Chức Năng Bạch Cầu

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Chức Năng Bạch Cầu xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 27/01/2021 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Chức Năng Bạch Cầu để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 5.247 lượt xem.

Có 27 tin bài trong chủ đề【Chức Năng Bạch Cầu】

【#1】Cấu Tạo Và Chức Năng Bạch Cầu

Bạch cầu là những tế bào máu có tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh.

Dựa vào hình dáng, cấu trúc và cách bắt màu phẩm nhuộm, người ta chia bạch cầu ra làm hai nhóm chính là bạch cầu hạt và bạch cầu không hạt.

+ Bạch cầu hạt chứa những hạt trong bào tương mà có thể thấy dưới kính hiển vi quang học. Tuỳ theo cách bắt màu phẩm nhuộm của các hạt mà chúng có tên là bạch cầu hạt trung tính, ưa acid, ưa kiềm. Ngoài ra, do nhân của các bạch cầu hạt này có nhiều thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đa nhân.

+ Bạch cầu không hạt thì trong bào tương không có các hạt mà có thể thấy được dưới kính hiển vi quang học do kích thước các hạt của chúng nhỏ và bắt màu phẩm nhuộm kém. Có hai loại bạch cầu không hạt là bạch cầu lympho và bạch cầu mono. Nhân của các bạch cầu không hạt này không chia thuỳ nên chúng còn có tên là bạch cầu đơn nhân.

2. Sự sinh sản và đời sống bạch cầu

+ Bạch cầu hạt và bạch cầu mono Toàn bộ quá trình sinh sản và biệt hoá tạo nên các loại bạch cầu hạt và bạch cầu mono diễn ra trong tuỷ xương. Chúng được dự trữ sẵn ở tuỷ xương, khi nào cơ thể cần đến, chúng sẽ được đưa vào máu lưu thông. Bạch cầu hạt sau khi rời tuỷ xương thì lưu hành trong máu khoảng 4-8 giờ rồi xuyên mạch vào tổ chức, tồn tại thêm khoảng 4-5 ngày. Khi bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể của mình, chẳng hạn chống nhiễm trùng, thì nó sẽ chết sớm hơn.

Bạch cầu mono cũng có thời gian lưu hành trong máu ngắn, khoảng 10-20 giờ. Sau đó sẽ xuyên mạch vào tổ chức. Tại tổ chức chúng sẽ tăng kích thước và trở thành đại thực bào tổ chức. Ở dạng này chúng có thể sống hàng tháng, thậm chí hàng năm.

Quá trình biệt hoá các tế bào gốc lympho xuất phát từ tế bào gốc tạo máu đa năng trong tuỷ xương tạo ra tiền tế bào lympho T và tiền tế bào lympho B. Các tiền tế bào lympho T đến tuyến ức để được “huấn luyện” tạo nên các lympho T trưởng thành. Các tiền tế bào lympho B tiếp tục được “huấn luyện” ở tuỷ xương (các tháng giữa của thai kỳ nó được “huấn luyện” tại gan) để tạo nên các lympho B trưởng thành. Sau khi “huấn luyện”, các lympho T và lympho B theo dòng tuần hoàn đến các tổ chức bạch huyết khắp cơ thể.

Từ các tổ chức bạch huyết, bạch cầu lympho vào hệ tuần hoàn liên tục theo dòng bạch huyết. Sau vài giờ, chúng xuyên mạch vào tổ chức rồi vào dòng bạch huyết để trở về tổ chức bạch huyết hoặc vào máu lần nữa rồi lần nữa… Các bạch cầu lympho có thời gian sống hàng tuần, hàng tháng hoặc thậm chí hàng năm tuỳ thuộc nhu cầu của cơ thể.

3. Chức năng của bạch cầu

Chức năng chung của bạch cầu là chống lại các tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể.

Nhìn chung, chúng có các đặc tính sau để thích hợp với chức năng này:

– Xuyên mạch: tự biến đổi hình dạng để chui qua giữa các tế bào nội mô mạch máu vào tổ chức xung quanh.

– Vận động: kiểu a-míp (bằng chân giả) để đến các tổ chức cần nó.

– Hoá ứng động: bạch cầu bị hấp dẫn đến vị trí tổn thương khi có các hoá chất được

giải phóng ra bởi tế bào tổn thương hoặc vi khuẩn, và khi có các phức hợp miễn dịch. – Thực bào: bắt các vật lạ đưa vào trong bào tương rồi tiêu hoá chúng. Tuy nhiên không phải loại bạch cầu nào cũng có đầy đủ các đặc tính trên. Bạch cầu hạt trung tính và đại thực bào thể hiện đầy đủ và mạnh mẽ các đặc tính này nhất.

– Chức năng của bạch cầu hạt trung tính

Bạch cầu hạt trung tính là hàng rào của cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn sinh mủ. Chúng rất vận động và thực bào tích cực. Bạch cầu trung tính có thể tiêu hoá, huỷ hoại nhiều loại vi khuẩn, những thành phần nhỏ, và fibrin. Hầu hết các hạt bào tương của chúng là lysosome chứa enzyme thuỷ phân.

Các hạt khác chứa các protein kháng khuẩn. Ngoài ra, bạch cầu hạt trung tính còn chứa các chất oxy hoá mạnh có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn.

Bạch cầu hạt trung tính là bạch cầu đầu tiên đến vị trí vi khuẩn xâm nhập với số lượng lớn. Trong quá trình thực bào vi khuẩn, nhiều bạch cầu trung tính bị chết và tạo thành mủ tại vị trí tổn thương. Mỗi bạch cầu này thực bào tối đa khoảng 5-20 vi khuẩn.

– Chức năng của bạch cầu hạt ưa kiềm

Bạch cầu hạt ưa kiềm rất giống một loại tế bào khác ở trong tổ chức bên ngoài mao mạch gọi là dưỡng bào (mast cell).

Bạch cầu hạt ưa kiềm và dưỡng bào có thể phóng thích heparin ngăn cản quá trình đông máu và thúc đẩy sự vận chuyển mỡ từ máu sau bữa ăn nhiều chất béo. Các tế bào này đóng vai trò quan trọng trong phản ứng dị ứng. Do các kháng thể gây phản ứng dị ứng (loại IgE) có khuynh hướng đến gắn trên bề mặt dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm. Khi có sự kết hợp giữa kháng thể này với dị ứng nguyên, dưỡng bào và bạch cầu ưa kiềm sẽ vỡ ra và giải phóng histamine, cũng như bradykinin, serotonin, chất phản ứng chậm của sốc phản vệ (slow-reacting substance of anaphylaxis), enzyme tiêu protein….tạo nên bệnh cảnh điển hình của dị ứng.

– Chức năng bạch cầu hạt ưa acid

Bạch cầu hạt ưa acid ít vận động hơn bạch cầu trung tính và thực bào cũng ít tích cực hơn, chúng không thực bào vi khuẩn. Chức năng đầu tiên của bạch cầu hạt ưa acid là khử độc protein lạ nhờ các enzyme đặc biệt trong hạt bào tương. Bạch cầu ưa acid thường tập trung nhiều ở niêm mạc đường hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu-sinh dục để ngăn chặn các tác nhân lạ xâm nhập cơ thể. Chúng có thể tiết ra các chất độc ngăn chặn và bao vây đối với ký sinh trùng. Ðặc biệt là các loại sán máng (schistosoma) hoặc giun xoắn (trichinella). Bạch cầu này còn được hấp dẫn đến nơi có phản ứng dị ứng xảy ra, chúng tiết ra các enzyme để chống lại tác dụng của histamine và các chất trung gian khác trong phản ứng dị ứng. Ngoài ra, chúng còn có khả năng thực bào các phức hợp kháng nguyên-kháng thể. Vì vậy, chúng ngăn cản không cho tiến trình viêm lan rộng.

– Chức năng bạch cầu mono – đại thực bào

Các bạch cầu mono chưa thực sự trưởng thành, khả năng tiêu diệt tác nhân nhiễm khuẩn của chúng còn kém. Nhưng khi vào trong tổ chức, trở thành đại thực bào với kích thước lớn hơn và nhiều lysosome trong bào tương, chúng có khả năng chống tác nhân gây bệnh rất mãnh liệt. Khả năng thực bào của chúng mạnh hơn bạch cầu hạt trung tính nhiều, chúng có thể thực bào khoảng 100 vi khuẩn. Ðại thực bào còn có thể thực bào các thành phần lớn hơn như hồng cầu chết, ký sinh trùng sốt rét. Ngoài ra, chúng còn có lipase giúp tiêu hoá các vi khuẩn có vỏ bọc lipid dày. Sau khi thực bào, chúng có thể đẩy các sản phẩm ra và thường sống sót vài tháng.

Các đại thực bào còn có chức năng trình diện kháng nguyên cho các tế bào có thẩm

– Chức năng bạch cầu lympho

Có 3 loại tế bào lympho là:

+ Tế bào diệt tự nhiên (NK: natural killer)

Các tế bào NK hiện diện ở lách, hạch, tuỷ xương đỏ và máu. Chúng thường tấn công các vi sinh vật gây bệnh và một số tế bào khối u tiên phát.

Bạch cầu lympho B bảo vệ cơ thể bằng đáp ứng miễn dịch dịch thể (qua trung gian kháng thể). Nó chống lại các loại vi khuẩn và một số virus.

Khi có các vi khuẩn xuất hiện, lympho B nhận diện kháng nguyên tương ứng và được hoạt hoá. Khi đó nó có khả năng phân bào và biệt hoá thành tương bào (plasma cell). Các tương bào này sẽ sản xuất kháng thể chống lại vi khuẩn đã xâm nhập. Kháng thể tiêu diệt các vi khuẩn hoặc bất hoạt độc tố của chúng. Một số lympho B được sinh ra ở trên không trở thành tương bào mà trở thành lympho B ghi nhớ sẵn sàng đáp ứng nhanh và mạnh khi có cùng loại vi khuẩn xâm nhập lần sau.

Bạch cầu lympho T là tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Lympho T có khả năng chống lại các tác nhân như virus, nấm, tế bào mảnh ghép, tế bào ung thư và vài loại vi khuẩn. Khi có các tác nhân đó xuất hiện trong cơ thể, các lympho T sẽ nhận diện kháng nguyên đặc hiệu với nó và được hoạt hoá. Sau đó chúng trở nên lớn hơn, sinh sản tạo nên hàng ngàn lympho T có thể nhận diện kháng nguyên xâm nhập này.

Có 3 loại lympho T chính:

* T giúp đỡ (Th: helper): kích thích sự phát triển và sinh sản của các lympho T độc, T ức chế. Th còn kích thích sự phát triển và biệt hoá lympho B thành tương bào. Ngoài ra, Th còn tiết các chất làm tăng cường hoạt động bạch cầu trung tính và đại thực bào.

* T độc (Tc: cytotoxic): tiêu diệt trực tiếp các tế bào bị nhiễm tương ứng. Tc cũng tiết các chất khuếch đại khả năng thực bào của đại thực bào.

* T ức chế (Ts: suppssor): phát triển chậm hơn, nó có tác dụng ức chế lympho Tc và Th làm cho đáp ứng miễn dịch không phát triển quá mức.

Một số lympho T trở thành tế bào T ghi nhớ có khả năng khởi phát một đáp ứng miễn dịch tương tự khi có cùng loại tác nhân gây bệnh (kháng nguyên) xâm nhập nhưng ở mức độ nhanh, mạnh hơn nhiều, gọi là đáp ứng miễn dịch lần hai (đáp ứng miễn dịch thứ cấp).

+ Các Th thuộc loại lympho T4, vì trên bề mặt của chúng có cụm biệt hoá kháng nguyên CD4; còn Tc và Ts thuộc loại lympho T8, vì có cụm biệt hoá kháng nguyên CD8 trên bề mặt các tế bào này.

+ Tế bào Th đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình miễn dịch trung gian tế bào lẫn miễn dịch dịch thể. Trong bệnh AIDS các HIV tấn công dòng T4 (chủ yếu là Th) nên các đáp ứng miễn dịch bị tê liệt và cơ chế bảo vệ không đặc hiệu cũng bị suy giảm. Bệnh nhân sẽ chết do nhiễm trùng cơ hội.

+ Ðáp ứng miễn dịch lần sau (thứ cấp) nhờ vai trò của T ghi nhớ hoặc B ghi nhớ là cơ sở miễn dịch của việc chủng ngừa để phòng bệnh.

