Luận Văn Tốt Nghiệp Quản Trị Kinh Doanh Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả

--- Bài mới hơn ---

  • Tăng Doanh Số Bán Lẻ:17 Mẹo Từ Chuyên Gia Dành Cho Cửa Hàng Của Ban
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Tại Khách Sạn Nam Cường
  • Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Nhà Hàng – Biết Nhưng Đừng Chủ Quan!
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phục Vụ Nhà Hàng
  • Những Giải Pháp Thông Gió Cho Nhà Ống Hiệu Quả Nhất
  • Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

    Luận văn tốt nghiệp Quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng cho công ty TNHH thương mại M.K tại TP.HCM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: 

    Loại hình công ty: Công ty TNHH có hai thành viên trở lên.

    Vốn điều lệ: 6.980.000.000 đ (Sáu tỷ chín trăm tám mươi triệu đồng).

    (Trong đó: Hiện kim: 5.780.000.000 đ; Hiện vật: 1.200.000.000 đ).

    Nhà máy sản xuất: Tổ 10, ấp 3, xã Phú An, huyện Bến Cát, Bình Dương.

    2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển

    2.1.2.1. Quyết định thành lập

    Nắm bắt được cơ hội thị trường và sự phát triển trong tương lai, công ty TNHH Thương Mại M.K chính thức được thành lập vào tháng 12 năm 2001 theo giấy đăng ký kinh doanh số: 4102007879 do phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế Hoạch – Đầu Tư

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          26                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Tp.HCM cấp ngày 26/12/2001 với lĩnh vực hoạt động chính là sản xuất kinh doanh các mặt hàng giấy Decal.

    2.1.2.2. Quá trình phát triển

    Công ty TNHH Thương Mại M.K chính thức được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 12 năm 2001 trụ sở chính tại 215B/12 Phan Đăng Lưu, Phường 1, Quận Phú Nhuận, chúng tôi với 100% sản phẩm nhập khẩu từ Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc. Sau 2 năm hoạt động, công ty đã dần đi vào ổn định và thị trường đang tăng nhanh. Đến năm 2003 do nhu cầu ngày càng tăng và lượng khách hàng ngày càng nhiều công ty đã rời trụ sở chính đến 1/25 Đoàn Thị Điểm, P.1, Quận Phú Nhuận, chúng tôi lớn hơn và có vị trí thuận lợi trong việc giao dịch với khách hàng. Vào đầu năm 2004 công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tại Bình Dương nhằm thay thế hàng ngoại nhập hoàn chỉnh mà chỉ nhập nguyên liệu góp phần làm giảm giá thành sản phẩm và đến tháng 9/2004 nhà máy chính thức đi vào hoạt động. Bên cạnh đó công ty đã tạo ra cho mình một thương hiệu riêng đó là “Decal 3 ngôi sao” đã được cục sở hữu công nghiệp cấp bằng chứng nhận ngày 20/6/2003. Bước sang 2005 công ty đã dần tạo được chỗ đứng trong thị trường giấy decal tại chúng tôi và bước đầu mở rộng thị trường sang các tỉnh thành khác đồng thời thành lập một văn phòng giao dịch chính thức tại địa chỉ 61/4 Đường Số 20, P.6, Quận Gò Vấp, chúng tôi Trải qua gần 10 năm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định, doanh thu liên tục tăng qua các năm và thu nhập của công nhân ngày càng tăng. Với những thành tựu đã đạt được và những bước đi đúng hướng công ty sẽ ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu lớn trong tương lai.

    2.1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ

    Chức năng

    Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do sở Kế Hoạch và Đầu Tư chúng tôi cấp thì chức năng hoạt động của công ty bao gồm những lĩnh vực sau: Mua bán vật tư – nguyên vật liệu ngành in; giấy, giấy decal, lương thực – thực phẩm, bánh kẹo. Dịch vụ thương mại. Đại lý ký gửi hàng hóa. Dịch vụ tư vấn môi trường. Gia công bế hộp, giấy và màng decal. Sản xuất giấy decal từ giấy cuộn (không tái chế phế thải giấy, sản xuất bột giấy, không in). Trong đó lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty là sản xuất – kinh doanh giấy decal.

    Nhiệm vụ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          27                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Công ty TNHH Thương Mại M.K hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh giấy decal với những nhiệm vụ cơ bản sau:

    Sản xuất kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký và phù hợp với mục tiêu thành lập công ty.

    Nghiên cứu, thiết kế những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi của thị trường.

    Sử dụng hiệu quả các nguồn lực và khai thác tốt tiềm năng của công ty.

    Tạo ra nguồn vốn ổn định, duy trì hoạt động liên tục đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường.

    Ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, không ngừng nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm.

    Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên, trả lương hợp lý và quan tâm tới nhân viên.

    Thực hiện những cam kết về uy tín, chất lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng với mức giá hợp lý.

    2.1.3. Cơ cấu tổ chức

    Giám đốc

    P. Giám đốc

     

    P. Giám đốc

     

     

     

    Phòng

     

    Phòng

     

     

    Phòng

     

     

    Nhà máy

     

    kế

     

    bán

     

     

    gia công

     

     

    sản

     

    toán

     

    hàng

     

     

    sản xuất

     

     

    xuất

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức công ty TNHH Thương Mại M.K

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng

    28

    SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Nhìn sơ đồ ta thấy cơ cấu tổ chức của công ty khá đơn giản nhưng góp phần quan trọng vào sự hoạt động ổn định và phát triển của công ty hiện nay. Trong đó chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty được phân rõ như sau:

    Giám đốc công ty

    Giám đốc là người đứng đầu công ty với những chức năng và công việc:

    Tổ chức bộ máy quản lý, chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Xây dựng các mục tiêu, chính sách và đề ra các chiến lược để hoàn thành các mục tiêu và chính sách đã đề ra.

    Kiểm tra, giám sát và đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giám đốc xây dựng mục tiêu chính sách cho năm tới.

    Là người đại diện cho công ty trước pháp luật và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.

    Phó giám đốc

    Tư vấn và tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng các mục tiêu chính sách cho công ty.

    Nhận lệnh trực tiếp từ giám đốc và truyền đạt những chính sách, mục tiêu cũng như những chiến lược bán hành động xuống cấp dưới.

    Chịu trách nhiệm trong việc chỉ đạo, đôn đốc cấp dưới hoàn thành chỉ tiêu về kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty.

    Thay mặt giám đốc điều hành công ty khi giám đốc đi vắng.

    Phòng kế toán

    Phòng kế toán có nhiệm vụ theo dõi tất cả các khoản tài sản và nguồn vốn của công ty một cách chi tiết và đầy đủ.

    Lập các báo cáo tài chính, thuyết minh báo cáo tài chính và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những số liệu trong báo cáo.

    Cung cấp thông tin và cáo cáo cho cấp trên về những bất ổn trong quá trình sản xuất kinh doanh để giám đốc kịp thời xem xét và khắc phục.

    Phòng bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          29                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Hoàn thành chỉ tiêu và kế hoạch bán hàng được giao, thu hồi công nợ từ khách hàng, báo kết quả cho cấp trên và quản lý khách hàng tại khu vực mình.

    Tìm hiểu thị trường, thực hiện tiếp xúc chào hàng khách hàng mới.

    Thực hiện những giao dịch với khách hàng, không ngừng quảng bá và nâng cao uy tín của công ty trước khách hàng.

    Phòng gia công sản xuất

    Có trách nhiệm sản xuất, gia công sản phẩm đúng quy cách, chủng loại theo yêu cầu của khách hàng.

    Thực hiện công tác bảo trì, kiểm tra máy móc thiết bị đảm bảo cho hoạt động sản xuất ổn định.

    Thực hiện đúng tiêu chuẩn về an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy.

    Nhà máy sản xuất

    Nhà máy sản xuất có chức năng nhiệm vụ sản xuất cung cấp các loại giấy cuộn, đảm bảo sản xuất hiệu quả và cung ứng hàng kịp thời cho phòng gia công sản xuất.

    2.1.4. Các sản phẩm chính của công ty

    Bảng 2.1: Các sản phẩm chính của công ty

    Tên sản phẩm

    Tên sản phẩm

     

     

     

     

    Decal AL Super

    Alsuper-0

    Decal PL nhám (đế xanh)

    PLBL-0

     

     

     

     

    Decal AL (ba ngôi sao đỏ)

    ALY-0

    Decal PL nhám(đế trắng)

    HPL-0

     

     

     

     

    Decal AL bóng mờ (ba ngôi sao đỏ)

    ALW-0

    Decal PL nhám(đế vàng)

    PLY-0

     

     

     

     

    Decal AL bóng mờ (Star bạc)

    ALS-0

    Decal PL nhám không logo

    PLBS-0

     

     

     

     

    Decal AL bóng mờ (không logo)

    ALYK-0

    Decal MCL bóng(đế xanh)

    MCLBL-0

     

     

     

     

    Decal AL bóng mờ (đế xanh)

    ALBL-0

    Decal MCL bóng(đế trắng)

    MCLY-0

     

     

     

     

    Decal AL bóng mờ Super

    HALsuper-0

    Giấy cảm nhiệt-gián tiếp

    HTLM-0

     

     

     

     

    Decal AL bóng mờ (đế trắng)

    HAL-0

    Giấy cảm nhiệt- trực tiếp

    BTLM-0

     

     

     

     

    Decal PL nhám Super

    Plsuper-0

     

     

     

     

     

     

    2.2. Phân tích tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty

    2.2.1. Vận dụng ma trận SWOT vào tình hình hoạt động của công ty

     

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp luôn ẩn chứa nhiều cơ hội và nguy cơ, những điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình. Do đó việc tìm hiểu, phân tích những cơ hội, thách thức, điểm mạnh cũng như điểm yếu sẽ góp phần quan trọng trong việc tận dụng các cơ hội thị trường, tránh các nguy cơ, phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu. Ma trận SWOT sau đây sẽ phản ánh những cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Thương Mại M.K.

    Bảng 2.2: Phân tích ma trận SWOT về hoạt động kinh doanh của công ty

    Hoàn cảnh nội bộ

     

    ĐIỂM MẠNH – S

    ĐIỂM YẾU – W

     

    1.

    Tình hình tài chính ổn

    1. Cơ sở hạ tầng còn nhỏ,

     

    định

    thiếu  máy  móc  thiết  bị

     

    2. Sản phẩm thay thế hàng

    chuyên nghiệp.

     

    ngoại nhập.

    2. Sản xuất đạt hiệu quả

     

    3. Lực lượng bán hàng hiệu

    chưa cao.

     

    quả.

    3. Uy tín thương hiệu chưa

     

    4.

    Sự liên kết và hợp tác

    đủ để tạo ra động lực thúc

     

    hiệu quả giữa các phòng

    đẩy việc bán hàng.

     

    ban.

    4. Nguồn lực còn thiếu đặc

     

    5.

    Thị  trường  sản  phẩm

    biệt là nguồn lực tài chính.

     

    liên tục tăng trưởng và mở

    5.  Phụ  thuộc  nhiều  vào

    Môi trường bên ngoài

    rộng.

    nguồn nguyên liệu  ngoại

     

     

     

    nhập.

    CƠ HỘI – O

    CÁC CHIẾN LƯỢC

    CÁC CHIẾN LƯỢC

    1. Nền kinh tế liên tục tăng

    SO

    WO

    trưởng cao.

    1. Chiến lược phát triển thị

    1. Chiến  lược phát triển

    nhanh.

    O2).

     

    3. Nhiều cơ hội xuất khẩu

     

    2. Chiến lược đổi mới công

    khi  Việt  Nam  gia  nhập

    2. Chiến lược tăng trưởng

    nghệ (W1, W4, O4, O5)

    WTO.

    ổn định dựa vào năng lực

     

    4. Chính phủ chủ trương

    cốt lõi (S1, S2, S4, O4,

    3.  Chủ  động  về  nguồn

     

     

     

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng

    31

    SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    khuyến  khích  sản  xuất

    O5).

    nguyên liệu đặc biệt là các

    trong nước thay thế hàng

     

    nguồn  nguyên  liệu  trong

    ngoại.

    3. Chiến lược đẩy mạnh

    nước.

    5. Thị trường tài chính phát

    bán hàng (S1, S2, S3, O2,

     

    triển mạnh, cơ hội tiếp cận

    O3, O4)

     

    được  nhiều  nguồn  tài

     

     

    chính.

     

     

     

     

     

    NGUY CƠ – T

    CÁC CHIẾN LƯỢC

    CÁC CHIẾN LƯỢC

    1. Sự cạnh tranh ngày càng

    ST

    WT

    gay gắt, đặc biệt là từ nước

    1. Chiến lược đa dạng hóa

    1. Chiến lược huy động tài

    ngoài.

    sản phẩm (S2, S3, S4, T1,

    chính (W4, T5).

    2. Sản phẩm thay thế.

    T2).

     

    3. Khủng hoảng  kinh  tế

     

    2.  Chiến  lược  hội  nhập

    ảnh hưởng đến nguyên liệu

    2. Chiến lược phát triển sản

    phía sau (W5, T3, T4).

    nhập khẩu.

    phẩm (S1, S2,S4, T1, T2).

    3.  Đổi  mới  công  nghệ,

    4. Nguồn nguyên liệu phụ

    3. Xây dựng các chiến lược

    nâng cao hiệu quả sản xuất,

    thuộc nhiều vào nhập khẩu.

    cạnh  tranh:  bảo  vệ  thị

    chủ động đối phó với biến

    5.  Thay  đổi  công  nghệ

    trường hiện tại, thâm nhập

    động thị trường đặc biệt là

    không kịp trình độ chung.

    thị trường mới.

    nguồn nguyên liệu  ngoại

     

     

    nhập.

     

     

     

    Chiến lược SO: Phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội

    Chiến lược được thực hiện nhằm phối hợp giữa điểm mạnh và cơ hội là chiến lược phát triển thị trường nhằm tìm kiếm và mở rộng thị trường mới với khu vực mới và khách hàng mới. Với ưu thế là mặt hàng thay thế hàng ngoại nhập, thị trường trong nước đang phát triển nhanh. Do đó với chiến lược phát triển thị trường sẽ thì thị trường của công ty sẽ mở rộng và tạo ra sự tăng trưởng cao trong tương lai.

    Chiến lược ST: Phát huy điểm mạnh, hạn chế nguy cơ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          32                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Với những nguy cơ ảnh hưởng tới công ty thì chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược phát triển sản phẩm là những chiến lược có thể giúp công ty phát huy diểm mạnh và hạn chế nguy cơ. Đa dạng hóa và phát triển sản phẩm giúp công ty tăng khả năng phục vụ nhu cầu khách hàng cũng như nâng cao chất lược sản phẩm góp phần tăng năng lực cạnh tranh của công ty so với các đối thủ đặc biệt là đối thủ nước ngoài.

    Chiến lược WO: Tận dụng cơ hội khắc phục điểm yếu

    Với những cơ hội từ thị trường công ty có thể khắc phục các điểm yếu của mình thông qua chiến lược phát triển thương hiệu và chiến lược đổi mới công nghệ. Thị trường tài chính đang phát triển sôi động. Doanh nghiệp có thể tận dụng việc huy động các nguồn tài chính trong việc đổi mới công nghệ nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả giảm giá thành sản phẩm là một động lực cạnh tranh hiệu quả.

    Chiến lược WT: Khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ

    Việc thực hiện phối hợp các chiến lược trong việc khắc phục điểm yếu và hạn chế nguy cơ thường khó hơn so với việc phối hợp các chiến lược khác. Những chiến lược được thực hiện như: chiến lược huy động tài chính và chiến lược hội nhập phía sau. Việc tạo ra nguồn tài chính dồi dào và ổn định có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là đối phó với những bất ổn thị trường.

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không nhất thiết là phối hợp tất các các chiến lược là thành công đôi khi ta chỉ cần thực hiện một trong các chiến lược như: chiến lược phát huy điểm mạnh hoặc tận dụng cơ hội là đã thành công. Sự thành công không chỉ thể hiện ở việc xây dựng nhiều chiến lược mà ở chỗ là xây dựng một chiến lược hiệu quả và thực thi một cách tốt nhất với tất cả nguồn lực của công ty.

    2.2.2. Phân tích kết quả kinh doanh

    Trong sản xuất kinh doanh, việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quan trọng không chỉ cho ta biết về mức độ biết động tăng giảm của các chỉ tiêu mà còn cung cấp thông tin quan trọng giúp ta nhận biết những biến động bất lợi cho công ty, là căn cứ cho việc xây dựng mục tiêu và chiến lược cho năm tới. Nhằm đánh giá sự biến động kết quả kinh doanh của công ty cũng như nguyên nhân của sự biến động đó. Bảng tổng hợp sau đây cho ta thấy kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH Thương Mại M.K trong 3 năm trở lại đây.

    Bảng 2.3: Trích báo cáo kết quả kinh doanh (nguồn BCTC công ty M.K 2007 – 2009)

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          33                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Đơn vị tính: ngàn đồng

    Chỉ tiêu

     

    Năm

     

    Tăng trưởng (%)

     

     

     

     

     

     

     

    2007

    2008

    2009

    08/07

    09/08

     

     

     

     

     

     

    Doanh thu thuần

    52.483.555

    59.710.430

    62.466.487

    13,76%

    4, 61%

     

     

     

     

     

     

    Giá vốn hàng bán

    47.611.102

    53.545.179

    55.745.844

    16,66%

    4,1%

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận gộp

    4.872.453

    6.165.251

    6.720.643

    26,53%

    9 %

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận trước thuế

    2.524.391

    3.022.465

    2.777.943

    19,730

    – 8,09%

     

     

     

     

     

     

    Thuế thu nhập

    709.629

    846.290

    694.485

    19,25%

    -17,93%

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận sau thuế

    1.814.761

    2.176.175

    2.083.457

    19,91%

    – 4,26%

     

     

     

     

     

     

    Nhìn vào bảng trích trên ta thấy rõ trong năm 2009 các chỉ tiêu quan trọng chỉ tăng ít và một số chỉ tiêu lại giảm. Để thấy rõ hơn sự biến động này ta lần lượt phân tích các chỉ tiêu quan trọng sau:

    Doanh thu thuần: Chỉ tiêu này trong năm chỉ tăng 4,61% so với năm 2008 trong khi đó năm 2008 lại tăng 13,76% so với năm 2007. Sự giảm sút này lại phù hợp với sự khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng nước ta và gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp. Một số khách hàng lớn của công ty giảm số lượng đặt và một số khách hàng đã ngưng sản xuất. Tuy nhiên với những nỗ lực của công ty trong việc tìm kiếm khách hàng thậm chí nhận cả những đơn hàng nhỏ đã góp phần làm cho doanh thu năm 2009 không giảm mà lại tăng 4,61%. Tuy nhiên việc tăng này lại kéo theo sự tăng chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty năm 2009 tăng 33% so với năm 2008.

    Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế: Mặc dù doanh thu tăng lên song chỉ tiêu lợi nhuận thuần lại giảm 8,09% so với năm 2008. Mới nhìn thì thấy không hợp lý, tuy nhiên để tạo ra sự tăng trưởng về doanh thu thì công ty đã nỗ lực rất nhiều trong hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là bán hàng. Nhằm khắc phục khó khăn công ty đã nhận và vận chuyển những đơn hàng khá nhỏ. Vì chi phí giao hàng được tính vào chi phí quản lý nên chi phí này tăng đến 33%. Chính sự tăng mạnh về chi phí quản lý nên chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế lại giảm đi so với năm 2008.

    Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2009 giảm 4,26% so với năm 2008, sự giảm này nhỏ hơn so với sự sụt giảm 8,09% về chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế. Đồng thời thuế thu nhập năm 2009 giảm đi 17,93% trong khi lợi nhuận trước thuế năm 2009 chỉ giảm 8,09%. Điều này được giải thích vì ngày 1/01/2009 luật

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          34                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    thuế thu nhập doanh nghiệp mới chính thức có hiệu lực với thuế suất mới là 25% thay cho thuế suất 28% trước kia. Do đó báo cáo tài chính năm 2009 tính thuế thu nhập là 25%. Sự giảm thuế suất thuế thu nhập đã làm cho thuế thu nhập năm 2009 giảm đi 17,93% và góp phần làm cho lợi nhuận sau thuế chỉ giảm 4,26%. Điều này cũng giải thích tại sao mà năm 2009 có lợi nhuận trước thuế cao hơn năm 2007 nhưng lại đóng thuế ít hơn do năm 2007 đóng theo thuế suất 28% trong khi năm 2009 đóng theo thuế suất 25%. Một số chỉ tiêu tổng hợp cũng có những biến động theo bảng sau:

    Bảng 2.4: Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp về doanh thu và lợi nhuận

    Đơn vị tính: triệu đồng

    Chỉ tiêu

     

    Năm

     

    % trên doanh thu thuần

     

     

     

     

     

     

     

     

    2007

    2008

    2009

    2007

    2008

    2009

     

     

     

     

     

     

     

    Doanh thu thuần

    52.483

    59.710

    62.466

     

     

     

     

     

     

     

    Giá vốn hàng bán

    47.611

    53.545

    55.745

    90,72%

    89,67%

    89,25%

     

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận gộp

    4.872

    6.165

    6.720

    9,28%

    10,33%

    10,75%

     

     

     

     

     

     

     

    Chi phí quản lý

    1.960

    2.384

    3.171

    3,73%

    3,99%

    5,07%

     

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận trước thuế

    2.524

    3.022

    2.777

    4.8%

    5,06%

    4,44%

     

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận sau thuế

    1.814

    2.176

    2.083

    3,45%

    3,64%

    3,33%

     

     

     

     

     

     

     

    Dựa vào bảng trên ta lần lượt phân tích một số chỉ tiêu tổng hợp như sau:

    Chỉ tiêu giá vốn hàng bán / doanh thu: Nhìn vào bảng ta thấy giá vốn hàng bán chiếm tỷ lệ rất cao trong doanh thu xấp xỉ khoảng 90%. Mặc dù chỉ tiêu này có giảm qua 3 năm song mức giảm là không đáng kể. Chỉ tiêu này cho thấy chi phí sản xuất chiếm tỷ lệ rất cao và công ty đang cố gắng hạ thấp tỷ lệ này nhưng hiệu quả rất ít. Nhận xét về vấn đề này sở dĩ giá vốn hàng bán cao là do hầu hết các nguyên liệu công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài như: Thái Lan, Đài loan, Trung Quốc… với giá nhập khẩu khá cao. Để thu hút khách hàng và cạnh tranh nên công ty chấp nhận một mức giá với lợi nhuận không cao. Trong thời gian gần đây công ty đang cố gắng tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước và bước đầu đã có dấu hiệu tích cực bằng việc tỷ lệ giá vốn trên doanh thu có xu hướng giảm nhẹ.

    Chỉ tiêu chi phí quản lý / doanh thu: Chỉ tiêu liên tục tăng qua các năm các năm đặc biệt là trong năm 2009 tăng 1,08% so với năm 2008 và chiếm 5,07% trong doanh thu. Với việc tính chi phí vận chuyển giao hàng tính vào chi phí quản lý nên số lượng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          35                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    đơn hàng, doanh số tăng đồng nghĩa với việc tăng chi phí quản lý nên làm cho chi phí quản lý ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong doanh thu.

    Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế / doanh thu: Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ sinh lợi của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cho ta biết trong một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay nói cách khác cho ta biết mức độ sinh lợi chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu thuần. Nhìn vào bảng ta thấy trong năm 2009 chỉ tiêu này giảm 0,31% so với năm 2008 và cho ta biết mức độ sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty chiếm 3.33% trên doanh thu thuần. Chỉ tiêu này giảm một phần là do mức độ tăng doanh thu trong năm 2009 chỉ đạt 4,61% trong khi các khoản chi phí trong năm tăng đáng kể đặc biệt là chi phí quản lý tăng tới 33% trong năm 2009.

    Tóm lại, dựa vào phân tích khái quát một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ta thấy được những nỗ lực và cố gắng của công ty trong việc hoàn thành chỉ tiêu sản xuất kinh doanh trong năm 2009 đầy biến động và khó khăn. Với những gì đã đạt được trong năm 2009 sẽ là tiền đề để công ty gặt hái được những thành công trong năm 2010 khi mà nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng cao.

    2.3. Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

    2.3.1. Phân tích môi trường vĩ mô

    Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới đã tạo ra những biến đổi lớn trong nền kinh tế Việt Nam ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có công ty TNHH Thương Mại M.K. Sự tác động này thể hiện rõ nét nhất ở những khía cạnh sau:

    Dễ thấy nhất là sự tác động của luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới tới công ty M.K như phân tích ở trên. Chỉ sự thay đổi nhỏ từ thuế suất 28% xuống 25% đã ảnh hưởng nhiều đến các chỉ tiêu của công ty đặc biệt là chỉ tiêu thuế thu nhập doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế.

    Kế đến là chính sách khuyến khích sản xuất trong nước của Chính phủ, với chính sách này vừa đem lại cho công ty M.K khả năng tìm kiếm các nguồn nguyên liệu trong nước thay thế hàng nhập khẩu giảm tỷ lệ giá vốn hàng bán trong doanh thu mặt khác lại tạo ra nhiều đối thủ cạnh tranh đối với công ty. Việc Việt Nam gia nhập WTO và mở cửa thị trường đặc biệt là thị trường bán lẻ ngày 01/01/2009 đã đặt ra cho

    các doanh nghiệp nhiều khó khăn thách thức với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nước ngoài.

    Ngoài ra còn một chính sách nữa ảnh hưởng không nhỏ tới doanh nghiệp là các gói kích thích kinh tế, các chương trình tín dụng ưu đãi vay vốn với lãi suất 4% cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhằm đối phó với những ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế thế giới. Nhờ đó mà các doanh nghiệp đảm bảo được nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Cùng với quá trình hội nhập là những biến đổi sâu sắc môi trường kinh doanh Việt Nam đã và đang mở ra nhiều cơ hội phát triển cũng như rất nhiều khó khăn thách thức. Do đó việc theo dõi những thay đổi và tận dụng các cơ hội đó sẽ giúp công ty chủ động đối phó và phát triển ổn định trong thời gian tới.

    2.3.1. Phân tích tình hình cạnh tranh

    Thành phố Hồ Chí Minh là một thị trường lớn không chỉ đối với công ty M.K mà cả với các đối thủ cạnh tranh. Một thực tế cho thấy hầu hết các đối thủ chính của công ty đều có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh đã và đang cạnh tranh gay gắt với công ty trên thị trường này. Một số đối thủ chính có thể kể tên như: Công ty TNHH một thành viên Hoàn Vũ với trụ sở tại 37-39 Đường 25 P.10, Quận 6, chúng tôi công ty Decal Thảo Nhân tại 83/47 Phạm Văn Bạch, P.15, Q.Tân Bình, công ty TNHH công nghệ mã vạch Kỷ Nguyên tại 238 Bình Quới, Phường 28, Quận Bình Thạnh, Công Ty TNHH TM DV Vũ Hoàng Minh địa chỉ Lô III-29, Nhóm CN3, Đường 19/5A, KCN Tân Bình, P.Tây Thạnh, Q.Tân Phú. Những công ty kể trên được đánh giá là có tiềm lực và vị thế về sản phẩm decal trên thị trường đặc biệt là tại thị trường TP. HCM. Trong đó đối thủ mạnh nhất với cũa công ty M.K là công ty Vũ Hoàng Minh là một công ty hàng đầu trong lĩnh vực decal với khoảng 40% thị phần tại chúng tôi và 80% thị phần Hà Nội. Ngoài ra công ty Thảo Nhân cũng là một đối thủ cần lưu ý, họ có vị trí tài chính vững mạnh, nếu đầu tư thỏa đáng, hiệu quả sẽ có những bước phát triển lớn và một số đối thủ cạnh tranh khác. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ một mặt công ty phải duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường chính này chiếm hơn 75% doanh thu của công ty một mặt tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường các tỉnh nhằm nỗ trợ cho thị trường chính đang cạnh tranh gay gắt từ đối thủ.

    Việc phân tích môi trường vĩ mô và môi trường cạnh tranh cho ta thấy được những tác động từ những môi trường này lên công ty. Mặc dù môi trường vĩ mô chỉ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          37                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

     

    tác động gián tiếp song ảnh hưởng rất lớn tới công ty. Do đó công ty cần phải phân tích kỹ lưỡng đặc biệt là với những thay đổi để chủ động thích nghi. Với môi trường cạnh tranh sự chủ động là rất cần thiết nhằm đối phó với những phương thức cạnh tranh mới từ đối thủ để bảo vệ thị trường chính đồng thời không ngừng tìm kiếm mở rộng thị trường mới.

