Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Chức Năng Cầu Thận

--- Bài mới hơn ---

  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Chức Năng Ống Thận
  • 6 Dấu Hiệu Quan Trọng Nhận Biết Sớm Suy Thận Mạn
  • Giải Pháp Tăng Cường Chức Năng Thận, Cải Thiện Các Triệu Chứng Suy Thận Hiệu Quả? Xem Ngay
  • Dấu Hiệu Bệnh Thận Và Suy Thận?
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Viêm Cầu Thận Mạn
  • PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV 103, HVQY.

    1. MỞ ĐẦU

    Thận là cơ quan có ý nghĩa sinh tồn đối với cơ thể. Thận có hai nhiệm vụ lớn là bài tiết và nội tiết, suy cho cùng thận là cơ quan có vai trò điều hòa cân bằng nội môi của cơ thể. Để thực hiện vai trò đó, thận có rất nhiều chức năng. Vì vậy, cũng có nhiều nghiệm pháp khác nhau để thăm dò chức năng thận. Mỗi nghiệm pháp chỉ phản ánh một vài chức năng, mà không phản ánh được toàn bộ chức năng thận. Các nghiệm pháp thăm dò chức năng thận rất có giá trị, nhưng các nghiệm pháp này còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, không những của thận mà còn của các yếu tố ngoài thận. Vì vậy, cần chú ý đặc điểm này khi phân tích kết quả của nghiệm pháp.

    2. CÁC NGHIỆM PHÁP THĂM DÒ CHỨC NĂNG LỌC MÁU CỦA CẦU THẬN

    Đo mức lọc cầu thận là nghiệm pháp quan trọng nhất để thăm dò chức năng lọc máu của cầu thận. Mức lọc cầu thận viết tắt là GFR (glomerular filtration rate) được định nghĩa là thể tích dịch lọc ban đầu (nước tiểu đầu) được cầu thận lọc trong một đơn vị thời gian. Đơn vị của mức lọc cầu thận thường dùng là ml/phút, nhưng đo trực tiếp mức lọc cầu thận không thể thực hiện được trong lâm sàng, mà phải đo gián tiếp qua hệ số thanh thải của một số chất.

    Hệ số thanh thải của một chất là số millilit huyết tương khi đi qua thận được thận lọc sạch chất đó, nghĩa là lượng huyết tương này sau khi đi qua thận thì ở tĩnh mạch thận không còn chất đó. Người ta biết rằng, nếu một chất thỏa mãn các điều kiện:

    + Không bị chuyển hóa trong cơ thể

    + Được lọc tự do qua cầu thận

    + Không bị ống thận hấp thu hay bài tiết

    Thì có hệ số thanh thải đúng bằng mức lọc cầu thận, và có thể dùng để xác định mức lọc cầu thận. Nếu một chất thỏa mãn các điều kiện trên thì số lượng chất đó được lọc ra nước tiểu đầu đúng bằng lượng được bài xuất ra nước tiểu, nghĩa là Cs x Ps = Us x V. Do đó công thức để tính hệ số thanh thải của một chất là:

    Trong đó: s (substance) là chất dùng để đo hệ số thanh thải; Cs (clearance) là hệ số thanh thải của chất s (ml/ph); Us (urine) là nồng độ của chất s trong nước tiểu; V (volume) là thể tích nước tiểu trong một phút (ml/ph); Ps (plasma) là nồng độ chất s trong huyết tương.

    Inulin là chất lý tưởng nhất để đo mức lọc cầu thận, ngoài ra có thể dùng manitol hay natri thiosulphat. Nhưng kỹ thuật đo hệ số thanh thải của ba chất trên phức tạp, nên ít được sử dụng trong lâm sàng. Trong thực hành lâm sàng, người ta thường sử dụng phương pháp đo hệ số thanh thải creatinin nội sinh để đánh giá mức lọc cầu thận.

    2.1. Đo hệ số thanh thải inulin

    Inulin là một polyme của đường fructose, có đặc điểm không độc, không bị chuyển hóa khi đưa vào cơ thể, trọng lượng phân tử là 5000 Da nên được lọc tự do qua cầu thận, hoàn toàn không bị ống thận tái hấp thu hoặc bài tiết. Với các đặc điểm trên, nên inulin là chất lý tưởng nhất được dùng để đo mức lọc cầu thận. Hệ số thanh thải inulin đúng bằng mức lọc cầu thận.

    Khi pha inulin nồng độ cao 100 g/l, dung dịch có chứa một lượng nhỏ fructose tự do. Hiện nay chất tổng hợp giống inulin là fructosan có ưu điểm hơn inulin là dễ hòa tan trong nước ở nhiệt độ phòng, được dùng thay thế cho inulin. Định lượng inulin trong huyết thanh và nước tiểu đều dựa trên nguyên lý thủy phân inulin và định lượng fructose theo phương pháp enzym.

    Kỹ thuật đo hệ số thanh thải inulin thường dùng là phương pháp truyền tĩnh mạch liên tục hai giai đoạn.

    + Giai đoạn 1: pha 30 ml inulin 10% vào 250 ml dung dịch natri clorua 0,9%, truyền tĩnh mạch tốc độ 20 ml/ph. Mục đích để đạt nhanh nồng độ inulin trong huyết thanh tới 0,18-0,25 g/l.

    + Giai đoạn 2: tiếp theo giai đoạn 1, pha 70 ml inulin 10% vào 500 ml dung dịch natri clorua 0,9%, truyền tĩnh mạch với tốc độ 4 ml/ph. Mục đích để duy trì nồng độ inulin trong huyết thanh ổn định.

    Trước khi bắt đầu giai đoạn 1, đặt thông bàng quang qua niệu đạo. Sau khi bắt đầu giai đoạn 2 được 20 phút, tháo kiệt nước tiểu trong bàng quang bỏ đi và bơm vào trong bàng quang một ít không khí. 20 phút sau lấy hết nước tiểu trong bàng quang, đo thể tích rồi tính ra số ml/phút. Ngay sau khi lấy nước tiểu, lấy 2 ml máu và 5 ml nước tiểu để định lượng inulin. Tính hệ số thanh thải inulin theo công thức (1).

    Giá trị bình thường của hệ số thanh thải inulin là 125±30 ml/ph.

    2.2. Đo hệ số thanh thải manitol

    Manitol cũng là chất lý tưởng để đo mức lọc cầu thận. Để đo hệ số thanh thải manitol, cũng sử dụng phương pháp truyền tĩnh mạch hai giai đoạn.

    + Giai đoạn 1: pha 80 ml dung dịch manitol 25% vào 250 ml dung dịch natri clorua 0,9%, truyền tĩnh mạch tốc độ 20 ml/ph.

    + Giai đoạn 2: tiếp theo giai đoạn 1, pha 80 ml dung dịch manitol 25% vào 500ml dung dịch natri clorua 0,9%, truyền tĩnh mạch tốc độ 4 ml/ph.

    Thu mẫu nước tiểu và mẫu máu giống như phương pháp đo hệ số thanh thải inulin. Tính hệ số thanh thải manitol theo công thức (1).

    Giá trị bình thường của hệ số thanh thải manitol bằng hệ số thanh thải inulin và bằng 125±30 ml/ph.

    2.3. Đo hệ số thanh thải natri thiosulphat

    Natri thiosulphat được cầu thận lọc dễ dàng, chỉ được ống thận bài tiết rất ít. Lượng natri thiosulphat được ống thận bài tiết là không đáng kể, ngay cả khi nồng độ trong huyết thanh lớn hơn 0,2g/l.

    Kỹ thuật đo hệ số thanh thải natri thiosulphat như sau: tiêm tĩnh mạch 12g natri thiosulphat dung dịch 20%. Trước khi tiêm, đặt thông bàng quang qua niệu đạo, tháo hết nước tiểu trong bàng quang bỏ đi. Sau tiêm 40 ph, lấy hết nước tiểu trong bàng quang và lấy mẫu máu. Sau đó cứ 20 phút lấy mẫu cả nước tiểu và máu một lần, tổng số 4-5 lần. Các mẫu được đo số lượng nước tiểu rồi tính ra ml/phút, và định lượng nồng độ natri thiosulphat trong các mẫu máu và nước tiểu. Tính hệ số thanh thải natri thiosulphat theo công thức (1) của từng lần lấy mẫu, kết quả là số trung bình của các lần lấy mẫu. Tỉ số giữa hệ số thanh thải natri thiosulphat và hệ số thanh thải inulin là 1,03.

    2.4. Đo hệ số thanh thải creatinin nội sinh

    1937 Popper và Mandel để xuất hệ số thanh thải creatinin nội sinh gần bằng mức lọc cầu thận, xét nghiệm này nhanh chóng trở nên thông dụng trong lâm sàng vì kỹ thuật đơn giản.

    Creatinin là sản phẩm thoái biến của creatin của cơ, không có vai trò của enzym. Creatin được gan tổng hợp và tích trữ ở cơ, tổng lượng creatin trong cơ thể khoảng 100g, lượng creatin trong cơ chiếm 98% lượng creatin của cơ thể, nên có thể coi cơ là bể chứa creatin của cơ thể. Chỉ có một lượng nhỏ creatin có nguồn gốc từ thức ăn, lượng thịt trong thức ăn cung cấp khoảng 0,6-0,8g creatin/24 giờ. Có 1,6% lượng creatin trong cơ thể được chuyển hóa để tạo thành creatinin mỗi ngày. Do đó, nồng độ creatinin trong máu không phụ thuộc vào chế độ ăn mà chỉ phụ thuộc vào khối lượng cơ của cơ thể.

    + Lấy nước tiểu 24 giờ, đo thể tích và tính ra ml/ph. Lấy 5 ml nước tiểu trong mẫu nước tiểu 24 giờ để định lượng nồng độ creatinin.

    + Lấy 2 ml máu vào lúc kết thúc lấy nước tiểu 24 giờ để định lượng nồng độ creatinin.

    + Tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh theo công thức (1) nhưng có điều chỉnh vì nồng độ creatinin huyết thanh phụ thuộc vào khối lượng cơ bằng cách nhân công thức (1) với 1,73/S. Trong đó 1,73 là diện tích trung bình (m 2) bề mặt cơ thể của người Châu Âu; S (surface) là diện tích (m 2) bề mặt cơ thể của bệnh nhân.

    Giá trị bình thường của hệ số thanh thải creatinin nội sinh là 120±30ml/ph.

    2.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả

    + Phương pháp đo nồng độ creatinin, đặc biệt đối với huyết thanh: thông thường, nồng độ creatinin được đo bằng phương pháp Jaffe, phản ứng tạo ra phức hợp picrat-creatinin có màu vàng. Đo tốc độ tạo ra phức hợp màu để tính nồng độ creatinin. Vì huyết thanh có màu sắc giống hệt màu sắc mà phản ứng tạo ra, trong khi màu sắc nước tiểu không như vậy, làm cho nồng độ creatinin trong huyết thanh đo được cao hơn giá trị thực. Do đó hệ số thanh thải reatinin nội sinh theo tính toán sẽ thấp hơn giá trị thực. Ảnh hưởng của màu sắc huyết thanh sẽ là đáng kể, khi nồng độ creatinin huyết thanh thấp. Nếu định lượng creatinin theo phương pháp enzym hoặc kỹ thuật sắc ký chất lỏng cao áp HPLC (high performance liquid chromatography), thì nồng độ creatinin huyết thanh không bị ảnh hưởng bởi yếu tố trên.

    + Bài tiết creatinin của ống thận: bình thường, ống lượn xa bài tiết một lượng nhỏ creatinin, lượng creatinin được ống thận bài tiết là không đáng kể khi nồng độ creatinin máu trong giới hạn bình thường. Nhưng khi nồng độ creatinin máu tăng cao, lượng creatinin được ống thận bài tiết là đáng kể, làm cho hệ số thanh thải creatinin cao hơn hệ số thanh thải inulin. Bình thường, tỉ số giữa hệ số thanh thải creatinin/hệ số thanh thải inulin là 1,1-1,2 ở người lớn, và 0,98-1,0 ở trẻ em. Tỉ số này tăng dần khi mức lọc cầu thận giảm, khi nồng độ creatinin trong máu tăng tới một mức độ nào đó sẽ làm cho tỉ số trên bằng hoặc lớn hơn 2. Một số chất ức chế bài tiết creatinin ở ống thận, làm tăng creatinin huyết thanh, do đó làm hệ số thanh thải creatinin giảm, chẳng hạn spironolacton, triamteren, amilorit, probenecid, cimetidin, trimetoprim.

    + Mức độ chính xác của thu thập nước tiểu 24 giờ: thu thập mẫu nước tiểu 24 giờ thiếu chính xác sẽ làm sai lệch kết quả khi tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh. Đây là yếu tố dễ mắc phải nhất, làm sai lệch kết quả trong lâm sàng. Do đó phải làm kiệt nước tiểu trong bàng quang khi bắt đầu và kết thúc lấy mẫu, và phải thu gom đầy đủ toàn bộ nước tiểu trong thời gian lấy mẫu. Để kết quả được chính xác, tốt nhất là lấy mẫu nước tiểu 24 giờ, trong một số trường hợp có thể lấy mẫu 6 giờ, 12 giờ.

    + Điều chỉnh hệ số thanh thải theo diện tích bề mặt cơ thể: hệ số thanh thải creatinin cần được điều chỉnh cho chính xác hơn theo diện tích bề mặt cơ thể, lấy theo diện tích trung bình của bề mặt cơ thể người Châu Âu là 1,73 m 2. Diện tích bề mặt cơ thể được tính theo hai cách:

    – Sử dụng bảng Dubois bằng cách đối chiếu chiều cao, cân nặng.

    – Sử dụng công thức tính của Haycock (1978)

    Trong đó S (surface) là diện tích bề mặt cơ thể (m 2); W (Weight) là trọng lượng cơ thể (kg); h (high) là chiều cao (cm).

    2.5. Ước lượng hệ số thanh thải creatinin qua nồng độ creatinin huyết thanh

    Vì những khó khăn trong việc thu thập nước tiểu 24 giờ để tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh, nên việc ước tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh từ nồng độ creatinin huyết thanh đơn độc đã được các tác giả nghiên cứu trong nhiều năm.

    Cơ sở để ước tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh từ nồng độ creatinin huyết thanh là lượng creatinin được thận bài xuất hàng ngày là hằng định đối với mỗi cá nhân, vì khối lượng cơ không thay đổi giữa các ngày, do đó Ucre´V=k. Trong đó Ucre là nồng độ creatinin trong nước tiểu mẫu 24 giờ, V là thể tích nước tiểu trong một phút; k là hằng số đối với mỗi bệnh nhân. Vì vậy, Ccre thay đổi khi k/Pcre thay đổi. Trong đó, Ccre là hệ số thanh thải creatinin nội sinh; Pcre là nồng độ creatinin trong huyết thanh. Vì k là hằng số, nên Ccre thay đổi khi Pcre thay đổi, như vậy Ccre chỉ phụ thuộc vào Pcre.

    Việc sử dụng nồng độ creatinin máu đơn độc để ước tính mức lọc cầu thận sẽ dẫn đến đánh giá quá mức mức lọc cầu thận ở người suy thận. Bởi vì nồng độ cao của creatinin trong huyết thanh người suy thận được ống lượn xa bài tiết creatinin tăng đáng kể, cùng với một lượng creatinin mất qua ruột. Cũng cần chú ý thêm, bắt đầu từ 35 tuổi trở đi thì mức lọc cầu thận và hệ số thanh thải creatinin nội sinh giảm dần khi tuổi tăng lên, vì số lượng nephron chức năng của thận giảm dần theo tuổi. Ở người 50 tuổi, số lượng nephron hoạt động giảm từ 1-30% làm mức lọc cầu thận giảm ở người cao tuổi, khi tới 80 tuổi mức lọc cầu thận chỉ 50-60 ml/ph nhưng nồng độ creatinin trong huyết thanh vẫn có trị số bình thường, nếu sử dụng phương pháp ước tính trên sẽ dẫn đến ước tính sai mức lọc cầu thận. Trẻ em, nồng độ creatinin huyết thanh tăng dần do khối lượng cơ tăng theo tuổi. Những bệnh nhân bị phù, làm cân nặng tăng không phản ánh đúng trọng lượng thực của bệnh nhân, cũng dẫn đến đánh giá không đúng mức lọc cầu thận. Tuy vậy, sử dụng nồng độ creatinin huyết thanh để ước đoán mức lọc cầu thận vẫn được nghiên cứu vì nó đơn giản và tiện lợi. Các công trình nghiên cứu đã cố gắng đưa ra các công thức hiệu chỉnh cho sát với mức lọc cầu thận thực.

    + Công thức của Cockroft và Gault (1976), đây là công thức được dùng phổ biến nhất hiện nay.

    Trong đó Ccre (clearance of creatinin) là hệ số thanh thải creatinin nội sinh (ml/ph); tuổi của bệnh nhân tính theo năm; W (weight) là trọng lượng cơ thể bệnh nhân (kg); Pcre (plasma) là nồng độ creatinin trong huyết tương của bệnh nhân (mg/dl). Đối với nữ phải nhân kết quả với 0,85, vì khối lượng cơ ở nữ thấp hơn nam. Nếu nồng độ creatinin huyết tương được tính bằng mmol/l, thì hệ số 72 ở mẫu số được thay bằng 0,814.

    Rolin và cs (1984), đã kiểm nghiệm công thức trên qua công trình nghiên cứu 500 người vừa được đo mức lọc cầu thận bằng 125 I, vừa được tính hệ số thanh thải creatinin nội sinh theo công thức của Cockroft và Gault, thấy mức lọc cầu thận được xác định bằng hai phương pháp trên có mối tương quan rất chặt (r=0,97).

    + Công thức của Salazar và Corcoran:

    Trong đó Ccre là hệ số thanh thải creatinin nội sinh (ml/ph); tuổi bệnh nhân tính theo năm; W là trọng lượng cơ thể bệnh nhân (kg); h là chiều cao của bệnh nhân (cm); Pcre là nồng độ creatinin huyết tương của bệnh nhân (mg/dl).

    + Công thức của Barrett và Chantlle (1975) cho trẻ em:

    Hai tác giả Barett và Chantlle đã đưa ra công thức ước lượng nồng độ creatinin huyết tương cho trẻ em dựa vào chiều cao của trẻ, vì khối lượng cơ tăng theo chiều cao và cân nặng của trẻ.

    + Công thức của Morris (1982) cho trẻ em:

    Morris đưa ra công thức tính hệ số thanh thải creatinin cho trẻ em như sau:

    Trong bốn thập kỷ gần đây, người ta nhận ra thận có vai trò quan trọng trong phân giải các peptid và protein, đặc biệt các peptid có trọng lượng phân tử thấp. Các chất này được lọc qua cầu thận, sau đó được các tế bào ống lượn gần tái hấp thu và chuyển hóa thành các amino acid.