4. Số lượng bạch cầu – Công thức bạch cầu

Bình thường số lượng bạch cầu trung bình trong máu khoảng 7000/mm 3. Tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp, viêm hoặc Leukemia. Giảm trong các trường hợp suy tuỷ.

Công thức bạch cầu là tỷ lệ phần trăm của các loại bạch cầu. Có nhiều loại công thức bạch cầu nhưng trên lâm sàng thường sử dụng công thức bạch cầu thông thường. Người bình thường có thể có công thức bạch cầu như sau:

Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophil): 60-70 %

Bạch cầu đa nhân ưa acid (Eosinophil): 2-4 % Bạch cầu đa nhân ưa kiềm (Basophil): 0,5-1 %

Bạch cầu mono (Monocyte): 3-8 %

Bạch cầu lympho (Lymphocyte): 20-25 %

Sự thay đổi tỷ lệ các loại bạch cầu giúp các nhà lâm sàng chẩn đoán nguyên nhân.


【#2】Hệ Hạch Bạch Huyết Là Gì? Vai Trò, Cấu Tạo, Chức Năng

Hạch bạch huyết có vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch. Tuy nhiên không phải ai cũng có những hiểu biết chính xác về vai trò cũng như cấu tạo của các hạch bạch huyết trong cơ thể con người.

Hạch bạch huyết là gì?

Hạch bạch huyết (hạch lympho) là một phần của hệ bạch huyết, nằm trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết.

Trong cơ thể con người có khoảng 500-600 hạch nằm chặn trên đường đi của các mạch bạch huyết, thường đứng thành nhóm và nhận bạch huyết của từng vùng cơ thể. Những vị trí phổ biến tập trung nhiều hạch bạch huyết là cổ, nách, bẹn, tuy nhiên thông thường, nó xuất hiện ở khắp cơ thể.

Hạch bạch huyết Hệ miễn dịch Sinh thiết hạch bạch huyết U lympho Hạch Sưng hạch bạch huyết

Các hạch bạch huyết có mặt khắp cơ thể, tập trung nhiều hơn ở gần và trong thân cây, và được chia thành nghiên cứu về giải phẫu thành các nhóm.

Một số hạch bạch huyết có thể được cảm nhận khi mở rộng (và đôi khi không), chẳng hạn như các hạch bạch huyết ở nách dưới cánh tay, các hạch bạch huyết cổ tử cung ở đầu và cổ và các hạch bạch huyết bẹn gần nếp nhăn háng.

Một số hạch bạch huyết có thể được nhìn thấy, chẳng hạn như amidan. Tuy nhiên, hầu hết các hạch bạch huyết nằm trong thân cây liền kề với các cấu trúc chính khác trong cơ thể – chẳng hạn như các hạch bạch huyết paraaortic và các hạch bạch huyết khí quản .

Không có hạch bạch huyết trong hệ thống thần kinh trung ương, được tách ra khỏi cơ thể bằng hàng rào máu não.

Cấu tạo của Hạch

Các hạch bạch huyết có hình thận hoặc hình bầu dục và có kích thước từ vài mm đến dài khoảng 1-2 cm. Mỗi hạch bạch huyết được bao quanh bởi một nang xơ, kéo dài bên trong hạch bạch huyết để tạo thành trabeculae. Chất của hạch bạch huyết được chia thành vỏ ngoài và tủy trong. Vỏ não liên tục xung quanh tủy ngoại trừ nơi tủy tiếp xúc trực tiếp với hilum.

Các sợi võng mạc mỏng của mô liên kết võng mạc và elastin tạo thành một lớp lưới hỗ trợ gọi là reticulin bên trong nút. Các tế bào B chủ yếu được tìm thấy ở vỏ ngoài (bề ngoài), nơi chúng được nhóm lại với nhau như các tế bào B nang trong nang bạch huyết, và các tế bào T chủ yếu được tìm thấy trong paracortex.

Hạch bạch huyết được chia thành các ngăn gọi là các hạch bạch huyết (hay tiểu thùy), mỗi hạch bao gồm một vùng vỏ của các tế bào B nang kết hợp, một vùng tế bào T của paracortical và một phần cơ bản của nốt trong tủy. Số lượng và thành phần của nang trứng có thể thay đổi khi bị thách thức bởi một kháng nguyên, khiến cho nang trứng phát triển một trung tâm mầm bệnh.

Là một phần của mạng lưới võng mạc, có các tế bào đuôi gai trong nang tế bào B và các tế bào lưới sợi nguyên bào trong vỏ tế bào T. Mạng lưới cung cấp hỗ trợ cấu trúc và bề mặt cho sự kết dính của các tế bào đuôi gai, đại thực bào và tế bào lympho. Nó cũng cho phép trao đổi vật chất với máu thông qua các tĩnh mạch nội mô cao và cung cấp các yếu tố tăng trưởng và điều tiết cần thiết để kích hoạt và trưởng thành của các tế bào miễn dịch.

Nang

Các nang hạch bạch huyết bao gồm các mô liên kết không đều dày đặc với một số sợi collagen đơn giản, và một số quá trình màng hoặc trabeculae kéo dài từ bề mặt bên trong của nó.

Xoang dưới lưỡi

Xoang dưới màng cứng ( đường bạch huyết, xoang bạch huyết, xoang biên ) là khoảng trống giữa nang và vỏ não cho phép sự di chuyển tự do của chất lỏng bạch huyết và do đó có chứa ít tế bào lympho. Nó liên tục với các xoang bạch huyết tương tự bên sườn trabeculae.

Hạch bạch huyết chứa mô bạch huyết, tức là một tấm lưới hoặc các sợi gọi là mạng lưới với các tế bào bạch cầu được bọc trong đó. Các khu vực có ít tế bào trong lưới được gọi là xoang bạch huyết . Nó được lót bởi các tế bào lưới, nguyên bào sợi và các đại thực bào cố định.

Các xoang dưới bao có tầm quan trọng lâm sàng vì đây là vị trí có khả năng cao nhất trong đó các biểu hiện sớm nhất của ung thư biểu mô di căn trong một hạch bạch huyết sẽ được tìm thấy.

Cortex

Vỏ não của hạch bạch huyết là phần bên ngoài của nút, bên dưới nang và xoang dưới vỏ. Nó có một phần bề ngoài bên ngoài và một phần sâu hơn được gọi là paracortex. Các xoang dưới vỏ thoát ra các xoang trabecular, và sau đó bạch huyết chảy vào các xoang tủy .

Vỏ não bên ngoài bao gồm chủ yếu là các tế bào B được sắp xếp thành các nang, có thể phát triển một trung tâm mầm bệnh khi được thử thách với một kháng nguyên, và paracortex sâu hơn chủ yếu bao gồm các tế bào T. Ở đây, các tế bào T chủ yếu tương tác với các tế bào đuôi gai và mạng lưới võng mạc dày đặc.

Medulla

Tủy chứa các mạch máu lớn, xoang và dây tủy có chứa các tế bào plasma tiết kháng thể.

Các dây tủy là dây của mô bạch huyết, và bao gồm các tế bào plasma , đại thực bào và tế bào B. Các xoang tủy (hoặc xoang ) là những khoảng trống giống như tàu ngăn cách các dây tủy. Bạch huyết chảy vào xoang tuỷ từ xoang vỏ não và vào mạch bạch huyết tràn đầy .Thường chỉ có một tàu tràn đầy mặc dù đôi khi có thể có hai tàu. Các xoang tủy chứa histiocytes (đại thực bào bất động) và tế bào võng mạc.

Chức năng của Hạch

Chức năng chính của các hạch bạch huyết là lọc bạch huyết để xác định và chống nhiễm trùng. Để làm điều này, các hạch bạch huyết chứa tế bào lympho, một loại tế bào bạch cầu, bao gồm tế bào B và tế bào T. Chúng lưu thông qua dòng máu và xâm nhập và cư trú trong các hạch bạch huyết. Tế bào B tạo ra kháng thể. Mỗi kháng thể có một mục tiêu được xác định trước, một kháng nguyên, mà nó có thể liên kết. Chúng lưu hành trong toàn bộ dòng máu và nếu chúng tìm thấy mục tiêu này, các kháng thể liên kết với nó và kích thích phản ứng miễn dịch. Mỗi tế bào B tạo ra các kháng thể khác nhau và quá trình này được thúc đẩy trong các hạch bạch huyết. Các tế bào B xâm nhập vào máu dưới dạng các tế bào “ngây thơ” được tạo ra trong tủy xương. Sau khi vào một hạch bạch huyết, sau đó chúng đi vào một nang bạch huyết, nơi chúng nhân lên và phân chia, mỗi loại tạo ra một kháng thể khác nhau. Nếu một tế bào bị kích thích, nó sẽ tiếp tục tạo ra nhiều kháng thể (tế bào plasma) hoặc hoạt động như một tế bào bộ nhớ để giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng trong tương lai. Nếu một tế bào không được kích thích, nó sẽ trải qua quá trình tự chết và chết.

Kháng nguyên là các phân tử được tìm thấy trên thành tế bào vi khuẩn, các chất hóa học được tiết ra từ vi khuẩn hoặc đôi khi là các phân tử có trong mô cơ thể. Chúng được đưa lên bởi các tế bào trên khắp cơ thể được gọi là tế bào trình diện kháng nguyên, chẳng hạn như tế bào đuôi gai. Những tế bào trình diện kháng nguyên này xâm nhập vào hệ thống bạch huyết và sau đó là các hạch bạch huyết. Họ trình bày kháng nguyên cho các tế bào T và, nếu có một tế bào T với thụ thể tế bào T thích hợp, nó sẽ được kích hoạt.

Bạch huyết có mặt khắp cơ thể, và lưu thông qua các mạch bạch huyết . Những chất này chảy vào và từ các hạch bạch huyết – các mạch máu phát triển chảy vào các nút và các mạch máu từ các nút. Khi chất lỏng bạch huyết xâm nhập vào một nút, nó sẽ chảy vào nút ngay bên dưới viên nang trong một không gian gọi là xoang dưới màng cứng. Các xoang dưới vỏ thoát ra thành xoang trabecular và cuối cùng thành xoang tuỷ. Không gian xoang bị cắt ngang bởi các giả của đại thực bào , hoạt động để bẫy các hạt lạ và lọc bạch huyết. Các xoang tủy hội tụ tại hilum và bạch huyết sau đó rời khỏi hạch bạch huyết thông qua mạch bạch huyết tràn vào một hạch bạch huyết trung tâm hơn hoặc cuối cùng để dẫn lưu vào mạch máu dưới màng cứng tĩnh mạch trung tâm.

    Các tế bào T di chuyển đến vỏ não sâu. Đây là một khu vực của các hạch bạch huyết được gọi là paracortex bao quanh tủy.

Lá lách và amidan là các cơ quan bạch huyết thứ cấp lớn hơn phục vụ các chức năng tương tự như các hạch bạch huyết, mặc dù lá lách lọc các tế bào máu chứ không phải bạch huyết.

Những điều cần lưu ý

Khi thấy dấu hiệu như sưng hạch không biến mất, thậm chí còn lan rộng ra, sốt dai dẳng, hay đổ mồ hôi vào ban đêm, khó thở, khó nuốt… cần đến gặp bác sĩ để kiểm tra tình hình sức khỏe hiện tại. Vì các hạch sưng liên tục phát triển có thể là do khối u hoặc ung thư hạch bạch huyết.


【#3】Cấu Tạo Và Chức Năng Hạch Bạch Huyết Nhom 3 Lop Mo Phoi 7 Ppt

Thành viên của nhóm bao gồm :

1.RHM-K6

2.BSĐK-K46C

Welcom to “nhóm 3”

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN

BỘ MÔN MÔ- PHÔI HỌC

NỘI DUNG THẢO LUẬN

Chứng minh sự phù hợp giữa cấu tạo với chức năng của hạch bạch huyết

Hạch Bạch Huyết

Bạch hạch là cơ quan bạch huyết nhỏ nằm

chặn trên đường đi của mạch bạch huyết.