    2.4. Thực trạng về tổ chức hoạt động quản trị bán hàng tại công ty

    2.4.1. Cơ cấu tổ chức hoạt động quản trị bán hàng trong công ty

    Cơ cấu tổ chức hoạt động quản trị bán hàng trong công ty được mô tả theo sơ

    Giám đốc

    P.Giám đốc

    Phòng bán hàng

     

    Nhân viên

     

    Nhân viên

     

     

     

     

    Sơ đồ 2.2: Cơ cấu quản trị bán hàng của công ty

     

    Trong đó việc xây dựng các mục tiêu, chính sách, tổ chức lực lượng bán hàng, triển khai, giám sát bán hàng đều do giám đốc hoặc do phó giám đốc thực hiện. Phòng bán hàng được tổ chức ngang cấp mỗi nhân viên sẽ độc lập với nhau có chức năng và nhiệm vụ ngang nhau. Các nhân viên bán hàng nhận lệnh và chịu sự giám sát trực tiếp từ ban giám đốc. Bên cạnh đó nhân viên bán hàng chỉ báo cáo kết quả bán hàng, những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai cho ban giám đốc mà không phải thông qua bất kỳ thành viên nào của phòng bán hàng trong công ty.

     

    2.4.2. Xây dựng mục tiêu bán hàng

     

    Mục tiêu bán hàng của công ty được giám đốc trực tiếp xây dựng và phân bổ cho các nhân viên bán hàng trong cuộc họp đầu năm. Những mục tiêu bán hàng này được xây dụng chủ yếu trên ý kiến chủ quan của giám đốc và dựa vào một số căn cứ như: mức tăng trưởng những năm gần đây, doanh số bán hàng năm trước, nguồn lực, vị trí cạnh tranh và tình hình thị trường.

     

     

     

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          38                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    hóa bán ra trong một năm khi tiến hành những nỗ lực bán hàng. Thuận lợi khi xây dựng mục tiêu về doanh số là giúp công ty dễ dàng do lường được kết quả, dễ dàng phân bổ cho các nhân viên. Đồng thời các nhân viên biết được chỉ tiêu của mình để có kế hoạch và chiến lược để hoàn thành chỉ tiêu bán hàng. Tuy nhiên việc xây dựng mục tiêu theo doanh số cũng có hạn chế khó khăn trong việc hiểm soát chi phí cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động bán hàng so với chi phí bỏ ra trong quá trình bán hàng.

    2.4.3. Chiến lược bán hàng

    Với phần lớn lượng khách hàng của công ty là khách hàng công nghiệp và một số nhà bán buôn. Do đó chiến lược bán hàng chủ yếu được áp dụng trong công ty là chiến lược bán hàng cá nhân. Trong chiến lược này mỗi nhân viên bán hàng sẽ quản lý một khu vực địa bàn riêng và tiếp xúc trực tiếp với từng khách hàng. Khi áp dụng chiến lược này nhân viên bán hàng có quyền chủ động cao và sự thành công trong công tác bán hàng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và kinh nghiệm của nhân viên.

    Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả cho chiến lược bán hàng cá nhân là vận dụng các kỹ năng bán hàng, các bước bán hàng chuyên nghiệp. Một trong những điểm tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược bán hàng cá nhân của công ty là công ty M.K có một lực lượng bán hàng tuy không nhiều song lại năng động, có nhiều kinh nghiệm và am hiểu thị trường ngoài ra giá sản phẩm không cao và chủ yếu phục vụ khách hàng công nghiệp.

    2.4.4. Chiến lược tiếp xúc khách hàng và chào hàng

    Việc thực hiện chiến lược tiếp xúc khách hàng và chào hàng được thực hiện bởi chính những nhân viên bán hàng và chỉ báo cáo lại kết quả cho giám đốc. Nhân viên bán hàng thông qua kinh nghiệm, các mối quan hệ và cả thu thập thông tin thị trường nhằm xác định khách hàng tiềm năng và chuẩn bị chào hàng. Việc tiếp xúc khách hàng và chào hàng được thực hiện theo cả hai chiều thuận và nghịch.

    Theo chiều thuận thì nhân viên bán hàng thực hiện với sơ đồ sau:

     

    Khám phá

     

    Đánh giá

     

    Gửi đơn chào hàng,

     

     

    nhu cầu

     

    tiềm năng

     

    điện thoại gặp mặt

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Theo dõi kết

     

    Kết thúc

     

    Tiếp xúc và chào

     

     

    quả

     

    bán hàng

     

    hàng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2.3: Quy trình tiếp xúc chào hàng theo chiều thuận

    Trong đó việc khám phá nhu cầu khách hàng đòi hỏi nhân viên phải nỗ lực tìm hiểu nhu cầu khách hàng và thị trường. Trong một số trường hợp thì những khách hàng mới này do chính người thân quen hay khách hàng cũ giới thiệu. Tuy nhiên việc đánh giá tiềm năng khách hàng sẽ quyết định đến việc có thực hiện việc tiếp xúc chào hàng hay không. Nhân viên bán hàng đánh giá tiềm năng khách hàng thông qua các chỉ tiêu như: tư cách pháp nhân hoặc có cơ sở đáng tin cậy, tiềm năng về doanh số, khả năng tài chính và có thể làm ăn lâu dài và những kết quả khi thỏa thuận chào hàng.

    Theo chiều ngược thì quy trình tiếp xúc khách hàng được thực hiện như sau:

    Khách hàng thông

     

    Xem xét đánh giá

     

     

    Chuẩn bị tiếp xúc

    báo nhu cầu đặt hàng

     

    khách hàng

     

     

     

    khách hàng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Theo dõi chăm

     

     

    Kết thúc bán

     

     

    Trao đổi tư vấn thêm về sản

    sóc

     

     

     

    hàng

     

     

     

    phẩm với khách hàng

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2.4: Quy trình tiếp xúc chào hàng theo chiều ngược

    Tương

    tự các bước trong quy trình chào hàng thuận nhưng chào hàng nghịch có một số thuận lợi hơn khi khách hàng đã chủ động thông báo nhu cầu và tỏ ý muốn đặt hàng từ công ty. Mặc dù việc chào hàng trong trường hợp này thuận lợi hơn nhưng vẫn đòi hỏi những nỗ lực từ nhân viên bán hàng nhằm đạt được kết quả cuối cùng là bán hàng và xây dựng mối quan hệ lâu dài. Tuy nhiên trong trường hợp này thì việc đánh giá xem xét cũng được thực hiện như trường hợp ban đầu nhằm xác định những khách hàng tiềm năng nhất và quyết định tới những bước sau.

    2.4.5. Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn đặt hàng

    Tại công ty hầu hết các đơn đặt hàng đều được thực hiện thông qua điện thoại hoặc fax và một số đặt hàng thông qua đơn đặt hàng. Các đơn hàng được gửi đến công ty và được tiếp nhận theo hai cách:

    Cách thứ nhất:

    Khách hàng gọi điện thoại hoặc gửi fax đặt hàng trực tiếp tới công ty. Sau đó chị Trang nhân viên phòng kế toán có nhiệm vụ tiếp nhận và ghi lại tất cả các đơn đặt hàng, xem xét thời gian giao hàng. Tiếp đó chị Trang sẽ xuất một hóa đơn gọi là “phiếu đặt hàng nội bộ” xuống phòng sản xuất và gia công theo đơn hàng. Sau đó bộ

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          40                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    phận sản xuất căn cứ vào số lượng, quy cách sản phẩm tiến hành sản xuất đơn hàng đó và cuối cùng là giao hàng cho khách hàng.

    Cách thứ hai: Khách hàng đặt hàng thông qua nhân viên bán hàng quản lý khu của khách hàng đó. Sau khi nhân viên nhận được đơn hàng sẽ gửi đơn hàng xuống cho chị Trang có nhiệm vụ thu thập các đơn hàng và công việc tiếp theo được thực hiện như cách thứ nhất.

    Ngoài ra đối với các khách hàng lớn đặt hàng với số lượng lớn và giao hàng theo tùng chu kỳ thì chỉ đặt hàng một lần và theo từng thời điểm công ty sẽ giao hàng như công ty in số văn hóa Sài Gòn là một khách hàng lớn và nửa tháng thì công ty M.K giao hàng một lần cho tới khi kết thúc số lượng hàng đặt từ đầu và thực hiện đơn đặt hàng mới.

    Các đơn hàng sẽ được ghi lại và theo dõi từng ngày thông qua bảng “tổng hợp đơn hàng theo ngày”. Việc ghi lại các đơn hàng theo ngày nhằm mục đích theo dõi và đánh giá mức độ biến động các đơn hàng và để tiện cho việc giao hàng đúng thời hạn cũng như thu tiền hàng.

    2.4.6. Tổ chức lực lượng bán hàng

    Việc tổ chức lực lượng bán hàng trong công ty nhằm mục đích tìm kiếm khách hàng mới, xúc tiến bán hàng, thu thập thông tin và cung cấp các dịch vụ khách hàng. Ở nhiều công ty thì lực lượng bán hàng thường được chia làm 3 loại: lực lượng công ty, đại lý hợp đồng và lực lượng hỗn hợp. Với những đặc điểm riêng và để phù hợp với cơ cấu tổ chức nên lực lượng bán hàng tại công ty M.K chỉ gồm những người trong công ty. Lực lượng bán hàng này vừa hoạt động bên trong công ty theo phòng ban vừa hoạt động bên ngoài trực tiếp đi gặp khách hàng và chào hàng. Dựa vào chức năng và phương hướng hoạt động thì cơ cấu tổ chức bán hàng trong công ty là tổ chức bán hàng theo địa bàn, khu vực theo sơ đồ sau:

    Giám đốc

    1. Giám đốc

     

    Nhân viên bán hàng

     

     

    Nhân viên bán hàng

     

    Nhân viên bán hàng

     

     

    đồng thời quản lý khu

     

     

    đồng thời quản lý khu

     

    đồng thời quản lý

     

     

    vực A

     

     

    vực B

     

    khu vực C

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2.5: Tổ chức lực lượng bán hàng trong công ty

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng

    41

     

    SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Trong cơ cấu tổ chức này nhân viên bán hàng vừa thực hiện nhiệm vụ bán hàng vừa thực hiện quản lý đối tượng khách hàng trong khu vực của mình. Mọi giao dịch từ khâu tiếp xúc, bán hàng, chăm sóc khách hàng và thu hồi công nợ trong mỗi khu vực đều thông qua nhân viên bán hàng quản lý khu vực đó. Ngoài ra nhân viên bán hàng còn đóng vai trò đại diện công ty kinh doanh tất cả các sản phẩm cho tất cả các đối tượng khách hàng trong khu vực mình quản lý. Việc tổ chức cơ cấu bán hàng theo địa bàn sẽ đảm bảo không có một khách hàng nào được chào hàng hai lần qua đó giúp công ty tăng khả năng tiếp xúc khách hàng và chào hàng. Thành công của cơ cấu tổ chức này giúp công ty mở rộng thị trường bao gồm: Thị trường Hà Nội, Cần Thơ, Đà Nẵng, Bình Dương… và trọng điểm là thị trường TP. Hồ Chí Minh.

    2.4.7. Triển khai kế hoạch bán hàng

    Quá trình triển khai hoạt động bán hàng của công ty được thực hiện theo 2

    bước:

    Bước 1: Phân bổ chỉ tiêu bán hàng cho các nhân viên

    Như đã phân tích thì giám đốc là người xây dựng các mục tiêu doanh số bán hàng và phân bổ trực tiếp cho các nhân viên. Giám đốc đặt ra mục tiêu về tổng doanh số bán hàng mà công ty hướng tới trong năm. Sau đó chỉ tiêu này sẽ được phân bổ cho từng nhân viên. Mỗi nhân viên sẽ nhận được một bản chi tiết về chỉ tiêu bán hàng với những nhiệm vụ và yêu cầu như sau:

    Bảng 2.5: Phân bổ chỉ tiêu bán hàng trong công ty

     

     

     

    CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI M.K

     

     

     

     

    CHỈ TIÊU BÁN HÀNG NĂM 20…

     

     

     

     

     

    Khu vực: ………………………….

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nhân viên phụ trách: ………………

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tổng chỉ tiêu:………………………

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chỉ tiêu từng quý:

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Quý I

    Quý II

    Quý III

     

     

    Quý IV

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Doanh số

    Doanh số

     

    Doanh số

     

     

     

    Doanh số

     

     

     

     

    Khách hàng

    Khách hàng

    Khách hàng

    số

    Khách hàng

     

     

     

     

    mới

    Doanh s

     

    Doanh

     

    mới

     

     

     

     

    mới

     

    mới

    hàng

     

     

     

     

     

    Khách hàng

     

    Khách

     

     

     

     

     

     

    mới

     

    mới

     

     

     

     

     

     

     

    Yêu cầu: Hoàn thành đúng và vượt chỉ tiêu

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thu hồi nợ đúng hạn

     

    Ngày…..tháng….năm……

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nhân viên ký tên

     

    Giám đốc ký tên, đóng dấu

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng

    42

     

     

    SVTH: Nguyễn Vũ Phương

    Chỉ tiêu bán hàng phân bổ cho các nhân viên tùy theo các tiêu chí như: báo cáo bán hàng năm trước, địa bàn hoạt động, mức độ thuận lợi, số lượng khách hàng, tiềm năng thị trường. Theo đó những nhân viên quản lý khu vực có số lượng khách hàng nhiều và khách hàng lớn, thuận lợi và nhiều tiềm năng sẽ nhận chỉ tiêu về doanh số cao hơn so với các nhân viên quản lý các khu vực ít thuận lợi hơn. Trên cơ sở chỉ tiêu bán hàng được phân bổ, mỗi nhân viên bán hàng sẽ tự xây dựng mục tiêu và chiến lược nhằm hoàn thành chỉ tiêu bán hàng.

    Bước 2: Tổ chức kênh phân phối

    Tổ chức kênh phân phối của công ty chủ yếu là kênh phân phối trực tiếp theo sơ

    đồ sau:

     

    Công ty

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nhân viên bán hàng

     

     

     

     

     

     

     

    Khách hàng

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ 2.6: Tổ chức kênh phân phối

    Theo cấu trúc kênh phân phối này, công ty thiết lập quan hệ trực tiếp với khách hàng hiện tại cũng như tiềm năng thông qua lực lượng bán hàng chính của công ty. Sản phẩm của công ty là sản phẩm công nghiệp với khách hàng chính là công ty và các nhà bán buôn. Do đó những giao dịch trực tiếp với khách hàng để chào hàng và bán hàng là rất quan trọng đặc biệt là khách hàng lớn. Sau khi nhận đơn hàng và sản xuất công ty sẽ giao hàng trực tiếp cho khách hàng thông qua phương tiện và nhân viên của chính công ty. Đối với những khách hàng ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận thì công ty trực tiếp vận chuyển tới và công ty chịu hoàn toàn chi phí vận chuyển. Đối với khách hàng ở xa như Hà Nội, Đà Nẵng thường thì công ty gửi tới bằng máy bay hoặc xe tải và chi phí vận chuyển thường do khách hàng trả ngay hoặc tính phí vào giá thành sản phẩm. Việc tổ chức kênh phân phối trực tiếp đảm bảo cho công ty linh hoạt và chủ động trong việc tìm kiếm và giao dịch với khách hàng.

    2.4.8. Giám sát và đánh giá hiệu quả bán hàng

    Việc thực hiện công tác kiểm tra giám sát bán hàng trong công ty được thực hiện định kỳ dựa theo những báo cáo bán hàng của các nhân viên. Do đó việc kiểm tra giám sát không chỉ là việc của cấp trên mà chính nhân viên bán hàng cũng phải thực hiện. Mỗi nhân viên sẽ lập các kế hoạch làm việc theo tháng, quý với các mục tiêu về

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          43                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

     

    Bảng 2.6: Bảng báo cáo bán hàng theo nhân viên / khách hàng

     

     

     

    Từ ngày: 01/01/2009

    Đến ngày: 31/12/2009

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Ngày

     

    Tên khách hàng

     

    Số lượng

    Đơn

    Doanh

    tháng

     

    KH

     

     

    m2

    giá/m2

    số

     

     

     

     

     

     

     

    Nhân viên: Lưu Minh Mẫu

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    4-08

     

    ANNH0002

    Cty An Nhân

     

     

     

     

     

     

    000PLBL

    Decal PL đế xanh

     

    16.84

    7,125

    115,708

     

     

     

    Tổng cộng khách hàng

    16.84

     

    115,708

     

     

     

     

     

     

     

     

    3-08

     

    ANTH0003

    Anh Thy

     

     

     

     

     

     

    0ALSuper

    DecalAL Super

     

    123.00

    8,190

    959,400

     

     

     

    Tổng cộng khách hàng

    123.00

     

    959,400

     

     

     

     

     

     

     

     

    ….

     

    ……………

    ……………..

     

    ……….

    ……

    ………

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tổng cộng

     

    ….

    ….

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thông qua các báo cáo bán hàng gửi về giám đốc sẽ đánh giá kết quả của từng nhân viên bán hàng so với chỉ tiêu được phân bổ để cũng như nắm bắt được tình hình thị trường khu vực. Bên cạnh đó báo cáo bán hàng còn là căn cứ khen thưởng bán hàng. Vì nhân viên bán hàng hưởng theo lương cố định không có hoa hồng bán hàng, do đó việc thưởng theo kết quả bán hàng không căn cứ vào doanh số mà căn cứ trên lương của nhân viên. Thông thường tiền thưởng bán hàng là 20% trên lương căn bản của nhân viên. Ngoài ra báo cáo bán hàng còn là căn cứ để xây dựng chỉ tiêu cho năm sau.

    2.4.9. Chính sách bán hàng và chăm sóc khách hàng

    Hiện tại công ty dang áp dụng chính sách bán hàng linh động với những chính sách sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          44                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Chính sách bán chịu: bán chịu là một phần không thể thiếu trong bán hàng đặc biệt là hàng hóa công nghiệp. Với chính sách này công ty chưa có một chính sách chung mà được thực hiện tùy vào đối tượng khách hàng và thỏa thuận khi chào hàng giữa nhân viên và khách hàng. Đối với khách hàng nhỏ, lẻ, ít thông tin cũng không rõ ràng về cơ sở hay địa điểm kinh doanh thì công ty thường thu tiền ngay khi giao hàng. Đối với những khách hàng cũ làm ăn lâu năm, uy tín đặc biệt là khách hàng lớn thì việc thu tiền có thể kéo dài tuy nhiên không quá hai tháng kể từ khi giao hàng. Ngoài ra tùy vào những thỏa thuận khác khi chào hàng với khách hàng thì chính sách này lại phụ thuộc vào những gì đạt được giữa hai bên.

    Chính sách giảm giá: Việc giảm giá được công ty thực hiện trong những trường hợp sau: những khách hàng mua với số lượng lớn, khách hàng trả tiền ngay, hoặc mục hàng theo khổ chuẩn (mua cả cuộn mà không được gia công cắt theo ý muốn, khách hàng tự làm). Thông thường mức giảm giá, chiết khấu dao động từ 0.5% – 3% trên giá bán (giá có VAT). Ngoài ra những trường hợp hàng bán bị trả lại mà lỗi thuộc về công ty thì công ty cũng có chính sách giảm giá tùy theo mức độ thiệt hại và khả năng sửa chữa gia công lại.

    Chăm sóc khách hàng: Sản phẩm của công ty chủ yếu là giấy decal đây sản phẩm công nghiệp song giá trị không cao, sử dụng một lần và không có bảo hành. Do đó việc chăm sóc khách hàng không nặng và không thực hiện một cách thường xuyên như các sản phẩm khách như: thiết bị, dây chuyền công nghiệp. Phần lớn những việc chăm sóc khách hàng được thực hiện thông qua nhân viên bán hàng như: tư vấn sử dụng, cách tranh trí, giao hàng tận nơi… Ngoài ra vào những dịp lễ lớn hay đối tác khai trương những cơ sở mới thì công ty thường tặng lịch năm mới, hoa, bia, nước ngọt…

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          45                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    không ngừng đổi mới và hoàn thiện những quy trình, phương pháp bán hàng tốt nhất đối với khách hàng và khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.

    2.5. Khảo sát thực tế về hiệu quả quản trị bán hàng

    2.5.1. Khảo sát từ phía khách hàng

    Về tiêu chí đánh giá lựa chọn nhà cung cấp

    Lựa chọn nhà cung cấp

     

    tiêu chí khác

    thuận lợi

    giá cả

    khả năng cung ứng

    chất lượng

    uy tín

    4.84%

    12.90%

    6.45%

    19.35%

    27.42%

    29.03%

    0.00% 5.00% 10.00%15.00%20.00%25.00%30.00%

    Biểu đồ 2.1: Đánh giá về tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh việc đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, có chất lượng đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo sản xuất ổn định và phát triển bền vững. Qua biểu đồ 2.1 ta thấy ba yếu tố hàng đầu khi lựa chọn nhà cung cấp đó là: uy tín với 29,03% doanh nghiệp lựa chọn, chất lượng là 27,42% và khả năng cung ứng là 19,35% và một số tiêu chí khác cũng được đánh giá với kết quả như sau: yếu tố thuận lợi với 12,9%, giá cả là 6,45% và các tiêu chí khác là 4.48% trong đó phần lớn khách hàng đánh giá cao về sự đa dạng mẫu mã. Nắm bắt được điều này doanh nghiệp cần phải có những chiến lược phù hợp đặc biệt là trong việc tạo dựng uy tín, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cung ứng, phát triển

    sản phẩm tạo sự đa dạng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Thành công trong việc tạo dựng uy tín thương hiệu và chất lượng sản phẩm của công ty sẽ góp phần quan trọng trong hoạt động bán hàng như thuận lợi cho việc tìm kiếm khách hàng, việc chào hàng, bán hàng đặc biệt là việc tiếp cận với những khách hàng lớn.

    Đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty

    Chất lượng sản phẩm

    60%

    47%

    40%

     

    40%

    10%

     

     

    20%

    3%

     

     

    0%

     

     

     

    Chất     Khá tốt      Trung

    Chất

    lượng tốt

    bình

    lượng

    kém

    Biểu đồ 2.2: Đánh giá về chất lượng sản phẩm của công ty

    Qua biểu đồ trên cho thấy khách hàng đánh giá khá cao về chất lượng sản phẩm công ty với 57% khách hàng cho sản phẩm của công ty từ khá tốt đến tốt trong đó 10% đánh giá tốt và 47% cho là khá tốt. Điều này là một tín hiệu tích cực khi sản phẩm của công ty ngày càng được khách hàng đánh giá cao và tín nhiệm. Tuy nhiên cũng có một tỷ lệ khách hàng khá cao với 40% chỉ đánh giá sản phẩm của công ty ở mức trung bình và đặc biệt có một tỷ lệ nhỏ 3% cho là sản phẩm của công ty có chất lượng kém. Do đó doanh nghiệp cần không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, tìm hiểu những nguyên nhân, thiếu sót trong quá trình sản xuất nhằm đảm bảo các mặt hàng của công ty khi giao cho khách hàng luôn đạt chất lượng và đảm bảo răng sẽ không có sản phẩm kém chất lượng giao cho khách hàng. Để làm được điều này công ty cần thực hiện kiểm tra chặt chẽ và thực hiện đúng các tiêu chuẩn chất lượng đề ra.

    Đánh giá về phong cách bán hàng của công ty

    Ngày nay sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ và gay gắt nơi mà rất nhiều người bán cùng bán hàng cho một đối tượng tiêu dùng. Do đó để bán được hàng không chỉ dựa vào yếu tố chất lượng, thương hiệu, giá cả mà còn dựa vào những nỗ lực bán hàng và trong nhiều trường hợp thì nhân tố quyết định tới hành vi mua hàng đó là những tác

    động từ chính người bán hàng. Biểu đồ sau cho chúng ta thấy được những đánh giá của khách hàng về hoạt động bán hàng của công ty:

     

     

     

     

    phong cách hán hàng

     

     

    50%

     

     

     

    46%

     

     

     

     

    45%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    40%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    35%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    30%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    22%

     

     

     

    25%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    18%

     

     

     

     

     

    14%

     

    20%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    15%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    10%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    5%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chuyên            Khá chuyên

    Chưa

    Bình thường

    nghiệp

    nghiệp

    chuyên

    nghiệp

    Biểu đồ 2.3: Đánh giá về phong cách bán hàng của công ty

    Biểu đồ trên cho thấy công ty đã xây dựng được một phương thức bán hàng hiệu quả và được khách hàng đánh giá cao. Trong đó có 18% đánh giá của khách hàng cho là phương thức bán hàng của công ty là chuyên nghiệp và 46% khách hàng đánh giá là khá chuyên nghiệp. Đây thực sự là những phần thưởng cho những nỗ lực của công ty trong hoạt động bán hàng và là động lực thúc đẩy giúp cho doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn trong việc bán hàng. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn một số hạn chế khi có tới 22% ý kiến cho là chưa chuyên nghiệp và 14% ý kiến lại cho rằng hoạt động bán hàng của công ty chỉ ở mức bình thường, không có gì đặc biệt. Do đó công ty cần hoàn thiện các phương thức bán hàng hiện tại và tiếp cận các phương thức bán hàng mới đem lại hiệu quả. Ngoài ra nhân viên bán hàng cần nỗ lực sáng tạo trong việc thỏa mãn và làm hài lòng khách hàng trong mọi tình huống nhất là trong khâu chào hàng. Có như vậy công ty mới chiếm được lòng tin của khách hàng bởi sự chuyên nghiệp và tính hiệu quả góp phần không nhỏ làm tăng lòng tin của khách hàng đặc biệt là khâu tiếp xúc chào hàng.

    Đánh giá về giải quyết khiếu nại

    Giải quyết khiếu nại

    Không giải quyết

     

     

     

    7%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    10%

     

     

     

     

     

     

     

    Giải quyết không thỏa đáng

     

     

     

     

     

    28%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Giải quyết chậm trễ

     

     

     

     

     

     

     

     

    55%

     

     

     

     

     

     

     

    Giải quyết ngay

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0.00%

    20.00%

    40.00%

    60.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Biểu đồ 2.4: Đánh giá về việc giải quyết kiếu nại của công ty

     

    Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tránh khỏi những thiếu sót đặc biệt là những khiếu nại và phàn nàn của khách hàng. Khảo sát khách hàng về những khiếu nại cho thấy phần lớn những khiếu nại của khách hàng được công ty giải quyết ngay với 55% khách hàng. Bên cạnh một số khách hàng cho biết công ty thường giải quyết chậm trễ với 28%, 10% khách hàng cho là công ty giải quyết không thỏa đáng và 7% cho là công ty không giải quyết. Việc giải quyết tất cả các khiếu nại một cách tốt nhất là rất khó. Vì vậy trong hoạt động sản xuất kinh doanh công ty cần có những chính sách về chất lượng, giá cả, giao hàng cũng như thông báo đầy đủ cho khách hàng nhằm hạn chế những khiếu nại không cần thiết. Bên cạnh đó công ty cần nỗ lực giải quyết ngay có thể những khiếu nại hoặc thông báo cho khách hàng nếu cần thời gian giải quyết và cần hạn chế tới mức thấp nhất việc giải quyết không thỏa đáng hoặc không giải quyết vì điều này sẽ làm giảm uy tín công ty sẽ là cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh. Có như vậy công ty mới tạo được uy tín và chiếm được lòng tin từ khách hàng, tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài.

    Đánh giá của khách hàng với các hoạt động bán hàng của công ty

    Đánh giá về các hoạt động bán hàng

    35.00%

     

    32.32%

     

    27.85%

     

     

     

    29.75%

     

     

     

     

     

     

     

     

    30.00%

     

    25.61%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    25.00%

     

     

     

    19.51%

     

    20.89%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    20.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    12.66%

     

     

     

     

     

    13.41%

     

     

     

     

     

     

     

    Hài lòng

    15.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Không hài lòng

     

     

     

    8.86%

     

     

     

     

    9.15%

     

     

    10.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    5.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chào hàngPhân phối

    Giá cả

    Chất lượng

    Chăm sóc

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    khách hàng

    Biểu đồ 2.5: Đánh giá chung về một số hoạt động bán hàng của công ty

    Biểu đồ trên cho ta thấy mức độ hài lòng và không hài lòng của khách hàng về một số hoạt động bán hàng của công ty. Qua đó ta thấy khách hàng đánh giá cao và hài lòng nhất là khâu phân phối và giao hàng với 32,32% khách hàng hài lòng. Điều này cho thấy hoạt động phân phối của công ty khá hiệu quả mà thực tế cho thấy có 90% khách hàng được hỏi thì 90% cho biết công ty thường giao hàng trước hạn và đúng hạn trong đó giao trước hạn là 10% và đúng hạn là 80%. Một số tiêu chí khác cũng được khách hàng đánh giá cao như chào hàng với hơn 25,61% khách hàng hài lòng,

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          49                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    chất lượng là 13,41%, chất lượng là 19,51% và thấp nhất là chăm sóc khách hàng với chỉ hơn 9,15% hài lòng. Đây thực sự là những thông tin quan trọng cho công ty trong việc phát huy những thành tựu đã đạt được và những nỗ lực trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Bên cạnh những hoạt động được khách hàng đánh giá cao và hài lòng ta cũng cần quan tâm tới những gì khách hàng không hài lòng trong hoạt động bán hàng của công ty.

