng, khi giảng dạy tập làm văn. Các đồng chí trong tổ đã biết vận dụng

    sáng tạo phương pháp giảng dạy tập làm văn lớp 4 -5 mà tôi nêu ra. Kết

    quả tiết dạy đã được nâng lên một cách rõ rệt.

    b) Về phía học sinh:

    Học sinh đã hứng thú và yêu thích phân môn tập làm văn. Các em đã

    biết diễn đạt rõ ràng mạch lạc những suy nghĩ, cảm xúc của mình một cách

    mạch lạc, biết chọn những chi tiết độc đáo, nổi bật, viết câu giàu hình ảnh,

    biết sử dụng biện pháp nhân hoá khi miêu tả.

    Nhìn chung các em không ngại làm tập làm văn như trước nữa, các em

    đã có sự ham mê học tập, sự quan sát tinh tế, cách cảm nhận, rung động,

    thẩm mỹ trước cái đẹp của thiên nhiên, cuộc sống đang diễn ra.

    Cụ thể sau khi thực nghiệm, tôi đã tiến hành điều tra kết quả học tập của

    học sinh. Với viêc dạy học sinh cách sử dụng biên pháp nhân hoá trong viết

    văn miêu tại lớp 4A trường Tiểu học Hoàng Hoa Thám kết quả thu được

    như sau:

    Tổng số 19 em

    Loại giỏi

    SL

    TL

    2

    10

    7

    0

    11%

    53%

    36%

    0%

    5. Bài học kinh nghiệm

    Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng hướng dẫn học sinh lớp

    5 sử dụng biệp pháp nhân hoá khi viết văn miêu tả; được sự giúp đỡ của ban

    Giám hiệu, tổ chuyên môn cùng với sự nỗ lực của bản thân tôi đã rút ra

    một số kinh

    nghiệm sau:

    1. Trước hết, người giáo viên phải luôn có lòng yêu nghề, yêu người, có

    ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến, không ngừng học hỏi và mạnh dạn

    áp dụng những cái mới vào trong thực tiễn giảng dạy.

    2. Nhiệm vụ quan trong bậc nhất của người giáo viên tiểu học là phải

    nắm vững đối tượng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực, hoàn cảnh và sở

    thích của từng em cũng như tâm sinh lí lứa tuổi học sinh. Phân loại được

    học sinh, người giáo viên mới có thể áp dụng những pháp dạy học phù hợp

    với từng nhóm đối tượng học sinh, với từng cá thể học sinh.

    3. Giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu, tự học, tự bồi dưỡng về

    chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên dự giờ của đồng nghiệp, tham dự đầy

    đủ các lớp tập huấn chuyên môn … để nắm bắt những thông tin về nội

    dung, phương pháp của chương trình môn Tiếng Việt. Từ đó, giáo viên mới

    có thể lập kế hoạch dạy học và kế hoạch bài học một cách khoa học, có sự

    tích hợp giữa kiến thức các môn học và các lớp học với nhau.

    4. Giáo viên cần biết cách phối hợp hoạt động học tập với các hoạt động

    ngoài giờ lên lớp để tiết kiệm thời gian học tập, đồng thời qua các hoạt

    động ngoài giờ lên lớp học sinh được quan sát, được thực tế với cảnh, vật

    để các em tìm ra cái mới trong miêu tả hoặc vận dụng công nghệ thông tin

    trong dạy học, tạo điều kiện cho học sinh quan sát những đối tượng miêu tả

    không có ở địa phương để mở rộng hiểu biết cho các em.

    Có được những kết quả trên là quá trình đúc rút những kinh nghiệm của

    bản thân, xuất phát từ lòng yêu nghề, say mê với công việc, luôn nêu cao

    tinh thần trách nhiệm, không ngừng học hỏi, vận dụng vào quá trình giảng

    dạy.

    III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.

    1. Kết luận chung

    Việc hướng dẫn học sinh vận dụng biện pháp nhân hóa khi viết văn

    miêu tả đã có tác dụng tích cực , góp phần nâng cao hiệu quả của bài văn

    miêu tả . Học sinh tiếp thu và viết văn một cách say mê, hứng thú . Giao

    viên cảm thấy giờ dạy không còn nặng nề vì phải nói nhiều , hướng dẫn quá

    nhiều . Kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa của các em đã được nâng

    cao , bài văn miêu tả của học sinh sẽ sinh động , hấp dẫn, giàu hình ảnh.

    2. Đề xuất:

    * Với giáo viên

    – GV cần thường xuyên sử dụng biện pháp nhân hóa trong đặt câu, viết

    đoạn văn để dần nâng cao thành sử dụng một cách linh hoạt biện pháp này

    trong văn miêu tả .

    – Để chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy, theo tôi người giáo viên phải

    chuẩn bị những yêu cầu sau:

    Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu

    cầu kiến thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ

    thể của chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên. Sưu tầm

    nghiên cứu các kinh nghiệm dạy học trên các tập chí, tài liệu bồi dưỡng

    giáo viên về kiến thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa phương,

    trường lớp và hoàn cảnh học tập của học sinh.

    Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến thức, kĩ năng

    tư duy và giáo dục). Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục đích yêu

    cầu. Lựa chọn phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học, các biện pháp

    sẽ thực hiện từng khâu từng đối tượng học sinh.

    Tạo được không khí sẵn sàng học tập ở chỗ học sinh nắm chắc bài cũ,

    chuẩn bị tốt sách giáo khoa và đồ dùng học tập. Tập thể học sinh tự giác,

    tôn trọng nội quy, nề nếp và làm việc tốt. Học sinh trong trạng thái khoẻ

    mạnh, tỉnh táo.

    Tạo mối quan hệ tốt giáo viên và học sinh thể hiện ở chỗ:

    + Giáo viên có thái độ cởi mở, chan hoà, ân cần, quan tâm đến học

    sinh, mẫu mực trong tác phong. Giáo viên chuẩn bị bài soạn, sẵn sàng lên

    lớp.

    + Học sinh lễ phép, chăm chỉ và tích cực trong học tập.

    – Luôn luôn chú ý theo dõi thái độ học tập và sự lĩnh hội nội dung bài

    học của học sinh, để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời.

    – Cần quan tâm đối tượng khác nhau về trình độ để giao việc, đặt câu

    hỏi thích hợp. Có động viên khuyến khích, biểu dương kịp thời các tiến bộ,

    cố gắng của học sinh. Nhưng phải nghiêm khắc đối với học sinh lười biếng,

    vô trách nhiệm. Giáo viên phải linh động, khéo léo xử lí tình huống diễn ra

    sao cho đạt mục đích yêu cầu của tiết dạy.

    b. Về phụ huynh

    -Mua đầy đủ sách vở .Thường xuyên nhắc nhở con em mình học tập ở

    nhà.

    – Lập thời gian biểu cho các em, tạo cho các em thói quen tự giác học

    bài. Có như vậy học sinh mới hứng thú học tập và tiếp thu bài giảng một

    cách tốt nhất.

    c.Về học sinh

    -Học sinh có thói quen tự giác học tập, không chờ phụ huynh nhắc nhở.