Chức năng

Đáp ứng miễn dịch khi có kích thích, tổng hợp kháng thể

và đưa vào máu

Làm sạch dòng bạch huyết trước khi chúng được đưa vào

máu. Nhận biết các chất lạ, các tế bào lạ khi chúng được

đưa đến hạch, giữ lại và làm chúng trở nên vô hại

Cấu tạo

Thành phần chống đỡ:

Bản chất là mô liên kết. 3 thành phần

Vỏ xơ: bao bọc toàn bộ hạch (trừ rốn hạch)

Vách xơ: xuất phát từ vỏ xơ tiến sâu vào nhu mô hạch

Dây xơ: xuất phát từ vách xơ, nối với nhau thành lưới

Với cấu tạo vững chắc,

hệ thống khung xơ có

vai trò quan trọng trong

việc bảo vệ nhu mô hạch

khỏi các tác động cơ học

cũng như các tác nhân

sinh học khác

Cấu tạo

2. Các xoang bạch huyết

Đường bạch huyết đến

Xoang dưới vỏ

Xoang quanh nang

Xoang tủy

Bạch huyết quản đi.

Đường bạch huyết trong

hạch dài và phức tạp, chảy

qua nhiều phần khác nhau

của hạch, tại mỗi phần sẽ có

những đáp ứng khác nhau với

dịch bạch huyết tùy vào chức

năng của chúng

Sự có mặt của đại thực bào ở các xoang dưới vỏ có ý nghĩa quan trọng trong việc tham gia đáp ứng miễn dịch. Xoang dưới vỏ có thể coi là hàng rào đầu tiên mà dịch bạch huyết đi qua trước khi vào sâu hơn trong hạch. Tại đây các

tế bào và kháng nguyên lạ sẽ được các đại thực bào phát hiện và thực bào.

Sau khi thực bào, đại thực bào sẽ gửi kháng nguyên của tế bào lạ đó tới

trung tâm sinh sản để kích thích sản sinh tương bào và các tế bào nhớ.

Khi kháng thể xâm nhập

một lần nữa, số lượng các

tế bào nhớ loại này tăng

mạnh, tiết ra kháng thể đưa

vào máu hoặc trực tiếp

đi đến các mô bị tấn công

tham gia đáp ứng miễn dịch

Cấu tạo

3. Vùng vỏ

Vùng vỏ nằm sát khoang

dưới vỏ, chứa các trung

tâm sinh sản hay nang bạch

huyết

Nang bạch huyết có cấu tạo gồm:

Mũ lưỡi liềm: chứa các limpho B nhỏ, có khả năng sinh sản và biệt hóa cao. Là vùng dự trữ các

“tế bào mầm” cho nang bạch huyết

Vùng sáng: mật độ tế bào ít hơn, chủ yếu là các tế bào hình sao trên nền mô võng, xen kẽ có

một số ít các tế bào bạch cầu còn non, hiếm thấy đại thực bào

Vùng tối: là nơi diễn ra quá trình sinh sản của bạch cầu. ở đây thấy hình ảnh các giai đoạn khác

nhau của quá trình sinh sản và biệt hóa của lim pho B. các tế bào dòng limpho B nằm trên lưới

được tạo bởi các sợi võng và các tế bào võng. Các tế bào võng còn là nơi để gắn các kháng

nguyên lạ, điều này giúp cho việc duy trì yếu tố kích thích quá trình sinh sản và biệt hóa của

limpho B được lâu dài hơn

Cấu tạo

4. Vùng cận vỏ

Còn được gọi là vùng phụ thuộc tuyến ức. Các tế bào limpho T sau khi trưởng thành

tại tuyến ức sẽ theo máu đến khư chú trong vùng cận vỏ của bạch hạch

Dòng bạch huyết khi đi tới từ xoang trung gian sẽ phải đi qua vùng cận vỏ. Tại đây,

các tế bào lạ hay các kháng nguyên lạ sẽ được limpho T phát hiện. Tùy thuộc vào loại

kháng nguyên mà limpho T có thể tiêu

diệt trực tiếp hoặc tiết ra yếu tố kích thích

quá trình tăng sinh và biệt hóa limph B tại

các nang bạch huyết, cuối cùng tạo ra

tương bào bài tiết kháng thể tương ứng

để đáp ứng với kháng nguyên

Cấu tạo

5. Vùng tủy

Dây tủy: tập hợp các mô bạch huyết quanh

các mạch máu nhỏ, mao mạch chủ yếu là

kiểu xoang, lòng các mạch máu chứa các

tế bào nội mô cao thuận lợi cho việc trao

đổi chất đồng thời thuận lợi cho các tế bào

có kích thước lớn có thể qua mạch vào

máu cũng như từ máu vào trong hạch

Xoang tủy: gồm các tế bào limpho, tương bào,

đại thực bào và một số lượng nhỏ bạch cầu hạt.

Đây là nơi sảy ra giai đoạn cuối của quá trình

đáp ứng miễn dịch dịch thể

Có thể bạn chưa biết

CẢM ƠN THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ

LẮNG NGHE

See you again


【#4】Cấu Trúc Và Chức Năng Của Một Hạch Bạch Huyết

Hạch bạch huyết bình thường – Vòng này, hình bầu dục hoặc hình hạt đậu, nang tráng, là một vỏ bọc mô liên kết dày đặc với một neischerchennyh dash (mịn) bắp thịt sợi, mà làm cho nó có thể thu nhỏ hạch bạch huyết và tích cực thúc đẩy bạch huyết.

Từ các viên nang vào dày hạch khởi hành thanh ngang, điều đó, kết nối, hình thành các nút xương sống. Trong phần lõm của hội đồng là cửa, trong đó các tàu ly tâm bạch huyết đi qua và có nút xâm nhập mạch máu và dây thần kinh. Về phía ngược lại, lồi, bên này sang một hạch mang dòng bạch huyết mạch bạch huyết, hình thức đó dưới bao (cạnh) xoang hạch. Góc cạnh chúng, giữa trabekulami, sắp xếp giữa một anastomosing vokruguzelkovyesinusy. Các bức tường của các xoang được lót bằng các tế bào lưới, trong đó có một hoạt động thực bào cao.

Các không gian giữa các xoang đầy với một mạng lưới các sợi lưới, tại nút giao thông nằm tế bào lưới. Các bản lề nằm tế bào lymphoid lưới, Thành phần cơ thể của nhu mô. Trong nhu mô của các hạch bạch huyết là vỏ não phân biệt và tủy và vùng paracortical.

Korkovoe chất nằm tại ranh giới (dưới bao) sinusami, có B-lymphocytes thimic độc lập. Nó bao gồm các nốt bạch huyết (nang) đường kính của 0,5 đến 1,0 mm. Ở trung tâm của các nang trứng là những tế bào lớn với hạt nhân lớn (đại thực bào, lymfoblastы và dendrytnыe retykulopodobnыe, hoặc trình, tế bào). Một số trong những tế bào đang trong tình trạng phân chia, Do đó nảy sinh những tên trước đây của các trung tâm chăn nuôi.

Trong trường hợp của một bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là vi khuẩn, trong nang của các hạch bạch huyết, bạn có thể nhận được một số lượng lớn các đại thực bào, đó là cơ sở cho các tên của các trung tâm nang phản ứng như. Tế bào Dendritnыe, Theo ý tưởng hiện đại, Họ là một loại đại thực bào, có khả năng sửa chữa các globulin miễn dịch, và qua đó thì kháng nguyên. Sau khi phản ứng kháng nguyên-kháng thể, họ đang liên lạc với các tế bào lympho.

Cortex là chịu trách nhiệm cho việc sản xuất các kháng thể miễn dịch dịch thể. Trung tâm phản ứng được bao quanh bởi các khu vực xung quanh nang chặt chẽ các tế bào lympho nhỏ.

Trên biên giới giữa vỏ não và tủy nằm khu vực parakortikalynaya. Trong khu vực tuyến ức phụ thuộc vào sự tăng sinh tế bào lympho này (T-lymphocyte) và chuyển đổi blast của mình. Giữa các tế bào lympho là tiểu tĩnh mạch sau mao mạch, thông qua đó hạch xâm nhập tế bào lympho lưu.


【#5】Các Loại Bạch Cầu Và Chức Năng Của Chúng. Các Chức Năng Của Bạch Cầu. Tăng Bạch Cầu Trong Thai Kỳ

Máu người chỉ bao gồm một chất lỏng (huyết tương) 55-60%, và phần còn lại của thể tích được chiếm bởi các yếu tố đồng nhất. Bạch cầu có lẽ là đại diện tuyệt vời nhất của chúng.

Bạch cầu trông như thế nào và nó có hình dạng gì?

Bạch cầu là những tế bào hình cầu có đường kính tới 20 micron. Số lượng của chúng ở người dao động từ 4 đến 8 nghìn trên 1 mm3 máu.

Sẽ không thể trả lời câu hỏi tế bào có màu gì – bạch cầu trong suốt và được hầu hết các nguồn xác định là không màu, mặc dù các hạt của một số nhân có thể có một bảng màu khá rộng.

Sự đa dạng của các loại bạch cầu khiến không thể thống nhất cấu trúc của chúng.

Tế bào chất:

Ngoài ra, các bào quan tạo nên các tế bào cũng khác nhau.

Đặc điểm cấu trúc hợp nhất các yếu tố dường như không giống nhau này là khả năng di chuyển tích cực.

Tế bào non được sản sinh từ tế bào gốc đa năng trong tủy xương. Hơn nữa, để tạo ra mộtbạch cầu Có thể tham gia 7-9 lần phân chia, và vị trí của tế bào gốc đã phân chia sẽ được lấy bởi tế bào nhân bản của tế bào lân cận. Đây là cách duy trì hằng số của quần thể.

Khởi đầu

Sự hình thành bạch cầu có thể được hoàn thành:

Mỗi loại bạch cầu có tuổi thọ riêng.

  • từ 2 giờ đến 4 ngày –
  • từ 8 ngày đến 2 tuần – bạch cầu hạt;
  • từ 3 u200bu200bngày đến 6 tháng (đôi khi lên đến vài năm) – tế bào lympho.
  • Đặc điểm tuổi thọ ngắn nhất của bạch cầu đơn nhân không chỉ là do khả năng thực bào tích cực của chúng mà còn do khả năng sinh ra các tế bào khác.

    1. Sự lão hóa tự nhiên của tế bào, nghĩa là hoàn thành vòng đời của chúng.

    Trong trường hợp đầu tiên, chức năng tiêu diệt bạch cầu được giao cho gan và lá lách, và đôi khi đến phổi. Các sản phẩm phân rã của tế bào được đào thải một cách tự nhiên.

    Bạch cầu chết trực tiếp “Đang làm nhiệm vụ”, và nếu việc loại bỏ chúng ra khỏi đó là không thể hoặc khó khăn, các sản phẩm phân hủy của tế bào sẽ tạo thành mủ.

    Video – Phân loại và ý nghĩa của bạch cầu người

    Nhiệm vụ của các tế bào được giảm xuống để phát hiện và tiêu diệt chúng theo nguyên tắc “Kháng thể-kháng nguyên”.

    Sự tiêu diệt các sinh vật không mong muốn xảy ra bởi sự hấp thụ của chúng, trong khi tế bào thực bào tiếp nhận tăng kích thước đáng kể, nhận thấy các tải trọng phá hủy đáng kể và thường bị chết.

    Nơi chết của một số lượng lớn bạch cầu được đặc trưng bởi phù nề và đỏ, đôi khi có thể bị dập tắt, sốt.

    Việc phân tích sự đa dạng của nó sẽ giúp chỉ ra chính xác hơn vai trò của một tế bào cụ thể trong quá trình đấu tranh vì sức khỏe của một sinh vật.

    Vì vậy, bạch cầu hạt thực hiện các hành động sau:

    1. Bạch cầu trung tính – bắt và tiêu hóa vi sinh vật, kích thích sự phát triển và phân chia tế bào.
    2. Bạch cầu ái toan – trung hòa các protein lạ trong cơ thể và các mô sắp chết của chính nó.
    3. Bạch cầu ái kiềm – thúc đẩy quá trình đông máu, điều hòa tính thấm thành mạch bởi tế bào máu.

    Danh sách các chức năng được chỉ định cho bạch cầu hạt rộng hơn:

    1. Tế bào lympho T – Cung cấp khả năng miễn dịch tế bào, tiêu diệt tế bào lạ và tế bào bệnh lý của mô cơ thể, chống lại virus và nấm, ảnh hưởng đến quá trình tạo máu và kiểm soát hoạt động của tế bào lympho B.
    2. Tế bào lympho B – hỗ trợ miễn dịch dịch thể, chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn và virus bằng cách tạo ra các protein kháng thể.
    3. Bạch cầu đơn nhân – Thực hiện chức năng của các tế bào thực bào tích cực nhất, điều này trở nên khả thi do số lượng lớn tế bào chất và lysosome (các bào quan chịu trách nhiệm tiêu hóa nội bào).

