Bạch Cầu Là Gì ? Chức Năng Của Bạch Cầu

--- Bài mới hơn ---

  • ✴️ Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò Và Đặc Tính Sinh Lý Của Bạch Cầu?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Trong nhiệm vụ chung là bảo vệ cơ thể, mỗi loại bạch cầu có một cấu trúc gắn liền với tính năng và nhiệm vụ khác nhau:

    • Bạch cầu hạt trung tính: Tạo ra hàng rào đầu tiên bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn sinh mủ do bạch cầu trung tính có khả năng vận động và thực bào rất mạnh.

    • Bạch cầu hạt ưa acid: Chức năng chủ yếu là khử độc các protein và các chất lạ do trong các lysosome chứa các enzyme như oxidase, peroxidase và phosphatase.

    • Bạch cầu hạt ưa base: là loại ít gặp nhất trong các loại bạch cầu, đóng vai trò quan trọng trong một số phản ứng dị ứng.

    • Bạch cầu lympho: Có hai loại là bạch cầu lympho T và bạch cầu lympho B.

    Bạch cầu lympho T : bạch cầu Lympho T sau khi được hoạt hóa sẽ tấn công các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể bằng cách tấn công trực tiếp hoặc giải phóng một chất gọi là lymphokin. Lymphokin sẽ thu hút bạch cầu hạt đến xâm nhập, tấn công kháng nguyên.

    Bạch cầu lympho B có vai trò sản xuất ra kháng thể.

      Bạch cầu mono: có kích thước lớn, tại mô liên kết của các cơ quan sẽ phát triển thành các đại thực bào. Các đại thực bào này sẽ ăn các phân tử các phân tử có kích thước lớn, các mô hoại tử, do đó có tác dụng dọn sạch các vùng mô tổn thương. Bên cạnh đó, bạch cầu mono còn đóng vai trò quan trọng trong khởi động quá trình sản xuất kháng thể.

    Chỉ số WBC là gì?

    Chỉ số Wbc (White Blood Cell) là chỉ số thể hiện số lượng bạch cầu trong một thể tích máu. Giá trị này bình thường trong khoảng 4.000- 10.000 tế bào/mm3. Nếu số lượng bạch cầu cao hơn khoảng trên gọi là tình trạng tăng bạch cầu, thấp hơn khoảng trên là tình trạng giảm bạch cầu. Đây là một chỉ số quan trọng, dựa vào chỉ số này tăng hoặc giảm thầy thuốc có thể tiên lượng được tình trạng sức khỏe của người bệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Tự Động Giữ Phanh Auto Hold
  • Phanh Tay Điện Tử Có Ưu Và Nhược Điểm Gì?
  • 7 Công Nghệ Hạng Sang Trên Ô Tô Đang Dần Được ‘bình Dân Hóa’ Ở Việt Nam (P1)
  • Làm Thế Nào Để Sử Dụng Phanh Tay Điện Tử Và Auto Hold Trên Mitsubishi Outlander
  • Tìm Hiểu Về Tính Năng Tự Động Giữ Phanh Auto
  • Bạch Cầu Là Gì Và Chức Năng Của Bạch Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Học 8 Bài 14: Bạch Cầu
  • Nad: Rối Loạn Chức Năng Của Bạch Cầu Trung Tính Actin
  • Chức Năng Của Bạch Cầu Trong Máu Là Gì?
  • Eosinophilia (Tăng Bạch Cầu Ưa Acid
  • Suy Giảm Miễn Dịch (Giảm Bạch Cầu Hạt Trung Tính Và Sau Ghép Tủy)
  • Các tế bào bạch cầu lưu thông trong tuần hoàn máu và giúp hệ thống miễn dịch chống lại nhiễm trùng. Tế bào gốc trong tủy xương chịu trách nhiệm sản xuất các tế bào bạch cầu. Sau đó, tủy xương lưu trữ khoảng 80-90% số lượng các tế bào bạch cầu. Khi nhiễm trùng hoặc tình trạng viêm xảy ra, cơ thể sẽ giải phóng các tế bào bạch cầu để giúp chống lại nhiễm trùng. Trong bài viết này sẽ giúp tìm hiểu thêm về các tế bào bạch cầu, bao gồm phân loại và chức năng của chúng.

    Bạch cầu là những tế bào có chức năng chống lại các tác nhân lạ đi vào cơ thể. Các tế bào bạch cầu sẽ thực bào các chất lạ hoặc vi khuẩn, khử độc, sản xuất kháng thể; giải phóng các chất truyền tin hóa học, các enzym,… Bạch cầu có nguồn gốc từ các tế bào gốc sinh máu vạn năng trong tủy xương. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau, mỗi loại thực hiện một chức năng khác nhau nhưng đều thống nhất trong nhiệm vụ chung là bảo vệ cơ thể.

    Bạch cầu gồm có 3 loại chính: bạch cầu hạt, tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.

      • Bạch cầu ái kiềm: Chúng chiếm ít hơn 1% tế bào bạch cầu trong cơ thể và thường xuất hiện với số lượng tăng sau một phản ứng dị ứng.
      • Bạch cầu ái toan: Đây là bạch cầu chịu trách nhiệm đáp ứng với nhiễm trùng mà ký sinh trùng gây ra. Chúng cũng đóng một vai trò trong phản ứng miễn dịch nói chung; cũng như phản ứng viêm trong cơ thể.
      • Bạch cầu trung tính: Chúng đại diện cho phần lớn các tế bào bạch cầu trong cơ thể. Chúng hoạt động như những “lao công thu gom rác”; giúp bao quanh, tiêu diệt vi khuẩn và nấm có thể có trong cơ thể.

    Những tế bào bạch cầu này bao gồm:

    • Tế bào B: Còn được gọi là tế bào lympho B, các tế bào này tạo ra các kháng thể để giúp hệ thống miễn dịch gắn kết với phản ứng với nhiễm trùng.
    • Tế bào T: Còn được gọi là tế bào lympho T, những tế bào bạch cầu này giúp nhận biết và loại bỏ các tế bào gây nhiễm trùng.
    • Các tế bào giết tự nhiên: Những tế bào này chịu trách nhiệm tấn công và tiêu diệt các tế bào virus, cũng như các tế bào ung thư.

    Bạch cầu đơn nhân chiếm khoảng 2 – 8% tổng số tế bào bạch cầu trong cơ thể. Chúng có mặt khi cơ thể chống lại nhiễm trùng mãn tính. Các bạch cầu đơn nhân nhắm mục tiêu và phá hủy các tế bào gây nhiễm trùng.

    3. Chỉ số WBC là gì?

    Một số tình trạng có thể ảnh hưởng đến số lượng tế bào bạch cầu trong cơ thể, dẫn đến việc chỉ số các dòng bạch cầu quá cao hoặc quá thấp. Nếu cần thiết, bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân dùng thuốc để kiểm soát số lượng bạch cầu phù hợp. Để xét nghiệm chỉ số bạch cầu, bạn có thể đặt lịch khám qua website: chúng tôi hoặc liên hệ Zalo: 0342.318.318 để được hướng dẫn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Monocyte Là Gì? Ý Nghĩa Của Bạch Cầu Monocyte Trong Xét Nghiệm Máu
  • Nêu Các Cơ Chế Bảo Vệ Của Bạch Cầu
  • Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Những Điều Bạn Nên Biết Về Sinh Lí Của Bạch Cầu (Phần 2)
  • Bệnh Phổi Bạch Cầu Hạt Ưa Acid
  • Các Loại Bạch Cầu Và Chức Năng Của Chúng. Các Chức Năng Của Bạch Cầu. Tăng Bạch Cầu Trong Thai Kỳ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Và Đáp Án Thi Ki I
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Một Hạch Bạch Huyết
  • Hạch Ở Người Có Vai Trò Gì?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hạch Bạch Huyết Nhom 3 Lop Mo Phoi 7 Ppt
  • Hệ Hạch Bạch Huyết Là Gì? Vai Trò, Cấu Tạo, Chức Năng
  • Máu người chỉ bao gồm một chất lỏng (huyết tương) 55-60%, và phần còn lại của thể tích được chiếm bởi các yếu tố đồng nhất. Bạch cầu có lẽ là đại diện tuyệt vời nhất của chúng.

    Bạch cầu trông như thế nào và nó có hình dạng gì?

    Bạch cầu là những tế bào hình cầu có đường kính tới 20 micron. Số lượng của chúng ở người dao động từ 4 đến 8 nghìn trên 1 mm3 máu.

    Sẽ không thể trả lời câu hỏi tế bào có màu gì – bạch cầu trong suốt và được hầu hết các nguồn xác định là không màu, mặc dù các hạt của một số nhân có thể có một bảng màu khá rộng.

    Sự đa dạng của các loại bạch cầu khiến không thể thống nhất cấu trúc của chúng.

    Tế bào chất:

    Ngoài ra, các bào quan tạo nên các tế bào cũng khác nhau.

    Đặc điểm cấu trúc hợp nhất các yếu tố dường như không giống nhau này là khả năng di chuyển tích cực.

    Tế bào non được sản sinh từ tế bào gốc đa năng trong tủy xương. Hơn nữa, để tạo ra mộtbạch cầu Có thể tham gia 7-9 lần phân chia, và vị trí của tế bào gốc đã phân chia sẽ được lấy bởi tế bào nhân bản của tế bào lân cận. Đây là cách duy trì hằng số của quần thể.

    Khởi đầu

    Sự hình thành bạch cầu có thể được hoàn thành:

    Mỗi loại bạch cầu có tuổi thọ riêng.

  • từ 2 giờ đến 4 ngày –
  • từ 8 ngày đến 2 tuần – bạch cầu hạt;
  • từ 3 u200bu200bngày đến 6 tháng (đôi khi lên đến vài năm) – tế bào lympho.
  • Đặc điểm tuổi thọ ngắn nhất của bạch cầu đơn nhân không chỉ là do khả năng thực bào tích cực của chúng mà còn do khả năng sinh ra các tế bào khác.

    1. Sự lão hóa tự nhiên của tế bào, nghĩa là hoàn thành vòng đời của chúng.

    Trong trường hợp đầu tiên, chức năng tiêu diệt bạch cầu được giao cho gan và lá lách, và đôi khi đến phổi. Các sản phẩm phân rã của tế bào được đào thải một cách tự nhiên.

    Bạch cầu chết trực tiếp “Đang làm nhiệm vụ”, và nếu việc loại bỏ chúng ra khỏi đó là không thể hoặc khó khăn, các sản phẩm phân hủy của tế bào sẽ tạo thành mủ.

    Video – Phân loại và ý nghĩa của bạch cầu người

    Nhiệm vụ của các tế bào được giảm xuống để phát hiện và tiêu diệt chúng theo nguyên tắc “Kháng thể-kháng nguyên”.

    Sự tiêu diệt các sinh vật không mong muốn xảy ra bởi sự hấp thụ của chúng, trong khi tế bào thực bào tiếp nhận tăng kích thước đáng kể, nhận thấy các tải trọng phá hủy đáng kể và thường bị chết.

    Nơi chết của một số lượng lớn bạch cầu được đặc trưng bởi phù nề và đỏ, đôi khi có thể bị dập tắt, sốt.

    Việc phân tích sự đa dạng của nó sẽ giúp chỉ ra chính xác hơn vai trò của một tế bào cụ thể trong quá trình đấu tranh vì sức khỏe của một sinh vật.

    Vì vậy, bạch cầu hạt thực hiện các hành động sau:

    1. Bạch cầu trung tính – bắt và tiêu hóa vi sinh vật, kích thích sự phát triển và phân chia tế bào.
    2. Bạch cầu ái toan – trung hòa các protein lạ trong cơ thể và các mô sắp chết của chính nó.
    3. Bạch cầu ái kiềm – thúc đẩy quá trình đông máu, điều hòa tính thấm thành mạch bởi tế bào máu.

    Danh sách các chức năng được chỉ định cho bạch cầu hạt rộng hơn:

    1. Tế bào lympho T – Cung cấp khả năng miễn dịch tế bào, tiêu diệt tế bào lạ và tế bào bệnh lý của mô cơ thể, chống lại virus và nấm, ảnh hưởng đến quá trình tạo máu và kiểm soát hoạt động của tế bào lympho B.
    2. Tế bào lympho B – hỗ trợ miễn dịch dịch thể, chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn và virus bằng cách tạo ra các protein kháng thể.
    3. Bạch cầu đơn nhân – Thực hiện chức năng của các tế bào thực bào tích cực nhất, điều này trở nên khả thi do số lượng lớn tế bào chất và lysosome (các bào quan chịu trách nhiệm tiêu hóa nội bào).

    Chỉ trong trường hợp có sự phối hợp nhịp nhàng và ăn ý của tất cả các loại bạch cầu thì mới có thể duy trì được sức khỏe của cơ thể.

    Bạch cầu với hồng cầu và tiểu cầu được hình thành bởi hệ thống miễn dịch tạo máu, chứa:

    • amidan;
    • tủy xương;
    • tuyến ức (tuyến ức);
    • hình thành bạch huyết trong ruột (các mảng của Peyer);
    • lách;
    • các hạch bạch huyết.

    Tủy xương là nơi chính để hình thành bạch cầu. Những tế bào này được sản xuất trong cơ thể với số lượng lớn, vì sau khi cơ thể bị phá hủy, chúng sẽ chết cùng với nó.

    Các cơ quan được phân phối trong các chất lỏng có nguồn gốc sinh học sau: trong huyết tương, trong nước tiểu (một lượng nhỏ ở người khỏe mạnh), trong dịch bôi trơn âm đạo của phụ nữ, v.v.

    Cấu trúc và cách chúng trông

    Hình dạng của bạch cầu là hình tròn hoặc hình bầu dục. Màu của chúng được coi là màu trắng, vì không có màu độc lập. Để nhìn thấy bạch cầu dưới kính hiển vi, vật liệu sinh học được nhuộm sẵn, mỗi loại cơ thể phản ứng với màu sắc theo cách riêng của nó.

    • bạch cầu hạt có dạng hạt;
    • bạch cầu hạt không có hạt.

    Cấu trúc đơn giản của bạch cầu được đặc trưng bởi sự hiện diện của nhân và tế bào chất, nhưng mỗi loại có các đặc điểm cấu trúc riêng:

    1. Bạch cầu trung tính. Tế bào chất là những hạt mịn có đường viền hẹp đồng nhất, chứa các sợi mảnh. Tế bào chất cũng chứa ti thể, các bào quan, phức hợp Golgi, bao gồm glycogen, lipid và lưới nội chất hạt. Nhân chứa chromantin dày đặc.
    2. Tăng bạch cầu ái toan. Nhân bao gồm dị nhiễm sắc. Tế bào chất chứa các hạt gồm hai loại:
      • hình bầu dục, kích thước 0,5-1,5 micron, chứa acid amin – arginin, enzym thủy phân;
      • tròn, kích thước 0,1-0,5 micron, chứa arylsulfatase và acid phosphatase.
    3. Ưa bazơ. Tế bào chất bao gồm các hạt ưa bazơ lớn tròn có đường kính 0,5-1,2 micron. Chúng chứa heparin glycosaminoglycan có tính axit và histamine. Hạt nhân chia thùy yếu, đôi khi hình cầu.

