【#1】Hướng Dẫn Sử Dụng Chức Năng Phát Bài Hát Mtv Bộ Nhớ Ngoài Trên Máy Ar3600

Model AR-3600 cho phép người dùng có thể phát các bài hát MTV từ USB hoặc ổ cứng bên ngoài và chọn bài hát bằng cách nhập trực tiếp mã số hoặc chọn bài trong danh sách thao tác giống như sử dụng đĩa MIDI karaoke

– Kết nối USB hoặc ổ cứng gắn ngoài vào ngõ USB trên máy

– Nhấm phím MENU trên remote chọn mục MTV

+ Các bài hát MTV trong USB hoặc ổ cứng sẽ được hiển thị như hình dưới

+ Hoặc chọn bài bằng cách nhập trực tiếp mã số bài hát

+ Thao tác ngắt tiếng bài hát bằng phím VOCAL giống như sử dụng đĩa MIDI karaoke

+ Đặt trước bài hát và đặt bài ưu tiên bằng phím ENTER/PLAY giống thao tác sử dụng đĩa MIDI karaoke

– Tạo thư mục MTV trên thư mục gốc USB hoặc ổ cứng ngoài

– Đặt tên file theo quy cách: chúng tôi hoặc chúng tôi (định dạng file là: mpg, avi, mpeg-1)

– VD: chúng tôi hoặc chúng tôi

– Copy các file bài hát MTV vào thư mục vừa tạo(số lượng bài hát tối đa không quá 125 bài)

– Dùng trình soạn thảo Notepage để tạo file danh sách bài hát, lưu lại thành file chúng tôi

– Quy cách đặt tên bài hát trong file danh sách bài hát: chúng tôi 1 hoặc chúng tôi 1

– 8xxxx: là mã số bài hát (vd: 80001, 80002….)

– abcd: là tên bài hát

– 1: là mã ngôn ngữ bài hát

– VD: 80001-DAT chúng tôi 1 (giữa định dạng file(.mpg hoặc .avi) và mã ngôn ngữ bài hát (1) cách nhau bằng phím tab )

– Tên bài hát dài tối đa 80 ký tự

0: China, 1: Việt Nam, 2: Korea, 3: Thailand, 4: Russian, 5: English, 6: Japan

– Sử dụng phần mềm miễn phí Format Fatory tải về tại http://www.pcfreetime.com/ và làm theo hướng dẫn như sau để convert Video về chuẩn Avi hoặc Mpg.

+ Tại giao diện chính chọn All to Avi hoặc All to Mpg

+ Chọn tiếp Output Setting

+ Nếu chọn All to Avi

– Tại bảng profile chọn “High quality and Size”

– Tại bảng setting chọn video size là “320×240 standard”

+ Nếu chọn All to Mpg

– Tại bảng profile chọn “VCD NTFS”

– Tại bảng setting chọn video size là “320×240 standard”

+ Bấm nút Start để chương trình tiến hành convert

Chú ý: USB phải được Format ở chuẩn FAT32

Như vậy ở trên là cách giúp bạn cách phát MTV từ USB hoặc ở cứng ngoài trên đầu karaoke cao cấp AR3600

Nếu bạn muốn được tư vấn và hỗ trợ thì hãy liên hệ ngay qua hot line 0902.799.186, tại chúng tôi chúng tôi luôn luôn sẵn sàng tư vấn cho bạn mọi nơi, mọi lúc bất kể thời gian nào trong tuần

Đến với VIDIA shop cam kết:

  • Mang đến cho bạn những sản phẩm chính hãng chất lượng với mức giá rất rẻ so với mặt bằng trên thị trường.
  • Vidia shop tư vấn rõ ràng để hiểu được ưu nhược điểm của từng sản phẩm để bạn hiểu rõ và dễ dàng chọn cho mình sản phẩm phù hợp.
  • Luôn có phòng Demo để bạn thử bất kỳ sản phẩm nào bạn muốn.
  • Giao hàng và lắp đặt tận nhà miễn phí khi nào bạn ưng ý thì nhân viên mới được về
  • Tất cả các sản phẩm tại Vidia shop đều qua chọn lọc và test kỳ càng
  • Vidia shop chỉ bán những sản phẩm chất lượng tốt và được nhiều người tin dùng.

【#2】Top 9 Thực Phẩm Chức Năng Phòng Chống Đột Quỵ Hiệu Quả Nhất Hiện Nay 2021

Nội Dung Chính Của Bài Viết

Rutozym – TPCN chống đột quỵ, ổn định huyết áp

Rutozym viên chống đột quỵ được sản xuất tại Mỹ có tác dụng hỗ trợ điều trị các biến chứng của bệnh đột quỵ, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy não, suy giảm trí nhớ, lưu thông mạch máu, ….Viên chống đột quỵ rutozym là một phát minh mới của các nhà khoa học Mỹ và Nhật Bản. Công trình nghiên cứu kéo dài gần 50 năm, thành quả này đã đáp ứng được sự mong đợi của mọi người. Từ lúc sản phẩm này ra đời đã giúp hơn 80% người Mỹ thoát khỏi tình trạng nguy kịch của bệnh đột qu ỵ. Rutozym chiết xuất và tổng hợp từ thảo dược thiên nhiên như: Bromelain tinh lọc từ quả dứa, Papain từ đu đủ, Nattokinase chiết xuất từ đậu nành.

  • Người Nhật đã sử dụng Nattokinase để hỗ trợ điều trị các bệnh lý tim mạch từ hơn 2000 năm trước. RBE (Rutoside-Bioflavonoid-Extract), giúp các mạch máu lưu thông dễ dàng, đồng thời chống lại những sự viêm nhức, sưng khớp. Và vỏ cây liễu trắng (white willow bark) làm loãng máu, trơn các mạch máu. Rutozym là sự phối hợp hoàn hảo các enzymes cần thiết để tăng cường hệ thống miễn dịch bị suy giảm do tuổi già.
  • Rutozym có tác dụng phòng và phá các cục máu đông (do có khả năng tiêu hủy Fibrin). Các cục máu đông (huyết khối) được hình thành khi các sợi fibrin tích lũy trong mạch máu. Các cục máu đông trong các mạch máu có thể di chuyển lên não làm cản trở việc cung cấp oxy cho các mô não gây ra các bệnh lý nguy hiểm như: tai biến mạch máu não, suy não, giảm trí nhớ, đột quỵ. Các cục máu đông ở tim gây ra các bệnh lý như: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.
  • Đã trị liệu hữu hiệu cho hơn 700 ngàn bệnh nhân tim mạch tại Mỹ. Rutozym hiện đang là sản phẩm được các bác sĩ và người dân Mỹ sử dụng an toàn và hiệu quả nhất để phòng chống đột quỵ, nhồi máu cơ tim và điều hòa bệnh huyết áp.

Tác dụng của viên uống chống đột quỵ Rutozym:

  • Rutozym có tác dụng ức chế enzym biến đổi angiotensin (ACE). ACE làm cho lòng mạch máu bị hẹp lại và gây tăng huyết áp. Rutozym ức chế ACE nên có tác dụng làm giảm huyết áp.
  • Tác dụng Rutozym làm tiêu những sợi huyết trong hệ thống mạch máu (Fibrosis) là nguyên nhân gây tắc mạch. Giúp máu lưu thông dễ dàng trong huyết quản, gỡ các nút tắc mạch trong nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, chấn thương sọ não…
  • Viên uống Rutozym lọ 120 viên làm loãng máu, giảm độ cô đặc của máu, giảm ma sát với thành mạch, giúp bệnh nhân tránh được tắc nghẽn mạch, phòng tránh nhồi máu cơ tim, làm giảm huyết áp một cách hữu hiệu và an toàn, ổn định huyết áp.
  • Tăng sức bền thành mạch,giảm sự kết dính của tiểu cầu, phòng tránh hình thành các huyết khối.
  • Rutozym là phức hợp của các men giúp xúc tác quá trình phân hủy và giải độc các chất cặn bã, chất thải độc hại trong cơ thể giúp bài tiết ra ngoài. Cung cấp các chất bổ dưỡng cần thiết cho các cơ quan hoạt động hiệu quả hơn.
  • Thanh lọc huyết tương, hỗ trợ hệ thống bạch huyết, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể.Tăng cường chuyển hóa, tăng tái tạo năng lượng giúp tăng cường chức năng gan, tim, thận… giúp đáp ứng tốt với mọi stress.
  • Tác dụng Rutozym chống viêm và giảm đau hiệu quả như giảm viêm và sưng tấy các vết thương, giảm đau nhức nên không cần phải dùng các sản phẩm giảm đau khác như nhóm hạ sốt, chống viêm, giảm đau không corticoid (nhóm này có rất nhiều tác dụng phụ).
  • Viên uống Rutozym lọ 120 viên tăng lưu lượng máu đến não và các mô giúp chóng lành các vết thương, chống các bệnh rối loạn tiền đình, đau đầu chóng mặt…
  • Phòng và hỗ trợ điều trị các biến chứng của bệnh đột quỵ, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy não, suy giảm trí nhớ…

Đối tượng sử dụng viên chống đột quỵ Rutozym

  1. Bệnh tim mạch bao gồm cả bệnh tim, huyết áp cao , đột quỵ, đau ngực (đau thắt ngực), huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), xơ cứng động mạch (xơ vữa động mạch), bệnh trĩ, giãn tĩnh mạch, tuần hoàn kém, viêm tắc động, tĩnh mạch và động mạch ngoại vi bệnh (PAD).
  2. Viên uống Rutozym lọ 120 viên giảm đau, đau xơ cơ, hội chứng mệt mỏi mãn tính, lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung, co thắt cơ, vô sinh, ung thư và bệnh thiếu vitamin gọi là beriberi.
  3. Người cao huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đường, béo phì…
  4. Tác dụng Rutozym sử dụng hữu ích cho người có tiền sử bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, hoa mắt. chóng mặt ù tai, đau đầu.
  5. Hỗ trợ điều trị liền vết thương, chóng liền sẹo sau phẫu thuật, cấy ghép…

Hướng dẫn sử dụng viên uống chống đột quỵ Rutozym: Liều Dùng cho sản phẩm Viên uống Rutozym lọ 120 viên: Ngày uống 4 viên chia làm 2 lần, mỗi lần 2 viên. Uống tối thiểu 1 giờ trước mỗi bữa ăn trưa và tối. Hoặc uống theo liều chỉ dẫn của bác sĩ.

RUTOZYM Lọ 120 Viên Uống Phòng Chống Đột Quỵ: 2.000.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

https://suckhoesacdep.vn › Sức Khỏe

https://aloola.vn › Sức khỏe và Làm đẹp

Thực phẩm chức năng Nattospes – Hỗ trợ điều trị và phòng ngừa tai biến mạch máu não (đột quỵ)

Hiện nay, các sản phẩm là thực phẩm chức năng có nguồn gốc tự nhiên đang được ứng dụng trong việc hỗ trợ phòng và cải thiện tình trạng tai biến mạch máu não. sản phẩm này đã được nghiên cứu tác dụng hỗ trợ điều trị trên bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não trong giai đoạn cấp.

  • TPCN Nattospes có thành phần chính là nattokinase với tác dụng phòng ngừa, phá được các cục máu đông, tăng tuần hoàn và lưu thông máu.
  • Hỗ trợ điều trị, phòng ngừa tai biến mạch máu não (đột quỵ) và các di chứng của nó.
  • Hỗ trợ ổn định huyết áp.

Cách dùng: Phòng bệnh và tăng cường sức khỏe: Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 – 2 viên; Hỗ trợ điều trị: Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 2 viên; nên uống trước bữa ăn 30 phút hoặc sau khi ăn 1 giờ.

Thực phẩm chức năng Nattospes: 200.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng:

https://www.adayroi.com/combo-10-hop-thuc-pham-chuc-nang-tang-cuong-suc-khoe-tuan-hoan-nattospes-30-vien-p-PRI776124

nhathuocviet.vn/tin-tuc/nattospes.html

Natto Kinaze DX – Thực phẩm chức năng phòng bệnh đột quỵ

Nattokinase Của Nhật trực tiếp làm tiêu sợi tơ huyết nên giải phóng tiểu cầu và giải tỏa những khu vực mà dòng máu lưu thông bị cản trở, Nattokinase không những giúp tan cục máu đông mà còn hoạt động như một thành phần chống hình thành cục máu đông. Nattokinase Nhật Bản là hoạt chất tự nhiên nên an toàn và không có tác dụng phụ khi sử dụng

Thực Phẩm Chức Năng Natto Kinaze Chữa Tai Biến Mạch Máu Não

  • Tai biến mạch máu não ( hay còn gọi là đột quỵ) là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, người có tiền sử bệnh tim mạch và môi trường làm việc căng thẳng, được WHO xếp vị trí thứ ba. Nguy cơ gây tử vong cao và hoặc để lại di chứng nặng nề, việc can thiệp khi bệnh đã xảy ra bằng thuốc hoặc phương pháp phẫu thuật rất tốn kém, chưa kể người bệnh khó phục hồi hoàn toàn. Do đó, điều quan trọng là có hướng dự phòng sớm.
  • Tai biến mạch máu não ( hay còn gọi là đột quỵ) xảy ra là do vỡ mạch tạo ra các cục máu đông chắn ngang mạch máu làm cho việc đưa máu nuôi lên não bị đình trệ trong thời gian nhất định vùng não thiếu máu sẽ chết dẫn tới tình trạng các cơ quan do vùng não ấy điều khiển sẽ không thể hoạt động được. Thuốc chữa trị tai biến mạch máu não của Nhật Orihiro với thành phần Nattokinase đạt chuẩn chất lượng và hàm lượng chuẩn trong liều dùng (2000FU/ngày), giúp đạt hiệu quả tối đa trong việc ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị tai biến mạch máu não. Sản phẩm được Hiệp hội Nattokinase Nhật Bản chứng nhận chất lượng.

Công dụng Sản Phẩm Natto Kinaze DX

  • Phá được các cục máu đông (Giảm Nguyên nhân tai biến)
  • Giúp tuần hoàn máu. (Đưa máu lên não làm giảm chứng hay quên của người già do thiếu máu não, giảm chứng mệt mỏi, suy nhược ở người bình thường và nhưng người bị tim mạch)
  • Hạ đường huyết điều hòa tốt đường huyết cho người tiểu đường.

Hướng dẫn sử dụng: Lọ 90 Viên. Uống 03 lần/ngày, 01 viên/ lần. Uống sau bữa ăn 10 đến 15 phút.

Natto Kinaze DX – Phòng Bệnh Đột Quỵ: 740.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

https://shopee.vn › … › Vitamin & Thực phẩm chức năng › Thực phẩm cho sức khỏe

https://healthmart.vn › Sản phẩm › Làm đẹp › Hỗ trợ sức khỏe

Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp đen

Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen 60 viên thượng hạng. Viên bổ não có tác dụng điều hòa huyết áp, phòng ngừa tai biến, đột quỵ.

Sản phẩm Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen được sản xuất bởi thương hiệu Samsung Pharm nổi tiếng Hàn Quốc và nhập khẩu chính hãng về Việt Nam. Hiện nay mặt hàng này đang được rất nhiều khách hàng tin tưởng sử dụng vì công dụng của nó mang lại rất tuyệt vời cho sức khỏe và được các chuyên gia đánh giá cao.

Với thiết kế tinh tế và sang trọng, Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen là một chọn lựa hoàn hảo để làm quà tặng bảo vệ sức khỏe cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp rất ý nghĩa.

Tác dụng của viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen với sức khỏe

  • Đối với những bệnh nhân có nguy cơ bị tai biến cao như: người bị cao huyết áp, bệnh về tim (van tim, thiếu máu cơ tim, rung nhĩ), bệnh mạch máu ngoại biên, tiền căn thiếu máu cục bộ, tăng thể tích hồng cầu, đái tháo đường, chất béo trong máu, hút thuốc lá, lạm dụng thức uống có cồn (rượu, bia), bị rối loạn chức năng đông máu đều được các chuyên gia khuyên uống viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen để bảo vệ sức khỏe.
  • Sử dụng sản phẩm Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen sẽ mang lại hiệu quả cao trong hỗ trợ chữa trị cho những người bị đau đầu, rối loạn tiền đình, thiếu máu lên não và tắc động mạch vành, phụ nữ tiền mãn kinh. Ngoài ra, còn giúp ngăn ngừa hiện tượng xuất huyết não, hồi phục hệ thần kinh chức năng cho bệnh nhân mới hoặc đã bị tai biến mạch máu não lâu ngày, hồi phục chức năng do di chứng để lại sau tai biến như bán thân bất toại, rối loạn chức năng diễn đạt ngôn ngữ…
  • Bên cạnh đó, tác dụng viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen còn giúp điều trị những di chứng đột quỵ như chảy mãu não, liệt toàn thân, tay chân, cơ mặt, khó nuốt, khiếm khuyết về ngôn ngữ, cao huyết áp, tim đập nhanh, hô hấp khó, hôn mê, tinh thần bất an, đau co giật cấp và mãn tính, rối loạn thần kinh thực vật…Đặc biệt, uống viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen rất hữu ích cho người bị suy nhược thần kinh do áp lực căng thẳng từ công việc, hoạt động trí óc liên tục và phải đối mặt với biến cố trong cuộc sống.
  • Qua kết quả các cuộc nghiên cứu đã cho thấy, tác dụng viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen sẽ ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh về huyết áp và tai biến mạch máu não; giúp an thần, trị phong, ích khí dưỡng huyết, phòng tránh những bệnh do khí huyết không đầy đủ, hỏa khí vượng, nhức đầu hoa mắt, tức ngực khó thở, đi lại nói năng khó khăn, đầu óc không sáng suốt.

Thành phần trong mỗi Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen cao cấp: Trong sản phẩm Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen chứa đựng những tinh chất vô cùng quý giá từ những thảo dược tự nhiên bổ dưỡng như Nhân sâm hàn quốc, mật ong hàn quốc, Bạch thược Đương quy, hoài sơn, Cam thảo, Thần khúc, Vỏ quế, Bạch chuật, đường lactose, cellulose dạng vi tinh thể, glycerin, calci panthenat…Hướng dẫn phương pháp uống viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen hiệu quả

Liều lượng và phương pháp dùng uống viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp giấy đen phù hợp đối với người lớn và trẻ em từ 15 tuổi trở lên là 1 viên 1 ngày. Còn liều dùng trong một ngày với trẻ nhỏ từ 8 đến 15 tuổi là 2/3 viên, từ 5 đến 8 tuổi dùng 1/2 viên, từ 2 đến 5 tuổi uống 1/3 viên và trẻ dưới 2 tuổi thì uống 1/4 viên.