    Chỉ trong trường hợp có sự phối hợp nhịp nhàng và ăn ý của tất cả các loại bạch cầu thì mới có thể duy trì được sức khỏe của cơ thể.

    Bạch cầu với hồng cầu và tiểu cầu được hình thành bởi hệ thống miễn dịch tạo máu, chứa:

    • amidan;
    • tủy xương;
    • tuyến ức (tuyến ức);
    • hình thành bạch huyết trong ruột (các mảng của Peyer);
    • lách;
    • các hạch bạch huyết.

    Tủy xương là nơi chính để hình thành bạch cầu. Những tế bào này được sản xuất trong cơ thể với số lượng lớn, vì sau khi cơ thể bị phá hủy, chúng sẽ chết cùng với nó.

    Các cơ quan được phân phối trong các chất lỏng có nguồn gốc sinh học sau: trong huyết tương, trong nước tiểu (một lượng nhỏ ở người khỏe mạnh), trong dịch bôi trơn âm đạo của phụ nữ, v.v.

    Cấu trúc và cách chúng trông

    Hình dạng của bạch cầu là hình tròn hoặc hình bầu dục. Màu của chúng được coi là màu trắng, vì không có màu độc lập. Để nhìn thấy bạch cầu dưới kính hiển vi, vật liệu sinh học được nhuộm sẵn, mỗi loại cơ thể phản ứng với màu sắc theo cách riêng của nó.

    • bạch cầu hạt có dạng hạt;
    • bạch cầu hạt không có hạt.

    Cấu trúc đơn giản của bạch cầu được đặc trưng bởi sự hiện diện của nhân và tế bào chất, nhưng mỗi loại có các đặc điểm cấu trúc riêng:

    1. Bạch cầu trung tính. Tế bào chất là những hạt mịn có đường viền hẹp đồng nhất, chứa các sợi mảnh. Tế bào chất cũng chứa ti thể, các bào quan, phức hợp Golgi, bao gồm glycogen, lipid và lưới nội chất hạt. Nhân chứa chromantin dày đặc.
    2. Tăng bạch cầu ái toan. Nhân bao gồm dị nhiễm sắc. Tế bào chất chứa các hạt gồm hai loại:
      • hình bầu dục, kích thước 0,5-1,5 micron, chứa acid amin – arginin, enzym thủy phân;
      • tròn, kích thước 0,1-0,5 micron, chứa arylsulfatase và acid phosphatase.
    3. Ưa bazơ. Tế bào chất bao gồm các hạt ưa bazơ lớn tròn có đường kính 0,5-1,2 micron. Chúng chứa heparin glycosaminoglycan có tính axit và histamine. Hạt nhân chia thùy yếu, đôi khi hình cầu.

    Tế bào bạch huyết được đặc trưng bởi một nhân tròn có màu đậm và một vành nhỏ của tế bào chất, trong đó có một hàm lượng không đáng kể của ribosome và polysome. Nhân tròn với chất nhiễm sắc cô đặc dọc theo ngoại vi.

    Tùy thuộc vào đặc điểm cấu trúc và chức năng của tế bào, tuổi thọ của bạch cầu trong máu người có phạm vi sau: từ 2 đến 15 ngày. Ngoại lệ là các tế bào bạch huyết, chúng sống từ vài ngày đến vài năm, một số trong số chúng đi cùng với một người trong suốt cuộc đời.

    Là gì

    Trong xã hội y học đã hình thành cách phân loại bạch cầu theo đặc điểm hình thái và chức năng.

    1. Bạch cầu hạt là bạch cầu dạng hạt hoặc bạch cầu đa nhân trung tính.
    2. Agranulocytes không có hạt.

    Bạch cầu bao gồm các loại cơ thể như bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ưa bazơ, tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân, chúng khác nhau về chức năng:

    1. Bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng chiếm 50-70% tổng số bạch cầu, chúng chủ yếu tham gia vào quá trình tiêu diệt các phần tử có hại. Chúng tạo ra các keylone – chất để ngăn chặn sự tổng hợp DNA trong tế bào. Lần lượt, bạch cầu trung tính gồm 2 loại: phân đoạn (tế bào trưởng thành) và thể đâm (tế bào non với nhân kéo dài).
    2. Bạch cầu ái toan – cung cấp sự di chuyển đến vị trí bị tấn công, hấp thụ các tác nhân có hại, loại bỏ các biểu hiện dị ứng không cần thiết bằng cách ngăn chặn histamine với sự trợ giúp của enzyme histaminase.
    3. Basophils – “xe cứu thương” khi tiếp xúc với chất độc mô người, chất độc, hơi. Chúng tham gia vào quá trình đông máu.
    4. Tế bào bạch huyết. Nó là yếu tố chính của hệ thống miễn dịch. Nó kích hoạt một cuộc tấn công trả đũa chống lại vi khuẩn và vi rút hung hãn, lưu trữ thông tin về nó và khi bị tấn công lại, phản ứng thậm chí còn nhanh hơn, biến đổi thành nguyên bào lympho, khác nhau về tốc độ sinh sản. Sau đó các nguyên bào lympho biến thành tế bào tiêu diệt và loại bỏ hoàn toàn kẻ xâm nhập. Đây là cách miễn dịch được hình thành và hoạt động.
    5. Bạch cầu đơn nhân hấp thụ các nguyên tố đặc biệt lớn. Với sự giúp đỡ của họ, các mô bị viêm, tế bào chết và cơ thể của các tế bào bạch cầu chết được loại bỏ khỏi cơ thể thông qua nước tiểu và thải mủ. Bạch cầu đơn nhân được đặc trưng bởi hoạt động thực bào – khả năng liên kết, hấp thụ và tiêu hóa vi sinh và vi khuẩn.

    Bạch cầu làm gì

    Giá trị của bạch cầu và chức năng của chúng:

    1. Bảo vệ cơ thể khỏi tác hại của các tế bào lạ. Khi một mầm bệnh nhỏ xâm nhập vào máu, chúng sẽ hấp thụ và tiêu diệt nó. Nếu nguy hiểm lớn, thì số lượng bạch cầu tăng lên, nhóm của họ bắt kẻ thù và cũng tiêu diệt. Quá trình này được gọi là quá trình thực bào.
    2. Chức năng cầm máu – đảm bảo quá trình đông máu thông qua tổng hợp histamine và heprin – chất chống đông máu trực tiếp.
    3. Việc sản xuất kháng thể có nghĩa là các hợp chất protein hoạt tính của huyết tương được tạo ra để chống lại tác nhân gây bệnh, ngăn chặn sự nhân lên của vi sinh vật và trung hòa các chất độc hại mà chúng thải ra.
    4. Vận chuyển – các cơ quan tham gia vào việc chuyển các axit amin hấp thụ, các chất enzyme và các thành phần hoạt động đến các mô của các cơ quan, di chuyển qua các mạch máu.
    5. Tổng hợp – sự hình thành của histamine và heparin, điều chỉnh các quá trình sinh lý trong cơ thể (sản xuất dịch tụy, co thắt cơ, giảm huyết áp).
    6. Với sự phát triển của bệnh trong cơ thể, một quá trình như vậy xảy ra như sự di cư của bạch cầu, trong đó các tế bào bảo vệ rời khỏi mạch máu, đi qua thành của chúng và đi đến các mô bị bệnh, loại bỏ tổn thương. Đồng thời, sức chứa của các mạch tăng lên và kích hoạt hóa học – quá trình thu hút hóa chất của các tế bào đến các mô bị viêm. Tất cả điều này góp phần vào sự di chuyển chính xác của bạch cầu và tiêu diệt nhanh chóng các tế bào đối phương.

    Trong biểu mẫu với kết quả xét nghiệm máu, chỉ định chung của bạch cầu như sau: WBC – bạch cầu (bạch cầu), đơn vị đo của cơ thể là 10 đến 9 độ tế bào / l. Đối với một nghiên cứu chi tiết về công thức bạch cầu, sự phân biệt của các chỉ số theo loại tế bào được sử dụng, được biểu thị bằng phần trăm. Thường nó được xem xét cùng với các chỉ số về thể tích trung bình của hồng cầu (được ký hiệu là MCV – thể tích tiểu thể trung bình).

    Định mức máu và độ lệch

    Ở người lớn và trẻ em, các chỉ số về bạch cầu trong máu liên tục thay đổi tùy theo thể trạng của mỗi người. Nhưng có những giới hạn cho phép đối với nồng độ của chúng – từ 4 đến 9×10 đến năng lượng thứ 9 của tế bào / l, bất kỳ biến động nào trong các giá trị đều cho thấy một số thay đổi đang diễn ra trong cơ thể.

    Số lượng tế bào trong máu giảm cho thấy sự suy giảm khả năng phòng vệ của cơ thể, hệ thống miễn dịch hoặc tạo máu bị trục trặc. Số lượng cơ thể da trắng thấp được gọi là giảm bạch cầu, có chức năng và hữu cơ.

    Chức năng xảy ra với các yếu tố sau:

    • kiệt sức, thiếu dinh dưỡng, chuyển sang chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt;
    • bị đánh bại bởi một căn bệnh do virus;
    • suy nhược cơ thể, ở trong trạng thái phản vệ;
    • dùng thuốc giảm đau và thuốc kháng vi-rút;
    • tác động ion hóa của các thiết bị y tế (tia X).

    Hữu cơ báo hiệu sự phát triển của các điều kiện đe dọa tính mạng sau đây:

    • bệnh bạch cầu cấp tính – ung thư máu;
    • thiếu máu bất sản là vi phạm quá trình tạo máu.

    Một trường hợp số lượng bạch cầu tăng cao được gọi là tăng bạch cầu. Có 3 loại của nó:

    • Tái phân bố – không có mối liên hệ với bệnh lý, phát sinh từ các tác động bên ngoài lên cơ thể, bao gồm:
    • ảnh hưởng của rượu hoặc ma tuý;
    • tiêu thụ nước tăng lực;
    • do kết quả của một cuộc phẫu thuật;
  • Phản ứng – xuất hiện do kết quả của các quá trình bệnh lý trong cơ thể, bao gồm:
    • ngộ độc, nhiễm độc;
    • viêm nhiễm;
    • tiếp xúc với nhiễm trùng hoặc vi khuẩn.
  • Kháng – đặc trưng bởi tỷ lệ cao (khoảng 80×10 9 tế bào / l) và cho thấy sự hiện diện của ung thư.
  • Các chỉ số nhảy vọt có thể được quan sát khi không có bệnh. Lý do cho những thay đổi là:

    • thai kỳ;
    • tuổi dậy thì;
    • dùng thuốc nội tiết tố;
    • căng thẳng, trầm cảm;
    • cảm xúc tích cực tươi sáng;
    • khí hậu thay đổi;
    • thay đổi bản chất của thực phẩm.

    Để kết quả phân tích chính xác, phải tuân thủ các quy tắc sau:

    1. Không uống rượu hoặc ma túy 72 giờ trước khi đến bệnh viện.
    2. Không ăn đồ ngọt, béo, đồ hun khói trước khi hiến máu 12 giờ.
    3. Không hút thuốc vào ban ngày.
    4. Không hiến máu nếu bạn cảm thấy không khỏe và yếu.

    Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ phải chỉ định xét nghiệm máu chi tiết, trong đó nồng độ bạch cầu sẽ được mô tả cho từng loại. Đặc tính của bạch cầu theo số lượng và tỷ lệ của chúng được chỉ ra ở dạng hoặc công thức bạch cầu. Trong nghiên cứu của mình, một chuyên gia chú ý đến chỉ số dịch chuyển – một phân tích về tỷ lệ nhân trưởng thành và nhân chưa trưởng thành để xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh:

    • nặng – 1,0 và cao hơn;
    • trung bình – 0,3-1,0;
    • ánh sáng – không quá 0,3.

    Tăng nồng độ bạch cầu là một chống chỉ định cho một số thủ thuật: phẫu thuật, nội soi tử cung, nội soi ổ bụng, v.v.

    Các vấn đề trong hệ thống tạo máu được biểu thị bằng tình trạng tăng tế bào lympho – một mức độ gia tăng của tế bào lympho, thường chiếm 19-37% tổng số bạch cầu. Nó có 2 loại:

    1. Quan hệ. Tổng số bạch cầu vẫn bình thường.
    2. Tuyệt đối. Bạch cầu và tế bào lympho tăng.

    Sự phát triển của lymphocytosis cho thấy sự hiện diện của vi rút trong cơ thể (cúm, AIDS, herpes, rubella, thủy đậu) hoặc một khối u ung thư.