    Cũng qua biểu đồ ta thấy phần lớn khách hàng không hài lòng về hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty với 29,75% khách hàng. Bên cạnh đó yếu tố về giá cả và chất lượng cũng có tỷ lệ khá cao với ý kiến lần lượt là 27,85% và 20,89%. Mặc dù hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty thường không nhiều và quan trọng như với mặt hàng cao cấp song việc chăm sóc khách hàng không chỉ là thực hiện sau khi bán hàng mà có thể thực hiện ngay cả trước khi bán hàng đặc biệt là trong khâu chào hàng thông qua sự hỗ trợ tư vấn về sản phẩm, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để khách hàng đặt hàng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó công ty cần nâng cao chất lượng sản phẩm, quản trị chi phí hiệu quả nhằm xây dựng mức giá cạnh tranh so với yêu cầu thị trường.

    2.5.2. Khảo sát từ lực lượng bán hàng

    Mặc dù lực lượng bán hàng trong công ty không nhiều với khoảng 10 người nhưng lại là lực lượng quan trọng trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty đồng thời cũng là một trong hai mục tiêu của hoạt động quản trị bán hàng đó là mục tiêu con người. Hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty cũng chính là những hiệu quả trong hoạt động quản trị con người chính là lực lượng bán hàng trong công ty. Cuộc khảo sát với tất cả nhân viên bán hàng của công ty được một số kết quả quan trọng như sau:

    Đánh giá về cơ cấu quản lý

     

     

     

     

     

     

    Cơ cấu quản lý

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Không hiệu quả

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    30%

     

     

     

     

     

     

    Chưa đạt hiệu

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    quả cao

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    50%

     

     

    Khá hiệu quả

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hiệu quả

     

     

     

     

     

     

    20%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0.00%

    10.00%  20.00%  30.00%

    40.00%  50.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Biểu đồ 2.6: Đánh giá của nhân viên bán hàng về cơ cấu quản lý bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng

    50

     

     

     

     

    SVTH: Nguyễn Vũ Phương

    Một cơ cấu quản lý hiệu quả sẽ là tiền đề cho việc thực hiện thành công những mục tiêu, chiến lược quản trị bán hàng. Nhận xét đánh giá về cơ cấu tổ chức quản lý bán hàng trong công ty ta thấy có 20% nhân viên cho rằng cơ cấu quản lý bán hàng đang hoạt động hiệu quả, 50% cho rằng hoạt động là khá hiệu quả. Dựa vào những nhận xét trên ta thấy cơ cấu quản lý bán hàng trong công ty được tổ chức khá tốt góp phần quan trọng cho việc triển khai các kế hoạch bán hàng. Bên cạnh đó cũng có 30% nhân viên cho rằng cơ cấu quản lý trong công ty là chưa hiệu quả cao so với tình hình thực tế và chưa đáp ứng yêu cầu quản lý khi thị trường ngày càng phát triển. Do đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng mở rộng thị trường và hướng tới xuất khẩu công ty cần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị bán hàng sao cho phát huy được tiềm năng và hiệu quả của tổ chức bán hàng.

    Đánh giá về quy mô lực lượng bán hàng

    Quy mô lực lượng bán hàng

    Chưa đáp ứng nhu cầu Đáp ứng một phần nhu cầu

    Đáp ứng phần lớn nhu cầu Đáp ứng đầy đủ nhu cầu

    10%

    60%

    20%

    10%

    0%   10% 20% 30% 40% 50% 60%

    Biểu đồ 2.7: Nhận xét của nhân viên về quy mô lực lượng bán hàng

    Xét về quy mô lực lượng bán hàng trong công ty thì phần lớn các đánh giá cho rằng lực lượng bán hàng trong công ty còn khá ít chưa đáp ứng hoặc đáp ứng không đủ yêu cầu khi lượng khách hàng công ty đang tăng nhanh. Trong đó có tới 60% nhân viên cho rằng lực lượng hiện nay chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, 20% đáp ứng phần lớn nhu cầu đặc biệt là có 10% cho rằng chưa đáp ứng nhu cầu trong khi chỉ có 10% là cho rằng đã đủ yêu cầu. Hiện nay lượng khách hàng của công ty đang tăng nhanh cùng với đó là rất nhiều công việc mà nhân viên bán hàng phải thực hiện như: chào hàng, quản lý địa bàn, lập báo cáo, thu nợ… đang gây nhiều khó khăn cho nhân viên bán hàng. Do đó công ty cần xem xét về tình hình khách hàng như số lượng, mức tăng trưởng, quy mô địa bàn trong việc bố trí và xác định số lượng nhân viên một cách phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường.

    Về hoạt dộng giám sát hiệu quả bán hàng

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          51                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Giám sát bán hàng

    Chưa hiệu quả

    10%

     

     

    50%

    Hiệu quả trung bình

     

     

     

    30%

    Khá hiệu quả

     

     

     

     

    Hiệu quả

    10%

     

     

     

    0%

    10%

    20%

    30%

    40%

    50%

    Biểu đồ 2.8: Đánh giá của nhân viên về hoạt động giám sát bán hàng

    Việc giám sát bán hàng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá kết quả bán hàng và so sánh quá trình thực hiện với mục tiêu đề ra. Một hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả sẽ giúp cho việc thực hiện đúng với kế hoạch đề ra. Nhận xét về hoạt động giám sát của công ty chỉ có 10% nhân viên đánh giá là hiệu quả, 30% cho là khá hiệu quả trong khi đó có tới 50% cho là hiệu quả trung bình và 10% cho là chưa hiệu quả. Từ kết quả trên cho thấy công ty hiệu quả của hoạt động giám sát bán hàng của công ty chưa cao, chưa phát huy vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực thúc đẩy những nỗ lực bán hàng và chăm sóc khách hàng. Do đó nhà quản trị cần nỗ lực hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt giám sát bán hàng bằng cách xây dựng các bảng biểu, báo cáo, áp dụng khoa hoặc kỹ thuật đặc biệt là các phần mềm quản lý bán hàng.

    Về chính sách khen thưởng

     

     

    Chính sách khen thưởng

     

     

     

     

    60%

     

     

    60.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    40.00%

     

     

     

    30%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    20.00%

     

     

    10%

     

     

     

     

     

    0%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    0.00%

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Rất hài

    Hài lòng Tạm hài

    Không

     

     

     

     

    lòng

     

     

    lòng

    hài lòng

    Biểu đồ 2.9: Đánh giá nhân viên về chính sách khen thưởng của công ty

    Khen thưởng là một chính sách quan trọng không chỉ góp phần làm cho nhân viên nỗ lực trong việc bán hàng mà còn là một nguồn động viên tinh thần. Tuy nhiên khi hỏi về việc hài lòng với việc khen thưởng của công ty thì chỉ có 40% nhân viên là thấy hài lòng song có tới 60% nhân viên là chưa hoàn toàn hài lòng và tỷ lệ nhân viên

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          52                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    không hài lòng là 0%. Do đó trong hoạt động bán hàng công ty cần có những chính sách phù hợp đặc biệt là việc động viên tinh thần trong đó chính sách khen thưởng cần phải thực hiện một cách hiệu quả và công bằng góp phần nâng cao hiệu quả cũng như tinh thần làm việc của nhân viên.

    Tóm lại những kết quả thu được từ ý kiến khách hàng và từ nhân viên bán hàng sẽ là những ý kiến đánh giá quan trọng và thực tế nhất về hiệu quả quản trị bán hàng của công ty. Qua kết quả khảo ta thấy bên cạnh những đánh giá tích cực về hoạt động bán hàng của công ty còn có những hạn chế nhất định. Điều này sẽ góp phần quan trọng giúp công ty ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bán hàng góp phần làm thỏa mãn nhu cầu của cả công ty và khách hàng

    2.6. Nhận xét và đánh giá về hiệu quả quản trị bán hàng tại công ty

    Qua quá trình phân tích, tìm hiểu quy trình thực hiện quản trị bán hàng trong công ty cũng như phân tích ý kiến đánh giá của khách hàng và nhân viên bán hàng, sau đây là một số ý kiến nhận xét và đánh giá về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty TNHH Thương Mại M.K

    2.6.1. Những thành tựu và kết đạt được

    Những thành tựu và hiệu quả trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty

    TNHH Thương Mại M.K được thể hiện qua những điểm sau:

    Bước đầu đã xây dựng và vận hành quy trình quản trị bán hàng với những mục tiêu, chính sách bán hàng góp phần quan trọng giúp công ty tìm kiếm và mở rộng thị trường. Đây là tiền đề quan trọng cho công ty tạo nền tảng cho sự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả bán hàng cũng như sự mở rộng và phát triển thị trường sau này.

    Giữ vững và ổn định thị trường đặc biệt là thị trường T.p Hồ Chí Minh trước sự cạnh tranh từ các đối thủ. Quản trị bán hàng giúp tạo lập lòng tin, duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng cũ chiếm hơn 80% doanh thu của công ty đồng thời không ngừng nỗ lực tìm kiếm khách hàng mới với mức tăng trưởng cao.

    Thị trường công ty không ngừng mở rộng ra các tỉnh bên ngoài như: Bình Dương, Hà Nội, Đà Nẵng… cùng với đó là doanh thu không ngừng tăng cao đặc biệt là những nỗ lực bán của công ty trong năm 2009 khi mà kinh tế trong nước và thế giới đang bị khủng hoảng.

    Hoạt động quản trị bán hàng góp phần quan trọng trong việc quảng bá và phát triển thương hiệu. Thông qua sự năng động của nhân viên bán hàng trong việc tìm hiểu nhu

     

    cầu khách hàng và chào hàng làm cho thương hiệu về sản phẩm của công ty được khách hàng biết đến và thực tế cũng cho thấy phần lớn khách hàng biết tới công ty là do sự chào hàng từ nhân viên bán hàng của công ty.

    Đội ngũ nhân viên bán hàng của công ty rất hiệu quả là hạt nhân trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty. Nhân viên bán hàng của công ty rất năng động không chỉ làm nhiệm vụ bán hàng mà còn thực hiện nhiều chức năng như: quản lý địa bàn, tìm hiểu nhu cầu, chào hàng, tư vấn khách hàng. Hoạt động quản trị bán hàng đặc biệt là quản trị nhân viên bán hàng đã giúp công ty có thể quản lý một lượng khách hàng lớn với hơn 1000 khách hàng trong khi nhân viên bán hàng chỉ khoảng 10 nhân viên.

    Những thành tựu và kết quả đạt được trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty đã và đang góp phần quan trọng vào sự thành công chung của doanh nghiệp.

    2.6.2. Những hạn chế trong hoạt động quản trị bán hàng của công ty

    Bên cạnh những thành tựu và hiệu quả thì hoạt động quản trị bán hàng của công ty còn có một số hạn chế nhất định sau:

    Thứ nhất: Công ty đã bước đầu xây dựng và thực hiện quản trị bán hàng song chỉ là những hoạt động phải thực hiện và mức độ liên kết không cao. Hoạt động quản trị bán hàng của công ty còn hạn chế và sơ sài thiếu những cải tiến, những đột phá, chưa tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương pháp quản trị bán hàng hiện đại. Hoạt động dự báo bán hàng, nghiên cứu thị trường, xây dựng hạn ngạch, lập ngân sách bán hàng của công ty không được chú trọng thậm chí không được thực hiện trong khi đó đây là những nội dung quan trọng trong quản trị bán hàng và góp phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi khi triển khai các kế hoạch bán hàng.

    Thứ hai: Cơ cấu quản trị bán hàng chưa tách khỏi cơ cấu quản trị công ty khi mà giám đốc công ty đồng thời là nhà quản trị bán hàng. Bên cạnh đó việc phân cấp trong phòng bán hàng theo nguyên tắc ngang cấp và mỗi người quản lý một địa bàn làm hạn chế khả năng phối hợp và trao đổi kinh nghiệm cũng như hỗ trợ giữa các nhân viên trong quá trình bán hàng.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          54                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Thứ tư: Uy tín và sự phổ biến thương hiệu của công ty không cao không hỗ trợ nhiều cho hoạt động quản trị bán hàng đặc biệt là trong việc tiếp xúc khách hàng và chào hàng. Điều này làm cho việc chào hàng của công ty rất khó khăn khi khách hàng không biết về công ty, sản phẩm, chất lượng thậm chí còn không quan tâm tới đơn

    chào hàng và gặp mặt nhân viên bán hàng.

    Thứ năm: Nhân viên bán hàng trong công ty thực hiện quá nhiều chức năng

    như: tìm kiếm khách hàng, chào hàng, quản lý địa bàn, bán hàng, nhận đơn hàng thậm

    chí là thu nợ khách hàng. Việc thực hiện quá nhiều công việc sẽ hạn chế thời gian và

    công sức của nhân viên dành cho nhiệm vụ chính và làm trở ngại trong việc hoàn

    thành chỉ tiêu bán hàng.

    Thứ sáu: Lực lượng bán hàng của công ty trong khi lực lượng bán hàng chỉ khoảng 10 người với nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau hoạt động hiệu quả song lại đang quá tải và ngày càng thiếu so với nhu cầu phát triển thị trường. Khách hàng công ty hiện nay hơn 1000 khách hàng và không ngừng tăng một mặt sẽ gây ra những khó khăn cho nhân viên trong việc quản lý và hạn chế những cơ hội mở rộng thị trường.

    Thứ bảy: Nhìn chung chất lượng sản phẩm công ty chưa cao cũng như chưa thực sự tạo ra ưu thế trong cạnh tranh và động lực làm tăng hiệu quả hoạt động bán hàng. Hiệu quả quản trị bán hàng không chỉ là nỗ lực của bộ phận bán hàng mà còn cần đến sự hỗ trợ gián tiếp từ các nguồn lực trong công ty như: sự hợp tác của các phòng ban, thương hiệu, chất lượng sản phẩm… Vì vậy yếu tố chất lượng sản phẩm sẽ góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng.

    Thứ tám: Ngày nay bán hàng qua mạng và quản trị bán hàng bằng các phần mềm chuyên nghiệp đang phát triển nhanh. Nhiều công ty thành công và phát triển thương hiệu chính là nhờ bán hàng qua mạng. Mặc dù vậy việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng của công ty còn hạn chế như: công ty không có trang web chính thức một công cụ hữu hiệu không chỉ quảng bá thương hiệu mà còn là cách thu hút khách hàng và bán hàng. Bên cạnh đó phần lớn các hoạt động báo cáo, giám sát được thực hiện thủ công và máy tính chỉ dùng để nhập và in tài liệu mà không có các phần mềm quản trị bán hàng hiệu quả.

    Tóm lại bên cạnh những thành tựu và kết quả đạt được trong quản trị bán hàng của công ty cũng còn một số hạn chế nhất định. Do đó để nâng cao hiệu quả quản trị

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          55                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    bán hàng công ty cần không ngừng nỗ lực hoàn thiện quy trình, nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt công ty cần luôn duy trì và phát triển nguồn nhân lực đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển và mở rộng thị trường.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          56                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    3.1. Hoàn thiện quy trình

    Hoàn thiện quy trình là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm xây dựng một quy trình quản trị bán hàng một cách đầy đủ và hiệu quả nhằm phối hợp các hoạt động trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và công ty. Để hoàn thiện quy trình quản trị bán hàng cần xây dựng và hoàn thiện ở những vấn đề sau:

    Xây dựng mục tiêu bán hàng bên cạnh mục tiêu về doanh số công ty cần xây dựng các mục tiêu khác như: mục tiêu về lợi nhuận, thị phần, mức tăng trưởng. Việc xây dựng các mục tiêu tổng hợp giúp công ty có thể kiểm soát chi phí với mục tiêu về lợi nhuận, phối hợp các nguồn lực nhằm đạt mức tăng trưởng với mục tiêu tăng trưởng. Công ty nên xây dựng các mục tiêu cho từng khu vực địa lý nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng khách hàng. Ngoài ra công ty cần xây dựng và đặt ra các mục tiêu dài hạn nhằm định hướng phát triển cho công ty cũng như thấy được quy mô và thành công mà công ty muốn đạt được trong tương lai.

    Sử dụng chiến lược bán hàng tư vấn bên cạnh chiến lược bán hàng cá nhân sẽ làm tăng hiệu quả bán hàng và chăm sóc khách hàng cũng như là thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tối ưu và hài lòng nhất.

    Quản trị thông tin hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên bán hàng dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin về các chiến lược bán hàng cũng như những chính sách mới. Bên cạnh đó nhà quản trị cần tích cực hỗ trợ nhân viên bán hàng hoàn thành kế hoạch chỉ tiêu bán hàng.

    Tổ chức công tác dự báo bán hàng, nghiên cứu thị trường làm căn cứ để xây dựng hạn ngạch bán hàng cũng như lập ngân sách bán hàng. Dự báo bán hàng giúp nhà quản trị phân phối các chỉ tiêu bán hàng, phân công lực lượng bán hàng một cách hiệu quả hơn. Một số phương pháp dự báo hiệu quả như: dự báo bình quân di động hay dự báo san bằng số mũ cho những kết quả dự báo khá chính sác. Bên cạnh đó

    công ty cần lập ngân sách bán hàng nhằm giúp cho các hoạt động như: chào hàng, khuyến mại, tặng quà khách hàng được thuận lợi và nhanh chóng đồng thời ghi nhận vào chi phí bán hàng thay vì chi phí quản lý. Nhờ đó công ty dễ dàng đánh giá hiệu quả bán hàng so với chi phí bỏ ra và kiểm soát chi phí một cách hiệu quả.

    Tổ chức những nhân viên có nhiệm vụ quản lý và thu hồi công nợ. Những nhân viên thu hồi công nợ một mặt sẽ làm giảm áp lực thu hồi nợ cho nhân viên bán hàng giúp nhân viên bán hàng tập trung vào nhiệm vụ chính một mặt có thể quản lý, tập trung thu hồi các khoản nợ thay vì mỗi nhân viên bán hàng thu từng khoản nợ.

    Tổ chức hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên thông qua các cuộc họp (tuần, tháng, quý, năm) và theo dõi chặt chẽ quá trình triển khai bán hàng. Bên cạnh đó khi kết thúc chu kỳ bán hàng nhà quả trị cần yêu cầu nhân viên nộp báo cáo về kết quả đạt được, tình hình khách hàng, những thuận lợi và khó khăn cũng như những thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh. Như vậy nhà quản trị không những theo sát toàn bộ quá trình triển khai bán hàng mà còn nắm được những thông tin từ thị trường làm cơ sở đưa ra những quyết định và chính sách cho từng giai đoạn triển khai kế hoạch bán hàng.

    Xây dựng và hoàn thiện các chính sách bán hàng đặc biệt là các chính sách như: bán chịu, thời hạn thu hồi nợ, về việc giao hàng. Việc xây dựng các chính sách giúp công ty chủ động trong hoạt động chào hàng, giao hàng và thu nợ, cũng như khách hàng biết được chính sách của công ty tạo điều kiện thuận lợi cho cả hai bên khi thực hiện giao dịch.

    Về việc chăm sóc khách hàng công ty cần thường xuyên gọi điện trao đổi với khách hàng đặc biệt là khách hàng lớn nhằm tạo sự liên kết, xây dựng mối quan hệ làm ăn tốt đẹp tạo thuận lợi dễ dàng giải quyết các khiếu nại phát sinh đồng thời ngăn cản những đối thủ tiếp cận khách hàng của công ty.

    3.2. Duy trì và phát triển nguồn nhân lực

    Việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và then chốt trong sự hoàn thành các mục tiêu và sự phát trển của doanh nghiệp. Hiện tại công ty có một lực lượng bán hàng rất năng động và hiệu quả song lại đang thiếu so với sự phát triển của thị trường. Vì vậy công ty cần chủ động trong việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực bán hàng trong đó chú trọng những việc sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          58                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Duy trì nguồn nhân lực hiện có vì đây là lực lượng bán hàng nòng cốt và hiệu quả của doanh nghiệp. Đảm bảo nguồn nhân lực sẽ giúp công ty luôn duy trì mức sản xuất và kinh doanh tránh được những biến động do sự thiếu hụt nguồn nhân lực. Việc duy trì nhân viên bán hàng không chỉ là tăng lương, thưởng mà là xây dựng một bầu không khí thân thiện, làm việc hăng say, luôn quan tâm đời sống, động viên tinh thần và xây dựng tình đoàn kết trong toàn công ty.

    Việc tuyển dụng nhân viên bán hàng có năng lực, trình độ phù hợp với yêu cầu công việc giữ vai trò quan trọng và phải thực hiện một cách hiệu quả nhằm tìm kiếm và lực chọn những nhân viên bán hàng bổ sung cho lực lượng bán hàng hiện tại. Do đó để đảm bảo được nguồn nhân lực nhà quản trị bán hàng cần xây dựng một quy trình tuyển dụng với đầy đủ các tiêu chuẩn từ khi nhận dạng nhu cầu, đánh giá, tuyển dụng, bố trí một cách hợp lý nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng đảm bảo yêu cầu và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Tổ chức các chương trình đào tạo, huyến luyện kỹ năng và các phương thức bán hàng hiện đại nhất là đối với nhân viên mới, những sản phẩm mới, hay chiến lược kinh doanh mới. Đào tạo nhân viên là một công việc quan trọng. Do đó công ty cần phải có kế hoạch chi tiết và thực tiễn chương trình nhằm phát huy được hiệu quả của chương trình đào tạo.

    Ngoài ra công ty cần xây dựng một chính sách khen thưởng hợp lý nhằm phát huy tinh thần làm việc của nhân viên và cũng là cách để ghi nhận những cố gắng của nhân viên trong việc bán hàng. Theo đó những nhân viên bán hàng hoàn thành đúng chỉ tiêu đề ra sẽ thưởng căn cứ trên lương nhân viên như hiện nay. Những nhân viên hoàn thành vượt chỉ tiêu với một mức nhất định thì vừa thưởng căn cứ theo lương như hiện nay đồng thời thưởng theo doanh số vượt theo quy định. Tuy nhiên việc thưởng theo doanh số không được vượt quá mức lương căn bản của nhân viên đó và không thấp hơn mức thưởng theo lương. Có như vậy không những mức thưởng cho nhân viên không quá cao với tỷ lệ hợp lý mà còn khuyến khích nhân viên hoàn thành các chỉ tiêu bán hàng mà còn nỗ lực vượt chỉ tiêu bán hàng.

    3.3. Tổ chức cơ cấu quản trị bán hàng

    Như đã phân tích ở phần trước thì cơ cấu quản trị bán hàng của công ty chưa tách khỏi cơ cấu quản trị chung của công ty khi mà giám đốc công ty chính là nhà quản trị bán hàng. Điều này sẽ làm giảm đi tính hiệu quả trong quản trị bán hàng vì

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          59                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    giám đốc phải thực hiện rất nhiều công việc chung cho toàn công ty nên không thể nắm bắt rõ ràng và giải quyết ngay những vấn đề phát sinh trong hoạt động bán hàng. Do đó để hoạt động quản trị bán hàng hiệu quả hơn và phù hợp với tình hình công ty việc hoàn thiện cơ cấu quản trị là rất cần thiết. Theo đó bộ phận bán hàng nên tổ chức theo cơ cấu có tổ trưởng, tổ phó thay vì tổ chức theo từng nhân với chức vụ và nhiệm vụ như nhau. Tổ trưởng, tổ phó vẫn thực hiện những chức năng như một nhân viên bán hàng trước đây nhưng lại có nhiệm vụ như một trưởng phòng, phó phòng như: tiến hành họp phòng định kỳ, giám sát tình hình chung của bộ phận, phối hợp hoạt động và tăng cường sự hỗ trợ giữa các nhân viên, tổng hợp các số liệu về tình hình khách hàng, thị trường, giải quyết một số vấn đề phát sinh trong quá trình bán hàng và báo cáo lại cho giám đốc.

    Ngoài ra lương, thưởng cho tổ trưởng, tổ phó sẽ nhỉnh hơn so với các nhân viên khác do phải thực hiện nhiều công việc cũng như trách nhiệm cao trong công việc. Hoạt động của tổ trưởng, tổ phó sẽ giúp ích cho giám đốc rất nhiều trong việc quản lý, giám sát và điều hành và giúp cho giám đốc trong việc xây dựng các chiến lược, mục tiêu bán hàng hiệu quả hơn.

    3.4. Xây dựng và phát triển thương hiệu

    Xây dựng và phát triển thương hiệu đã trở thành một động lực quan trọng nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng cũng như lợi thế trong cạnh tranh. Một thương hiệu mạnh, uy tín và được nhiều người biết đến sẽ góp phần quan trọng trong hoạt động bán hàng của công ty. Do đó đòi hỏi công ty cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu không chỉ góp phần nâng cào hiệu quả bán hàng mà còn tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trên thị trường.

    Chiến lược xây dựng thương hiệu phải nằm trong một chiến lược marketing tổng thể, xuất phát từ nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng, xác định đối tượng khách hàng là mục tiêu, kết hợp với chiến lược phát triển sản phẩm, quảng bá, chính sách giá cả, phân phối hợp lý, nhằm tạo cho doanh nghiệp và các sản phẩm dịch vụ của họ một hình ảnh riêng trong tâm trí và nhận thức của khách hàng trong tương quan với các đối thủ cạnh tranh.

    Trước tiên việc xây dựng thương hiệu đối với công ty cần chú trọng vào các yếu tố sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          60                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Cấu trúc nền móng thương hiệu “decal ba ngôi sao”: cấu trúc nền móng thương hiệu bao gồm các yếu tố như: chất lượng, logo, biểu tượng, hình ảnh và tất cả những làm nên thương hiệu decal ba ngôi sao.

    Định vị thương hiệu: đâu sẽ là hình ảnh nổi bật nhất của thương hiệu decal ba ngôi sao nhằm khắc họa và chiếm một vị trí quan trọng trong tâm trí khách hàng. Chẳng hạn khi nhắc tới “decal ba ngôi sao” người ta nghĩ ngay tới công ty M.K và ngược lại.

    Xây dựng và giữ gìn mối quan hệ mật thiết với khách hàng, tạo sự gắn bó giữa thương hiệu và khách hàng. Doanh nghiệp cần phải đi vào chiều sâu, tạo sự đặc biệt so với đối thủ cạnh tranh. Không ngừng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    Xây dựng thương hiệu sẽ là tiền đề cho sự phát triển thương hiệu. Trong chiến lược phát triển thương hiệu thì công ty nên phát triển thượng theo chiến lược “ thương hiệu theo nhóm”. Bởi vì các sản phẩm của công ty có cùng thuộc tính, chức năng, chỉ khác nhau về mẫu mã và quy cách sản phẩm. Do đó sử dụng chiến lực thương hiệu theo dãy sẽ giúp tránh đươc sự loãng thông tin bằng cách tập trung vào một tên gọi “decal ba ngôi sao”. Việc tạo dựng và phát triển thương hiệu luôn gắn liền với các cam kết về chất lượng, uy tín, an toàn… mà doanh nghiệp gửi tới khách hàng. Việc thực hiện tốt những cam kết của mình tới khách hàng sẽ giúp sản phẩm dễ dàng được khách hàng đón nhận, trung thành với sản phẩm và góp phần nâng cao giá trị thương hiệu trong tâm trí khách hàng.

