Một Số Giải Pháp Phát Triển Năng Lực Nhà Giáo Để Thực Hiện Tốt Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

--- Bài mới hơn ---

  • Những Khó Khăn, Thách Thức Đối Với Đội Ngũ Giáo Viên Trung Học Phổ Thông Hiện Nay Khi Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022
  • Công Đoàn Giáo Dục Bình Định
  • Nhà Trường Thân Thiện Và Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục
  • Phương Pháp Giáo Dục Stem
  • Để khắc phục những yếu kém đang tồn tại ở bậc giáo dục phổ thông; để theo kịp, hội nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới thì giáo dục phổ thông phải không ngừng cải cách, đổi mới. Cả nước đang quyết liệt thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, xem đó chính là điểm hội tụ của những đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, là điều tất yếu khách quan, là chìa khóa để phát triển xã hội. Công việc chuẩn bị cho công tác triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và thay sách giáo khoa đang được gấp rút thực hiện trong toàn ngành giáo dục. Tuy nhiên chương trình giáo dục phổ thông mới có đi vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ nhà giáo – những người được xem là linh hồn của ngành giáo dục.

    THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG HIỆN NAY TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

    Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, về cơ bản, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học đã đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo, cụ thể: cấp mầm non là 96,6%, cấp tiểu học là 99,7%, cấp trung học cơ sở là 99,0%, cấp trung học phổ thông là 99,6% và đại học là 82,7% .

    Thí sinh làm hồ sơ xét tuyển vào Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: PM/Vietnam+)

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì thực trạng đội ngũ giáo viên vẫn còn tồn tại một số những hạn chế cần được khắc phục. Trên thực tế vẫn còn một bộ giáo viên thiếu tâm huyết với nghề, không tuân thủ những quy chuẩn của đạo đức nghề nghiệp, làm suy thoái danh dự, lương tâm nhà giáo. Trong công tác chuyên môn, không ít giáo viên có biểu hiện sa sút về ý chí, sức chiến đấu, chưa thực sự công tâm, chưa đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của học sinh; còn nhiều tiêu cực, bệnh thành tích, làm giảm uy tín, ảnh hưởng đến niềm tin của học sinh, phụ huynh và cộng đồng xã hội đối với đội ngũ nhà giáo. “Một bộ phận không nhỏ thiếu động lực tự học và đổi mới, chưa bắt kịp yêu cầu về đổi mới quản lý, chương trình, phương pháp giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ”. Thêm vào đó, năng lực thực hành, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục, đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận giáo viên còn hạn chế đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và uy tín đội ngũ nhà giáo.

    Thực tế trên đặt ra yêu cầu là phải đổi mới từ đội ngũ giáo viên hiện nay của chúng ta thông qua con đường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao năng lực cho giáo viên. Đứng trước yêu cầu của việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, cần phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên ở những nội dung quan trọng sau:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho học sinh.

    Đối với mỗi giáo viên, quan trọng nhất là năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức. Từ trường mầm non các bé bước vào bậc phổ thông là bắt đầu hành trình học con chữ, học cộng trừ nhân chia, học tiếng nước ngoài, lớn hơn các em được học về địa lý, lịch sử, tin học….Các em có nắm được tất cả các kiến thức, các kỹ năng phổ thông hay không phụ thuộc trực tiếp vào năng lực giảng dạy của giáo viên. Muốn trở thành một giáo viên có năng lực dạy học thì thầy, cô chắc chắn phải nắm vững kiến thức, kỹ năng về môn học được phân công dạy; biết lập các loại kế hoạch dạy học; biết sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học, đặc biệt trong thời đại bùng nổ cách mạng 4.0 thì công nghệ thông tin và truyền thông chính là công cụ hỗ trợ đắc lực để giáo viên có những bài giảng lý thú, cuốn hút; biết vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hợp lý theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển kỹ năng cho học sinh.

    Một trong những điểm mới của các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là việc tích hợp liên môn để giúp học sinh giảm tải. Vì vậy khi thực hiện sách giáo khoa phổ thông mới đòi hỏi giáo viên phải có năng lực hiểu sâu và rộng mọi lĩnh vực, phải huy động tối đa nguồn tri thức xã hội của bản thân, vận dụng vào trong bài giảng mới có thể trở thành người “khai sáng” cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của chương trình mới.

    Thứ hai, bồi dưỡng năng lực tổ chức kiểm tra, đánh giá học sinh.

    Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là thước đo giúp xác định thành tích học tập, mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng của các em. Từ đó giáo viên sẽ điều chỉnh quá trình dạy học của mình theo hướng phát triển năng lực và các kỹ năng cho học sinh. Nếu giáo viên biết đánh giá một cách chính xác, khách quan thì sẽ khích lệ, động viên những em giỏi càng phấn đấu vươn lên để đạt thành tích cao hơn, những em yếu kém sẽ tìm cách nổ lực để cải thiện vị trí.

    Đối với chương trình mới, để đánh giá chính xác về học sinh, giáo viên cần có kỹ năng thiết kế các công cụ đánh giá kết quả giáo dục thể hiện ở mức độ đạt được các năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh; cần biết sử dụng các phần mềm hỗ trợ đánh giá; cần có kiến thức, kỹ năng về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.

    Thứ ba, rèn luyện năng lực thấu cảm học sinh.

    Thấu cảm là khả năng hiểu được cảm xúc, tâm trạng, đặc điểm, mong muốn, hoàn cảnh…của mỗi học sinh, đó chính là chìa khóa để đi được vào lòng học sinh, để học sinh dễ dàng mở lòng với giáo viên, có như vậy sự hợp tác giữa thầy và trò mới suôn sẽ, chất lượng giáo dục mới nâng cao.

    Trong một lớp học thường sẽ có nhiều đối tượng học sinh khác nhau: có em rất giỏi nhưng cũng có em rất yếu. Có lẽ bất cứ thầy cô giáo nào cũng đều có chung mong muốn rằng không học sinh nào cảm thấy bị “bỏ rơi” trong lớp học. Người thầy thấu cảm là người nổ lực để biên soạn, chuẩn bị bộ tài liệu tự học cho học sinh với nội dung ở nhiều cấp độ từ dễ đến khó. Với những học sinh yếu, chỉ đặt ra yêu cầu ở mức độ vừa phải với khả năng của học sinh đó. Với những học sinh học tốt, yêu cầu học sinh hoàn thành các mức độ cơ bản, sau đó, chủ động dành thời gian để tiếp cận các yêu cầu ở mức độ khó hơn. Người thầy thấu cảm sẽ phân chia thời gian trong giờ học dành cho từng đối tượng một cách hợp lý. Đặc biệt, sẵn sàng dành thời gian ngoài giờ để hỗ trợ, phụ đạo thêm cho những học sinh có lực học chưa cao. Người thầy thấu cảm sẽ hiểu từng hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý của từng em học sinh để trở thành “chiếc la bàn” điều chỉnh, dẫn lối cho các em học sinh để không bao giờ các em vấp ngã hoặc có vấp ngã cũng sẽ biết cách đứng lên.

    Người giáo viên là người cần rất nhiều kỹ năng nhưng thiết nghĩ những kỹ năng trên là vô cùng quan trọng đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Để năng lực đội ngũ nhà giáo ngày càng tiếp tục phát triển cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Thứ nhất, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.

    Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo là nhiệm vụ chiến lược trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ, bù đắp những thiếu hụt khi chuyển sang thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò và yêu cầu về năng lực của đội ngũ nhà giáo càng được nâng cao thì công tác đào tạo, bồi dưỡng càng nâng tầm quan trọng.

    Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, trước hết phải đổi mới công tác tuyển sinh để thí sinh vào sư phạm thực sự là những người xuất sắc, có năng lực dạy học tốt. Một người thầy kém sẽ làm hỏng tương lai nhiều thế hệ học sinh, ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước nên việc lựa chọn người sẽ trở thành giáo viên không thể chọn đại trà, dễ dãi được. Khi đã lựa chọn được những sinh viên giỏi thì bắt đầu tiến hành đào tạo, bồi dưỡng.

    Để đào tạo, bồi dưỡng đạt kết quả cao cần quy hoạch lại mạng lưới các trường đào tạo ngành sư phạm, khoa sư phạm và các cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường liên kết, phối hợp đào tạo giữa các trường sư phạm, các khoa sư phạm và các cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhà giáo với các đơn vị, tổ chức trong và ngoài nhà nước nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

    Xây dựng mô hình bồi dưỡng và đào tạo lại nghề nghiệp cho giáo viên độc lập với trường sư phạm. Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, định kì theo hình thức tập trung, tại chức…; cần kết hợp đào tạo bồi dưỡng những kiến thức mang tính hàn lâm với tham quan học tập các mô hình, học tập kinh nghiệm ở các địa phương trong nước và quốc tế để tăng cường kiến thức thực tiễn và kỹ năng dạy học; có chính sách hỗ trợ cho nhà giáo được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, học vấn, trình độ chính trị.

    Thứ hai, tự đào tạo là yếu tố đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực giáo viên.

    Trong quá trình dạy học thì việc tự bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tương xứng với vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Mỗi người giáo viên trong quá trình dạy sẽ biết rõ nhất mình có những ưu thế gì, còn những hạn chế gì; biết điểm mạnh và yếu của bản thân; biết chất lượng giảng dạy của mình đến đâu từ đó sẽ có cách tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình. Tự bồi dưỡng là con đường tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy, là sự trăn trở, thử nghiệm để tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học. Trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay việc tự đào tạo, bồi dưỡng quả là gặp rất nhiều thuận lợi. Chỉ cần thầy cô của chúng ta cầu toàn, nổ lực, nghiêm khắc với bản thân và có phương pháp học tập thì việc nâng cao năng lực của bản thân không phải là việc quá khó. Có rất nhiều tấm gương về dạy giỏi; có rất nhiều cách làm hay, sáng tạo mà thầy cô ở nơi này, nơi khác đã áp dụng và mang lại kết quả đáng ghi nhận; có những chương trình ý nghĩa như “thầy cô chúng ta đã thay đổi” để thầy cô có thể tham gia, có thể học hỏi…để tự hoàn thiện mình.

    Thứ ba, đổi mới công tác tự đánh giá, đánh giá đội ngũ nhà giáo.

    Đánh giá không đúng, không chính xác sẽ làm cho giáo viên không biết được chất lượng giảng dạy của mình như thế nào, mình cần phát huy gì và cần khắc phục điều gì ở bản thân. Đánh giá không đúng, không chính xác sẽ làm mất đi động lực phấn đấu của từng cá nhân, có khi làm xáo trộn tâm lí của cả một tập thể, gây nên sự trầm lắng, trì trệ trong công việc.

    Đối với ngành Giáo dục thực hiện đánh giá giáo viên theo Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Đây là cơ sở vững chắc để soi vào đó, đưa ra được sự đánh giá tương đối khách quan và chính xác đối với năng lực của giáo viên, tạo ra động lực để giáo viên cống hiến sức lực, tâm trí hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài ra cần xây dựng khung năng lực nhà giáo tương lai theo chuẩn nghề nghiệp trong giai đoạn tới để làm thước đo cho các nhà giáo nỗ lực vươn lên.

    Thứ tư, cải thiện các chính sách cho đội ngũ giáo viên.

    Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập hiện nay được hưởng chế độ theo các quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ. Ngoài lương được hưởng theo quy định trên, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn được hưởng thêm 2 loại phụ cấp, đó là: phụ cấp ưu đãi (với các mức từ 25% đến 70%); phụ cấp thâm niên (được tính gia tăng theo thời gian công tác). Tùy theo điều kiện cụ thể, ở các địa phương khác nhau cũng có chính sách riêng đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

    Tuy nhiên, với mức lương như hiện nay vẫn khiến họ chưa yên tâm công hiến và tâm huyết ngành. Bên cạnh đó, chính sách tiền lương còn nhiều bất cập dẫn đến khó duy trì nghiêm được tính kỷ luật, thứ bậc và không tạo được tính cạnh tranh trong đội ngũ cán bộ, nhà giáo.

    Việc đãi ngộ về tiền lương, về các quyền lợi vật chất là điều rất quan trọng và cần thiết nhưng chưa đủ để đội ngũ nhà giáo phát triển hết khả năng đóng góp của họ. Cần tạo điều kiện để ghi nhận thành tích của họ; lắng nghe và sử dụng những ý kiến đóng góp, xây dựng một môi trường làm việc đầy cảm hứng, khích lệ sự đóng góp của họ vào công việc phục vụ nhà trường, phục vụ cộng đồng chính là động lực giúp đội ngũ giáo viên phát triển tình cảm nghề nghiệp, củng cố mối hệ gắn bó giữa giáo viên với học sinh, với đồng nghiệp và nhà trường. Và như thế, khi môi trường sư phạm mẫu mực được xây dựng trong các nhà trường, người giáo viên được tôn vinh thì việc lựa chọn ngành sư phạm để trở thành các nhà giáo trong tương lai được nhiều học sinh xuất sắc lựa chọn. Với đối tượng tuyển sinh tốt, môi trường đào tạo tốt, chắc chắn chất lượng đào tạo giáo viên trong tương lai sẽ được cải thiện.

    Ngoài những giải pháp trên thì đầu tư kinh phí, trang bị các phương tiện, điều kiện làm việc cho đội ngũ nhà giáo theo hướng hiện đại hoá đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay là điều kiện quan trọng để giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy.

    Ths. Đoàn Thị Phượng – Trường Chính trị Quảng Bình

    . TS. Nguyễn Hữu Độ (2019), Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam, Tạp chí Tổ chức nhà nước, http://tcnn.vn/news/detail/42508/Nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giao-vien-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-giao-duc-o-Viet-Nam.html

    . Báo Giáo dục Việt Nam (2017), Những kết quả “biết nói” về giáo dục mầm non những năm qua, https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/nhung-con-so-biet-noi-ve-giao-duc-mam-non-nhung-nam-qua-post179115.gd

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cần Thực Hiện Để Phát Triển Giáo Dục Đến Năm 2022
  • Giai Phap Chien Luoc Phat Trien Giao Duc Vn Den Nam 2022 Ngay13 Thang 8
  • Chiến Lược Tổng Thể Phát Triển Giáo Dục Đại Học Việt Nam
  • 5 Năm Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Giáo Dục Phổ Thông
  • Thực Trạng Giáo Dục Tiểu Học Và Giải Pháp Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Thực Trạng Giáo Dục Tiểu Học Và Giải Pháp Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Năm Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Giáo Dục Phổ Thông
  • Chiến Lược Tổng Thể Phát Triển Giáo Dục Đại Học Việt Nam
  • Giai Phap Chien Luoc Phat Trien Giao Duc Vn Den Nam 2022 Ngay13 Thang 8
  • 7 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cần Thực Hiện Để Phát Triển Giáo Dục Đến Năm 2022
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Năng Lực Nhà Giáo Để Thực Hiện Tốt Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Vừa qua, Bộ GD&ĐT đã tổ chức Hội nghị Triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới với cấp tiểu học. Để làm cơ sở cho các giải pháp, Hội nghị đã đánh giá thực trạng hiện nay của giáo dục tiểu học khi đang thực hiện chương trình hiện hành.