    Làm thế nào để điều trị

    Sự sai lệch so với tiêu chuẩn của nồng độ bạch cầu trong máu cao hơn và thấp hơn cho thấy quá trình bệnh lý trong cơ thể con người. Các bệnh nguy hiểm nhất gây ra những bất thường này là bệnh bạch cầu và thiếu máu bất sản.

    1. Hóa trị là việc đưa thuốc vào tĩnh mạch, uống hoặc vào dịch não tủy (có trường hợp sử dụng cả 3 phương pháp cùng lúc).
    2. Xạ trị là một phương pháp điều trị bằng bức xạ ion hóa.
    3. Liệu pháp nhắm mục tiêu – xác định các tế bào ung thư và tiêu diệt chúng mà không gây hại cho các tế bào khỏe mạnh.

    Nguyên tắc điều trị thiếu máu bất sản:

    1. Liệu pháp ức chế miễn dịch – bao gồm sử dụng immunoglobulin và cyclosporin A. Như một biện pháp hỗ trợ bổ sung, truyền tiểu cầu và hồng cầu được sử dụng.
    2. Ghép tủy xương đồng loại cho tiên lượng thuận lợi nhất, nhưng khả năng tiến hành thủ thuật bị giảm do khó chọn người hiến tương thích miễn dịch với bệnh nhân.

    Liên hệ với

    Bạch cầu hay bạch cầu, không giống như hồng cầu, có nhân và các yếu tố cấu trúc khác đặc trưng của tế bào. Kích thước từ 7,5 đến 20 micron.

    Đối với bạch cầu, một chuyển động giống như amip là đặc trưng. Chúng có thể rời khỏi dòng máu (tốc độ di chuyển của chúng là 40 μm / phút). Sự giải phóng bạch cầu qua nội mô của các mao mạch được gọi là sự xuyên mạch… Sau khi rời khỏi tàu, chúng được gửi đến nơi có yếu tố ngoại lai, tâm điểm của chứng viêm, sản phẩm của sự phân hủy mô ( hóa chất điều trị tích cực). Hóa chất điều trị tiêu cực – Đây là hướng di chuyển của bạch cầu từ nơi đưa yếu tố gây bệnh vào.

    Chức năng bạch cầu:

    · Bảo vệ(tham gia cung cấp sức đề kháng không đặc hiệu và tạo miễn dịch dịch thể và tế bào).

    · Trao đổi chất (Đi vào lòng ống tiêu hóa, thu giữ các chất dinh dưỡng ở đó và chuyển chúng vào máu. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc duy trì khả năng miễn dịch ở trẻ sơ sinh trong quá trình bú sữa do chuyển các globulin miễn dịch không thay đổi từ sữa mẹ vào máu).

    · Lịch sử – ly giải (hòa tan) các mô bị hư hỏng;

    · Di truyền hình thái – phá hủy các vết chết khác nhau trong quá trình phát triển phôi thai.

    Chức năng của một số loại bạch cầu:

    1. Không hạt (bạch cầu hạt):

    và) bạch cầu đơn nhân – 2-10% tổng số bạch cầu (đại thực bào). Tế bào máu lớn nhất. Có hoạt tính diệt khuẩn. Xuất hiện ở tổn thương sau bạch cầu trung tính. Hoạt động tối đa của chúng được thể hiện trong môi trường axit. Trong các mô, bạch cầu đơn nhân, sau khi trưởng thành, biến thành tế bào bất động – tế bào mô (đại thực bào mô).

    Trọng tâm của quá trình thực bào viêm:

    · Vi sinh vật.

    · Bạch cầu chết.

    · Tế bào mô bị hư hỏng.

    Do đó, chúng làm sạch vết thương. Đây là một loại “cần gạt nước”.

    b) tế bào bạch huyết – 20-40% tổng số bạch cầu.

    Không giống như các dạng bạch cầu khác, sau khi rời khỏi mạch, chúng không quay trở lại và không sống trong vài ngày, giống như các loại bạch cầu khác mà từ 20 năm trở lên.

    Tế bào bạch huyết là trung tâm của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Cung cấp hằng số di truyền của môi trường bên trong, nhận biết “của họ” và “của người khác”.

    Họ thực hiện:

    · Tổng hợp các kháng thể.

    · Ly giải các tế bào lạ.

    · Cung cấp phản ứng từ chối mảnh ghép.

    · Trí nhớ miễn dịch.

    · Tiêu diệt các tế bào đột biến của chính chúng.

    · Trạng thái nhạy cảm.

    Phân biệt:

    T – tế bào lympho(cung cấp khả năng miễn dịch tế bào):

    a) T – người trợ giúp.

    b) T – bộ triệt tiêu.

    c) T – kẻ giết người.

    d) T – bộ khuếch đại (máy gia tốc).

    e) Trí nhớ miễn dịch.

    Tế bào lympho B(cung cấp miễn dịch dịch thể). Có thông tin về sự tồn tại của quần thể tế bào lympho B:

    a) Tế bào huyết tương;

    b) Kẻ giết người B;

    c) Người giúp việc B;

    d) Bộ triệt tiêu B;

    e) Tế bào trí nhớ miễn dịch.

    Tế bào bạch huyết được hình thành từ một tế bào gốc chung. Sự phân biệt của tế bào lympho T xảy ra ở tuyến ức và tế bào lympho B – trong tủy xương đỏ, các mảng Peyer của ruột, amidan, hạch bạch huyết, ruột thừa.

    Không tế bào lympho(không phải tế bào lympho T hay B) Chúng chiếm 10 – 20% tế bào lympho. Chúng được cho là có thể chuyển đổi thành tế bào lympho B hoặc T. Chúng bao gồm các tế bào lympho 0 (không), được gọi là những kẻ giết người tự nhiên hoặc tế bào lympho NK. Họ là những nhà sản xuất protein có khả năng “đục lỗ” trong màng tế bào lạ, chúng được đặt tên là perforin… Dưới ảnh hưởng của các enzym xâm nhập qua các lỗ như vậy vào tế bào, sự phá hủy của nó xảy ra.

    Bạch cầu hạt:

    và) bạch cầu trung tính – nhóm bạch cầu lớn nhất (50-70% tổng số bạch cầu). Hạt của chúng chứa các chất có hoạt tính diệt khuẩn cao (lysozyme, myeloperoxidase, collagenase, cation protein, defensins, lactoferrin, v.v.). Chúng là chất mang các thụ thể IgG, protein bổ thể, cytokine. Khoảng 1% tổng số bạch cầu trung tính lưu hành trong máu. Phần còn lại là vải. Chúng xuất hiện đầu tiên trong tâm điểm của quá trình viêm nhiễm, thực bào và tiêu diệt các tác nhân gây hại. 1 bạch cầu trung tính có khả năng thực bào 20-30 vi khuẩn. Chúng tạo ra interferon, IL-6, các yếu tố điều hòa hóa học. Hoạt động của chúng được tăng cường bởi bổ thể (một hệ thống các protein có tác dụng ly giải và tăng cường khả năng thực bào).

    b) Bạch cầu ái toan – 1-5% tổng số bạch cầu (nhuộm eosin). Chúng ở trong máu vài giờ, sau đó di chuyển vào các mô, nơi chúng bị tiêu diệt.

    Các chức năng của bạch cầu ái toan:

    · Thực bào.

    · Trung hòa chất độc protein.

    · Phá hủy các protein lạ và phức hợp kháng nguyên-kháng thể.

    · Sản xuất histaminase.

    tại) Bạch cầu ái kiềm – 0-1% tất cả các loại bạch cầu. Sản xuất histamine và heparin (cùng với tế bào mast, chúng được gọi là tế bào gan). Heparin ngăn cản quá trình đông máu, histamine làm giãn nở mao mạch, thúc đẩy quá trình tái hấp thu và làm lành vết thương. Chúng chứa yếu tố kích hoạt tiểu cầu (PAF), thromboxan, prostaglandin, leukotrienes và yếu tố điều hòa hóa học bạch cầu ái toan. Basophil là những người mang thụ thể IgE, có vai trò thiết yếu trong quá trình phân hủy tế bào, giải phóng histamine và biểu hiện của các phản ứng dị ứng (nổi mề đay, hen phế quản, sốc phản vệ, v.v.).

    Bạch cầu hạt có khả năng nhận năng lượng do quá trình đường phân kỵ khí, do đó có thể thực hiện chức năng của chúng trong các mô nghèo O 2 (viêm, phù nề, cung cấp máu kém).

    Các enzym lysosome giải phóng bạch cầu trung tính khi bị phá hủy gây ra sự mềm mô và hình thành ổ mủ (áp xe). Mủ là bạch cầu trung tính đã chết và tàn tích của chúng.

    Metamyelocytes (trẻ ) – 0-1% của tất cả các loại bạch cầu. Chúng sống từ vài ngày đến một tuần.

    Tế bào tủy-(0%).

    Công thức bạch cầu – tỷ lệ phần trăm của tất cả các dạng bạch cầu (Bảng 3).

    Bàn số 3.

    Công thức bạch cầu (%)

    Tăng ở dạng trẻ (bạch cầu trung tính không phân mảnh) – thay đổi qua bên trái… Nó được ghi nhận trong bệnh bạch cầu, các bệnh truyền nhiễm và viêm nhiễm. Sự giảm số lượng dạng không phân được gọi là sự thay đổi công thức bạch cầu. rẽ phải, cho thấy sự xuất hiện trong máu của các dạng bạch cầu cũ và sự suy yếu của quá trình tạo bạch cầu.

    Để đánh giá cường độ tạo bạch cầu, hãy tính chỉ số tái tạo(IR).

    Nó được tính toán:

    Thông thường, IR u003d 0,05 – 0,1. Trong quá trình viêm nghiêm trọng, nó tăng lên 1 – 2. Đây là một chỉ số về mức độ nghiêm trọng của bệnh và phản ứng của cơ thể đối với yếu tố gây bệnh, cũng như hiệu quả của điều trị.

    Ngoài công thức bạch cầu, đôi khi hàm lượng tuyệt đối của từng loại bạch cầu ( hồ sơ bạch cầu).

    Số lượng bạch cầu bình thường: 4-9 x 10 9 / l (Giga / l).

    Khoảng 40-50 năm trước, giới hạn dưới được coi là 6 x 10 9 / l. Bây giờ biên giới này là 4 x 10 9 / l. Điều này là do quá trình đô thị hóa, với sự gia tăng phóng xạ nền và việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc khác nhau.

    Sự gia tăng số lượng bạch cầu được gọi là tăng bạch cầu… Có các loại tăng bạch cầu sau:

    Sinh lý họchoặc là phân phối lại… Nó được gây ra bởi sự phân bố lại bạch cầu giữa các mạch của các cơ quan khác nhau. Các loại tăng bạch cầu sinh lý bao gồm:

    · Tiêu hóa… Sau khi ăn, do sự xâm nhập của bạch cầu vào vòng tuần hoàn từ kho máu. Chúng đặc biệt có nhiều ở lớp dưới niêm mạc của ruột, nơi chúng thực hiện chức năng bảo vệ.

    · Gây dị ứng. Dưới tác động của công việc nặng nhọc về cơ bắp, số lượng bạch cầu tăng gấp 3 – 5 lần. Nó có thể vừa phân phối lại vừa đúng do tăng tạo bạch cầu.

    · có thai… Tăng bạch cầu chủ yếu có tính chất cục bộ (ở lớp dưới niêm mạc tử cung). Ý nghĩa của nó nằm trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng xâm nhập vào cơ thể người phụ nữ chuyển dạ, cũng như kích thích chức năng co bóp của tử cung.

    · Sơ sinh(chức năng trao đổi chất).

    · Trong trường hợp ảnh hưởng đau đớn.

    · Với những ảnh hưởng cảm xúc.

    Bệnh lý( phản ứng) tăng sản phản ứng (phản ứng) do nhiễm trùng, các quá trình sinh mủ, viêm nhiễm, nhiễm trùng và dị ứng.

    Trong các bệnh truyền nhiễm cấp tính, hiện tượng tăng bạch cầu đa nhân trung tính xảy ra đầu tiên. Sau đó là giai đoạn monocytosis (dấu hiệu chiến thắng của sinh vật), sau đó là giai đoạn thanh lọc (tế bào lympho, bạch cầu ái toan). Nhiễm trùng mãn tính đi kèm với tăng lympho bào.

