Top 7 # Cấu Tạo Và Chức Năng Hệ Hô Hấp Ở Người Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp?

Mũi:Là phần đầu của hệ hô hấp. Về giải phẫu mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi. Chức năng: Chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác.Những bệnh thường gặp : Viêm xoang , viêm mũi dị ứng, ngạt mũi, lệch vách ngăn mũi,…Hầu – họng:Là nơi giao nhau giữa đường ăn và đường thở chính vì vậy nơi này rất nhạy cảm và dễ mắc bệnh, họng chứa vòm họng và vòng bạch huyết các amidan…Chức năng: Là cửa ngõ quan trọng bảo vệ các tác nhân từ bên ngoài vào cơ thể, khi các bộ phận này bị viêm sẽ lây lan xuống thanh quản, phế quản…Các bệnh thường gặp:Họng là bộ phận nhạy cảm nhất, là nơi tiếp xúc nhiều nhất với các tác nhân gây bệnh, bảo vệ họng sẽ tránh được các bệnh về đường hô hấp Viêm họng hiện có nhiều dạng khác nhau, nguyên nhân, triệu chứng bệnh cũng khác nhau, Thông thường bệnh viêm họng sẽ được chia thành 2 dạng là viêm họng cấp và mãn tính. Trong viêm họng cấp thì lại bao gồm viêm họng đỏ, viêm họng trắng và viêm họng loét. Trong bệnh viêm họng mãn thì bao gồm viêm họng thể teo, viêm họng quá phát và viêm họng hạt.Thanh quản:Được cấu tạo bởi tổ chức sụn và sợi cơ ngoài ra có hệ thống mạch máu và thần kinh.Chức năng: Thanh quản có tác dụng chính là phát âm, lời nói phát ra do luồng không khí thở ra tác động lên các khối nếp thanh quản, sự căng và vị trí của các nếp thanh âm có ảnh hưởng đến tần số âm thanh.Nguyên nhân của ho và nấc: Ho là phản xạ hô hấp trong đó dây thanh môn đóng bất thì lình, mở ra dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi. Nấc là phản xạ hít vào trong đó 1 lượng gắn âm kiểu hít vào được phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.Những bệnh thường gặp: Viêm thanh quản, sơ dây thanh, bệnh dị tật, câm bẩm sinhKhí quản:Là một ống dẫn khí hình lăng trụ nối tiếp từ dưới thanh quản ngang mức đốt sống cổ 6 với hệ phế quản của phổi. Ở đoạn cuối nó phân chia làm 2 đoạn nối với 2 phế quản chính khí quản phải và trái. Ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5 nó thuộc hệ hô hấp dưới.Chức năng: Dẫn không khí vào ra, điều hòa lượng không khí đi vào phổi, làm tăng khả năng trao đổi khí ở phổi.Những bệnh thường gặp như: Chít hẹp khí quản, chèn ép khí quản do khối u khí quản,…Phế quản: Được chia làm 2 bên:Phế quản chính phải gồm: 10 phế quản phân thùy, chia ba nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới. Tương ứng với phổi phải có 3 thùy là: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới. Phế quản chính trái cũng gồm: 10 phế quản phân thùy, chia hai nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới, ứng với phổi trái có 2 thùy: thùy trên và thùy dưới.Chức năng: Phế quản nằm trong đường ống dẫn khí có nhiệm vụ đưa không khí lưu thông từ ngoài vào phế nang và ngược lại. Phế quản có hình như cành cây, có chi nhánh đến các thuỳ phổi.Những bệnh thường gặp như: viêm phế quản, giãn phế quản, hen phế quản u phế quản,…Hình ảnh: Giải phẫu phế quản và phổi.Phổi: Phổi của người bao gồm có 2 lá phổi, được cấu tạo bởi các thùy. Thông thường, phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Theo nghiên cứu khoa học và kiểm chứng thực tế, mỗi lá phổi có dung tích khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.Chức năng: Trao đổi khí oxy và CO2: Quá trình trao đổi khí này diễn ra trên toàn bộ mặt trong các phế quản và phế nang có niêm mạc bao phủ với lớp nhung mao rất mịn luôn rung chuyển để đưa các vật lạ ra ngoài. Song song với đó tế bào phổi còn có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nuôi mô. Chúng tạo nên một hàng rào ngăn nước và các phân tử protein đi quá nhiều vào mô kẽ ( tổ chức liên kết giữa màng phế nang và mao quản ), tham gia vào quá trình chuyển hóa và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp

Hệ hô hấp là một hệ cơ quan có chức năng trao đổi không khí diễn ra trên toàn bộ các bộ phận của cơ thể. Vậy nên bất kỳ một cơ quan nào có vấn đề sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình hô hấp, cũng như sức khỏe của mỗi người.

Việc hiểu về chức năng và cấu tạo của hệ hô hấp sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về đặc điểm của từng bộ phận, cùng cách nhận biết các bệnh thường gặp thuộc đường hô hấp. Từ đó có cách phòng, chữa bệnh hiệu quả, bảo vệ sức khỏe cho chính chúng ta.

Cấu tạo của hệ hô hấp

Hệ hô hấp trên được chia thành 2 phần lấy lắp thanh quản làm ranh giới bao gồm:

Hô hấp trên ( trên nắp Thanh quản ) gồm: Mũi, hầu, họng, xoang, thanh quản. Nhiệm vụ: Lấy không khí bên ngoài cơ thể, làm ẩm, sưởi ấm và lọc không khí trước khi đưa vào phổi. (Theo Wikipedia)

Hô hấp dưới (dưới nắp Thanh quản) gồm: Khí quản, cây phế quản, phế nang, màng phổi, phổi,…Nhiệm vụ Thực hiện lọc không khí và trao đổi khí.

Hình ảnh: Giải phẫu hệ hô hấp.

Cấu tạo và chức năng các bộ phận trong hệ hô hấp

1. Mũi

Là phần đầu của hệ hô hấp. Về giải phẫu mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi. Chức năng: Chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác.

➢ Những bệnh thường gặp: Viêm xoang , viêm mũi dị ứng, ngạt mũi, lệch vách ngăn mũi,…

2. Hầu – họng

Là nơi giao nhau giữa đường ăn và đường thở chính vì vậy nơi này rất nhạy cảm và dễ mắc bệnh, họng chứa vòm họng và vòng bạch huyết các amidan…

Chức năng: Là cửa ngõ quan trọng bảo vệ các tác nhân từ bên ngoài vào cơ thể, khi các bộ phận này bị viêm sẽ lây lan xuống thanh quản, phế quản…

Các bệnh thường gặp: Họng là bộ phận nhạy cảm nhất, nơi tiếp xúc nhiều nhất với các tác nhân gây bệnh, bảo vệ họng sẽ tránh được các bệnh về đường hô hấp.

➢ Viêm họng hiện có nhiều dạng khác nhau, nguyên nhân, triệu chứng bệnh cũng khác nhau. Thông thường bệnh viêm họng sẽ được chia thành 2 dạng là viêm họng cấp và mãn tính.

Trong đó, viêm họng cấp còn được chia làm viêm họng đỏ, viêm họng trắng và viêm họng loét. Còn với viêm họng mãn thì bao gồm viêm họng thể teo, viêm họng quá phát và viêm họng hạt.

3. Thanh quản

Được cấu tạo bởi tổ chức sụn và sợi cơ ngoài ra có hệ thống mạch máu và thần kinh.

➢ Chức năng: Thanh quản có tác dụng chính là phát âm, lời nói phát ra do luồng không khí thở ra tác động lên các khối nếp thanh quản, sự căng và vị trí của các nếp thanh âm có ảnh hưởng đến tần số âm thanh.

Nguyên nhân của ho và nấc: Ho là phản xạ hô hấp trong đó dây thanh môn đóng bất thì lình, mở ra dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi.

Nấc là phản xạ hít vào trong đó 1 lượng gắn âm kiểu hít vào được phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.

➢ Những bệnh thường gặp: Viêm thanh quản, sơ dây thanh, bệnh dị tật, câm bẩm sinh,…

4. Khí quản

Là một ống dẫn khí hình lăng trụ nối tiếp từ dưới thanh quản ngang mức đốt sống cổ 6 với hệ phế quản của phổi. Ở đoạn cuối nó phân chia làm 2 đoạn nối với 2 phế quản chính khí quản phải và trái. Ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5 nó thuộc hệ hô hấp dưới.

➢ Chức năng của khi quản: Dẫn không khí vào ra, điều hòa lượng không khí đi vào phổi, làm tăng khả năng trao đổi khí ở phổi.

➢ Những bệnh thường gặp ở khí quản: bao gồm Chít hẹp khí quản, chèn ép khí quản do khối u khí quản,…

Hình ảnh: Giải phẫu khí quản.