    I. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TIỂU HỌC HIỆN NAY

    1. Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006)

    Thực hiện các môn học bắt buộc:

    – Lớp 1, 2, 3: Có 10 môn (Tiếng việt, Toán , Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thủ công, Thể dục, Giáo dục tập thể, Giáo dục ngoài giờ lên lớp); số tiết trên tuần của Lớp 1: 23, Lớp 2 và 3: 24, (chưa tính tiết tự chọn).

    – Lớp 4, 5: Có 11 môn (thêm các môn Khoa học, Lịch sử – Địa lý, bớt môn Tự nhiên và Xã hội); số tiết trên tuần Lớp 4, 5: 26 (chưa tính tiết tự chọn).

    – Có 03 môn học tự chọn gồm Tiếng Anh, Tin học và Tiếng dân tộc.

    a) Được đánh giá cao trong khu vực

    – Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% (đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN sau Singapore)

    – Tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08 %, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN.

    – Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia kỳ đánh giá quốc tế PASEC 10 năm 2011 đạt kết quả rất cao (cao nhất trong cộng đồng các nước nói tiếng Pháp)

    – Học sinh tiểu học Việt Nam tham gia các cuộc thi trong khu vực và quốc tế đều đạt thứ hạng cao như: thi Toán APMOS, IMC, thi Robotics, Cờ vua,…

    – Giáo dục tiểu học Việt Nam bảo đảm được các mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay, tạo nền móng vững chắc cho học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở.

    b) Các mục tiêu Quốc gia đối với giáo dục tiểu học được duy trì, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững

    – Hiện nay, 100% các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong đó có 16 tỉnh/thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 (theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP và Thông tư số 07/2016/TT-BGDĐT).

    – Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,10%.

    – Tỷ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học sau 5 năm đạt 92,08 %.

    c) Cơ sở vật chất được quan tâm và đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi và thực hiện đổi mới giáo dục ở cấp tiểu học.

    Toàn quốc hiện có 13.995 trường tiểu học (với 17.609 điểm trường), trong đó số trường tiểu học công lập là 13.735 (giảm 1.052 trường so với năm học trước) và 260 trường ngoài công lập; tỉ lệ trung bình trường tiểu học/xã là 1,25; tỉ lệ trung bình điểm trường/trường tiểu học là 1,26; nhiều trường tiểu học có từ 3 đến 5 điểm trường (chủ yếu ở các vùng miền núi).

    – Số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia trên toàn quốc đạt 66%, trong đó có 1.946 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 đạt tỉ lệ 13,9%.

    – Toàn quốc có 247.976 phòng học kiên cố, đạt 71.1%; phòng bán kiên cố, đạt 24%, vẫn còn trên 5% phòng học tạm và mượn.

    – Hiện tại ở cấp Tiểu học tỷ lệ phòng học trung bình chung cả nước là 0,89 (Miền núi phía Bắc 0,90; Tây Nguyên 0,85; Tây Nam Bộ 0,7) để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày tỷ lệ phòng học phải đạt 1,0 (1 lớp/1 phòng học). Tỷ lệ học sinh tiểu học 2 buổi/ngày trên toàn quốc hiện nay đạt gần 80%. Nhiều địa phương đã đạt tỉ lệ 100% học sinh học 2 buổi/ngày như: Nam Định, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam. Tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ ngày thấp tập trung ở 02 khu vực: các tỉnh miền núi hoặc có đông học sinh dân tộc; khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp. Những tỉnh có tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ngày thấp là Tuyên Quang (44,5%), Đồng Nai (30,2 %), Hưng Yên (20%)…

    d) Đánh giá chất lượng đội ngũ

    – Cả nước có gần 400 ngàn giáo viên tiểu học, tỷ lệ giáo viên biên chế gần 85% nên rất yên tâm công tác và tâm huyết với nghề.

    – Số giáo viên đạt chuẩn đào tạo và trên chuẩn đạt 99,9%, (Đại học và trên Đại học đạt 60%).

    – Tỉ lệ giáo viên/lớp, bình quân cả nước đạt 1,38 giáo viên/lớp nên đủ để tổ chức dạy đủ các môn học và dạy học 2 buổi/ngày.

    đ) Đổi mới hiệu quả các phương thức dạy học

    – Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình hiện hành theo hướng đổi mới, dạy học Tiếng Anh và Tin học đã được đặc biệt chú trọng. Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá theo Thông tư 30 và Thông tư 22 đã phát huy hiệu quả và nhận được sự đồng thuận của phụ huynh học sinh.

    – Giáo dục Tiểu học đã vận dụng các thành tựu về khoa học giáo dục của thế giới vào điều kiện thực tế của Việt Nam một cách hiệu quả như: Phương pháp “Bàn tay nặn bột”, Phương pháp dạy học Mỹ thuật của Đan Mạch, mô hình Trường học mới,…

    – Toàn quốc đã có 92% học sinh khối 3-5 được học tiếng Anh; môn Tin học đạt gần 70%.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Giáo dục tiểu học cũng nhận ra một số vấn đề còn hạn chế như sau:

    – Công tác tham mưu của cán bộ quản lí giáo dục ở một số đơn vị thiếu chủ động, chưa tích cực, hiệu quả chưa cao; tại một số địa phương việc phân cấp quản lí giáo dục chưa hợp lí, chưa phát huy được tính chủ động, tự chịu trách nhiệm và sáng tạo của người đứng đầu các cơ sở giáo dục. Vì vậy, một số cán bộ quản lí chưa mạnh dạn thực hiện các giải pháp đổi mới quản lí, đổi mới phương pháp giáo dục của cấp học; chưa tự tin trong quá trình triển khai thực hiện những chủ trương đổi mới của ngành; chưa tạo động cơ, khuyến khích sự đổi mới, sáng tạo của giáo viên.

    – Tỷ lệ giáo viên hợp đồng chưa được xét tuyển chính thức còn nhiều (khoảng 15%) nên chưa yên tâm công tác. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều; cơ cấu đội ngũ chưa hợp lí, một số nơi thiếu trầm trọng giáo viên các môn chuyên như Tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục; thực hiện đổi mới phương pháp dạy học của một bộ phận giáo viên còn yếu; việc tiếp cận thông tin của giáo viên vùng khó khăn còn hạn chế.

    – Tình trạng học sinh bỏ học, học sinh ngồi nhầm lớp vẫn diễn ra ở một vài địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đặc biệt là khu vực Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, việc thực hiện công tác giáo dục hòa nhập cho đối tượng học sinh khuyết tật còn nhiều bất cập, kết quả chưa phản ánh đúng bản chất cần được quan tâm giải quyết bằng những giải pháp tổng thể, đặc biệt đối với giáo dục Tiểu học.

    II. ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH 2022 (Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018)

    1. Tổng quan chung về sự ra đời của Chương trình 2022

    – Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    – Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

    – Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đoà tạo tổ chức xây dựng Chương trình 2022.

    – Phù hợp với thực tế của địa phương và kế thừa trên thực trạng hiện có.

    – Một chương trình, mỗi môn học có thể có nhiều sách giáo khoa.

    – Lộ trình triển khai: thực hiện theo Nghị quyết 51 của Quốc hội: năm học 2022 – 2022 ở lớp 1; năm học 2022 – 2022 ở lớp 2; năm học 2022 – 2023 ở lớp 3; năm học 2023 – 2024 ở lớp 4; năm học 2024 – 2025 ở lớp 5.

    2. Nội dung của Chương trình 2022

    Chương trình 2022 bao gồm quy định chương trình tổng thể, quy định chương trình môn học và hoạt động giáo dục của Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học Phổ thông. Trong đó, đối với cấp Tiểu học có một số nội dung cốt lõi sau:

    a) Môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc trong chương trình mới. (10 môn học và 01 hoạt động)

    – Gồm: 1) Tiếng Việt; 2) Toán; 3) Đạo đức; 4) Ngoại ngữ 1 (Lớp 3,4,5); 5) Tự nhiên và xã hội (Lớp 1,2,3); 6) Lịch sử và Địa lí (Lớp 4, 5); 7) Khoa học (Lớp 4, 5); 8) Tin học và Công nghệ (Lớp 3, 4, 5); 9) Giáo dục thể chất; 10) Nghệ thuật (Âm nhạc và Mĩ Thuật) và Hoạt động trải nghiệm (trong đó có tích hợp nội dung giáo dục của địa phương).

    b) Các môn học tự chọn (dạy ở những nơi có đủ điều kiện dạy học và phụ huynh học sinh có nguyện vọng)

    – So với Chương trình hiện hành, Chương trình 2022 có ít môn học hơn do thực hiện chủ trương tích hợp cao ở các lớp dưới. Tuy nhiên, trong Chương trình 2022 có thêm 2 môn học mới là Ngoại ngữ 1; Tin học và Công nghệ. Đối với một số địa phương, việc bổ sung giáo viên Tin học và Tiếng Anh là thách thức không nhỏ, nhất là trong tình hình tinh giản biên chế hiện nay. Chương trình 2022 là chương trình học 2 buổi/ngày, do đó số tiết học trong một năm học đều tăng lên, cụ thể:

    +) Lớp 1, 2 có: 07 môn học và 01 hoạt động bắt buộc, số tiết bình quân trên tuần là 25 (chưa tính môn tự chọn). (Chương trình hiện hành có 10 môn và 23 tiết trên tuần).

    +) Lớp 3 có: 08 nôn học và 01 hoạt động bắt buộc, số tiết bình quân trên tuần là 28 tiết (Chương trình hiện hành có 10 môn và 24 tiết trên tuần)

    +) Lớp 4, 5 có: 10 môn học và 01 hoạt động bắt buộc, số tiết bình quân trên tuần là 30 tiết. (Chương trình hiện hành có 11 môn, và 26 tiết trên tuần )

    Định hướng chung của đổi mới chương trình là hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Theo đó, học sinh cần tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập; được tìm tòi, khám phá; được làm việc độc lập, hợp tác, trao đổi theo nhóm hay lớp, trong đó các em được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế. Tăng cường “tương tác” (giữa: học sinh – giáo viên; học sinh – học sinh; học sinh – Thiết bị dạy học; học sinh – môi trường nơi các em sinh sống; …). Các em được tạo cơ hội bộc lộ, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển. Dạy học hướng tới đáp ứng nhu cầu phát triển của từng cá nhân học sinh được chú trọng.

    Chương trình 2022 là chương trình mở, theo đó địa phương, nhà trường, giáo viên có nhiều quyền và trách nhiệm hơn trong quá trình phát triển, triển khai chương trình giáo dục cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn. Điều này đòi hỏi mỗi nhà trường phải đổi mới nhiều trong hoạt động quản lí chuyên môn, phát triển chương trình giáo dục đến từng cấp, từng khối lớp, từng lớp, thậm chí từng nhóm đối tượng học sinh, từng học sinh.

    Chương trình 2022 ở cấp tiểu học thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học, mỗi tiết 35 phút. Việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày là một trong những thách thức đối với một số địa phương có tỷ lệ phòng học/lớp còn thấp, tỷ lệ giáo viên/lớp chưa đáp ứng được yêu cầu. Theo thống kê hiện nay toàn quốc có trên 80% số học học sinh trong cả nước đang được học 2 buổi/ngày theo Chương trình hiện hành. Nguyên nhân một số địa phương chưa tổ chức được cho học sinh học 2 buổi/ngày là khó khăn về quỹ đất, kinh phí và điều kiện sống của người dân. Để thực hiện được quy định của chương trình mới, bảo đảm cho con em địa phương không thiệt thòi so với học sinh những nơi khác, các địa phương thực hiện giải pháp sau: Cân đối quỹ đất, kinh phí để mỗi năm theo lộ trình thực hiện dứt điểm việc dạy học 2 buổi/ngày ở một lớp học theo lộ trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông như quy định tại Nghị quyết 51 của Quốc hội. Tuy nhiên, có thể thấy là những cơ sở giáo dục bố trí dạy học được 6 buổi/tuần thì đều có thể thực hiện được đầy đủ Chương trình. Các cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kết hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    III. CÁC GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 2022 Ở CẤP TIỂU HỌC

    1. Tổ chức thực hiện hiệu quả nội dung Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 344/BGDĐT-GDTrH ngày 24/01/2019 về việc đẩy mạnh thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

    Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ đã giao giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện các nội dung sau:

    Chỉ đạo ngành giáo dục tổ chức triển khai kế hoạch thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo phù hợp với điều kiện của địa phương;

    Tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng, xác định nhu cầu giáo viên ở từng môn học, lớp học, cấp học; chủ động xây dựng kế hoạch sắp xếp, bổ sung đội ngũ và phối hợp với các cơ sở đào tạo giáo viên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới;

    Tổ chức rà soát, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập;

    Điều chỉnh, sắp xếp để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có; xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm bổ sung thiết bị dạy học để thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới;

    Bố trí ngân sách địa phương, lồng ghép có hiệu quả và sử dụng đúng mục đích nguồn vốn từ các chương trình, đề án, dự án; huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới;

    Đẩy mạnh truyền thông về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông tại địa phương; biểu dương kịp thời gương người tốt, việc tốt trong thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;

    Tổ chức kiểm tra, giám sát, tổng hợp, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện, hàng năm gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    2. Tăng cường cơ sở vật chất để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày

    – Hiện tại tỷ lệ phòng học của Tiểu học trung bình chung cả nước là 0,89 (Miền núi phía Bắc 0,90; Tây Nguyên 0,85; Tây Nam Bộ 0,7) để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở cấp Tiểu học thì tỷ lệ phòng học phải đạt 1,0 (1 lớp/1 phòng học).

    – Tỷ lệ học sinh tiểu học 2 buổi/ngày trên toàn quốc hiện nay gần 80%. Nhiều địa phương đã đạt tỉ lệ 100% học sinh học 2 buổi/ngày như: Nam Định, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam. Tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ngày thấp tập trung ở 02 khu vực: các tỉnh miền núi hoặc có đông học sinh dân tộc; khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp. Những tỉnh có tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ngày thấp là Tuyên Quang (44,5%), Đồng Nai (30,2%), Hưng Yên (20%)…

    Các địa phương cấp tỉnh tập trung chỉ đạo các địa phương cấp huyện tập trung nguồn lực, lồng ghép các nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án để đủ phòng học theo lộ trình thực hiện sách giáo khoa ở cấp Tiểu học, tổ chức các đoàn kiểm tra, khảo sát một số địa phương khó khăn để tăng cường chỉ đạo và hỗ trợ thực hiện.