Viên bổ não chống đột quỵ Hàn Quốc Gum Jee Hwan hộp đen: 1.290.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

https://www.sendo.vn › … › Thực phẩm bổ dưỡng › Thực phẩm bổ dưỡng khác

https://sieuthisamhanquoc.com.vn › An Cung Ngưu Hoàng

An cung ngưu hoàng hoàn Hàn Quốc màu đỏ

An cung ngưu hoàng Hàn Quốc nổi tiếng là một loại sản phẩm hỗ trợ chữa trị chứng đột quỵ (chứng xuất huyết não, liệt toàn thân, liệt tay chân, khiếm khuyết về ngôn ngữ, khó nuốt, hôn mê, tâm thần, chứng tê liệt ở mặt), cao huyết áp, tim đập nhanh, hô hấp khó, tinh thần bất an, đau co giật cấp và mãn tính, rối loạn thần kinh thực vật, bất tỉnh nhân sự, giúp ngăn ngừa hiện tượng chảy máu não, hỗ trợ điều trị cho người bị rối loạn tiền đình, đau đầu, thiếu máu não, phụ nữ tiền mãn kinh…

Tác dụng của An Cung ngưu Hoàng

  • Theo dược học cổ truyền, an cung đỏ Hàn Quốc có công dụng thanh nhiệt giải độc, trấn kinh khai khiếu, dục đàm. Chuyên trị ôn nhiệt bệnh, nhiệt tà nội hãm tâm bào, đàm nhiệt ủng bế tâm khiếu dẫn đến sốt cao phiền táo, thần hôn thiềm ngữ (hôn mê, rối loạn ngôn ngữ) hoặc thiệt kiển chi quyết (lưỡi rụt, tay chân giá lạnh), trúng phong khiếu bế, tiểu nhi kinh quyết thuộc đàm nhiệt nội bế.
  • An cung hàn quốc có tác dụng giải nhiệt: có tác dụng làm hạ thấp thân nhiệt của thỏ được gây sốt bằng độc tố của vi khuẩn, tác dụng kéo dài từ 5-6 giờ, so với nhóm chứng có sự khác biệt rõ rệt. Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh tác dụng của an cung ngưu hoàng hoàn trong các trường hợp sốt do vắc-xin tam liên, thông thường sau khi tiêm vắc-xin chừng 60 phút thân nhiệt tăng cao, dùng an cung nguu hoàn có thể làm cho thân nhiệt giảm rất nhanh.
  • An cung ngưu hòang tác dụng tốt đối với hệ tim mạch: an cung ngưu hàn quốc có tác dụng làm hạ huyết áp trên động vật thí nghiệm từ 5,4 – 7,5 kPa. Trên tim thỏ cô lập, thuốc có khả năng ức chế có bóp cơ tim và làm giảm tần số tim. Trên chó gây mê, an cung hoàn làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp nhưng lưu thông đông mạch vành và sức bóp cơ tim lại gia tăng. Chứng tỏ sản phẩm có khả năng cải thiện công năng tim. Ngoài ra, an cung ngưu hoàng hoàn han quoc có tác dụng là giảm lượng oxy tiêu thụ cơ tim, kéo dài thời gian sống của động vật thí nghiệm trong điều kiện thiếu oxy.
  • An cung ngưu hoàng giúp ngăn ngừa hiện tượng chảy máu não, xuất huyết não phục hồi hệ thần kinh chức năng cho những bệnh nhân mới và những bênh nhân đã bị tai biến mạch máu não lâu ngày…phục hồi các chức năng do di chứng để lại sau khi bị tai biến mạch máu não như bán thân bất toại (liệt nửa người), rối loạn chức năng diễn đạt ngôn ngữ…An cung ngưu hoàng hoàn Hàn Quốc có tác dụng hỗ trợ Chữa trị chứng đột quỵ (chứng xuất huyết não, liệt toàn thân, liệt tay chân, khiếm khuyết về ngôn ngữ, khó nuốt, hôn mê, tâm thần, chứng tê liệt ở mặt), cao huyết áp, tim đập nhanh, hô hấp khó, tinh thần bất an, đau co giật cấp và mãn tính, rối loạn thần kinh thực vật, bất tỉnh nhân sự …
  • Hoạt huyết và hỗ trợ điều trị cho người bị rối loạn tiền đình, đau đầu, thiếu máu não, tắc động mạch vành, phụ nữ tiền mãn kinh.

Tác dụng của An cung ngưu hoàng:

  1. Đặc biệt dùng rất tốt cho người bị suy nhược thần kinh vì áp lực công việc, lao động trí óc cường độ cao và đối mặt với những biến cố trong cuộc sống. An cung ngưu hoàng Hàn quốc màu đỏ Phòng chống và hỗ tợ điều trị các bệnh về cao huyết áp và tai biến mach máu não, tim đập nhanh, Ích khí dưỡng huyết trấn kinh an thần hóa đờm trị phong, cho các bệnh do khí huyết không đầy đủ, hỏa khí trong người vượng, đờm nhiệt gây nên tức ngực khó thở nhức đầu hoa mắt đi lại nói năng khó khăn, đàu óc không tỉnh táo.An cung ngưu hoàng hoàn Hàn Quốc hỗ trợ chữa đột quỵ – tai biến mạch máu não cực tốt.
  2. Tác dụng của an cung hàn quốc màu đỏ nổi tiếng nhất chính là chữa đột quỵ. Với chứng đột quỵ-tai biến mạch máu não, an cung giúp chữa trị: xuất huyết não, liệt toàn thân, liệt tay chân, khiếm khuyết về ngôn ngữ, khó nuốt, hôn mê, tâm thần, chứng tê liệt ở mặt.
  3. An cung ngưu hoàng hoàn màu đỏ có tác dụng giúp phục hồi hệ thần kinh chức năng cho những bệnh nhân mới bị đột quỵ và những bệnh nhân đã bị đột quỵ-tai biến mạch máu não lâu ngày. An cung đỏ giúp bệnh nhân phục hồi các chức năng do di chứng để lại sau khi bị đột quỵ-tai biến mạch máu não như: di chứng liệt nửa người, rối loạn chức năng diễn đạt ngôn ngữ.
  4. An cung ngưu hoàng hoàn Hàn Quốc cũng có tác dụng chữa cao huyết áp, tim đập nhanh, hô hấp khó, tinh thần bất an, đau co giật cấp và mãn tính, rối loạn thần kinh thực vật, bất tỉnh nhân sự.

Cách dùng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn Hàn Quốc

Sản phẩm an cung ngưu Hoàng Hoàn màu đỏ được bao bọc bởi nhiều lớp, bạn hãy lần lượt bóc viên an cung ngưu ra khỏi các lớp vỏ bao gồm: hộp nhựa, lớp sáp, lớp giấy bóng.

Cách dùng an cung ngưu hoàng hoàn han quoc có 2 cách:

Cách 1: Nhai trực tiếp viên an cung ngưu, rồi súc miệng bằng nước ấm.

Cách 2: Chia viên an cung ngưu thành từng phần nhỏ để uống hoặc nghiền thành bột, sau đó hoà với nước ấm rồi uống.

An cung ngưu hoàng Hàn Quốc Màu Đỏ: 1.300.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

https://shopee.vn › Sức Khỏe & Sắc Đẹp › Vitamin & Thực phẩm chức năng

https://suckhoe.vnexpss.net/…/nguy-hiem-khi-dung-an-cung-nguu-hoang-hoan-kho…

Viên uống hỗ trợ điều trị tai biến Nattokinase 2000FU Orihiro

Tai biến mạch máu não (hay còn gọi là đột quỵ) là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, người có tiền sử bệnh tim mạch và môi trường làm việc căng thẳng, được WHO xếp vị trí thứ ba. Nguy cơ gây tử vong cao và hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề, việc can thiệp khi bệnh xảy ra bằng thuốc hoặc phương pháp phẫu thuật rất tốn kém, chưa kể người bệnh rất khó hồi phục hoàn toàn. Do đó cần có hướng phòng bệnh sớm. Viên uống hỗ trợ điều trị tai biến biến Nattokinase 2000FU Orihiro với thành phần biến Nattokinase đạt tiêu chuẩn chất lượng và hàm lường chuẩn tronh liều dùng (2000FU/ngày), giúp đạt hiệu quả tối đa trong việc ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị tai biến mạch máu não. Sản phẩm được Hiệp hội Nattokinase Nhật Bản chứng nhận chất lượng.

Lợi ích khi dùng viên uống hỗ trợ tai biến Nattokinase 2000EU

  • Là sản phẩm giúp bổ dưỡng cân bằng cho cơ thể mang lại hiệu quả cao, nhanh chóng sau một thời gian sử dụng đúng liều lượng và đều đặn.
  • Nattokinase 2000FU Orihiro ngăn sự hình thanh các cục máu đông, đồng thời tác dộng vào việc phá cục máu đông đã hình thành giúp lưu thông máu ở não tốt hơn bởi vậy đây là sản phẩm có công dụng hiệu quả giúp phòng chống đột quỵ tai biến mạch máu não.
  • Viên hỗ trợ tai biến Nattokinase 2000FU còn cung cấp dưỡng chất cho tế bào não, tăng cường tuần hoàn máu não và lưu thông máu tốt, giúp ổn định huyết áp, cải thiện trí nhớ, cải thiện sức khỏe, tăng cường sinh lực, giảm nhanh các triệu chứng suy nhược, mệt mỏi ở cơ thể.
  • Nattokinase 2000FU với hiệu quả đã được kiểm chứng và mang lại kết quả cao, là thực phẩm chưc năng hỗ trợ phòng chống và điều trị tai biến mạch máu não hiệu quả thích hợp sử dụng cho người mắc bệnh tai mạch máu não.

Công dụng của viên uống Nattokinase 2000FU

  • Tan huyết khối và ổn định huyết áp, dự phòng tai biến mạch máu não.
  • Hỗ trợ điều trị di chứng sau tia biến mạch máu não.
  • Viên uống Nattokinase 2000FU giúp ổn định huyết áp.
  • Tăng tuần hoàn não, cải thiện tình trạng suy giảm trí nhớ.

Đối tượng sử dụng Orihiro Nattakinase phòng hỗ trợ tai biến mạch máu não:

  1. Người có nguy cơ tai biến mạch máu não, người cao huyết áp, người bị di chứng tai biến, người có nguy cơ với cục máu đông người cần tăng cường sinh lực.
  2. Người cao tuổi, người cao huyết áp, bị các chứng bệnh xơ vữa động mạch
  3. Người tắc mạch máu do cục máu đông
  4. Người có biểu hiện đau thắt ngực
  5. Người mắc bệnh tiểu đường, béo phì, …
  6. Người có nguy cơ hoặc có tiền sử tai biến mạch máu não.
  7. Người có nguy cơ hoặc tiền sử nhồi máu cơ tim.
  8. Người bị hoa mắt, chóng mặt, đau đầu.
  9. Người làm việc căng thẳng, suy giảm trí nhớ.

Hướng dẫn sử dụng viên uống Nattokinase 2000FU

Ngày 3 viên. Nên dùng trước bữa ăn 30 phút hoặc sau bữa ăn 60 phút, tuyệt đối không dùng với nước nóng trên 40 độ C.

Viên uống hỗ trợ điều trị tai biến Nattokinase 2000FU Orihiro: 480.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

https://healthmart.vn › Sản phẩm › Làm đẹp › Hỗ trợ sức khỏe

https://www.hangngoainhap.com.vn › Thực phẩm chức năng › Hỗ trợ tim mạch

Thực phẩm chức năng hỗ trợ phòng chống tai biến, đột quỵ Vitaginus

Viva Pharmaceutical được thành lập vào tháng 4/1994, được xem là một trong những nhà sản xuất dược phẩm và thực phẩm chức năng lớn được cấp chứng chỉ GMP tại Canada. Công ty liên tục cải tiến cơ sở vật chất để đảm bảo quy trình sản xuất từ nghiên cứu đến đóng gói bao bì đều hiện đại và tiên tiến, đáp ứng được nhu cầu của những khách hàng khó tính nhất. Các sản phẩm của Viva Pharmaceutical đã có mặt tại nhiều nhà thuốc và bệnh viện trên toàn thế giới.

Thực phẩm chức năng hỗ trợ phòng chống tai biến, đột quỵ Vitaginus chứa thành phần Nattokinase, chiết xuất bạch quả, Coenzyme Q10, Rutin, Vitamin B6… giúp phá các cục máu đông, hoạt huyết, tăng cường tuần hoàn và lưu thông máu, giảm tình trạng tụ huyết gây tắc nghẽn mạch, giảm di chứng do tai biến mạch máu não. Đồng thời sản phẩm hỗ trợ giảm suy tuần hoàn não như chóng mặt, tình trạng hay quên, ngủ gà ngủ gật, kém tập trung, suy nhược, chóng mặt, đau đầu ở người lớn tuổi, hỗ trợ phòng ngừa tai biến mạch máu não.

Đối tượng sử dụng

  1. Người thiếu máu lên não, rối loạn tiền đình, rối loạn vận mạch máu não gây: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, suy giảm trí nhớ, kém tập trung, thiếu tỉnh táo, sa sút trí tuệ, mất ngủ
  2. Người có nguy cơ và người bị tai biến mạch máu não, người mắc bệnh tim mạch, tiền sử đột quỵ
  3. Người lao động trí óc, học tập căng thẳng, suy nhược cơ thể, đau mỏi vai gáy, mệt mỏi. Sản phẩm không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Hướng dẫn sử dụng và bảo quản

  • Giúp phòng ngừa: Uống 2 lần/ngày, 1 viên/lần, uống trước bữa ăn 30 phút
  • Liều hỗ trợ: Uống 3 lần/ngày, 1 viên/lần, uống trước bữa ăn 30 phút
  • Sử dụng 3 – 4 đợt/năm, mỗi đợt nên sử dụng 2 – 3 tháng

    Bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp và nhiệt độ cao

Thực phẩm chức năng hỗ trợ phòng chống tai biến, đột quỵ Vitaginus 30 viên: 299.000 đ

Thông tin liên hệ: Website đặt hàng

https://tiki.vn/thuc-pham-chuc-nang-ho-tro-phong-chong-tai-bien-dot-quy-vitaginus-…

https://www.adayroi.com › … › Thực phẩm hỗ trợ sức khỏe › Hỗ trợ não & trí nhớ

Viên uống phòng ngừa và hồi phục đột quỵ Power HLP Nhật bản

Đột quỵ – Tai biến mạch máu não xảy ra đột ngột, gây nên những tử vong cao và để lại cho người bệnh những di chứng nặng nề. Theo như cảnh báo của các chuyên gia y tế việc can thiệp khi bệnh đã xảy ra bằng các thuốc đặc trị đột quỵ hoặc các phương pháp điều trị phẫu thuật rất tốn kém và khó khăn, chưa kể được là người bệnh khó mà hồi phục hoàn toàn. Chính vì thế điều quan trọng là chúng ta có hướng phòng bệnh trước.Vậy giải pháp mà chúng tôi mang đến là viên uống phòng ngừa và hồi phục đột quỵ Power HLP dạng viên nang cứng có hiệu quả cao trong việc phòng ngừa đột quỵ, ngăn ngừa các triệu chứng đột quỵ rất cao, giúp cho cơ thể khỏe mạnh, làm tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Power HLP là dòng sản phẩm của công ty dược phẩm Waki Pharma – Nhật Bản được điều chế từ bột trùn đất và lá dâu tằm có tác dụng ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh nhồi máu cơ tim và đột quỵ (tai biến). Power HLP là sản phẩm của Waki Pharmaceutical – Japan, có truyền thống từ năm 1882 và được cấp bằng sáng chế độc quyền tại Mỹ và Nhật Bản.Công dụng của viên uống phòng ngừa và hồi phục đột quỵ từ Power HLP

  • Viên uống đột quỵ Power HLP Nhật bản làm giảm hình thành và làm tan cục máu đông trong lòng mạch, giúp giảm nguy cơ đột quỵ.
  • Viên uống phòng ngừa và hồi phục đột quỵ Power HLP Nhật bản làm giảm nguy cơ xơ vữa mạch máu.
  • HLP Power giúp làm giảm lượng cholesterol và mỡ máu.

Những điểm đặc biệt của sản phẩm Power HLP Nhật Bản: Nguồn nguyên liệu trùn đất của HLP Power được nhà sản xuất Waki trực tiếp nuôi và thu hoạch tại nhà máy ở thành phố Nara Nhật Bản, theo quy trình đạt chuẩn GMP từ khâu chọn giống, phương pháp cho ăn, thu hoạch và bào chế thành dạng bột từ năm 1951.

Đối tượng sử dụng viên uống Power HLP Nhật Bản:

  • Người có nguy cơ tai biến, nhồi máu cơ tim, huyết áp cao, tiểu đường.
  • Người đang điều trị, phục hồi sau tai biến, nhồi máu cơ tim.
  • Người có tiền sử tai biến, nhồi máu cơ tim muốn phòng ngừa tái phát.

Cách dùng Viên uống phòng ngừa và hồi phục đột quỵ Power HLP Nhật BảN: Uống chung với nước, uống sau bữa ăn 30 phút. Liều dùng: 2 viên/ lần, 2 lần/ ngày.

Viên uống phòng ngừa và hồi phục đột quỵ Power HLP Nhật bản: 2.290.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

https://tiki.vn/power-hlp-vien-uong-ho-tro-hoi-phuc-dot-quy-tu-nhat-ban-waki-120-v..

https://aloola.vn › Sức khỏe và Làm đẹp

Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước

Ngưu hoàng Thanh Tâm dạng nước Hàn Quốc là sản phẩm bảo vệ sức khỏe hàng đầu hiện nay. Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước Hàn Quốc phòng ngừa bệnh tim mạch, huyết áp, được nhiều người sử dụng và nhiều chuyên gia khuyên dùng mang lại hiệu quả tích cực.

Ngưu hoàng Thanh Tâm được hãng sản xuất tinh chế dưới dạng nước nên khắc phục được nhược điểm là khó nuốt, dễ gây nghẹn của những dòng an cung hoàng hoàn cùng tác dụng nhưng có dạng điều chế khác. Đây là món quà tuyệt vời mang lại lợi ích củng cố sức khỏe cho hệ tim mạch, tăng cường tuần hoàn máu, giúp giảm căng thẳng thần kinh và cải thiện trí nhớ hữu hiệu.

Công dụng của hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước cho sức khỏe con người:

  • Nếu chúng ta dùng hộp ngưu hoàng Thanh Tâm Hàn Quốc dạng nước chống đột quỵ là một cách phù hợp sẽ đem đến tác dụng giúp cơ thể phòng tránh xơ vữa động mạch, cải thiện hệ miễn dịch, làm giảm tình trạng mỡ máu. Ngoài ra còn làm giảm lượng đường huyết, cải thiện lưu thông máu, tăng sự co bóp ở tim hỗ trợ cho quá trình tuần hoàn khỏi bị tắc nghẽn.
  • Bên cạnh đó, công dụng hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước được chuyên gia đánh giá cao vì nó còn là thực phẩm chức năng an cung ngưu hỗ trợ chữa trị chứng rối loạn tiền đình, tim đập nhanh, điều trị những rối loạn tiền mãn kinh vô cùng tốt cho chị em phụ nữ.
  • Sản phẩm Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước của Hàn Quốc với năng lực ngăn ngừa hiện tượng xuất huyết não, phục hồi chức năng của hệ thần kinh, giúp hoạt huyết dưỡng não và hỗ trợ hồi phục cho những ai đang mắc rối loạn tiền đình, bị đau đầu mãn tính, thiếu máu lên não và phụ nữ trong giai đoạn tiền mãn kinh.
  • Dùng hộp ngưu hoàng Thanh Tâm Hàn Quốc chống đột quỵ dạng nước sẽ mang lại hiệu quả cao trong ngăn ngừa hiện tượng chảy máu não, cải thiện phục hồi chức năng cho những bệnh nhân mới trải qua tai biến hoặc tai biến lâu ngày. Hơn thế nữa, sản phẩm còn được biết đến với công dụng rất tốt cho người bị suy nhược thần kinh do căng thẳng áp lực trong công việc, lao động trí óc với cường độ cao và phải trải qua những biến cố lớn trong cuộc đời.
  • Qua các kết quả nghiên cứu của chuyên gia, chúng ta thấy được công dụng hộp ngưu hoàng Thanh Tâm dạng nước trong phòng tránh và hỗ trợ chữa trị những bệnh về cao huyết áp và tai biến mạch máu não. Với khả năng ích khí dưỡng huyết, hóa đờm và hỗ trợ trị phong, trấn kinh an thần, rất hữu ích cho chứng bệnh do khí huyết không đầy đủ và hỏa khí trong người vượng, đờm nhiệt làm tức ngực khó thở, hoa mắt chóng mặt, đi lại và nói năng khó khăn, đầu óc thiếu tỉnh táo, minh mẫn.

Thành phần trong Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước

  1. Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm chống đột quỵ dạng nước của Hàn Quốc là một sản phẩm được chiết xuất từ những dược liệu rất có lợi cho cơ thể con người như: Cnidium Rhizome 50mg, Linh dương giác 35mg, Long não 41 mg, Gừng 30mg, Bạch Him 30mg.
  2. Ngoài ra, Ngưu hoàng thanh tâm Liquid còn sở hữu những dưỡng chất từ thảo dược quý giá như: Rễ cây hoa mẫu đơn 60mg, Rễ phòng phong 60mg, Rễ cây hoàng cầm 60mg, Cam thảo 202mg, Nhân sâm 97mg, Bồ hoàng 100mg, Vỏ quế 70mg, Bạch truất 60mg, cát cánh 50mg, Bạch phục linh 50mg, Re Bupleurum 50mg, Hột mơ 50mg.
  3. Thành phần Ngưu hoàng Thanh Tâm Liquid dạng nước còn có sự kết hợp cùng một số vị thuốc bổ dưỡng khác như: Sờn mạch môn 60mg, L-Muscone 75mg, Cattle Gallstone 14mg, Bạch chỉ 60mg, Hoài sơn 282mg, Thần khúc 100mg, Glue 70mg, Đại đậu hoàng quyền 70mg.Cách dùng hộp ngưu hoàng Thanh Tâm Hàn Quốc chống đột quỵ dạng nước đạt hiệu quả tốt nhất

Để sử dụng sản phẩm Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm c hống đột quỵ dạng nước mang lại hiệu quả cao nhất cho người dùng, chúng ta cần lưu ý:

Đối với chứng tai biến mạch máu não, trong 30 ngày đầu, mỗi ngày chúng ta dùng 1 lọ ngưu hoàng Thanh Tâm, cách một ngày dùng 1 lần. Kết hợp bài tập bổ trợ và chế độ dinh dưỡng khoa học, một đợt hỗ trợ điều trị hiệu quả thường dùng khoảng 5 – 10 hộp và tùy vào mức độ nặng nhẹ của tình trạng tai biến não.