    3.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm

    Ngày nay chất lượng sản phẩm là một trong những tiêu chí hàng đầu trong việc lựa chọn sản phẩm của khách hàng đặc biệt là khách hàng công nghiệp. Nhìn chung chất lượng sản phẩm của công ty còn nhiều hạn chế và không được đánh giá cao so với các mặt hàng ngoại nhập. Do đó để giữ vững và phát triển thị trường hạn chế sự cạnh tranh từ các đối thủ công ty cần hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm trong đó công ty cần chú trọng vào một số vấn đề sau:

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          61                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Nhiều khách hàng phàn nàn về keo dính của giấy decal như: thiếu keo, keo phủ không đều, có hiện tượng chảy keo khi trời nóng hay độ dính không cao. Do đó trong quá trình sản xuất cần tập trung kiểm tra điều chỉnh máy móc tạo sự ổn định nhằm phân phối keo một cách đầy đủ và phân phối đều khắp mặt giấy. Bên cạnh đó trong quá trình sản xuất công ty cần sử dụng các loại keo có chất lượng cao đảm bảo tiêu chuẩn trong quá trình sản xuất.

    Cải thiện độ bóng của mặt giấy decal, tăng khả năng chịu ướt cũng như giữ được độ bóng trong thời gian dài. Bên cạnh đó một số mặt hàng như giấy chịu cảm nhiệt cũng cần đảm bảo về khả năng chịu và hấp thụ nhiệt.

    Một khâu quan trọng nữa là phải thực hiện kiểm tra chặt chẽ về chất lượng sản phẩm trước khi giao cho khách hàng. Trong hoạt động sản xuất cần thực hiện theo nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu” bắt đầu từ đảm bảo khâu nguyên liệu cho tới khi giao hàng đều thực hiện một cách chính sác nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt nhằm hạn chế những khiếu nại từ khách hàng và tránh lãng phí nguồn lực.

    Bên cạnh đó công ty cần không ngừng hoàn thiện các dòng sản pẩm cũ và phát triển sản phẩm mới đặc biệt là những sản phẩm mà thị trường chưa đáp ứng và đối thủ chưa có.

    3.6. Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán bán hàng

    Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là máy tính và công nghệ thông tin đã tạo ra nhiều phương thức quản lý và bán hàng hiệu quả hơn. Do đó để nâng cao hiệu quả quản trị bán hàng và năng lực bán hàng thì việc tiếp cận khoa học kỹ thuật là rất cần thiết.

    Trước tiên công ty cần xây dựng một trang web chính thức nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm, thương hiệu công ty tới khách hàng tiềm năng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó trang web còn là nơi nhận đặt hàng và bán hàng cho khách hàng mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp chào hàng. Việc xây dựng trang web phải tạo được ấn tượng, mới lạ và làm nổi bật thương hiệu của công ty. Ngoài ra trang web cần phải liên tục cập nhật và đổi mới nội dung, hình thức, có chiến lược quản lý hiệu quả.

    Tiếp theo công ty nên sử dụng các phần mềm quản trị bán hàng chuyên nhiệp nhằm giúp cho hoạt động giám sát, quản lý khách hàng, doanh thu và công nợ được dễ dàng và chính xác. Một số phần mềm quản lý bán hàng khá hiệu quả như: SMIS (Sale

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          62                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Management Support Information System) là phần mềm hỗ trợ việc quản lý các thông tin cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá, dịch vụ với các chức năng quan trọng như: Quản lý các thông tin giao dịch của khách hàng, thông tin của khách hàng, thông tin đơn đặt hàng, thông tin số lượng hàng hóa bán ra, quản lý doanh thu, quản lý chi tiết hàng hóa và công nợ của khách hàng theo các tiêu thức quản trị tùy chọn. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật trong quản trị bán hàng là rất cần thiết và góp phần làm tăng hiệu quả quản trị bán hàng của công ty.

    GVHD: Th.s Trần Phi Hoàng                          63                                SVTH: Nguyễn Vũ Phương

     

    Hoạt động quản trị bán hàng tại các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém về trình độ và công nghệ chưa tạo ra động lực cạnh tranh hiệu quả và do đó không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài với tiềm lực tài chính và các phương thức bán hàng tiên tiến cả trên quy mô quốc tế và thị trường trong nước. Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài khi mà nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới các phương thức bán hàng và hoàn thiện hoạt động quản trị bán hàng.

    Qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Thương Mại M.K với việc tập trung nghiên cứu tìm hiểu công tác quản trị bán hàng của công ty. Bài luận văn đã đạt được hai nội dung quan trọng sau:

    Tìm hiểu và phân tích một số nội dung quan trọng trong hoạt động bán hàng của công ty làm cơ sở cho đánh giá và nhận xét về hiệu quả hoạt động quản trị bán hàng tại công ty.

    Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị bán hàng trong công ty.

    Với những gì đã đạt được trong bài luận văn này mong rằng sẽ đóng góp một phần nhỏ giúp công ty hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong quản trị bán hàng. Để đạt được thành công và phát triển trong tương lai thì công ty cần phải nỗ lực rất nhiều đặc biệt là trong việc bán hàng. Với những gì đã và đang được thực hiện trong công ty sẽ là tiền đề để công ty tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản trị bán hàng.

    Để hoàn thiện bài luận văn này em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ thầy hướng dẫn là thầy Trần Phi Hoàng và các anh chị trong công ty TNHH Thương Mại M.K. Một lần nữa em xin gửi lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe tới thầy, các anh chị trong công ty. Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng hoàn thiện bài luận văn song vì thời gian, năng lực cũng như lần đầu tiếp cận trực tiếp tại công ty nên bài luận văn còn rất nhiều hạn chế cũng như thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các anh chị trong công ty để bài làm được hoàn thiện hơn.

    Xin chân thành cảm ơn

     

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Người Cao Tuổi Trên Địa Bàn Xã – Bài Phát Biểu
  • Thiết Bị Tưới Cây Thông Minh Tự Động Hẹn Giờ Nước Rau Hoa Lan Sân Thượng
  • Nâng Cao Chất Lượng Khám, Chữa Bệnh Và Hiệu Quả Mạng Lưới Y Tế
  • Nhiều Giải Pháp Thu Hút Người Dân Tham Gia Bhyt
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Công Tác Bảo Hiểm Y Tế
  • Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Ngắn Hạn…

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi Nhánh Tràng An Hà Nội
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Tiếng Anh Thông Qua Các Hoạt Động Của Câu Lạc Bộ Tiếng Anh Tại Trường Thpt Đặng Thai Mai
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp – ( Thầy Giáo Nguyễn Văn Ngọc ) : Phòng Gd&đt Giao Thủy
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Âm Nhạc Cho Trẻ 5
  • Giải Pháp Bồi Dưỡng Nâng Cao Năng Lực Nghề Nghiệp Đội Ngũ Nhà Giáo
  • Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đang vào giai đoạn chuẩn bị cho quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong khoảng gần chín năm nữa, khi hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực đối với thị trường tài chính tiền tệ thì về mặt luật pháp ngân hàng thương mại nước ta hoàn toàn được đối xử bình đẳng như ngân hàng nước ngoài khác. Điều này cho thấy nếu như ngân hàng thương mại nước ta đang đối mặt với những thách thức cạnh tranh mới trong tương lai.

    Hình thức ngân hàng liên doanh là hình thức mới ở Việt Nam, xuất hiện vào đầu những năm 90. Việc thành lập các ngân hàng liên doanh ở nước ta là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước để ngân hàng thương mại nước ta có dịp học hỏi kinh nghiệm của các nước bạn, nâng sức cạnh tranh của ngân hàng mình.

    Ngân hàng liên doanh Chohung vina là ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước Hàn Quốc. Đây là một trong những ngân hàng liên doanh hoạt động hiệu quả ở nước ta, hơn nữa Hàn Quốc cũng là một nước có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, do đó học tập kinh nghiệm kinh doanh của ngân hàng liên doanh Chohung vina là một điều hết sức cần thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta.

    Xuất phát từ điều này nên em chọn thực tập tại ngân hàng liên doanh Chohung vina. Trong quá trình thực tập ở ngân hàng liên doanh Chohung vina em nhận thấy hoạt động tín dụng ngắn hạn của họ rất tốt có chất lượng cao do đó em tìm hiểu về kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung vina, qua đó ngân hàng thương mại nước ta có thể tham khảo và có thể áp dụng thành những giải pháp của mình. Đề tài như sau:

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại nước ta

    (nghiên cứu từ quá trình thực tập tại chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina)”

    Luận văn này gồm ba phần chính như sau:

    Chương1: Lý luận chung về chất lượng tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.

    Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina.

    Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn ở hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng Chohung vina).

    Do thời gian làm việc tại ngân hàng chưa lâu và trình độ hiểu biết thực tế có hạn nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy, cô giáo và các cô chú trong ngân hàng để luận văn được hoàn chỉnh, góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    ∗      ∗

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.1. Ngân hàng thương mại

    1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

    • Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật.

    Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Việc đưa ra khái niệm niệm về ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. Theo Pháp lệnh Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính ban hành ngày 24/05/1990: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.1.2. Đặc trưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh trên thị trường tài chính của nhiều tổ chức kinh doanh tiền tệ, những tổ chức môi giới tài chính, hoạt động như những chiếc cầu chuyên tải những khoản tiền tiết kiệm- tích luỹ được trong xã hội đến tay những người có nhu cầu chi tiêu cho đầu tư. Nhưng giữa chúng lại có sự khác nhau về tính chất cũng như về đối tượng và phương pháp kinh doanh. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ những nguyên nhân về lịch sử và chế độ kinh tế.

    Lịch sử của ngân hàng thương mại là lịch sử kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ làm nhiệm vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền cho người sở hữu để nhận những khoản thù lao, trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi nghĩa là huy động tiền gửi không những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng gửi tiền để làm vốn cho vay nhằm tối ưu khoản lợi nhuận thu được.

    Trong khi thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các ngân hàng thương mại đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán, trong đó quan trọng nhất là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn thanh toán bằng séc- một trong những công cụ chủ yếu để tiền vận động qua ngân hàng và quá trình đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao dịch trong giao lưu kinh tế là tiền qua ngân hàng. Do đó, hoạt động của ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán trong nước đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.

    Trong thế giới hiện đại, tính cho đến thời điểm hiện nay thì ngân hàng thương mại và cơ cấu hoạt động của nó đóng vai trò quan trọng nhất trong thể chế tài chính mỗi nước. Hoạt động của ngân hàng thương mại đa dạng, phong phú và có phạm vi rộng lớn, trong khi các tổ chức tài chính khác thường hoạt động trên một vài lĩnh vực hẹp theo hướng chuyên sâu.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.2. Tín dụng ngân hàng

    1.2.1. Khái niệm về tín dụng

    Có thể nói: tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn.

    Qua nhiều giai đoạn tồn tại và phát triển, ngày nay tín dụng được hiểu theo định nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thời hạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau:

    “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.”

    Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

    • Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
    • Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.
    • Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    1.2.2. Đặc trưng của tín dụng

    Có thể nói trong hoạt động kinh doanh tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng, đặc trưng của tín dụng đều dựa trên 3 đặc tính chủ yếu là: lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả.

    1.2.2.1.Yếu tố lòng tin:

    Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.

    Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện từ chủ yếu từ phía người cho vay đối với người đi vay bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng.

    1.2.2.2 Tính thời hạn và tính hoàn trả:

    Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay.

    Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho vay chỉ bán “giá trị (quyền) sử dụng của khoản vay” chứ không

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    bán “giá trị của khoản vay”, nên sau khi hết thời gian sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hoàn trả về và vẫn giữ nguyên giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời gian nhất định. Như vậy, khối lượng hàng hoá hay tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên chở giá trị sử dụng của chúng, nó được phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về chứ không được bán đứt.

    Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tùy theo đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng mà tín dụng được phân chia theo các hình thức phù hợp. Thông thường các ngân hàng phân chia tín dụng theo tiêu thức thời gian bao gồm tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn, và tín dụng dài hạn.

    1.3. Khái niệm và vai trò của tín dụng ngắn hạn của ngân hàng

    1.3.1. Khái niệm

    Theo quyết định 324 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

    Thời hạn đối với tín dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.

    1.3.2. Vai trò tín dụng ngắn hạn

    Tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính thực hiện một trong những chức năng chủ yếu của mình là tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi sau đó cho ra đối với nền kinh tế. Thông qua các hoạt động cho vay của mình ngân hàng đã đảm bảo cho các doanh nghiệp nói

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng không chỉ duy trì sản xuất kinh doanh mà còn tái sản xuất mở rộng.

    Đối với các doanh nghiệp hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp là phổ biến và nghiêm trọng. Tín dụng ngắn hạn là hình thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bởi tính linh hoạt của nó. Tín dụng ngắn hạn không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung nữa mà đã dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn giúp cho các doanh nghiệp không bỏ lỡ thời vụ làm ăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, quá trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội.

    Mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường để thực hiện được các khoản đầu tư đó doanh nghiệp không chỉ cần có vốn lưu động tạm thời mà còn phải có một lượng vốn cố định và ổn định lâu dài. Qui mô vốn đầu tư cho các yêu cầu trên đôi khi vượt quá khả năng vốn của doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh đó.

    Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả

    Bản chất của tín dụng ngắn hạn không phải là hình thức cung ứng vốn mà là hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn qui định. Do đó, các doanh nghiệp sau khi sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn là đủ mà còn phải tìm ra nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ và thu lãi.

    Tín dụng ngắn hạn tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện, không những thoả mãn về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Hoạt động của các nhà doanh nghiệp phải đạt hiệu

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    quả kinh tế nhất định theo qui định chung của thị trường thì mới đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu mới, mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối doanh nghiệp với thị trường, nguồn vốn tín dụng ngắn hạn cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, theo kịp với nhịp độ phát triển chung, từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.

    1.4. Chất lượng tín dụng ngắn hạn

    1.4.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn

    Trong hoạt động ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ mang lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả năng xảy ra với tỷ lệ cao. Trên thực tế nhiều nhân viên ngân hàng quan niệm cho vay có tài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định là an toàn nhất. Thực ra quan niệm này hết sức sai lầm, bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng là vấn đề quan trọng nhất để đảm bảo khả năng trả nợ của khách và khả năng thu hồi vốn gốc và lãi của ngân hàng. Tính đến tháng 12/1998, con số nợ quá hạn của toàn ngành ngân hàng lên tới trên 10% tổng dư nợ. Tình trạng nợ quá hạn cao cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng không thu được khoản vay và lãi, do đó kinh doanh không có lợi nhuận, thậm chí là mất vốn. Điều này khiến nhiều ngân hàng có phản ứng co cụm, không cho vay nữa, dẫn đến

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nền kinh tế trì trệ suy thoái. Đảm bảo chất lượng tín dụng đem lại lợi ích cho các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp của ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    Chất lượng tín dụng: Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay chất lượng tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân

    Chất lượng tín dụng có thể được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế khác nhau, từ phía ngân hàng, từ phía doanh nghiệp, từ phía nền kinh tế.

    • Từ phía doanh nghiệp : Do nhu cầu vốn vay được đáp ứng để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bù đắp được chi phí sản xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứng trên giác độ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thỏa mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả.
    • Từ phía ngân hàng : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi .
    • Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội : Tín dụng ngân hàng phản ánh sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.

    Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thống. Nâng cao chất lượng tín dụng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lí kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

    Tóm lại, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín của ngân hàng. Hiểu đúng bản chất và phân tích, đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác các nguyên nhân tồn tại của chất lượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng tìm được giải pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.

    1.4.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hoạt động tín dụng ngắn hạn

    Để xem xét hiệu quả hoạt động của một Ngân hàng, ta sử dụng rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau nhưng có thể sử dụng các chỉ tiêu cơ bản sau:

    Chỉ tiêu nợ quá hạn

    Nợ quá hạn là những khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian đã được gia hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu. Nợ quá hạn có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía doanh nghiệp, hay do khách quan… Các ngân hàng luôn mong muốn giảm thấp tỉ lệ nợ quá hạn bởi nó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

    Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn

    Tỉ lệ nợ quá hạn =

    Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

    Tổng dư nợ các món vay có phát sinh nợ quá hạn

    Tỉ lệ đầu tư rủi ro =

    Tổng dư nợ cho vay

    Đây là hai chỉ tiêu chủ yếu đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn phản ánh chất lượng của khoản vay ngắn hạn, còn chỉ tiêu tỉ lệ đầu tư rủi ro thì phản ánh chất lượng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    của tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng. Các tỉ lệ này càng nhỏ thì phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng đó là hiệu quả, không có rủi ro mất vốn. Còn nếu các tỉ lệ này càng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, có thể từ việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn nữa là phá sản.

    Hai chỉ tiêu trên đều chịu ảnh hưởng của chính sách xóa nợ của ngân hàng, một ngân hàng có chính sách tốt là phải thiết lập được quĩ dự phòng rủi ro đủ mạnh và thông báo định kì về các món vay không có khả năng thu hồi, để tránh tình trạng trong một lúc phải thông báo con số nợ không có khả năng thu hồi là quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng. Thông thường khi lập bảng theo dõi nợ quá hạn ngân hàng thường phải phân nợ quá hạn theo thời gian 30, 60, 90,120 ngày. Sự phân loại này có ý nghĩa đối với việc quản lí chất lượng tín dụng và đánh giá thiết lập dự phòng mất vốn.

    Ngoài ra người ta còn xem xét các chỉ tiêu sau Nợ khó đòi quá hạn/ Tổng dư nợ ngắn hạn

    Khi nợ quá hạn tồn tại đến một thời điểm nào đó và có khả năng không thu hồi được thì khoản nợ này được coi là nợ khó đòi. Khi một khoản nợ được coi là khó đòi thì đồng nghĩa với nó là ngân hàng khó có thể thu hồi được vốn. Tỉ lệ nợ khó đòi cao chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng kém hiệu quả và chất lượng của khoản vay là thấp.

    Chỉ tiêu quản lí vốn

    Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá việc quản lí vốn của mỗi ngân hàng.

    Tổng số tiền cho vay đã được xóa nợ

    Tỉ lệ mất vốn =

    Dư nợ bình quân

    Tỉ lệ này càng nhỏ bàng tốt.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Các ngân hàng thường có những khoản vay không có khả năng thu hồi nhưng một ngân hàng quản lí tốt là tỉ lệ này ở mức thấp. Một món nợ khi đã được xóa thì vẫn phải có nỗ lực trong việc thu hồi nợ. Cho nên xóa nợ cũng chỉ là một phương thức quản lí tài chính của ngân hàng, không hề thừa nhận về mặt pháp lí rằng người vay không còn nợ ngân hàng nữa.

    Dự phòng mất vốn

    Tỉ lệ dự phòng =

    Tổng dư nợ

    Tỉ lệ này càng nhỏ càng tốt.

    Chỉ tiêu tỉ lệ lợi nhuận tín dụng ngắn hạn

    Chất lượng tín dụng ngắn hạn được đánh giá thông qua phần lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động tín dụng ngắn hạn.

    Lợi nhuận tín dụng ngắn hạn

    Tỉ lệ lợi nhuận tín dụng ngắn hạn =

    Tổng lợi nhuận của ngân hàng

    Trong kinh doanh tín dụng phải thực hiện lãi suất dương, có nghĩa là lãi suất đầu ra phải cao hơn lãi suất đầu vào cộng với chi phí nghiệp vụ ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động kinh doanh là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng có thể tùy từng thời gian, điều kiện kinh doanh cụ thể để có chính sách khách hàng hợp lí, mở rộng đầu tư tín dụng, thu hút khách hàng nhưng vẫn đảm bảo cho hoạt động tín dụng có hiệu quả cao nhất. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ các khoản vay không thu hồi được gốc mà còn thu hồi được lãi, đảm bảo độ an toàn của đồng vốn cho vay.

    Hiện nay ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp tình thế để đảm bảo chất lượng tín dụng, thể hiện qua nhóm chỉ tiêu định tính và định lượng. Nhóm chỉ tiêu định tính thể hiện cho vay đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng. Nhóm chỉ tiêu định lượng nhằm phân tán rủi ro, đảm bảo các thông số tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tín dụng như dư nợ của 10 khách hàng nhỏ

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    hơn hoặc bằng 30% tổng dư nợ, dư nợ của một khách hàng nhỏ hơn hoặc bằng 10%vốn điều lệ và cấc quĩ, tỉ lệ nợ quá hạn nhỏ hơn hoặc bằng 5% tổng dư nợ…

    Các nhóm chỉ tiêu trên có được thực hiện hay không là tùy thuộc vào ý thức chấp hành thể lệ tín dụng, qui trình kĩ thuật cho vay.

    1.4.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.

    1.4.3.1. Những nhân tố khách quan

    Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh tế – xã hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh của mình nhưng nếu môi trường kinh tế – xã hội không ổn định thì cũng khó mà thành công. Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế – xã hội đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM từ các yếu tố sau:

    Môi trường kinh tế

    Môi trường kinh tế phát triển có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể tham gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên. Nhưng môi trường kinh tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ. Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực tế sẽ giảm xuống và nếu như ngân hàng không cân đối giữa các khoản mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín dụng đó có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi. Cũng có thể có những biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ, dẫn đến tình trạng dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả năng trả nợ cho ngân hàng. Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    mà nó hoạt động, vấn đề đối với các ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng.

    Môi trường pháp lý

    Một ngân hàng thương mại khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy định về luật pháp của Nhà nước, cũng như của ngân hàng Nhà nước như vậy môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp các ngân hàng dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình, góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.

    Môi trường chính trị –xã hội

    Môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động đầu tư và mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng. Điều này giúp cho ngân hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Tác động của môi trường chính trị – xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng là không thường xuyên, nhưng khi có những biến động về chính trị, tác động của nó tới các ngân hàng là vô cùng lớn. Một sự thay đổi hệ thống chính trị bạo động có thể làm cho các ngân hàng mất toàn bộ các khoản tín dụng của mình, điều này sẽ đẩy nó đến bờ vực phá sản.

    1.4.3.2. Những nhân tố chủ quan.

    Chính sách tín dụng.

    Chính sách tín dụng là định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Thông thường chính sách tín dụng có các khoản mục sau: các loại cho vay được thực hiện, giới hạn tín dụng, kỳ hạn cho vay, hướng giải quyết tín dụng vượt giới hạn, thanh toán nợ…vì thế nó có quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư thu hút được nhiều

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời tuân thủ theo pháp luật và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Bất cứ một ngân hàng nào muốn có tín dụng tốt đều phải có một chính sách tín dụng rõ ràng phù hợp với ngân hàng của mình.

    Chất lượng của công tác thẩm định dự án.

    Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện. Thẩm định dự án giúp ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định tính khả thi của dự án trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có đủ điều kiện để được cấp tín dụng hay không. Cũng thông qua công tác thẩm định, ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính khả thi hơn tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.

    Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng. Nếu chất lượng của công tác thẩm định không cao tức là nhân viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay không thì những khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc thu hồi các món nợ của mình. Chính vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi các nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng

    Công tác tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô của ngân hàng, chính sách tín dụng của ngân hàng, quy mô và loại hình tín dụng, quy trình tín dụng tại ngân hàng đó. Trong quy trình hoạt động tín dụng, các cán bộ tín dụng sẽ tiếp xúc trực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn khách hàng, thu nhập thông tin về khách hàng và dự án trước khi có quyết định chính thức trình cán bộ cấp cao hơn. Những thông tin về khách hàng và dự án sau khi được

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    các phòng ban chức năng của ngân hàng xem xét nếu thấy đủ điều kiện thì sẽ quyết định cụ thể giải ngân và thu nợ sau này. Trong quá trình này nếu các khâu được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các dự án tốt để cấp tín dụng, cũng như tạo uy tín trong lòng khách hàng.

    Như vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng thực hiện công việc của mình và nó có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.

    Chất lượng của đội ngũ nhân sự.

    Yếu tố mang tính quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chất lượng tín dụng lại chính là nguồn nhân lực của ngân hàng vì suy cho cùng quyết định cung cấp tín dụng của ngân hàng là những quyết định mang tính chất chủ quan. Một ngân hàng với một đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa ra được những chính sách hợp lý và phương thức phát triển phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế. Một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi sẽ giúp ngân hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất. Các cán bộ của các phòng ban, các bộ phận chức năng khác sẽ giúp cho ngân hàng mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, tạo dấu ấn trong lòng thị trường.

    Ngoài ra, chất lượng nguồn thông tin khách hàng, thông tin thương mại khác cũng góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Điểm yếu của ngân hàng thương mại nước ta là thiếu hệ thống thông tin khách hàng một cách đầy đủ, kịp thời. Điều này đã phần nào giảm hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.

    1.4.3.3. Các yếu tố từ khách hàng.

    Do khách hàng kinh doanh thua lỗ.

    Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nợ quá hạn của ngân hàng. Đối với những khoản vay phục vụ mục đích kinh doanh thì nguồn vốn vay được

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    sử dụng có hiệu quả không chỉ đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn là tiền đề cho sự hoàn trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi. Ngược lại, thua lỗ trong kinh doanh của doanh nghiệp xảy ra khi việc tính toán triển khai dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, không được thực hiện kỹ càng, xác thực, các rủi ro bất khả kháng của các định hướng sản xuất kinh doanh gây tác động xấu và sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ với các mức độ khác nhau.

    Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn sai mục đích.

    Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng không đúng phương án, mục đích xin vay vốn. Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ công nhân viên chức, nợ người bán hàng, nợ ngân hàng, nợ các đối tượng khác…). Cơ cấu về vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý, dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn.

    Tất cả những nguyên nhân trên gây nên khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn của khách hàng đối với ngân hàng, tạo ra các khoản nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng.

    Do chủ ý lừa đảo của người đi vay.

    Việc không trả nợ đúng hạn có thể xuất phát từ khả năng chi trả yếu kém của khách hàng, cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của người đi vay không muốn trả nợ (mặc dù có khả năng nhưng không muốn thực hiện). Năm 1997 đã xuất hiện hiện tượng một số công ty trách nhiệm hữu hạn và tư nhân dùng hồ sơ thế chấp nhà giả hoặc hồ sơ thế chấp nhiều ngân hàng để vay tiền rồi bỏ trốn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    2.1. Tổng quan về ngân hàng liên doanh Hàn Quốc Chohung Vina

    Nước ta đang trên đà phát triển đổi mới. Nền kinh tế chuyển theo hướng mở, thông thương, mua bán với các nước trên thế giới. Sự ra đời của các ngân hàng liên doanh là những điều kiện nhằm hỗ trợ cho các hoạt động ngoại thương. Ngân hàng Chohung Vina là một ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Ngân hàng này được đổi tên từ ngân hàng liên doanh First Vina theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước vào ngày 2/1/2001.

    Ngân hàng First Vina được thành lập và cấp giấy phép hoạt động từ ngày 3/2/1993 theo giấy phép số 10/ NH-GP của Thống đốc ngân hàng Nhà nước cấp ngày 4/1/1993. Ngân hàng First Vina là ngân hàng liên doanh giữa các bên như sau:

    * Bên Việt Nam:

    Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

    Địa chỉ trụ sở: 47 – 49 Lý Thái Tổ, quận Hoàn kiếm, Hà Nội.

    • Bên nước ngoài: (gồm 2 cổ đông).

     

    1. Korea First Bank

    Địa chỉ trụ sở: 100 Kyngpyung-dong, Chong no-gu, Seoul 110-160 Hàn Quốc.

    1. Daewoo Securities co, LTD.

    Địa chỉ trụ sở: 34-3 Yongdungo Seoul Hàn Quốc.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Trụ sở chính của ngân hàng liên doanh First Vina tại thành phố Hồ Chí Minh, và có một chi nhánh ở Hà nội.

    Vốn điều lệ của ngân hàng là 10.000.000 USD (mười triệu đôla Mĩ), trong đó bên Việt Nam góp là 5.000.000 USD (năm triệu đôla Mĩ) bằng 50% vốn điều lệ. Bên nước ngoài là Korea First bank góp 4.000.000 USD (bốn triệu đôla Mĩ) bằng 40% vốn điều lệ, bên Công ty Daewoo securities góp 1.000.000 (một triệu đôla Mĩ) bằng 10% vốn điều lệ. Đến ngày 8-8-1995 căn cứ theo Quyết định số 217/QĐ-NH5 ngân hàng liên doanh được phép tăng vốn điều lệ từ 10 triệu lên 20 triệu USD.

    Chi nhánh ngân hàng liên doanh First Vina ở Hà Nội hoạt động từ năm 1993 đến năm 2001, sau đó đổi tên thành ngân hàng liên doanh Chohung Vina, do thay đổi bên đối tác nước ngoài góp vốn. Hiện tại bên đối tác nước ngoài góp vốn là Chohung Korea Bank cũng góp với số vốn là tám triệu USD, và đối tác thứ hai không thay đổi là Công ty Daewoo Securities và bên Việt Nam là ngân hàng ngoại thương với tổng số vốn góp là mười triệu USD.