    Để đảm bảo đủ điều kiện cơ sở vật chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án đảm bảo cơ sở vật chất cho chương trình giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông giai đoạn 2022-2025 theo Quyết định số 1436/QĐ-TTg ngày 29 tháng 10 năm 2022 với mục tiêu: Bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị trường học để thực hiện chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục phổ thông theo lộ trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa, cụ thể: Giai đoạn 2022-2020 đối với cấp Tiểu học đã được phê duyệt và phân bổ về các địa phương:

    – Kiên cố hóa trường, lớp học: Đầu tư xây dựng 5.900 phòng học tiểu học thay thế các phòng học tạm thời (bao gồm: phòng học tranh tre, nứa lá, đã hết niên hạn sử dụng, đang xuống cấp, cần xây dựng lại; phòng học nhờ, mượn, thuê tại các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo.

    – Xây dựng bổ sung: 6.000 phòng học; 7.770 phòng chức năng (giáo dục thể chất, giáo dục nghệ thuật, tin học, ngoại ngữ, thiết bị giáo dục, hỗ trợ giáo dục khuyết tật học hòa nhập); 3.420 phòng thư viện;

    – Mua sắm bổ sung: 39.070 bộ thiết bị dạy học tối thiểu khối lớp 1 và lớp 2; 258.620 bộ bàn ghế hai chỗ ngồi; 13.910 bộ máy tính; 1.980 bộ thiết bị phòng học ngoại ngữ.

    3. Chuẩn bị đội ngũ giáo viên để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới

    Tỷ lệ giáo viên/lớp trên toàn quốc là 1,38 cơ bản đủ để thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, tuy nhiên số giáo viên đang thực hiện chế độ hợp đồng lao động khá nhiều (biên chế chính thức đạt tỷ lệ 85%), số giáo viên chưa được xét tuyển biên chế chính thức không yên tâm công tác) trong đó số lượng giáo viên đối với các môn học mới ở cấp Tiểu học khi thực hiện chương trình mới chưa đáp ứng yêu cầu như môn Tiếng Anh, Tin học.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo đã báo cáo Chính phủ về đề xuất định biên cho ngành giáo dục khi thực hiện chương trình mới, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ thực hiện và Bộ Nội vụ đã có Công văn số 1495/BNV-TCBC ngày 05/4/2019 về việc yêu cầu UBND các tỉnh thành phố rà soát bổ sung biên chế sự nghiệp cho ngành giáo dục và y tế để có phương án giao bổ sung trong thời gian tới, hiện nay các địa phương đã tiến hành rà soát theo thẩm quyền và gửi về Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và Đào tạo để báo cáo Chính phủ.

    Theo chương trình hiện hành môn Tin học và Tiếng Anh là môn tự chọn nên các địa phương chưa có căn cứ để tuyển giáo viên. Tuy nhiên theo Thông tư 32 về Ban hành chương trình 2022, môn Tiếng Anh và Tin học là môn học bắt buộc, vì vậy đây là căn cứ pháp lí để các địa phương tiến hành tuyển dụng giáo viên theo vị trí việc làm đảm bảo thực hiện chương trình mới. Vì vậy, các địa phương cần phải chú ý chỉ đạo các trường tiểu học xây dựng bổ sung vị trí việc làm đối với 2 môn học này, xây dựng vị trí định biên đủ định mức số tiết quy định. Lộ trình thực hiện sẽ từ năm học 2022- 2022 và đến năm học 2025- 2026 phải đảm bảo đủ số lượng giáo viên theo định mức và thành phần giáo viên bộ môn đủ và cân đối hợp lí giữa các môn theo quy định của chương trình và Thông tư 32 là căn cứ pháp lý để các địa phương chỉ đạo các trường Tiểu học, bổ sung vào vị trí việc đối với giáo viên môn Tin học và Tiếng Anh.

    Các địa phương có tỷ lệ giáo viên thấp cần tiến hành lên phương án tuyển dụng giáo viên để đảm bảo thực hiện dạy học 2 buổi/ngày (Sơn La, Thanh Hóa, Đồng Tháp; Hà Giang; Tuyên Quang; Hưng Yên…) đặc biệt ưu tiên tuyển dụng giáo viên Tin học và Tiếng Anh.

    4. Phối hợp thực hiện tốt công tác bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình 2022 và sách giáo khoa mới

    Các địa phương cần chú ý tổ chức phối hợp thực hiện Kế hoạch tập huấn theo các chương trình, kế hoạch mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành cụ thể có các đối tượng sau:

    – Giáo viên cốt cán: mỗi tỉnh có 02 cán bộ quản lý cấp sở giáo dục và đào tạo, 01 cán bộ quản lý cấp phòng giáo dục và đào tạo, mỗi trường tiểu học có 01 giáo viên được cử đi bồ dưỡng thực hiện chương trình. Thời gian thực hiện cấp Trung ương; cấp tỉnh phải thực hiện ngay sau đó.

    – Giáo viên giảng dạy lớp 1 khi thực hiện chương trình mới: 100% giáo viên giảng dạy lớp 1 năm học 2022-2021 phải được bồi dưỡng để dạy chương trình mới cụ thể mỗi lớp 1 phải bồi dưỡng cho ba đối tượng: Giáo viên dạy môn chung, giáo viên dạy âm nhạc, giáo viên dạy mỹ thuật (toàn quốc dự kiến năm học 2022-2021 có khoảng 63.500 lớp 1) đối tượng này địa phương phải chủ động thực hiện bồi dưỡng bằng ngân sách địa phương phải thực hiện xong trước tháng 12 năm 2022 để thời gian sau đó sẽ dành thời gian tập huấn sử dụng sách giáo khoa.

    – Các địa phương xây dựng Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên theo định hướng trên và tham mưu phương án bố trí kinh phí để thực hiện bồi dưỡng cho các đối tượng đúng tiến độ.

    5. Thực hiện sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, dồn dịch điểm trường đối với cấp tiểu học phải tuân thủ theo quy định của chương trình GDPT mới

    – Toàn quốc hiện có 13.995 trường tiểu học (với 17.609 điểm trường), trong đó số trường tiểu học công lập là 13.735 (giảm 1.052 trường so với năm học trước) và 260 trường ngoài công lập ; tỉ lệ trung bình trường tiểu học/xã là 1,25; tỉ lệ trung bình điểm trường/trường tiểu học là 1,26; nhiều trường tiểu học có từ 3 đến 5 điểm trường (chủ yếu ở các vùng miền núi).

    – Với quy mô trường và điểm trường như trên việc thực hiện sáp nhập các trường Tiểu học có quy mô nhỏ lại với nhau hoặc sáp nhập trường Tiểu học với trường THCS có quy mô nhỏ, hoặc sáp nhập các điểm trường lại với nhau là điều cần thiết và đúng với chủ trương chỉ đạo hiện nay theo Nghị quyết 18, 19 của Đảng.

    – Tuy nhiên khi thực hiện phải dựa trên Nguyên tắc “tạo thuận lợi cho người dân, đảm bảo quyền lợi học tập của học sinh; phù hợp với quy hoạch đáp ứng được các yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục”.

    5.2) Giải pháp chỉ đạo thực hiện

    a) Thực hiện dồn dịch điểm trường và các trường tiểu học có quy mô nhỏ

    – Thực hiện dồn dịch các điểm trường, trường tiểu học có quy mô nhỏ, cơ sở vật chất không đảm bảo, thành những điểm trường, trường tiểu học có quy mô lớn hơn để tập trung nguồn lực đầu tư kiên cố, đủ các hạng mục đảm bảo để thực hiện đầy đủ các hoạt động dạy học (sân chơi, bãi tập, nhà vệ sinh, phòng học, phòng bộ môn,…) để đảm bảo công bằng giữa điểm trường và cơ sở trường chính.

    – Khi sáp nhập các trường, điểm trường nhỏ thành các trường, điểm trường lớn nếu cách xa nhà học sinh không thể đi về cần tính toán đến phương án tổ chức ăn bán trú, đầu tư các hạng mục phụ trợ để đảm bảo tổ chức ăn trưa cho học sinh, đảm bảo thực hiện dạy học 2 buổi/ngày theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông 2022.

    – Các điểm trường không bố trí đủ phòng chức năng dạy học các môn tin học và ngoại ngữ, chỉ tổ chức dạy học cho học sinh lớp 1, 2. Học sinh lớp 3, 4, 5 được đưa về trường chính để được học đầy đủ các môn học bắt buộc theo quy định của chương trình.

    b) Sáp nhập các trường tiểu học liên cấp

    Chỉ sáp nhập các trường có quy mô nhỏ ở cùng địa bàn cấp xã; các trường tiểu học có quy mô dưới 10 lớp, xem xét ghép với trường trung học cơ sở trên cùng địa bàn xã; các xã có 2 đến 3 trường tiểu học, xem xét sáp nhập thành một trường nhưng phải đảm bảo đủ điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và các điều kiện cụ thể như:

    – Đảm bảo sĩ số học sinh/lớp theo quy định; đồng thời có giải pháp phù hợp thuận lợi, an toàn cho việc đi lại của học sinh khi đến trường; không để xảy ra tình trạng học sinh bỏ học do phải đi lại quá xa;

    – Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các trường sau sáp nhập;

    – Việc sáp nhập để hình thành các trường tiểu học với trường trung học cơ sở phải phân khu vực riêng biệt cho từng cấp học nhằm đảm bảo tính đặc thù (về thời lượng tiết học, hình thức tổ chức dạy học…) tránh làm ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học của mỗi cấp học;

    – Chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai, cơ sở vật chất tại những trường, điểm trường được chuyển đi đảm bảo phù hợp với quy hoạch, hiệu quả, tránh lãng phí.

    – Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và chế độ hỗ trợ cho học sinh để tổ chức thực hiện bán trú tại các điểm trường, các trường có học sinh ở xa để đảm bảo việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông mới.

    Trên cơ sở đó, cùng với các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương cần chủ động lên kế hoạch chi tiết, cụ thể để thực hiện được quy định của chương trình mới theo lộ trình như quy định tại Nghị quyết 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc hội về việc điều chỉnh lộ trình thực hiện việc triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Đổi Mới Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Dạy Học Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Ngắn Hạn Spkt
  • Các Biểu Hiện Phẩm Chất Và Năng Lực Của Học Sinh
  • Giao Lưu Trực Tuyến “giải Pháp Phát Triển Nhân Lực Có Kỹ Năng Nghề, Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia”
  • Những Khó Khăn, Thách Thức Đối Với Đội Ngũ Giáo Viên Trung Học Phổ Thông Hiện Nay Khi Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Và Giải Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022
  • Công Đoàn Giáo Dục Bình Định
  • Nhà Trường Thân Thiện Và Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục
  • Phương Pháp Giáo Dục Stem
  • Báo Cáo Chuyên Đề: Giáo Dục Stem, Giải Pháp Tiếp Cận Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ 4
  • Những khó khăn, thách thức đối với đội ngũ Giáo viên trung học phổ thông hiện nay khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và giải pháp khắc phục

    Tác giả: Phan Khuyên – CĐGD tỉnh Đồng Tháp

    Trong bối cảnh toàn cầu hoá hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học – công nghệ đạt những bước tiến thần kỳ, khối lượng thông tin, tri thức nhân loại tăng theo hàm số mũ, hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều nhận thức giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) trở thành nhân tố vừa là nền tảng, vừa là động lực góp phần quyết định tương lai của mỗi dân tộc. Với ý nghĩa đó, Đảng và Nhà nước ta khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình, của các lực lượng xã hội.

    Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực GD&ĐT nước ta bên cạnh đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; chất lượng, hiệu quả GD&ĐT vẫn còn thấp so với yêu cầu xã hội; nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Đặc biệt, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành đã bộc lộc những hạn chế, bất cập như: chương trình còn nghiêng về trang bị kiến thức lý thuyết, chưa thật sự thiết thực, chưa coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức; chưa đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đạo đức, lối sống. Mới chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa đáp ứng tốt yêu cầu về hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người, chưa coi trọng hướng nghiệp. Hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy học trên lớp, chưa tăng cường tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm. Quan điểm tích hợp và phân hoá chưa được quán triệt đầy đủ; các môn học được thiết kế chủ yếu theo kiến thức các lĩnh vực khoa học, chưa thật sự coi trọng yêu cầu về sư phạm; một số nội dung của một số môn học chưa đảm bảo tính hiện đại, cơ bản, còn nhiều kiến thức hàn lâm, nặng với học sinh. Phương pháp giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục nhìn chung còn lạc hậu, chưa chú trọng dạy cách học và phát huy tính chủ động, khả năng sáng tạo của học sinh.

    Từ thực tế trên, Hội nghị lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Hơn nữa, chiến lược phát triển giáo dục nước ta giai đoạn từ năm 2011-2020 đã nhấn mạnh vai trò then chốt của GD&ĐT, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ phát triển nguồn nhân lực, góp phần to lớn đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2022 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Thực tế cho thấychương trình và sách giáo khoa hiện hành khó đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới. Ngoài ra, xu thế phát triển chương trình và sách giáo khoacủa thế giới thay đổi rất nhanh; có nhiều thành tựu mới của khoa học giáo dục cần được bổ sung kịp thời vào chương trình giáo dục, nhiều nước có nền giáo dục phát triển đã chuyển hướng từ chương trình coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình coi trọng phát triển năng lực người học. Chính vì vậy, chương trìnhgiáo dục Việt Nam cần đổi mới để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

    Để chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai thực hiện thành công thì người giáo viên có vai trò hết sức quan trọng, là gốc rễ của đổi mới, góp phần quyết định chất lượng GD&ĐT. Khi đó, nhiệm vụ người giáo viên ngoài quy định tại Điều 31 của Điều lệ trường phổ thông được ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, còn phải tổ chức, hướng dẫn nhiều hoạt động giáo dục cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát huy năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và năng lực tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển. Quả thật, nhiệm vụ của người giáo viên ở trường phổ thông rất nặng nề, bởi ngoài việc hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy họ còn chịu áp lực từ nhiều phía từ nhà trường, gia đình và xã hội.

    2. Những khó khăn, thách thức đối với giáo viên trung học phổ thông hiện nay khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới

    2.1. Khó khăn

    2.1.1. Phải thích ứng với nhiều điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông mới

    Những điểm mới trên đòi hỏi người giáo viên phải được trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp, lẫn kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động dạy học; kết quả giáo dục phản ánh sự đầu tư và năng lực của người thầy.