    Tế bào bạch huyết được đặc trưng bởi một nhân tròn có màu đậm và một vành nhỏ của tế bào chất, trong đó có một hàm lượng không đáng kể của ribosome và polysome. Nhân tròn với chất nhiễm sắc cô đặc dọc theo ngoại vi.

    Tùy thuộc vào đặc điểm cấu trúc và chức năng của tế bào, tuổi thọ của bạch cầu trong máu người có phạm vi sau: từ 2 đến 15 ngày. Ngoại lệ là các tế bào bạch huyết, chúng sống từ vài ngày đến vài năm, một số trong số chúng đi cùng với một người trong suốt cuộc đời.

    Là gì

    Trong xã hội y học đã hình thành cách phân loại bạch cầu theo đặc điểm hình thái và chức năng.

    1. Bạch cầu hạt là bạch cầu dạng hạt hoặc bạch cầu đa nhân trung tính.
    2. Agranulocytes không có hạt.

    Bạch cầu bao gồm các loại cơ thể như bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ưa bazơ, tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân, chúng khác nhau về chức năng:

    1. Bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng chiếm 50-70% tổng số bạch cầu, chúng chủ yếu tham gia vào quá trình tiêu diệt các phần tử có hại. Chúng tạo ra các keylone – chất để ngăn chặn sự tổng hợp DNA trong tế bào. Lần lượt, bạch cầu trung tính gồm 2 loại: phân đoạn (tế bào trưởng thành) và thể đâm (tế bào non với nhân kéo dài).
    2. Bạch cầu ái toan – cung cấp sự di chuyển đến vị trí bị tấn công, hấp thụ các tác nhân có hại, loại bỏ các biểu hiện dị ứng không cần thiết bằng cách ngăn chặn histamine với sự trợ giúp của enzyme histaminase.
    3. Basophils – “xe cứu thương” khi tiếp xúc với chất độc mô người, chất độc, hơi. Chúng tham gia vào quá trình đông máu.
    4. Tế bào bạch huyết. Nó là yếu tố chính của hệ thống miễn dịch. Nó kích hoạt một cuộc tấn công trả đũa chống lại vi khuẩn và vi rút hung hãn, lưu trữ thông tin về nó và khi bị tấn công lại, phản ứng thậm chí còn nhanh hơn, biến đổi thành nguyên bào lympho, khác nhau về tốc độ sinh sản. Sau đó các nguyên bào lympho biến thành tế bào tiêu diệt và loại bỏ hoàn toàn kẻ xâm nhập. Đây là cách miễn dịch được hình thành và hoạt động.
    5. Bạch cầu đơn nhân hấp thụ các nguyên tố đặc biệt lớn. Với sự giúp đỡ của họ, các mô bị viêm, tế bào chết và cơ thể của các tế bào bạch cầu chết được loại bỏ khỏi cơ thể thông qua nước tiểu và thải mủ. Bạch cầu đơn nhân được đặc trưng bởi hoạt động thực bào – khả năng liên kết, hấp thụ và tiêu hóa vi sinh và vi khuẩn.

    Bạch cầu làm gì

    Giá trị của bạch cầu và chức năng của chúng:

    1. Bảo vệ cơ thể khỏi tác hại của các tế bào lạ. Khi một mầm bệnh nhỏ xâm nhập vào máu, chúng sẽ hấp thụ và tiêu diệt nó. Nếu nguy hiểm lớn, thì số lượng bạch cầu tăng lên, nhóm của họ bắt kẻ thù và cũng tiêu diệt. Quá trình này được gọi là quá trình thực bào.
    2. Chức năng cầm máu – đảm bảo quá trình đông máu thông qua tổng hợp histamine và heprin – chất chống đông máu trực tiếp.
    3. Việc sản xuất kháng thể có nghĩa là các hợp chất protein hoạt tính của huyết tương được tạo ra để chống lại tác nhân gây bệnh, ngăn chặn sự nhân lên của vi sinh vật và trung hòa các chất độc hại mà chúng thải ra.
    4. Vận chuyển – các cơ quan tham gia vào việc chuyển các axit amin hấp thụ, các chất enzyme và các thành phần hoạt động đến các mô của các cơ quan, di chuyển qua các mạch máu.
    5. Tổng hợp – sự hình thành của histamine và heparin, điều chỉnh các quá trình sinh lý trong cơ thể (sản xuất dịch tụy, co thắt cơ, giảm huyết áp).
    6. Với sự phát triển của bệnh trong cơ thể, một quá trình như vậy xảy ra như sự di cư của bạch cầu, trong đó các tế bào bảo vệ rời khỏi mạch máu, đi qua thành của chúng và đi đến các mô bị bệnh, loại bỏ tổn thương. Đồng thời, sức chứa của các mạch tăng lên và kích hoạt hóa học – quá trình thu hút hóa chất của các tế bào đến các mô bị viêm. Tất cả điều này góp phần vào sự di chuyển chính xác của bạch cầu và tiêu diệt nhanh chóng các tế bào đối phương.

    Trong biểu mẫu với kết quả xét nghiệm máu, chỉ định chung của bạch cầu như sau: WBC – bạch cầu (bạch cầu), đơn vị đo của cơ thể là 10 đến 9 độ tế bào / l. Đối với một nghiên cứu chi tiết về công thức bạch cầu, sự phân biệt của các chỉ số theo loại tế bào được sử dụng, được biểu thị bằng phần trăm. Thường nó được xem xét cùng với các chỉ số về thể tích trung bình của hồng cầu (được ký hiệu là MCV – thể tích tiểu thể trung bình).

    Định mức máu và độ lệch

    Ở người lớn và trẻ em, các chỉ số về bạch cầu trong máu liên tục thay đổi tùy theo thể trạng của mỗi người. Nhưng có những giới hạn cho phép đối với nồng độ của chúng – từ 4 đến 9×10 đến năng lượng thứ 9 của tế bào / l, bất kỳ biến động nào trong các giá trị đều cho thấy một số thay đổi đang diễn ra trong cơ thể.

    Số lượng tế bào trong máu giảm cho thấy sự suy giảm khả năng phòng vệ của cơ thể, hệ thống miễn dịch hoặc tạo máu bị trục trặc. Số lượng cơ thể da trắng thấp được gọi là giảm bạch cầu, có chức năng và hữu cơ.

    Chức năng xảy ra với các yếu tố sau:

    • kiệt sức, thiếu dinh dưỡng, chuyển sang chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt;
    • bị đánh bại bởi một căn bệnh do virus;
    • suy nhược cơ thể, ở trong trạng thái phản vệ;
    • dùng thuốc giảm đau và thuốc kháng vi-rút;
    • tác động ion hóa của các thiết bị y tế (tia X).

    Hữu cơ báo hiệu sự phát triển của các điều kiện đe dọa tính mạng sau đây:

    • bệnh bạch cầu cấp tính – ung thư máu;
    • thiếu máu bất sản là vi phạm quá trình tạo máu.

    Một trường hợp số lượng bạch cầu tăng cao được gọi là tăng bạch cầu. Có 3 loại của nó:

    • Tái phân bố – không có mối liên hệ với bệnh lý, phát sinh từ các tác động bên ngoài lên cơ thể, bao gồm:
    • ảnh hưởng của rượu hoặc ma tuý;
    • tiêu thụ nước tăng lực;
    • do kết quả của một cuộc phẫu thuật;
  • Phản ứng – xuất hiện do kết quả của các quá trình bệnh lý trong cơ thể, bao gồm:
    • ngộ độc, nhiễm độc;
    • viêm nhiễm;
    • tiếp xúc với nhiễm trùng hoặc vi khuẩn.
  • Kháng – đặc trưng bởi tỷ lệ cao (khoảng 80×10 9 tế bào / l) và cho thấy sự hiện diện của ung thư.
  • Các chỉ số nhảy vọt có thể được quan sát khi không có bệnh. Lý do cho những thay đổi là:

    • thai kỳ;
    • tuổi dậy thì;
    • dùng thuốc nội tiết tố;
    • căng thẳng, trầm cảm;
    • cảm xúc tích cực tươi sáng;
    • khí hậu thay đổi;
    • thay đổi bản chất của thực phẩm.

    Để kết quả phân tích chính xác, phải tuân thủ các quy tắc sau:

    1. Không uống rượu hoặc ma túy 72 giờ trước khi đến bệnh viện.
    2. Không ăn đồ ngọt, béo, đồ hun khói trước khi hiến máu 12 giờ.
    3. Không hút thuốc vào ban ngày.
    4. Không hiến máu nếu bạn cảm thấy không khỏe và yếu.

    Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ phải chỉ định xét nghiệm máu chi tiết, trong đó nồng độ bạch cầu sẽ được mô tả cho từng loại. Đặc tính của bạch cầu theo số lượng và tỷ lệ của chúng được chỉ ra ở dạng hoặc công thức bạch cầu. Trong nghiên cứu của mình, một chuyên gia chú ý đến chỉ số dịch chuyển – một phân tích về tỷ lệ nhân trưởng thành và nhân chưa trưởng thành để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh:

    • nặng – 1,0 và cao hơn;
    • trung bình – 0,3-1,0;
    • ánh sáng – không quá 0,3.

    Tăng nồng độ bạch cầu là một chống chỉ định cho một số thủ thuật: phẫu thuật, nội soi tử cung, nội soi ổ bụng, v.v.

    Các vấn đề trong hệ thống tạo máu được biểu thị bằng tình trạng tăng tế bào lympho – một mức độ gia tăng của tế bào lympho, thường chiếm 19-37% tổng số bạch cầu. Nó có 2 loại:

    1. Quan hệ. Tổng số bạch cầu vẫn bình thường.
    2. Tuyệt đối. Bạch cầu và tế bào lympho tăng.

    Sự phát triển của lymphocytosis cho thấy sự hiện diện của vi rút trong cơ thể (cúm, AIDS, herpes, rubella, thủy đậu) hoặc một khối u ung thư.

    Làm thế nào để điều trị

    Sự sai lệch so với tiêu chuẩn của nồng độ bạch cầu trong máu cao hơn và thấp hơn cho thấy quá trình bệnh lý trong cơ thể con người. Các bệnh nguy hiểm nhất gây ra những bất thường này là bệnh bạch cầu và thiếu máu bất sản.

    1. Hóa trị là việc đưa thuốc vào tĩnh mạch, uống hoặc vào dịch não tủy (có trường hợp sử dụng cả 3 phương pháp cùng lúc).
    2. Xạ trị là một phương pháp điều trị bằng bức xạ ion hóa.
    3. Liệu pháp nhắm mục tiêu – xác định các tế bào ung thư và tiêu diệt chúng mà không gây hại cho các tế bào khỏe mạnh.

    Nguyên tắc điều trị thiếu máu bất sản:

    1. Liệu pháp ức chế miễn dịch – bao gồm sử dụng immunoglobulin và cyclosporin A. Như một biện pháp hỗ trợ bổ sung, truyền tiểu cầu và hồng cầu được sử dụng.
    2. Ghép tủy xương đồng loại cho tiên lượng thuận lợi nhất, nhưng khả năng tiến hành thủ thuật bị giảm do khó chọn người hiến tương thích miễn dịch với bệnh nhân.

    Liên hệ với

    Bạch cầu hay bạch cầu, không giống như hồng cầu, có nhân và các yếu tố cấu trúc khác đặc trưng của tế bào. Kích thước từ 7,5 đến 20 micron.

    Đối với bạch cầu, một chuyển động giống như amip là đặc trưng. Chúng có thể rời khỏi dòng máu (tốc độ di chuyển của chúng là 40 μm / phút). Sự giải phóng bạch cầu qua nội mô của các mao mạch được gọi là sự xuyên mạch… Sau khi rời khỏi tàu, chúng được gửi đến nơi có yếu tố ngoại lai, tâm điểm của chứng viêm, sản phẩm của sự phân hủy mô ( hóa chất điều trị tích cực). Hóa chất điều trị tiêu cực – Đây là hướng di chuyển của bạch cầu từ nơi đưa yếu tố gây bệnh vào.

    Chức năng bạch cầu:

    · Bảo vệ(tham gia cung cấp sức đề kháng không đặc hiệu và tạo miễn dịch dịch thể và tế bào).

    · Trao đổi chất (Đi vào lòng ống tiêu hóa, thu giữ các chất dinh dưỡng ở đó và chuyển chúng vào máu. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc duy trì khả năng miễn dịch ở trẻ sơ sinh trong quá trình bú sữa do chuyển các globulin miễn dịch không thay đổi từ sữa mẹ vào máu).

    · Lịch sử – ly giải (hòa tan) các mô bị hư hỏng;

    · Di truyền hình thái – phá hủy các vết chết khác nhau trong quá trình phát triển phôi thai.

    Chức năng của một số loại bạch cầu:

    1. Không hạt (bạch cầu hạt):

    và) bạch cầu đơn nhân – 2-10% tổng số bạch cầu (đại thực bào). Tế bào máu lớn nhất. Có hoạt tính diệt khuẩn. Xuất hiện ở tổn thương sau bạch cầu trung tính. Hoạt động tối đa của chúng được thể hiện trong môi trường axit. Trong các mô, bạch cầu đơn nhân, sau khi trưởng thành, biến thành tế bào bất động – tế bào mô (đại thực bào mô).

    Trọng tâm của quá trình thực bào viêm:

    · Vi sinh vật.

    · Bạch cầu chết.

    · Tế bào mô bị hư hỏng.

    Do đó, chúng làm sạch vết thương. Đây là một loại “cần gạt nước”.

    b) tế bào bạch huyết – 20-40% tổng số bạch cầu.

    Không giống như các dạng bạch cầu khác, sau khi rời khỏi mạch, chúng không quay trở lại và không sống trong vài ngày, giống như các loại bạch cầu khác mà từ 20 năm trở lên.

    Tế bào bạch huyết là trung tâm của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Cung cấp hằng số di truyền của môi trường bên trong, nhận biết “của họ” và “của người khác”.

    Họ thực hiện:

    · Tổng hợp các kháng thể.

    · Ly giải các tế bào lạ.

    · Cung cấp phản ứng từ chối mảnh ghép.

    · Trí nhớ miễn dịch.