    Mạnh dạn hỏi về những gì chưa biết hay chưa hiểu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt 4 Tập 2 Tuần 19 Câu 4, 5, 6, Vui Học Trang 7, 8
  • Giúp Học Sinh Nhận Biết, Sử Dụng Hiệu Quả Phép Tu Từ Nhân Hóa
  • Cách Viết Tốt Bài Văn Tả Cây Bàng
  • Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa Để Tả Vườn Cây
  • Câu 1 : Đặt 3 Câu Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa: A. Đối Với Đồ Vật. B. Đối Với Con Vật C. Đối Với Cây Cối. Câu 2 : Viết Một Đoạn Văn Ngắn Khoảng 100
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Nhận Biết Và Sử Dụng Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Tiếng Việt Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Một Đoạn Văn Khoảng 5 Đến 7 Dòng Miêu Tả Một Con Vật Mà Em Yêu Thích Có Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Và Gạch Chân Biện Pháp Nhân Hóa
  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Và Nhân Hóa
  • Ôn Tập So Sánh Và Nhân Hóa Lớp 3
  • Đoạn Văn Ngắn Có Sử Dụng Phép So Sánh Và Nhân Hóa
  • Câu 1 : Đặt 3 Câu Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa: A. Đối Với Đồ Vật. B. Đối Với Con Vật C. Đối Với Cây Cối. Câu 2 : Viết Một Đoạn Văn Ngắn Khoảng 100
  • Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

    TRƯỜNG TIỂU HỌC HỒ TÙNG MẬU

    BÁO CÁO SÁNG KIẾN

    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ

    SỬ DỤNG HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA

    TRONG TIẾNG VIỆT LỚP 3″

    TÁC GIẢ: PHẠM THỊ THU HƯƠNG

    TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

    CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN

    NƠI CÔNG TÁC: TRƯỜNG TIỂU HỌC HỒ TÙNG MẬU

    Nam Định, ngày 19 tháng 5 năm 2014

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    BÁO CÁO SÁNG KIẾN

    1. Tªn s¸ng kiÕn:

    “Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng

    hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    2. LÜnh vùc ¸p dông s¸ng kiÕn:

    Luyện từ và câu – Líp 3

    3. Thêi gian ¸p dông s¸ng kiÕn:

    Tõ th¸ng 12/ 2013 ®Õn 30/ 4/2014

    4. T¸c gi¶

    Hä vµ tªn: Ph¹m ThÞ Thu H­¬ng

    N¨m sinh: 11-9-1976

    N¬i th­êng tró: 1/23 ngâ An Phong, ph­êng Quang Trung, thµnh phè Nam

    §Þnh

    Tr×nh ®é chuyªn m”n: §¹i häc S­ ph¹m

    Chøc vô c”ng t¸c: Gi¸o viªn

    N¬i công tác: Tr­êng tiÓu häc Hå Tïng MËu

    5. §¬n vÞ ¸p dông s¸ng kiÕn

    Tªn ®¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc Hå Tïng MËu

    §Þa chØ

    :

    §iÖn tho¹i:

    63 V¨n Cao

    0350 3843 133

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    I. §iÒu kiÖn hoµn c¶nh t¹o ra s¸ng kiÕn

    Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học chiếm vị trí quan

    trọng nhất. Với tính chất là một môn học công cụ, ngoài việc cung cấp các kiến

    thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kĩ năng

    hoạt động giao tiếp bằng Tiếng Việt, đồng thời môn học này còn bồi dưỡng

    năng lực tư duy cũng như lòng yêu quý Tiếng Việt. Dạy Tiếng Việt trong nhà

    trường Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng

    tiếng Việt để học tập mà bước đầu là các kĩ năng nghe, nói đọc viết và giao tiếp

    trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.Thông qua môn Tiếng Việt, giáo

    viên rèn cho học sinh năng lực tư duy, khả năng quan sát, óc tưởng tượng, óc

    thẩm mỹ…Giáo dục cho học sinh những tư tưởng đạo đức trong sáng, lành

    mạnh. Chương trình Tiếng Việt đặt ra các mục tiêu cụ thể để phát triển các kỹ

    năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh. Tất cả các kỹ năng đó đều được cụ thể

    hoá trong từng phân môn của môn học này trong đó biện pháp tu từ nhân hóa

    trong phân môn Luyện từ và câu góp phần không nhỏ làm nên điều này.

    Tuy nhiên, là một nội dung mới nên việc dạy học biện pháp tu từ nhân hóa

    trong phân môn Luyện từ và câu còn gặp nhiều những vướng mắc. Làm thế nào

    để việc dạy và học có hiệu quả, học sinh hứng thú học tập, cảm nhận được cái

    hay, cái đẹp thông qua tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa? Đồng thời việc

    dạy và học đó cũng đảm bảo đúng yêu cầu đặc trưng môn học. Từ những lý do

    trên, tôi đã nảy sinh và áp dụng sáng kiến nghiên cứu “Một số biện pháp giúp

    học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả Biện pháp tu từ Nhân hóa trong

    Tiếng việt lớp 3″ với mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học trong phân

    môn Luyện từ và câu cũng như các phân môn khác trong môn tiếng Việt.

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    II. THỰC TRẠNG HIỆN NAY

    1. Về Kiến thức:

    Người giáo viên còn gặp không ít khó khăn về phương tiện dạy học và tài

    liệu tham khảo còn ít, chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép giữa các

    phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự

    tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng việt.

    Mặt khác chúng ta thấy rằng mục tiêu của phân môn “Luyện từ và câu” là

    rèn kỹ năng nó khác với phương pháp dạy học cũ chủ yếu là cung cấp kiến thức

    do vậy việc rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa và thực hiện bài tập

    vận dụng biện pháp nhân hóa trong dạy và học kết quả chưa cao.

    Chẳng hạn:

    – Phần nhận biết biện pháp nhân hóa chỉ mới mức độ nhận biết sự vật

    được nhận hóa qua câu thơ, câu văn chứ chưa phát huy được cảm nhận cũng như

    cách viết đoạn văn, câu thơ có hình ảnh nhân hóa.

    2. Về cách dạy:

    * Do kh¶ n¨ng nhận thức cña häc sinh cßn dõng l¹i ë møc ®é ®¬n gi¶n nªn

    viÖc c¶m thô nghÖ thuËt tu tõ nh©n ho¸ cßn h¹n chÕ. Hơn nữa vèn kiÕn thøc sơ

    giản học sinh chỉ míi biÕt mét c¸ch cô thÓ.

    * Một số tiết dạy Tiếng Việt còn nhiều hạn chế – giáo viên lúng túng, học

    sinh chưa sử dụng thành thạo biện pháp nhân hóa trong khi cảm nhận cũng như

    trong khi viết câu văn hay sinh động cho nên học sinh không hứng thú trong học

    tập vì vậy hiệu quả còn hạn chế. Chính vì thế người giáo viên phải nắm chắc

    kiến thức về nhân hóa sau đó mới lên kế hoạch, tổ chức các hoạt động học tập

    cho HS, giúp các em nắm bắt lĩnh hội kiến thức.

    Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy các em vẫn còn khó khăn, lúng

    túng trong việc nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa của phân môn Luyện từ và

    câu. Trước thực tế khó khăn đó, tôi không khỏi băn khoăn trăn trở, với suy nghĩ

    “Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả Biện pháp

    tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    + Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, tâm trạng của người để tả sự vật.

    + Tác giả nói với mưa như nói với người.

    *Khổ 2: – Sự vật nhân hóa: Mưa, đất, sấm.

    – Từ ngữ thể hiện nhân hóa: xuống, ông, hả hê, uống nước, vỗ tay,

    cười.

    – Tác giả sử dụng 2 cách nhân hóa:

    + Dùng từ chỉ người “ông” để gọi sấm

    + Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm của người để tả mưa,

    sấm, đất.

    *Khổ 3: – Sự vật nhân hóa: trời

    – Từ ngữ thể hiện nhân hóa: ông, bật lửa, xem

    – Ở khổ 3 này, tác giả cũng sử dụng 2 cách nhân hóa:

    + Dùng từ chỉ người “ông” để gọi trời

    + Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm của người để tả trời.

    – 20 % HS chỉ ra các sự vật nhân hóa, các cách nhân hóa

    * Ở khổ 1: HS nêu:

    – Sự vật nhân hóa: mây, trăng sao, đất

    – Những từ ngữ thể hiện nhân hóa: chị, kéo đến, trốn, nóng

    lòng và “xuống đi nào mưa ơi!”

    – HS chỉ ra 3 cách nhân hóa:

    + Dùng từ chỉ người để gọi mây

    + Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, tâm trạng của người để tả sự vật.

    *Khổ 2: – Sự vật nhân hóa: Mưa, đất, sấm.

    – Từ ngữ thể hiện nhân hóa: xuống, ông, hả hê, vỗ tay.

    – Tác giả sử dụng 2 cách nhân hóa:

    + Dùng từ chỉ người “ông” để gọi sấm

    + Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm của người để tả mưa, sấm, đất.