    2.1.2. Những hạn chế, bất cập về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo trong ngành giáo dục

    Để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới cần giải quyết căn cơ vấn đề tình trạng đội ngũ giáo viên sẽ thừa thiếu cục bộ, một số giáo viên đơn môn chắc chắn sẽ thừa, trong khi giáo viên môn nghệ thuật sẽ thiếu trầm trọng, đặc biệt là giáo viên dạy tích hợp một số môn chưa có; cơ sở vật chất, trang thiết bị, không gian riêng ở nhiều địa phương sẽ không đáp ứng được yêu cầu do có nhiều môn học mới, đòi hỏi rèn luyện kỹ năng, chú trọng giáo dục nhân cách cho học sinh; hơn nữa việc giáo dục trải nghiệm sáng tạo cũng cần kinh phí thực hiện và hơn hết là đảm bảo sự an toàn cho học sinh, tạo niềm tin cho phụ huynh cùng đồng hành với nhà trường trong việc giáo dục con em mình.

    2.1.3. Dạy học nội dung giáo dục lịch sử địa phương

    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới đề cao nội dung giáo dục lịch sử địa phương; tuy nhiên, việc biên soạn tài liệu, giáo trình, sự liệu vật chất lại phụ thuộc vào năng lực của giáo viên, điều kiệnthực tế của từng địa phương. Từ đó, dẫn đến tình trạng kiến thức còn nặng và sự lệch nhau giữa nội dung lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương.Bên cạnh đó, do đặc thù vùng miền nên việc tổ chức các hình thức dạy học sẽ kém phong phú, việc dạy học lịch sử địa phương tại thực địahay việc ứng dụng công nghệ thông tin ít các trường tổ chức thực hiện. Việc tổ chức cho học sinh tham quan, học tập ở các di tích lịch sử chỉ diễn ra đối với các trường nằm ở trung tâm hoặc là gần các di tích…Mặt khác, một số học sinh không ham thích học lịch sử địa phương còn diễn ra ở một số trường học, nên dẫn đến tình trạng một số tiết học chưa đảm bảo được nội dung và yêu cầu của chương trình.

    2.1.4. Công tác xã hội hoá giáo dục

    Trong những năm qua, các trường trung học phổ thông nói chung dưới sự lãnh chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, quản lý công tác xã hội hoá giáo dục đã được tiến hành dưới nhiều hình thức và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, việc thực hiện xã hội hoá giáo dục vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: một số xã, phường, cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn thể và cha mẹ học sinh (CMHS) chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em mình; chưa nhận thức đúng đắn về vị trí, tầm quan trọng của giáo dục; do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên một bộ phận học sinh phải bỏ học vào đời kiếm sống; một số lực lượng xã hội quan niệm cho rằng nội dung chính của công tác xã hội hoá giáo dục là chỉ huy động kinh phí trong nhân dân hoặc là để cho dân lo là chính, dẫn đến việc đầu tư cho giáo dụcchưa đúng mức. Mặt khác, việc quản lý công tác xã hội hoá giáo dục còn thiếu biện pháp phù hợp, tính khả thi chưa cao. Điều này chắc chắn ảnh hưởng đến tâm lý của giáo viên khi giảng dạy, một khi chưa thật sự an tâm công tác thì chất lượng giáo dục sẽ không đạt được kết quả như mong muốn.

    2.2. Thách thức

    2.2.1. Xu thế hội nhập

    Bên cạnh những khó khăn, giáo viên còn đối mặt với những thách thức về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của Nhà nước và phần đông gia đình còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, đặt ra nhiệm vụ nặng nề và thách thức lớn đối với sự phát triển GD&ĐT; khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đều giữa các địa phương vẫn tiếp tục là nguyên nhân dẫn đến thiếu bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục và khoảng cách chất lượng giáo dục giữa các đối tượng người học và các vùng miền.

    2.2.2. Nhận thức của các lực lượng xã hội về vai trò của giáo dục

    Nhận thức về vai trò giáo dục chưa thực sự thống nhất, đồng thuận trong các cấp quản lý và các tầng lớp nhân dân. Vẫn còn tư duy bao cấp, sức ì trong nhận thức, tác phong quan liêu trong ứng xử với giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; bệnh thành tích, hư danh, chạy theo bằng cấp trong cán bộ và người dân chậm được khắc phục.

    2.2.3. Hệ lụy của sự tiến bộ xã hội

    3.Giải pháp khắc phục

    3.1. Công tác bồi dưỡng, tập huấn

    Tăng cường bồi dưỡng thường xuyên, tập huấn ngắn hạn của Bộ, Sở GD&ĐT về chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, khuyến khích học trực tuyến, bồi dưỡng tại chỗ, phát huy năng lực tự nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tìn vào giảng dạy, công tác; đa dạng các hình thức tập huấn, quan tâm đến giao lưu học tập kinh nghiệm, tổ chức hội thảo chuyên đề, mời chuyên gia để truyền đạt ý tưởng, tạo động lực để giáo viên thổi hồn vào bài giảng một cách thiết thực và hiệu quả hơn.

    3.2. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

    Cần tận dụng tối đa cơ sở vật chất của nhà trường, linh hoạt sáng tạo trong sử dụng, phân bố các phòng học; quán triệt nguyên tắctận dụng tối đa tài nguyên hiện có; xây dựng kế hoạch trang bị thêm thiết bị tối thiểu cho những môn học mới; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả; phát huy ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả; tích cực tự làm đồ dùng dạy học, tăng cường xã hội hoá, tranh thủ sự hỗ trợ về mọi mặt của cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội.

    3.3. Phát huy vai trò của Ban đại diện cha mẹ học sinh, các lực lượng xã hội

    Ban đại diện CMHS là một tổ chức quần chúng đặc biệt quan trọng trong tổ chức, hoạt động giáo dục. Chính vì vậy tại Điều 96 Luật Giáo dục 2005 đã quy định hình thức tổ chức của Ban đại diện CMHS “Ban đại diện CMHS được tổ chức trong mỗi năm học ở giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, do cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh từng lớp, từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục” đã khẳng định sự nghiệp giáo dục của Việt Nam không phải chỉ do Nhà nước gánh vác, mà phải có sự chung sức của các lực lượng xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp giáo dục nước nhà, tạo nên một xã hội học tập.

    3.4. Phối hợp chặt chẽ các môi trường giáo dục

    Môi trường gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách cho học sinh. Chính vì thế, Nhà nước, các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư phải có trách nhiệm giúp đỡ, định hướng cho các gia đình về những điều kiện tối thiểu, cần thiết về kinh tế, về nếp sống văn minh, về trình độ học vấn và kiến thức giáo dụchọc sinh, đặc biệt là vai trò của CMHS cần phải phát huy tối đa.

    Môi trường nhà trường: Nhà trường là trung tâm, thông qua giáo dục trong nhà trường sẽ góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người. Nhà trường không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức về văn hóa, mà còn rèn luyện và phát triển đạo đức, tư duy sáng tạo, hành vi ứng xử giúp các em trở thành con người phát triển toàn diện.

    Môi trường xã hội: Môi trường giáo dục xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi ứng xử, đạo đức học sinh. Môi trường xã hội ta đang có những biến đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, có tác động lớn đến việc giáo dục thế hệ trẻ. Vì thế, cần huy động toàn xã hội vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, có ý nghĩa giáo dục tích cực, luôn hướng các em đến cái thiện, cái tốt.

    3.5. Đẩy mạnhtổ chức hoạt động giáo dục thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh

    Nghị quyết 29/NQ/TW của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII, khoá XI, khi đánh giá tình hình giáo dục đào tạo ở phổ thông đã khẳng định: “Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức lối sống và kỹ năng làm việc” .

    3.6. Chú trọng tổ chức hoạt động giáo dục lao động và hướng nghiệp cho học sinh

    Đây là một trong những nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh ở nhà trường phổ thông hiện nay. Thông qua hoạt động này, người giáo viên sẽ giúp học sinh hình thành được những phẩm chất và năng lực của người lao động, chuẩn bị tâm thế để bước vào cuộc sống lao động sau này. Mục đích tổ chức hoạt động giáo dục lao động là giúp học sinh ý thức trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn vệ sinh lớp học, làm sạch môi trường học tập và có ý thức trách nhiệm trong phân công lao động tập thể. Bên cạnh những buổi hoạt động giáo dục lao động bắt buộc, người giáo viên phải thường khuyến khích các em tự nguyện tham gia các buổi lao động công ích như tham gia phong trào “Ngày thứ Bảy xanh- sạch- đẹp” do Đoàn thanh niên phối hợp tổ chức vệ sinh các gốc phố, con đường… Còn tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp sẽ giúp học sinh có hiểu biết và chọn đúng đắn nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với năng lực của bản thân và nhu cầu của xã hội.

    3.7. Đa dạng các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí

    Bên cạnh các hoạt động học tập, lao động của lớp, giáo viên bộ môn cùng với giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm cố vấn cho đội ngũ cán sự lớp tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… nhằm giúp học sinh sảng khoái tinh thần, minh mẫn học tập, mở mang trí tuệ, phát triển thể chất, giáo dục thẩm mĩ, phát triển nhân cách nói chung của học sinh. Hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục này rất phong phú, đa dạng như: các hoạt động giao lưu thể thao (bóng đá, bóng chuyền, cầu lông…), hoạt động cắm trại, du lịch, tham gia các hoạt động vui chơi bổ ích… Đó là những hoạt động ngoài giờ lên lớp rất bổ ích mà bất cứ một môi trường giáo dục lành mạnh, tiên tiến nào cũng cần có.

    5. Kết luận

    Tóm lại, để hoàn thành mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần thực hiện thành công cuộc đổi mới giáo dục, rất cần sự thay đổi trong nhận thức và hành động của mỗi thầy cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Giáo viên phải tích cực phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tổ chức tốt các hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh. Mọi tổ chức hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh thật sự thành công hay không là phụ thuộc vào cái tâm, cái tài và cái tầm của người giáo viên. Với những kinh nghiệm đã được đúc kết trong quá trình giảng dạy và quản lý giáo dục nhiều năm qua, chúng tôi tin rằng những giải pháp nêu trên sẽ giúp ích cho giáo viên trung học sẽ tự tin, đủ kiến thức và kĩ năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ vừa “dạy chữ” vừa “dạy người” của mình trong chương trình giáo dục phổ thông mới./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Năng Lực Nhà Giáo Để Thực Hiện Tốt Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • 7 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cần Thực Hiện Để Phát Triển Giáo Dục Đến Năm 2022
  • Giai Phap Chien Luoc Phat Trien Giao Duc Vn Den Nam 2022 Ngay13 Thang 8
  • Chiến Lược Tổng Thể Phát Triển Giáo Dục Đại Học Việt Nam
  • 5 Năm Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Giáo Dục Phổ Thông
  • Chất Lượng Nhà Giáo Là Gốc, Là Giải Pháp Đột Phá Trong Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Căn Bản Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục
  • 7 Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Giai Đoạn 2011
  • Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục Đbscl
  • Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc
  • Đây là ý kiến của Thứ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Hữu Độ tại phiên họp về “Định hướng mục tiêu và giải pháp cho giáo dục phổ thông trong chiến lược giáo dục giai đoạn 2022-2030 và tầm nhìn 2045”.

    GS.TS Phạm Hồng Quang, Giám đốc Đại học Thái Nguyên cho rằng, mục tiêu của Chiến lược phải tương đồng với Luật Giáo dục 2022.

    Theo đó, mục tiêu của giáo dục được chuyển từ “đào tạo con người toàn diện” (theo Luật Giáo dục 2005) sang “phát triển toàn diện con người Việt Nam”.

    Để hoàn thành mục tiêu này, ngoài ngành GDĐT, còn có trách nhiệm lớn của các địa phương trong đầu tư, quan tâm đến giáo dục đào tạo, trách nhiệm của gia đinh và toàn xã hội.

    GS. Phạm Hồng Quang và nhiều Hiệu trưởng trường phổ thông tham dự phiên họp đề xuất việc đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, coi đây là giải pháp đột phá để thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn 2045.

    “Tự chủ mới ra được chất lượng. Ở môi trường tự chủ, nhà trường sẽ làm được nhiều giá trị cho học sinh”, bà Nguyễn Thị Nhiếp- thành viên Tổ tư vấn của Ủy ban quốc gia đổi mới giáo dục nói.

    Ngoài đề xuất thí điểm cho một số trường thực hiện tự chủ rồi lâu dài sẽ áp dụng đại trà, bà Nhiếp cho rằng, cần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giáo dục, xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, đổi mới thi cử đáp ứng mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của học sinh.

    TS. Nguyễn Tùng Lâm, Chủ tịch Hội đồng giáo dục trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) bổ sung giải pháp đổi mới việc đào tạo cán bộ quản lý giáo dục để khắc phục tình trạng hiện nay phần lớn lãnh đạo trường phổ thông đi lên từ giáo viên và thực hiện việc quản lý, quản trị nhà trường theo kinh nghiệm.

    Tại phiên họp, Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ cho biết, định hướng mục tiêu, giải pháp cho giáo dục phổ thông giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn 2045 là “mảnh ghép” quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam, nhằm thực hiện các nhiệm vụ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, đáp ứng Luật Giáo dục 2022 và các yêu cầu mới.

    Ghi nhận ý kiến góp ý của các đại biểu tham dự phiên họp, Thứ trưởng giao các đơn vị chuyên môn của Bộ GDĐT tổng hợp và hoàn thiện định hướng phát triển giáo dục phổ thông 2022-2030 với mục tiêu tổng quát tương đồng với Luật giáo dục 2022, thống nhất 9 nhiệm vụ và giải pháp – đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 29.

    Theo đó, ngành Giáo dục sẽ rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông trong cả nước; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp; triển khai thực hiện chương trình giáo dục giáo dục phổ thông mới, đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng trong giáo dục phổ thông.

    Đồng thời nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục; hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo; tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng giáo dục; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

    Thứ trưởng Độ nhấn mạnh, “Giải pháp đẩy mạnh giao quyền tự chủ đối với các cơ sở giáo dục phổ thông có thể xác định là “điểm nhấn”. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp vẫn phải lấy chất lượng nhà giáo là gốc, là giải pháp đột phá trong chiến lược phát triển giáo dục phổ thông”.

    Thứ trưởng yêu cầu, song song với việc đưa ra bộ chỉ số phát triển giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới đảm bảo đúng hướng, đúng mục tiêu, đúng chỉ đạo, phù hợp với hội nhập quốc tế, phải đưa ra chỉ số đột phá để thấy sự khác biệt của giáo dục Việt Nam so với thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • “bài Toán” Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Giai Đoạn 2022
  • 4 Nguyên Tắc Và 8 Giải Pháp Tinh Giản Biên Chế Giáo Dục
  • Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục 2011
  • Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông
  • Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022
  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Thông Minh Tại

    --- Bài mới hơn ---

  • Cung Cấp Giải Pháp Giáo Dục Thông Minh
  • Triển Khai Giải Pháp Giáo Dục Thông Minh (Smart Education) Năm Học 2022
  • Bình Dương Triển Khai Thí Điểm Giải Pháp Giáo Dục Thông Minh
  • Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Mầm Non Giai Đoạn 2022
  • Giải Pháp Cho Giáo Dục Mầm Non Giai Đoạn 2022
  • Ngày 20/12, UBND chúng tôi tổ chức Hội thảo Giáo dục thông minh tại TP.HCM.