    Nói chung, ngân hàng Chohung Korea và ngân hàng Korea First đều là ngân hàng lớn ở Hàn Quốc. Đặc biệt, ngân hàng Korea First là một ngân hàng hàng đầu ở Hàn Quốc có bề dày hoạt động, tích lũy nhiều kinh nghiệm là điều kiện để chúng ta học hỏi. Ngân hàng Korea First có 6 văn phòng đại diện, 12 chi nhánh nước ngoài và 276 chi nhánh ở trong nước .

    Năm 1990, ngân hàng Korea First được xếp thứ 13 trong số ngân hàng có vốn lớn nhất ở Hàn Quốc, đứng thứ 200 trong tổng số ngân hàng lớn nhất thế giới. Đại lí của ngân hàng Korea First bao gồm các chi nhánh ngân hàng ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Nha Trang, Quảng Ninh, và các chi nhánh xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Công ty Daewoo Securities là công ty con của tập đoàn Daewoo. Đây là tập đoàn lớn và có mối quan hệ chặt chẽ với Việt nam. Cuối năm 1992,

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    tập đoàn Daewoo có 200 dự án đầu tư tại Việt Nam tương đương 200 triệu USD, trong đó có 5 dự án đầu tư được Uỷ Ban Nhà nước hợp tác và đầu tư cấp giấy phép hoạt động.

    Năm

    Lãi (USD)

     

     

    1995

    150,261.6

     

     

    1996

    755,356.16

     

     

    1997

    588,194.17

     

     

    1998

    571,775.74

     

     

    1999

    504,042

     

     

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    2000                  682,127.08

    Sau khi đổi tên thành ngân hàng Chohung Vina thì con số lãi của năm 2001 là 602,862 USD, năm 2002 là 625,018 USD, mang lại một nguồn thu lớn cho ngân sách.

    2.2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức năng các phòng ban

    2.2.1. Cơ cấu tổ chức

    Người đứng đầu chi nhánh Chohung Vina tại Hà Nội là ban giám đốc gồm Giám đốc và Phó giám đốc. Chi nhánh gồm 5 phòng là phòng tín dụng, phòng kế toán, phòng thanh toán quốc tế, phòng quĩ, phòng hành chính nhân sự. Các phòng hoạt động dưới sự chỉ đạo điều hành của Ban giám đốc.

    Phòng thanh toán quốc

    tế

     

     

     

    Phòng kế toán

     

     

     

     

     

     

    Ban

     

     

     

    Giám

     

     

     

    Phòng tín dụng

     

    Đốc

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Phòng quĩ

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Phòng hành chính

     

     

     

     

    nhân sự

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ về cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàng Chohung vina

     

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Giám đốc của chi nhánh là người chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của chi nhánh. Tuy nhiên, do chi nhánh Chohung Vina là ngân hàng liên doanh cho nên đối với những vấn đề quan trọng thì cần có sự bàn bạc, đánh giá thêm của cả hai bên, và quyết định đưa ra đều phải được cả hai bên thống nhất.

    2.2.2. Nhiệm vụ, chức năng của phòng tín dụng

    Để phục vụ cho nhu cầu tín dụng của các khách hàng, chi nhánh đã qui định rất rõ ràng, cụ thể về chức năng nhiệm vụ của phòng. Bao gồm các công việc cụ thể như sau:

    • Giới thiệu và tư vấn cho khách về các hình thức vay nợ
    • Phân tích tín dụng và các hợp đồng vay nợ của khách
    • Thông báo cho ban giám đốc của chi nhánh và trụ sở chính xin ý kiến và thừa nhận đối với các khoản cho vay.
    • Hoàn thành các hợp đồng về cầm cố, thế chấp tài sản. Các chứng từ này đều phải được công chứng và đăng ký.
    • Thực hiện và quản lí các khoản tín dụng.
    • Thực hiện các mẫu chứng từ về việc phát hành L/C bảo đảm.
    • Phát hành các bảo lãnh ngân hàng (trừ bảo lãnh vận chuyển)
    • Thực hiện các chứng từ bảo đảm cho việc phát hành thẻ tín dụng.
    • Điều chuyển vốn trong nước hàng ngày.
    • Thường xuyên kiểm tra, thu thập hông tin về tình hình kinh doanh của khách.
    • Thường xuyên báo cáo tình hình kinh doanh của khách và khả năng có thể trả nợ của khách cho ban giám đốc của chi nhánh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Điều chỉnh về thời hạn, điều kiện vay nợ, lãi suất vay cho khách để phù hợp với sự thay đổi của lãi suất trên thị trường
    • Lập các báo cáo về hoạt động tín dụng.

    Đến nay chi nhánh có một khối lượng lớn các khách hàng vay vốn. Tình hình trả nợ của các khách hàng rất đúng qui định, cho đến nay chưa hề có một vấn đề xảy ra về việc vi phạm của khách hàng. Điều này cũng phải kể đến sự nỗ lực cố gắng của các cán bộ tín dụng chi nhánh trong việc lựa chọn các khách hàng cho vay và thường xuyên kiểm tra tình hình kinh doanh của khách hàng. Các khoản cho vay của chi nhánh Chohung Vina hầu hết là các khoản ngắn hạn và cho vay theo phương thức “credit line” hay còn gọi là “hạn mức tín dụng” chiếm 90%. Phương thức này tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

    2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn của chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung Vina

    2.3.1. Tình hình sử dụng vốn vay

    Một ngân hàng kinh doanh hiệu quả là ngân hàng biết sử dụng đầu tư đồng vốn của mình vào đúng chỗ, mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Các ngân hàng chủ yếu sử dụng đồng vốn huy động được để tiến hành cho vay hưởng chênh lệch lãi suất.

    Ngân hàng Chohung vina đã tiến hành cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với Hàn quốc, hoặc doanh nghiệp 100%vốn Hàn Quốc. Đến nay tổng số khách hàng lên tới 17 khách hàng. Dư nợ tín dụng mỗi năm đạt khoảng 10-15 triệu USD.

     

    Luận văn tôt nghiệp

     

     

     

    Nguyễn Phương Nhung

     

    Bảng 1: Tình hình dư nợ tín dụng từ năm 2000-2002

     

     

     

    Đơn vị: USD

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Năm

    2000

    2001

     

    2002

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Dư nợ tín dụng

    13,173,434

    12,191,663

     

    13,581,900

     

     

    ngắn hạn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Dư nợ tín dụng

    14,637,149

    13,546,293

     

    15,091,000

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Nợ quá hạn ngắn

    0

     

    0

     

     

    hạn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Lợi nhuận tín

     

    618,000

     

    523,000

     

     

    dụng ngắn hạn

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Qua bảng 1 cho ta thấy cơ cấu sử dụng vốn vay của ngân hàng Chohung vina, dư nợ tín dụng năm 2000 đạt 14,637,149USD tức là vào khoảng hơn 200 tỷ VND năm 2001 đạt 13,546,293 USD và đến năm 2002 con số này là 15,091,000 USD. Tình hình dư nợ ổn định và tăng đều đáp ứng nhu cầu vốn của các khách hàng. Riêng năm 2001 dư nợ tín dụng có giảm đi do nguyên nhân từ phía ngân hàng là có sự thay đổi cổ đông góp vốn và đổi tên ngân hàng. Tính đến năm 2002 ngân hàng chưa có trường hợp nào phải nợ quá hạn, các khách hàng tham gia vay vốn hoàn trả nợ đúng hạn và đầy đủ. Điều này phản ánh phần nào hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam và cũng đồng thời phản ánh cơ chế quản lí chính sách cho vay ngắn hạn.

    Ngân hàng Chohung vina chủ yếu là cho vay ngắn hạn, tỉ lệ cho vay ngắn hạn chiếm 90% tổng số cho vay, hình thức cho vay đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp. Đây là hình thức cho vay phù hợp với tình hình hoạt động của các khách hàng Chohung vina, bởi vì các doanh nghiệp này hầu hết là các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động dưới sự bảo trợ về vốn của công ty mẹ bên nước ngoài cho nên doanh nghiệp chỉ cần vay vốn của ngân hàng để đáp ứng về nhu cầu vốn lưu động của mình.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Tỉ lệ nợ quá hạn trong ngân hàng đạt mức tối thiểu là 0%, như vậy tình hình cho vay tín dụng đối với các khách hàng của ngân hàng được tiến hành rất hiệu quả, các doanh nghiệp chấp hành tốt những qui định của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản vay.

    Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng ngắn hạn năm 2001 là 618,000 USD, năm 2002 là 523,000 USD. Phần lợi nhuận này chiếm một phần lớn trong ngân hàng, là một trong ba mguồn thu của ngân hàng gồm: nguồn thu từ tiền gửi của ngân hàng tại ngân hàng khác, hoạt động thanh toán quốc tế, và lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Lợi nhuận từ tín dụng ngắn hạn trong năm 2002 giảm so với lợi nhuận trong năm 2001 là do trong năm 2002 lãi suất cho vay ngoại tệ trên thị trường biến động giảm.

    Dựa trên cơ sở qui định của ngân hàng nhà nước về các phương thức cho vay ngân hàng sẽ tiến hành thỏa thuận với khách hàng, tư vấn về các hình thức cho vay, và quyết định với khách hàng một hình thức phù hợp nhất. Qua các hồ sơ vay vốn của khách hàng thì hình thức vay vốn chủ yếu là hình thức “credit line” hay là hạn mức tín dụng, hình thức này có một đặc điểm là rất linh động trong quá trình vay vốn của khách hàng, các doanh nghiệp có thể vay vốn được nhiều lần, tuy nhiên tổng tín dụng tất cả các lần vay đều không vượt quá hạn mức tín dụng đã đề ra trong hợp đồng vay vốn, như vậy hình thức này sẽ không như hình thức vay vốn từng lần vay và trả phải đúng thời hạn qui định theo như hợp đồng, hình thức này khách hàng trong thời hạn một năm khách hàng có thể trả vốn bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian một năm đó, và khi trả bớt đi một phần vốn đó thì khi lúc nào cần nhu cầu về vốn trong khoảng thời gian năm đó khách hàng hoàn toàn có thể xin được vay tiếp miễn là sao cho tổng giá trị các lần mượn tối đa bằng với hạn mức tín dụng. Như vậy việc vay vốn sẽ rất thuận tiện cho hoạt động của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, vốn của doanh nghiệp được chu chuyển thường xuyên, khi ngân hàng thu được tiền thì doanh nghiệp sẽ chuyển trả lại cho ngân hàng tránh để tình trạng ứ đọng

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    do không hợp với qui định về thời hạn trả tiền như các hình thức vay tiền khác và từ đó tránh gây tổn thất cho doanh nghiệp.

    Ngoài ra ngân hàng còn tiến hành các dịch vụ đi kèm với hoạt động tín dụng ví dụ ngân hàng còn tiến hành thanh toán hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng, mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng, thực hiện thanh toán theo hóa đơn khi có nhu cầu của khách. Để thực hiện được điều này ngân hàng phải tăng cường đầu tư trang thiết bị công nghệ cơ sở vật chất. Và theo kinh nghiệm của ngân hàng thì vấn đề này là quan trọng sẽ sức hút mạnh đối với hoạt động tín dụng.

     

     

     

    So sánh

     

    Tài sản có

    Năm 2000

    Năm 2001

    năm 2001/2000

     

     

     

     

     

     

    Tiền gửi tai các

    23,586,425

    29,836,812

    6,250,387

     

    ngân hàng khác

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Đầu tư

    244,526

    240,093

    -4,433

     

    Cơ sở và thiết

    131,298

    131,862

    564

     

    bị

     

     

     

     

    Tài sản có khác

    567,959

    352,080

    -215,879

     

     

     

     

     

     

    Bảng2: Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng liên doanh Chohung vina

    Đơn vị: USD

    Nhìn lại cơ cấu vốn của ngân hàng như bảng trên thì ngân hàng đầu tư vào phần cơ sở vật chất trang thiết bị khá lớn, ngân hàng trang bị đầy đủ thiết bị máy vi tính, kết nối mạng cho các phòng. Trong năm 2002 ngân hàng đã tiến hành trang bị máy rút tiền tự động ATM để đáp ứng nhu cầu của khách.Tuy nhiên ta thấy phần tiền gửi ngân hàng khác chiếm tỉ lệ thị phần rất lớn vào năm 2000 tỉ lệ tiền gửi tại các ngân hàng khác là 23,586,425 chiếm khoảng 59.53% trên tổng số tài sản có, đến năm 2001 con số này là 29,836,812 chiếm 60.74% tổng tài sản có, như vậy ngân hàng còn dư thừa một lượng tiền khá lớn chưa phát huy được hiệu quả, thực ra

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    đây cũng là một đặc điểm riêng của ngân hàng liên doanh nước ta do có những ràng buộc trong qui định về pháp luật do đó việc cho vay vốn của ngân hàng liên doanh chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp.

    2.3.2. Đánh giá về thành tựu và những tồn tại của ngân hàng liên doanh Chohung vina

    2.3.2.1.Thành tựu

    Trong quá trình hoạt động tín dụng của ngân hàng thì một điểm nổi bật là chất lượng tín dụng khá cao, nợ quá hạn là bằng không. Điều này phản ánh quá trình cho vay của ngân hàng rất hiệu quả, thực tế chứng kiến quy trình cho vay của ngân hàng rất chặt chẽ, các cán bộ tín dụng có phẩm chất tốt, có năng lực, và đã chấp hành tốt các qui định trong quá trình cho vay vốn. Ngoài ra điều này cũng phản ánh hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, chấp hành tốt các qui định của ngân hàng.

    Trong những năm vừa qua ngân hàng đã cấp vốn tín dụng cho khá nhiều dự án trong các lĩnh vực khác nhau, ví dụ như cung cấp vốn cho công ty LGCable để sản xuất cáp điện; công ty LGIST để sản xuất tủ điện; trong lĩnh vực sản xuất thép có công ty VINAPIPE, công ty VPS(Vietnam Posco steel); trong lĩnh vực dệt có công ty dệt Pangrim; công ty sản xuất mì chính Miwon; công ty Duna Furniture sản xuất đồ gỗ… đóng góp rất lớn vào GDP, mở mang kĩ thuật, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.

    Ngoài ra ngân hàng liên doanh Chohung vina tạo ra một cầu nối thu hút luồng vốn của các doanh nghiệp Hàn quốc đầu tư trong nước, bởi vì xét về phía tâm lí nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào một nước nào đó thì cần phải xét xem là nước đó có ngân hàng của rnức họ chưa? Bởi vì nếu có ngân hàng nước họ thì sẽ thuận tiện hơn về mặt ngôn ngữ giao tiếp, cách thức thói quen, hơn nữa ngân hàng họ có những công nghệ hiện đại hơn, việc thanh toán với công ty mẹ dễ dàng hơn vì ngân hàng liên doanh cũng có những đường dây bên nước của họ. Trên thực tế, ngân hàng thương mại nước ta chưa thọc sâu vào đối tượng khách hàng này đó là về mặt thanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    toán quốc tế của ngân hàng nước ta còn kém, hiện nay ngoại trừ ngân hàng ngoại thương, các ngân hàng còn lại chưa đủ uy tín để thực hiện thanh toán quốc tế cho nên đối tượng khách hàng nước ngoài ở các ngân hàng này là rất ít, chủ yếu là do ngân hàng nước ngoài đảm nhiệm.

    Năm vừa qua ngân hàng liên doanh Chohung vina chịu một sức ép cạnh tranh của ngân hàng nước ngoài rất lớn, nhất là từ khi Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập ở nước ta rất nhiều, và để thu hút thị phần các ngân hàng thi nhau cạnh tranh lãi suất rất thấp nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình và chấp nhận lỗ những năm đầu, và trong thời gian đầu không ít những khách hàng của Chohung vina đã rời bỏ ngân hàng song qua một thời gian thì họ lại quay về ngân hàng vì họ đã cân nhắc rất kĩ những lợi ích mà họ nhận được. Ngân hàng Chohung vina không phải tham gia vào cuộc cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng nước ngoài mà họ vẫn thu hút được thị phần trên thị trường bởi vì họ tạo ra những tiện ích mà ngân hàng khác không có được, do đó trong những năm qua họ vẫn trụ vững, có lãi đều trong khi nhiều ngân hàng khác rơi vào thế lao đao.

    Ngân hàng Chohung vina thực hiện nghiêm chỉnh chính sách nhà nước, trong thời gian vừa qua ngân hàng đã nộp thuế lợi tức cho ngân sách nhà nước, mức thuế lợi tức bằng 25% lợi nhuận hàng năm, và mỗi năm dành 5% lãi ròng hàng năm để trích lập quĩ dự trữ bổ sung vốn điều lệ cho đến khi bằng với vốn điều lệ của ngân hàng; dành ra 5% lãi ròng hàng năm để thành lập quĩ trợ cấp thất nghiệp.

    Hơn nữa ở chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina đã có giám đốc điều hành là người Việt Nam, thông hiểu luật pháp, chịu trách nhiệm về chi nhánh đối với các đối tác và trụ sở chính, về điểm này ngân hàng liên doanh đã khắc phục được nhược điểm trước là người đứng đầu chi nhánh là người nước ngoài. Các nhân viên hoạt động trong chi nhánh rất có

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chuyên môn, kĩ thuật, học tập được nhiều kinh nghiệm và phong cách làm việc của nước ngoài.

    2.3.3.2.Tồn tại của ngân hàng

    Hiện nay việc huy động vốn nước ngoài để đầu tư tín dụng tại Việt Nam của ngân hàng liên doanh Chohung vina còn rất hạn chế. Ngoài số vốn huy động được từ các nhà đầu tư nước ngoài, ngân hàng chưa vay mượn trực tiếp từ thị trường vốn quốc tế để cho vay lại tại Việt Nam. Điều này cũng do một phần đối tác ngân hàng nước ngoài của ngân hàng Chohung vina mới chỉ là ngân hàng có tầm cỡ quốc gia, uy tín và kinh nghiệm hoạt động quốc tế còn hạn chế, mạng lưới hoạt động quốc tế còn nhỏ hẹp.

    Hơn nữa do mức vốn thấp, trong khi ngân hàng nước ngoài cũng không phải là ngân hàng lớn, nên ngân hàng liên doanh còn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng địa bàn hoạt động, ngân hàng chưa thu hút được nhiều nguồn đầu tư lớn, chưa vay được khoản vốn lớn từ quốc tế do đó ngân hàng liên doanh Chohung vina hoạt động chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn.

    Về mặt luật pháp, do việc lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đã dẫn đến việc đưa ra những qui định nhằm hạn chế phạm vi và nội dung hoạt động của các ngân hàng liên doanh. Ví dụ như qui định về vốn góp của một cổ đông nước ngoài tại ngân hàng liên doanh chỉ được phép nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Việt Nam. Do đó ngân hàng liên doanh cũng bị hạn chế trong nghiệp vụ huy động vốn, và mở rộng phạm vi cho vay đối với khách hàng.

    Số lượng khách hàng tín dụng của ngân hàng hiện nay chỉ khoảng 17 như vậy là tương đối ít do đó không phát huy được hết hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, điều này cũng do hạn chế của nhà nước muốn

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    giảm tính cạnh tranh trên thị trường cho các ngân hàng thương mại trong nước. Điều này có thể không có hiệu lực khi Việt Nam tham gia kí kết các hiệp định thương mại. Do đó ngân hàng thương mại nước ta nên sớm khắc phục những tồn tại của mình để đủ sức tự nâng cao khả năng cạnh tranh mà không cần nhờ, chờ ngân hàng nhà nước giúp cho một số lợi thế cạnh tranh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    (nghiên cứu từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh Chohung Vina)

    3.1. Những ảnh hưởng của xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Qua hơn 15 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, có được sự ổn định và tốc độ phát triển khá cao. Trước xu hướng quốc tế hiện nay là hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta đang mở rộng hội nhập cùng khu vực và quốc tế. Nước ta tham gia kí kết các hiệp định thương mại với các nước trên thế giới, tham gia vào tổ chức ASEAN, kí hiệp định thương mại với nước Mĩ và sắp sửa tiến tới gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới(WTO). Khi tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế thì nền kinh tế thị trường mỗi nước sẽ trở thành những sân chơi chung cho các quốc gia, thị trường tài chính mở rộng phạm vi hoạt động không biên giới.

    Giờ đây hầu hết các nước đang phát triển đều coi xu hướng hội nhập là con đường phát triển, qua đó có thể học hỏi kinh nghiệm các nước tiên tiến trên thế giới về thành tựu công nghệ, đẩy nhanh tiến trình phát triển nước mình, tuy nhiên cũng vừa làm sâu sắc thêm quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế, và dẫn đến hoạt động của các tổ chức kinh tế nước ta sẽ trở nên khó khăn hơn, cho nên hơn bao giờ hết các tổ chức kinh tế phải tìm ra những giải pháp nâng cao nội lực của chính mình.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Điều này đã được nhận rõ qua đường lối chính sách của Đảng Nhà nước trong những năm vừa qua trong việc nỗ lực tìm kiếm các đường đi nhằm đẩy mạnh sức mạnh của các tổ chức kinh tế nước ta nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế.

    Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, vấn đề nâng cao sức mạnh cạnh tranh cho các ngân hàng thương mại quốc doanh nước ta còn đặc biệt quan trọng hơn vì hoạt động ngân hàng là hoạt động huyết mạch của một quốc gia, quyết định vận mệnh của một quốc gia. Khi tham gia hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài là không tránh khỏi. Yêu cầu của hội nhập là phải bình đẳng giữa các thành phần kinh tế không phân biệt các quốc gia khác nhau.

    Trước tình hình đó ngân hàng thương mại Việt Nam phải nhanh chóng đổi mới hoạt động của mình nâng cao sức mạnh của chính mình thì mới mong trụ vững trong nền kinh tế. Trên thực tế trong những năm vừa qua tỉ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại nước ta còn ở mức rất cao như bảng sau

    Bảng 5: Tình hình nợ quá hạn ở ngân hàng thương mại Nhà nước năm 1991-2001

    Năm

    91

    92

    93

    94

    95

    96

    97

    98

    99

    2000

    2001

    Tỉ lệ

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    NQH

    19.7

    13.7

    11.1

    6.0

    7.8

    9.3

    12.3

    13.1

    13.7

    12.78

    8.53

    /TSC

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    (Theo tài liệu khoa học đào tạo ngân hàng số 2/2003)

    Với một tỉ lệ xấu cao như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới tình hình hoạt động trong ngân hàng. Ngoài hậu quả của nó là ngân hàng có thể sẽ mất vốn, mà hơn nữa nó còn làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và quốc tế, ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, điều này có thể so sánh như trên thị trường chứng khoán, các công ty cổ phần có uy tín thì giá cổ phiếu của công ty đó sẽ cao hơn, công ty có khả năng huy động được nhiều vốn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nếu công ty nào mà bị giảm uy tín thì sẽ rất khó khăn trong hoạt động huy động vốn, hơn nữa đối tượng kinh doanh của ngân hàng đó là tiền tệ, do đó hoạt động của ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào lòng tin của khách hàng. Do đó việc tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng là điều quan trọng hiện nay của ngân hàng.

    Một trong những mục tiêu của việc thành lập ngân hàng liên doanh, hay ngân hàng nước ngoài ở nước ta là để nhằm học hỏi kinh nghiệm của họ, đặc biệt là những ngân hàng nước phát triển, bởi vì những nước phát triển hoạt động ngân hàng họ có một quá trình phát triển ngân hàng rất lâu so với ngân hàng nước ta do đó họ cũng tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong hoạt động của mình. Do đó việc học hỏi kinh nghiệm và áp dụng linh hoạt vào hoạt động của ngân hàng nước mình là điều rất cần thiết, và đây cũng không phải là điều mới mẻ đối với nước ta trong những năm qua.

    Ngân hàng Chohung vina là ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước Hàn Quốc, mà Hàn Quốc cũng là một nước có nền tài chính phát triển mạnh, và có những đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện địa lí, kinh tế xã hội và đã nhiều quan hệ với Việt Nam trong những năm qua.

    3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại nước ta rút ra từ quá trình nghiên cứu

    ngân hàng Chohung vina

    3.2.1. Đối với quá trình thẩm định đối với các dự án xin vay vốn.

    Đối với một hợp đồng tín dụng, khâu thẩm định là một bước rất quan trọng. Có thể nói, thẩm định toàn diện mọi nội dung của dự án là một trong

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    những yêu cầu quan trọng nhất giúp cho việc ra quyết định đầu tư của ngân hàng được chính xác đảm bảo tính khoa học, khách quan. Để được vay vốn, khách hàng phải giải trình dự án kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình với cán bộ tín dụng. Nội dung của công tác thẩm định nhằm khẳng định 2 vấn đề:

    Một là, phương án phải thoả mãn các điều kiện, nguyên tắc cho vay theo thể lệ chế độ quy định cụ thể đối với các khoản vay đó để có thể thu hồi được nợ gốc và lãi đúng hạn.

    Hai là, hồ sơ và thủ tục vay vốn phải đầy đủ hợp pháp, hợp lệ, nếu xảy ra tranh chấp thì phải đảm bảo tính pháp lý cho ngân hàng.

    Quá trình thẩm định dự án là bước nhằm để đưa ra quyết định cho vay hay không, như vậy thì ngân hàng phải kiểm tra hai điều từ hồ sơ và thủ tục vay vốn ở doanh nghiệp ; thứ nhất là tính chính xác của thông tin cấp cho ngân hàng, bước này đòi hỏi ngân hàng phải có trình độ phân tích và quan sát, tổng hợp các số liệu và tìm hiểu kĩ càng; thứ hai là kiểm tra tính khả thi của dự án mang lại, bước này nhằm để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi hoàn thành dự án.

    Nói chung trong hai bước kể trên thì bước thứ nhất ngân hàng liên doanh Chohung vina làm khá tốt. Trước một hồ sơ xin vay ngân hàng liên doanh yêu cầu doanh nghiệp phải nói rõ mục đích mà doanh nghiệp vay mượn, và kiểm tra tính chính xác của mục đích đó. Ví dụ doanh nghiệp muốn vay để mua nguyên vật liệu thì doanh nghiệp phải trình hóa đơn mua hàng của mình ra, mua của ai, số tiền phải trả là bao nhiêu? Sau khi kiểm tra chính xác các thông tin đó ngân hàng sẽ tự chuyển đến cho tài khoản của người bán. Như vậy đương nhiên quá trình trở nên rất chặt chẽ và hiệu quả. Đây là bước rất quan trọng đối với một dự án vay vốn, vì nếu doanh nghiệp vay vốn để sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì ắt sẽ có nguồn thu về sau này và sẽ có khả năng thanh toán cho ngân hàng, còn trong trường hợp mà do ảnh hưởng của những nguyên nhân khách quan đem lại, doanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nghiệp làm ăn thua lỗ ngân hàng nên xem xét gia hạn nợ cho doanh nghiệp, để có thể giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thực hiện đúng chức năng của một ngân hàng chân chính. Ngoài ra ngân hàng cần phải tiến hành thẩm định các bước như sau

    • Thẩm định về phương diện thị trường: Phân tích khả năng tiêu thụ sản phẩm, giá cả, quy cách phẩm chất, mẫu mã thị hiếu của người tiêu dùng. Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm về số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn và phương thức thanh toán.
    • Thẩm định tính khả thi của dự án về nội dung kinh tế tài chính: Đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn các dự án đầu tư. Ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu tài chính đơn giản như: lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn, điểm hoà vốn… hoặc phân tích tính khả thi của dự án bằng phương pháp giá trị hiện tại, tỷ suất hoàn vốn nội bộ để xem xét độ nhậy bén của dự án. Nguồn trả nợ sẽ là tốt nhất nếu thu được từ dự án nhưng ngân hàng cũng nên tính đến khả năng trong thời gian đầu khi dự án chưa thu đựơc lợi nhuận thì doanh nghiệp có nguồn thu nào khác bù vào không.

    Ngoài ra còn thẩm định về môi trường xã hội, phương án tổ chức thực hiện, phương diện tổ chức quản lý…

    Đây cũng là những bước rất quan trọng của dự án song nó cũng chỉ có

    • nghĩa về mặt lý thuyết, còn trên thực tế còn có rất nhiều yếu tố khách quan tác động tới hoạt động của doanh nghiệp, do đó trong quá trình cho

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vay ngân hàng thường xuyên phải xuống thực tế của doanh nghiệp kiểm tra cụ thể.