5. Phế quản

Được chia làm 2 bên:

➢ Phế quản chính phải gồm: 10 phế quản phân thùy, chia ba nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới. Tương ứng với phổi phải có 3 thùy là: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới.

➢ Phế quản chính trái cũng gồm: 10 phế quản phân thùy, chia hai nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới, ứng với phổi trái có 2 thùy: thùy trên và thùy dưới.

➢ Chức năng của phế quản: Phế quản nằm trong đường ống dẫn khí có nhiệm vụ đưa không khí lưu thông từ ngoài vào phế nang và ngược lại. Phế quản có hình như cành cây, có chi nhánh đến các thuỳ phổi.

➢ Những bệnh thường gặp: viêm phế quản, giãn phế quản, hen phế quản u phế quản,…

6. Phổi

Phổi của người bao gồm có 2 lá phổi, được cấu tạo bởi các thùy. Thông thường, phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Theo nghiên cứu khoa học và kiểm chứng thực tế, mỗi lá phổi có dung tích khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.

Hình ảnh giải phẫu phổi. 1. Khí quản 2. Phế quản chính 3. Đáy phổi 4. Khe chếch 5. Khe ngang đáy phổi.

➢ Chức năng của phổi: Trao đổi khí oxy và CO2. Quá trình trao đổi khí này diễn ra trên toàn bộ mặt trong các phế quản và phế nang có niêm mạc bao phủ với lớp nhung mao rất mịn luôn rung chuyển để đưa các vật lạ ra ngoài.

Song song với đó tế bào phổi còn có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nuôi mô. Chúng tạo nên một hàng rào ngăn nước và các phân tử protein đi quá nhiều vào mô kẽ ( tổ chức liên kết giữa màng phế nang và mao quản ). Tham gia vào quá trình chuyển hóa và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

➢ Những bệnh thường gặp ở phổi: Viêm phổi. u phổi, lao phổi,…

Tổng Quan Về Hệ Hô Hấp Ở Cơ Thể Người

Hô hấp là gì ? Sự hô hấp là một đặc trưng cơ bản của sinh vật. Ở động vật cao cấp như động vật có xương sống thì sự hô hấp là hai động tác hít vào và thở ra. Không khí từ bên ngoài vào phổi khi hít vào và ngược lại khi thở ra. Quá trình trao đổi khí giữa không khí và tế bào được thực hiện gián tiếp qua sự trao đổi khí và máu.Hệ hô hấp ở người Hệ thống dẫn khí:Khoang mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản. Hệ thống trao đổi khí giữa máu và không khí : Là phổi chứa các phế nang là nơi trao đổi khí giữa máu và không khí. Chức năng của hệ hô hấp: Chức năng của hệ hô hấp chủ yếu là trao đổi khí, hấp thụ oxi và thải khí cacbonic.

I. Khoang mũi Cấu tạo của mũi được chia làm 3 phần: Mũi ngoài, hốc mũi và các xoang mũi.1. Đặc điểm của hốc mũi: Mũi gồm hai hốc mũi, ngăn cách nhau bởi một vách đứng dọc ở giữa. Hốc mũi gồm 4 thành: trên, dưới, trong và ngoài.

Thành ngoài của hốc mũi có ba xương xoăn nhô ra như những mái hiên. Các xương xoăn mũi chia hốc mũi làm 3 ngách: – Ngách mũi dưới nằm dưới xương xoăn mũi dưới. – Ngách mũi giữa nằm dưới xương xoăn mũi dưới và giữa. – Ngách mũi trên nằm giữa xương xoăn mũi giữa và trên.

Ba ngách này thông với nhau bởi ngách mũi chung nằm ở vách ngăn chung của mũi và thông với các xoang ở xung quanh mặt (xoang trán, xoang hàm trên, xoang bướm, xoang sàng) và lớp niêm mạc của những xoang này cũng liên tiếp với niêm mạc mũi.

Tác dụng của những ngách mũi là làm tăng sự tiếp xúc của không khí với các mao mạch dày đặc của niêm m ạc mũi.2. Cấu tạo của lớp niêm mạc mũi: Niêm mạc hốc mũi được chia làm hai tầng: * Tầng trên: Phía trên xương xoăn mũi giữa. Tầng này có nhiều tế bào khứu giác để phân biệt mùi vị. * Tầng dưới: Niêm mạc tầng này gọi là tầng hô hấp, nó có đặc điểm – Được lát bởi biểu mô rung hình trụ nhiều tầng . – Có màu hồng vì có nhiểu mạch máu sưởi ấm không khí khi đi qua mũi – Không khí còn được làm ẩm khi đi qua các ngách ,vì ngách dưới thông với ống lệ tỵ – Khoang mũi còn có nhiều lông mũi và dịch nhầy làm sạch không khí.

II- HẦU.(xem: Hệ tiêu hoá)

III- THANH QUẢN. – Thanh quản vừa là một phần của đường hô hấp , vừa là cơ quan phát âm chính – Thanh quản được cấu tạo bởi các sụn, dây chằng và cơ. – Khung sụn của thanh quản khá phát triển, cơ có nhiệm vụ chuyển động khung sụn. Mặt trong khung sụn có niêm mạc che phủ. – Thanh quản nằm phía trước cổ, ngang các đốt sống cổ 4,5,6. ngay dưới xương móng.

1. Các sụn của thanh quản: có 9 sụn: 3 sụn lẻ và 3 đôi sụn:a. Sụn giáp: – Gồm hai mảnh sụn hình tứ giác tiếp với nhau phía trước theo một góc 90độ, chỗ tiếp ráp có thể sờ thấy dưới da – Bốn góc sụn có bốn sừng: hai sừng trên to tiếp với xương móng; hai sừng dưới nhỏ tiếp với sụn nhẫn.b. Sụn nhẫn: Có hình giống một cái nhẫn. – Phần dày của sụn hướng về sau gọi là mặt nhẫn – Phần hẹp (cung) hướng về phía trước – Ở bờ trên của bản sụn có hai diện khớp với hai sụn phễuc. Sụn phễu: Tương tự hình tháp ba mặt, một đáy, một đỉnh – Nền của sụn tiếp với diện khớp của bờ trên sụn nhẫn , ở đáy có hai mỏm nhô ra: một mỏm hướng ra trước gọi là mỏm thanh âm ; một mỏm hướng ra ngoài hơi ra sau gọi là mỏm cơ. – Ở đỉnh sụn có sụn sừng đính vàod. Sụn sừng: Ngồi trên đỉnh sụn phễu và có hình nón.e. Sụn vừng: Nằm ở phía trong của dây chằng, căng từ sụn phễu tới sụn nắp thanh quản.f. Sụn thanh thiệt( nắp thanh quản) Có hình dáng giống một cái lá , phần trên rộng , phần dưới hẹp đính vào góc trong sụn giáp. Sụn có hai mặt: Mặt trước hướng về phía lưỡi , mặt sau hướng vào lòng thanh quản.

2. Cấu tạo bên trong của thanh quản:

– Mặt trong của thanh quản có lớp niêm mạc che phủ – Dưới lớp niêm mạc có một lớp tổ chức chun chạy theo hướng dọc từ góc sụn giáp tới mỏm thanh âm của sụn phễu , tham gia cấu tạo nên dây thanh âm , gồm hai đôi dây : đôi dây thanh âm trên ( còn gọi là dây chằng tiền đình) và đôi dây thanh âm dưới (đôi này mới trực tiếp phát âm nên gọi là đôi dây thanh âm thật) – Các dây thanh âm đều có niêm mạc che phủ tạo thành các nếp thanh âm: + Nếp trên là nếp tiền đình (nếp thanh thất) do niêm mạc phủ lên dây thanh âm trên + Nếp dưới là nếp thanh âm do niêm mạc phủ lên dây thanh âm dưới – Hai nếp này chia thanh quản làm 3 khoang: + Khoang trên là khoang tiền đình, ở giữa hai nếp tiền đình, loe như miệng phễu , trước là sụn thanh thiệt, sau thông với hầu + Khoang thanh môn (buồng thanh quản): Nằm ở giữa nếp thanh âm và nếp tiền đình, giữ vai trò như một bộ máy cộng hưởng. + Khoang dưới là khoang dưới thanh môn: nằm ở phía dưới hai nếp thanh âm , thông với khí quản – Giữa hai nếp tiền đình là khe tiền đình – Giữa hai nếp thanh âm (phải và trái) có khe thanh môn. Khi không khí trong cơ thể đi qua khe thanh môn làm cho dây thanh âm chấn động từ đó phát ra âm thanh.