    Chủ trì hội thảo có chúng tôi Huỳnh Thành Đạt, Giám đốc ĐH Quốc gia chúng tôi ông Lê Thanh Liêm, Phó Chủ tịch thường trực UBND chúng tôi ông Lê Hồng Sơn Giám đốc Sở GD&ĐT TP.

    Bên cạnh đó, hình thức tổ chức dạy học truyền thống gắn với việc truyền thụ kiến thức, tài liệu in, thời gian biểu cố định, … đã khiến giáo dục thiếu tính linh hoạt, sáng tạo;

    Kinh phí đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở giáo dục chưa đáp ứng tốt cho giáo dục thông minh. Việc triển khai các ứng dụng CNTT&TT trong giáo dục thời gian qua thiếu đồng bộ; kết nối cơ sở dữ liệu, khai thác sử dụng trang thiết bị, hạ tầng CNTT, viễn thông chưa thật sự hiệu quả; trình độ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên chưa đồng đều; còn thiếu các giải pháp phần mềm, cơ sở dữ liệu đồng bộ để từng cơ sở GD kết nối vào hệ thống chung của thành phố thông minh.

    Mặc dù còn nhiều rào cản, nhưng để đáp ứng nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đạt trình độ quốc tế, GD phổ thông chúng tôi phải đầu tư, đẩy mạnh giáo dục thông minh. GD thông minh như là một hệ thống hỗ trợ quản lý giáo dục và quản trị nhà trường, giảng dạy và học tập thông minh, phù hợp với xu thế phát triển công nghệ thông tin, truyền thông của thế kỷ 21; đáp ứng những thay đổi trong hệ thống GD hiện đại như chương trình và nội dung GD, học liệu và phương tiện dạy học, phương pháp và hình thức dạy học…

    Hội thảo đã nhận được gần 50 tham luận của các trường phổ thông, ĐH, các chuyên gia, các doanh nghiệp, nhà khoa học trong và ngoài nước, tập trung vào các vấn đề:

      Đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường phổ thông theo hướng tích cực hóa, hiện đại hóa; Phát huy vai trò của giáo dục STEAM, STEM trong các trường phổ thông; Định hướng xây dựng các mô hình giáo dục thông minh.
      Thực trạng và giải pháp đưa nội dung trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục tại chúng tôi
      Định hướng xây dựng nguồn nhân lực cho giáo dục phổ thông thực hiện định hướng giáo dục thông minh…
      Giáo dục trực tuyến E-Learning, hệ thống thư viện điện tử thư viện số; mô hình lớp học thông minh; thực hành thí nghiệm tiên tiến hiện đại.

    Các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học, các giải pháp các doanh nghiệp và kinh nghiệm thực hiện từ các cơ sở GD, cũng như những đề xuất, kiến nghị từ cơ sở, đều được hội thảo ghi nhận, làm cơ sở để trong thời gian tới tiếp tục đưa ra những giải pháp hữu ích, thiết thực phát triển GD thông minh tại TP.

    Theo Giáo dục thời đại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tổ Chức Hoạt Động Ngoài Giờ Lên Lớp Đạt Hiệu Quả Ở Trường Tiểu Học
  • Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Các Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Cho Học Sinh Trường Tiểu Học Hải Hòa
  • Những Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Trong Nhà Trường Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Ở Hà Tĩnh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tuyên Truyền, Giáo Dục Pháp Luật Cho Nhân Dân
  • Đề Xuất Giải Pháp Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điểm Mới Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Cấp Tiểu Học Và Giải Pháp Thực Hiện
  • Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới: Chủ Động Tự Bồi Dưỡng
  • Những Lưu Ý Khi Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Quá Trình Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp Nông Thôn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Dân Chủ Hóa Trong Trường Trung Học Cơ Sở Quang Kim Bát Xát Để Phấn Đấu Xây Dựng Nhà Trường Ổn Định Và Phát Triển Bền Vững
  • Điều đáng chú ý là trong chương trình mới này, số lượng môn học, thời lượng học ở cả 3 bậc học: Tiểu học, THCS, THPT đều giảm so với dự thảo. Đặc biệt, hoạt động hướng nghiệp được đẩy mạnh thực hiện từ năm lớp 8. Hoạt động trải nghiệm được coi là một trong những nội dung không thể thiếu trong chương trình mới.

    Sau khi chương trình được thông qua, một số lãnh đạo trường học đã có những ý kiến, đề xuất với lãnh đạo Bộ trước khi áp dụng chính thức vào các trường học.

    Giảm tiết học phải song hành với giảm kiến thức môn học

    Bà Trần Thúy Nga, Hiệu trưởng trường THCS Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội cho biết, việc tư vấn nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh được các trường THCS thực hiện từ năm lớp 8 rất tốt. Điều này sẽ giúp cho những học sinh nào không có năng lực học tập tiếp lên cấp THPT thì có thể chuyển sang học nghề.

    Về số tiết học ở bậc THCS trong chương trình GDPT tổng thể giảm so với dự thảo lần 1. Cụ thể, lớp 6, 7 giảm 58 tiết (gồm cả bắt buộc và tự chọn), khối 8, 9 giảm 78 tiết (cả bắt buộc và tự chọn). Tuy nhiên, nếu giảm số tiết học xuống mà chương trình học không thay đổi thì nội dung kiến thức của 1 tiết học lại tăng lên. Vì vậy, nếu chương trình GDPT tổng thể đã giảm thời lượng tiết học xuống phải song hành với việc giảm kiến thức môn học xuống thì mới phù hợp với học sinh.

    Việc tích hợp giữa các môn học nên cụ thể hơn như: Tổ hợp các môn Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, các môn năng khiếu thì cần có sự tích hợp ở nhiều bài học hơn, chứ không nên chỉ tích hợp ở một môn học.

    Theo bà Trần Thúy Nga, ở các địa phương có diện tích đất đai rộng sẽ thuận lợi cho các hoạt động trải nghiệm. Còn các trường THCS trong nội thành ở một số thành phố ít có không gian để giáo viên thực hiện hoạt động trải nghiệm. Để thực hiện được hoạt động này, các trường này phải cho học sinh đến địa phương khác.

    Trước khi thực hiện chương trình GDPT tổng thể, Bộ GD-ĐT nên có sự truyền đạt, hướng dẫn và tập huấn cho các địa phương thật kỹ lưỡng. Từng trường học, cán bộ quản lý cho đến giáo viên cần nắm thật chắc và đúng những nội dung thay đổi trong chương trình để khi triển khai mới có thể đạt hiệu quả, đồng bộ.

    Ngoài ra, đối với hoạt động trải nghiệm không phải là nội dung nào cũng có thể thực hiện tại trường nên rất cần được các địa phương hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất.

    Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên rất quan trọng

    Đối với cấp THPT, ông Nguyễn Quốc Bình, Hiệu trưởng trường THPT Việt Đức, Hà Nội nêu quan điểm, trong chương trình GDPT tổng thể vừa được Bộ GD-ĐT thông qua, tổng số tiết học của mỗi năm là 1015 tiết, thấp hơn so với lớp 10 ở bản dự thảo lần 1 là 85 tiết nhưng nhiều hơn lớp 11, 12 so với bản cũ là 30 tiết.

    Nếu các trường THPT có thể điều tiết được thời lượng chương trình các môn học thì hoàn toàn có thể dạy học được, không ảnh hưởng gì nhiều đến chất lượng giảng dạy.

    Đối với hoạt động trải nghiệm đã được thực hiện ở các trường THPT nhưng vẫn còn ít và sơ sài, chưa được đặt ra là hoạt động thiết yếu trong trường học. Nếu bây giờ hoạt động này được chú trọng hơn thì các thầy cô giáo cần được hướng dẫn một cách cụ thể.

    Ngoài ra, hiện nay, các trường THPT công lập đang còn rất khó khăn về tài chính, cơ sở vật chất để hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động sáng tạo và trải nghiệm.

    Theo ông Nguyễn Quốc Bình, để thực hiện chương trình GDPT tổng thể, với điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên như hiện nay, các trường THPT công lập không thể thực hiện chuẩn ngay được mà cần phải có lộ trình, thời gian.

    Ví dụ như trong 3 năm đầu, các trường thực hiện hoạt động trải nghiệm được đến đâu, sau bao nhiêu năm thì các trường có thể đạt chuẩn về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên để đáp ứng cho giảng dạy theo chương trình mới./.

    Chương trình GDPT tổng thể có một số thay đổi so với bản dự thảo: Cấp Tiểu học: Môn Ngoại ngữ là môn bắt buộc từ năm lớp 3

    So với bản dự thảo công bố lần 1, bản chính thức có nhiều điểm mới. Cụ thể với bậc tiểu học, môn ngoại ngữ 1 đã chuyển thành môn tự chọn đối với lớp 1, lớp 2, và là môn học bắt buộc đối với lớp 3, 4,5. Trong môn học tự chọn đã không còn bóng dáng của môn ngoại ngữ 2.

    Số lượng môn học khác cũng được giảm đáng kể. Hai môn học tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội trong bản dự thảo 1 đã được tích thành môn học tự nhiên và xã hội. Địa lý và lịch sử cũng chỉ được coi là 1 môn học. Môn học bắt buộc ” Cuộc sống quanh ta ở bản dự thảo 1 đã không còn có mặt tại bản chính vừa được công bố.

    Hai môn thế giới công nghệ và tìm hiểu tin học được tích hợp còn một môn là tin học và công nghệ. Số lượng các môn học giữa các lớp ở bậc tiểu học trong bản chính không giống nhau. Chính vì vậy, lớp 1, lớp 2 tổng số tiết trong năm học là 1015 tiết, lớp 3 là 1085 tiết, lớp 4 và lớp 5 là 1120 tiết.

    Như vậy so với bản dự thảo lần 1, số tiết học trong năm của tất cả các lớp tiểu học đều giảm đi đáng kể. Cụ thể, lớp 1, 2 giảm nhiều nhất là 132 tiết (cả bắt buộc và tự chọn), lớp 3 giảm 62 tiết, lớp 4, 5 giảm 64 tiết (cả bắt buộc và tự chọn).

    Trong bản chính, nội dung 3 lớp học ở bậc THPT tương đồng, không còn chủ trương dự hướng ở lớp 10 như bản dự thảo lần 1. Chính vì vậy, số lượng môn học, tên môn học ở các lớp 10, 11, 12 là như nhau.

    Các môn học được lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp gồm 3 nhóm môn: Nhóm môn Khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật. Nhóm môn Khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học. Nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật. Nội dung mỗi môn học thuộc nhóm này được thiết kế thành các học phần, học sinh được lựa chọn học phần phù hợp với nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.

    Học sinh chọn 5 môn học từ 3 nhóm môn học trên, mỗi nhóm chọn ít nhất 1 môn.

    Tổng số tiết học của mỗi năm là 1015 tiết, thấp hơn so với lớp 10 ở bản dự thảo lần 1 là 85 tiết, nhưng nhiều hơn lớp 11, 12 so với bản cũ là 30 tiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 3: Nêu Gương Tự Phê Bình Và Phê Bình Là Xây Dựng Đảng Về Đạo Đức
  • Thực Hiện Nqtw4: Đề Xuất Giải Pháp Thực Hiện Tự Phê Bình Và Phê Bình
  • Giải Pháp Thực Hiện Tốt Tự Phê Bình Và Phê Bình Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Kỷ Niệm 85 Năm Ngày Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3
  • Ứng Dụng Chữ Ký Số, Chữ Ký Điện Tử Tại Các Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh Như Thế Nào??
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Phát Triển Giáo Dục Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiến Kế Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Giáo Viên Vùng Cao Chia Sẻ Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Chương 3 Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Song Ngữ Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Quảng Bình
  • Bàn Về Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế
  • Những thành tựu bước đầu trong công tác phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

    Nhờ có chủ trương, chính sách đúng đắn và phù hợp của Đảng, Nhà nước, đến nay đã có nhiều mô hình trường học dành cho con em đồng bào các dân tộc, như: Trường thanh niên dân tộc, trường vừa học vừa làm, trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, trường dự bị đại học dân tộc, trường thiếu sinh quân… Hệ thống giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông được củng cố và phát triển, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc.

    Theo kết quả điều tra về tình hình kinh tế – xã hội 53 dân tộc thiểu số của Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc, tính đến ngày 1/8/2015: số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết là 7.465.062 người (đạt 79,8%); số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 7.416.732 người (đạt 79,2%); tỷ lệ người có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo, đạt 6,2%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, đi học đúng cấp đạt 70,2%; tổng số trường học của các xã vùng dân tộc thiểu số là 17.722. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2014-2015, cả nước đã có 304 trường phổ thông dân tộc nội trú với gần 64.697 học sinh thuộc 45/53 dân tộc thiểu số theo học, trong đó có 215 trường cấp huyện, 89 trường cấp tỉnh. Năm học 2014 – 2022 số học sinh tiểu học là con em dân tộc là 1.316.048 em; trung học cơ sở là 816.995 em; trung học phổ thông có 296.868 em.

    Cùng với sự phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông, đến nay đã có 4 trung tâm đại học khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Hệ thống trường đào tạo nghề, trường cao đẳng được củng cố và phát triển. Hiện cả nước, có trên 13 nghìn người dân tộc thiểu số có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78 nghìn người có trình độ trung học chuyên nghiệp,… đã thực hiện cơ bản sự nghiệp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; quy mô đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng với tốc độ cao; trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của lao động từng bước được nâng lên; tiềm lực và trình độ khoa học – công nghệ đã có bước phát triển đáng kể. Hệ thống các trường dự bị đại học và các khoa dự bị đại học dân tộc đang được phát triển cả về quy mô đào tạo và cơ sở vật chất. Các chương trình dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số bước đầu được quan tâm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn được một số sách giáo khoa dạy chữ viết dân tộc Khmer, chữ viết dân tộc Mông, dân tộc Mnông, dân tộc Bana, dân tộc Êđê, dân tộc Chăm, Hoa… Chế độ cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, có nhiều dân tộc thiểu số lần đầu tiên có học sinh được cử tuyển đi học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.

    Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

    Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời, nhằm thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, xoá dần khoảng cách chênh lệch về giáo dục giữa “miền ngược và miền xuôi”, đòi hỏi công tác giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số phải tiếp tục được quan tâm, đầu tư hơn nữa. Thực trạng đói nghèo, kém phát triển, chưa nhận thức và sự hiểu biết về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; còn nghe theo kẻ xấu lừa phỉnh gây mất ổn định an ninh chính trị ở một số vùng dân tộc hiện nay có nguyên nhân chủ yếu là do trình độ học vấn của đồng bào còn hạn chế, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương. Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện còn thấp (khoảng 11,32%). Trong tổng số 48.200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45,7%, tiểu học 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học. Đội ngũ cán bộ thôn, bản, phum, sóc năng lực, trình độ còn thấp hơn nhiều. Bên cạnh đó, lực lượng trong độ tuổi lao động của vùng dân tộc thiểu số đã qua đào tạo mới đạt 10,5%. Nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số có trình độ đại học và trên đại học mới đạt 2,8%, riêng người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 1,1%, thấp hơn 4 lần so với toàn quốc1.