    Một số lớn các peptid, kể cả các hormon như parathyroid hormon, insulin…, một số protein có trọng lượng phân tử thấp, kể cả a 1-microglobulin đã được nghiên cứu. Theo Schardijin và Statius (1987), thì b 2-microglobulin là chất có giá trị để đánh giá mức lọc cầu thận.

    B 2-microglobulin có trọng lượng phân tử 11815 Da, là chuỗi peptid gồm 99 amino acid, có bán kính phân tử 2,1nm, do vậy được lọc qua cầu thận tự do như với nước (cầu thận có thể lọc các phân tử có kích thước £5,5 nm). Sau khi được lọc qua cầu thận, 99% lượng b 2-microglobulin được ống thận tái hấp thu và thoái giáng. Vì được lọc qua cầu thận dễ dàng, nên ở người khỏe mạnh, nồng độ b 2-microglobulin trong huyết thanh thấp £2 mg/l, trung bình 1,5 mg/l. Nồng độ b 2-microglobulin trong huyết thanh tăng khi mức lọc cầu thận giảm, và đạt tối đa 40 mg/l ở người tăng ure máu và bệnh nhân lọc máu chu kỳ.

    Logarit nồng độ b 2-microglobulin huyết thanh có tương quan chặt với logarit của hệ số thanh thải inilin. Do đó logarit nồng độ b 2-microglobulin huyết thanh là thông số rất tốt để đánh giá rối loạn chức năng thận, đặc biệt khi mức lọc cầu thận giảm. Nồng độ b 2-microglobulin trong huyết thanh cho biết mức lọc cầu thận tương đối chính xác, nhất là ở người già khi mà khối lượng cơ giảm và mức bài xuất creatinin của thận thấp. Nồng độ b 2-microglobulin trong huyết thanh không bị ảnh hưởng của khối lượng cơ, cũng không bị ảnh hưởng của giới tính.

    Định lượng b 2-microglobulin trong huyết thanh để đánh giá mức lọc cầu thận chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng, vì cho đến nay định lượng nồng độ b 2-microglobulin bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ (RIA) còn quá đắt, phương pháp định lượng ELISA rẻ hơn.

    Ở những bệnh nhân có khối u, đặc biệt là u lympho và những bệnh như lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjogren, viêm khớp dạng thấp, nồng độ b 2-microglobulin trong huyết thanh tăng cao hơn bình thường.

    2.7. Đo mức lọc cầu thận bằng phương pháp đồng vị phóng xạ

    2.7.1. Sử dụng dược chất phóng xạ 51Cr-EDTA

    EDTA (ethylen diamine tetra acetat) được cầu thận lọc hoàn toàn giống như inulin, không độc, không bị chuyển hóa khi đưa vào cơ thể, không được ống thận tái hấp thu hay bài tiết, có thể dùng để đo mức lọc cầu thận giống như inulin. Người ta gắn thêm 51 Cr, là chất phóng xạ có thời gian bán hủy dài, được thải nhanh qua nước tiểu để đo mức lọc cầu thận bằng phương pháp phóng xạ. Có hai cách đo mức lọc cầu thận với EDTA được áp dụng:

    + Đo hệ số thanh thải EDTA bằng phương pháp truyền tĩnh mạch hai giai đoạn, giống như đo hệ số thanh thải inulin. Tính hệ số thanh thải EDTA theo công thức (1).

    + Đo mức giảm hoạt độ phóng xạ trong huyết tương của 51Cr-EDTA. Phương pháp này tiện lợi hơn vì không phải thu thập nước tiểu theo thời gian, chỉ cần tiêm thuốc tĩnh mạch một lần. Mức lọc cầu thận đo bằng phương pháp 51 Cr-EDTA tương đương mức lọc cầu thận đo bằng inulin, ngay cả khi mức lọc cầu thận giảm xuống 3-15 ml/ph.

    2.7.2. Sử dụng dược chất phóng xạ 125I-iothalamate

    Sử dụng dược chất phóng xạ 125I-iothalamate để đánh giá mức lọc cầu thận tương tự như 51 Cr-EDTA.

    2.7.3. Sử dụng dược chất phóng xạ 99Tcm-DTPA

    DTPA (diethylene triamine penta acetic acid tin) gắn với 99Tcm đã được dùng để đo mức lọc cầu thận. Mức lọc cầu thận được đo bằng 99 Tcm-DTPA có tương quan rất chặt với mức lọc cầu thận đo bằng inulin (r=0,97).

    Hình 3.4. Xạ đồ thận với 99 Tcm-DTPA ở người có chức năng thận bình thường. Mức lọc cầu thận ở thận trái 60,5ml/ph (55%), thận phải 49,5ml/ph (45%), tổng mức lọc cầu thận là 110ml/ph

    Tiêm 2-3 mCi dược chất 99 Tcm-DTPA vào tĩnh mạch, rồi đo hoạt tính phóng xạ ở hai thận, quan trọng nhất là thời gian sau tiêm 2 phút. Đường cong biểu diễn hoạt độ phóng xạ của thận theo thời gian có 3 pha: pha tưới máu (pha động mạch), pha bài tiết, pha bài xuất. Đo hoạt độ phóng xạ theo thời gian rồi tính ra mức lọc cầu thận của từng bên thận. Mức lọc cầu thận toàn bộ bằng tổng mức lọc cầu thận của hai thận.

    Nguồn: Hà Hoàng Kiệm. THẬN HỌC LÂM SÀNG. NXB YH. 2010. Tr 144 – 151

    CHIA SẺ BÀI VIẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Số Ure Trong Máu Cao Có Phải Thận Của Bạn Đang Gặp Vấn Đề?
  • Đánh Giá Chức Năng Thận Qua Chỉ Số Cystatin C
  • Hiểu Về Các Chỉ Số Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận
  • Tìm Hiểu Các Phương Pháp Xét Nghiệm Chức Năng Thận Tiên Tiến Nhất Hiện Nay
  • Xét Nghiệm Thận Hết Bao Nhiêu Tiền?
  • Thăm Dò Chức Năng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Thăm Dò Chức Năng Thận
  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Dòng Máu Thận
  • Phương Pháp Đánh Giá Chức Năng Thận Ở Phụ Nữ Có Thai
  • Chỉ Số Xét Nghiệm Creatinine Đánh Giá Chức Năng Thận
  • Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận Cần Gặp
  • Những xét nghiệm thuộc loại này cũng có rất nhiều và có nhiều cách sắp xếp. Có cách sắp xếp theo phương pháp làm xét nghiệm. Ví dụ: các xét nghiệm cần lấy máu và các xét nghiệm không cần lấy máu. Có cách sắp xếp theo chức năng sinh lý của thận. Ví dụ: các xét nghiệm thăm dò bài tiết urê, các xét nghiệm thăm dò chức phận chuyển hoá nước và muối, v.v….

    Dù sắp xếp theo cách nào thì qua các xét nghiệm đó chúng ta cũng cần phải biết tổn thương ở cầu thận, ống thận không, hay tổn thương ở cả hai. Cho nên trong bài này sẽsắp xếp các xét nghiệm thành 3 nhóm:

    Các xét nghiệm thăm dò chức năng toàn bộ.

    Các xét nghiệm thăm dò chức năng lọc của thận.

    Các xét nghiệm thăm dò chức năngngoại tiết (excretion) và tái hấp thu của ống thận.

    Các xét nghiệm đó không phải hoàn toàn tách rời hẵn nhau. Những xét nghiệm này khá phức tạp và kết quả chỉ có giá trị tương đối vì nó chịu ảnh hưởng của rất nhều yếu tố: bản thân quá trình sinh lý học của thận cũng đã khá phức tạp, mà còn nhiều vấn đề y học chưa biết tới, chưa lý giải được. Mặt khác những xét nghiệm đó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại lai như kỹ thuật sinh hoá, cách lấy nước tiểu, lấy máu, chúng tôi nên phải thực hiện các xét nghiệm hết sức

    thận trọng, chính xác.

    Quá trình hình thành nước tiểu

    Để hiểu rõ nguyên lý của các phương pháp thăm dò, cần nhắc lại quátrình hình thành nước tiểu như sau:

    Theo Ludwig, Cushny thì cầu thận là một màng lọc bán thẩm thấu, lọc các chất có trọng huyết tương, trừ protein và mỡ. Oáng thận sẽ tái hấp thu một số lớn nước để thành nước tiểu thực sự. Gần đây người ta thấy ống thận còn ngoại tiết một số chất. Nhưvậy sự hình thành nước tiểu có 3 quá trình: lọc ở cầu thận, tái hấp thụ và ngoại tiết của ống thận.

    Hiện tượng lọc ở cầu thận

    Cầu thận lọc khoảng 20% huyết tương đi qua nghĩa là 120 – 130 ml phút của cả hai thận.

    Richarras, Arthur, Walker,… lấy nước tiểu ở cầu thận của súc vật, thấy không có protein, mỡ và có Glucoza. Đo độ glucoza, Cl, urê, photphat, creatinin, axitsunfuric,… giống hệt như trong huyết tương và có cùng áp lực thẩm thấu, cùng tính chất dẫn điện cùng pH. Có một số chất chỉ lọc bởi cầu thận mà không bị tái hấp thụ bởi ống thận như creatinin nội sinh, insulin, mannitol, Na hyposunfit, sucroza, xyloza.

    Cho nên có thể dùng các chất này để tính khối lượng lọc của cầu thận dựa trên khái niệm về độ lọc(cléarence): nếu gọi D là lưu lượng của một chất được đào thải hết vào nước tiểu trong một phút, P là độ đậm của chất đó trong huyết tương ở cùng thờigian đó thì tỷ số D/P là lượng huyết tương mang chất đó đi qua cầu thận trong một phút và được cầu thận lọc hết. Tỷ số D/P gọi là “độ lọc” D và Pđều là con số biết được. Độ lọc cầu thận của các chất trên gàn giống

    nhưnhau đều bằng 130 ml/phút.

    Tái hấp thu ở ống thận

    Hầu hết các chất hữu cơ được tái hấp thụ ở ống thận. Glucoza được hấp thu hoàn toàn ở ống thận. Urê, axit, uric, axit amin được tái hấp thu 1phần còn phốt phat, Cl, Na, được tái hấp thu quá nhiều, cứmỗi phút 130ml nước tiểu đầu tiên, chỉ còn lại 1-2ml nước tiểu thực sự.

    Hiện tượng ngoại tiết của ống thận

    Ống thận còn ngoại tiết ra một số chất. Hiện tượng này trước hết là đối với các chất như là iot cản quang. PAH, PSP, pennixilin, streptomyxin và cả K nữa, cho nên cũng dựa vào nguyên lý trên, người ta tính được “độ lọc” các chất đó của ống thận căn cứ vào khả năng ngoạitiết của ống thận. Những chất nào có độ lọc lớn hơn độ lọc cầu thận làcó thêm hiện tượngtiết của ống thận. Ví dụ:

    PAH 600-700ml/phút.

    Iot 600 – 700ml/phút.

    PSP 400ml/phút.

    Có một số yếu tố ảnh hưởng đến “độ lọc” của ống thận.

    Sự cố định của protein huyết thanh:

    Ví dụ PAH có độ lọc 600. phần cầu thận là 120. phần ống thận là 480. nhưng PAH – cũng giống như một số các chất khác – không hoàn toàn tự do trong huyết tương mà một phần nhỏ gắn vào protein (đối với PAH = 20%), điều đó không gây cản trở cho sự ngoại tiết của ống thận nhưng gây cản trở cho việc lọc ở cầu thận, độ lọc ở cầu thận của PAHbị giảm 20%.

    Giới hạn trên hay thềm ngoại tiết của ống thận:

    Độ lọc ống thận của các chất trên chỉ có giá trị khi độ đậm của nó trong huyết tương đối thấp. Nếu cao qua một một giới hạn nào đó thì ống thận thải tiết giảm đi. Đối với PAH giới hạn trên “Tm” là 76mg/phút.

    Sự cạnh tranh của các chất:

    Hai chất cùng ngoại tiết bởi ống thận sẽ cạnh tranh lẫn nhau. Ví dụ khi bài tiếtPAH, độ lọc của PSP giảm. Ở cầu thận không bao giờ có hiện tượng này.

    Có những chất vừa tái hấp thu vửa bị ngoại tiếp:

    Ví dụ kali. Do đó những kết quả thăm dò chức năng ống thận chỉ có giá trị tương đốiso với những thăm dò chức năng cầu thận.

    Thăm dò chức năng toàn bộ

    Có 4 phương pháp:

    Nghiên cứu đậm độ một số chất trong máu: Urê và creatinin, các chất điện giải.

    Nghiên cứu khả năng bài tiết urê.

    Nghiên cứu khả năng bài tiết một số chất màu: phenol sunfolphatalein (PSP), bleu methylen.

    Nghiên cứu khả năng cô đặc của thận: Do tỷ trọng nước tiểu.

    Định lượng một số chấttrong máu

    Có một số chất khi suy thận sẽ bị ứ lại trong máu như: axituric, một số chất điện giải, N cặn bã…

    Định lượng creatinin:

    Lượng creatinin mà ta thu được là tổng số creatinin chuyển từ creatin ra.

    Bình thường có0,8 -1,2 mg/%.

    Định lượng urê máu:

    Bình thường 20 – 30 mg/% không quá 50mg/%.

    Trong viêm thận cấp, mạn, ứ nước bể thận… tăng lên cao, có khi tới 300 -400mg/%, trong núơc tiểu urê lại giảm xuống (bình thường: 26 -30g/lít).

    Định lượng nitơ toàn phần và nitơ cặn bã:

    Tỷ số giữa N toàn phần phi protein và N urê:

    Định lượng các chất điện giải: Bình thường:

    Tổng các chất điện giải trong máu bình thường trong đó:

    Bệnh lý:

    Ngoài suy thận, còn một số trường hợp khác cũng có thay đổiđiện giải máu.:

    Ăn nhạt lâu ngày ( o suy tim, xơ gan…): Tổng lượng các chất điện giải giảm Cl, Na, K đều giảm.

    Mất nước cấp diễn: Cl, Na, K, Ca giảm.

    Dùng Coctison lâu ngày: Cl, Na tăng, K giảm.

    Hội chứng Conn: Cl, Na, tăng, K giảm.

    Bệnh Addison: K tăng, Na, Cl giảm.

    Nghiên cứu khả năng bài tiết urê của thận

    Urê trong máu lúc đói/urê nước tiểu 24 giờ. Phương pháp Jules Cottes:

    Bình thường R = Urê máu x 100 / Urê nước tiểu 24 giờ = 2. Suy thận sẽ tăng quá 2. tỷ số này ít có giá trị.

    Hằng số:

    Trước đây có làm nhưng hiện naykhông áp dụng nữa vì thiếu chính xác.

    Độ lọc Vanslyke (cléarance de Purée):

    Người bệnh nằm nghỉ hoàn toàn trong thời gian làm xét nghiệm. Sáng sớm đi tiểu hết bỏ đi.

    Nằm nghỉ và uống 100ml nước, 1 giờ sau đi đái lấy nước tiểu, đồng thời lấy máu đem thử urê.

    Lại uống 100ml nước nữa, 1 giờ sau lấy nước tiểu. Trộn nước tiểu hai lần và đem thử urê. Có thể cho người bệnh uống½đến 1 lít nước để lấy số lượng nướcxtiểu được nhiều.

    Đó là độ lọc tối đa. Nếu tính ra phần trăm thì độ lọc tối đa %: Ltđ% = Ltđx 100 / 75 = Ltđ x 1,33.

    Lượng nước tiểu < 2ml/phút: độ lọc mẫu (Lm):

    Đó là độ lọc tối đa. Nếu tính ra phần trăm thì độ lọc tối đa phần trăm:

    Lượng nước tiểu < 2ml/phút: độ lọc mẫu (Lm).

    Kết quả:

    Bình thường: Ltđ % = 75% ; Lmẫu = 54%

    Bệnh lý: Nếu Ltđ<75% là suy thận. Trong đó:

    50 – 75% là nghi ngờ.

    50 – 30%suy thận rõ.

    10 – 30% suy thận rõ.

    10 – 30% suy thận nặng.

    10% trở xuống: Sắp chết, nguy kịch.

    Đối với độ lọc mẫu dưới 50% là suy thận.

    Theo Hamburger nghiệm pháp này chỉ có giá trị khi không bị sai sót lúc lấy máu, urê máu dưới80mg%. phương pháp này đánh giá trình độ suy thận tốt hơn bằng số Ambard.

    Đối với người bệnh gầy yếu, không lấy núơc tiểu 2 giờ, mà lấy nước tiểu 24 giờ thật đúng, thật hếtvà tìm lưu lượng urê /phút. Lấy máu nhiều giờ trongngày tìm urê (có thể lấy2,3 lần rồi chia trung bình), chia urê nước tiểu /phút cho urê máu.Với phương pháp này, độ lọc dưới 40ml/phút mới coi là suy thận.

    Nghiên cứu khả năngbài tiết chất màu và tỷ trọng nước tiểu.

    Chủ yếu là để thăm dò ống thận, sẽ nói ở phần sau:

    Thăm dò chức năng lọc cầu thận

    Độ lọc inulin Manitol Na hyposunfit

    Người ta thường dùng inulin, manitol, Na Hyposunfit để đo độ lọc cầu thận vì các chất này không bị biến hoá đi trong cơ thể, chúng có độ lọc hằng định dù độ đậmcủa nó trong huyết tương cao hay thấp, không bị tái hấp thu, không bị ống thận bài tiết.

    Cách làm:

    Chất định dùng cần tiêm rỏ giọt tỉnh mạch để giữ độ đậm trong huyết tương luôn luôn hằng định. Nước tiểu đi từ cầu thận tới bàng quang mất 6 – 8 phút nên độ đậm trong nước tiểu sẽ tương ứng với độ đậm trong máu trước đó 6- 8 phút.

    Inulin: Dùng dung dịch 10% để đạt tớ độ đậm trong huyết tương là 200 – 350g/lít. Hyposunfit: dùng dung dịch 10%, với liều lượng 20g/kg thể trọng, Mannitol dùng dung dịch 20%, 50ml, 30 phút sau khi tiêm các chất đó, đái hết bỏ nước tiểu đi, uống 300ml nước.

    Phút 40 lấy 15ml máu (có fluorua để bảo quản).

    Phút 50 lấy nước tiểu thật hết.

    Phút 60 lại lấy 15ml máu.

    Phút 70 lấy nước tiểu.