3. Các cơ thanh quản:

Là tổ chức cơ vân, gồm hai nhóm: nhóm ngoài và nhóm trong.a. Nhóm ngoài: – Các cơ : ức-giáp; giáp-móng , có tác dụng nâng và hạ thanh quản – Cơ nhẫn giáp : Từ bờ trên cung sụn nhẫn tới bờ dưới mảnh bên sụn giáp có tác dụng làm nghiêng sụn giáp và kéo căng dây thanh âm

b. Nhóm trong: – Cơ nhẫn phễu sau: Từ mặt sau sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu: làm mở thanh môn – Cơ nhẫn phễu bên: Từ bờ cung trên sụn nhẫn tới mỏm cơ sụn phễu: làm khép thanh môn – Cơ giáp -phễu: Từ sụn giáp đến sụn phễu: làm khép thanh môn – Các cơ liên phễu ngang, liên phễu chéo làm khép thanh môn

IV- KHÍ QUẢN

* Vị trí: – Khí quản nằm trước thực quản – Đầu trên khí quản nối với sụn nhẫn bởi dây chằng ở đoạn đốt sống cổ 6,7 – Phía dưới ngang mức đốt ngực 4,5 .

* Cấu tạo:

– Khí quản là một ống sụn dài từ 11-13cm , được cấu tạo bởi 16-20 vòng sụn trong, hình móng ngựa hở ở phía sau và được che kín bởi một màng tổ chức liên kết. Các sụn của khí quản được nối với nhau bởi một loại dây chằng vòng , tạo nên sự liên kết đàn hồi. Sụn khí quản có tácdụng chống đỡ duy trì đường hô hấp luôn trong trạng thái mở để quá trình hô hấp được tiến hành bình thường. Tổ chức liên kết phía sau khí quản là cơ trơn và các mô liên kết tạo thành Vì khí quản nằm ở cả đoạn cổ và đoạn ngực nên người ta chia làm hai đoạn : đoạn cổ và đoạn ngực.

– Mặt trong khí quản có niêm mạc che phủ. Lớp này có chứa các hạch tổ chức limphô riêng rẽ và được lợp bởi một lớp biểu mô rung có khả năng chuyển động từ trong ra ngoài.

V- PHẾ QUẢN: – Gồm phế quản gốc phải và phế quản gốc trái , được tách ra từ khí quản ở ngang mức đốt sống ngực 4, 5; Hai phế quản tạo với nhau một góc 70độ: phế quản gốc phải ngắn và to hơn phế quản gốc trái – Phế quản gốc phải và trái gọi là phế quản cấp I đi đến vùng rốn phổi thì phân thành phế quản cấp II chui vào trong các thuỳ phổi. Sau đó phế quản cấp II lại tiếp tục phân chia thành các phế quản nhỏ hơn, đường kính giảm dần theo mức độ phân chia. Trải qua khoảng 23 lần phân chia theo cấp số nhân thì tạo thành phế quản nhỏ nhất có đường kính khoảng 1mm gọi là tiểu phế quản (hay phế quản tiểu thuỳ). Toàn bộ phế quản gốc và sự phân chia của nó gọi là cây phế quản – Cấu tạo của thành phế quản cũng giống như khí quản. Chúng gồm những nửa vòng sụn trong nhưng khác ở chỗ là các phế quản càng nhỏ thì phần sụn càng ít đi và khi thành các phế quản nhỏ nhất thì không còn vết tích của sụn nữa. – Mặt trong của các phế quản được phủ một lớp niêm mạc. Niêm mạc này cũng được lợp bởi biểu mô rung nhiều tầng.

VI- PHỔI:

1- Vị trí: Gồm hai lá phổi phải và trái nằm hai bên trung thất

2- Cấu tạo đại thể của phổi: Phổi có hình nón cụt có 3 mặt, 3 bờ và một đỉnh. Phổi phải và phổi trái không giống nhau về hình thể và kích thước: phổi phải ngắn và rộng hơn; phổi trái dài và hẹp hơn. a. Các mặt của phổi: * Mặt ngoài (mặt sườn): Có các ấn sườn * Mặt trong (mặt trung thất): Có rốn phổi, phế quản, mạch máu, bạch huyết, thần kinh. Các phần này họp lại thành cuống phổi. Mặt trung thất có các vết lõm tương ứng với tim, gọi là hố tim (hố trái sâu hơn vì tim lệch sang trái) * Mặt hoành: Hướng về phía cơ hoành, có các vết lõm tương ứng với vòm hoành phải và trái. b. Các bờ của phổi: * Bờ trước: Nằm ở phía trước, ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất * Bờ sau: Chạy dọc theo cột sống ngăn cách mặt sườn với mặt trung thất ở phía sau * Bờ dưới: Nằm giữa một bên là mặt sườn với mặt hoành, và mặt hoành với mặt trung thất. c. Các thuỳ của phổi: Trên mặt phổi có các rãnh ăn sâu chia phổi ra thành các thuỳ + Phổi trái có một rãnh(khe) chếch từ trên xuống dưới ,từ sau ra trước chia nó ra làm hai thuỳ: trên và dưới + Phổi phải cũng có một khe chạy giống như phổi trái và một khe chạy ngang từ giữa của khe này ,ra trước dọc bờ sụn sườn VI, chia phổi phải ra 3 thuỳ: trên, giữa và dưới d. Đỉnh phổi: Là phần phổi thò lên lỗ trên của lồng ngực 3-4cm trên xương sườn I3. Cấu tạo vi thể của phổi:

– Mỗi thuỳ phổi lại phân thành các tiểu thuỳ phổi, mỗi tiểu thuỳ là một đơn vị phổi, giữa các tiểu thuỳ đều có mạch máu , thần kinh, mạch bạch huyết – Các tiểu thuỳ nằm sát mặt phổi có hình tháp, đỉnh hướng vào trong, nếu ở sâu thì có hình đa giác. Đi vào trong tiểu thuỳ phổi là các tiểu phế quản, khi vào trong các tiểu thuỳ, các tiểu phế quản phân đôi 5-6 lần thành 12-18 nhánh nhỏ hơn gọi là tiểu phế quản tận cùng ( có đường kính 0,5mm). Thành của các tiểu phế quản tận cùng có các nang túi, ở trong mỗi nang túi các tiểu phế quản tận cùng phân ra thành các tiểu phế quản phế nang (hay tiểu phế quản hô hấp). Các tiểu phế quản phế nang lại phân thành các ống phế nang. Mỗi ống phế nang lại gồm hai túi phế nang. Thành của ống và túi phế nang rỗng có hình như tổ ong gọi là phế nang. – Từ tiểu phế quản hô hấp đến phế nang đều có thể tiến hành trao đổi khí, đây được gọi là phần hô hấp.

Trong phần hô hấp thì phế nang là nơi trao đổi khí chủ yếu – Đường kính của mỗi phế nang khoảng 0,2 mm – Diện tích của mỗi phế nang khoảng 0,125 mm2 Ở người có chừng 500- 700 triệu phế nang với tổng diện tích lên tới 72-100 m2.* Cấu tạo của phế nang: – Thành của phế nang là một màng rất mỏng có các sợi chun, làm cho phế nang có tính đàn hồi – Mặt trong có biểu mô một tầng lát kín. – Bao quanh và sát thành phế nang là một lưới mao mạch dầy và mau.

4. Sự trao đổi khí ở phế nang: -Giữa mao mạch và phế nang có một màng mỏng ngăn cách được gọi là màng hô hấp.Tại màng hô hấp sẽ xảy ra quá trình trao đổi khí O2 và CO2 giữa phế nang và máu – O2 của không khí thấm qua thành phế nang,màng hô hấp và thành mao mạch vào máu còn CO2 thì từ máu thấm qua thành mao mạch, màng hô hấp và thành phế nang vào phế nang5. Màng phổi (phế mạc): Gồm hai lá: * Lá tạng: Bọc sát phổi trừ rốn phổi,ở rốn lá tạng quặt lại liên tiếp với lá thành * Lá thành: Dán vào mặt trong lồng ngực Giữa hai lá một khoang có áp suất âm,trong khoang có dịch thanh mạc làm giảm ma sát giữa hai lá khi thở

6.Mạch máu và thần kinh của phổi:a. Mạch máu của phổi – Đi vào mỗi phổi là một nhánh của động mạch phổi. Động mạch này mang máu từ tâm thất phải tới phổi, máu này là máu tĩnh mạch có nhiệm vụ trao đổi khí. Động mạch phổi đi vào rốn phổi phân nhánh cuối cùng tạo thành mạng mao mạch bao quanh các phế nang tiến hành trao đổi khí, thải CO2 và nhận O2 làm cho máu tĩnh mạch thành máu động mạch rồi qua tĩnh mạch phổi đổ vào tâm nhĩ trái.Từ mỗi phổi đi ra có hai tĩnh mạch phổi, cả bốn tĩnh mạch phổi của hai lá cùng đổ về tâm nhĩ trái của tim – Đi vào mỗi phổi còn có nhánh của động mạch phế quản. Động mạch này đi vào phổi phân nhánh đi tới mạng mao mạch để cung cấp chất dinh dưỡng cho phổi rồi chuyển thành tĩnh mạch phế nang đổ vào tâm nhĩ phải – Như vậy mạch máu phổi có khác so với các mạch máu khác là: Động mạch phổi mang máu tĩnh mạch còn tĩnh mạch phổi mang máu động mạch

b.Thần kinh của phổi: – Phổi được chi phối bởi các nhánh của thần kinh phế vị và thần kinh giao cảm.