    Bệnh bạch cầu – tăng sinh ác tính không kiểm soát của bạch cầu. Bạch cầu trong những trường hợp này biệt hóa kém và không thực hiện được chức năng sinh lý của chúng.

    Giảm bạch cầu(số lượng bạch cầu dưới 4 x 10 9 / l). Có thể có sự giảm đồng đều ở tất cả các hình thức hoặc chủ yếu là các hình thức riêng lẻ. Nó xảy ra do nhiều lý do:

    · Sự tích tụ của bạch cầu trong các mao mạch giãn nở của phổi, gan, ruột khi truyền máu hoặc sốc phản vệ (giảm bạch cầu tái phân bố).

    · Phá hủy chuyên sâu các bạch cầu (với các quá trình viêm mủ rộng rãi). Các sản phẩm phân hủy của bạch cầu kích thích tạo bạch cầu, nhưng theo thời gian, nó trở nên không đủ để bù đắp cho lượng bạch cầu đã mất.

    · Ức chế tạo bạch cầu – (bệnh bạch cầu cấp tính, bức xạ, tự dị ứng, di căn của khối u ác tính trong tủy xương).

    · Giảm bạch cầu không do nhiễm trùng. Khi tiếp xúc với một yếu tố bức xạ (bị bệnh bức xạ, số lượng bạch cầu giảm xuống 0,5 x 10 9 / l), khi sử dụng một số dược chất.

    Tuổi thọ của các dạng bạch cầu khác nhau (từ 2-3 ngày đến 2-3 tuần). Tế bào lympho tồn tại lâu (tế bào của trí nhớ miễn dịch) sống trong nhiều thập kỷ.

    Các chức năng chung của bạch cầu là:

    1. Bảo vệ. Nó nằm ở chỗ chúng tham gia vào việc hình thành các miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu. Các cơ chế chính của miễn dịch cơ bản là:

    1.1. thực bào, tức là khả năng bắt giữ các tế bào trắng trong tế bào chất, thủy phân hoặc tước đi các điều kiện sống của vi sinh vật. Học thuyết về hoạt động thực bào của bạch cầu, có tầm quan trọng to lớn trong việc bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, đã được nhà khoa học lỗi lạc II Mechnikov người Nga thể hiện;

    1.2. sản xuất các kháng thể đặc hiệu;

    1.3. sự hình thành các chất chống độc, bao gồm interferon, tham gia vào việc hình thành miễn dịch không đặc hiệu.

    2. Vận chuyển. Nó nằm ở chỗ, bạch cầu có thể hấp phụ trên bề mặt của chúng một số chất có trong huyết tương, ví dụ, axit amin, enzym, v.v., và vận chuyển chúng đến nơi sử dụng.

    3. Tổng hợp. Nó thể hiện ở chỗ một số tế bào trắng tổng hợp các hoạt chất sinh học cần thiết cho sự sống (heparin, histamine, v.v.).

    4. Cầm máu. Bạch cầu tham gia vào quá trình đông máu, giải phóng thromboplastins bạch cầu.

    5. Vệ sinh. Bạch cầu tham gia vào quá trình hấp thu các mô chết trong các chấn thương khác nhau do chúng chứa một số lượng lớn các enzym khác nhau có thể thủy phân nhiều chất (protease, nuclease, glycosidase, lipase, phosphorylase khu trú trong lysosome). Khả năng thủy phân tất cả các lớp đại phân tử của các enzym lysosome là cơ sở để kết luận rằng các bào quan này là nơi tiêu hóa nội bào.

    Các loại bạch cầu

    Tùy thuộc vào cấu trúc (sự hiện diện của hạt trong tế bào chất), bạch cầu được chia thành hai nhóm: có hạt (bạch cầu hạt) và không hạt (bạch cầu hạt).

    ĐẾN sần sùi Có ba nhóm bạch cầu:

    1. Bạch cầu trung tính hoặc bạch cầu đa nhân trung tính… Các hạt của tế bào chất của bạch cầu thuộc nhóm này có màu không phải với bazơ, mà có màu axit. Hạt rất mịn và mịn. Đây là những tế bào hình tròn có đường kính 10-12 micron. Ba nhóm bạch cầu được phân biệt theo tuổi: non, đâm và phân đoạn, có 3-5 phân đoạn. Bạch cầu trung tính thực hiện các chức năng sau:

    1.1. Có tính bảo vệ, trong đó bạch cầu trung tính là vi đại bào có thể bắt vi sinh vật. Ngoài ra, bạch cầu trung tính tạo ra các chất như interferon (protein được tạo ra khi vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, bao gồm cả vi rút có tác dụng tiêu diệt chúng), các yếu tố chống độc, các chất tăng cường hoạt động thực bào, … Số phận của vi sinh vật xâm nhập vào bạch cầu trung tính phụ thuộc vào việc diệt khuẩn. hệ thống, có thể có hai loại: a) enzym – chúng bao gồm lysozyme, bao gồm lysozyme enzym, có thể có tác động bất lợi đối với vi sinh vật; lactoferrinic – có khả năng phân cắt sắt từ các enzym của vi sinh vật và làm mất khả năng sống của chúng; peroxidase, có khả năng gây ra quá trình oxy hóa, kết quả là vi sinh vật chết; b) một hệ thống diệt khuẩn không dùng enzim, được đại diện bởi các protein cation, có khả năng làm tăng tính thấm của màng vi sinh vật, bị hấp phụ trên bề mặt của nó, kết quả là chất của chúng được đổ vào môi trường và chúng chết. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng không phải tất cả các vi sinh vật đều nhạy cảm với hoạt động của hệ thống diệt khuẩn (ví dụ, mầm bệnh của bệnh lao, bệnh than).

    1.2. Bạch cầu trung tính cũng có chức năng vận chuyển, bao gồm thực tế là bạch cầu trung tính có thể hấp thụ một số chất có trong huyết tương trên bề mặt của chúng và vận chuyển chúng đến nơi sử dụng (axit amin, enzym, v.v.).

    2. Bạch cầu ưa bazơ hoặc bạch cầu ưa bazơ. Các hạt đa hình của tế bào chất của chúng được nhuộm màu xanh lam với các màu cơ bản. Kích thước Basophil từ 8 đến 10 micron. Nhân basophil có hình hạt đậu. Basophils thực hiện các chức năng sau:

    2.1. Bảo vệ. Chúng thực bào và tạo ra một số chất chống độc.

    2.2. Vận chuyển. Trên bề mặt của chúng, có nhiều thụ thể đặc hiệu liên kết với một số protein, do đó các phức hợp miễn dịch được hình thành ở đó.

    3. Bạch cầu ái toan hoặc bạch cầu ái toan, có hạt đơn hình lớn trong tế bào chất, có khả năng nhuộm đỏ bằng thuốc nhuộm axit (dâu tằm). Những tế bào này có hình tròn, đường kính 10-12 micron, theo quy luật, nhân bao gồm hai phân đoạn. Bạch cầu ái toan có các chức năng sau:

    3.1. Bảo vệ: sản xuất các chất chống độc và khả năng thực bào.

    3.2. Tổng hợp – sản xuất các chất hoạt tính sinh học (histaminase, v.v.).

    3.3. Vận chuyển.

    Tuổi thọ của bạch cầu dạng hạt từ 5 đến 12 ngày, chúng được hình thành trong tủy xương đỏ. Quá trình hình thành chúng được gọi là tạo hạt, diễn ra trong các tế bào của tủy xương đỏ và bắt đầu từ tế bào mẹ (gốc). Tiếp theo là tế bào tiền thân, sau đó là tế bào nhạy cảm với leukopoietin, tế bào này được tác động bởi một hormone cụ thể -inducer-leukopoietin và chỉ đạo sự phát triển của tế bào dọc theo đường trắng (bạch cầu). Tế bào tiếp theo là nguyên bào tủy, sau đó là tế bào promyelocyte, sau đó là tủy bào, dạng bạch cầu non (metamyelocyte), bạch cầu dạng đâm và phân đoạn.

    Bạch cầu không hạt (bạch cầu hạt). Chúng bao gồm tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.

    Bạch cầu đơn nhân – Tế bào lớn hình tròn, đường kính tới 20 micron, có nhân lớn hình hạt đậu. Tuổi thọ của bạch cầu đơn nhân là từ vài giờ đến 2 ngày. Bạch cầu đơn nhân thực hiện chức năng bảo vệ và vận chuyển. Chức năng bảo vệ được thể hiện ở chỗ các bạch cầu đơn nhân có khả năng thực bào (đại thực bào) và sản xuất kháng thể.

    Trải qua nhiều giờ trong gian bào, bạch cầu đơn nhân tăng kích thước và trở thành đại thực bào, có khả năng di chuyển nhanh hơn và tăng hoạt động thực bào (bắt giữ 100 vi sinh vật trở lên). Người ta đã chứng minh rằng nếu bạch cầu trung tính đóng vai trò chính trong việc chống lại các bệnh nhiễm trùng cấp tính thì bạch cầu đơn nhân lại có tầm quan trọng lớn trong các bệnh truyền nhiễm mãn tính. Ngoài việc sản xuất kháng thể, bạch cầu đơn nhân còn tham gia vào quá trình tổng hợp các chất miễn dịch không đặc hiệu như interferon, lysozyme, … Bạch cầu đơn nhân được hình thành trong tế bào của tủy xương đỏ từ một tế bào gốc (monopoiesis), tiến trình như sau: tế bào gốc, tế bào nhạy cảm với leukopoietin, trên đó có tác dụng cảm ứng hormone , monoblast, promonocyte, monocyte.

    Tế bào bạch huyết… Chúng có hình tròn, đường kính 8-10 micron, nhưng có thể lớn. Tế bào lympho có nhân tròn nhỏ gọn, thực tế không có tế bào chất nên không có hoạt động thực bào. Chức năng chính của tế bào lympho là bảo vệ. Đây là những tế bào có đủ năng lực miễn dịch tham gia vào quá trình hình thành miễn dịch đặc hiệu, thường được gọi là “binh lính” của mặt trận miễn dịch. Có 3 loại tế bào lympho: tế bào lympho T (60%), tế bào lympho B (30%), tế bào lympho O (10%). Sự tồn tại của hai hệ thống bảo vệ của tế bào lympho, mang các chức năng miễn dịch khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của các thụ thể màng, đã được thiết lập. Hệ thống tế bào lympho B được đại diện bởi các tế bào lympho B, được hình thành ở động vật trong khối, và ở người trong tủy xương đỏ. Các tế bào này rời khỏi tủy xương và định cư trong mô lympho ngoại vi (các mảng Peyer của ruột, amidan), trải qua quá trình biệt hóa sâu hơn. Hệ thống tế bào lympho B chuyên sản xuất các kháng thể và hình thành khả năng miễn dịch dịch thể của máu. Kháng thể hay globulin miễn dịch là những protein được tổng hợp trong cơ thể khi có sự hiện diện của các chất lạ – kháng nguyên, có thể là protein, polysaccharid và axit nucleic. Các kháng thể thể hiện tính đặc hiệu cho một vùng cụ thể của phân tử kháng nguyên, vùng này được gọi là yếu tố quyết định kháng nguyên.

    Là một phần của khóa học giải phẫu, học sinh phải được cho biết nơi hình thành bạch cầu ở người. Tuy nhiên, thông tin không phải là bí mật nên bất cứ ai quan tâm cũng có thể tìm hiểu sự thật thú vị này. Chúng ta hãy xem xét những tế bào này là gì, chúng khác nhau như thế nào và tất nhiên, chúng được hình thành ở đâu.

    Chúng cần thiết để làm gì?

    Trước khi tìm hiểu nơi hình thành bạch cầu ở một người, bạn nên hiểu bản chất của hiện tượng: loại tế bào này được gọi bằng cái tên nào? Các bác sĩ nói rằng yếu tố máu này là một trong những yếu tố quan trọng nhất, vì nó tạo thành một hàng rào có thể bảo vệ cơ thể khỏi tác động tiêu cực của các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn. Nếu một người bị bệnh, anh ta ngay lập tức được giới thiệu đến xét nghiệm máu để xác định mức độ bạch cầu – thông tin này sẽ cho phép bạn có được bức tranh toàn cảnh về những gì đang xảy ra trong cơ thể.