    · Tiêu diệt các tế bào đột biến của chính chúng.

    · Trạng thái nhạy cảm.

    Phân biệt:

    T – tế bào lympho(cung cấp khả năng miễn dịch tế bào):

    a) T – người trợ giúp.

    b) T – bộ triệt tiêu.

    c) T – kẻ giết người.

    d) T – bộ khuếch đại (máy gia tốc).

    e) Trí nhớ miễn dịch.

    Tế bào lympho B(cung cấp miễn dịch dịch thể). Có thông tin về sự tồn tại của quần thể tế bào lympho B:

    a) Tế bào huyết tương;

    b) Kẻ giết người B;

    c) Người giúp việc B;

    d) Bộ triệt tiêu B;

    e) Tế bào trí nhớ miễn dịch.

    Tế bào bạch huyết được hình thành từ một tế bào gốc chung. Sự phân biệt của tế bào lympho T xảy ra ở tuyến ức và tế bào lympho B – trong tủy xương đỏ, các mảng Peyer của ruột, amidan, hạch bạch huyết, ruột thừa.

    Không tế bào lympho(không phải tế bào lympho T hay B) Chúng chiếm 10 – 20% tế bào lympho. Chúng được cho là có thể chuyển đổi thành tế bào lympho B hoặc T. Chúng bao gồm các tế bào lympho 0 (không), được gọi là những kẻ giết người tự nhiên hoặc tế bào lympho NK. Họ là những nhà sản xuất protein có khả năng “đục lỗ” trong màng tế bào lạ, chúng được đặt tên là perforin… Dưới ảnh hưởng của các enzym xâm nhập qua các lỗ như vậy vào tế bào, sự phá hủy của nó xảy ra.

    Bạch cầu hạt:

    và) bạch cầu trung tính – nhóm bạch cầu lớn nhất (50-70% tổng số bạch cầu). Hạt của chúng chứa các chất có hoạt tính diệt khuẩn cao (lysozyme, myeloperoxidase, collagenase, cation protein, defensins, lactoferrin, v.v.). Chúng là chất mang các thụ thể IgG, protein bổ thể, cytokine. Khoảng 1% tổng số bạch cầu trung tính lưu hành trong máu. Phần còn lại là vải. Chúng xuất hiện đầu tiên trong tâm điểm của quá trình viêm nhiễm, thực bào và tiêu diệt các tác nhân gây hại. 1 bạch cầu trung tính có khả năng thực bào 20-30 vi khuẩn. Chúng tạo ra interferon, IL-6, các yếu tố điều hòa hóa học. Hoạt động của chúng được tăng cường bởi bổ thể (một hệ thống các protein có tác dụng ly giải và tăng cường khả năng thực bào).

    b) Bạch cầu ái toan – 1-5% tổng số bạch cầu (nhuộm eosin). Chúng ở trong máu vài giờ, sau đó di chuyển vào các mô, nơi chúng bị tiêu diệt.

    Các chức năng của bạch cầu ái toan:

    · Thực bào.

    · Trung hòa chất độc protein.

    · Phá hủy các protein lạ và phức hợp kháng nguyên-kháng thể.

    · Sản xuất histaminase.

    tại) Bạch cầu ái kiềm – 0-1% tất cả các loại bạch cầu. Sản xuất histamine và heparin (cùng với tế bào mast, chúng được gọi là tế bào gan). Heparin ngăn cản quá trình đông máu, histamine làm giãn nở mao mạch, thúc đẩy quá trình tái hấp thu và làm lành vết thương. Chúng chứa yếu tố kích hoạt tiểu cầu (PAF), thromboxan, prostaglandin, leukotrienes và yếu tố điều hòa hóa học bạch cầu ái toan. Basophil là những người mang thụ thể IgE, có vai trò thiết yếu trong quá trình phân hủy tế bào, giải phóng histamine và biểu hiện của các phản ứng dị ứng (nổi mề đay, hen phế quản, sốc phản vệ, v.v.).

    Bạch cầu hạt có khả năng nhận năng lượng do quá trình đường phân kỵ khí, do đó có thể thực hiện chức năng của chúng trong các mô nghèo O 2 (viêm, phù nề, cung cấp máu kém).

    Các enzym lysosome giải phóng bạch cầu trung tính khi bị phá hủy gây ra sự mềm mô và hình thành ổ mủ (áp xe). Mủ là bạch cầu trung tính đã chết và tàn tích của chúng.

    Metamyelocytes (trẻ ) – 0-1% của tất cả các loại bạch cầu. Chúng sống từ vài ngày đến một tuần.

    Tế bào tủy-(0%).

    Công thức bạch cầu – tỷ lệ phần trăm của tất cả các dạng bạch cầu (Bảng 3).

    Bàn số 3.

    Công thức bạch cầu (%)

    Tăng ở dạng trẻ (bạch cầu trung tính không phân mảnh) – thay đổi qua bên trái… Nó được ghi nhận trong bệnh bạch cầu, các bệnh truyền nhiễm và viêm nhiễm. Sự giảm số lượng dạng không phân được gọi là sự thay đổi công thức bạch cầu. rẽ phải, cho thấy sự xuất hiện trong máu của các dạng bạch cầu cũ và sự suy yếu của quá trình tạo bạch cầu.

    Để đánh giá cường độ tạo bạch cầu, hãy tính chỉ số tái tạo(IR).

    Nó được tính toán:

    Thông thường, IR u003d 0,05 – 0,1. Trong quá trình viêm nghiêm trọng, nó tăng lên 1 – 2. Đây là một chỉ số về mức độ nghiêm trọng của bệnh và phản ứng của cơ thể đối với yếu tố gây bệnh, cũng như hiệu quả của điều trị.

    Ngoài công thức bạch cầu, đôi khi hàm lượng tuyệt đối của từng loại bạch cầu ( hồ sơ bạch cầu).

    Số lượng bạch cầu bình thường: 4-9 x 10 9 / l (Giga / l).

    Khoảng 40-50 năm trước, giới hạn dưới được coi là 6 x 10 9 / l. Bây giờ biên giới này là 4 x 10 9 / l. Điều này là do quá trình đô thị hóa, với sự gia tăng phóng xạ nền và việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc khác nhau.

    Sự gia tăng số lượng bạch cầu được gọi là tăng bạch cầu… Có các loại tăng bạch cầu sau:

    Sinh lý họchoặc là phân phối lại… Nó được gây ra bởi sự phân bố lại bạch cầu giữa các mạch của các cơ quan khác nhau. Các loại tăng bạch cầu sinh lý bao gồm:

    · Tiêu hóa… Sau khi ăn, do sự xâm nhập của bạch cầu vào vòng tuần hoàn từ kho máu. Chúng đặc biệt có nhiều ở lớp dưới niêm mạc của ruột, nơi chúng thực hiện chức năng bảo vệ.

    · Gây dị ứng. Dưới tác động của công việc nặng nhọc về cơ bắp, số lượng bạch cầu tăng gấp 3 – 5 lần. Nó có thể vừa phân phối lại vừa đúng do tăng tạo bạch cầu.

    · có thai… Tăng bạch cầu chủ yếu có tính chất cục bộ (ở lớp dưới niêm mạc tử cung). Ý nghĩa của nó nằm trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng xâm nhập vào cơ thể người phụ nữ chuyển dạ, cũng như kích thích chức năng co bóp của tử cung.

    · Sơ sinh(chức năng trao đổi chất).

    · Trong trường hợp ảnh hưởng đau đớn.

    · Với những ảnh hưởng cảm xúc.

    Bệnh lý( phản ứng) tăng sản phản ứng (phản ứng) do nhiễm trùng, các quá trình sinh mủ, viêm nhiễm, nhiễm trùng và dị ứng.

    Trong các bệnh truyền nhiễm cấp tính, hiện tượng tăng bạch cầu đa nhân trung tính xảy ra đầu tiên. Sau đó là giai đoạn monocytosis (dấu hiệu chiến thắng của sinh vật), sau đó là giai đoạn thanh lọc (tế bào lympho, bạch cầu ái toan). Nhiễm trùng mãn tính đi kèm với tăng lympho bào.

    Bệnh bạch cầu – tăng sinh ác tính không kiểm soát của bạch cầu. Bạch cầu trong những trường hợp này biệt hóa kém và không thực hiện được chức năng sinh lý của chúng.

    Giảm bạch cầu(số lượng bạch cầu dưới 4 x 10 9 / l). Có thể có sự giảm đồng đều ở tất cả các hình thức hoặc chủ yếu là các hình thức riêng lẻ. Nó xảy ra do nhiều lý do:

    · Sự tích tụ của bạch cầu trong các mao mạch giãn nở của phổi, gan, ruột khi truyền máu hoặc sốc phản vệ (giảm bạch cầu tái phân bố).

    · Phá hủy chuyên sâu các bạch cầu (với các quá trình viêm mủ rộng rãi). Các sản phẩm phân hủy của bạch cầu kích thích tạo bạch cầu, nhưng theo thời gian, nó trở nên không đủ để bù đắp cho lượng bạch cầu đã mất.

    · Ức chế tạo bạch cầu – (bệnh bạch cầu cấp tính, bức xạ, tự dị ứng, di căn của khối u ác tính trong tủy xương).

    · Giảm bạch cầu không do nhiễm trùng. Khi tiếp xúc với một yếu tố bức xạ (bị bệnh bức xạ, số lượng bạch cầu giảm xuống 0,5 x 10 9 / l), khi sử dụng một số dược chất.

    Tuổi thọ của các dạng bạch cầu khác nhau (từ 2-3 ngày đến 2-3 tuần). Tế bào lympho tồn tại lâu (tế bào của trí nhớ miễn dịch) sống trong nhiều thập kỷ.

    Các chức năng chung của bạch cầu là:

    1. Bảo vệ. Nó nằm ở chỗ chúng tham gia vào việc hình thành các miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu. Các cơ chế chính của miễn dịch cơ bản là:

    1.1. thực bào, tức là khả năng bắt giữ các tế bào trắng trong tế bào chất, thủy phân hoặc tước đi các điều kiện sống của vi sinh vật. Học thuyết về hoạt động thực bào của bạch cầu, có tầm quan trọng to lớn trong việc bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, đã được nhà khoa học lỗi lạc II Mechnikov người Nga thể hiện;

    1.2. sản xuất các kháng thể đặc hiệu;

    1.3. sự hình thành các chất chống độc, bao gồm interferon, tham gia vào việc hình thành miễn dịch không đặc hiệu.

    2. Vận chuyển. Nó nằm ở chỗ, bạch cầu có thể hấp phụ trên bề mặt của chúng một số chất có trong huyết tương, ví dụ, axit amin, enzym, v.v., và vận chuyển chúng đến nơi sử dụng.

    3. Tổng hợp. Nó thể hiện ở chỗ một số tế bào trắng tổng hợp các hoạt chất sinh học cần thiết cho sự sống (heparin, histamine, v.v.).

    4. Cầm máu. Bạch cầu tham gia vào quá trình đông máu, giải phóng thromboplastins bạch cầu.

    5. Vệ sinh. Bạch cầu tham gia vào quá trình hấp thu các mô chết trong các chấn thương khác nhau do chúng chứa một số lượng lớn các enzym khác nhau có thể thủy phân nhiều chất (protease, nuclease, glycosidase, lipase, phosphorylase khu trú trong lysosome). Khả năng thủy phân tất cả các lớp đại phân tử của các enzym lysosome là cơ sở để kết luận rằng các bào quan này là nơi tiêu hóa nội bào.

    Các loại bạch cầu

    Tùy thuộc vào cấu trúc (sự hiện diện của hạt trong tế bào chất), bạch cầu được chia thành hai nhóm: có hạt (bạch cầu hạt) và không hạt (bạch cầu hạt).

    ĐẾN sần sùi Có ba nhóm bạch cầu:

    1. Bạch cầu trung tính hoặc bạch cầu đa nhân trung tính… Các hạt của tế bào chất của bạch cầu thuộc nhóm này có màu không phải với bazơ, mà có màu axit. Hạt rất mịn và mịn. Đây là những tế bào hình tròn có đường kính 10-12 micron. Ba nhóm bạch cầu được phân biệt theo tuổi: non, đâm và phân đoạn, có 3-5 phân đoạn. Bạch cầu trung tính thực hiện các chức năng sau:

    1.1. Có tính bảo vệ, trong đó bạch cầu trung tính là vi đại bào có thể bắt vi sinh vật. Ngoài ra, bạch cầu trung tính tạo ra các chất như interferon (protein được tạo ra khi vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, bao gồm cả vi rút có tác dụng tiêu diệt chúng), các yếu tố chống độc, các chất tăng cường hoạt động thực bào, … Số phận của vi sinh vật xâm nhập vào bạch cầu trung tính phụ thuộc vào việc diệt khuẩn. hệ thống, có thể có hai loại: a) enzym – chúng bao gồm lysozyme, bao gồm lysozyme enzym, có thể có tác động bất lợi đối với vi sinh vật; lactoferrinic – có khả năng phân cắt sắt từ các enzym của vi sinh vật và làm mất khả năng sống của chúng; peroxidase, có khả năng gây ra quá trình oxy hóa, kết quả là vi sinh vật chết; b) một hệ thống diệt khuẩn không dùng enzim, được đại diện bởi các protein cation, có khả năng làm tăng tính thấm của màng vi sinh vật, bị hấp phụ trên bề mặt của nó, kết quả là chất của chúng được đổ vào môi trường và chúng chết. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng không phải tất cả các vi sinh vật đều nhạy cảm với hoạt động của hệ thống diệt khuẩn (ví dụ, mầm bệnh của bệnh lao, bệnh than).

    1.2. Bạch cầu trung tính cũng có chức năng vận chuyển, bao gồm thực tế là bạch cầu trung tính có thể hấp thụ một số chất có trong huyết tương trên bề mặt của chúng và vận chuyển chúng đến nơi sử dụng (axit amin, enzym, v.v.).

    2. Bạch cầu ưa bazơ hoặc bạch cầu ưa bazơ. Các hạt đa hình của tế bào chất của chúng được nhuộm màu xanh lam với các màu cơ bản. Kích thước Basophil từ 8 đến 10 micron. Nhân basophil có hình hạt đậu. Basophils thực hiện các chức năng sau:

    2.1. Bảo vệ. Chúng thực bào và tạo ra một số chất chống độc.

    2.2. Vận chuyển. Trên bề mặt của chúng, có nhiều thụ thể đặc hiệu liên kết với một số protein, do đó các phức hợp miễn dịch được hình thành ở đó.