VII- TRUNG THẤT

Là một khoang nằm giữa hai lá phổi , giới hạn bởi: – Trước là xương ức – Sau là cột sống – Trên là lỗ ngực trên – Hai bên là màng phổi mặt trung thất – Dưới là cơ hoành Trong trung thất có chứa nhiều bộ phận như tim, tuyến ức , các mạch máu lớn, khí quản, phế quản, thực quản, thần kinh

VIII. ẢNH HƯỞNG CỦA LUYỆN TẬP THỂ THAO ĐỐI VỚI HỆ HÔ HẤP.

Ảnh hưởng của luyện tập thể thao đối với hệ hô hấp chủ yếu biểu hiện đối với phổi. Qua thí nghiệm của động vật cho thấy: 1. Khi cường độ vận động tăng dần, hình dạng phế nang thay đổi từ bình thường đến to dần cho tới khi bị phá vỡ và cuối cùng mất đi. Sự thay đổi này làm giảm chức năng trao đổi khí và lọc khí. 2. Khi cường độ vận động tăng lên, màng hô hấp dày lên sau đó lại mỏng đi và bị phá vỡ. Sự thay đổi này làm giảm khả năng hô hấp của màng hô hấp. 3. Khi cường độ vận động tăng lên, phế nang xuất hiện nhiều lỗ và to ra điều này chứng tỏ đường hô hấp bị viêm nhiễm và màng hô hấp bị phù lên khi phế nang đón khí vào. 4. Khi cường độ vận động tăng lên, tế bào hình cầu và tế bào diệt khuẩn trong phế nang tăng lên. Như vậy luyện tập thể thao có tác dụng tốt đối với hệ hô hấp, nhất là đối với phổi chỉ khi với liều lượng và cường độ phù hợp

§ 3. Kiểm Tra Chức Năng Hệ Hô Hấp

§ 3. KIỂM TRA CHỨC NĂNG HỆ HÔ HẤP

1. Đặc điểm trạng thái chức năng hệ hô hấp của vậ động viên :

Hệ hô hấp thực hiện chức năng trao đổi khí thông qua 2 quá trình : Hô hấp trong và

hô hấp ngoài. Quá trình hô hấp ngoài diễn ra tại các phế nang, thực hiện quá trình hấp thụ ô xy vào máu và đào thải khí C0 2 ra môi trường bên ngoài. 0xy và Cacbonic được vận chuyển trong máu nhờ sự kết hợp với Hemoglobin tạo thành oxyhemoglobin hay cacbohemoglobin của hồng cầu. Cơ chế của sự trao đổi khí là do có sự chênh lệch về phân áp 0xy và phân áp Cacbonic giữa máu và không khí phế nang. Hô hấp trong diễn ra giữa máu và các tế bào của tổ chức, thực hiện quá trình tiếp nhận C0 2vào máu và cung cấp cho tế bào 0xy. Cùng với hệ tuần hoàn và máu hệ hô hấp tạo nên hệthốngcungứng0xy cho cơ thể.

Cấu tạo của hệ hô hấp ngoài bao gồm khung xương lồng ngực với màng phổi, 2 lá phổi, đường dẫn khí và các cơ hô hấp.

Chức năng của hệ hô hấp mang đặc thù cá thể và phụ thuộc vào các yếu tố : Tuổi, giới tính và quá trình rèn luyện thể chất. Trao đổi khí ở phổi phụ thuộc vào

tần số hô hấp, độ sâu hô hấp, thông khí phổi, đàn tính của phế nang và khả năng

trao đổi chất của phế nang.

Hoạt động thể chất một cách hệ thống có ảnh hưởng dương tính rất lớn đến chức năng của bộ máy hô hấp. Trong thể thao, hoạt động sức bền sẽ tạo nên những

biến đổi chức năng rõ nét hơn hẳn so với những hoạt động sức mạnh – tốc độ.

Những biến đổi chức năng được biểu hiện như sau :

– Độ linh hoạt của khung lồng ngực tăng làm tăng áp xuất âm trong lồng ngực và tăng thể tích lồng ngực là do trong hoạt động, các cơ hô hấp (cơ hoành, cơ liên sườn, cơ gian sườn trong, cơ gian sườn ngoài, cơ ngực lớn, cơ ngực bé, cơ răng, cơ thang) phát triển, đồng thời độ linh hoạt của khớp xương sườn với xương ức và đời sống cũng tăng. Sự biến đổi lớn nhất xảy ra với cơ hoành – biên độ hoạt động của cơ hoành tăng làm tăng “độ sâu” hô hấp và tăng cường thở hỗn hợp giữa thở ngực và thở bụng.

– Tần số hô hấp trong yên tĩnh giảm tới 12 – 13 lần/phút. Sự biến đổi này diễn ra do nhiều nguyên nhân : Do tính hưng phấn trội của hệ phó giao cảm, do quá trình trao đổi 0 2 ở tổ chức và tế bào của vận động viên xảy ra lớn hơn vì thế nhu cầu 0 2 giảm trong yên tĩnh ; do độ sâu hô hấp tăng làm tăng thể tích khí lưu thông dẫn đến giảm tần số hô hấp vẫn đảm bảo ổn định lượng thông khí phổi.

– Số lượng phế nang tham gia hoạt động trao đổi khí tăng. Bình thường ở người khoẻ mạnh số lượng phế nang tham gia hô hấp chỉ chiếm 60%, còn đối với vận động viên chỉ số này đạt tới 70 – 80%.

– Khả năng hấp thụ 0 2 tăng. Khả năng hấp thụ 0 2 là năng lực tiếp nhận 0 2 được đo bằng tỷ lệ chênh lệch giữa 0 2ở khí hít vào và khí thở ra, khả năng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố (phổi, tim mạch, máu) và thay đổi phụ thuộc vào nhu cầu 0 2 của cơ thể. Vo 2 max tăng từ 2 – 2,5 lít/phút đến 4 lít/phút ở vận động viên.

2. Các phương pháp kiểm tra chức năng hệ hô hấp :

Để đánh giá chức năng hệ hô hấp người ta sử dụng các nhóm phương pháp sau : phương pháp kiểm tra y học lâm sàng, phương pháp sử dụng Test chức năng và phương pháp cận lâm sàng.

2.1.Phươngphápkiểmtrayhọclâm sàng:

Đây là những phương pháp kinh điển, bắt buộc khi tiến hành kiểm tra chức năng của hệ hô hấp cũng như các cơ quan khác trong cơ thể, đặc biệt với kiểm tra

bước đầu. Kiểm tra y học lâm sàng là nội dung kiểm tra được tiến hành đầu tiên

trong trạng thái yên tĩnh. Các phương pháp được tiến hành theo trình tự : thẩm vấn, quan sát, sờ nắn, phương pháp gõ và phương pháp nghe.

2.1.1.Phươngphápthẩmvấn:

Việc thẩm vấn được tiến hành theo 3 nội dung cơ bản : Thẩm vấn lý lịch với các nội dung họ, tên, tuổi, giới tính, dân tộc, trình dodọ văn hoá, nơi cư trú, nghề

nghiệp.

Thẩm vấn y học cần làm rõ các bệnh, các chấn thương và đường hô hấp đã mắc phải phương pháp điều trị, thời gian và mức độ tiến triển của bệnh, các bệnh di truyền, lây trong gia đình dòng họ.

Thẩm vấn lý lịch thể thao. Nội dung thẩm vấn bao gồm : Năm bắt đầu tập luyện, môn thể thao chuyên sâu, thành tích, đẳng cấp đã đạt, cảm giác chủ quan về tình trạng sức khoẻ khi tập luyện như cảm giác đau vùng ngực, cảm giác ngạt thở, khó thở, tức ngực, rối loạn nhịp hô hấp. điều này cho phép sơ bộ, tổng quát đánh giá chức năng hệ hô hấp và định hướng cho việc đưa ra các chỉ định chẩn đoán tiếp theo.

2.1.2.Phươngphápquansát:

Để bổ sung cho kết quả đánh giá chức năng hệ hô hấp, phương pháp quan sát cần thực hiện các nội dung sau : Quan sát dáng ngực, quan sát màu da và niêm mạc, quan sát nhịp thở và độ sâu hô hấp.Quan sát tổng thể quan sát đối xứng .