    Tế bào bạch cầu (bạch cầu) giúp chẩn đoán sơ bộ chính xác, cũng như tìm ra những nghiên cứu bổ sung cần thiết. Nếu số lượng tế bào bất thường, nó có khả năng là một bệnh nghiêm trọng. Vì bác sĩ biết nơi hình thành bạch cầu và có bao nhiêu bạch cầu sống, nên ông có thể biết được trên cơ sở nồng độ của các yếu tố này trong hệ tuần hoàn là bệnh đang bắt đầu hay đang ở giai đoạn hoạt động. Bác sĩ sẽ giải thích chi tiết những gì cần làm để đánh bại bệnh lý.

    Erythrocytes, bạch cầu và tiểu cầu là những yếu tố quan trọng được hình thành bởi hệ thống tạo máu. Sự gián đoạn trong các hoạt động của cô ấy được coi là vấn đề rất nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân. Không có gì ngạc nhiên khi các tế bào máu hình thành các cơ quan quan trọng:

    Bản thân bạch cầu có thể tạo ra các hợp chất hoạt động – kháng thể có thể chống lại các chất trung gian gây viêm. Quá trình xuất hiện của các tế bào trong y học được gọi là quá trình tạo bạch cầu. Phần trăm lớn nhất được hình thành trong tủy xương. Thời gian tồn tại của một bạch cầu lên đến 12 ngày.

    Nồng độ trong máu

    Nếu chỉ số nằm ngoài tiêu chuẩn, điều này không có nghĩa là hoạt động của cơ quan nơi hình thành bạch cầu bị gián đoạn. Khả năng xảy ra sai sót là không ít: ví dụ, một sai sót có thể xảy ra trong phòng thí nghiệm, dẫn đến kết quả không chính xác. Nếu bạn nghi ngờ giảm bạch cầu, tăng bạch cầu, nên thực hiện một nghiên cứu toàn diện. Chỉ khi tất cả các giai đoạn của nó xác nhận chẩn đoán sơ bộ, việc điều trị bắt đầu. Đầu tiên, bệnh nhân sẽ được gửi đi phân tích tổng quát lần thứ hai, sau đó bác sĩ sẽ đưa ra quyết định dựa trên kết quả. Trong một số trường hợp, đã dựa trên những dữ liệu này, bạn có thể chọn một liệu trình điều trị.

    Số của tôi cho bạn là gì?

    Để điều hướng những gì đang xảy ra trong cơ thể, tại buổi tiếp nhận, điều quan trọng không chỉ là hỏi bác sĩ về nơi hình thành và nơi chúng bị phá hủy, các chỉ số tiêu chuẩn cho các tế bào này hiện đang được phân bổ mà còn phải làm rõ những con số thu được trong phòng thí nghiệm và nó dùng để làm gì. Có thể chỉ ra. Bác sĩ có nghĩa vụ giải thích dễ hiểu cho người bệnh rằng các chỉ số định lượng thu được cho phép người ta nghi ngờ.

    Nếu hoạt động của các cơ quan nơi bạch cầu được hình thành hoạt động mạnh hơn (yếu hơn) so với mức bình thường, và các chỉ số máu gần đến mức quan trọng thì cần thay đổi thực đơn và lối sống. Để bình thường hóa thành phần của máu, bạn cần phải thường xuyên tích cực vận động. Nếu không sẽ không thể tránh khỏi những căn bệnh hiểm nghèo.

    Làm sao họ biết được?

    Các bác sĩ biết chính xác nơi các tế bào bạch cầu được hình thành. Ví dụ, gan là nguồn gốc của một loại tế bào này – bạch cầu đơn nhân. Trong quá trình phân tích, bác sĩ sẽ nhận được thông tin về tỷ lệ của các loại nguyên tố khác nhau của hệ tuần hoàn. Trong phòng thí nghiệm, những dữ liệu này được thu thập bằng máy ảnh Goryaev. Đây là một thiết bị quang học có độ chính xác cao tự động tính toán nồng độ của các nguyên tố xác định. Sai số thấp, độ chính xác cao.

    Nhìn bề ngoài, thiết bị trông giống như một tấm kính hình chữ nhật đơn giản, nhưng một tấm lưới siêu nhỏ được áp dụng cho nó.

    Tính năng phân tích

    Cần phải chú ý đến hoạt động của các cơ quan nơi bạch cầu được hình thành, nếu, theo kết quả của một nghiên cứu được tiến hành chính xác, các chỉ số nằm ngoài giới hạn bình thường. Nhưng “đúng” nghĩa là gì? Để hiểu được điều này, cần hiểu rõ về chính quy trình.

    Đầu tiên, người ta đổ axit axetic vào một ống nghiệm, màu của ống nghiệm đã bị thay đổi do xanh metylen. Nhỏ một giọt máu của bệnh nhân vào thuốc thử và trộn đều, lau buồng, kính bằng gạc sạch, xoa kính vào buồng và chờ tạo thành các vòng nhiều màu. Buồng chứa đầy huyết tương. Thời gian chờ đợi là một phút. Sau khoảng thời gian này, các tế bào ngừng chuyển động. Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm sử dụng một công thức đặc biệt để tính toán chính xác các số liệu.

    Tại sao cần có bạch cầu?

    Các tế bào này được hình thành ở đâu thì đã được chỉ ra ở trên, cơ quan chịu trách nhiệm chính là tủy xương. Nhưng tại sao chúng lại cần thiết? Khoa học đã đặt câu hỏi này từ rất lâu và đã tìm ra câu trả lời thấu đáo cho nó. Tất nhiên, các nhà khoa học cho rằng một số chức năng của bạch cầu vẫn chưa được khám phá, nhưng ngày nay nhân loại có một cơ sở dữ liệu ấn tượng về khả năng của tế bào.

    Các cơ quan nơi bạch cầu được hình thành chịu trách nhiệm về khả năng miễn dịch, vì các tế bào máu mà chúng tạo ra là những người bảo vệ chính của cơ thể chúng ta. Tương tự, chúng cung cấp cho một người sự bảo vệ miễn dịch cụ thể và không đặc hiệu. Một trong những khái niệm quan trọng trong hoạt động của một hệ thống như vậy là thực bào, tức là cơ thể máu bắt giữ các tác nhân có khả năng gây nguy hiểm cho con người. Ngoài ra, trong quá trình thực bào, các tế bào của hệ thống miễn dịch có thể tiêu diệt ngay các phần tử thù địch.

    Còn gì nữa?

    Bạch cầu cũng là chất vận chuyển, nhờ đó xảy ra quá trình hấp phụ các axit amin, các thành phần hoạt tính, các chất enzym và các tế bào khác quan trọng đối với các mô cơ thể. Bạch cầu nhận những chất này và đưa chúng đến các mô cần chúng, di chuyển qua mạch máu.

    Bạch cầu cung cấp quá trình đông máu. Chức năng này đã được đặt tên là “cầm máu”. Vệ sinh cũng không kém phần quan trọng – bạch cầu có thể phá vỡ các tế bào, các mô hữu cơ đã chết đi dưới tác động của nhiễm trùng, chấn thương, tổn thương của các loại khác.

    Bạn cần tìm gì

    Một trong những chức năng quan trọng của bạch cầu là tổng hợp. Điều này có nghĩa là nhờ các tế bào máu đó mà một số thành phần cần thiết cho hoạt động bình thường của cơ thể con người được hình thành. Chúng ta đang nói về histamine, heparin.

    Có một số loại bạch cầu trong cơ thể con người. Mỗi người trong số họ có chức năng cụ thể, đặc điểm cấu tạo. Việc phân chia thành các nhóm không chỉ dựa trên thời gian tồn tại của các tế bào mà còn dựa trên các cơ quan sản sinh ra một loại cụ thể.

    Cái gì được phân bổ?

    Có những bạch cầu dạng hạt (nơi chúng được hình thành, các bác sĩ đã thành lập từ rất lâu trước đây – trong tủy xương) – chúng được gọi là bạch cầu hạt. Tên gọi là do tính đặc thù của cấu trúc của tế bào chất. Nhóm thứ hai là bạch cầu hạt, tức là chúng không có hạt. Các tế bào như vậy được hình thành trong tủy xương và trong các cơ quan khác được liệt kê ở trên – lá lách, hệ thống bạch huyết.

    Bạch cầu hạt tồn tại đến 30 giờ, nhưng bạch cầu hạt – lên đến ba tuần (nhưng không dưới 40 giờ ở một người khỏe mạnh). Việc phân chia thành các nhóm này giúp đơn giản hóa việc chẩn đoán dựa trên các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm.

    Bạch cầu trung tính

    Từ một nửa đến 70% tổng khối lượng bạch cầu được cấu tạo từ loại tế bào đặc biệt này. Chúng được tạo ra bởi tủy xương và thuộc lớp thực bào. Có hai loại phân tử: với nhân hình que (chưa trưởng thành) và nhân chín – phân đoạn. Hầu hết trong máu của các tế bào trưởng thành của lớp này, ít nhất là – trẻ. Sau khi xác định được tỷ lệ của số lượng các nhóm này, người ta có thể đánh giá cường độ tạo máu. Khi mất máu đáng kể, các tế bào không có cơ hội để trưởng thành, khi đó tỷ lệ thay đổi theo hướng có lợi cho các hợp chất non.

    Tế bào bạch huyết

    Một tính năng đặc biệt của các tế bào như vậy là khả năng phân biệt giữa các hợp chất lạ, có hại và của chúng, sinh vật của vật chủ. Ngoài ra, các tế bào lympho có khả năng ghi nhớ sự xâm nhập của nhiễm trùng, nấm và vi sinh vật, nếu có, đã xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời. Ngay khi bị nhiễm trùng, sự vận chuyển của các tế bào lympho qua hệ tuần hoàn được tổ chức ngay lập tức đến nơi, có thể loại bỏ các yếu tố gây hấn. Đây là một loại tuyến phòng thủ của cơ thể, nhờ đó mà bắt đầu một quá trình bảo vệ miễn dịch phức tạp. Phản ứng hệ thống liên kết phức tạp này giúp khoanh vùng tình trạng viêm, ngăn không cho nó lây lan sang các mô khỏe mạnh xung quanh.

    Tế bào bạch huyết là yếu tố chính của hệ thống miễn dịch. Ngay sau khi quá trình viêm bắt đầu, gần như ngay lập tức loại tế bào này ở “hiện trường”.

    Bạch cầu ái toan

    Các tế bào như vậy trong cơ thể hiện diện với nồng độ thấp hơn một chút so với, ví dụ, bạch cầu trung tính, nhưng chức năng của chúng ở nhiều khía cạnh tương tự như nhóm đông nhất này. Bạch cầu ái toan cung cấp chuyển động hướng tới điểm xuất phát của yếu tố gây hấn. Các tế bào như vậy có thể nhanh chóng di chuyển qua hệ thống mạch máu, hấp thụ các tác nhân có hại.

    Đặc điểm chính của lớp tế bào máu này là khả năng hấp thụ các nguyên tố khá lớn. Do đó, các mô bị ảnh hưởng bởi tình trạng viêm, bạch cầu đã chết và các dạng sống cực nhỏ khác nhau sẽ bị loại bỏ khỏi cơ thể. Bạch cầu đơn nhân là những hợp chất tồn tại lâu dài có tác dụng làm sạch các mô và chuẩn bị cho quá trình tái tạo. Phục hồi hoàn toàn là không thể nếu không có chúng. Bạch cầu đơn nhân chịu trách nhiệm bình thường hóa trạng thái của các mô cơ thể sau khi bị nhiễm trùng, nấm, vi rút.

    Bạch cầu ái kiềm

    Nhóm tế bào máu này có số lượng ít nhất – chỉ chiếm một phần trăm tổng khối lượng. Những tế bào này giống như một chiếc xe cứu thương. Chúng sẽ xuất hiện đầu tiên nếu ghi nhận ngộ độc mô, tổn thương do hơi, các chất là chất độc đối với cơ thể con người. Ví dụ, nếu một con nhện hoặc một con rắn đã cắn, thì basophils là những người đầu tiên được đưa qua hệ thống tuần hoàn đến “nơi xảy ra sự kiện”.

    Tăng bạch cầu

    Thuật ngữ này dùng để chỉ tình trạng tăng nồng độ bạch cầu trong máu người một cách bệnh lý. Ngay cả những người khỏe mạnh đôi khi cũng gặp tình trạng này. Nó có thể bị kích thích do tiếp xúc lâu dài với ánh nắng trực tiếp, trải nghiệm cảm xúc tiêu cực hoặc căng thẳng kéo dài. Tăng bạch cầu có thể bị kích thích do gắng sức quá mức. Ở nữ, tình trạng này được quan sát thấy trong thời kỳ mang thai, hành kinh.