    Định lượng các chất đó trong máu và nước tiểu, áp dụng công thứcU x V / Pđể tínhđộ lọc (U và P là đậm độ chất thí nghiệm trong nước tiểu và trong máu. V là lượngnước tiểu trong 1 phút). Nếu so sánh với diện tích cơ thể (1,73m2).

    Kết quả:

    Bình thường: Độ lọc của các chất trên gần giống nhau và bằng 130ml/phút ± 30.

    Bệnh lý: Khi dưới 100ml/phút là suy thận.

    Theo Hamburger thì các phương pháp này chỉ có giá trị khi lấy nước tiểu đúng, liều lượng nước tiểu phải trên 1,5 ml/phút.

    Inulin là một polyosit, dùng nó có gây khó khăn là dễ gây tai biến, đắt tiền và định lượng khó nhưng chính xác nên còn hiện được sử dụng rộng rãi ở nơi có đủ điều kiện và phương tiện. Manitol là chất đa rượu dễ dùng, rẻ tiền, dễ định lượng. Nhưng trong trường hợp ống thận có tồn thương thì nó bị hấp thu lại từ5 – 15% kết quả bị sai lạc. Na hyposunfit cũng vậy, được áp dụng ở nơi thiếu phương tiện và không có điều kiện.

    Độ lọc Creatinin

    Cách làm:

    Sáng nhịn đói, uống 2g creatinin và 50ml nước, nằm nghỉ 1 giờ sau lấy nước tiểu và máu, 40 phút sau lấy máu và nước tiểu lần 2.

    Máu hai lần trộn lẫn, nước tiểu cũng trộn lẫn và đem định lượng creatinin rồi áp dụng công thức chung để tính độ lọc creatinin ngoại sinh: hoặc tính theo công thức:

    Độ đậm creatinin nước tiểu / độ đậm creatinin máu = chỉ sốđậm độ. Lưu lượng nước tiểu/phút = L.

    Độ lọc creatinin C = chỉ số đậm độ x L.

    Kết quả:

    Bình thường:110ml/phút.

    Bệnh lý: Suy thận, suy tim < 100ml/phút.

    Thăm dò chức năng ống thận

    Thăm dò chức năng chuyển hoá nước

    Chủ yếu là các phương pháp đo tỷ trọng nước tiểu, qua đó biết được khả năng tái hấp thu nước, làm cô đặc nước tiểu của ống thận.

    So sánh lượng nước tiểu trong ngày và đêm:

    Lấy nước tiểu 9 giờ sáng đến 9 giờ tối và từ 9 giờ tốiđến 9 giờ sáng ngày hôm sau. Bình thường lượng nước tiểu ban ngày gấp hai lần ban đêm. Nếu ban đêmnhiều hơnthường là do ứ nước và suy thận.

    Đo tỷ trọng nước tiểu 3 giờ 1 lần (phương pháp Zimmiski):

    Bình thường tỷ trọng thay đổi tuỳ theo lượng nước uống vào. Trong suy thận tỷ trọng ít thay đổi và thấp.

    Nghiệm pháp gây đái nhiều của Vaquez Cottet:

    Cho uống một lượng nước 600ml trong vòng 4 giờ. Lượng nước tiểu bài tiết rabàng hoặc lớn hơn lượng nước uống vào, tỷ trọng thay đổi từng lúc. Trong suy thận, lượng nước tiểu ít hơn và tỷ trọng giảm, không thay đổi.

    Nghiệm pháp pha loãng của Volhard:

    Người bệnh nhịn đói, thông bàng quang, lấy hết nước tiểu. Sau đó cho uống 1,5 lít nước trong vòng nửa giờ. Người bệnh nằm ngửa trên giường trong thời gian làm nghiệm pháp. Cứ nửa giờ lấy nước tiểu 1 lần để định số lượng và tỷ trọng, làm trong 4 giờ liền.

    Bình thường: Tỷ trọng lúc thấp nhất dưới 1,002. lượng nước tiểu bài tiết trong 4 giờ bằng hoặc lớn hơn lượng nước uống vào.

    Suy thận: Số lượng nước bài tiết ra ít hơn lượng núơc uống vào. Tỷ trọng lúc thấp nhất trên 1,002. phươn pháp này chịu ảnh hưởngcủa nhiều yếu tố ngoại thận như gan, tim…

    Chống chỉ định khi có phù hoặc suy hoàn toàn.

    Nghiệm pháp cô đặc của Vohard:

    Người bệnh nằm nghỉ trên giường suốt 24 giờ, ăn khô không uống nước. Tổng số nước đưa vào cơ thể trong 24 giờ tối đa là 500ml. Cứ 3 giờ lấy nước tiểu một lần, định tỷ trọng và số lượng, làm trong 24 giờ.

    Bình thường: Thận bài tiết từ 300 – 700ml nước tiểu. Tỷ trọng 1,025 đến 1,035. tỷ trọng lúc cao nhất tối thiểu phải 1,025.

    Suy thận: Tỷ trọng giảm dưới 1,025.

    Phương pháp này bị ảnh hưởng của các yếu tố: Ra mồ hôi nhiều, ỉa chảy, nôn.

    Nghiệm pháp làm thay đổi tỷ trọng nước tiểu bằng tinh chất thùy sau tuyến yên:

    Tinh chất thuỳ sau tuyến yên có tác dụng làm tăng hấp thu của ống thận do đó đái ít đi.

    Cách làm: Uống 750 ml nước trong 45 phút. Sau đó đái hết bỏ đi. Một giờ sau đái hết, lấy nước tiểu tỷ trọng núơc tiểu này là a. Tiêm ngay 10 đơn vị thùy sau tuyến yên (tiêm dưới da) 1 giờ, 2 giờ sau khi tiêm lại lấy nước tiểu, tỷ trọng nước tiểu này là D (lấy mẫu nước tiểu nào có tỷ trọng cao nhất).

    Bình thường:d = 100% dao động trong 80 – 130%; a càng cao, d càng thấp thì càng gần tỷtrọng giới hạn.

    Bệnh lý: Dưới 80% = ống thận tổn thương, càng thấp tổn thương càng nặng.

    Trên 130% trong suy gan. Gan không phá huỷ tinh chất thuỳ trong tuyến yên.

    Chống chỉ định: Có thai, tăng huyết áp, có cơn đau thắt ngực.

    Thăm dò chức năng bài tiết chất màu PSP và xanh Metylen

    Phương pháp PSP:

    Uống 200ml nước làm hai lần, cách nhau 30 phút. Sau đó 15 phút lấy nước tiểu, rồi tiêm tĩnh mạch 1ml dung dịch PSP 6%, 15 phút và 70 phút sau khi tiêm, thông bàng quang lấy nước tiểu vào hai cốc khác nhau. Làm kiềm tính nước tiểu bằng vài giọt Na, thêm cho đủ 1000ml bằng nước cất. Đemso sánh với mẫu PSP.

    Bình thường: PSP bài tiết sau 15 phút ít nhất là 15% và sau 70 phút ít nhất là 55%.

    Suy thận: PSP bài tiết giảm đi. Nếu bài tiết giảm ½ thì urê máu tăng cao, nếu bài tiết rất ít, urê máu thường quá cao, trên 2g/lít. Khi đường tiết niệu bị tắc thì thời gian bài tiết PSP bị chậm hoặc không bài tiết ra được.

    Phương pháp này hay áp dụng vì dễ thực hiện vàít độc.

    Phương pháp xanh Metylen:

    Trong phương pháp thăm dò bài tiếtchất màu, có thể dùng xanh metylen 1/120 tiêm 1ml vào tĩnh mạch. Sau đó soi bàng quang để quan sát thời gian bài tiết xanh metylen ra nước tiểu của từng bên thận. Nếu không soi được thì thông bàng quang lấy nước tiểu, nước tiểu có xanh metylen sẽ có màu xanh.

    Bình thường: 30 phút sau nước tiểu có màu xanh. Giờ thứ 3-4 xanh nhất. Sau 48 giờ xanh hết.

    Bệnh lý: Bài tiết kéo dài và chậm trong viêm thận kẽ.

    Bài tiết sớm và nhiều trong viêm thận bán cấp.

    Ứ nước tiểu bể thận: Thời gian bài tiết cũng chậm hoặc bị tắc hẳn.

    Hai phương pháp này có thể bị sai lạc kết quả vì liều lượng không đúng, nhất là trong trường hợp có cản trở trong đường tiết niệu làm cho các chất đóbài tiết chậm và ít đi: sỏi thận niệu quản, tiền liệt tuyến to…

    Diodrast và PAG là hai chất người ta thấy hầu như biến mất trong máu tĩnh mạch sau khi đã qua thận. Ởtĩnh mạch thận, chúng chỉ còn tối đa 10% so với trong máu động mạch thận.

    Cách làm:

    Dùng dung dịch PAH 20% tiêm nhỏ giọt tĩnh mạch để giữ cho đậm độ trong huyết tương được hằng định, không cao quá 50mg/l. có thể cho uống6g PAH trong 300ml nước, nhưng không tốt bằng.

    Kết quả:

    Bình thường: Độ lọc PAH là 600ml/phút ± 200. lưu lượng máu qua thận 1200ml/phút, bằng ¼ lượng tim.

    Bệnh lý: Nếu độ lọc dưới 400ml/phút là suy thận hoặc tốc độ tuần hoàn giảm. Muốn đánh giá tốc độ tuần hoàn thận thì ống thận phải hoàn toàn bình thườngmới có giá trị.

    Lưu lượng máu qua thận giảm: Hẹp động mạch thận, suy tuần hoàn, viêm thận mạn…

    Thăm dò từng thận

    Muốn có thái độ xử trí đúng đắn phải thăm dò từng bên. Thường áp dụng mấy phương pháp sau đây:

    Bài tiết chất màu:

    Lấy nước tiểu riêng từng thận: Phải đưa ống thông vào từng thậnqua máy soi bàng quang.

    Chụp thận có chất cản quang qua đường tĩnh mạch. Dùng iot phóng xạ (I 123).

    Hai phương pháp trên đã nói tới. Dươi đây chỉ nói đến phương pháp dùngI 123. đó là phương pháp có giá trị nhất, áp dụng phổ biến ở nhiều nước. Ở nước ta hiện nay chưa áp dụng.

    Kết quả: Kết quả được biểu diễn bằng một đường cong parabon.

    Bình thường: Đường biểu diễn của thận có 3 giai đoạn.

    OA: giai đoạn vào động mạch thận: 2-4 phút.

    AB: giai đoạn vào nhu mô thận: 3 phút.

    BC: giai đoạn bài tiết: 5 – 8phút.

    Đường biểu diễn của máu là đường cong hypecbon, thời gian5-7 phút

    AB kéo dài: Các bệnh về mạch thận nhưhẹp, tắc động mạch thận.

    AB kéo dài: Các bệnh suy thận như viêm cầu thận, viêm đài bểthận mạn tính làm suy thận. BC kéo dài: các bệnh làm tắc đường tiết niệu như sỏi, lao.

    Vấn đề chọn lọc các phương pháp, khó mà đề ra được một công thức nhất định. Tuỳ theo tình hình thực tế, tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh mà áp dụng phương pháp nào cho thích hợp.

    Thăm dò chức năng toàn bộ:

    Đo urê máu và độ lọc Vanslyke.

    Tỷ lệ các chất điện giải trong máu.

    Thăm dò chức năng cầu thận:

    Độ lọc inulin.

    Độ lọc manitol.

    Độ lọc creatin nội sinh

    Thăm dò chức năng ống thận:

    Tính chất thuỳ sau tuyến yên.

    Bài tiết PSP.

    Nghiệm pháp Vohar.

    Đo tỷ trọng nước tiểu theo phương pháp Zimmiski 3 giờ đo một lần. Thăm dò từng thận riêng rẻ.

    Lấy nước tiểu từng bên.

    Chụp thận có chất cản quang qua tĩnh mạch.

    Thành viên chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Độ Lọc Cầu Thận Ước Tính (Egfr) Là Gì?
  • Chỉ Số Creatinine 1.35 Có Phải Suy Thận Độ 3A? Điều Trị Thế Nào?
  • Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Biến Đổi Mức Lọc Cầu Thận Trước Và Sau Ghép Đo Bằng Xạ Hình Chức Năng Thận Với Một Số Yếu Tố, Chỉ Số Trước Ghép
  • Ý Nghĩa Chỉ Số Creatinin Bình Thường
  • Nguy Cơ Tái Phát Sỏi Thận Do Dùng Thuốc Bổ Sung Canxi
  • Xét Nghiệm Thăm Dò Chức Năng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Dòng Máu Thận
  • Phương Pháp Đánh Giá Chức Năng Thận Ở Phụ Nữ Có Thai
  • Chỉ Số Xét Nghiệm Creatinine Đánh Giá Chức Năng Thận
  • Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận Cần Gặp
  • Nghiên Cứu Lâm Sàng, Cận Lâm Sàng Và Một Số Chỉ Số Miễn Dịch Ở Bệnh Nhân Sau Ghép Thận
  • Xét nghiệm thăm dò chức năng thận

    1. Thăm dò chức năng lọc của cầu thận.

    1.1. Đo mức lọc cầu thận qua tính độ thanh thải creatinin nội sinh

    1.1.1. Ý nghĩa và nguyên lý:

    Trong lâm sàng, người ta đo mức lọc cầu thận (MLCT, còn gọi là clearance) qua tính độ thanh thải creatinin nội sinh, là phương pháp hữu hiệu có giá trị quan trọng trong chẩn đoán xác định suy thận và giai đoạn suy thận. Độ thanh thải creatinin nội sinh là cơ sở cho chọn phương pháp điều trị phù hợp (độ I đến độ III a là điều trị bảo tồn, từ độ III b trở đi phải điều trị thay thế: lọc máu chu kỳ hay ghép thận).

    Creatinin nội sinh trong huyết thanh là sản phẩm giáng hoá cuối cùng của creatinin được lọc qua cầu thận, nhưng không bị tái hấp thu và rất ít được bài tiết ở ống thận, nên creatinin bài xuất không chịu ảnh hưởng của lượng nước tiểu. Do đó lượng creatinin huyết thanh không thay đổi trong ngày và lượng creatinin nội sinh tương ứng với mức lọc cầu thận (glomerular filtratron rate).

    Ở người bình thường, nồng độ creatinin huyết thanh là 44 – 106 mmol/l, tương ứng với 0, 8 – 1, 2mg/dl (mg%) và mức lọc cầu thận là 80 – 120ml/phút. Khi suy thận, tùy từng giai đoạn mà có mức lọc cầu thận giảm và lượng creatinin tăng tương ứng trong huyết thanh.

    1.1.2. Phương pháp tiến hành

    – Thường gom nước tiểu 24h (nêu ở phần 1) hoặc cũng có thể tùy điều kiện để gom nước tiểu 3h, 6h, 12h để tính số lượng nước tiểu trong một phút.

    – Lấy 20ml nước tiểu vào ống nghiệm gửi đi định lượng creatinin niệu. Thường nên kết hợp với xét nghiệm protein niệu, urê niệu, áp lực thẩm thấu và điện giải để giúp cho theo dõi và điều trị.

    – Lấy 3ml máu cho vào ống nghiệm gửi đi định lượng creatinin máu. Thường cũng cho kết hợp xét nghiệm urê máu, điện giải, kiềm-toan để theo dõi và có phương pháp điều trị phù hợp.

    1.1.3. Tính mức lọc cầu thận (MLCT)

    Ucr ´ V (ml/phút) 1, 73

    Pcr S

    MLCT: hệ số thanh thải creatinin nội sinh (ml/phút).

    Ucr: nồng độ creatinin trong nước tiểu (mmol/l, cần đổi ra mmol/l để dùng đơn vị

    với creatinin máu).

    Pcre: nồng độ creatinin trong máu (mmol/l).

    V (ml/ph): thể tích nước tiểu/phút (ml/ph).

    1, 73: diện tích da trên cơ thể của một người Âu Châu chuẩn (chưa có thông số cho

    người Việt Nam),

    S: diện tích da trên cơ thể bệnh nhân (m 2) theo bảng Dubois. Đối chiếu chiều cao

    cân nặng sẽ cho kết quả diện tích da.

    Trong thực tế thường chỉ tính mức lọc cầu thận theo công thức sau:

    Ucr ´ V

    Pcr

    Ở người bình thường MLCT là 120 ml/phút. Khi MLCT < 60 ml/phút là có suy

    thận.

    1.2. Tính MLCT với người lớn tuổi dựa vào nồng độ creatinin máu, tuổi, cân nặng, theo công thức của Cockroft và Gault (1976):

    (140 – tuổi) ´ cân nặng cơ thể (kg)

    72 ´ creatinin huyết thanh (mg/dl)

    Phương pháp này không chính xác bằng phương pháp gom nước tiểu 24h.

    Số lượng ước đoán hệ số thanh thải creatinin nội sinh cho kết quả cao hơn hệ số thanh thải creatinin nội sinh thực ở bệnh nhân suy thận. Suy thận càng nặng thì độ chênh lệch càng lớn, vì sự bài tiết creatinin ở ống thận tăng và mất creatinin qua ruột. Thêm vào đó là về độ tuổi 35 trở lên thì mức lọc cầu thận giảm dần cho đến ngoài độ tuổi 50 thì số lượng nephron giảm từ 1-30%. Trong khi đó, ở trẻ em thì nồng độ creatinin tăng dần do khối lượng cơ tăng theo tuổi. Do vậy, sử dụng công thức trên sẽ có thể dẫn đến đánh giá sai mức lọc cầu thận.

    Cho nên, phương pháp này chỉ làm cho những trường hợp đặc biệt (không thể gom được nước tiểu trong 24h) và kết quả của nó về mức lọc cầu thận không thể là cơ sở chính để chẩn đoán và chỉ định điều trị (lọc máu hay ghép thận).

    Chú ý: Phương pháp ước lượng này với nữ giới phải trừ 15% vì khối lượng cơ ở nữ thấp hơn nam. Đây cũng là lý do phức tạp, nên người ta ít sử dụng phương pháp này.

    Bảng 7. Phân chia giai đoạn suy thận dựa vào MLCT và nồng độ creatinin máu.

    2. Thăm dò chức năng ống thận.

    Người ta thăm dò chức năng ống thận bằng đánh giá khả năng cô đặc nước tiểu.