    Nhìn chung, mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn có khoảng cách đáng kể với dân tộc đa số. Chất lượng nguồn nhân lực đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số thiếu về số lượng và một bộ phận yếu về trình độ chuyên môn. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung cả nước, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn cao và có nguy cơ ngày càng rộng ra, thể hiện ở tỷ lệ biết chữ của trẻ em dân tộc thiểu số chỉ đạt tỷ lệ 78% so với tỉ lệ biết chữ chung, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên 30% (hiện còn hơn 2.000 xã và trên 18.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn). Tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ trong đồng bào còn khá cao, tỷ lệ người có trình độ học vấn cao là rất thấp (dân tộc Brâu là dân tộc chưa có người đi học đại học).

    Để mọi người dân có trình độ học vấn cao hơn đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước bằng việc mở trường, lớp, đào tạo giáo viên… Ở những vùng có địa hình thuận lợi, như các tỉnh đồng bằng, trung du dân cư đông, việc mở trường lớp thuận lợi, lại được ngành giáo dục quan tâm hơn nên trình độ học vấn của người dân được nâng cao. Ngược lại, ở vùng miền núi là nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nơi có địa hình phức tạp, không thuận lợi, cơ sở vật chất, trường lớp thiếu thốn, nên công tác phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn của đồng bào còn nhiều hạn chế. Do vậy, trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số thấp hơn trình độ học vấn của đồng bào dân tộc đa số; hoặc trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thấp hơn trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở những vùng thuận lợi.

    Quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số còn nhiều thiếu sót từ chương trình sách giáo khoa, phương pháp giáo dục và dạy học đến chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đội ngũ giáo viên thường thiếu và yếu, chính sách sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên dạy ở các vùng dân tộc thiểu số còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo động lực về vật chất và tinh thần để khuyến khích, thu hút giáo viên có tâm huyết với nghề, với sự phát triển sự nghiệp giáo dục.

    Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển giáo dục ở nhiều vùng dân tộc thiểu số mà ngành giáo dục chưa quan tâm thỏa đáng là do vấn đề bất đồng ngôn ngữ trong quá trình dạy và học. Trẻ em còn chưa thông thạo tiếng mẹ đẻ lại phải học tiếng phổ thông. Vì học không hiểu, học kém, thua bạn bè, gây ra tâm lý chán nản, sợ học, sợ phải đến trường nên nhiều học sinh đã bỏ học dẫn đến tình trạng mù chữ và tái mù chữ.

    Một số giải pháp phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

    Chúng ta không thể chờ kinh tế phát triển mới phát triển giáo dục. Giáo dục phải đi trước một bước, chúng ta đã có kinh nghiệm phát triển sự nghiệp giáo dục trong những ngày đầu giành độc lập, khi nạn đói làm hàng triệu người chết nhưng do làm tốt công tác vận động, tuyên truyền phong trào “bình dân học vụ” đã khơi dậy truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Phát triển giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc để đồng bào có điều kiện vươn lên hoà nhập cùng đồng bào cả nước và thực hiện quyền bình đẳng của mình về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Vì vậy, cần có sự giải quyết một cách khoa học và phải xem đó là nhiệm vụ cấp bách. Để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, các cấp, các ngành cần quan tâm những vấn đề sau:

    Một là: tăng nguồn đầu tư cho công tác phát triển giáo dục ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có dân số ít. Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách của Đảng và Nhà nước với hoạt động của ngành giáo dục và sự đóng góp của toàn dân cho sự nghiệp giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, xã hội hoá giáo dục để toàn dân cùng quan tâm đóng góp một cách thiết thực là một trong những biện pháp hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

    Hai là: phải đào tạo đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số có trình độ cả về sư phạm và kiến thức cho từng vùng, từng dân tộc. Bên cạnh việc đào tạo, cần xây dựng chế độ đãi ngộ và sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, sao cho họ yên tâm với nghề nghiệp, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” ở chính quê hương của họ.

    Ba là: ngành giáo dục phải xây dựng chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học của từng dân tộc, từng vùng trên cơ sở 2 ngôn ngữ (ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ phổ thông).

    Bốn là: có chính sách đặc thù đối với con em đồng bào các dân tộc sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, nếu không thi được vào các trường trung cấp, cao đẳng, đại học thì bố trí cho đi học nghề và giải quyết công ăn, việc làm sau khi ra trường để tránh lãng phí tiền của, công sức của bản thân học sinh, gia đình và nguồn nhân lực cho sự phát triển các vùng dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng ở nước ta hiện nay.

    Hà Thị Khiết Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc, UBTƯ MTTQ Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Ở Quận 5 Tp Hồ Chí Minh Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Giáo Dục
  • Báo Cáo Kết Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Trên Lĩnh Vực Tư Tưởng Văn Hóa 9 Tháng Đầu Năm 2014
  • Quân Đội Đẩy Mạnh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Trên Không Gian Mạng
  • Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Và Những Biểu Hiện “tự Diễn Biến”, “tự Chuyển Hóa” Trên Lĩnh Vực Văn Hóa Hiện Nay
  • Đẩy Mạnh Đấu Tranh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Hiện Nay
  • Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Và Truyền Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Hình Thức Căn Bản Của Truyền Thông Giao Tiếp
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Học Sinh Trung Học, Hay, 9Đ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Giao Tiếp Và Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Quản Trị Kinh Doanh. Ứng Dụng Trong Thực Tê
  • 8 Dạng Bài Trong Đề Thi Tiếng Anh Thpt Quốc Gia
  • Phản biện xã hội của báo chí là chức năng của báo chí

    (TTGDTT)- Tiếp cận từ quan điểm hệ thống nghiên cứu phản biện xã hội của báo chí – một chức năng mới của báo chí cần xem xét nó trong tổng thể các mối quan hệ với các yếu tố khác – nhất là các thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa . . . và trong hệ thống xã hội nói chung, đặc biệt báo chí phụ thuộc trước hết trực tiếp vào thể chế chính trị.

    Thời kỳ C. Mác và Ph. Ăngghen, hoàn cảnh điều kiện lịch sử có nhiều thay đổi, giai cấp công nhân đã từng bước lớn mạnh cả về lực lượng cũng như nhận thức và giác ngộ giai cấp, ngày càng tỏ ra là một lực lượng chính trị độc lập. Các cuộc khởi nghĩa của giai cấp công nhân phản ánh sự bắt đầu của một quá trình nhận thức được sức mạnh của mình về vật chất và tinh thần là lực lượng chính trị độc lập chống lại giai cấp tư sản. Trong khi đó chủ nghĩa tư bản vẫn không xóa bỏ được những áp bức bóc lột, đối kháng giai cấp. Nó chỉ thay thế giai cấp áp bức bóc lột này bằng giai cấp bóc lột khác. Với điều kiện hoàn cảnh lịch sử đó để trang bị lý luận cách mạng khoa học cho giai cấp công nhân C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cao chức năng truyền bá tư tưởng (tuyên truyền) và cổ vũ hành động. Năm 1842 C.Mác đến Cô-lô-nhơ viết báo cho tờ “Báo Rê-na-ni”, cơ quan của giai cấp tư sản cấp tiến ở Rê-na-ni. Đây là thời điểm đánh dấu con đường hoạt động báo chí của C.Mác, và những tư tưởng dân chủ đầu tiên của ông đã nảy nở trong cuộc sống hoạt động chính trị thực tiễn. Thông qua hoạt động thực tiễn báo chí C.Mác và Ph.Ăngghen đã triệt để lợi dụng tự do báo chí tư sản nửa cuối thế kỷ XIX để truyền bá hệ tư tưởng mới – tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học do ông sáng lập. C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng báo chí một cách tích cực và hiệu quả vào việc tập hợp, giác ngộ giai cấp công nhân, lãnh đạo và đưa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ đấu tranh tự phát thành đấu tranh tự giác, từ đấu tranh kinh tế lên đấu tranh chính trị giành và giữ chính quyền.

    Đầu thế kỷ XX từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là yêu cầu xây dựng tổ chức đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị toàn Nga. V.I. Lênin đã kế thừa và vận dụng sáng tạo hai chức năng báo chí do C.Mác và Ph.Ăngghen nêu ra trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đồng thời bố sung thêm chức năng tổ chức và nhấn mạnh tính chất tập thể của các chức năng của báo chí vô sản. Trong bài “Tổ chức đảng và sách báo đảng” Lênin viết: ” Tờ báo chí không những chỉ là người tuyên truyền tập thể cổ động thể mà còn là người tổ chức tập thể” (5 – t.5. tr.12-13). Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò của báo chí ông nói, muốn có một phong trào đáng gọi là phong trào chính trị toàn Nga thì phải có một tổ chức chính trị toàn Nga, nhưng muốn có một tổ chức chính trị (hay chính đảng) toàn Nga, trước hết phải có một tờ báo chính trị toàn Nga “Chỉ có tờ báo chính trị mới có thể thực sự giáo dục được ý thức chính trị cho quần chúng và mới soi sáng được… Chỉ có tờ báo chung cho toàn Nga” (4 – t.5 – tr 458 – 459). Do đó ông thành lập và lãnh đạo tờ Tia lửa và sử dụng nó vào việc thành lập Đảng Cộng sản (Bôn sê vích) Nga lãnh đạo phong trào công nhân Nga tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tư sản tháng Hai và Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917.

    Theo PGS,TS. Nguyễn Văn Dững: “Nhìn chung trong thời kỳ tồn tại hai hệ thống xã hội đối lập: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hai hệ thống xã hội này có quan niệm về chức năng xã hội của báo có sự khác biệt cơ bản. Các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) tuyệt đối hóa chức năng thông tin giao tiếp của báo chí, trong khi các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) lại tuyệt đối hóa chức năng tư tưởng – tuyên truyền. Trên thực tế không ai thông tin – giao tiếp mà không nhằm mục đích nào đó, cái đích ấy chính là tuyên truyền. Mặt khác nêu báo chí tuyên truyền mà không dựa trên cơ sở nền tảng thông tin sự kiện thì tuyên truyền sẽ khó đạt được hiệu quả thậm chí phản tác dụng”. (1)

    Thời kỳ đổi mới đất nước, cùng với sự vận động của chính trị, kinh tế, xã hội… chức năng của báo chí cũng không ngừng được phát triển, nghi nhận. Những quan niệm mới về chức năng của báo chí đã khác trước nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ cách mạng. Theo PGS,TS. Nguyễn Hồng Vinh, trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, với sự xuất hiện và phát triển của báo chí qua hàng trăm năm, đến nay, có thể khẳng định báo chí có mấy chức năng chủ yếu: ” Chức năng thông tin; Chức năng phản ánh; Chức năng tạo ra dư luận xã hội, góp sức định hướng dư luận xã hội; Chức năng nâng cao dân trí; Chức năng giải trí,…” (2)

    Theo PGS,TS. Dương Xuân Sơn, TS. Đinh Văn Hường, Trần Quang trong cuốn sách ” Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” Nxb, Đại học năm 2011, báo chí có 3 chức năng cơ bản; chức năng tư tưởng; chức năng quản lý và giám sát xã hội; chức năng phát triển văn hóa và giải trí.

    Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” Nxb Lao động 2013, PGS,TS Nguyễn Văn Dững cho biết báo chí có 6 chức năng; chức năng thông tin- giao tiếp; chức năng tư tưởng; chức năng khai sáng giải trí; chức năng quản lý giám sát phản biện xã hội; chức năng kinh tế – dịch vụ.

    Để thể kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị ở nước ta qua báo chí cần hiểu cơ chế thực hiện chức năng phản biện xã hội của báo chí. Đó là chủ thể thực hiện phản biện xã hội chính là nhà báo, cơ quan báo chí; chủ thể tiếp nhận phản biện của báo chí chính là hệ thống chính trị mà trước hết và chủ yếu là Đảng và Nhà nước; đối tượng phản biện của báo chí là đường lối chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; nội dung phản biện của báo chí gồm việc hoạch định, soạn thảo đường lối, chính sách, pháp luật, quá trình thực thi đường lối, chính sách, pháp luật; phương thức thực hiện là bằng các tác phẩm báo chí của nhà báo, các chuyên gia, nhà khoa học.

    Như vậy, có thể thấy cơ chế kiểm soát quyền lực cần phải có báo chí và đó chính là chức năng phản biện xã hội của báo chí, đây là tất yếu khách quan, vốn có của sự phát triển trong một xã hội dân chủ. Để phát huy sức mạnh tối đa chức năng phản biện xã hội của báo chí cần phải được đảm bảo bằng những cơ sở chính trị và pháp lý xác định./.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Văn Dững (2013) – Cơ sở lý luận báo chí. Nxb Lao Động

    2. Nguyễn Hồng Vinh,”Về tự do ngôn luận tự do báo chí”, http://www.baocantho.com.vn/

    3. Prokhorop E.P, Dẫn luận báo chí, Nxb Đại học, Matxcơva, 1988.

    4. V.I. Lênin: ” Về lá thư của công nhân miền Nam”, Toàn tập,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.5 (tháng Năm -tháng Chạp 1901),

    5 .V.I. Lênin: ” Bắt đầu từ đâu?”, Toàn tập,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t5 (tháng Năm -tháng Chạp 1901),

    Thạc sĩ Nguyễn Văn Minh, Báo điện tử Đảng CSVN

    ……………………………….

    TIN CÙNG CHỦ ĐỀ.

    TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN THÔNG

    Phản biện xã hội của báo chí là chức năng của báo chí

    (TTGDTT)- Tiếp cận từ quan điểm hệ thống nghiên cứu phản biện xã hội của báo chí – một chức năng mới của báo chí cần xem xét nó trong tổng thể các mối quan hệ với các yếu tố khác – nhất là các thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa . . . và trong hệ thống xã hội nói chung, đặc biệt báo chí phụ thuộc trước hết trực tiếp vào thể chế chính trị.