Còn với người bệnh rối loạn tiền đình, thiếu máu não, đau đầu, phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh…thì 2 ngày dùng 1 lọ, một đợt sẽ dùng khoảng 5 Hộp ngưu hoàng Thanh Tâm Liqiud dạng nước.

Ngưu Hoàng Thanh Tâm Hàn Quốc Chống Đột Quỵ Dạng Nước: 1.800.000 đ

Thông tin liên hệ:

Website đặt hàng

nguuhoangthanhtam.vn/nguu-hoang-thanh-tam-dang-nuoc-giai-phap-cho-nguoi-ben…

https://shopee.vn › … › Vitamin & Thực phẩm chức năng › Thực phẩm cho sức khỏe

【#3】Cấu Trúc Và Chức Năng Của Tế Bào Procaryot

Như chúng ta biết, tế bào của mọi cơ thể sống đều thuộc một trong hai loại: tế bào chưa có nhân điển hình, hay tế bào procaryot (procaryotic cells), và tế bào có nhân điển hình, hay tế bào eucaryot (eucaryotic cells).

Thuộc về các cơ thể procaryot có vi khuẩn (bacteria) tức vi khuẩn thật (eubacteria) và vi khuẩn cổ (archeobacteria hay archaea). Còn thuộc về các cơ thể eucaryot có tảo, nấm, động vật nguyên sinh, tất cả thực vật và mọi động vật. Như vậy khái niệm “vi sinh vât” chỉ hàm ý là những cơ thể có kích thước hiển vi chứ khong hàm ý gì vể mặt phân loại, hoặc về hệ thống học vốn dựa trên cơ sở cấu trúc và chức năng của tế báo. Vi sinh vật bao gồm các cơ thể thuộc cả hai nhóm, procaryot và eucaryot.

Sự khác nhau rõ ràng nhất giữa chúng là ở chỗ các tế bào procaryot có hình thái đơn giản hơn nhiều so với eucaryot và không có một nhân thật sự – tức nhân được bao quanh bởi một màng nhân; trái lại, tế bào eucaryot thường lớn hơn, phức tạp hơn về hình thái, và nhất là có nhân được bao quanh bởi màng nhân.

Ngoài ra còn hàng loạt sự khác biệt nữa giữa hai loại tế bào, được nêu trong bảng 1.

Bảng 1. So sánh các tế bào procaryot và eucaryot

a. Có thể có thêm thông tin di truyền trên các plasmit.

b. Chỉ có các Mycoplasma và các vi khuẩn dinh dưỡng metan (Methanotrophs) có chứa các sterol. Các Mycoplasma không thể tổng hợp các sterol và đòi hỏi được cung cấp. Nhiều procaryot chứa các hopanoit.

c. Các Mycoplasma và Archaea không có thành tế bào chứa peptidoglican.

Qua bảng 1 và hình 1 có thể khái quát hoá sự khác nhau và giống nhau giữa hai loại tế bào ấy như sau:

– Các tế bào procaryot không có nhân điển hình được bao bọc bởi màng nhân, còn các tế bào eucaryot thì có. Đây là sự khác nhau quan trọng nhất.

– Hầu hết các tế bào procaryot nhỏ hơn và đơn giản hơn cả về cấu trúc lẫn chức năng so với loại tế bào kia. Chúng nhỏ bằng khoảng các ty thể hoặc các lạp thể của eucaryot.

Sự đơn giản về cấu trúc của các procaryot thể hiện ở chỗ chúng không có nhiều cơ quan tử có màng bao quanh, còn sự đơn giản về chức năng thể hiện ở chỗ không có hai cơ chế phân bào gián phân và giảm phân, đơn giản về tổ chức của vật liệu di truyền, thiếu vắng nhiều quá trình phức tạp vẫn diễn ra ở các tế bào eucaryot.

Hình 1. Sơ đồ một tế bào procaryot (a) và eucaryot (b)

a) Sơ đồ lát cắt dọc của một tế bào vi khuẩn. Cm: màng sinh chất, Cp: sinh chất, Ge: tiên mao, Gly: hạt glycogen, Ka; vỏ bọc, Li: Các giọt lipit, N: nucleus, PHB: axit poly- β-hydroxybutyric, Pi: pili, Pl: plasmit, Po: các hạt polyphotphat, Rd: các ribosom và polysom, S: Các giọt lưu huỳnh, Zw: thành tế bào.

b) Sơ đồ lát cắt dọc của một tế bào thực vật. Chl: Các lạp thể, Cm: màng sinh chất, Cp: sinh chất, Di: thể lưới (dictyosom), ER: lưới nội chất, Ex: bóng tiết (exocytose); Li: các giọt lipit, Mi: ti thể, Mt: các vi quản, N: nucleus hoặc nhân, Rb: các ribosom, Tü: lỗ nhỏ trên thành tế bào, V: các không bào, Zw: thành tế bào.

Tuy nhiên sự giống nhau, sự thống nhất về sinh hoá ở mức độ phân tử giữa hai loại tế bào cũng rất hiển nhiên:

– Chúng được tạo thành từ những hợp phàn sinh hoá giống nhau.

– Mã di chuyển của chúng là giống nhau, trừ một vài loại lệ.

– Sự biểu hiện các thông tin di truyền chứa trong ADN của chúng cũng giống nhau.

– Các nguyên lý của trao đổi và các con đường trao đổi chất quan trọng của chúng là giống nhau.

– Do vậy, bên dưới sự khác nhau sâu sắc, rõ rệt về cấu trúc và chức năng của hai loại tế bào, chúng ta vẫn nhìn thấy sự thống nhất thậm chí còn sâu sắc, cơ bản hơn, giữa chúng: đó là sự nhất quán ở mức độ phân tử, sự nhất quán này là cơ sở cho mọi quá trình sống trên hành tinh này.

Trong thực tiễn, khái niệm procaryot được dùng theo nghĩa chung, bao gồm cả vi khuẩn thật (eubacteria) và vi khuẩn cổ (archeobacteria hay archea); khái niệm vi khuẩn (bacteria) thường để chỉ vi khuẩn thật.

Kích thước, hình dạng và sự sắp xếp các tế bào

Có một quan niệm phổ biến cho rằng những cơ thể nhỏ và đơn giản như procaryot thì khá đơn điệu về hình dạng và kích thước. Điều đó chỉ là một mặt của vấn đề. Mặt thứ hai là, chúng cũng khá đa dạng về hình thái và kích thước, do sự khác nhau về bản chất di truyền và cả do điều kiện sinh thái nữa (hình 2, 3, 4, 5).

Về hình dạng, có hai nhóm chính là vi khuẩn hình cầu, hay cầu khuẩn (coccus, cocci) và vi khuẩn hình que hay trực khuẩn (rocl, bacillus, bacilli).

Các cầu khuẩn thì khác nhau về sự sắp xếp các tế bào như sau:

– Song cầu khuẩn (diplococcus, diplococci) là những cầu khuẩn mà khi phân chia chúng không rời nhau, do đó tạo thành một cặp tế bào (Neisseria, hình 5).

– Liên cầu khuẩn (streptococcus, streptococci) là những cầu khuẩn mà sau nhiều lần phân chia trên cùng một mặt phẳng các tế bào không tách ròi nhau. Đó là trường hợp của các chi Streptococcus, Enterococcus, và Lactococcus (hình 2b).

– Tụ cầu khuẩn (Staphylococcus, Staphylococci) là những cầu khuẩn phân chia theo những mặt phẳng bất kỳ do đó tạo thành những chùm tế bào giống như chùm nho (Staphylococcus, hình 2a).

– Vi cầu khuẩn (micrococcus, micrococci), thì thường phân bào trong hai mặt phẳng để tạo thành các khối vuông gồm bốn tế bào (micrococus).

– Ở chi Sarcina, các cầu khuẩn phân chia tế bào trong ba mặt phẳng, do đó tạo thành nhóm hình khối gồm tám tế bào.

Các trực khuẩn thì khác nhau về một vài đặc điểm:

– Tỷ lệ giữa chiều dài với chiều rộng: có những trực khuẩn ngắn đến mức trông gần giống cầu khuẩn, nên có thể gọi là cầu – trực khuẩn (côccbacilli).

– Hình dạng của đầu mút tế bào: phẳng, cong, hình đầu điếu xì gà, đầu xẻ đôi.

– Sự sắp xếp tế bào: nhiều trực khuẩn có tế bào đứng riêng rẽ, một số khác thì xếp tế bào thành chuỗi. Bacillus megaterium có tế bào to và xếp chuỗi dài (hình 2c).

– Dạng cong của tế bào: một số ít trực khuẩn có dạng cong như dấu phẩy hoặc như một vòng xoắn không hoàn toàn, đó là trường hợp của chi Vibrio (hình 2e).

Sự đa dạng về hình thái của vi khuẩn còn thể hiện ở các trường hợp sau đây:

– Xạ khuẩn (Actinomycetes) rất thường tạo những sợi dài – filaments, micelia (hình 3a).

– Nhiều vi khuẩn có dạng giống những trực khuẩn dài xoắn lại, được gọi là các xoắn khuẩn (Spirillum) nếu chúng là rắn chắc, và gọi là xoắn thể (Spirochetes) nếu chúng là mềm dẻo (hình 2d, 3c, 4a, 4b).

– Hypomicrobium có dạng oval đến dạng quả lê (hình 3d) thì tạo thành một chồi ở đầu nút của một sợi dài.

– Có những vi khuẩn khác thì tạo thành những cuống không sống, như Gallionella chẳng hạn (hình 3f).

– Một số ít vi khuẩn có dạng dẹt, ví dụ những khuẩn dẹt sống trong các hồ muối, do Anthony E.Walsby phát hiện (hình 3e). Chúng sống như những hộp dẹt hình vuông tới chữ nhật, kích thước 2 x 2-4μm, dầy chỉ có 0,25 μm.

– Cuối cùng, có những vi khuẩn có hình dạng không cố định, hay không có hình dạng đặc trưng (hình 3b). Bọn này được gọi là có tính đa hình (pleomorphic), thậm chí mặc dù chúng có thể, giống như Corynebacterrim, thường có dạng giống trực khuẩn.

Về kích thước, vi khuẩn cũng rất khác nhau theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, có thể kể:

– Nhỏ nhất và mới được biết đến gần đây nhất, là các “vi khuẩn cỡ nano” (nanobacteria) hay còn gọi là các vi khuẩn siêu nhỏ, có đường kính từ 0,2 μn đến dưới 0,05μm. Một số chủng đã được nuôi cấy thành công, còn hầu hết chúng chỉ là những vật thể giống như vi khuẩn và có kích thước hiển vi mà thôi. Người ta từng quan niệm rằng tế bào chỉ có thể nhỏ đến mức có đường kính 0,14 μm – 0,20 μm, nhưng gần đây người ta đã phát hiện thấy nhiều vi khuẩn nano còn nhỏ hơn thế. Một số nhà vi sinh vật học cho rằng các vi khuẩn nano là những vật thể nhân tạo. Dĩ nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để làm sáng tỏ ý nghĩa của những dạng sống này.

– Vi khuẩn có kích thước quen thuộc là Escherichia coli, với kích thước trung bình là 1,1 – 1,5 μm chiều rộng x 2,0 – 6,0 μm chiều dài.

– Một số ít vi khuẩn thì khá to, ví dụ một số xoắn thể đôi khi dài tới 500μm (nửa milimet!) và một vi khuẩn lam – Oscillatorria – có đường kính tới 7 μm (tương đương hồng cầu của máu).

– Một vi khuẩn khổng lồ, Epulopiscium fishelsoni, sống trong ruột của một loài cá, thì có kích thước tới 600 x 80 μm, nghĩa là xấp xỉ một dấu gạch nối! (hình 6a). Gần đây hơn, đã phát hiện một vi khuẩn còn to hơn thế, sóng trong tầng lắng đọng của đại dương, có tên gọi là Thiomargarita namibiensis, với đường kính 100 – 700 μm (hình 6b). Như vậy một số ít vi khuẩn còn lớn hơn cả một tế bào eucaryot trung bình (một tế bào thực vật hay động vật điển hình có đường kính từ 10 đến 50 μm).

Sự tổ chức của tế bào procaryot

Các tế bào procaryot có các cấu trúc rất khác nhau. Những chức năng chủ yếu của chúng được tóm tắt trong bảng 2 và được minh hoạ một phần ở hình 7. Không phải mọi cấu trúc đều có mặt ở mỗi chi vi khuẩn. Ngoài ra, các tế bào gram âm và gram dương cũng khác nhau về thành tế bào. Tuy vậy, các té bào procarryot vẫn có những đặc tính chung về cấu trúc cơ bản và về các hợp phần quan trọng nhất.

Bảng 2. Chức năng của các cấu trúc ở tế bào procaryot

Các tế bào procarryot là đơn giản hơn nhiều so với các tế báo eucaryot. Điều này sẽ dược thấy rõ hơn sau khi tìm hiểu về tế bào eucaryot trong chuyên đề tiếp theo (chuyên đề “Cấu trúc và chức năng của tế bào eucaryot”).

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?NHỮNG VI KHUẨN KÌ DỊ

Thế rồi, những quan niệm ấy bắt đầu lung lay, khi một vi sinh vật khổng lồ hình điếu xì gà, được phát hiện trong ruột của một loài cá ở Biển Đỏ (Acanthurus nigrofuscus): năm 1985, trong công bố của mình về phát triển nói trên, các tác giả Fishelson, Montgomery và Myrberg cho rằng đó là một sinh vật thuộc giới Protista. Sau đó vào năm 1993, bằng cách so sánh trình tự ARNr để nhận dạng vi sinh vật nói trên, mà ngày nay có tên gọi Epulopiscium fishelssoni, Esther Angert, Kendall Clemens và Norman Pace đã cho biết rằng vi sinh vật này là một procaryot có quan hệ với chi vi khuẩn gram dương Clostridium.

Khi ấy người ta thấy bất ngờ về kích thước của E.fishelsoni (từ chữ Latin epulum – bữa tiệc, và piscium – cá): 80 x 60μm, thông thường dài 200 đến 500μm (hình b). Như vậy vi khuẩn này có khối lượng gấp một triệu lần so với Escherrichia coli! Mặc dầu kích thước khổng lồ như vậy, nó vẫn có cấu trúc tế bào kiểu procaryot. Nó di động với tốc độ khoảng hai lần chiều dài cơ thể/ 1 giây (khoảng 2,4cm/phút) nhờ cá tiên mao kiểu vi khuẩn phủ khắp bề mặt tế bào. Khối sinh chất của nó chứa các nucleoit lớn và nhiều ribosom như ở một tế bào lớn phải có. Epulopiscium dường như đã vượt quá giới hạn về kích thước do sự khuếch tán quy định, nhờ có một lớp ngoài là màng tế bào được cuộn chặt. Điều đó làm tăng bề mặt tế bào và do đó làm tăng cường sự vận chuyển chất dinh dưỡng.

Epulopiscium có lẽ được lan truyền giữa các vật chủ của nó thông qua sự nhiễm phân cá và thức ăn của cá. Vi khuẩn này có thể bị loại trừ bằng cách làm cho con cá vật chủ bị đói trong thời gian vài ngày. Nếu những con cá con chưa bị nhiễm. Đáng chú ý là điều này không xảy ra ở các con cá trưởng thành.

Tuy vậy vi khuẩn nói trên vẫn chưa phải là to nhất, nó mới chỉ bằng 1% so với vi khuẩn Thiomargarita namibiensis được Heidi Schulz tìm thấy trong tầng lắng đọng của biển ở vùng bờ biển Namibia vào năm 1997. Vi khuẩn này có hình cầu, đường kính từ 100μm đến 750μm, thường tạo thành các chuỗi tế bào, trong các bao nhầy. Một không bào chiếm tới khoảng 98% tế bào và chứa chất lỏng giàu nitrat; bao quanh không bào này là một lớp chất nguyên dầy 0,5 μm – 2,0μm chưa đầy các hạt lưu huỳnh. Lớp chất nguyên sinh này có độ dầy đúng như các hầu hết vi khuẩn và đủ mỏng cho các tốc độ khuyếch tán vẫn diễn ra ở vi khuẩn. Nitrat được dùng làm chất nhận điện tử đối với quá trình oxy hoá lưu huỳnh và sản sinh năng lượng.

Như vậy, với sự phát hiện ra hai procaryot khổng lồ nói trên thì quan niệm phân biệt procarryot với eucaryot dựa theo kích thước tế bào đã không còn đứng vững. Những proaryot vừa nhắc đến là lớn hơn nhiều so với một tế bào eucaryot bình thường. Ngoài ra, một số tế bào eucaryot được “phát hiện lại” rằng chúng có kích thước nhỏ hơn so với người ta thường vẫn tưởng. Ví dụ điển hình là Nanochlorum eukaryotum, có đường kính chỉ 1- 2 μm. Hiện nay nó được xác định rằng đó là eucaryot thực sự, với một nucleus, một cloroplasst và một ty thể. Sự hiểu biết của chúng ta về những nhân tố giới hạn kích thước tế bào procarryot cần phải được xem xét lại. Quan niệm rằng các tế bào lớn là tế bào eucaryot và nhỏ là procaryot không thể đứng vững được nữa.

Câu hỏi:

  1. Sự khác nhau căn bản giữa tế bào procaryot và tế bào eucaryot là gì?
  2. Những sự khác nhau giữa chúng?
  3. Sự phát triển ra những vi khuẩn lớn hơn tế bào eucaryot bình thường, và những tế bào eucaryot nhỏ 1 – 2 μm đường kính, nói lên điều gì?
  4. Các tế bào Các tế bào procaryot có thể có những hình dạng đặc trưng nào, kích thước của chúng ra sao.
  5. Chúng có thể tụ tập với nhau theo những cách nào?
  6. Vẽ sơ đồ một tế bào vi khuẩn và ghi chú những cấu trúc quan trọng của nó.

Đại cương

Màng sinh chất

Trong các màng bao giờ cũng có nhiều loại protein và nhiều loại lipit, với tỷ lệ rất khác nhau giữa các loài. Nếu so với các màng ở eucaryot thì màng sinh chất của vi khuẩn thường chứa nhiều protein hơn, có lẽ vì chúng thực hiện nhiều chức năng mà màng các cơ quan tử của tế bào eucaryot thực hiện.

Hầu hết các lipit nào liên kết vớimàng thì có cấu trúc bất đối xứng, với một đầu phân cực và một đầu không phân cực (hình 8) và được gọi là lưỡng cực. Các đầu phân cực thì tương tác với nước (ưa nước, hydrophilic); các đầu không phân ực (kỵ nước, hydrophobic) thì không tan trong nước và có xu thế kết hợp với một đầu kỵ nước khác. Đặc tính này của các lipit làm cho chúng có khả năng tạo thành một loép kép ở trong các màng. Các bề mặt ngoài có tính ưa nước, còn các đầu kị nước thì được giấu vào bên trong, cách ly với nước ở xung quanh. Trong số các lipit lưỡng cực như vậy có rất nhiều phospholipit (hình 8).

Thành phần lipit của các màng vi khuẩn thay đổi theo nhiệt độ duy trì được trang thái lỏng của mình trong quá trình sinh trưởng. Ví dụ, những vi khuẩn sinh trưởng ở các nhiệt độ thấp thì phải chứa các axit béo có điểm nóng chảy thấp trong photpholipit ở màng của chúng.