    2.1. Nguyên lý và ý nghĩa:

    Dịch lọc cầu thận khi đi qua hệ thống ống thận, thông qua quá trình tái hấp thu và bài tiết sẽ được cô đặc hoặc hoà loãng để áp suất thẩm thấu dịch lọc ngang với mức thẩm thấu huyết tương (khoảng gần 300 mosmol/kg nước). Bình thường, nước tiểu được cô đặc gấp 2 – 3 lần, có thể tối đa gấp 4 lần (600 – 1200 mosmol/kg nước). Khi có tổn thương ống thận và kẽ thận, nước tiểu không được cô đặc và hậu quả là tỷ trọng nước tiểu giảm. Khi tỷ trọng nước tiểu giảm là thể hiện chức năng ống thận giảm sút. Trong lâm sàng người ta dùng chỉ số này để phát hiện một số bệnh:

    – Bệnh ống thận và kẽ thận: hoại tử ống thận cấp, viêm kẽ thận do uống nhiều thuốc giảm đau, viêm thận – bể thận cấp và mãn, bệnh nang tủy thận…

    – Đái tháo nhạt.

    – Suy thận cấp (giai đoạn đái nhiều).

    – Suy thận mãn…

    2.2. Các phương pháp đánh giá chức năng cô đặc của ống thận

    2.2.1. Đo tỷ trọng nước tiểu bằng tỷ trọng kế:

    + Ý nghĩa và nguyên lý:

    Là đo trọng lượng của chất hoà tan trong một đơn vị thể tích nước bằng tỷ trọng kế.

    + Phương pháp tiến hành:

    – Đo tỷ trọng nước tiểu bằng tỷ trọng kế ở nhiệt độ chuẩn là 16 oC. Khi nhiệt độ tại vị trí đo tăng lên cứ 3 oC thì số đo giảm xuống 0, 001. Khi nhiệt độ giảm 3 o C thì số đo phải tăng 0, 001. Cho nên cần đối chiếu với nhiệt độ phòng để trừ hoặc thêm vào.

    – Mẫu nước tiểu: lấy 50 ml nước tiểu tươi vào buổi sáng đổ vào bình trụ nhỏ, nhúng tỷ trọng kế vào (chú ý không đo ngay sau khi đái, mà phải để ít phút cho nhiệt độ nước tiểu bằng nhiệt độ phòng). Trước khi đo cần xem nhiệt độ phòng, chuẩn tỷ trọng kế trong nước cất để đề phòng sai số (nếu tỷ trọng kế chuẩn tốt khi để trong bình chứa nước cất, số đo tỷ trọng kế phải là 1 với nhiệt độ phòng là 16 o C).

    – Đo: đọc số đo ở tỷ trọng kế ngập nước với nhiệt độ phòng (cộng vào hay trừ đi).

    – Những yếu tố gây sai số: nước tiểu có nhiều protein, glucose, chất cản quang (chụp UIV tĩnh mạch thận) hoặc dùng chất khử khuẩn lau tỷ trọng kế.

    + Đánh giá kết quả:

    Bình thường, tỷ trọng nước tiểu đầu tiên vào buổi sáng từ 1, 018 trở lên là khả năng cô đặc nước tiểu tốt.

    2.2.2. Đo áp suất thẩm thấu nước tiểu bằng máy đo thẩm thấu với mẫu nước tiểu sáng sớm

    + Nguyên lý và phương pháp:

    Đo độ hạ băng điểm của chất dịch, dùng máy đo thẩm thấu sẽ cho kết quả áp lực thẩm thấu của chất đó tương ứng với độ hạ băng điểm của dung dịch cần đo tính ra mosmol trong 1 kg nước, không phụ thuộc vào điện thế, kích thước, trọng lượng của tiểu phân chất hoà tan trong dung dịch.

    Độ hạ băng điểm

    (mosmol/kg nước) 0, 00186

    Đây là phương pháp đơn giản, dễ áp dụng có giá trị trong chẩn đoán.

    + Cách tiến hành: Bệnh nhân ăn uống sinh hoạt bình thường, tối hôm trước không được dùng các chất có tác dụng lợi tiểu, trước khi đi ngủ phải đi tiểu hết bãi, trong đêm không được uống thêm nước, không được truyền dịch. Nước tiểu đầu tiên sáng sớm lúc ngủ dậy, được đựng trong bô sạch lấy 1ml để đo độ thẩm thấu.

    + Đánh giá kết quả: Nếu độ thẩm thấu ³ 600 mosmol/kg nước là khả năng cô đặc nước tiểu của thận bình thường. Nếu độ thẩm thấu < 600 mosmol/kg nước khả năng cô đặc nước tiểu giảm. Muốn đánh giá chính xác phải làm xét nghiệm lại 3 lần.

    2.2.3. Nghiệm pháp Zimniski:

    Là phương pháp đo trực tiếp số lượng và tỷ trọng nước tiểu nhiều lần trong 24h để đánh giá chức năng ống thận.

    + Tiến hành:

    Ngày làm xét nghiệm, bệnh nhân vẫn ăn uống và sinh hoạt bình thường.

    Nghiệm pháp: lấy 8 mẫu nước tiểu/24h, cách 3h lấy một mẫu để đo số lượng và tỷ trọng nước tiểu của mỗi mẫu: 6h bệnh nhân đi đái bỏ, sau đó cứ cách 3h: 9, 12, 15, 18, 21, 24, 3, 6h sáng hôm sau).

    + Đánh giá kết quả:

    Trong các mẫu nước tiểu phải có một mẫu có tỷ trọng ³ 1, 025 (thường mẫu 24h, 3h).

    Các mẫu không có hiện tượng đồng tỷ trọng (chênh lệch tỷ trọng không đáng kể).

    Số lượng nước tiểu các mẫu trong ngày nhiều hơn ban đêm (thường gấp 2 lần).

      Khả năng cô đặc nước tiểu giảm:

    Không có mẫu nào có tỷ trọng ³ 1, 025.

    Các mẫu có hiện tượng đồng tỷ trọng.

    Số lượng nước tiểu ban đêm nhiều hơn ngày.

    2.2.4. Nghiệm pháp nhịn khát của Volhard

    + Phương pháp tiến hành: Buổi sáng, cho bệnh nhân đi tiểu hết bãi, từ đó không được uống nước (các bữa ăn sáng, trưa, tối phải ăn chế độ ăn khô bằng bánh mỳ), lượng nước ăn-uống-tiêm truyền không quá 500ml/24h. Nghiệm pháp này chỉ đạt yêu cầu với chế độ nhịn khát nghiêm ngặt sao cho: thời gian nhịn khát cần đạt 18h mà cân nặng bệnh nhân phải giảm 3-5% so với trước khi làm nghiệm pháp.

    Cứ 3h đo số lượng và độ thẩm thấu hoặc tỷ trọng nước tiểu một lần.

    + Nhận định và đánh giá kết quả:

    – Bình thường:

    Số lượng nước tiểu các mẫu giảm dần theo thời gian.

    Có một mẫu nước tiểu có độ thẩm thấu đạt ³ 800 mosmol/kg nước (hoặc tỷ

    trọng ³ 1, 025).

    – Khả năng cô đặc nước tiểu của thận giảm khi:

    Số lượng nước tiểu các mẫu xấp xỉ bằng nhau.

    Không có mẫu nước tiểu nào có độ thẩm thấu ³ 800 mosmol/kg nước (hoặc tỷ

    trọng ³ 1, 025).

    Ngoài ra còn một số phương pháp khác để thăm dò chức năng ống thận, như phương pháp đo hệ số thanh thải nước tự do, nghiệm pháp hạn chế nước, nghiệm pháp tiêm arginin vasopsin (AVP) nhưng ít được sử dụng.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • BÁCH KHOA Y HỌC
    • Tác giả: Bác sĩ Đa Khoa Lê Đình Sáng; Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, khóa 2005-2011.
    • Email: Lesangmdgmail.com
    • Nguồn: Nhiều nguồn, chi tiết xem bài giới thiệu
    • CẢNH BÁO: Không có chuyên môn, không phải là nhân viên y tế, bạn không được phép tự sử dụng những thông tin có trong cuốn sách này để chẩn đoán và điều trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thăm Dò Chức Năng Thận
  • Độ Lọc Cầu Thận Ước Tính (Egfr) Là Gì?
  • Chỉ Số Creatinine 1.35 Có Phải Suy Thận Độ 3A? Điều Trị Thế Nào?
  • Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Biến Đổi Mức Lọc Cầu Thận Trước Và Sau Ghép Đo Bằng Xạ Hình Chức Năng Thận Với Một Số Yếu Tố, Chỉ Số Trước Ghép
  • Ý Nghĩa Chỉ Số Creatinin Bình Thường
  • Vai Trò Của Nghiệm Pháp Egfr Trong Thăm Dò Chức Năng Lọc Máu Của Cầu Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Lọc Ở Tiểu Cầu Thận
  • Chạy Thận Nhân Tạo Là Gì
  • ✅ Chạy Thận Nhân Tạo 👉 +5 Mẹo Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
  • Nguyên Lý Của Chạy Thận Nhân Tạo
  • Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Người Suy Thận Lọc Máu Định Kỳ
  • Thận là cơ quan giúp cơ thể thực hiện hai nhiệm vụ bài tiết và nội tiết. Có nhiều nghiệm pháp khác nhau để tính toán khả năng hoạt động của thận. Trong đó, cách đo mức lọc cầu thận eGFR là nghiệm pháp thăm dò chức năng lọc máu của cầu thận tốt nhất.

    Thận là cơ quan có ý nghĩa sinh tồn với vai trò điều hòa cân bằng nội môi của cơ thể. Có mấy phương pháp thăm dò chức năng cầu thận? Thận cần rất nhiều chức năng để thực hiện nhiệm vụ của mình, vì vậy cũng có nhiều nghiệm pháp khác nhau giúp thăm dò chức năng thận, cụ thể là:

    • Đo hệ số thanh thải inulin, manitol, natri thiosulphat hoặc creatinin nội sinh;
    • Ước lượng hệ số thanh thải creatinin qua nồng độ creatinin huyết thanh;
    • Đánh giá mức lọc cầu thận bằng phương pháp đo nồng độ b2-microglobulin;
    • Đo mức lọc cầu thận bằng phương pháp đồng vị phóng xạ.

    Tuy nhiên mỗi nghiệm pháp chỉ phản ánh một số chức năng của cầu thận chứ không phải là toàn bộ. Những nghiệm pháp thăm dò chức năng thận dù rất có giá trị, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả trong và ngoài thận. Do đó khi phân tích kết quả của từng nghiệm pháp cần chú ý đến đặc điểm này.

    eGFR là chữ viết tắt của thuật ngữ estimated Glomerular Filtration Rate, tạm dịch Độ Lọc Cầu Thận ước tính. Giá trị này cho biết mức độ thận lọc chất thải ra khỏi máu và giúp xác định tổn thương thận nếu có. Mặc dù có nhiều nghiệm pháp khác nhau để thăm dò chức năng thận, eGFR vẫn được xem là phép đo chức năng thận tốt nhất. Nếu độ lọc cầu thận càng cao thì thận làm việc càng tốt, thông thường vào khoảng 90 – 100 ml/phút.

    Trong trường hợp bác sĩ yêu cầu xét nghiệm máu để biết thêm về chức năng thận, chỉ số eGFR sẽ được phòng thí nghiệm tính toán và trả kết quả. Để tính toán chính xác khả năng hoạt động của thận, các chuyên gia đã xây dựng một công thức ước tính GFR đặc biệt với 3 yếu tố sau:

    Công thức:

    eGFR (mL/phút/1,73m2) = 186.SCr-1,154.Tuổi-0,203.(0,742 đối với nữ).(1,21 đối với người Mỹ gốc phi)

    Trong đó SCr chính là Nồng độ creatinin trong máu (mg/dL). Các bác sĩ cho biết, thận thường loại bỏ creatinine trong máu trước khi bài tiết ra ngoài qua nước tiểu. Vì thế khi chức năng thận giảm sẽ có nhiều creatinine còn lại trong máu hơn.

    Công thức 1: Dựa vào chỉ số Creatinin trong máu và nước tiểu

    Lấy nước tiểu 24 giờ để đo thể tích và lượng creatinin bài tiết. Đồng thời đo nồng độ creatinin trong máu thu thập vào giữa khoảng thời gian lấy nước tiểu.

    CrCl (mL/phút) = (UCr.Vnước tiểu)/(SCr.T)

    Trong đó:

    • CrCl: Độ thanh thải creatinin
    • Ucr: Nồng độ creatinin trong nước tiểu (mg/dL)
    • V nước tiểu: Thể tích nước tiểu đã lấy (mL)
    • SCr: Nồng độ creatinin trong máu (mg/dL)
    • T: Thời gian thu thập nước tiểu (phút)

    Công thức 2: Corkroft-Gault cho người trưởng thành

    Nhằm tránh tính toán giá trị độ thanh thải creatinin sai, các nhà nghiên cứu đã xây dựng những phương pháp ước lượng khác nhau từ giá trị creatinin trong serum và dựa trên đặc điểm của bệnh nhân.

    Đối với người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên và không quá béo phì, công thức dùng phổ biến được đề xuất bởi Cockcroft và Gault như sau:

    Nam: CrCl ước lượng = /(72.SCr)

    Trong đó:

    • CrCl ước lượng: Độ thanh thải creatinin ước lượng (mL/phút)
    • Tuổi: Tính bằng năm
    • Cân nặng: Tính bằng kg
    • SCr: Nồng độ creatinin trong serum (mg/dL)

    Ở nữ giới, công thức trên cần nhân với 0,85 vì phụ nữ có cân nặng nhỏ hơn nam giới nên lượng creatinin sản xuất mỗi ngày ít hơn.

    Công thức 3: Dựa vào công thức MDRD

    Phương trình MDRD – Modification of Diet in Renal Disease:

    GFR (mL/min/1.73 m2) = 175 × (Scr)-1.154 × (Tuổi)-0.203 × (0.742 đối với nữ) × (1.212 đối với người châu Phi)

    Trong đó:

    • eGFR: Mức lọc cầu thận ước tính;
    • SCr: Nồng độ creatinin trong máu (mg/dL);
    • Tuổi: Tuổi bệnh nhân.

    Ví dụ:

    • Kết quả 105: Có thể hiển thị là 105 mL/phút/1,73m2 hoặc là ≥ 90 mL/phút/1,73m2
    • Kết quả 67: Được hiển thị là 67 mL/phút/1,73m2

    Chức năng thận bình thường hoặc gần mức bình thường, nhưng vẫn có nguy cơ tổn thương thận hoặc mắc bệnh thận. Do đó người bệnh vẫn cần tiếp tục theo dõi, đặc biệt là đối tượng có yếu tố nguy cơ cao.

    Cũng có trường hợp người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh thận mãn tính (CKD) nếu xuất hiện các dấu hiệu hư tổn thận và kéo dài hơn 3 tháng. Nếu không có bất thường, nên theo dõi chức năng thận đồng thời tuân thủ lời khuyên của bác sĩ về lối sống lành mạnh.

    3.2. Trường hợp kết quả < 60 mL/phút/1,73m2

    Cho thấy chức năng thận đã bị mất phần nào. Để xác nhận, bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm máu lại, đồng thời theo dõi sự thay đổi eGFR để biết tình trạng bệnh đang tiến triển nhanh hay chậm.

    Dấu hiệu chẩn đoán bệnh thận mãn tính (CKD) bao gồm:

    • Kết quả GFR dưới 60 mL/phút/1,73m2 trong khoảng hơn ba tháng;
    • Một số dấu hiệu tổn thương thận: Albumin niệu (albumin trong nước tiểu), huyết niệu (máu trong nước tiểu), huyết áp, tiểu đường, kết quả siêu âm hoặc sinh thiết thận bất thường.

    Tùy thuộc vào chỉ số eGFR, chức năng thận sẽ được phân thành các giai đoạn như sau:

    • Giai đoạn 1: Bình thường ≥ 90 mL/phút/1,73m2
    • Giai đoạn 2: Giảm nhẹ trong khoảng 60 – 89 mL/phút/1,73m2
    • Giai đoạn 3:
      • 3a: Giảm nhẹ – vừa trong khoảng 45 – 59 mL/phút/1,73m2
      • 3b: Giảm vừa – mạnh trong khoảng 30 – 44 mL/phút/1,73m2
    • Giai đoạn 4: Giảm mạnh trong khoảng 15 – 29 mL/phút/1,73m2
    • Giai đoạn 5: Giảm dưới mức 15 mL/phút/1,73m2 hoặc bắt đầu thẩm tách

    Kết quả eGFR và albumin niệu được phối hợp để cung cấp thông tin tổng quan về khả năng hoạt động của thận, từ đó bác sĩ sẽ quyết định phương pháp điều trị tốt nhất. Việc lựa chọn phương pháp điều trị cũng tùy thuộc vào nguyên nhân làm tổn thương thận. Trong đó, kiểm soát bệnh tiểu đường và huyết áp cao có thể giúp làm chậm hoặc ngăn ngừa bệnh diễn tiến nặng hơn. Điều này cũng hạn chế nguy cơ mắc các vấn đề khác về sức khỏe, chẳng hạn đau tim và đột quỵ.

    Video đề xuất:

    Khám sức khỏe định kỳ tại Vinmec: Bảo vệ bạn trước khi quá muộn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quá Trình Lọc Máu Và Hình Thành Nước Tiểu Ở Thận
  • Mô Tả Cấu Tạo Của Thận Và Chức Năng Lọc Máu Tạo Thành Nước Tiểu
  • Quá Trình Tạo Nước Tiểu Ở Ống Thận Diễn Ra Thế Nào?
  • Những Người Thận Kém Sẽ Có 1 Vàng, 2 Trắng, 3 Đen, Muốn Cải Thiện Sức Khỏe Của Thận Cần Làm 4 Việc
  • Chuyên Gia Phân Loại 2 Nhóm Nguyên Nhân Suy Thận
  • Thăm Dò Chức Năng Tuyến Vỏ Thượng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Dinh Dưỡng Bổ Thận
  • Đau Thận Trái Nên Làm Gì ? Đây Có Phải Là Dấu Hiệu Suy Thận Giai Đoạn Đầu ?
  • Giãn Đài Bể Thận Trái: Nguyên Nhân, Chi Phí Mổ, Nên Ăn Gì?
  • Tìm Hiểu Về Tuyến Thượng Thận
  • Kiểm Tra Ngay Tuyến Thượng Thận Nếu Bạn Thấy Có Những Dấu Hiệu Sau
  • SẢN XUẤT

    Những hormon chính của tuyến vỏ thượng thận

    GLUCOCORTICOID (tác dụng chủ yếu tới chuyển hoá của glucose và protein):

    Cortisol (hydrocortison, hợp chất F).

    Cortison (hợp chất E)

    MINERALOCORTICOID HOẶC KHOÁNG CORTICOID (tác dụng chủ yếu tới bài tiết Na 4 và K 4):

    Aldosteron (electrocortin)

    Desoxycorticosteron (desoxycorton, DOCA, hợp chất A).