    3. Bạch cầu ái toan hoặc bạch cầu ái toan, có hạt đơn hình lớn trong tế bào chất, có khả năng nhuộm đỏ bằng thuốc nhuộm axit (dâu tằm). Những tế bào này có hình tròn, đường kính 10-12 micron, theo quy luật, nhân bao gồm hai phân đoạn. Bạch cầu ái toan có các chức năng sau:

    3.1. Bảo vệ: sản xuất các chất chống độc và khả năng thực bào.

    3.2. Tổng hợp – sản xuất các chất hoạt tính sinh học (histaminase, v.v.).

    3.3. Vận chuyển.

    Tuổi thọ của bạch cầu dạng hạt từ 5 đến 12 ngày, chúng được hình thành trong tủy xương đỏ. Quá trình hình thành chúng được gọi là tạo hạt, diễn ra trong các tế bào của tủy xương đỏ và bắt đầu từ tế bào mẹ (gốc). Tiếp theo là tế bào tiền thân, sau đó là tế bào nhạy cảm với leukopoietin, tế bào này được tác động bởi một hormone cụ thể -inducer-leukopoietin và chỉ đạo sự phát triển của tế bào dọc theo đường trắng (bạch cầu). Tế bào tiếp theo là nguyên bào tủy, sau đó là tế bào promyelocyte, sau đó là tủy bào, dạng bạch cầu non (metamyelocyte), bạch cầu dạng đâm và phân đoạn.

    Bạch cầu không hạt (bạch cầu hạt). Chúng bao gồm tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.

    Bạch cầu đơn nhân – Tế bào lớn hình tròn, đường kính tới 20 micron, có nhân lớn hình hạt đậu. Tuổi thọ của bạch cầu đơn nhân là từ vài giờ đến 2 ngày. Bạch cầu đơn nhân thực hiện chức năng bảo vệ và vận chuyển. Chức năng bảo vệ được thể hiện ở chỗ các bạch cầu đơn nhân có khả năng thực bào (đại thực bào) và sản xuất kháng thể.

    Trải qua nhiều giờ trong gian bào, bạch cầu đơn nhân tăng kích thước và trở thành đại thực bào, có khả năng di chuyển nhanh hơn và tăng hoạt động thực bào (bắt giữ 100 vi sinh vật trở lên). Người ta đã chứng minh rằng nếu bạch cầu trung tính đóng vai trò chính trong việc chống lại các bệnh nhiễm trùng cấp tính thì bạch cầu đơn nhân lại có tầm quan trọng lớn trong các bệnh truyền nhiễm mãn tính. Ngoài việc sản xuất kháng thể, bạch cầu đơn nhân còn tham gia vào quá trình tổng hợp các chất miễn dịch không đặc hiệu như interferon, lysozyme, … Bạch cầu đơn nhân được hình thành trong tế bào của tủy xương đỏ từ một tế bào gốc (monopoiesis), tiến trình như sau: tế bào gốc, tế bào nhạy cảm với leukopoietin, trên đó có tác dụng cảm ứng hormone , monoblast, promonocyte, monocyte.

    Tế bào bạch huyết… Chúng có hình tròn, đường kính 8-10 micron, nhưng có thể lớn. Tế bào lympho có nhân tròn nhỏ gọn, thực tế không có tế bào chất nên không có hoạt động thực bào. Chức năng chính của tế bào lympho là bảo vệ. Đây là những tế bào có đủ năng lực miễn dịch tham gia vào quá trình hình thành miễn dịch đặc hiệu, thường được gọi là “binh lính” của mặt trận miễn dịch. Có 3 loại tế bào lympho: tế bào lympho T (60%), tế bào lympho B (30%), tế bào lympho O (10%). Sự tồn tại của hai hệ thống bảo vệ của tế bào lympho, mang các chức năng miễn dịch khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của các thụ thể màng, đã được thiết lập. Hệ thống tế bào lympho B được đại diện bởi các tế bào lympho B, được hình thành ở động vật trong khối, và ở người trong tủy xương đỏ. Các tế bào này rời khỏi tủy xương và định cư trong mô lympho ngoại vi (các mảng Peyer của ruột, amidan), trải qua quá trình biệt hóa sâu hơn. Hệ thống tế bào lympho B chuyên sản xuất các kháng thể và hình thành khả năng miễn dịch dịch thể của máu. Kháng thể hay globulin miễn dịch là những protein được tổng hợp trong cơ thể khi có sự hiện diện của các chất lạ – kháng nguyên, có thể là protein, polysaccharid và axit nucleic. Các kháng thể thể hiện tính đặc hiệu cho một vùng cụ thể của phân tử kháng nguyên, vùng này được gọi là yếu tố quyết định kháng nguyên.

    Là một phần của khóa học giải phẫu, học sinh phải được cho biết nơi hình thành bạch cầu ở người. Tuy nhiên, thông tin không phải là bí mật nên bất cứ ai quan tâm cũng có thể tìm hiểu sự thật thú vị này. Chúng ta hãy xem xét những tế bào này là gì, chúng khác nhau như thế nào và tất nhiên, chúng được hình thành ở đâu.

    Chúng cần thiết để làm gì?

    Trước khi tìm hiểu nơi hình thành bạch cầu ở một người, bạn nên hiểu bản chất của hiện tượng: loại tế bào này được gọi bằng cái tên nào? Các bác sĩ nói rằng yếu tố máu này là một trong những yếu tố quan trọng nhất, vì nó tạo thành một hàng rào có thể bảo vệ cơ thể khỏi tác động tiêu cực của các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn. Nếu một người bị bệnh, anh ta ngay lập tức được giới thiệu đến xét nghiệm máu để xác định mức độ bạch cầu – thông tin này sẽ cho phép bạn có được bức tranh toàn cảnh về những gì đang xảy ra trong cơ thể.

    Tế bào bạch cầu (bạch cầu) giúp chẩn đoán sơ bộ chính xác, cũng như tìm ra những nghiên cứu bổ sung cần thiết. Nếu số lượng tế bào bất thường, nó có khả năng là một bệnh nghiêm trọng. Vì bác sĩ biết nơi hình thành bạch cầu và có bao nhiêu bạch cầu sống, nên ông có thể biết được trên cơ sở nồng độ của các yếu tố này trong hệ tuần hoàn là bệnh đang bắt đầu hay đang ở giai đoạn hoạt động. Bác sĩ sẽ giải thích chi tiết những gì cần làm để đánh bại bệnh lý.

    Erythrocytes, bạch cầu và tiểu cầu là những yếu tố quan trọng được hình thành bởi hệ thống tạo máu. Sự gián đoạn trong các hoạt động của cô ấy được coi là vấn đề rất nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân. Không có gì ngạc nhiên khi các tế bào máu hình thành các cơ quan quan trọng:

    Bản thân bạch cầu có thể tạo ra các hợp chất hoạt động – kháng thể có thể chống lại các chất trung gian gây viêm. Quá trình xuất hiện của các tế bào trong y học được gọi là quá trình tạo bạch cầu. Phần trăm lớn nhất được hình thành trong tủy xương. Thời gian tồn tại của một bạch cầu lên đến 12 ngày.

    Nồng độ trong máu

    Nếu chỉ số nằm ngoài tiêu chuẩn, điều này không có nghĩa là hoạt động của cơ quan nơi hình thành bạch cầu bị gián đoạn. Khả năng xảy ra sai sót là không ít: ví dụ, một sai sót có thể xảy ra trong phòng thí nghiệm, dẫn đến kết quả không chính xác. Nếu bạn nghi ngờ giảm bạch cầu, tăng bạch cầu, nên thực hiện một nghiên cứu toàn diện. Chỉ khi tất cả các giai đoạn của nó xác nhận chẩn đoán sơ bộ, việc điều trị bắt đầu. Đầu tiên, bệnh nhân sẽ được gửi đi phân tích tổng quát lần thứ hai, sau đó bác sĩ sẽ đưa ra quyết định dựa trên kết quả. Trong một số trường hợp, đã dựa trên những dữ liệu này, bạn có thể chọn một liệu trình điều trị.

    Số của tôi cho bạn là gì?

    Để điều hướng những gì đang xảy ra trong cơ thể, tại buổi tiếp nhận, điều quan trọng không chỉ là hỏi bác sĩ về nơi hình thành và nơi chúng bị phá hủy, các chỉ số tiêu chuẩn cho các tế bào này hiện đang được phân bổ mà còn phải làm rõ những con số thu được trong phòng thí nghiệm và nó dùng để làm gì. Có thể chỉ ra. Bác sĩ có nghĩa vụ giải thích dễ hiểu cho người bệnh rằng các chỉ số định lượng thu được cho phép người ta nghi ngờ.

    Nếu hoạt động của các cơ quan nơi bạch cầu được hình thành hoạt động mạnh hơn (yếu hơn) so với mức bình thường, và các chỉ số máu gần đến mức quan trọng thì cần thay đổi thực đơn và lối sống. Để bình thường hóa thành phần của máu, bạn cần phải thường xuyên tích cực vận động. Nếu không sẽ không thể tránh khỏi những căn bệnh hiểm nghèo.

    Làm sao họ biết được?

    Các bác sĩ biết chính xác nơi các tế bào bạch cầu được hình thành. Ví dụ, gan là nguồn gốc của một loại tế bào này – bạch cầu đơn nhân. Trong quá trình phân tích, bác sĩ sẽ nhận được thông tin về tỷ lệ của các loại nguyên tố khác nhau của hệ tuần hoàn. Trong phòng thí nghiệm, những dữ liệu này được thu thập bằng máy ảnh Goryaev. Đây là một thiết bị quang học có độ chính xác cao tự động tính toán nồng độ của các nguyên tố xác định. Sai số thấp, độ chính xác cao.

    Nhìn bề ngoài, thiết bị trông giống như một tấm kính hình chữ nhật đơn giản, nhưng một tấm lưới siêu nhỏ được áp dụng cho nó.

    Tính năng phân tích

    Cần phải chú ý đến hoạt động của các cơ quan nơi bạch cầu được hình thành, nếu, theo kết quả của một nghiên cứu được tiến hành chính xác, các chỉ số nằm ngoài giới hạn bình thường. Nhưng “đúng” nghĩa là gì? Để hiểu được điều này, cần hiểu rõ về chính quy trình.

    Đầu tiên, người ta đổ axit axetic vào một ống nghiệm, màu của ống nghiệm đã bị thay đổi do xanh metylen. Nhỏ một giọt máu của bệnh nhân vào thuốc thử và trộn đều, lau buồng, kính bằng gạc sạch, xoa kính vào buồng và chờ tạo thành các vòng nhiều màu. Buồng chứa đầy huyết tương. Thời gian chờ đợi là một phút. Sau khoảng thời gian này, các tế bào ngừng chuyển động. Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm sử dụng một công thức đặc biệt để tính toán chính xác các số liệu.

    Tại sao cần có bạch cầu?

    Các tế bào này được hình thành ở đâu thì đã được chỉ ra ở trên, cơ quan chịu trách nhiệm chính là tủy xương. Nhưng tại sao chúng lại cần thiết? Khoa học đã đặt câu hỏi này từ rất lâu và đã tìm ra câu trả lời thấu đáo cho nó. Tất nhiên, các nhà khoa học cho rằng một số chức năng của bạch cầu vẫn chưa được khám phá, nhưng ngày nay nhân loại có một cơ sở dữ liệu ấn tượng về khả năng của tế bào.

    Các cơ quan nơi bạch cầu được hình thành chịu trách nhiệm về khả năng miễn dịch, vì các tế bào máu mà chúng tạo ra là những người bảo vệ chính của cơ thể chúng ta. Tương tự, chúng cung cấp cho một người sự bảo vệ miễn dịch cụ thể và không đặc hiệu. Một trong những khái niệm quan trọng trong hoạt động của một hệ thống như vậy là thực bào, tức là cơ thể máu bắt giữ các tác nhân có khả năng gây nguy hiểm cho con người. Ngoài ra, trong quá trình thực bào, các tế bào của hệ thống miễn dịch có thể tiêu diệt ngay các phần tử thù địch.

    Còn gì nữa?

    Bạch cầu cũng là chất vận chuyển, nhờ đó xảy ra quá trình hấp phụ các axit amin, các thành phần hoạt tính, các chất enzym và các tế bào khác quan trọng đối với các mô cơ thể. Bạch cầu nhận những chất này và đưa chúng đến các mô cần chúng, di chuyển qua mạch máu.

    Bạch cầu cung cấp quá trình đông máu. Chức năng này đã được đặt tên là “cầm máu”. Vệ sinh cũng không kém phần quan trọng – bạch cầu có thể phá vỡ các tế bào, các mô hữu cơ đã chết đi dưới tác động của nhiễm trùng, chấn thương, tổn thương của các loại khác.

    Bạn cần tìm gì

    Một trong những chức năng quan trọng của bạch cầu là tổng hợp. Điều này có nghĩa là nhờ các tế bào máu đó mà một số thành phần cần thiết cho hoạt động bình thường của cơ thể con người được hình thành. Chúng ta đang nói về histamine, heparin.

    Có một số loại bạch cầu trong cơ thể con người. Mỗi người trong số họ có chức năng cụ thể, đặc điểm cấu tạo. Việc phân chia thành các nhóm không chỉ dựa trên thời gian tồn tại của các tế bào mà còn dựa trên các cơ quan sản sinh ra một loại cụ thể.

    Cái gì được phân bổ?

    Có những bạch cầu dạng hạt (nơi chúng được hình thành, các bác sĩ đã thành lập từ rất lâu trước đây – trong tủy xương) – chúng được gọi là bạch cầu hạt. Tên gọi là do tính đặc thù của cấu trúc của tế bào chất. Nhóm thứ hai là bạch cầu hạt, tức là chúng không có hạt. Các tế bào như vậy được hình thành trong tủy xương và trong các cơ quan khác được liệt kê ở trên – lá lách, hệ thống bạch huyết.

    Bạch cầu hạt tồn tại đến 30 giờ, nhưng bạch cầu hạt – lên đến ba tuần (nhưng không dưới 40 giờ ở một người khỏe mạnh). Việc phân chia thành các nhóm này giúp đơn giản hóa việc chẩn đoán dựa trên các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm.

    Bạch cầu trung tính

    Từ một nửa đến 70% tổng khối lượng bạch cầu được cấu tạo từ loại tế bào đặc biệt này. Chúng được tạo ra bởi tủy xương và thuộc lớp thực bào. Có hai loại phân tử: với nhân hình que (chưa trưởng thành) và nhân chín – phân đoạn. Hầu hết trong máu của các tế bào trưởng thành của lớp này, ít nhất là – trẻ. Sau khi xác định được tỷ lệ của số lượng các nhóm này, người ta có thể đánh giá cường độ tạo máu. Khi mất máu đáng kể, các tế bào không có cơ hội để trưởng thành, khi đó tỷ lệ thay đổi theo hướng có lợi cho các hợp chất non.