    Điều này ngân hàng liên doanh Chohung vina làm khá tốt cũng do một mặt địa bàn hoạt động của chi nhánh tương đối hẹp, chỉ xung quanh mấy tỉnh phía bắc như Hà nội, Hải phòng, Quảng ninh, Thái Nguyên và khách hàng của ngân hàng là 17 doanh nghiệp, tuy nhiên đây chỉ xét là một chi nhánh liên doanh hoạt động nên ta không thể so sánh với các ngân hàng thương mại lớn khác.

    Còn ngân hàng thương mại nước ta hiện nay thì sao, do khối lượng khách hàng doanh nghiệp vay vốn là khá lớn dẫn đến tình trạng quá tải của các cán bộ tín dụng dẫn đến việc thẩm định dự án cho vay sẽ bị bỏ sót. Rút kinh nghiệm từ hoạt động ngân hàng liên doanh Chohung vina, ta nên học tập cách tổ chức của họ, lấy chất lượng tín dụng làm mục tiêu hàng đầu, đồng thời mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng địa bàn thì phải có sự phân bố hợp lí chi nhánh hoạt động trên địa bàn, nhằm có thể tiện lợi cho quá trình đi thực tế kiểm tra của cán bộ tín dụng.

    Đối với việc quá tải công việc của cán bộ tín dụng như hiện nay cần phải có chính sách tuyển thêm người, đào tạo nâng cao trình độ của các cán bộ tín dụng, giảm thiểu bớt những qui trình công đoạn không hợp lí, cần phải đi sâu vào trọng tâm. Ví dụ như: trong các khách hàng vay vốn trung dài hạn của ngân hàng chủ yếu là khách hàng truyền thống và khách hàng lâu dài từ trước đã tham gia vay vốn ngắn hạn của ngân hàng. Vì vậy giữa bộ hồ sơ vay vốn trung dài hạn với bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn có hai điểm trùng nhau đó là: Báo cáo thực trạng tài chính của doanh nghiệp, báo cáo quyết toán của doanh nghiệp kế tiếp hai năm trước. Do đó, ngân hàng có thể đơn giản hai thủ tục này khi mà doanh nghiệp chưa có đủ thì hoàn toàn có thể áp dụng dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn: vì trong nghiệp vụ vay vốn ngắn hạn, cán bộ tín dụng vẫn phải thường xuyên kiểm tra tình hình tài

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên việc dựa vào bộ hồ sơ vay vốn ngắn hạn chỉ thường dùng cho các doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, còn đối với đơn vị lần đầu thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục. Việc đơn giản hóa như vậy sẽ làm khách hàng không ngần ngại khi đặt quan hệ vay vốn với ngân hàng. Việc các thủ tục xét duyệt đơn giản cũng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng điều tra có trọng điểm, không mất thời gian tìm hiểu quá lâu. Đơn giản không có nghĩa là qua loa, hời hợt đó là nguyên tắc của ngân hàng trước khi điều tra cho vay.

    3.2.2.Về hình thức tín dụng của ngân hàng

    Ngân hàng nên thỏa thuận với doanh nghiệp về hình thức vay vốn. Hiện nay, theo Quyết định số 217/ 2002/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 thì tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay theo các phương thức:

    • Cho vay từng lần.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng .
    • Cho vay theo dự án đầu tư.
    • Cho vay hợp vốn.
    • Cho vay trả góp.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
    • Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng .
    • Cho vay theo hạn mức thấu chi.
    • Theo các phương thức cho vay khác mà pháp luật Việt Nam không cấm, phù hợp với qui định tại Qui chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.

    Khi tiến hành cho vay vốn ngân hàng liên doanh cùng khách hàng thỏa thuận về hình thức cho vay, ngân hàng liên doanh Chohung vina thực hiện tư vấn cho khách hàng về các hình thức vay vốn trên cơ sở đó khách hàng quyết định hình thức vay vốn của mình. Trong các phương thức cho

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vay của ngân hàng Chohung vina, thì hình thức chủ yếu mà ngân hàng cùng khách hàng thỏa thuận là hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng, hình thức này phù hợp với tín dụng ngắn hạn, tiện lợi cho khách hàng trong quá trình sử dụng vốn và thanh toán vốn cho ngân hàng. Tuy nhiên hình thức này cũng đòi hỏi ngân hàng cần phải quan sát tình hình của doanh nghiệp chặt chẽ hơn, các hoạt động của khách hàng thì ngân hàng cần phải nắm bắt, điều này cũng trở nên dễ dàng nếu như doanh nghiệp hoạt động thanh toán qua tài khoản của mình tại ngân hàng, và ngân hàng thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.

    Đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta cũng vậy ngân hàng cần phải có những hình thức tín dụng trên cơ sở thỏa thuận, có thể thiết kế các hình thức tín dụng độc đáo nhưng phải dựa trên lợi ích của doanh nghiệp, như vậy ngân hàng mới có thể thu hút được khách hàng đến với ngân hàng mình, đã qua lâu rồi thời kì ngân hàng độc quyền trong kinh doanh nên có thể áp đặt hình thức vay mượn cho doanh nghiệp mà giờ đây phải coi khách hàng mình là thượng đế, phải phục vụ khách hàng theo nhu cầu của họ mới mong giữ được khách hàng của mình trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay.

    Trên thực tế thì hình thức tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế khá đơn điệu, chủ yếu là tín dụng theo dự án đầu tư trong khi đó mỗi khách hàng có đặc điểm riêng về sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn các thời kỳ, mức độ tín nhiệm trong quan hệ tín dụng cho nên nếu ngân hàng chỉ áp dụng hình thức tín dụng cố định thì có thể gây bất tiện cho ngân hàng, cho khách hàng phải tốn công sức và chi phí hơn nữa mỗi khi cần vay vốn lại không giải quyết kịp thời với nhu cầu vốn. Do vậy, ngân hàng nên tìm ra những phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay mà vẫn đảm bảo khả năng kiểm tra giám sát việc sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Trong thực tế có những khách hàng sau khi được thay đổi phương thức cho vay kịp thời đã hoạt động có hiệu quả hơn, thanh toán

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    được một phần nợ cũ. Như vậy việc áp dụng các phương thức cho vay đối với nhiều phương án kinh doanh khác của một khách hàng cũng có thể coi là biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng.

    3.2.3. Đa dạng và phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng:

    Đây là một yếu tố rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng hiện nay. Theo quan điểm hiện đại thì một ngân hàng kinh doanh hiệu quả không phải thể hiện ở số lượng tín dụng mà ngân hàng đó cung cấp ra thị trường mà là ở tính đa dạng sản phẩm ngân hàng, do đó thu nhập của ngân hàng không phải chủ yếu tập trung ở hoạt động tín dụng. Điều này hoàn toàn có thực, trên thực tế một doanh nghiệp khi lựa chọn vay vốn ở đâu thì họ phải cân nhắc về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng có thuận tiện hơn ngân hàng khác không, bởi vì ngoài muốn vay vốn ngân hàng doanh nghiệp còn muốn hưởng thêm các dịch vụ khác chứ không chỉ đắn đo về mức lãi suất cho vay mà ngân hàng đưa ra, trên thực tế doanh nghiệp chấp nhận một hình thức lãi suất cao hơn một chút nhưng bù lại doanh nghiệp được tiện ích hơn trong các hoạt động thanh toán sau này.

    Bởi thế cho nên, trong thời gian qua trên thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng nước ngoài mới vào Việt Nam, các ngân hàng này thi nhau hạ mức lãi suất xuống rất thấp để thu hút khách hàng về phía mình, chấp nhận chịu lỗ trong thời gian đầu, trong khi đó ngân hàng liên doanh Chohung vina vẫn không cần phải hạ mức lãi suất xuống mà khách hàng của ngân hàng không rời bỏ bởi vì họ căn cứ vào những lợi ích do ngân hàng đem lại nhiều hơn.

    Điều này cũng phản ánh một thực trạng là hiện nay tại sao các ngân hàng thương mại nước ta chưa thọc sâu vào các đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp nước ngoài này, bởi lẽ các ngân hàng chưa chú ý tới những sản phẩm dịch vụ đi kèm khoản tín dụng. Có thể chấp nhận được không khi một ngân hàng cung cấp hàng trăm tỉ đồng vốn tín dụng ra thị trường mà không thực hiện thanh toán được L/C, việc thực hiện thanh toán

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    này cần có uy tín trên thị trường quốc tế, điều này tương đối khó khăn cho ngân hàng thương mại nước ta bởi vì hiện nay tỉ lệ nợ xấu trong ngân hàng vẫn rất cao, tỉ lệ an toàn vốn thấp so với thế giới, do đó trong vấn đề này ngành ngân hàng nước ta cần phải phối hợp với những ngân hàng lớn khác trên thế giới để nhằm có thể mở rộng nghiệp vụ thanh toán của mình.

    3.2.4. Nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ tín dụng

    Yếu tố con người đóng một vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng sau này. Các cán bộ tín dụng trước hết phải có phẩm chất đạo đức tốt, luôn đặt lợi ích của tập thể ngân hàng lên trên lợi ích cá nhân, một cán bộ như thế sẽ nhìn mọi sự việc bằng con mắt trí công vô tư. Thực tế đã chứng minh không ít những vụ án đã xảy ra ở Việt Nam vừa qua xuất phát từ những cán bộ tín dụng vì lòng tham ăn hối lộ dẫn đến không xuy xét cẩn thận tiếp tay cho những kẻ xấu lừa đảo và làm thiệt hại vốn tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên đi đôi với phẩm chất đạo đức thì cán bộ tín dụng cần phải có một trình độ chuyên môn, có óc nhận xét, quan sát.

    Tất cả các yêu cầu đó đối với một cán bộ tín dụng dường như là quá nhiều, một cán bộ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể có đầy đủ những yếu tố đó. Vì vậy ngân hàng cần phải kế hoạch hóa công tác đào tạo cán bộ, sớm thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ tín dụng, đưa việc nâng cao trình độ trở thành mục tiêu phấn đấu và làm việc thường xuyên. Công tác đào tạo cần tập trung theo trọng điểm và đào tạo một cách toàn diện để thực sự có những cán bộ có đủ năng lực và hiểu biết phục vụ yêu cầu công tác kinh doanh, tránh đào tạo tràn lan, lãng phí.

    Ưu tiên đào tạo cán bộ chủ chốt trước, sau đó đào tạo những cán bộ kế cận, có năng lực và phẩm chất đạo đức .

    Để nâng cao trình độ cho các cán bộ tín dụng, ngân hàng nên tổ chức những lớp tập huấn đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức nghiệp vụ trong cơ chế thị trường cho các cán bộ quá lâu trong thời kỳ bao cấp; cho các cán bộ có năng lực đi học tập ở nước ngoài; tuyển chọn những cán bộ trẻ tuổi có

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    năng lực thực sự am hiểu về kinh tế thị trường chuẩn bị cho đội ngũ kế cận. Ngân hàng có thể tạo điều kiện thuận lợi về giờ giấc, học phí … để giúp cán bộ tham gia các lớp học để nâng cao trình độ. Trong công tác đào tạo này, ngân hàng nên chú trọng chất lượng hơn là số lượng. Các lớp tập huấn kiến thức chung lại ngân hàng không nên tổ chức tại hội trường lớn – nơi mà ai cũng có thể làm việc riêng của người ấy mà nên tổ chức thành các lớp nhỏ với số lượng khoảng trên dưới 10 học viên. Cán bộ sau khi được ngân hàng cử đi học cũng phải chịu trách nhiệm cụ thể tránh căn bệnh hình thức, ngân hàng bỏ tiền cho cán bộ đi học những sau khi kết thúc khóa học lại không mang lại hiệu quả trong công việc.

    3.2.5. Tăng cường hoạt động Marketing ngân hàng và áp dụng chính sách khách hàng hợp lý.

    Chính sách khách hàng: các ngân hàng nên xây dựng chính sách khách hàng lâu dài, ngân hàng và khách hàng luôn gắn bó với nhau, mối quan hệ này luôn tồn tại khách quan, bổ sung và tạo điều kiện cho nhau

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    cùng phát triển. Cần thiết phải đánh giá cao khách hàng truyền thống, có uy tín và mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới.

    Khách hàng truyền thống là khách hàng gắn bó với ngân hàng cả về thời gian và nội dung hoạt động, có cả quá trình lịch sử, hiện tại và tương lai, gắn liền với ngân hàng từ những ngày đầu đến nay. Đối với khách hàng có uy tín điều dễ nhận thấy là đều thực hiện tốt việc vay mượn, trả nợ sòng phẳng, có trách nhiệm với đồng vốn, sử dụng vốn có hiệu quả và có lãi. Vì vậy với đối tượng này, ngân hàng phải hết sức quan tâm gắn hoạt động khách hàng với ngân hàng, thẩm định và đầu tư kịp thời các dự án có hiệu quả. Cần xây dựng trong lòng khách hàng này hình ảnh ngân hàng luôn gần gũi và hỗ trợ kịp thời để sản xuất nhiều sản phẩm có chất lượng cao cho xã hội. Có chính sách lãi suất hợp lý, ưu đãi đối với các doanh nghiệp có số dư tiền vay lớn và không có nợ quá hạn.

    Mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới.

    Tích cực bằng mọi biện pháp để thu hút khách hàng thuộc khu vực Nhà nước để cho vay khép kín cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn với chu trình sản xuất, đồng thời thiết lập và nâng cao hiệu quả xử lý thông tin tín dụng. Ngân hàng cũng cần quan tâm đến những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bởi đây là một lực lượng khách hàng tiềm năng đang ngày càng lớn mạnh, những dự án của các doanh nghiệp này vừa có tính khả thi cao, thiết thực với đời sống lại đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Với những khách hàng mới, việc cung cấp tín dụng sẽ có phần nào khó khăn hơn, tính rủi ro cao hơn nên ngân hàng cần chú ý.

    Thông qua xây dựng chiến lược khách hàng, ngân hàng có thể tiến hành quản lý khách hàng một cách sát thực hơn, chính xác hơn. Nhờ đó có thể chủ động trực tiếp tham gia vào những dự án mới của doanh nghiệp từ đầu, không phải đợi đến lúc doanh nghiệp tự mang dự án đến xin vay đồng thời ngân hàng qua đó cũng nắm rõ dự án hơn, giúp cho hoạt động tín dụng hiệu quả hơn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    3.3. Một số giải pháp khác.

    3.3.1. Tăng cường hoạt động huy động vốn

    Đối với chi nhánh ngân hàng liên doanh Chohung vina thì nghiệp vụ huy động vốn bị hạn chế bởi chính sách của nhà nước nhằm hạn chế khả năng huy động của ngân hàng liên doanh do đó dẫn đến khả năng mở rộng qui mô cho vay của ngân hàng cũng bị thu hẹp lại. Tuy nhiên đối với hệ thống ngân hàng thương mại nước ta thì cần phải tăng cường huy động vốn trên thị trường nhằm mở rộng khả năng cho vay của ngân hàng.

    Đối với ngân hàng, khách hàng là đối tượng quan trọng trong chiến lược huy động vốn, họ đến với ngân hàng để gửi tiền và mở tài khoản với nhiều mục đích khác nhau, vì vậy có thể chia thành hai loại: Khách hàng thường xuyên và khách hàng không thường xuyên. Từ đó ngân hàng có đối sách thích hợp.

    Huy động tiền gửi:

    Khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ. Đối tượng này khi mở tài khoản tiền gửi hoặc tiền vay với mục đích chính là phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi, được sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Trên thực tế, tổng số nguồn vốn của các ngân hàng thương mại nước ta thì vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có tỷ trọng còn thấp (< 25%). Do đó ngân hàng cần phải tiến hành các biện pháp để tăng lượng tiền gửi trong ngân hàng mình lên:

    • Tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng để các doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi và sử dụng tiền mặt một cách linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp để chi trả phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Có chính sách ưu đãi về lãi suất (lãi suất huy động và cho vay) đối với các doanh nghiệ Vì lãi suất là công cụ tác động mạnh đến việc khách hàng quyết định đặt giao dịch với ngân hàng hay không. Ngân hàng phải dành cho doanh nghiệp những điều kiện phục vụ thuận lợi như: không thu phí chuyển tiền, phí mở séc bảo chi, phí mở L/C…. Thay vào đó ngân hàng không phải trả lãi cho loại tiền gửi để thực hiện các dịch vụ này.
    • Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi những biến động trên tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp để rút ra những quy luật vận động của đồng vốn và giúp doanh nghiệp sử dụng tốt số dư trên tài khoản tiền gửi ở ngân hàng.

    Khách hàng là các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp, các tổ chức đoàn thể: loại khách hàng này vốn hoạt động chủ yếu là do Ngân sách Nhà nước cấp, tuy nhiên trong pháp lý được Nhà nước cho phép những khoản tiền không có nguồn gốc từ ngân sách như tiền cho thuê mặt bằng… Các khoản tiền này sẽ gửi ở Ngân hàng dưới hình thức tài khoản chuyên dùng. Mục đích của đối tượng khách hàng này là gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi. Ngân hàng nên khai thác tốt nguồn vốn này, tạo điều kiện cho các cơ quan đơn vị gửi và sử dụng tiền gửi.

    Huy động tiết kiệm

    Khách hàng thuộc tầng lớp dân cư: khi nền kinh tế tăng trưởng, các tầng lớp dân cư có nguồn thu nhập dưới hình thức tiền tệ ngày càng tăng. Loại thu nhập này được phân tán ở các hộ dân cư trong toàn xã hội. Theo đánh giá của ngân hàng Nhà nước và WB thì đây là nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi nhất, không những bằng nội tệ mà còn bằng cả ngoại tệ, để thu hút được nguồn vốn quan trọng này, ngân hàng cần có những biện pháp thích hợp

    • Đa dạng hoá các loại hình tiền gửi với nhiều kỳ hạn khác nhau mang tính linh hoạ Kèm theo những loại tiền gửi này là những hình thức khuyến khích hấp dẫn đối với khách hàng.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    • Ngân hàng cần có những đại lý để thu hút tiền gửi của cán bộ, công nhân viên chức ở cơ quan xí nghiệp, ở những thời điểm tập trung dân cư chưa có ngân hàng và các quỹ tiết kiệm hoạt độ
    • Ngoài ra ngân hàng có thể bố trí khoa học giờ làm việc để giao dịch với các khách hàng một cách thuận lợi hơ Trong khả năng và điều kiện cho phép có thể làm việc cả ngày và ngoài giờ vì thời gian này sẽ thu hút được khách hàng bận việc đến giao dịch với ngân hàng.

    Ngân hàng còn có thể trường chứng khoán, vay trên

    huy động vốn thông qua việc tham gia thị thị trường liên ngân hàng …

    3.3.2. Đa dạng hoá các đối tượng cho vay.

    Đa dạng hóa đối tượng cho vay là một hình thức phân chia rủi ro trên thị trường.

    Hiện nay nền kinh tế thị trường nước ta phát triển, các loại hình doanh nghiệp đa dạng về các loại hình sở hữu. Chủ trương chính sách của Chính phủ nước ta là tiến tới bình đẳng về pháp luật của tất cả mọi loại hình kinh tế, do đó số lượng doanh nghiệp nước ta được thành lập ngày càng tăng tham gia vào tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, do đó nhu cầu về vốn luôn cần được đáp ứng. Khi nền kinh tế phát triển hơn thì các doanh nghiệp sẽ hoạt động ổn định hơn, cơ chế thị trường sẽ tự chọn lọc các doanh nghiệp làm ăn chân chính và có hiệu quả, loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn yếu kém và lúc đó sẽ giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay ngân hàng thương mại nước ta nên mở rộng thị phần hoạt động của mình, vừa giúp tăng lợi nhuận trong ngân hàng, vừa giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực hoạt động, tăng sức cạnh tranh.

    Đối với doanh nghiệp Nhà nước

    Hiện nay đối tượng chính thức được ngân hàng cho vay vốn là các doanh nghiệp Nhà nước. Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư cho các các doanh

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nghiệp làm ăn có hiệu quả, quan tâm tới các doanh nghiệp truyền thống đồng thời giúp các doanh nghiệp tạm thời khó khăn có điều kiện vươn lên sản xuất kinh doanh có lãi.

    • Ngân hàng cần bám sát tình hình tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư theo đúng ngành nghề kinh doanh đã đăng ký. Nắm vững tình hình tài chính, kinh doanh của doanh nghiệp, các báo cáo này phải được kiểm tra kỹ lưỡng, kể cả yêu cầu doanh nghiệp thực hiện kiểm toán theo quy đị Đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính khả quan, có hướng phát triển đúng đắn, có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh Ngân hàng cần đầu tư và có thể mở rộng quy mô đầu tư vốn.
    • Ngân hàng cần chủ động nắm vững tình hình các doanh nghiệp nằm trong kế hoạch cổ phần hoá để xác định hướng cho vay phù hợ
    • Hạn chế việc đầu tư cho các doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Đối với những doanh nghiệp tình hình tài chính không lành mạnh, sản phẩm cạnh tranh kém… có thể đình chỉ cho vay, hạ dư nợ đến mức cần thiế

    Tăng cường cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

    Đa dạng hoá các loại hình cho vay nghĩa là vốn tín dụng của ngân hàng sẽ thâm nhập vào nhiều khách hàng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, cả tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn. Việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hiện nay cũng rất quan trọng.

    Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực mới thực sự đi vào hoạt động trong 10 năm trở lại đây. Quy mô của các doanh nghiệp thuộc loại này là không lớn nhưng đây là khu vực kinh tế rất năng động và tỏ ra có tiềm năng trong những năm tới. Trong những năm qua các ngân hàng chưa thực sự quan tâm tới khu vực kinh tế này, nó thể hiện ở doanh số cho vay nhỏ bé, dư nợ < 12% trong tổng số dư nợ của ngân hàng. Các doanh nghiệp

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    này được vay vốn bao gồm các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các cơ sở kinh doanh được Nhà nước công nhận. Đối với các đơn vị này, ngân hàng chủ yếu cho vay vốn ngắn hạn chưa mạnh dạn cho vay trung và dài hạn mặc dù nhu cầu về vốn trung hạn và dài hạn của họ là rất lớn. Trong những năm tới, khu vực kinh tế này được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển cả về lĩnh vực hoạt động cũng như quy mô, thêm vào đó với sự khuyến khích và tăng cường công tác cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước do đó nó sẽ trở thành thị trường cho vay đầy tiềm năng đối với các ngân hàng thương mại.

    Muốn khai thác tốt thị trường kinh doanh mới mẻ này ngân hàng phải luôn theo sát sự biến động của và nhu cầu về vốn của các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực này, tăng cường tiếp cận đối với các đơn vị đó thông qua các hình thức tiếp xúc như hội nghị khách hàng, giới thiệu các sản phẩm tín dụng của ngân hàng qua phương tiện thông tin đại chúng. Để các khoản vay đối với các doanh nghiệp này thực sự có chất lượng, ngân hàng cũng nên thay đổi một số quan điểm về việc cho vay và không nên coi tài sản bảo đảm là chỗ dựa an toàn cho số tiền vay phát ra, là một công cụ duy nhất để bảo đảm việc thu hồi nợ mà phải xác định tư cách người vay cũng như việc doanh nghiệp đó sử dụng vốn vay đó như thế nào, khả năng trả nợ đó ra sao. Bởi vì tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh chỉ là cơ sở để ngân hàng thương mại có khả năng thu hồi nợ vay khi doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ, song không phải tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nào cũng dễ bán ra một cách kịp thời. Thực chất việc thu nợ bằng tài sản bảo đảm của khách hàng chẳng phải là một giải pháp tốt mà đó chỉ là một giải pháp tình thế, bắt buộc và khả năng thu hồi các khoản nợ từ việc phát mại tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh cũng rất khó khăn, thực chất đã chứng minh rằng thu nợ bằng tài sản xiết nợ đang là gánh nặng khi xử lý nợ của các ngân hàng thương mại. Việc quan trọng nhất khi xét duyệt hồ sơ tín dụng của các doanh nghiệp vay vốn là các cán bộ tín dụng phải xác định được thực lực tài chính của đơn vị đi vay, xác định được hiệu quả của dự

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    án mà đơn vị đó đã thực hiện. Điều này cũng đòi hỏi các cán bộ phải quan tâm nhiều hơn đến việc thẩm định tính hiệu quả của dự án của các doanh nghiệp thuộc các đơn vị kinh tế của Nhà nước.

    3.3.3. Tích cực xử lý nợ quá hạn.

    Để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, song song với việc thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế phát sinh nợ quá hạn mới thì việc xử lý các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi đang tồn đọng là điều rất quan trọng.

    Việc đầu tiên là phải phân tích từng loại nợ quá hạn, nợ khó đòi để tìm hiểu rõ nguyên nhân phát sinh, trên cơ sở đó phân thành nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi mà phải xử lý bằng tài sản thế chấp.

    Nghị định 178/NĐ-CP về khả năng phát mại tài sản đã tạo thuận lợi, tăng tính chủ động rất lớn trong việc xử lý tài sản thế chấp, cầm cố cho ngân hàng, tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc phát mại tài sản thường gặp khó khăn do số tiền phát mãi nhỏ hơn vốn cần cần phải thu hồi, thời gian phát mãi dài, nhiều chi phí phát sinh, thậm chí là không phát mãi được, trong những trường hợp này, ngân hàng nên:

    • Hoặc dùng tài sản để cho thuê và trực tiếp đứng ra thu tiền.
    • Dùng tài sản đó làm vốn góp liên doanh.
    • Liên hệ với ngân hàng khác có nhiều tài sản thế chấp thuận lợi

    Nợ quá hạn là điều không ai muốn xảy ra, nhất là cán bộ tín dụng. Song nếu đã xảy ra thì ngân hàng nên có biện pháp tích cực để thu hồi nợ về, tránh rủi ro xảy ra. Thực tế trong thời gian qua công tác thu hồi nợ còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với nợ quá hạn, chủ yếu vẫn dùng các biệp pháp khoanh nợ, gia hạn nợ…Để giảm thấp nợ quá hạn trong thời gian tới, các ngân hàng nên chú trọng hơn nữa công tác này. Bên cạnh đó như đã đề cập, để hạn chế nợ quá hạn mới tiếp tục phát sinh ngân hàng cần có biện pháp thẩm định và giám sát các món vay chặt chẽ hơn, phát hiện sớm những dấu

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    hiệu chủ yếu của nợ quá hạn để có biện pháp xử lý phù hợp. Những dấu hiệu của nợ quá hạn thường là:

    • Sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thu hẹp biểu hiện qua doanh số bán hàng thấp hơn doanh số cho vay, dư nợ không giảm.
    • Các khoản công nợ trong thanh toán của doanh nghiệp lớn và tồn đọng lâu dài, không giải quyết được dẫn tới đơn vị thiếu vốn hoạt động làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng.
    • Tồn kho hàng hoá tương đối lớn và trong thời gian dài do không tiêu thụ được vì chất lượng kém hoặc do sự cạnh tranh giảm giá với sản phẩm cùng loại trên thị trường.
    • Tiền lãi hàng tháng doanh nghiệp không trả đều đặn như theo hợp đồng tín dụng đã kí với ngân hàng, có tình trạng nợ lãi.
    • Số dư trên tài khoản tiền gửi, thanh toán ở ngân hàng giảm sút, xuất hiện tình trạng phát hành séc quá số dư.
    • Đơn vị trì hoãn việc nộp các báo cáo tài chính.

    3.3.4. Thực hiện bảo hiểm tín dụng.

    Bảo hiểm tín dụng là việc bảo hiểm số vốn tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng vay, bảo hiểm tài sản mà người vay đem thế chấp cho ngân hàng. Có các hình thức bảo hiểm phổ biến sau:

    Khách hàng vay vốn mua bảo hiểm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Trong trường hợp này họ đã bảo hiểm gián tiếp cho vốn ngân hàng vì họ sẽ có nguồn thu khi gặp rủi ro trong kinh doanh và có thể dùng nguồn vốn đó để thanh toán nợ ngân hàng. Phương pháp này không làm ngân hàng phát sinh thêm nghiệp vụ và chi phí mà cũng khá an toàn. Do đó ngân hàng nên khuyến khích cách này bằng việc xem xét ưu đãi cho vay đối với khách hàng có mua bảo hiểm.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng hình thành các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại do không thu hồi hết nợ quá hạn, từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà không làm xáo động tình hình tài chính. Mặc dù ngân hàng có thể lấy vốn tự có để bù đắp những thiệt hại rủi ro, nhưng vốn tự có thường là rất nhỏ và thường là cơ sở huy động vốn nên việc hình thành quỹ dự phòng luôn là cần thiết. Trong quá trình trích lập các quỹ dự phòng vấn đề cần được giải quyết thoả đáng là quỹ dự phòng sẽ trích từ nguồn nào và trích như thế nào để vừa phản ánh được đúng kết quả kinh doanh vừa nâng cao chất lượng của ngân hàng.