Ngoài việc xác định tần số hô hấp, phương pháp sờ nắn được sử dụng như

một phương pháp bổ sung khi thẩm vấn hay quan sát có những điểm nghi vấn cần xác định rõ như : trong lý lịch có tổn thương vùng ngực, hay nghi vấn có khối u chìm , các vết gãy xương cũ.

Xác định tần số và nhịp hô hấp có thể được tiến hành theo các phương pháp quan sát, nghe và sờ nắn. Phương pháp sờ nắn xác định tần số và nhịp hô hấp được

tiến hành trong tư thế nằm ngửa của người được kiểm tra. Người kiểm tra đặt nhẹ

lòng bàn tay lên khu vực phía dưới xương ức để xác định.

2.1.4.Phươngphápgõ:

Cơ sở của phương pháp là nghe âm phản hồi khi tác động lên thành lồng

Trong quá trình hô hấp có sự trao đổi, lưu thông khí từ ngoài vào phế nang

và ngược lại. Đâylà phương pháp chủ yếu được sử dụng trong việc đánh giá độ thông đường hô hấp hay viêm nhiễm, tràn dịch của màng phổi. Phương pháp nghe cho phép phát hiện những biến đổi trong phổi như : Viêm phổi và trong đường hô hấp như các bệnh viêm phế quản, thanh quản …. Dựa trên cơ sở âm nghe được đó là các tiếng ran phổi, ran khô và ran ướt.

Dụng cụ được sử dụng ngày nay thông thường là ống nghe mềm.

2.2.Cácthửnghiệmchứcnănghệhôhấp:

Đặc điểm chuyên biệt trong kiểm tra chức năng của hệ hô hấp cũng như các cơ quan và hệ cơ quan khác đối với những người tham gia tập luyện thể dục thể thao là việc ứng dụng các Test chức năng. Các thử nghiệm thường được sử dụng là

: thử nghiệm Rozeltal, Test dung tích sống và dung tích sống đột ngột, Test đo

V0 2 max, Test đo áp lực phổi, thử nghiệm nín thở Gentri, Test đo hệ số hấp thụ 0xy.

Tuy các thử nghiệm nêu trên không có nhiệm vụ vận động, nhưng vẫn có thể

coi đó là những Test vận động vì Test được sử dụng để đánh giá hiệu quả của quá

Dung tích sống là thể tích không khí tối đa mà người lập Test thổi ra được

một cách gắng sức sau khi đã hít vào tối đa. Thành phần của dung tích sống bao gồm : thể tích khí lưu thông, thể tích khí dự trữ hít vào, và thể tích khí dự trữ thở ra.

Dụng cụ đo dung tích sống là phế dung kế nước, phế dung kế khô hay phép

ghi kế dung đồ. Ngày nay các máy đo phế dung điện tử đã ra đời được thay thế dần dần cho các loại phế dung kế trên.

Phương pháp đo dung tích sống – người lập Test trong tư thế đứng, sau khi đã hít vào gắng sức, miệng ngậm đầu ống đo của máy ,thổi từ từ, gắng sức tối đa

vào máy, chỉ số thu được là lượng dung tích sống tuyệt đối. Đây là chỉ số quan

trọng để đánh giá chức năng hô hấp, song chỉ số tuyệt đối còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố hình thể. Vì vậy muốn đánh giá cần phải so sánh với “dung tích sống cần” có của chính người được kiểm tra.

Trong y học thể thao để xác định dung tích sống cần, sử dụng công thức của

Balduin, Karman và Ritrard. Công thức có dạng như sau : DTS (cần) = (27,63 – 0,112 x T) x h (đối với Nam) DTS (cần) = (21,78 – 0,101 x T) x h (đối với Nữ) Trong đó T :tuổi (năm), h : chiều cao (cm)

Trong điều kiện người bình thường tỷ lệ

DTS DTS (cần)

không vượt quá 90%, còn ở các VĐV thì tỷ lệ này thường đạt trên 100%.Trong thực tiễn thể thao người ta thường sử dụng lượng dung tích sống tương đối để đánh giá chức năng hệ hô hấp. Dung tích sống tương đối được tính bằng cách chia dung tích sống cho trọng lượng cơ thể.

Dung tích sống đột ngột là lượng không khí thổi ra đột ngột, gắng sức trong

thời gian 1 giây sau khi đã hít vào tối đa. Dụng cụ sử dụng cũng là máy đo phế dung kế và phương pháp đo không có sự khác biệt đáng kể so với đo dung tích sống.

Kết quả dung tích sống đột ngột cho phép đánh giá độ thông của đường hô hấp, lực tham gia của các cơ hô hấp và trương lực của phế nang.

Kết quả được đánh giá theo tỷ lệ phần trăm so với dung tích sống tuyệt đối. Nếu đạt 80% là trung bình, trên 80% là tốt và dưới mức 80% là kém.

2.2.3.ThửnghiệmRozental

Là Test đo 5 lần dung tích sống liên tiếp mỗi lần cách nhau 15 giây.

Trong thử nghiệm này, do 5 lần đo liên tiếp mà phân áp 0xy trong máu tăng, đồng thời phân áp khí C0 2 lại giảm. Như vậy sự kích thích tới trung khu hô hấp theo cơ chế nội tại sẽ giảm. Tuy nhiên, dưới tác động điều khiển của thần kinh trung ương sẽ ảnh hưởng đến kết quả thu được. Do vậy, theo cơ chế thực chất Test

2.2.4.Testđoáplực phổi:

Dụng cụ dùng để đo là máy đo áp lực phổi. Test đo áp lực phổi có ý nghĩa

đánh giá lực của các cơ hô hấp cũng như trương lực của phế nang.

Có 2 phương pháp đo khác nhau được sử dụng là đo áp lực phổi hít vào gắng sức và đo áp lực phổi thổi ra gắng sức. Kết quả thu được trên đồng hồ đo theo đơn vị mm Hg

Tuỳ theo cách tiến hành ta đánh giá kết quả theo 2 cách khác nhau : áp lực lúc thổi ra vượt xa áp lực lúc hít vào và dao động trong khoảng rộng. Áp lực khi hít vào trung bình với nam là 60mmHg với nữ là 50 mmHg . Áp lực lúc thở ra trung bình đối với nam là80 mmHg với nữ là 60 mmHg. Với vận động viên kết quả thu được còn cao hơn.

Nếu lực thở ra và hít vào giảm chứng tỏ chức năng hô hấp kém hoặc bị bệnh hô hấp . Trong các trường hợp bệnh lý về đường hô hấp thông thường lực thở ra gắng sức bị giảm nhiều còn lực hít vào gắng sức giảm ít hơn .

2.2.5.Testnínthở(Gentri).

Test này nhằm đánh giá chức năng của hệ hô hấp cũng như hệ tuần hoàn trong vận động và trong yên tĩnh . Nhưng kết quả của biện pháp này phụ thuộc nhiều vào ý thức của người thực nghiệm .

Test Gentri là nghiệm pháp nín thở trong trạng thái thở ra ở tư thế ngồi kết quả được đánh giá bằng giây . Test này cho phép đánh giá khách quan năng lực hoạt động yếm khí của người lập Test.

Dụng cụ yêu cầu cần có là kẹp mũi và đồng hồ bấm giây. Test được tiến hành trong tư thế ngồi. Trước khi tiến hành yêu cầu người lập Test thở sâu 1 – 2 lần

sau đó hít vào gắng sức ( bằng 90% sức) và nín thở đến khi khả năng chịu đựng tới

ngưỡng.

Kết quả được đánh giá theo thời gian nín thở tối đa có thể .

Người khoẻ mạnh trung bình 20 -30″ Vận động viên 30 – 90″

Trình độ chuyên môn càng cao, năng lực hoạt động yếm khí càng tốt thì thời gian

nín thở càng dài.

3. Phương pháp kiểm tra cận lâm sàng.

Phương pháp chủ yếu và được áp dụng rộng rãi để đánh giá cấu trúc và chức

năng hệ hô hấp là phương pháp chụp – chiếu X quang. Tuy vậy trong thực tiễn thể

thao rất ít được sử dụng.

3.1 Chiếu chụp X quang : Đánh giá những biến đổi về cấu trúc giải phẫu của phổi và lồng ngực .

3.2, Phép ghi phế động đồ là phương pháp theo dõi sự chuyển động của lồng ngực .

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Đặc điểm trạng thái chức năng hệ hô hấp trong hoạt động TDTT?

2. Ý nghĩa và phương pháp tiến hành , cách đánh giá số đo dung tích sống?

Dung tích sống đột ngột?