    Tế bào bạch huyết

    Một tính năng đặc biệt của các tế bào như vậy là khả năng phân biệt giữa các hợp chất lạ, có hại và của chúng, sinh vật của vật chủ. Ngoài ra, các tế bào lympho có khả năng ghi nhớ sự xâm nhập của nhiễm trùng, nấm và vi sinh vật, nếu có, đã xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời. Ngay khi bị nhiễm trùng, sự vận chuyển của các tế bào lympho qua hệ tuần hoàn được tổ chức ngay lập tức đến nơi, có thể loại bỏ các yếu tố gây hấn. Đây là một loại tuyến phòng thủ của cơ thể, nhờ đó mà bắt đầu một quá trình bảo vệ miễn dịch phức tạp. Phản ứng hệ thống liên kết phức tạp này giúp khoanh vùng tình trạng viêm, ngăn không cho nó lây lan sang các mô khỏe mạnh xung quanh.

    Tế bào bạch huyết là yếu tố chính của hệ thống miễn dịch. Ngay sau khi quá trình viêm bắt đầu, gần như ngay lập tức loại tế bào này ở “hiện trường”.

    Bạch cầu ái toan

    Các tế bào như vậy trong cơ thể hiện diện với nồng độ thấp hơn một chút so với, ví dụ, bạch cầu trung tính, nhưng chức năng của chúng ở nhiều khía cạnh tương tự như nhóm đông nhất này. Bạch cầu ái toan cung cấp chuyển động hướng tới điểm xuất phát của yếu tố gây hấn. Các tế bào như vậy có thể nhanh chóng di chuyển qua hệ thống mạch máu, hấp thụ các tác nhân có hại.

    Đặc điểm chính của lớp tế bào máu này là khả năng hấp thụ các nguyên tố khá lớn. Do đó, các mô bị ảnh hưởng bởi tình trạng viêm, bạch cầu đã chết và các dạng sống cực nhỏ khác nhau sẽ bị loại bỏ khỏi cơ thể. Bạch cầu đơn nhân là những hợp chất tồn tại lâu dài có tác dụng làm sạch các mô và chuẩn bị cho quá trình tái tạo. Phục hồi hoàn toàn là không thể nếu không có chúng. Bạch cầu đơn nhân chịu trách nhiệm bình thường hóa trạng thái của các mô cơ thể sau khi bị nhiễm trùng, nấm, vi rút.

    Bạch cầu ái kiềm

    Nhóm tế bào máu này có số lượng ít nhất – chỉ chiếm một phần trăm tổng khối lượng. Những tế bào này giống như một chiếc xe cứu thương. Chúng sẽ xuất hiện đầu tiên nếu ghi nhận ngộ độc mô, tổn thương do hơi, các chất là chất độc đối với cơ thể con người. Ví dụ, nếu một con nhện hoặc một con rắn đã cắn, thì basophils là những người đầu tiên được đưa qua hệ thống tuần hoàn đến “nơi xảy ra sự kiện”.

    Tăng bạch cầu

    Thuật ngữ này dùng để chỉ tình trạng tăng nồng độ bạch cầu trong máu người một cách bệnh lý. Ngay cả những người khỏe mạnh đôi khi cũng gặp tình trạng này. Nó có thể bị kích thích do tiếp xúc lâu dài với ánh nắng trực tiếp, trải nghiệm cảm xúc tiêu cực hoặc căng thẳng kéo dài. Tăng bạch cầu có thể bị kích thích do gắng sức quá mức. Ở nữ, tình trạng này được quan sát thấy trong thời kỳ mang thai, hành kinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Hãy Nêu Các Loại Bạch Cầu Và Vai Trò Của Chúng?
  • Tại Sao Các Tế Bào Bạch Cầu Có Chức Năng Bảo Vệ?
  • Brake Light Là Gì Công Dụng Và Chức Năng Của Nó Như Thế Nào?
  • Đánh Giá Airpods 2: Mọi Thứ Bạn Cần Biết
  • Mọi Thứ Về Airpods 2 Của Apple Sắp Ra Mắt
  • Bạch Cầu Là Gì? Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Tiểu Cầu, Bạch Cầu Trong Cơ Thể
  • Trình Duyệt Web Là Gì? Chức Năng Của Trình Duyệt Web?
  • 8 Tính Năng Hữu Ích Chrome Ẩn Giấu Trong Trình Duyệt
  • Bộ Máy Gôngi Là Gì? Cấu Trúc Và Chức Năng Của Bộ Máy Gôngi
  • Thông tin tổng quan về bạch cầu

    Mỗi thành phần cấu tạo trong cơ thể đều tồn tại những nhiệm vụ nhất định của nó, và tất nhiên sự có mặt của bạch cầu cũng không hề “thừa thãi”.

    Bạch cầu chính là một phần của tế bào máu hay còn được gọi là tế bào máu trắng. Đây là thành phần đóng vai trò chủ chốt trong việc tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giúp cơ thể tránh xa những tác nhân gây các bệnh như nhiễm khuẩn , nhiễm độc,…

    Số lượng bạch cầu trong máu thường được duy trì ở mức 4.000-10.000/mm3 máu. Khi chỉ số bạch cầu đo được trong cơ thể đạt thấp hoặc cao hơn mức quy định chính là “tiếng còi cảnh báo”sức khỏe của bạn đang xảy ra vấn đề.

    Có những loại bạch cầu nào?

    Trải qua quá trình nghiên cứu sự phát triển của bạch cầu trong cơ thể sống, các chuyên gia nhận thấy rằng bạch cầu tồn tại bao gồm 3 loại khác nhau:

    Cụ thể trong đó:

    Bạch cầu hạt chính là các tế bào bạch cầu có chứa các hạt nhỏ, các hạt này chứa protein. Nhóm này gồm các loại:

    • Bạch cầu ái kiềm: bạch cầu loại này mang đặc điểm là chiếm số lượng nhỏ, thường xuất hiện sau các phản ứng dị ứng.
    • Bạch cầu ái toan: đây là loại bạch cầu chịu trách nhiệm, phản ứng với các triệu chứng bệnh do nhiễm trùng ký sinh gây ra. Các phản ứng miễn dịch, phản ứng viêm trong cơ thể đều có liên hệ với loại bạch cầu này.
    • Bạch cầu trung tính: bộ phần này hoạt động chăm chỉ và bền bỉ trong cơ thể giúp tiêu diệt các loại vi khuẩn, nấm gây ảnh hưởng đến cơ thể.
    • Tế bào lympho B: tế bào loại này giúp cơ thể tạo các kháng thể để hệ miễn dịch hoạt động tốt hơn, có khả năng gắn kết với phản ứng nhiễm trùng.
    • Tế bào lympho T: tế bào T giúp cơ thể nhận biệt và tiêu diệt, loại bỏ những tế bào gây nhiễm trùng.
    • Các tế bào giết tự nhiên: chúng chịu trách nhiệm tấn công, loại bỏ những virus, tế bào ung thư gây hại.

    Loại bạch cầu này chiếm số lượng khoảng 2 – 8% số tế bào bạch cầu trong toàn cơ thể con người. Chúng xuất hiện, đấu tranh với các loại nhiễm trùng mãn tính.

    BẠN NÊN BIẾT: Vai Trò Của Tiểu Cầu Trong Cơ Thể Người

    Biến chứng nguy hiểm khi bạch cầu tăng, giảm đột ngột

    Có thể bạn đã biết, bạch cầu, hồng cầu hay tiểu cầu trong máu đều đảm nhiệm những nhiệm vụ nhất định. Vì thế sự trung hòa giữa các tế bào là hết sức điều cần thiết, khi 1 trong những tế bào này có sự thay đổi tiêu cực về mặt số lượng: tăng hoặc giảm quá mức, sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

    Bạch cầu tăng cao cảnh báo bệnh gì?

    Bạch cầu tăng cao là hiện tượng phổ biến mà cơ thể có khả năng gặp phải. Bởi đây là phản ứng của cơ thể khi cơ thể xảy ra các vấn đề về viêm nhiễm chẳng hạn hư viêm ruột thừa, viêm phổi hay bị áp-xe gan v.v…

    Tuy nhiên, khi số lượng bạch cầu cao quá mức vượt đến con số hơn 100.000/ml thì bạn cần nghĩ đến một số trường hợp nguy hiểm như:

    • Các cơ quan trong cơ thể có nguy cơ bị nhiễm trùng nặng, nhiễm khuẩn gây ra bởi các loại vi khuẩn hoặc ký sinh trùng.
    • Dấu hiệu của bệnh ung thư máu hay còn được gọi là bệnh bạch cầu cấp.

    Trong trường hợp bạch cầu đột ngột tăng cao, cơ thể của bạn có thể sinh ra một số phản ứng như: cảm thấy toàn thân mệt mỏi, cân nặng giảm mà không rõ nguyên nhân cụ thể, sốt, khó thở, vết thương hở lâu lành, thường xuyên có các vết bầm tím mặc dù cơ thể không bị va đập,….

    XEM NGAY:

    Tình trạng giảm bạch cầu hay còn được gọi là bệnh giảm bạch cầu trung tính, căn bệnh này xảy ra khi số lượng bạch cầu trung tín trong cơ thể thấp hơn giá trị quy định. Cụ thể, với người lớn căn bệnh giảm bạch cầu được xác định khi kết quả kiểm tra bạch cầu trong cơ thể dưới 1500/ml.

    Số lượng bạch cầu có thể giảm khi người bệnh mắc phải một số căn bệnh như: bệnh lao, bệnh sốt xuất huyết, bệnh nhiễm trùng, viêm gan, HIV, tiểu đường v.v… Ngoài ra, những người đang sử dụng thuốc cao huyết áp, thuốc tâm thần hay thuốc kháng sinh v.v… chỉ số bạch cầu trong cơ thể sẽ ít hơn so với người bình thường.

    Việc kích thích sản sinh, làm tăng hàm lượng bạch cầu trong cơ thể sẽ tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra tình trạng giảm bạch cầu. Cụ thể:

    • Với nguyên nhân giảm bạch cầu do virus, nhiễm trùng v.v… bạn có thể kích thích chỉ số bạch cầu bằng các loại thực phẩm như trái cây (vitamin A/ vitamin C), hạt ngũ cốc (Vitamin E và kẽm), đậu nành hay các sản phẩm từ sữa (vitamin B12).
    • Trong trường hợp chỉ số bạch cầu giảm do bệnh ung thư, người bệnh cần tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa, và không tự ý sử dụng bất kỳ loại thuốc tăng bạch cầu nào khi chưa được sự đồng ý của bác sĩ.

    Những bệnh nhân mắc phải cao huyết áp mãn tính có thể tham khảo thảo dược APHARIN đến từ công ty NESFACO. Các thành phần trong APHARIN đều được bào chế từ dược liệu thiên nhiên như cây trạch tả, hoa hòe, sơn thù v.v… vì thế không gây ra tình trạng giảm bạch cầu đột ngột. Hơn thế nữa, sản phẩm còn giúp hỗ trợ kích thích hệ tim mạch hoạt động tốt hơn, giảm thiểu tình trạng mất ngủ ở người cao tuổi.

    Tại chúng tôi còn có nhiều thông tin xoay quanh các vấn đề về sức khỏe đang chờ đón bạn khám phá, mỗi ngày một bài học giúp bạn biết yêu thương và chăm sóc bản thân của mình hơn thì còn gì tuyệt vời bằng đúng không nào?

    Thông tin liên hệ

    • Công Ty Cổ Phần NESFACO
    • Địa chỉ: Tòa nhà GIC, Lầu 1, 228B Bạch Đằng, P.24, Q.Bình Thạnh, TP. HCM.
    • Hotline: 093.878.6025 – 1900 633004
    • Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu
  • Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò Và Đặc Tính Sinh Lý Của Bạch Cầu?
  • ✴️ Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì ? Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Hệ Thống Tự Động Giữ Phanh Auto Hold
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bạch Cầu Là Gì? Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Tiểu Cầu, Bạch Cầu Trong Cơ Thể
  • Trình Duyệt Web Là Gì? Chức Năng Của Trình Duyệt Web?
  • 8 Tính Năng Hữu Ích Chrome Ẩn Giấu Trong Trình Duyệt
  • Bạch cầu là những tế bào máu có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.

    Dựa vào hình dáng, cấu trúc và cách bắt màu phẩm nhuộm, người ta chia bạch cầu ra làm hai nhóm chính là bạch cầu hạt và bạch cầu không hạt.

    + Bạch cầu hạt chứa những hạt trong bào tương mà có thể thấy dưới kính hiển vi quang học. Tuỳ theo cách bắt màu phẩm nhuộm của các hạt mà chúng có tên là bạch cầu hạt trung tính, ưa acid, ưa kiềm. Ngoài ra, do nhân của các bạch cầu hạt này có nhiều thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đa nhân.

    + Bạch cầu không hạt thì trong bào tương không có các hạt mà có thể thấy được dưới kính hiển vi quang học do kích thước các hạt của chúng nhỏ và bắt màu phẩm nhuộm kém. Có hai loại bạch cầu không hạt là bạch cầu lympho và bạch cầu mono. Nhân của các bạch cầu không hạt này không chia thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đơn nhân.

    2. Sự sinh sản và đời sống bạch cầu

    + Bạch cầu hạt và bạch cầu mono Toàn bộ quá trình sinh sản và biệt hoá tạo nên các loại bạch cầu hạt và bạch cầu mono diễn ra trong tuỷ xương. Chúng được dự trữ sẵn ở tuỷ xương, khi nào cơ thể cần đến, chúng sẽ được đưa vào máu lưu thông. Bạch cầu hạt sau khi rời tuỷ xương thì lưu hành trong máu khoảng 4-8 giờ rồi xuyên mạch vào tổ chức, tồn tại thêm khoảng 4-5 ngày. Khi bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể của mình, chẳng hạn chống nhiễm trùng, thì nó sẽ chết sớm hơn.

    Bạch cầu mono cũng có thời gian lưu hành trong máu ngắn, khoảng 10-20 giờ. Sau đó sẽ xuyên mạch vào tổ chức. Tại tổ chức chúng sẽ tăng kích thước và trở thành đại thực bào tổ chức. Ở dạng này chúng có thể sống hàng tháng, thậm chí hàng năm.

    Quá trình biệt hoá các tế bào gốc lympho xuất phát từ tế bào gốc tạo máu đa năng trong tuỷ xương tạo ra tiền tế bào lympho T và tiền tế bào lympho B. Các tiền tế bào lympho T đến tuyến ức để được “huấn luyện” tạo nên các lympho T trưởng thành. Các tiền tế bào lympho B tiếp tục được “huấn luyện” ở tuỷ xương (các tháng giữa của thai kỳ nó được “huấn luyện” tại gan) để tạo nên các lympho B trưởng thành. Sau khi “huấn luyện”, các lympho T và lympho B theo dòng tuần hoàn đến các tổ chức bạch huyết khắp cơ thể.