    Ngân hàng mua bảo hiểm của các tổ chức chuyên nghiệp đối với hoạt động đầu tư cho vay của mình. Tuy nhiên theo biện pháp này thì ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí để trả cho công ty bảo hiểm, do vậy biện pháp này chỉ nên sử dụng với những khoản đầu tư lớn, thời hạn dài và ngân hàng chuyển một phần chi phí cho khách hàng cùng san xẻ.

    3.3.5. Giải pháp về thông tin.

    Cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại, công tác thông tin trong ngân hàng ngày càng được hoàn thiện dần đáp ứng được với những đòi hỏi của nền kinh tế. Triển khai thực hiện tốt các chương trình quản lý kế toán-tín dụng MISAC, tiết kiệm điện tử SAMIT. Chuyển đổi một số chương trình sang môi trường Visual Basic, Visual Foxpro, triển khai chương trình BACKUP số liệu trên máy chủ. Nghiên cứu thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng phục vụ cho hoạt động ngân hàng như từ báo chí, số liệu thống kê và những định hướng chính sách của nhà nước. Thông tin mà Ngân hàng có được thường là do thu thập thông tin trực tiếp doanh nghiệp xin vay, thu thập thông tin từ nguồn khác.

    Thu thập thông tin từ các nguồn bên ngoài rất tốn kém và mất nhiều thời gian, song do sự chính xác và tính khách quan nên nó rất có ý nghĩa. Do vậy để tiết kiệm được thời gian và tiền bạc đồng thời vẫn đảm bảo chất

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    lượng thông tin, các ngân hàng thương mại phải tự xây dựng hệ thống thông tin cho mình:

    • Thiết lập hệ thống thông tin phản hồi: Ngân hàng cần thường xuyên thu thập thông tin về những mối quan hệ kinh doanh, thị trường mà doanh nghiệp quan tâm trong một giới hạn nhất định và nhận thông tin thường xuyên từ doanh nghiệp. Tuy nhiên, những thông tin này thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác do hầu hết khách hàng không muốn công khai hoá tình hình tài chính của mình. Vì vậy, để có được thông tin chính xác từ phía khách hàng, Ngân hàng nên đảm bảo các điều kiện sau:
    • Thực sự có uy tín trong việc thu thập thông tin, thông tin phải chính xác, có tính cập nhật.
    • Đảm bảo tính bí mật của các thông tin thu thập được.
    • Giữa các phòng ban cần có thông tin đa chiều, đặc biệt giữa phòng nguồn vốn, phòng kế toán và phòng kinh doanh.
    • Thiết lập thông tin với các ngân hàng khác trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác này sẽ tránh được những khoản vay đảo nợ, rủi ro do thế chấp cùng một tài sản tại nhiều Ngân hàng.
    • Thu thập thông tin từ quan hệ khách hàng lâu dài.

    Nếu đơn vị đã có mối quan hệ thanh toán, tín dụng với ngân hàng trong một thời gian dài thì nhìn vào hoạt động quá khứ của khách hàng có thể biết được những thông tin hữu ích đối với khoản tiền sắp cho vay. Những thông tin đó cho phép đánh giá một cách nhanh chóng và tương đối chính xác về khả năng sử dụng vốn vay, thái độ của người vay. Việc này sẽ giảm được chi phí và thời gian thu thập thông tin giúp Ngân hàng xử lý vấn đề được dễ dàng hơn, từ đó các kết luận cho vay hoặc từ chối chính xác hơn.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    3.4. Một số kiến nghị

    3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước

    Đối với ngân hàng liên doanh

    Đối với các qui định hạn chế hoạt động của ngân hàng liên doanh Nhà nước cần tiến hành xem xét lại. Về mặt luật pháp, do việc lo ngại về khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh đã dẫn đến việc đưa ra những qui định nhằm hạn chế phạm

    • và nội dung hoạt động của các ngân hàng liên doanh. Ví dụ như qui định về vốn góp của một cổ đông nước ngoài tại ngân hàng liên doanh chỉ được phép nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ của ngân hàng. Các ngân hàng liên doanh không được phép huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng Việt Nam. Mặc dù đây chỉ là những qui định xuất phát từ sự bảo hộ của nhà nước đối với các ngân hàng trong nướ Tuy nhiên cho đến nay các quyết định đó có thể phải hủy bỏ khi trong tương lai nền kinh tế nước ta sẽ mở cửa, hội nhập cùng các nước trên thế giới chúng ta sẽ phải tuân theo các qui định quốc tế, đối xử bình đẳng giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Do đó thay vì chúng ta hạn chế phạm vi hoạt động của ngân hàng liên doanh thì hãy tập trung quyết tâm cố gắng làm cho hệ thống ngân hàng thương mại trong nước còn yếu sớm khắc phục được những tồn tại của mình để các ngân hàng trong nước đủ sức tự nâng cao khả năng cạnh tranh mà không cần nhờ, chờ NHNN giúp cho một số lợi thế cạnh tranh.

    Việc hạn chế nội dung và phạm vi hoạt động đối với các ngân hàng liên doanh còn chưa hợp lí, nhiều khi tạo ra sự bất lợi, hạn chế về hoạt động đối với các tổ chức kinh tế Việt Nam và bên cạnh đó gây ra sự lo ngại cho phía đầu tư kinh doanh chứ không chỉ bản thân các ngân hàng liên doanh gặp khó khăn trong quá trình hoạt động.

    Trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt bằng đồng Việt Nam, chẳng hạn việc đưa ra các qui định trong giải pháp hoạt động của NHNN cấp cho các ngân hàng liên doanh như đối với việc nhận tiền gửi của các tổ chức cá

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    nhân là người Việt Nam và của các pháp nhân là các tổ chức kinh tế Việt Nam không quá 10% vốn được cấp và quĩ dự trữ của ngân hàng liên doanh. Điều này đã một mặt hạn chế khả năng hoạt động của ngân hàng liên doanh, mặt khác hạn chế khả năng buôn bán xuất nhập khẩu của các tổ chức kinh tế Việt Nam qua ngân hàng liên doanh trong khi vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh chỉ có khoảng 20 triệu USD cho nên 10% chỉ có khoảng 2 triệu USD nên ngân hàng liên doanh không thể nhận được một khoản tiền kí quĩ lớn để mở thư tín dụng cho khách hàng Việt Nam trong khi các ngân hàng thương mại trong nước chưa đủ uy tín để mở L/C.

    Về hoạt động cho vay, ngân hàng liên doanh không được cho vay với tổng dư nợ vượt quá 15% vốn điều lệ và quĩ dự trữ tức là khoảng 3 triệu USD nên đã gây những khó khăn nhất định đối với khách hàng xuất khẩu của Việt Nam có quan hệ thanh toán qua ngân hàng liên doanh.

    Đối với ngân hàng thương mại Việt Nam

    Bộ tài chính cần tổ chức thực hiện tốt việc kiểm tra buộc các doanh nghiệp tiến hành hạch toán theo pháp lệnh kế toán thống kê và đảm bảo số liệu chính xác, trung thực và kịp thời nhằm giúp cho ngân hàng có được các thông tin tài chính làm cho việc phân tích tín dụng được kịp thời chính xác.

    Nên giao cho một cơ quan tiến hành thống kê tổng hợp các tỉ lệ tài chính của các ngành, rút ra hệ thống các tỉ lệ trung bình hàng năm để làm

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    căn cứ phân tích kinh tế, so sánh đánh giá các doanh nghiệp đang ở trong tình trạng nào tốt, trung bình hay yếu kém.

    Việc ban hành, hoàn thiện và đồng bộ hoá các bộ luật, văn bản pháp luật phải tạo ra sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong tất cả các thành phần kinh tế, dần xoá bỏ những ưu đãi đối với các doanh nghiệp nhà nước để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.

    Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần tạo ra hành lang pháp lý để các ngân hàng thương mại có quyền tự chủ đứng ra tổ chức bán tài sản, cầm cố, thế chấp để thu hồi vốn đối với các khoản nợ quá hạn, đặc biệt cần có chính sách ưu tiên đối với những khoản nợ khó thu hồi phát sinh như miễn thuế doanh thu, thuế chuyển quyền sử dụng đất…

    Nhà nước cần tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanh nhằm tăng tiềm lực tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh và sức đề kháng của hệ thống ngân hàng trước những biến động của thị trường.

    Nhà nước cần có những chính sách cho vay hợp lý đối với những doanh nghiệp Nhà nước chuyển sang cổ phần hoá.

    Kiên quyết sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, chỉ để tồn tại những doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, những doanh nghiệp thực sự cần thiết cho phát triển dân sinh, tạo điều kiện cho nâng cao hiệu quả tín dụng. Trong việc nhanh chóng tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp cần tập trung vào việc đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Đây là một biện pháp nhằm huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác tham gia vào phát triển kinh tế. Thực hiện cổ phần hoá sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tăng vốn tự có, trang trải nợ nần, tạo ra sức cạnh tranh mới dưới một hình thức quản lý mới. Nếu chúng ta không khẩn trương thực hiện cổ phần hoá thì các doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiếp cận với các khoản tín dụng lớn, cũng như cơ hội phát triển khi mà thị trường chứng khoán nước ta mới ra đời. Vì vậy cổ phần hoá là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giải quyết những mâu thuẫn hiện nay trong nền kinh tế, đó là các ngân hàng thương mại thì thừa

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    vốn tín dụng tạm thời nhưng không cho vay được, trong khi các doanh nghiệp lại thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nhưng lại bị trói buộc về cơ chế tín dụng hiện hành của các ngân hàng thương mại hiện nay.

    Thực hiện chế độ kiểm toán chặt chẽ

    Để giúp các ngân hàng xét duyệt hồ sơ xin vay vốn của các khách hàng được chính xác, báo cáo tài chính của khách hàng phải phản ánh đúng tình hình thực tế, đồng thời việc thu thập thông tin của ngân hàng cũng phải được tiến hành thuận lợi và chính xác. Muốn vậy Nhà nước nên sớm ban hành quy chế tài chính và hạch toán kinh doanh đối với những khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Qua đó tăng cường tính hiệu lực pháp lý, đảm bảo tính đồng bộ chuẩn mực của công tác hạch toán kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ ngân hàng có những kết luận chính xác về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Việc chấn chỉnh công tác kiểm toán phải đi đôi với nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán. Hiện nay ở nước ta đã có hệ thống kiểm toán nhà nước, 15 công ty kiểm toán độc lập bao gồm các công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, công ty kiểm toán của Nhà nước và trách nhiệm hữu hạn, song hiệu quả hoạt động của các công ty này chưa cao, một phần là do quan niệm của các doanh nghiệp thường rất ngại thực hiện kiểm toán do nhiều lí do khác nhau: có thể sợ kiểm toán phát hiện ra những sai sót về kế toán hay kiểm toán sẽ phát hiện những vấn đề mà doanh nghiệp còn giấu kín. Chi phí cao cho công tác kiểm toán cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp không muốn thực hiện. Tiến tới Nhà nước cần quy định chế độ kiểm toán bắt buộc đối với mọi loại hình doanh nghiệp, qua đó để đảm bảo độ tin cậy cho các báo cáo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thẩm định các dự án đầu tư.

    3.4.2. Đối với Ngân hàng nhà nước

    Tăng cường hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ, chức năng giám sát kiểm tra đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng nhà nước nên hình thành cơ quan phân tích đánh giá về tài chính và dự báo xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại trên cơ sở đó kịp thời điều chỉnh các quy định và biện pháp giám sát.

    Cho phép NHTM được áp dụng nhiều biện pháp thích hợp với từng loại tài sản ngoài những biện pháp thông thường hiện nay để khai thác kể cả chấp nhận việc bán thấp hơn giá trị nhận cầm cố, thế chấp, coi đó là hiện tượng kinh tế bình thường để có vốn luân chuyển.

    Trong điều kiện kinh tế hiện nay Trung tâm thông tin Ngân hàng của nước ta còn chưa kịp thời đầy đủ, đề nghị Ngân hàng Nhà nước chấn chỉnh hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng từ khâu cập nhật số liệu, cung cấp số liệu đảm bảo thông tin chính xác kịp thời.

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    Ngân hàng có chức năng huy động mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để cho vay nên nó là công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu, thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần hút và đẩy tiền ra lưu thông, chống lạm phát, ổn định tiền tệ giá cả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp.

    Để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của các doanh nghiệp, trước hết tín dụng ngân hàng cần phải có những giải pháp thích hợp để thu hút vốn và mở rộng các hình thức cho vay. Nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, các ngân hàng cần mở rộng cho vay trung và dài hạn để các doanh nghiệp từng bước đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế.

    Trước tình trạng số dư nợ quá hạn và nợ khó đòi ở các ngân hàng đang tăng cao, các ngân hàng cần đề ra các biện pháp để nâng cao chất lượng nghiệp vụ tín dụng, đảm bảo an toàn vốn vay, hạn chế thấp nhất các rủi ro thiệt hại có thể xảy ra.

    Trong tương lai gần, ngân hàng nước ta sẽ đương đầu với sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường, mà quy luật cạnh tranh là kẻ nào mạnh thì thắng và tiếp tục tồn tại và phát triển còn kẻ nào yếu thì sẽ bị loại bỏ. Do đó ngân hàng thương mại nước ta cần nỗ lực hơn nữa nhằm tìm ra những giải pháp cho mình.

    Trong chuyên đề này, trên cơ sở nghiêm cứu, phân tích rút ra những kinh nghiệm từ hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng liên doanh Chohung vina và có thêm một số giải pháp riêng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng, mong rằng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên

    Luận văn tôt nghiệp                                                                                                                      Nguyễn Phương Nhung

    cứu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị: Đề Tài Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên – Bài Phát Biểu
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Góp Phần Thực Hiện Nghị Quyết 29 Của Trung Ương Đảng Về Đổi Mới Căn Bản Toàn Diện Gd&đt
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Tư Tưởng Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nhiệm Vụ Chính Trị Của Đảng Bộ Tỉnh
  • Xây Dựng, Củng Cố Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh
  • 3 Nhiệm Vụ Trọng Tâm, 3 Giải Pháp Đột Phá Trong Xây Dựng Đảng Nhiệm Kỳ Đại Hội Xiii
  • 15 Mẫu Giường Ngủ Thông Minh Đẹp Đa Năng Cho Căn Phòng Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 10 Thiết Bị Nhà Thông Minh Đà Nẵng Không Thể Bỏ Lỡ
  • Giải Pháp Nhà Thông Minh Đà Nẵng
  • Tư Vấn, Thiết Kế Và Lắp Đặt Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Tạo Hứng Thú Và Tăng Tính Tích Cực Trong Học Tập Cho Học Sinh Học Yếu Môn Toán 7
  • Ô Nhiễm Không Khí Là Gì? Hậu Quả Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • Giường gỗ thông minh gần đây trở thành xu hướng và được tìm kiếm khá nhiều. Không chỉ hữu ích đối với những gia đình sở hữu diện tích “khiêm tốn”, mà giường gỗ còn được tích hợp hàng loạt tính năng vượt trội.

    Các mẫu giường ngủ thông minh đa năng

    Giường thông minh kết hợp bàn học

    Đây là kiểu giường có thiết kế kết hợp giữa bàn học và giường ngủ một cách tinh tế. Các bé vừa có không gian học tập vừa có không gian nghỉ ngơi ngay chính trong căn phòng của mình.

    Giường thông minh kết hợp bàn làm việc

    Khi bạn muốn có không gian làm việc và nghỉ ngơi, nhưng không gian phòng của bạn bạn hạn chế. Thì đây là giải pháp tuyệt vời cho bạn,

    Giường thông minh cho nhà nhỏ

    Giường có kích thước nhỏ gọn tiện lợi, không chiếm quá nhiều diện tích phòng, và thường dành cho một người sử dụng. Là sự kết hợp tuyệt vời giữa kệ để đồ, bàn làm việc và giường ngủ.

    Giường thông minh kết hợp tủ

    Mẫu giường với thiết kế liền với tủ sách, tạo không gian cho căn phòng của bạn luôn gọn gàng. Bạn sẽ hài lòng với lợi ích mà chiếc giường này mang lại.

    Giường thông minh cho bé

    Giường tầng cho bé luôn là giải pháp tốt, giúp tiết kiệm không gian cho gia đình có từ 2 bé trở lên. Và điều đặc biệt ở đây là, giường tầng có kết hợp bàn học, kệ để đồ và cả hộc tủ tiện lợi, rất tuyệt vời phải không nào.

    Giường âm tường kết hợp bàn

    Chúng ta chỉ thường sử dụng chiếc giường của mình lúc nghỉ ngơi, và vào buổi tối. Điều này sẽ không là gì đối với các phòng có diện tích lớn. Nhưng đối với các phòng nhỏ, thì chiếc giường sẽ chiếm dụng một diện tích không mong muốn khi không sử dụng.

    Vì vậy giường âm tường được nhiều người lựa chọn và sử dụng. Và được sử dụng nhiều hơn khi chúng kết hợp với bàn học.

    Giường gấp thông minh

    Giường có thiết kế độc đáo, kéo lên hoặc hạ xuống một cách nhanh chóng. Hệ thống lò xò cao cấp giường giường giúp thao tác với giường một cách dễ dàng.

    Giường gấp sử dụng chất liệu chủ yếu là gỗ MDF phủ sơn melamin. Giường có khoá cài, giúp cố định nệm và ga không bị rớt ra ngoài.

    Giường thông minh kết hợp sofa

    Sofa giường gỗ thông minh là một trong những sự lựa chọn hoàn hảo dành cho những bạn có phòng ngủ và phòng khách chung với nhau. Mẫu giường sofa này vừa giúp làm ghế sofa cho phòng khách lại vừa là giường cho phòng ngủ. Thật tuyệt vời phải không nào?

    Sofa giường gỗ thông minh với khả năng gấp gọn linh hoạt, không chỉ giúp cho bạn thoải mái cất giữ đồ đạc, vật dụng, quần áo gọn gàng, ngăn nắp, mà còn giúp tiết kiệm tối đa khoảng không gian trong phòng. Qua đó giúp cho bạn tránh tình trạng “đau cả đầu” khi suy nghĩ sắp xếp đồ đạc ở đâu cho hợp lý!

    Giường gỗ thông minh kết hợp kệ sách

    Với kiểu thiết kế đa năng, loại giường này không chỉ có tác dụng làm giường ngủ mà còn đóng vai trò như chiếc tủ sách, kệ sách.

    Bạn hoàn toàn có thể kê thêm hoặc trang trí vào đó những quyển truyện tranh, sách về đời sống hay tiểu thuyết văn học,… thậm chí là trưng bày những món đồ chơi hay đồ lưu niệm yêu thích của mình.

    Mỗi lúc rảnh, bạn có thể vừa nằm trên giường, vừa lấy sách trên kệ xuống đọc mà không mất quá nhiều công sức cũng như thời gian di chuyển.

    Giường gỗ thông minh ẩn tường

    Giường gỗ thông minh ẩn tường cũng chiếm được đông đảo sự quan tâm và tin dùng của mọi người ngày nay. Bạn hoàn toàn có thể gập lên gập xuống mà không lo ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    Khi thức dậy, chỉ cần thực hiện vài thao tác đơn giản là đã làm phòng ngủ của mình có một không gian rộng rãi, thoáng đãng.

    Giường thông minh 2 tầng cho bé

    Nếu nhà bạn có con nhỏ thì giường tầng thường được ưu tiên sử dụng để tiết kiệm không gian “chết” và có nhiều khoảng không để các bé sinh hoạt. Giường tầng thông minh chính là sự lựa chọn tốt nhất, giúp các bậc cha mẹ đỡ đau đầu khi nghĩ đến việc sắp xếp phòng ngủ cho những đứa con của mình.

    Giường thông minh dạng treo

    Các loại giường treo thường được sử dụng tạo nên căn phòng gọn gàng ngăn nắp và dễ dàng lau dọn gầm giường nhất.

    Giường ngủ thông minh gấp 3 khúc

    Giường ngủ thông minh gấp 3 khúc có thể trở thành giường ẩn tường và kéo ra khi cần sử dụng. Điều này giúp bạn dễ dàng vận chuyển cũng như tiết kiệm được không gian sống.

    Khi bạn không sử dụng, bạn có thể gấp gọn lại và cất đi, chúng sẽ trông như một chiếc tủ thông thường.

    Giường thông minh lật ngang cho một người

    Giường thông minh lật ngang dành cho một người phù hợp với ai sống một mình trong diện tích nhỏ. Chỉ cần một thao tác đơn giản là bạn đã có thể thay đổi từ không gian làm việc sang phòng ngủ mà không tốn quá nhiều thời gian sắp xếp.

    Giường cao kết hợp tủ quần áo

    Với những người độc thân nhất là đam mê mua sắm như những cô nàng thì việc giường kết hợp tủ quần áo cỡ lớn là một sự lựa chọn hoàn hảo. Bạn vừa có thể tiết kiệm không gian mà không cần giới hạn việc mua sắm của mình.

    Giường gỗ thông minh là gì?

    Giường gỗ thông minh là những bộ giường ngủ bằng gỗ, được tích hợp nhiều chức năng. Đáp ứng được mọi nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng và tối ưu được diện tích căn phòng. Giúp không gian phòng trở nên thoáng đãng hơn, rỗng rãi hơn để sinh hoạt .

    Hiện nay có nhiều loại giường gỗ thông minh tùy theo nhu cầu, sở thích và chi phí của khách hàng, như giường tầng thông minh, giường gấp, giường treo tường,…

    Cấu tạo của giường gỗ thông minh

    Cấu tạo của giường gỗ thông minh thường khá phức tạp và không dễ để lắp ráp, gia công như các giường ngủ thông thường. Trong đó:

    • Phần khung cố định – khung ngoài giường: Các lớp khung bao ngoài giường sẽ có hình chữ u và cấu tạo rỗng bên trong để chứa đựng khung giường khi gấp lên.
    • Khung giường: Được làm từ sắt mạ kẽm chống gỉ giúp giường có độ chắc chắn khi chuyển động. Bên cạnh đó, bên ngoài sẽ được sử dụng gỗ công nghiệp, phía 2 mặt trước và mặt giường được bọc gỗ để che khung sắt giúp tăng tính thẩm mỹ.
    • Các khớp chuyển động: Giường gấp thông minh thường có những khớp nối dựa trên cơ chế chuyển động của lò xo hoặc piston. Với cấu tạo này, bạn có thể nâng – hạ giường dễ dàng và thuận tiện hơn rất nhiều.
    • Các vật liệu gỗ phổ biến: thường được sử dụng là gỗ MDF, gỗ MFC và gỗ MDF chống ẩm phủ melamine,…

    Ưu điểm vượt trội của giường gỗ thông minh

    Tích hợp nhiều chức năng 

    Tùy theo nhu cầu người dùng, mà các mẫu giường thông minh sẽ tích hợp thêm nhiều tính năng khác nhau. Ngoài là một chiếc giường êm ả để bạn nghỉ ngơi, thư giãn thì việc tích hợp kèm kệ sách sẽ làm không gian của bạn trở nên sống động hơn. Nếu bạn là người thích mua quần áo thì sự lựa chọn giường kết hợp tủ quần áo là hợp lý.

    Tiết kiệm diện tích

    Có những gia đình phải tận dụng 1 căn phòng để làm nhiều tính năng khác nhau như phòng khách kết hợp phòng ngủ. Thì việc sở hữu một bộ giường ngủ kết hợp sofa là sự lựa chọn tối ưu nhất.

    Đối với các gia đình có các căn phòng nhỏ, diện tích khiêm tốn. Giường ngủ thông minh đa năng giúp bạn xếp gọn các vật dụng, làm gọn căn phòng của bạn.

    Tính thẩm mỹ cao

    Nhu cầu của người tiêu dùng ngày một cao, đòi hỏi các sản phẩm giường ngủ không chỉ là nơi để nghỉ ngơi, thư giãn mà còn phải đẹp và sang trọng.

    Do đó, những mẫu thiết kế ngày càng tinh tế, giấu khéo các chốt nối và gập. Nâng tầm về phong cách, màu sắc và tính thẩm mỹ cho không gian của bạn.

    Luôn luôn sạch sẽ

    Dễ dàng vệ sinh phần gầm mà không tốn nhiều sức như những chiếc giường truyền thống.

    Bạn cũng sẽ tập được thói quen gấp gọn chăn gối mỗi khi ngủ dậy.

    Khơi gợi cảm hứng cho bạn mỗi ngày

    Sau mỗi ngày làm về nhà, bạn sẽ cảm thấy thoải mái khi không gian sống gọn gàng, thoáng đãng.

    Tinh thần thoải mái sẽ giúp bạn có những đột phá mới trong công việc và cuộc sống.

    Đa dạng về kiểu dáng thiết kế

    Để đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách hàng khác nhau, các nhà thiết kế nội thất đã không ngừng sáng tạo, cho ra các dòng sản phẩm mới. Tạo nên một cuộc sống đầy tiện nghi nhất cho khách hàng.

    Giá thành hợp lý, tiết kiệm chi phí

    An toàn cho mọi người

    Đối với những nhà có trẻ nhỏ, việc các bé nô đùa và va đập vào thành giường, tủ quần áo gây thương tích là một nỗi lo rất lớn của các bậc phụ huynh. Giường thông minh có tinh năng gấp gọn tạo không gian trống an toàn cho các bé chơi đùa.

    Ngoài ra, những bộ giường tủ thông minh sẽ được thiết kế để che chắn ổ điện – nơi các bé sẽ tò mò chạm tới.

    Nhược điểm

    Ngoài những ưu điểm thì các loại giường gỗ thông minh vẫn tồn tại một số những hạn chế mà bạn cần nắm rõ trước khi quyết định sở hữu chúng. Trong đó, các mặt hạn chế chính bao gồm:

    • Mẫu mã chưa đủ đa dạng: Hiện nay, các mẫu giường gỗ thông minh tại thị trường nội thất ở nước ta vẫn chưa có sự đa dạng, ít mẫu mã có sẵn. Các mẫu giường mà bạn thấy trên các cơ sở cung cấp thường là nhập khẩu từ nước ngoài, không thể thay đổi kích thước hay các chi tiết theo ý muốn của gia đình.
    • Giá thành cao: Nếu đem so với các loại giường truyền thống có cùng chất liệu và kích thước, thì giá giường sẽ cao hơn từ 10-50% tùy vào tính năng của sản phẩm.
    • Độ bền không được đảm bảo: Việc thường xuyên phải thay đổi hình dạng, sẽ ảnh hưởng đến sự bền của các khớp nối, ray trượt, đai ốc, bản lề thông minh,…
    • Cần phòng có diện tích phù hợp: Một số giường gỗ thông minh có kết hợp các loại tính năng sẽ khiến giường ngủ trở nên cồng kềnh, nặng nề, và cần một kích thước phòng nhất định để không làm chật chội không gian.

    Các tiêu chí lựa chọn giường gỗ thông minh bạn nên biết

    Vị trí đặt

    Việc đầu tiên, bạn cần khảo sát vị trí đặt cũng như diện tích căn phòng nơi mình định lắp đặt giường. Bước này rất quan trọng vì nó giúp định hướng vị trí một cách hợp lý và đúng phong thủy nhất.

    Kiểu dáng, mẫu mã, chất liệu

    Trên thị trường ngày nay cho ra mắt không ít các sản phẩm giường gỗ thông minh với sự đa dạng về kiểu dáng, phong phú trong lối thiết kế mẫu mã. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng có thể thỏa thích lựa chọn theo ý muốn của mình. Nhưng bạn hãy lựa chọn các loại giường gỗ cao cấp để có được độ bền đẹp theo thời gian!

    Giường gỗ có ưu điểm là độ bền cao hơn các chất liệu khác, mang đến cho không gian riêng tư của bạn sự mộc mạc, dễ chịu nhưng không kém phần sang trọng.

    Với ưu điểm dễ vệ sinh, lau chùi, ít bám bụi, chắc chắn và tuổi thọ cao, bộ giường tủ phòng ngủ bằng chất liệu gỗ ngày càng được ưa chuộng.

    So sánh giữa giường thông minh và giường truyền thống

    Giường thông minh

    Giường truyền thống

    Tuổi thọ

    từ 3 – 5 năm tùy theo sản phẩm trên chất liệu nào

    Lên đến hàng chục năm

    Công năng

    Tích hợp kệ sách, ngăn kéo, tủ đựng quần áo,….