    【#6】Tại Sao Các Tế Bào Bạch Cầu Có Chức Năng Bảo Vệ?

    Tại sao các tế bào bạch cầu có khả năng thực hiện chức năng bảo vệ? Bạch cầu là gì? Tại sao các tế bào bạch cầu được gọi là “trật tự” của cơ thể con người? Nếu bạn đang tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi này, thì, trong bài viết này, bạn chắc chắn sẽ tìm thấy chúng, và có lẽ tìm hiểu thông tin hữu ích mới cho chính mình.

    Bạch cầu là gì?

    Tế bào bạch cầu là tế bào máu không màu (trắng), bao gồm tế bào chất và nhân. Các tế bào bạch cầu được hình thành trong tủy xương đỏ, lá lách và các hạch bạch huyết. Không giống như các tế bào hồng cầu, có khả năng di chuyển do lưu lượng máu, bạch cầu tự di chuyển tích cực như amip, chúng xâm nhập vào thành mao mạch và đi vào không gian liên bào.

    Tại sao các tế bào bạch cầu có chức năng bảo vệ?

    Các tế bào bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ vì chúng bảo vệ cơ thể con người khỏi sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh. Nếu da bị tổn thương, chúng sẽ đi từ các mạch vào mô, đến vết thương, nơi chúng bắt vi khuẩn và tiêu diệt chúng. Các nhà khoa học gọi quá trình này là thực bào thực vật, tế bào bạch cầu và tế bào bạch cầu thực hiện chức năng này được gọi là thực bào.

    Tại sao các tế bào bạch cầu được gọi là “trật tự” của cơ thể con người? Các tế bào bạch cầu được gọi là “trật tự” vì chúng có thể tạo ra các chất đặc biệt – leukin – dẫn đến cái chết của các vi sinh vật gây hại xâm nhập vào cơ thể con người. Một số bạch cầu hình thành các chất chống độc – chất trung hòa các chất thải của vi khuẩn. Ngoài ra, các tế bào bạch cầu có thể tạo ra các kháng thể có thể được lưu trữ trong cơ thể trong một thời gian dài và điều này cho thấy rằng trong tương lai gần, một người sẽ không thể mắc bệnh tương tự như trước đây.

    Chúng tôi hy vọng bạn hiểu tại sao các tế bào bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ và tại sao chúng được gọi là “trật tự” của cơ thể.


    【#7】Chỉ Ra Các Đặc Điểm Phù Hợp Với Chức Năng Của Hồng Cầu Và Bạch Cầu Câu Hỏi 86589

    Giải thích các bước giải:

    Vai trò của hồng cầu:

    -Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).

    -Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.

    -Vòng đời trung bình của hồng cầu là 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.

    -Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

    Vai trò của bạch cầu:

    -Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các “nhân tố” gây bệnh.

    -Bạch huyết bào-T (T-lymphocytes) làm nhiệm vụ điều khiển hệ miễn nhiễm, có thể diệt siêu vi khuẩn và tế bào ung thư.

    -Bạch cầu trung tính (Neutrophils) chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi khuẩn và xử lý mô bị tổn thương. Loại bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào tức là “ăn” các “nhân tố” lạ, có loại làm nhiệm vụ “ghi nhớ” để nếu lần sau “nhân tố” lạ này xâm nhập sẽ bị phát hiện và cơ thể sẽ nhanh chóng sinh ra một lượng lớn bạch cầu tiêu diệt chúng.

    -Bạch huyết bào-B (B-lymphocytes) tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể… Bạch cầu cũng được sinh ra tại tủy xương như hồng cầu. Không chỉ lưu hành chủ yếu trong máu, có một lượng khá lớn bạch cầu cư trú ở các mô của cơ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ.

    -Bạch cầu đơn nhân to (Monocytes) kết hợp với bạch huyết bào để chống lại viêm nhiễm, cần thiết cho việc sản sinh kháng thể.


    【#8】Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Hồng Cầu, Bạch Cầu Và Tiểu Cầu? Câu Hỏi 1275576

    -Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ)

    Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể.

    Hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải. Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

    -Tiểu cầu là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu.

    Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, để lâu nếu không sơ cứu kịp sẽ dẫn đến mất máu .

    -Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các “nhân tố” gây bệnh, có thể diệt siêu vi khuẩn và tế bào ung thư.

    +Bạch cầu trung tính (Neutrophils) chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi khuẩn và xử lý mô bị tổn thương. Loại bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào tức là “ăn” các “nhân tố” lạ.

    +Bạch huyết bào-B (B-lymphocytes) tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể… Bạch cầu cũng được sinh ra tại tủy xương như hồng cầu.

    +Bạch cầu đơn nhân to (Monocytes) kết hợp với bạch huyết bào để chống lại viêm nhiễm, cần thiết cho việc sản sinh kháng thể.

    Tình trạng thiếu bạch cầu làm cho con người thường hay bị viêm nhiễm và nếu bị viêm nhiễm thì bị nặng hơn, có khi nguy hiểm đến tính mạng.

    – Đây là phần dung dịch, có màu vàng, thành phần chủ yếu là nước; ngoài ra còn còn có thành phần khác như: đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, các men…

    +Huyết tương thay đổi thường xuyên theo tình trạng sinh lý trong cơ thể. Nếu đơn vị máu có huyết tương “đục” sẽ không được sử dụng vì có thể gây sốc, gây dị ứng cho người bệnh.

    -Huyết tương có vai trò vận chuyển các nguyên liệu quan trọng của cơ thể, như glucose, sắt, oxy, hormon, protein… Mỗi lít huyết tương chứa khoảng 75g protein.


    【#9】Đặc Điểm Cấu Tạo, Chức Năng Của Tiểu Cầu Và Bạch Cầu Là Gì?

    Câu hỏi của bạn khá hay nhưng rộng quá, để bạn có thể hiểu chi tiết cấu tạo của tiểu cầu và bạch cầu giúp chúng có khả năng thực hiện nhiệm vụ của mình thì ghi rất là dài, mình sẽ nói tóm gọn lại những gì mình hiểu, hy vọng bạn cũng sẽ hiểu.

    Đầu tiên chúng ta qua sơ lược về chức năng của hai loại tế bào này:

    • Tiểu cầu: là một loại tế bào trong máu chịu trách nhiệm chính đó là cầm máu, nó làm cho máu bị đông (hay còn gọi là vón cục) khi mạch máu bị tổn thương.
    • Bạch cầu: hay còn gọi là tế bào máu trắng chịu trách nhiệm cho việc bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công của virus, các vật thể lạ xâm nhập vào máu qua vết thương hở, …v.v

    Bây giờ mình sẽ đi chi tiết vào từng loại tế bào này,

    Tiểu cầu

    Một số thông tin chung mình nghĩ cũng hay về tiểu cầu có thể bạn muốn biết thêm:

    • Tiểu cầu được phát hiện vào năm 1882 bởi bác sĩ Bizzozero.
    • Tế bào tiểu cầu có kích thước nhỏ hơn hai loại khác đó là bạch cầu và hồng cầu, có đường kính khoảng 2 – 3 μm.
    • Một tế bào tiểu cầu có thể có vòng đời trung bình khoảng 10 ngày trước khi bị loại bỏ.
    • Trong mỗi µl (micrôlit) máu có khoảng từ 150.000 đến 450.000 tế bào tiểu cầu. Nếu lượng tế bào tiểu cầu lớn hơn khoảng này thì gọi là bệnh tăng tiểu cầu. Bạn có thể tìm kiếm thêm thông tin về bệnh này nếu như bạn muốn ^^.

    Đặc điểm cấu tạo của tiểu cầu

    Cấu trúc của một tế bào tiểu cầu bao gồm có 4 vùng lớn như sau:

    • Vùng ngoại biên: nơi tập hợp của các Glycoproteins đóng vai trò như các cơ quan thụ cảm bề mặt giúp cho tiểu cầu có thể dính chặt, hoạt hóa (hay còn gọi là phát động) và tập hợp.
    • Vùng sol-gel: nơi tập hợp các sợi vi ống (MT) làm khung đỡ giúp cho tiểu cầu có thể duy trì được hình dạng đĩa tròn có mặt lồi (giống như thấu kính hội tụ bạn đã học trong vật lý vậy)
    • Vùng chứa cơ quan: nơi tập hợp của các hạt $alpha$ (Gr), các hạt đặc (DB) và các ti thể (Mi):

      • Các hạt $alpha$ (Gr) chứa các nhân tố tham gia vào quá trình đông máu như nhân tố V, nhân tố VIII, fibrinogen, … làm cho tiểu cầu có thể kết dính lại.
      • Các hạt đặc (DB) chứa các ADP tạo năng lượng, Can-xi, Serotonin, … tham gia vào quá trình tập hợp của tiểu cầu.
      • Các ti thể (Mi): có hầu hết trong các loại tế bào trong cơ thể, nhiệm vụ chính là chuyển hóa năng lượng, điều hòa trao đổi chất trong tế bào, từ đó giúp tế bào tiểu cầu có thể sống.
    • Vùng màng tiểu cầu: nơi tập hợp của hệ thống các kênh mở (OCS), hệ thống các ống dày đặc (DTS) chịu trách nhiệm cho việc tổng hợp Can-xi và giải phóng thromboxane A2.

    Để hiểu được cấu tạo và chức năng của từng thành phần trong tế bào tiểu cầu là cả một chân trời mênh mông kiến thức nữa mình không thể đưa hết vào đây được, cả bản thân mình cũng không thể “tiêu hóa” hết được. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm hãy mở một câu hỏi khác hẹp hơn, các bạn khác hoặc mình có thời gian nhất định sẽ giúp bạn.

    Bạch cầu

    • Tế bào bạch cầu hay còn gọi là tế bào miễn dịch, tế bào bạch cầu rất đa dạng về hình thái cũng như chức năng cho nên kích thước của chúng cũng khác nhau và lớn hơn kích thước của tế bào hồng cầu.
    • Một tế bào bạch cầu có vòng đời tương đối ngắn, chỉ từ vài giờ đến một ngày, một số chỉ trong vài phút.
    • Chỉ có khoảng 5.000 đến 10.000 tế bào bạch cầu trong 1 µl máu.

    Có một sự thật thú vị về tế bào bạch cầu là trong khi tế bào hồng cầu chỉ trôi dạt theo các mạch máu trong cơ thể thì tế bào bạch cầu có thể sử dụng các mạch máu như một “đường cao tốc” để đến nơi nó cần đến rồi chui ra khỏi “đường cao tốc” này và tóm lấy những kẻ xâm phạm hay mảnh vỡ.

    Phân loại các tế bào bạch cầu,

    Ảnh trên là đầy đủ về tất cả các loại tế bào bạch cầu, được chia theo hai nhóm chính. Trong sách giáo khoa thường không dạy hết các loại tế bào bạch cầu này, mình thấy chỉ có nhắc đến tế bào miễn dịch T thôi.

    Đặc điểm cấu tạo chung của các tế bào bạch cầu:

    • Không có huyết sắc tố Hemoglobin
    • Có nhân và có khả năng sản sinh ra axít ribonucleic (ARN), tổng hợp Protein.

    Hy vọng sẽ giúp ích được cho bạn…


    【#10】Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu?

    1. Vai trò của huyết tương là đưa các chất dinh dưỡng đến các mô và đưa các chất cặn bã từ các mô về các cơ quan bài tiết ra bên ngoài. Bên cạnh đó, vai trò của các tế bào máu gồm bài tiết, bảo vệ, điều hoà và dinh dưỡng.

    2. Vai trò của hồng cầu

    • Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).
    • Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.
    • Vòng đời trung bình của hồng cầu là 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.
    • Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.
    • 3. Vai trò của tiểu cầu
    • Tiểu cầu là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Nếu mạch máu bị tổn thương (thí dụ như bị cắt hay bầm tím), các tiểu cầu sẽ dồn đến điểm này và bám dính vào nhau, tạo thành ‘nút chặn vết hở’.
    • Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường, hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.
    • Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp, các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết. Toán y khoa điều trị sẽ báo quý vị biết khi lượng tiểu cầu của quý vị sụt giảm.
    • Ngoài ra, tiểu cầu còn có vai trò làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầubạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.


    Bạn đang xem chủ đề Chức Năng Bạch Cầu trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!