    Từ các tổ chức bạch huyết, bạch cầu lympho vào hệ tuần hoàn liên tục theo dòng bạch huyết. Sau vài giờ, chúng xuyên mạch vào tổ chức rồi vào dòng bạch huyết để trở về tổ chức bạch huyết hoặc vào máu lần nữa rồi lần nữa… Các bạch cầu lympho có thời gian sống hàng tuần, hàng tháng hoặc thậm chí hàng năm tuỳ thuộc nhu cầu của cơ thể.

    3. Chức năng của bạch cầu

    Chức năng chung của bạch cầu là chống lại các tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể.

    Nhìn chung, chúng có các đặc tính sau để thích hợp với chức năng này:

    – Xuyên mạch: tự biến đổi hình dạng để chui qua giữa các tế bào nội mô mạch máu vào tổ chức xung quanh.

    – Vận động: kiểu a-míp (bằng chân giả) để đến các tổ chức cần nó.

    – Hoá ứng động: bạch cầu bị hấp dẫn đến vị trí tổn thương khi có các hoá chất được

    giải phóng ra bởi tế bào tổn thương hoặc vi khuẩn, và khi có các phức hợp miễn dịch. – Thực bào: bắt các vật lạ đưa vào trong bào tương rồi tiêu hoá chúng. Tuy nhiên không phải loại bạch cầu nào cũng có đầy đủ các đặc tính trên. Bạch cầu hạt trung tính và đại thực bào thể hiện đầy đủ và mạnh mẽ các đặc tính này nhất.

    – Chức năng của bạch cầu hạt trung tính

    Bạch cầu hạt trung tính là hàng rào của cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn sinh mủ. Chúng rất vận động và thực bào tích cực. Bạch cầu trung tính có thể tiêu hoá, huỷ hoại nhiều loại vi khuẩn, những thành phần nhỏ, và fibrin. Hầu hết các hạt bào tương của chúng là lysosome chứa enzyme thuỷ phân.

    Các hạt khác chứa các protein kháng khuẩn. Ngoài ra, bạch cầu hạt trung tính còn chứa các chất oxy hoá mạnh có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn.

    Bạch cầu hạt trung tính là bạch cầu đầu tiên đến vị trí vi khuẩn xâm nhập với số lượng lớn. Trong quá trình thực bào vi khuẩn, nhiều bạch cầu trung tính bị chết và tạo thành mủ tại vị trí tổn thương. Mỗi bạch cầu này thực bào tối đa khoảng 5-20 vi khuẩn.

    – Chức năng của bạch cầu hạt ưa kiềm

    Bạch cầu hạt ưa kiềm rất giống một loại tế bào khác ở trong tổ chức bên ngoài mao mạch gọi là dưỡng bào (mast cell).

    Bạch cầu hạt ưa kiềm và dưỡng bào có thể phóng thích heparin ngăn cản quá trình đông máu và thúc đẩy sự vận chuyển mỡ từ máu sau bữa ăn nhiều chất béo. Các tế bào này đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng. Do các kháng thể gây phản ứng dị ứng (loại IgE) có khuynh hướng đến gắn trên bề mặt dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm. Khi có sự kết hợp giữa kháng thể này với dị ứng nguyên, dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm sẽ vỡ ra và giải phóng histamine, cũng như bradykinin, serotonin, chất phản ứng chậm của sốc phản vệ (slow-reacting substance of anaphylaxis), enzyme tiêu protein….tạo nên bệnh cảnh điển hình của dị ứng.

    – Chức năng bạch cầu hạt ưa acid

    Bạch cầu hạt ưa acid ít vận động hơn bạch cầu trung tính và thực bào cũng ít tích cực hơn, chúng không thực bào vi khuẩn. Chức năng đầu tiên của bạch cầu hạt ưa acid là khử độc protein lạ nhờ các enzyme đặc biệt trong hạt bào tương. Bạch cầu ưa acid thường tập trung nhiều ở niêm mạc đường hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu-sinh dục để ngăn chặn các tác nhân lạ xâm nhập cơ thể. Chúng có thể tiết ra các chất độc ngăn chặn và bao vây đối với ký sinh trùng. Ðặc biệt là các loại sán máng (schistosoma) hoặc giun xoắn (trichinella). Bạch cầu này còn được hấp dẫn đến nơi có phản ứng dị ứng xảy ra, chúng tiết ra các enzyme để chống lại tác dụng của histamine và các chất trung gian khác trong phản ứng dị ứng. Ngoài ra, chúng còn có khả năng thực bào các phức hợp kháng nguyên-kháng thể. Vì vậy, chúng ngăn cản không cho tiến trình viêm lan rộng.

    – Chức năng bạch cầu mono – đại thực bào

    Các bạch cầu mono chưa thực sự trưởng thành, khả năng tiêu diệt tác nhân nhiễm khuẩn của chúng còn kém. Nhưng khi vào trong tổ chức, trở thành đại thực bào với kích thước lớn hơn và nhiều lysosome trong bào tương, chúng có khả năng chống tác nhân gây bệnh rất mãnh liệt. Khả năng thực bào của chúng mạnh hơn bạch cầu hạt trung tính nhiều, chúng có thể thực bào khoảng 100 vi khuẩn. Ðại thực bào còn có thể thực bào các thành phần lớn hơn như hồng cầu chết, ký sinh trùng sốt rét. Ngoài ra, chúng còn có lipase giúp tiêu hoá các vi khuẩn có vỏ bọc lipid dày. Sau khi thực bào, chúng có thể đẩy các sản phẩm ra và thường sống sót vài tháng.

    Các đại thực bào còn có chức năng trình diện kháng nguyên cho các tế bào có thẩm

    – Chức năng bạch cầu lympho

    Có 3 loại tế bào lympho là:

    + Tế bào diệt tự nhiên (NK: natural killer)

    Các tế bào NK hiện diện ở lách, hạch, tuỷ xương đỏ và máu. Chúng thường tấn công các vi sinh vật gây bệnh và một số tế bào khối u tiên phát.

    Bạch cầu lympho B bảo vệ cơ thể bằng đáp ứng miễn dịch dịch thể (qua trung gian kháng thể). Nó chống lại các loại vi khuẩn và một số virus.

    Khi có các vi khuẩn xuất hiện, lympho B nhận diện kháng nguyên tương ứng và được hoạt hoá. Khi đó nó có khả năng phân bào và biệt hoá thành tương bào (plasma cell). Các tương bào này sẽ sản xuất kháng thể chống lại vi khuẩn đã xâm nhập. Kháng thể tiêu diệt các vi khuẩn hoặc bất hoạt độc tố của chúng. Một số lympho B được sinh ra ở trên không trở thành tương bào mà trở thành lympho B ghi nhớ sẵn sàng đáp ứng nhanh và mạnh khi có cùng loại vi khuẩn xâm nhập lần sau.

    Bạch cầu lympho T là tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Lympho T có khả năng chống lại các tác nhân như virus, nấm, tế bào mảnh ghép, tế bào ung thư và vài loại vi khuẩn. Khi có các tác nhân đó xuất hiện trong cơ thể, các lympho T sẽ nhận diện kháng nguyên đặc hiệu với nó và được hoạt hoá. Sau đó chúng trở nên lớn hơn, sinh sản tạo nên hàng ngàn lympho T có thể nhận diện kháng nguyên xâm nhập này.

    Có 3 loại lympho T chính:

    * T giúp đỡ (Th: helper): kích thích sự phát triển và sinh sản của các lympho T độc, T ức chế. Th còn kích thích sự phát triển và biệt hoá lympho B thành tương bào. Ngoài ra, Th còn tiết các chất làm tăng cường hoạt động bạch cầu trung tính và đại thực bào.

    * T độc (Tc: cytotoxic): tiêu diệt trực tiếp các tế bào bị nhiễm tương ứng. Tc cũng tiết các chất khuếch đại khả năng thực bào của đại thực bào.

    * T ức chế (Ts: suppssor): phát triển chậm hơn, nó có tác dụng ức chế lympho Tc và Th làm cho đáp ứng miễn dịch không phát triển quá mức.

    Một số lympho T trở thành tế bào T ghi nhớ có khả năng khởi phát một đáp ứng miễn dịch tương tự khi có cùng loại tác nhân gây bệnh (kháng nguyên) xâm nhập nhưng ở mức độ nhanh, mạnh hơn nhiều, gọi là đáp ứng miễn dịch lần hai (đáp ứng miễn dịch thứ cấp).

    + Các Th thuộc loại lympho T4, vì trên bề mặt của chúng có cụm biệt hoá kháng nguyên CD4; còn Tc và Ts thuộc loại lympho T8, vì có cụm biệt hoá kháng nguyên CD8 trên bề mặt các tế bào này.

    + Tế bào Th đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình miễn dịch trung gian tế bào lẫn miễn dịch dịch thể. Trong bệnh AIDS các HIV tấn công dòng T4 (chủ yếu là Th) nên các đáp ứng miễn dịch bị tê liệt và cơ chế bảo vệ không đặc hiệu cũng bị suy giảm. Bệnh nhân sẽ chết do nhiễm trùng cơ hội.

    + Ðáp ứng miễn dịch lần sau (thứ cấp) nhờ vai trò của T ghi nhớ hoặc B ghi nhớ là cơ sở miễn dịch của việc chủng ngừa để phòng bệnh.

    4. Số lượng bạch cầu – Công thức bạch cầu

    Bình thường số lượng bạch cầu trung bình trong máu khoảng 7000/mm 3. Tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp, viêm hoặc Leukemia. Giảm trong các trường hợp suy tuỷ.

    Công thức bạch cầu là tỷ lệ phần trăm của các loại bạch cầu. Có nhiều loại công thức bạch cầu nhưng trên lâm sàng thường sử dụng công thức bạch cầu thông thường. Người bình thường có thể có công thức bạch cầu như sau:

    Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophil): 60-70 %

    Bạch cầu đa nhân ưa acid (Eosinophil): 2-4 % Bạch cầu đa nhân ưa kiềm (Basophil): 0,5-1 %

    Bạch cầu mono (Monocyte): 3-8 %

    Bạch cầu lympho (Lymphocyte): 20-25 %

    Sự thay đổi tỷ lệ các loại bạch cầu giúp các nhà lâm sàng chẩn đoán nguyên nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò Và Đặc Tính Sinh Lý Của Bạch Cầu?
  • ✴️ Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì ? Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Hệ Thống Tự Động Giữ Phanh Auto Hold
  • Phanh Tay Điện Tử Có Ưu Và Nhược Điểm Gì?
  • Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Cấu Tạo, Chức Năng Của Tiểu Cầu Và Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Bạch Cầu, Tiểu Cầu Trong Cơ Thể
  • Bạch Cầu Ái Toan: Những Điều Cần Biết
  • Tăng Bạch Cầu Ái Toan Là Gì? Có Nguy Hiểm Không?
  • Tăng Bạch Cầu Ái Toan Trong Các Bệnh Nhiễm Khuẩn
  • 1. Vai trò của huyết tương là đưa các chất dinh dưỡng đến các mô và đưa các chất cặn bã từ các mô về các cơ quan bài tiết ra bên ngoài. Bên cạnh đó, vai trò của các tế bào máu gồm bài tiết, bảo vệ, điều hoà và dinh dưỡng.

    2. Vai trò của hồng cầu

    • Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).
    • Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.
    • Vòng đời trung bình của hồng cầu là 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.
    • Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.
    • 3. Vai trò của tiểu cầu
    • Tiểu cầu là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Nếu mạch máu bị tổn thương (thí dụ như bị cắt hay bầm tím), các tiểu cầu sẽ dồn đến điểm này và bám dính vào nhau, tạo thành ‘nút chặn vết hở’.
    • Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường, hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.
    • Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp, các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết. Toán y khoa điều trị sẽ báo quý vị biết khi lượng tiểu cầu của quý vị sụt giảm.
    • Ngoài ra, tiểu cầu còn có vai trò làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầubạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Hệ Bạch Huyết
  • Rối Loạn Chức Năng Bạch Huyết (Phù Bạch Huyết)
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hạch Bạch Huyết
  • Chức Năng Của Hệ Bạch Huyết Suy Yếu Phải Làm Sao?
  • Hạch Bạch Huyết Là Gì? Vai Trò, Cấu Tạo
  • Chức Năng Của Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu Câu Hỏi 1358422

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Thức Máu Của Người Bình Thường Tiểu Cầu Bạch Cầu Hồng Cầu
  • Hội Chứng Tăng Bạch Cầu Ưa Acid
  • Bệnh Phổi Bạch Cầu Hạt Ưa Acid
  • Những Điều Bạn Nên Biết Về Sinh Lí Của Bạch Cầu (Phần 2)
  • Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai trò của hồng cầu

    -Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).

    -Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.

    -Vòng đời trung bình của hồng cầulà 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.

    -Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

    -Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các “nhân tố” gây bệnh. Bạch huyết bào-T (T-lymphocytes) làm nhiệm vụ điều khiển hệ miễn nhiễm; có thể diệt siêu vi khuẩn và tế bào ung thư.

    -Bạch cầu trung tính (Neutrophils) chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi khuẩn và xử lý mô bị tổn thương. Loại bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào tức là “ăn” các “nhân tố” lạ, có loại làm nhiệm vụ “ghi nhớ” để nếu lần sau “nhân tố” lạ này xâm nhập sẽ bị phát hiện và cơ thể sẽ nhanh chóng sinh ra một lượng lớn bạch cầu tiêu diệt chúng.

    -Bạch huyết bào-B (B-lymphocytes) tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể… Bạch cầu cũng được sinh ra tại tủy xương như hồng cầu. Không chỉ lưu hành chủ yếu trong máu; có một lượng khá lớn bạch cầu cư trú ở các mô của cơ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ.

    -Bạch cầu đơn nhân to (Monocytes) kết hợp với bạch huyết bào để chống lại viêm nhiễm; cần thiết cho việc sản sinh kháng thể.

    -Tình trạng thiếu bạch cầu làm cho con người thường hay bị viêm nhiễm và nếu bị viêm nhiễm thì bị nặng hơn, có khi nguy hiểm đến tính mạng. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau với vòng đời từ một tuần đến vài tháng.

    -Chức năng chính của tiểu cầu là góp phần vào sự cầm máu; tức là quá trình dừng chảy máu tại nơi nội mạc mạch máu (thành trong của mạch máu hay mạch bạch huyết) bị thương. Khi đó chúng sẽ tập trung tại vết thương và trừ khi lỗ hổng quá lớn, tiểu cầu sẽ bịt lỗ này lại

    -Quá trình có 3 giai đoạn:

    +Kết dính: Tiểu cầu kết dính với các chất bên ngoài nội mạc.