    *Khổ 3: – Sự vật nhân hóa: trời

    – Từ ngữ thể hiện nhân hóa: ông, bật lửa.

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    – Ở khổ 3 này, tác giả cũng sử dụng 2 cách nhân hóa:

    + Dùng từ chỉ người để gọi sự vật

    + Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm của người để tả sự vật.

    -10% HS nhận xét được tác dụng của biện pháp nhân hóa trong bài văn trên.

    + Tác giả miêu tả cơn mưa thật sinh động.

    + Tác giả giúp ta cảm nhận được cảnh vật trước và trong cơn mưa thật sinh

    động. Em thấy yêu thiên nhiên hơn bao giờ hết.

    + Qua nghệ thuật nhân hóa, tác giả giúp em thấy bức tranh thiên nhiên

    trước và trong khi mưa thật sinh động, gần gũi, khiến chúng cũng có tâm trạng,

    hoạt động như con người. Tác giả cũng thể hiện được tình yêu thiên nhiên, coi

    chúng như những người bạn vậy.

    -40% HS chỉ ra được các sự vật được nhân hóa, các cách nhân hóa và nêu

    được tác dụng của nhân hóa: Tác giả giúp ta cảm nhận được cảnh vật trước và

    trong cơn mưa thật sinh động.

    – 35% HS nêu được giúp ta cảm nhận được cảnh vật trước và trong cơn mưa

    thật sinh động..

    – 25% HS nêu tác giả giúp em thấy bức tranh thiên nhiên trước và trong khi

    mưa thật sinh động, gần gũi, khiến chúng cũng có tâm trạng, hoạt động như con

    người, coi chúng như những người bạn vậy. Tác giả cũng thể hiện được tình yêu

    thiên nhiên. Em thấy yêu thiên nhiên hơn.

    Với kết quả trên, HS đạt được chưa cao là do:

    + HS nhận biết hình ảnh nhân hoá và chỉ ra tương đối chính xác biện pháp nhân

    hóa. Tuy nhiên hoạt động phân tích cái hay cái đẹp của việc sử dụng biện pháp

    nhân hoá thì các em chưa làm tốt. Nhiều HS chỉ biết là cách dùng biện pháp

    nhân hoá đó rất hay nhưng hay như thế nào thì chưa biết cách giải thích.

    + Khả năng diễn đạt còn lủng củng, dùng từ đặt câu chưa chính xác, cách lựa

    chọn được từ ngữ khi viết đoạn văn còn lúng túng, phân tích giá trị sử dụng của

    biện pháp nhân hóa chưa hay.

    + Khi dùng từ ngữ về nhân hóa trong giao tiếp còn ít, chưa phong phú vì vậy

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    việc HS tự phát hiện còn hạn chế.

    + Một số học sinh còn mơ hồ, chưa hiểu rõ tác dụng của biện pháp, chưa biết

    cách phân tích giá trị sử dụng của biện pháp nhân hóa. Chính vì vậy việc dạy

    biện pháp nhân hoá cho HS là rất quan trọng để giúp các em nắm chắc kiến thức

    về biện pháp nhân hoá qua đó cảm nhận được cái hay cái đẹp của biện pháp này

    trong các bài văn, bài thơ.

    + Do thời gian chương trình quy định nên số tiết luyện tập về biện pháp nhân

    hóa chưa nhiều.

    + Nguyên nhân nữa là do phương pháp dạy của giáo viên, khiến cho các em

    tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Giáo viên chưa khuyến khích học sinh.

    III. GIẢI PHÁP

    * Để giúp học sinh có kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa một

    cách có hiệu quả, khắc phục được những trạng trên, tôi đã thực hiện những

    giải pháp sau:

    1. Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm về nhân hóa

    *Khái niệm:

    Nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật…bằng những từ ngữ vốn

    được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật

    trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con

    người.

    Nhân hoá có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con

    người.

    Có thể nói thêm rằng:

    – Nhân hoá hay nhân cách hoá là một biến thế của ẩn dụ, ở đó người ta

    chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con người sang đối tượng

    không phải con người.

    – Có người cho nhân hoá thực ra là nhân vật hoá, tức là cách biến mọi vật

    thành nhân vật đối thoại hay như là một nhân vật của mình

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    * Đối với học sinh, tôi cho học sinh hiểu qua kết luận sau về khái niệm cơ

    bản về nhân hóa:

    – Nhân hóa là gọi hoặc tả về tính nết, hoạt động con vật, cây cối, đồ vật,…

    bằng những từ ngữ vốn dùng để gọi và tả người.

    2. Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa

    – Biện pháp nhân hoá là biện pháp tu từ rất quan trọng trong việc hình thành

    cho học sinh tiểu học tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh. Bởi vì

    nhân hoá có khả năng khắc học hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một

    hình thức miêu tả sinh động. Nhờ có nhân hóa mà các con vật, đồ vật, cây

    cối,…thân thuộc trong cuộc sống trở nên sống động, có hồn, có những đặc điểm

    và tính cách như con người, trở thành những người bạn tuổi thơ thân thiết của

    các em nhỏ. Nhân hóa được sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm văn thơ viết

    cho thiếu nhi. Nhân hóa góp phần phát triển năng lực cảm thụ văn học và khả

    năng tư duy hình tượng cho các em học sinh Tiểu học.

    3.Các cách nhân hoá:

    – Về mặt hình thức, nhân hoá có thể được tổ chức bằng cách:

    a.Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật:

    Dùng những từ vốn gọi người ( bác, anh, chị, nàng, cậu, chú,…) để gọi sự vật.

    Ví dụ:

    Ông trời nổi lửa đằng đông

    Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay

    Bố em xách điếu đi cày

    Mẹ em tát nước nắng đầy trong khau

    Cậu mèo đã dậy từ lâu

    Cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng

    Mụ gà cục tác như điên

    Làm thằng gà trống luyên thuyên một hồi.

    Cái na đã mở mắt rồi

    Đàn chuối đứng vỗ tay cười vui sao.

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Chị tre chải tóc bên ao

    Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương.

    Bác nồi đồng hỏt bựng bong

    Chị chổi loẹt quẹt, lom khom trong nhà.

    (Buổi sáng nhà em – Trần Đăng Khoa)

    – Trước hết GV cho HS tập hợp những danh từ (sự vật) chỉ quan hệ thân

    thuộc của con người như: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, cô, dì, chú, bác, thím,

    cậu, mợ, …

    – GV hướng dẫn HS nhận biết những danh từ (sự vật) chỉ quan hệ thân thuộc

    của con người trong nhóm trên khi đi với một danh từ chỉ con vật, đồ vật, sự vật

    tự nhiên thì con vật, đồ vật, sự vật tự nhiên đó đã được nhân hóa.

    Ví dụ: ông trời, bà mưa, chị gió, anh đom đóm, cô cò, thím vạc, bạn bút

    chì, em búp bê, … Trời, mưa, gió, … trong những cách dùng trên đã được nhân

    hóa .

    b. Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, đặc điểm của người để chỉ hoạt

    động,đặc điểm của vật:

    Ví dụ:

    Dùng các động từ thuộc về hoạt động, đặc điểm của con người để miêu tả

    con vật:

    “Con Ba Bớp vẫn phàm ăn, tục uống nhất, cứ thúc cái mõm xuống, ủi

    cả đất lên mà gặm. Bọt mép nó trào ra nom nó ăn đến là ngon lành. Con Hoa ở

    gần đấy cũng hùng hục ăn không kém… Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ,

    Cu Tũn dở hơi chốc lại chạy tới ăn tranh mảng cỏ của mẹ. Chị Vàng dịu dàng

    nhường cho nó và đi kiếm một bụi khác.”

    (Cỏ non – Hồ Phương)

    Với cách nhân hóa này GV giúp HS nhận biết nhân hóa theo cách dùng

    những từ ngữ tả sự vật bằng những từ ngữ tả người.

    – Trước hết GV cho HS tập hợp những động từ chỉ hoạt động của con người, tập

    hợp những tính từ chỉ tính chất, trạng thái của con người.