    Corticosteron (hợp chất B).

    ANDROGEN:

    Dehydro-epiandrosteron (DEA, DHEA).

    Androstenedion

    CÁC ESTROGEN (bình thường rất ít tác động)

      Sinh tổng hợp các hormon vỏ thượng thận cần đến một số lượng enzym nhất định. Thiếu hụt enzym 21-hydroxylase sẽ dẫn tới tăng sản tuyến vỏ thượng thận bẩm sinh, và là kết quả của tăng bài tiết ACTH (xem: hội chứng sinh dục – thượng thận bẩm sinh). Mặt khác, chất metyrapon (Metopyrone) có tác dụng ức chế hoạt động của 11-beta- hydroxylase là enzym cần thiết cho tổng hợp Do đó metopypone được sử dụng trong thử nghiệm (test) kích thích bài tiết ACTH (giảm tạm thời cortisol huyết tướng gây ra bởi metyrapon sẽ kích thích bài tiết ACTH)

    CHUYỂN VẬN:

      Cortisol được chuyển vận trong huyết tương một phần nhỏ dưới dạng tự do (có hoạt tính sinh học) còn một phần lớn thì liên kết với một protein đặc biệt gọi là transcortin hoặc CBG (tiếng Anh: Cortisol- Binding Globulin -Globulin gắn cortisol). Hàm lượng của CBG trong huyết tương bình thường là 30-42 mg/1; hàm lượng này tăng lên trong trường hợp ngấm estrogen và có thai, và giảm trong những trường hợp xơ gan, hội chứng thận hư, và đa u tuỷ xương.

    Khi hàm lượng CBG trong huyết tương tăng lên, thì bộ phận cortisol gắn với protein này cũng tăng theo; trong khi đó thì hàm lượng cortisol tự do trong huyết tương lại giảm xuống, từ đó gây ra kích thích bài tiết ACTH kéo dài tới khi sự cân bằng mới giữa cortisol tự do và cortisol gắn với CBG được tái lập.

    • Aldosteron trong huyết tương: chỉ có một phần nhỏ gắn với CHUYỂN HOÁ VÀ BÀI TIẾT
    • Các glucocorticoid: cortisol được chuyển hoá ở trong gan, và các dẫn xuất của quá trình chuyển hoá ở đây được liên kết với acid glucuronic, một phần của cortisol được chuyển thành cortison.
    • Mineralocorticoid (khoáng corticoid): khoảng 75% aldosteron bất hoạt khi lần đầu tiên được chuyển qua gan. Có từ 7 đến 15% aldosteron được bài tiết ra nước tiểu dưới dạng liên kết với acid glucuronic.
    • Androgen: dehydro-epiandrosteron là tiền chất chính của những chất 17-cetosteroid trong nước tiểu: ở phụ nữ, toàn bộ những chất 17- cetosteroid bài tiết ra nước tiểu là từ tuyến thượng thận. Còn ở nam giới thì 2/3 lượng các chất này được bài tiết theo nước tiểu có nguồn gốc từ tuyến thượng thận và 1/3 còn lại có nguồn gốc từ tinh hoàn.

    TÁC DỤNG VÀ ĐIỀU HOÀ

    • Việc phân biệt các hormon của tuyến thượng thận thành hai loại glucocorticoid và mineralocorticoid không có tính chất tuyệt đôi, vì trong thực tế, phần lớn những glucocorticoid cũng có hiệu quả của mineralocorticoid và ngược lại.

    + Làm tăng đường huyết và tăng tổng hợp glucose ở gan.

    + Làm tăng quá trình dị hoá protein.

    + Kích thích chuyển hoá lipid ở gan.

    + Làm giảm tái hấp thu các muối urat ở ống thận

    + Gây ra tiêu (làm tan) các lympho bào T, cắc tế bào lympho nhỏ, và bạch cầu hạt ưa acid.

    + ức chế tuyến yên bài tiết ACTH. Mặt khác ACTH lại có tác dụng kích thích tuyến thượng thận bài tiết ra glucocorticoid (quá trình này gọi là điều hoà trợ động tuyến yên-thượng thận hoặc điều hoà phản hồi tuyến yên-tuyến thượng thận).

      Mineralocorticoid (corticoid khoáng, ví dụ aldosteron): có các tác dụng: + Làm tăng tái hấp thu các ion Na+ và Cl- ở các ống thận.

    + Làm tăng bài tiết Kali.

    + Tác động tới trao đổi giữa Kali nội tế bào với Natri ngoại tế bào.

    + Duy trì huyết áp động mạch và thể tích dịch ngoài tế bào.

    + Angiotensin II (hệ thống rennin-angiotensin) và tăng kali huyết có tác dụng kích thích bài tiết các mineralocorticoid. Ngược lại, giảm kali huyết sẽ ức chế bài tiết corticoid này.

    + Kích thích sự xuất hiện hoặc duy trì các đặc điểm giới tính thứ phát.

    + ACTH (chứ không phải gonadostimulin) kích thích tuyến thượng thận bài tiết các androgen.

    NHỮNG TEST CHỨC NĂNG CỦA GLUCOCORTICOID

    NHỊP NGÀY ĐÊM: hàm lượng trong huyết tương của những hormon vỏ thượng thận biến động trong chu kỳ 24 giờ, và tuỳ theo đối tượng ở tư thế đứng hoặc nằm.

    HÀM LƯỢNG CỦA CORTISOL (HỢP CHẤT F) TRONG HUYẾT TƯƠNG: cortisol gắn với một protein của huyết tương, có tên là transcortin hoặc CBG. Hàm lượng cortisol này cao nhất vào khoảng 6 giờ sáng và thấp nhất vào nửa đêm (chu kỳ ngày đêm).

    • Tăng hàm lượng cortisol (định lượng vào lúc 8 giờ sáng): trong những trường hợp: ưu năng vỏ thượng thận, bệnh Cushing (mất nhịp ngày đêm với hàm lượng bằng hoặc cao nhất vào lúc 20 giờ hoặc 8 giờ tối), ngấm estrogen và có thai (do tăng hàm lượng của protein vận chuyến CBG).
    • Giảm hàm lượng cortisol (định lượng vào 8 giờ sáng): thấy trong trường hợp: nhược năng tuyến vỏ thượng thận, suy tuyến vỏ thượng thận mạn tính (bệnh Addison) và suy vỏ thượng thận cấp tính (hàm lượng suy sụp).

    CORTISOL TỰ DO TRONG NƯỚC TIỂU (FLU): phản ảnh hàm lượng cortisol tự do trong huyết tương. Cortisol tự do trong nước tiểu được định lượng nhằm theo dõi hiệu quả điều trị bệnh Addison và hội chứng Cushing. Hàm lượng bình thường là từ 30 đến 40 μg/24 giờ.

    ĐỊNH LƯỢNG 17-CETOSTEROID (17-KCS) TRONG NƯỚC TIỂU: đây là những sản phẩm chuyển hoá của các steroid được bài tiết theo nước tiêu, ơ nam giới thì 2/3 hàm lượng có nguồn gốc từ tuyến thượng thận và 1/3 có nguồn gốc từ tinh hoàn, nhưng ở nữ giới thì toàn bộ có nguồn gốc từ tuyến thượng thận. Các 17-KCS được định lượng trong nước tiểu thu thập trong 24 giờ bằng phương pháp Zimmerman hoặc bằng sắc ký khí.

    ĐỊNH LƯỢNG 17-HYDROXYCORTICOSTEROID TRONG NƯỚC TIỂU (17-OH): những chất 17- hydroxycorticosteroid trong nước tiểu bao gồm cortisol, cortison, 11-desoxycortisol, tetrahydrocortisol, tetrahydrocortison. Những chất này được định lượng trong nước tiểu 24 giờ, bằng phương pháp Porter và Silber.

    ĐỊNH LƯỢNG MỨC BÀI TIẾT CORTISOL: là phương pháp phức tạp và khó khăn. Người ta tiêm cortisol đánh dấu bằng chất đồng vị phóng xạ, rồi đo mức bài tiết bằng kỹ thuật pha loãng chất đồng vị in vivo.

    THỬ NGHIỆM KÍCH THÍCH TRỰC TIẾP TUYẾN THƯỢNG THẬN BẰNG ACTH (TEST THORN): dùng để đo mức dự trữ glucocorticoid của vỏ thượng thận. Người ta truyền tĩnh mạch ACTH tổng hợp (Synacthene) (trong vòng 4, 8, hoặc 24 giờ), và định lượng cortisol huyết và các steroid trong nước tiểu trước và sau khi truyền thuốc nói trên. Trong test phát hiện nhanh, người ta tiêm bắp thịt một chế phẩm ACTH chậm, và định lượng cortisol huyết trước khi tiêm và 1 giờ sau khi tiêm.

    • Đáp ứng dương tính binh thường , hàm lượng cơ bản cortisol trong huyết tương và mức bài tiết 17-hydroxycorticosteroid trong nước tiểu đều tăng. Ngoài ra, còn thấy giảm bạch cầu hạt ưa
    • Đáp ứng dương tính nhưng muộn, cần phải làm lại test trong 2-3 ngày tiếp theo , suy tuyến vỏ thượng thận thứ phát (nguồn gốc dưới đồi thị- tuyến yên), hoặc nhược năng tuyến yên.
    • Không có đáp ứng hoặc đáp ứng yếu: suy vỏ thượng thận nguyên phát.
    • Tăng cao nhất 17-cetosteroid trong nước tiểu: thấy trong hội chứng sinh dục-thượng thận (tăng sản tuyến thượng thận).

    Tiêm ACTH bình thường sẽ làm tăng hàm lượng trong huyết tương của desoxycortisol (hợp chất S) và của 17-hydroxyprogesteron (17-OHP) lên gấp 3 lần; những chất này là các hợp chất trung gian trên con đường sinh tổng hợp của các glucocorticoid, cũng như của pgnanetriol nước tiểu (sản phẩm chuyên hoá của 17-OHP). Hàm lượng cơ bản của những hợp chất này tăng lên quá 3 lần sau khi tiêm ACTH được coi như dấu hiệu về thiếu hụt enzym 21- hoặc 11-hydroxylase.

    THỬ NGHIỆM KÍCH THÍCH GIÁN TIẾP BÀI TIẾT ACTH NỘI SINH BẰNG METYRAPON (Metopyrone): thử nghiệm này cho phép khảo sát chức năng của trục dưới đồi thị-tuyến yên – thượng thận (với điều kiện là tuyến vỏ thượng thận còn khả năng đáp ứng với kích thích của ACTH). Metyrapon có tác dụng ức chế enzym 11-hydroxylase và kìm hãm sự chuyển đổi 11-desoxycortisol (hợp chất S) thành cortisol (hợp chất F). Giảm cortisol huyết có tác dụng kích thích tuyến yên bài tiết ACTH, nhưng sản xuất cortisol thì vẫn bị kìm hãm bởi metyrapon do đó hàm lượng hợp chất s trong huyết thanh cao (hợp chất này không có các tác dụng của glucocorticoid).

    Thông thường người ta cho người thử sử dụng 750 mg metyrapone cứ 4 giờ một lần trong vòng 24 giờ và đo hàm lượng cortisol và 11-desoxycortisol trong huyết tương và hàm lượng 17-hydroxycorticoid trong nước tiểu. Hàm lượng các chất này tăng lên trong trường hợp trục dưới đồi thị-tuyến yên đáp ứng bình thường. Tuy nhiên, thử nghiệm sẽ sai lệch nếu đối tượng đang sử dụng glucocorticoid.

    THỬ NGHIỆM KÍCH THÍCH BANG CORTICOLIBERIN (CRF): (xem: bệnh Addison).

    THỬ NGHIỆM KÌM HÃM BẰNG DEXAMETHASON: chủ yếu dùng để phân biệt trường hợp tăng bài tiết xảy ra do tăng sản tuyến thượng thận (đáp ứng dương tính) với tăng bài tiết do u tuyến thượng thận (đáp ứng âm tính). Nguyên tắc của thử nghiệm như sau: tăng hàm lượng glucocorticoid trong huyết tương có tác dụng kìm hãm bài tiết ACTH, từ đó lại dẫn tới giảm bài tiết chính các glucocorticoid (điều hoà trợ động hoặc điều hoà phản hồi tuyến yên-thượng thận). Để làm thử nghiệm, người ta cho người thử sử dụng một glucocorticoid mạnh (dexamethason) và đánh giá hiệu quả đối với cortisol huyết hoặc 17-hydroxycorticosteroid trong nước tiểu.

    • Thử nghiệm kìm hãm “nhanh” (dùng để phát hiện): cho đối tượng sử dụng 1 mg dexamethason buổi tố”i hôm trước, vào lúc đi ngủ rồi định lượng cortisol huyết vào sáng sớm hôm sau.
    • Thử nghiệm kìm hãm “chậm”: cho đối tượng sử dụng dexamethason 3 mg/ngày, từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7, và thu nước tiểu từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 7 để tìm đáp ứng:
    • Đáp ứng dương tính: bình thường các 17-hydroxycorticosteroid trong nước tiểu và cortisol huyết đều giảm 50% (kìm hãm bình thường).
    • Trong trường hợp tăng sản tuyến thượng thận: đáp ứng dương tính chỉ xảy ra khi cho người thử sử dụng liều cao hơn, tới 8 mg/ ngày trong 3 ngày liền.
    • Trong trường hợp u tuyến thượng thận và hội chứng Cushing do bất cứ nguyên nhân nào: đáp ứng âm tính hoặc kìm hãm không hoàn toàn. Với test kìm hãm “mạnh” (cho sử dụng 2 mg cứ 6 giờ một lần trong 24 giờ) mà không có kìm hãm thì có nghĩa là đổì tượng có u lành tuyến vỏ thượng thận, trong khi mức kìm hãm một phần hoặc toàn bộ là dấu hiệu của bệnh

    TEST QUÁ TẢI NƯỚC: đã bỏ không thực hiện.

    NHỮNG TEST CHỨC NĂNG CỦA MINERALOCORTICOID (KHOÁNG CORTICOID)

    ĐO HÀM LƯỢNG ALDOSTERON TRONG HUYẾT TƯƠNG: cho bệnh nhân nằm nghỉ trong 2 giờ rồi lấy mẫu máu; trước đó ít nhất trong vòng 2 tuần, bệnh nhân ăn mặn bình thường (chế độ ăn có muối bình thường) và không sử dụng thuốc lợi tiểu. Hàm lượng aldosteron tăng rõ rệt trong trường hợp tăng tiết aldosteron.

    ĐỊNH LƯỢNG ALDOSTERON VÀ SẢN PHẨM CHUYỂN HÓA CỦA CHẤT NÀY TRONG NƯỚC TIỂU: kết quả cho các giá trị tăng hơn bình thường trong trường hợp tăng bài tiết aldosteron nguyên phát và thứ phát.

    TEST GIÁN TIẾP (định lượng kali huyết): nếu một bệnh nhân ăn mặn bình thường mà thấy giảm kali huyết kết hợp với tăng calci niệu, thì vế nguyên tắc, bệnh nhân này bị chứng tăng bài tiết aldosteron. Tăng kali huyết gặp trong trường hợp giảm bài tiết aldosteron. Tuy nhiên giảm bài tiết aldosteron thường hiếm khi đơn độc.

    TEST KÍCH THÍCH BẰNG CHẾ ĐỘ KHÔNG ĂN MUỐI: chế độ ăn không muối (mức thu nhận hàng ngày vào cơ thể thấp hơn 10 mEq Natri), kéo dài trong 3- 5 ngày sẽ có tác dụng kích thích bài tiết aldosteron làm cho hàm lượng hormon này trong huyết thanh tăng lên rõ rệt. Hàm lượng aldosteron vẫn còn tiếp tục tăng 2-3 giờ sau khi đối tượng chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng. Cũng có thể kích thích bài tiết aldosteron bằng cách cho sử dụng Furosemid (40-80 mg).

    THỬ NGHIỆM KÌM HÃM BẰNG DEXAMETHASON: cho bệnh nhân ăn chế độ có muối bình thường, nếu cho sử dụng dexamethasòn thì bình thường sẽ ức chế tuyến vỏ thượng thận bài tiết aldosteron, do đó hàm lượng chất này trong huyết tương và trong nước tiểu sẽ giảm xuống. Nếu đáp ứng với thử nghiệm là âm tính thì đó là bằng chứng tăng bài tiết aldosteron nguyên phát.

    ĐO HOẠT TÍNH RENIN TRONG HUYẾT TƯƠNG: hoạt tính này giảm trong trường hợp tăng tiết aldosteron nguyên phát, và tăng trong trường hợp tăng tiết aldosteron thứ phát.

    TEST KÌM HÃM BẰNG cách truyền dung dịch MUỐI sinh lý (THỬ NGHIỆM QUÁ TẢI NATRI): truyền tĩnh mạch dung dịch muối đẳng trương (9g NaCl/lít) với tốc độ 500 ml/giờ trong vòng 4 giờ. Bình thường, do tăng thể tích máu nên hoạt tính renin trong huyết tương ở máu tĩnh mạch sẽ giảm xuông và hàm lượng aldosteron trong huyết tương cũng giảm theo.

    • Trong trường hợp tăng tiết aldosteron thứ phát thì ở tình trạng khởi đầu (trước khi làm test), hoạt tính renin huyết tương và hàm lượng aldosteron cao. Sau khi truyền dung dịch muối thì hoạt tính renin huyết tương giảm và aldosteron huyết cũng giảm xuống dưới 100 ng/1 (kìm hãm).
    • Trong trường hợp tăng tiết aldosteron nguyên phát, thì ở tình trạng khởi đầu hoạt tính renin huyết tương suy giảm trong khi aldosteron huyết lại cao. Sau khi tuyền dung dịch muối, hoạt tính renin huyết tương không thay đổi trong khi aldosteron huyết giữ nguyên ở mức trên 100 ng/1 (không kìm hãm hoặc kìm hãm không đầy đủ).

    Test quá tải muối chống chỉ định trong trường hợp suy tim hoặc suy thận (tăng thể tích máu nhanh chóng sẽ gây nguy hiểm cho bệnh nhân).

    HỆ THỐNG RENIN-ANGIOTENSIN-ALDOSTERON

    RENIN: những tiểu động mạch đến của những tiểu cầu thận có một hệ thống những tế bào bao xung quanh, tạo nên bộ máy cận cuộn mao mạch hoặc cận chùm mao mạch của tiểu cầu thận, những tế bào nói trên có khả năng giải phóng ra renin tích chứa trong bào tương của chúng dưới dạng hạt. Bộ máy cận cuộn mao mạch cảm nhận được những biến động của huyết áp trong các tiểu động mạch, và từ đó điều hoà sự bài tiết renin như sau: nếu thể tích lưu lượng máu ở các tiểu động mạch đến của tiểu cầu thận giảm xuống, thì sẽ kích thích các tế bào của bộ máy cận cuộn mao mạch tiết ra renin và ngược lại.