    +Phát động: Chúng thay đổi hình dạng, kích hoạt thụ quan và tiết ra các tín hiệu hóa học.

    +Tập hợp, chúng kết nối với nhau thông qua cầu thụ quan.

    -Sự hình thành các “nút tiểu cầu” này (sự cầm máu sơ cấp) thường kết hợp với sự cầm máu thứ cấp bằng tơ huyết (fibrin) tổng hợp.

    -Thiếu tiểu cầu có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi; khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.

    -Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp; các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết. Toán y khoa điều trị sẽ báo quý vị biết khi lượng tiểu cầu của quý vị sụt giảm.

    -Ngoài ra tiểu cầu còn có vai trò làm cho thành mạch mềm mại; dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầu và bạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Da Tăng Bạch Cầu Đa Nhân Trung Tính Có Sốt Cấp Tính
  • Viêm Da Mủ Hoại Thư Là Gì ?
  • Tế Bào Lympho B: Những Điều Cần Biết
  • Ý Nghĩa Chỉ Số Xét Nghiệm Bạch Cầu Mono Trong Máu
  • Chọn Mitsubishi Outlander 2022 Hay Hyundai Tucson 2022?
  • Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Tiểu Cầu, Bạch Cầu Trong Cơ Thể
  • Trình Duyệt Web Là Gì? Chức Năng Của Trình Duyệt Web?
  • 8 Tính Năng Hữu Ích Chrome Ẩn Giấu Trong Trình Duyệt
  • Bộ Máy Gôngi Là Gì? Cấu Trúc Và Chức Năng Của Bộ Máy Gôngi
  • Bộ Máy Gôngi: Khái Niệm
  • Bạch cầu tồn tại ở dạng trong suốt, có nhân và sở hữu kích thước khá lớn. Bên cạnh đó, ngoại trừ trong máu thì bạch cầu còn có thể được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch hoặc mạch bạch huyết, lách cũng như các mô khác nằm trong cơ thể con người.

    Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu

    Chức năng của bạch cầu là gì?

    Chức năng của bạch cầu được thể hiện rõ ràng trong cơ thể của mỗi người. Cùng với đó, mỗi loại bạch cầu sẽ thực hiện một chức năng riêng và cụ thể nó được chứng minh như sau:

    Bạch cầu hạt trung tính là gì? Bạch cầu hạt trung tính được xem là hàng rào của cơ thể với khả năng kháng lại các loại vi khuẩn mủ. Vì vậy, chức năng của bạch cầu hạt này đó chính là hủy diệt cũng như tiêu hóa hiệu quả, nhanh chóng nhiều loại vi khuẩn cũng như các thành phần nhỏ. Ngoài ra, loại bạch cầu trung tính này còn chứa dồi dào các chất oxy hóa mạnh có tác dụng tiêu diệt nhanh các loại vi khuẩn.

    Bên cạnh đó, bạch cầu hạt trung tính còn là loại bạch cầu đầu tiên có khả năng tiến đến vị trí vi khuẩn xâm nhập với số lượng vô cùng lớn. Vì vậy, trong quá trình thực bào các loại vi khuẩn, nhiều bạch cầu trung tính khi chết sẽ nhanh chóng tạo thành mủ ngay tại vị trí tổn thương. Từ đó, mỗi loại bạch cầu này sẽ thực bào tối đa với số lượng khoảng 5 đến 20 vi khuẩn.

    Bạch cầu hạt ưa acid là gì? Khi tìm hiểu về chức năng của các loại bạch cầu hạt ưa acid chắc chắn các bạn sẽ hiểu được bạch cầu 1+ là gì. Trên thực tế, bạch cầu ưa acid vận động ít hơn so với bạch cầu trung tính và với thực bào, nó cũng ít tích cực hơn. Vì vậy, chức năng đầu tiên mà các bạn có thể nhận thấy ở bạch cầu hạt ưa acid đó là khử độc protein lạ nhờ vào sự hoạt động của các enzyme đặc biệt là trong hạt bào tương.

    Không những thế, chức năng của bạch cầu hạt ưa acid đó là được hấp dẫn đến nơi xảy ra phản ứng dị ứng và tiết ra các enzyme nhằm chống lại tác dụng của histamine cũng như các loại chất trung gian khác ngay trong phản ứng vừa diễn ra. Ngoài ra, bạch cầu hạt ưa acid còn có khả năng thực bào đối với các phức hợp kháng nguyên – kháng thể. Nhờ đó, nó có thể ngăn cản không cho tiến trình viêm lan rộng sang các vị trí khác.

    Bạch cầu hạt ưa base là gì? Đây cũng là thắc mắc của nhiều người khi tìm hiểu về bạch cầu. Chức năng của bạch cầu còn được thể hiện rõ với loại bạch cầu hạt ưa base. Loại bạch cầu này được xem là khá giống với một loại tế bào khác ở trong tổ chức bên ngoài mao mạch và nó được gọi với cái tên là dưỡng bào.

    Vậy bạch cầu hạt ưa base là gì và chức năng của nó như nào? Với công thức bạch cầu của mình, bạch cầu hạt ưa base có chức năng phóng thích heparin làm ngăn cản quá trình đông máu. Đồng thời, nó còn giúp thúc đẩy việc vận chuyển mỡ từ máu sau một bữa ăn bạn nạp nhiều năng lượng cũng như chất béo.

    Cùng với bạch cầu mono, bạch cầu lympho cũng có chức năng vô cùng quan trọng. Trong máu của cơ thể người tồn tại ba loại lymphocyte đó là tế bào B, tế bào T và các tế bào giết tự nhiên. Các tế bào B có chức năng sản xuất ra kháng thể liên kết với các tác nhân gây bệnh nhằm mục đích tạo ra điều kiện để phá hủy chúng hiệu quả. Cùng với đó, các tế bào T CD4+ lại có chức năng phối hợp với các phản ứng của hệ miễn dịch để làm tăng sức đề kháng cho cơ thể.

    Bạch cầu mono là gì? Bạch cầu mono chính là một loại tế bào lớn nhất trong các loại bạch cầu. Theo ghi nhận một số bạch cầu mono có kích thước gấp 3 lần kích thước của hồng cầu. Bạch cầu mono được sinh ra trong tuỷ xương và sẽ cần khoảng 3 ngày để phát triển trước khi được giải phóng vào trong máu.

    Bạch cầu ở lại trong máu tuần hoàn vài ngày rồi di chuyển đến các mô liên kết của các cơ quan khác nhau. Tại đây chúng sẽ phát triển thành các đại thực bào của mô như đại thực bào trong gan (gọi là tế bào Kupffer), đại thực bào trong phổi (được gọi là đại thực bào phế nang), đại thực bào của lách và tuỷ xương góp phần bảo vệ cơ thể chống lại các vi khuẩn cũng như các hoá chất độc hại.

    Ngoài ra đại thực bào còn đóng vai trò quan trọng trong sự khởi động quá trình sản xuất các kháng thể của bạch cầu lympho B.

    • Bạch cầu không chỉ khư trú trong máu hoặc bạch huyết mà còn ở trong các mô khác, đặc biệt là ở trong các mô liên kết lỏng lẻo.
    • Bạch cầu là những tế bào có khả năng vận động và bạch cầu di chuyển theo kiểu amip: Tế bào phóng ra các tua bào tương bám vào một điểm nào đó rồi kéo toàn bộ tế bào đi theo. Cụ thể hơn là bạch cầu hạt trung tính và bạch cầu mono có thể vận động theo kiểu amip trong các mô với tốc độ 40 mm trong 1 phút. Bạch cầu còn có khả năng đi qua các lỗ của thành mao mạch (cho dù là các lỗ này nhỏ hơn kích thước của bạch cầu) bằng quá trình xuyên mạch để vào các khoang quanh mạch máu khi cần thiết.
    • Bạch cầu còn di chuyển đến các mô bị tổn thương hay viêm nhiễm do chúng bị hấp dẫn bởi các hoá chất của tế bào tổn thương hoặc của vi khuẩn giải phóng ra hoặc do các phức hợp miễn dịch tạo ra trong đáp ứng miễn dịch. Bạch cầu sẽ di chuyển theo sự hấp dẫn của các chất hoá học được gọi là hiện tượng hoá ứng động.

    Từ chức năng của bạch cầu, bạn cũng cần tìm hiểu thêm về những đặc tính của bạch cầu như sau:

    Vai trò của bạch cầu là gì?

    Bạch cầu không chỉ có chức năng quan trọng đối với cơ thể mà nó còn đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình sống của con người. Bạch cầu giúp cơ thể duy trì sự sống, làm tăng sức đề kháng để chống lại các loại bệnh tật nguy hiểm có thể xâm nhập.

    • Xuyên mạch: Bạch cầu ái toán có thể thay đổi hình dạng để xuyên qua vách giữa những tế bào để đến được những nơi cần thiết.
    • Chuyển động: Bạch cầu ái toan chuyển động bằng chân giả với tốc độ khoảng 40mm/phút.
    • Hóa ứng động và nhiệt ứng động: Đây cũng là đặc điểm riêng biệt của loại bạch cầu này.
    • Thực bào, ẩm bào: Bạch cầu ái toán là thực bảo và ẩm bào.

    Bạch cầu ái toan chính là một phần của hệ thống miễn dịch và thành phần quan trọng trong máu. Bạch cầu ái toan đóng một vai trò quan trọng cho sự sống của cơ thể con người. Một số đặc điểm của bạch cầu ái toan như sau:

    Tăng bạch cầu ái toan là gì?

    • Bạch cầu WBC (White Blood Cell) có nghĩa là số lượng bạch cầu trong một thể tích máu. Ở người khỏe mạnh, chỉ sô WBC thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3.
    • Chỉ số bạch cầu WBC có ý nghĩa lớn trong các xét nghiệm máu. Trong y khoa, khi chỉ số WBC tăng hoặc giảm thì đó chính là dấu hiệu để nhận biết các bệnh lý.

    Tăng bạch cầu ái toan được cho là sự tăng số lượng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi. Bình thường trong cơ thể con người, bạch cầu áo toan có giới hạn khoảng 0.6 × 10⁹/L (600/microlit), thấp hơn (khoảng 0.4 × 10⁹/L [400/microlit]) trừ trường hợp người bị dị ứng nhẹ. Nếu số lượng bạch cầu ái toan lớn hơn hoặc nhỏ hơn thì rất có thể cơ thể đang bị nhiễm trùng hoặc mắc một chứng bệnh bất kỳ.

    • Bạch cầu lympho cấp.
    • Bạch cầu dòng tủy mạn tính.
    • Bệnh u bạch cầu.
    • Các bệnh về viêm nhiễm.
    • Bệnh máu ác tính

    Bạch cầu niệu là bạch cầu trong nước tiểu. Thông thường trong nước tiểu chứa rất ít hoặc không có bạch cầu. Tuy nhiên nếu như nước tiểu của bạn chứa một lượng lớn các bạch cầu thì bạn có thể đang gặp phải nhiễm trùng hay vấn đề sức khỏe, còn gọi là tình trạng bạch cầu niệu.

    Chỉ số WBC sẽ thể hiện các bệnh về máu ở cơ thể. Chỉ số bạch cầu WBC cao cho thấy một số bệnh như:

    • Tình trạng bạch cầu dương tính khi khám phụ khoa cho thấy người bệnh bị viêm nhiễm phụ khoa, thông thường là viêm phụ khoa do tạp khuẩn. Thông thường người bệnh bị viêm nhiễm phụ khoa thì bạch cầu sẽ dương tính, nghĩa là tìm thấy bạch cầu trong mẫu xét nghiệm.
    • Chức năng của bạch cầu là chống lại những tác nhân gây bệnh tấn công cơ thể. Khi kết quả xét nghiệm có bạch cầu (+) thì cần chú ý để vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sẽ và đúng cách, dùng thuốc theo đúng sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

    Khi chỉ số WBC giảm thấp thể hiện cho thấy cơ thể bị nhiễm khuẩn, hoặc thiếu hụt hàm lượng Vitamin B12 hoặc Folate.

    • Bạch cầu trung tính.
    • Bạch cầu ái kiềm.
    • Bạch cầu ái toan.

    Nhiễm trùng bạch cầu cho thấy tình trạng nhiễm virus Epstein-Barr (EBV). Đây là loại virus lây lan qua nước bọt hay tiếp xúc thông thường. Một số triệu chứng của nhiễm trùng bạch cầu như sốt cao, đau họng hay nổi hạch ở cổ.

    Bạch cầu trong y học được kí hiệu là WBC (White Blood Cell).

    Tu khoa lien quan

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạch Cầu Là Gì? Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu
  • Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò Và Đặc Tính Sinh Lý Của Bạch Cầu?
  • ✴️ Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì ? Chức Năng Của Bạch Cầu
  • ✴️ Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò Và Đặc Tính Sinh Lý Của Bạch Cầu?
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Tiểu Cầu, Bạch Cầu Trong Cơ Thể
  • Các tế bào bạch cầu lưu thông trong tuần hoàn máu và giúp hệ thống miễn dịch chống lại nhiễm trùng. Tế bào gốc trong tủy xương chịu trách nhiệm sản xuất các tế bào bạch cầu. Sau đó, tủy xương lưu trữ khoảng 80-90% số lượng các tế bào bạch cầu. Khi nhiễm trùng hoặc tình trạng viêm xảy ra, cơ thể sẽ giải phóng các tế bào bạch cầu để giúp chống lại nhiễm trùng. Trong bài viết này sẽ giúp tìm hiểu thêm về các tế bào bạch cầu, bao gồm phân loại và chức năng của chúng.

    Bạch cầu gồm có 3 loại chính: bạch cầu hạt, tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.

    Bạch cầu hạt là các tế bào bạch cầu có các hạt nhỏ chứa protein. Có ba loại tế bào bạch cầu hạt:

      Bạch cầu ái kiềm: Chúng chiếm ít hơn 1% tế bào bạch cầu trong cơ thể và thường xuất hiện với số lượng tăng sau một phản ứng dị ứng.

    Những tế bào bạch cầu này bao gồm:

    Theo một bài báo trên American Family Physician, phạm vi bình thường (tính trên một milimét khối) của các tế bào bạch cầu dựa trên tuổi là:

    Số lượng bạch cầu trong máu của thai phụ vào thời kì tam cá nguyệt thứ 3 dao động trong khoảng từ 5800 – 13200/mm3

    Số lượng bạch cầu cao có thể do các tình trạng sau đây:

    • Những nguyên nhân có thể khiến tế bào chết như bỏng, đau tim và chấn thương;
    • Tình trạng viêm như viêm khớp dạng thấp, bệnh viêm ruột hoặc viêm mạch máu;
    • Nhiễm vi khuẩn, vi rút, nấm hoặc ký sinh trùng;
    • Các thủ thuật, phẫu thuật khiến tế bào chết cũng có thể gây ra số lượng bạch cầu cao.