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    + Những từ chỉ hoạt động của con người như: thúc, ủi, ăn riêng, nhường

    +Những từ chỉ tính chất của con người như: phàm ăn, tục uống, ngon lành,

    hùng hục, dở hơi, dịu dàng

    – GV hướng dẫn HS những từ chỉ hoạt động, đặc điểm của con người được

    gán cho đối tượng không phải là người thì đối tượng đó đã được nhân hóa.

    c.Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người

    Coi các đối tượng không phải người mà như là người và tâm tình nói

    chuyện với chúng.

    Ví dụ:

    Trâu ơi, ta bảo trâu này!

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

    Cấy cày vốn nghiệp nông gia

    Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

    Ca dao

    Trò chuyện với sự vật, hô – gọi sự vật như trò chuyện với con người, hô gọi

    con người:

    Ví dụ:

    Trăng ơi… từ đâu đến?

    Hay từ một sân chơi

    Trăng bay như quả bóng

    Bạn nào đá lên trời.

    Trần Đăng Khoa

    d. Các nhân vật, sự vật tự xưng:

    Tớ là chiếc xe lu

    Người tớ to lù lù

    Con đường nào mới đắp

    Tớ lăn bằng tăm tắp.

    Trần Nguyên Đào

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Tớ là bèo lục bình

    Bứt khỏi sình đi dạo

    Dong mây trắng làm buồm

    Mượn trăng non làm giáo.

    Nguyễn Ngọc Oánh

    Có thể khái quát các cách nhân hóa bằng sơ đồ sau:

    Các cách nhân hóa

    Gọi sự vật bằng

    những từ ngữ

    dùng để gọi người

    Tả sự vật bằng

    những từ ngữ

    dùng để tả người

    Nói với sự vật

    thân mật như

    nói với người

    Các sự vật tự

    xưng

    Sau khi khái quát và củng cố cũng như khắc sâu kiến thức về biện pháp

    tu từ nhân hóa như đã nói ở trên tôi đã cho học sinh nắm vững và vận dụng ở

    các dạng bài tập sau :

    4. Nắm vững các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa

    4.1 Bài tập nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa.

    Hình thức của dạng bài tập này thường là nêu ngữ liệu qua đoạn văn, câu

    thơ, câu văn…trong đó có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, từ đó hiểu được

    nhân hóa là gì.

    Dạng bài tập này có thể chia thành các bài tập nhỏ như sau:

    a) Nhận diện (tìm) sự vật nhân hóa.

    Kiểu bài tập này học sinh bước đầu nắm được nhân hóa là biện pháp gắn

    cho đồ vậy, cây cối, con vật…những tình cảm, đặc điểm, tính chất con người,

    nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, sinh động. Đây là kiểu

    bài giúp học sinh bước đầu nắm được cấu trúc của biện pháp nhân hóa. Với yêu

    cầu tìm sự vật được nhân hóa. Những sự vật được đưa ra nhân hóa rất gần gũi,

    quen thuộc với các em, giúp các em dễ tưởng tượng hình ảnh của chúng.

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Ví dụ1: Bài 1 (Luyện từ và câu tuần 19), Sách Tiếng việt 3 tập 2

    Mặt trời gác núi

    Bóng tối lan dần

    Anh đóm chuyên cần

    Lên đèn đi gác.

    Theo làn gió mát

    Đóm đi rất êm

    Đi suốt một đêm

    Lo cho người ngủ.

    (Anh Đom Đóm – Võ Quảng)

    a. Con đom đóm được gọi bằng gì?

    b. Tính nết và hoạt động của đom đóm được tả bằng những từ ngữ nào?

    Ở dạng bài tập này giáo viên cần giúp học sinh nhận diện tìm ra sự vật được

    nhân hóa trong đoạn thơ đó là con đom đóm (sự vật được nhân hóa) được gọi

    tên rất thân mật (anh).

    Kiểu bài tập này là bước quan trọng giúp học sinh xác đinh rõ sự vật được

    nhân hóa trong câu thơ, câu văn…

    Ví dụ 2: Bài: Đồng hồ báo thức (Luyện từ và câu tuần 23) Sách Tiếng

    Việt lớp 3 (tập 2).

    Đồng hồ báo thức

    Bác kim giờ thận trọng

    Nhích từng li, từng li

    Anh kim phút lầm lỳ

    Đi từng bước, từng bước

    Bé kim giây tinh nghịch

    Chạy vút lên trước hàng

    Ba kim cùng tới đích

    Rung một hồi chuông vang

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Ở dạng bài tập này giáo viên cần giúp học sinh nhận diện tìm ra sự vật

    được nhân hóa trong đoạn thơ đó là mỗi bộ phận trong chiếc đồng hồ: Kim giờ,

    kim phút, kim giây (sự vật được nhân hóa) được gọi tên rất thân mật (bác, anh,

    bé).

    Kiểu bài tập này là bước quan trọng giúp học sinh xác đinh rõ sự vật được

    nhân hóa trong câu thơ, câu văn…

    b) Tìm từ ngữ thể hiện biện pháp nhân hóa:

    *Kiểu bài tập tìm các sự vật được nhân hóa

    Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường dùng từ nhân hóa như gọi

    tên các đồ vật, sự vật, loài vật những tự thân mật: Như bác (bác đồng hồ), anh

    (anh kim phút), bé (bé kim giây) hoặc các từ ngữ khác như: Tôi (Là bèo lục

    bình), tớ (là chiếc xe lu), chị (lúa), đàn cò (khiêng nắng), cô gió (chăn

    mây)….những từ ngữ đó giúp học sinh nhận ra sự phong phú, tinh tế của biện

    pháp tu từ nhân hóa.

    Ví dụ: Nhân hóa qua bài “Em thương” (SGK tiếng việt 3 trang 74 , tuần 27)

    Em thương

    Em thương làn gió mồ côi

    Không tìm thấy bạn, vào ngồi trong cây

    Em thương sợi nắng đông gầy

    Run run ngã giữa vườn cây cải ngồng.

    Nguyễn Ngọc Ký

    Trong bài thơ, làn gió và sợi nắng được nhân hóa nhờ những từ chỉ đặc

    điểm và hoạt động của con người. Em hãy tìm những từ ngữ ấy….

    *Kiểu bài tìm các sự vật nhân hóa với những đặc điểm riêng:

    Ví dụ: Bài: Đồng hồ báo thức (đã nêu ở trên).

    Những sự vật (Kim giờ, kim phút, kim giây) được nhân hóa bằng cách nào?

    Bác kim giờ….thận trọng…

    Anh kim phút….lầm lỳ…

    Bé kim giây tinh nghịch…

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Kiểu bài tập này giúp học sinh tìm ra cách nhân hóa sự vật qua đặc điểm

    của chúng. Các sự vật được gọi tên thân mật với những đặc điểm riêng của

    chúng: Kim giây quay rất nhanh (tinh nghịch), kim giờ (quay chậm) thận trọng…

    *Kiểu bài giúp học sinh nắm được 3 cách nhân hóa.

    Ví dụ: Bài 21 Nhân hóa “Ông trời bật lửa” (Luyện từ và câu tuần 21) Sách

    Tiếng Việt lớp 3 (tập 2).

    Đọc bài thơ sau:

    Chị mây vừa kéo đến

    Trăng sao trốn cả rồi

    Đất nóng lòng chờ đợi

    Xuống đi nào mưa ơi!

    Mưa! Mưa xuống thật rồi

    Đất hả hê uống nước

    Ông sấm vỗ tay cười

    Làm bé bừng tỉnh giấc.

    Chớp bỗng lòe chói mắt

    Soi sáng khắp ruộng vườn

    Ơ! Ông trời bật lửa

    Xem lúa vừa trổ bông.

    Đỗ Xuân Thanh

    -Trong bài thơ trên, những sự vật nào được nhân hóa? Chúng được nhân

    hóa bằng những cách nào?