    ANGIOTENSIN: angiotensinogen là tiền chất của angiotensin, được tổng hợp bởi tế bào gan và được chuyển đổi thành angiotensin I (bất hoạt) khi có sự hiện diện của renin. Angiotensin I lại chuyển đổi thành angiotensin II (hoạt tác) nhờ sự xúc tác của enzym chuyển đổi angiotensin. Enzym (men) này (gọi ngắn gọn là enzym chuyển đổi) có mặt trong nhiều loại mô và trong huyết tương của máu.

    ALDOSTERON: angiotensin II có tác dụng kích thích tuyến vỏ thượng thận bài tiết ra aldosteron. Bài tiết aldosteron tăng lên sẽ làm cho cơ thể giữ lại nước và muối natri và làm tăng huyết áp động mạch. Một số thuốc có tác dụng ức chế sự kết gắn enzym này, và như vậy gián tiếp ức chế sản xuất aldosteron (xem: thuốc ức chế men chuyển).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Chức Năng Thận: Làm Cách Nào Để Thận Luôn Khỏe Mạnh?
  • Suy Thận Có Con Được Không? Làm Gì Để Tăng Khả Năng Có Con?
  • Cây Râu Mèo Tăng Cường Chức Năng Thận Hiệu Quả
  • Các Thực Phẩm Và Chất Dinh Dưỡng Tăng Cường Chức Năng Tuyến Thượng Thận
  • 5 Thực Phẩm Bổ Thận, Bổ Máu, Tăng Sinh Lực Tốt Nhất: Người Muốn Thận Khỏe Không Nên Bỏ Qua
  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Chức Năng Ống Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Dấu Hiệu Quan Trọng Nhận Biết Sớm Suy Thận Mạn
  • Giải Pháp Tăng Cường Chức Năng Thận, Cải Thiện Các Triệu Chứng Suy Thận Hiệu Quả? Xem Ngay
  • Dấu Hiệu Bệnh Thận Và Suy Thận?
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Viêm Cầu Thận Mạn
  • Bổ Thận Dương Nhất Nhất Giá Bao Nhiêu? Công Dụng & Cách Dùng
  • 1.1. Nghiệm pháp bài tiết PSP

    1923 Marsahall và Vicker báo cáo chất phenol sulphon phtalein (PSP) được thận bài xuất với số lượng nhiều hơn hệ số thanh thải của nó. Hơn 10 năm sau Rourntree và Gheraghty đề xuất, bài tiết PSP của ống thận có thể ứng dụng trong lâm sàng để thăm dò chức năng của ống thận. PSP là chất không độc, không bị cơ thể chuyển hóa, định lượng nồng độ PSP đơn giản, từ đó đo tốc độ bài xuất PSP đã trở thành nghiệm pháp thông dụng để thăm dò chức năng của ống thận.

    Khả năng bài xuất PSP của ống thận không bị giới hạn khi nồng độ trong máu <1 mg/dl. Với liều 6 mg dùng trong nghiệm pháp, nồng độ PSP trong máu chỉ đạt 1/5 giá trị trên. Ở nồng độ thấp trong huyết tương, hơn 80% PSP gắn với albumin, chỉ còn lại 20% ở dạng tự do, nhưng chỉ có 20% dòng huyết tương qua thận mỗi phút, do đó chỉ có 4% tổng lượng PSP trong cơ thể được cầu thận lọc (0,2´0,2=0,04). Phần PSP liên kết với albumin được ống lượn gần bài tiết. PSP hầu như được bài tiết hoàn toàn (92%) khỏi tuần hoàn. Do đó, hệ số thanh thải PSP gần bằng thể tích dòng huyết tương qua thận. Vì vậy, nghiệm pháp PSP vừa được dùng để đo dòng huyết tương qua thận, vừa được dùng để đánh giá chức năng bài tiết của ống lượn gần.

    + Kỹ thuật: 30 ph trước khi tiêm PSP, cho bệnh nhân uống 300 ml nước. Đặt ống thông bàng quang, và tháo kiệt nước tiểu trong bàng quang bỏ đi trước khi tiêm PSP. Sau đó tiêm chính xác 1 ml chứa 6 mg PSP, tiêm nhanh vào tĩnh mạch và bấm thời gian. Lấy các mẫu nước tiểu sau 15 ph, 30 ph, 60 ph, 120 ph. Đo thể tích và định lượng nồng độ PSP ở mỗi mẫu nước tiểu, rồi tính số lượng PSP được đào thải ở từng mẫu. Tính tỉ lệ phần trăm PSP được bài xuất ở từng mẫu so với lượng đưa vào cơ thể (6 mg).

    Bảng 1. Kết quả bài xuất PSP của thận ở người bình thường

    + Nhận định kết quả:

    – Lượng PSP bài xuất tăng: nếu lượng PSP được bài xuất ở các mẫu sau 15 ph cao hơn bình thường, có thể do không lấy hết nước tiểu trong bàng quang ở các mẫu trước. Nếu sau 2 giờ, lượng PSP bài xuất trên 85%, có thể do tiêm quá liều hoặc do có bệnh lý ở gan. Lượng PSP trong 15 ph đầu không bị ảnh hưởng bởi bệnh gan.

    – Lượng PSP bài xuất giảm: bài xuất PSP giảm sớm trong các bệnh lý thận, đặc biệt các bệnh ống-kẽ thận. Cần chú ý lọai trừ các trường hợp có tắc nghẽn đường tiết niệu, như sỏi đường tiết niệu, u chèn ép niệu quản, hoặc PSP bị ứ đọng trong hệ thống thận tiết niệu như thận đa nang, thận ứ nước, còn nước tiểu ứ đọng trong bàng quang.

    1.2. Nghiệm pháp thăm dò khả năng tái hấp thu natri của ống lượn gần bằng đo hệ số thanh thải lithium

    Lithium được tái hấp thu ở ống lượn gần cùng tốc độ với tái hấp thu natri. Bình thường, lithium không được tái hấp thu và bài tiết ở ống lượn xa. Vì vậy, hệ số thanh thải lithium cho phép đánh giá khả năng tái hấp thu natri của ống lượn gần.

    Tỉ số hệ số thanh thải lithium/hệ số thanh thải creatinin nội sinh là 0,25 ở nữ, và 0,23 ở nam. Khi tỉ số trên tăng, phản ánh tái hấp thu natri của ống lượn gần giảm.

    1.3. Nghiệm pháp thăm dò khả năng tái hấp thu natri bằng phân số thải natri (FENa%)

    Natri được tái hấp thu suốt dọc chiều dài ống thận, từ ống lượn gần đến ống góp. Tỉ lệ phần trăm giữa hệ số thanh thải natri/hệ số thanh thải creatinin nội sinh phản ánh khả năng tái hấp thu natri của ống thận, và được gọi là phân số thải natri FE Na (fraction of excretion).

    Trong đó FE Na là phân số thải natri (%); U Na là nồng độ natri trong nước tiểu (mmol/l); P Na là nồng độ natri trong huyết thanh (mmol/l); Ucre là nồng độ creatinin trong nước tiểu (mmol/l); Pcre là nồng độ creatinin trong huyết thanh (mmol/l).

    1.4. Nghiệm pháp thăm dò khả năng bài tiết PAH tối đa (TmPAH)

    PAH (para aminohypuric acid) được ống thận bài tiết trong 1 phút là có giới hạn. Khi nồng độ PAH trong huyết tương cao, thận chỉ có khả năng bài tiết 10-13 mg/dl, thận không có khả năng bài tiết hơn khi nồng độ PAH trong huyết tương tăng, đây là ngưỡng bài tiết PAH của thận.

    + Kỹ thuật: dùng phương pháp truyền tĩnh mạch hai giai đoạn.

    – Giai đoạn 1: pha 60 ml dung dịch natri PAH 20% vào 300 ml dung dịch inulin 1% (hoặc manitol 6%), truyền tĩnh mạch tốc độ 20 ml/ph.

    – Giai đoạn 2: pha 90 ml dung dịch natri PAH 20% vào 500 ml dung dịch inulin 1,2% (hoặc manitol 3,4%), truyền tĩnh mạch với tốc độ 4 ml/ph.

    Đặt ống thông bàng quang qua niệu đạo, sau khi bắt đầu giai đoạn 2 được 20 ph, tháo kiệt nước tiểu trong bàng quang bỏ đi, sau đó bơm vào bàng quang một ít không khí, 20 ph sau lấy hết nước tiểu trong bàng quang và lấy máu. Đo thể tích nước tiểu và tính thể tích nước tiểu/phút, định lượng nồng độ PAH và nồng độ inulin (hoặc manitol) trong nước tiểu và huyết tương. Tính mức lọc cầu thận (F) bằng hệ số thanh thải inulin (hoặc manitol), và tính TmPAH theo công thức sau:

    TmPAH = UV – FPw

    Trong đó TmPAH là lượng PAH được thận bài tiết tối đa (mg/ph); U là nồng độ PAH trong nước tiểu (mg/dl); V là thể tích nước tiểu/phút (ml/ph); F là mức lọc cầu thận đo bằng hệ số thanh thải inulin (hoặc manitol) (ml/ph); P là nồng độ PAH trong huyết tương (mg/dl); w là tỉ lệ PAH tự do trong huyết tương.

    + Nhận định kết quả:

    – Giá trị bình thường của TmPAH là 77,5 mg/ph (51,5-104 mg/ph).

    – TmPAH giảm trong các bệnh lý thận, đặc biệt các bệnh ống kẽ thận.

    TmPAH phản ánh tỉ lệ ống thận còn chức năng trong thận bệnh lý. Nói cách khác, TmPAH phản ánh khối lượng mô ống thận còn khả năng bài tiết. Khi TmPAH giảm, có thể do tổn thương thực thể hoặc tổn thương chức năng ống thận. Nếu tổn thương thực thể, TmPAH phản ánh khối lượng mô ống thận bị phá hủy ở một mức độ nào đó. TmPAH giảm nói chung phản ánh mô ống thận bị phá hủy, tuy vậy cũng có thể do rối loạn chức năng thận, như giảm thể tích tuần hoàn.

    1.5. Nghiệm pháp thăm dò khả năng tái hấp thu glucose tối đa (TmG)

    Số lượng glucose được ống thận tái hấp thu là có giới hạn, khi nồng độ glucose trong huyết tương lớn hơn một giới hạn nào đó, ống thận không còn khả năng tái hấp thu thêm lượng glucose được lọc. Ở ngưỡng này, người ta xác định được giới hạn tái hấp thu tối đa glucose của ống thận, ký hiệu là TmG.

    + Kỹ thuật: trước khi làm nghiệm pháp, định lượng glucose máu lúc đói của bệnh nhân và tháo kiệt nước tiểu trong bàng quang bằng ống thông qua niệu đạo. Sau đó truyền tĩnh mạch nhanh 100-120g glucose pha trong 300-400 ml nước cất. Truyền trong 10 ph, trong 5 phút đầu truyền nhanh, khi kết thúc truyền, lấy 5 mẫu máu cách nhau 6-8 ph (cách nhau không quá 10 ph). Giữa hai lần lấy máu, lấy hết nước tiểu trong bàng quang. Định lượng nồng độ glucose trong các mẫu máu và nước tiểu, đo thể tích các mẫu nước tiểu tính ra ml/ph.

    + Vẽ biểu đồ: tính lượng glucose bài xuất trong từng mẫu nước tiểu (U´V), vẽ đường biểu diễn lượng glucose/ph được bài xuất dựa vào tọa độ (U´V) và nồng độ glucose máu. Đường biểu diễn được xác định ít nhất ba điểm khi mức glucose máu trên 16,66 mmol/l (300 mg/dl), ba điểm này phải thẳng hàng.

    – Đường biểu diễn glucose được lọc, dựng song song với đường biểu diễn glucose bài xuất qua gốc tọa độ (0).

    – Ngưỡng tối thiểu được xác định trên trục hoành, là mức glucose máu bắt đầu xuất hiện trong nước tiểu (điểm A).

    – Ngưỡng trung bình là điểm cắt của đường kéo dài đường biểu diễn glucose bài xuất cắt trục hoành (điểm B).

    – TmG được đọc trên trục tung, tương ứng với tọa độ đối chiếu của ngưỡng trung bình (điểm B) lên đường biểu diễn glucose được lọc.

    Hình 3.5. Biểu đồ xác định khả năng tái hấp thu glucose tối đa (TmG)

    + Giá trị bình thường:

    – Ngưỡng tối thiểu bài xuất glucose của thận: 9,44-10 mmol/l (170-180mg/dl)

    – Ngưỡng trung bình bài xuất glucose của thận: 12,77 mmol/l (230 mg/dl)

    – Ngưỡng tối đa bài xuất glucose của thận: 18,33-22,22 mmol/l (330-400 mg/dl)

    – TmG là 19,44±2,77 mmol/ph (350±50 mg/ph)

    + TmG giảm trong các bệnh lý thận phản ánh khối lượng nephron chức năng của thận giảm, vì ống thận muốn tái hấp thu glucose, trước hết phải có glucose được cầu thận lọc đi tới. Giá trị của nghiệm pháp TmG thường chỉ giới hạn ở phân tích rối loạn chức năng ống thận trong bệnh đái tháo đường, trong bệnh thiếu hụt chức năng ống thận riêng biệt và hội chứng Fanconi.

    2. Các nghiệm pháp thăm dò chức năng ống lượn xa 2.1. Các nghiệm pháp thăm dò khả năng cô đặc nước tiểu của thận

    Giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thận có thể gặp trong nhiều bệnh, thường gặp nhất một số bệnh sau:

    + Đái tháo nhạt: đái tháo nhạt bao gồm hai loại

    – Đái tháo nhạt trung ương: do tổn thương vùng dưới đồi thị hoặc thùy sau tuyến yên, gây giảm bài tiết ADH, nồng độ ADH trong máu thấp.

    – Đái tháo nhạt do thận: thường do bẩm sinh, do các tế bào ống lượn xa và ống góp kém đáp ứng hoặc không đáp ứng với ADH, mặc dù nồng độ ADH trong máu bình thường. Ngoài ra còn gặp do các chất ngoại sinh như lithium, demeclocyclin, amphotericin B, methoxyfluran, cyplastin, tăng calci máu.

    Để chẩn đoán phân biệt đái tháo nhạt trung ương và đái tháo nhạt do thận, người ta định lượng ADH trong máu. Bình thường, nồng độ ADH trong máu là 0,5 pg/ml, nếu đái tháo nhạt trung ương thì ADH giảm, nếu đái tháo nhạt do thận thì nồng độ ADH bình thường hoặc tăng.

    + Các bệnh ống-kẽ thận: viêm thận bể thận mạn, thận đa nang, viêm kẽ thận mạn do thuốc hoặc do nhiễm độc. Khả năng cô đặc nước tiểu của thận trong các bệnh lý này giảm sớm, ngay cả khi mức lọc cầu thận chưa giảm (phân ly chức năng cầu-ống thận).

    + Suy thận mạn: suy thận mạn là nguyên nhân thường gặp nhất trong giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thận. Khi mức lọc cầu thận giảm dưới 30 ml/ph, có biểu hiện đồng thẩm thấu niệu thấp.

    + Suy thận cấp thực tổn: giảm khả năng cô đặc nước tiểu của thận thấy trong pha đái trở lại và pha hồi phục của suy thận cấp, và sau ghép thận.

    2.1.1. Phương pháp đo độ thẩm thấu nước tiểu mẫu sáng sớm

    Đây là phương pháp đơn giản, dễ áp dụng và có giá trị trong lâm sàng để đánh giá khả năng cô đặc nước tiểu của thận. Cơ sở của phương pháp là do ban đêm nước tiểu được cô đặc tốt nhất vì không đưa thêm nước vào cơ thể, lưu lượng máu qua thận giảm vì nhịp tim và huyết áp giảm, vì vậy mẫu nước tiểu sáng sớm phản ánh tốt nhất khả năng cô đặc nước tiểu của thận.

    + Kỹ thuật: trong ngày bệnh nhân sinh hoạt và ăn uống bình thường, tối hôm trước, bệnh nhân không được dùng các chất có tác dụng lợi tiểu như rượu, bia, thuốc lợi tiểu cả đông y và tây y. Trước khi đi ngủ đi tiểu hết bãi để loại nước tiểu ban ngày còn lưu trong bàng quang. Trong đêm không uống thêm nước, không truyền dịch, nếu đi tiểu trong đêm thì loại bỏ các mẫu nước tiểu này. Nước tiểu của lần đi tiểu đầu tiên của buổi sáng lúc ngủ dậy (từ 4giờ đến 6 giờ sáng) được gọi là mẫu nước tiểu sáng sớm. Mẫu nước tiểu này được đựng trong bô sạch, lấy 2 ml để đo độ thẩm thấu.

    + Nhận định kết quả:

    – Giá trị bình thường của độ thẩm thấu nước tiểu mẫu sáng sớm là 800±30mOsm/kg H 2 O (Hà Hoàng Kiệm 1998).

    – Khi độ thẩm thấu của mẫu nước tiểu sáng sớm ³600 mOsm/kg H 2 O, khả năng cô đặc nước tiểu của thận là bình thường, không cần phải làm thêm bất kỳ một nghiệm pháp nào khác để đánh giá khả năng cô đặc nước tiểu của thận.

    – Khi độ thẩm thấu nước tiểu mẫu sáng sớm <600 mOsm/kg H 2 O, có thể khả năng cô đặc nước tiểu của thận giảm. Tuy nhiên, để kết luận đủ độ tin cậy, cần làm lại xét nghiệm này vài lần, hoặc nếu cần thì làm nghiệm pháp mất nước.

    2.1.2. Độ thẩm thấu của một mẫu nước tiểu bất kỳ trong ngày

    Nếu một mẫu nước tiểu được lấy bất kỳ thời gian nào trong ngày có độ thẩm thấu ³600 mOsm/kg H 2O, thì có thể kết luận khả năng cô đặc nước tiểu của thận là bình thường. Nhưng nếu độ thẩm thấu của mẫu nước tiểu này <600 mOsm/kg H 2 O, không kết luận được khả năng cô đặc nước tiểu của thận giảm mà phải làm lại bằng các nghiệm pháp đủ độ tin cậy hơn.