    Thời kỳ C. Mác và Ph. Ăngghen, hoàn cảnh điều kiện lịch sử có nhiều thay đổi, giai cấp công nhân đã từng bước lớn mạnh cả về lực lượng cũng như nhận thức và giác ngộ giai cấp, ngày càng tỏ ra là một lực lượng chính trị độc lập. Các cuộc khởi nghĩa của giai cấp công nhân phản ánh sự bắt đầu của một quá trình nhận thức được sức mạnh của mình về vật chất và tinh thần là lực lượng chính trị độc lập chống lại giai cấp tư sản. Trong khi đó chủ nghĩa tư bản vẫn không xóa bỏ được những áp bức bóc lột, đối kháng giai cấp. Nó chỉ thay thế giai cấp áp bức bóc lột này bằng giai cấp bóc lột khác. Với điều kiện hoàn cảnh lịch sử đó để trang bị lý luận cách mạng khoa học cho giai cấp công nhân C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cao chức năng truyền bá tư tưởng (tuyên truyền) và cổ vũ hành động. Năm 1842 C.Mác đến Cô-lô-nhơ viết báo cho tờ “Báo Rê-na-ni”, cơ quan của giai cấp tư sản cấp tiến ở Rê-na-ni. Đây là thời điểm đánh dấu con đường hoạt động báo chí của C.Mác, và những tư tưởng dân chủ đầu tiên của ông đã nảy nở trong cuộc sống hoạt động chính trị thực tiễn. Thông qua hoạt động thực tiễn báo chí C.Mác và Ph.Ăngghen đã triệt để lợi dụng tự do báo chí tư sản nửa cuối thế kỷ XIX để truyền bá hệ tư tưởng mới – tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học do ông sáng lập. C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng báo chí một cách tích cực và hiệu quả vào việc tập hợp, giác ngộ giai cấp công nhân, lãnh đạo và đưa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ đấu tranh tự phát thành đấu tranh tự giác, từ đấu tranh kinh tế lên đấu tranh chính trị giành và giữ chính quyền.

    Đầu thế kỷ XX từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhất là yêu cầu xây dựng tổ chức đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị toàn Nga. V.I. Lênin đã kế thừa và vận dụng sáng tạo hai chức năng báo chí do C.Mác và Ph.Ăngghen nêu ra trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đồng thời bố sung thêm chức năng tổ chức và nhấn mạnh tính chất tập thể của các chức năng của báo chí vô sản. Trong bài “Tổ chức đảng và sách báo đảng” Lênin viết: ” Tờ báo chí không những chỉ là người tuyên truyền tập thể cổ động thể mà còn là người tổ chức tập thể” (5 – t.5. tr.12-13). Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò của báo chí ông nói, muốn có một phong trào đáng gọi là phong trào chính trị toàn Nga thì phải có một tổ chức chính trị toàn Nga, nhưng muốn có một tổ chức chính trị (hay chính đảng) toàn Nga, trước hết phải có một tờ báo chính trị toàn Nga “Chỉ có tờ báo chính trị mới có thể thực sự giáo dục được ý thức chính trị cho quần chúng và mới soi sáng được… Chỉ có tờ báo chung cho toàn Nga” (4 – t.5 – tr 458 – 459). Do đó ông thành lập và lãnh đạo tờ Tia lửa và sử dụng nó vào việc thành lập Đảng Cộng sản (Bôn sê vích) Nga lãnh đạo phong trào công nhân Nga tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tư sản tháng Hai và Cách mạng Xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917.

    Theo PGS,TS. Nguyễn Văn Dững: “Nhìn chung trong thời kỳ tồn tại hai hệ thống xã hội đối lập: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hai hệ thống xã hội này có quan niệm về chức năng xã hội của báo có sự khác biệt cơ bản. Các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) tuyệt đối hóa chức năng thông tin giao tiếp của báo chí, trong khi các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) lại tuyệt đối hóa chức năng tư tưởng – tuyên truyền. Trên thực tế không ai thông tin – giao tiếp mà không nhằm mục đích nào đó, cái đích ấy chính là tuyên truyền. Mặt khác nêu báo chí tuyên truyền mà không dựa trên cơ sở nền tảng thông tin sự kiện thì tuyên truyền sẽ khó đạt được hiệu quả thậm chí phản tác dụng”. (1)

    Thời kỳ đổi mới đất nước, cùng với sự vận động của chính trị, kinh tế, xã hội… chức năng của báo chí cũng không ngừng được phát triển, nghi nhận. Những quan niệm mới về chức năng của báo chí đã khác trước nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ cách mạng. Theo PGS,TS. Nguyễn Hồng Vinh, trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, với sự xuất hiện và phát triển của báo chí qua hàng trăm năm, đến nay, có thể khẳng định báo chí có mấy chức năng chủ yếu: ” Chức năng thông tin; Chức năng phản ánh; Chức năng tạo ra dư luận xã hội, góp sức định hướng dư luận xã hội; Chức năng nâng cao dân trí; Chức năng giải trí,…” (2)

    Theo PGS,TS. Dương Xuân Sơn, TS. Đinh Văn Hường, Trần Quang trong cuốn sách ” Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” Nxb, Đại học năm 2011, báo chí có 3 chức năng cơ bản; chức năng tư tưởng; chức năng quản lý và giám sát xã hội; chức năng phát triển văn hóa và giải trí.

    Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” Nxb Lao động 2013, PGS,TS Nguyễn Văn Dững cho biết báo chí có 6 chức năng; chức năng thông tin- giao tiếp; chức năng tư tưởng; chức năng khai sáng giải trí; chức năng quản lý giám sát phản biện xã hội; chức năng kinh tế – dịch vụ.

    Để thể kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị ở nước ta qua báo chí cần hiểu cơ chế thực hiện chức năng phản biện xã hội của báo chí. Đó là chủ thể thực hiện phản biện xã hội chính là nhà báo, cơ quan báo chí; chủ thể tiếp nhận phản biện của báo chí chính là hệ thống chính trị mà trước hết và chủ yếu là Đảng và Nhà nước; đối tượng phản biện của báo chí là đường lối chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; nội dung phản biện của báo chí gồm việc hoạch định, soạn thảo đường lối, chính sách, pháp luật, quá trình thực thi đường lối, chính sách, pháp luật; phương thức thực hiện là bằng các tác phẩm báo chí của nhà báo, các chuyên gia, nhà khoa học.

    Như vậy, có thể thấy cơ chế kiểm soát quyền lực cần phải có báo chí và đó chính là chức năng phản biện xã hội của báo chí, đây là tất yếu khách quan, vốn có của sự phát triển trong một xã hội dân chủ. Để phát huy sức mạnh tối đa chức năng phản biện xã hội của báo chí cần phải được đảm bảo bằng những cơ sở chính trị và pháp lý xác định./.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Văn Dững (2013) – Cơ sở lý luận báo chí. Nxb Lao Động

    2. Nguyễn Hồng Vinh,”Về tự do ngôn luận tự do báo chí”, http://www.baocantho.com.vn/

    3. Prokhorop E.P, Dẫn luận báo chí, Nxb Đại học, Matxcơva, 1988.

    4. V.I. Lênin: ” Về lá thư của công nhân miền Nam”, Toàn tập,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.5 (tháng Năm -tháng Chạp 1901),

    5 .V.I. Lênin: ” Bắt đầu từ đâu?”, Toàn tập,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t5 (tháng Năm -tháng Chạp 1901),

    Thạc sĩ Nguyễn Văn Minh, Báo điện tử Đảng CSVN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Hv Báo Chí Và Tuyên Truyền Đề Tài Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí
  • 50 Câu Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản Thông Dụng Hàng Ngày Bạn Nên Biết
  • Trắc Nghiệm Tiếng Anh Giao Tiếp Đáp Án Dịch Nghĩa Chi Tiết
  • Chức Năng Giao Tiếp Và Câu Đáp Lại
  • Tuần 8. Việt Bắc (Trích)
  • Những Thuận Lợi, Khó Khăn Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Đại Học Của Việt Nam Hiện Nay.

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Cho Giáo Dục Mầm Non Vn
  • Học Online Có Là Giải Pháp Cho Thời Đại Internet?
  • Giải Pháp Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Việt Nam
  • Giải Pháp Nào Giúp Du Lịch Việt ‘vượt Bão’ Thời Covid
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Ngành Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bền Vững
  • Hầu như năm nào Bộ Giáo Dục cũng đều có những sửa đổi, bổ sung hệ thống giáo dục đại học từ việc thi cử cho đến nội dung giảng dạy nhưng đến nay thực sự vẫn chưa hoàn thiện, còn quá nhiều những vấn đề nảy sinh mà hàng ngày người ta phân tích đầy trên các mặt báo. Đây là vấn đề muôn thuở của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đã tồn tại cả chục năm về trước, nguyên nhân của vấn đề này là do thiếu sự liên kết chặt chẽ của nhà trường đối với doanh nghiệp, chưa nắm bắt được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thành ra nội dung đào tạo cứ lẩn quẩn bao nhiêu năm cũng chỉ có bấy nhiêu đó, dần dà trở nên lạc hậu vì thế không nắm bắt đúng nhu cầu của doanh nghiệp. Hệ lụy này dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan của sinh viên mới tốt nghiệp, thống kê năm 2013 cho thấy có tới 101.000 sinh viên thất nghiệp có bằng đại học. Từ đó, có thể thấy những thuận, lợi khó của giáo dục Đại học Việt Nam ở một số nội dung sau đây:

    Khó khăn của giáo dục Đại học Việt Nam:

    Một là, một nền giáo dục chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn. Không khó nhận ra điều này. Các chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học, sau đại học đều dày đặc các kiến thức cụ thể. Với lượng tri thức mới được sản sinh ngày càng nhiều và liên tục được cập nhật vào chương trình thì tình trạng quá tải là không thể khắc phục, nếu không nói là sẽ ngày càng trầm trọng hơn. Việc nhớ những kiến thức ấy đã khó, vận dụng nó vào cuộc sống lại còn khó hơn. Tri thức cụ thể dù cho mới đến đâu vẫn là cái đã biết nên luôn lạc hậu so với thực tiễn.

    Để phục vụ mục tiêu giáo dục trang bị kiến thức chuyên môn, hệ thống phân loại môn chính, môn phụ cũng được tiến hành một cách giản đơn như đương nhiên phải thế (trong khi đó phương châm của Đảng là giáo dục toàn diện). Đặc biệt nghiêm trọng là hệ thống thi cử, đánh giá. Coi việc nhớ kiến thức chuyên môn là quan trọng nhất nên việc thi cử tuyển đầu vào, kiểm tra trong quá trình học tập và đánh giá đầu ra đều lấy việc hỏi kiến thức cụ thể làm mục tiêu chủ yếu. Phương thức thi cử nhằm đánh giá kiến thức chuyên môn (cụ thể) sinh ra hệ lụy nan giải và những căn bệnh trầm kha khó lòng cứu chữa. Đó là học vẹt, học tủ và quay cóp.

    Hai là, do phải mất quá nhiều thời gian và công sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cụ thể (luôn quá tải) nên từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lối sống…Nói tóm lại là học cách tự học và học làm người. Điều đáng lo ngại là xu thế vị bằng cấp đang trở nên ngày càng phổ biến trong cộng đồng những người đi học. Đi học chỉ cốt để lấy bằng (và tệ hơn là nếu học ít, thậm chí không học mà vẫn có bằng thì càng hay). Nhiều bậc trí giả lo lắng không phải không có cơ sở là xã hội ta ngày càng nhiều những người có học vị, bằng cấp cao, nhưng một đội ngũ trí thức với những nhân cách đáng kính của một tầng lớp dẫn dắt xã hội dường như ngày càng thưa vắng. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên chính vẫn là từ chính những hạn chế và yếu kém của giáo dục đào tạo.

    Ba là, một hạn chế lớn của giáo dục và đào tạo nước ta là việc dạy và học không gắn chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học. Đa phần các chương trình đào tạo hiện nay là những gì nhà trường và các thầy cô đem áp đặt cho người học, chứ chưa phải là những cái xã hội cần. Có một nguyên nhân quan trọng là ở nước ta trong một thời gian dài, cung và cầu của giáo dục đại học mất cân đối nghiêm trọng. Việt Nam là nước có truyền thống hiếu học và trọng học nên số người có nguyện vọng đi học (đúng ra là số gia đình mong muốn con vào đại học) thì đông mà số trường đại học (tốt) lại rất ít nên các cơ sở đào tạo đại học không có nhiều động lực để đổi mới. Chương trình cũ, phương pháp dạy không thay đổi, chất lượng đào tạo không nâng cao cũng vẫn có rất đông người tranh nhau vào học. Những tiêu chí đánh giá về chất lượng giáo dục quốc tế dường như ảnh hưởng không nhiều lắm đến các trường đại học nước ta.

    Bốn là, cũng chính vì động lực đổi mới không cao và do một số nguyên nhân khác nữa, nền giáo dục của chúng ta tương đối khép kín. Mặc dù số lượng cán bộ của ngành giáo dục (bao gồm cả quả lý và tham gia giảng dạy) có cơ hội đi thăm quan nước ngoài rất nhiều, nhưng dường như việc học tập nước ngoài chưa có một chương trình thật bài bản với những mục tiêu xác định nên kết quả không như mong muốn. Địa điểm tham quan, vấn đề tìm hiểu trùng lặp, những kinh tiếp thu manh mún, thiếu đồng bộ…Do vậy về cơ bản, hệ thống giáo dục và các chương trình của các cơ sở đào tạo ở nước ta so với các nước tiên tiến trên thế giới còn có khoảng cách khá xa. Và đặc biệt điều đáng nói là tính liên thông quốc tế của hệ thống giáo dục nói chung và của các cơ sở đào tạo nước ta nói riêng còn rất hạn chế. Nếu như ở nước ngoài (kể cả các nước Đông Nam Á), các trường đại học có thể dễ dàng trao đổi sinh viên với nhau vì họ công nhận hệ thống tín chỉ của nhau, thì điều này còn rất khó khăn với các trường đại học nước ta.

    Năm là, điều thấy rõ và thường được nói tới nhiều nhất khi đề cập đến những hạn chế của giáo dục Việt Nam là sự thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất, là chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với đội ngũ những người làm giáo dục. Có thể nói trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những cố gắng lớn trong đầu tư cho giáo dục. Riêng năm 2013, mặc dù nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ cực kỳ khó khăn, nhưng kinh phí cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề vẫn chiếm 20% tổng chi ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, tính ra số kinh phí thực thì so ngay với một trường đại học ở Đông Nam Á (như Singapore, Thái Lan, Malaysia…) cũng đã rất thấp. Nguồn kinh phí hạn hẹp lại được sử dụng chưa hợp lý, đầu tư manh mún, giàn trải và hiệu quả thấp (đó là chưa nói tới nguồn lực bị suy hao vì những dự án lãng phí lớn .

    Tuy nhiên, điều đáng nói hơn cả là vấn đề đầu tư cho nguồn lực con người. Nếu như đây là nhân tố quan trọng hàng đầu trong tất cả mọi lĩnh vực, thì trong giáo dục đào tạo con người là nhân tố quyết định sự thành bại. Con người ở đây là nói tới cả đội ngũ quản lý các cấp và những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở. Chất lượng chưa cao ở cả hai lực lượng này dường như không khó khăn lắm để nhận ra. Tuy nhiên điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó. Theo tôi, gốc gác của vấn đề chính là trên thực tế, giáo dục và đào tạo chưa được coi là quốc sách hàng đầu như được nêu trong các văn kiện chính thức. Việc tuyển chọn cán bộ quản lý giáo dục cũng như chính sách đãi ngộ khuyên khích người giỏi làm công tác giáo dục còn nhiều bất cập và chưa được chú ý đúng mức.