    4.2. Dạng bài tập suy luận, phân tích.

    Đây là loại bài tập kích thích sự tưởng tượng, luôn sáng tạo cho học sinh

    cảm nhận được cái hay, cái đẹp của biện pháp nhân hóa.

    a.Trước hết phải nói rằng việc nhận biết tác dụng của biện pháp nhân hóa

    là học sinh cảm nhận được cái hay của hình tượng được nhân hóa. Kiểu bài này

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    mở ra cho học sinh có cách cảm thụ của riêng mình.

    Ví dụ 1: Đoạn thơ:

    “Những chị lúa phất phơ bím tóc

    Những cậu tre

    Bá vai nhau thì thầm đứng học

    Đàn cò áo trắng

    Khiêng nắng

    Qua sông……”

    (Tiếng việt 3, SGK trang 61 – tập 2)

    Trong những hình ảnh tả những sự vật được tả trong đoạn thơ trên cách

    gọi và tả chúng có gì hay? Em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao?

    Học sinh sẽ nêu được cụ thể các sự vật được miêu tả qua câu hỏi dẫn dắt

    của giáo viên, đồng thời mỗi học sinh sẽ tự đưa ra hình ảnh mình thích qua cảm

    nhận của riêng mình.

    4.3. Dạng bài tập tạo lời

    Với nội dung này, tạo lời không chỉ yêu cầu đúng mà còn yêu cầu hay. Để

    làm được điều đó ngoài việc nắm được thế nào là nhân hóa, các cách nhân hóa,

    học sing còn phải hiểu tác dụng của biện pháp nhân hóa, đòi hỏi người thực hiện

    phải hiểu biết rất nhiều về sự vật trong thế giới xung quanh. Do đó có thể hiểu

    “tạo lời” là một hoạt động thể hiện rõ nhất tính tích cực trong nhận thức của học

    sinh. Bởi tính phức tạp của nó nên bài tập “tạo lời” về nội dung nhân hóa được

    cấu tạo đơn giản, dể hiểu và có số lượng không nhiều. Loại này phân thành các

    dạng nhỏ sau:

    * Dạng 1 : Tìm những từ ngữ chỉ người, chỉ đặc điểm, dấu hiệu của con người,

    điền vào chỗ trống cho thích hợp nhằm diễn tả sự vật bằng cách nhân hóa.

    a) Vầng trăng…………………………………………………………………………………….

    b) Mặt trời…………………………………………………………………………………………

    c) Bông hoa……………………………………………………………………………………….

    d) Cổng trường………………………………………………………………………………….

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Đồng làng vương chút heo may

    Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim

    Hạt mưa mải miết trốn tìm

    Cây đào trước cửa lim dim mắt cười.

    Đỗ Quang Huỳnh

    b)

    Cơn giông như được báo trước rào rào kéo đến. Ngàn vạn lá gạo múa

    lên, reo lên. Chúng chào anh em của chúng lên đường…Cây gạo rất thảo và rất

    hiền, cứ đứng đó mà hát lên trong gió, góp với bốn phương kết quả dòng nhựa

    của mình.

    Vũ Tú Nam

    Những sự vật nào được nhân hóa? Tác giả đã nhân hóa các sự vật ấy bằng

    cách nào? Em thích hình ảnh nào? Vì sao?

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Bài tập 2

    – Viết đoạn văn ngắn (4 đến 5 câu) trong đó có sử dụng phép nhân hóa để

    miêu tả bầu trời buổi sớm hoặc một vườn cây.

    5. Hướng dẫn tổ chức dạy học các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân

    hóa.

    5.1.Cách rèn luyện cho học sinh khi học về dạng bài nhận diện.

    Việc tổ chức dạy học các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa ở lớp

    3 thông thường được thực hiện theo các trình tự:

    – Bước 1: Nhận diện bài tập.

    Một học sinh đọc thành tiếng toàn bộ bài tập, cả lớp vừa nghe vừa theo

    dõi bài tập trong sách giáo khoa để nhận diện ra hình ảnh nhân hóa, sự vật nhân

    hóa có trong câu văn, câu thơ.

    – Bước 2: Phân tích bài tập.

    Sau khi đã nhận ra hiện tượng hình ảnh nhân hóa có chứa trong câu văn

    câu thơ, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích một trường hợp để tìm ra các

    yêu cầu của bài tập.

    – Bước 3: Hướng dẫn bài làm.

    Học sinh sau khi đã tìm ra được dạng bài thì tự phân tích để hiểu bài tập

    rồi trình bày bài làm theo ý hiểu của mỗi học sinh.

    *Với 3 bước trên, tôi tiến hành hướng dẫn học sinh làm bài tập như sau:

    Ví dụ: Trong khổ thơ sau những sự vật nào được nhân hóa? Tác giả đã nhân

    hóa các sự vật ấy bằng cách nào?

    Đồng làng vương chút heo may

    Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim

    Hạt mưa mải miết trốn tìm

    Cây đào trước cửa lim dim mắt cười.

    Đỗ Quang Huỳnh

    Bước 1: Học sinh đọc và xác định mục đích yêu cầu của bài tập, mỗi bài tập

    đều thuộc một loại bài tập nhất định, học sinh cần tìm hiểu xem bài tập đang làm

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    Sáng kiến ” Một số biện pháp giúp học sinh nhận biết và sử dụng hiệu quả

    Biện pháp tu từ Nhân hóa trong Tiếng việt lớp 3″

    b) Từ ngữ thể hiện cách nhân hóa

    tỉnh giấc

    Hạt mưa

    mải miết, trốn tìm

    Cây đào

    lim dim, (mắt) cười

    * Ví dụ 2: Khi d¹y bµi “Nh©n ho¸” ( S¸ch TiÕng ViÖt 3 TËp 2 – Trang 8) tuÇn 19

    Mục tiêu: HS nhận biết dùng những từ ngữ vốn dùng để chỉ người gọi sự vật

    Bµi tËp : §äc hai khæ th¬ d­íi ®©y vµ tr¶ lêi c©u hái :

    MÆt trêi g¸c nói

    Theo lµn giã m¸t

    Bãng tèi lan dÇn

    §ãm ®i rÊt ªm

    Anh §ãm chuyªn cÇn

    §i suèt mét ®ªm

    Lªn ®Ìn ®i g¸c.

    Lo cho ng­êi ngñ.

    Võ Quảng

    a) Con ®om ®ãm ®­îc gäi bằng g×?

    b) TÝnh nÕt vµ ho¹t ®éng cña ®om ®ãm t¶ b”ng nh÷ng tõ ng÷ nµo?

    Bước 1: Nhận diện bài tập: GV cho học sinh đọc toàn bộ bài tập, cả lớp theo

    dõi SGK. Học sinh nắm được các sự vật được nhân hóa và các từ ngữ thể hiện

    biện pháp nhân hóa.

    Bước 2: Phân tích bài tập:

    – Hai khæ trªn nãi ®Õn con vËt nµo? (con ®om ®ãm)

    – Con ®om ®ãm ®­îc gäi b”ng g×?( b”ng “anh”)

    – Tõ nµo chØ tÝnh nÕt con ng­êi? (chuyªn cÇn)

    – Tõ chØ hoạt động cña con ng­êi? (lªn ®Ìn, ®i g¸c, ®i rÊt ªm, đi suốt đêm, lo.)