Các màng của vi khuẩn thường khác với các màng của eucaryot ở chỗ chúng không chứa các sterol, như cholesterol chẳng hạn (hình 9a). Tuy nhiên, nhiều loại màng của vi khuẩn chứa các phân tử với các cấu trúc giống sterol nhưng có 5 vòng, được gọi là các hopanoit (hình 9b) và trong các hệ sinh thái thì có một lượng khổng lồ các chất này. Các tính toán cho biết rằng tổng lượng các hopanoit trong các tầng lắng đọng ở mọi thuỷ vực là khoảng 10 11-12 tấn, xấp xỉ tổng lượng cacbon hữu cơ trong tất cả các cơ thể sống (10 12 tấn). Có bằng chứng cho thấy rằng các hopanoit đã góp phần đáng kể vào sự hình thành dầu mỏ. Các hopanoit được tổng hợp từ cùng những tiền chất của các steroit. Giống như các steroit ở eucaryot, các hopaniot có lẽ làm ổn định màng vi khuẩn – các lipit của màng dược sắp xếp thành hai lớp phân tử có các đầu kị nước đối diện nhau (hình 10)

Đặc biệt, các màng của nhiều vi khuẩn cổ khác với màng vi khuẩn thật ở chỗ có lớp đơn chứa các phân tử lipit chiếm hầu như toàn bộ bề dày của màng, thay vì lớp kép.

Các màng tế bào là những cấu trúc rất mỏng, chỉ dày khoảng 5-10mm và chỉ có thể được nhièn thấy dưới kính hiển vi điện tử. Bằng các kỹ thuật hiện đại, người ta thấy rằng nhiều loại màng, trong đó có màng sinh chất, có cấu tạo bên trong phức tạp. Những hạt hình cầu nhỏ nhìn thấy trong các màng này có lẽ là những protein của màng, chúng nằm ở giữa lớp lipit kép của màng (hình 11).

Mô hình cấu trúc màng được thừa nhận rộng rãi nhất là mô hình khảm lỏng của S.Jonathan Singer và Garth Nicholson (hình 10). Theo mô hình này thì có hai loại protein của màng. Các protein phụ thì gắn lỏng lẻo với màng và có thể dễ dàng bị loại bỏ. Chúng tan trong các dung dịch nước và chiếm 20 – 30% tổng lượng protein của màng. Phần còn lại, 70-80%, là các protein thiết yếu của màng. Chúng không dễ dàng được tách chiết khấu và không tan trong các dung dịch nước.

Các protein thiết yếu, giống như các lipit của màng, có tính lưỡng cực: những vùng kị nước của chúng được vùi vào trong lớp lipit kép, còn những phần ưa nước thì nhô ra khỏi mặt bề mặt của màng (hình 10). Một số protein này thậm chí rất lớn, nằm xuyên qua toàn bộ bề dày của lớp lipit kép. Các protein thiết yếu có thể dịch chuyển một chút so với bề mặt màng nhưng không thể quay lộn đầu đuôi hoặc xoay quanh trục của nó, ở trong lớp lipit.

Ở bề mặt ngoài của các protein trong màng sinh chất cũng thường có những cacbohydrat đính vào và có lẽ chúng có những chức năng quan trọng nào đó.

Màng sinh chất của các tế bào procaryot phải hoàn thành hàng loạt chức năng như:

Rõ ràng, màng sinh chất là một bộ phận thiết yếu của vi sinh vật.

Sinh chất của các tế bào procaryot không chứa các quan tử có màng phức tạp kiểu như ty thể (mitôchndria) hoặc lục lạp (chloroplasts), nhưng vẫn có thể có một vài kiểu cấu trúc màng.

Kiểu cấu trúc màng phổ biến nhất là mesocom (mesosome). Đó là những phần của màng tế bào chìm sâu vào trong khối sinh chất, có dạng túi (bọng), ống, hoặc tấm dẹt (hình 12 và 16). Chúng thường có mặt ở vi khuẩn gram dương cũng như có mặt cả ở nhóm gram âm.

Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà vi khuẩn học cho rằng các mesosom không phải là những cấu trúc tự nhiên của tế bào, chúng xuất hiện do sự xử lý hoá học tế bào nhằm soi kính hiển vi điện tử. Có lẽ chúng là những phần của màng tế bào có sự khác biệt về hoá học và bị đứt ra bởi hoá chất dùng để xử lý tế bào.

Một kiểu màng khác, khác hẳn mesosom, cũng tồn tại ở nhiều vi khuẩn (hình 13). Đó là những màng sinh chất gấp khúc nhiều lân và chiếm một khoảng lớn trong tế bào như ở nhiều vi khuẩn quang hợp (vi khuẩn lam, vi khuẩn tía), hoặc như ở các vi khuẩn có cường độ hô hấp mạnh như vi khuẩn nitrat hoá.

Những màng này cũng có thể tụ tập lại thành các bóng hình cầu, bóng dẹt, hoặc các màng hình ống. Có lẽ nhờ sự gấp nếp này mà màng có được bề mặt rộng lớn để có thể hoạt động trao đổi chất mạng hơn.

Câu hỏi:

  1. Mô tả bằng sơ đồ có ghi chú và bằng lời, mô hình khảm lỏng của màng tế bào.
  2. Liệt kê các chức năng của màng sinh chất.
  3. Vai trò của lipit của màng đối với đời sống vi khuẩn?
  4. So sánh màng tế bào của tế bào procaryot với tế bào eucaryot, của vi khuẩn cổ với vi khuẩn thật.
  5. Hãy nói về các hopanoid.
  6. Các cấu trúc nội sing chất khắc của vi khuẩn, không kể mesosom?

Đại cương

Chất nguyên sinh của tế bào procaryot khá với các tế bào eucaryot ở chỗ không chứa cac cơ quan tử gắn với màng tế bào.

Khối chất nguyên sinh (cytoplasmic matrix) là khối chất nằm giữa màng sinh chất và nucleoit; nó chứa nhiều nước (70% khối lượng).

Qua kính hiển vi điện tử, thường thấy chất nguyên sinh chứa các ribosom (ribosomes) và có tổ chức cao (hình 14). Các protein đặc biệt được sắp xếp ở những vị trí đặc biệt, ví dụ ở cực của tế bào và tại nơi mà tế bào sẽ phân chia. Như vậy, mặc dù vi khuẩn có thể không có bộ khung tế bào thực sự, nhưng chúng có một hệ thống tương tự như thế, có bản chất protein, nằm trong khối chất nguyên sinh và nhờ thế mà tế bào có hình dạng nhất định.

Màng sinh chất và mọi cấu trúc được bao bọc trong nó hợp thành cái gọi là thể nguyên sinh (protoplast); như vậy khối chất nguyên sinh chính là phần chủ yếu của protoplast.

Các thể ẩn nhập (Inclusion Bodies)

Đó là những hạt chất hữu cơ hoặc vô cơ có mặt trong khối chất nguyên sinh, thường được nhìn thấy rõ dưới kính hiển vi quang học.

Những hạt này thường được tế bào dùng như những kho dự trữ chất dinh dưỡng hưu cơ, vô cơ và dự trữ năng lượng, và cũng làm giảm áp suất thẩm thấu trong tế bào bằng cách liên kết các phân tử thành dạng hạt.

Một số loại hạt ẩn nhập không có màng bao bọc mà nằm tự do trong bào chất, đó là:

Một số loại hạt ẩn nhập khác thì có màng bao quanh, màng này dầy khoảng 2-4mm, là màng đơn và không phải là màng kép đỉnh hình. Các ví dụ là:

Màng của các thể ẩn nhập có thành phần hoá học khác nhau: một số có bản chất protein, một số khác chứa lipit.

Như trên đã nói, các thể ẩn nhập được dùng để dự trữ dinh dưỡng và năng lượng, nên số lượng của chúng thay đổi theo trạng thái dinh dưỡng của tế bào. Ví dụ các hạt polyphotphat sẽ cạn kiệt nếu tế bào sống ở các môi trường nước ngọt vốn nghèo photphat.

  • Các hạt glycogen và các hạt poly-β-hydroxybutyrat (PHB) là những nguồn dự trữ cacbon để tế bào sinh ra năng lượng và thực hiện sinh tổng hợp. Nhiều vi khuẩn cũng dự trữ cacbon dưới dạng các giọt mỡ.

Poly-β-hydroxybutyrat (PHB) gồm những phân tử hydroxybutyrat nối với nhau bằng các cầu nối este giữa các nhóm cacboxyl của các phân tử liền kề.

Thông thường thì mỗi loài vi khuẩn chỉ chứa một trong hai loại polyme nói trên, nhưng các vi khuẩn quang dưỡng thì chứa cả hai.

Các hạt poly-β-hydroxybutyrat có kính 0,2 – 0,7μm dễ nhận biết, được nhuộm màu bằng thuốc nhuộm Sudan đen để quan sát dưới kính hiển vi quang học, chúng cũng dễ nhìn thấy dưới kính hiển vi điện tử (hình 16).

So với PHB, glycogen được bố tản mát hơn trong khối chất nguyên sinh, dưới dạng các hạt nhỏ các đường kính 20 – 100mm và thường chỉ được nhìn thấy qua kính hiển vi điện tử. Nếu các tế bào chứa nhiều glycogen thì phép nhuộm bằng dung dịch iodin sẽ làm cho chúng bắt màu nâu – đỏ.

– Các hạt xyanophyxin là dự trữ nitơ ở vi khuẩn lam (hình 18a) được cấu tạo từ các polypeptit lớn chứa những lượng gần bằng nhau của arginin và axit aspartic. Các hạt này thường đủ lớn để nhìn thấy qua kính hiển vi quang học.

– Cacboxysom là những hạt dự trữ về enzym ribulozơ 1,5 – biphotphat cacboxylazơ (ribulose -1,5 – biphosphat carboxylase) và có thể là một vị trí của sự cố định CO 2. Chúng có mặt ở nhiều vi khuẩn lam, nhiều vi khuẩn nitrat hoá, và nhiều Thiobacillus. Các hạt này là những khối đa diện có đường kính khoảng 100m.

– Các không bào khí, một loại thể ẩn nhập hữu cơ đáng chú ý nhất, có vai trò của những phao – làm cho tế bào nổi hẳn lên bề mặt hoặc ở gần bề mặt môi trường nước. Các không bào này có mặt ở nhiều vi khuẩn lam, vi khuẩn quang hợp màu tía và màu lục và ở một số vi khuẩn ở nước khác – như Halobacterium và Thiothrix.

Các không bào khí là một cấu trúc gồm nhiều cấu trúc nhỏ, hình trụ rỗng được gọi là các bóng khí (hình 17). Các thành của các bóng khí chứa lipit và chỉ bao gồm một protein nhỏ duy nhất. Các dưới đơn vị của protein này được xếp với nhau để tạo thành một hình trụ kín, cứng, rỗng và không thấm nước, nhưng các khí của không khí đi qua. Những vi khuản có không bào khí có thể tự nổi ở độ sâu cần thiết – phù hợp với cường độ ánh sáng, nồng độ oxy và nồng độ chất dinh dưỡng. Chúng tự chìm xuống bằng cách đơn giản làm vỡ các bóng khí, còn muốn nổi lên thì cần phải tạo thành các bóng khí mới.

Các thể ẩn nhập vô cơ bao gồm:

– Các hạt polyphotphat hoặc các hạt volutin (hình 18a), là những dự trữ photphat hoặc dự trữ năng lượng của nhiều vi khuẩn.

Polyphotphat là một polyme không phân nhánh của các ortophotphat liên kết với nhau bằng các cầu nối este. Như vậy các hạt volutin là những dự trữ photphat – một hợp phần quan trọng của các cấu trúc tế bào như các axit nucleic chẳng hạn. Ở một số vi khuẩn, các hạt volutin còn là dự trữ năng lượng.

Các hạt volutin đôi khi còn có tên là các hạt đổi màu (metachromatic granules): chúng có màu đỏ hay các màu xanh khác nhau tuỳ theo được nhuộm bằng xanh metylen hay bằng xanh toluidin, theo thứ tự.

– Các hạt lưu huỳnh, là kho dự trữ lưu huỳnh tạm thừi là một số vi khuẩn (hình 18b). Ví dụ, vi khuẩn quang hợp màu tía có thể sử sunfua hydro (hydrogen sulfide) làm chất cho điện tử trong quá trình quang hợp và tích luỹ lưu huỳnh sinh ra, trong khoang chu chất hoặc trong những giọt nhỏ đặc biệt của sinh chất.

– Thể từ tính (magetosome), là một loại thể ẩn nhập không có chức năng dự trữ mà là để tự định hướng trong những vùng có từ tính của trái đất. Thể này chỉ có ở một số ít vi khuẩn (Đọc chuyên mục Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?, bài Các nam châm sống). Trong các thể này có chứa sắc ở dạng quặng sắt từ.

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì? CÁC NAM CHÂM SỐNG

Các vi khuẩn không những có thể đáp ứng với các nhân tố hoá học của môi trường, như chúng ta đã biết, mà còn đáp ứng với các nhân tố khác nữa. Một ví dụ hấp dẫn các vi khuẩn nước có đáp ứng với từ tính (aquatic magnetotactic bacteria), chúng có khả năng tự định hướng trong vùng có từ trường của trái đất. Hầu hết những vi khuẩn này có chứa những chuỗi nội bào của các hạt có từ tính (Fe 3O 4) hay còn gọi là các thể từ tính (magnetosomes), với đường kính khoảng 40 – 100mm (hình 19a,b); những vi khuẩn này cũng thường được bao bọc bởi một màng ngoài (hình 19a).

Một số loài khác, sống trong môi trường có lưu huỳnh, thì có các thể từ tính có bản chất là greigit (greigite, Fe 3S 4) và pyrit (pyrite, FeS 2).

Vì rằng mỗi hạt quặng sắt nói trên là một nam châm nhỏ xíu nên trên các vi khuẩn ở bắc bán cầu thì dùng chuỗi thể từ tính của mình để xác định hướng bắc và hướng đáy của thuỷ vực, để bơi xuống sâu tới tầng lắng đọng giàu dinh dưỡng hoặc tự định vị ở độ sâu tối ưu trong các môi trường nước ngọt và nước biển. Các vi khuẩn có đáp ứng từ tính ở nam bán cầu nói chung cũng xác định nam và hướng dấy theo cách như vậy.

Điều thú vị là các thể từ tính cũng có mặt ở não của chim, cá ngừ California, cá heo, rùa xanh và động vật khác, có lẽ giúp vào chuyển động bay hơi của chúng. Như vậy, động vật cũng có nhiều tập tính giống với của vi khuẩn và những sự giống nhau này là nhiều hơn những gì chúng tưởng tượng trước đậy.

Các ribosom (Ribosomes)

Dưới kính hiển vi điện tử có độ phóng đại thấp, các ribosom gắn lỏng lẻo với màng sinh chất. Các ribosom nằm trong khối chất nguyên sinh thì tổng hợp các protein được giữ trong tế bào, còn các ribosom gắn với màng chất thì tổng hơp các protein để được đưa ra bên ngoài tế bào.

Chuỗi polypetit mới được tạo thành thì cuốn (= gấp) khúc lại để có hình dạng cuối cùng của nó ngay khi được tổng hợp tại ribosom, hoạc không lâu sau khi được tổng hợp xong. Hình dạng của mỗi protein phụ thuộc vào trìh tự các axit amin của nó. Có những protein đặc biệt được gọi là chất “chăm sóc” (chaperones), làm nhiệm vụ trợ giúp chuỗi polytein đặc biệt được gọi là chất “chăm sóc” (chaperones), làm nhiệm vụ trợ giúp chuỗi polypeptit trong quá trình cuốn khúc để tạo thành các cấu hình riêng của mình. Sự tổng hợp protein, bao gồm rất nhiều hoạt động của các ribosom và các chaperon thì vượt quá khuôn khổ của mục này nên không được đề cập ở đây.

Cần lưu ý rằng các ribosom của tế bào pocaryot thì nhỏ hơn của tế bào eucaryot. Chúng thường được gọi là các ribosom 70S, có kích thước 14-15x20mm, có trọng lượng phân tử khoảng 2,7 triệu và được hợp thành bởi một tiểu phần 50S và một tiểu phần 30S. Chữ S trong các con số nói trên biểu thị đơn vị Svedberg. Đó là đơn vị của hệ số lắng, một đơn vị đo tốc độ lắng trong ly tâm; một hạt càng di chuyển nhanh khi bị ly tâm thì giá trị Svedberg của nó hay hệ số lắng của nó càng lớn. Hệ số lắng là một hàm số của trọng lượng phân tử của hạt, hàm số của khối lượng hạt ấy. Các hạt càng nặng và càng rắn chắc thì thường có trị số Svedberg lớn hơn và lắng nhanh hơn. Các ribosom trong khối chất nguyên sinh của tế bào eucaryot là những ribosom 80S với đường kính khoảng 22nm. Mặc dù khác nhau về kích thước, cả ribosom của tế bào procaryot cũng như eucaryot đều được cấu thành bởi một dưới đơn vị lớn và một dưới đơn vị nhỏ.

Câu hỏi:

  1. Mô tả vắn tắt bản chất và chức năng của khối chất nguyên sinh.
  2. Hỏi tương tự cho ribosom.
  3. Protoplast là gì?
  4. Các tế bào procaryot có những loại thể ẩn nhập nào, chức năng của chúng là gì?
  5. Không bào khí là gì, liên hệ giữa cấu trúc và chức năng của nó?

Thể nhiễm sắc của các tế bào procaryot nằm tại một vùng có hình dạng không cố định được gọi là nucleoit; tên này đồng nghĩa với: thể nhân (nuclear body), thể chất nhiễm sắc thể (chromatin body) và vùng nhân (nuclear region).

Có thể coi vùng nhân này tương đương với nhân (thực sự) ở các tế bào eucaryot, nucleus tức một cơ quan tử có màng bao bọc, trong đó có các thể nhiễm sắc (từ 2 thể trở lên). Sự khác biệt về cách đóng gói vật liệu di truyền này được coi là sự khác biệt lớn nhất giữa các tế bào procaryot và eucaryot.

Thông thường, mỗi tế bào procaryot chứa một vòng xoắn kép duy nhất của axit deoxyribonucleic (ADN), nhưng một số vi khuẩn thì lại có thể nhiễm sắc ở dạng ADN không đóng vòng kín. Ngoài ra, gần đây người ta còn biết thêm rằng một số vi khuẩn như Virio cholerae có hơn thể nhiễm sắc.

Mặc dù vẻ ngoài của các nucleoit ở các vi khuẩn là khác nhau tuỳ theo phương pháp cố định và phương pháp nhuộm, nhưng qua ảnh hiển vi điện tử đều thấy ở chúng có các sợi (hình 16) và có lẽ chúng đều là ADN.

Ngoài những hình ảnh thông thường của nucleoit qua kính hiển vi quang học sau khi nhuộm bằng thuốc nhuộm Feulgen đặc hiệu với ADN, còn có thể thấy những hình ảnh đặc biệt sau đây, thấy qua kính hiển vi quang hoặc hoặc điện tử.

  • Có nhiều hơn 1 nucleoit trong mỗi tế bào vi khuẩn, nếu đó là tế bào đang phân chia sau khi vật liệu di truyền được nhân đôi (hình 20a).
  • Nucleoit có những phần nhô ra, chĩa tua tủa ra xung quanh hướng vào khối sinh chất (hình 20b,c); đó là trường hợp ở những tế bào đang sinh trưởng mạnh. Có lẽ những phần nhô ra này chứa ADN đang được phiên mã mạnh để tạo thành ARN thông tin (mRNA).

Các nucleoit có thể được tách nguyên vẹn ra khỏi các màng để phân tích thành phần hoá học. Chúng gồm 60% ADN, 30% ARN và 10% protein, tính theo trọng lượng. Ở Escherichia coli, một trực khuẩn dài 2 – 6μm mà vẫn nằm gọn trong nucleoit,nghĩa là ADN ấy phải được cuộn lại rất chặt.

AND được xoắn chặt (hình 21), có lẽ là mở ARN và các protein của nucleoit (các protein này khác với các protein thuộc loại histon ở nhân của tế bào eucaryot).

Hình ảnh về một vùng nhân (nucleoit) ở mọi vi khuẩn như trên, bất kể giai đoạn phát triển hay mức độ phân chia, sẽ khác đi trong hai ngoại lệ sau đây thuộc planctomycetes (nhóm vi khuẩn nảy chồi).

  • Ở chi Pirellula, nucleoit dạng sợi cùng với các hạt giống như ribosom tạo thành một vùng, pirellulosom (pirellusosome), được bao bởi một màng đơn.
  • Ở Gemmata obscuriglobus thì thể nhân được bao bọc bởi một màng kép(hình 22).

Ngoài ta còn chưa rõ những màng này có chức năng gì và hai ngoại lệ vừa kể là phổ biến đến mức nào.

Ở một số vi khuẩn có những phân tử ADN xoắn kép, thường đóng vòng, nằm ngoài thể nhiễm sắc và thường không gắn với màng sinh chất, đó là các plasmit.