3. Phương pháp tiến hành và cách đánh giá test Rozental và test Gentri?

§4 KIỂM TRA CHỨC NĂNG HỆ THẦN KINH VÀ THẦN KINH CƠ

1. Vai trò chức năng và bảo đảm hệ thống thần kinh, thần kinh cơ trong hoạt động thể chất:

Cơ thể và môi trường sống có sự tác động tương hỗ qua lại lẫn nhau. Các kích thích của môi trường bên trong và bên ngoài rất đa dạng, phong phú trong đó

có các kích thích của lượng vận động của bài tập thể chất và thể thao. Để tồn tại và

phát triển cơ thể cần đáp ứng các kích thích đó, thông qua các phản ứng, phản xạ một cách tương ứng để giữ cơ thể trong trạng thái cân bằng động. Mối liên hệ này được đảm bảo nhờ các hoạt động của hệ thần kinh, thần kinh thể dịch và thần kinh cơ. Có thể nói hệ thần kinh chỉ đạo mọi hoạt động sống của cơ thể.Giúp cho cơ thể thống nhất các hệ cơ quan trong cơ thể và thống nhất cơ thể với môi trường bên ngoài .

Theo cơ sở giải phẫu và sinh lý thì hệ thần kinh được chia ra thành các phần chi tiết :Hệ thần kinh trung ương bao gồm não và tủy sống và hệ thần kinh ngoại

biên bao gồm hệ thống các dây dẫn truyền xung động thần kinh .

Trên cơ sở sinh lý: Hệ thần kinh được phân thành :Hệ thần kinh động vật bao gồm thần kinh cảm giác và thần kinh vận động .Hệ thần kinh thựcvật còn gọi là thần kinh dinh dưỡng bao gồm hệ thần kinh giao cảmvà hệ thần kinh phó giao cảm .

Việc tập luyện thể thao một cách có hệ thống và sự tham gia các cuộc thi đấu đề ra những đòi hỏi rất lớn về hệ thần kinh và ngay chính trong hệ thần kinh cũng diễn ra những biến đổi theo hướng nhằm hoàn thiện chức năng của chính mình. Các bài tập thể chất – đó là những hành động thần kinh cơ phức tạp. Trong quá trình hình thành định hình động lực mới luôn diễn ra quá trình thiết lập những đường liên hệ tạm thời trên vỏ não. Việc tập luyện liên tục có hệ thống sẽ dẫn đến tự động hoá động tác và các định hình trở nên bền vững. Những biến đổi bất lợi

trong trạng thái chức năng hệ thần kinh – đó là những dấu hiệu đầu tiên của mệt mỏi quá độ và tập luyện quá sức.

Đối với hệ thần kinh dinh dưỡng, ảnh hưởng của tập luyện làm tăng trương lực của thần kinh phó giao cảm ( nervus Vagus ). điều này có ý nghĩa rất lớn với hiệu suất hoạt động của hệ vận chuyển 0xy, giảm huyết áp trong yên tĩnh.

2. Các phương pháp kiểm tra chức năng hệ thần kinh và thần kinh cơ:

Tương ứng với từng hệ thần kinh chức năng chỉ đạo cũng khác nhau. Từ đó

cho thấy, để đánh giá ta cần áp dụng các phương pháp đánh giá chức năng của từng hệ thần kinh riêng biệt. Thực tế các phương pháp đánh giá rất phong phú, song trong kiểm tra y học thể thao ta cần lựa chọn các phương pháp phù hợp với thực

tiễn thể thao. Thông thường các phương pháp được sử dụng là : phương pháp đánh

giá chung (phân loại thần kinh, Test soát bảng), kiểm tra chức năng thần kinh dinh dưỡng (Test Asnhera, Test Kesty, Test thay đổi tư thế), kiểm tra chức năng thăng bằng (Test quay ghế Baran, Test Rombegơ, Test quay đầu Ia rotx ki), kiểm tra chức năng thần kinh cơ (Test phản xạ gân, Tepping Test ,test đo thời gian phản xạ, đo cảm giác lực cơ), kiểm tra các cơ quan cảm thụ (đo thị lực, thị trường, đo thính lực, cảm giác đau).

Để đánh giá chung chức năng của hệ thần kinh trước hết cần tiến hành từ

việc phỏng vấn, trên cơ sở đó kết hợp với kết quả của Test ta tiến hành xác định loại hình thần kinh và thực hiện các Test tiếp theo.

2.1.1. Phỏng vấn

Việc phỏng vấn cần làm rõ tiền sử bệnh về thần kinh và các cảm giác chủ

Loại hình thần kinh là tổ hợp các thuộc tính thần kinh, phản ánh năng lực hoạt động của thần kinh và có hệ số di truyền rất cao.

Đặc trưng cho sứcmạnhcủathầnkinh là tính tự tin, lòng quả cảm, tính tích

cực và tính kiên định. Trong hoạt động thể thao, sức mạnh của thần kinh có một vị trí hết sức to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách và chinh phục những đỉnh cao thành tích. Có thể nói sức mạnh của thần kinh là khả năng tự điều chỉnh phản ứng của cơ thể trước những tác động với các cường độ khác nhau.

Các tiêu chuẩn đặc trưng cho tính cân bằngcủa thầnkinh đó là sự bình tĩnh, biết kiềm chế, biết giữ mối quan hệ với gia đình, bạn bè, đồng chí trong công tác,

học tập và đặc biệt là hành vi của bản thân trong một tập thể khi tập luyện và thi

đấu. Các dấu hiệu đặc biệt quan trọng là giấc ngủ trước ngày thi đấu, hành vi của vận động viên trên vạch xuất phát, phản ứng với tín hiệu xuất phát v.v…

Độlinhhoạtcủacác phản ứngthầnkinh được đặc trưng bởi tốc độ tiếp thu động tác, tốc độ tiếp thu kỹ chiến thuật, khả năng tự sửa chữa những sai lầm, tốc độ

loại bỏ sự hồi hộp….. trước xuất phát và hưng phấn sau thi đấu, sự thích nghi nhanh

chóng với các điều kiện khác nhau. Dấu hiệu đặc trưng là giấc ngủ sau thi đấu (ngủ nhanh và ngủ sâu).

Dựa vào 3 thuộc tính của hoạt động thần kinh là sức mạnh, độ linh hoạt và tính cân bằng mà I.P Pavlốp đã phân ra 4 loại hình thần kinh. đó là : Loại 1 – mạnh,

cân bằng, linh hoạt ; loại 2 : mạnh, cân bằng, không linh hoạt ; loại 3 : mạnh, không

cân bằng (hưng phấn mạnh hơn ức chế) ; loại 4 : thần kinh yếu.

Như vậy, để phân loại loại thần kinh phải sử dụng các Test tâm lý để xác định thuộc tính thần kinh và trên cơ sở đó có thể phân loại hình thần kinh.

Tuy loại hình thần kinh có tính di truyền và tính bảo thủ rất cao, song theo nhà sinh lý học I.P Pavlốp thì được dưới ảnh hưởng của giáo dục có thể làm thay đổi được loại hình thần kinh bẩm sinh theo ý muốn.

2.1.3.Testđánhgiámứcđộtậptrungchúýcủahệthầnkinh:

Để đánh giá mức độ tập trung của hệ thần kinh có thể sử dụng phương pháp

soát bảng. Trong thực tiễn kiểm tra y học thể thao các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều loại bảng khác nhau, nhưng tất cả đều dựa trên cơ sở chung nhất là cho người

lập Test gạch lấy một tín hiệu đã được chọn trước vào đó trong một khoảng thời

gian nhất định, kết quả được đánh giá dựa vào tỷ lệ tín hiệu gạch đúng với tín hiệu gạch sai hay bỏ sót. Sự khác biệt của các phương pháp là sử dụng tín hiệu đơn hoặc tín hiệu kép (có kèm theo một tín hiệu ức chế).

Để phù hợp với các đối tượng khác nhau, Test soát vòng hở Landont

thường hay được sử dụng để đánh giá mức độ tập trung của hệ thần kinh.

Phương pháp lập Test được tiến hành theo nguyên tắc trên, kết quả đánh giá theo công thức sau :

0,5436N – 2807n s =

t

Trong đó S : lượng đơn vị thông tin (bit/giây)

N : Số tín hiệu theo bảng (tổng lượng tín hiệu qui định khi lập Test) n : Số tín hiệu gạch sai hay bỏ sót t : Thời gian lâp Test (giây)

Kết quả thu được đánh giá như sau :

1,26 – 1,57 thì đánh giá chức năng hệ thần kinh khá

0,96 – 1,26 thì đánh giá chức năng hệ thần kinh trung bình

< 0,96 thì đánh giá chức năng hệ thần kinh kém.