    Giáo viên: Phạm Thị Thu Hương – Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngữ Văn 6 Bài 22 Hướng Dẫn Tìm Hiểu Bài Nhân Hóa
  • Em Hãy Tả Lại Cái Trống Của Trường Em Và Cho Biết Cảm Xúc Của Em Khi Nghe Tiếng Trống Trường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Viết Cho Thiếu Nhi Ở Chương Trình Tiếng Việt Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Nuoi 2 Doc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Viết Cho Thiếu Nhi Ở Chương Trình Tiếng Việt Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Em Hãy Tả Lại Cái Trống Của Trường Em Và Cho Biết Cảm Xúc Của Em Khi Nghe Tiếng Trống Trường
  • Ngữ Văn 6 Bài 22 Hướng Dẫn Tìm Hiểu Bài Nhân Hóa
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Nhận Biết Và Sử Dụng Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Viết Một Đoạn Văn Khoảng 5 Đến 7 Dòng Miêu Tả Một Con Vật Mà Em Yêu Thích Có Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Và Gạch Chân Biện Pháp Nhân Hóa
  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Và Nhân Hóa
  • ủa con người để biểu thị thuộc tính của đối tượng không phảI là con người . Nhân hoá chỉ có thể được thể hiện trong ngữ cảnh nhất định . Nếu tách nó ra khỏi ngữ cảnh thì hiệu quả biểu đạt của nó sẽ không còn giá trị. Vì vậy, khi thống kê những nhân hoá trong các bài thơ tôi luôn xem xét trong mối quan hệ với những yếu tố ngữ cảnh. 1.2. Dựa vào tính có lí và hợp logic. Các tác giả nghiên cứu phong cách học cho rằng: Nhân hoá là một loại, hoặc biến thể của ẩn dụ. Về hình thức cấu tạo, nhân hoá cũng giống như ẩn dụ chỉ có một vế được phô bày, nó không gọi thẳng tên đối tượgn mà để người ta tự tìm đến đối tượng đó trong ngữ cảnh theo qui luật logic. Qúa trình liên tưởng đến đối tượng đó là phân tích logic để xác lập đối tượng miêu tả. 1.3. Về mặt nội dung, cơ sở Để tạo nên nhân hoá là sự liên tưởng, nhằm đi đến phát hiện ra những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phảI là người. ở đây đòi hỏi một sự quan sát tinh vi, một sự hiểu biết chính xác về những thuộc tính của con người cũng như những thuộc tính không phảI là của con người. Như vậy sự thống nhất giữa tính chính xác của việc rút ra nét cá biệt giống nhau và những nét khác biệt, tính bất ngờ của sự liên tưởng trong nhân hoá là căn cứ bình giá nó. Muốn bình giá giá trị nghệ thuật của nhân hoá phải đi từ nguyên tắc: Nhân hoá chính là sự chuyển trường nghĩa của các từ, các từ vốn manghĩa của một trường nghĩa nhất định, nay được chuyển sang một trường nghĩa khác, tạo nên một sự đối lập mới. Chính sự đối lập này tạo ra sự bất ngờ trong khi diễn tả các sự vật hiện tượng. Ví dụ: Gắn đặc tính của con người: siêng năng, cần cù, chịu khó, đùm bọc lẫn nhau, . Cho cây tre từ đó tạo ra sự đối lập, làm nên tính hấp dẫn, mới mẻ, lý thú. Khi đó có sự chuyển trường nghĩa: Từ trường nghĩa sự vật vô tri vô giác sang trường nghĩa con người. 2. Tiêu chí phân loại 2.1. Quan điểm phân loại nhân hoá có nhiều quan điểm khác nhau 2.1.1. Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn "99 phương tiện và biện pháp tu từ" (Nxb GD, 1999) đã tóm gọn nhân hoá trong hai hình thức cấu tạo: Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động cho đối tượng không phải là con người. Coi đối tượng không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện. Tác giả Phan Thị Thạch (Giáo trình phong cách học Tiếng Việt, Nxb Hà Nội, 1992) cùng tác giả nghiên cứu về phương pháp khác thì xét các kiểu nhân hoá của Tiếng Việt phân chia thành 3 kiểu: Có thể dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của con người để gán cho đối tượng không phải là con người: chạy, nhảy, khóc, vui, cười, Có thể dùng các từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc của con người để gọi tên các đối tượng không phải là người: ông, bà, chú, bác,. Coi sự vật không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng 2.1.3. Các tác giả: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Thị Tú, Nguyễn Thái Hoà trong cuốn "Phong cách học Tiếng Việt" (Nxb Hà Nội, 1982) thì lại cho rằng nhân hoá có thể tổ chức bằng hai cách: Dùng các tính từ miêu tả, các động từ hành vi của người khoác lên cho các đối tượng không phải là người. Coi các đối tượng không phải là người như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng. Trong khuôn khổ với mục đích của đề tài, theo tiêu chí phân loại của tác giả Phan Thị Thạch, tôi đi vào tìm hiểu ba loại nhân hoá - ba hình thức cấu tạo của nhân hoá. 2.2. Mặt khác trong quá trình nghiên cứu tôi thấy nhân hoá có thể được sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau: Cấp độ từ. Cấp độ câu. Cấp độ toàn văn bản. Vì vậy tôi cũng sẽ dựa vào cấp độ sử dụng biện pháp này dể phân loại. Mỗi nhân hoá khi sử dụng sẽ đạt một mục đích riêng, hiệu quả riêng và nhằm một ý dụng riêng. 2.2.1. Nhân hoá giúp người ta thể hiện tình cảm một cách tế nhị, tinh tế. Nhân hoá làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên, từ đó chúng trở thành người bạn của trẻ thơ, giúp trẻ dễ nhận biết thế giới xung quanh. Nhân hoá có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ 3. Khảo sát - thống kê - phân loại. Dựa vào cơ sở phát hiện và các tiêu chí trên tôi đã tiến hành khảo sát sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (2 tập) và thu được kết quả sau: 3.1: Các nhân hoá phân theo cấp độ Cấp độ nhân hoá Nhân hoá Cấp độ từ Cấp độ câu Cấp độ toàn V/bản Nhân hoá dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của người để gán cho các đối tượng không phải là người 29 V/ bản 19 V/ bản 1 V/ bản Nhâ hoá dùng các từ chỉ quan hệ thân thuộc của người để gọi tên các đối tượng không phải là người 4 V/ bản 7 V/ bản 4 V/ bản Coi các sự vật, hiện tượng không phải là người như con người, tâm tình, trò chuyện với chúng 0 11 V/ bản 1 V/ bản 3.2. Dựa vào các đối tượng nhân hoá có những loại nhỏ sau đây. Nhân hoá Đối tượng nhân hoá Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động Dùng từ chỉ quan hệ thân thuộc Tâm tình trò chuyện Tổng số Loài vật Sống trên trời 10 3 2 15 52 lượt = 36,8% Sống dưới nước 20 6 1 27 Sống trên mặt đất 8 2 10 Cây cối Cây lương thực 3 1 1 5 25 lượt = 17,7% Cây ăn quả 5 5 Cây công nghiệp 8 1 1 10 Hoa cây cảnh 5 5 Sự vật, hiện tượng tựnhiên 25 9 1 35 35lươt=24,8% Đồ vật 23 4 2 29 29 lượt=20,5% Nhận xét sơ bộ kết quả khảo sát. Qua kết quả thống kê trên ta thấy, nhân hoá là một biện pháp tu từ có vai trò không nhỏ trong tác phẩm nghệ thuật để diễn đạt nội dung tư tưởng của tác phẩm. Nhân hoá làm ngôn ngữ nghễ thuật giàu có phong phú, phù hợp với tư tưởng tình cảm của trẻ em. 3.3.1. Nhân hoá bằng cách dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của