Các plasmit có thể tồn tại và sao chép không phụ thuộc vào thể nhiễm sắc, hoặc có thể được nhập làm một với thể nhiễm sắc. Dù thế nào đi nữa thì chúng vẫn được truyền cho các tế bào con (đôi khi một số tế bào con không nhận được plasmit trong quá trình phân bào).

Các plasmit là không cần thiết đối với sinh trưởng và sinh sản của tế bào chứa nó, mặc dù chúng có thể mang những gen làm cho tế bào có một ưu thế chọn lọc như:

  • Có tính kháng thuốc.
  • Có những khả năng mới về trao đổi chất.
  • Có tính gây bệnh.
  • Có một số đặc tính khác.

Vì các plasmit thường di chuyển từ vi khuẩn này sang vi khuẩn khác nên các đặc tính như kháng thuốc chẳng hạn có thể lan truyền trong quần thể.

Câu hỏi.

  1. Nêu khái niệm về nucleoit.
  2. Mô tả bằng lời và bằng hình vẽ, hình ảnh của nucleoit ở hai mức độ: quan sát qua kính hiển vi quang học và hiển vi điện tử. Qua đó nêu nên sự khác nhau về nucleoit giữa tế bào bình thường và tế bào sinh trưởng mạnh.
  3. Những nucleoit nào là đặc biệt nhất, vì sao?
  4. Plasmit là gì, cấu trúc và chức năng của nó?

Đại cương

Thành tế bào là một lớ vừa tương đối cứng, vừa mềm dẻo, co dãn, nằm ngay bên ngoài màng tế bào, mà bộ khung của nó là peptidoglycan hay còn gọi là murein. Mọi vi khuẩn đều có thành tế bào, trừ Mycoplasma và một số vi khuẩn cổ (archae bacteria).

Nhờ có thành tế bào mà vi khuẩn có hình dạng cố định, có độ cứng, không bị tan do áp suất thẩm thấu, không bị tác động của nhiều chất độc. Nhiều vi khuẩn gây bệnh có được tính gây bệnh là nhờ những hợp phần nào đó trong thành tế bào. Tuy nhiên thành tế bào cũng là đích tấn công của một số chất kháng sinh, như penexilin chẳng hạn.

Về phần các vi khuẩn cổ, thành của chúng khác hẳn thành của các procaryot còn lai về cấu trúc là thành phần hoá học, chủ yếu là do không chứa peptidoglycan mà thay vào đó là các protein, các glycoprotein, hoặc các polysaccarit.

Trở lại với thành tế bào của hầu hết các vi khuẩn. Do sự khác nhau về thành tế bào, các vi khuẩn được chia thành hai nhóm chính dựa theo kết quả của phép nhuộm Gram, do Chiristian Gram đưa ra từ năm 1884: Các vi khuẩn bắt màu tím được gọi là vi khuẩn gra, dương, còn những vi khuẩn bắt màu hòng hoặc do là gram âm. Sự khác nhau thật sự về cấu trúc giữa hai nhóm vi khuẩn này được sáng tỏ nhờ kính hiển vi điện tử truyền qua:

– Thành tế bào vi khuẩn gram dương là một lớp peptidoglycan (tức murein) duy nhất dầy 20 – 80nm, có tính đồng nhất, nằm phía ngoài màng sinh chất (hình 24).

– Trong khi đó, thành tế bào gram âm là rất phức tạp. Nó là một lớp peptidoglycan dầy 2-7nm mà phía ngoài nó còn một màng ngoài dày 7-8nm. Khoảng không gian giữa màng sinh chất và màng ngoài được gọi là khoang chu chất (periplassmic space).

Đôi khi ở vi khuẩn gram dương cũng thấy có một khoảng trống tương tự nhưng nhỏ hơn, nằm giữa màng sinh chất và thành tế bào và cũng được gọi là khoang chứa chất.

Tất cả các cấu trúc bên ngoài màng sinh chất thường được gọi là vỏ hay vỏ tế bào (cell envelope).

Gần đây có những bằng chứng cho thấy khoang chu chất có thể chứa đầy một mạng lưới lỏng lẻo của peptidoglycan. Có thể khoang đó là một khoang chứa đầy gel hơn là chứa chất lỏng. Vật chất của khoang chu chất được gọi là chu chất (periplasm). Các tế bào gram dương, nếu không có một khoang chu chất rõ ràng và riêng biệt thì vẫn có thể chứa chu chất.

Kích thước khoang chu chất của vi khuẩn gram âm là từ 1 đến 71nm. Theo các nghiên cứu mới đây thì khoang này có thể chiếm tới 20 – 40% tổng khối lượng tế bào (30 – 70nm), nhưng cần có thêm nhiều nghiên cứu để đưa ra con số chính xác.

Nếu phá vỡ hoặc loại bỏ cẩn thận thành tế bào mà không làm hư hại màng sinh chất nằm bên dưới nó thì có thể thu được các enzym và các protein khác của chu chất.

Nếu phá vỡ hoặc loại bỏ cẩn thận thành tế bào mà không làm hư hại màng sinh chất nằm bên dưới nó thì có thể thu được cá enzym và các protein khác của chu chất.

Khoang chu chất của vi khuẩn gram âm chứa:

Về phần các vi khuẩn gram dương, như đã đề cập, chúng không có khoang chu chất rõ ràng và có lẽ không có nhiều loại protein của chu chất. Bù lại, chúng tiết ra những enzym tương ứng với các enzym của chu chất ở vi khuẩn gram âm. Những enzym được tiết ra bên ngoài tế bào này được gọi là các enzym ngoại bào (exoenzymes). Một số enzym khác được giữ lại trong chu chất và gắn vào màng sinh chất.

Cấu trúc của peptigoglycan

Bộ khung của thành tế bào procaryot là peptidogycan. Peptidoglycan (tức murein) là một polyme khổng lồ gồm ba loại đơn vị cấu trúc.

– Hai dẫn xuất từ đường là:

  • N-axetylglucassamin (NAG)
  • Axit N-axetylmuramic (lactyl ete của N-axetylglucassamin) (NAM)

– Hai dẫn xuất từ đường này xen kẽ nhau thành chuỗi (-NAG-NAM-NAG-NAM-…)

    Tetrapeptit của bốn loại axit amin khác nhau, ba trong số đó không có mặt trong các protein: axit D-glutamic, axit meso – diaminopimelic và D- alanin; axit amin còn lại là L-alanin. Sự có mặt của các D- axit amin có tác dụng chống sự tấn công của các peptidse.

Các đơn vị cấu trúc của peptidoglycan ở hầu hết các vi khuẩn gram âm và nhiều vi khuẩn gram dương được trình bày ở trên hình 25. Phần chính của polyme nàylà những chuỗi trong đó các gốc N- axetylglucosamin và axit N-axetylmurramic xen kẽ nhau. Mỗi chuỗi tetrapeptit (của 4 axit amin thuộc 4 loại kể trên) nối vào nhóm cacboxyl của axit N-axetylmurramic. Ở nhiều vi khuẩn thì tại vị trí thứ ba trong chuỗi ấy không phải là axit meso – diaminopimelic mà là một axit diamin khác, thường là L- lisin (hình 26).

Peptidoglycan như thế này là đặc trưng cho Escherichia coli, cho hầu hết vi khuẩn gram âm và nhiều vi khuẩn gram dương. NAG là N-axetylglucossamin, NAM là Axit N-axetylmurramic (NAG có axit lactic được nối vào bằng liên kết ete). Chuỗi bên tetrapeptit gồm các axit D- alanin và L-amin xen kẽ nhau, axit meso- diaminopimelic được liên kết thông qua L-cacbon của nó.

Các phần của peptiglycan gồm ba loại đơn vị cấu trúc nói trên thì được nối với nhau qua các liên kết ngang giữa các peptit. Thường thì nhóm cacboxyl của D-alamin ở tận cùng của một chuỗi peptit của polysaccarit này dược kết nối trực tiếp với nhóm amin của axit diaminopimelic thuộc chuỗi peptit của polysaccarit khác, nhưng liên kết này cũng có thể được thay bằng một cầu nối peptit (hình 27). Hầu hết peptidoglycan của thành tế bào gram âm không có cầu nối peptit.

Nhờ các liên kết ngang giữa các peptit thuộc các polysaccarit khác nhau mà cái túi peptidoglycan trở nên khổng lồ và có dạng mạng lưới dày đặc (hình 28). Những túi này được tách riêng ra từ các vi khuẩn gram dương và chắc chắn đến mức giữ được hình dạng và tính toàn vẹn của chúng (hình 29), mà vẫn mềm dẻo và co dãn, không giống như xenlulozơ. Chúng cũng phải có các lỗ nhỏ để cho các phân tử khí có thể chui qua.

Thành tế bào vi khuẩn gram dương

Thông thường thì thành tế bào vi khuẩn gram dương là dầy, thống nhất, cấu tạo chủ yếu bằng peptidoglycan chứa các cầu peptit (hình 29 và 30). Tuy nhiên thành tế bào gram dương cũng thường chứa một lượng lơn các axit teichoic, đó là những polyme của glyxerol hoặc ribitol trong đó các monome được liên kết với nhau nhờ các gốc photphat (hình 30 và 31). Các axit amin như D-alamin hoặc ác đường như glucozơ được gắn vào các nhóm glyerol và ribitol. Các axit teichoic được nối vào chính peptidoglycan nhờ liên kết cộng hoà trị với nhóm hydroxyl của axit N-axetylmuramic hoặc nối vào các lipit màng sinh chất; trong trường hợp sau, chúng được gọi là các axit lipoteichoic. Các axit teichoic thường nhỏ lên bề mặt của peptidotglycan và vì chúng mang diện tích âm, nên cũng làm cho thành tế bào gram dương mang điện tích âm.

Chức năng của axit teichoic còn chưa được biết rõ, nhưng có lẽ chsung rất cần thiết cho việc duy trì cấu trúc của thành tế bào. Các axit teichoic không có mặt ở vi khuẩn gram âm.

Các vi khuẩn Staphylococus và hầu hết vi khuẩn gram dương có một lớp gồm các protein ở bề mặt của peptidoglycan của thành tế bào. Những protein này tham gia vào tương tác giữa tế bào và môi trường. Một số protein được liên kết không cộng hoá trị bằng cách gắn với peptidoglycan, với các axit teichoic, hoặc với các thụ thể khác. Ví dụ, các protein của lớp S liên kết không cộng hoá trị với các polyme nằm rải rác khắp trong thành tế bào.

Các enzym tham gia tổng hợp mới và thay thế peptidoglycan có lẽ cũng tương tác không cộng hoá trị với thành tế bào.

Các protein khác thì liên kết cộng hoá trị với peptidoglycan. Nhiều protein liên kết cộng hoá trị của các vi khuẩn gram dương gây bệnh có những vai trò như:

Ở các Staphylococcus, những protein ở bề mặt này được liên kết cộng hoá trị với cầu pentaglyxin của peptidoglycan. Một enzym có tên là sortazơ có nhiệm vụ xúc tác sự gắn của các protein bề mặt vào peptidoglycan của vi khuẩn gram dương. Các sortazow được gắn vào màng sinh chất của tế bào vi khuẩn.

Thành tế bào vi khuẩn gram âm

Ở phần trên, qua hình 24 đã thấy ngay rằng các thành tế bào vi khuẩn gram âm là phức tạp hơn nhiều so với của vi khuẩn gram dương. Tầng peptidoglycan mỏng kề ngày phía ngoài màng sinh chất có thể chỉ chiếm không quá 5-10% trọng lượng của thành tế bào. Ở E. coli, tầng peptidoglycan này dày khoảng 2nm và chỉ gồm 1-2 lớp.

Màng ngoài nằm phía tầng peptidoglycan mỏng (hình 32 và 33). Lớp protein có màng có lượng nhiều nhất có tên là Brau’s lipoprotein, đó là một lipoprotein nhỏ liên kết cộng hoá trị với tầng peptidoglycan nằm phía dưới nó và dầu kị nước của nó thì được vùi sâu vào màng ngoài. Màng ngoài và tầng peptidoglycan gắn với nhau nhờ lipoprotein này chặt đến mức chúng có thể cùng được tách khỏi tế bào như một hợp phần vậy.

Một cấu trúc khác có thể góp phần vào độ rắn chắc của thành tế bào vi khuẩn gram âm và giữ cho màng ngoài ở đúng vị trí của nó, là vùng dính nhau (adhesive site). Màng ngoài và màng sinh chất có lẽ trực tiếp dính vào nhau tại nhiều vùng trên thành tế bào gram âm. Ở những tế bào E. coli bị co nguyên sinh (plasmolyzed), có thể nhìn thấy những vùng tiếp xúc giữa hai màng này. Những vùng dính nhau ấy có thể là những vùng tại đó hai màng trực tiếp dính vào nhau hoặc có thể tại đó hai màng thực sự dung hợp với nhau. Người ta cho rằng các chất có thể đi vào tế bào qua những vùng dính nhau này chứ không đi xuyên qua chu chất.

Có lẽ các hợp phần khác thường nhất của màng ngoài là các lipopolysaccarit của nó (LPSs). Những phân tử lớn và phức tạp này chứa cả lipit cũng như cacbohydrat và gồm ba phần:

LPS từ Salmonella typhimurium đã được nghiên cứu kỹ, cấu trúc chung của nó được mô tả trên hình 34.

Cơ chế nhuộm Gram

Như chúng ta biết, hầu hết vi khuẩn đều thuộc một tỏng hai nhóm dựa theo kết quả bắt màu của chúng trong phép nhuộm Gram: các vi khuẩn gram dương bắt màu tím và các vi khuẩn gram âm bắt màu đỏ hoặc hồng, mặc dù chúng được nhuộm trong cùng một phép nhuộm. Mặc dầu đã có những giải thích khác nhau về hiện tượng này nhưng rất có thể chúng bắt màu khác nhau như vậy là do thành tế bào của chúng có bản chất vật lý khác nhau. Nếu tế bào gram dương bị lấy mất thành tế bào thì chúng trở thành gram âm. Bản thân peptidoglycan thì không bắt màu, mà nó chỉ có tác dụng ngăn cản không cho thuóc nhộm tím kết tinh thoát ra khỏi tế bào đã bị nhuộm. Theo quy trình nhuộm Gram thì đầu tiên vi khuẩn được nhuộm bằng tím kết tinh rồi được xử lý bằng iodin để tăng cường sự giữ thuốc nhuộm. Sau đó khi các vi khuẩn gram dương được tẩy màu bằng cồn etanol thì có thể cồn làm co thắt các lỗ của tầng peptidoglycan dầy. Như vậy phức hệ thuốc nhuộm – iodin được giữ lại trong giai đoạn tẩy màu ngắn ngủi và do vậy vi khuẩn gram dương giữ được màu tím. Trong khi đó, tầng peptidoglycan của vi khuẩn gram âm thì rất mỏng, không có nhiều liên kết ngang và có những lỗ to hơn. Ngoài ra, việc xử lý bằng cồn còn tách được lipit ra khỏi thành tế bào gram âm do đó làm cho thành này càng rỗng hơn. Vì những nguyên nhân vừa kể, cồn có tác dụng loại bỏ phức hệ tím kết tinh – iodin ra khỏi vi khuẩn gram âm.

Thông thường, thành tế bào có vai trò bảo vệ vi khuẩn chống lại sự phá huỷ do áp suất thẩm thấu. Các chất hoà tan được tập trung ở sinh chất của vi khuẩn nhiều hơn so với ở hầu hết các nơi sinh sống của vi khuẩn vốn là nhược trương (hypotonic). Trong quá trình thẩm thấu (osmosis), nước đi xuyên qua các màng có tính thấm chọn lọc như màng sinh chất chẳng hạn, từ các dung dịch loãng (nồng độ nước cao hơn) tới các dung dịch đậm đặc hơn (nồng độ nước thấp hơn). Như vậy thông thường thì nước đi vào các tế bào vi khuẩn và ử đó áp suất thẩm thấu có thể đạt tới 20 atmotphe tức 300 pound/inch vuông. Màng sinh chất không thể chống lại những áp suất thẩm thấu lớn như vậy và tế bào sẽ phòng lên rồi bị phá huỷ nếu không có thành tế bào.

Trong những môi trường sống khác, có tính ưu trương (hypertonic) thì các chất tan có nồng độ cao hơn so với ở bên trong tế bào. Khi ấy nước đi ra khỏi tế bào khiến cho tế bào chất co lại và tách ra khỏi tế bào. Hiện tượng này được gọi là sự co nguyên sinh (plasinolysis) và được ứng dụng để bảo quản thực phẩm: nhiều vi sinh vật không thể sinh trưởng trong thực phẩm khô và trong mứt quả vì chúng bị co nguyên sinh.

Để chứng minh vai trò của thành tế bào trong việc bảo vệ vi khuẩn chống lại sự tan do áp suất thẩm thấu, chúng ta hãy xử lý tế bào bằng lysozym hoặc penexilin. Enzym lysozym và cacbon số bốn của N-axetylglycosamin Còn penixilin thì ngăn cản sự tổng hợp chuỗi tetrapeptit của peptidoglycan. Do đó chỉ những vi khuẩn đang sinh trưởng thì mới bị giết chết bởi penixilin. Ở trạng thái nghỉ (bào tử), hoặc ở trạng thái nguyên sinh trưởng do điều kiện môi trường, vi khuẩn sẽ thoát chết dưới tác dụng của chất kháng sinh này. Nếu cho vi khuẩn tiếp xúc với penexilin trong một dung dịch đẳng trương (isotonic) thì vi khuẩn gram dương bị biến đổi thành các thể nguyên sinh (prôtplast). Các protoplast này tiếp tục sinh trưởng bình thường trong môi trường đẳng trương mà vẫn hoàn toàn không có thành tế bào. Còn về phần các vi khuẩn gram âm, chúng vẫn giữ được màng ngoài của mình sau khi trải quả xử lý bằng penexilin; khi ấy chúng được gọi là các thể hình cầu (spheroplast) bởi vì một phần thành tế bào của chúng được giữ lại. Các protoplast và spheroplast có tính mẫn cảm thẩm thấu: nếu chúng được đưa vào một dung dịch loãng, chúng sẽ bị tan do dòng nước đi vào tế bào không được kiểm soát (hình 35).

Thành tế bào là bộ phận thiết yếu đối với hầu hết vi khuẩn, còn một số vi khuẩn khác thì lại không có nó. Chẳng hạn, các Mycoplasma thì khong có thành và do vậy mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, thế mà vẫn thường có thể sinh trưởng trong các môi trường loãng hoặc trong đất, vì màng sinh chất của chúng vững chắc hơn các màng sinh chất khác. Nguyên nhân chính xác của hiện tưởng này còn chưa được biết rõ, tuy rằng người ta cho rằng các sterol có mặt trong các màng của nhiều loài có thể làm cho các màng này vững chắc thêm. Vì không có một thành tế bào cứng, nên các Mycoplasma thường thuộc loại đa hình (pleomorphic) tức là có khả năng thay đổi hình dạng.

Câu hỏi

  1. Định nghĩa thành tế bào của các tế bào popcaryot?
  2. Hãy nói rõ những trường hợp ngoại lệ về thành tế bào của các cơ thể procaryot.
  3. Phân biệt tế bào gram âm và gram dương.
  4. Mô tả peptidoglycan bằng lời và bằng sơ đồ.
  5. Định nghĩa hoặc mô tả: khoang ngoài, khoang chu chất, chu chất, vỏ, axit teichoic, vùng dính nhau, lipopolysaccarit và protein tạo lỗ.
  6. Giải thích vai trò của thành tế bào trong việc bảo vệ tế bào khỏi bị tan và hãy chỉ rõ vai trò ấy bằng thực nghiệm. Các protoplast và spheroplast là gì?

Đại cương

Tuỳ theo hệ thống phân loại, có ít nhất năm hoặc sáu cách tiết protein khác nhau ở các tế bào procaryot. Trong phần này chúng ta sẽ mô tả vắn tắtt bốn cách tiết protein quan trọng nhất: kiểu phụ thuộc Sec, kiểu II, kiểu I hoặc kiểu ABC, và kiểu III.