    2.1.3. Đo độ thẩm thấu nước tiểu mẫu 24 giờ, đồng thời với độ thẩm thấu máu

    Nếu đồng thời đo độ thẩm thấu nước tiểu mẫu 24 giờ và độ thẩm thấu huyết thanh, chúng ta có thể tính được các thông số:

    + Hệ số thanh thải thẩm thấu:

    Trong đó Cosm là hệ số thanh thải thẩm thấu (ml/ph); Uosm là độ thẩm thấu nước tiểu mẫu 24 giờ (mOsm/kg H 2O); V là thể tích nước tiểu/phút (ml/ph); Posm là độ thẩm thấu huyết thanh (mOsm/kg H 2 O).

    + Hệ số thanh thải nước tự do:

    CH2O = V – Cosm

    Trong đó C H2O là hệ số thanh thải nước tự do (ml/ph); V là thể tích nước tiểu/phút (ml/ph); Cosm là hệ số thanh thải thẩm thấu (ml/ph).

    – Nếu C H2O = 0: nước tiểu đẳng trương so với máu

    – Nếu C H2O < 0: nước tiểu ưu trương so với máu

    + Tỉ số độ thẩm thấu nước tiểu/độ thẩm thấu máu (Uosm/Posm)

    – Tỉ số Uosm/Posm = 0: nước tiểu đẳng trương so với máu

    – Tỉ số Uosm/Posm < 0: nước tiểu nhược trương so với máu

    2.1.4. Nghiệm pháp Zimniski

    + Kỹ thuật: trong ngày làm nghiệm pháp, bệnh nhân sinh hoạt và ăn uống bình thường, chỉ tránh vận động nhiều. 6 giờ sáng cho bệnh nhân đi tiểu, loại bỏ mẫu nước tiểu này. Sau đó, cứ mỗi 3 giờ cho bệnh nhân đi tiểu hết nước tiểu trong bàng quang, thu các mẫu nước tiểu này riêng biệt, đến đúng 6 giờ sáng hôm sau lấy mẫu nước tiểu lần cuối. Tổng số 24 giờ, thu được 8 mẫu nước tiểu. Đo số lượng và tỉ trọng (tốt nhất đo độ thẩm thấu) của các mẫu nước tiểu thu được.

    + Nhận định kết quả:

    – Khả năng cô đặc nước tiểu của thận là bình thường khi thỏa mãn các điều kiện sau:

    . Số lượng nước tiểu của các mẫu chênh lệch nhau nhiều, và thể tích nước tiểu ban ngày (6 giờ đến 18 giờ) nhiều hơn thể tích nước tiểu ban đêm (18 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau)

    . Tỉ trọng (hoặc độ thẩm thấu) của các mẫu nước tiểu chênh lệch nhau nhiều, và ít nhất có một mẫu có tỉ trọng ³1,025 (hoặc độ thẩm thấu ³750 mOsm/kg H 2 O)

    – Khả năng cô đặc nước tiểu của thận giảm khi:

    . Số lượng nước tiểu của các mẫu gần bằng nhau, thể tích nước tiểu ban đêm lớn hơn thể tích nước tiểu ban ngày.

    . Tỉ trọng (hoặc độ thẩm thấu) của các mẫu nước tiểu thấp và gần bằng nhau, không có mẫu nước tiểu nào có tỉ trọng đạt tới 1,025 (hoặc độ thẩm thấu đạt tới 750 mOsm/kg H 2 O).

    2.1.5. Nghiệm pháp Mozenthan

    Các điều kiện làm nghiệm pháp giống như làm nghiệm pháp Zimniski, chỉ khác là ban đêm nước tiểu được gom vào một mẫu để khắc phục khó khăn phải lấy mẫu nước tiểu ban đêm nhiều lần như trong nghiệm pháp Zimniski.

    Lấy mẫu nước tiểu từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối, cách 3 giờ một lần (các mẫu nước tiểu ban ngày). Từ 8 giờ tối đến 8 giờ sáng hôm sau gom vào một mẫu (mẫu nước tiểu ban đêm).

    Nhận định kết quả giống như nghiệm pháp Zimniski.

    2.1.6. Nghiệm pháp làm mất nước

    Đây là nghiệm pháp tiêu chuẩn, cho phép nhận định chính xác khả năng cô đặc nước tiểu của thận. Có hai phương pháp được tiến hành là nghiệm pháp nhịn khát của Volhard, và nghiệm pháp tiêm vasopssin.

    + Nghiệm pháp nhịn khát của Volhard:

    Buổi sáng cho bệnh nhân đi tiểu hết bãi, trong ngày không được uống nước hoặc truyền bất kỳ loại dịch nào vào cơ thể. Các bữa sáng, trưa, tối, phải ăn chế độ khô. Lượng nước cả ăn, uống, tiêm, truyền, không quá 500 ml/24 giờ. Thời gian nhịn khát cần đạt 18 giờ. Cân bệnh nhân trước và trong quá trình làm nghiệm pháp, khi cân nặng giảm 3-5% so với trước khi làm nghiệm pháp, hoặc độ thẩm thấu máu tăng mới đạt yêu cầu, và có thể ngừng nghiệm pháp. Cứ mỗi 3 giờ lấy hết nước tiểu trong bàng quang một lần, đo số lượng và đo độ thẩm thấu (hoặc đo tỉ trọng) của từng mẫu nước tiểu.

    Khả năng cô đặc nước tiểu của thận là bình thường khi: số lượng nước tiểu của các mẫu giảm dần, ít nhất có một mẫu có độ thẩm thấu ³800 mOsm/kg H 2 O (hoặc tỉ trọng ³1,025).

    Khả năng cô đặc nước tiểu của thận giảm khi: số lượng nước tiểu của các mẫu xấp xỉ bằng nhau, và không có mẫu nước tiểu nào có độ thẩm thấu đạt tới 800 mOsm/kg H 2 O (hoặc không có mẫu nước tiểu nào có tỉ trọng đạt tới 1,025).

    + Nghiệm pháp tiêm arginin vasopssin (AVP):

    Buổi sáng trước khi tiêm AVP, cho bệnh nhân đi tiểu hết bãi, sau đó tiêm dưới da 5 đơn vị AVP. Bệnh nhân không được uống nước hay truyền dịch trong suốt thời gian làm nghiệm pháp. Lấy các mẫu nước tiểu sau tiêm 1giờ, 2giờ, 3giờ… (cách 1 giờ 1 lần, ít nhất 6 mẫu) lưu ý lấy hết nước tiểu trong bàng quang. Đo độ thẩm thấu (hoặc tỉ trọng) của các mẫu nước tiểu, và số lượng nước tiểu trong từng mẫu.

    Nhận định kết quả giống như nghiệm pháp nhịn khát của Volhard.

    2.2. Thăm dò khả năng pha loãng nước tiểu của thận

    Nghiệm pháp pha loãng nước tiểu của thận được sử dụng để đánh giá khả năng thích ứng của thận. Buổi sáng bệnh nhân nhịn ăn, đặt ống thông bàng quang tháo hết nước tiểu, sau đó cho uống 20 ml nước/kg thể trọng trong 30 phút. Bệnh nhân nằm nghỉ trên giường, cứ cách 1 giờ lấy hết nước tiểu trong bàng quang một lần cho đến 4 giờ sau, đo số lượng và tỉ trọng của các mẫu nước tiểu.

    Bình thường, tổng lượng nước tiểu sau 4 giờ lớn hơn hặc bằng lượng nước uống vào ban đầu, ít nhất có một mẫu nước tiểu có độ thẩm thấu giảm xuống £100 mOsm/kg H 2 O (hoặc tỉ trọng giảm xuống 1,001-1,005).

    Khả năng pha loãng nước tiểu của thận giảm khi tổng lượng nước tiểu sau 4 giờ ít hơn lượng nước tiểu uống vào, không có mẫu nước tiểu nào có độ thẩm thấu giảm xuống tới 100 mOsm/kg H 2 O (hoặc tỉ trọng giảm xuống tới 1,005).

    Nghiệm pháp pha loãng nước tiểu của thận ít được sử dụng, vì nó ít giá trị trong lâm sàng. Khả năng pha loãng nước tiểu của thận chỉ bị rối loạn khi mức lọc cầu thận giảm xuống dưới 20 ml/ph.

    Nghiệm pháp acid hóa nước tiểu của thận được tiến hành như sau: buổi sáng cho bệnh nhân đi tiểu hết bãi, sau đó uống 0,1g/kg ammonium clorid. Vì ammonium clorid gây buồn nôn, nên cho uống cùng với ăn sáng. Sau đó, cứ mỗi hai giờ một lần lấy hết nước tiểu trong bàng quang và lấy máu tĩnh mạch, lấy trong vòng 6 giờ. Đo pH nước tiểu và HCO 3 máu của các mẫu.

    Khả năng acid hóa nước tiểu của thận là bình thường khi ít nhất có một mẫu nước tiểu có pH <5,3 và sau 4 giờ máu mao mạch hay tĩnh mạch có HCO 3 ³16mmol/l. Ở trẻ em, pH nước tiểu <5,0 và HCO 3 như người lớn.

    Giảm khả năng acid hóa nước tiểu của ống thận khi không đạt các chỉ tiêu trên.

    PGS. TS. Hà Hoàng Kiệm, BV 103, HVQY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Nghiệm Pháp Thăm Dò Chức Năng Cầu Thận
  • Chỉ Số Ure Trong Máu Cao Có Phải Thận Của Bạn Đang Gặp Vấn Đề?
  • Đánh Giá Chức Năng Thận Qua Chỉ Số Cystatin C
  • Hiểu Về Các Chỉ Số Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận
  • Tìm Hiểu Các Phương Pháp Xét Nghiệm Chức Năng Thận Tiên Tiến Nhất Hiện Nay
  • Một Số Nghiệm Pháp Thăm Dò Chức Năng Thận

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Xét Nghiệm Trong Việc Chẩn Đoán Chức Năng Thận
  • Giá Trị Xét Nghiệm Định Lượng Acth Trong Máu
  • Suy Thận: Dấu Hiệu Phân Biệt Suy Thận Cấp Và Suy Thận Mạn Tính
  • Cổng Thanh Toán Trực Tuyến: Đặc Điểm, Chức Năng Và Lợi Ích
  • Cổng Thanh Toán Online Và Các Hình Thức Thanh Toán Online Phổ Biến
  • MỘT SỐ NGHIỆM PHÁP THĂM DÒ CHỨC NĂNG THẬN

    1. PHƯƠNG PHÁP THANH THẢI

    Từ phương pháp thanh thải creatinin của Rehberg (1926), hoặc phương pháp thanh thải urê của Moler Mehntosh và Van Slyke (1928), ngày nay người ta đã tìm được nhiều chất thử thích hợp cho việc thăm dò từng phần chức năng thận: inulin, creatinin, urê, P.A.H, Cr 51, E.D.T.A …

    Trong đó:

    U: (mg%) chất có trong nước tiểu

    V: (ml/min) lượng nước tiểu/min

    U.V: (mg/min) lượng chất được đào thải/min

    P: (mg%) nồng độ chất có ở trong máu

    C: (ml/min) lượng huyết tương được lọc sạch một chất/min

    Hằng số C được Van Slyke gọi là độ thanh thải. Độ thanh thải (clearance) là lượng huyết tương tính bằng ml chứa một chất trong một đơn vị thời gian đã bị lọc sạch chất đó.

    Nếu nhân hằng số C với nồng độ chất đó có trong huyết thanh, thì biết được lượng chất đó được đào thải ra ngoài trong một đơn vị thời gian.

    Như vậy chỉ trong một điều kiện đặc biệt, một chất chỉ đi qua thận một lần đã bị loại trừ hoàn toàn, thì độ thanh thải mới tương ứng được lượng huyết tương qua thận. Điều này rất khó xảy ra trong cơ thể. Vì thế, đây là một khái niệm trừu tượng, nhưng ta vẫn có thể hiểu và ứng dụng được.

    Ví dụ, trong một phút có một lượng chất được bài tiết ra ở 75ml huyết tương và điều này ta cũng có thể cho: trong một phút có 1/2 lượng chất đó được bài tiết ra ở 150ml huyết tương. Như thế, khái niệm lọc sạch đã được hiểu một cách dễ dàng hơn.

    Trong nghiên cứu thăm dò chức năng thận, người ta cố gắng tìm các chất thử có tính chất:

    – Bị đào thải mà không tái hấp thu.

    – Không độc.

    – Không bị các bộ phận khác của cơ thể bài tiết và chuyển hóa.

    – Không tích luỹ ở thận.

    Hiện nay cả hai phương pháp vẫn được dùng:

    – Các chất có trong cơ thể (nội sinh): urê, glucose, creatinin, acid amin, một số chất điện giải …

    – Các chất đưa từ ngoài vào (ngoại sinh): inulin, manitol, PAH …

    2. MỘT SỐ CHỈ SỐ ỨNG DỤNG

    2.1. Chỉ số đánh giá chức năng lọc.

    Đánh giá chức năng lọc thông qua hệ số thanh thải của chất chỉ lọc qua cầu thận, mà không bị tái hấp thu và bài tiết thêm ở ống thận, như chất inulin.

    U.V

    —– = C (const )

    P

    C inulin =120-125ml/min.

    2.2. Chỉ số đánh giá chức năng tái hấp thu.

    Thường đánh giá khả năng tái hấp thu của ống thận thông qua hệ số thanh thải của chất sau khi lọc qua cầu thận, một phần được tái hấp thu trở lại, như urê và so với C inulin.

    C inulin – C urê = V huyết tương chứa urê đã tái hấp thu. Thông thường C urê = 75% C inulin.

    2.3. Chỉ số đánh giá Chức năng bài tiết tích cực.

    Đánh giá chức năng bài tiết tích cực thông qua hệ số thanh thải của chất sau khi lọc, không bị tái hấp thu mà còn được bài tiết thêm ở ống thận như PAH, PSP.

    C PAH = 655ml/min; CPSP = 450ml/min.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chỉ Số Xét Nghiệm Phát Hiện Bệnh Nhân Suy Thận
  • Top 7+ Loại Thuốc Bổ Thận Âm Tốt Nhất 2022 Được Chuyên Gia Khuyên Dùng
  • Tăng Cường Chức Năng Thận Tại Nhà
  • Chế Độ Ăn Cho Người Bệnh Ung Thư Tuyến Giáp.
  • Để Không Ôm Hận, Tránh 2 Thực Phẩm Này Khi Bị Bướu Cổ!
  • Khoa Thăm Dò Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Kỹ Thuật Thăm Dò Chức Năng Của Bộ Môn Sinh Lý Học
  • Giải Phẫu Các Đôi Dây Thần Kinh Sọ: Tế Bào Vị Trí Kích Thước Đặc Điểm Chức Năng
  • Rối Loạn Thần Kinh Chức Năng: Nguyên Nhân, Chẩn Đoán Và Cách Ngừa
  • Rối Loạn Thần Kinh Thực Vật Có Chữa Được Không?
  • Rối Loạn Thần Kinh Thực Vật Do Đâu?
    • Tổng số nhân lực: 17
    • Tổng số bác sỹ: 07
    • Tổng số điều dưỡng: 09 (03 cử nhân + 06 điều dưỡng)
    • Hộ lý: 01.

    1. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ

    Khoa Thăm dò chức năng bệnh viện Châm cứu trung ương được thành lập ngày 12/07/1996 theo quyết định số 1247/QĐ-BYT.

    Chức năng:

    Là khoa cận lâm sàng thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán của y học hiện đại để chẩn đoán các rối loạn về chức năng của hệ thống các cơ quan trong cơ thể.

    Nhiệm vụ:

    • Thăm dò chẩn đoán các chức năng sinh lý và các rối loạn bệnh lý để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho bệnh nhân.
    • Điều trị cho các bệnh nhân ngoại trú.
    • Tham gia công tác nghiên cứu khoa học.
    • Tham gia công tác đào tạo và chỉ đạo tuyến.

    2. HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN

    Để đáp ứng thực hiện những chức năng và nhiệm vụ trên, khoa Thăm dò chức năng được trang bị nhiều máy móc thiết bị hiện đại, chẩn đoán chuyên dụng kỹ thuật cao của y học hiện đại

    PHẦN THĂM DÒ CHỨC NĂNG

    A. ĐIỆN CƠ ĐỒ (EMG)

    Máy điện cơ dùng để đo tốc độ dẫn truyền thần kinh của các dây thần kinh ngoại vi: nhằm phát hiện tổn thương dẫn truyền kiểu tổn thương Myelin của các dây thần kinh ngoại vi phát hiện các block dẫn truyền chèn ép rễ dây thần kinh và vị trí tổn thương của dây thần kinh. Ví dụ: tổn thương của các dây thần kinh trụ, thần kinh giữa, thần kinh quay, thần kinh hông to, thần kinh chày, thần kinh mác… thường gặp trong các bệnh lý như:

    + H/c Guillaine-Barré.

    + H/c ống cổ tay

    + Viêm đa dây thần kinh hủy Myelin

    + Viêm đa dây thần kinh thể tổn thương sợi trục đơn thuần

    + Bệnh lý có tổn thương đa rễ thần kinh

    + Các trường hợp chèn ép rễ thần kinh (thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống…)

    Đo phản xạ Blink:

    Thăm khám, đánh giá phát hiện tổn thương và mức độ hồi phục sự dẫn truyền thần kinh của dây thần kinh số VII, tổn thương thực thể nhân dây V.

    Điện cơ kim

    Đánh giá tình trạng của cơ thông qua các hình ảnh đặc hiệu thường gặp trong các bệnh lý:

    + Tổn thương teo cơ do nguyên nhân thần kinh.

    + Tổn thương thoái hóa thần kinh.

    + Tổn thương teo cơ do bệnh lý sợi cơ.

    B. ĐIỆN NÃO ĐỒ (EEG)

    • Các bệnh lý có tổn thương thực thể não như: chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, các bệnh lý nhiễm trùng, nhiễm độc não.
    • Các bệnh lý do rối loạn chức năng của hệ thống thần kinh trung ương như cơn Migraine qua một số dấu hiệu gợi ý (đau đầu, mất thị giác…),rối loạn tuần hoàn não, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, bại não…
    • EEG giúp phát hiện sớm và định hướng chẩn đoán những tổn thương có dấu hiệu choán chỗ trong hộp sọ như u, apxe vùng vỏ não, những tổn thương nhỏ dạng ổ khuyết như cơn thiếu máu não thoáng qua.
    • Kết hợp với lâm sàng, điện não có giá trị chẩn đoán xác định cơn động kinh cục bộ, động kinh cơn toàn thể, theo dõi tiến triển điều trị , đáp ứng lâm sàng và điều chỉnh thuốc cho phù hợp.