con người để gán cho các đối tượng không phải là con người được sử dụng nhiều nhất (chiếm 92 lần). Từ đó cho thấy sự gâng gũi, hoà hợp của tự nhiên với con người, của những vật thể tự nhiên với con người. Đối tượng nhân hoá trong các bài thơ phần lớn là các loài vật. Tôi thống kê có đến 53 lần con vật được nhân hoá. Bởi động vật là đối tượng gần gũi, gắn bó nhất với con người: Loài vật là đối tượng dễ dàng nhất để gắn cho chúng những hoạt động, tình cảm, tính chất như con người bằng trí tưởng tượng và óc hình dung và động vật cũng là đối tượng mà học sinh tiểu học dễ dàng nhận biết. 3.3.2. Nhân hoá bằng cách coi các sự vật không phải là con người để tâm tình trò chuyện với chúng chiếm một số lượng nhỏ (sử dụng 10 lần). Thực chất, nhân hoá sự vật như con người để tâm tình trò chuyện với chúng thì hiệu quả đạt được rất lớn, tuy nhiên lại đòi hỏi ở học sinh sự cảm thụ ở mức độ cao hơn, tinh tế hơn; hình thức để tâm sự giãi bày cũng không đa dạng phong phú. Do đó ít xuất hiện trong các bài thơ cho học sinh lớp 3. 3.3.3. Nhân hoá bằng cách sử dụng các từ chỉ quan hệ thân thuộc của người trong gia đình để gọi tên các đối tượng không phải là người chiếm con số trung gian (sử dụng 24 lần). Các bài thơ sử dụng nhân hoá này mục đích là làm cho các vật, sự vật trở nên gần gũi, thân thiết với con người hơn - mối quan hệ như là người thân trong gia đình. 4. Xử lý phân tích kết quả thống kê. 4.1. Dùng từ chỉ hoạt động, tính chất của người cho đối tượng không phải là người . Đây là dạng nhân hoá được sử dụng nhiều nhất trong các bài thơ ở lớp 3. Đối tượng nhân hoá rất đa dạng phong phú. Ví dụ: Gặp bạn cười hớn hở Đứa tay bắt mặt mừng Đứa ôm vai bá cổ Cặp sách đùa trên lưng. (Ngày khai trường - TV3, Tập 1) ở đây chiếc cặp - đồ vật vô tri vô giác được tác giả nhân hoá trở nên có tình cảm, có hành động như con người. Cặp như cũng biết vui chung với niềm vui của các bạn học sinh trong ngày khai trường. Cặp sách trở thành người bạn thân thiết, gắn bó với các cậu học sinh và cũng có những niềm vui, nỗi buồn cùng với các bạn nhỏ. Ví dụ: " Bác kim giờ thận trọng Nhích từng li, từng li Anh kim phút lầm lì Đi từng bước, từng bước Bé kim giây tinh nghịch Chạy vút lên hàng trước" (Đồng hồ báo thức - TV3 - T2) Chiếc đồng hồ luôn mang bên mình dòng chảy của thời gian để nhắc nhở mọi người về sự trôi đi nhanh chóng của thời gian tác giả đã nhân hoá các bộ phận của đồng hồ bằng các từ chỉ tính chất hoạt động để nhắc nhở các em biết quý trọng thời gian bởi thời gian trôi đi rất nhanh và không bao giờ trở lại. Bằng cấch sử dụng nhân hoá chúng ta cảm nhận được từng chiếc kim đồng Bên cạnh chức năng biểu cảm( thể hiện tâm tư tình cảm một cách kín đáo) thì nhân hoá còn thực hiện chức năng nhận thức. nhờ nhân hoá mà các đồ vật trở nên có tính người, có hoạt động, tính chất như con người, làm cho thế giới đồ vật sống động, hồn nhiên, từ đó trở thành bạn tâm tình của trẻ thơ giúp trẻ dễ hiểu và nhận biết các đồ vật. Loại đối tượng nhân hoá là cây cối rất phong phú đa dạng. Cây cối có thể là cây hoa, cây lương thực - cây cảnh , cây công nhgiệp,.....Nhân hoá đã biến các loại cây này từ trường hữu sinh nhưng vô tri vô giác trở thành có hành động như con người: Ví dụ: "Tre, trúc thổi nhạc sáo Cây rủ nhau thay áo Nấm mang ô đi hội" (Ngày hội rừng xanh - TV3 - T2, Tr 62) Ví dụ: " Rừng mơ thay áo mới Xúng xính hoa đón mời" (Đi hội chùa Hương - TV3 - T2, Tr 68) Ví dụ: "Đồng làng vương chút heo may. Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim" Đây là đối tượng chính được nhân hoá nhiều nhất bao gồm những con vật quen thuộc của làng quê Việt nam. Ví dụ : " Anh đóm chuyên cần Lên đèn đi gác..." (Anh đom đóm - TV3 - T1, Tr 143) " Đàn cò áo trắng Khiêng nắng Qua sông " (TV3 - T2, Tr 61) Đàn cò "mặc áo trắng" và biết khiêng như con người. Lại không phải khiêng một cái gì cụ thể mà là khiêng nắng, đàn cò khiêng nắng qua sông - một bức tranh thật đẹp với đầy đủ những cảnh sắc tạo nên sự mê hồn mà dễ hiểu. Đó là bức tranh với hình ảnh những cánh cò màu trắng nổi bật trên nền vàng của nắng và lấp lánh của dòng nước trên sông. Cảnh vật sinh động hấp dẫn và bình yên. "Mèo con đi học ban trưa Nón nan không đội trời mưa ào ào Hiên che không chịu nép vào Tối về sổ mũi còn gào meo, meo" (TV3 - T2, Tr 104) Mèo con trong bài thơ được nhân hoá, vừa được gọi là Mèo con thân thương gần gũi như một người bạn, vừa được cắp sách đi học và có hành động như một cậu học sinh. Nhưng Mèo con lại có tính chủ quan: không chịu đội nón đi học mặc dù là buổi trưa....do đó Mèo con bị ốm. Thông qua hình ảnh chú Mèo con ngộ nghĩnh, sinh động với những đặc điểm giống hệt trẻ thơ, bài htơ là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía: Các em phải biết bảo vệ sức khoẻ bản thân, đi học phải đội mũ nón ,không được chủ quan. " Chỉ thương bác ếch Lặn lội trong mưa Xem từng cụm lúa Phất cờ lên chưa" (Mưa - TV3 - T2, Tr 134) ếch - một loài động vật sống lưỡng cư được nhân hoá thành một người chăm chỉ cần cù, chịu thương chịu khó . Bác ếch lặn lội trong mưa, xem từng cụm lúa, đây là hình ảnh của một bác nông dân vất vả sớm hôm lo lắng, có trách nhiệm với công việc. Nhân hoá ở đây đã góp phần đề cao vai trò của người nông dân, từ đó ca ngợi người lao động chăm chỉ lương thiện. "Cua Càng đi hội Cõng nồi trên lưng Vừa đi vừa thổi Mùi xôi thơm lừng" (Cua Càng thổi xôi - TV3 - T2, Tr 140) Cua Càng là một cách gọi thân thương con cua được nhân hoá có các hành động như con người: đi hội, cõng, đi, thổi,...khiến con vật trở nên sinh động gần gũi với những đông tác như con người. Con cua trong thơ của tác giả Nguyễn Ngọc Phú lại hiện lên thật rực rỡ với màu áo đỏ và hình ảnh của sự chăm chỉ cần cù: "Con cua áo đỏ Cắt cỏ trên bờ" (Mè hoa lượn sóng - TV3 - T2, Tr 116) Tuy là đối tượng vô tri vô giác nhưng khi được nhân hoá chúng lại trở nên thật thi vị và đầy sức sống: "Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con" (TV3 - T1, Tr 43) "Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp núi ngồi vào đâu Muôn sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn" (Tiếng ru - TV3 - T1, Tr 65) "Chị Mây vừa kéo đến Trăng sao chốn cả rồi" (Ông trời bật lửa - TV3 - T2) "Mặt trời lật đật Chui vào trong mây" (Mưa - TV3 - T2, Tr 134) Nhân hoá bằng cách dùng từ chỉ hoạt động , tính chất của người gắn cho các đối tượng không phải là người, khiến cho người đọc như "nhìn thấy" một con người thật hiện ra trước mắt cùng với lời nói cử chỉ, hành động có tính chất con người. Từ đó các sự vật hiện tượngtrở nên gần gũi gắn bó với con người, thấu hiểu chia sẻ mọi buồn vui với con người. Người và vật trở thành bạn bè thân thiết.Cũng từ đó, sự vật, loài vật "sống" hơn , đẹp hơn trong con mắt trẻ thơ. 4.2. Dùng đại từ nhân xưng, cách xưng hô của con người cho đối tượng không phải là con người. "Tớ là chiếc xe lu Người tớ to lù lù Con đường nào mới đắp Tớ san bằng tăm tắp...." (TV3 - t2, Tr85) Chiếc xe lu - đồ vật vô tri vô giác được nhân hoá trở thành con người có nhiều phẩm chất đáng quý. Tác giả để chiếc xe lu tự kể với bản thân mình, xe lu xưng tớ - kể về mình, xe lu cũng như một con người bình thường với thân hình to lớn, cồng kềnh, cũng có cái bụng sôi vì đói,... xe lu có tính rất hồn nhiên, vui vẻ và tốt bụng. Từ hình ảnh xe lu, chúng ta liên tưởng tới những người làm đường đáng kính trọng. Bằng biện pháp nhân hoá, tác giả ca ngợi những người công nhân làm đường, những người lao động thầm lặng vì sự nghiệp của đất nước. " Tôi là bèo lục bình Bứt khỏi sình đi dạo Dong mây trắng làm buồm Mượn trăng non làm giáo" (TV3 - T2, Tr61) Bèo lục bình - Thực vật sinh sống trên mặt nước, được tác giả nhân hoá thành một chàng thanh niên khí phách, đi đây đi đó để khám phá cuộc sống. Chúng ta biết được điều đó là qua lời kể của nhân vật, nó phù hợp với đặc điểm thích khám phá những điều chưa biết của trẻ thơ. Bài thơ không chỉ giúp trẻ hiểu thêm về đặc điểm cuộc sống của vây bèo lục bình mà còn mở ra một sự tưởng tượng bất ngờ thú vị về những chuyến đi, về ước mơ khám phá, tìm hiểu cuộc sống. Không chỉ dùng các đại từ : tôi, tớ các tác giả khác còn cho các nhân vật được nhân hoá xưng bằng tên: "Mặt trời ửng hồng Bạn đi chơi hết Sao mai còn ngồi Làm bài mải miết" (TV3 - T2, Tr 142) Sao mai tên gọi cụ thể như một con người, sao mai chăm học và ngoan ngoãn. Mặc dù bạn đi chơi, chỉ có một mình ngồi học sao maicũng không sao nhãng, vẫn làm bài mải miết mà không bị bất cừ một rtác động nào . Hình ảnh sao mai là một tấm gương để mọi học sinh noi theo và cảm phục. Ngoài những ví dụ trên ta còn thấy sự kết hợp hài hoấcc dạng nhân hoá trong các bài thơ, đoạn thơ sau: "Những chị lúa phất phơ bím tóc. Những cậu tre bá vai nhau đứng học" Hay bài : Ông trời bật lửa Chị mây vừa kéo đến Trăng sao chốn cả rồi Đất nóng lòng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!. Chớp bỗng loè chói mắt Soi sáng khắp ruộng vườn Ơ ! Ông trời bật lửa Xem lúa vừa trổ bông" (TV3 - T2, Tr 26) Hay bài: Cua Càng thổi xôi, của tác giả Nguyễn Ngọc Phú: "Cua Càng đi hội Cõng nồi trên lưng Vừa đi vừa thổi Mùi xôi thơm lừng.... Dã tràng móm mém (Rụng hai chiếc răng) Khen xôi nấu dẻo Có công cua Càng" (TV3 - T2, Tr 141) 4.3. Coi đối tượng vô tri vô giác như con người để tâm tình, trò chuyện với chúng Là dạng nhân hoá chiếm số lượng không nhiều, tuy ít xuất hiện trong các bài thơ của chương trình sách giáo khoa TV3 nhưng không kém phần phong phú và đa dạng. "Rừng cọ ơi! rừng cọ! Lá đẹp lá ngời ngời Tôi yêu thương vẫn gọi Mặt trời xanh của tôi" (Mặt trời xanh của tôi -TV3 - T2, Tr 125) Rừng cọ được tác giả gọi như một người bạn, được yêu quí, được gọi là mặt trời xanh. Sự liên tưởng tương đồng đó giúp học sinh dễ hiểu hơn về lá cọ, về hình dáng màu sắc lá cọ. Rừng cọ đã trở thành người bạn thân thiết gắn liền với tuổi thơ của tác giả. "Chị mây vừa kéo đến Trăng sao trốn cả rồi Đất nóng lòng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!" (Ông trời bật lửa - TV3 - T2, Tr 26) "Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghê!" (Cái cầu - TV3 - T2, Tr 8) "Khói ơi vươn nhẹ lên mây Khói đừng bay quẩn làm cay mắt bà" (Khói chiều - TV3 - T2, Tr 75) Nhân hoá coi đối tượng không phải là người để tâm sự trò chuyện như với người giúp cho trể em cảm thấy gần gũi với thế giới sự vật, hiện tượng ở xung quanh, làm tăng thêm tình cảm từ giúp các em có thái độ và tình yêu với thế giới tự nhiên. Những lưu ý khi dạy học biện pháp tu từ nhân hoá. Từ phân tích kết quả thống kê trên tôi rút ra một số điểm lưu ý khi dạy học biện pháp tu từ nhân hoá cho học sinh lớp 3 như sau: Để học sinh nhận biết các biện pháp nhân hoá này giáo viên cần: Hướng dẫn các em xác dịnh rõ các sự vật, hiện tượng được nói đến trong câu thơ, đoạn thơ. Chỉ ra được các từ chỉ tính chất, hoạt động, (hoặc những đại từ, câu nói) có trong bài, giúp học sinh nắm được các từ đó thường dùng chỉ các tính chất, hoạt động của con người. Hướng dẫn để học sinh thay thế các từ chỉ tính chất trạng thái, hoạt động, (hoặc những đại từ, câu nói) bằng các từ thường dùng trong thực tế đối với các sự vật hiện tượng Hướng dẫn các em tìm ra cái "vô lí" đối với các sự vật, hiện tượng được nói đến trong câu thơ , đoạn thơ. Chính những từ ngữ "vô lí" đó là biện pháp tu từ nhân hoá đã được tác giả sử dụng trong khi miêu tả các sự vật, hiện tượng. Để học sinh cảm thụ tốt các câu thơ thông qua cách sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, giáo viên cần phải cho học sinh thấy được cái hợp lí khi tác giả áp dụng từng cách nhân hoá hợp. Nó phải có một nét tương đồng giữa sự vật, hiện tượng với những từ ngữ được dùng áp dụng cho sự vật hiện tượng đó. Học sinh cũng cần phải biết được nếu biện pháp nhân hoá đó mà tách ra khỏi ngữ cảnh trong văn bản thì nó sẽ không có nghĩa hoặc ít nghĩa biểu cảm đi. Chính vì vậy để học sinh hiểu rõ ý dụng của tác giả khi sử dụng nhân hoá thì các em phải nắm vững nôi dung của bài thơ. Từ việc nhận biết và cảm thụ các biện pháp nhân hoá ở trên sẽ giúp học sinh biết sử dụng biện pháp nhân hoá vào lời nói hoặc viết câu văn , đoạn văn. Khi đó giáo viên cần lưu ý cho học sinh tính hợp lý trong khi sử dụng nhân hoá đối với từng sự vật, hiện tượng, tránh việc sử dụng nhân hoá mà thiếu tính có lí và không có logic sẽ làm cho người đọc khó hiểu nội dung bài viết. Sau mỗi bài tập giáo viên cần chốt rõ đơn vị kiến thức này để học sinh nắm vững. 5. Tổ chức thực nghiệm. Cách tiến hành : Việc đầu tiên là tôi tổ chức củng cố lại cho giáo viên phần cở sở phát hiện, đánh giá và phân loại các biện pháp tu từ nhân hoá. Sau đó cùng các đồng chí giáo viên khảo sát - thống kê lại các biện pháp tu từ nhân hoá có trong các bài thơ được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt 3 và phân tích tác dụng của nhân hoá ở một số ví dụ ở mỗi dạng, rồi vạch ra những điểm cần lưu ý khi dạy phần kiến thức về nhân hoá. 5.2. Giáo viên áp dụng vào thực tế giảng dạy trên lớp Loại Khá: 3 tiết Kết quả khảo sát đối với học sinh là: Tổng số học sinh Giỏi Khá TB Yếu SL TL SL TL SL TL SL TL 61 em

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp Nuoi 2 Doc
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Công Tác Chủ Nhiệm Trong Trường Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Chủ Nhiệm Lớp, Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Trung Học Cơ Sở
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100