Sự tiết protein theo kiểu phụ thuộc Sec

Kiểu phụ thuộc Sec, đôi khi còn được gọi là kiểu tiết chung (general secretion pathway, GSP), là kiểu phổ biến nhất và nhờ nó mà các protein được vận chuyển xuyên qua màng sinh chất. Protein sắp sửa được tiết, tức tiền protein (pprotein) có một peptit tín hiệu (signal peptide) ở axit amin tận cùng của nó, tức ở đầu tận cùng N. Peptit tín nhiện loại bỏ sự gấp khúc của phân tử protein sau khi nó được tổng hợp ở ribosom và được bộ máy Sec nhận biét một cách đặc hiệu. Khi các tiền protein này được tổng hợp ở ribosom thì các chaperon đính vào chúng. Các chaperon giữ các tiền protein không bị gấp khúc lại và giúp chúng đi tới bộ máy vận chuyển – tức translocon. Ở chúng tôi các chaperon được dùng nhiều nhất cho sự vận chuyển của SecB và hạt nhận biết tín hiệu (signal recognition particle, SRP). SecB có mặt ở các vi khuẩn gram âm, còn SRP thấy có mặt ở mọi procaryot. SecB gắn với hợp phần SecA của translocon và tiền protein được chuyển sang cho SecA. Trong những trường hợp khác, phức hợp SRP-tiền protein dịch chuyển tới một thể tiếp nhận SRP. Sau đó tiền protein được nhả ra nhờ sự thuỷ phân GTP và tiền protein liên kết với translocon, có lẽ là với SecA như trước. Có bằng chứng cho thấy rằng sự dịch chuyển của các protein có thể bắt đầu trước khi chúng được tổng hợp xong hoàn toàn ở các ribosom. Sau khi tiền protein đã gắn vào translocon thì nó được vận chuyển xuyên qua màng.

Vi khuẩn cổ thì không khỏi màng sinh chất thì peptit tín hiệu được loại bỏ nhờ một enzym có tiền chung là peptidaza tín hiệu. Sau khi protein gấp khúc để có cấu hình cần thiết, rồi các cầu nối disunfua được tạo thành, nếu cần thiết.

Một số protein được tổng hợp để trở thành những protein của màng sinh chất. Những lipoprotein này có lẽ có một peptidazơ tín hiệu riêng, khác với các protein khác, nhưng vẫn được vận chuyển tới cùng một translocon. Thay vì dịch chuyển ra ngoài tế bào, chúng vùi vào trong màng hoặc “thả neo” ở đó.

Sự tiết protein theo kiểu II

Theo kiểu II này, các protein sau khi đã dịch chuyển tới chu chất (thường là nhờ sự tiết theo kiểu phụ thuộc Sec) thì được tiết ra ngoài xuyên qua màng ngoài. Kiểu II thấy có ở nhiều vi khuẩn gây bệnh và là kiểu quan trọng nhất trong số các kiểu tiếp “tiếp xúc” từ chu chất vốn có ở nhiều vi khuẩn gram âm.

Các vi khuẩn gây bệnh tiết protein theo kiểu II là Erwinia carotovora, Pseudomonas aeruginosa và Vibrio cholerae. Các protein được tiết theo kiểu II ở chúng là các xenlulazơ, các pectinazơ, các proteazơ, các lipazơ, độc tốc cholera và các protein của pili.

Hệ thống tiết kiểu II rất phức tạp và chứa tới 12 – 14 protein, bầu hết chúng có lẽ là những protein thiết yếu của màng.

Sự tiết protein theo kiểu I (kiểu ABC)

Nhiều hệ thống tiết phụ thuộc Sec là những thành viên của một họ và hệ thống vận chuyển có tên gọi là họ casset liên kết ATP (ATP-binding cassette family, họ ABC). Hệ thống kiểu I hay hệ thống tiết ABC dùng để tiết các protein như: các độc tố (ví dụ như α-hemoysin), các proteazơ, các lipazơ và các peptit đặc biệt.

Theo kiểu I (hình 36b), sự tiết protein xảy ra chỉ qua một giai đoạn mà xuyên qua cả hai màng. Các protein được tiết thường chứa tín hiệu tiết ở cacbon tận cùng. Các hệ thống này thuỷphân ATP để điều khiển sự dịch chuyển của cá protein được tiết. Chúng có hai vùng kỵ nước vùi vào trong màng, và hai vùng ưa nước gắn với ATP.Protein dịch đẩy proton đều là cần thiết cho sự tiết theo kiểu I.

Ở các vi khuẩn gram âm như chúng tôi chẳng hạn, một protein là nhiệm vụ liên kết màng sinh chất với màng ngoài, trong quá trình vận chuyển. Một protein khác, ví dụ TolC (một trime) thì tạo thành kênh xuyên qua mang ngoài; TolC thực hiện vai trò này ở một số hệ thống tiết kiểu I, ít ra là như vậy.

Sự tiết protein theo kiểu III

Hệ thống tiết kiểu III có ở nhiều vi khuẩn gram âm gây bệnh và được dùng để tiết các yếu tố độc và “tiêm” chúng vào các tế bào thực vật và động vật chủ. Quá trình tiết và tiêm này dược tăng cường nhờ sự tiếp xúc giữa vi khuẩn và tế bào chủ. Ngoài ra, một tín hiệu hoạt hoá, như nồng độ thấp của ion canxi cũng làm cho sự tiếp diễn có hiệu quả.

Hệ thống tiết kiểu III bao gồm khoảng 20 protein khác nhau. Hệ thống kiểu III của Salmonella typhimurium mô tả trên hình 36c là một ví dụ, và gồm các phần như sau:

  • Phần mảnh như một kim tiêm, nhô ra khỏi bề mặt tế bào.
  • Phần gốc hình trụ, nối liền màng ngoài với màng sinh chất và trông hơi giống thế gốc của tiên mao.

Cả hai phần tạo thành một kênh để qua đó các protein được tiết ra ngoài và được tiêm vào tế bào chủ.

Hệ thống kiểu III thấy có ở các vi khuẩn như Salmonella, Yersinia, Shigella, E.Coli, Bordeteella, Pseudomonas aeruginossa và Erwinia. Nó được dùng để tiết bốn loại protein khác nhau:

  • Các protein cần thiết cho quá trình tiết (ví dụ các protein tạo thành bộ phận “kim tiêm”, như đã nhắc tới ở trên.
  • Các chất điều chỉnh quá trình tiết.
  • Các protein làm nhiệm vụ tăng cường sự “tiêm” protein được tiết vào tế bào đích, và
  • Các protein “gây hiệu quả”, chúng làm thay đổi các chức năng của tế bào chủ.

Các protein gây hiệu quả đôi khi là các enzym và chúng có thể có nhiều chức năng, ví dụ:

  • Hoạt động như những độc tố đối với tế bào chủ.
  • Ức chế sự thực bào
  • Kích thích sự tổ chức lại bộ khung của tế bào.
  • Gây ra hiện tượng apoptosis.

Thông thường các protein nào sẽ được tiết ra thì được gắn với cá chaperon nhỏmà chức năng của chúng còn chưa được biết tới. Những chaperon này có thể trao các protein cho hệ thống tiết, giữ các protein ở trạng thái thích hợp để có thể tiết ra ngoài, hoặc ngăn ngừa sự kết hợp với các protein khác trước khi chúng được tiết ra ngoài.

Vai trò của các hệ thống tiết kiểu III trong tính độc của vi khuẩn sẽ được thảo luật kỹ hơn trong một chuyên đề khác.

Đại cương

Vỏ bọc (capsule), lớp nhầy (slime layer), và lớp S

Vỏ bọc và lớp nhày là một lớp vật chất ở bên ngoài thành tế bào của một số vi khuẩn. Lớp vật chất này có các tên gọi khác nhau tuỳ theo cấu trúc của nó.

  • Nêu slớp này có tổ chức tốt và bám chặt bên ngoài thành tế bào thì nó được gọi là vỏ bọc (capsule).
  • Nếu nó là một vùng vật chất khuyếch tán từ tế bào ra, không có tổ chức rõ ràng và dễ bị lấy đi khỏi tế bào, thì đó là một lớp nhầy (slime layer).

Đôi khi vỏ bọc và lớp nhầy đều được gọi là glycocalyx (hình 37), tức là một mạng lưới polysaccarit bên ngoài bề mặt vi khuẩn và bề mặt các tế bào khác.

Các vỏ bọc và lớp nhầy thường có bản chất polýyccrit, nhưng cũng có thể là các chất. Ví dụ, Bacillus anthracis có vỏ bọc cấu tạo bằng axit poly-D-glutamic. Các vỏ bọc có thể nhìn thấy rõ qua kính hiển vi quang học nếu đowcj nhuộm âm bản hoặc nhuộm bằng các thuốc nhuộm đặc hiệu hiệu (hình 37a); chúng cũng có thể được nghiên cứu qua kính hiển vi điện tử (hình 37b).

Các vỏ bọc là không cần thiết cho sự sinh trưởng và sinh sản của vi khuẩn được nuôi trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên chúng mang lại nhiều lợi thế cho vi khuẩn đang tồn tại trong tự nhiên, như:

Đọc chuyên mục Bạn có biết? Bạn nghĩ gì? Bài VI KHUẨN CHUYỂN ĐỘNG TRƯỢT NHƯ THẾ NÀO?

Nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm có một lớp cấu trúc đều đặn trên bề mặt của chúng, được gọi là lớp S. Ở các vi khuẩn cổ thì lớp S cũng rất phổ biến và có thể là cấu trúc chắc chắn duy nhất bên ngoài màng sinh chất.

Lớp S trông giống lớp gạch lát nền nhà và có bản chất là protein hoặc glycoprotein (hình 39). Nó gắn trực tiếp với màng ngoài của vi khuẩn gram âm và gắn với bề mặt peptidoglycan ở vi khuẩn gram dương.

Lớp S có thể có một hay nhiều vai trò trong số sau đây:

  • Bảo vệ tế bào chống lại những thay đổi về ion và pH.
  • Chống lại những bất lợi về áp suất thẩm thấu.
  • Chống lại các enzym.
  • Chống lại vi khuẩn ăn mồi Bdellovibrio.
  • Giúp vào việc duy trì hình dạng và độ cứng của vỏ.
  • Có thể tăng cường sự bám dính tế bào và các bề mặt.
  • Có lẽ bảo vệ một số vi khuẩn gây bệnh chống lại tác dụng của bổ thể và chống lại sự thực bào, do đó góp phần vào tính độc của những vi khuẩn này.

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì? VI KHUẨN CHUYỂN ĐỘNG TRƯỢT NHƯ THẾ NÀO?

Các chuyển động trượt khác nhau nhiều về cách thức và tốc độ (từ khoảng 2 đến trên 600μm/phút). Các vi khuẩn như Myxococcus và Flexibacterr thì trượt theo hướng song song với trục dọc của tế bào. Còn những vi khuẩn khác, ví dụ Saprospira thì di chuyển theo kiểu xoáy đinh vít, còn Simonsiella thì thậm chí chuyển vuông góc với trục dọc của tế bào.

Beggiatoa, vi khuẩn lam và một số vi khuẩn khác thì quay xung quanh trục dọc của chúng trong khi trượt, nhưng không phải bao giờ chúng ta cũng nhìn thấy như vậy. Nhiều vi khuẩn thì uốn lượn hoặc cũng xoáy “điêu luyện” như khi chúng trượt đi. Sự đa dạng về chuyển động trượt như vậycó thể cho thấy rằng có nhiều thức di chuyển. điều khẳng định này được củng cố thêmbằng hiện tượng một số cơ thể chuyển động trượt (gliders), ví dụ Cytophaga, Glexibacter và Flavobacterium làm di chuyển hoặc làm chuyển dịch rất chậm các hạt ấy. (Nghĩa là, không phải mọi vi khuẩn chuyển động trượt có thể làm di chuyển nhanh các hợp phần của bề mặt tế bào). Mặc dù chất nhầy là cần thiết cho chuyển động trượt nhưng hình như nó không trực tiếp đẩy vi khuẩn tiến về phía trước. Có lẽ nó gắn vi khuẩn vào giá thể và bôi trơn bề mặt để làm cho dễ chuyển động hơn.

Người ta giải thích chuyển động trượt bằng nhiều cơ chế khác nhau:

Tua (Fimbriae) và lông (pili)

Tua (fimbria, fimbriae) và những phần phụ ngắn, mảnh, trông giống như lông, mảnh hơn tiên mao (flagellum) và không có vai trò trong sự di động của tế bào, tồn tại ở nhiều vi khuẩn gram âm.

Mặc dù nhiều ngowif không phân biệt hai thuật ngữ tua (fimbria, fimbriae) và lông (pili), nhưng ở đây chúng ta phân biệt tua và lông giới tính (sex pili). Một tế bào có thể có tới 1000 tua, dày đặc khắp bề mặt; tuy nhiên vì những tua này rất nhỏ nên chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi điện tử (hình 40). Có lẽ đó là những ống mảnh, (đường kính 3 – 10nm, dài vài μm), được cấu tạo bằng những đơn vị protein xếp xoắn.

Về chức năng của các tua

– Một vài loại tua làm nhiệm vụ bám dính tế bào vào các bề mặt rắn, như bề mặt đá trong các dòng suối hoặc bề mặt mô cơ thể chủ.

– Các tua typ IV có mặt ở một hoặc cả hai đầu của tế bào. Ngoài tác dụng để vi khuẩn bám vào các bề mặt trên, chúng cũng góp phần vào chuyển động “xoay đinh vít” ở những vi khuẩn như Pseudomonas aeruginosa, N.gonorrhoeae và một số chủng E.coli. Chuyển động này là gián đoạn, nhát gừng, đạt khoảng vài micromet mỗi lần và thường được nhìn thấy trên các bề mặt rất ẩm. Có những bằng chứng cho thấy các tua co lại mạnh để làm di chuyển những vi khuẩn này.

– Các tua typ IV có lẽ cũng tham gia một vài kiểu chuyển động trượt ở vi khuản nhầy (Myxobacteria).

Các lông giới tính (Sex pili)

Mỗi tế bào vi khuẩn nếu có lông giới tính thì có từ 1-10 cái, giống như những phần phụ và khác với các tua ở những điểm sau đây:

  • Thường lớn hơn các tua (đường kính khoảng 9 – 10nm).
  • Được xác định về mặt di truyền bởi các nhân tố giới tính hay còn gọi là các plasmit tiếp hợp.
  • Là cần thiết đối với sựt iếp hợp của vi khuẩn.
  • Một số virut của vi khuẩn bám đặc hiệu vào các phụ thể (receptors) trên các lông giới tính vào lúc bắt đầu chu kỳ sinh sản của chúng/

Các tiên mao và khả năng di động của vi khuẩn

Cấu trúc chi tiết của một tiên mao chỉ có thể được nhìn thấy qua kính hiển vi điển tử (hình 40).

Sự phân bố, sắp xếp các tiên mao trên tế bào là không giống nhau giữa các loài vi khuẩn:

– Các vi khuẩn đơn mao (monotrichous) có một tiên mao và có thể:

  • Ở một đỉnh của tế bào, khi ấy vi khuẩn được gọi là vi khuẩn đơn mao đỉnh (polar flagellum bacterium, hình 41a)
  • Ở hai đỉnh của tế bào, vi khuẩn được gọi là lưỡng mao đỉnh (amphitrichous bacterium).

– Các vi khuẩn chùm mao (lophotrichous) có một chùm tiên mao ở một hoặc ở hai đỉnh tế bào (hình 41b).

– Các vi khuẩn chu mao (peritrichous) có cá tiên mao phân bố khắp bề mặt tế bào (hình 41c).

Cách phân bố, sắp xếp các tiên mao trên tế bào là một đặc điểm quant rọng để nhận dạng vi khuẩn.

Siêu cấu trúc của tiên mao

Dưới kính hiển vi điện tử truyền qua, chúng ta thấy tiên mao của vi khuản gồm ba phần:

Sợi là một ống hình trụ rỗng, cứng, cấu tạo bằng một protein duy nhất có tên là flagelin (flagellin), với hpân tử lượng từ 30.000 đến 60.000.

Một số vi khuẩn có bao xung quanh mỗi tiêm mao. Đó là trường hợp Bdellovibrrio và Virrio cholerae. Bao của Bdellovibrrio có dạng màng, còn của V.cholerae thì có bản chất lipoplyaccrit.

Thế gốc và bộ phận nối thì khác hẳn sợi (hình 42). Thế giới là phần phức tạp nhất của tiên mao (hình 42 và 43) và có sự khác nhau giữa vi khuẩn gram âm và gram dương:

Bộ phận nối thì hơn to hơn sợi và được cấu tạo từ những loại protein khá nhau.

Sự tổng hợp tiên mao

Hai nhóm gen này gồm khoảng 10 gen hoặc nhiều hơn nữa.

Sự phức tạp còn ở chỗ tế bào điều chỉnh hoặc xác định vị trí chính xác của các tiên mao như thế nào và điều này thì chưa được biết đến.

Sự tái sinh tiên mao

Vi khuẩn có thể bị mất tiên mao và có thể tái sinh phần sợi mất ấy. Sự vận chuyển các hợp phần của tiên mao diễn ra nhờ một bộ máy nằm trong thể gốc; bộ máy vận chuyển này có quan hệ chặt chẽ với hệ thống tiết protein kiểu II vẫn được dùng để tiết các yếu tố độc. Có lẽ các đơn vị của flagelin được vận chuyển thông qua phần thân rỗng bên trong của sợi tiên mao. Khi tới đỉnh thì chúng tụ tập tự phát với nhau theo hướng của một mũ sợi đặc biệt khiến cho sợi dài ra ở đỉnh chứ không phải ở gốc (hình 44).

Sự tổng hợp sợi tiêu mao là một ví dụ rất hay về sự tự lắp ghép. Các thông tin cần thiết cho cấu trúc của sợi có mặt ngay trong các đơn vị của flagelin.

Ngoài tiên mao còn có những cấu trúc khác được hình thành một cách tự phát thông qua sự liên kết của các hợp phần của chúng mà không cần tác dụng của các enzym hoặc ủa các yếu tố khác.

Cơ chế chuyển động bằng tiên mao

Nguyên tắc chung của chuyển động bằng tiên mao là: sợi tiên ma cứng và xoắn quay làm cho tế bào chuyển động, giống như chuyển động của chân viẹt tàu thuỷ. Những vi khuẩn đột biến với ác tiên mao thẳng hoặc có các bộ phận nối quá dài hoặc quá ngắn (những thể đột biến có nhiều bộ phận nối – polyhook mutants) đều không thể bơi được. Nếu vi khuẩn được gắn vào một phiến kính bằng các kháng thẻ của protein của phần sợi hoặc của phần nối thì thân tế bào quay xung quanh tiên mao đứng yên. Nếu các hạt polystyren – latex được gắn vào các tiên mao thì các hạt này quay rất nhanh: môtơ của chúng tôi quay 270 vòng một giây, còn của Vibrrio alginolyticus là 1100 vòng một giây.

Chi tiết của sự chuyển động bằng tiên mao được mô tả như sau:

  • Fli G là đặc biệt quan trọng để khôi phục sự quay của tiên mao.
  • Mot A và Mot B là hai protein quan trọng nhất ở phần stato của động cơ: chúng tạo thành một kênh proteon xuyên qua màng sinh chất, đồng thời Mot B cũng móc phức hệ Mot với tầng peptidoglycan của thành tế bào.

Có những bằng chứng cho thấy MotA và Fli G tương tác trực tiếp trong quá trình quay của tiên mao. Ở procaryot, sự quay này được điều khiển trực tiếp bởi ATP như đối với tiên mao của eucaryot.

Tiên mao là một “dụng cụ” bởi rất hiệu quả của tế bào. Đối với vi khuẩn thì bơi hoàn toàn là một “nhiệm vụ”, bởi vì nước ở xung quanh chúng thì “bao la” và “đặc quánh” hư rỉ đường (mật mía) vậy. Nghĩa là tế bào phải “khona” nước bằng “mũi khoan” của nó là những tiên mao hình xoắn hay hình cái khoan nút lie. Nếu hoạt động của tiên mao ngừng lại thì tế bào cũng đứng ngay tại chỗ không di chuyển được nữa. Mặc dù môi trường có sức cản lớn như vậy, các vị khuẩn vẫn có thể bơi từ 20 đến gần 90μm/giây, tương đương với từ 2 đến 100 chiều dài của tế bào/giây. Trong khi đó một người chậy rất nhanh chỉ có thể chạy được đoạn đường gấp 5 lần chiều cao cơ thể trong một giây.