    Chỉ một công năng là để ngủ

    Kiểu dáng

    Đẹp mắt, đa dạng

    Đơn giản

    Giá thành

    Trên 8 triệu

    Tùy theo loại sản phẩm (trung bình từ 5 triệu đến 7 triệu)

    Bạn cần dựa trên tình hình thực tế như nhu cầu của bản thân, diện tích ở và các vật dụng bạn cần để chi tiêu 1 cách hợp lý nhất.

    Nên mua Giường gỗ công nghiệp hay giường gỗ tự nhiên ?

    Bảng giá tham khảo giường ngủ thông thông minh

    Loại giường thông minh

    Đơn giá tham khảo

    Gỗ An Cường

    MDF phủ Melamine

    MDF phủ Veneer

    Giường gấp ngang

    15.000.000

    17.500.000

    Giường gấp dọc

    15.000.000

    17.500.000

    Giường kèm sofa

    19.000.000

    20.500.000

    Giường kèm bàn học

    18.500.000

    20.500.000

    Gỗ tự nhiên

    Gỗ sồi

    Gỗ ghép kết hợp gỗ sồi

    Giường gấp ngang

    22.500.000

    20.000.000

    Giường gấp dọc

    22.500.000

    20.000.000

    Giường kèm sofa

    33.000.000

    27.000.000

    Giường kèm bàn học

    33.000.000

    27.000.000

    Gỗ Mộc Phát

    MDF lõi xanh

    Gỗ ghép Veneer

    MDF Veneer

    Giường gấp ngang

    14.000.000

    17.000.000

    16.000.000

    Giường gấp dọc

    14.000.000

    17.000.000

    16.000.000

    Giường kèm sofa

    18.000.000

    21.000.000

    19.000.000

    Giường kèm bàn học

    18.000.000

    21.000.000

    19.000.000

    Bảng giá chỉ mang tính chất tham khảo. Giá có thể sai lệch một chút so với thực tế tùy vào tình hình thị trường nội thất.

    Địa điểm mua giường gỗ thông minh uy tín

    Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều cơ sở nhận cung cấp giường gỗ thông minh giúp bạn dễ dàng tìm kiếm được sản phẩm phù hợp. Tuy nhiên, không phải địa chỉ nào cũng sẽ cung cấp được một bộ giường gỗ thông minh đảm bảo chất lượng cũng như các quyền lợi khách hàng tốt nhất.

    Bạn cần tìm kiếm những cơ sở có tiếng trên thị trường về việc nhập khẩu, cung cấp và sản xuất giường gỗ thông minh lâu năm để được đảm bảo phần nào về chất lượng của sản phẩm. Tránh mua tại các cơ sở cung cấp nhỏ lẻ vì rất khó tìm hiểu được về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm.

    Ngoài ra, bạn cần hỏi rõ về các dịch vụ cũng như quyền lợi khách hàng khi mua sắm như bảo hành, bảo trì, đổi trả, tư vấn cũng như chính sách thanh toán sản phẩm rõ ràng và cụ thể.

    Nhận ngay

    : Bộ sưu tập Catalogue nội thất mới nhất 2021

    Please leave this field empty

    4.6

    /

    5

    (

    10

    bình chọn

    )

    : Bộ sưu tập Catalogue nội thất mới nhất 2021

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Nội Thất Thông Minh Cho Căn Hộ Chung Cư Nhỏ
  • Giải Pháp Nhà Thông Minh Acis #1
  • ☀️ Các Gói Giải Pháp Của Nhà Thông Minh Lumi Dành Cho Căn Hộ
  • Bật Mí Những Ưu Điểm Của Nhà Thông Minh So Với Một Ngôi Nhà Truyền Thống
  • So Sánh Một Số Công Nghệ Nhà Thông Minh Phổ Biến
  • Top 10 Máy Làm Sữa Đậu Nành Gia Đình Tốt Nhất Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Laptop Từ A Đến Z
  • Máy Tính Xách Tay Phù Hợp Nhất Cho Việc Học Tập
  • Máy Yaman 11 (Model Máy Chăm Sóc Da Mặt Cao Cấp)
  • Máy Yaman 10T, Yaman 24R
  • Máy Massage Da Mặt Chống Lão Hoá Cao Cấp Yaman Ex Hrf 20N
  • Hiện nay có một dòng máy làm sữa đậu nành rất hiệu quả. Để hiểu rõ hơn cũng như cách chọn sản phẩm tốt, thương hiệu chất lượng bạn cần nhiều thông tin. Có thể tham khảo những lưu ý trong bài viết hôm nay.

    Máy làm sữa đậu nành là gì?

    Máy làm sữa đậu nành là đồ gia dụng tự động hóa có thể nấu sữa đậu nành từ hạt đậu tương tươi ngon. Ngoài ra bạn có thể sử dụng tương tự cho các loại ngũ cốc, các loại đậu, hạnh nhân hay các loại rau,…

    Nếu bạn tự tay làm tại nhà thì sản phẩm sữa đậu nành vừa rẻ mà lại ngon và an toàn hơn rất nhiều với dạng mua sẵn. Máy làm sữa đậu nành giúp bạn dễ chế được những khẩu vị hợp với từng thành viên. Vậy máy làm sữa đậu nành như thế nào? Liệu có đơn giản hay phức tạp khó làm?

    Máy làm sữa đậu nành hoạt động như thế nào?

    Bạn biết hoạt động của máy xay sinh tố và máy pha café chứ, máy làm sữa đậu nành giống như là sự kết hợp của 2 loại trên.

    Đậu tương được xử lý sạch, ngâm (khoảng 8 tiếng) theo 1 lượng thời gian và đổ vào cốc lọc của máy. Khởi động máy và ngay sau đó là một thứ bột nhão mịn. Lọc hỗn hợp vừa thu được bằng nước rồi đun nóng. Khi chín hoàn toàn thì máy tự động tắt.

    Rất dễ dàng đúng không? Vậy cấu tạo tuyệt vời của máy làm sữa đậu nành sẽ như thế nào? Để đạt được những tính năng thông minh vậy.

    Cấu tạo máy làm sữa đậu nành?

    Thường 1 chiếc máy làm sữa đậu nành cần có cốc đong, rây lọc bã, cốc đựng sữa đậu nành kèm theo. Dung tích trung bình của thiết bị trong khoảng 800 ml đến 1800 ml.

    Cấu tạo chung của máy làm sữa đậu nành gồm 3 phần là thân máy và bộ phận đun nóng, hệ thống xay nhuyễn. Thân máy gồm 2 lớp, bao bọc bên ngoài là lớp nhựa hoặc kim loại. Thân máy có thể gọi là bình chứa có chứa ruột làm từ Inox có thể nấu được, an toàn cho sản phẩm trong quá trình nấu.

    Với bộ phận nấu được trang bị hệ thống điện, sử dụng điện trở mâm đúc. Đa phần các sản phẩm máy làm sữa đậu nành đều có bộ phận cảm biến nhiệt cso thể điều khiển quá trình đun. Giúp tránh không để sữa đậu nành tràn ra ngoài trong quá trình nấu.

    Hệ thống xay nhuyễn gồm động cơ và lưỡi dao, giúp xay nhỏ hạt đậu nành. Với công xuất đủ mạnh và lưỡi dao sắc sẽ làm mịn hạt đậu. Đây cũng là bộ phận hỗ trợ trong việc làm đầu hỗn hợp.

    Nguyên lý hoạt động của máy làm sữa đậu nành trên thị trường không khác nhau. Máy đã  thực hiện chức năng của một sản phẩm máy xay sinh tố trong việc nghiền hạt đậu nành. Sau đó phần sữa đậu được đun liên tục để nấu chín.

    Ưu điểm của cách làm sữa đậu nành với máy

    Đong đo chính xác lượng nước, đậu theo tỉ lệ chính xác. Bộ dụng đi kèm hỗ trợ bạn tốt nhất để tạo ra chất lượng sữa ngon, độ đặc sánh vừa dùng.

    Công nghệ hiện đại đã tạo nên dòng máy thông minh bởi quá trình tự động được cài sẵn trong máy. Thay vị ngồi canh lửa, mỏi tay với việc quấy đều thì giờ bạn dành thời gian đó làm việc khác.

    Cách làm sữa đậu nành với máy còn đa dụng, bạn có thể làm với bất kì loại hạt dinh dưỡng nào bạn thích.

    Các loại máy làm sữa đậu nành.

    Hiện nay trên thị trường, các dòng máy làm sữa đậu nành rất đa dạng đáp ứng nhu cầu mọi khách hàng. Có thể kể đến như Joyoung, Hasu, Philips và BlueStone, .. Đều là những thương hiệu nổi tiếng với số lượng khủng bán ra mỗi năm trong phân khúc đồ gia dụng trong đó có máy làm sữa đậu nành.

    Máy xay sinh tố có làm sữa đậu nành được không?

    Bạn sẽ thắc mắc rằng máy xay sinh tố liệu có làm được sữa đậu nành không? Câu trả lời là có, nhưng nhiều thời gian và độ chính xác tỉ lệ cũng như công cụ làm hạn chế hơn rất nhiều. Vậy nên một thiết bị chuyên dụng trong việc làm sữa đậu vẫn là tốt nhất.

    Vì sao nên mua máy làm sữa đậu nành?

    Mua máy làm sữa đậu nành giúp bạn: kiểm soát chất lượng sữa, sử dụng nhiều loại, không quá tốn kém mà lại tiện dụng.

    Kiểm soát chất lượng sữa tốt hơn

    Với công nghệ hiện đại sở hữu công suất mạnh mẽ, lưỡi xay sắc, đậu nành sẽ được xay và đảm bảo giữ được hương vị vốn có.

    Máy làm sữa đậu nành rất đa năng

    Máy làm sữa đậu nành rất đa năng  là điểm công không thể bảo qua. Bạn có thể dùng để làm sữa, chế biến nhiều loại thực rất tiện lợi.

    Không tốn kém

    Không tốn kém là bởi bạn có thể tiết kiệm thời gian, tiền bạc trong mỗi lần làm tại nhà. Một trong những lợi ích về lâu dài rất rõ rệt.

    Tiện dụng

    Nếu đã từng làm sữa đậu nành thủ công bạn sẽ nhanh chán vì vừa tốn thời gian mà lại không ngon như đồ mua. Với máy làm sữa đậu nành, bạn có thể thoải mái làm việc khác trong lúc nó biến đậu nành thành sữa hoàn toàn tự động chỉ vài chục phút.

    Cách chọn máy làm sữa đậu nành tốt nhất

    Với những tiện dụng kể trên thì bạn đã sẵn sàng rinh một chiếc máy làm sữa đậu nành đặt bếp chưa? Hãy tìm hiểu thêm về cách chọn loại máy tốt, hãng tốt để lựa chọn máy phù hợp với gia đình.

    Kiểm tra độ bền của lớp lót bên trong

    Kiểm tra độ bền của lớp lót bên trong  rất cần thiết, vì là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm lại tác động bởi nhiệt. Ưu tiên sử dụng chất liệu cao như inox, thép không gỉ.

    XEM NGAY:  Kinh nghiệm chọn mua máy giặt nào tốt nhất cho gia đình

    Chất liệu cấu thành nên máy là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền của máy và sức khỏe con người, trong đó chất liệu sử dụng của các bộ phận như bình đun sữa, lưỡi dao hay lưới lọc là rất quan trọng.

    Thời gian làm sữa

    Thời gian làm sữa nhanh nhờ hệ thống làm nóng tốt. Vậy hãy chọn những sản phẩm làm sữa càng nhanh càng tốt.

    Kiểm tra công suất của máy

    Công suất không hẳn quyết định trực tiếp tới chất lượng sữa đậu nành, nhưng nó quyết định đến khả năng hoạt động của lưỡi xoay. Công suất tỉ lệ thuận với khả năng xay và nhuyễn. Các loại máy làm sữa đậu nành cao cấp hiện nay đều có công suất khoảng từ 800W đến 1200W.

    Kiểm tra xem nó có lọc không

    Kiểm tra xem nó có lọc không rất cần thiết, giai đoạn lọc khá quan trọng trong cả quá trình. Không chọn loại có lưới lọc bằng nhựa, hay inox. Vì nhựa rất dễ bị đứt, rách còn lưới lọc bằng inox thì lỗ lớn khi lọc cho sữa lợn cợn.

    kiểm tra những  chức năng của máy?

    Đây là tính đa năng của máy ngoài khả năng làm sữa đậu nành. nên ưu tiên các sản phẩm có thêm các chức năng như xay đậu, ngũ cốc, rau quả. Ngoài ra các tính năng an toàn như chống tràn, tự ngắt khi quá nhiệt hay hết nước… bạn cũng nên quan tâm.

    Tiếng ồn của máy

    Bạn không muốn đồ gia dụng của mình phát ra tiếng kêu khó chịu trong quá trình làm đâu. Hãy chọn dòng máy làm sữa đậu nành với tiếng phát ra êm ái, dễ chịu. Đây cũng là điểm đánh giá chất lượng máy tốt hay dở.

    Dễ dàng vệ sinh

    Dễ dàng vệ sinh là một tiêu chí quan trọng trong việc chọn mặt hàng bất kỳ. Dễ lau dọn giúp dụng cụ luôn sạch sẽ, an toàn cho lần sử dụng sau đó.

    Chọn máy có miệng rót

    Có miệng rót giúp bạn dễ rót sữa đậu nành ra các cốc nhỏ để sử dụng. Nên hãy chọn dòng máy làm sữa đậu nành có miệng rót.

    Cuối cùng là thương hiệu và giá thành

    Khi chọn mua bạn cần phải nắm rõ thông tin về nguồn gốc, giá của sản phẩm. Đặc biệt tình trạng hàng giả, hàng nhái kém chất lượng đang khó kiểm soát thì cẩn thận vẫn tốt nhất.

    Các dòng máy làm sữa đậu nành hiện nay trên thị trường có mức giá khá dao động khoảng giá trên 500K thậm chí lên đến 10 triệu.

    Top 7 hãng máy làm sữa đậu nành

    Bạn có thể tham khảo Top 7 hãng máy làm sữa đậu nành vào list danh sách bạn tìm kiếm.

    1. Máy làm sữa đậu nành Bluestone

    Bluestone là thương hiệu nổi tiếng hiện đến từ tập đoàn Great American Appliance Corporation (GAAC) của Hoa Kỳ. Áp dụng quy trình kiểm soát chặt chẽ nên Bluestone luôn cho ra đời những sản phẩm chất lượng cao cấp.

    Ở Bluestone bạn sẽ thấy được sự đa dạng về chủng loại cũng như giá bán khác nhau giúp người dùng có nhiều sự lựa chọn hơn.

    2. Máy làm sữa đậu nành Hasu

    Máy làm sữa đậu này Hasu là một sản phẩm mới làm sữa đậu nành tại nhà nhanh, gọn mà không tốn nhiều thời gian và công thức. Kiểu dáng trang nhã với chất liệu cao cấp từ bên trong được công nhận bởi người dùng. Bạn sẽ hài lòng khi đến với Hasu.

    3. Máy làm sữa đậu nành Magic Korea

    Được sản xuất trên nền kỹ thuật công nghệ Hàn Quốc, máy làm sữa hạt đậu nành, xay đa năng Magic Korea Chiếm trọn tình yêu của người dùng.

    4. Máy làm sữa đậu nành UKOEO

    UKOEO mang đến dòng máy làm sữa đậu nành hoàn toàn mới, với những tính năng vượt trội.

    • Thiết kế đột phá, sang trọng đẳng cấp
    • Xoá tan độ ồn, khẳng định ÊM NHẤT thị trường hiện tại
    • có chức năng nấu sữa lạnh, rất phù hợp cho khách hàng ưa đồ lạnh.
    • còn có chức năng nấu thực phẩm & không xay.
    • Thiết kế máy tối ưu, không bị rò rỉ vào máy.
    • Máy dễ sử dụng vì có icon, hình gợi ý, ngôn ngữ tiếng Anh

    5. Máy làm sữa đậu nành Joyoung

    Joyoung là một thương hiệu của Singapore và là một trong những hãng sản xuất máy làm sữa đậu nành đầu tiên trên thế giới. Hãng có sản xuất nhiều dòng máy làm sữa đậu nành khác nhau.

    6. Máy làm sữa đậu nành SUPOR

    Supor là một thương hiệu chuyên sản xuất & phân phối các sản phẩm đồ điện gia dụng lâu đời tại Pháp. Đến với Máy làm sữa đậu nành SUPOR bạn chìm đắm trong bộ sưu tập siêu khủng.

    7. Máy làm sữa đậu nành Korea King

    Korea King là thương hiệu hàng đầu của Hàn Quốc về hàng gia dụng và đồ dùng nhà bếp. Là dòng sản phẩm đa năng với nhiều chức năng nấu tự động, không chỉ sử dụng nguyên liệu là đậu nành loại đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, bắp, và với nhiều công thức dinh dưỡng khác nhau…

    Đặc biệt, máy có chức năng bảo vệ cảnh báo quá nhiệt, chống trào, chống cạn nước. Máy còn có khả năng nấu chín thức uống bằng mâm nhiệt ẩn bên trong

    Top 10 chiếc máy làm sữa đậu nành tốt nhất hiện nay

    Có rất nhiều dòng sản phẩm bán trên thị trường. Để bổ sung và list danh sách tham khảo cho bạn, chúng tôi giới thiệu top 10 chiếc máy làm sữa đậu nành tốt nhất hiện nay.

    1. Máy Làm Sữa Đậu Nành BLUESTONE SMB-7391 – 1.3L (Vàng Đồng) – Hàng chính hãng

    Đây là dòng sản phẩm đến từ thương hiệu hàng gia dụng Bluestore nổi tiếng được nhiều người dùng lựa chọn và tiêu dùng.

    Thiết kế cải tiến độc đáo của bộ cảm biến nhiệt gọn nhẹ và hiệu quả cao.

    Máy Làm Sữa Đậu Nành BLUESTONE SMB-7391 – Vàng Đồng được lắp đặt bộ cảm biến nhiệt sở hữu nhiều tính năng thông minh và hạn chế sự cố cháy nổ.

    Khả năng chống tràn tuyệt đối, sử dụng nhanh gọn, đơn giản và giúp xay nhuyễn mịn mà không cần lọc bã. Máy Làm Sữa Đậu Nành BLUESTONE SMB-7391 – 1.3L (Vàng Đồng) – Hàng chính hãng với dung tích: 1.3L là sự lựa chọn nhiều khách hàng.

    2. Máy Làm Sữa Đậu Nành Magic Korea A-68 (1.3L) – Trắng – Hàng chính hãng

    Máy Làm Sữa Đậu Nành Magic Korea A-68 (1.3L) – Trắng – Hàng chính hãng với xay nấu hạt khô, xay ướt, trộn các loại bột làm bánh… Máy được lập trình tự động với các thao tác đơn. Được thiết kế với  kiểu dáng hiện đại, trang nhã, dễ dàng vệ sinh về chất lượng cao trong việc chống tràn, chống bỏng. Thiết kế lưới lọc thông cho phép người dùng hoàn thành việc lọc chỉ trong một lần rót. Chất liệu cao cấp, thiết kế không có giá đỡ với bề mặt trơn mịn không có ốc vít và các cạnh nhô ra giúp làm sạch dễ hơn.

    3. Máy Làm Sữa Đậu Nành Joyoung DJ13E-Q7 (1.3L)

    Với các tính năng vượt trội Máy Làm Sữa Đậu Nành Joyoung DJ13E-Q7 (1.3L) được xếp trong top 7 sản phẩm chất lượng cao được người tiêu dùng bình chọn.

    Dung tích: 1.3L với công suất: 1000W. Kết hợp với lưỡi dao sắc bén giúp xay đậu nhuyễn, mịn hơn và cài đặt cảm biến nhiệt vỏ bình. Chip điều khiển thông minh, máy giúp bạn xay nhuyễn mịn mà không cần lọc bã.

    4. Máy Làm Sữa Đậu Nành Hasu HSM223 (1.5L) – Đỏ – Hàng chính hãng

    Đến từ Hasu là Máy Làm Sữa Đậu Nành Hasu HSM223 (1.5L) – Đỏ – Hàng chính hãng. Sản phẩm được thiết kế sang trọng, bắt mắt gây ấn tượng với người dùng từ cái nhìn đầu tiên. Đặc biệt, máy là sự kết hợp hoàn hảo từ hợp kim thép không gỉ, cùng với dao xay 4 cánh lớn giúp cho quá trình xay nhuyễn diễn ra nhanh chóng, min hơn so với các loại khác.

    Thông số kỹ thuật:

    • Công suất nấu: 800W
    • Công suất xay: 350W
    • Thể tích (chống tràn): 1.5L.
    • Máy sở hữu 6 chức năng xay ép đa dạng

    5. Máy Làm Sữa Hạt Xay Nấu Đa Năng UKOEO PR10 – Hàng Chính Hãng

    Ukoeo chính thức phân phối Máy Làm Sữa Hạt Xay Nấu Đa Năng UKOEO PR10 – Hàng Chính Hãng phiên bản quốc tế.

    Với nhiều tính năng được cải tiến, đây là dòng máy xay nấu đa năng cao cấp. Kết hợp máy xay sinh tố, máy nghiền, máy xay, máy pha cà phê, bếp nấu… Cùng với hơn 20 chức năng  xay, nấu bằng các công thức khác nhau.

    Máy Làm Sữa Hạt Xay Nấu Đa Năng UKOEO PR10 – Hàng Chính Hãng sử dụng công nghệ Đức, sản phẩm đạt chuẩn chất lượng châu Âu.

    6. Máy Làm Sữa Đậu Nành SUPOR DJ12B-Y58E-A (1.2L)

    Nếu là tín đồ của Supor thì không thể bỏ qua Máy Làm Sữa Đậu Nành SUPOR DJ12B-Y58E-A (1.2L). Máy được thiết kế bằng lưới lọc thông cho phép người dùng tiện lợi trong quá trình lọc. Cùng với đó là công nghệ nghiền siêu mịn, vách ngăn cách nhiệt, giữ ấm sữa hiệu quả.

    Tốc độ quay 15.000 lần/phút kết hợp lưỡi dao inox không gỉ, sắc bén đảm bảo lưu giữ toàn bộ chất dinh dưỡng cũng như hương vị. Bên cạnh đó, sản phẩm được làm từ vỏ cách nhiệt có khả năng chống bám bẩn hiệu quả, giúp bạn dễ dàng, thuận tiện trong quá trình làm vệ sinh.

    Bên cạnh công dụng làm sữa đậu nành, máy còn được sử dụng để xay các loại ngũ cốc, sinh tố, súp, cháo đậu xanh, dinh dưỡng nhanh chóng và dễ dàng.

    7. Máy Làm Sữa Đậu Nành Korea King KSM-1302GS (1.3L) – Hàng chính hãng

    Máy Làm Sữa Đậu Nành Korea King KSM-1302GS (1.3L) là sản phẩm đến từ thương hiệu Hàn Quốc. Đây là sản phẩm được nhiều chị em nội trợ lựa chọn cho gian bếp của mình. Vỏ ngoài sản phẩm được thiết kế bằng chất liệu nhựa cao cấp, có khả năng cách nhiệt tốt. Bên trong là ruột máy và lưỡi dao được thiết kế từ inox siêu bền, không gây độc hại, đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng.

    Máy Korea King KSM có công suất 800W, dung tích 1.3, lòng bình cách nhiệt tốt, 3 lớp bảo vệ chống thấm nước và 2 lớp cách nhiệt an toàn giúp chống quá nhiệt, chống tràn và tự ngắt khi nhấc đầu máy.

    1. Máy làm sữa đậu nành Philips HD2072 – 1.3L

    Tự tay làm ly sữa dinh dưỡng tự tay bạn làm để chuẩn bị cho những người thân yêu thật dễ dàng biết bao với máy xay sữa đậu nành Philips HD2072. Chưa đầy nửa tiếng, bạn và gia đình đã có ngay những ly sữa thơm ngon, giàu dinh dưỡng mà lại sạch sẽ chỉ với 1 lần nhấn nút.

    Được trang bị 2 lưỡi cắt răng cưa hình boomerang có thể uống xuống được mọi góc khác nhau, Philips HD2072 có hiệu suất cắt cao, nhanh chóng và tiện lợi. Với thiết kế không giá đỡ giúp làm sạch thuận lợi, đường kính rộng, nắp bảo vệ kết nối và chống thấm nước, ta thực sự có thể thấy rằng trải nghiệm độ an toàn và sạch sẽ đã được tăng lên đáng kể.

    1. Máy làm sữa đậu nành Bluestone SMB-7363

    Áp dụng các công nghệ hiện đại, được tư vấn thiết kế bởi tập đoàn GAAC Hòa Kì, dung tích lớn tới 1.7L, chắc chắn máy nấu sữa đậu nành Bluestone SMB-7363 có thể giúp bạn chuẩn bị 1 thức uống dinh dưỡng, ngon lành để giúp làn da trắng khỏe và vóc dáng thon thả chỉ ngay trong chốc lát.

     

    Chất liệu thép 304 sử dụng trong y khoa là chất liệu chính của lưỡi dao và bộ phận cảm biến nhiệt, điều này bảo vệ người tiêu dùng từ những sản sinh độc hại hay dao bị bào mòn theo thời gian, đảm bảo tối ưu vệ sinh an toàn cho gia đình và những người xung quanh.

    Với bảng điều khiển bằng vi mạch hiện đại, tất cả các công đoạn phức tạp như đun nóng, nghiền, xay, nấu chín sẽ được lược bỏ, tất cả những gì bạn cần làm chỉ là đổ hạt vào máy, ấn nút là ngồi đợi để thưởng thức những ly sữa tươi mát.

    1. Máy Làm Sữa Đậu Nành Lock&Lock EJS226 – 1.3L

    Với thiết kế tinh gọn, tao nhã, tay cầm chắc chắn cùng với công suất lớn, an toàn tiện lợi, chắc chắn máy xay sữa đậu nành Lock&Lock EJS226 là sự lựa chọn phù hợp cho bạn và gia đình. Được thiết kế lập trình tự động, các thao tác với máy hết sức đơn giản cũng có thể cho ra lò những ly sữa giữ được hương thơm tự nhiên và mùi vị mát lành từ những hạt đậu. Đặc biệt, máy xay sữa đậu nành Lock&Lock EJS226 được thiết kế chống tràn giúp người tiêu dùng an tâm khi sử dụng sản phẩm.

    Ngoài ra, máy xay sữa đậu nành Lock&Lock EJS226 tiết kiệm điện năng cho gia đình với công nghệ gia nhiệt dưới đáy nhằm giảm thời gian lãng phí. Lòng sản phẩm sử dụng nguyên liệu thép không gỉ 304 để bảo vệ sức khỏe bạn và gia đình một cách tối ưu nhất. Bên cạnh đó, ngoài những cốc sữa đậu thơm ngon, máy xay sữa đậu nành Lock&Lock EJS226 còn có thể xay các loại ngũ cốc, đậu ngâm, đậu khô, hoa quả, cháo,…nhằm tăng sự đa dạng trên bàn ăn hàng ngày.

     

    Một số lưu ý khi sử dụng máy làm sữa đậu nành

    Để máy làm sữa đậu nành luôn tốt, bền và an toàn bạn có thể lưu ý một số điểm sau trong quá trình sử dụng.

    • Ngâm đậu trước khi sấy, không cần sử dụng nước nóng khi nấu sữa đậu nành và vệ sinh sau mỗi lần sử dụng.
    • Đặt máy ở những nơi cân bằng.
    • Không bỏ thêm nước hay thực phẩm khi máy đang hoạt động.
    • Máy ngắt hoạt động bạn không nên ấn nút để máy chạy tiếp.
    • Không rửa máy trực tiếp dưới vòi nước, sử dụng khăn ẩm để lau.
    • Không nên dùng máy liên tục, hãy để máy nghỉ ngơi khoảng 30 phút đến 1 tiếng.
    • Không cho máy trực tiếp vào tủ lạnh.

    Lời kết

    Với những thông tin trên bạn sẽ tự tin chọn được cho mình máy làm sữa đậu nành chất lượng, an toàn và giá thành tốt nhất. Hãy nhanh chóng sở hữu thiết bị thông minh này để tạo ra những món ngon, bổ dưỡng cho cả gia đình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Xay Đậu Nành Donlim Xb9186H
  • Máy Làm Sữa Đậu Nành Bluestone
  • Máy Xay Và Nấu Sữa Đậu Nành Km
  • Khám Phá Các Chức Năng Của Máy Làm Sữa Đậu Nành Sunhouse
  • Nên Mua Máy Tính Vinacal 570Ex Plus Hay Casio Fx 580Vnx
  • Tin tức online tv