    Ngoài ra, đất nước còn thiều về cơ sở, vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại tiên tiến, ứng dụng khoa học công nghệ vào trong tác giáo dục …

    Những điểm khó khăn nêu trên chưa phải là tất cả, đã và đang kim hãm cả nền giáo dục Việt Nam nói riêng và giáo dục Đại học nói riêng. Nhưng nên giáo dục Đại học Việt Nam cũng có nhiều ưu điểm, nếu như đổi mới giáo dục và đào tạo ngay lập tức để khắc phục những điểm khó khăn, hạn chế nêu trên.

    Các điểm thuận lợi của nên giáo dục Việt Nam:

    Một là, Việt Nam đặt chính sách giáo dục lên hang đầu, có sự đầu tư lớn cho nền giáo dục, trong đó có giáo dục Đại học.

    Hai là, xét về mặt lịch sử, nền giáo dục đại học đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm. Cho đến nay, lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Sự nghiệp giáo dục đại học từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua gần 70 năm qua và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Ba là, ở nước ta hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, nhưng qua các văn bản không chính thức, có thể hiểu giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Nhưng chúng ta có các văn bản pháp luật quy định cụ thể cho nền giáo dục nói chung và chủ trương, chính sách giáo dục Đại học nói riêng.

    Bốn là, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học, ham học hỏi, biết áp dụng khoa học công nghệ, tiếp thu cái mới, tiến bộ trên thế giới để có thể ứng dụng tốt trong quá trình đào tạo, giáo dục …

    Từ những phân tích về các khó khăn và thuận lợi của nền giáo dục Đại học Việt Nam, một nhu cầu tất yếu trong ngành giáo dục là chúng ta cần đổi mới giáo dục, cần thực hiện các giải pháp phát triển giáo dục Đại học nói chung và giáo dục Đại học công lập nói riêng.

    Thứ nhât, phải thay đổi triết lý để chuyển một nền giáo dục lấy trang bị kiến thức chuyên môn làm mục tiêu chủ yếu sang một nền giáo dục chỉ dạy những kiến thức chuyên môn căn bản ở mức tối thiểu. Dành nhiều thời gian dạy người học về phương pháp, kỹ năng, cách tự học, dạy cách sử dụng, khai thác các thiết bị… và dạy làm người với mục đích người được đào tạo có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, có khả năng học tập suốt đời và có trách nhiệm cao với gia đình, xã hội và Tổ quốc. Đi theo sự đổi mới này sẽ là hàng loạt những thay đổi căn bản. Từ chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, người thày và cách thức giảng dạy. Theo triết lý mới này cách dạy và học sẽ chuyển từ học để nhớ sang chuyển sang học để hiểu. Cho đến nay hiện tượng quá tải như một căn bệnh không thể chữa và thay đổi sách giáo khoa diễn ra liên năm chính là do triết lý lấy dạy chuyên môn là mục tiêu quan trọng đẻ ra.

    Thứ hai, phải thay đổi một cách căn bản hệ thống đánh giá từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực. Đầu vào thì đánh giá năng lực có học được (cấp học, chương trình học ấy) không. Trong quá trình thì đánh giá năng lực hiểu và tiếp thu sáng tạo những điều đã học. Đầu ra thì đánh giá năng lực vận dụng những điều đã học tập, rèn luyện vào môi trường sắp tới… Tóm lại phải thay đổi căn bản những gì đang làm hiện nay trong việc thi cử, đánh giá. Sự thay đổi này sẽ mở đường cho một giai đoạn mới, người thi sẽ được sử dụng các thiết bị CNTT (như máy tính chẳng hạn), sử dụng mạng internet…Việc tổ chức thi sẽ nhẹ nhàng, đơn giản và chắc chắn sẽ chấm dứt việc phải nhờ cậy đến lực lượng công an để bảo vệ đề, phải nhốt thầy ra đề trong khách sạn vừa tốn kém, vừa bức xúc…và nhất là sẽ không còn hiện tượng học vẹt, học tủ và quay cóp nữa.

    Thứ ba, việc xây dựng các chương trình giảng dạy phải có chuẩn đầu ra. Chuẩn đầu ra ở đây là phải lấy thực tế khách quan và yêu cầu của xã hội làm căn cứ, chứ không không phải là ” chuẩn” nhưng do nhà trường tự quy định như nhiều cơ sở đào tạo đang làm. Như vậy chuẩn đầu ra phải hiểu là đáp ứng nhu cầu rất đa dạng cả về chủng loại và chất lượng. Giáo dục đại học và chuyên nghiệp là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực các loại cho xã hội. Sự đa dạng yêu cầu về chủng loại và chất lượng lao động sẽ quy định chủng loại và sự phân tầng của các cơ sở đào tạo. Bên cạnh những yêu cầu chất lượng rất cao của các cơ sở hàng đầu, có yêu cầu vừa phải của các cơ sở không có nhu cầu đến mức ấy. Chẳng hạn, một doanh nghiệp gia đình nhỏ muốn có một kế toán đạt trình độ đại học thì chắc chắn không cần đến những kỹ sư tốt nghiệp những trường đại hàng đầu về kinh tế. Vậy phải có những trường đại học vừa tầm để đào tạo loại nhân lực này. Đây chính là luận lý căn bản để phải có cách nhìn phân tầng đối với giáo dục đại học. Trong ý nghĩa này nhất loạt hô khẩu hiệu ” chất lượng cao” là duy ý chí, không thực tế và cũng không phù hợp với thực tiễn.

    Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học), nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề mà người học đang theo đuổi. Về phương pháp, cho phép sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo nguyên tắc “lấy người học là trung tâm”, giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu. Tất nhiên, các cơ sở đào tạo cần thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan, chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả của việc dạy và học.

    Đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong tổ chức giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Theo đó, về mặt pháp lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về pháp luật đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý nhà nước, trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi cách tư duy về quản lý đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thay vì trực tiếp quản lý toàn diện đối với các cơ sở giáo dục đại học, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ nên đóng vai trò là cơ quan “tài phán”, định hướng các hoạt động theo luật pháp, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học được độc lập, tự chủ hơn trong các hoạt động. Cần tránh tư duy quản lý theo cách áp đặt, hoặc “bao cấp” đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

    Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và công bố quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá khoa học và các hoạt động về chuyên môn tại các cơ sở giáo dục đại học. Trước mắt, Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học cần có các cơ chế chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu và tích cực công bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học quốc tế. Về lâu dài, cần đặt ra lộ trình (đối với mỗi cơ sở giáo dục đại học khác nhau cần có những lộ trình khác nhau) tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động khoa học và các hoạt động về chuyên môn trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời cần coi đây là giải pháp quan trọng để đưa giáo dục đại học Việt Nam hội nhập sâu hơn vào môi trường quốc tế./.

    Thứ sáu, việc đổi mới tư duy giáo dục hiện nay cần “gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc.

    Thực hiện đầy đủ các giải pháp nêu trên thì nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến ở trong khu vực, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng khẳng định. Các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có sự thay đổi một cách mạnh mẽ về tư duy trong tổ chức giáo dục đại học, như thay đổi cách tuyển sinh, lựa chọn “đầu vào” theo hướng thoáng hơn, cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự đặt ra các tiêu chuẩn tuyển sinh và chịu trách nhiệm với người học bằng chính “uy tín” đào tạo của mình, cho phép hình thành nhiều mô hình đào tạo đại học khác nhau, kiểm soát chặt chẽ “đầu ra” của mỗi cơ sở đào tạo để bảo đảm chất lượng chung…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Ta Hiện Nay
  • Nợ Công Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý
  • Luận Văn Tiểu Luận Hậu Quả Và Giải Pháp Cho Nợ Công Ở Việt Nam
  • Hàm Ý Chính Sách Cho Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Nợ Công Của Việt Nam
  • Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo: Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Toàn Diện

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Hệ Thống Các Trường Đại Học Tư Thục Việt Nam
  • Hội Thảo “các Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Đại Học Ngoài Công Lập Ở Việt Nam Đến Năm 2030”.
  • Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022
  • Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông
  • Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục 2011
  • Một giờ học văn hóa tại Trường THPT Gia Viễn A

    Kết quả sau gần 5 năm thực hiện, đối chiếu với các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra, ngành Giáo dục đã thực hiện tốt, đảm bảo đúng tiến độ. Một số chỉ tiêu đã về đích trước 2 năm kế hoạch đề ra như: Xây dựng trường chuẩn Quốc gia cấp Tiểu học, THCS; các trường mầm non, tiểu học THCS, THPT, TTGDNN-GDTX có phòng ứng dụng CNTT được kết nối Internet tốc độ cao…

    Là một trong những cơ sở giáo dục THPT đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia muộn, nhưng Trường THPT Gia Viễn A lại là cơ sở giáo dục trung học đầu tiên của tỉnh thực hiện công tác tự đánh giá theo Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GDĐT ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. Thầy giáo Lê Thành Dương, Hiệu trưởng Trường THPT Gia Viễn A cho biết: Việc kết hợp bộ tiêu chuẩn công nhận kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đã mang lại nhiều thuận lợi cho nhà trường. Với hơn 100 tiêu chí đánh giá, được thực hiện chặt chẽ, có lộ trình, cho thấy, công tác tự đánh giá là việc làm vô cùng cần thiết đối với các cơ sở giáo dục trong bối cảnh hiện nay, giúp nhà trường nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những việc đã làm, đang làm, những việc cần làm, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường nói riêng, cho địa phương và ngành giáo dục tỉnh nói chung… Với sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ, chi tiết, công tác tự đánh giá của nhà trường đã được Đoàn công tác của Sở GD&ĐT công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2 và được UBND tỉnh công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, thời hạn 5 năm vào cuối năm 2022.

    Nhà giáo Đỗ Văn Thông, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Ninh Bình cho biết: 5 năm qua, Ngành Giáo dục đã duy trì tương đối ổn định quy mô trường, lớp các cấp học, tỷ lệ học sinh bỏ học ít. Số lượng trường, nhóm lớp mầm non tư thục tăng, đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của nhân dân, góp phần giảm bớt tình trạng quá tải trẻ/lớp, nhóm. Số trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ được huy động đến lớp đạt tỷ lệ 60,2% dân số độ tuổi, trẻ mẫu giáo đến lớp đạt 99,1% dân số độ tuổi (vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh). Huy động 99,9% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học vào lớp 6. Cùng với đó, 8/8 huyện, thành phố đều tiếp tục củng cố, duy trì tốt và đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở các mức độ cao nhất. Năm 2022, tỉnh Ninh Bình được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Đây là mức độ cao nhất trong tiêu chí về phổ cập giáo dục, Ninh Bình là tỉnh thứ 3 của cả nước dẫn đầu về công tác phổ cập giáo dục xóa mù chữ.

    Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trường chuẩn Quốc gia ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, số trường học đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ phòng học kiên cố, phòng bộ môn, thư viện đạt chuẩn tăng; trang thiết bị giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn quá trình dạy và học. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã đầu tư xây mới, sửa chữa 1.373 phòng học, 213 phòng hiệu bộ, 431 phòng chức năng, 512 nhà vệ sinh và 63.760 m2 sân, tường rào. Tính đến tháng 12/2019, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố đạt 87,5%, dự kiến đến hết năm 2022, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố 88%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI (tăng 3,7% so với năm 2022). Ngành cũng đã tích cực phối hợp với các địa phương chỉ đạo xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Đến nay, có 437/474 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 92,2%; 122/145 xã, phường, thị trấn; 4 huyện, thành phố (Hoa Lư, Yên Khánh, thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp) có 100% trường mầm non, tiểu học, THCS công lập đều đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ trường học chuẩn quốc gia đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI ở hai cấp học tiểu học và THCS (hoàn thành trước 2 năm). Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia đã nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.

    Chất lượng đội ngũ, công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng đạt được những kết quả toàn diện. Đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, THCS được kiện toàn, luân chuyển công tác đảm bảo đúng, đủ theo quy định, phát huy được năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ. Đến nay, toàn ngành có 3 tiến sỹ, trên 650 thạc sỹ; tỷ lệ nhà giáo có trình độ đạt chuẩn trở lên là 99,9%, trên chuẩn chiếm 82,06%. Bên cạnh đó, toàn ngành đã tích cực bồi dưỡng đội ngũ, chuẩn bị cho triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, tổ chức tốt các kỳ thi cấp tỉnh và cấp quốc gia, học sinh và giáo viên Ninh Bình tham dự các kỳ thi quốc gia, quốc tế đều đạt kết quả khá, tốt. Kết quả thi THPT quốc gia tỉnh Ninh Bình nhiều năm liền xếp trong tốp 5 tỉnh, thành phố có điểm trung bình tất cả các bài thi cao của cả nước.

    Ngành Giáo dục cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, quản lý giáo dục. Năm 2022, Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình được UBND tỉnh xếp thứ Nhất về chỉ số cải cách hành chính trong số 17 sở, ban, ngành của tỉnh. Ngành cũng chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý hồ sơ chuyên môn, quản lý kết quả học tập và rèn luyện của học sinh. Đến nay, cấp học mầm non có 82/153 trường (chiếm 53,6%), 47/97 cơ sở giáo dục mầm non tư thục (chiếm 48,5%) lắp đặt camera phục vụ công tác quản lý và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Tính đến tháng 10/2019, 100% trường THPT và Trung tâm GDNN-GDTX có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI); 71% các trường mầm non, tiểu học, THCS có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (vượt 11% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI)…

    Thời gian tiếp theo, ngành Giáo dục Ninh Bình đề ra mục tiêu tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh theo hướng toàn diện và vững chắc; tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phấn đấu đạt một số chỉ tiêu quan trọng, như xây dựng trường chuẩn Quốc gia: Đến hết năm 2025, trường học đạt chuẩn quốc gia bậc học mầm non 98%, tiểu học 94% (đạt chuẩn quốc gia mức độ 2), THCS 97%, THPT 80%. Đảm bảo có đủ thiết bị để dạy học môn Tin học trong các cơ sở giáo dục theo quy định của Bộ GD&ĐT. Tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 90%; có 85% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn về đào tạo, trong đó cấp THPT là 30%… Đến năm 2025, Ninh Bình trở thành tỉnh có nền giáo dục – đào tạo chất lượng, uy tín trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ và cả nước.

    nguồn: Mỹ Hạnh/baoninhbinh.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Sách Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Đã Đi Vào Cuộc Sống
  • Nâng Chất Lượng Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Bàn Về Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế
  • Chương 3 Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Song Ngữ Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Quảng Bình
  • Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100