Ngoài sự quay của tiên mao, vi khuẩn còn có những cách vận động khác:

  • Các khuẩn xoắn (xoắn khuẩn, Spirochetes) là những vi khuẩn hình xoắn di chuyển nhờ những chất nhầy nhớt, bằng những chuyển động uốn khúc và xoay của một sợi đặc biệt quấn theo hướng trục tế bào, gồm những tiên mao đặc biệt.
  • Nhiều vi khuẩn khác thì di động theo kiểu trượt (gliding mibility). Đó là trường hợp của vi khuẩn lam (Cyanobacteria), vi khuẩn nhầy (Myxobacteria), các Cytophaga và một số Mycoplasma. Mặc dù không có những cấu trúc bên ngoài tế bào chuyên trách về chuyển động theo kiểu trượt, những vi khuẩn này vẫn có thể di chuyên trên cách bề mặt cứng với tốc độ tới 3 μm/giây.

Câu hỏi

1.a) Nêu những đặc điểm chủ yếu và những chức năng chủ yếu của bốn hệ thống tiết protein.

b) Hệ thống tiết protein phụ thuộc Sec và hệ thống tiết kiểu I hoạt động như thế nào?

2. Mô tả vắn tắt: các vỏ bọc, các lớp nhầy, các glycocalyx và các lớp S. Chức năng của chúng là gì?

3. Phân biệt các tua với pili giới tính và nêu chức năng của chúng.

– Các kiểu phân bổ tiên mao ở vi khuẩn.

– Cấu trúc tiên mao và sự tổng hợp chúng.

– Tiên mao hoạt dộng như thế nào để làm cho vi khuẩn di chuyển được?

Không phải bao giờ vi khuẩn cũng bơi không có mục đích. Trong nhiều trường hợp cúng bơi hướng tới nơi có chất dinh dưỡng như các đường, axit amin v.v… hoặc bơi tách xa các chất có hại và các chất thải của chúng. Ngoài ra, vi khuẩn còn đáp ứng với những yếu tố của môi trường như nhiệt độ, ánh sáng, trọng trường… (Xem chuyên mục Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?, bài CÁC NAM CHÂM SỐNG). Chuyển động hướng tới các chất có ích và tránh xa các chất có hại được gọi là hoá ứng đọng (chemotaxis). Tập tính này rõ ràng có lợi cho vi khuẩn.

Các vi khuẩn có thể đáp ứng với những nồng độ rất thấp của chất hấp dẫn (từ 10-8 M đối với một số loại đường), mức độ đáp ứng của chúng tăng theo nồng độ chất hấp dẫn. Còn đối với các chất có hại thì thông thường chúng chỉ cảm nhận được ở những nồng độ cao hơn. Nếu một chất hấp dẫn và một chất cần phải tránh xa cùng có mặt thì vi khuẩn sẽ so sánh hai tín hiệu này để có đáp ứng đối với hoá chất nào có nồng độ gây ra đáp ứng.

Các chất hấp dẫn và các chất cần phải tránh xa được vi khuẩn phát hiện nhờ các hoá thụ thể (chemoreceptors). Đó là những protein đặc biệt có nhiệm vụ liên kết với các chất và chuyển những tính hiệu này tới những hợp phần khác của hệ thống cảm nhận hoá chất (chemosensing). Cho tới nay người ta biết được khoảng 20 hoá thụ thể dùng để nhận ra các chấp hấp dẫn và 10 hoá thụ thể dành cho các chất cần phải tránh xa. Những protein của hoá thụ thể này có thẻ nằm ở khoang chu chất hoặc ở màng sinh chất. Một số thụ thể tha gia vào những giai đoạn đầu của sự vận chuyển đường vào tế bào.

Tập tính hoá ứng động của vi khuẩn đã được nghiên cứu bằng kính hiển vi dõi theo sự di động (tracking microscope), là loại kính hiển vi có khả năng tự động giữ một vi khuẩn riêng lẻ trong tầm nhìn dù nó đang di động. Trong một môi trường không có gradien hoá học, chúng tôi và các vi khuẩn khác di chuyển một cách ngẫu nhiên. Một vi khuẩn di chuyển theo đường thẳng hoặc hơi cong, tức một quãng đường nào đó, trong một vài giây, sau đó nó sẽ dừng lại và di chuyển “dò dẫm” theo hướng khác. Sau khi di chuyển dò dẫm như vậy, nó di chuyển theo một hướng khác (hình 49). Khi vi khuẩn đã tiếp xúc với một gradient của chất hấp dẫn, nó ít di ngược lại hơn, tức là có quãng đường dài hơn, trong lúc đi ngược gradien này, trái lại, nó thường xuyên di ngược trở lại với nhịp độ thông thường, nếu nó đang đi xuôi chiều gradien đó. Kết quả là vi khuẩn đi ngược gradien của chất hấp dẫn. Tập tính được định hình nhờ những thay đổi nhất thời về nồng độ hoá chất: vi khuẩn so sánh môi trường hiện thời của nó trước thì sự dfi “dò dẫm” giảm xuống và quãng đường đi được là dài hơn. Trong trường hợp của chất cần phải tránh xa thì nó đáp ứng theo cách ngược lại: tần xuất đi ngược lại giảm xuống (quãng đường đi được dài ra nếu vi khuẩn đang đi xuôi gradien, nghĩa là đang đi xa dần khỏi chất cần tránh xa.

Mặc dù ứng động – tức chuyển động có hướng – của vi khuẩn là có thật, nhưng nên nhớ rằng đó chỉ là trường hợp đặc biệt. Nếu môi trường sống của vi khuẩn là ổn định, thì vi khuẩn có xu thế di chuyển ngẫu nhiên. Nghĩa là, có một trật tự ngẫu nhiên của các quãng đường đi được, sau đó là sự chuyển “dò dẫm”. Nếu vi khuẩn đi được một quãng đường theo hướng của các điều kiện được cải thiện, thì sự “dò dẫm” giảm xuống sao cho tế bào có xu thế di chuyển ưa thích. Có thể nói rằng sự di chuyển ngẫu nhiên theo hướng thiên về hướng của chất hấp dẫn và tránh xa các chất cần tránh. Các tế bào riêng lẻ không chọn một hướng cụ thể nào. Thay vào đó, chúng xác định xem có nên tiếp tục hướng đang di hay không.

Cơ chế hoá ứng động ở E. coli

Chúng ta đã biết rằng các vi khuẩn nói chung bơi về phía trước do sự quay tiên mao ngược chiều kim đồng hồ, còn sự lộn về phía sau là do sự quay tiên mao thuận chiều kim đồng hồ. Vì khuẩn phải có khả năng đáp ứng với những gradient theo cách sao cho chúng quần tụ trong những vùng giàu dinh downgx và có nồng độ oxy thích hợp, đồng thời tránh những chất có hại.

E. coli có bốn hoá thụ thể khác nhau, mỗi loại nhận biết một chất hoặc một nhóm chất sau đây:

  • Serin
  • Aspartat và maltoza
  • Riboza và galactoza
  • Các dipeptit.

Các hoá thụ thể này thường được gọi là các proten hoá ứng động tiếp nhận metyl-accepting chemotaxis. MCPs). Có lẽ chúng nằm trong các mảng thường ở đỉnh của một tế bào hình que như E.coli. Các MCP không gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quay của tiên mao nhưng gây tác động thông qua nhiều protein. Kết quả là toàn bộ quá trình này gây ra một đáp ứng của môtơ trong vòng dưới 200 phần ngàn (1/5) giây.

Nội bào tử có thể được nghiên cứu qua kính hiển vi quang học cũng như kính hiển vi điện tử. Vì các bào tử không cho hầu hết các thuốc nhuộm thấm qua, nên chsung ta thường nhìn thấy chúng là những vùng không bắt màu trong tế bào vi khuẩn được nhuộm bằng xanh metylen và bằng các thuốc nhuộm khác dùng để nhuộm đơn vị khuẩn. Các thuốc nhuộm riêng cho bào tử được dùng để làm cho chúng được nhìn thấy rõ.

Vị trí của bào tử trong tế bào chứa nó, tức là trong thể mang bào tử (sporangium) thường khác nhau từ loài này sang loài khác, do đó thường được xem xét để nhận biết vi khuẩn. Các bào tử có thể nằm ở giữa tế bào, nằm hơi lệch về một đỉnh tế bào, hoặc nằm hẳn ở một đỉnh (hình 50). Đôi khi bào tử lớn đến mức nó làm tế bào chữa s nó phình to ra.

Cấu trúc của nội bào tử, như thấy qua ảnh hiển vi điện tử, là rất phức tạp. (hình 51). Qua đó có thể phân biệt các cấu trúc sau đây:

  • Vỏ ngoài bào tử (exosporium), mỏng và có cấu tạo tính vi,
  • Vỏ (coretx), có thể chiếm tới một nửa khối lượng bào tử, nằm bên trong vỏ bào tử. Nó được cấu tạo từ peptidoglycan có ít liên kết ngang hơn sơ với phần này của tế bào dinh dưỡng.
  • Thành tế bào của bào tử (spore cell uall), hoặc thành của lõi (corewall), nằm phía trong vỏ và bao bọc lấy thể nguyên sinh chất (protoplast).
  • Thể nguyên sinh chất của bào tử, tức lõi của bào tử (protoplast, hoặc core) có chứa những cấu trúc tế bào bình thường như các ribosom và một nucleoit nhưng không có hoạt động trao đổi chất.

Người ta chưa biết chính xác vì sao nội bào tử bền như vậy đối với sức nóng và các tác nhân gây chết khác. Có tới 15% trọng lượng khô của bào tử là axt dipicolinnic (hình 52) tạo phức với các ion canxi, axit này có trong lõi bào tử. Trong một thời gian dài người ta từng nghĩ rằng axit dipicolinic là nguyên nhân trực tiếp của tính bền nhiệt. Tuy nhiên sau đó đã phân lập được các thể đột biến bền nhiệt mà không chứa axit này. Canxi góp phần vào tính đề kháng đối với sức nóng ẩm, với các tác nhân oxy hoá và dôi khi với sức nóng khô. Có lẽ, canxi – dipicolinat thường làm bền các axitnucleic của bào tử. Mới đây đã phát hiện thấy trong nội bào tử có các protein nhỏ, được chuyên hoá, liên kết với AND, hoà tan trong axit. Chúng liên kết dày đặc với AND của bào tử và bảo vệ nó khỏi bị làm hại do sức nóng, bức xạ, sự khô cạn và các hoá chất.

Sự mất nước của protoplast là rất quan trọng đối với tính bền nhiệt. Vỏ (cortex) có thể làm mất nước của protoplast bằng cách thẩm thấu, do vậy bảo về nó tránh tác hại của cả sức nóng và bức xạ.

Áo bào tử (coat ) hình như cũng bảo vệ bào tử chống các enzym và các hoá chất, như hydro peroxit chẳng hạn.

Cuối cùng, nội bào tử chứa một số enzym sửa chữa AND. AND được sửa chữa trong khi bào tử nảy mầm và sinh trưởng mạnh lên sau khi lõi đã hoạt động trao đổi chất trở lại.

Tóm lại, tính bền nhiệt của nội bào tử có lẽ là do một số nhân tố sau đây:

  • Canxi – dipicolinat và sự làm bền AND do protein tan trong axit
  • Sự mất nước của protoplast
  • Áo bào tử
  • Sự sửa chữa AND
  • Tính ổn định hơn của các protein của tế bào ở những vi khuẩn thích ứng để sinh trưởng ở nhiệt độ cao, và
  • Các nhân tố khác.

Sự tạo thành bào tử (sporogenensis hay sporulation0 thường bắt đầu khí sinh trưởng ngừng do thiếu các chất dinh dưỡng. Đó là một quá trình phức tạp và có thể được chia thành bảy giai đoạn (hình 53)

  • Giai đoạn I: Hình thành một sợi dạng trục của chất nhân.
  • Giai đoạn II: Màng tế bào gấp khúc vào trong để bao lấy phần AND và sinh ra vách ngang của tiền vào bào tử (forespore).
  • Giai đoạn III: Màng tiếp tục sinh trưởng và bao bọc lấy bào tử non trong một màng thứ hai.
  • Giai đoạn IV: Vỏ được đặt xuống phía dưới, trong khoảng không giữa hai mang; cả canxi và axit dipicolinic được tích luỹ.
  • Giai đoạn V: Sau đó, các áo protein được hình thành xung quanh vỏ.
  • Giai đoạn VI: Sự chín (thành thục, maturation) của bào tử.
  • Giai đoạn VII: các enzym phân huỷ thể mang bào tử (sporangium) để giải phóng bào tử.

Sự tạo thành bào tử kéo dài khoảng 10 giờ ở Bacillus megaterium.

Sự biến đổi các bào từ (dạng nghỉ) thành các tế bào sinh dưỡng (hoạt động) là một quá trình phức tạp không kém sự hình thành bào từ và gồm ba giai đoạn:

Thông thường, một nội bào tử không nảy mầm hoàn hảo, thậm chí trong một môi trường giàu dinh dưỡng, trừ khi nó được hoạt hoá. Sự hoạt hoá là một quá trình chuẩn bị cho các bào tử nảy mầm và là kết quả của những xử lý như đun nóng chẳng hạn. Sau đó bào tử nảy mầm, thoát khỏi trạng thái nghỉ. Sự nảy mầm được nhận biết qua sự trương (phồng) lên của bào tử, sự vỡ hoặc tiêu biến của áo bào tử, sự mất tính kháng nhiệt và kháng các điều kiện bất lợi khác, mất tính chiết quang, sự giải phóng các hợp phần của bào tử và sự tăng hoạt tính trao đổi chất. Nhiều chất trao đổi bình thường hoặc chất dinh dưỡng (các axit amin và các đường) có thể gây ra sự nảy mầm của bào tử đã được hoạt hoá. Sau giai đoạn nảy mầm bào tử sinh trưởng mạnh. Proteoplast của bào tử tạo thành những hợp phần mới, nhô ra khỏi những phần còn lại của áo bào tử và phát triển trở lại thành một vi khuẩn hoạt động (hình 54).

Bạn có biết? Bạn nghĩ gì?BÀO TỬ VÀ VẤN ĐỀ NGUỒN GỐC SỰ SỐNG

Có hai nhóm giả thuyết chính về nguồn sự sống trên trái đất. Một nhóm giả thuyết phổ biến ở thế kỷ 19 cho rằng sự sống trên trái đất bắt nguồn từ các hành tinh khác trong vũ trụ. Nhóm giả thuyết thứ hai được biết đến vào đầu thứ kỷ 20, trong đó có thuyết của Aleksandr Ivanovitch Oparine (người Nga), cho rằng sự sống bắt nguồn từ vật chất vô cơ trên trái đất.

Mới đây, nhà thiên văn học người Anh, Fred Hoyle, đã làm sống lại những giả thuyết của thế kỷ 19, dựa trên nghiên cứu của ông về sự hấp thụ bức xạ do các đám bụi trong khoảng giữa các vì sao. Hoyle cho rằng các hạt bụi nói trên đã từng là những tế bào sống, chúng đã bị phân huỷ, và rằng buổi bình minh của sự sống trên trái đất được bắt đầu từ sự “cập bến” vào trái đến của nội bào tử vi khuẩn đã sống sót trải qua cuộc hành trình của chúng trong vũ trụ.

Gần đây nhất, Peter Weber và J. Mayo Greenberg ở Trường Đại học Leiden (Hà Lan) đã nghiên cứu sự sống sót của nội bào tử của Bacillus subtilis trong điều kiện độ chân không rất cao, nhiệt độ thấp, bức xạ tử ngoại. Các số liệu của họ cho thấy cớ lẽ các nội bào tử trong một đám mây phân tử ở khoảng giữa các vì sao có thể sống sót trong khoảng thời gian từ 4,5 đến 45 triệu năm. Các đám mây phân tử di chuyển trong vũ trụ với vận tốc đủ để vận chuyển vào các bào tử giữa các hệ mặt trời trong khoảng thời gian nói trên. Mặc dù những kết quả này không chứng tỏ rằng sự sống bắt nguồn từ ngoài trái đất, nhưng chúng phù hợp với dự đoán cho rằng các vi khuẩn có thể có khả năng “du hành” giữa các hành tinh nào đủ điều kiện cho sự sống.

Câu hỏi:

  1. Mô tả cấu trúc của nội bào tử của vi khuẩn qua một sơ đồ chú thích
  2. Mô tả vắn tắt sự tạo thành bào tử và sự nảy mầm bào tử.
  3. Bào tử có vai trò gì đối với vi khuẩn sinh ra nó?
  4. Giải thích tính bền nhiệt của bào tử.

Tổng quan về cấu trúc của tế bào procaryot

2. Các màng tế bào procaryot

  • Màng sinh chất và hầu hết các màng khác được câu tạo bằng một lớp lipit kép, trong đó các protein xuyên màng được vùi vào. Các protein ngoai vi thì được gắn lỏng lẻo hơn vào các màng.
  • Màng sinh chất có thể lõm vào bên trong tế bào để tạo nên một số cấu trúc đơn giản, như bộ máy quang học, bộ máy hô hấp và cõ lễ là cả mesosom nữa.

Khối chất nguyên sinh

Khối chất nguyên sinh chứa các thể ẩn nhập và các ribosom.

Nucleoit

Vật liệu di chuyển của tế bào procaryot nằm trong một vùng được gọi là nucleoit và thường không có màng bao quanh.

Thành tế bào procaryot

Sự tiết protein ở các procaryot

Các tế bào procaryot có thể tiết các protein ra ngoài nhờ một số hệ thống tiết khác nhau.

Các hợp phần bên ngoài thành tế bào

  • Đó là các cấu trúc như: vỏ (capsule), tua (fimbriae) và lông giới tính (sex pili).
  • Nhiều vi khuẩn có thể di chuyển, thường là nhờ các cơ quan tử hình sợi có tác dụng như một động cơ, được gọi là các tiên mao.
  • Các loài vi khuẩn khác nhau về số lượng và sự phân bố các tiên mao.
  • Sợi tiên mao là một sợi xoắn cứng, nó quay như một chân vịt của tàu thuỷ hoặc cánh quạt của máy bay để đẩy vi khuẩn đi trong nước.

Hoá ứng động (chemotaxis)

Các vi khuẩn di động có thể đáp ứng với những gradien của chất hấp dẫn hay chất có hại. Hiện tượng này được gọi là hoá ứng động.

Nọi bào tử của vi khuẩn

Một số vi khuẩn sống sót trong những điều kiện bất lợi của môi trường, nhờ sự tạo thành nội bào tử, là một cấu trúc dạng nghỉ, đề kháng với sức nóng, với sự khô hạn và nhiều hoá chất.

Câu hỏi suy luận và ôn tập

  1. Liệt kê các cấu trúc chủ yểu của tế bào procaryot đã được đè cập trong chuyên đềnày và mô tả vắn tắt các chức năng của từng cấu trúc.
  2. Sự tự lắp ghép là gì tầm quan trọng của nó đối với tế bào.
  3. Vi khuẩn có thể tạo nội bào như thế nào.

Câu hỏi suy luận – phê phán

  1. Hãy đưa ra một mô hình về cấu tạo của một tiên mao trong màng của một vi khuẩn gram dương. Mô hình này sẽ cần phải thay đổi như thế nào để diễn tả cấu tạo của một tiên mao ở màng của vi khuẩn gram âm?
  2. Nếu anh (chị) không có kính hiển vi, anh (chị) sẽ làm gì để biết được một tế bào là tế bào procaryot hay tế bào eucaryot? Biết rằng cơ thể đó có thể được nuôi dễ dàng trong phòng thí nghiệm.
  3. Tầng peptidoglycan của vi khuẩn được ví như tấm áo giáp phép bằng các mảnh kim loại mặc bên trong tấm áo giáp liền của hiệp sĩ thời trung cổ. Nó vừa có tác dụng bảo vệ, vừa linh hoạt (không cứng nhắc). Anh (chị) có thể mô tả những cấu trúc khác trong sinh học mà có chức năng tương tự? Những cấu trúc ấy có thể được thay thế hoặc cải niến như thế nào để không cản trở sinh trưởng của cơ thể mang nó?

【#4】Mô Tả Nhiệm Vụ, Chức Năng, Trách Nhiệm Của Giám Đốc Đối Ngoại

1. Vai trò của Giám đốc đối ngoại

2. Nhiệm vụ của Giám đốc đối ngoại

Giám đốc đối ngoại thực hiện công tác phối hợp xây dựng, quản lý và định hướng hoạt động PR của công ty, triển khai, giám sát chiến lược quảng bá thương hiệu qua các kênh truyền thông, thúc đẩy hình ảnh của công ty.

Ngoài quản lý, phát triển các hoạt động truyền thông, quảng bá sản phẩm của công ty, Giám đốc đối ngoại còn làm nhiệm vụ tạo dựng mối quan hệ với các cơ quan, ban ngành với mục đích nâng cao hình ảnh, thương hiệu doanh nghiệp.

Đảm bảo sự sáng tạo, hiệu quả trong hoạt động PR, tác động tích cực đến sự đánh giá của đối tác, khách hàng. Đồng thời kiểm soát, tham gia vào quá trình thực hiện, chất lượng công việc tốt nhất.

3. Chức năng của Giám đốc đối ngoại trong doanh nghiệp

Giám đốc đối ngoại có chức năng thực hiện các công tác quan hệ chiến lược cho đơn vị, là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng. Xây dựng mối quan hệ với các phương tiện truyền thông quan trọng, đồng thời cũng là phát ngôn viên, đại diện cho công ty phát biểu, giải thích và truyền đạt sự kiện trước đối tác, truyền thông.

4. Yếu tố để trở thành Giám đốc đối ngoại

Muốn trở thành Giám đốc đối ngoại, lãnh đạo một bộ phận nhân sự cấp dưới và đóng vị trí quan trọng trong ban giám đốc của doanh nghiệp thì cần rất nhiều yếu tố khác nhau.

Thứ nhất là chuyên môn, Giám đốc đối ngoại cần có bằng cử nhân trở lên về lĩnh vực kinh tế/Marketing, MBA chuyên ngành quản trị kinh doanh/marketing/luật/ngoại giao. Có kiến thức chuyên môn sâu rộng.

Thứ hai là kinh nghiệm làm việc lâu năm, không chỉ Giám đốc đối ngoại mà tuyển dụng nhân sự cấp cao cho ban giám đốc đều yêu cầu kinh nghiệm tối thiểu 3 năm cho vị trí quản lý, chức vụ tương đương.

Thứ ba là khả năng quản lý tốt, phân tích, lập kế hoạch, chiến lược, kỹ năng xử lý truyền thông chuyên nghiệp, xây dựng được mối quan hệ rộng với các cơ quan, ban ngành,…

Tiếp đến là các kỹ năng mềm giúp ích cho công việc và không thể thiếu như kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, đàm phán,… Ngoài ra còn phải thành thạo máy tính, ngoại ngữ, các phần mềm quản lý, văn phòng.

5. HRchannels – Dịch vụ tuyển dụng nhân sự cấp cao uy tín, hiệu quả và tiết kiệm chi phí

Ở phương diện là ứng viên có nhu cầu làm việc Giám đốc đối ngoại, bạn có thể liên lạc với chúng tôi để tìm được công ty, tập đoàn lớn trong và ngoài nước một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Với hơn 10 năm kinh nghiệm, xây dựng được đội ngũ tuyển dụng chất lượng, HRchannels tự tin đáp ứng các đòi hỏi của bạn, mang đến sự hài lòng tốt nhất cho khách hàng.

Còn nếu bạn là doanh nghiệp đang cần tuyển nhân sự cho chức vụ này thì cũng đừng chần chừ và hãy đồng hành cùng chúng tôi, công ty của bạn sẽ có được giải pháp tối ưu, tiết kiệm được chi phí, thời gian tuyển dụng mà lại có được giám đốc đối ngoại xuất sắc.

Website: http://hrchannels.com

Hanoi Office 1: Floor 10, CIT Building, 15 Duy Tan str, Cau Giay, Hanoi

Hanoi Office 2: B1 Villa – Vinhomes Botanica, Ham Nghi str, Nam Tu Liem, Hanoi

Hai Phong Office: 108 Lach Tray Str, Ngo Quyen, HaiPhong

HCM Office: Floor 9, Vietcomreal Building, 68 Nguyen Hue Str, District 1, HCMC

【#5】Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Ngoại Giao

Theo đó, Bộ Ngoại giao là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đối ngoại gồm: Công tác ngoại giao, biên giới, lãnh thổ quốc gia, công tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, quản lý các cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) và hoạt động của các cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao theo quy định của pháp luật.

Tòa nhà Trụ sở Bộ Ngoại giao, số 1 Tôn Thất Đàm, quận Ba Đình, Hà Nội.

Bộ Ngoại giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.

Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao đại diện cho Nhà nước trong quan hệ ngoại giao với các nước, các tổ chức quốc tế liên chính phủ; tiến hành các hoạt động đối ngoại của Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Về công tác lãnh sự, Bộ Ngoại giao bảo hộ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế; thực hiện công tác hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự, ủy thác tư pháp, hộ tịch, quốc tịch, xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam và người nước ngoài thuộc đối tượng do Bộ Ngoại giao quản lý theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao gồm các đơn vị sau: Vụ ASEAN, Vụ Châu Âu, Vụ Châu Mỹ, Vụ Đông Bắc Á, Vụ Đông Nam Á – Nam Á – Nam Thái Bình Dương, Vụ Trung Đông – Châu Phi, Vụ Chính sách đối ngoại, Vụ các Tổ chức quốc tế, Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế; Vụ Hợp tác kinh tế đa phương, Vụ Tổng hợp kinh tế, Vụ Ngoại giao văn hóa và UNESCO, Vụ Thông tin Báo chí, Vụ Thi đua – Khen thưởng và Truyền thống ngoại giao, Vụ Tổ chức cán bộ, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ, Cục Cơ yếu, Cục Ngoại vụ, Cục Lãnh sự, Cục Lễ tân Nhà nước, Cục Quản trị Tài vụ, Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban Biên giới quốc gia, Học viện Ngoại giao, Báo Thế giới và Việt Nam, Trung tâm Hướng dẫn báo chí nước ngoài, Trung tâm Biên Phiên dịch quốc gia, Trung tâm Thông tin và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Hội nghị tổng kết đề án đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Ngày 23/2, Ban Cán sự Đảng Bộ Ngoại giao đã tổ chức Hội nghị tổng kết việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, …

Công đoàn Bộ Ngoại giao tổ chức Hội nghị triển khai công tác năm 2021

Chiều 16/2, tại Hà Nội, Công đoàn Bộ Ngoại giao đã tổ chức Hội nghị triển khai công tác năm 2021. Bà Tào Thị Thanh …

Bộ Ngoại giao, Đảng ủy Ngoài nước thăm làm việc với Bộ Tư lệnh Hải quân

Ngày 15/2, Bộ Ngoại giao và Đảng ủy Ngoài nước kết hợp tổ chức đoàn công tác đến thăm và làm việc với Bộ Tư …

【#6】Quy Định Về Đăng Ký Thương Hiệu Theo Quy Định Hiện Hành

Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người.

Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại.

Một trong số đó là nhãn hiệu. Vậy, làm thế nào để đi đăng ký thương hiệu để nhà nước bảo hộ.

Giấy tờ cần có khi đi đăng ký thương hiệu gồm những gì?

Về nguyên tắc thì khi tiến hành đăng ký thương hiệu cần có những giấy tờ sau:

  • 02 Tờ khai đăng ký theo mẫu số 04-NH.
  • Mẫu nhãn hiệu: 06 mẫu (kích thước không quá 80mm x 80mm, không được nhỏ hơn 20 mm x 20 mm)
  • Danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu: phân loại theo bảng danh mục hàng hóa, dịch vụ Nice.
  • Chứng từ nộp phí, lệ phí: bản photo

Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận. Ngoài các tài liệu quy định trên, đơn còn bắt buộc phải có thêm các tài liệu sau đây:

  • Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận;
  • Bản thuyết minh về tính chất, chất lượng đặc trưng (hoặc đặc thù) của sản phẩm mang nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý).
  • Bản đồ xác định lãnh thổ (nếu nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý của sản phẩm), có xác nhận của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Yêu cầu đối với đơn đăng ký nhãn hiệu là gì?

Mỗi đơn chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ.

Về nguyên tắc, mọi tài liệu của đơn đều phải được làm bằng tiếng Việt.

Trình bày theo chiều dọc (riêng hình vẽ, sơ đồ và bảng biểu có thể được trình bày theo chiều ngang) trên một mặt giấy khổ A4 (210mm x 297mm), trong đó có chừa lề theo bốn phía, mỗi lề rộng 20mm.

Đối với tài liệu cần lập theo mẫu thì bắt buộc phải sử dụng các mẫu đó và điền đầy đủ các thông tin theo yêu cầu vào những chỗ thích hợp.

Mỗi loại tài liệu nếu bao gồm nhiều trang thì mỗi trang phải ghi số thứ tự trang đó bằng chữ số Ả-rập.

Tài liệu phải được đánh máy hoặc in bằng loại mực khó phai mờ, một cách rõ ràng, sạch sẽ, không tẩy xoá, không sửa chữa; trường hợp phát hiện có sai sót không đáng kể thuộc về lỗi chính tả trong tài liệu đã nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ thì người nộp đơn có thể sửa chữa các lỗi đó, nhưng tại chỗ bị sửa chữa phải có chữ ký xác nhận (và đóng dấu, nếu có) của người nộp đơn.

Cách thức nộp đơn đăng ký bảo hộ ra sao?

Tổ chức, cá nhân khi đi đăng ký thương hiệu có thể nộp đơn theo hai cách sau:

  • Nộp trực tiếp tại trụ sở Cục Sở hữu trí tuệ tại Hà Nội hoặc 2 Văn phòng đại diện của Cục tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
  • Nộp qua bưu điện.

Trên đây là những vấn đề khái quát về quy định về đăng ký thương hiệu theo quy định hiện hành. Nếu quý khách muốn được giải đáp thắc mắc hay tư vấn về thì có thể liên hệ với chúng tôi.

【#7】★ Tư Vấn Đăng Ký Nhãn Hiệu Mất Bao Nhiêu Tiền Hiện Nay

Sáng tạo ra và sở hữu nhãn hiệu riêng biệt không chỉ giúp doanh nghiệp phân biệt hàng hóa, dịch vụ với các đối thủ mà còn tạo ra thương hiệu và lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, chi phí để đăng ký nhãn hiệu mất bao nhiêu tiền?

Đây là câu hỏi mà rất nhiều người thắc mắc trước khi quyết định xem xét việc đăng ký thương hiệu hay không? Bài viết này sẽ giúp các bạn giải quyết vấn đề này.

Chi phí đăng ký nhãn hiệu sẽ được nộp tại đâu?

Tại Điều 3 Thông tư 263/2016 của Bộ tài chính, có quy định về cơ quan sẽ tiến hành thu phí, lệ phí khi đi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Cụ thể đó là Cục Sở hữu trí tuệ. Những chi phí này đã được liệt kê cụ thể. Chứ không phải dựa vào ý chí chủ quan, muốn thu bao nhiêu là thu.

Cục sở hữu trí tuệ sẽ dựa vào mức thu phí, lệ phí sở hữu công nghiệp thực hiện theo quy định tại Biểu mức thu phí, lệ phí sở hữu công nghiệp ban hành kèm theo Thông tư 263/2016 của Bộ tài chính.

Chi phí đăng ký nhãn hiệu mất bao nhiêu tiền?

Chi phí đăng ký nhãn hiệu là việc chủ sở hữu cần nộp cho cơ quan nhà nước cùng thời điểm nộp hồ sơ đăng ký logo. Đây là căn cứ để Cục Sở hữu trí tuệ xem xét thẩm định đơn đăng ký cho chủ sở hữu. Việc đăng ký logo hết bao nhiêu tiền phụ thuộc vào các tiêu chí sau:

  • Số lượng logo đăng ký.
  • ố lượng nhóm sản phẩm, dịch vụ đăng ký logo.
  • Số lượng nhóm sản phẩm, dịch vụ.
  • Tự nộp đơn đăng ký hay sử dụng dịch vụ đăng ký.

Tổng hợp lại, chi phí đăng ký nhãn hiệu được chia thành 02 loại chi phí. Gồm: Chi phí chính thức (phí nhà nước) nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ và chi phí của tổ chức đại diện thay mặt chủ sở hữu nộp đơn đăng ký.

Đối với mỗi đơn đăng ký thông thường theo giá nhà nước (đăng ký bảo hộ cho một nhóm hàng hóa, dịch vụ gồm 06 sản phẩm hàng hóa, dịch vụ):

  • Lệ phí nộp đơn: 150.000đ/đơn.
  • Phí thẩm định nội dung: 550.000đ.
  • Phí tra cứu phục vụ thẩm định nhãn hiệu: 180.000đ.
  • Lệ phí cấp giấy chứng nhận: 120.000đ.
  • Lệ phí công bố nhãn hiệu: 120.000đ.
  • Lệ phí đăng bạ: 120.000đ.

Chi phí phải trả khi đi đăng ký gồm nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ là bao nhiêu?

Ngoài các chi phí được kể trên, khi đăng ký cho 6 sản phẩm/dịch vụ trở lên thì còn phải chịu thêm các phí sau:

  • Phí thẩm định nội dung đơn đăng ký: Nộp thêm cho mỗi sản phẩm/dịch vụ từ thứ 7 trở đi: 120.000đ
  • Phí tra cứu phục vụ thẩm định nhãn hiệu: Nộp thêm cho mỗi sản phẩm/dịch vụ từ thứ 7 trở đi 30.000đ

Qua bài viết tư vấn đăng ký nhãn hiệu mất bao nhiêu tiền hiện nay. Mong sẽ giúp cho các bạn một phần nào đó trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Để được hỗ trợ thêm, vui lòng liên hệ với chúng tôi. Tự tin là nơi cung cấp dịch vụ tư vấn tận tâm, chuyên nghiệp với những luật sư giỏi, giàu kinh nghiệm.

~~~

Tìm hiểu đăng ký nhãn hiệu quốc tế là gì?

Cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Trong những năm gần đây các doanh nghiệp Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu trong nước và đặc biệt là để phục vụ cho việc đẩy mạnh xuất khẩu. Một trong những bước quan trọng trong việc tạo nên thương hiệu không chỉ trong nước lẫn ở nước ngoài là việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế.

Đăng ký nhãn hiệu quốc tế được hiểu như thế nào?

Được hiểu là việc tổ chức, cá nhân đi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu dùng cho sản phẩm, dịch vụ hàng hóa ở các nước mình mong muốn. Nhằm phát triển thị trường kinh doanh và quảng bá sản phẩm, dịch vụ ra thị trường quốc tế.

Đăng ký nhãn hiệu quốc tế có ý nghĩa gì?

Theo Luật sở hữu trí tuệ 2013, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu nếu đăng ký tại việt nam thì chỉ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ việt nam. Trong trường hợp người nộp đơn mong muốn xây dựng và phát triển thương hiệu, xuất khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ ở nước ngoài thì nên đăng ký nhãn hiệu quốc tế.

Bởi sau khi nhãn hiệu được đăng ký ở quốc gia sở tại, doanh nghiệp là chủ sở hữu nhãn hiệu có thể đạt được một số lợi ích như sau:

  • Chủ thể đi đăng ký được độc quyền sử dụng nhãn hiệu cho sản phẩm, dịch vụ mình đăng ký tại các quốc gia.
  • Được quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu này cho các chủ thể khác. Thông qua những hợp đồng này, doanh nghiệp có thể thu được những khoản tiền tương đối lớn.
  • Sự đảm bảo về giá trị pháp lý tạo ra sự gia tăng giá trị kinh tế của nhãn hiệu.
  • Tạo ra thế cân bằng khi đàm phán hay cạnh tranh với các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại sản phẩm, dịch vụ tại nước ngoài.
  • Hạn chế nguy cơ bị chiếm đoạt nhãn hiệu tại thị trường quốc gia sở tại, tránh được các chi phí tốn kém cho các hoạt động giải quyết tranh chấp liên quan tới việc xác định chủ sở hữu nhãn hiệu.

Khi đi đăng ký nhãn hiệu quốc tế thì nộp tại đâu?

Khi bạn muốn đi đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài thì có thể lựa chọn theo các cách:

  • Thông qua tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ của nước ngoài để nộp đơn đăng ký nhãn hiệu trực tiếp tại các nước đó.
  • Đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo nghị định thư madrid.

Đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo thỏa ước madrid.

Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu được nộp cho văn phòng quốc tế thông qua cục sở hữu trí tuệ. Cục sở hữu trí tuệ có trách nhiệm chuyển đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu cho văn phòng quốc tế trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đủ tài liệu đơn hợp lệ theo quy định.

Ngày cục sở hữu trí tuệ nhận được đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu sẽ được coi là ngày nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong trường hợp văn phòng quốc tế nhận được đơn đó trong vòng 02 tháng kể từ ngày ghi trên dấu nhận đơn của cục sở hữu trí tuệ.

Trường hợp đơn không được người nộp đơn hoàn thiện để gửi đến văn phòng quốc tế trong thời hạn nói trên thì ngày nhận được đơn tại văn phòng quốc tế sẽ được coi là ngày nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu.

Trên đây là các nội dung tư vấn về các vấn đề liên quan đến đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

【#8】Hồ Sơ Đăng Ký Bảo Hộ Nhãn Hiệu Độc Quyền Nhanh Và Chính Xác

Chuẩn bị một bộ hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền hoàn hảo chính là chìa khóa để nhãn hiệu của bạn được bảo hộ toàn diện, an toàn khi kinh doanh trên thị trường Việt Nam nói riêng, cũng như thị trường quốc tế!

Vậy thủ tục chuẩn bị hồ sơ này như thế nào, và các yêu cầu của Cục đối với loại thủ tục đặc biệt này có khó khăn hay không? Cùng Phan Law giải đáp ngay trong nội dung bài viết dưới đây bạn nhé!

Hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật Sở hữu trí tuệ

Trước khi tiến hành hồ sơ đăng ký nhãn hiệu, để tránh mất thời gian và công sức cũng như tiền bạc cho quá trình không hề ngắn này, bạn cần tiến hành kiểm tra trước khả năng bảo hộ của nhãn hiệu! Bạn có thể tự mình thực hiện kiểm tra thông qua hướng dẫn của Phan Law trong các bài viết liên quan trên website của chúng tôi, hoặc liên hệ trực tiếp đến tổng đài miễn phí 1900.599.995 để được tư vấn hỗ trợ  nhanh nhất nhé!

Sau khi đảm bảo nhãn hiệu có khả năng được bảo hộ theo quy định của pháp luật, bạn chuẩn bị các giấy tờ pháp lý dưới đây:

  • Tờ khai đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền theo mẫu của Cục Sở hữu trí tuệ ban hành
  • Mẫu nhãn hiệu cần đăng ký
  • Giấy tờ pháp lý của chủ sở hữu, chủ đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu
  • Giấy tờ chứng minh quyền nộp đơn hợp pháp của chủ đơn
  • Giấy tờ chứng minh quyền nộp đơn ưu tiên (nếu có)
  • Danh mục phân loại hàng hóa, dịch vụ sử dụng nhãn hiệu (theo bảng phân loại mới nhất)
  • Chứng từ nộp phí và lệ phí. Bạn lưu ý, quá trình nộp phí của cục sẽ chia ra làm nhiều giai đoạn, ở giai đoạn nộp đơn bạn chỉ cần nộp phí nộp đơn cho cục và kèm theo biên lai vào bộ hồ sơ nhé!

Phan Law sẽ hoàn thiện hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của riêng bạn!

Với hơn 10 năm hoạt động trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp; Phan Law đã đồng hành và hỗ trợ hàng nghìn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân lớn nhỏ trong và ngoài nước tiến hành các hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu để thực hiện thủ tục bảo vệ thương hiệu của mình thành công! Bạn có thể hoàn toàn tin tưởng và liên hệ ngay với chúng tôi để được:

  • Hỗ trợ tư vấn toàn bộ các vấn đề pháp lý xoay quanh nhãn hiệu của riêng bạn
  • Kiểm tra, thẩm định và đưa ra các phương thức tiến hành đăng ký bảo hộ phù hợp nhất với yêu cầu của bạn
  • Thay mặt bạn chuẩn bị tất cả hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, cũng như làm việc với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
  • Đảm bảo quá trình đăng ký bảo hộ diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm vượt mức mong đợi!

Phương châm hoạt động của Phan Law luôn hướng đến sự Chuyên nghiệp – Tận tâm – Hiệu quả – Tiết kiệm! Nếu bạn vẫn đang phân vân không biết nên chuẩn bị hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình như thế nào cho phù hợp và hoàn hảo nhất thì chúng tôi là sự lựa chọn tối ưu cho bạn