    Các tình trạng có thể gây giảm bạch cầu bao gồm:

    Bác sĩ có thể liên tục theo dõi các tế bào bạch cầu để xác định xem cơ thể có đang đáp ứng miễn dịch với nhiễm trùng hay không.

    Khi kiểm tra sức khỏe, bác sĩ có thể đề nghị xét nghiệm máu các chỉ số bạch cầu (WBC) nhằm kiểm tra hoặc loại trừ các tình trạng khác có thể ảnh hưởng đến các tế bào bạch cầu. Mặc dù mẫu máu là phương pháp phổ biến nhất để kiểm tra các tế bào bạch cầu, tuy nhiên cũng có thể kiểm tra các chất dịch cơ thể khác chẳng hạn như dịch não tủy cũng có sự hiện diện của các tế bào bạch cầu.

    Bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm bạch cầu (WBC) trong các trường hợp như:

    Việc có cần điều chỉnh số lượng bạch cầu trong máu hay không sẽ phụ thuộc vào chẩn đoán. Nếu có một tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến số lượng tế bào bạch cầu trong cơ thể, bác sĩ sẽ tư vấn thêm cho bệnh nhân về các mục tiêu điều trị đối với từng phương pháp và kế hoạch điều trị.

    Nếu số lượng bạch cầu thấp do điều trị ung thư như hóa trị liệu, bác sĩ có thể khuyên nên tránh các hoạt động có nguy cơ gây tổn thương hoặc khiến vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Điều này có thể giúp ngăn ngừa nhiễm trùng.

    Các tế bào bạch cầu là một phần quan trọng trong phản ứng của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau, và mỗi loại có một chức năng cụ thể trong cơ thể.

    Một số tình trạng có thể ảnh hưởng đến số lượng tế bào bạch cầu trong cơ thể, dẫn đến việc chỉ số các dòng bạch cầu quá cao hoặc quá thấp. Nếu cần thiết, bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân dùng thuốc để kiểm soát số lượng bạch cầu phù hợp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạch Cầu Là Gì ? Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Hệ Thống Tự Động Giữ Phanh Auto Hold
  • Phanh Tay Điện Tử Có Ưu Và Nhược Điểm Gì?
  • 7 Công Nghệ Hạng Sang Trên Ô Tô Đang Dần Được ‘bình Dân Hóa’ Ở Việt Nam (P1)
  • Làm Thế Nào Để Sử Dụng Phanh Tay Điện Tử Và Auto Hold Trên Mitsubishi Outlander
  • Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò Và Đặc Tính Sinh Lý Của Bạch Cầu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì? Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Tiểu Cầu, Bạch Cầu Trong Cơ Thể
  • Trình Duyệt Web Là Gì? Chức Năng Của Trình Duyệt Web?
  • Số lượt đọc bài viết: 5.382

    Bạch cầu tồn tại ở dạng trong suốt, có nhân và sở hữu kích thước khá lớn. Bên cạnh đó, ngoại trừ trong máu thì bạch cầu còn có thể được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch hoặc mạch bạch huyết, lách cũng như các mô khác nằm trong cơ thể con người.

    Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu

    Chức năng của bạch cầu là gì?

    Chức năng của bạch cầu được thể hiện rõ ràng trong cơ thể của mỗi người. Cùng với đó, mỗi loại bạch cầu sẽ thực hiện một chức năng riêng và cụ thể nó được chứng minh như sau:

    Bạch cầu hạt trung tính là gì? Bạch cầu hạt trung tính được xem là hàng rào của cơ thể với khả năng kháng lại các loại vi khuẩn mủ. Vì vậy, chức năng của bạch cầu hạt này đó chính là hủy diệt cũng như tiêu hóa hiệu quả, nhanh chóng nhiều loại vi khuẩn cũng như các thành phần nhỏ. Ngoài ra, loại bạch cầu trung tính này còn chứa dồi dào các chất oxy hóa mạnh có tác dụng tiêu diệt nhanh các loại vi khuẩn.

    Bên cạnh đó, bạch cầu hạt trung tính còn là loại bạch cầu đầu tiên có khả năng tiến đến vị trí vi khuẩn xâm nhập với số lượng vô cùng lớn. Vì vậy, trong quá trình thực bào các loại vi khuẩn, nhiều bạch cầu trung tính khi chết sẽ nhanh chóng tạo thành mủ ngay tại vị trí tổn thương. Từ đó, mỗi loại bạch cầu này sẽ thực bào tối đa với số lượng khoảng 5 đến 20 vi khuẩn.

    Bạch cầu hạt ưa acid là gì? Khi tìm hiểu về chức năng của các loại bạch cầu hạt ưa acid chắc chắn các bạn sẽ hiểu được bạch cầu 1+ là gì. Trên thực tế, bạch cầu ưa acid vận động ít hơn so với bạch cầu trung tính và với thực bào, nó cũng ít tích cực hơn. Vì vậy, chức năng đầu tiên mà các bạn có thể nhận thấy ở bạch cầu hạt ưa acid đó là khử độc protein lạ nhờ vào sự hoạt động của các enzyme đặc biệt là trong hạt bào tương.

    Không những thế, chức năng của bạch cầu hạt ưa acid đó là được hấp dẫn đến nơi xảy ra phản ứng dị ứng và tiết ra các enzyme nhằm chống lại tác dụng của histamine cũng như các loại chất trung gian khác ngay trong phản ứng vừa diễn ra. Ngoài ra, bạch cầu hạt ưa acid còn có khả năng thực bào đối với các phức hợp kháng nguyên – kháng thể. Nhờ đó, nó có thể ngăn cản không cho tiến trình viêm lan rộng sang các vị trí khác.

    Bạch cầu hạt ưa base là gì? Đây cũng là thắc mắc của nhiều người khi tìm hiểu về bạch cầu. Chức năng của bạch cầu còn được thể hiện rõ với loại bạch cầu hạt ưa base. Loại bạch cầu này được xem là khá giống với một loại tế bào khác ở trong tổ chức bên ngoài mao mạch và nó được gọi với cái tên là dưỡng bào.

    Vậy bạch cầu hạt ưa base là gì và chức năng của nó như nào? Với công thức bạch cầu của mình, bạch cầu hạt ưa base có chức năng phóng thích heparin làm ngăn cản quá trình đông máu. Đồng thời, nó còn giúp thúc đẩy việc vận chuyển mỡ từ máu sau một bữa ăn bạn nạp nhiều năng lượng cũng như chất béo.

    Cùng với bạch cầu mono, bạch cầu lympho cũng có chức năng vô cùng quan trọng. Trong máu của cơ thể người tồn tại ba loại lymphocyte đó là tế bào B, tế bào T và các tế bào giết tự nhiên. Các tế bào B có chức năng sản xuất ra kháng thể liên kết với các tác nhân gây bệnh nhằm mục đích tạo ra điều kiện để phá hủy chúng hiệu quả. Cùng với đó, các tế bào T CD4+ lại có chức năng phối hợp với các phản ứng của hệ miễn dịch để làm tăng sức đề kháng cho cơ thể.

    Bạch cầu mono là gì? Bạch cầu mono chính là một loại tế bào lớn nhất trong các loại bạch cầu. Theo ghi nhận một số bạch cầu mono có kích thước gấp 3 lần kích thước của hồng cầu. Bạch cầu mono được sinh ra trong tuỷ xương và sẽ cần khoảng 3 ngày để phát triển trước khi được giải phóng vào trong máu.

    Bạch cầu ở lại trong máu tuần hoàn vài ngày rồi di chuyển đến các mô liên kết của các cơ quan khác nhau. Tại đây chúng sẽ phát triển thành các đại thực bào của mô như đại thực bào trong gan (gọi là tế bào Kupffer), đại thực bào trong phổi (được gọi là đại thực bào phế nang), đại thực bào của lách và tuỷ xương góp phần bảo vệ cơ thể chống lại các vi khuẩn cũng như các hoá chất độc hại.

    Ngoài ra đại thực bào còn đóng vai trò quan trọng trong sự khởi động quá trình sản xuất các kháng thể của bạch cầu lympho B.

    Những đặc tính của bạch cầu

    • Bạch cầu không chỉ khư trú trong máu hoặc bạch huyết mà còn ở trong các mô khác, đặc biệt là ở trong các mô liên kết lỏng lẻo.
    • Bạch cầu là những tế bào có khả năng vận động và bạch cầu di chuyển theo kiểu amip: Tế bào phóng ra các tua bào tương bám vào một điểm nào đó rồi kéo toàn bộ tế bào đi theo. Cụ thể hơn là bạch cầu hạt trung tính và bạch cầu mono có thể vận động theo kiểu amip trong các mô với tốc độ 40 mm trong 1 phút. Bạch cầu còn có khả năng đi qua các lỗ của thành mao mạch (cho dù là các lỗ này nhỏ hơn kích thước của bạch cầu) bằng quá trình xuyên mạch để vào các khoang quanh mạch máu khi cần thiết.
    • Bạch cầu còn di chuyển đến các mô bị tổn thương hay viêm nhiễm do chúng bị hấp dẫn bởi các hoá chất của tế bào tổn thương hoặc của vi khuẩn giải phóng ra hoặc do các phức hợp miễn dịch tạo ra trong đáp ứng miễn dịch. Bạch cầu sẽ di chuyển theo sự hấp dẫn của các chất hoá học được gọi là hiện tượng hoá ứng động.

    Vai trò của bạch cầu là gì?

    Bạch cầu không chỉ có chức năng quan trọng đối với cơ thể mà nó còn đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình sống của con người. Bạch cầu giúp cơ thể duy trì sự sống, làm tăng sức đề kháng để chống lại các loại bệnh tật nguy hiểm có thể xâm nhập.

    Bạch cầu ái toan chính là một phần của hệ thống miễn dịch và thành phần quan trọng trong máu. Bạch cầu ái toan đóng một vai trò quan trọng cho sự sống của cơ thể con người. Một số đặc điểm của bạch cầu ái toan như sau:

    • Xuyên mạch: Bạch cầu ái toán có thể thay đổi hình dạng để xuyên qua vách giữa những tế bào để đến được những nơi cần thiết.
    • Chuyển động: Bạch cầu ái toan chuyển động bằng chân giả với tốc độ khoảng 40mm/phút.
    • Hóa ứng động và nhiệt ứng động: Đây cũng là đặc điểm riêng biệt của loại bạch cầu này.
    • Thực bào, ẩm bào: Bạch cầu ái toán là thực bảo và ẩm bào.

    Tăng bạch cầu ái toan là gì?

    Tăng bạch cầu ái toan được cho là sự tăng số lượng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi. Bình thường trong cơ thể con người, bạch cầu áo toan có giới hạn khoảng 0.6 × 10⁹/L (600/microlit), thấp hơn (khoảng 0.4 × 10⁹/L [400/microlit]) trừ trường hợp người bị dị ứng nhẹ. Nếu số lượng bạch cầu ái toan lớn hơn hoặc nhỏ hơn thì rất có thể cơ thể đang bị nhiễm trùng hoặc mắc một chứng bệnh bất kỳ.

    Bạch cầu niệu là bạch cầu trong nước tiểu. Thông thường trong nước tiểu chứa rất ít hoặc không có bạch cầu. Tuy nhiên nếu như nước tiểu của bạn chứa một lượng lớn các bạch cầu thì bạn có thể đang gặp phải nhiễm trùng hay vấn đề sức khỏe, còn gọi là tình trạng bạch cầu niệu.

    • Bạch cầu WBC (White Blood Cell) có nghĩa là số lượng bạch cầu trong một thể tích máu. Ở người khỏe mạnh, chỉ sô WBC thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3.
    • Chỉ số bạch cầu WBC có ý nghĩa lớn trong các xét nghiệm máu. Trong y khoa, khi chỉ số WBC tăng hoặc giảm thì đó chính là dấu hiệu để nhận biết các bệnh lý.

    Chỉ số WBC sẽ thể hiện các bệnh về máu ở cơ thể. Chỉ số bạch cầu WBC cao cho thấy một số bệnh như:

    • Bạch cầu lympho cấp.
    • Bạch cầu dòng tủy mạn tính.
    • Bệnh u bạch cầu.
    • Các bệnh về viêm nhiễm.
    • Bệnh máu ác tính

    Khi chỉ số WBC giảm thấp thể hiện cho thấy cơ thể bị nhiễm khuẩn, hoặc thiếu hụt hàm lượng Vitamin B12 hoặc Folate.

    Nhiễm trùng bạch cầu cho thấy tình trạng nhiễm virus Epstein-Barr (EBV). Đây là loại virus lây lan qua nước bọt hay tiếp xúc thông thường. Một số triệu chứng của nhiễm trùng bạch cầu như sốt cao, đau họng hay nổi hạch ở cổ.

    • Tình trạng bạch cầu dương tính khi khám phụ khoa cho thấy người bệnh bị viêm nhiễm phụ khoa, thông thường là viêm phụ khoa do tạp khuẩn. Thông thường người bệnh bị viêm nhiễm phụ khoa thì bạch cầu sẽ dương tính, nghĩa là tìm thấy bạch cầu trong mẫu xét nghiệm.
    • Chức năng của bạch cầu là chống lại những tác nhân gây bệnh tấn công cơ thể. Khi kết quả xét nghiệm có bạch cầu (+) thì cần chú ý để vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sẽ và đúng cách, dùng thuốc theo đúng sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

    Bạch cầu đa nhân là cách gọi khác của bạch cầu hạt. Bạch cầu hạt có đặc điểm phân thùy của nhân tế bào nên được gọi như vậy. Bạch cầu hạt (bạch cầu đa nhân) gồm 3 loại:

    • Bạch cầu trung tính.
    • Bạch cầu ái kiềm.
    • Bạch cầu ái toan.

    Bạch cầu trong y học được kí hiệu là WBC (White Blood Cell).

    Tu khoa lien quan

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • ✴️ Phân Loại Và Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Bạch Cầu Là Gì ? Chức Năng Của Bạch Cầu
  • Hệ Thống Tự Động Giữ Phanh Auto Hold
  • Phanh Tay Điện Tử Có Ưu Và Nhược Điểm Gì?
  • 7 Công Nghệ Hạng Sang Trên Ô Tô Đang Dần Được ‘bình Dân Hóa’ Ở Việt Nam (P1)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100