    C. ĐO LƯU HUYẾT NÃO, LƯU HUYẾT CHI (REG)

    • Bằng việc ghi lại những thay đổi điện trở của não từ thành mạch máu mỗi lần mạch đập, qua phần mềm tính toán xử lý số liệu, cho chúng ta biết tình trạng mạch máu não và lưu lượng tuần hoàn máu não.

    + Đau đầu mạn tính

    + H/c Raynaud

    + Các chứng tê bì đầu chi hay lạnh tứ chi.

    D. ĐIỆN TIM – ĐIỆN TIM GẮNG SỨC (ECG)

    Việc ghi lại những tín hiệu điện do nút xoang của tim phát ra qua các điện cực trước tim và các điện cực chi cho hình ảnh của sóng điện tim, giúp thăm dò chức năng hoạt động của tim từ đó định hướng chẩn đoán các bệnh lý như:

    + Nhịp tim không đều, rối loạn dẫn truyền nhĩ-thất hoặc block nhĩ-thất

    + Bệnh về mạch vành

    + Bệnh về cơ tim

    Khi các bệnh lý tim mạch không có tính chất thường xuyên thì nghiệm pháp vận động gắng sức trong quá trình ghi điện tim sẽ giúp cho việc chẩn đoán, thăm dò chính xác hơn.

    E. ĐO THÍNH LỰC ĐỒ.

    Với việc phát ra các tần số sóng âm thanh khác nhau ở ngưỡng nghe kết hợp với sự hợp tác của bệnh nhân, đo từ ngưỡng thấp nhất cho tới ngưỡng cao nhất sẽ cho chúng ta các chỉ số về ngưỡng nghe, qua đó thăm dò, đánh giá được các mức độ điếc đối với bệnh nhân.

    Đồng thời việc phát các sóng âm thanh cả bằng đường khí và bằng đường xương sẽ giúp thăm dò được các kiểu tổn thương, bộ phận tổn thương trong hệ thống thính giác.

    F. ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ

    1. Khoa Thăm dò chức năng có các trang thiết bị hiện đại đáp ứng được các yêu cầu điều trị, có các buồng khám bệnh và điều trị khang trang sạch đẹp đầy đủ tiện nghi, với đội ngũ bác sỹ và điều dưỡng được đào tạo có trình độ chuyên môn cao, phục vụ bệnh nhân tận tình chu đáo.
    2. Khoa có nhiều máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều trị bệnh đạt hiệu quả cao như:
    • Máy điện châm PG8 của Nhật
    • Máy điều trị sóng xung kích: RADIALSPEC của Mỹ
    • Máy kéo giãn cột sống của Australia và Mỹ
    • Máy xoa bóp hơi toàn thân: DS MAREF MARK III Plus MK 300
    • Đèn điều trị hồng ngoại
    • Phòng cấy chỉ hiện đại
      Các thủ thuật điều trị được thực hiện tại khoa Thăm dò chức năng
    • Điện châm
    • Thủy châm
    • Xoa bóp bấm huyệt bằng tay
    • Điều trị bằng tia hồng ngoại
    • Xoa bóp bằng máy xoa bóp hơi
    • Điều trị bằng sóng xung kích
    • Kéo giãn cột sống cổ, thắt lưng
    • Xông hơi thuốc y học cổ truyền
    • Ngâm bồn thuốc y học cổ truyền
    • Cấy chỉ catgut.

    * Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Thần Kinh Tự Trị(Hệ Thần Kinh Thực Vật)
  • Nhân Sâm Hạt Sen Điều Tiết Các Chức Năng Của Hệ Thống Thần Kinh
  • Tổng Quan Hệ Thần Kinh Người
  • Chức Năng Cảm Giác Của Hệ Thần Kinh
  • Giải Bài Tập Sinh Học 8 Bài 48: Hệ Thần Kinh Sinh Dưỡng
  • Test Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chỉ Số Trong Kết Quả Đo Chức Năng Hô Hấp
  • Tính Năng Hay Trên Iphone 7 Và 7 Plus:có Thể Bạn Chưa Biết
  • Iphone 7 Plus Cũ Cam Kết Nguyên Zin Rẻ Nhất
  • Cách Tìm Iphone Bị Mất, Check Vị Trí, Khóa Iphone Từ Xa Bằng Find My P
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Tìm Iphone Trên Ios Mới Nhất
  • Test thăm dò chức năng hô hấp là các test hô hấp nhằm đánh giá mức độ bạn hít không khí vào, thở không khí ra khỏi hai phổi và mức độ oxy đi vào cơ thể bạn. Test thường gặp nhất là hô hấp ký (spirometry), nghiên cứu khuếch tán (diffusion studies) và phế thân ký (body plethysmography). Có khi chỉ làm một test, có khi tất cả các test được lên lịch, thường trong cùng một ngày. Test thăm dò chức năng hô hấp có thể được dùng để:

    + So sánh chức năng phổi của bạn với số đo chuẩn, cho biết phổi của bạn hoạt động ở mức nào.

    + Đo lường ảnh hưởng của các bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), xơ nang phổi lên chức năng hô hấp.

    + Xác định các thay đổi sớm trong chức năng phổi, có thể cho biết cần phải thay đổi việc điều trị hay không.

    + Phát hiện hẹp đường dẫn khí.

    + Quyết định có nên dùng thuốc (như thuốc giãn phế quản) hay không.

    + Cho biết việc phơi nhiễm các chất trong nhà hoặc nơi làm việc có tác hại đến phổi không.

    + Xác định khả năng chịu đựng của bạn đối với phẫu thuật hoặc thủ thuật y khoa.

    Để thu được kết quả chính xác nhất từ các test hô hấp:

    + Không hút thuốc ít nhất là 1 giờ trước khi test.

    + Không uống rượu ít nhất là 4 giờ trước khi test.

    + Không vận động nặng ít nhất là 30 phút trước khi test.

    + Không mặc quần áo chật, khiến bạn khó hít sâu.

    + Không ăn nhiều trong vòng 2 giờ trước khi test.

    + Hãy hỏi bác sĩ xem có loại thuốc nào bạn không nên dùng trong ngày làm test.

    Hô hấp ký là gì?

    Hô hấp ký là test thăm dò chức năng phổi thường được chỉ định nhất. Hô hấp ký đo lường số lượng không khí bạn có thể hít vào trong phổi và số lượng không khí bạn có thể thở ra nhanh khỏi phổi. Test này được thực hiện bằng cách cho bạn hít vào sâu và sau đó thở ra tất cả không khí càng nhanh càng tốt. Bạn sẽ thổi vào một ông nối liền với một cái máy (hô hấp kế). Để đạt được kết quả tốt nhất, test phải được lập lại ba lần. Sau mỗi lần, bạn được nghỉ ngơi.

    Test thường được lập lại sau khi bạn hít một thứ thuốc (thuốc giãn phế quản) để xem bạn hô hấp tốt hơn đến đâu sau khi dùng loại thuốc này. Có thể cần phải tập dượt để làm hô hấp ký đúng. Nhân viên sẽ hướng dẫn bạn cách làm test đúng.

    Thường mất 30 phút để hoàn thành test này.

    Tôi nên biết gì trước khi làm test hô hấp ký?

    + Bạn có thể được yêu cầu không sử dụng thuốc hô hấp trước khi test.

    + Các hướng dẫn cách làm test sẽ được đưa cho bạn. Nếu bạn không hiểu các hướng dẫn này, hãy yêu cầu nhân viên lập lại.

    + Cần phải gắng sức để test và bạn có thể mệt. Điều này đã được dự liệu.

    + Nếu bạn chóng mặt hoặc xây xẩm trong lúc test, hãy ngưng thổi ngay lập tức và báo cho nhân viên biết.

    Các test khuếch tán là gì?

    Các test khuếch tán tìm ra mức độ oxy trong không khí mà bạn hít vào phổi, di chuyển từ phổi vào trong máu. Như hô hấp ký, test này được thực hiện bằng cách cho bạn thở vào một ống nối với một cái máy. Bạn sẽ được yêu cầu làm trống phổi bằng cách nhẹ nhàng thở ra càng nhiều càng tốt. Sau đó bạn sẽ hít nhanh nhưng sâu, giữ lại trong 10 giây, và thở ra theo chỉ dẫn. Thường mất khoảng 15 phút để hoàn thành test này.

    Tôi nên biết gì trước khi làm test khuếch tán?

    + Không được hút thuốc lá và tránh xa người hút thuốc lá trong ngày làm test.

    + Nếu bạn thở oxy, bạn thường được yêu cầu ngưng oxy trong vài phút trước khi thực hiện test này.

    Phế thân ký là gì?

    Phế thân ký là một test để biết được số lượng không khí ở trong hai phổi sau khi bạn hít sâu vào, và số lượng không khí còn lại trong hai phổi sau khi bạn thở ra hết sức. Dù bạn có gắng sức đến mức nào, bạn cũng không bao giờ có thể tống hết không khí ra khỏi hai phổi. Đo lường tổng số lượng không khí hai phổi có thể chứa và số lượng không khí còn lại trong hai phổi sau khi thở ra hết sức giúp bác sĩ có được thông tin về việc hai phổi của bạn hoạt động tốt đến mức nào và giúp hướng dẫn họ điều trị bạn. Test này đòi hỏi bạn ngồi trong một hộp có cửa kính rộng nhìn được ra ngoài (như phòng gọi điện thoại). Bạn sẽ được yêu cầu mang một kẹp mũi và bạn sẽ được hướng dẫn cách hít thở qua một ống miệng. Nếu bạn gặp khó khăn khi ở trong một phòng kín (sợ phòng kín – claustrophobia), hãy cho người ra y lệnh biết. Điều này giúp bạn tránh bất kỳ sự hiểu lầm hoặc khó chịu nào. Thường mất khoảng 15 phút để hoàn thành. Một số phòng thăm dò chức năng hô hấp có thể sử dụng các test khác, thay vì phế thân ký để đo tổng thể tích không khí trong hai phổi của bạn.

    Tôi nên biết điều gì trước khi làm phế thân ký?

    + Một số phòng thử nghiệm sẽ sử dụng các test khác thay vì phế thân ký để đo tổng thể tích không khí trong hai phổi của bạn.

    + Nếu bạn thở oxy, bạn thường được yêu cầu ngưng oxy trong lúc test.

    + Hãy cho nhân viên biết bạn gặp khó khăn khi ở trong phòng kín.

    Các kết quả bình thường của test thăm dò chức năng phổi?

    Do kích thước cơ thể và phổi của mỗi người mỗi khác, kết quả bình thường khác nhau từ người này qua người khác.

    Thí dụ, người cao hơn và người nam có khuynh hướng có phổi lớn hơn người thấp hơn và người nữ. Hai phổi của một người phát triển cho đến tuổi 24, 25 và sau đó, chức năng phổi giảm nhẹ mỗi năm.

    Có những tiêu chuẩn mà bác sĩ sử dụng, dựa vào chiều cao, cân nặng, tuổi và giới tính của bạn. Các số đo này được gọi là trị số dự đoán. Số đo của bạn sẽ được so sánh với các số đo tiêu chuẩn này. Chức năng phổi của chính bạn có thể được theo dõi theo thời gian để giúp biết được bạn có thay đổi xấu hơn hay không.

    Nguồn: American Thoracic Society

    http://www.thoracic.org/patients/patient-resources/resources/pulmonary-function-tests.pdfTrần Thanh Xuân dịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đo Chức Năng Hô Hấp Là Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp
  • Tổng Quan Về Hệ Hô Hấp Ở Cơ Thể Người
  • Đặc Điểm Hình Thái, Chức Năng Hệ Hô Hấp
  • Ý Nghĩa Của Xét Nghiệm Ggt Trong Máu
  • Thăm Dò Chức Năng Hô Hấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Đồng Hồ Apple Watch Series 4 Từ A Đến Z
  • Cách Xử Lý Apple Watch Không Rung Cho Báo Động Và Thông Báo
  • Ứng Dụng Breathe Khiến Nhiều Người Dùng Apple Watch Bối Rối
  • Hướng Dẫn Cách Xem Và Phản Hồi Thông Báo Trên Apple Watch
  • Nghiệm Pháp Tim Mạch Hô Hấp Gắng Sức
    • Chẩn đoán xác định hen phế quản, COPD, các rối loạn thông khí khác
    • Chẩn đoán phân biệt hen phế quản với COPD, bệnh lý có rối loạn khác như giảm oxy máu, tăng cacbonic máu, đa hồng cầu…
    • Đo lường ảnh hưởng của bệnh lên chức năng phổi
    • Để tầm soát người có nguy cơ bị bệnh phổi: hút thuốc lá, phơi nhiễm với các chất độc hại
    • Đánh giá nguy cơ, tiên lượng trước phẫu thuật (cắt thùy phổi, cắt phổi,…)
    • Theo dõi tác dụng phụ của thuốc có độc tính trên phổi

    • Các nghiên cứu dịch tể học
    • Trường hợp tổn thương phổi có nguy cơ biến chứng khi làm hô hấp ký (kén khí lớn của phổi, màng phổi, ho máu nhiều, áp xe phổi lớn…)
    • Bệnh nhân không hợp tác (rối loạn tâm thần, giảm thính lực…)
    • Chấn thương vùng hàm mặt, lồng ngực
    • Mới phẫu thuật ngực, bụng, mắt
    • Bệnh lý tim mạch nặng: suy tim xung huyết, bệnh mạch vành, nghi ngờ hoặc xác định phình tách động mạch
    • Phụ thuộc vào thao tác của người đo và sự phối hợp của đối tượng được đo
    • Không đặc hiệu cho từng bệnh lý hô hấp
    • Vài chỉ số biến thiên lớn như FEF 25-75
    • Đo 3 lần với đường cong có thể chấp nhận được
    • Chênh lệch FEV1 và FVC giữa các lần đo không quá 5% hay 150 ml
    • Thực hiện không quá 8 lần

    • Thời gian thở ra tối thiểu 6 giây? (trẻ em tối thiểu 3 giây)
    • Đường cong lưu lượng thở ra có bình nguyên kéo dài 1 giây?
    • Việc bắt đầu test có thỏa đáng không (ít hơn 5% thể tích ngoại suy)
    • Đối tượng đã hiểu được các chỉ dẫn thực hiện hay chưa?
    • Việc hít vào có được thực hiện với gắng sức cao nhất hay không?
    • Việc thở ra có trôi chảy và liên tục hay ko?
    • Gắng sức có đạt mức cao nhất khi thở ra hay không (có peak)?

    • Sự chênh lệch có ít hơn 150ml giữa FVC lớn nhất và lớn nhì hay không (100ml khi FVC<1.0L)
    • Sự chênh lệch có ít hơn 150ml giữa FEV1 lớn nhất và lớn nhì hay ko (100ml khi FVC<1.0L)
    • Có tài liệu chứng minh cho việc thiếu khả năng có thể lặp lại hay ko?
    • Nếu FVC bình thường: về cơ bản không có RLTKHC
    • Nếu FVC giảm: có thể RLTKHC hoặc TN
    • Xem đường nét của đường cong lưu lượng- thể tích

      • Nếu đường cong bình thường và FVC bình thường thì hầu hết kết quả test là bình thường. Ta bước sang bước V, VI. Nếu FVC giảm và đường cong lưu lượng – thể tích dốc xuống, FEV1/FVC bình thường thì có thể do RLTKHC, hen PQ không điển hình, hoặc một bất thường không rõ ràng. Trong trường hợp này cần đo TLC để phân biệt rõ. Nếu TLC giảm thì chẩn đoán chắc chắn RLTK hạn chế

      • Nếu đường cong hất lên và độ dốc giảm, lưu lượng giảm( xem hình ) thì hầu hết là RLTKTN. Chú ý đôi khi RLTK hỗn hợp cũng có hình dạng như vậy

    • Nếu đường cong lưu lượng- thể tích dẹt xuống thì gợi ý tắc nghẽn đường thở lớn (từ carina đến miệng)

      Lưu lượng thở ra ở khoảng giữa 50% của FVC (FEF 25-75) hầu như thay đối giống như FEV1, nhưng nó thường giảm trước FEV1 trong sự phát hiện tắc nghẽn đường thở ở giai đoạn sớm, FEF 25-75 đôi khi giảm trong khi FVC, FEV1 và MVV bình .Trường hợp này hay gặp ở người già với triệu chứng nghèo nàn. Tuy nhiên chỉ số này biến thiên lớn nên một số tác giả khuyên phải thận khi đọc chỉ số này.

    • MVV sẽ thay đổi trong hầu hết các trường hợp như là FEV1. Với FEV1 bình thường thì MVV sẽ bình thường( FEV1- 40 = MVV). Cần lưu ý đến giới hạn thấp hơn ( FEV1- 30)
    • Nếu FEV1 giảm do RLTKTN thì MVV cùng sẽ giảm. Nhưng trong RLTKTN, FEV1 – 40 = MVV không phải lúc nào cũng đúng

      • Nếu FEV1 giảm do RLTKHC thì MVV luôn luôn giảm nhưng không phải giảm nhiều như FEV1

      • Nếu FEV1 bình thường nhưng MVV giảm dưới giới hạn dưới có thể gặp trong các trường hợp sau:

        Bệnh nhân bị ốm, mệt, ho,hoặc thực hiện đo chưa gắng sức tối đa

        Xem BN có rối loạn thần kinh cơ

        Xem BN có tắc nghẽn đường thở lớn không. MVV giảm trong cả 3 loại tắc nghẽn trong, ngoài lồng ngực và cả hai. Trường hợp này phải xem hình dạng dẹt của đường cong lưu lượng- thể tích để khẳng định.

        Nếu BN bị béo phì thì MVV giảm trước khi FEV1 giảm

    Tiffenaeu (FEV1/VC) giảm < 70% giá trị dự đoán

    Và/hoặc Gaensler (FEV1/FVC) giảm < 70%

    Tùy thuộc mức độ giảm FEV1 để đánh giá mức độ nặng RLTKTN

    TLC, VC, FVC giảm < 80% giá trị dự đoán

    FEV1/VC bình thường hay tăng

    Đánh giá mức độ RLTKHC dựa vào giá trị VC hoặc FVC (lấy giá trị lớn hơn)

    80 – 60 : nhẹ

    60 – 40 : trung bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Đo Chức Năng Hô Hấp Hi
  • Phục Hồi Chức Năng Hô Hấp: Giảm Triệu Chứng Khó Thở, Cải Thiện Cuộc Sống
  • Chuong Vi: Hệ Hô Hấp
  • Thuốc Trừ Sâu Phổ Biến Hiện Nay Có Thể Làm Suy Giảm Chức Năng Hô Hấp Của Trẻ
  • Cải Thiện Chức Năng Đường Hô Hấp Cho Trẻ Nhờ Bơi Lội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100