2.2.Kiểmtrachứcnăngthầnkinhthựcvật:

Các Test kiểm tra chức năng thần kinh thực vật chủ yếu được dựa trên cơ sở sự biến đổi của mạch dưới một kích thích nào đó để xác định độ cân bằng trương lực trung tâm giữa giao cảm và phó giao cảm. Các kích thích được sử dụng có thể là cơ học, hoá học (thuốc y tế) hay nhiệt độ. Ngoài thông số mạch có thể sử dụng phương thức đo nhiệt độ da hay lượng mồ hôi để đánh giá.

2.2.1.ThửnghiệmAsnhera:

Thử nghiệm này còn được gọi là thử nghiệm ấn mắt, dựa trên cơ sở của phản xạ mắt – tim đặc trưng cho tính hưng phấn của thần kinh phó giao cảm.

Người lập Test trong tư thế nằm được đo mạch yên tĩnh, sau đó dùng 2 ngón

tay cái và trỏ ấn nhẹ lên con ngươi khi nhắm mắt trong khoảng thời gian 10 giây, sau đó tiến hành đo mạch lần 2. Kết quả thử nghiệm được đánh giá bằng cách so

sánh giá trị mạch trước và sau thử nghiệm. Nếu mạch giảm từ 5 đến 12 lần/phút

chứng tỏ hưng phấn của phó giao cảm trong yên tĩnh ở mức trung bình. Nếu mạch giảm trên 12 lần/phút – hưng phấn phó giao cảm trội, mạch giảm dưới 4 lần hay không đổi – ta nói hưng phấn phó giao cảm hay hưng phấn giao cảm trội trong yên tĩnh. Nếu mạch giảm trên 24 lần/phút thì phản xạ mắt – tim được coi là biến dạng.

2.2.2.Thửnghiệmthayđổitưthế:

Thử nghiệm này có thể áp dụng theo 2 phương pháp – thay đổi từ tư thế nằm sang tư thế đứng hay từ đứng sang nằm. Thông thường Test được tiến hành theo phương thức thay đổi tư thế nằm sang đứng.

Yêu cầu người lập Test trong tư thế nằm yên tĩnh, loại trừ các kích thích của môi trường trong khoảng 3-5 phút, sau đó đứng dậy. Mạch được đo ở 2 thời điểm trước và sau khi đứng lên.

Test được đánh giá bằng cách so sách sự biến đổi của tần số mạch trước và sau thử nghiệm. Nếu mạch sau thử nghiệm tăng trong khoảng 4-8 lần/phút, ta kết

luận chức năng thần kinh thực vật tốt, cân bằng. Nếu mạch tăng trên 8 lần/phút –

hưng phấn của giao cảm trội trong yên tĩnh, ngược lại tăng dưới 4 lần hoặc không đổi thì hưng phấn phó giao cảm trội trong yên tĩnh.

Nghiệm pháp đứng nằm : Khi thay đổi tư thế từ đứng sang nằm trương lực của hệ phó giao cảm tăng . Mạch giảm trong thử nghiệm này là 4 – 6 lần /phút

đánh giá hưng phấn hệ phó giao cảm trung bình . Mạch giảm dưới 4 lần  Đánh giá trương lực của hệ giao cảm trội . Mạch giảm trên 6 lần  Đánh giá trương lực

của hệ phó giao cảm trội .

2.3 Kiểm tra chức năng thần kinh và thần kinh cơ

2.3.1 Kiểm tra chức năng thăng bằng :

Việc áp dụng những thí nghiệm chức năng thăng bằng ngoài ý nghĩa phát hiện

những rối loạn chức năng này, còn có giá trị trong đánh giá mức độ mệt mỏi của vận động viên sau tập luyện. Chức năng thăng bằng được đánh giá ở cả 2 trạng thái chức năng thăng bằng tĩnh và chức năng thăng bằng động.

2.3.1.1Kiểmtrathăngbằngtĩnh(Test Romberg):

Thông thường thăng bằng tĩnh được đánh giá nhờ Test Romberg với 2 tư thế

: tư thế 1 là tư thế đơn giản được áp dụng cho người có tuổi và trẻ em. Người lập Test trong tư thế đứng nghiêm, 2 tay dang ngang, 2 chân khép sát nhau mũi chân nọ chạm gót chân kia, mắt nhắm và tính thời gian đững vững vàng. Tư thế 2 thường áp dụng cho người trưởng thành và vận động viên với độ khó tăng. Người lập Test đứng trụ trên một chân, chân kia co lên gối chạm gối chân trụ, tay dang ngang, mắt nhắm. Tư thế 2 có thể thay đổi bằng việc thực hiện thăng bằng sấp.

Kết quả của cả 2 tư thế đều được đánh giá bằng thời gian đứng thăng bằng vững vàng kể từ khi nhắm mắt. Nếu người lập Test đứng vững vàng, ngón tay và

mi mắt không run trên 15 giây, chức năng thăng bằng tĩnh được đánh giá là tốt.

Trong trường hợp mức độ vững vàng giữ được dưới 15 giây, xuất hiện hiện tượng run ngón tay và mi mắt – chức năng thăng bằng tĩnh kém. Đối với vận động viên tiêu chuẩn trung bình là 28 giây.

2.3.1.2. Kiểm tra thăng bằng động :

Phụ thuộc vào điều kiện lập Test có thể sử dụng một trong 3 phương pháp sau : quay ghế Baran, quay Iarôtxki và thử nghiệm tay – mũi.

Thử nghiệm tay – mũiđược tiến hành trong tư thế người lập Test đứng, mắt

nhắm, yêu cầu dùng ngón trỏ khi gấp cẳng tay của cánh tay duỗi thẳng trước mặt, chỉ chính xác vào chỏm mũi của mình. Nếu chỉ lệch hay tay run rẩy chứng tỏ chức năng thăng bằng động kém.

Thử nghiệm quay ghế Baranđược thực hiện trên ghế quay Baran. Người lập Test trong tư thế ngồi, tay chân để đúng vị trí qui định, đầu cúi thấp (cằm sát ngực) mắt nhắm. Người kiểm tra quay ghế 10 vòng, tốc độ 1 vòng / 2 giây. Khi ngừng quay lập tức yêu cầu người lập Test bước xuống và đi theo một đường thẳng đã vạch sẵn. Kết quả của Test được đánh giá như sau :

– Đi vững vàng, theo đúng đường thẳng đã vạch đúng qui định – chức năng thần kinh tốt

– Đi thiếu tự tin nhưng theo đúng đúng đường thẳng đã vạch – chức năng thần kinh

trung bình .

– Đi chệch hướng, ngã, lảo đảo không đúng đường thẳng – chức năng thần kinh

kém.

Thử nghiệm quay đầu Iarotxki – là thử nghiệm đơn giản, không đòi hỏi dụng cụ đặc biệt nên được sử dụng rộng rãi : người lập Test thực hiện động tác xoay đầu quanh trục thẳng đứng theo một hướng nhất định, mắt nhắm, tốc độ 2 vòng / 1 giây. Kết quả được đánh giá theo thời gian giữ thăng bằng. Ở người khoẻ mạnh, không tập luyện kết quả trung bình là 27 giây, ở vận động viên cao hơn rất nhiều ,có thể đạt 90 giây.

2.3.2. Kiểm tra chức năng thần kinh cơ :

2.3.2.1.ĐiệncơđồĐể đánh giá chức năng thần kinh cơ ở vận động viên

người ta sử dụng phép ghi điện cơ đồ để xác định thời gian tiềm tàng co và duỗi cơ, thời gian co cơ cực đại, tần số co cơ và trương lực cơ.

Điện cơ đồ là phương pháp ghi dòng điện sinh học xuất hiện trong cơ vân

với dụng cụ là máy ghi điện cơ. Thời gian tiềm tàng co và duỗi cơ cho phép đánh giá một cách khách quan trạng thái chức năng thần kinh cơ và hệ thần kinh trong hoạt động thể chất. Trình độ tập luyện càng cao, các chỉ số càng nhỏ.

Thời gian co cơ ngắn tối đa nhằm đánh giá năng lực của cơ được kiểm tra trong khoảng thời gian ngắn nhất thực hiện được một co rút. điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các vận động viên sức mạnh – tốc độ, trung bình vào khoảng 80 – 100 ųs (micơro giây).

Tần số co cơ tối đa là số lượng lần co cơ trên một đơn vị thời gian. Thử

nghiệm được tiến hành trong 20 giây, sau đó nhân với 3 để xác định tần số/phút.

2.3.2.2.Test tepping test ( Test dấu chấm):

Thử nghiệm này đôi khi còn được gọi là Test dấu chấm, cho phép đánh giá

độ linh hoạt cơ năng. Dụng cụ : bút, giấy trắng khổ 20 x 20 cm được chia làm 4 phần (4 ô), đồng hồ bấm giây. người lập Test cầm bút tay thuận chấm liên tiếp theo trình tự nhất định với tốc độ tối đa có thể. Thời gian tổng cộng 40 giây, mỗi ô thực hiện 10 giây . Kết quả được đánh giá dựa vào giá trị trung bình số dấu chấm trên một giây thực hiện được . Kết quả trung bình – 7 điểm/giây.

Lưu ý : Để tránh nhầm lẫn, khi đếm cần dùng bút nối các dấu đã đếm theo từng vòng.

2.3.2.3. Đo cảm giác lực cơ :

Đây là Test có giá trị thực tiễn cao, cho phép đánh giá tốc độ nhạy cảm cơ

bắp trong việc phân phối lực cho từng hoạt động. Đây là một thông số dự báo trình độ kỹ thuật, đặc biệt ở các môn đòi hỏi cảm giác lực cơ cao như bóng bàn, bóng rổ,

cầu lông, các môn võ.

Dụng cụ được sử dụng là máy đo lực cơ hoặc lực kế bóp tay loại 30kg,

50 kg.

Việc tiến hành được thực hiện theo nguyên tắc chung : cho người lập Test

thực hiện lực co cơ tối đa, sau đó đề xuất thực hiện % lực tối đa. Thường tiến hành từ 5 – 10 lần có quãng nghỉ.

Đánh giá kết quả : Nếu giá trị tuyệt đối của sai số càng nhỏ thì cảm giác lực cơ càng tốt. Tuy nhiên, trị số trung bình ở các môn thể thao khác nhau và trình độ

tập luyện khác nhau có sự cách biệt khá lớn.

2.3.2.4. Đo phản xạ gân – cơ :

Được thực hiện trên nguyên tắc chung là dùng búa phản xạ gõ lên đầu bám

tận của cơ, gây nên sự co cơ. Dựa vào mức độ phản ứng (mạnh, trung bình, yếu) để đánh giá kết quả.

Thường các phản xạ quá mạnh đặc trưng cho sự hưng phấn cao ở trung khu điều tiết của thần kinh trung ương do căng thẳng quá độ, viêm khẩn, tổn thương màng não, màng tuỷ sống. Các phản ứng yếu hay mất hoàn toàn là dấu hiệu cung phản xạ bị phá vỡ do tổn thương, tràn máu, tràn dịch lớn ở trung khu vận động.

Trong kiểm tra y học thể thao, giá trị thực hiện của phương pháp này rất hạn chế, thường chỉ được tiến hành trong những trường hợp chấn thương sọ não, cột sống.

Những phản xạ thông thường được áp dụng trong kiểm tra y học TDTT đó là : phản xạ petala , phan xạ gân a.chin, phản xạ cơ nhị đầu cánh tay , kiểm tra độ linh hoạt của cơ bao gồm có kiểm tra độ linh hoạt của cổ tay kiểm tra với thời gian

phản ứng .

a,Phảnxạpatela – là phản xạ của cơ tứ đầu đùi , dưới tác dụng kích thích cơ học . Tiến hành kiểm tra : tư thế người được kiểm tra , ngồi trên ghế , chân nọ gát lên chân kia , bàn chân không chạm đất , chân thả lỏng hoàn toàn gấp ở khớp gối vuông góc , mắt nhìn đi nơi khác . Người kiểm tra dùng búa phản xạ đánh vào gân cơ tứ đầu đùi với một lực khoảng 0,5kg tại điểm giữa xương bánh chè với đầu bám tận của cơ tứ đầu đùi . Phản xạ thu được – cẳng chân đá về phía trước 1 góc khoảng

30 độ . Các phản xạ sai lệch thu được là phản xạ quá mạnh hoặc quá yếu .

b.Phảnxạgânachin , là phản xạ của cơ tam đầu cẳng chân . Yêu cẩu tư thế của người được kiểm tra , quì trên hai đầu gối , cẳng chân , bàn chân thả lỏng , mũi chân buông tự do không chạm đất . Người kiểm tra dùng búa phản xạ gõ lên gân achin tại điểm ngang với mắt cá chân một lực khoảng 0,5 kg . Ta thấy phản xạ thu được là bàn chân duỗi ra .

Phản xạ trung bình nếu góc duỗi của bàn chân khoảng 15 0, các phản xạ biến đổi thường gặp là phản xạ quá mạnh hoặc quá yếu .

c.Phảnxạcơnhịđầucánhtay – nhằm đánh giá cung phản xạ của cơ nhị đầu cánh tay . Trước khi tiến hành yêu cầu người được kiểm tra tay thả lỏng gấp nhẹ

nhàng ở trước khuỷu , người kiểm tra một tay đỡ tay người được kiểm tra ở phần cẳng tay và khuỷu tay, sau đó dùng búa gõ nhẹ một lực khoảng 0,5kg vào gân cơ

nhị đầu cánh tay tại hõm trước của khớp khuỷu . Phản xạ thu được cẳng tay gấp lại trung bình khoảng 10 0. Phản xạ quá mạnh hoặc quá yếu là những phản xạ sai lệch thường gặp .

Nhìn chung trong tất cả các trường hợp trên phản xạ quá mạnh là do hưng phấn của thần kinh trung ương cao thường gặp ở các bệnh như viêm màng não, viêm tủy sống, bệnh lao xương . Còn các phản xạ quá yếu do viêm dây thần kinh , do chấn thương sọ não, tủy sống tương ứng với từng cung phản xạ , dẫn đến khả năng hưng phấn của trung khu thần kinh bị giảm sút .

Trong kiểm tra chức năng thị giác thường tiến hành đánh giá khả năng nhìn

trung tâm (thị lực) và khả năng nhìn bao quát (thị trường).

3.1.1 Kiểmtrathịlực :

Dụng cụ thông dụng là bằng kiểm tra thị lực bằng các chữ C (vòng tròn

không khép kín). Phương pháp tiến hành người được kiểm tra đứng cách bảng một khoảng cách phụ thuộc vào từng loại bảng (thường là 6m). Cần đảm bảo đủ ánh

sáng tự nhiên. Dùng bìa che một mắt và tiến hành đọc các chữ cái được chỉ định lần

lượt từ chữ to đến chữ nhỏ tới khi không còn khả năng xác định chính xác.

Kết quả của phương pháp kiểm tra này được đánh giá theo tỷ lệ giữa khoảng cách thấy được của đối tượng đó với khoảng cách thấy được của người thường (tỷ lệ phần mười) kết quả được tính là bằng trả lời đúng cuối cùng tương ứng với các tỷ lệ 1/10, 2/10….10/10.

3.1.2 Kiểmtrathịtrường:

Là khả năng nhìn bao quát, nó đặc biệt quan trọng với các môn thi đấu đồng

đội. Dụng cụ sử dụng là máy đo thị trường. Đối tượng kiểm tra ngồi vào vị trí qui định, mắt được kiểm tra đặt vào vị trí và nhìn cố định vào tâm của máy đo. Khi nhận biết điểm chuẩn di động theo tay người kiểm tra thì phát tín hiệu đac nhận biết. Thị trường được đánh giá theo 4 hướng : trong, ngoài, trên, dưới với từng mắt. Kết quả được đánh giá theo góc độ mà mắt có khả năng nhận biết. Với người trưởng thành, khoẻ mạnh thị trường trung bình có kết quả theo các hướng như sau :

ngoài – 85 0– 90 0; trong 75 0; trên 65 0– 70 0; dưới 75 0

Khi kiểm tra thính giác cần đánh giá cả các tổ chức bên ngoài của cơ quan

thính giác, bởi vì chúng cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng hoạt động thể thao. Việc kiểm tra được tiến hành theo phương pháp sử dụng lời nói (nói thường và nói thầm) hoặc camerton với các âm lượng khác nhau .

Nếu sử dụng camerton thì kết quả được đánh giá theo âm lượng mà người được kiểm tra nghe thấy. Việc kiểm tra bằng lời nói phụ thuộc nhiều vào âm lượng của người phát tín hiệu. Thông thường khoảng cách 5m là giới hạn trung bình để

có thể nghe được lời nói thầm. Nếu thính giác kém cần ra chống chỉ định tập luyện

trong một số môn thể thao. Trong quá trình tập luyện chức năng thính giác được hoàn thiện hơn.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1.Vai trò , chức năng và đặc điểm hệ thống thần kinh- thần kinh cơ trong hoạt động

TDTT?

2. Phương pháp phân loại và ý nghĩa của loại hình thần kinh trong hoạt động

TDTT?

3. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng thần kinh thực vật?

4. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng thần kinh thăng

bằng?

5. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng thần kinh cơ?

6. Phương pháp tiến hành và đánh giá các test kiểm tra chức năng các cơ quan cảm thụ thị giác và thính giác?

Поделитесь с Вашими друзьями: